The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.

Văn Học Miền Nam 54-75 Tập 3
Huỳnh Ái Tông

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2022-12-13 18:12:44

Văn Học Miền Nam 54-75 Tập 3 Huỳnh Ái Tông

Văn Học Miền Nam 54-75 Tập 3
Huỳnh Ái Tông

VĂN HỌC MIỀN NAM 1954-1975

Sau đấy ít lâu Đỗ thôi học và về ấp ở với cha mẹ. Hồn Đỗ phức
tạp, chàng yêu đồng núi quê hƣơng nhƣng chàng cũng không
quên làn không khí say sƣa của cuộc đời chơi bời; từ nơi ấy Đỗ
luôn luôn trở về thủ đô. Một hôm gặp Tuyết nàng nói cho Đỗ
biết:

- "Phƣợng khen Đỗ bây giờ ngoan lắm, về quê làm ăn rồi, lần
nào đến nhà tôi chơi, Phƣợng cũng nhắc đến Đỗ..."

Ngây cả ngƣời, Đỗ không hiểu sao Phƣợng Trinh lại biết mình
về quê làm ăn, mà mình có làm ăn gì đâu!... Nhƣng Tuyết đã
nhìn chàng nói nhỏ:

- Phƣợng vẫn yêu Đỗ lắm...

Trời, Đỗ muốn khóc lên đƣợc! Thấy Đỗ ngây đờ yên lặng,
Tuyết mỉm cƣời nói tiếp:

- Lần nào gặp tôi Phƣợng cũng nhắc đến Đỗ, cũng nhƣ Đỗ gặp
tôi cứ hỏi chuyện Phƣợng ấy mà... Sao hai ngƣời không lấy
nhau nhỉ...

... Rồi Tuyết kể:

- Ngày sắp cƣới Phƣợng ấy, Phƣợng có chạy đến tôi nói
chuyện. Tôi có hỏi sao không lấy Đỗ có hơn không thì Phƣợng
nói: "Tại Đỗ không đến hỏi... mà đợi thì biết đến ngày nào!"
Với lại Phƣợng cũng không biết Đỗ có ý định lấy Phƣợng
không mà đợi cơ!... Phƣợng bảo:

"Chả nhẽ em lại mang giầu cau đến hỏi Đỗ à?..."

Nghe xong, Đỗ đau đớn hỏi trách:

651


HUỲNH ÁI TÔNG

- "Sao Tuyết không nói cho tôi biết ngay từ ngày ấy"... thì
Tuyết giả nhời:

- Ngày ấy tôi cũng có ý tìm Đỗ, nhƣng hình nhƣ Đỗ ít khi có
mặt ở Hà Nội thì phải...

Khẽ gật đầu, Đỗ yên lặng bâng khuâng.

Từ đấy chàng chỉ biết mang câu duyên số ra để tự an ủi và từ
đấy chàng càng tin chắc rằng chẳng bao giờ nữa Phƣợng Trinh
quên mình, chàng vẫn nhủ thầm:

- Ai quên đƣợc những ngày đẹp đẽ trong đời...

Chuyện qua Đỗ vẫn giữ quý nhƣ một kho vàng. Lắm lúc bâng
khuâng nghĩ lại, Đỗ vẫn thƣờng cau có tự hỏi: "Sao lại cứ nhớ,
sao không quên đi cho tâm hồn đƣợc thƣ thái"... nhƣng rồi
chàng lại nói ngay: "Không, đừng bắt ta quên, ta muốn nhớ cho
đến lúc mãn chiều... ở đời có những vết thƣơng êm ái. Nhƣ ta
lúc này ai dám bảo nhẹ buồn khổ là khi đó dƣ âm của một thời
rạo rực, trở về vang lại trong hồn". Và những khi ở Hà Nội, Đỗ
vẫn hay đi nhà thờ, nhƣng nay không phải vì ai nữa mà tin
tƣởng ở đạo giáo. Vả lại xuân đầu chỉ có một lần, chàng không
muốn bỏ một cái gì của những ngày tuổi trẻ tƣơi thắm đã qua.

Một hôm vô tình Đỗ đi xe ngang qua nhà chồng Trinh. Nhìn
vào, chàng thấy Trinh đang đứng trong căn vƣờn nhỏ nhƣ mơ
màng. Có thế thôi mà về tới nhà chàng cũng sung sƣớng mãi
và cả ngày nhắc nhở": Có lẽ phút này Trinh đang nghĩ đến ta,
có lẽ... có lẽ!". Rồi trên quyển sổ tay biên trăm thức lặt vặt,
chàng viết mấy dòng: "Có lẽ nhƣ ngày nào đôi mày hơi đƣa
lên, em nhìn vào nơi nào không định. Nghĩ gì thế em? Thôi,

652


VĂN HỌC MIỀN NAM 1954-1975

nghĩ hạnh phúc quá mơ hồ, cuộc đời éo le bất trắc. Em, trông
gì ở nơi xa ấy, có phải là anh? Em, sao chẳng đáp lại tiếng gọi
của lòng anh?".

Viết thế, Đỗ lại nhớ tới câu mà trƣớc kia Trinh trả lời "Đã có
ngƣời đáp lại rồi còn gì" thế là chàng lại đấm vào má vò đầu
rứt tóc hối hận. Trinh bây giờ đã hiểu lòng chàng mà sao Trinh
ngày ấy lại trả lời chàng thế, Phƣợng Trinh có hiểu đâu lòng
trai thuở ấy đƣơng thời mới ở say sƣa cảnh đẹp yêu mến cỏ
hoa, mê giọng chim, tiếng hót, khao khát tình yêu... nhƣ một
con hƣơu non xông vào rừng thẳm để tìm cỏ quý, nhƣng anh
đã ăn cả cỏ dại lá lạ ở dọc đƣờng! Hoa đẹp nhiều quá, lòng
đang mới mẻ, anh giữ sao đƣợc không hái một hai bông gần.
Đôi lúc nghĩ lại, Đỗ vẫn bực tức kêu lên:

- Họ bảo thế là bạc tình! Thật họ không hiểu, nhƣng ta nói làm
sao đƣợc! Ta không bao giờ bạc tình mà chỉ nhiều tình quá...

Ngày tháng qua đi, càng lớn lên càng bận công việc nhiều;
ngoài những giấc mơ ngắn ngủi, chả mấy khi Đỗ còn đƣợc gặp
Trinh nhƣ xƣa mà cũng chẳng chả mấy khi Đỗ còn đƣợc gặp
Tuyết để nàng kể cho nghe ít chuyện về ngƣời cũ. Nhƣng cứ
tết đến, mỗi lần ngửi lại hƣơng thủy tiên nhắc nhở xa khơi, mỗi
lần thấy xuân về nở trên cành đào Đỗ lại thấy hoa tình cũ cũng
nở lại trong lòng mình, vì thế năm nào chàng cũng vẫn gửi lời
chúc mừng năm mới đến ngƣời xƣa. Tuy chỉ vài dòng ngắn
ngủi Trinh cũng hốt hoảng đọc vội đoạn cầm ép lên ngực nhìn
trời chớp mau. Những lúc đó đôi mắt đen trong sáng lại mờ
ánh lệ.

Họa hoằn có một đôi khi bất ngờ gặp lại trên đƣờng từ xa Đỗ
thƣờng đứng lại bên vỉa hè vờ vĩnh đợi ai để ngắm Trinh qua...

653


HUỲNH ÁI TÔNG

và cặp mắt nhung diễm lệ lại mở to xao động ánh tƣơi vui khi
vô tình đặt tới ngƣời cũ,... rồi thôi, cả hai đều bâng khuâng
không cƣời nói với bạn nữa, mà chỉ yên lặng để nghe tiếng thỏ
thẻ xôn xao.

Ngắm Trinh qua một buổi rất gần, Đỗ thấy đôi mắt của nàng đã
kém vẻ tƣơi cƣời nhƣ thầm bảo "Em không đƣợc sung sƣớng".
Đỗ biết Trinh đã hiểu lòng mình, nhƣng còn đâu nữa! Lúc hai
ngƣời biết đƣợc tình sẽ bền chặt mãi mãi thì ai hay chả đã quá
muộn rồi. Tuy thế Đỗ vẫn sung sƣớng với mối tình lỡ làng, mà
chàng biết sẽ là nguồn an ủi cho chàng suốt đời, sẽ là của cải
vô giá của tuổi trẻ mà chàng còn giữ lại đƣợc. Đỗ nhận thấy vẻ
trong sáng của đôi mắt ngƣời yêu sẽ mãi mãi là ánh sáng của
đời chàng. Tình yêu xui Đỗ đôi khi có những mộng tƣởng
không ngờ, cũng nhƣ lắm lúc chàng tin rồi ra sẽ có ngày giọng
Trinh nói khẽ bên tai: "Ƣớc gì đôi ta cùng bé lại".

Bất ngờ một hôm Đỗ gặp lại Tuyết, hai ngƣời vui vẻ trò
chuyện xa gần, nhƣng rồi cũng nhắc đến Phƣợng Trinh... Đỗ
hỏi:

- Vừa rồi mới gặp, tôi trông Trinh có vẻ buồn ấy... gia đình
Trinh có chuyện gì không vui không?

Tuyết cƣời đáp:

- Sao Đỗ lại hỏi thế. Phƣợng Trinh ngoan lắm. Chồng Phƣợng
không trách Phƣợng điều gì cả...

Bố mẹ chồng cũng thế...

Đến lúc Đỗ nhíu đôi mày vui vẻ băn khoăn mỉm cƣời nói:

654


VĂN HỌC MIỀN NAM 1954-1975

- Không biết tại sao tôi trông Phƣợng nhƣ không đƣợc vui.
Phƣợng có đƣợc sung sƣớng không? thì Tuyết thoáng cƣời
buồn:

- Đỗ cũng biết tính Phƣợng trẻ con vui đùa là thế, mà chồng thì
tính nết nhƣ ông cụ ấy...

Tuyết ngừng lại, mắt chớp bâng khuâng rồi mỉm cƣời nhìn Đỗ
nói tiếp:

- Lấy Đỗ thì cố nhiên là vui hơn... à ngày xƣa ấy mà, độ
Phƣợng chƣa đi lấy chồng ấy, một lần Phƣợng thấy trong sách
ảnh của tôi có tấm ảnh của Đỗ chụp ngồi ở đống rơm, thế rồi
Phƣợng cứ lấy, làm tôi phải đòi mãi...

Đỗ đứng yên lặng bùi ngùi trong sung sƣớng! Thấy bạn có vẻ
buồn tiếc, Tuyết hạ giọng:

- Thôi chả cần Đỗ ạ, hình Đỗ ở trong tim Phƣợng cũng đủ rồi.

Từ đấy mỗi lần gặp ngƣời yêu cũ là Đỗ thấy nhƣ mình đang
sống lại thời say mê thuở mƣời tám. Trong mắt Phƣợng Trinh
chàng thấy lại một ít tuổi nhỏ, một chút nắng sƣởi ấm cho lòng
chàng ấm dịu, chút nắng thừa của một thời xa xôi. Nhƣng lúc
đó Đỗ chỉ biết đứng nhìn theo cho tới nẻo đƣờng đã khuất mà
tà áo Trinh còn phấp phới bay rồi chàng bàng hoàng ngẩn ngơ
nói một mình:

- Trời ơi, đôi mắt đen quá, sáng quá, phải chăng là những tấm
gƣơng phản chiếu mầu tƣơi sắc thắm của những ngày rực rỡ...

Đến một hôm chẳng hẹn trƣớc, Tuyết rủ Đỗ đến nhà Phƣợng
Trinh chơi. Gặp lại bao nỗi ngƣợng ngùng, Trinh càng sung

655


HUỲNH ÁI TÔNG

sƣớng. Xong bẽn lẽn cũng ruộm hồng đôi má; còn Đỗ thì ngày
ngày cảm động ngắm bạn lòng cũ. Trƣớc mặt chàng trai giọng
Trinh nói chuyện với Tuyết mất cả tự nhiên; Đỗ ngồi nhìn
trong lòng lâng lâng sung sƣớng, có một lúc Trinh quay sang
mỉm cƣời e thẹn hỏi Đỗ:

- Độ này không hay gặp ông đi lễ.

Phƣợng Trinh gọi Đỗ bằng "ông"! Nhƣng làm thế nào, nàng đã
có chồng! Nghe Trinh gọi mình nhƣ thế, Đỗ thấy nhói vào tim,
nhƣng hiểu tình thế mới, chàng vội trả lời:

- Độ này tôi ở nhà quê luôn... thỉnh thoảng mới về Hà Nội,
thành ra Trinh không gặp...

Ngừng một tị, Đỗ mỉm cƣời nói tiếp :

- Mấy lại ngày xƣa tôi có đi lễ bao giờ đâu,... từ ngày biết
Trinh tôi mới đi nhà thờ đấy chứ. Trinh đã cứu vớt một linh
hồn mà Trinh không biết...

Răng trên khẽ cắn lên môi dƣới e thẹn, Trinh mỉm cƣời đỏ
hồng cả mặt, rồi đƣa ngón tay cong cong lên miệng cắn cắn
cảm động, đoạn nàng nhìn Tuyết cƣời ngƣợng nghịu cất tiếng
bảo:

- Đi lễ thế thì chảảả... đƣợc phúc.

Nhƣng mắt nàng sáng ngời, phải chăng vì duyên cũ! ánh sáng
ấy cũng đủ khêu lại lòng Đỗ ngọn lửa đã gần tàn; và trông
Trinh cƣời đắm say. Đỗ thấy nụ cƣời tƣơi thắm ấy nhƣ đƣa
chàng vào một vƣờn nắng nhẹ gió vừa. Đỗ ra về với ít hoa nở
lại trong lòng với ít tin tƣởng rằng sẽ chẳng bao giờ hƣơng tình

656


VĂN HỌC MIỀN NAM 1954-1975

cũ đến nỗi tan bay hết. Đời còn tƣơi đẹp và tƣơi lại vƣờn tình
đang úa. Đỗ sung sƣớng trở lại nơi đồi núi quê hƣơng và mang
theo trong tim đôi mắt tƣơi cƣời của Trinh, đôi mắt trong sáng
nhƣ tráng làn nƣớc trong đã bao lần làm anh ngây ngất khi
buổi đầu dịu dàng nhìn lại...

Vài hôm sau, một chiều vừa cƣỡi ngựa đi chơi núi về thì Đỗ
nhận đƣợc một phong thƣ, trong Tuyết viết: "Hôm qua Phƣợng
lại đằng tôi chơi và bảo: "Hôm nọ, lúc vào tới phòng tiếp
khách thoạt trông thấy Đỗ, Phƣợng choáng váng ngạc nhiên
đứng dừng lại...".

Thôi thế cũng đủ làm Đỗ sung sƣớng đến rƣng rƣng nƣớc mắt.
Tay vẫn cầm tờ giấy lơ đãng chàng lững thững đƣa bƣớc ra
phía đồi sau nhà. Trời mát tóc thoảng nhẹ bay phất phơ trên
trán... bâng khuâng vô tình đứng trông những bông vông-vang
phất phơ trên bụi cỏ đang kín đáo cúp lại trong gió chiều êm
đềm, Đỗ lại thấy lòng bỗng tràn đầy tin tƣởng nhƣ buổi mới...
và man mác hy vọng, chàng nhƣ khẽ:

- Hoa còn có loài chiều hôm cúp vào để sớm mai nở lại em ạ,
thì tình ta sao chả có lúc nối theo...

So sánh Thạch Lam với Đỗ Tốn, Nhất Linh viết : “Tôi thấy hai
nhà văn này có nhiều chỗ giống nhau và tôi tin Ðỗ Tốn sẽ là
một Thạch Lam thứ hai trong văn giới nƣớc ta.”

Trong Tuyển Tập Truyện Ngắn Việt Nam do Văn Hóa Á
Châu xuất bản năm 1963, có nhận định về Đỗ Tốn nhƣ sau:

657


HUỲNH ÁI TÔNG
Cuộc sống trong tác phẩm của Đỗ Tốn rất phong phú, nhƣng
bao giờ cũng đƣợc thể hiện bằng một lối viết điều độ, bình
tĩnh.
Tài liệu tham khảo:
- Đỗ Tốn Web: gocnhin.net
- Đỗ Tốn Web: t-van.net
- Tuyển Tập Truyện Ngắn Việt Nam (Văn Hữu Á Châu, 1963)

3) Nguyễn Văn Xuân

Nguyễn Văn Xuân (1921-2007)
Ông Nguyễn Văn Xuân là ngƣời làng Thanh Chiêm, xã Điện
Phƣơng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Lúc nhỏ, ông học ở quê, sau ra học ở Huế. Năm 16 tuổi, ông
bắt đầu tự học và tập viết văn.

658


VĂN HỌC MIỀN NAM 1954-1975

Năm 1939, truyện ngắn đầu tay của ông có tên là Bóng tối và
ánh sáng đƣợc chọn đăng trên tạp chí Thế giới (Hà Nội) và
đƣợc trao giải nhất. Sau đó, ông lần lƣợt cộng tác với các báo,
nhƣ: Bạn dân (Hà Nội), Thế giới (Hà Nội), Mới (Sài Gòn), Văn
Lang (tạp chí, Sài Gòn), Tiểu thuyết thứ Bảy (tạp chí, Hà
Nội)...

Từ năm 1945 đến năm 1954, ông tham gia phong trào cách
mạng ở quê nhà, từng làm Ủy viên kịch nghệ thuộc Hội Văn
nghệ Quảng Nam, Ủy viên kịch nghệ thuộc Hội Văn nghệ liên
khu V.

Sau năm 1954, ông ở lại Quảng Nam dạy giờ tại các trƣờng tƣ
và tiếp tục sáng tác.

Năm 1955, ông tham gia viết bài đăng trên tạp chí Mùa Lúa
Mới do Võ Thu Tịnh chủ trƣơng, sau đó ông bị bắt giam ở nhà
lao Thừa phủ (Huế), vì tham gia phong trào đấu tranh đòi
thống nhất đất nƣớc.

Ngoài công việc viết văn, ông còn dạy học tại các trƣờng trung
học tƣ thục Đà Nẵng, Đại học Văn khoa Huế, ...và sau nầy dạy
thêm ở Đại Học Đà Nẵng (thành lập năm 1974).

Ông qua đời ngày 4 tháng 7 năm 2007 tại Đà Nẵng, thọ 86
tuổi.

Tác phẩm:

- Ngày giỗ cha (tập truyện ngắn, 1943)
- Ngày cuối năm trên đảo (tập truyện ngắn, 1945)

659


HUỲNH ÁI TÔNG

- Bão rừng (tiểu thuyết, 1957)
- Dịch cát (tập truyện ngắn, 1966)
- Khi những lƣu dân trở lại (khảo luận, 1967)
- Hƣơng máu (tập truyện ngắn, 1969)
- Phong trào Duy Tân (biên khảo, 1969)
- Chinh phụ ngâm diễn âm tân khúc (khảo lục, 1971)
- Kỳ nữ họ Tống (truyện lịch sử, 2002)
- Nguyễn Văn Xuân-Một ngƣời Quảng Nam (27 bài báo,
2010)

Trích văn:

Trƣớc khi vào truyện

“ Những chuyện chết tôi trình bày ở đây chỉ là mấy cái chết
khiêm tốn của những con ngƣời ở miền xƣơng xẩu của đất
nƣớc Việt Nam. Tôi chọn nhân vật của tỉnh Quảng Nam (nay
chia thêm Quảng Tín) này không phải do óc tự hào địa
phƣơng, cái địa phƣơng vốn là một trong những nguồn cung
cấp những con ngƣời ƣu tú để hiến dâng đất nƣớc và niềm
hứng khởi lớn lao cho bản hùng ca của tranh đấu sử. Tôi chọn
nó chỉ vì những tình cảm tự nhiên qua những ngày lang thang
trong xóm làng hay trôi theo dòng tản cƣ vĩ đại…Tôi đã nghe
biết bao lần và biết bao ngƣời kể về cái chết của các anh hùng,
liệt nữ, cũng nhƣ của bọn đầu trộm đuôi cƣớp; có những cái
chết đáng lƣu lại mà cũng có những cái chết đáng đƣợc quên
đi. Nhƣng tất cả các cái chết ấy đã kích thích óc tò mò bắt tôi
suy nghĩ và tôi cho đều đáng ghi lại một nét ý chí, một sắc thái
địa phƣơng và hiển nhiên cũng là của dân tộc. Nói khác đi, đây
không có con mắt đạo đức, sử học hay giáo dục. Đây chỉ là
một lối nhìn của một đứa trẻ con quá lớn trong tâm hồn tôi:
đứa trẻ ấy vừa thực tế, vừa mơ mộng lại hiếu kỳ mà nghệ sĩ.
Đứa trẻ ấy với tâm hồn còn ngân vang tình cảm thuở ban đầu,

660


VĂN HỌC MIỀN NAM 1954-1975

không muốn dùng sự xác thật để sửa chữa những điều tai nghe
mắt thấy. Và nó chỉ muốn vẽ lại trung thành cái nhìn lịch sử
bằng con mắt của dân chúng, của những diễn viên hoặc khán
giả của chính lịch sử ấy, mà tự họ đã để thực tế, sự kiện lùi
dần nhƣờng chỗ cho huyền thoại lan ra.

Tôi không muốn kể lại chuyện ông Hoàng Diệu trƣớc khi chết
phải làm cái gì khác hơn là đá mâm cháo gà và ném gƣơm
toan giết viên đội hầu trung thành. Tôi không muốn kể lại ông
Nguyễn Hiệu không bạo liệt nhƣ thế. Tôi không muốn thấy bà
vợ Thái Phiên quấn máu hồng trong tóc và chết kinh khủng
nhƣ thế. Tôi không muốn tả lại cái thời Pháp thuộc mà tử tội
về làm lễ ở dinh Chúa và thong dong đi qua đám dân làng bái
vọng…Tôi không muốn nhiều chuyện lắm. Ví hoặc nó quá
đúng một cách thô thiển, hoặc nó quá sai vì giàu tƣởng tƣợng
và nhất là nó không mấy vinh dự cho các danh nhân đƣợc
nhiều ngƣỡng mộ. Nhƣng chính các bô lão khi kể cho tôi nghe
thì họ kể một cách hăng hái nhiệt thành cho đến độ tôi tƣởng
nếu không phải nhƣ thế mới là không thật không hùng mà tôi
đã nghe, đã yêu, đã gìn giữ trong tân khảm qua nhiều năm
tháng. Qua nhiều năm tháng, tôi tƣởng nhƣ tiếng bà bác tôi
còn văng vẳng: “Ổng đã hất mâm cháo gà rồi đi tuốt ra Võ
Miếu, viên đội hầu liền chạy theo…” hay một cụ hai mắt đã
mờ, chỉ nhìn rõ vào nội tâm hơn ngoại giới, nói bằng giọng
nhợt nhạt: “ Chúng tôi đƣa ổng qua chùa, qua dinh để bái lạy.
Bà con trong làng đã đặt bàn, thắp hƣơng…” , hay một cụ
khác, gầy guộc,loắt choắt hình nhƣ đã từng cộng sự với Thái
Phiên và đã có thái độ vừa kinh tởm vì mùi hôi tanh vọng qua
thời gian, vừa xót xa thƣơng tiếc ngƣời bạc mệnh…

Những nhân vật lịch sử này cũng phát xuất từ làng tôi hoặc ở
các làng chung quanh, có ngƣời ở sát nách, có ngƣời năm
mƣời cây số, thành thử chuyện của họ thƣờng hoà bát nƣớc
chè đậm Tiên Phƣớc, tô mì Phú Chiêm hay buổi cày bừa, lúc
hò khoan hát hố… Do đó, mỗi khi suy tƣ về họ, tôi mƣờng

661


HUỲNH ÁI TÔNG

tƣợng thấy cả dòng nƣớc xanh của nhánh sông Thu Bồn êm ái
chảy qua đầu làng Thanh Chiêm nghèo nàn tuy lúa, rau xanh
nghin nghít, nơi đã từng mọc lên một cách hiên ngang những
thành quách vững chãi của các chúa Nguyễn trên đƣờng mở
sinh lộ ở phƣơng nam.

Tôi mong sẽ có nhiều cơ hội biết và giai hòa tình cảm tôi với
nhiều địa phƣơng khác để viết vì nơi nào chẳng là Đất Mẹ,
đáng cho ta mến yêu và khai thác. Tôi cũng hy vọng sẽ viết
đƣợc nhiều những đề tài khác, tuy tôi vẫn tin chắc chuyện chết
không bao giờ hết là nguồn cảm hứng cao cả, sâu xa. Vì chết
cho biết chết sẽ chỉ dành cho những ai sống một đời đáng
sống. Mà tất cả chúng ta ai ai và bao giờ cũng sống đời đáng
sống hay không”

…………………

Rồi Máu Lên Hƣơng

… ― Giữa lúc ấy, một buổi sáng, tôi bỗng ngạc nhiên nhận thấy
trƣớc gian nhà dùng làm Ty của ông Phan đƣợc đóng cọc,
dựng lều. Ngƣời ta đem hƣơng án kê về phía Bắc, trên hƣơng
án có bộ ngũ sự bằng đồng sáng bóng, có hoa tƣơi trong độc
bình. Trƣớc án trải mấy dãy chiếu hoa cạp điều còn mới. Trên
các cây cột có treo sẵn đèn đuốc. Tôi nhớ lại từ mấy đêm nay,
ông Phan không ngủ, mải dọn dẹp giấy tờ trong văn phòng
cùng ông Hƣờng rồi đem đốt trong một cái chậu kiểng. Chúng
tôi cũng đƣợc tự do đi chơi, không phải làm việc gì mà cũng
không cần có mặt ở Ty. Ông có vẻ trầm tĩnh nhƣ thƣờng ngày
nhƣng không dấu đƣợc vẻ buồn chợt thoáng qua trong cái nhìn
khoan dung. Tôi chỉ là một viên chức quá nhỏ nên không thể
biết đƣợc những việc quan trọng nên việc gì cũng nhờ ông
Bốn, giữ chức Chủ sự cùng ở chung nhà cho biết. Nhƣng lần
này, tôi cố gắng hỏi nhiều lần mà ông Bốn đều đánh trống lảng
cả. Ông cũng bận tíu tít, chỉ gặp tôi trong bữa ăn rồi quày quả

662


VĂN HỌC MIỀN NAM 1954-1975

trở lại Ty ngay. Tôi nhận thấy trong ngày ấy có nhiều quan
chức địa phƣơng cũng có mặt và buổi chiều sang họp kín ở nhà
ông Hƣờng. Ai nấy đều có vẻ nghiêm trọng và đăm chiêu.
Quân lính cũng lần lƣợt về mấy đội, mặc quân phục. Buổi tối,
đèn đuốc thắp sáng tƣởng nhƣ đây là ngày lễ Hƣng quốc. Lát
sau, một đội lính có bịt khăn chế, cầm đuốc tre, tiến sang đứng
hai bên để soi đƣờng cho đám ngƣời từ nhà ông Hƣờng dẫn
sang. Ông Bốn phát cho chúng tôi mỗi ngƣời một chiếc khăn
trắng bảo đội lên đầu và chia nhau đứng cùng với các thân hào
trong vùng. Lát sau, đám ngƣời ấy tiến tới do ông Hƣờng và
ông Phan dẫn đầu. Mỗi ông đều mặc đại trào , có ủng, có đai,
bào nhung nhƣng bịt khăn trắng và ngoài áo gấm lại có áo
khoác, áo chế. Các quan đi sau cùng đều mang khăn tang cả.
Tôi thầm đoán là vua Hàm Nghi chết. Bệnh tật hay bị giết ?
Tôi thƣơng hại ông vua mà tôi phụng sự song chƣa biết mặt,
lòng hết sức bùi ngùi. Ở lều trại, lễ sinh cũng bận trào phục, có
chiêng trống nhƣng không có nhã nhạc, mời các quan tuần tự
đứng theo phẩm trật mình. Ông Hƣờng ở chiếu giữa, ông Phan
ở chiếu bên hữu cùng các quan văn. Chiếu bên tả dành cho các
võ quan. Tôi đứng vào hàng sau cùng trƣớc các thân hào. Lính
tráng cầm đuốc bọc quanh gian lều. Dân chúng nhiều ngƣời tò
mò đến xem, ban đầu đứng ngoài xa, sau tiến lần vào gần. Đại
lễ bắt đầu. Chuông trống nổi lên. Lễ sinh đọc các câu nghi thức
thƣờng lệ. Hôm nay có điều đặc biệt không bao giờ xảy ra là
ông Hƣờng lạy xong trƣớc hƣơng án thì đứng sang một bên,
nhƣờng chỗ cho ông Phan. Ông Phan đến lạy năm lạy rồi quỳ
xuống cùng ông Hƣờng song song chắp tay lên trán khấn vái.
Các quan cũng đều quỳ sẵn và cùng khấn vái nhƣ thế cả.

Khi lễ xong, ông Hƣờng ra hiệu cho tất cả mọi ngƣời lại gần.
Tất cả chúng tôi đều tiến lần lên, ban đầu còn hơi xa, rồi càng
lúc càng nhích tới gần. Ông Hƣờng không dùng cái giọng đanh
thép ra lệnh hàng ngày mà dùng một thứ giọng rất trầm buồn
song vẫn đầy cƣơng nghị. Ông ngỏ lời trƣớc với các quan lại,
tƣớng sĩ, sau với thuộc hạ, quân lính. Đại ý, ông cho biết một

663


HUỲNH ÁI TÔNG

quyết định hết sức lạ lùng, một quyết định thật bất ngờ ở ngoài
tất cả dự đoán non nớt của tôi, và ba mƣơi năm sau, bốn mƣơi
năm sau, mỗi lần nhớ đến, tôi vẫn còn bỡ ngỡ tƣởng mình đang
chiêm bao. Ông cho biết là từ thất bại này sang thất bại khác,
đại cuộc đã hỏng, không hy vọng nào kéo dài thêm nữa. Vì
càng kéo dài thì chỉ càng hao ngƣời, tốn của, không còn lối
thoát nào ngoài sự tiêu diệt đến con ngƣời cuối cùng. Vậy cần
bảo toàn sinh lực, ý chí của Hội để chờ thời cơ thuận lợi sẽ
hoạt động trở lại. Cuộc đấu tranh trƣờng kỳ để thâu hồi độc lập
không cốt ở một đôi nơi, một đôi lúc mà cốt ở bất kỳ nơi nào,
lúc nào ‗ trong vĩnh cửu, bằng vĩnh kiếp thực hiện theo một
cách vĩnh đồ‘ . Vậy mỗi hội viên, quan lại, mỗi chức việc,
quân binh phải tƣ nhiệm cái trách vụ đi tìm những ngƣời đồng
tƣ tƣởng, đồng chí khí kết giao với họ để hƣng lại cái nghiệp
cứu quốc gia ta bị lỡ dở, học thêm cái phƣơng pháp mới, rèn
luyện khí cụ mới để công cuộc chiến đấu có hiệu quả chắc
chắn hơn trong thời buổi khoa học mới mẻ này. Ngày nay, để
giữ bí mật cho sự hoạt động của các đảng nhân, để khỏi mảy
may tiết lộ các chân tƣớng của những ngƣời cộng sự với Hội ta
thì ngƣời thủ xƣớng tức là Phan đại nhân và tôi sẽ chịu chết.
Phan đại nhân là ngƣời giữ tất cả giấy tờ giao thiệp với đảng
nhân ba tỉnh, là cái hồn của công cuộc tổ chức Nghĩa Hội ở ba
tỉnh, sẽ đốt hết giấy tờ quan hệ tại đây và cùng chết ngay tại
đây, để cho ai nấy tin chắc là mọi sự bí mật của Hội, mọi hoạt
động của hội chỉ có trời đất biết. Dẫu ai có muốn tố cáo, muốn
phanh phui gì cũng không có bằng chứng nào để vin vào mà di
hại đảng nhân của ta nữa. Còn tôi, tôi sẽ đi chết ở một nơi
khác. Ở nơi khác đó, tôi sẽ tự nhận tất cả tội đã bắt buộc mọi
ngƣời phải qui phục và nhƣ thế không quyền lực nào còn vin
vào đâu để sát hại, bắt bớ đảng nhân ta nữa. Nhƣ thế linh hồn
của Hội ta còn, mà hễ ‗tồn ngô đảng, tha nhật hữu thành ngô
chí giả, ngô sanh giả‘

Ông nói xong, quay về phía ông Phan. Ông Phan cũng tiếp lời
căn dặn chúng tôi phải tận trung với nƣớc, với vua, nhƣng

664


VĂN HỌC MIỀN NAM 1954-1975

cũng phải rút bài học tranh đấu của Nghĩa Hội, phải nhớ câu:
‗nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân‘ để theo kịp thời đại mà
chiến đấu cho hiệu quả. Ông quay sang ông Hƣờng, lạy ông
hai lạy và ông Hƣờng lạy lại bốn lạy. Các quan cũng lạy ông,
ông cũng đáp lạy lại. Tất cả mọi ngƣời đều quỳ lạy và chờ đợi
trong một sự yên lặng tƣởng nghe đƣợc rõ tiếng sột soạt của
xấp giấy ông rút ra từ ngực. Đó là danh sách hội viên Nghĩa
Hội. Ông đƣa lên ngọn lửa, cầm chúc xuống cho cháy đều rồi
đặt vào trong một cái bát cổ rất lớn.

Tiếp theo, ông rút ra một chiếc xếp da bọc nhỏ. Từ xếp da, ông
lấy ra một cái gói bọc bằng giấy hồng đơn đã cũ mèm, đƣờng
xếp gần rách mà hình nhƣ ông mang theo từ lâu lắm, có lẽ từ
thời quyết định đứng lên theo hịch Cần Vƣơng. Ông thong thả
mở gói, đổ chất thuốc đen vào một chén nƣớc lạnh đã đặt sẵn
trên cái án thƣ kê trƣớc mặt rồi lấy ngón tay khuấy cho tan đều.
Khi cả chén nƣớc đều đen ngầu, ông sửa lại khăn áo, bƣng lên
trên hai tay đầy vẻ kính cẩn rồi quỳ xuống mà nói:

-Kẻ chịu mệnh Hoàng Thƣợng mà không làm tròn mệnh, xin
chỉ lấy cái chết để tạ Hoàng Thƣợng.

Và ông quay đầu lại ông Hƣờng, ông nói một câu giản dị:

-Ông hãy gắng sức, tôi xin đi trƣớc

Ông quay một vòng:

-Xin giã biệt các quan và bà con.

Ông đƣa chén thuốc lên môi, thong thả nuốt từng ngụm một.
Uống xong, ông đặt chén ung dung nâng cái hốt ngà lên, đầu
cúi xuống cho đƣợc trang nghiêm. Tất cả mọi ngƣời đều đã
quỳ xuống. Nhiều ngƣời không ngăn đƣợc mối xúc động mãnh

665


HUỲNH ÁI TÔNG

liệt, phải nhét vạt áo vào họng sợ e cất lên tiếng khóc sẽ làm
giảm mất không khí thiêng liêng…

….

Lát sau, khi những cái rùng mình mạnh làm ông lảo đảo thì
ông Hƣờng đỡ ông cho ngay ngắn rồi các quan đều lạy. Một
tiếng nấc phía trƣớc tôi, một tiếng nấc ở phía sau. Tiếng khóc
nổi lên đồng loạt. Một ngƣời còn trẻ mà tôi nhớ chính là ông
Nguyễn Thành, thét lên trong cơn xúc động dồn dập:

―Phan đại nhân ! Tôi nguyện sẽ giết hết, giết hết chúng nó để
trả thù cho ông !...‖

(Trích tâp truyện Hƣơng Máu)

Đọc Nguyễn Văn Xuân từ truyện ngắn cho đến những sách nhƣ
Phong Trào Duy Tân, Khi Lƣu Dân Trở Lại, Chinh Phụ Ngâm
Diễn Âm Tân khúc, chúng ta thấy văn ông giản dị, đôn hậu, có
tấm lòng với đất nƣớc, nghiên cứu nghiêm túc, để lại bài học
cho ngƣời sau.

Tài liệu tham khảo:

- Nguyễn Văn Xuân Web: vi.wikipedia.org
- Nguyễn Văn Xuân Web: luanhoan.net

Hiên PHẬT HỌC
2012

666


Click to View FlipBook Version