The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.

DỰ THẢO VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU PHỤ NỮ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LẦN THỨ XI, NHIỆM KỲ 2021 - 2026

1. Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh trình Đại hội đại biểu Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2021 - 2026;
2. Phụ lục kết quả thực hiện chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội đại biểu Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ X, nhiệm kỳ 2016 - 2021;
3. Phụ lục số liệu nhiệm kỳ 2016 - 2021;
4. Một số phụ lục số liệu điển hình minh họa bằng biểu đồ;
5. Báo cáo kiểm điểm của Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố khóa X tại Đại hội đại biểu Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2021 - 2026;
6. Báo cáo tham luận.

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search

Dự thảo VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU PHỤ NỮ TPHCM LẦN THỨ XI, NHIỆM KỲ 2021-2026

DỰ THẢO VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU PHỤ NỮ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LẦN THỨ XI, NHIỆM KỲ 2021 - 2026

1. Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh trình Đại hội đại biểu Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2021 - 2026;
2. Phụ lục kết quả thực hiện chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội đại biểu Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ X, nhiệm kỳ 2016 - 2021;
3. Phụ lục số liệu nhiệm kỳ 2016 - 2021;
4. Một số phụ lục số liệu điển hình minh họa bằng biểu đồ;
5. Báo cáo kiểm điểm của Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố khóa X tại Đại hội đại biểu Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2021 - 2026;
6. Báo cáo tham luận.

Keywords: ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU PHỤ NỮ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LẦN THỨ XI,VĂN KIỆN ĐẠI HỘI

44

3. Hoạt động an sinh, xã hội:

Nội dung Năm Năm Năm Năm Năm Năm Tổng số
2016 2017 2018 2019 2020 2021 giai đoạn

- Số MATT 145 căn / 191 căn / 218 căn / 164 căn / 148 căn / 72 căn / 938căn/
được xây dựng, 6.349.790 6.902.224 9.245.000 6.663.429 6.600.000 3.500.000 39.260.443
sửa chữa/ tổng
số tiền 1.000
đồng). Trong đó:

+ Số MATT 92 căn / 137 căn / 168 căn / 107 căn / 82 căn / 40 căn / 626căn/
được xây dựng/ 4.317.000 5.914.984 8.207.000 5.377.285 4.700.000 2.360.000 30.876.269
tổng số tiền
1.000 đồng).

+ Số MATT 53 căn / 54 căn / 50 căn / 57 căn / 66 căn / 32 căn / 312căn/
được sửa chữa/ 2.032.790 987.240 1.038.000 1.286.144 1.900.000 1.140.000 8.384.174
tổng số tiền
1.000 đồng).

+ Số MATT 0 9 căn / 12 căn / 8 căn / 4 căn / 5 căn / 38 căn /
xây dựng, sửa 371.106 404.253 420.000 200.000 250.000 1.645.359
chữa cho phụ
nữ DTTS/ tổng
số tiền 1.000
đồng).

+ Số MATT

xây dựng, sửa

chữa cho phụ 0 12 căn / 18 căn / 0 0 0 30 căn /
nữ tôn giáo/ 426.000 583.163 1.009.163

tổng số tiền

1.000 đồng).

- Số suất học 9.787 suất/ 9.367 suất / 9.744 suất / 8.608 suất / 8.566 suất / 6.025 suất / 52.097suất/
bổng Nguyễn 11.909.800 11.555.200 10.175.925 15.363.612 16.118.340 10.316.790 75.439.667
Thị Minh Khai /
tổng số tiền
1.000 đồng).

- Số phương tiện 117 / 677 / 709 / 603 / 406 / 355/ 2.867/
sinh kế / tổng số 506.000 1.717.000 13.390.950
tiền (1.000 3.064.600 3.159.160 2.670.190 2.274.000
đồng).

- Chương trình Chưa Chưa
“Đồng hành thực hiện thực hiện 2.696.400 2.691.138 1.425.000 275.000 7.087.538

cùng Phụ nữ

45

Nội dung Năm Năm Năm Năm Năm Năm Tổng số
2016 2017 2018 2019 2020 2021 giai đoạn
biên cương”
tổng số tiền)
1.000 đồng).

- Tổng giá trị 3.569.057 3.656.516 2.953.478 2.739.565,577 1.535.000 1.161.000 15.614.616,577
tiền, quà ủng hộ
“Quỹ vì người
nghèo” 1.000
đồng).

- Tổng giá trị 1.483.055 3.326.076 2.740.456 2.869.500 2.000.000 2.051.000 14.470.087
tiền quà giúp
gia đình chính
sách bà mẹ

VNAH, gia
đình TBLS)
1.000 đồng).

- Tổng giá trị
tiền thực hiện
các hoạt động
từ thiện, nhân - 21.484.466 26.609.777 21.925.376,890 64.802.000 651.539.000 786.360.619,890
đạo khác 1.000
đồng).

4. Kết quả thực hiện c c đề n của chính phủ:

Nội dung Năm Năm Năm Năm Năm Năm Tổng số
2016 2017 2018 2019 2020 2021 giai đoạn

4.1 Đề n 938 “Tuyên truyền, gi o dục, vận động, hỗ trợ phụ nữ tham gia giải quyết một số
vấn đề xã hội liên quan đến phụ nữ giai đoạn 2017 - 2027”

- Số cuộc, sự kiện Chưa 404 1.042 1.727 1.795 1.615 6.583
tuyên truyền, vận động, thực
hỗ trợ phụ nữ tham gia hiện
giải quyết vấn đề xã hội
liên quan đến phụ nữ
được tổ chức

- Số đầu sản phẩm Chưa 6.424 12.970 79.919 735 1.775 101.823
truyền thông đề án thực
được xuất bản, triển hiện
khai tới cộng đồng

46

Nội dung Năm Năm Năm Năm Năm Năm Tổng số
2016 2017 2018 2019 2020 2021 giai đoạn

- Số hội viên, phụ nữ, Chưa Chưa 130.173 184.770 193.689 144.287 652.919
cha mẹ có con dưới 16 thực thực
tuổi được cung cấp hiện hiện
thông tin, kiến thức về
giữ gìn, rèn luyện Chưa
phẩm chất đạo đức và ý thực
thức chấp hành pháp hiện
luật; về giáo dục làm
cha mẹ; khả năng, vai
trò của phụ nữ trong
bảo đảm an toàn thực
phẩm, phòng, chống
bạo lực trên cơ sở giới

- Số mô hình vận Chưa 734 776 837 966 -
động, hỗ trợ phụ nữ thực
tham gia giải quyết, hiện
giám sát một số vấn
đề xã hội ưu tiên có
thể nhân rộng

4.2 Đề n 279 “Ph t huy gi trị tốt đẹp c c mối quan hệ trong gia đ nh và hỗ trợ xây dựng gia
đ nh hạnh phúc, ền vững đến năm 2020”

- Số lớp tập huấn kiến Chưa 22 / 32 / 27 / 27 / Kết thúc 108 /
1.993 / 3.158 / 3.176 / 3.932 / Đề án 12.259 /
thức tiền hôn nhân/học thực 1.395 1.545 1.919 5.625
766
viên/ cặp đôi hiện

- Số cặp đôi tham gia Chưa - 195 / 333 / 229 / Kết thúc 757 /
sinh hoạt CLB XD thực 121 748 494 Đề án 1.363
GĐHP/Số cặp đôi hiện
tham dự lớp tập huấn
tiền hôn nhân đã đăng
ký kết hôn

- Số CLB xây dựng gia 2.843 / 2.859 / 3.066 / 2.015 / 1.999 / 1.994 / -
đình hạnh phúc/ số 93.149 76.328 77.778 76.950
85.734 88.789
thành viên

4.3 Đề n 404 “Hỗ trợ ph t triển nhóm trẻ độc lập tƣ thục ở Khu Công nghiệp, Khu Chế
xuất đến năm 2020”

- Số lớp chuyên đề cung 134 / 185 / 282 / 124 / 148 / Kết thúc 873 /
cấp các kiến thức, kỹ 17.740 17.128 25.009 16.887 29.501 Đề án 106.265
năng chăm sóc trẻ dưới

47

Nội dung Năm Năm Năm Năm Năm Năm Tổng số
2016 2017 2018 2019 2020 2021 giai đoạn
36 tháng tuổi trên địa
bàn/ số người tham dự

- Số lớp đào tạo nghề 4 / 158 6 / 250 8 / 308 5 / 195 6 / 234 -nt- 29 /
bảo mẫu/ số học viên 141 / 1.145
1.821
- Số nhóm “Phụ huynh Chưa Chưa 28/436 114 / 141 / -
nòng cốt”/số thành viên thực thực 1.470 1.821 2.401
hiện hiện 72.721
981
4.4 Đề n 939 “Hỗ trợ Phụ nữ khởi nghiệp giai đoạn 2017 - 2025” 3.555
439
- Số phụ nữ được tuyên Chưa 1.301 16.697 43.789 8.533 1.304
truyền, nâng cao nhận thực
thức về khởi nghiệp và hiện
khởi sự kinh doanh

- Số phụ nữ khởi sự Chưa 74 476 940 1.084
kinh doanh và khởi thực
nghiệp được Hội hỗ trợ hiện

- Số ý tưởng khởi Chưa 23 27 179 636
nghiệp của phụ nữ thực
được Hội hỗ trợ hiện hiện
thực hóa

4.5. Đề n 32 “Ph t triển nghề công t c xã hội giai đoạn 2016 - 2020”

- Số trường hợp được 127 258 318 573 868 Kết thúc 2.144
hỗ trợ tâm lý, pháp lý Đề án
545 685 1.336
- Số lượt tư vấn trực 540 2.884 -nt- 5.990
tiếp và qua điện thoại 74 / 75 / 76 /
2.589 2.629 3.295
- Số cuộc tập huấn, 70 / 187 / -nt- 482 /
chuyên đề các nội dung 1.190 24.184 33.887
thực hiện Đề án / lượt
người dự

48

5. Hoạt động trợ vốn:

5.1 Từ nguồn tín dụng tiết kiệm Quỹ Hỗ trợ Phụ nữ ph t triển kinh tế
(Quỹ CWED):

Nội dung Năm Năm Năm Năm Năm Năm Tổng số
2016 2017 2018 2019 2020 2021 giai đoạn

- Số thành viên được 11.880 10.900 11.753 11.555 10.367 4.199 60.654
phát vay

- Dư nợ vốn vay đến 100,748 111,053 131,278 154,962 159,065 133,421 -
31/12 tỷ đồng)

- Tổng số vốn cho vay 161,627 171,238 211,716 278,197 259,951 116,891 1.199,620
tỷ đồng)

5.2 Từ nguồn vốn TDTK của quận, huyện:

Nội dung Năm Năm Năm Năm Năm Năm Tổng số
2016 2017 2018 2019 2020 2021 giai đoạn

- Số thành viên 33.959 25.744 26.870 21.918 27.998 22.339 158.828
phát vay

- Dư nợ vốn vay 159,094 196,991 217,742 155,035 124,028 197,037 -
đến 31/12 tỷ đồng)

- Tổng số vốn cho 198,868 246,238 272,177 193,794 155,035 122,865 1.188,977
vay tỷ đồng)

5.3 Từ Nguồn vốn ủy th c Ngân hàng chính s ch xã hội:

Nội dung Năm Năm Năm Năm Năm Năm 2021 Tổng số
2016 2017 2018 2019 2020 (đến 31/10) giai đoạn

- Số lượt hộ 14.068 15.973 29.680 26.373 10.006 117.719
được vay vốn 21.619 60.456 -
qua Hội 2.507,449 -
0,55 -
- Số hộ đang 53.135 52.499 52.580 54.755 59.932
vay vốn qua Hội

- Dư nợ vốn
vay đến 31/12 779,147 1.091,959 1.258,395 1.794,089 2.428,933
tỷ đồng)

- Tỷ lệ nợ quá 1,70 1,54 0,96 0,70 0,54
hạn %)

49

5.4 Hoạt động tiết kiệm:

Nội dung Năm Năm Năm Năm Năm Năm Tổng số
2016 2017 2018 2019 2020 2021 giai đoạn

- Số tiền vận 4,697 4,592 4,767 4,852 4,852 4,473 -
động ngày “Tiết
kiệm Vì Phụ nữ
nghèo” tỷ đồng)

- Số hội viên, phụ -
nữ tham gia các loại 850.854 715.574 801.695 805.540 774.808 663.770
hình tiết kiệm

- Số tiền tiết kiệm
huy động được tỷ 213,019 304,213 122,764 193,627 104,280 139,705 1.077,608
đồng)

- Số dư tiết kiệm 362,125 349,057 472,277 466,166 562,424 609,301 -
hiện nay tỷ đồng)

- Số lượt hội viên, 27.965 65.410 30.335 29.680 27.998 25.689 207.077
phụ nữ được vay 197,407 319,825 212,350 207,760 195,626 201,292 -
từ nguồn tiết kiệm

- Tổng số tiền cho
vay từ nguồn tiết
kiệm tại chi, tổ tỷ
đồng)

6. Hoạt động hỗ trợ phụ nữ tho t nghèo ền vững:

Nội dung Năm Năm Năm Năm Năm Tổng số
2017 2018 2019 2020 2021 giai đoạn

- Số hộ nghèo được Hội giúp 19.745 12.282 11.442 7.243 19.336 (lượt)

70.048

- Số hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ 12.413 12.220 11.442 7.243 19.336 62.654
được Hội giúp

- Số hộ nghèo do Hội giúp thoát 2.445 4.301 3.242 3.284 1.540 14.812
nghèo

- Số hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ 1.479 3.086 3.242 3.284 1.540 12.631
được giúp thoát nghèo

50

7. Hoạt động hỗ trợ đào tạo nghề, giải quyết việc làm:

Nội dung Năm Năm Năm Năm Năm Năm Tổng số
2016 2017 2018 2019 2020 2021 giai đoạn
5.696 5.865
- Số phụ nữ được Hội tư vấn, 14.498 5.328 5.880 6.781 3.131 4.775 44.048
giới thiệu việc làm 47.592
289 402
- Số phụ nữ được Hội đào 11.255 9.769 7.985 10.677 5.477
tạo nghề

Trong đó:

+ Đào tạo trực tiếp tại cơ sở 1.376 927 981 1.502

của Hội

+ Phốihợp, liênkết đào tạonghề 5.179 4.725 3.426 2.737 2.129 1.508 19.704

+ Giới thiệu phụ nữ được đào tạo 4.700 4.117 3.578 6.438 713 2.865 22.411
nghề tại cơsở khác ngoài Hội 5.880 5.598 7.578 2.000 3.817 31.844

- Số phụ nữ có việc làm sau 6.971
đào tạo

8. Hoạt động thành lập và hỗ trợ c c hợp t c xã, tổ hợp t c:

Nội dung Năm Năm Năm Năm Năm Năm Tổng số
2016 2017 2018 2019 2020 2021 giai đoạn
- Số Hợp tác xã được
thành lập/ số thành viên Chưa 1 / 97 0 4 / 36 3 / 22 0 8 / 155
thực
hiện 0 16 / 114

- Số tổ hợp tác được 1 / 26 1/7 1 / 5 4 / 15 9 / 61
thành lập/ số thành viên

9. Hoạt động bảo vệ môi trƣờng, ứng phó với biến đổi khí hậu:

Nội dung Năm Năm Năm Năm Năm Năm Tổng số
2016 2017 2018 2019 2020 2021 giai đoạn
310 -
- Số cơ sở Hội xây dựng, duy trì - 319 319 319 319
hoạt động/ mô hình về môi 310 -
trường
0 16.124
- Số cơ sở Hội xây dựng, duy trì - 319 319 319 319
hoạt động/ mô hình về biến đổi
khí hậu

- Số hộ gia đình được Hội hỗ trợ
xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh, 10 493 3 15.618 0
hầm biogas

51

10. Tƣ vấn ph p luật, trợ giúp ph p lý:

Nội dung Năm Năm Năm Năm Năm Năm Tổng số
2016 2017 2018 2019 2020 2021 giai đoạn

- Số lượt tiếp công dân và tư vấn 1.203 1.053 1.788 1.195 1.038 1.198 7.475
pháp luật

- Tổng số đơn thư nhận được 127 123 173 131 53 59 666

Trong đó: + Số đơn thư kiến nghị

chuyển) cơ quan chức năng giải 6 11 10 6 14 12 59
quyết có văn bản phúc đáp kết

quả giải quyết

+ Số đơn thư kiến nghị chuyển)

cơ quan chức năng giải quyết 71 29 42 65 15 13 235
không có văn bản phúc đáp kết

quả giải quyết

+ Số đơn thư Hội giải quyết 50 83 121 60 24 34 372

11. Bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ, trẻ em:

Nội dung Năm Năm Năm Năm Năm Năm Tổng số
2016 2017 2018 2019 2020 2021 giai đoạn
66 81
- Số vụ việc liên quan đến - 22 48 20 237
quyền, lợi ích của phụ nữ, trẻ 66 81
em Hội tham gia giải quyết 20 237
66 81
Trong đó: - 22 48 66 81 20 237
66 81 20 237
+ Phát hiện và phối hợp với cơ 33 60 20 237
quan chức năng tham gia can 14 122
thiệp, hỗ trợ pháp lý

+ Tư vấn - 22 48

+ Can thiệp, hỗ trợ - 22 48

+ Kiến nghị - 22 48

- Số vụ đã được giải quyết - 87

52

12. Tổ chức Hội, hội viên:

Nội dung Năm Năm Năm Năm Năm Năm
2016 2017 2018 2019 2020 2021

12.1 Tổng số cơ sở Hội: 405 484 447 447 440 424

Trong đó:

+ Theo xã, phường, thị trấn 322 322 322 322 322 312

+ Trong các chợ, siêu thị, 53 53 54 54 53 52
trung tâm thương mại

+ Theo Lực lượng Vũ
trang Hội Phụ nữ công an 24 103 65 65 59 57
các quận, huyện)

+ Khác 06 06 06 06 06 0367

- Tỷ lệ cơ sở Hội xếp loại 98,76% 94,21% 89,26% 89,93% 89,54% 97,4%
(318 /
hoàn thành xuất sắc (456 / (399 / (402 / (394 / (413 /
322) 484) 447) 447) 440) 424)

12.2 Tổng số Chi Hội/ 2.160 / 2.227 / 2.237 / 2.260 / 2.264 / 2.269 /
Khu phố, ấp, ô khu vực: 1.997 1.992 1.986 1.993 1.993 1.989

12.3 Tổng số Tổ phụ nữ/ 25.188/ 25.416/ 26.177/ 24.852/ 25.037/ 25.021/

Tổ nhân dân: 25.414 25.572 26.242 24.973 24.987 24.609

12.4 Hội viên:

- Tổng số phụ nữ từ 18 1.293.522 1.796.319 1.796.319 1.796.319 1.796.319 1.796.319
tuổi trở lên68

- Số hội viên không tính 511.520 495.685 720.455 748.575 775.474 790.836
HV là đoàn viên công
đoàn, HV trong các lực
lượng vũ trang và các tổ
chức thành viên)

Trong đó:

+ Hội viên là người 52.966 41.538 44.471 41.806 42.202 42.764
DTTS

67 Giảm 3 đơn vị: Hội Phụ nữ cơ quan chính quyền Quận 7, Hội Phụ nữ công ty dịch vụ công ích huyện Nhà Bè,

Hội Phụ nữ Bệnh viện huyện Nhà Bè.
68 Tổng số phụ nữ từ 18 tuổi trở lên: lấy theo số liệu của ngành công an cùng cấp.

53

Nội dung Năm Năm Năm Năm Năm Năm
2016 2017 2018 2019 2020 2021

+ Hội viên tôn giáo 179.327 175.079 176.365 187.318 188.680 188.680

+ Hội viên mới kết nạp. 31.892 41.883 83.496 41.647 34.831 25.579

- Tổngsố hội viên nòngcốt69: 241.220 229.286 225.803 235.958 250.089 251.334

Trong đó:

+ Là ngườidântộcthiểusố 13.500 12.426 12.745 12.293 12.258 13.130

+ Là tôn giáo 31.485 26.463 29.582 27.220 30.283 30.528

+ Vừa là người dân tộc 4.171 4.093 5.992 6.226 6.323 6.449
thiểu số, vừa là tôn giáo

- Số hội viên là đoàn viên 744.775 743.911 744.908 745.509 745.453
công đoàn trong LLVT và 423.205
tổ chức thành viên

- Số cơ sở Hội tập hợp hội

viên đạt từ 50% trở lên / - 282 / 319 287 / 319 304 / 319 319 / 319 310 / 310
tổng số cơ sở Hội

12.5 Tổ chức thành viên:

- Hội Nữ trí thức Thành phố

+ Số Chi hội 15 13 12 12 12 14

+ Số hội viên 161 224 187 182 288 347

- Hội Nữ doanh nhân
Thành phố

+ Số CLB trực thuộc 01 02 03 04 04 04

+ Số hội viên 150 282 600 728 385 420

- Hội Phụ nữ Từ thiện
Thành phố

+ Số Chi hội trực thuộc 01 01 01 01 01 0

+ Số hội viên 228 295 297 299 305 303

69 Bao gồm là đoàn viên công đoàn, HV trong các lực lượng vũ trang.

54

13. C n ộ Hội chuyên tr ch c c cấp đạt chuẩn chức danh theo quy định:

Nội dung Kết quả

- Tổng số cán bộ Hội cấp Thành phố đạt chuẩn chức danh/ tổng số cán bộ Hội 3870 / 39
cấp Thành phố:

+ Về trình độ chuyên môn 39

+ Trình độ LLCT 39

+ Về nghiệp vụ công tác Hội 38

- Tổng số cán bộ Hội cấp quận, huyện đạt chuẩn chức danh/ tổng số cán bộ Hội 14771 / 187
cấp quận, huyện:

+ Về trình độ chuyên môn 187

+ Trình độ LLCT 16872

+ Về nghiệp vụ công tác Hội 16673

- Chủ tịch Hội Phụ nữ cơ sở đạt chuẩn chức danh/ tổng số Chủ tịch Hội Phụ nữ 27774 / 310
cơ sở:

+ Về trình độ chuyên môn 310

+ Trình độ LLCT 307

+ Về nghiệp vụ công tác Hội 277

14. Công t c giới thiệu hội viên ƣu tú cho Đảng:

Nội dung Năm Năm Năm Năm Năm Năm Tổng số
2016 2017 2018 2019 2020 2021 giai đoạn

Số hội viên ưu tú được kết nạp 641 / 658 / 668 / 597 / 578 / 529 / 3.671 /
Đảng/ Số hội viên ưu tú được 2.052 2.049 1.939 1.830 1.741 1.665 11.276
giới thiệu cho Đảng

70 Còn 01 chị chưa đạt chuẩn nghiệp vụ công tác Hội.
71 Còn 21 chị chưa đạt chuẩn nghiệp vụ công tác Hội và 19 chị chưa đạt chuẩn trình độ lý luận chính trị
72 Có 14 Phó Chủ tịch chưa đạt về trình độ Cao cấp/Cử nhân Chính trị; 05 cán bộ chưa đạt trung cấp chính trị.
73 Có 01 Phó Chủ tịch và 20 cán bộ Hội cấp huyện chưa đạt về nghiệp vụ.
74 Còn 30 chị chưa đạt về nghiệp vụ, 3 chị chưa đạt trình độ lý luận chính trị

55

15. Hoạt động đối ngoại và hợp t c quốc tế:

Nội dung Năm Năm Năm Năm Năm Năm Tổng số
2016 2017 2018 2019 2020 2021 giai đoạn

- Hoạt động trao đổi đoàn và 6 / 19 0 0 20 / 61
tiếp khách quốc tế: 5 / 33 4 / 18 1 / 2 32 / 203
1 / 15 4 / 18
+ Số đoàn ra75/ Số lượt người 2/2 7 / 35 5/5 0 0
tham gia

+ Số đoàn vào do Hội chủ trì 5 / 24 5 / 46 12 / 80
đón76/ Số lượt khách quốc tế

+ Số đoàn khách quốc tế đến 0 3/3 0
thăm và làm việc77/ Số lượt
khách quốc tế

16. Thành tích của Hội Phụ nữ giai đoạn 2016 - 2021:
16.1 Thành tích và khen thƣởng cấp Nhà nƣớc:

STT Nội dung Số lƣợng

Tập thể C nhân

1 Huân chương Lao động 41

2 Cờ Thi đua Chính phủ 1-

3 Bằng khen Thủ tướng Chính phủ 1 14

16.2 Thành tích và khen thƣởng cấp Trung ƣơng Hội:

STT Nội dung Số lƣợng

Tập thể C nhân

1 Cờ thi đua 2-

2 Bằng khen 55 249

3 Giải thưởng KOVA 03

4 Giải thưởng Phụ nữ Việt Nam 87

5 Kỷ niệm chương “Vì sự phát triển của - 2.794
Phụ nữ Việt Nam”

75 Do các cấp Hội PN địa phương tổ chức hoặc tham gia đoàn của các bộ, ngành của địa phương.
76 Đoàn vào do cấp Hội làm thủ tục đón.
77 Đoàn vào không do cấp Hội làm thủ tục đón.

56

16.3 Thành tích và khen thƣởng cấp bộ, ngành trung ƣơng:

STT Nội dung Số lƣợng

Tập thể C nhân

1 Bằng khen 63

2 Giấy khen 30

16.4 Thành tích và khen thƣởng cấp Thành phố: Số lƣợng

STT Nội dung Tập thể C nhân

1 Cờ Thi đua Thành phố 11 -
2 Bằng khen UBND Thành phố
3 Danh hiệu Chiến sĩ thi đua Thành phố 92 124
4 Bằng khen Hội LHPN Thành phố
5 Giấy khen Hội LHPN Thành phố -1
6 Danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở
1.241 937

216 321

- 212

57

MỘT SỐ PHỤ LỤC SỐ LIỆU ĐIỂN HÌNH
MINH HỌA BẰNG BIỂU ĐỒ

1. Kết quả thực hiện Phong trào thi đua và cuộc vận động
1.1 Phong trào thi đua "Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo,

xây dựng gia đình hạnh phúc”

A. Cá nhân phụ nữ tiêu biểu trong Phong trào thi đua

Số lƣợng điển h nh

c nhân phụ nữ tiêu iểu
10.000

9.000 570
3.217
8.000
5.056
7.000
Tổng số
6.000 nhiệm kỳ
2016 - 2021
5.000

4.000 155 112 161
3.000 1.536 769 696
2.000 908 881

1.000 1.628 15055 18171 Năm 2020 Năm 2021
- Năm 2017 870 769
Năm 2018 Năm 2019

Số cá nhân cấp cơ sở Số cá nhân cấp quận/huyện Số cá nhân cấp Thành phố

B. Tập thể, mô hình/ cách làm hay trong Phong trào thi đua

Số lƣợng điển h nh tập thể,
mô h nh/ c ch làm hay

3.500

3.000 219
1.130
2.500

2.000

1.500 14 15 33 56 101 1.694
1.000 591 22089 23215 272 208
591 Năm 2018 Năm 2019 337 332 Tổng số
500 Năm 2017 nhiệm kỳ
0 Năm 2020 Năm 2021 2016 - 2021

Cấp cơ sở Cấp quận, huyện

58

1.2 Thực hiện cuộc vận động "Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch"

Số hộ gia đ nh đƣợc Hội giúp đạt Số hộ gia đ nh đạt 8 tiêu chí

40.000 1.302.869 1.294.311 38.171 1.400.000
36.000
32.000 1.255.001 1.306.249
28.000
24.000 1.200.000
20.000
16.000 1.009.384 1.000.000
12.000 800.000
719.502 18.354 600.000
8.000 11.596 400.000
4.000 9.532 200.000
4.766
- 6.727

-

Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020 Năm 2021

Số hộ gia đình Hội giúp đạt Số hộ gia đình đạt 8 tiêu chí

3 . Hoạt động an sinh xã hội:

2. Công tác tuyên truyền trên mạng xã hội
(fanpage, facebook, zalo,...)

Số cơ sở Hội/ Số tin, ài tuyên truyền

96.000 92.570
86.000
76.000 72.783
66.000
56.000 58.865
46.000
36.000 45.346
26.000
16.000 38.689

6.000 179 1.893 243 317 336 336 335
(4.000) Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020 Năm 2021
Năm 2016 Năm 2017

Số cơ sở Hội xây dựng các trang mạng xã hội Số tin, bài tuyên truyền được đăng trên các trang mạng xã hội

59

3.1 Số mái ấm tình thương được xây dựng, sửa chữa
trong nhiệm kỳ 2016 - 2021

Số m i ấm t nh thƣơng/ Số tiền 39.260.443.000
40.000.000.000

35.000.000.000

30.000.000.000

25.000.000.000

20.000.000.000

15.000.000.000 6.349.790.0060.902.224.0009.245.000.0060.663.429.0006.600.000.000
10.000.000.000 3.500.000.000

5.000.000.000 145 191 218 164 148 72 938
-

Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020 Năm 2021 Tổng số
nhiệm kỳ
Số mái ấm tình thương Số tiền đồng)
2016 - 2021

3.2 Số suất học bổng Nguyễn Thị Minh Khai
trong nhiệm kỳ 2016 - 2021

Số suất học ổng Số tiền

60.000 75.439.667.000 80.000.000.000
56.000 70.000.000.000
52.000
48.000 60.000.000.000
44.000
40.000 50.000.000.000
36.000
32.000 40.000.000.000
28.000
24.000 30.000.000.000
20.000
16.000 11.909.800.000 10.175.925.00015.363.612.000 16.118.340.000 20.000.000.000
12.000 11.555.200.000 10.000.000.000
10.316.790.000 -
8.000
4.000 9.787 8.608 8.566 52.097

- 9.367 9.744 6.025

Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020 Năm 2021 Tổng số
nhiệm kỳ
Số suất Số tiền đồng)
2016 - 2021

60

3.3 Số phương tiện sinh kế trong nhiệm kỳ 2016 - 2021

Số phƣơng tiện sinh kế Số tiền
3.000 13.390.950.000 14.000.000.000

2.800

2.600 2.867 12.000.000.000
2.400

2.200 10.000.000.000
2.000

1.800 8.000.000.000
1.600

1.400 6.000.000.000
1.200

1.000 3.159.160.000 4.000.000.000
800 3.064.600.000 2.000.000.000
600 2.670.190.000 2.274.000.000 -
400 1.717.000.000
200 709 603
- 510167.000.000677 406

355

Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020 Năm 2021 Tổng số

nhiệm kỳ

Số phương tiện sinh kế Số tiền đồng) 2016 - 2021

4. Kết quả thực hiện các Đề án của Chính phủ

Đề án 938: “Tuyên truyền, giáo dục, vận động, hỗ trợ Đề án 404 "Hỗ trợ phát triển nhóm độc lập tư
phụ nữ tham gia giải quyết một số vấn đề xã hội thục ở Khu công nghiệp, Khu chế xuất đến
liên quan đến phụ nữ giai đoạn 2017 - 2027” năm 2020"
- Tổ chức 6.583 cuộc, sự kiện tuyên truyền, vận động - Tổ chức 873 lớp chuyên đề cung cấp các kiến thức,
kỹ năng chăm sóc trẻ dưới 36 tháng tuổi thu hút
- Có 101.823 sản phẩm truyền thông được xuất bản, triển khai 06.265 người tham dự;
rộng rãi; 966 mô hình được nhân rộng,
- Mở 29 lớp đào tạo nghề bảo mẫu trong 1.145 học viên;
- Có 652.919 hội viên,phụ nữ, cha mẹ có con dưới 16 tuổi - Thành lập được 141 nhóm "Phụ huynh nòng cốt"
được cung cấp thông tin, kiến thức, kỹ năng với 1821 thành viên

Đề án 279 "Phát huy giá trị tốt đẹp các mối quan hệ Đề án 939 "Hỗ trợ Phụ nữ khởi nghiệp
trong gia đình và hỗ trợ xây dựng gia đình hạnh phúc, giai đoạn 2017 - 2025

bền vững đến năm 2020" - Có 72.721 phụ nữ được tuyên truyền, nâng cao nhận thức
- Tổ chức 108 lớp tập huấn kiến thức tiền hôn nhân về khởi nghiệp và khởi sự kinh doanh;

với 12.259 học viên, 5.625 cặp đôi; - Có 1.304 ý tưởng khởi nghiệp của phụ nữ được
- Có 757 cặp đôi tham gia sinh hoạt Câu lạc bộ Hội hỗ trợ hiện thực hóa;

Xây dựng Gia đình hạnh phúc; - Có 3.555 phụ nữ khởi sự kinh doanh và khởi nghiệp
- Có 1363 cặp đôi tham dự lớp tập huấn tiền hôn nhân được Hội hỗ trợ.

đã đăng ký kết hôn

Đề án 32 "Phát triển nghề công tác xã hội
giai đoạn 2016 - 2020"

- Có 5.990 số lượt tư vấn trực tiếp và qua điện thoại;
- Có 482 cuộc tập huấn, chuyên đề thu hút
33.887 lượt người tham dự;

- Có 2.144 trường hợp được hỗ trợ tâm lý, pháp lý.

61

5. Hoạt động trợ vốn
5.1. Nguồn Quỹ hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế (Quỹ CWED)

Số thành viên vay Tổng số vốn vay

68.000 60.654 1.400,000
64.000 1.199,620 1.200,000
60.000 1.000,000
56.000
52.000 800,000
48.000
44.000 600,000
40.000
36.000 11.880 10.900 11.753 11.555 8.566 400,000
32.000 200,000
28.000 161,627 211,716 278,197 259,951 -
24.000 4.199
20.000 171,238 116,891
16.000
12.000

8.000
4.000

-

Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020 Năm 2021 Tổng số
nhiệm kỳ

2016 - 2021

Số thành viên được phát vay Tổng số vốn cho vay tỷ đồng)

5.2 Nguồn ủy thác Ngân hàng Chính sách xã hội

Số hộ vay vốn qua Hội / Số dƣ nợ Tỷ lệ
1,8
70.000 1,7 1,6
1,4
59.755 59.932 60.456

60.000 53.135 1,54 54.755
50.000 52.499

1,2

40.000 0,96 1
0,8
30.000 0,7 0,55 0,6
0,4
0,54

20.000

10.000 779,147 1.091,959 1.258,395 1.794,089 2.428,933 2.507,449 0,2
0
0
Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020 Năm 2021
(đến 31/10)
Số hộ đang vay vốn qua Hội Dư nợ vốn vay đến 31/12 tỷ đồng) Tỷ lệ nợ quá hạn (%)

62

6. Hỗ trợ đào tạo nghề

Số phụ nữ đƣợc đào tạo nghề/
Số phụ nữ có việc làm sau đào tạo

90.000 nghề

80.000

70.000 31.844
60.000

50.000

40.000

30.000 6.971 5.880 5.598 7.578 2.000 3.817 47.592
20.000 11.255 9.769 7.985 10.677 3.131 4.775
10.000 Năm 2016 Năm 2017 Năm 2019 Tổng số
Năm 2018 Năm 2020 Năm 2021 nhiệm kỳ
- 2016 - 2021

Số phụ nữ được Hội đào tạo nghề Số phụ nữ có việc làm sau đào tạo nghề

7. Tỷ lệ nữ trúng cử đại biểu Quốc hội khóa XV
và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026

7. 1. Tỷ lệ nữ trúng cử đại iểu Quốc hội khóa XV

Tỷ lệ nữ
trúng cử

30%

Tỷ lệ nữ trúng cử

63

7.2 Tỷ lệ nữ trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp
nhiệm kỳ 2021 - 2026

Thành phố
Hồ Chí Minh:

43,62%

Thành phố Tỷ lệ 05 Huyện:
Thủ Đức: Nữ trúng cử đại biểu 37,28%

40% Hội đồng nhân dân
các cấp

63 xã, thị trấn:
36,50%

Số đơn thƣ nhận đƣợc/ 8. Tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý
Số đơn thƣ giải quyết
Số lƣợt tiêp công dân
700 và tƣ vấn ph p luật

666 7.000

600 6.000

500 5.000

400 372 4.000

300 3.000
235

200 173 1.788 2.000
100 121 1.000
127 1.203 123 1.053 131 1.195 1.198 -
- 71 50 83
42 6560 1.038 59 59
6 29 53 12 13 34
11 10 6
14 1524

Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020 Năm 2021 Tổng số

nhiệm kỳ

2016 - 2021

Tổng số đơn thư nhận được

Số đơn thư kiến nghị chuyển cơ quan chức năng có văn bản phúc đáp

Số đơn thư kiến nghị chuyển cơ quan chức năng không có văn bản phúc đáp

Số đơn thư Hội giải quyết

Số lượt tiếp công dân và tư vấn pháp luật

64

9. Bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ, trẻ em

Số vụ việc Tỷ lệ

250 74% 70% 237 80%
50% 70%
200
51% 60%
150 119 50%
36% 40%

100 48 15% 66 81 20 13 30%
33 58 Năm 2021 20%
50 7 10%
22 Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020 0%
8
Tổng số
0 nhiệm kỳ
Năm 2017
2016 - 2021

Số vụ việc liên quan đến quyền, lợi ích của phụ nữ, trẻ em được Hội tham gia giải quyết
Số vụ việc đã được giải quyết
Tỷ lệ %)

10. Xây dựng tổ chức Hội, hội viên
10.1 Tổ chức Hội

TP

03 đơn vị Thủ Chợ, siêu thị,
LLVT TP Đức TT TM
52

Hội LHPN 5 huyện Hội LHPN Hội LHPN LLVT 57
TP.HCM cấp cơ sở Kh c 3
cấp quận, huyện

16 quận

Xã, phƣờng,
thị trấn 312

65

10.2 Chi Hội Phụ nữ

Số lƣợng Chi Hội Phụ nữ/ Tỷ lệ
khu phố, ấp
2.260 2.264 2.269 115,00
2.300 113,40 113,60

2.250 2.227 2.237 114,08 114,00
113,00
2.200 2.160
2.150
112,64 112,00

2.100 111,78 111,00

2.050 1.997 1.992 1.986 1.993 1.993 1.989 110,00
2.000 109,00

1.950 108,16 108,00
1.900 107,00

1.850 106,00

1.800 105,00

Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020 Năm 2021

Tổng số Chi Hội Tổng số khu phố, ấp, ô khu vực Tỷ lệ %

10.3 Tổ Hội Phụ nữ

Số lƣợng Tổ Hội Phụ nữ/ Tỷ lệ
Tổ nhân dân

26.500 26.242 101,67 102,00
26.000 26.177 101,50
25.500
25.000 101,00
24.500
25.414 25.572 100,50
25.188 25.416 100,00
99,50
100,20 99,00

99,39 99,75 24.973 25.037 24.987 25.021
24.852 24.609

99,11 99,52

24.000 98,50
98,00

23.500 97,50

Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020 Năm 2021

Tổng số Tổ hội Phụ nữ Tổng số Tổ nhân dân Tỷ lệ %

66

10.4 Hội viên nòng cốt

Số lượng hội viên nòng cốt/ hội viên Tỷ lệ

900.000 47,16 50
800.000 45
700.000 46,26 775.474 790.836 40
600.000 720.455
500.000 748.575
400.000
300.000 31,34 31,52 32,25 31,78 35
200.000 30
511.520 495.685

25

241.220 229.286 225.803 235.958 250.089 20
251.334 15

10

100.000 5

-0

Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020 Năm 2021

Tổng số hội viên Tổng số hội viên nòng cốt Tỷ lệ %

10.5 Công tác giới thiệu hội viên ưu tú cho Đảng

Số lƣợng HVƢT đƣợc kết nạp Đảng/ 11.276
Số lƣợng HVƢT đƣợc giới thiệu cho Đảng
3.671
16.000 Tổng số
nhiệm kỳ
14.000 2016 - 2021

12.000

10.000

8.000

6.000

4.000 2.052 2.049 1.939 1.830 1.741 1.665
2.000
641 658 668 597 578 529
- Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020 Năm 2021

Số hội viên ưu tú được kết nạp Đảng Số hội viên ưu tú được giới thiệu cho Đảng

67

BÁO CÁO KIỂM ĐIỂM
Của Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố khóa X
tại Đại hội đại biểu Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh lần XI

nhiệm kỳ 2021 - 2026

Thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Điều lệ Hội Liên hiệp
Phụ nữ Việt Nam và Quy chế hoạt động của Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Phụ nữ
Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ X, nhiệm kỳ 2016 - 2021, trong 5 năm qua, trên
cơ sở những định hướng quan trọng của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố
lần thứ X và Nghị quyết Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XII, với tinh
thần “Đoàn kết, đổi mới, hội nhập, phát triển”, Ban Chấp hành Hội Liên hiệp
Phụ nữ Thành phố đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, năng động, sáng tạo, tập trung
lãnh đạo và tổ chức thực hiện đạt những kết quả nhất định đối với các mục tiêu, chỉ
tiêu và công trình trọng điểm mà Nghị quyết Đại hội đại biểu Phụ nữ Thành phố
lần thứ X đề ra, đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của Thành phố và góp
phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XII.

Bên cạnh những mặt đạt được cũng còn những mặt hạn chế, khuyết điểm
mà Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh cần rút kinh
nghiệm, khắc phục trong lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện nhiệm vụ.
Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ X xin
kiểm điểm trước Đại hội về sự lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội
đại biểu Phụ nữ Thành phố lần thứ X, nhiệm kỳ 2016 - 2021 như sau:

I. VỀ TÌNH HÌNH NHÂN SỰ BAN CHẤP HÀNH

Tổng số Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh đầu
nhiệm kỳ là 69 ủy viên Đại hội bầu 68 ủy viên, khuyết 01 Ủy viên sau đó bổ sung
tại kỳ họp lần thứ 2); Ban Thường vụ Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố là 21 ủy viên.

Trong nhiệm kỳ, Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố Hồ Chí
Minh có 42 đồng chí thôi tham gia Ban Chấp hành do nghỉ hưu, chuyển công tác
khác, trong đó có 17 đồng chí trong Ban Thường vụ. Ban Chấp hành đã bầu bổ sung
31 ủy viên Ban Chấp hành, 15 ủy viên Ban Thường vụ.

Đến cuối nhiệm kỳ, tổng số Ủy viên Ban Chấp hành là 58 ủy viên, khuyết 11
ủy viên. Ban Thường vụ có 18 ủy viên, khuyết 03 ủy viên.

Mặc dù có sự thay đổi về nhân sự Ban Chấp hành, Ban Thường vụ trong
nhiệm kỳ nhưng với tinh thần trách nhiệm, cùng với sự quyết tâm và đoàn kết nhất
trí cao, tập thể Ban Chấp hành đã nỗ lực phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, tiếp
tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động Hội, có nhiều giải pháp hiệu quả
thực hiện khâu đột phá “Nâng cao chất lượng hoạt động tổ chức Hội cơ sở” và tổ
chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu phụ nữ Thành phố lần thứ X,
nhiệm kỳ 2016 - 2021.

68

II. NHỮNG ƢU ĐIỂM:

1. Về việc lãnh đạo, triển khai tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội đại
biểu Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ X, nhiệm kỳ 2016 - 2021:

Trên cơ sở mục tiêu của Nghị quyết Đại hội đại biểu phụ nữ Thành phố Hồ
Chí Minh lần thứ X đã đề ra, Ban Chấp hành đã dân chủ bàn bạc, thảo luận xây dựng
chương trình hành động thực hiện khâu đột phá, 11 chỉ tiêu, 05 công trình trọng điểm
Nghị quyết Đại hội đại biểu Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ X, nhiệm kỳ
2016 - 2021, bám sát nhiệm vụ của thành phố, nghiên cứu vận dụng vào tình hình
thực tế, đề ra các chủ trương, kế hoạch và biện pháp tổ chức thực hiện phù hợp với
từng đối tượng, từng thời gian gắn liền với những chỉ đạo của Trung ương Hội Liên
hiệp Phụ nữ Việt Nam và Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là việc triển
khai thực hiện Chương trình hành động số 31-CTr/TU ngày 13/3/2008 của Ban
Thường vụ Thành ủy thực hiện Nghị quyết 11-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa X về
công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Thông tri
số 23-TT/TU ngày 07/8/2018 của Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí
Minh về tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới.

Ban Chấp hành Hội Liên hiệp phụ nữ Thành phố đã quyết tâm khắc phục mặt
còn hạn chế trong phong trào phụ nữ và hoạt động Hội đã được chỉ ra tại Đại hội đại
biểu Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2016 - 2021, chủ động sáng tạo
trong triển khai thực hiện các nhiệm vụ, sâu sát cơ sở để nắm tình hình, nhu cầu,
nguyện vọng của cán bộ, hội viên, phụ nữ và tăng cường chỉ đạo, giải quyết kịp thời
những vướng mắc khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện phong trào ở từng cấp
Hội, hoàn thành 04/05 công trình trọng điểm; 9/11 chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội đại
biểu Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ X, nhiệm kỳ 2016 - 2021.

Phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia
đình hạnh phúc” được Ban Chấp hành chỉ đạo gắn với 02 cuộc vận động “Xây dựng
gia đình 5 không, 3 sạch”, “Rèn luyện phẩm chất đạo đức Tự tin - Tự trọng - Trung
hậu - Đảm đang”, vận động hội viên, phụ nữ tích cực học tập và làm theo tư tưởng,
đạo đức, phong cách Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với nhiều phong trào thi đua yêu
nước. Thông qua việc phát động phong trào thi đua và các cuộc vận động sâu rộng từ
thành phố đến cơ sở đã tác động tích cực đến kết quả thực hiện 3 nhiệm vụ trọng tâm
theo Nghị quyết Đại hội đại biểu Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ X.

Trên cơ sở phát huy vai trò của từng Ủy viên Ban Chấp hành là đại diện các
sở ngành, đoàn thể thành phố, đồng thời tăng cường thực hiện việc ký kết liên tịch
giữa các cơ quan, đơn vị, Ban Chấp hành đã thực hiện tốt công tác phối hợp trong tổ
chức các hoạt động của Hội, từ đó nâng cao hiệu quả, chất lượng tổ chức các hoạt
động tuyên truyền cũng như công tác chăm lo cho hội viên phụ nữ, nữ công nhân -
viên chức lao động, chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ nghèo, công tác bảo vệ môi
trường, phòng chống các tệ nạn xã hội, phát hành thẻ hội viên liên kết… góp phần
nâng cao hiệu quả của công tác Hội và phong trào phụ nữ trên địa bàn thành phố.

Phân công Thường trực, ủy viên Ban Thường vụ Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành
phố phụ trách Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố Thủ Đức, 21 quận, huyện, Hội Phụ

69

nữ 3 đơn vị lực lượng vũ trang Thành phố để kịp thời chỉ đạo phong trào, định
hướng những nội dung, nhiệm vụ trọng tâm, chấn chỉnh những sai sót đồng thời phát
hiện, nhân rộng và biểu dương những mô hình mới, cách làm hay, các gương điển
hình trong phong trào phụ nữ và hoạt động Hội từ cơ sở.

Ban Chấp hành đã lãnh đạo thực hiện công tác tuyên truyền ngày càng phù
hợp hơn với nhu cầu, điều kiện tiếp cận thông tin của người dân. Đẩy mạnh ứng
dụng công nghệ thông tin trong công tác tuyên truyền và trong công tác nắm bắt tình
hình nhân dân, tình hình dư luận xã hội trong hội viên phụ nữ với nhiều hình thức và
nội dung đa dạng, phong phú; đặc biệt tập trung phát huy hiệu quả tuyên truyền trên
facebook, fanpage, youtube của các cấp Hội; chỉ đạo Hội liên hiệp Phụ nữ thành phố
Thủ Đức, các quận, huyện chú trọng truyền thông nhóm nhỏ, tập trung đi sâu từng
chi, tổ hội và hướng đến các đối tượng phụ nữ đặc thù, phát huy vai trò lực lượng
báo cáo viên, tuyên truyền viên, thành viên tổ tư vấn cộng đồng, cộng tác viên dư
luận xã hội… trong tham gia các hoạt động tuyên truyền tại cơ sở.

Lãnh đạo nâng cao vai trò của Hội trong công tác giám sát và phản biện xã hội
góp phần thực hiện ngày càng hiệu quả chức năng đại diện của tổ chức Hội. Thực
hiện nghiêm túc quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, các cấp Hội đã chủ động tổ chức các hoạt
động giám sát, phản biện xã hội với nội dung phù hợp, đúng quy trình. Những phát
hiện, kiến nghị của Hội qua giám sát và phản biện xã hội được các cấp, các ngành
tiếp thu góp phần triển khai thực hiện hiệu quả các chủ trương, chính sách tại cơ sở,
tạo điều kiện để phụ nữ tham gia tốt hơn vào các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội
tại địa phương và Thành phố.

Trong nhiệm kỳ, Ban Chấp hành đã lãnh đạo tham mưu triển khai thực hiện
có hiệu quả các chiến lược, chương trình, đề án, dự án của Chính phủ có liên quan
đến công tác phụ nữ, trẻ em, bình đẳng giới78; tham gia giải quyết có hiệu quả một số
vấn đề xã hội liên quan đến phụ nữ và trẻ em gái xảy ra trên địa bàn như phòng,
chống tệ nạn xã hội, phòng, chống bạo lực gia đình...

Ban Chấp hành thường xuyên quan tâm hướng dẫn và tăng cường kiểm tra
việc quản lý tài chính của các cấp Hội như tình hình quản lý và sử dụng quỹ hội,
hội phí; công tác quản lý, đối chiếu dư nợ của thành viên nhóm Phụ nữ tín dụng
tiết kiệm, thành viên tổ Tiết kiệm và vay vốn Ngân hàng Chính sách xã hội…;
kiểm tra tiến độ thực hiện các chương trình, chỉ tiêu Đại hội Phụ nữ các cấp
nhiệm kỳ 2016 - 2021…

Trong chỉ đạo Ban Chấp hành luôn xác định tổ chức Hội cơ sở, chi hội, tổ hội
là nền tảng, là chân rết của tổ chức Hội, từ đó đã tập trung đầu tư nhiều giải pháp cho
công tác xây dựng và củng cố tổ chức Hội và xem đây là nhiệm vụ then chốt, thường

78 “Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030”; Chương trình giáo dục đời sống gia
đình đến năm 2020; Dự án 3 - Đề án 279 “Hỗ trợ xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững” thuộc Đề án “Phát huy
giá trị tốt đẹp các mối quan hệ trong gia đình và hỗ trợ xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững đến năm 2020”; Đề
án 938 “Tuyên truyền, giáo dục, vận động, hỗ trợ phụ nữ tham gia giải quyết một số vấn đề xã hội liên quan đến
phụ nữ giai đoạn 2017 - 2027”, Đề án 404 “Hỗ trợ phát triển nhóm trẻ độc lập tư thục ở Khu Công nghiệp, Khu
Chế xuất đến năm 2020”, Đề án 32 “ Phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010 - 2020”.

70

xuyên. Ban Chấp hành đã tập trung chỉ đạo tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng cho
đội ngũ cán bộ Hội từ Thành phố đến chi - tổ hội; quan tâm công tác quản lý hội
viên, phát triển hội viên mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi - tổ hội, xây dựng lực
lượng nòng cốt nhằm giúp cho hoạt động của cơ sở đi vào chiều sâu và đạt hiệu quả.
Đa dạng hóa các loại hình tập hợp, vận động đa dạng các đối tượng phụ nữ tham gia
hoạt động Hội và phong trào phụ nữ gồm nữ trí thức, nữ tu, nữ doanh nhân, nữ công
nhân, nữ thanh niên, nữ thương nhân…) thể hiện tính liên hiệp rộng rãi của tổ chức
Hội. Luôn phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của đội ngũ cán bộ Hội cơ sở để có
nhiều hoạt động phong phú, thiết thực phù hợp với từng đối tượng phụ nữ.

Để tạo động lực thúc đẩy phong trào, công tác thi đua khen thưởng được quan
tâm cải tiến, đổi mới theo hướng phát huy tinh thần dân chủ, tinh thần sáng tạo, tạo
động lực, khuyến khích thường xuyên phát động các đợt thi đua, tổ chức thực hiện
các chương trình trọng điểm hướng đến đối tượng là phụ nữ và trẻ em, tiến hành các
hoạt động sơ, tổng kết khen thưởng kịp thời, tạo được khí thế thi đua sôi nổi trong
lực lượng cán bộ hội viên, đồng thời quan tâm chăm lo đời sống tinh thần và vật chất
cho đội ngũ cán bộ Hội để động viên nhau trong công tác.

2. Về lãnh đạo đổi mới nội dung, phƣơng thức hoạt động

Xác định tăng cường đổi mới nội dung, phương thức hoạt động là một trong
những nhiệm vụ quan trọng, đồng thời là phương châm hoạt động của Mặt trận Tổ
quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, trong nhiệm kỳ qua, Ban Chấp hành Hội Liên
hiệp Phụ nữ Thành phố đã tập trung lãnh đạo, thực hiện đổi mới nội dung, phương
thức hoạt động của Hội theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phụ nữ
phù hợp với tình hình thực tế của thành phố trong từng thời điểm; quan tâm công tác
chỉ đạo điểm, tổng kết nhân rộng mô hình hoạt động hiệu quả, công tác phối hợp
triển khai thực hiện giữa Hội Liên hiệp Phụ nữ với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn
thể; đa dạng hóa các hình thức tập hợp phụ nữ, tập trung hướng mạnh các hoạt động
về cơ sở, chỉ đạo, hướng dẫn, hỗ trợ quận, huyện và cơ sở tổ chức thực hiện các
phong trào, hoạt động của Hội; phát huy tính chủ động, sáng tạo trong công tác vận
động phụ nữ của từng cấp Hội; thực hiện cải cách hành chính trong hệ thống Hội…
Ban Chấp hành đã nghiên cứu và thực hiện lồng ghép công tác chăm lo cho hội viên,
phụ nữ gắn với việc tập hợp lực lượng và tuyên truyền giáo dục, vận động hội viên
phụ nữ thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Kết quả của sự lãnh đạo quyết tâm của Ban Chấp hành đã được thể hiện rõ nét
bằng những chuyển biến tích cực trong việc tổ chức các hoạt động Hội và phong trào
phụ nữ. Các hoạt động được tổ chức chú trọng tính thiết thực, chuyên nghiệp, hiệu
quả thực chất, không chạy theo thành tích; tập trung sức mạnh, trí tuệ tập thể, quan
tâm đầu tư, thực hiện nhiều giải pháp, cách làm có trọng tâm, trọng điểm hướng đến
việc giải quyết các vấn đề thiết thân, những bức xúc của hội viên, phụ nữ, bảo vệ sự
an toàn, tạo cơ hội phát triển cho phụ nữ và trẻ em mang tính bền vững và tạo sức lan
tỏa mạnh mẽ trong cán bộ, hội viên và phụ nữ các giới.

Trong nhiệm kỳ, đã xuất hiện nhiều mô hình mới, cách làm hay đem lại hiệu
quả thiết thực, có sự lan tỏa sâu rộng giúp tạo được sự phong phú, đa dạng trong hoạt
động Hội ở cơ sở, thu hút đông các đối tượng phụ nữ đến với tổ chức Hội và mang

71

nét riêng của Thành phố, như: Thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị đầu tiên trong 63
tỉnh, thành phố vận hành hiệu quả hệ thống đào tạo trực tuyến với 235 lớp bồi
dưỡng, tập huấn kỹ năng trên hệ thống đào tạo với 317.039 cán bộ, hội viên, phụ nữ
tham gia học trong 3 năm từ năm 2017 đến nay; Lễ hội áo dài Thành phố được phối
hợp tổ chức định kỳ hàng năm; mô hình “Cà phê khởi nghiệp”; giáo dục tiền hôn
nhân cho các cặp đôi nam, nữ trong độ tuổi kết hôn; phát hành thẻ hội viên liên kết
để tăng quyền lợi cho hội viên tham gia tổ chức Hội; thực hiện phần mềm quản lý
hội viên, hiệu chỉnh phần mềm quản lý văn bản mã nguồn mở tại Hội Liên hiệp Phụ
nữ Thành phố Hồ Chí Minh; xây dựng trang fanpage, kênh youtube với số lượng
theo dõi, tương tác cao; xây dựng phần mềm Khảo sát trực tuyến nhằm góp phần
thực hiện hiệu quả công tác nắm bắt dư luận xã hội, tình hình Nhân dân, đo lường
tâm trạng hội viên phụ nữ và định hướng thông tin; tổ chức các cuộc thi trực tuyến
đa dạng hình thức đã thu hút rất nhiều sự quan tâm, tham gia đông đảo của hội viên
phụ nữ thành phố; mô hình “Chi hội chủ động công tác” được nhân rộng đến tất cả
chi hội trên địa bàn Thành phố và được nâng chất thành mô hình “Chi hội chủ động
thực hiện 5 không, 3 sạch, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”; chương trình
“Nghĩa tình biên giới”, “Ngày hội Nữ tu làm công tác xã hội từ thiện” đạt giải
thưởng Đại đoàn kết, “Ngày hội Thương nhân làm công tác xã hội từ thiện; Đề án
"Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng hội nhập đô thị cho nữ công nhân khu lưu trú, nhà
trọ" giai đoạn 2017 – 2021; lãnh đạo nâng cao chất lượng hoạt động đi cơ sở của cán
bộ Hội chuyên trách các cấp…

3. Về thực hiện Quy chế của Ban Chấp hành

Ngay sau Đại hội đại biểu Phụ nữ Thành phố lần thứ X, nhiệm kỳ 2016 -
2021, Quy chế làm việc của Ban Chấp hành đã xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát
triển Quy chế làm việc của Ban Chấp hành các khóa trước để phù hợp hơn với tình
hình thực tiễn triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu phụ nữ trong nhiệm kỳ, trong
đó xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm cụ thể của từng ủy viên Ban Chấp hành.

Trong nhiệm kỳ có rà soát điều chỉnh, bổ sung Quy chế làm việc của Ban
Chấp hành Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố nhiệm kỳ 2016 - 2021, trên cơ sở đó
điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung quy định chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế
cơ quan chuyên trách Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố; Quy chế hoạt động của đơn
vị trực thuộc Trung tâm Tư vấn hỗ trợ hôn nhân và gia đình).

Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo phong trào phụ nữ và hoạt động Hội, Ban
Chấp hành đảm bảo thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh
đạo, cá nhân phụ trách, thiểu số phục tùng đa số trên cơ sở phát huy tính chủ động và
đề cao vai trò của từng ủy viên Ban Chấp hành, tạo sự thống nhất cao trong chỉ đạo,
lãnh đạo và điều hành của tập thể Ban Chấp hành.

Ban Chấp hành duy trì nghiêm túc sinh hoạt định kỳ 6 tháng/lần, Ban Thường
vụ chuyên trách họp hàng tuần, bên cạnh đó còn tổ chức sinh hoạt đột xuất để bàn và
thảo luận những vấn đề quan trọng, trọng tâm trong công tác Hội. 6 tháng và cuối
năm đều tổ chức Hội nghị sơ tổng kết đánh giá kết quả thực hiện. Các ủy viên Ban
Chấp hành có lập trường tư tưởng vững vàng, đạo đức, lối sống lành mạnh, trong
sáng, gương mẫu chấp hành đúng đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách pháp

72

luật của Nhà nước, có ý thức cải tiến lề lối làm việc, tác phong lãnh đạo, bám sát
thực tiễn phong trào, thường xuyên đi cơ sở, lắng nghe ý kiến và phản ảnh kịp thời
tâm tư nguyện vọng của giới.

Đa số ủy viên Ban Chấp hành phát huy tốt vai trò trách nhiệm theo từng lĩnh
vực hoạt động cũng như nhiệm vụ được phân công; tin tưởng vào sự lãnh đạo của
Đảng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, không nhạt phai lý
tưởng trong tình hình hội nhập, luôn thể hiện tính năng động, nhạy bén trong lãnh
đạo, chỉ đạo bám sát các chủ trương, Nghị quyết của Đảng bộ Thành phố và Hội cấp
trên, có mối quan hệ tốt và được sự hỗ trợ tích cực của chính quyền và các ban,
ngành, đoàn thể thành phố, tạo được sự gắn bó với cán bộ nữ các ngành, hình thành
khối đoàn kết trong phong trào phụ nữ và hoạt động Hội.

Đa số các Ủy viên Ban Chấp hành là đại diện các ngành đã phát huy tinh thần
trách nhiệm, thể hiện tâm huyết với phong trào phụ nữ, chủ động đóng góp nhiều ý
kiến và những công việc cụ thể, có sự kết nối với ngành mà ủy viên đang công tác
trong triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Phụ nữ Thành phố, nhiệm kỳ 2016 -
2021. Đặc biệt có một số ủy viên rất tích cực tham gia thực hiện các hoạt động xã hội
từ thiện do Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố tổ chức.

III. HẠN CHẾ - NGUYÊN NHÂN:

1. Hạn chế:

Trước hết, Ban Chấp hành có trách nhiệm đối với những tồn tại của phong
trào Phụ nữ và hoạt động Hội trong nhiệm kỳ qua mà dự thảo Báo cáo chính trị đã
tổng kết đánh giá liên quan đến việc triển khai thực hiện phong trào thi đua yêu
nước, công tác tuyên truyền vận động phụ nữ trên một vài lĩnh vực, chất lượng
hoạt động Hội ở một số cơ sở, vai trò của Hội tham gia trong công tác bình đẳng
giới, phòng chống bạo lực gia đình, việc thực hiện chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội
liên quan đến chuẩn chức danh cán bộ Hội…

Vẫn còn Ủy viên Ban Chấp hành chưa phát huy hết năng lực, sở trường, ít
tham gia các cuộc họp Ban Chấp hành, chưa quan tâm đầu tư nghiên cứu tham
mưu, đề xuất với Ban Chấp hành thực hiện những nội dung phù hợp với nguyện
vọng của hội viên, phụ nữ; chưa có cơ chế khuyến khích, phát huy sức sáng tạo của
từng Ủy viên Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố đóng góp, hiến kế
những giải pháp, cách làm mới đối với hoạt động Hội và phong trào Phụ nữ.

Vai trò định hướng của Ban Chấp hành nhất là trong thực hiện các đầu
công việc của Hội tuy đã được cải tiến, nâng chất, có trọng tâm, giảm tải những
hoạt động chưa thật cần thiết, nhưng nhìn chung hoạt động vẫn còn nhiều, đôi lúc
tạo áp lực đối với cơ sở, cần tiếp tục cải thiện trong thời gian tới.

Một vài Ủy viên Ban Chấp hành cơ cấu cơ sở trong lãnh đạo và tổ chức
triển khai thực hiện các nội dung trọng tâm còn lúng túng, nhất là việc định hướng
các hoạt động nhằm đổi mới nội dung và phương thức hoạt động tại cơ sở, trong
tổ chức các hoạt động phong trào chưa nhạy bén, đôi lúc còn dàn trải, chưa xác

73

định trọng tâm, trọng điểm từng thời kỳ, thiếu sự tập trung vì vậy hoạt động nhiều
nhưng hiệu quả chưa cao.

Trong nhiệm kỳ vẫn còn 37 cơ sở Hội có tỷ lệ tập hợp dưới 50%. Với nhiều
giải pháp tập trung hỗ trợ cho các địa bàn này, đến cuối nhiệm kỳ Thành phố không
còn cơ sở Hội có tỷ lệ tập hợp dưới 50% phụ nữ từ 18 tuổi trở lên tham gia tổ chức
Hội theo chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XII. Tuy
nhiên, ở một vài cơ sở kết quả này chưa thật sự bền vững, cần tiếp tục quan tâm đầu
tư, lãnh đạo, định hướng giải pháp để nâng cao tỷ lệ tập hợp, thu hút hội viên tham
gia tổ chức Hội trong nhiệm kỳ tới.

Trong nhiệm kỳ vẫn còn tình trạng cán bộ Hội cấp quận và cơ sở bị kỷ luật
liên quan đến công tác quản lý tài chính đã làm ảnh hưởng đến kết quả thi đua của
phong trào Phụ nữ và hoạt động Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố.

2. Nguyên nhân chủ quan:

Ban Chấp hành chưa chủ động để có giải pháp kịp thời, hiệu quả, chưa phát
huy sức sáng tạo của đội ngũ cán bộ Hội và tổ chức Hội tại cơ sở nên còn có những
hạn chế, tồn tại đối với hoạt động Hội và phong trào Phụ nữ mà dự thảo Báo cáo
chính trị đã nêu ra.

Việc điều hành chỉ đạo hoạt động Hội và phong trào Phụ nữ của Ban Chấp
hành đôi lúc vẫn còn mâu thuẫn giữa việc chọn nội dung trọng tâm, trọng điểm để
thực hiện với mong muốn thể hiện vai trò của tổ chức Hội trên các lĩnh vực, vì vậy
phong trào Phụ nữ và hoạt động Hội có lúc còn dàn trải.

Công tác lãnh đạo, hướng dẫn Hội Liên hiệp Phụ nữ quận, huyện và cơ sở
triển khai các giải pháp tăng cường công tác tập hợp hội viên vẫn còn chưa quyết liệt
ở một vài địa bàn.

3. Nguyên nhân kh ch quan:

Thành phố Hồ Chí Minh là một đô thị lớn có nhiều vấn đề phát sinh từ thực
tiễn phong trào Phụ nữ và hoạt động Hội đã tạo áp lực khá lớn đến việc thực hiện
nhiệm vụ chuyên môn của đội ngũ cán bộ Hội chuyên trách các cấp từ Thành phố
đến cơ sở. Nhiều nội dung chương trình, hoạt động được chỉ đạo thực hiện trong thời
gian ngắn ảnh hưởng đến chất lượng công tác triển khai, kết quả thực hiện nhiệm vụ,
dồn nhiều hoạt động về cơ sở.

Việc thực hiện tinh giản biên chế theo Nghị định 108/2014/NĐ-CP ngày 20
tháng 11 năm 2014 của Chính phủ, số lượng cán bộ Hội ngày càng có xu hướng
giảm dần nhưng khối lượng công việc theo yêu cầu nhiệm vụ chính trị lại không bớt
đi, việc sắp xếp tổ chức bộ máy, hệ thống tổ chức Hội tại địa phương khi thực hiện
sắp xếp địa giới hành chính; triển khai thực hiện Nghị định số 34/2019/NĐ-CP ngày
24 tháng 4 năm 2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số quy định về cán bộ,
công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân
phố, thêm vào đó việc thực hiện các chế độ, chính sách cho đội ngũ cán bộ Hội, nhất
là Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ cơ sở còn chưa phù hợp với thực tiễn Thành

74

phố lớn đã ảnh hưởng đến tư tưởng, tình cảm của đội ngũ cán bộ Hội, ảnh hưởng đến
chất lượng phong trào Phụ nữ và hoạt động Hội tại địa phương.

Tình hình dịch bệnh COVID-19 bùng phát từ năm 2019 đã ảnh hưởng đến chỉ
đạo của Ban Chấp hành đối với một số hoạt động trọng tâm.

Do cách thống kê số lượng phụ nữ từ 18 tuổi trở lên trong diện tập hợp có
thay đổi so với nhiệm kỳ trước làm ảnh hưởng đến việc thực hiện chỉ tiêu cơ sở Hội
có tỷ lệ tập hợp hội viên dưới 50% theo Nghị quyết Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn
quốc lần thứ XII.

IV. BÀI HỌC KINH NGHIỆM

Bám sát chỉ đạo của Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Ban
Thường vụ Thành ủy để xây dựng kế hoạch hoạt động Hội và phong trào phụ nữ
hàng năm có trọng tâm, trọng điểm để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị và tình
hình thực tiễn của Thành phố. Quyết tâm lãnh đạo đổi mới nội dung, phương thức
hoạt động Hội, nhất là đổi mới phương thức lãnh đạo, hình thức tuyên tuyền, tổ chức
các hoạt động phù hợp, đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của
các tầng lớp phụ nữ, phù hợp với tình hình thực tiễn và yêu cầu nhiệm vụ trong tình
hình mới.

Ban Chấp hành luôn giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy vai trò
trách nhiệm, tính tự giác, nêu gương của từng ủy viên Ban Chấp hành. Tăng cường
tinh thần đoàn kết, thống nhất, phát huy sức sáng tạo, tăng cường vai trò kết nối phối
hợp trong Ban Chấp hành, trong các tổ chức thành viên để tạo thành sức mạnh tổng
hợp trong triển khai và tổ chức hoạt động Hội và phong trào phụ nữ trên địa bàn
Thành phố.

Tăng cường nắm bắt những tâm tư nguyện vọng chính đáng, tình hình dư luận
của hội viên, phụ nữ trên địa bàn thành phố, kịp thời định hướng tư tưởng, dư luận;
tăng cường các hoạt động tiếp xúc, đối thoại giữa hội viên, phụ nữ với lãnh đạo
Đảng và chính quyền các cấp, kịp thời chuyển tải, tham gia giải quyết những vấn đề
bức xúc, kiến nghị, nguyện vọng chính đáng của hội viên, phụ nữ, tạo sự đồng thuận,
hưởng ứng của hội viên, phụ nữ đối với việc thực hiện những chủ trương, chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tạo niền tin của hội viên, phụ nữ đối với tổ chức
Hội góp phần xây dựng tổ chức Hội ngày càng vững mạnh và tham gia xây dựng
Đảng, Nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

Trên đây là những ưu, khuyết điểm của Ban Chấp hành trong quá trình lãnh
đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh
lần thứ X, nhiệm kỳ 2016 - 2021, Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố
xin được nghiêm túc kiểm điểm trước Đại hội và xin trân trọng tiếp thu các ý kiến
đóng góp của quý đại biểu.

BAN CHẤP HÀNH HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BÁO CÁO
CHUYÊN ĐỀ, THAM LUẬN

75

BÁO CÁO THAM LUẬN
“Vai trò nòng cốt của Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố
trong công t c gi m s t, phản biện xã hội và tham gia góp ý xây dựng Đảng,
xây dựng chính quyền, ph t huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc”

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Thành phố

Kính thưa Đoàn Chủ tịch Đại hội;

Kính thưa Quý vị đại biểu, Khách quý;

Thưa Đại hội.

Được sự đồng ý của Ban Tổ chức Đại hội và sự phân công của Ban Thường
trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh, tôi xin trình bày
tham luận về “Vai trò nòng cốt của Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố trong công tác
giám sát, phản biện xã hội và tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền,
phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc”.

Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị - xã hội,
đại diện quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp phụ nữ trên địa bàn
thành phố. Với gần một triệu hội viên, có hệ thống tổ chức Hội từ Thành phố đến
mạng lưới các chi, tổ ở tất cả các phường, xã, thị trấn và khu phố, ấp và đội ngũ cán
bộ nhiệt tình, trách nhiệm và có kinh nghiệm trong các hoạt động phát triển cộng
đồng, Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố là lực lượng nòng cốt góp phần không nhỏ
trong xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, trong phát triển
kinh tế, văn hóa, xã hội của Thành phố. Là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam Thành phố, bên cạnh việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của Hội, Hội Liên hiệp
Phụ nữ Thành phố đã tích cực, chủ động và trách nhiệm trong thực hiện công tác
giám sát, phản biện xã hội và tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.

Trong những năm qua, Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố đã không ngừng
nâng cao hiệu quả công tác giám sát, phản biện xã hội, tham mưu đề xuất chính sách
góp phần giải quyết các vấn đề thiết thân của phụ nữ, trong đó tích cực tham gia góp
ý các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các
chương trình, kế hoạch của ủy ban nhân dân Thành phố, đặc biệt là trong lĩnh vực
liên quan tới phụ nữ và bình đẳng giới. 5 năm qua, ngoài việc chủ trì tổ chức các
cuộc giám sát chuyên đề về an sinh xã hội, hỗ trợ người nghèo, phụ nữ yếu thế,
chính sách cho cán bộ không chuyên trách, về thực thi pháp luật phòng chống bạo
lực gia đình, an toàn vệ sinh thực phẩm, công tác quản lý nhà nước về giáo dục,
chăm sóc và nuôi dạy trẻ tại các cơ sở Mầm non ngoài công lập và nhóm trẻ gia đình
theo chức năng, nhiệm vụ của mình...; các cấp Hội cũng đã tham gia 3.578 cuộc
giám sát do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tổ chức, các ý kiến góp ý
của Hội đã góp phần làm rõ hơn những vấn đề còn tồn tại, hạn chế mà các cơ quan,
đơn vị được giám sát cần quan tâm khắc phục; ngoài ra, các cấp Hội đã chủ động
tham gia góp ý, phản biện các dự án luật liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của
phụ nữ và trẻ em; tổ chức các hội nghị phản biện đối thoại trực tiếp với các nội dung

76

như dự thảo Luật Giáo dục (sửa đổi), dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi); góp ý dự
thảo quy trình can thiệp về mặt pháp lý và giám sát các vụ việc phụ nữ và trẻ em bị
bạo hành xâm hại giai đoạn 2018 – 2020, về chế độ, chính sách, bảo đảm quyền lao
động nữ và bình đẳng giới; phối hợp tổ chức các cuộc Hội thảo tham vấn ý kiến các
chuyên gia ngành tư pháp, cán bộ ngành Tòa án, Hội thẩm nhân dân, Luật sư, Luật
gia và lãnh đạo một số sở, ngành của Thành phố về góp ý dự thảo Bộ luật Hình sự
(sửa đổi) dưới góc độ bình đẳng giới và thực hiện các phiếu khảo sát với các chuyên
gia tham dự hội thảo… Các cấp Hội cũng đã thực hiện tốt vai trò là cầu nối giữa hội
viên, phụ nữ với cấp ủy, chính quyền trong phát huy dân chủ, tăng cường đồng thuận
xã hội, góp phần xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh, nâng cao hiệu
quả quản lý nhà nước, thông qua nhiều hình thức nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của
hội viên, phụ nữ, như: tổ chức các diễn đàn, đối thoại để hội viên, phụ nữ thảo luận,
trình bày nguyện vọng, nêu kiến nghị với người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các
cấp; 05 năm qua, đã chủ động phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các
cấp tham mưu tổ chức 164 cuộc đối thoại trực tiếp giữa phụ nữ với cấp ủy, chính
quyền địa phương. Thông qua đối thoại, nhiều ý kiến được cấp ủy đảng, chính quyền
tiếp thu phục vụ cho công tác lãnh đạo, điều hành tại địa phương.

Thông qua hoạt động giám sát, phản biện xã hội và tham gia góp ý xây dựng
Đảng, xây dựng chính quyền, Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố đã thực hiện tốt
hơn chức năng đại diện, chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tầng lớp
phụ nữ và ngày càng khẳng định được vị thế, vai trò trong hệ thống chính trị và
trong đời sống xã hội. Trình độ, năng lực, bản lĩnh của cán bộ Hội các cấp được
nâng lên. Đã xuất hiện nhiều điển hình tốt, cách làm hay, sáng kiến mới trong công
tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền từ các cấp Hội, góp phần phát huy dân
chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; sự gắn bó giữa Đảng và Nhân dân; đóng góp
vào quá trình phát huy dân chủ xã hội, cụ thể hoá phương châm “Dân biết, dân bàn,
dân làm, dân kiểm tra”.

Trong nhiệm kỳ 2021 - 2026, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố
rất mong Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố nâng cao và phát huy hiệu quả giám sát
và phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của các cấp
Hội, tổ chức thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 13-CT/TU ngày 20 tháng 8 năm 2021
của Ban Thường vụ Thành ủy về lãnh đạo thực hiện Đề án “Nâng cao vai trò của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố và Nhân dân giám sát tổ chức đảng, đảng
viên và hoạt động của chính quyền các cấp Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2021 -
2030"; phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị -
xã hội cùng cấp trong hoạt động giám sát và phản biện xã hội đối với những vấn đề
nóng, những vấn đề thời sự liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của hội viên, đoàn
viên và Nhân dân, góp phần đẩy mạnh dân chủ trong xã hội, phát huy quyền làm chủ
của hội viên, phụ nữ và thực sự là tiếng nói đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp
của các tầng lớp phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh.

Xin chân thành cám ơn quý vị Đại biểu.

Kính chúc sức khỏe các đồng chí lãnh đạo và toàn thể đại biểu.

Kính chúc Đại hội thành công.

77

BÁO CÁO THAM LUẬN
Xây dựng đội ngũ c n ộ nữ đ p ứng yêu cầu ph t triển nguồn nhân lực

của Thành phố Hồ Chí Minh

Ban Tổ chức Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Đối
với Bác, tầng lớp phụ nữ luôn có vị trí quan trọng trong cuộc cách mạng chung
của dân tộc và hoàn toàn có thể tự hào mà ngẩng cao đầu trước các đấng mày râu
Người đã dành cho phụ nữ Việt nam những lời khen tặng quý báu : “Non sông
gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt
đẹp, rực rỡ”…, ''Nhân dân ta anh hùng là nhờ có các bà mẹ Việt Nam anh
hùng"... ”. Đây chính là sự khẳng định của Người về vị trí, vai trò không thể thiếu
của phụ nữ Việt Nam đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc cũng như trong công
cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.

Theo quan điểm của Bác, vấn đề giải phóng phụ nữ là một vấn đề xã hội to
lớn, không phải chỉ là việc riêng của phụ nữ, mà là công việc quan trọng của
Đảng, Nhà nước và đòi hỏi phải có sự tham gia của toàn xã hội, của tất cả mọi
người. Việc giải phóng phụ nữ là phải tạo điều kiện để phụ nữ tham gia vào các
hoạt động xã hội; Chỉ có đưa phụ nữ tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn
hóa… thì mới bảo đảm quyền bình đẳng thực sự cho phụ nữ.

Thực hiện nghị quyết Đại Hội Đảng lần thứ X, tiếp tục cụ thể hóa quan
điểm của Đảng đối với việc thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ trong thời kỳ
mới, Ngày 27 tháng 4 năm 2007, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 11/NQ-
TW “Về công tác phụ nữ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước”, tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp
trong Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 20 tháng 01 năm 2018; Ban Bí thư ban
hành Chỉ thị số 21-CT/TW về tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình
mới và Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Thông tri
số 23-TT/TU ngày 07 tháng 8 năm 2018, với vai trò là cơ quan tham mưu, giúp
việc cho Ban Thường vụ Thành ủy, Ban Tổ chức Thành ủy đã tham mưu Ban
Thường vụ Thành ủy một số nội dung trọng tâm về công tác cán bộ nói chung và
cán bộ nữ, cụ thể như sau:

- Về công tác quy hoạch nguồn nhân sự cấp ủy và cán bộ lãnh đạo, quản lý
đến năm 2025 và những năm tiếp theo, Ban Tổ chức Thành ủy đã tham mưu cho
Ban Thường vụ Thành ủy ban hành Kết luận số 385-KL/TU ngày 01 tháng 10
năm 2018 về phân cấp phê duyệt quy hoạch cán bộ; Kế hoạch số 266-KH/TU
ngày 03 tháng 5 năm 2019 về rà soát, bổ sung quy hoạch cấp ủy, cán bộ lãnh đạo,
quản lý diện Ban Thường vụ Thành ủy quản lý nhiệm kỳ 2020-2025, 2021-2026,
trong đó xác định tỷ lệ nữ trong quy hoạch bảo đảm không dưới 40% trong quy
hoạch cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy và lãnh đạo chính quyền các cấp.

- Về công tác chuẩn bị nhân sự và bầu cử cấp ủy Đại hội Đảng các cấp,
Thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TW và Hướng dẫn số 26-HD/BTCTW ngày 18 tháng

78

10 năm 2019 của Ban Tổ chức Trung ương hướng dẫn một số nội dung Chỉ thị số
35-CT/TW của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Ban Thường vụ Thành ủy đã ban hành Kế
hoạch số 324-KH/TU ngày 09 tháng 11 năm 2019 về chuẩn bị và tiến hành đại
hội đảng bộ cơ sở và cấp trên cơ sở nhiệm kỳ 2020 - 2025. Trên cơ sở đó, Ban Tổ
chức Thành ủy đã ban hành Hướng dẫn số 15-HD/BTCTU ngày 25 tháng 11 năm
2019 về hướng dẫn công tác nhân sự cấp ủy và quy trình chuẩn bị tổ chức đại hội
đảng bộ cơ sở và đảng bộ cấp trên cơ sở nhiệm kỳ 2020 - 2025, Công tác nhân sự
đại hội được thực hiện gắn với công tác đào tạo, luân chuyển cán bộ, quy hoạch,
bổ sung quy hoạch nguồn nhân sự ban chấp hành, ban thường vụ, bí thư, phó bí
thư quận ủy, huyện ủy, đảng ủy cấp trên cơ sở nhiệm kỳ 2020 - 2025 ban thường
vụ quận ủy, huyện ủy, đảng ủy cấp trên cơ sở đã chủ động trong việc chuẩn bị đề
án nhân sự dự kiến giới thiệu ứng cử ban chấp hành, ban thường vụ, bí thư, phó bí
thư, đảm bảo các yêu cầu về tiêu chuẩn cấp ủy viên, cơ cấu tỷ lệ cán bộ trẻ, trong
đó cơ cấu cấp ủy viên là nữ từ 15% trở lên và phải có cán bộ nữ trong ban thường
vụ cấp ủy; Đảng bộ cấp trên cơ sở và cơ sở phấn đấu đạt tỷ lệ cấp ủy viên nữ, trẻ
tuổi cao hơn đầu khóa hiện nay và có cán bộ nữ trong thường trực cấp ủy.

- Thực hiện Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 20 tháng 6 năm 2020 của Bộ Chính
trị về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử đại biểu Hội
đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021- 2026, Nghị quyết của Quốc hội về tổ chức
chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh79, Ban Tổ chức Thành ủy đã tham
mưu Ban Thường vụ Thành ủy lãnh đạo bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và
bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố khóa X, đại biểu Hội đồng nhân
dân huyện và đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn nhiệm kỳ 2021-2026, trong
đó cơ cấu nữ tham gia Hội dồng nhân dân thành phố phấn đấu đạt trên 38%. Ban
Thường vụ Thành ủy giao Ban Tổ chức Thành ủy tham mưu, đề xuất, trình Ban
Thường vụ Thành ủy về phương hướng chuẩn bị cơ cấu, nhân sự ứng cử đại biểu
Quốc hội và nhân sự đại biểu Quốc hội chuyên trách của Đoàn đại biểu Quốc hội
thành phố khóa XV, Ủy ban nhân dân thành phố nhiệm kỳ 2021-2026, nhân sự
chủ tịch, các phó chủ tịch, trưởng và các phó trưởng ban Hội đồng nhân dân thành
phố, Chánh Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân Thành
phố, đại biểu Hội đồng nhân dân Thành phố chuyên trách; chủ tịch, các phó chủ
tịch, các Ủy viên Ủy ban nhân dân Thành phố theo quy định hiện hành.

- Với vai trò thành viên Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ và bình đẳng giới thành
phố, Ban Tổ chức Thành ủy cùng với các cơ quan, đơn vị đã tham mưu cho Ủy
ban nhân dân thành phố ban hành Kế hoạch số 3431/KH-UBND ngày 15 tháng
10 năm 2021 về triển khai Quyết định số 2282/QĐ-TTg ngày 31 tháng 12 năm
2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình “Tăng cường sự tham gia
bình đẳng của phụ nữ trong lãnh đạo và quản lý ở các cấp hoạch định chính sách
giai đoạn 2021 - 2030”; Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện “Chiến lược, Chương
trình quốc gia về bình đẳng giới, vì sự tiến bộ phụ nữ giai đoạn 2011 - 2020” và

79 Ngày 16 tháng 11 năm 2020, Quốc hội đã họp thông qua dự thảo Nghị quyết về tổ chức chính quyền đô thị tại
Thành phố Hồ Chí Minh.

79

Quyết định về phê duyệt Chiến lược, Chương trình quốc gia về bình đẳng giới và
phòng ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới trên địa bàn Thành phố Hồ Chí
Minh giai đoạn 2021 - 2030.

Kết quả đạt được:

- Công t c quy hoạch c n ộ

Thực hiện Kết luận số 385-KL/TU ngày 01 tháng 10 năm 2018 của Ban
Thường vụ Thành ủy về phân cấp phê duyệt quy hoạch cán bộ sau đây gọi tắt là
Kết luận số 385-KL/TU), Kế hoạch số 266-KH/TU ngày 03 tháng 5 năm 2019
của Ban Thường vụ Thành ủy về rà soát, bổ sung quy hoạch cấp ủy, cán bộ lãnh
đạo, quản lý diện Ban Thường vụ Thành ủy quản lý nhiệm kỳ 2020 - 2025, 2021
- 2026; năm 2020, Ban Tổ chức Thành ủy đã thẩm định kết quả quy hoạch cán bộ
và tham mưu Ban Thường vụ Thành ủy ban hành Quyết định phê duyệt quy
hoạch cán bộ cũng như ban hành Thông báo xác nhận quy hoạch cán bộ với 1.878
lượt cán bộ được phê duyệt và xác nhận quy hoạch diện Ban Thường vụ Thành ủy
quản lý, trong đó có 614 lượt cán bộ nữ (tỷ lệ 32,69%); tổng số cán bộ được quy
hoạch cán bộ lãnh đạo quản lý thuộc diện Ban Thường vụ Thành ủy quản lý theo
phân cấp 1.868 đồng chí, trong đó có 663 cán bộ nữ, tỷ lệ 35,49%.

Công tác quy hoạch cán bộ trong thời gian gần đây bước đầu đạt một số kết
quả tích cực, từng bước xây dựng được đội ngũ cán bộ có chất lượng; cán bộ
được quy hoạch đảm bảo các tiêu chuẩn, điều kiện, có phẩm chất chính trị, đạo
đức tốt, có trình độ chuyên môn, năng lực, bảo đảm yêu cầu, nhiệm vụ tại địa
phương, đơn vị; số lượng, cơ cấu, cán bộ nữ, cán bộ trẻ tương đối đảm bảo, chuẩn
bị cho nhân sự Đại hội Đảng bộ thành phố, quận ủy, huyện ủy và đảng ủy trực
thuộc Thành ủy, tạo được đội ngũ cán bộ kế cận, khắc phục tình trạng hụt hẫng
cán bộ, đảm bảo sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ cán bộ.

- Về công t c c n ộ nữ trong chuẩn bị nhân sự đại hội Đảng c c cấp

Đối với đảng bộ quận, huyện, đảng bộ cấp trên cơ sở, kết quả bầu cử ban
chấp hành của 63 đảng bộ quận, huyện, cấp trên cơ sở đảm bảo yêu cầu đổi mới
không dưới 1/3 cấp ủy viên so với đầu nhiệm kỳ trước, tỷ lệ cán bộ nữ cơ bản đạt
yêu cầu cán bộ nữ đạt trung bình 27,28%), cấp ủy viên đều có trình độ chuyên
môn từ đại học trở lên, trình độ cao cấp, cử nhân chính trị đạt 98,72%. Kết quả
bầu ban thường vụ cấp ủy đảm bảo cơ cấu nữ (25,96%), tỷ lệ ủy viên ban thường
vụ quận ủy, huyện ủy dưới 40 tuổi đạt 10,58%, các ủy viên ban thường vụ cấp ủy
đều có trình độ chuyên môn từ đại học trở lên, có trình độ lý luận chính trị cao
cấp, cử nhân

Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ XI, nhiệm kỳ
2020-2025 biểu quyết thống nhất số lượng Thành ủy viên khóa XI là 65 đồng chí,
bầu tại Đại hội là 61 đồng chí khuyết 04 đồng chí); thông qua danh sách bầu cử
72 đồng chí và đã bầu 61 đồng chí vào Ban Chấp hành Đảng bộ khóa XI; có 46
đồng chí do Thành ủy khóa X giới thiệu tái cử và 15 đồng chí lần đầu tham gia
Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố, trong đó có 13 cán bộ nữ 21,31%); 03 cán
bộ trẻ 4,92%); độ tuổi bình quân là 49,67.

80

Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố khóa XI đã bầu
15 đồng chí vào Ban Thường vụ Thành ủy khóa XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025, Bộ
Chính trị chỉ định 01 đồng chí số lượng Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy được
Bộ Chính trị phê duyệt phương án nhân sự là 17 đồng chí) khuyết 01 đồng chí);
trong đó, 13 đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy khóa X tái cử (86,67%);
02 đồng chí được giới thiệu mới (13,33%); 04 cán bộ nữ, đạt 25%.

- Về công t c c n ộ nữ trong việc giới thiệu nhân sự chuẩn bị bầu cử
đại biểu Hội đồng nhân dân c c cấp và ầu đại biểu Quốc hội

Bầu cử đại biểu Quốc hội

Theo phân bổ của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thành phố Hồ Chí Minh
được bầu 30 đại biểu; trong đó Trung ương giới thiệu 14 đại biểu. Sau 3 hội nghị
hiệp thương, Trung ương giới thiệu về ứng cử tại thành phố là 13 người, Thành
phố có 37 người ứng cử, tổng số ứng cử viên đại biểu Quốc hội Khóa XV là 50
người, để bầu 30 đại biểu Quốc hội, với 10 đơn vị bầu cử, mỗi đơn vị 5 ứng cử
viên bầu 3 đại biểu. Kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội có 30 đại biểu trúng cử, đủ
số đại biểu được bầu, trong đó có 09 nữ (tỷ lệ 30%).

Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố nhiệm kỳ 2021-2026

Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật bầu cử đại biểu Quốc
hội và Hội đồng nhân dân, Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 20 tháng 6 năm 2020 của
Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử hội
đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, Nghị quyết số 1187/NQ-
UBTVQH13 ngày 11 tháng 01 năm 2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội
hướng dẫn việc xác định dự kiến cơ cấu thành phần và phân bổ số lượng người
được giới thiệu ứng cử Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026; căn cứ
Hướng dẫn số 36-HD/BTCTW ngày 20 tháng 01 năm 2021 của Ban Tổ chức
Trung ương về công tác nhân sự đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng
nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026; Ban Thường vụ Thành ủy đã thống nhất
số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố khóa X nhiệm kỳ 2021-2026 là
95 đại biểu; trong đó cơ cấu đại biểu trẻ tuổi dưới 40 tuổi) phấn đấu tỷ lệ trên
16%; cơ cấu đại biểu là phụ nữ phấn đấu tỷ lệ trên 38%; về đại biểu dân tộc và
tôn giáo phấn đấu đạt tỷ lệ trên 4%; về tỷ lệ đại biểu là người ngoài Đảng phấn
đấu tỷ lệ trên 10%.

Sau 3 Hội nghị hiệp thương, thành phố có 158 người ứng cử để bầu 95 đại
biểu Hội đồng nhân dân thành phố tại 32 đơn vị bầu cử có 31 đơn vị, mỗi đơn vị
05 ứng cử viên bầu 03 đại biểu; 01 đơn vị 03 ứng cử viên bầu 02 đại biểu). Kết
quả bầu cử Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có 94 đại biểu trúng cử,
khuyết 01 đại biểu, trong đó có 41 nữ (tỷ lệ 43,62%).

Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố Thủ Đức, 5 huyện, 63 xã, thị
trấn nhiệm kỳ 2021-2026.

Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc thành phố Thủ Đức, huyện, xã,
thị trấn đã phối hợp chặt chẽ với chính quyền và các đoàn thể chính trị - xã hội để

81

hoàn thành tốt các bước chuẩn bị nhân sự ứng cử viên; tổ chức các hội nghị hiệp
thương bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cùng cấp theo đúng quy định. Công
tác hiệp thương được thực hiện dân chủ, đúng pháp luật, đúng tiến độ và thời gian
quy định.

Kết quả bầu cử Hội đồng nhân dân Thành phố Thủ Đức và 05 huyện: có
209 đại biểu trúng cử, khuyết 01 đại biểu, trong đó có 79 nữ (tỷ lệ 37,8%).

Kết quả bầu cử Hội đồng nhân dân xã, thị trấn: có 1.822 đại biểu trúng cử,
khuyết 15 đại biểu, trong đó có 665 nữ (tỷ lệ 36,5%).

Ban Thường vụ Thành ủy đã lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thành công cuộc bầu
cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố khóa X
nhiệm kỳ 2021 - 2026 về công tác cơ cấu, số lượng và nhân sự ứng cử đảm bảo
nguyên tắc, quy trình, quy định, được triển khai chặt chẽ thông qua các bước đúng
Luật, đảm bảo giới thiệu người ứng cử đạt các tỷ lệ về nữ, trẻ, thực hiện tốt công
tác chuẩn bị và giới thiệu nhân sự ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu
Hội đồng nhân dân các cấp gắn với kết quả nhân sự của Đại hội Đảng các cấp và
quy hoạch cán bộ để giới thiệu những người thật sự tiêu biểu, chỉ đạo giải quyết
những phát sinh, khó khăn, vướng mắc trong quá trình chuẩn bị và tổ chức bầu cử.

- Công t c ph t triển đảng viên mới

Tính đến cuối năm 2020 toàn Đảng bộ thành phố có 245.801 đảng viên,
trong đó nữ 96.065 đảng viên, đạt tỷ lệ 39.08%, công tác phát triển đảng viên
mới được cấp ủy các cấp quan tâm thực hiện, từ năm 2018 đến tháng 6/2021
Đảng bộ thành phố đã kết nạp được 27.082 đảng viên trong đó nữ 13.060 đảng
viên, đạt tỷ lệ 48,22%.

Hạn chế, khó khăn:

- Đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý, cán bộ nữ tham gia cấp ủy các cấp
thời gian qua tuy có tăng về số lượng và chất lượng, nhưng chưa đáp ứng yêu cầu,
chỉ tiêu của Thành ủy đề ra80. Vẫn còn một số sở, ngành chưa có cán bộ nữ trong
ban lãnh đạo, cán bộ nữ quy hoạch tỷ lệ còn thấp ở một số lĩnh vực, tỷ lệ nữ trong
cấp ủy và cán bộ chủ chốt ở một số các phòng, ban chưa tương xứng với sự phát
triển lực lượng của giới trong đơn vị, địa phương; tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy và các

80 Có 18 đảng ủy quy hoạch ban chấp hành chưa đạt tỉ lệ cán bộ nữ không dưới 40%): Đảng ủy Sở Y tế 31,4%),
Đảng ủy Sở Lao động Thương binh và Xã hội 26%), Đảng ủy Khối cơ sở Bộ Y tế 18,4%), Đảng ủy Khối cơ sở
Bộ Xây dựng 7,8%), Đảng ủy Cục Hải Quan 39,1%), Đảng ủy Khối Doanh nghiệp thành phố 31,5%), Đảng ủy
Khối Ngân hàng thành phố 31%), Đảng ủy Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn - TNHH MTV 12,5%), Đảng ủy
Khối cơ sở Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 4,5%), Đảng ủy Tổng Công ty Cơ khí Giao thông Vận tải Sài
Gòn - TNHH MTV 35%), Đảng ủy Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn - TNHH MTV 6,8%), Đảng ủy Tổng Công
ty Du lịch Sài Gòn - TNHH MTV 35,4%), Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn - TNHH MTV 29,7%), Đảng ủy
Khối cơ sở Bộ Tài nguyên và Môi trường 30,9%), Đảng ủy Khối Đại học, Cao đẳng thành phố 20,5%), Đảng ủy
Khối Doanh nghiệp Thương mại Trung ương 31,2%), Đảng ủy Khối Doanh nghiệp công nghiệp Trung ương
19%), Đảng ủy Lực lượng Thanh niên xung phong thành phố 33,3%); 08 đảng ủy quy hoạch ban thường vụ chưa
đạt tỉ lệ cán bộ nữ quy hoạch dưới 40%: Đảng ủy Sở Y tế 21,4%), Đảng ủy Khối cơ sở Bộ Y tế 14,2%), Đảng ủy
Khối cơ sở Bộ Xây dựng 21,4%), Đảng ủy Cục Hải Quan 7,14%), Đảng ủy Khối Doanh nghiệp thành phố
7,09%), Đảng ủy Khối Ngân hàng thành phố 16,7%), Đảng ủy Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn – TNHH
MTV 14,3%), Đảng ủy Tổng Công ty Liksin 12,5%).

82

chức danh lãnh đạo chủ chốt ở một số cơ quan, đơn vị chưa cao và thiếu81 (ngoại
trừ các đơn vị mang tính đặc thù như Công an thành phố, Bộ Tư lệnh thành phố,
Bộ đội Biên phòng thành phố, Hội Cựu chiến binh thành phố), có địa phương Chủ
tịch Hội phụ nữ chưa được cơ cấu tham gia cấp ủy82.

- Công tác đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đã
được các cấp ủy quan tâm tạo thực hiện; tuy nhiên hầu hết chỉ thực hiện nhiệm vụ
đào tạo chung cho tất cả cán bộ chứ chưa xây dựng chương trình, kế hoạch đào
tạo, bồi dưỡng riêng cho đối tượng cán bộ nữ.

Nhiệm vụ, giải pháp

- Ban Thường vụ Thành ủy Thủ Đức, quận ủy, huyện ủy, đảng ủy cấp trên
cơ sở cần thực hiện tốt công tác đánh giá cán bộ, định kỳ rà soát bổ sung quy
hoạch; xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển cán bộ, quan tâm bố
trí, tạo điều kiện cho cán bộ trẻ, cán bộ nữ phát huy năng lực, sở trường, khẳng
định được uy tín đối với đảng bộ.

- Các cấp ủy, chính quyền đánh giá đúng đắn, khách quan về vai trò, năng
lực, phẩm chất và sự cống hiến của cán bộ nữ, có giải pháp tìm chọn cán bộ nữ trẻ
có triển vọng đưa vào nguồn quy hoạch và đào tạo theo quy hoạch. Đẩy mạnh
công tác phát triển đảng viên nữ để tạo nguồn cán bộ. Các cấp ủy, chính quyền
tạo điều kiện thuận lợi về thời gian, kinh phí cho cán bộ nữ học tập, giao lưu...
lắng nghe tâm tư, nguyện vọng để kịp thời chỉ đạo giải quyết khó khăn. Trong
từng cấp ủy quán triệt phương châm bố trí cán bộ, trong trường hợp có nhiều cán
bộ nam và nữ đủ tiêu chuẩn, đảm bảo các điều kiện để bố trí thì ưu tiên chọn cán
bộ nữ. Cán bộ nữ đang giữ nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý ở từng cấp, từng ngành,
từng cơ quan, đơn vị phải có trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ kế nhiệm
mình từ đó ngày càng có nhiều nhà lãnh đạo, quản lý là nữ.

- Kiện toàn Tiểu ban công tác cán bộ nữ, Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ và bình
đẳng giới tại cơ quan, đơn vị để phát huy vai trò trong công tác tham mưu cho cấp
ủy các giải pháp nhằm cao chất lượng đội ngũ cán bộ nữ, khơi dậy tiềm năng và
phát huy vai trò của cán bộ nữ trong sự phát triển chung của cơ quan, đơn vị.

Với những kết quả đạt được, những hạn chế trong thời gian qua, Ban Tổ
chức Thành ủy đề ra các giải pháp để tiếp tục tham mưu thực hiện có hiệu quả
công tác xây dựng đội ngũ cán bộ nữ trong thời gian tới đáp ứng yêu cầu phát
triển nguồn nhân lực của thành phố Hồ Chí Minh.

81 Văn phòng Thành ủy, Ban Nội chính Thành ủy, Sở Quy hoạch - Kiến trúc, Sở Nông nghiệp - Phát triển nông
thôn, Sở Giáo dục và đào tạo, Ban Quản lý Dự án Đầu tư xây dựng các công trình giao thông, Cục Thi hành án dân
sự thành phố, Báo Sài Gòn Giải phóng, Báo người lao động, Đài tiếng nói nhân dân thành phố, Đảng ủy Khối
Doanh nghiệp thành phố, Đảng ủy Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn - TNHH MTV, Đảng ủy Tổng Công ty Xây
dựng Sài Gòn - TNHH MTV, Đảng ủy Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn - TNHH MTV, Đảng ủy Khối cơ sở Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch, Đảng ủy Khối cơ sở Bộ Tài nguyên và Môi trường.
82 Quận Bình Tân

83

BÁO CÁO THAM LUẬN
“Vai trò của tổ chức Hội tham gia cùng thành phố trong công t c

đào tạo, bồi dƣỡng nguồn nhân lực nữ và đội ngũ c n ộ Hội,
từng ƣớc thích ứng với c ch mạng công nghiệp 4.0”

Ban Tổ chức - Kiểm tra Hội LHPN Thành phố

Kính thưa Đoàn Chủ tịch Đại hội!

Kính thưa quý đại biểu!

Kính thưa Đại hội!

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến phụ nữ Việt Nam và vấn
đề giải phóng phụ nữ, giáo dục, đào tạo phụ nữ và làm thế nào để giúp phụ nữ
bình đẳng, phát triển tiến bộ. Trong Di chúc thiêng liêng để lại, Người căn dặn
toàn Đảng, toàn dân: “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi
dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công
việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Đó là
một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”. Những lời
căn dặn của Bác đã trở thành kim chỉ nam cho Đảng và Nhà nước ta, Đảng đã chỉ
rõ: "xây dựng, phát triển vững chắc đội ngũ cán bộ nữ tương xứng với vai trò to
lớn của phụ nữ là yêu cầu khách quan, là nội dung quan trọng trong chiến lược
công tác cán bộ của Đảng".

Ở Việt Nam, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư cách mạng công
nghiệp 4.0) có tác động sâu sắc đến các hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội, đặc biệt
là tại TP. Hồ Chí Minh - đô thị đặc biệt, có ý nghĩa và vị trí quan trọng đối với sự
phát triển của đất nước. Vấn đề này tạo áp lực đối với nguồn nhân lực nữ và đội
ngũ cán bộ Hội, đặt ra những vấn đề mới đối với Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố
Hồ Chí Minh trong việc phải thay đổi về chương trình, nội dung, phương pháp,
cách thức đào tạo, bồi dưỡng đối với nguồn nhân lực nữ và đội ngũ cán bộ Hội.
Hàng loạt vấn đề đặt ra và cần phải giải quyết đó là: từng đối tượng phụ nữ thiếu
kiến thức gì? Chương trình, nội dung đào tạo phải thay đổi thế nào? Phương thức,
cách thức đào tạo, bồi dưỡng như thế nào mới là phù hợp?

Kính thưa đại hội,

Trong 5 năm qua, Hội LHPN Thành phố đã thường xuyên phối hợp với Sở
Khoa học và Công nghệ, Hội Nữ doanh nhân Thành phố, Tổ chức Nghiên cứu
phát triển Châu Âu IECD), các chuyên gia… Tổ chức các chuyên đề, hội thảo,
các lớp tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức khởi nghiệp, khởi sự kinh doanh;
tổ chức chuyên đề cho lao động nữ như chuyên đề “Nhận thức của lao động nữ
trong định hướng việc làm”, “Lựa chọn nghề cho phụ nữ nông thôn”, “Tầm quan
trọng của học nghề và việc làm”; “Cơ hội học nghề, tạo việc làm cho lao động
nữ” “Định hướng về học nghề, việc làm cho phụ nữ tại cộng đồng, kỹ năng làm
việc chuyên nghiệp”; chuyên đề “Dự báo nhu cầu nhân lực tại TP. Hồ Chí Minh
giai đoạn 2015-2020”…

84

Toàn hệ thống Hội tích cực phối hợp tổ chức các hoạt động đào tạo nguồn
nhân lực nữ của địa phương, thành phố. Thông qua hoạt động của Trung tâm Giới
thiệu việc làm, Nhà Văn hóa Phụ nữ Thành phố, liên kết, phối hợp với Trung tâm
dạy nghề quận, huyện, Trường Trung cấp Lê Thị Riêng, các cơ sở doanh nghiệp
như Công ty TNHH L’OREAL Việt Nam… để tổ chức đào tạo sơ cấp nghề. Kết
quả trong 5 năm qua đã đào tạo cho gần 50.000 lao động nữ.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng cho nguồn nhân lực nữ còn được tổ chức Hội
thực hiện thông qua hệ thống đào tạo trực tuyến của Hội LHPN Thành phố. Trong
nhiệm kỳ 2016 – 2021, hệ thống đào tạo trực tuyến tiếp tục được nâng cấp với
tổng mức đầu tư là 4.373.372.223 đồng; trang bị phòng quay bài giảng trực tuyến;
xây dựng và đăng tải thêm bài giảng với nhiều nội dung, lĩnh vực, hình thức
phong phú, đặc biệt chú trọng đến các lĩnh vực phong trào Phụ nữ và hoạt động
Hội, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ Hội. Hiện nay trên hệ
thống bài giảng đào tạo trực tuyến của Hội có tổng cộng 796 video clip gồm 387
chuyên đề đa dạng, phong phú trong đó có nhiều chuyên đề hướng dẫn kỹ năng,
hỗ trợ phụ nữ khởi sự kinh doanh; Kỹ năng làm việc nhóm; Kỹ năng lập và tổ
chức thực hiện kế hoạch; Tổ chức quản lý kinh doanh; bồi dưỡng kỹ năng, kiến
thức về tin học, ngoại ngữ… Từ năm 2016 đến nay, Hội LHPN Thành phố đã tổ
chức 318 lớp bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng trên hệ thống đào tạo trực tuyến với
428.667 lượt cán bộ, hội viên, phụ nữ tham gia học.

Đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội các cấp, Hội Liên hiệp Phụ
nữ Thành phố Hồ Chí Minh đã chủ động xây dựng kế hoạch, phối hợp với Ban
Tổ chức Thành ủy, Văn phòng Thành ủy và Sở Nội vụ Thành phố trình phê duyệt
Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội LHPN các cấp” giai đoạn 2013 – 2017 và
Đề án “Bồi dưỡng cán bộ, công chức Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp và Chi hội
trưởng Phụ nữ giai đoạn 2019 - 2025”, từ Đề án đã phối hợp tổ chức 417 lớp đào
tạo, bồi dưỡng cho 349.863 cán bộ Hội các cấp.

Kính thưa đại hội,

Những kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn thực hiện công tác đào tạo, bồi
dưỡng nguồn nhân lực nữ nói chung và cán bộ Hội nói riêng của Hội LHPN
Thành phố, cụ thể là:

Thứ nhất, cần phải có các văn bản chỉ đạo về mặt chủ trương của các cấp
ủy Đảng, Hội cấp trên đối với việc thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng: cụ thể,
ngày 08/12/2009, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 62-KL/TW về tiếp tục đổi
mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
chính trị - xã hội; ngày 15/01/2020 Bộ Chính trị ban hành Thông báo Kết luận số
160-TB/TW về việc tiếp tục thực hiện Kết luận số 62-KL/TW ngày 08/12/2009
về tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và
các đoàn thể chính trị - xã hội; Chỉ thị số 21-CT/TW của Ban Chấp hành Trung
ương ngày 20/01/2018 về tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới;
Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Công văn số 153-CV/TU ngày 06
tháng 5 năm 2021 về lãnh đạo thực hiện Thông báo Kết luận số 160-TB/TW ngày
15/01/2020 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Kết luận số 62-KL/TW

85

ngày 08/12/2009 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức
hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội… các văn bản
này là điều kiện thuận lợi để Hội LHPN Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện các
nội dung trọng tâm, trong đó có công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực nữ
nói chung và cán bộ Hội nói riêng. Ngoài ra, việc triển khai thực hiện Chương
trình hành động số 19-CTrHĐ/TU ngày 31/10/2016 của Thành ủy về thực hiện
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ X về chương trình nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực giai đoạn 2016 - 2020; chủ trương thực hiện quy hoạch cán
bộ Hội, cán bộ nữ của Thành phố cũng là cơ sở để Hội LHPN Thành phố mạnh
dạn đề xuất chủ trương, tham mưu cấp ủy thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng
đội ngũ cán bộ nữ nói chung và cán bộ Hội nói riêng.

Thứ hai, cần chú ý đầu tư cho việc khảo sát, rà soát thực trạng trình độ,
nhu cầu đào tạo bồi dưỡng của nguồn nhân lực nữ, cán bộ Hội tại Thành phố;
tham khảo các chương trình, dự toán kinh phí của các cơ sở đào tạo, giáo dục lớn;
nghiên cứu kỹ các văn bản quy định về tài chính để xây dựng Kế hoạch và tham
mưu đề xuất lãnh đạo Thành phố phê duyệt. Phải lựa chọn nội dung đào tạo và dự
toán kinh phí phù hợp xác thực tế trong khoảng thời gian 5 năm.

Thứ ba, để thực hiện được các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho nguồn
nhân lực nữ, cán bộ Hội đạt chất lượng, theo đúng tiến độ kế hoạch đề ra:

+ Hội LHPN các cấp cần tìm hiểu kỹ các thông tin cần thiết về thị trường
lao động, thông tin dự báo nhu cầu nhân lực tại TP. Hồ Chí Minh để xây dựng
chương trình, nội dung đào tạo một cách kịp thời, phù hợp với thực tiễn. Phối hợp
các đơn vị để mở các lớp đào tạo nghề theo nhu cầu của thị trường lao động.

+ Đối với các lớp dài hạn, cần kịp thời báo cáo và đề xuất Ủy ban nhân dân
Thành phố thông qua Sở Nội vụ) ghi nhận chỉ tiêu và chuyển toàn bộ chỉ tiêu đào
tạo sang năm tiếp theo để tiếp tục thực hiện.

+ Đối với các lớp ngắn hạn, trên cơ sở rà soát và đăng ký nhu cầu đào tạo,
bồi dưỡng của Hội cơ sở, khẩn trương phối hợp với các cơ sở đào tạo mở các lớp
theo kế hoạch đề ra. Chủ động liên hệ với Sở Nội vụ Thành phố để được hướng
dẫn các thủ tục cần và đủ khi tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng đúng quy định.

+ Đối với các học viên bỏ học giữa chừng mà không có lý do chính đáng,
kiên quyết ra thông báo thu hồi chi phí đào tạo đồng thời thông báo về đơn vị
công tác của học viên đề nghị xem xét mức đánh giá cuối năm.

Kính thưa đại hội,

Hiện nay, trong điều kiện tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội
nhập quốc tế, đặc biệt là cách mạng công nghiệp 4.0 để có được đội ngũ nhân lực
nữ và cán bộ Hội ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ chính trị Thành phố và sự phát
triển của phong trào phụ nữ Thành phố là hết sức quan trọng. Dự báo được tình
hình phụ nữ, thực trạng nguồn nhân lực nữ, cán bộ Hội, công tác phụ nữ trong
thời gian tới, Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh đưa ra một số giải
pháp trọng tâm sau:

86

Thứ nhất, căn cứ vào tình hình thực tế, nguồn nhân lực nữ không chỉ có
trình độ lý luận, chuyên môn nghiệp vụ, năng lực quản lý mà còn cần có tri thức
thực tiễn phong phú và đa dạng; cán bộ Hội LHPN của Thành phố Hồ Chí Minh
thường xuyên luân chuyển công tác, Hội LHPN Thành phố Hồ Chí Minh tiến
hành khảo sát, tổng hợp nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực nữ, cán bộ
Hội để xác định mục tiêu, chỉ tiêu phấn đấu đến cuối nhiệm kỳ 2021-2026 như dự
thảo văn kiện Đại hội đại biểu Phụ nữ Thành phố đã nêu.

Thứ hai, đổi mới phương thức và nội dung các chương trình đào tạo, bồi
dưỡng theo hướng sát với thực tế, phù hợp với từng đối tượng, nội dung đào tạo
hướng vào các vấn đề thiết thực đặt ra từ quá trình thực hiện nhiệm vụ đến kỹ
năng nâng cao. Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực nữ không chỉ về kiến thức
chuyên môn, khoa học, kỹ thuật, công nghệ mà còn đào tạo, bồi dưỡng cả về kiến
thức văn hóa, nhân văn, các phẩm chất đạo đức truyền thống tốt đẹp của người
phụ nữ Việt Nam.

Thứ ba, thực hiện ký hợp đồng đào tạo với các cơ sở đào tạo trên địa bàn
Thành phố mở các lớp đào tạo nghề cho nguồn nhân lực nữ, đào tạo về nghiệp vụ
công tác Hội, lý luận chính trị và các kỹ năng cần thiết cho người cán bộ Hội.

Thứ tƣ, đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức về phát triển nguồn
nhân lực nữ chất lượng cao cho mọi người dân, đặc biệt là nam giới trong việc sẵn
sàng chia sẻ, ủng hộ, tạo điều kiện thuận lợi để đóng góp vào thành công của nữ
giới; tuyên truyền đề cao tính tự giác học tập, rèn luyện của nhân lực nữ nói
chung và người cán bộ Hội nói riêng, xác định học tập là suốt đời. Hội Liên hiệp
Phụ nữ Thành phố sẽ đẩy mạnh việc thi đua học tập trong hội viên, phụ nữ thông
qua phong trào “Xây dựng người phụ nữ Việt Nam thời đại mới, Phụ nữ Thành
phố Hồ Chí Minh năng động, sáng tạo, khát vọng vươn lên, phát triển bền vững”,
có chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện, động viên cán bộ tham gia các lớp đào tạo, bồi
dưỡng để nâng cao năng lực, kỹ năng công tác, đảm bảo đạt chuẩn chức danh và
tạo nguồn cán bộ.

Kính thưa đại hội,

Công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực nữ, cán bộ Hội là nhiệm vụ
thường xuyên, liên tục đòi hỏi các cấp Hội phải bền bỉ, kiên trì trong thực hiện,
quan tâm đổi mới nội dung chương trình, hình thức đào tạo để đảm bảo chất lượng
nguồn nhân lực nữ, cán bộ Hội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Trên đây là tham luận về vai trò của tổ chức hội tham gia cùng thành phố
trong công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực nữ và đội ngũ cán bộ hội, từng
bước thích ứng với cách mạng công nghiệp 4.0 mà Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành
phố đã thực hiện được trong thời gian qua.

Rất cám ơn quý đại biểu đã chú ý lắng nghe. Xin kính chúc sức khỏe các
đồng chí lãnh đạo, quý đại biểu. Chúc đại hội thành công tốt đẹp.

Xin trân trọng cảm ơn.

87

BÁO CÁO THAM LUẬN
Các phong trào thi đua yêu nước “Phụ nữ tích cực học tập, lao động
sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”, “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” -

động lực thúc đẩy nữ cán bộ - công chức - viên chức - lao động
phát triển toàn diện

Liên đoàn Lao động Thành phố

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;
Thành ủy - HĐND - UBND - UB MTTQ Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh;

Kính thưa toàn thể Đại hội.

Hôm nay, trong không khí phấn khởi của Thành phố Hồ Chí Minh chuyển
sang trạng thái bình thường mới sau một thời gian chịu ảnh hưởng nặng nề của làn
sóng thứ 4 dịch bệnh COVID-19, Hội LHPN Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh
tổ chức Đại hội đại biểu Hội Liên hiệp phụ nữ Thành phố lần thứ XI, nhiệm kỳ
2021-2026; thay mặt trên 1,3 triệu đoàn viên công đoàn Thành phố Hồ Chí Minh
xin gửi tới Đại hội niềm tin, tự hào sâu sắc về những kết quả phong trào phụ nữ
hoạt động hội phụ nữ trong nhiệm kỳ qua và lời chào mừng nồng nhiệt, kính chúc
Đại hội thành công tốt đẹp.

Kính thưa Đại hội!

Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị đặc biệt, trung tâm lớn về kinh tế, văn
hóa, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam,
đầu mối giao lưu và hội nhập quốc tế, thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước
và người dân từ nhiều quốc gia, vùng miền trong cả nước đến học tập, làm việc,
sinh sống. Thành phố có hơn 640.000 doanh nghiệp, 17 khu chế xuất, khu công
nghiệp, khu công nghệ cao và khu nông nghiệp công nghệ cao; có hơn 4,4 triệu
người đang làm việc.83.

Tính đến tháng 11/2021, Liên đoàn Lao động thành phố Hồ Chí Minh đang
quản lý 20.039 công đoàn cơ sở với tổng số 1.532.355 lao động 1.355.014 đoàn
viên), trong đó có 797.854 lao động nữ (chiếm tỷ lệ 52,1%), trong đó 163.882 lao
động nữ đang làm việc khu vực quốc doanh, hành chính sự nghiệp, giáo dục, y tế
(chiếm tỷ lệ 20,5%) và 633.972 lao động nữ công nhân lao động đang làm việc tại
các doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước, liên doanh và có vốn đầu tư nước ngoài
(chiếm tỷ lệ 79,5%).

Ban Thường vụ Liên đoàn Lao động thành phố Hồ Chí Minh bày tỏ sự
đồng tình với báo cáo tổng kết của phong trào phụ nữ và hoạt động của các cấp
Hội Phụ nữ trong nhiệm kỳ qua và định hướng hoạt động trong nhiệm kỳ 2021 –
2026. Là bộ phận của giai cấp công nhân Việt Nam và là lực lượng nòng cốt trong
phong trào phụ nữ Thành phố; đội ngũ nữ công chức, viên chức, công nhân lao
động đã, đang, sẽ có nhiều đóng góp quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh
tế, ổn định ANTT-ATXH của Thành phố Hồ Chí Minh. Công tác nữ luôn được

83 Trích Niên giám thống kê năm 2020

88

các ngành, các cấp đầu tư, dưới sự lãnh đạo của Thành ủy Thành phố Hồ Chí
Minh qua nhiều thời kỳ nhất là trong nhiệm kỳ 2017 - 2021, Liên đoàn Lao động
Thành phố Hồ Chí Minh đã phối hợp chặt chẽ với Hội LHPN Thành phố chỉ đạo
các cấp Công đoàn phối hợp với Hội phụ nữ đồng cấp, Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ
và bình đẳng giới tổ chức vận động, tập hợp, hướng dẫn cho nữ công chức, viên
chức, công nhân lao động phát huy tốt năng lực, trí tuệ trên mọi lĩnh vực, ngành
nghề để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị
quyết Đại hội Công đoàn, Nghị quyết Đại hội Phụ nữ, các mục tiêu, nhiệm vụ về
kinh tế, văn hóa, xã hội của Thành phố.

Quán triệt sâu sắc việc đổi mới phương thức lãnh đạo đối với hoạt động
của tổ chức công đoàn đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ trong tình hình mới là
yêu cầu chủ đạo trong quá trình thực hiện chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp chính đáng của người lao động, vì vậy các hoạt động công đoàn và phong
trào CNVC-LĐ trong thời gian vừa qua đều xuất phát từ cơ sở, lấy cơ sở làm
trọng tâm cho mọi chương trình hoạt động, phát huy được sức mạnh và sự hỗ trợ
của doanh nghiệp đối với hoạt động công đoàn và phong trào CNVC-LĐ, đặc biệt
đổi mới công tác phối hợp với Hội phụ nữ nhằm thực hiện có hiệu quả các phong
trào thi đua, tạo động lực cho đội ngũ nữ CNVC-LĐ phát triển.

Công tác bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ luôn được
quan tâm thực hiện nhằm từng bước xây dựng đội ngũ CNVC-LĐ có tri thức, có
bản lĩnh. Thông qua các Phong trào thi đua “Lao động giỏi, lao động sáng tạo”,
“Ôn lý thuyết, luyện tay nghề, thi thợ giỏi”, “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” gắn
với phong trào “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình
hạnh phúc” và cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch”... được tổ
chức với nhiều hình thức phong phú và sôi nổi. Qua các hoạt động phong trào đã
có 9.613 nữ CNVC-LĐ vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam, có
32.269 lượt nữ được đề bạt, bổ nhiệm. Năng lực của cán bộ nữ ngày càng nâng
lên84, tỷ lệ cán bộ nữ phấn đấu được bổ nhiệm, bầu cử và giữ vị trí quan trọng
trong Đảng, Chính quyền, Doanh nghiệp tăng lên. Các chị luôn nêu cao tinh thần
trách nhiệm, đoàn kết, nỗ lực khắc phục khó khăn, tự học, tự rèn luyện, tích cực
lao động sản xuất, kinh doanh, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể.
Nhiều tấm gương nữ CNVC-LĐ tiêu biểu tích cực trong học tập, nghiên cứu đạt
được những học hàm, học vị, tay nghề cao, xuất sắc trong nghiên cứu khoa học,
với 3.902 sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, cải cách hành chính... làm lợi cho cơ quan,
đơn vị, doanh nghiệp với giá trị lớn và được tôn vinh qua các giải thưởng Tôn
Đức Thắng, giải thưởng 28/7, giải thưởng Võ Trường Toản, giải thưởng Nguyễn
Văn Linh, Trần Văn Kiểu, Lương Chí Hiếu và giải thưởng Nguyễn Thị Định,... Ở
bất kỳ lĩnh vực nào, các chị luôn tận tụy, hăng say, năng động sáng tạo, vươn lên
hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần khẳng định vị trí, vai trò của
người phụ nữ trên nhiều lĩnh vực của đời sống, xã hội.

84 Nữ Thường trực Liên đoàn Lao động TP chiếm tỷ lệ 40%; nữ lãnh đạo các phòng ban LĐLĐ TP đạt 37,5%; Nữ
tham gia BCH Liên đoàn Lao động Thành phố đạt tỷ lệ 37,28%, nữ tham gia BTV Liên đoàn Lao động thành phố đạt
tỷ lệ 27,8%; nữ tham gia BTV công đoàn cấp trên cơ sở đạt tỷ lệ 43,2%; nữ tham gia Ban Chấp hành công đoàn các
cấp đạt tỷ lệ 54,3%; có 01 nữ cán bộ công đoàn là đại biểu Quốc hội; 06 nữ tham gia Hội đồng Nhân dân các cấp.

89

Thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng
của công chức, viên chức, công nhân lao động nói chung và nữ công chức, viên
chức, công nhân lao động nói riêng, trong 5 năm qua các cấp Công đoàn đã cùng
với Hội phụ nữ đồng cấp tập trung nghiên cứu tham gia xây dựng, đóng góp và
giám sát thực hiện chính sách pháp luật, đặc biệt Luật Công đoàn Việt Nam, Luật
Bảo hiểm xã hội, Bộ luật lao động 2012, 2019) và một số chế độ chính sách khác
liên quan trực tiếp đến nữ công chức, viên chức, công nhân lao động như: tuổi nghỉ
hưu, các chính sách về thai sản, giờ nghỉ trưa, giờ làm việc...; vấn đề nhà trẻ, mẫu
giáo, phòng vắt sữa tại nơi làm việc, đáp ứng nhu cầu chính đáng của nữ công
chức, viên chức, công nhân lao động, nhất là nữ công nhân lao động hiện đang làm
việc trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, doanh nghiệp có đông lao động nữ.

“Đảm việc nhà” là một phẩm chất cao quý của người phụ nữ Việt Nam, là
điều kiện, tiền đề để xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh để
“giỏi việc nước”, chính vì vậy các cấp công đoàn thực hiện nhiều giải pháp nhằm
chia sẻ kỹ năng tổ chức cuộc sống gia đình, nuôi dạy con ngoan, xây dựng gia
đình hạnh phúc trong nữ CNVC-LĐ85. Từ đây, 5.729 gia đình CNVC-LĐ đã được
các cấp công đoàn tuyên dương xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc qua
các chương trình “Điểm tựa gia đình”, “Gia đình tiêu biểu”, “Gia đình văn hóa,
bền vững, hạnh phúc”... Vấn đề sức khỏe, tinh thần cũng giữ vai trò quan trọng
giúp nữ CNVC-LĐ tham gia có hiệu quả phong trào “Giỏi việc nước, đảm việc
nhà”, nhiều phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, “Phụ nữ khỏe, đẹp,
năng động”, Ngày hội nữ Công nhân lao động, phong trào “Gia đình trồng cây
xanh”… do tổ chức công đoàn phối hợp với Hội phụ nữ thực hiện giúp cho nữ
CNVC-LĐ thư giãn tinh thần sau giờ làm việc, rèn luyện thân thể để có sức khỏe
dẻo dai, chăm sóc gia đình và làm việc có hiệu quả. Năm 2018, Liên đoàn Lao
động TP đã phát động phong trào tập thể dục giữa giờ với chủ đề “Khỏe để lao
động sản xuất” và đến tháng 10/2021 phối hợp với ngành y tế và thể thao triển
khai các video clip hướng dẫn các bài tập thể dục giữa giờ với những bài tập,
động tác được nghiên cứu phù hợp với từng nhóm công việc, đối tượng công chức
và công nhân lao động nhằm hạn chế bệnh nghề nghiệp đã được đông đảo
CNVC-LĐ hưởng ứng, thực hiện. Đặc biệt, thông qua phong trào “Gia đình trồng
cây xanh” đã góp phần xây dựng và bảo vệ môi trường và triển khai thực hiện có
hiệu quả Chỉ thị số 19 về thực hiện cuộc vận động “Người dân thành phố Hồ Chí
Minh không xả rác ra đường và kênh rạch, vì thành phố sạch và giảm ngập nước”.

Nhiều hoạt động chăm lo cho con CNVC-LĐ cũng được triển khai thực
hiện nhự: học bổng Nguyễn Đức Cảnh, trại hè Thanh Đa, Đêm hội trăng rằm, vận
động lắp đặt cabin vắt trữ sữa nhằm hỗ trợ lao động nữ nuôi con bằng sữa mẹ, vận
động tổ chức nhà trẻ, mẫu giáo cho con công nhân lao động,… do các cấp công
đoàn triển khai thực hiện đã góp phần xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh

85 Tổ chức nhiều buổi tọa đàm, nói chuyện chuyên đề về “Phương pháp giáo dục con tuổi vị thành niên”, “Bữa cơm
yêu thương”, “Gia đình là nơi yêu thương, chia sẻ”, “Nuôi con bằng sữa mẹ”, “Nghệ thuật xây dựng gia đình hạnh
phúc”, “Nghệ thuật giữ lửa hôn nhân”…; tổ chức các hội thi “Trao yêu thương, gói hạnh phúc”, “Gia đình hiểu ý”,
“Bếp của quý ông”; thi ảnh “Khoảnh khắc gia đình yêu thương”, “Gia đình là số 1”… ; tổ chức ngày hội “Nâng niu
hạnh phúc”, “Gia đình văn hóa, hạnh phúc”....; sửa chữa bếp “Bếp yêu thương”,…

90

phúc. Đặc biệt trong năm 2021, nhiều chính sách chăm lo cho gia đình CNVC-LĐ
cũng đã được triển khai thực hiện kịp thời như: hỗ trợ chăm lo cho con CNVC-
LĐ khó khăn, mồ côi, là bệnh nhân COVID-19; trao tặng máy tính, điện thoại hỗ
trợ học tập; chăm lo cho lao động nữ mang thai, và nuôi con nhỏ là bệnh nhân
COVID-19; hỗ trợ các gói an sinh công đoàn, lương thực, sữa,…

Nhiệm kỳ qua, hoạt động phối hợp giữa Liên đoàn Lao động và Hội Liên
hiệp phụ nữ Thành phố đã được cụ thể hoá vào nhiệm vụ công tác Hội phụ nữ và
chương trình công tác công đoàn, công tác nữ công, theo phạm vi chức năng,
nhiệm vụ được phân công đã mang lại những chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, bên
cạnh những kết quả đã đạt được vẫn còn có những khó khăn, hạn chế cần được
tiếp tục quan tâm, đó là: Sự phối hợp giữa hai bên để nâng cao hiệu quả công tác
nữ công của công đoàn tại các doanh nghiệp và khu công nghiệp, khu chế xuất còn
hạn chế; Sự phối hợp trong kiểm tra, nghiên cứu công tác nữ CNVCLĐ và việc
thực hiện chính sách, pháp luật đối với nữ CNVCLĐ chưa thường xuyên; Sự phối
hợp trong việc phát huy phong trào vì cộng đồng, phong trào thi đua chưa đạt hiệu
quả cao như mong muốn; việc phối hợp cung cấp thông tin, tài liệu, định hướng
nội dung tuyên truyền, chia sẻ gương người tốt, việc tốt và lên án hành vi lệch
chuẩn, vi phạm pháp luật chưa được thường xuyên, kịp thời.

Nhìn lại những mặt làm được và còn hạn chế trong 5 năm qua, trong thời
gian tới nhằm tiếp tục thực hiện có hiệu quả Phong trào thi đua “Giỏi việc nước,
đảm việc nhà” trong nữ CNVC-LĐ gắn với việc thực hiện phong trào thi đua yêu
nước của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, xây dựng hình ảnh phụ nữ thành phố
Hồ Chí Minh đoàn kết, nhân văn, năng động sáng tạo, khát vọng vươn lên, gia
đình hạnh phúc, với trách nhiệm của mình, Liên đoàn Lao động Thành phố sẽ tiếp
tục ký kết chương trình phố hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố giai đoạn
tiếp theo, trong đó quan tâm một số nội dung như:

- Chỉ đạo các cấp công đoàn phối hợp với Hội phụ nữ cùng cấp triển khai,
quán triệt, học tập và thực hiện Nghị quyết Đại hội phụ nữ các cấp trong nữ
CNVC-LĐ và Đại hội Công đoàn các cấp tiến tới Đại hội XIII Công đoàn Việt
Nam, Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XIII.

- Tiếp tục phối hợp tổ chức nghiên cứu, bổ sung, tham gia góp ý về những
vấn đề trực tiếp, liên quan đến lao động nữ như tuổi nghỉ hưu, chăm sóc sức khoẻ
sinh sản, nhà trẻ, mẫu giáo, phòng vắt trữ sữa ở các khu công nghiệp, khu chế
xuất, doanh nghiệp, trên địa bàn dân cư có đông lao động nữ cư trú. Làm tốt vai
trò đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho giới nữ, quan tâm đến con của
CNVC-LĐ, trong đó có các cháu có cha mẹ qua đời do dịch bệnh COVID-19.

- Nghiên cứu, vận dụng sáng tạo, phát huy hiệu quả những sáng kiến của
tập thể, cá nhân nữ được giải thưởng Tôn Đức Thắng, giải thưởng Phụ nữ Việt
Nam vào hoạt động Công đoàn, Hội Phụ nữ.

- Tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Hội Liên hiệp Phụ nữ triển khai có hiệu
quả các Nghị quyết, các phong trào thi đua nhằm bảo vệ và chăm lo tốt hơn đời
sống của nữ công nhân, viên chức, lao động.

91

- Tuyên truyền, vận động các nữ chủ nhà trọ tham gia hoạt động của tổ
công nhân tự quản nhà trọ để giáo dục, chăm lo, thực hiện pháp luật góp phần giữ
vững ổn định chính trị, xã hội. Đồng thời vận động các chủ nhà trọ thực hiện định
mức điện, nước, không tăng giá thuê nhà cho công nhân thuê nhà trọ, đặc biệt
công nhân lao động tại các khu chế xuất - công nghiệp thành phố.

- Thường xuyên đổi mới, sáng tạo trong tổ chức hoạt động phong trào gắn
thực tiễn tại cơ sở, đưa hoạt động đến gần cơ sở, thu hút lực lượng lao động nữ,
đặc biệt khu vực phi kết cấu tham gia.

Đồng thời, để hoạt động phối hợp của hai đơn vị ngày càng hiệu quả góp
phần xây dựng lực lượng nữ CNVC-LĐ ngày càng phát triển, đề xuất hàng năm 2
đơn vị tiếp tục phối hợp tổ chức các hoạt động cụ thể phù hợp với đối tượng công
nhân lao động tại các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu nhà trọ và các đơn vị có
đông lao động nữ; quan tâm dành một khoảng kinh phí đáng kể chăm lo cho con
CNVC-LĐ khó khăn bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh COVID-19.

Từ tình hình thực tiễn hoạt động công đoàn và Hội Phụ nữ trên địa bàn
thành phố thời gian qua, tổ chức công đoàn thành phố kiến nghị một số vấn đề sau:

+ Đề xuất Chính phủ:

- Xây dựng và triển khai các chính sách hỗ trợ về tài chính các khoản vay
ngắn và trung hạn, lãi suất thấp), về tinh thần, tâm lý, điều kiện sống,… cho công
nhân lao động nói chung và nữ công nhân lao động đặc thù nói riêng lao động nữ
đơn thân). Có cơ chế khuyến khích nữ công nhân tham gia học tập nâng cao trình
độ (hỗ trợ vay vốn tài chính). Xem xét xây dựng các gói hỗ trợ đặc thù cho nhóm
lao động nữ yếu thế lao động nữ khu vực phi chính thức) tạo điều kiện tìm kiếm
việc làm, tạo thu nhập.

- Xây dựng các qui định, cơ chế tạo điều kiện cho sự phát triển ổn định, hệ
thống các loại hình nhà trọ, nhà thuê nhằm đáp ứng ứng nhu cầu của gia đình
công nhân, có chế độ ưu đãi cho gia đình công nhân khó khăn, đồng thời tăng
cường kiểm soát, quản lý chặt chẽ tạo điều kiện tốt nhất cho sinh hoạt của gia
đình công nhân lao động.

+ Đối với thành phố:

- Tiếp tục chỉ đạo các sở, ban, ngành đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án
đầu tư xây dựng trường lớp mầm non; có chính sách ưu đãi để khuyến khích xã
hội hóa trong việc đầu tư phát triển các trường lớp mầm non ngoài công lập tại
các khu vực có đông công nhân lao động. Tiếp tục nghiên cứu, chỉ đạo và cho
phép tổ chức giữ trẻ ngoài giờ theo Quyết định 4243/QĐ-UBND của Ủy ban
Nhân dân thành phố phù hợp với đặc điểm làm thêm giờ của người lao động và
phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất. Đặc biệt tiếp tục có chính sách hỗ trợ học
phí cho con CNLĐ khó khăn do ảnh hưởng của tình hình dịch bệnh COVID-19,
quan tâm thực hiện chính sách hỗ trợ lâu dài đối với các trường hợp con CNVC-
LĐ mồ côi cha mẹ vì bệnh COVID-19.

92

- Tạo cơ chế để doanh nghiệp gắn sự phát triển với trách nhiệm xã hội,
phục vụ cộng đồng. Khuyến khích doanh nghiệp tăng cường xây dựng các khu
lưu trú công nhân, hoặc phối hợp địa phương xây dựng các khu sinh hoạt công
cộng trong khu dân cư, phục vụ chung cho người dân và gia đình CNVC-LĐ. Có
chính sách phát triển nhà ở xã hội cho công nhân thu nhập thấp được tiếp cận
thuê, mua trả góp. Quy hoạch, xây dựng khu vui chơi, giải trí miễn phí cho con
công nhân lao động.

Kính thưa Đại hội!

Bác Hồ đã phong tặng phụ nữ Việt Nam tám chữ vàng “Anh hùng, Bất
khuất, Trung hậu, Đảm đang” trong thời kỳ kháng chiến, đó không chỉ là sự khích
lệ, động viên mà còn là ghi nhận vai trò to lớn của phụ nữ Việt Nam. Phát huy
truyền thống quý báu đó, ngày nay phụ nữ Việt Nam ra sức phấn đấu học tập, lao
động sản xuất, công tác tốt, rèn luyện phẩm chất đạo đức “Tự tin, Tự trọng, Trung
hậu, Đảm đang” trong thời kỳ đổi mới đất nước. Tổ chức Công đoàn Thành phố
luôn tin tưởng rằng đội ngũ nữ CNVC-LĐ thành phố “tự tin, tự trọng, trung hậu,
đảm đang” quyết tâm thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu mà Đại hội Đại
biểu Hội Liên hiệp phụ nữ Thành phố lần thứ XI đề ra, góp phần thúc đẩy giá trị
tốt đẹp gia đình Việt Nam, xây dựng hình ảnh người phụ nữ thành phố mang tên
Bác Hồ kính yêu: đoàn kết, nhân văn, năng động, sáng tạo, khát vọng vươn lên,
gia đình hạnh phúc, xây dựng thành phố Hồ Chí Minh có chất lượng sống tốt, văn
minh, nghĩa tình.

Chúc phong trào phụ nữ thành phố và hoạt động của các cấp Hội sẽ tiếp tục
phát triển vững chắc và có nhiều thành công trong thời gian tới, vì bình đẳng, tiến
bộ và phát triển của phụ nữ Việt Nam.

Kính chúc các đồng chí lãnh đạo cùng toàn thể quý vị đại biểu sức khoẻ,
hạnh phúc, chúc Đại hội thành công tốt đẹp.

Xin trân trọng cảm ơn.


Click to View FlipBook Version