Đức Thanh
Kinh Lăng Già nói: “Bốn thứ đại do vọng tƣởng
phát sinh”, tức là cái giác minh này bị vọng. Hƣ không
mờ tối sinh phong luân. Chấp cái minh sinh ra kim bảo.
Phong luân cọ xát kim bảo mà có hỏa luân hiện ra. Lửa
xông lên kim bảo mà có thủy luân hiện ra. Do đó mà
các tƣớng lần lƣợt khởi lên. Núi, gò, cỏ cây, nhẹ, nặng
lẫn nhau hiện ra hình tƣớng. Không có một pháp nào
chẳng do tâm hiện. Đây là do mê mà khởi, chẳng phải
tự tâm s n có”. 27
Nhƣ vậy, thì biết tứ đại cùng khắp mọi nơi, tùy
theo nhân duyên mà phát sinh những hiện tƣợng khác
nhau, nhƣng đâu đâu cũng là chủng tính tứ đại. Theo
vọng tƣởng phân biệt của mỗi loài, mà có hiện tƣợng
tứ đại của bốn loài. Các đại giao xen, hòa hợp với
nhau, làm nhân, làm duyên cho nhau, tạo thành thế giới
của mỗi loài, khi thành, khi trụ, khi hoại, khi không,
tiếp tục không dứt.
B Tông Cảnh nói: “Do tâm yêu thích nhiều bèn
thành biển lớn. Tâm chấp trƣớc nhiều tức thành đại lục
và cồn đảo. Tính gió sinh do kiêu mạn, tính lửa sinh do
giận tức. Đối với sắc khởi tâm yêu thích nên trong cồn
đảo có sông ngòi thƣờng chảy. Trái với yêu thích sinh
giận tức nên trong biển lửa bốc lên. Bốn đại chỉ là tâm
có thể thấy quá rõ. Sân hận nhiều, yêu thích ít nên ứng
hiện ra ngoài có núi cao. Thế nên, đập đá thì tóe lửa,
nấu thì chảy ra nƣớc. Lấy đây mà nghiệm xét chỗ thành
27 “Bốn thứ đại… s n có” Kinh thủ lăng nghiêm trực chỉ, trang 346 - Hòa
thƣợng Thích Phƣớc Hảo dịch.
50
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
lập ra hai tính vậy. Yêu thích nặng, cố chấp nhẹ nên ở
ngoài ứng hiện ra cỏ cây, thành đất, thành nƣớc, cũng
thấy hai tính giao xen. Song tứ đại chỉ là tâm, nặng nhẹ
thay đổi nhau, nên ứng hiện ra tƣớng bên ngoài không
đồng, đều chỉ rõ chỗ khởi ra các tƣớng và tứ đại. 28
- Quốc độ do Phật và Bồ Tát hóa hiện để dùng
làm chốn đạo tràng để độ sinh.
Nguyên nhân tạo nên quốc độ này là do sức
phƣớc huệ của chƣ Phật, Bồ Tát, sức gia trì của bốn
tâm vô lƣợng: từ, bi, hỷ, xả. Thêm vào các nguyên
nhân ấy lại có tăng thƣợng duyên là công đức tu tập
của chúng sinh hồi hƣớng nguyện sinh về cõi ấy. Có sự
cảm ứng đạo giao giữa nội nhơn và ngoại duyên ấy liên
hệ với nhau nên mới duyên khởi đƣợc quốc độ trang
nghiêm thanh tịnh, thuần vui không có khổ nhơn tội
báo xen vào. 29
Ở đây, chƣ Phật là những bậc đã tịnh hóa đƣợc
tám thức, dùng tám thức thanh tịnh ấy mà biến hiện
thì tạo thành Tịnh độ. Nếu chúng sinh nhất tâm niệm
Phật tức là gieo chánh niệm vào tịnh thức của Phật,
nhƣ đổ một chậu nƣớc vào biển cả. Nƣớc chậu dung
hòa với nƣớc biển, cùng chung một hƣơng vị. Cũng
thế, khi chúng sinh đã sinh vào quốc độ của chƣ Phật,
y báo và chánh báo của chúng sinh cũng trở thành
trang nghiêm nhƣ Phật và cũng sẽ đƣợc dung thông
vô tận vậy. 30
28 “Do tâm yêu… và tứ đại” Kinh thủ lăng nghiêm trực chỉ, trang 345, 346 -
Hòa thƣợng Thích Phƣớc Hảo dịch.
29 “Quốc độ… xen vào” háp môn Tịnh , trang 12 - Hòa thƣợng Thích Trí Thủ.
30 “Ở đây… vô tận vậy” háp môn Tịnh , trang 22 - Hòa thƣợng Thích Trí Thủ.
51
Đức Thanh
Ngài Tỳ kheo Pháp Tạng phải trải qua năm kiếp
tƣ duy nhiếp thủ mới hoàn thành đƣợc cảnh giới Cực
lạc. Ta hãy cử một ví dụ cho rõ nghĩa: Thí dụ về cách
tạo nhân để thành tựu một cây Bửu Thọ.
Ngài Pháp Tạng Tỳ kheo trong lúc tu Quán, tập
trung tƣ tƣởng vào một khoảng hƣ không. Trong
khoảng hƣ không ấy vốn không có gì hết, nhƣng
Ngài tƣởng tƣợng ra một cây Bửu Thọ gốc vàng,
cành bạc, nhánh lƣu ly, chồi thủy tinh, lá san hô, hoa
mã não, trái xà cừ. Sự tƣởng tƣợng nhƣ thế gọi là tư
duy. Khi tƣ duy đã thuần thục, cây Bửu Thọ đã hoàn
thành, Ngài luôn luôn nắm giữ lấy tƣ tƣởng ấy không
phóng xả, cây Bửu Thọ ấy cũng sẽ do đó mà vĩnh
viễn tồn tại. Bấy giờ Ngài mới khởi ý muốn cho cây
Bửu Thọ ấy thoát khỏi trạng thái tĩnh để trở nên sống
động. Muốn nó nở hoa kết quả, nó liền nở hoa kết
quả; muốn nó phát ra thanh âm, nó liền phát ra thanh
âm… Cứ y nhƣ thế mà hành trì thì gọi là nhiếp thủ,
nghĩa là thu hoạch và giữ lấy. Đối với cây Bửu Thọ
kia, chỉ có Phật nhãn mới biết cây Bửu Thọ đó là hƣ
huyễn không thật, kỳ dƣ chúng sinh trong chín cảnh
giới khác, kể từ địa ngục trở lên và Bồ Tát trở xuống,
hết thảy đều thấy cây Bửu Thọ là có thật. Chúng sinh
dùng mắt trông thì nó có sắc thật, dùng tai mà nghe
thì nó có tiếng thật, dùng mũi mà ngửi thì nó có mùi
thật, dùng lƣ i mà nếm thì nó có vị thật, dùng thân
mà sờ thì nó có chất thật, dùng ý mà suy nghĩ thì nó
có hình dáng thật. Sở dĩ có các cảm giác nhƣ thật ấy
là vì sự cấu tạo của cây Bửu Thọ đã hoàn thành rồi.
52
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
Lấy sự hình thành của một cây Bửu Thọ đơn cử ra
đây, chẳng qua là làm thí dụ cho ta dễ hiểu rằng sự
hoàn thành cả cõi Tịnh độ đòi hỏi công phu và thời
gian lâu dài đến bực nào. Ở thế giới Cực lạc không
riêng gì một cây này mà tất cả sự vật, hình sắc ngàn
sai muôn khác, thảy đều có một nguồn gốc tạo thành
giống nhƣ thế cả. 31
* Xét về mặt kiến lập, các thế giới trong mƣời
phƣơng đều do cộng nghiệp của chúng sinh tạo thành
và đều chỉ do thức biến hiện. Trong sự tạo tác biến
hiện, tất cả đều nƣơng vào nhơn duyên, gá nƣơng nhau
mà sinh khởi. Cảnh giới biến hiện bên ngoài in tuồng
nhƣ có, nhƣng sự thật thì chỉ do nội thức biến chuyển,
nghĩa là đều quy về nhất tâm cả. 32
Theo Duy Thức Học của Dịch giả - Hòa thƣợng
Thích Thiện Hoa thì:
“Tam giới duy tâm
V n pháp duy thức.”
Chúng sinh trong ba cõi có cùng một thể tánh
thanh tịnh là tâm, nên nói: “Tam giới duy tâm”
Tất cả các pháp có đƣợc là do thức biến hiện. Từ
bản tâm vô phân biệt, bị vô minh vọng động khởi
tƣởng phân biệt (thức) rồi hình thành các pháp; nên
nói: “Vạn Pháp duy thức”. Chữ Tâm trong Duy thức
học là căn cứ trên mặt thể tánh để nói. Còn Thức là căn
31 “Ngài Pháp… thế cả” Pháp môn Tịnh , trang 22, 23 - Hòa thƣợng Thích
Trí Thủ.
32 “Xét về … tâm cả” háp môn Tịnh ,, trang 21, 22 - Hòa thƣợng Thích
Trí Thủ.
53
Đức Thanh
cứ trên mặt dụng của tâm để mà luận. Tâm vô phân
biệt là thể, thức thuộc hữu phân biệt là dụng. Tâm
thuộc phần chân, thức thuộc phần vọng. Theo luận
thuyết này thì:
- Thức A lại da (Tàng thức) hàm chứa những công
năng (chủng tử) sinh ra các pháp, rồi biến ra tướng
phần căn thân và thế giới. Tuy không có hình tƣớng gì
có thể thấy đƣợc, song tất cả các pháp đều từ đó sinh ra
cho nên gọi cái công năng vô hình này là chủng tử. 33
Chủng tử đƣợc hiểu nhƣ một năng lực tiềm tàng
ẩn chứa bên trong. Nhƣ hạt giống lúa thì ẩn chứa khả
năng sinh ra chồi lá cây lúa. Cũng nhƣ ngƣời biết viết
chữ, khi chƣa viết chữ công năng đó ẩn núp trong bộ
não không thấy đƣợc, đến khi cầm bút viết chữ thì cái
khả năng ấy mới hiện hành.
- Chủng tử sinh ra Thức: Chúng sinh khi mới thọ
sinh, đều y ở Thức A lại da mà lần lần tƣợng thành
năm căn gồm mắt, tai, mũi, lƣ i và thân, cho đến khi ra
khỏi thai. Vì cái tác dụng của mỗi Thức không đồng
nên có thể phân ra làm tám loại. Phàm mỗi một Thức
nào khi sinh ra, đều do chủng tử từ trong Thức A lại da
mà sinh cả. Nhƣ khi mắt xem hoa, thì có một chủng tử
(hạt giống) từ trong Tạng thức khởi ra hiện hành, làm
cho con mắt có tác dụng thấy hoa, gọi là Nhãn thức
(cái biết của mắt). Khi tai nghe tiếng, thì có một chủng
tử từ trong Tạng thức khởi ra hiện hành làm cho lỗ tai
có tác dụng nghe tiếng gọi là Nhĩ thức (cái biết của
tai). Khi mũi ngửi mùi thì có một chủng tử từ trong
33 “Thức A lại da… chủng tử” Duy Thức Học, trang 190 - Hòa thƣợng Thích
Thiện Hoa dịch.
54
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
Tạng thức khởi ra hiện hành làm cho lỗ mũi biết ngửi
mùi, thì gọi là Tỹ thức (cái biết của lỗ mũi). Cho đến
Thiệt căn (lƣ i) khởi lên cái biết nếm vị, gọi là Thiệt
thức (cái biết của lƣ i). Thân căn khởi lên cái biết cảm
xúc các vật cứng, mềm gọi là Thân thức, (cái biết của
thân). Ý căn khởi lên cái biết phân biệt các pháp trần
thì gọi là Ý thức. 34
- Khi nào Thức khởi hiện hành thì đều có hai phần:
Phần thấy (kiến phần), phần bị thấy (tƣớng phần).
Khi mắt xem hoa, thì cái phân iệt đó là kiến
phần (phần thấy) của Nhãn thức. Còn cái hoa bị phân
biệt là tƣớng phần (phần bị thấy) của Nhãn thức. Phần
thấy và phần ị thấy đều từ một Thức mà sinh, nguyên
nó không thật có, cho nên nói năng tướng và sở tướng
ều không.35
- Thành Duy Thức Luận nói: “Chủng tử tức là
tướng phần của Tạng thức, chớ không phải cái gì
khác”. Phàm cái tánh của kiến phần thì quyết định phải
duyên tƣớng phần, nên biết kiến phần của A lại da
Thức quyết định duyên chủng tử. 36
Tạng Thức (Thức A lại da) của chúng ta biến ra
tướng phần là cảnh ngũ trần (sắc, thinh, hƣơng, vị, xúc),
rồi Thức A lại da lấy Kiến phần duyên qua tƣớng phần.37
34 “Chủng tử… ý thức” Duy Thức Học, trang 138 - Hòa thƣợng Thích Thiện
Hoa dịch.
35 “Khi mắt… đều không” Duy Thức Học, trang 140 - Hòa thƣợng Thích
Thiện Hoa dịch.
36 “Chủng tử… chủng tử” Duy Thức Học, trang 201 - Hòa thƣợng Thích
Thiện Hoa dịch.
37 “Tạng Thức… tƣớng phần” Duy Thức Học, trang 182 - Hòa thƣợng Thích
Thiện Hoa dịch.
55
Đức Thanh
Khi Thức duyên cũng không duyên cái gì khác,
nó chỉ tự lấy kiến phần duyên qua tƣớng phần của nó
mà thôi.
Thế nên chúng ta hiện tiền thấy những núi, sông,
đất, nƣớc… thật ra không phải thấy đƣợc cái bản chất
tƣớng phần của Thức A lại da biến, mà chính do Nhãn
thức nƣơng tƣớng phần của Thức A lại da làm bản
chất, tự biến trở lại cái tƣớng phần, rồi tự dùng kiến
phần của nó duyên đó. Cũng nhƣ có ngƣời treo mặt
gƣơng đối trƣớc một cái cây, rồi ngƣời ấy trở lại xem
lại gƣơng, thế là họ chỉ thấy đƣợc cái bóng cây trong
gƣơng mà thôi, chớ không thể thấy đƣợc cái cây ản
chất ở ngoài gƣơng. 38
Vậy là, do duy thức biến hiện, nên vọng thấy có
các cảnh vật.
Có ngƣời hỏi: “Thế giới vật chất nếu không, sao
hiện giờ ta thấy nó đều thật.”
Luận chủ đáp: “Ví nhƣ trong hƣ không, không có
hoa đốm, nhƣng vì ngƣời bệnh (nhặm) con mắt, nên
thấy có hoa đốm giữa hƣ không. Và cũng nhƣ ngƣời
mang kính xanh thì thấy mọi cảnh vật đều xanh. Ngƣời
mang kính vàng thấy cảnh vật màu vàng…” 39
Căn cứ theo lý này mà luận, thì thế giới chúng ta
hiện ở đây, chính là thế giới ảnh tƣợng, nhƣ bóng
trong gƣơng. Thế mà chúng ta cũng đối trên thế giới
38 “Khi thức… ngoài gƣơng” Duy Thức Học, trang 203 - Hòa thƣợng Thích
Thiện Hoa dịch.
39 “Có ngƣời… màu vàng…” Duy Thức Học, trang 131 - Hòa thƣợng Thích
Thiện Hoa dịch.
56
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
này, lại khởi ra các món tham cầu, tạo các nghiệp
dữ… không khác gì ngƣời bẻ hoa trong gƣơng, mò
trăng dƣới nƣớc mà thôi, không bao giờ tìm đƣợc hoa
thật và trăng thật. 40
Có ngƣời hỏi: “Hiện tiền mắt chúng ta thấy núi, là
chỉ thấy cái núi do Thức của mình biến ra, hay là cũng
thấy đƣợc cái núi do Thức của ngƣời khác biến? Nếu
nhƣ chỉ thấy cái núi do Thức của mình biến ra, thì
Thức của mình đã tự biến đƣợc núi rồi, cần gì phải đợi
Thức của ngƣời khác chung biến? Còn nhƣ thấy đƣợc
cái núi do Thức của ngƣời khác biến, nhƣ thế thì ngoài
tâm mình còn có ngƣời khác, thành ra ngoài tâm có
pháp, sao thành nghĩa Duy thức?” 41
Luận chủ đáp: “Cái núi ông vừa hỏi trên, là thuộc
một phần trong thế giới, cố nhiên phải do tướng phần
Thức A lại da của nhiều ngƣời chung biến, rồi Thức
này dùng kiến phần (phần thấy) duyên lấy làm cảnh.
Ngƣời khi thấy núi, là do Nhãn thức của họ, nƣơng
cảnh núi của A lại da đã biến, làm bản chất, rồi nó trở
lại biến ra tướng phần (phần bị thấy) in nhƣ cái núi và
tự dùng kiến phần (phần thấy) duyên lấy. Nên khi mỗi
ngƣời thấy núi, là không phải thấy đƣợc cái núi do
tướng phần Thức A lại da của nhiều ngƣời chung biến.
Thật ra chỉ thấy đƣợc cái núi do Nhãn thức của mình tự
biến lại mà thôi. Cho biết hiện tiền chúng ta thấy núi, là
40 “Căn cứ … trăng thật” Duy Thức Học, trang 203 - Hòa thƣợng Thích Thiện
Hoa dịch.
41 “Có ngƣời… duy thức?” Duy Thức Học, trang 115 - Hòa thƣợng Thích
Thiện Hoa dịch.
57
Đức Thanh
chỉ thấy đƣợc cái núi do Nhãn thức của mình biến ra,
chớ không thể thấy đƣợc cái núi do Thức của ngƣời
khác biến vậy. Bởi thế nên, học giả Duy thức nói:
“Ngƣời đời đều có một bầu trời đất; đồng sinh một chỗ
mà lại ở riêng, mỗi ngƣời đều chẳng thấy nhau.” 42
* Tóm lại: Con ngƣời và vạn vật trong vũ trụ này
do duyên khởi mà có tụ, có tán nhƣ là huyễn mộng,
trong cái có đã hàm chứa cái sự không trong ấy. Bản
thân nội tại chúng không có một tự thể cố định, biến
hiện nhƣ trăng trong nƣớc. Nếu bảo là có tại sao ta
không nắm bắt đƣợc? Nếu nói là không tại sao thấy có
trăng hiện?
Thiền sƣ Từ Đạo Hạnh làm bài kệ:
“Có thì có tự mảy may
Không thì cả thế gian này c ng không
Kìa xem Bóng nguyệt l ng sông
i hay không có, có không là gì ” 43
42 “Luận chủ… nhau” Duy Thức Học, trang 116, 117 - Hòa thƣợng Thích
Thiện Hoa dịch.
43 “Có thì có tự mảy may… có không là gì?” Bài kệ của Thiền sƣ Từ Đạo
Hạnh (Bản Việt dịch của Huyền Quang Tam Tổ), trong quyển Thơ Trần
Nhân Tông - Nguyễn Lƣơng V .
(Nguồn trích: https://kontumquetoi.com/2017/04/23/doc-tho-tran-nhan-tong-
nguyen-luong-vy/)
58
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
LIÊN HỆ GIỮA TÂM VÀ VẬT
Các nhà khoa học luôn tin là có một chất liệu làm
nền tảng cho thế giới vật chất hình thành, gọi là h t của
Chúa, kể cả sóng điện từ lan truyền trong không gian
cũng vậy. Đến nay các nhà nghiên cứu vật lý chƣa tìm
ra phần tử tận cùng nhỏ nào là hạt cơ bản cấu thành vật
chất, mà ngƣợc lại phần cuối cùng nhỏ thì không phải
là hạt (vật chất), mà là sóng (phi vật chất). Cũng nhƣ
không có một chất liệu truyền dẫn nào làm sóng điện
từ rung động, mà đó có thể là sự tác động nội tại của
một yếu tố mà ta tạm gọi là năng lƣợng.
Theo kinh nghiệm thông thƣờng, chúng ta thƣờng
cho rằng những gì là bƣớc sóng thì không thể là hạt,
tuy nhiên ở góc độ lƣợng tử thì ánh sáng dƣờng nhƣ là
ví dụ về một nghịch lý, bởi nó vừa là sóng vừa là hạt.
Bất kỳ lúc nào ngƣời ta cũng biết một electron đang ở
đâu, nhƣng ngƣời ta không biết nó đang làm gì, hoặc
có thể biết nó đang làm gì mà không thể biết đƣợc nó
đang ở đâu. Một lần nữa cho thấy đối tƣợng quan sát là
yếu tố quyết định: Khi chúng ta quyết định tìm hiểu
động lƣợng của một electron, thì chính điều này khiến
cho ta không thể tìm hiểu đƣợc vị trí của nó. Khi ta
quyết định tìm hiểu vị trí của nó thì chính điều này
ngăn cản khiến chúng ta không thể nghiên cứu đƣợc
động lƣợng của nó. Vậy đối tƣợng quan sát thực sự là
một phần gắn liền với thực tại đƣợc quan sát. 44
44 “Theo kinh nghiệm… quan sát” V trụ trong m t nguyên tử ơn, trang 86 -
Đức Đạt lai Lạt ma 14 - Lê Tuyên biên dịch.
59
Đức Thanh
Lạ lùng ở đây là sự sai biệt giữa sóng và hạt có
thể nhận rõ khi có mặt của ngƣời quan sát. Khi ta quan
sát một quang tử với một máy đo, nó xuất hiện dƣới
dạng hạt. Nhƣng khi mà ngƣời ta không còn quan sát
nó, thì nó trở thành hình thể sóng. Sóng này lan tỏa
khắp nơi trong không gian, giống nhƣ những làn sóng
tạo ra bởi cục đá ném xuống mặt hồ. Cơ học lƣợng tử
nói rằng nếu không có ngƣời quan sát thì không thể
biết đƣợc quang tử nằm ở đâu, tại thời điểm nào đó. 45
Xét trên góc độ Phật giáo thì các pháp là hiện
hữu, nhƣng không có thực tƣớng, tự tánh chúng là
không. Thế nên, khi nói cái này là Sắc, cái này là
Không thì cũng là pháp đối đãi, là pháp tùy thuộc vào
ngƣời nhận thức. Nếu đứng về mặt tƣớng dụng của các
pháp thì vật nhỏ nhƣ hạt bụi cũng không thể nói là
không. Nếu đứng về mặt bản thể của các pháp thì vật
dù lớn nhƣ vũ trụ cũng không thể cho là có. Thấy có,
thấy không đều là biên kiến, chƣa phản ánh đƣợc thực
tƣớng của các pháp.
Theo khoa học vật lý hiện đại, vật chất không thể
đƣợc xem là độc lập khách quan, hoặc không thể đƣợc
xem là tách rời khỏi ngƣời quan sát nó. “Thế giới vật
chất ngoại vi là hình chiếu của tâm hồn mỗi ngƣời”. 46
Vật chất và tâm hồn là hai đối tƣợng tƣơng thuộc,
phụ thuộc lẫn nhau. Cái này là kết quả do tƣơng tác
45 “Lạ lùng ở đây… thời điểm nào đó” Đ i tho i giữa khoa học và hật giáo,
trang 59 - Trịnh Xuân Thuận.
46 “Thế giới… tâm hồn mỗi ngƣời” V trụ trong m t nguyên tử ơn, trang 87
- Đức Đạt lai Lạt ma 14 - Lê Tuyên biên dịch.
60
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
bởi những nguyên nhân và điều kiện của những cái
khác. Không có cái gì tự nhiên mà hình thành, cái
này có thì cái kia có, cái này sinh thì cái kia sinh. Cái
này là hiện hữu, dù có nét đặc trƣng riêng, nó cũng
đều tồn tại trong hệ thống các mối quan hệ cụ thể
hoặc tiềm tàng. Không có cái gì tồn tại mà không phụ
thuộc vào các phần tử cấu thành nên nó. Ví dụ nhƣ
cái gọi là ghế sẽ không thật sự tồn tại, nếu nó không
có chân, không có mặt phẳng để ngồi, không có đối
tƣợng quan sát nào mà không phụ thuộc vào đối
tƣợng ư c quan sát. Một chiếc lá là cả thế giới vũ
trụ của loài vi khuẩn, là tính dƣợc với thầy thuốc, là
tổ hợp tế bào diệp lục đối với nhà sinh vật học, là
món rau no bụng cho kẻ đang đói,... Nên biết giữa
Tâm và Vật, hay Ý Thức và Vật Chất có mối quan hệ
tƣơng thuộc lẫn nhau nhƣ hai mặt của một tờ giấy, ta
không thể nói chỉ mua mặt giấy này thôi, còn mặt kia
sẽ không mua. Một bức tranh vẽ đẹp, một tác phẩm
điêu khắc sống động, một tuyệt tác âm nhạc có đƣợc
là nhờ ngƣời nghệ sĩ đã gởi gắm, chuyển tải tâm tƣ,
tình cảm, ý tƣởng của mình vào nó và đƣợc vật chất
hóa thông qua giấy, mực, nốt nhạc, tiết tấu… Một lá
thƣ đến tay ngƣời nhận là vui hay tức giận là cái ý
của ngƣời viết đƣợc vật chất hóa thông qua giấy
mực. Một diễn viên kịch câm biểu đạt hành động
bằng thân thể vật chất, qua đó ngƣời xem hiểu đƣợc
diễn biến, tâm trạng, tình huống, tâm tƣ, tình cảm của
kịch bản. Trong một ngôi nhà, trong các máy móc
thiết bị, trong từng lá rau, hạt gạo,… cũng chứa đựng
61
Đức Thanh
ý tƣởng, tình thƣơng, tâm phụng sự vì nhân loại của
những ngƣời làm ra nó. Các tín đồ Phật giáo cũng gởi
gắm tâm huyết, tình cảm, trí tuệ, tâm từ của mình vào
các tác phẩm vật chất thông qua việc đúc tƣợng Phật,
Bồ Tát. Các pho tƣợng bằng vật chất mới nhìn bên
ngoài thấy nhƣ là vô tri này, thì thực sự nó đƣợc bao
phủ bởi một làn sóng năng lƣợng của tình thƣơng
yêu, của lòng kính trọng, của lòng vị tha và của tâm
từ bao dung mà toàn thể tín đồ góp sức đã tạo ra. Thế
nên, khi đƣợc kề cận, ngắm nhìn tƣợng ta có một
cảm giác bình an, thanh thản, nhờ cái từ trƣờng năng
lƣợng ấy tỏa ra mà có.
Qua đó, ta thấy từ ý thức con ngƣời tạo ra vật
chất, rồi từ vật chất tác động đến ý thức. Nhƣng
thông thƣờng, ngƣời ta chỉ chấp nhận thế giới hiện
tƣợng thông qua năm căn của thân và cho đó là hiện
hữu, là thực tại vật lý cảm nhận đƣợc, còn những
thực tại tạo ra bởi ý thức thì ta không chấp nhận nó,
bởi không thể kiểm chứng đƣợc. Thực ra, không phải
chúng ta không muốn chấp nhận, mà do nhận thức
của con ngƣời nó tƣơng ƣng với nghiệp. Thức tâm
thuộc nghiệp nào, thì hiện ra thân tâm và cảnh giới
của nghiệp ấy lúc thụ thai. Tùy thức tâm thuộc nghiệp
ngƣời, nghiệp trời, nghiệp A tu la, nghiệp địa ngục,
nghiệp ngạ quỷ, nghiệp súc sinh, mà hiện ra sự lãnh
nạp các căn tƣơng ứng với nó. Nhƣ nhãn căn để thấy
sắc trần, nhĩ căn để nghe âm thanh, tỷ căn để ngửi
mùi hƣơng, thiệt căn để nếm vị, thân căn biết đƣợc
xúc chạm và ý căn biết đƣợc pháp trần. Sự nhận thức
62
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
về y báo của các loài chúng sinh tƣơng ƣng với
nghiệp lực mà nó phải mang; thế là nghe không thể
ngoài tiếng, thấy không thể ngoài sắc...
Trong Kinh Duy Ma, đức Phật giảng: “Ví nhƣ chƣ
thiên ăn cơm, cùng đựng trong chén bát quý báu, nhƣng
tùy theo phƣớc đức của họ mà hình sắc cơm có khác”. 47
Luận Đà Na Thức nói: “Trí của chúng sinh (dị
sinh), tùy theo mỗi loài mà tự duyên cảnh vũ trụ, vật
ngã của mình”. Trí (thức) của chúng sinh (dị sinh)
trong ba cõi sáu đƣờng, tức là các hữu lậu hƣ vọng
phân biệt thuộc về hai chấp (Ngã chấp, Pháp chấp) và
tƣơng ƣng với hai chƣớng (Phiền não chƣớng và Sở
tri chƣớng); tùy theo nghiệp báo sinh làm loài nào,
thì hiện ra vũ trụ vật ngã của loài đó. Vũ trụ vật ngã
của loài này, không phải của loài kia; vũ trụ vật ngã
của loài kia, không phải của loài này. Nhƣ cùng một
dòng sông Hằng, mà ngƣời thấy là nƣớc, ngạ quỷ
thấy là lửa, còn trời lại thấy là ngọc lƣu ly. Bởi thế
Kinh Lăng Nghiêm chép: “Tùy theo nghiệp báo của
chúng sinh nhƣ thế nào, thì tâm nó hiện ra cảnh vật
nhƣ thế ấy, y theo hiểu biết của chúng” (tùy dị sinh
tâm, ứng sở tri lƣợng, tuần nghiêp phát hiện). Chúng
sinh không biết các cảnh thế gian đều duy tâm biến
hiện, nên tùy theo mỗi loài, khởi tánh “Biến kế”,
chấp cái “tƣớng” rồi đặt ra cái “tên”; gọi thế này là
„Ngã”, chấp thế kia là “Pháp”. Bởi thế, nên tùy theo
mỗi loại, đều có một vũ trụ, vật ngã khác nhau; song
47 “Ví nhƣ… có khác” Kinh Duy Ma Cật, trang 32 - Đoàn Trung Còn dịch.
63
Đức Thanh
đều là cảnh bị biết do trí hƣ vọng phân biệt của
chúng sinh (dị sinh) 48
Vật lý lƣợng tử ngày nay khám phá ra khi ta trông
thấy sự vật nhƣ: hình thể, màu sắc, mùi vị… không hề
là thực tại của nó, chúng chỉ là tác động của sóng, hạt
lên con ngƣời. Mắt đã làm nên màu sắc, tai tạo thành
âm thanh. Thế giới mà ta đang thấy không tồn tại nhƣ
nó đang là, chính chúng ta là kẻ cảm nhận nhƣ thế,
thậm chí có thể nói là “t o nên nó”. 49
Ngày nay ngƣời ta thừa nhận ánh sáng chính là
một phần hẹp của sóng điện từ, ánh sáng thấy đƣợc đối
với mắt ngƣời có độ dài sóng từ 400- 700 nanometer.
Ta nhìn thấy sự vật vì sự vật phản chiếu ánh sáng và
ánh sáng lọt vào mắt ta. Nhƣng thực tế là sự vật không
phản chiếu toàn bộ ánh sáng chiếu lên nó mà hút một
số phần tử của ánh sáng và chỉ phản chiếu một số khác
nhất định. Điều đó là do màu sắc của vật. Thí dụ ánh
sáng mặt trời chiếu vào đóa hoa màu xanh thì đóa hoa
đó đã hút hết các phần tử khác của ánh sáng và chỉ
phản chiếu phần ánh sáng có độ dài sóng khoảng 430
nanometer. Độ dài sóng đó lọt vào mắt ta và ta cảm
nhận nó có màu xanh. 50
Vậy màu sắc đỏ, cam, vàng, tím, xanh lá của đèn
Led cũng không phải là cái hiện hữu khách quan nhƣ
thị để rồi nhãn căn ta thấy nhƣ chính nó, mà tùy theo
48 “Trí của… (dị sanh)” Duy Thức Học, trang 253, 254 - Hòa thƣợng Thích
Thiện Hoa.
49 “Vật lý … tạo nên nó” Lưới trời ai dệt, trang 276 - Nguyễn Tƣờng Bách.
50 “Ngày nay ngƣời… màu xanh” Đường r ng thênh thang, trang 115, 116 -
Nguyễn Tƣờng Bách.
64
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
nhà thiết kế tạo sự dao động của bƣớc sóng ánh sáng từ
khoảng tần số nào… đến tần số nào đó, để sóng ánh
sáng đập vào mắt con ngƣời, rồi thần kinh thị giác tiếp
nhận, qua bộ óc xử lý và ta nói nó là màu đỏ, hay cam,
hay vàng, hay tím, hay xanh lá (thực ra bản thân đèn
Led không có màu). Bóng đèn huỳnh quang ánh sáng
chớp tắt 60 lần trên giây, ở tần số dao động này mắt
con ngƣời không nhận kịp, nên thấy ánh sáng phát ra
liên tục. Hoặc khi di chuyển trên sông bằng phƣơng
tiện ca nô vƣợt nhanh, sẽ thấy hai bên bờ sông cây cỏ
chuyển động ngƣợc lại chiều ca nô chạy.
Loài ngƣời có một cộng nghiệp chung nên về
phần cấu tạo của cơ thể giống nhau, cùng nhận biết thế
giới hiện tƣợng qua năm giác quan, thế là sự thấy cũng
tƣơng đồng. Đối với con ngƣời cái gì có thể nhận thức
đƣợc bằng năm giác quan mới đƣợc xem là thực tại.
Những gì sinh khởi mà con ngƣời không cảm nhận
đƣợc qua năm giác quan mắt, tai, mũi, lƣ i, thân thì
xem là phi thực tại. Việc nhận thức hiện tƣợng giới nhƣ
thế là chƣa khách quan lắm. Nên biết thực tại âm thanh
vẫn tràn ngập trong không gian đối với chúng ta, nhƣng
nó chƣa bao giờ hiện hữu với những ngƣời điếc bẩm
sinh. Nếu một ngày nào đó, ngành y học tiến bộ chữa
cho họ hết điếc, khi đó họ cảm nhận đƣợc thực tại âm
thanh đa dạng hơn lúc bây giờ. Những thực tại nào
đƣợc trình hiện với ta ở dạng vật chất, nó có không
gian để ta sờ mó, có thời gian tồn tại để ta chứng thực,
ta nói nó hiện hữu. Còn những thực tại sinh khởi từ
thức tâm của con ngƣời vẫn hiện hữu, ta không nhận
65
Đức Thanh
thức đƣợc nên nói là không có. Cũng giống nhƣ sóng
truyền hình vẫn tràn ngập trong không gian, các ca sĩ
vẫn trình diễn liên tục nhƣng ta chƣa có tivi để xem
thôi. Do cái biết hạn hẹp ở các căn tƣơng ƣng với
nghiệp ngƣời, ta không nhận thức đƣợc nên bảo là
không có. Nên biết, một ngôi sao đã tắt cách đây hàng
triệu năm mà ngƣời ta vẫn còn nhận đƣợc ánh sáng của
nó đang di chuyển, một âm thanh dù nhỏ cũng truyền
cái rung động đó đến tận không trung. Một thực tại do
tâm thức tạo ra dù không thấy nhƣ một tƣ tƣởng, một
tình cảm, một ý chí,… chẳng lẽ không làm phát sinh
một khuynh hƣớng, một năng lực tác động đến các loài
hữu tình hay sao. Điều này cũng dễ chứng thực lắm. Ở
quê nhiều nhà nuôi trâu, bò đến dịp làm đám cƣới, bàn
tính giết mổ nó. Tác ý của con ngƣời loài vật cảm nhận
đƣợc, nó buồn, chảy nƣớc mắt hoài và bỏ ăn đến ngày
chết, hoặc nhiều hiện tƣợng trong thần giao kết cảm
chẳng hạn. Gần đây loài ngƣời đang để ý nghiên cứu
theo hƣớng ý thức trong thảo m c, họ dùng âm nhạc
làm kích thích cho cây tăng trƣởng nhanh.
Tóm lại ý thức và vật chất, hay tâm và vật có tác
động tƣơng hỗ với nhau, nó là bất khả phân, nó nhƣ hai
mặt của một đồng tiền, không thể tồn tại chỉ có một
mặt đƣợc.
66
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
TÌM CÁI VÔ SINH Ở ĐÂU? HÃY NGAY
CÁI SINH DIỆT MÀ NHẬN LẤY!
Nói đến Vô sinh tức là muốn chỉ về lý (thể) bất
sinh, bất diệt của tự tánh mà tất cả chúng sinh đều có.
Muốn tìm cái thể chẳng sinh, chẳng diệt này thì không
ở đâu khác; hãy ngay nơi thân sinh diệt mà nhận lấy.
Trong Kinh Hoa Nghiêm khi Phật thành đạo liền
thuyết: “Lạ thay! Lạ thay! Tất cả chúng sinh đều có
đầy đủ đức tƣớng trí tuệ của Nhƣ Lai, chỉ vì vọng
tƣởng chấp trƣớc mà không thể chứng đƣợc. Nếu lìa
vọng tƣởng là trí thanh tịnh, trí tự nhiên, trí vô sƣ tự
nhiên hiện tiền.” Nghĩa là Phật thấy rõ ngay trong thân
chúng sinh vô thƣờng sinh diệt này có s n thân Nhƣ
Lai bất sinh bất diệt, chỉ vì vọng tƣởng che lấp nên
không nhận ra. 51
Nơi thân tứ đại vô thƣờng, sinh diệt này có cái
chân thƣờng không nhơ nhiễm, chỉ cần không theo
vọng duyên thì chúng sinh và Phật đồng một thể tánh.
Thiền sƣ Hoài Hải làm bài kệ:
“Linh quang riêng chiếu vư t khỏi căn trần
Bày iện chân thường chẳng câu nệ văn tự.
Tâm tánh không nhiễm v n tự viên thành
Chỉ lìa vọng duyên tức như như hật. 52
51 “Lạ thay!… nhận ra” Từng ước an vui, trang 65 - Hòa thƣợng Thích
Thông Phƣơng.
52 “Linh quang… nhƣ Phật” Thiền sư Trung Hoa, trang 279, tập 1 - Hòa
thƣợng Thích Thanh Từ.
67
Đức Thanh
Hằng ngày trong các căn của thân, trong đời sống
sinh hoạt, đều có trí biết Nhƣ Lai trong đó, nhƣng do
vọng tƣởng che lấp nên không nhận đƣợc. Trí biết Nhƣ
Lai (vô sanh, Phật tánh) nằm ở đâu trong thân này, ta
hãy nghe tôn giả Ba La Đề chỉ:
Vua Dị Kiến hỏi tôn giả Ba La Đề:
- Thế nào là Phật?
Tôn giả đáp:
- Thấy tánh là Phật.
- Sƣ thấy tánh chăng?
- Tôi thấy Phật tánh.
- Tánh tại chỗ nào?
- Tánh tại động tác.
- Tại sao tại động tác mà tôi không thấy?
- Tánh ấy ngay nơi động tác tại bệ hạ chẳng thấy
- Tôi có chăng?
- Nếu vua khởi động tác thì đâu chẳng phải. Vua
không khởi động tác, thể ấy cũng khó thấy.
- Nếu khi đang khởi dụng, xuất hiện ở chỗ nào?
- Nếu khi xuất hiện sẽ có chỗ vào.
- Khi nào Phật tánh xuất hiện phải cho tôi biết?
Tôn giả làm bài kệ:
“Nơi thai gọi là thân
Nơi ời gọi là người
Nơi mắt gọi là thấy
Nơi tai gọi là nghe
Nơi m i gọi là là ngửi
Nơi lưỡi gọi là luận àm
Nơi tay gọi là cầm nắm
Nơi chân gọi là i l i.”
68
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
Hiện ra trùm khắp pháp giới, thu vào nằm trong
một mảy trần, ngƣời biết liền rõ là Phật tánh. Trái lại
ngƣời không biết cho là linh hồn. 53
Tôn giả Ba La Đề nói: “Thấy tánh là Phật”. Vậy
thấy tánh là sao? Trong Uyển Lăng Lục có ngƣời hỏi
Thiền sƣ Hoàng Bá: “Thấy tánh là thế nào?” Ngài đáp:
“Tánh tức là thấy, thấy tức là tánh, chẳng thể lấy tánh
thấy thêm tánh. Nghe tức là tánh, chẳng thể lấy tánh
nghe thêm tánh. Chỉ vì ngƣời cho là có cái tánh thấy,
nghe, tánh ấy năng thấy, năng nghe, nên mới có các
pháp đồng dị sinh khởi. Kinh nói rõ ràng cái sở thấy đó
là tánh ngƣơi rồi chẳng thể thấy nữa, nếu thấy nữa tức
là ngƣơi ở trên đầu lại sinh thêm đầu…” 54
Ở đây nói thấy, nghe tức tánh thấy, tánh nghe; nó
không còn phân biệt đây là năng thấy, kia là sở thấy
nữa; nhƣ thể dao tức là cắt, nhƣ nƣớc tức là ƣớt, nhƣ
lửa tức là cháy đỏ. Ngƣời sống đƣợc với tự tánh dụng
này thì không bị sáu trần chuyển, khi thấy sắc không
khởi tâm yêu ghét, không bị sắc lôi cuốn, nên nói thấy
mà chẳng khác không thấy là vậy. Chỉ vì con ngƣời
chấp có cái năng thấy và sở thấy, rồi vọng tƣởng sinh
khởi, trần lao bày hiện. Tâm lầm nhận cái thấy, nghe
theo duyên là mình, thế là các pháp đối đãi với nhau
mà dựng lập, nhƣ nói cái này đẹp cái kia xấu, cái này
phải cái kia quấy, cái này là chân, cái kia là vọng… rồi
53 “Vua Dị Kiến… linh hồn” hật tâm luận, trang 85, 86 - Hòa thƣợng Thích
Phƣớc Hảo dịch.
54 “Thấy tánh là thế nào?… thêm đầu…” Tâm pháp Thiền sư, trang 173, 174
- Thích Tục Khang, Đào Văn Học.
69
Đức Thanh
trôi lăn trong sinh tử luân hồi. Dù ở trong luân hồi
nhƣng tánh thấy, nghe này cũng đâu rời thân năm uẩn.
Ngài Phó Đại Sĩ, khi ngộ đạo cũng cho ta biết
Phật tánh hiển hiện trong sinh hoạt thƣờng ngày:
“Đêm êm ôm hật ngủ,
Sáng sáng cùng hật dậy,
Ngồi ứng cùng theo nhau,
Nói nín ồng chung ở.
Chẳng mảy may t m rời,
Gi ng hệt óng với hình.
Mu n iết chỗ hật i,
Chính cái nói năng ó.” 55
Chân-vọng, phiền não-bồ đề thể của nó không hai,
nếu xem vọng tƣởng, phiền não là một thực thể tồn tại
khách quan ở ngoài tâm thì cũng chƣa phải. Có một vị
tăng hỏi Tuệ Trung Thƣợng Sĩ:
Bồ đề và phiền não đồng hay khác thế nào?
Ngài đáp:
“Vị mu i trong nước
Trong sắc màu keo.” 56
Bồ đề và phiền não là một thể, nhƣ sắc màu và
keo đâu có rời nhau trong sơn; cũng nhƣ vị mặn của
muối và nƣớc đâu có rời nhau trong nƣớc biển.
Phải biết vọng tƣởng, phiền não thể của nó vốn
không, do tâm chấp mà có. Chỉ cần nhìn lại phiền não
55 “Đêm đêm… năng đó” Con ường giác ng , trang 156 - Hòa thƣợng Thích
Thông Phƣơng.
56 “Vị muối… màu keo” Tuệ Trung Thư ng Sĩ Ngữ Lục, trang 196 - Hòa
thƣợng Thích Thanh Từ giảng.
70
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
thì chúng tự tiêu mất, không nên chấp một bên. Ngài
Trƣơng Chuyết sau khi ngộ đạo làm kệ:
“Quang minh tịch chiếu khắp hà sa
hàm thánh hàm linh chung m t nhà
M t niệm chẳng sinh toàn thể hiện
Sáu căn vừa ng tự che mờ
Đo n trừ phiền não càng thêm ệnh
Hướng ến chân như c ng là tà
Tùy thuận duyên ời không ngăn ng i
Niết àn sinh tử t không hoa”. 57
Qua các lời dạy của chƣ Phật, Tổ ta thấy cái vô
sinh đâu rời thân năm uẩn sinh diệt này mà có. Từ cái
thấy nghe sinh diệt theo duyên mà sống trở lại cái thấy
nghe không phụ thuộc vào duyên là thầm nhận đƣợc
cái thể bất sinh bất diệt rồi, chớ tìm ở đâu bây giờ?
Ngay cả kinh sách chỉ dạy cũng là ngón tay chỉ mặt
trăng thôi, chứ chƣa phải là mặt trăng. Muốn tu tập để
nhận đƣợc cái chân thật này cũng không phải rời bỏ
thân năm uẩn sinh diệt này mà có. Phải ngay thân này
thực hành, chuyển hóa mà nhận lấy cái thể vô sinh, chứ
không phải đọc kinh nhiều sẽ ngộ đạo, hay không nhất
thiết phải vào chùa mới gọi là tu hành (khi chƣa đủ
duyên). Phải tùy thuận thế gian mà tu hành trong mọi
hoàn cảnh, sao cho tâm không nhơ, không nhiễm thì
nơi đâu cũng là đạo tràng, đâu đâu cũng là xứ Phật. Để
chọn đúng đƣợc cái gốc trong tu tập, cũng nhƣ việc
hành trì, hãy nghe vài mẩu chuyện đối đáp của Tổ.
57 “Quang minh… không hoa” Vô tướng tụng, trang 45 - Hòa thƣợng Thích
Phƣớc Hảo.
71
Đức Thanh
Vua Hƣơng Chí hỏi Tổ Bát Nhã Đa La:
Tôi thấy các thầy tụng kinh, tại sao Tôn giả
không tụng kinh?
Ngài đáp: Tôi thở ra không tiếp duyên, hít vào
không ấm giới, thƣờng tụng thứ kinh này trăm ngàn
muôn ức quyển. 58
Thiền sƣ Nhật Bản tên Nhất Hƣu, lúc sƣ ở núi Tỷ
Duệ, một hôm thấy tín đồ ùn ùn kéo nhau lên núi nhân
đến kỳ tự viện trên đây phơi tạng kinh. Theo truyền
thuyết thì khi phơi tạng kinh, nếu ai đƣợc làn gió thổi
trên trang kinh phất qua mình, sẽ đƣợc tiêu trừ tai ách
tăng trƣởng trí tuệ. Vì lẽ đó mà mọi ngƣời đƣa nhau lên
núi để mong đón đƣợc ngọn gió đó. Thiền sƣ Nhất Hƣu
biết vậy nên nói:
- Tôi cũng cần phơi tạng kinh.
Nói xong, sƣ vạch áo bày trần hông bụng, nằm
trên bãi cỏ phơi dƣới ánh nắng mặt trời. Nhiều tín đồ
xem thấy khó chịu, cho đó là thiếu lịch sự. Vị pháp sƣ
ở tự viện trên núi nghe nói, bèn đến khuyên Nhất Hƣu
chẳng nên làm việc mất oai nghi nhƣ thế. Thiền sƣ
Nhất Hƣu rất thật tình giải thích:
- Các ngài phơi tạng kinh đó là tạng kinh chết, nó
biết sinh mối mọt mà chẳng biết hoạt động. Còn tạng
kinh của tôi phơi là t ng kinh s ng, nó iết nói pháp,
iết làm việc, iết ăn cơm. Ngƣời có trí tuệ phải nhận
rõ tạng kinh này mới quí giá ! 59
Thiền sƣ Vô Đức và vị cƣ sĩ.
58 “Vua Hƣơng Chí… muôn ức quyển” Sử 33 vị tổ Thiền tông Ấn Hoa, trang
135 - Hòa thƣợng Thích Thanh Từ giảng.
59 “Thiền sƣ… quí giá!” Tinh Vân thiền tho i, trang 36, tập 1 - Đạo Tâm
dịch.
72
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
Có một vị nam cƣ sĩ mỗi ngày thƣờng hái hoa
tƣơi trong vƣờn nhà mình đem đến chùa chí thành dâng
cúng Phật. Một hôm khi đem hoa đến điện Phật. Chợt
gặp thiền sƣ Vô Đức từ pháp đƣờng đi ra. Thiền sƣ
hoan hỉ nói:
- Lành thay! Lành thay! Mỗi ngày anh đều đem
hƣơng hoa chí thành dâng cúng Phật, theo kinh nói,
thƣờng dùng hƣơng hoa cúng dƣờng, đời sau sẽ đƣợc
phƣớc báu thân tƣớng trang nghiêm!
Cƣ sĩ nghe nói vui vẻ đáp:
- Đó là bổn phận của con phải làm! Mỗi ngày khi
đến chùa lễ Phật thì tâm con mát mẻ, giống nhƣ đƣợc
tẩy rửa. Nhƣng khi về đến nhà thì lại phiền muộn. Bà
nội trợ thƣờng phiền hà, ồn náo nhƣ cái chợ, con làm
sao giữ gìn tâm mình cho thanh tịnh thuần khiết?
Thiền sƣ Vô Đức nói:
- Ông thƣờng dùng hoa tƣơi cúng Phật, hẳn ít
nhiều có kiến thức về cắm hoa, bây giờ tôi hỏi ông,
làm cách nào để giữ cho hoa đƣợc tƣơi lâu tốt đẹp?
Cƣ sĩ đáp:
- Muốn giữ gìn hoa đƣợc tƣơi lâu, mỗi ngày phải
thay nƣớc và khi thay nƣớc nên cắt bỏ một phần dƣới
cành hoa đi, vì phần cành nằm trong nƣớc dễ bị thối
rữa. Khi cành thối rữa thì khó hấp thu nƣớc làm cho
hoa mau héo tàn.
Thiền sƣ Vô Đức nói:
- Giữ gìn cái tâm thanh tịnh thuần khiết cũng
giống nhƣ thế. Hoàn cảnh sinh hoạt của chúng ta giống
nhƣ nƣớc trong bình, còn chúng ta là hoa. Chỉ có
thƣờng xuyên lọc sạch thân tâm, sửa đổi tính tình và
luôn sám hối, sửa đổi khuyết điểm mới có thể tạo nên
sự tƣơi mát an nhiên.
Nghe xong cƣ sĩ hoan hỷ làm lễ cảm tạ:
73
Đức Thanh
- Cảm ơn thiền sƣ khai thị cho con! Hy vọng sau
này có cơ hội, con sẽ thân cận thiền sƣ, ở trong tự viện
làm thiền giả, an hƣởng chuông sớm mõ chiều, an tâm
tỉnh trí trong tiếng kệ lời kinh.
Thiền sƣ Vô Đức nói:
- Đâu cần đợi cơ hội ở trong tự viện, ông hít vô
thở ra đó là kinh kệ, mạch đập đó là chuông mõ, thân
thể đó là chùa chiền, hai tai là tỉnh giác thì ở đâu cũng
là yên tĩnh. 60
Với những lúc ngồi thiền tâm đã hơi an, hơi thở
bắt đầu nhẹ, khi hít vô tâm iết đang hít vào, thở ra tâm
iết đang thở ra, hơi thở thì có sinh diệt, cái iết này
hiện hữu sáng suốt, lặng lẽ đâu có sinh diệt. Thực hành
cái iết trong tâm rỗng rang, thanh tịnh thì đó chính là
Thiền, là Phật, Đạo, là yếu chỉ của kinh kệ. Trong sự
yên tĩnh vắng lặng của tâm, tiếng mạch (tim) đập nhƣ
là chuông mõ hòa quyện nhịp nhàng với lời kinh vậy.
Hơn nữa, thân thể này cấu tạo bởi năm uẩn (sắc, thọ,
tƣởng, hành, thức), mà năm uẩn này hoạt dụng lẫy
lừng. Tức là thân tâm ta khi đối cảnh nó hay phan
duyên bám víu, hết cái này rồi đến cái khác, cái gì làm
cho thân tâm vừa ý thì vui, trái lại thì sinh sân hận,
buồn khổ. Cái tâm mu n ư c này là nguyên nhân tạo
ra xúc tình phiền não trói buộc ta trong lục đạo luân
hồi. Thân tâm này ví nhƣ là mảnh đất hoang, ta phải ra
công cày, xới, cải tạo để nó đƣợc mầu m . Cũng nhƣ
chùa chiền là nơi để thân tâm rèn luyện tu tập. Hằng
ngày với tâm tỉnh thức thì mắt thấy, tai nghe đâu có
dính mắc vào cảnh, nhƣ thế thì tâm đƣợc tự tại, an lạc.
Kinh Duy Ma Cật nói: “Nếu tâm của Bồ Tát thanh tịnh
thì cõi nƣớc thanh tịnh.” Một khi tâm thanh tịnh thì ở
đâu cũng là đạo tràng, ở đâu cũng là Tịnh độ.
60 “Thiền sƣ… yên tĩnh” trang 17 Báo Giác Ng - PL. 2550, số 353 ngày 21/11/2006.
74
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
BIẾT VỌNG NGUYÊN LÀ ĐẠO
MỚI KHÔNG VỌNG
Vọng từ chân nhƣ mà khởi, quan hệ giữa chúng
giống nhƣ giữa nước với sóng. Nếu nhƣ không có nước
thì làm gì có sóng, thế nên nói ngoài nước đâu thể có
sóng. Nhờ có mặt nƣớc bằng phẳng, khi có duyên gió
mới tạo ra sóng. Sóng biển thì có nhiều hình tƣớng sai
biệt, lƣợn này cao, lƣợn kia thấp… thay đổi tùy duyên;
nhƣng nƣớc thì chỉ có một, nƣớc lúc nào cũng là nƣớc
thôi, dù hình tƣớng lƣợn sóng có nhƣ thế nào đi nữa thì
sóng ấy bản thể của nó cũng là nƣớc.
Lục tổ Huệ Năng ngộ đạo liền thốt lên:
“ Đâu ngờ tự tánh ta thanh tịnh,……..
Đâu ngờ tự tánh ta hay sinh muôn pháp.” 61
Từ tự tánh thanh tịnh mà sinh ra muôn pháp.
Vọng niệm cũng từ chân nhƣ, tự tánh mà khởi, nếu
không có bản tâm thanh tịnh thì lấy gì để khởi.
Biết vọng nguyên là Đạo (chân nhƣ, bản thể, tự
tánh…) thì mới thấy không còn có vọng niệm để trừ dẹp.
Lục tổ nói: Không sợ niệm khởi mà sợ giác chậm.
Vọng khởi mà tỉnh giác là đều có tỉnh giác hiển lộ. Một
trăm lần vọng khởi có một trăm lần giác. Biết sóng là
nƣớc, thì không sợ vọng, vì nó là chân.
Trong háp Bảo Đàn Kinh, Ngọa Luân nói:
“Niệm bất khởi.”
61 “Lục Tổ… pháp” háp Bảo Đàn Kinh, trang 51 - Hòa thƣợng Thích Thanh
Từ giảng.
75
Đức Thanh
Lục Tổ nói: “Niệm sổ khởi.”
Cần niệm giác, giác là Phật.
Nhớ mặt biển mà không ngại sóng dậy, vì sóng từ
biển sinh.
Ngƣời thấy tánh gặp duyên liền khởi dụng, nhƣng
thể tánh chân thật không thay đổi. Ấy là tự tánh dụng. 62
Nhƣ có chiếc gƣơng lớn cùng tận pháp giới. Ánh
sáng của gƣơng vô phân biệt mà chiếu soi, khi đối vật
thì hiện bóng trong gƣơng, khi không có vật thì không
hiện bóng. Nhƣng dù có vật hay không có vật thì vẫn
không mất đi ánh sáng bản hữu của nó. Gƣơng tuy hiện
bóng mà vẫn nhƣ nhƣ bất động; thấy bóng này là đẹp,
bóng kia là xấu là do tâm phân biệt nhị biên mà có.
Điều này ta có thể trải nghiệm đƣợc lúc ngồi thiền tâm
đã lắng đọng, một hình ảnh, một ký ức hiện lên tâm
liền biết, khi tâm không có hình ảnh, ký ức nó vẫn có
cái biết lặng lẽ. Vậy với bao nhiêu cái bóng (vọng)
cũng không sao, miễn là gƣơng (tâm) biết mình đang
chiếu soi. Nếu duyên theo bóng trong gƣơng rồi khởi
tri kiến phân biệt, đó là nhận bóng mà quên gƣơng, tức
là quên mình theo vật.
Nên biết vọng tƣởng không phải là cái gì đó tồn
tại khách quan, ngoài tâm mình, nên không cần tìm
biện pháp để diệt trừ, đè bẹp chúng. Vì khi ta khởi tâm
diệt chúng là đã thêm một lớp vọng tƣởng thứ hai (nhƣ
có một cái đầu lại mọc thêm một cái đầu nữa); hoặc
62 “Vọng niệm… tánh dụng” Nhặt lá ồ ề, trang 91, 92 - Hòa thƣợng Thích
Thanh Từ.
76
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
khởi tâm kìm hãm, đè nén nó thì cũng vô ích nhƣ việc
làm lấy đá đè cỏ. Vọng tƣởng là niệm sinh diệt nơi
tâm, nhƣ những lƣợn sóng nhấp nhô ngoài biển cả, lìa
sóng mà tìm nƣớc thì không thể đƣợc. Chỉ có sự tỉnh
giác trong đƣơng niệm mới thực sự chuyển hóa nó; nhƣ
thể hiện trú ở trong từng trạng thái động của con sóng
mà vẫn giữ cái biết lặng lẽ, chẳng động, thấu suốt bản
thể của mình là nƣớc.
Thế nên, khi vọng tƣởng khởi chỉ iết vọng tƣởng
không thật, thể nó là không, không theo nó thì tự nó
lặng; chỉ còn lại cái iết rỗng rang, sáng suốt của bản
thể thanh tịnh chính là Đạo (chân nhƣ).
Hãy nghe thầy Tri Viên hỏi Thiền sƣ Duyên
Quán:
- Khi giặc nhà khó giữ thì thế nào?
Duyên Quán đáp:
- Biết đƣợc chẳng phải oan gia.
Thầy Tri Viên hỏi tiếp:
- Sau khi biết đƣợc thì sao?
Duyên Quán đáp:
- Biến đến nƣớc vô sinh.
Thầy Tri Viên hỏi tiếp:
- Nƣớc vô sinh đâu không phải chỗ y an thân lập
mạng?
Duyên Quán bảo:
- Nƣớc chết không chứa đƣợc rồng.
Thầy Tri Viên hỏi:
- Thế nào là nƣớc chết chứa rồng?
Duyên Quán đáp:
77
Đức Thanh
- Dậy mòi mà chẳng thành sóng.
Cuối cùng thầy Tri Viên hỏi:
- Bỗng khi đầm nghiêng núi đổ thì sao?
Duyên Quán đáp:
- Chớ nói ƣớt áo cà sa của lão Tăng 63.
Khi vọng tƣởng sinh khởi trong tâm mà không
chủ động tiết chế đƣợc nó thì làm sao? Nhận biết đƣợc
nó đang khởi, tâm không duyên theo thì không có cơ
hội để hành động tạo nghiệp qua thân, khẩu, ý. Nên
nói: Biết đƣợc chẳng phải oan gia.
Sau khi biết đƣợc thì sao? Vọng tƣởng khởi lên
rồi diệt đi không có dấu vết. Biết rõ chúng có mặt,
nhƣng là hƣ dối, không có thực thể nên không dính
mắc vào, tâm liền an, tức là an trụ vô sinh.
Nếu công phu miên mật một thời gian vọng tƣởng
dứt bặt, tâm lặng lẽ không khởi niệm; nhƣng đừng
chấp vào cái không tịch cho là chỗ đã đạt và an trụ nơi
ấy (là nƣớc chết) khiến tâm chìm lịm ở nơi tịch lặng,
lấp bít con đƣờng trí tuệ (rồng) viên thông. Chính việc
này mà Tổ Bồ Đề Đạt Ma đã gạn hỏi lại khi Ngài Huệ
Khả nói:
- Tâm con bặt hết các duyên.
Tổ Bồ Đề Đạt Ma bảo:
- Coi chừng rơi vào không?
Huệ Khả nói:
- Con rõ ràng thƣờng biết.
63 “ Khi giặc nhà… lão Tăng” Nhặt lá ồ ề, trang 364, 365 - Hòa thƣợng
Thích Thanh Từ.
78
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
Tổ Bồ Đề Đạt Ma bảo:
- Đây là chỗ các chƣ Phật hộ niệm.
Thế nào là nƣớc chết chứa rồng? Dậy mòi mà
chẳng thành sóng. Là chỗ rõ ràng thường iết mà Tổ
Bồ Đề Đạt Ma đã ấn chứng cho Ngài Huệ Khả.
Bỗng khi đầm nghiêng núi đổ thì sao? Dù cho trời
đất có nghiêng, có đổ, ta vẫn an nhiên không lo sợ.
Sống trong cái sinh diệt mà tâm vẫn tự tại, không dính
mắc; nhƣ kẻ vào rừng mà không động lá, đi qua tất cả
mà không lƣu lại dấu vết, nên bảo: Chớ nói ƣớt áo cà
sa của lão Tăng là vậy đó.
79
Đức Thanh
CÁC LOÀI CHÚNG SINH LÀ
CÕI PHẬT CỦA BỒ TÁT
Kinh Duy Ma Cật, Phật dạy Bảo Tích rằng: “Các
loài chúng sinh là cõi Phật của Bồ Tát. Tại sao vậy? Bồ
Tát tùy theo chỗ giáo hóa chúng sinh mà giữ lấy cõi
Phật. Tùy theo chỗ điều phục chúng sinh mà giữ lấy
cõi Phật. Tùy các chúng sinh muốn dùng cõi nƣớc nào
để vào trí huệ Phật mà giữ lấy cõi Phật. Tùy các chúng
sinh muốn dùng cõi nƣớc nào để phát khởi căn Bồ Tát
mà giữ lấy cõi Phật. Tại sao vậy? Bồ Tát giữ lấy cõi
nƣớc thanh tịnh là vì muốn làm lợi ích cho chúng sinh.
Tỉ nhƣ ngƣời ta muốn tạo lập cung điện nhà cửa trên
đất trống thì tùy ý mà tạo lập, không chi trở ngại.
Nhƣng nếu muốn xây cất nơi hƣ không thì không thể
đƣợc. Bồ Tát cũng vậy, vì muốn giúp cho chúng sinh
đƣợc thành tựu, cho nên nguyện giữ lấy cõi Phật. Việc
nguyện giữ lấy cõi Phật đó, chẳng phải là việc xây cất
nơi hƣ không”. 64
Các loài chúng sinh, theo Kinh Kim Cang có chín
loài:
- Loài sinh bằng trứng nhƣ gà, vịt chim chóc…
Kinh Lăng Nghiêm nói noãn sinh do tưởng mà ến.
- Loài sinh bằng thai nhƣ trâu, bò… Kinh Lăng
Nghiêm nói thai sinh do m t niệm khởi dục tình mà có.
- Loài sinh nơi ẩm ƣớt nhƣ muối dƣa có giòi, gạo
để ẩm ƣớt sinh mọt, (nƣơng nơi có khí ẩm thấp)…
64 “Các loài… hƣ không” Kinh Duy Ma Cật, trang 22 - Đoàn Trung Còn dịch.
80
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
Kinh Lăng Nghiêm nói thấp sinh do m t niệm luyến ái,
ứng với hiệp mà vào.
- Loài sinh do biến hóa nhƣ lăng quăng biến thành
con muỗi, những ngƣời sinh về địa ngục… Kinh Lăng
Nghiêm nói hóa sinh do m t niệm ch t iến ổi, ứng
với ly mà sinh (bỏ đây, tới kia). Noãn, thai, thấp, hóa
sinh đều lấy cái định nghiệp mà tƣơng cảm nhau, cho
nên cái định báo của chúng sinh cũng tùy theo chỗ mà
cảm mà ứng. Tình, tƣởng, hiệp, ly bốn thứ ấy vốn
không có nhất định, hoặc tình biến thành tƣởng, hiệp
biến thành ly, hoặc ngƣợc lại. Vậy tùy nghiệp thọ báo,
cũng có thứ bay mà trở thành lặn, có thứ lặn mà trở
thành bay.
- Loài sinh có hình sắc nhƣ các vị sinh về cõi trời
sắc giới, cõi trời này không có hình tƣớng nam nữ
riêng… Kinh Lăng Nghiêm nói do m t niệm khởi quán
là vào cõi sắc.
- Loài không hình sắc nhƣ chúng sinh cõi trời vô
sắc, các vị cõi trời sắc giới nghĩ mình có hình sắc sẽ bị
ràng buộc nên tu tứ không định để đƣợc sinh về cõi vô
sắc… Kinh Lăng Nghiêm nói do m t niệm lờ mờ mà
vào cõi vô sắc.
- Loài có tƣởng là chúng sinh cõi trời vô sắc nhƣ
không vô biên xứ, thức vô biên xứ cũng còn có
tƣởng… Kinh Lăng Nghiêm nói do m t niệm duyên với
cảnh mà vào có tưởng.
- Loài vô tƣởng là chúng sinh cõi trời vô tƣởng,
các vị tu dùng sức định để đè bẹp tƣ tƣởng thì nó tạm
81
Đức Thanh
dừng, qua thời gian cũng sinh trở lại… Kinh Lăng
Nghiêm nói do m t niệm ngu ngơ mà vào.
- Loài chẳng phải có tƣởng, chẳng phải không
tƣởng, là chỉ cho chúng sinh trời phi phi tƣởng. Cõi
này giống nhƣ không có tƣởng, nhƣng vẫn còn tƣởng
vi tế. Kinh Lăng Nghiêm nói do m t niệm mà thầm
thầm phân iệt ên trong là phi phi tưởng.
Cõi là nơi, xứ; Phật là giác ngộ viên mãn; Bồ Tát
là phần giác (hay giác từng phần).
Nói “Các loài chúng sinh là cõi Phật của Bồ Tát”.
Có thể hiểu các loài chúng sinh là cái nơi, là môi trƣờng
để các vị Bồ Tát thực hành tu tập giác ngộ viên mãn. Bồ
Tát là ngƣời sống hòa nhập vào đời thƣờng để độ sinh,
những lúc cần tiếp cận môi trƣờng ô uế với mục đích
giáo hóa thì họ vẫn không ngại.
Một nhà sƣ đã sống trong tù để giúp đ các tù nhân.
Vì ông có hạnh kiểm rất là mẫu mực, ngƣời ta thả ông ra.
Thế là ông phạm những tội mới để vào tù lại. Cuối cùng
không còn tù nhân nào nữa, trừ ông. Cũng có một thiền
sƣ suốt đời làm kế toán viên cho kỹ viện của các nghệ
giả. Sau đó các nghệ giả đã trở thành nữ tu (cũng có thể
vài nữ tu trở thành nghệ giả… sử sách không nói chuyện
này). Ông thuyết giáo cho tất cả những ngƣời đàn ông lui
tới kỹ viện này. Những ngƣời đàn ông đã hoàn toàn thay
đổi và nhiều ngƣời đã trở thành tu sĩ. Đó cũng là mục
đích của Bồ Tát. 65
65 “Một nhà sƣ… Bồ Tát” Hỏi Thiền, trang 50 - Thái Tiên Đệ Tử Hoàn - Lê
Thanh Lộc dịch.
82
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
Thế là tùy nơi căn cơ, tập tục, văn hóa từng địa
phƣơng, từng quốc gia mà giáo hóa. Tùy theo nội dung
cần điều phục cái sai lầm gì của chúng sinh mà chọn
phƣơng thức giáo hóa. Tùy theo đặc điểm chúng sinh
yêu thích cõi Ta bà hay cõi nƣớc Tịnh độ mà Bồ Tát
ứng xử, thị hiện cho phù hợp để chúng sinh dễ ngộ
nhập tri kiến Phật.
- Trong phẩm Quán chúng sinh, Xá Lợi Phất hỏi
Thiên nữ: “Đối với ba thừa, chí của cô cầu thừa nào?”
Thiên nữ nói: “Nếu cần đem pháp Thanh Văn mà giáo
hóa chúng sinh, thì tôi làm Thanh Văn. Nếu cần đem
pháp Duyên Giác để giáo hóa chúng sinh, thì tôi làm
Bích Chi Phật. Nếu cần pháp đại bi mà giáo hóa chúng
sinh, thì tôi thực hành Đại thừa. Xá Lợi Phất! Nhƣ ngƣời
vào rừng Chiêm-bặc chỉ ngửi thấy mùi hoa Chiêm-bặc
mà thôi, chẳng ngửi thấy mùi thơm nào khác. Cũng vậy,
hôm nay ngƣời vào thất này chỉ nghe hƣơng thơm công
đức của Phật mà thôi, chứ chẳng thích nghe hƣơng thơm
công đức của Thanh Văn và Bích Chi Phật.” 66
- Việc giáo hóa chúng sinh, ứng hợp với căn cơ ý
thích của mỗi loài, mỗi cõi mà có những cách thức làm
Phật sự khác nhau:
Có cõi Phật dùng ánh sáng quang minh của Phật mà
làm Phật sự, có cõi dùng Bồ Tát mà làm Phật sự. Có cõi
dùng ngƣời biến hóa của Phật mà làm Phật sự. Có cõi
dùng cây Bồ đề mà làm Phật sự. Có cõi dùng y phục của
66 “Đối với… Bích Chi Phật” Kinh Duy Ma Cật, trang 123, 124 - Đoàn Trung
Còn dịch.
83
Đức Thanh
Phật mà làm Phật sự. Có cõi dùng vƣờn hoa, rừng cây,
đền đài mà làm Phật sự…. 67
Có cõi dùng cơm và đồ ăn của Phật mà làm Phật
sự,… Nhƣ trong phẩm hật Hương Tích khi ngài Duy
Ma Cật hỏi chƣ Bồ Tát nƣớc Chúng Hƣơng rằng: “Đức
Nhƣ Lai Hƣơng Tích thuyết pháp bằng cách nào?” Chƣ
Bồ Tát đáp: “Đức Nhƣ Lai chúng con không thuyết pháp
bằng văn tự nhƣ cõi Ta bà này. Ngài chỉ dùng mùi thơm
làm cho chƣ thiên và ngƣời ta đắc nhập luật hạnh. Bồ Tát
mỗi vị đều ngồi ngay cội cây thơm, nghe mùi thơm vi
diệu kia, liền thành tựu hết thảy các pháp tam muội Đức
tạng. Đƣợc các phép tam muội ấy rồi thì hết thảy những
công đức của hàng Bồ Tát đều tự nhiên đầy đủ.” 68
Do chúng sinh có cầu mà có cảm ứng để độ sinh,
nhƣng về mặt bản thể Bồ Tát thấy chúng sinh là nhƣ
huyễn hóa:
“Tuy iết rằng các nước hật,
Với chúng sinh ều là không
Nhưng thường tu môn Tịnh ,
Siêng giáo hóa khắp quần sinh
……………………………….
Trong kiếp nếu có ệnh dịch,
Người hiện làm các thảo dư c,
Như k ệnh u ng thu c ấy,
Bệnh liền dứt, tiêu các c.
Nếu trong kiếp có ói kém,
67 “Có cõi… Phật sự…” Kinh Duy Ma Cật, trang 177 - Đoàn Trung Còn dịch.
68 “Đức Nhƣ Lai… đầy đủ” Kinh Duy Ma Cật, trang 166 - Đoàn Trung Còn
dịch.
84
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
Hiện thân làm món ăn u ng,
Trước cứu những k ói khát,
Kế ến em pháp d y chúng nhân.
Trong kiếp có những inh ao,
Vì ó Người khởi từ i,
Hóa những chúng sinh ấy,
Khiến họ trụ cảnh không tranh.
Nếu xảy ra trận i chiến,
Đứng lên dùng sức ình ẳng,
Bồ Tát hiện ra oai thế,
Hàng phục chúng, khiến yên h a.
Hết thảy ở trong cõi nước,
Những nơi nào có ịa ngục,
Người liền ến các ch n ấy,
Cứu giúp khỏi mọi sự khổ não.
Hết thảy khắp trong cõi nước,
Súc sinh ăn thịt lẫn nhau
Người thị hiện sinh nơi ó,
Làm l i ích cho h ng ấy.
Người thị hiện thọ năm dục,
L i c ng thị hiện hành thiền,
Làm cho l ng ma r i lo n,
Chúng chẳng ư c ề tiện l i.
Trong lửa sinh ra hoa sen,
Đó gọi là việc ít có,
85
Đức Thanh
T i năm dục mà hành thiền,
L i c ng là việc ít có.
Hoặc thị hiện làm dâm nữ,
Dẫn dụ những k háo sắc,
Trước em dục mà dẫn dắt
Sau khiến họ vào hật trí.
Hoặc thị hiện làm chúa thành ấp,
Hoặc hiện làm chủ oàn uôn,
Làm qu c sư, làm i thần
Để làm l i ích cho chúng sinh.
Đ i với những k ần cùng,
Thị hiện làm kho vô tận,
Nhân ó èn khuyên dắt họ,
Khiến họ phát tâm Bồ ề.
Với k ngã m n kêu căng,
Thị hiện làm i lực sĩ,
Khuất phục những k c ng cao,
Khiến trụ vào vô thư ng o.
Nếu có những k s sệt,
Đ i diện họ, Người an ủi,
Trước thí cho họ sự yên ổn,
Sau khiến họ phát o tâm.
Hoặc thị hiện lìa dâm dục,
Làm vị tiên nhân năm thông,
Mở mang dẫn dắt quần sinh,
Khiến họ trụ giới, nhẫn, từ.
86
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
Nếu ai cần k cung phụng,
Người thị hiện làm tôi tớ,
Khi ã làm vừa ý chủ,
Bèn khiến phát khởi o tâm.
Như ai mu n ủ ồ dùng,
Mới chịu ắc nhập hật o,
Người dùng sức phương tiện khéo,
Cấp cho họ ầy ủ món cần.
Đ o vô thư ng là như vậy,
Sở hành ao la không ến,
Trí huệ r ng rãi không ờ,
Đ thoát vô s chúng sinh.
Ví như tất cả các chư hật,
Trải qua vô s ức kiếp,
Ng i khen công ức của Người,
C ng không thể ày tỏ hết.
i nghe ư c pháp như vậy,
Mà chẳng phát tâm Bồ ề
Trừ ra những k xuẩn ng c,
Si mê không có trí huệ.” 69
Nói cách khác các loài chúng sinh là mảnh đất để
hạt giống giác ngộ của Bồ Tát (hữu tình giác) đƣợc nẩy
mầm, đơm hoa, kết trái. Cũng nhƣ việc muốn có đóa hoa
69 “Tuy biết rằng các cõi Phật … Si mê không có trí huệ.” Kinh Duy Ma Cật,
trang 141 đến trang 146 - Đoàn Trung Còn dịch.
87
Đức Thanh
sen đẹp, thơm ngát thì phải trồng nơi đất bùn, chứ không
thể trồng trên gò cao đƣợc. Nói độ sinh vì ngƣời, nhƣng
khi thực hành các việc lành cũng chính là thành tựu công
hạnh cho mình. Bồ Tát lấy chúng sinh làm công hạnh tu
tập, không rời bỏ chúng sinh mà thành tựu đƣợc chúng
sinh, tức là thành tựu đƣợc cõi nƣớc Tịnh độ. Tại sao? Vì
“Tất cả các phiền não là hạt giống Nhƣ Lai. Cũng nhƣ
không lặn xuống biển sâu thì không thể đặng châu báu
vô giá. Cũng vậy, nếu không vào biển phiền não, tất
không thể đƣợc của báu là cái Trí biết tất cả.” 70
Tôi tập vận dụng lời dạy này của Phật, khi tiếp xúc
với chúng sinh, nếu gặp phải phiền não liền nhớ câu thần
chú: “Các loài chúng sinh là cõi Phật của Bồ Tát” để tự
độ mình.
Kế đến Phật dạy: Trực tâm, thâm tâm, bồ đề tâm là
Tịnh độ của Bồ Tát, sáu pháp ba la mật, bốn vô lƣợng
tâm, bốn nhiếp pháp, ba mƣơi bảy trợ đạo phẩm, mƣời
điều lành v.v… đều là Tịnh độ của Bồ Tát. Bồ Tát muốn
đƣợc cõi nƣớc thanh tịnh nên làm cho tâm thanh tịnh, tùy
theo tâm thanh tịnh mà cõi Phật thanh tịnh.
Xá Lợi Phất nghĩ rằng tâm của Phật thanh tịnh,
tại sao cõi Ta bà của ngài toàn là hầm hố, chông gai,
nhơ nhớp thế này. Phật biết tâm niệm ấy, liền bảo:
“Mặt trời, mặt trăng há không sáng chăng. Tại sao
ngƣời mù lại không thấy? Cũng thế, chúng sinh do
tội chƣớng, nên không thấy thế giới của Nhƣ Lai
thanh tịnh trang nghiêm”.
70 “Tất cả các… tất cả” Kinh Duy Ma Cật, trang 136 - Đoàn Trung Còn dịch.
88
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
Loa Kế Phạm Vƣơng trả lời Xá Lợi Phất rằng ông
thấy nƣớc của Phật Thích Ca thanh tịnh nhƣ cung trời Tự
Tại. Khi ấy Phật ấn ngón chân xuống đất, tức thì cõi tam
thiên đại thiên thế giới hiện ra trăm ngàn trân bảo trang
nghiêm rực r . 71
Xá Lợi Phất trong lúc tu tứ niệm xứ, tứ chánh cần,
tứ nhƣ ý túc quan sát trần thế đầy tội lỗi đáng chán, đáng
bỏ. Ấn tƣợng xấu tràn ngập trong tâm ngài, nên nhìn
cuộc đời chỉ thấy toàn chông gai hầm hố là chúng sinh,
chúng sinh nghiệp, chúng sinh phiền não. Quán sát nhƣ
vậy hàng Thanh văn không dám nhìn, không dám nghĩ,
không dám đi vào trần thế, chỉ thu mình lại trong Niết
bàn. Ngƣợc lại, Loa Kế Phạm Thiên có óc sáng tạo, là
đấng tạo hóa nên thấy vạn vật xanh tƣơi theo bốn mùa.
Dƣới nhãn quan của Đại Phạm Thiên Vƣơng, vạn vật là
thiên đƣờng. 72
Phật lấy ngón chân ấn xuống mặt đất là để thay đổi
cái nhận thức của chúng ta, chứ không phải thay đổi
tƣớng trạng của thế giới. Nhận thức đó đƣợc đại diện
bằng nhận thức của Xá Lợi phất.73
Tức là Phật không can thiệp vào tƣớng trạng của thế
giới, mà Phật muốn làm thay đổi nhận thức của chúng ta
về thế giới. Bằng cách cho nƣơng theo thần lực của chƣ
71 “Phật dạy… rực r ” Kinh Duy Ma Cật, trang 32, 33 - Hòa thƣợng Thích Trí
Quảng giảng.
72 “Xá Lợi Phất... thiên đƣờng” Kinh Duy Ma Cật, trang 86 - Hòa thƣợng
Thích Trí Quảng.
73 “Phật lấy… Xá Lợi Phất” Bồ Tát t i gia, trang 72 - Thiền sƣ Nhất Hạnh.
89
Đức Thanh
Phật để tâm ta thức tỉnh, trực nhận đƣợc cái thực tại hiện
tiền nhiệm mầu của thế giới hiện tại.
Nhƣ trong Kinh háp Hoa, khi tháp Phật Đa Bảo
hiện ra, các đệ tử muốn thỉnh Phật Thích Ca mở cửa tháp
Phật Đa Bảo để thấy chân thân của Phật. Phật Thích Ca
nói: “Phật Đa Bảo có nguyện: Sau này dù ở đâu nếu Đức
Phật nào nói Kinh Pháp Hoa thì tháp của Ngài sẽ hiện ra,
và vị Phật nào muốn mở cửa tháp để thấy chân thân Phật
thì phải thu hồi tất cả các hóa Phật của Phật ấy khắp nơi
về một chỗ”. Sau đó, Đức Phật Thích Ca thu hồi hết các
hóa Phật của Ngài. Khi ấy, cõi Ta bà đƣợc kết bằng lƣu
ly, dây vàng giăng ngang đƣờng, trang nghiêm tốt đẹp.
Đất đá lồi lõm, xấu xí đƣợc dời đi nơi khác… trở thành
Tịnh độ. 74
Vậy là, nếu tâm chúng ta rỗng rang, sáng suốt,
không có niệm đối đãi nhƣ phân biệt đẹp-xấu, nhơ-sạch,
cao-thấp… Tâm thức tỉnh trên cái hiện tiền, thì nơi nào
cũng là Bồ đề, cảnh nào cũng là cảnh Phật. Nên biết, một
hòn sỏi thả xuống biển cũng làm chấn động cả một vùng,
một tiếng vỗ tay cũng làm phát sinh ra một chấn động
nhỏ ở không trung và chuyển ngay đến khắp các tinh tú ở
xa xôi. Một tâm cảm, một tác ý của của ta thì làm sao
không phát sinh một khuynh hƣớng, một năng lực ảnh
hƣởng đến loài hữu tình cho đƣợc. Để dễ hiểu, ta có thể
hình dung pháp giới tánh giống nhƣ môi trƣờng không
gian (thể) mà chúng ta sinh sống, do duyên khởi mà có
74 “Nhƣ trong… Tịnh độ” Con ường giác ng , trang 105 - Hòa thƣợng
Thích Thông Phƣơng.
90
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
sum la vạn tƣợng, trần lao vọng tƣởng, thiên hình vạn
trạng (tướng) trong không gian này.
Nhƣ có ngƣời không có ý thức bảo vệ bầu không
khí trong lành, thải khí độc hại vào môi trƣờng không
gian làm ảnh hƣởng đến sức khỏe con ngƣời. Rồi đến
những vọng niệm nhƣ tham, sân, si, nghi, mạn, tà kiến…
tuy không hình tƣớng nhƣng chúng có tác động nhƣ một
năng lực làm tâm lý con ngƣời trong xã hội thấy bất an.
Hai trạng thái ô nhiễm này đều hiện hữu trong môi
trƣờng sống, một cái tác dụng đến thân có thể thấy
đƣợc, một cái đến tâm, không thể thấy bằng mắt đƣợc.
Nếu có một ngƣời ý thức đƣợc sự tác hại, không đồng
hành với các ngƣời kia trong việc thải khí độc thì môi
trƣờng sẽ trong lành hơn. Cũng vậy, khi có một tƣ tƣởng
thanh cao, mặc dù vô hình nhƣng nó góp phần làm giảm
thiểu tình trạng ô nhiểm về mặt tinh thần. Điều này ta có
thể cảm nhận đƣợc khi ở gần một ngƣời lƣơng thiện,
một bậc chân tu ta cảm thấy an lạc hơn khi ở gần một
ngƣời bất thiện.
Đối với ngƣời tu Thiền, khi dứt tâm vọng, thấy sắc-
không bình đẳng, thì mỗi niệm là độ sinh, nhƣng không
thấy có chúng sinh nào để độ. Bởi vì, tất cả hành động
của các vị đều xuất phát từ thể tâm thanh tịnh, mỗi việc
làm đều khế hợp với bản thể của vũ trụ này. Nhƣ một vị
đã chứng A la hán, tuy nói là hạnh tự độ, nhƣng những tƣ
tƣởng, tác phong đạo đức, giọng nói, lời kinh mà các vị
đọc tụng hằng ngày có một năng lực mạnh mẽ trong việc
cảm hóa ngƣời đời. Sự có mặt của các vị trên đời này
mang lại lợi ích rất lớn cho nhân loại về mặt bản thể.
91
Đức Thanh
Hay nói cách khác, các vị có một vai trò lớn trong việc
tịnh hóa khí thế gian (là tất sự vật, hiện tƣợng của vũ trụ
nhƣ: núi, sông, đất đai,…)
Đối với ngƣời tu Tịnh độ, niệm Phật theo lý trì, khi
không còn vọng tâm, thấy sắc-không bình đẳng nhƣ một
thì tâm cầu Phật, nhƣng chẳng có Phật quả để cầu. Mỗi
câu A Di Đà Phật chính là niệm cái tự tánh vô lƣợng thọ,
vô lƣợng quang của mình. Khi nào đạt đƣợc đến trạng
thái nhất tâm bất loạn sẽ thấy tự tánh Di Đà của mình và
tự tánh Di Đà của Phật A Di Đà là một. Một điều lợi lạc
trƣớc mắt là mỗi câu niệm A Di Đà Phật mà không có
loạn tƣởng sẽ góp phần tịnh hóa những thứ ô trƣợc của
thế gian này. Góp phần mang lại nguồn sống an lạc, hạnh
phúc cho loài ngƣời. Kinh nói:
“M t câu niệm hật t i diệt hằng sa
Lễ hật m t l y phước sinh vô lư ng.”
Nên biết, mọi phƣơng pháp tu tập làm cho tâm
thanh tịnh, trƣớc tiên độ mình và sau đó góp phần vào
việc tịnh hóa những tập nghiệp xấu của nhân loại trên
hành tinh này. Cũng nhƣ ta biết thanh lọc, bảo vệ môi
trƣờng sống cho mình, thì cũng là cho mọi ngƣời. Thế
nên Phật kết luận:
“Tùy tâm thanh tịnh, ắt cõi hật thanh tịnh.”
92
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
TA LÀ GÌ? TA TỪ ĐÂU ĐẾN?
CHẾT ĐI VỀ ĐÂU?
*Ta là gì?
Cái mà ngƣời đời thƣờng gọi là Ta, rồi xem nhƣ
là một chủ thể độc lập thƣờng còn; thật ra nó là một
hợp thể gồm có phần sinh lý và phần tâm lý trong đó.
Phần sinh lý (sắc chất hay thân): Thân thể của ta
gồm thể đặc nhƣ da thịt, xƣơng; thể lỏng nhƣ nƣớc
mắt, mồ hôi, máu, tân dịch; thể động nhƣ hơi thở…;
thể nhiệt nhƣ sức nóng trong cơ thể. Trong Phật học
gọi chung là tứ đại: đất, nƣớc, gió, lửa.
Phần tâm lý: Gọi là tâm của ta nghe có vẻ độc
lập, thật ra nó là những khái niệm, những ƣớc mơ,
những kỹ năng, những tri giác suy tƣởng, những tình
cảm vui mừng (hỷ), giận (nộ), buồn bực (ai), lạc
quan (lạc), yêu thƣơng (ái), ghét (ố), ham muốn
(dục). Trong Phật học chia những thứ ấy thành bốn
nhóm: thọ, tƣởng, hành, thức.
Tổng hợp hai phần này lại gọi là ngũ uẩn, tức là
sắc, thọ, tƣởng, hành, thức. Uẩn nghĩa là chứa, hay tích
tụ, nhƣ sắc uẩn chứa nhóm tứ đại, thọ uẩn chứa sáu
cảm thọ của căn, thức uẩn chứa sáu thức phân biệt của
căn,… Năm uẩn này do duyên hợp giả có, nó không có
tự tính cố định, nên ta nói nó là không, là vô ngã.
Con ngƣời vọng chấp thân-tâm này là thƣờng còn
và có chủ tể là vô minh, thí dụ tôi muốn thân này tồn
tại vĩnh viễn có đƣợc không? Muốn nó không bị bệnh
có đƣợc không? Còn về mặt tâm lý, tƣ tƣởng của tôi
93
Đức Thanh
thay đổi liên tục, hết niệm này tới niệm khác nhƣ
những lƣợn sóng nhấp nhô trên biển, muốn nó không
suy nghĩ có đƣợc không? Nếu nói thân-tâm này là Ta,
thì tại sao Ta không làm chủ đƣợc nó? Vậy nó đâu phải
là Ta, nó không có chủ tể và thƣờng còn.
Thực sự, cái gọi là Ta ở đây chẳng qua là sự liên
kết của tứ đại với một bó tƣ tƣởng, khái niệm, tình cảm
đƣợc huân tập từ đời sống kiếp trƣớc đó mang lại,
thông qua tinh cha huyết mẹ để hiện hữu trong bào
thai. Nó là tập hợp của nhiều duyên nên nó không có tự
tánh cố định, hay nói nó không có chủ tể. Khi đủ duyên
nó hiện, khi không đủ duyên nó tan rã, nên nói nó
không thƣờng còn. Cái Ta này là vô ngã! Nhƣng con
ngƣời vẫn nhận cái tổ hợp: sắc, thọ, tƣởng, hành, thức
là cái Ta và đồng hóa nó chính là tâm mình.
*Ta từ đâu đến?
+ Trong Kinh Viên Giác Phật dạy: “Này thiện
nam, tất cả chúng sinh từ vô thủy do các thứ ân ái tham
dục nên có luân hồi. Tất cả chủng tánh trong thế giới
nhƣ noãn sinh, thai sinh, thấp sinh, hóa sinh đều nhân
dâm dục mà có thân mạng. Nên biết sự luân hồi, ái dục
là cội gốc. Do có dục phát sinh tánh ái, thế nên khiến
cho sinh tử nối tiếp.” 75
Chúng sinh do tham dục mà có sinh tử luân hồi.
Ái ngã tức là yêu mình, bởi yêu mình nên bỏ thân này
muốn tạo thân khác, bởi yêu mình nên mới có những
75 “Này thiện… nối tiếp” Kinh viên giác, trang 114,115 - Hòa thƣợng Thích
Thanh Từ giảng.
94
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
tham dục khác nhƣ: muốn cho thân này đẹp, muốn thân
đƣợc cảm thọ êm ái, khoái lạc… Do ái ngã rồi giúp cho
dục phát sinh; dục phát sinh trợ phát lại cho tánh ái.
“Dục nhân ái sinh, thân mạng nhân nơi dục mà có.
Chúng sinh ái thân mạng, lại y nơi dục làm gốc, ái dục
là nhân, ái mạng là quả.” 76
Dục nhân ái mà có, dục từ ái sinh ra, ái là yêu
mến, bởi yêu mến mới có dục. Nhân dục mà có sinh
mạng, khi có sinh mạng rồi lại ái thân. Bởi ái thân nên
muốn thân này đƣợc ăn ngon mặc đẹp, muốn thân này
đƣợc ngƣời ta khen,… Từ việc ái thân, tâm bám víu,
muốn chiếm giữ những đối tƣợng mà nó yêu thích,
nhằm thỏa mãn nhu cầu cho thân gọi là thủ (nắm giữ).
Bởi tâm muốn chiếm giữ nên phải dùng tất cả biện
pháp, bất chấp thiện ác, ra tay hành động, tạo nghiệp,
thực hiện ý muốn chiếm giữ đó gọi là hữu. Cái hữu này
là hành vi tạo nghiệp thiện ác trong hiện tại, chủng tử
tạo nghiệp này lại đƣợc huân tập thêm vào tàng thức
(A lại da Thức).
Tàng thức là cái nơi lƣu trữ toàn bộ chủng tử của
một dòng tâm thức. Chủng tử này có thể là những hạt
giống nhận thức, tâm lý, ƣớc mơ, kỹ năng,… có đƣợc
từ nhiều kiếp sống trƣớc hoặc đời sống hiện tại (tức là
từ hữu đã nêu trên). Do đặc tính của Mạt na Thức là
ngã ái chấp Tàng; từ đó chấp lấy cái kho chứa chủng tử
này làm tự tính riêng biệt, chấp nó là tự ngã, là cái Ta
76 “Dục nhân ái… là quả” Kinh Viên Giác, trang 116 - Hòa thƣợng Thích
Thanh Từ giảng.
95
Đức Thanh
của mình (Cũng nhƣ thấy kho chứa vàng, liền chấp
mình là vàng).
Dòng tâm thức chứa đựng cái Ta ngã chấp (A lại
da Thức và Mạt na Thức) không mất đi khi thân này
bị hoại, khi tái sinh vào thân khác nó vẫn còn đó. Đợi
đủ duyên để hiện hành, giúp ta trải nghiệm đời sống
mới, cái đời sống mà chính tâm ta đã huân tập trƣớc
đó cho nó.
Thiền sƣ Tổ Nguyên nói: “Kẻ phàm phu suốt
ngày cứ chạy đuổi theo tình thức mà kết nghiệp hoặc
thiện hoặc ác, rồi theo nhân đã tạo mà cảm quả. Đến
lúc lâm chung, thấy cõi đất tối đen, lúc ấy thần thức
gặp đƣợc chỗ có duyên, thấy một đốm sáng, chạy đến
thấy cha mẹ hai tƣớng giao cấu, bèn khởi ra ý tƣởng
yêu ghét, dồn cái tƣởng ấy, rồi nhẩy vào hai giọt nƣớc
đỏ trắng, giống nhƣ đá nam châm hút sắt. Trong chớp
mắt những khuấy động kia dừng lại, bây giờ ở trong
thai lần lƣợt trải qua năm giai đoạn:
Bảy ngày đầu gọi là tạp uế. Bấy giờ tinh cha và
huyết mẹ lắng lại nhƣ váng sữa mỏng, cùng hòa hợp
với nhau gọi là tạp, chẳng sạch gọi là uế. Bảy ngày thứ
hai gọi là thƣơng bào, giống nhƣ huyễn đậu. Hình dáng
của thƣơng bào nhƣ sữa gần đặc, nhƣng mà chƣa sinh
ra máu. Bảy ngày thứ ba gọi là ngƣng kết, lần đầu có
dáng ngƣng đọng lại nhƣ có máu. Bảy ngày thứ tƣ gọi
là ngƣng hậu, lần lƣợt cứng chắc, năm tạng lần lần
sanh. Bảy ngày thứ năm gọi là hình vị, lúc bấy giờ gió
bên trong thổi nên sinh ra hình dáng của các căn: một
thân mình và tứ chi sai khác, bảy ngày thứ năm ngũ
96
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
căn đều đủ. Bảy ngày thứ sáu gọi là “phát trảo xỉ” (tóc
răng đều mọc). Bảy ngày thứ bảy gọi là các cụ căn (các
căn hoàn toàn đầy đủ), tất cả tạng phủ và ngũ căn đều
xong xuôi. Đủ mƣời tháng ra khỏi thai là ngƣời, ở
trong sự ràng buộc của thức tình, phân thành sáu công
dụng, thấy nghe hiểu biết tùy theo cảnh mà tạo nghiệp,
sinh tử tiếp nối xoay vần không dừng.” 77
*Chết đi về đâu?
Ông Thƣợng Thƣ hỏi thiền sƣ Khuê Phong Tông
Mật: “Ngƣời ngộ lý dứt vọng, không còn tạo nghiệp
một phen khi mệnh chung, linh tánh nƣơng vào đâu?”
Sƣ đáp: “Tất cả chúng sinh đều có tánh giác ngộ
sáng suốt (giác minh), linh tánh ấy nó sáng suốt vắng
lặng cùng Phật không khác. Chỉ do từ kiếp vô thỉ đến
nay chƣa từng liễu ngộ, vọng chấp thân là tƣớng ngã
(Ta) nên sinh tình yêu ghét… Theo tình tạo nghiệp,
tùy nghiệp thọ báo sinh, già, bệnh, chết luân hồi trong
nhiều kiếp. Song tánh giác trong thân chƣa từng sinh
tử, nhƣ ngƣời nằm mộng thấy bị đổi chỗ, mà thân vốn
nằm yên. Nhƣ nƣớc đặc thành băng mà tánh ƣớc vẫn
không đổi. Nếu hay ngộ đƣợc tánh này tức là pháp
thân vốn tự vô sinh, đâu cần nƣơng gá? Tánh giác ấy
nó sáng suốt chẳng mê, rõ ràng thƣờng biết, không từ
đâu đến, mà cũng không đi về đâu. Song do vọng chấp
nhiều đời, thói quen thành tánh mừng, giận, buồn, vui,
nó lƣu trú rất nhỏ nhiệm. Đối với chân lý mặc dù
77 “Kẻ phàm phu… không dừng” V n pháp quy tâm lục, trang 92, 93 - Hòa
thƣợng Thích Đắc Pháp dịch.
97
Đức Thanh
chóng đạt, nhƣng tình này (tâm phàm) khó dứt trừ
ngay. Vì vậy phải thƣờng giác ngộ và chiếu soi lại nó
(giác sát) để nó tổn giảm dần dần, nhƣ gió tạm dừng
thì sóng mòi cũng từ từ lặng xuống, đâu thể tu trong
một đời mà đồng với lực dụng của chƣ Phật. Chỉ nên
lấy không tịch làm tự thể, chớ nhận sắc thân, lấy “linh
tri” làm tự tâm, chớ nhận vọng niệm. Vọng niệm nếu
khởi đều chẳng theo nó, thì khi lâm chung tự nhiên
nghiệp chẳng thể lôi cuốn mình đƣợc. Tuy có thân
trung ấm, nhƣng đƣợc tự do lựa chỗ đến hoặc cõi
ngƣời hoặc cõi trời, tùy ý nƣơng gá. Nếu niệm yêu
ghét đã hết thì chẳng chịu thân phần o n sinh tử
(thân phàm phu) tự hay đổi ngắn thành dài, đổi thô
thành diệu. Nếu tất cả niệm vi tế lƣu trú trong tâm đã
vắng lặng, chỉ riêng còn trí tuệ rộng lớn tròn sáng, thì
tùy cơ ứng hiện trăm ngàn ức hóa thân để độ chúng
sinh có duyên, gọi đó là Phật. 78
*Vấn đề vướng mắc
Vô ngã là không có Ta phải không?
- Không có Ta thì ai đi tái sinh?
Tâm đi tái sinh
- Không có Ta thì ai tạo nghiệp, ai chịu quả báo?
Tâm tác ý tạo nghiệp qua thân, khẩu, ý. Khi ngũ
uẩn tan rã, tâm vô minh khát ái, thèm sống nên bị
nghiệp lực dẫn dắt đi tìm một ngũ uẩn khác để tiếp tục
hiện hữu.
78 “Ông Thƣợng Thƣ… là Phật” Vô tướng tụng trang 66-68 - Hòa thƣợng
Thích Phƣớc Hảo dịch.
98
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
- Không có ta vậy ai tu, ai giải thoát?
Khi tâm biết đạo, hiểu đạo tu tập loại trừ tà kiến,
chấp ngã, ái dục thì tâm giải thoát. ”Do nhƣ thật quán
với chánh trí tuệ nhƣ vậy, tâm ly tham, đƣợc giải thoát,
không có chấp thủ các lậu hoặc”.
- Không có ta thì ai vãng sinh Cực lạc?
Do tâm chuyên cần niệm Phật, nhớ tƣởng Phật,
đến khi ngũ uẩn tan rã, tâm vãng sinh về Cực lạc. Nói
theo Duy thức học thì những chủng tử A lại da Thức
biến hiện ra một thân chánh báo và một cảnh y báo
tƣơng ứng với cảnh Cực lạc.
- Vô ngã ai chứng A la hán? Ai thành Phật? Ai
nhập Niết bàn?
Khi tâm không còn chấp ngã, bao nhiêu ô nhiễm
ái dục đƣợc diệt trừ thì tâm đó chứng A la hán. Tâm vô
ngã và thành tựu vô lƣợng công đức thì tâm đó thành
Phật. Tâm vô ngã là Niết bàn chứ không có ai nhập
Niết bàn. Các vị A la hán khi chứng quả, thân vẫn là
thân cũ, nhƣng tâm hoàn toàn mới hẳn, trong sạch
không còn chấp ngã, không còn bóng dáng của cái Ta.
Tâm là nền tảng của sinh tử và Niết bàn. Khi tâm mê
mờ vô minh thì gọi là chúng sinh, khi tâm giác ngộ,
giải thoát thì gọi là Phật, Bồ Tát, A la hán. “Tâm, Phật,
chúng sinh, tam vô sai biệt”, tâm, Phật, chúng sinh cả
ba đều không khác. Bởi vì thể tánh của Phật là tâm, thể
tánh của chúng sinh cũng là tâm. Nhƣng vẫn có sự
khác biệt trên phƣơng diện tƣớng và dụng. Tâm Phật là
tâm vô ngã thanh tịnh, dung thông pháp giới, nên hiện
ra báo thân và ứng thân trang nghiêm thần thông tự tại.
99