Đức Thanh
Còn tâm chúng sinh là tâm chấp ngã, ô nhiễm nên hiện
thân trong năm uẩn, phải chịu sinh và bệnh, chết. 79
*Cuối cùng, có cái Ta hay không?
Trong Kinh Niết Bàn Phật thuyết: “Nhƣ Lai
thƣờng trụ chính là chân ngã.”
Trƣớc Phật nói vô ngã để phá cái lầm chấp ngã,
bởi vì là cái ngã hƣ dối dẫn ta đi trong sinh tử luân hồi
mãi. Khi hết sạch cái chấp ngã (tức cái ngã sinh tử), thì
mới chỉ ra cái chân thật là Nhƣ Lai thƣờng trụ. Hiểu
nhƣ vậy thì đƣờng tu của mình không có lầm, tức khi
sạch hết những tình chấp thì cái chân thật liền hiện,
chứ không phải tu buông sạch rồi không còn cái gì hết.
Trong nhà Thiền, có vị tăng đến hỏi thiền sƣ Tào
Sơn Bổn Tịch:
- Thế nào là cây kiếm không mũi?
Sƣ đáp:
- Không có rèn luyện mà thành.
Tức là không do tạo tác. Ông tăng lại hỏi:
- Vậy cái dụng của nó nhƣ thế nào?
- Ai gặp đều chết hết.
Ông tăng hỏi:
- Còn ngƣời không gặp thì sao?
Sƣ đáp:
- Cũng phải rơi đầu.
Vị tăng nghi ngờ liền hỏi:
- Ngƣời hay gặp liền chết là tất nhiên, còn ngƣời
không gặp tại sao cũng phải rơi đầu?
Thiền sƣ đáp:
79 “Không có… bệnh, chết” Tâm và ta, trang 88, 89 – Thầy Thích Trí Siêu.
100
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
- Ông không nghe nói là nó hay s ch tất cả sao?
Ông tăng hỏi:
- Khi sạch hết thì sao?
- Mới biết có cây kiếm này.
Cây kiếm này là kiếm Bát Nhã đó (có-không đều
quét sạch), tức là quét sạch cái tâm phân biệt đối đãi.
Bát nhã phá sạch hết không cho mình dính chấp bất cứ
cái gì. Nhƣng khi sạch hết rồi mới biết có cây kiếm
này, vậy đâu phải không còn gì. 80
Trong Kinh Niết Bàn, đức Phật có dạy bài kệ:
“ Các hành vô thường
Là pháp sinh diệt
Sinh diệt hết rồi
Tịch diệt là vui.” 81
80 “Kinh Niết bàn… còn gì.” Con ường giải thoát, trang 210, 212 - Hòa
thƣợng Thích Thông Phƣơng.
81 “Các hành vô… là vui” Nguồn an l c, trang 70 - Hòa thƣợng Thích Thanh
Từ.
101
Đức Thanh
THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN
*Sự vận hành của mười hai nhân duyên theo
nhân quả ba đời.
Vì không biết con ngƣời và thế giới là do nhân
duyên sinh, là vô thƣờng, là không có tự tánh cố định
nên ngƣời ta ảo tƣởng về một tự ngã thƣờng hằng (là
Vô minh). Cái ảo tƣởng và sự bất giác này quấy động
tâm thức, vọng niệm nổi lên. Rồi nhƣ một cái gì đó rất
vi tế bên trong thôi thúc cho các hành động của thân,
khẩu và ý (là Hành) [đây là duyên quá khứ]. Nghiệp
hành duyên cảm, kéo lôi hức thần gieo vào thai mẹ
với phần tâm lý, vật chất ban đầu (là Danh sắc). Danh
sắc tƣơng ứng với cảnh giới nghiệp ngƣời hay nghiệp
súc sinh,… mà duyên khởi ra sự lãnh nạp sáu căn cho
phù hợp (là c nhậ ). Khi căn và trần gặp g nhau
sinh xúc ( úc). Ra khỏi bụng mẹ sáu căn tiếp xúc với
sáu trần, lãnh thọ tất cả sự khổ vui, tốt xấu... của thế
gian [đây là thọ quả của hiện tại]. Đối với sự thọ dụng
hiện tại, yêu thích (ái) sáu trần, đắm nhiễm năm dục
(thủ), ra sức nắm giữ, rồi tạo tác thiện ác gây nghiệp
hữu (hữu) [là nhân tạo trong hiện tại]. Khi có nghiệp
hữu liền có sinh hữu (sinh). Sinh hữu là một trạng thái
của nghiệp, hay một khuynh hƣớng đƣợc thiết lập
trong tâm thức, có khả năng hiện hành thành nghiệp
quả [là năng lực kết thành quả - là Danh sắc mới trong
đời vị lai]. Trong đời sống ta cứ tiếp tục tạo nghiệp
này, rồi đến nghiệp khác, những chủng tử thiện ác này
huân tập thêm vào tàng thức chờ hiện hành vào đời vị
102
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
lai với sự bắt đầu từ một danh sắc mới. Song song quá
trình tạo tác đó thì cơ thể cũng già yếu đi theo thời
gian. Tức là tiến trình Lão-Tử (tử) xảy ra nhƣ một hệ
quả đƣơng nhiên.
* Tìm hiểu các chi phần trong 12 nhân duyên.
1- Vô minh
Tự tánh của chúng sinh là giác, không phải vô tri
nhƣ cây, nhƣ đá, nên gọi là tánh giác. Tánh giác ấy là
diệu, nghĩa là duyên khởi ra các sự vật. Tánh giác ấy là
minh, nghĩa là nhận biết sự vật. Tánh giác thƣờng diệu
thƣờng minh. Cái diệu của tánh giác luôn luôn là cái
minh, nên gọi tánh giác diệu minh. 82
“Tính giác hẳn là minh mà vọng làm minh giác”
Nghĩa là tánh giác vốn là diệu minh, song tính minh
này chẳng hay tự giữ nên chuyển đổi sinh ra sở. Hoặc
lấy minh làm giác, lấy nghiệp tƣớng làm tự thể của
tánh giác, mất đi cái bản diệu nên nói là vọng. Tánh
giác rất chân nên không phân biệt, trong cái không
phân biệt vắng lặng thƣờng trụ, đó là diệu; trong cái vô
phân biệt mà mờ mịt bất giác, đó là vô minh. 83
Vô minh là một phạm trù khó hiểu, khó diễn đạt
khi muốn hiểu đến cội nguồn của nó. Với bộ óc suy
luận trong thế gian thƣờng nghiệm, ta có thể hiểu vô
minh là không sáng suốt, là mê lầm, không hiểu biết
nhƣ thật về sự vật, hiện tƣợng hiện hữu là do duyên
82 “Tự tánh… minh” Kinh Thủ Lăng Nghiêm, trang 283 - Tâm Minh dịch.
83 “Tính giác… vô minh” Kinh Thủ Lăng Nghiêm Trực Chỉ, trang 336, 337 -
Hòa thƣợng Thích Phƣớc Hảo.
103
Đức Thanh
sinh, bản chất của nó là vô thƣờng, vô ngã. Lầm nhận
nhƣ có một cái ta làm chủ tể, thật có một cái thân, thật
có một cái tâm, thấy có một thế giới khách quan tồn tại
độc lập với tâm thức con ngƣời. Cho nên khi thân tâm
tiếp xúc với trần cảnh thì phát khởi ra những tâm niệm
sinh diệt chuyển biến không ngừng và chấp những
niệm sinh diệt đó là tâm mình.
2- Hành
Hành là động lực, là ý chí, nó tác động thôi thúc
liên tục làm phát khởi ra cái tâm niệm sinh diệt không
ngừng, cũng nhƣ các hành động thân khẩu ý của con
ngƣời. Ví dụ:
- Nhƣ khi ta yêu thích cái gì đó một cách mãnh
liệt, thì nhƣ có một động lực ngấm ngầm chảy bên
trong, thôi thúc ta phải suy nghĩ một cách miên man,
phải hƣớng tâm về đối tƣợng đó hoài trong ngày.
- Cũng nhƣ khi ta giận ai quá, tâm ta suy nghĩ liên
tục về vấn đề liên quan đến đối tƣợng ấy, đến nỗi mất
ăn, mất ngủ.
3- Thức
Tâm niệm sinh diệt liên tục ấy là những tƣ tƣởng
về đạo đức nhân sinh, tôn giáo, tình cảm, ký ức, kinh
nghiệm cuộc sống, nhận thức đúng sai, đẹp xấu…
ngấm ngầm chảy và đƣợc lƣu trữ trong tàng thức (A lại
da Thức) của mỗi chúng sinh.
Nhƣng do Mạt na Thức ngã ái chấp tàng, chấp cái
kho chứa (A lại da Thức) là mình, hay nói cách khác
chấp những tƣ tƣởng, tình cảm, kinh nghiệm, nhận
104
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
thức… đó là mình. Nhân nơi nhận lầm đó mà hình
thành cái thức tâm của mỗi loài, ở mỗi đời, ở mỗi cõi
trong tam giới. Thức tâm này siêu vƣợt trên sự sống
chết, thức tâm này chính là dòng nghiệp lực xuất phát
từ việc ngã ái, là lòng khát khao mãnh liệt, muốn đƣợc
hiện hữu ngay khi bị mất thân này.
4- Danh sắc
Thức tâm mang nặng cái Ta trong đó (tức là thức
A lại da và Mạt na), bắt đầu đi tìm vật chất để hiện hữu
hay hiện hành gọi là danh sắc. Danh sắc chính là sinh
hữu của đời sống trƣớc. Nó là phần tâm lý và vật chất
ban đầu của bào thai. Danh (thọ, tƣởng, hành, thức).
Sắc (sắc uẩn-tứ đại: đất, nƣớc, gió, lửa).
5- Lục nhập
Do thức tâm thuộc nghiệp nào, thì hiện ra thân
tâm và cảnh giới của nghiệp ấy. Tùy thức tâm thuộc
nghiệp ngƣời, nghiệp trời, nghiệp A tu la, nghiệp địa
ngục, nghiệp ngạ quỷ, nghiệp súc sinh mà hiện ra sự
lãnh nạp các căn tƣơng ứng với nó, gọi là lục nhập. Nhƣ
nhãn căn để thấy sắc trần, nhĩ căn để nghe âm thanh, tỷ
căn để ngửi mùi hƣơng, thiệt căn để nếm vị, thân căn
biết đƣợc xúc chạm và ý căn biết đƣợc pháp trần.
6- Xúc
Xúc chính là sự tiếp xúc giữa con ngƣời và thế
giới bên ngoài thông qua sáu căn. Nói cách khác các
căn (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý) tiếp xúc với các trần
(sắc, thanh, hƣơng, vị, xúc, pháp) sinh ra nhãn thức,
nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, ý thức gọi là xúc. Vậy, xúc
là sự giao thoa giữa căn, trần.
105
Đức Thanh
7- Thọ uẩn
Là phản ứng tâm lý phát sinh khi các căn (mắt,
tai, mũi, lƣ i, thân, ý) tiếp xúc đối tƣợng sinh ra một
trạng thái cảm giác: cảm giác dễ chịu (lạc thọ), cảm
giác khó chịu (khổ thọ) và cảm giác trung tính (không
khổ, không lạc). Không phải tất cả chúng sinh đều có
một loại thọ giống nhau với cùng một đối tƣợng. Nhƣ
thức ăn dù ngon đến mấy cũng không tạo cảm giác
thích thú đối với ngƣời no bụng. Với cùng một đối
tƣợng có thể tạo cho ngƣời này thọ lạc, ngƣời kia thọ
khổ và ngƣời khác nữa thọ vô ký. Ví nhƣ sự ăn uống,
tiêu xài thừa mứa là cái vui của ngƣời dƣ giả đang thọ
dụng; nhƣng là cái buồn tủi cho ngƣời thiếu thốn khi
trông thấy, nhƣng cũng chẳng vui, chẳng buồn đối với
những ngƣời không có quan tâm, chú ý đến nó. Lại
nữa, cùng một ngƣời và một đối tƣợng, thọ có thể khác
nhau trong hai thời kỳ hay hai hoàn cảnh khác nhau
(nhƣ trong truyện Kiều nói người uồn cảnh có vui âu
ao giờ). Ðối tƣợng nọ đã có gợi cho ta một loại thọ
khổ lúc trƣớc, nay có thể lại tạo cho ta thọ lạc, trong
một hoàn cảnh mới, trƣớc một bối cảnh hoàn toàn khác
hẳn, nhƣ điều kiện địa dƣ, khí hậu... Ví nhƣ trƣớc kia
bị bệnh viêm xoang, khi lên núi, hay ra biển gặp luồng
không khí lạnh thì nhức đầu làm ta có cảm giác khó
chịu. Nay hết bị bệnh đƣợc lên núi, ra biển hứng làn
gió mát lạnh thì thật là sảng khoái.
8- Ái
Do các căn tiếp xúc trần cảnh mà sinh cảm thọ,
cái gì không vừa ý thì sinh tâm phiền muộn, cái vừa ý
106
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
thì khởi tâm ham muốn, yêu thích. Có các hình thức ái
nhiễm trong ba cõi:
- Ái ở cõi Dục thƣờng là loại ái nhiễm phát
khởi khi sáu căn tiếp xúc sáu trần sắc, thanh, hƣơng,
vị, xúc, pháp.
- Ái ở cõi Sắc thƣờng là sự đam mê những cảm
thọ vi tế nhƣ hỷ, lạc, xả trong các tầng thiền định, khao
khát đƣợc trƣờng xuân, trƣờng thọ.
- Ái ở cõi Vô sắc thƣờng là sự yêu thích sống với
các tƣ tƣởng, ý niệm trừu tƣợng trong thiền định. Bởi
do họ chán cái thân sắc vật chất dù thô hay tế.
9- Thủ
Thủ là trạng thái tâm bám víu, nắm chặt lấy đối
tƣợng nào đó khi ta đã yêu thích. Thủ có bốn loại: dục
thủ, kiến thủ, giới cấm thủ và ngã ngữ thủ.
- Khi các căn đối diện với các trần khởi tâm ham
muốn, nhƣ gặp những hình ảnh gợi cảm của nam-nữ,
đồ trang sức, đồ tiêu dùng, tiện nghi sinh hoạt; tiếng
nhạc, lời ca, giọng nói, giƣờng nệm êm ái,… gọi là
Dục thủ.
- Chấp chặt vào ý kiến, quan niệm, tƣ tƣởng, lập
trƣờng… của mình gọi là Kiến thủ.
- Chấp thủ vào hình thức tập tục, lễ nghi tà kiến
gọi là Giới cấm thủ.
- Sự nói năng gắn liền với cái “tôi” ngã chấp. Nhƣ
khi nói: tôi là cái này, tôi là cái kia, tôi suy nghĩ điều
này, tôi suy nghĩ điều nọ… là ta đã đồng hóa cái “tôi”
với sự nhận thức, gọi là Ngã ngữ thủ.
107
Đức Thanh
10- Hữu
Các căn dính mắc với trần cảnh, do có tâm chấp
thủ muốn nắm giữ, rồi hành động tạo tác gây nghiệp
thiện, ác gọi là hữu. Hữu có hai phần:
- Nghiệp hữu (tiến trình tích lũy của nghiệp) là
những hành động tạo tác thiện ác đã đƣợc tích trữ, cất
giữ dƣới dạng chủng tử trong tàng thức.
- Sinh hữu (hậu quả của nghiệp) là sự tích trữ các
chủng tử thiện, ác trong tàng thức đến mức độ nào đó;
thì sẽ định hình ra một khuynh hƣớng tái sinh của
nghiệp trong đời vị lai. Tiến trình tích lũy của nghiệp là
nhân (nghiệp hữu). Khuynh hƣớng tái sinh đƣợc thiết
lập trong tàng thức là quả (sinh hữu).
+ Trong kiếp sống này, chính ta tạo ra nhân lành
hay nhân dữ thì đời sau ta phải chịu quả vui hay khổ.
“Hữu” có thể hiểu là cái sinh khởi và cái làm điều kiện
để cái khác sinh khởi. Chính hữu đã tạo điều kiện cho
sự tái sinh của con ngƣời ở kiếp sau.
+ Nói theo Duy Thức học thì các chủng tử thiện,
ác trong đời hiện tại là hạt giống huân tập thêm vào
tiềm thức (A lại da Thức). Tùy theo nội dung, tính chất
của các chủng tử nghiệp huân tập là phù hợp với cảnh
giới nào trong pháp giới mƣời phƣơng. Đây là một
định hƣớng tái sinh. Dựa vào định hƣớng này, A lại da
Thức tự nó sẽ biến hiện ra một y báo (cõi nƣớc) và một
chánh báo (thân tâm) trong đời vị lai. Để cho thân tâm
ta đƣợc thọ dụng, trải nghiệm cái quả báo mà chính
mình đã gieo trồng từ đời sống trƣớc.
+ Diễn đạt theo một lối khác:
108
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
Nhƣ mỗi khi tâm có một ham muốn, một tác ý
nào đó thì trong sâu thẳm của nó sẽ hình thành một
khuynh hƣớng, một khả năng để biến thành hiện thực.
Với tâm ƣa-ghét và tâm muốn nắm giữ nên khi thực
hiện một hành động, tạo tác gây nghiệp thiện, ác
(nghiệp hữu) thì liền có sinh hữu. Sinh hữu này đƣợc
hình thành nhƣ một thực tại tâm lý tồn tại trong pháp
giới chúng sinh. Thực t i tâm lý này đƣợc kiến tạo một
cách đồng điệu muôn đời với thực t i thức tâm của
chúng sinh ở mỗi loài trong ba cõi: dục giới, sắc giới,
vô sắc giới. Cái thực t i tâm lý siêu hình học này xuất
hiện nhƣ một trƣờng năng lƣợng cảm ứng, làm nhân
duyên cho việc hình thành danh sắc trong đời sống kế
tiếp. Sinh hữu này làm nhân cho việc kiến tạo danh sắc
dƣới ba loại hình thức:
- Danh sắc chúng sinh trong cõi dục.
- Danh sắc của những vị trời cõi sắc.
- Danh uẩn (tứ uẩn) của các vị trời cõi vô sắc.
Trong Liên tông thập nhị tổ Triệt Ngộ Đại sƣ
giảng: “Phàm đã có tâm thì không thể vô niệm. Vì tâm
thể vô niệm chỉ có chƣ Phật chứng đắc, còn từ Đẳng
giác Bồ Tát trở về trƣớc đều thuộc hữu niệm. Phàm
khởi một niệm, nhất định sẽ rơi vào một trong mƣời
cõi, vô niệm thì vƣợt ngoài mƣời cõi. Khi vừa khởi
một niệm tức là đã có một duyên thọ sinh, nhƣ sau:
- Nếu một niệm mà tâm tƣơng ứng với lòng đại
từ đại bi bình đẳng, công đức y chánh, cho đến hồng
danh vạn đức (A Di Đà Phật), tức là đã niệm pháp
giới Phật.
109
Đức Thanh
- Nếu một niệm mà tâm tƣơng ứng với tâm Bồ
Đề, Lục độ vạn hạnh, tức đã niệm pháp giới Bồ Tát.
- Nếu một niệm mà tâm vô ngã tƣơng ứng với mƣời
hai nhân duyên tức đã niệm pháp giới Duyên Giác.
- Nếu một niệm mà tâm vô ngã quán xét Tứ đế,
tức đã niệm pháp giới Thanh Văn.
- Hoặc một niệm mà tâm tƣơng ứng với Tứ thiền,
Bát định cho đến Thập Thiện Thƣợng phẩm, tức đã
niệm pháp giới Thiên.
- Nếu tâm tƣơng ứng với ngũ giới, tức niệm pháp
giới Người.
- Nếu tu tập các pháp ngũ giới, Thập thiện mà
trong tâm còn sân hận, kiêu mạn, thắng thua, tức rơi
vào pháp giới a tu la.
- Nếu dùng tâm yếu kém niệm Thập ác hạ phẩm,
tức rơi vào pháp giới súc sinh.
- Nếu dùng tâm nửa yếu kém, nửa mạnh mẽ tƣơng
ứng với trung phẩm Thập ác thì liền rơi vào pháp giới
ngạ quỷ.
- Nếu với tâm mạnh mẽ tƣơng ứng với thƣợng
phẩm Thập ác thì liền rơi vào pháp giới địa ngục.
Con ngƣời sau khi thân hoại mạng chung, nghiệp
lực nào mạnh nhất sẽ đƣa đi tái sinh ở cảnh giới
tƣơng ứng (gọi là nghiệp lực chiêu cảm). Ví nhƣ, cái
cây bình thƣờng nghiêng về hƣớng nào, khi đổ sẽ ngã
về hƣớng đó. 84
84 “Trong liên tông… hƣớng đó” Niệm hật t ất niệm tự niệm ảo ảm
vãng sanh, trang 41, 42 - Thích Minh Tuệ.
110
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
Trong háp Bảo Đàn Kinh, Lục Tổ dạy: “Nếu
chẳng nghĩ muôn pháp thì tánh vốn nhƣ không, một
niệm suy nghĩ gọi là biến hóa. Suy nghĩ việc ác là hóa
làm địa ngục, suy nghĩ việc thiện thì hóa làm thiên
đƣờng, độc hại thì hóa làm rồng rắn, từ bi thì hóa làm
Bồ Tát, trí tuệ hóa làm thƣợng giới, ngu si hóa làm hạ
giới…” 85
Thế nên, ngay đời sống hiện tại, ở đây và bây giờ:
trong một niệm tâm, một tƣ tƣởng, một suy nghĩ,… một
tác ý nào đó, thì thức của chúng ta cũng hiện hữu ở các
cảnh giới tƣơng ƣng trong tam giới. Cho nên trong nhà
Thiền thƣờng nói a cõi trong m t niệm tâm là vậy.
Nhƣ vậy, sinh hữu là danh sắc của kiếp sống mới,
là kết quả của nghiệp hữu. Ở kiếp sống mới này thức,
danh sắc, lục nhập, xúc, thọ là quả dị thục (do nghiệp
cũ). Còn nhân tạo kiếp sống kế là ái, thủ, hữu của hiện
tại lại làm nên nghiệp hữu và sinh hữu cho kiếp kế nữa.
11- Sinh
Chữ Sinh ở đây không có nghĩa là hành động
sinh sản của ngƣời mẹ, mà là sự hiện thành sắc, thọ,
tƣởng, hành, thức; cũng nhƣ chức năng của chúng
trong danh sắc. Chính Hữu đã tạo điều kiện cho tiến
trình hình thành danh sắc trong lòng bà mẹ.
Khi đã có nghiệp hữu thì liền hình thành sinh hữu.
Sinh hữu tức thức sẽ tái sinh tƣơng ƣng với cảnh giới
trong ba cõi ở kiếp sau.
85 “Trong Pháp... hạ giới..” Kinh pháp ảo àn, trang 243 - Hòa thƣợng Thích
Thanh Từ giảng.
111
Đức Thanh
Nói là sinh tức là danh-sắc sinh (Danh là phần
tâm lý gồm thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn.
Sắc là phần vật chất. Tứ i gồm ất, nước, gió, lửa).
+ Phần Danh đƣợc hình thành trong danh sắc của
đời vị lai là kết quả do thức tâm cảm ứng cảnh giới
tƣơng ƣng với:
- Ba cõi là dục giới, sắc giới, vô sắc giới.
- Với bốn hình thức sinh: noãn, thai, thấp, hóa.
- Với ba loại chúng sinh: ngũ uẩn, tứ uẩn và nhất
uẩn. Chúng sinh còn thân bằng vật chất (sắc), có ngũ
uẩn thì sống ở cõi Dục, cõi Sắc. Chúng sinh không còn
hình sắc thô, chỉ có tứ uẩn là các vị ở cõi Vô sắc.
Chúng sinh không có hình sắc, nhƣng vẫn còn tƣ tƣởng
vi tế, chỉ có nhất uẩn là các vị ở cõi vô tƣởng thiên.
+ Phần sắc đƣợc hình thành trong danh sắc của
đời vị lai là do tâm cảm ứng với nghiệp mà sinh. Tùy
theo nghiệp ngƣời, nghiệp trời, nghiệp A tu la,
nghiệp ngạ quỷ hay nghiệp súc sinh mà tạo ra hình
thể phù hợp.
Sắc do nghiệp sinh bao gồm các tổng hợp sắc có
mạng căn là yếu tố thứ chín, và các tổng hợp mƣời sắc
thuộc nhãn, nhĩ, tỷ thiệt, thân, tâm, tánh. Do sắc có
mạng căn, nên có sự sống. Dƣ ng chất của chúng do
nghiệp sinh. 86
86 “Sắc do… chúng do nghiệp sinh” Thấy và biết, trang 214, Thiền sƣ Pa Auk
Sayadaw – Pháp Thông dịch. Tám sắc cơ bản trong tổng hợp sắc: đất nƣớc,
gió, lửa, mùi, màu, vị, dƣ ng chất.
112
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
12- Lão, tử
Song song quá trình tạo tác (hữu) thì cơ thể con
ngƣời cũng già yếu đi theo thời gian; tức là tiến trình
Lão-Tử xảy ra nhƣ một hệ quả đƣơng nhiên.
Khi danh-sắc có sinh thì phải có trƣởng thành, lão
rồi chết. Thập Nhị Nhân Duyên là một mắt xích dính
liền nhau, liên tục tiếp diễn tạo nên vòng tròn luân hồi
từ kiếp sống này đến kiếp sống khác với nhiều yếu tố
duyên khởi trùng trùng.
113
Đức Thanh
TIN TÂM
Một hôm, tôn giả Bát Nhã Đa La chỉ một đống châu
báu, hỏi ba anh em của Bồ Đề Đạt Ma: “Trên đời này có
cái gì tốt hơn châu báu không?”
Hai ngƣời anh trả lời trên đời này không có gì quý
hơn châu báu. Bồ Đề Đạt Ma không đồng ý cách trả lời
trên, bèn nói: “Theo con những hạt châu này không có
giá trị gì cả.”
Hai anh đều lên tiếng hỏi: “Vì sao những hạt châu
này không có giá trị, em bảo giá trị nó ra sao?”
Bồ Đề Đạt Ma nói: “Vì bản thân của những hạt
châu này không thể biết đƣợc giá trị của nó, mà cần phải
nhờ vào trí tuệ của con người, nếu không chẳng qua chỉ
là một mớ đồ vật không có tri giác mà thôi. 87
Thế nên biết, tất cả các thứ gọi là của báu trên đời
này chẳng qua do tâm chúng ta chấp trƣớc mà có, nếu lìa
tâm phân biệt, chấp trƣớc, tức đồng sỏi đá không khác.
Chẳng hạn, giống nhƣ một thỏi vàng đƣa cho đứa bé con,
thì có nghĩa lý gì?
Trong phẩm Bát Nhã - Kinh háp Bảo Đàn giảng:
“…Nếu không có ngƣời đời thì tất cả muôn pháp vốn tự
chẳng có, thế nên biết muôn pháp vốn nhân ngƣời mà
dựng lập,…” 88.
87 “Vì bản thân… mà thôi” Tinh Vân thiền tho i tập 1, trang 264-265 - Đạo
Tâm dịch.
88 “...Nếu không… lập…” Kinh háp Bảo Đàn, trang 77 - Hòa thƣợng Thích
Thanh Từ giảng.
114
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
Muôn pháp (sự vật, hiện tƣợng) nhân nơi tâm trí
của con ngƣời mà đặt tên gọi nhƣ đây là nam, kia là nữ,
đây là cái bàn, kia là cái ghế…, rồi dùng tâm nhị biên so
sánh nói cái này đẹp, cái kia xấu, cái này nhơ, cái kia
sạch… Tâm là chủ muôn pháp, ngƣời tu hành phải chọn
tâm là trọng yếu để thanh lọc và phải tuyệt đối in âm.
Bài kinh “Có pháp môn nào” trong Tương ng B
Kinh, Phật thuyết: “Này các Tỳ kheo, các ông khi mắt
thấy sắc, trong nội tâm có tham, có sân, có si... thì biết rõ
nội tâm của mình có tham, có sân, có si,… hoặc nội tâm
không có tham, sân, si,… thì c ng iết rõ nội tâm không
có tham, không có sân, không có si... Này các Tỳ kheo!
Biết rõ chúng có mặt hay không có mặt trong tâm vị ấy,
thì có phải chúng là những pháp do lòng tin đƣợc hiểu
biết hay do ƣa thích đƣợc hiểu biết, do lắng nghe đƣợc
hiểu biết, hoặc do suy tƣ về phƣơng pháp, do kham nhẫn
… có phải vậy không?”. Các Tỳ kheo thƣa: “Bạch Thế
Tôn, không!”. Phật hỏi thêm: “Có phải các pháp môn
này do thấy với trí tuệ nên đƣợc hiểu biết hay không?”
Các Tỳ kheo thƣa: “Phải, bạch Thế Tôn!”
Phật lại nói:“Đây chính là pháp môn, này các Tỳ
kheo, do pháp môn này ngoài lòng tin, ngoài ƣa thích,
ngoài lắng nghe, ngoài suy tƣ về phƣơng pháp, ngoài
kham nhẫn, thích thú, biện luận, có thể xác chứng với
chánh trí. Vị ấy biết rõ sinh tử đã hết, việc làm đã xong”.
Phật xác chứng rõ ở trong nội tâm mình có tham, sân,
si, iết có tham, sân, si. Trong nội tâm không có tham, sân,
si cũng iết không có tham, sân, si. “Cái iết” này không
115
Đức Thanh
phải do suy tƣ, biện luận hay do nghe ai nói lại, mà “cái
này” mình phải xác chứng bằng chính trí tuệ của mình,
hiện hữu nơi mình chứ không phải ở trong kinh điển.89
Vậy, yếu chỉ trong tu hành là phải trực chỉ nơi tâm,
nếu tìm cầu Phật ngoài tâm là hƣ dối.
Trong Truyền Tâm háp ếu, Thiền sƣ Hoàng Bá
giảng: “Chƣ Phật cùng tất cả chúng sinh chỉ là một
tâm,..”. 90 Chƣ Phật và chúng sinh chỉ là một tâm (một
h giác) không có sai biệt, nên nói hằng hà sa số chúng
sinh là hằng hà sa số chƣ Phật (về mặt h tánh thì đồng,
về ướng dụng thì có sai khác).
Kinh Viên Giác dùng ví dụ: Trong một ngôi nhà tối
có đốt một trăm ngọn đèn riêng khác, nhƣng ánh sáng
của một trăm ngọn đèn đó hòa nhập vào nhau chỉ có một,
không sai khác. Ngọn đèn tuy khác nhƣng ánh sáng thì
đồng. Cho nên chữ m t là nói về ánh sáng chớ không
phải nói về ngọn èn. Một (cùng một thể sáng) mà không
phải một (do nhiều ngọn đèn riêng biệt). Do đó mới có
vô số chƣ Phật nhƣ Phật Di Đà, Phật Ca Diếp, Phật
Thích Ca,… Mỗi vị giáo hóa mỗi nơi, giống nhƣ các
ngọn đèn để ở những vị trí khác nhau, nhƣng tính chất
của ánh sáng vẫn đồng. 91
89 “Bài kinh… kinh điển” Con ường giác ng , trang 168,169 - Hòa thƣợng
Thích Thông Phƣơng.
90 “Chƣ Phật cùng chúng sinh chỉ là một tâm…” Truyền tâm pháp yếu, trang
15 - Thiền sƣ Hoàng Bá - Hòa thƣợng Thích Thanh Từ giảng.
91 “Kinh Viên… vẫn đồng” Truyền tâm pháp yếu, trang 16 - Hòa thƣợng
Thích Thanh Từ giảng.
116
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
“Tâm này tức là Phật, Phật tức là chúng sinh.” 92
Khi tâm ta lặng lẽ thấy, biết mà không động niệm
đó là Phật, tâm này đâu có rời thân ngƣời nên nói Phật
tức là chúng sinh.
“Tâm này tức là Phật lại không có Phật khác, cũng
không có tâm khác.” 93
Tâm không dấy niệm, không suy tính, không so
đo… tâm đó là Phật, không có tâm nào khác nữa.
Thiền sƣ Mã Tổ Đạo Nhất dạy: “Các ông hãy tin
tâm mình là Phật. Tâm này tức Phật. Đại sƣ Đạt Ma từ
Thiên Trúc tới Trung Quốc truyền một tâm pháp thƣợng
thừa, khiến cho các ông đƣợc khai ngộ. Xét về cầu pháp
nên không có chỗ cầu. Ngoài tâm riêng không có Phật
riêng khác, ngoài Phật không có tâm riêng khác, chẳng
chấp thiện, chẳng bỏ ác, sạch nhơ hai bên đều không
dính mắc, đạt tánh tội vốn không, niệm niệm không thể
đƣợc, vì không tự tánh vậy. Ba cõi do tâm, muôn hình
vạn tƣợng đề in một pháp. hàm khi thấy sắc ều là thấy
tâm. Tâm chẳng tự tâm, nhơn sắc mà có. Ông chỉ thời
thời nói năng, từ sự mà bày lý, đều không chỗ ngại. Đạo
quả Bồ Đề cũng lại nhƣ thế. Nơi tâm sinh tức gọi là sắc.
Biết sắc v n không, nên sinh mà chẳng sinh. Nếu rõ đƣợc
ý này mới có thể tùy thời, mặc áo ăn cơm, nuôi lớn thánh
thai, mặc tình qua ngày, lại đâu có việc gì? Ông đã nhận
lời ta dạy hãy nghe ta nói kệ:
92 “Tâm này… chúng sinh” Truyền tâm pháp yếu, trang 22 - Hòa thƣợng
Thích Thanh Từ giảng.
93 “Tâm này… tâm khác” Truyền tâm pháp yếu, trang 23 - Hòa thƣợng Thích
Thanh Từ giảng.
117
Đức Thanh
“Đất tâm tùy thời nói,
Bồ Đề c ng thế thôi,
Lý sự ều không ng i,
Đang sinh tức chẳng sinh.” 94
“Phàm khi thấy sắc đều là thấy tâm.” Thấy sắc thì
biết ta có cái hay thấy (cái biết), cái biết là dụng của chân
tâm. Thể của chân tâm rỗng lặng, chiếu soi. Do không
hình tƣớng nên không phải là vật gì cả, gọi là tâm cũng là
gƣợng đặt tên thôi, nên nói “Tâm chẳng phải là tâm”.
Dụng của chân tâm thì nhƣ ánh sáng của gƣơng, nhân có
sắc (cảnh) đối trƣớc mà hiện bóng, nên nói “Nhân sắc mà
có tâm”. “Nơi tâm sinh tức gọi là sắc”. Sắc ở đây nên
hiểu là sắc tâm. Đối cảnh tâm sinh khởi tức là thọ, tƣởng,
hành, thức sinh khởi. “Biết sắc vốn không, nên sinh mà
chẳng sinh”. Biết sắc tâm (thọ, tƣởng, hành, thức) vốn
không có tự tánh, nhƣ bóng trong gƣơng. Bóng trong
gƣơng là có sao ta nắm bắt chẳng đƣợc? Nếu bảo là
không, sao thấy có bóng hiện”, nên nói “sinh mà chẳng
sinh” là vậy đó!
“Nếu ngƣời không quyết định tin tâm này là Phật,
chấp tƣớng tu hành để cầu đƣợc công dụng đều là vọng
tƣởng, cùng đạo trái nhau.” 95
94“Thiền sƣ Mã Tổ… chẳng sinh” Phật tâm luận, trang 141, 142 - Hòa
thƣợng Thích Phƣớc Hảo.
95 “Nếu ngƣời … trái nhau” Truyền tâm pháp yếu, trang 23 - Hòa thƣợng
Thích Thanh Từ giảng.
118
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
SỐNG VỚI BẢN THỂ CHÂN THẬT
Vua Trần Nhân Tông khi đi tu, giác ngộ có làm
bài kệ Cư Trần L c Đ o:
“Ở ời vui o hãy tùy duyên
Đói ến thì ăn mệt ngủ liền
Trong nhà có áu thôi tìm kiếm
Đ i cảnh vô tâm chớ hỏi thiền.” 96
Sống ở cõi đời, ngài dạy muốn vui phù hợp với
đạo là phải tùy duyên. Tùy thuận theo lẽ tự nhiên của
nó nhƣ khi đã đến giờ trƣa đói đến thì ăn, buổi tối mệt
thì nằm ngủ mà không cần phải băn khoăn, lo liệu, sợ
hãi; bởi đó là nhu cầu trong sinh hoạt bình thƣờng
của mình. Đừng hiểu tùy duyên là đói ăn mệt ngủ, rồi
lúc nào miệng cũng ăn, nói là mệt rồi lúc nào cũng
nằm ỳ ra đó mà ngủ rồi không làm việc. Khi ăn nếu ở
nhà có s n món gì thì ăn món nấy không đòi hỏi món
này món nọ, không chê khen ngon dở. Khi mệt thì
nằm ngủ, không nghĩ xa nghĩ gần, không toan tính việc
gì cả.
Trong nhà có báu thôi tìm kiếm. Ngài thấy rõ
trong mỗi ngƣời nơi chúng ta ai cũng có tánh sáng suốt
(của báu) nên bảo khỏi phải tìm kiếm.
Mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi mà
không có tâm muốn đƣợc, không dính mắc. Nhƣ mắt
thấy sắc đẹp, không có tâm dính mắc ở sắc đẹp. Tai
nghe tiếng biết rõ tiếng mà không có tâm khen chê.
96 Kệ Cư Trần L c Đ o, trang 56, 57, Con ường giác ng - Hòa thƣợng
Thích Thông Phƣơng.
119
Đức Thanh
Mũi ngửi mùi phân biệt rõ ràng thơm hôi, nhƣng không
vì hôi mà bực, không vì thơm mà nhiễm. Lƣ i nếm vị
có ngon, có dở, nhƣng không vì ngon mà đòi thêm,
không vì dở mà chán bực. Đối với sáu trần chúng ta
không có niệm theo đuổi, không có niệm dính mắc,
ngay đó là thiền rồi, khỏi cần hỏi ai hết. Nên nói: Đối
cảnh không tâm chớ hỏi thiền.
Vấn đề này vua Trần Thái Tông cũng có bài kệ:
“Chỉ sai hữu niệm quên vô niệm,
Liền trái không sinh nhận có sinh,
M i ắm các hương, lưỡi tham vị,
Mắt mờ chúng sắc, tiếng mê tai,
Lang thang làm khách phong trần mãi,
Ngày cách quê hương muôn dặm trình”. 97
Đ o, hay thiền là Tâm thể chân thật của mình, là
cái thấy nghe hiểu biết hằng hữu, không sinh diệt.
Nhƣng vì chúng ta quên, nên cái thấy, nghe hiểu biết
lại duyên theo bóng dáng của sáu trần, đƣa chúng ta đi
trong luân hồi sinh tử. Bây giờ cũng cái thấy, nghe đó
mà thầm nhận biết mình có cái hay thấy, hay nghe, đó
là thiền, là đạo.
Vậy hãy sống với bản thể chân thật lƣu xuất từ
các căn: mắt, tai, mũi, lƣ i, thân, ý trong sinh hoạt
hằng ngày nhƣ lời dạy của Tổ:
1- Ở nơi cái thấy (mắt)
Mắt vốn không tình, chỉ vì theo sắc mà tâm có
thƣơng-ghét.
97 “Chỉ sai… dặm trình” Con ường giải thoát, trang 132 - Hòa thƣợng Thích
Thông Phƣơng.
120
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
Khi mắt thấy sắc, việc của nhãn thức chỉ là liễu
biệt cảnh của riêng nó. Cảnh hiện thế nào, nhãn thức
nhận biết đúng nhƣ thế ấy, nhƣ máy ghi hình không
thêm bớt. Khi nhãn thức sinh, ý thức sinh cùng. Ngay
sát na đầu tiên, ý thức cảm nhận sự vật hiện lƣợng nhƣ
chính nhãn thức. Nhƣng qua sát na thứ hai, tất cả đều
bị ý thức phân biệt chi phối. Do sát na đầu đi quá mau,
nên mình không nhận biết. Chỉ lƣu lại phần ý thức
phân biệt, huân tập qua đời kế tiếp, rồi cho đó là tâm
mình. Cho nên, thấy, nghe, hiểu, biết đều bị định kiến
chi phối. Vì thế, cảnh này mới làm mình vui, lời kia
khiến mình buồn, cái này sao thấy quá lớn, lời nói kia
sao không văn hoa… Sáu căn biến thành sáu tình, đánh
mất cái biết ban đầu quý báu. Thiền là sống với cái biết
ban đầu quý báu đó. Là khoảng pháp đƣợc nhận biết
nhƣ chính nó, không bị định kiến của ta chi phối. 98
Thiền sƣ Đại Hải Huệ Châu nói: “Thế nào là thấy
mà không có chỗ thấy?”
Khi thấy tất cả sắc, không khởi niệm nhiễm trƣớc
(không bị ƣớc định). Không nhiễm trƣớc thì không
khởi tâm yêu ghét, ấy là thấy mà không có chỗ thấy.
Nếu khi đƣợc thấy mà không có chỗ thấy, gọi là con
mắt Phật, trọn không có con mắt khác.
Nếu thấy tất cả sắc khởi yêu ghét, ấy là có chỗ
thấy, có chỗ thấy là con mắt chúng sinh, trọn không có
con mắt khác, cho đến các căn lại cũng nhƣ thế. 99
98 “Khi mắt… chi phối” Ý Tổ Sư trên ầu ngọn cỏ, trang 61, 62 – Chân Hiền Tâm.
99 “Thiền sƣ Đại Hải… nhƣ thế” Thiền n ng , trang 81 - Hòa thƣợng Thích
Thanh Từ.
121
Đức Thanh
Trong hội Linh Sơn, Đức Phật đƣa cành hoa lên là
Ngài muốn chỉ cái tâm hiện tiền chân thật đầy đủ nơi
mọi ngƣời. Hiện giờ có ai không có cái biết hiện tiền
ấy đâu.
“Thấy tức biết, biết tức tâm” 100
Có lần Mã Tổ đi dạo ngoài vƣờn cùng với ngài
Hoài Hải, thấy bầy vịt trời bay ngang qua, Mã Tổ
liền hỏi:
- Đó là cái gì đó?
Hoài Hải thƣa:
- Bầy vịt trời.
Mã Tổ hỏi:
Bay đi đâu?
Hoài Hải đáp:
- Bay qua mất rồi.
Mã Tổ nắm lỗ mũi của Hoài Hải nhéo mạnh một
cái. Hoài Hải đau quá la lên. Mã Tổ bảo:
- Sao không nói bay qua đi!
Ngay đó Hoài Hải liền tỉnh ngộ.
Thông thƣờng chúng ta thấy bầy vịt trời chỉ nhớ
bầy vịt trời, cho nên nó bay qua mình cũng nhớ nó bay
qua. Vậy còn cái gì ang iết, ang thấy hiện hữu nơi
đây? Nên Mã Tổ liền nhéo lỗ mũi ngài Hoài Hải một
cái. Đau quá ngài Hoài Hải la lên. Mã Tổ nói: “Sao
không nói bay qua đi.” Bầy vịt trời bay qua, nhƣng cái
gì đang biết đau, la lên đây, nó đâu có bay? Ngay đó
100 “Trong hội… tức tâm” Hoa vô ưu tập 8, trang 92, 93 - Hòa thƣợng Thích
Thanh Từ.
122
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
Hoài Hải liền tỉnh ngộ. Chính đó là cái hiện hữu nơi
mình nó đâu có bay. 101
Ngài Sùng Tín hỏi thiền sƣ Đạo Ngô
- Từ ngày con vào đây đến nay chƣa đƣợc thầy
chỉ dạy tâm yếu.
- Từ ngày ngƣời vào đây ta chƣa từng chẳng chỉ
dạy tâm yếu cho ngƣơi.
- Thầy chỉ dạy ở chỗ nào?
Sƣ bảo:
- Ngƣời dâng trà lên, ta vì ngƣời mà tiếp. Ngƣơi
bƣng cơm đến, ta vì ngƣời mà nhận. Ngƣơi xá lui thì ta
gật đầu. Chỗ nào chẳng chỉ dạy tâm yếu.
Sùng Tín cúi đầu im lặng suy nghĩ, tại sao việc đó
là tâm yếu?
Sƣ vừa suy nghĩ, Đạo Ngô liền bảo:
- Thấy thì thẳng đó liền thấy, suy nghĩ liền sai. 102
2- Ở nơi cái nghe (tai)
Tai không tình chỉ duyên theo thanh trần bên
ngoài mà hiện buồn vui.
Có một vị tăng hỏi thiền sƣ Qui Tỉnh về cây bách
của Triệu Châu, Qui Tỉnh bảo:
- Ông tin chăng?
Tăng thƣa:
- Lời quý Hòa thƣợng con đâu dám chẳng tin.
Qui Tỉnh bảo:
101 “Có lần… có hay” Con ường giác ng , trang 189, 190 - Hòa thƣợng
Thích Thông Phƣơng.
102 “Ngài Sùng Tín… liền sai” Xuân trong cửa thiền, trang 337 - Hòa thƣợng
Thích Thanh Từ.
123
Đức Thanh
- Ông có nghe giọt mƣa rơi trƣớc thềm chăng?
Tăng chợt tỉnh la: “Chao!” và làm bài kệ:
“Giọt mưa trước thềm,
Rành rẽ rõ ràng.
Càn khôn ập nát,
Liền ó tâm dừng.”
Chú ý: Từng giọt, từng giọt mƣa rơi, nghe rất rõ
ràng rành rẽ không một chút mê mờ, thì giọt mƣa vẫn
là giọt mƣa nhƣng tâm sáng ngời không thêm bớt, lấy
bỏ gì trong đó. Nhƣ vậy là chính mình ang hiện hữu
ngay từng giọt mưa rơi Thấy biết đƣợc nhƣ thế thì
thấy biết cái gì cũng sáng ngời, đâu đâu cũng là Phật
pháp, chân lý hiện hữu khắp mọi nơi. 103
Thiền sƣ Cảnh Thanh đang ngồi, liền hỏi vị tăng
bên cạnh:
- Ở bên ngoài là tiếng gì?
Lúc đó trời đang mƣa, nên ông tăng thƣa:
- Là tiếng mƣa rơi.
Thiền sƣ Cảnh Thanh bảo:
- Chúng sinh điên đảo quên mình theo vật.
Ông tăng hỏi:
- Còn Hòa thƣợng thì sao?
Ngài đáp:
- Vẫn chẳng quên mình.
Đa số ngƣời đều sống nhƣ vậy, đang ngồi đây,
nghe tiếng mƣa rơi thì chạy ra ngoài hiên, tâm nhớ theo
103 “Có một… mọi nơi” Cửa Thiền hé mở, trang 131, 132 - Hòa thƣợng Thích
Thông Phƣơng.
124
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
tiếng mƣa rơi nên quên mất cái gì ang nghe, ang
iết. Thiền sƣ hỏi bên ngoài là tiếng gì? Tức muốn
nhắc ông tăng nhớ lại cái gì ang nghe, ang iết rõ
ràng, đang hiện có mặt ở đây, chứ không phải ý ngài ở
ngoài hiên. Nhƣng vị tăng quen sống theo duyên, tâm
duyên theo tiếng mƣa rơi bên ngoài, nên chỉ nghe tiếng
mƣa rơi. Do đó, thiền sƣ nói: “Chúng sinh điên đảo
quên mình theo vật”, quên chính mình đây mà chạy ra
bên ngoài. Vị tăng hỏi: “Còn Hòa thƣợng thì nhƣ thế
nào?” Ngài đáp: “Vẫn chẳng quên mình”. Thiền sƣ
cũng nghe tiếng mƣa rơi biết rõ tiếng mƣa rơi, nhƣng
vẫn không quên mình. Sống nhƣ vậy mới gọi là không
mất mình, chứ còn ngồi đây mà chạy theo tiếng là quên
mất chính mình, là đánh mất thực tại đang hiện hữu.104
Thiền sƣ CảnhThanh ngồi trong am với chú thị
giả, ngài nghe bên ngoài có con rắn bắt con nhái kêu ọt
ẹt. Ngài hỏi chú thị giả: Tiếng gì ở bên ngoài?
Chú thị giả thƣa: Tiếng con rắn bắt con nhái kêu.
Ngài nói: Chúng sinh khổ lại có khổ chúng sinh.
Cái nào là chúng sinh khổ, cái nào là khổ chúng
sinh? Con nhái bị con rắn bắt là chúng sinh khổ, còn
khổ chúng sinh là chú thị giả hay là ai?
Ai quên mình theo vật thì ngƣời đó khổ, đó là khổ
chúng sinh. Ngay nơi mình có hòn ngọc báu mà chúng
ta lúc nào cũng quên nó chạy mãi theo âm thanh sắc
tƣớng bên ngoài cho nên bị vô thƣờng chi phối, do đó
104 “Thiền sƣ… hiện hữu” Con ường giác ng , trang 175, 176 - Hòa thƣợng
Thích Thông Phƣơng.
125
Đức Thanh
chúng ta khổ. Khi nghe tiếng chỉ biết tiếng mà không
nhớ mình, khi thấy cảnh chỉ biết cảnh mà không nhớ
mình. Vậy ở nơi cảnh là chúng sinh khổ, quên mình là
khổ chúng sinh.105
Có lần tƣớng quốc Đỗ Hồng Tiệm luận đạo với
thiền sƣ Vô Trụ ở sau tự viện. Có con quạ đậu trên cây
trƣớc sân kêu.
Thiền sƣ Vô Trụ hỏi tƣớng quốc: “Có nghe tiếng
quạ kêu không?”
Tƣớng quốc đáp: “Nghe!”
Bỗng dƣng con quạ bay đi, thiền sƣ Vô Trụ hỏi
tƣớng quốc: “Có nghe tiếng quạ kêu không?”
Tƣớng quốc đáp: “Không!”
Thiền sƣ Vô Trụ nói: “Hiện giờ ta vẫn nghe tiếng
quạ kêu.”
Tƣớng quốc nghe xong kinh ngạc hỏi: “Quạ đã
bay đi rồi, không còn nghe tiếng kêu, vì sao thầy nói
vẫn còn nghe tiếng quạ kêu?”
Thiền sƣ Vô Trụ giải thích: “Có nghe, không
nghe, không quan hệ gì đến tánh nghe, xƣa nay không
sinh, đâu từng có diệt? Khi có tiếng thì thanh trần tự
sinh, khi không tiếng thì thanh trần tự diệt, nhƣng tánh
nghe này không theo tiếng mà sinh, không theo tiếng
mà diệt. Ngộ đƣợc tánh nghe thì không bị thanh trần
chuyển. Nếu không biết rằng tiếng là vô thƣờng, nghe
không có sinh diệt, cho nên quạ có đến có đi, còn tánh
nghe của chúng ta thì không có đến không có đi.”
105 “Thiền sƣ… chúng sinh” Xuân trong cửa thiền, trang 373 - Hòa thƣợng
Thích Thanh Từ.
126
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
Ngay đó tƣớng quốc khế nhập.
Các pháp thế gian là pháp đối đãi, nhƣ đi-đến,
trên-dƣới, có-không, sinh-diệt, lớn-nhỏ, trong-ngoài,
thiện-ác, tốt-xấu… Vọng tâm của chúng ta trọn ngày ở
trên pháp đối đãi này mà khởi các thứ phân biệt, lúc thế
này, lúc thế khác. Tiếng quạ kêu có đến-đi, có có-
không, chúng ta không ngộ nên trọn ngày cũng trên
cảnh sắc trần mà chấp phải quấy.106
3- Ở nơi cái ngửi (mũi)
Có một vị tăng đến hỏi Hòa thƣợng:
- Bạch thầy, bí ẩn uyên áo của thiền là gì?
Thầy đáp:
- Ta không giấu các con điều gì cả. Trong thiền
c ng không giấu các con iều gì hết.
Tăng thƣa:
- Con vẫn không hiểu?
- Thầy bảo:
- Hãy đi dạo cùng ta ra phía sau.
Vị tăng vâng lời đi theo sau.
Thầy bảo:
- Con có ngửi thấy mùi đàn hƣơng không?
Vị tăng thƣa:
- Dạ có!
Thầy nói:
- Thế thì ta có giấu điều gì với con đâu! 107
106 “Có lần… phải quấy” Tinh Vân thiền tho i tập 1, trang 141, 142 - Đạo
Tâm dịch.
107 “Có một… con đâu!” Góp nhặt cát á, trang 110 - Phạm Cao Hoàng dịch.
127
Đức Thanh
4- Ở nơi cái nếm (lƣ i)
Thiền sƣ Triệu Châu nói: “Cả ngày ăn mà chẳng
nhai nát một hạt gạo. Cả ngày mặc mà chẳng dính một
sợi tơ.”
Bởi vì ngƣời đạt đạo, thấu đƣợc lẽ chân thật, nhận
ra tâm chân thật của mình. Rõ thông các hành động từ
tâm thể hiện, nên không có dấy niệm có không, đắc
thất… trái lại, phàm phu u mê chạy theo thức tình phân
biệt, lúc ăn thì nghĩ trăm thứ, lúc mặc cũng nghĩ trăm
việc, do đó mà phiền não tham sân si dấy khởi làm mất
tính thƣờng nhiên, tâm luôn bàng hoàng, xao xuyến,
khắc khoải, lo âu… Vì sống với đạo là phải sống với
tánh bình thƣờng, tánh bình thƣờng này ai cũng có và
không lúc nào vắng mặt. 108
5- Ở nơi cái xúc chạm (của thân)
Trong buổi độc tham Lão sƣ nói: “Tôi bảo ông
nhiều lần nên từ bỏ lý luận, phân tích theo trí thức. Hãy
giải phóng tâm trí ông khỏi các ý tƣởng, niềm tin, giả
thiết. Nếu tôi đánh ông một gậy, ông la lên: Ôi cái Ôi
này là cả vũ trụ, còn gì nữa chứ. Nếu ông sờ vào lửa,
ông sẽ la lên và rút tay lại phải không? Đa số ngƣời ta
nghĩ tới lửa nhƣ một cái gì cung cấp nhiều sức nóng,
hoặc nhƣ một tiến trình kết thúc của sự chết… Nhƣng
lửa chỉ là lửa và khi ông phỏng lửa mà la lên: Ôi Thì
chỉ có Ôi mà thôi.
Môn sinh hỏi:
108 “Thiền sƣ… vắng mặt” Nhặt lá ồ ề” trang 270 - Hòa thƣợng Thích
Thanh Từ.
128
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
- Tôi thiếu cái gì nào? Thầy thì đã ngộ còn tôi thì
không. Có gì khác biệt khi thầy chạm vào lửa và khi tôi
chạm vào nó?
Lão sƣ:
- Không hoàn toàn khác biệt.
Hai câu kệ trong Vô Môn Quan viết:
“Trời trong, vầng nhật rọi,
Mưa xu ng, mặt ất ướt.”
Ở đó không có đẹp xấu, không có thiện ác, không
có gì cả, không có gì giới hạn cả.
Môn sinh:
- Tôi muốn thấy sự vật nhƣ thế, chấp nhận cuộc
đời nhƣ thế đó, nhƣng tôi không làm đƣợc.
Lão sƣ:
- Không có gì để chấp nhận. Tất cả những gì ông
phải làm là chỉ thấy khi nhìn và chỉ nghe khi lắng nghe.
Nhƣng ngƣời thƣờng thì không làm đƣợc nhƣ vậy. Họ
luôn luôn trộn lẫn ý tƣởng với điều họ cảm giác. Khi
ông chạm phải cái lò nóng, mà la: Ôi thì thực tế hiển
nhiên duy nhất là Ôi Còn gì nữa chứ? 109
6- Ở nơi cái biết (của ý)
Thiền sƣ Huyền Giác: “Phân biệt mà chẳng phải ý.”
- Ý phân biệt là do niệm dấy lên đòi hỏi một sự
thỏa mãn cho cái tôi, có tâm phân biệt là vọng, có tâm
tức là có ý.
- Chân tâm phân biệt là ứng dụng với thời cơ, nhƣ
mặt nƣớc phản chiếu bóng chim bay. Chim không có ý
in hình trên dòng nƣớc. Nƣớc không có ý giữ bóng
chim bay. Do cơ duyên ngẫu hợp, mà nƣớc-chim-bóng
109 “Trong buổi… nữa chứ?” M t l i hành Thiền, trang 94, 95 - Hải Ân.
129
Đức Thanh
quy tụ tại một điểm, do đó phát sinh hiện tƣợng phân
biệt. Không tâm phân biệt là phân biệt chân, không tâm
tức là không ý. Nên nói phân biệt mà không phân biệt.
“Phân biệt rõ muôn vật mà bổn tánh vẫn nhƣ
nhƣ chẳng động, bổn tánh chẳng động tức là chẳng
phải ý vậy.”
Thiền nằm trong thế tục mà vẫn “Không chấp,
không lìa, không giữ, không bỏ” thế tục, do đó ứng
dụng đƣợc dọc ngang, không đâu chẳng là đạo tràng,
chẳng là xứ Phật.
Trong tinh thần trung đạo, Thiền dạy đừng chặn
đứng tƣ tƣởng mà cứ để “Tƣ tƣởng lui tới tự do, tâm
thể không vƣớng mắc, đó là Bát Nhã”. 110
Thiền nói không phân biệt, nhƣng là:
“ hân iệt nhất thiết pháp
Bất khởi phân iệt tưởng.”
Nghĩa là tùy duyên mà phân biệt rõ ràng muôn
vật, nhƣng không nghĩ tƣởng về sự phân biệt.
Nói cách khác cứ đi, đứng, nằm, ngồi, ăn cơm,
mặc áo, cứ phân biệt nhƣ mọi ngƣời vì đó là nhu cầu
của cuộc sống, có xấu xa gì đâu mà đòi thoát ra. Nhƣng
quí vị đừng nghĩ đến sự đi, sự đứng, sự nằm, sự ngồi,
đừng nghĩ đến sự phân biệt. Cái rắc rối là ở chỗ nghĩ,
chứ không phải chỗ mặc áo ăn cơm. Khi nghĩ đến sự
mặc áo, ăn cơm, là mắc vào trạng thái phân tâm, khiến
con mắt phải tự thấy con mắt. Đó là bệnh thiền.111
110 “Thiền sƣ Huyền Giác… là Bát Nhã” Chứng Đ o Ca, trang 43, 44 - Thiền
sƣ Huyền Giác - Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh, PL. 2539.
111 “Thiền nói không… bệnh thiền”- Chứng Đ o Ca, trang 44 - Thiền sƣ
Huyền Giác - Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh, PL. 2539.
130
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
Một đoạn trong Đàn Kinh có nêu:
“Thường ứng dụng các căn.
Mà chẳng khởi tưởng dụng
hân iệt tất cả pháp
Không khởi tưởng phân iệt.”
Đến đây tổ chỉ thẳng Đại Niết Bàn thƣờng ứng
hiện ra cái dụng nơi các căn mà chẳng khởi tƣởng
dụng. Ví dụ cảnh đến thì mắt tự thấy chớ không có
tƣởng là mình thấy; tiếng đến thì tai tự nghe chứ không
khởi tƣởng là mình phải nghe. Không dấy niệm, không
khởi tƣởng mà hằng thấy hằng nghe, đó mới là chân
thật; dấy niệm khởi tƣởng mới biết đó không phải là
chân thật. Phân biệt tất cả pháp mà không khởi tƣởng
phân biệt. Ví dụ nhƣ mình nhìn mọi ngƣời biết mặt
mày hình sắc của tất cả mà không có ý dấy niệm phân
biệt ngƣời này hay ngƣời kia dở, ngƣời này tốt, ngƣời
kia xấu… Phân biệt tất cả pháp mà không khởi tƣởng
phân biệt, đó là Niết Bàn hiện hữu. Vừa khởi niệm tìm
Niết Bàn là mất Niết Bàn. Hiện nay chúng ta sống
trong Niết Bàn mà không biết, nên phải chịu trầm luân
trong sinh tử, cho nên Phật thƣờng nói đáng thƣơng
xót. Nếu chúng ta sống đƣợc với cái lƣợng thật, đó là
Niết Bàn. Nếu chúng ta sống với thân ngũ uẩn, đó là
sinh tử. Nhƣng không thể bỏ thân ngũ uẩn riêng có
Niết Bàn, mà ngay thân ngũ uẩn đã có Niết Bàn. 112
Trong Duy Lực ngữ lục, Hòa thƣợng Thích Duy
Lực giảng: Kinh Niết Bàn có nói đến vấn đề điên
đảo tƣởng.
112 “Một đoạn… Niết Bàn” háp Bảo Đàn Kinh, trang 352, 353 - Hòa thƣợng
Thích Thanh Từ giảng giải.
131
Đức Thanh
Ngài Ca Diếp hỏi Phật:
- Tại sao bậc thánh có điên đảo tƣởng mà không
có phiền não, phàm phu có điên đảo tƣởng nhƣng lại có
phiền não?
Phật bảo:
- Sao nói bậc thánh có điên đảo tƣởng?
Ca Diếp nói:
- Bậc thánh thấy con trâu cũng gọi là con trâu,
thấy con ngựa cũng gọi là con ngựa, vậy chẳng phải
điên đảo tƣởng ƣ!
Phật bảo:
- Tƣởng có hai thứ:
Một là thế lƣu bố tƣởng, tức là thế gian đã phổ
biến lƣu hành.
Hai là trƣớc tƣởng, tức là tƣ tƣởng chấp trƣớc
(ƣớc định). Phàm phu ở trong thế lƣu bố tƣởng sinh ra
trƣớc tƣởng nên gọi là điên đảo tƣởng. Bậc thánh chỉ
có thế lƣu bố tƣởng không có trƣớc tƣởng, thế gian gọi
là con trâu thì bậc thánh cũng gọi theo, nhƣng không
chấp thật con trâu. Do không có tƣ tƣởng chấp thật,
nên không có phiền não, chứ chẳng phải bậc thánh có
điên đảo tƣởng. 113
Trích dẫn về tâm vô phân biệt – trí Bát Nhã để
làm sáng tỏ cái “Phân biệt không phải ý”.
Thiền sƣ Khuê Phong nói: “… Chỉ cái thấy biết,
không niệm yêu mến, ác độc, tự nhiên nhẹ nhàng, bi,
trí tự nhiên tăng trƣởng; tội, nghiệp tự nhiên đoạn trừ,
công hạnh tự nhiên tăng tiến. Đã rõ các tƣớng phi
113 “Trong Duy... tƣởng” Duy Lực Ngữ Lục, quyển thƣợng, trang 89, 90 -
Thích Duy Lực.
132
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
tƣớng, tự nhiên không tu mà tu, khi phiền não hết thì
sinh tử dứt. Sinh diệt diệt rồi, tịch diệt hiện tiền, ứng
dụng vô cùng gọi đó là Phật. 114
Đã rõ các tƣớng phi tƣớng, tự nhiên không tu mà
tu. “Ví nhƣ có ngƣời vào kho chứa đầy đồ vàng chỉ
thấy nơi vàng chẳng thấy các tướng, dù thấy các
tƣớng, cũng chỉ là vàng. Chẳng bị các tƣớng mê hoặc
thì lìa phân biệt, thƣờng thấy bản thể của vàng nên
chẳng hƣ vọng, dụ cho bậc thánh, thƣờng quán chân
nhất (chân tâm), chẳng thấy các tƣớng, dù thấy các
tƣớng cũng là chân nhất, xa lìa vọng tƣởng chẳng có
điên đảo, trụ nơi thực tế nên gọi là bậc thánh.
Còn nhƣ có ngƣời ở trong kho chứa đồ vàng
thƣờng thấy các tƣớng (nhƣ cà rá, bông tai,…), chẳng
thấy bản thể vàng, vọng khởi đủ thứ tri kiến, phân
biệt tốt xấu, làm mất tánh vàng, bèn có tranh luận, dụ
cho phàm phu thƣờng thấy sắc tƣớng nam nữ xấu
đẹp, đủ thứ sai biệt, mê muội bản tánh, chấp trƣớc
tâm tƣởng, vọng sinh yêu ghét lấy bỏ, kiến chấp điên
đảo, trôi lăn trong vòng sinh tử. Nên những hành giả
tu đạo xa lìa tri kiến mới tƣơng ứng với đạo, khế hợp
với chân nhất”. 115
7- Ở trong cái sinh hoạt hằng ngày
Có lần một học giả đến hỏi đạo thiền sƣ Việt Khê
ngƣời Nhật Bản, Ông tha thiết hỏi về thiền đạo:
- Bạch thầy con đã nghiên cứu Phật học, Nho học
đã hơn hai mƣơi năm. Những điều đó con hiểu rất
114 “Chỉ cái… là Phật” Nguồn Thiền giảng giải, trang 192, 193 – Thích
Thanh Từ giảng.
115 “Ví nhƣ… chân nhất” Bửu T ng Luận, trang 83, 84 - Hòa thƣợng Thích
Duy Lực dịch.
133
Đức Thanh
nhiều, nhƣng con còn một điểm chƣa rõ biết về thiền
đạo. Xin thầy giải thích cho con rõ về thiền đạo.
Ngay đó thiền sƣ Việt Khê tát cho một bạt tai, ông
bực tức bỏ đi, đến gặp thủ tọa ở trong chùa. Vị thủ tọa
thấy vẻ bực bội của ông, biết có chuyện, nên ngài nhẹ
nhàng bảo:
- Có việc gì vậy? Ngƣời học thiền cần phải bình
tĩnh, có việc gì mà phải bực bội, thôi ông hãy ngồi đây
uống tách trà đi.
Ông nghe nhƣ vậy cũng hơi cởi mở, ngồi xuống
uống trà với ngài thủ tọa. Trong khi ngồi uống trà thì
ông liền tuôn ra những lời bực bội về thiền sƣ Việt
Khê, đến hỏi đạo chƣa gì đã bị tát cho một bạt tai. Bất
chợt, vị thủ tọa cũng đánh vào tay ông, tách trà rơi
xuống đất v tan.
Vị thủ tọa mới nói:
- Vừa rồi ông nói là hiểu đƣợc Phật học, Nho học,
chỉ còn một chút thiền đạo là ông chƣa hiểu thôi.
Bây giờ tôi đã đem thiền đạo cúng dƣờng cho ông
rồi, ông có biết cái gì là thiền đạo chăng?
Lúc đó ông ngơ ngẩn không biết gì. Ông nghĩ
thiền đạo gì đâu, chƣa chi đã bị đánh, tách trà rớt
xuống đất.
Vậy là cái gì chứ? Vị thủ tọa hỏi lại lần nữa, ông
cũng không biết. Vị thủ tọa mới nói:
- Thật là không xứng cho ông thấy thiền đạo của
chúng ta.
Vị thủ tọa bèn cúi xuống nhặt những mảnh v
của tách trà lên, lấy giẻ lau khô nƣớc trà ở trên nền
đất. Rồi bảo:
134
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
- Ngoài những thứ này ra còn có thiền đạo nào
nữa không?
Ngay đó ông liền tỉnh ngộ. Ông ở lại tham thiền
với thiền sƣ Việt Khê.
Vậy thiền đạo ở chỗ nào? Đa số ngƣời đi học
thiền cứ nghĩ thiền đạo là cái gì cao siêu trên trời,
trên mây. Trong khi đó thiền sƣ rất đơn giản, ngay
chỗ việc làm hằng ngày của mình đây, nhƣ tách trà
rớt xuống lƣợm lên lau khô nƣớc. Mọi cử chỉ chúng
ta là trong tỉnh giác, sáng suốt thì đó là thiền đạo.
Sống ngay thực tại hiện tiền đó là thiền đạo. Ví dụ
chúng ta làm bếp, nấu nƣớng, lặt rau, rửa chén,…
làm trong tâm sáng suốt, tỉnh táo (không có niệm
khác) đó là thiền. 116
Có ngƣời hỏi thiền sƣ Mục Châu:
- Chúng ta mỗi ngày đều phải ăn cơm, mặc áo,
thật quá phiền phức, làm sao đừng có phiền phức này?
Thiền sƣ Mục Châu đáp:
- Chúng ta mặc áo ăn cơm
- Con không hiểu ý thầy
Thiền sƣ Mục Châu đáp một cách quả quyết:
- Nếu ông không hiểu, vậy ông cứ mặc áo ăn
cơm đi!
Thiền không rời cuộc sống sinh hoạt bình thƣờng,
con ngƣời phải mặc áo ăn cơm. Sau khi ngộ đạo cũng
phải mặc áo ăn cơm. Chỗ khác nhau giữa ăn cơm mặc
áo là có sự cảm thọ, phân biệt tốt xấu… Đối với ngƣời
116 “Có lần… là thiền” Con ường giác ng , trang 181-183 - Hòa thƣợng
Thích Thông Phƣơng.
135
Đức Thanh
chƣa ngộ. Còn đối với ngƣời ngộ đạo, khi mặc áo ăn
cơm thì chỉ là mặc áo ăn cơm.117
Thiền sƣ Chân Nguyên dạy: “… mọi ngƣời trong
12 giờ đi đứng, nằm, ngồi, thấy, nghe, hiểu biết, nhƣớng
mày, chớp mắt, ứng cơ tiếp vật, giơ tay động chân, một
thể tròn sáng, sáu căn vận dụng, ứng với tiếng, với âm,
hay thấy nghe, biết nói biết làm biện rõ phải quấy.” 118
Trong sắc thân bằng xƣơng thịt của chúng ta có ẩn
sắc thân bất sinh bất diệt. Bởi có pháp thân ẩn ở sắc thân
nên khiến chúng ta biết đi, đứng, nằm ngồi, nhƣớng
mày, chớp mắt, thấy, nghe, hiểu biết… Nhƣ vậy, sắc
thân do đất, nƣớc, gió, lửa hợp thành, nếu không có
pháp thân ẩn trong đó thì không hiện ra hành động. Từ
hành động nếu chúng ta biết phản chiếu, nhận ra pháp
thân và biết đó là dụng của pháp thân thì tốt. Nếu chúng
ta cứ chạy theo hành động rồi tƣởng mọi hành động là
thật thì chúng ta sẽ bị mê lầm. Chúng ta biết cái dụng
của pháp thân, thì tuy hành động mà hằng sống với pháp
thân. Nhƣng điều này hơi khó nếu không khéo sẽ bị
lầm, vì pháp thân ứng hiện có lẫn vọng tƣởng. Ví dụ
chúng ta đang ngồi chợt khởi ý nghĩ đi ra vƣờn, chúng
ta liền đứng dậy đi, khi khởi niệm thì có nghĩ, nhƣng khi
đi từng bƣớc thì không có nghĩ. Hoặc khi chúng ta mở
mắt nhìn cảnh vật thấy trời, mây, cây cối đủ thứ, thấy rõ
mà không có khởi niệm thì không có lỗi. Nếu thấy mà
phân biệt trời hôm nay đẹp, trong sáng hoặc mây đen
sắp mƣa, nếu có xen lẫn vào những kinh nghiệm, những
117 “Có ngƣời… cơm” Tinh Vân thiền tho i tập 1, trang 61- Đạo Tâm dịch.
118 “Thiền sƣ… phải quấy” Kiến tánh thành hật, trang 282 - Thiền sƣ Chân
Nguyên - Hòa thƣợng Thích Thanh Từ dịch.
136
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
ý tƣởng thì đã biến cái chân thật thành cái giả dối rồi, từ
cái bất sinh biến thành cái sinh diệt. Cho nên cũng một
cái biết, mà gọi là chân, cũng một cái biết mà gọi là
vọng. Cái biết có so sánh phân biệt là cái biết trong mê
vọng, còn sinh diệt. Cái biết không có so sánh phân biệt
đẹp xấu… trong đối đãi là cái biết tỉnh sáng an nhiên.119
Nhƣ vậy khi xúc cảnh chúng ta không thêm một ý
nghĩ phân biệt, phán đoán, cảnh ở trƣớc mắt nhƣ thế nào
thì thấy nhƣ thế ấy, không thêm không bớt gì cả thì tâm
an nhiên sáng suốt. Nếu thấy cảnh mà chúng ta đem
những kinh nghiệm của quá khứ để so sánh với cái thấy
hiện tại, rồi quyết định đúng sai, thì rơi vào đối đãi hai
bên; hễ còn đối đãi là còn sinh diệt, còn sinh diệt là còn
khổ đau.
Nếu đứng trƣớc quả bom sắp nổ làm gì để không
lo sợ? Hãy làm một với quả bom. Khi bạn làm một với
quả bom, thì bạn còn sợ gì? Bạn thấy vô lý và tự nhủ…
nhƣng dù bạn có muốn thế hay không, bạn cũng bị bắt
buộc làm một với nó, phải không? Cũng nhƣ thế, nếu
bạn bị hỏa thiêu, chắc chắn bạn bị đốt cháy. Vì vậy, bạn
chỉ cần làm một với lửa, khi không còn lối thoát. Nếu
bạn nghèo, hãy sống trong cảnh nghèo mà không nổi
loạn, thì sự nghèo sẽ không đè nặng lên bạn. Cũng nhƣ
vậy, nếu bạn giàu, hãy sống với sự giàu có của mình. 120
Có một cô kỹ nữ Nhật Bản là con của một võ sĩ
theo hộ tá vị tƣớng quân. Do vị tƣớng quân này bị thất
thế sa thải, nên sự nghiệp gia sản của võ sĩ cha cô cũng
119 “Trong sắc thân… an nhiên” Kiến tánh thành hật, trang 282-283 – Hòa
thƣợng Thích Thanh Từ giảng giải .
120 “Nếu đứng trƣớc… của mình” M t l i hành Thiền, trang 61 - Hải Ân.
137
Đức Thanh
bị tiêu hao suy sụp. Cô bị bán làm kỹ nữ. Nhƣng cô kỹ
nữ này lại thông minh, cô có tài nên rất nổi tiếng. Mỗi
lần nghĩ đến hoàn cảnh bất hạnh của mình, cô luôn có
sự buồn tủi nên tinh thần cô cũng bị ảnh hƣởng. Khi ấy,
một vị khách có học thiền thấy vậy mới hỏi nguyên do
cô liền thú thật. Khách nói có một cách chữa đƣợc bệnh
của cô nhƣng không biết cô có tin hay không? Cô nghe
liền năn nỉ, nếu thật nhƣ vậy thì làm sao tôi không tin.
Ông khách hƣớng dẫn cô tập thiền quán, dạy cô tập
quán xét kỹ toàn thân của cô, không có gì là không do
tri giác hoạt động, tức là toàn thân cô do có tri giác nên
mới hoạt động, không có chỗ nào thiếu hết. Do có biết,
có tri giác nên mới hoạt động, vậy tri giác đó có một
ông chủ. Khi làm bất cứ việc gì, ngay cả khi cô vội vã,
bận rộn hết sức thì cô vẫn phải nhìn ông chủ bên trong
đó: Cái gì thấy, cái gì nghe? Cái gì đang thấy đây, cái gì
đang nghe đây?
Nếu cô quán chiếu một cách siêng năng không lơi
lỏng, không gián đoạn thì Phật tính s n có của cô sẽ
xuất hiện. Và khi đạt đến trạng thái này, cô sẽ thấy đó là
con đƣờng tắt để giải thoát mọi cảnh giới đau khổ. Cô
ghi nhớ và thực hiện chuyên cần, đến một lúc khi sự chú
tâm miên mật, khít khao của cô lúc nào cũng hiện hữu.
Một ngày, trời giông bão, sấm sét quá to, cô lại sợ sấm
sét mới trùm mền núp. Lúc ấy, bất chợt cô nhớ lại bài
tập này liền trấn tĩnh không sợ nữa, rồi ngồi bật dậy.
Khi đó ngoài trời vừa có cơn sét đánh mạnh vào sân nhà
cô, sức mạnh đó hất cô bật ngửa và làm cô ngộp thở bất
tỉnh giây lát. Ngay lúc ấy, cô lấy bình tĩnh thở lại đƣợc
và bỗng nhiên cô nhận đƣợc cái tri giác đang sáng
138
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
ngời đó. Niềm vui đến với cô không thể diễn tả đƣợc, từ
đó cuộc đời cô chuyển hóa, cuộc sống thực sự có ánh
sáng. Đó là đánh thức cái biết đang hiện hữu nơi chính
mình, mỗi ngƣời xem toàn thân mình có chỗ nào thiếu
không? Nhƣng vì chúng ta không nhớ. Nếu ngay đây
thƣờng xuyên quán trở lại thì ánh sáng tự tánh luôn hiện
hữu đó có lúc sẽ xuất hiện, chạm đến đâu nó cũng liền
cảm nhận ngay, đâu thiếu. Vậy còn tìm chỗ nào nữa, rõ
ràng là mê.121
Thiền sƣ Nghĩa Hoài có bài kệ:
Nhạn quá trƣờng không,
Ảnh trầm hàn thủy,
Nhạn vô di tích chi ý,
Thủy vô lƣu ảnh chi tâm.
“Nh n ay trên không,
Bóng chìm áy nước,
Nh n không ý ể dấu,
Nước không tâm giữ óng.” 122
Tức là đi qua tất cả cảnh mà chẳng để lại dấu vết
gì, không lƣu giữ trong tâm một bóng dáng. Đó mới thật
tùy duyên tự tại. Gọi là vào nƣớc mà không quậy sóng,
vào rừng mà không động lá. Chỗ này có thể bắt chƣớc
đƣợc sao? 123
121 “Có một cô… là mê” Con ường giải thoát, trang 214, 215 - Hòa thƣợng
Thích Thông Phƣơng.
122 “Thiền sƣ… giữ bóng” Kinh kim cang giảng lục, trang 383 - Hòa thƣợng
Thích Thông Phƣơng.
123“Tức là… sao?” Thiền tông n ng , trang 201 – Hòa thƣợng Thích Thông
Phƣơng.
139
Đức Thanh
Thiền sƣ Thanh Viễn (hiệu Phật Nhãn) dạy: “Đạo
chẳng bởi nói với chỉ rồi sau mới hiểu, bởi vì thể nó tự
thƣờng bày.” 124
Ngài nói về tâm thể, đó tức là đạo. Thƣờng thƣờng
chúng ta không hiểu, tƣởng đạo là khác, tâm là khác.
Nhƣng sự thật đạo đây là chỉ cho cái tâm thể của chính
mình. Đ o ó không phải do chỉ hay nói rồi sau mới có,
mà nó hằng hiển ày ngay ở nơi mọi người.
Cũng nhƣ, hiện giờ chúng ta đang ở trong không
khí, chúng ta đang hít thở không khí, nhƣng vì công
việc đa đoan, nên chỉ nhớ công việc, mà quên mình
đang sống nhờ (mƣợn) hít thở không khí. Nhờ có ngƣời
nào nhắc cho chúng ta nhớ, tức thì ta sực nhớ lại mình
ta hít thở không khí (vay). Vậy không khí đó, mình mới
hít thở, hay nó đã s n có, nhƣng mình tự quên, chớ
không phải đợi chỉ mới có, đợi nói mới có. Tâm thể
cũng vậy, vì chúng ta sống trong đó mà quên, nên khi
nhắc, hay chỉ, liền sực nhớ lại. Nhận ra, đó gọi là thấy
đạo, hay ngộ đạo. Vậy đạo không phải mới thấy, không
phải mới ngộ, mà s n ở bên chúng ta. Do đó, đức Phật
khi thành Phật ngài nói: “Tất cả chúng sinh đều có Phật
tánh.” Tức là cái đó có s n rồi. Vì vậy Phật nói: “Ta là
Phật đã thành, các ngƣơi là Phật sẽ thành.” Đã có cái đó
thì chỉ cần một phen nhớ lại liền đƣợc, đâu có xa, đâu có
nhọc? Nhƣng chúng ta lại không chịu nhớ. 125
124 “Đạo… bày” Chỉ yếu tu thiền, trang 159 - Thích Trúc Thông Quảng.
125 “Ngài nói về… chịu nhớ” Chỉ tâm yếu cho người tu Thiền phần 3 – Hòa
thƣợng Thích Thanh Từ giảng. Nguồn: www.tamlinhhuyenbi.net/threads-chi-
tam-yeu-cho-nguoi-tu-thien-ht-thich-thanh-tu.20/
140
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
CHÍ CAO MÀ HẠNH CHƯA THEO KỊP
Một đoạn trong thƣ đáp gởi một cƣ sĩ ở Vĩnh
Gia (Lá Thư Tịnh Đ do Hòa thƣợng Thích Thiền
Tâm dịch). Ngài Ấn Quang Đại sƣ viết:
Lý nhị không, tức là ngã không và pháp không.
Ngã không là biết rõ trong năm ấm hoặc sắc hoặc tâm
(sắc là sắc thân, sắc ấm; tâm là thọ, tƣởng, hành, thức)
đều do nhân duyên hòa hợp sinh ra, khi nhân duyên
chia lìa liền mất, không thật có cái ta làm chủ tể.
Pháp không là thấu suốt năm ấm đƣơng thể vốn
không. Tâm Kinh nói: “Soi thấy năm uẩn đều không”
chính là nghĩa này.
Lý pháp không đây tức là thật tướng, do phá vô
minh chứng đƣợc, nên nói: “Vƣợt qua tất cả khổ ách.”
Lại lý thể pháp thân lìa hẳn những tƣớng: sinh, diệt,
đoạn, thƣờng, có, không, mà làm căn bản của các
tƣớng, rất là chân thật, nên gọi thật tƣớng. Thật tƣớng
này chúng sinh cùng Phật vẫn đồng, mà hàng phàm
phu, Nhị Thừa do vì mê bỏ nên không đƣợc thọ dụng.
Ví nhƣ tự mình có hạt bảo châu trong vạt áo, vì không
hay biết nên phải chịu nghèo hèn. Ngộ đạo là trạng thái
thông suốt rõ ràng, nhƣ mây tan trăng hiện, cửa mở núi
bày, lại nhƣ ngƣời mắt sáng trông thấy đƣờng về, và
cũng nhƣ ngƣời từ lâu nghèo khổ bỗng gặp kho báu.
Chứng đạo là nhƣ theo đƣờng cũ về đến nhà phủi chân
ngồi nghỉ, lại nhƣ đem kho báu ấy tùy ý tiêu dùng. Ngộ
thì kẻ đại tâm phàm phu, kiến giải đồng với Phật.
Chứng đạo thì bậc sơ địa không biết chỗ cất bƣớc tới
141
Đức Thanh
lui của nhị địa. Hiểu đƣợc nghĩa ngộ và chứng này, tự
nhiên chẳng khởi lòng khinh mạn bậc trên, cũng không
sinh tâm lui sụt, mà ý chí cầu sinh Tịnh Độ dù muôn
trâu vẫn không thể kéo lôi. 126
Chứng thật tướng ngay đời hiện tại, chẳng phải
thế gian tuyệt không ngƣời, nhƣng e cƣ sĩ chƣa có
căn lành ấy. Nếu tôi không nói rõ duyên cớ, hoặc khi
cƣ sĩ chí cao mà h nh chưa theo kịp, vì quá vọng
tƣởng đến sự chứng quả, lâu ngày sinh ra bệnh cuồng
loạn tán tâm. Chừng ấy cầu sinh hóa ra đọa, muốn
khéo trở thành vụng, kết quả cũng không thoát khỏi
luân hồi. Phải biết, ngộ đƣợc lý nhị không duy hạng
phàm phu lợi căn mới có đủ khả năng.
Nhƣ bậc ngƣời Viên Giáo ở nơi vị danh tự tuy
chƣa phục đoạn phiền não, mà sự tỏ ngộ cùng chƣ
Phật vẫn đồng. Nếu nói ƣớc về Tông, cảnh giới ấy
gọi là đại triệt, đại ngộ; ƣớc về Giáo là đại khai viên
giải. Nhƣng đại ngộ cùng viên giải, không phải chỉ tỏ
ngộ một cách mƣờng tƣợng đâu! Nhƣ Bàng cƣ sĩ
nghe Mã Tổ nói câu: “Đợi khi nào ngƣơi uống một
hớp hết nƣớc sông Tây, ta sẽ nói cho”, liền quên
ngay sự huyền giải. Ngài Đại Huệ Kiểu nghe Viên
Ngộ thiền sƣ ngâm câu: “Gió nồm vào điện các, hơi
mát vẩn vơ sinh”, cũng thế. Trí Giả đại sƣ tụng Kinh
háp Hoa đến câu: “Đó là chân tinh tấn, gọi là chân
pháp cúng dƣờng Nhƣ Lai...” trong phẩm Dư c
Vương Bản Sự, thoạt rỗng suốt đại ngộ, lặng lẽ nhập
định, thấy hội Linh Sơn nghiễm nhiên chƣa tan. Ngộ
126 “Lý nhị không… kéo lôi” Lá thư Tịnh , trang 122, 123 - Ấn Quang đại
sƣ - Hòa thƣợng Thích Thiền Tâm dịch.
142
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
đƣợc nhƣ thế mới gọi là đại triệt, đại ngộ, đại khai
viên giải. Đó là ngộ đạo, nếu nói đến chứng đạo vào
thể thật tƣớng, thì lại không phải là việc làm của
hạng cụ phƣợc phàm phu.
Ngài Nam Nhạc Huệ Tƣ, thầy đắc pháp của Trí
Giả Đại sƣ, là bậc có thần thông trí huệ lớn. Khi sắp
tịch, có ngƣời hỏi đến chỗ chứng ngài đáp: “Ta ban
sơ chỉ cầu Đồng Luân, nhƣng vì lãnh chúng quá sớm,
chỉ chứng đƣợc Thiết Luân mà thôi.” (Đồng Luân tức
là vị Thập Trụ, phá vô minh, chứng thật tƣớng, vào
cõi thực báo, phần chứng Tịch Quang. Bậc sơ trụ có
thể hiện làm thân Phật trong một trăm cõi Đại Thiên
để giáo hóa chúng sinh. Nhị trụ thì một ngàn cõi, tam
trụ một muôn, mỗi trụ số tăng lên gấp mƣời. Thiết
Luân tức là vị thập tín. Sơ tín dứt kiến hoặc, thất tín
dứt tƣ hoặc, bát, cửu, thập tín phá trần sa, phục vô
minh. Ngài Nam Nhạc thị hiện ở ngôi thập tín, thì
còn chƣa chứng đƣợc thật tƣớng). Trí Giả Đại sƣ, lúc
sắp tịch, có kẻ hỏi: “Đại sƣ chứng đến vị nào?” Đáp:
“Nếu ta không lãnh chúng, tất thanh tịnh sáu căn, vì
tổn mình lợi ngƣời nên chỉ đƣợc ngũ phẩm.” (Sáu
căn thanh tịnh, tức là vị thập tín. hẩm háp Sư
Công Đức trong Kinh háp Hoa đã nói: Ngũ phẩm là
vị quán hạnh, phục hết ngũ trụ phiền não mà chƣa
dứt đƣợc kiến hoặc).
Ngẫu Ích Đại sƣ lúc lâm chung có bài kệ rằng:
“Danh tự vị đây là Phật nhãn. Rồi ra biết sẽ phó ai?”
(Địa vị danh tự viên ngộ tạng tánh, chỗ tỏ ngộ đồng với
Phật, song còn chƣa phục đƣợc kiến hoặc, tƣ hoặc,
huống chi dứt trừ? Ngƣời đại ngộ ở đời mạt pháp, phần
nhiều thuộc về hạng này. Xem nhƣ ngài Ngũ Tổ Giới
143
Đức Thanh
thân sau làm Tô Đông Pha, ngài Thảo Đƣờng Thanh
làm Tăng Lỗ Công, ấy đó là còn khá…)
Vậy cƣ sĩ nên tự lƣợng xem mình có thể siêu việt
ba Đại sƣ ấy chăng? Tốt hơn là nên niệm Phật tụng
kinh, bồi đắp căn lành, ngày kia sinh về Tây phƣơng tùy
nơi công hạnh cạn sâu lần lần tu tập, thì sớm muộn gì
cũng sẽ đƣợc đạo quả, là con đƣờng duy nhất để chứng
thật tướng của ngƣời đời nay đó! 127
Đến nhƣ việc xem kinh, nếu nhƣ muốn làm pháp
sƣ vì chúng tuyên dƣơng, thì nên trƣớc xem chánh
văn, sau hãy xem lời chú giải. Nếu xét thấy mình tinh
thần không đầy đủ, kiến giải chẳng hơn ngƣời thì hãy
chuyên niệm Phật, chớ nên phí tâm lực, hao tháng
ngày đi theo việc không cần kíp ấy.128
Ông Bạch Lạc Thiên làm lời tụng rằng: “Ta tuổi
bảy mƣơi mốt, chẳng ham việc ngâm nga, coi kinh
mỏi con mắt, làm phƣớc sợ bôn ba, lấy chi độ tai
mắt, cứ một tiếng niệm Di Đà, đi cũng niệm A Di
Đà, ngồi niệm A Di Đà, dẫu việc chi gấp rút, chẳng
lìa câu Di Đà, khuyên chúng trong pháp giới, đồng
niệm A Di Đà, muốn thoát luân hồi khổ, phải niệm A
Di Đà.” 129
127 “Chứng thật tƣớng… nay đó!” Lá thư Tịnh , trang 108-111 - Ấn Quang
Đại sƣ - Hòa thƣợng Thích Thiền Tâm dịch.
128 “Đến nhƣ… kíp ấy”- Lá thư Tịnh , trang 113,114 - Ấn Quang Đại Sƣ -
Hòa thƣợng Thích Thiền Tâm dịch.
129 “Ông Bạch… Di Đà” Long thơ Tịnh , trang 31 - Hòa thƣợng Thích
Hành Trụ dịch.
144
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
VẤN ĐÁP GIẢI NGHI
1- Giải nghi về Du Tâm T nh đ T T nh
Di Đà
Có ngƣời vì quá thiên trọng lý thuyết nên khinh
lờn thực hành. Lý họ thƣờng viện ra câu: “Tự tánh Di
Đà, duy tâm Tịnh độ”, rồi liền lầm cho rằng Tịnh độ
chỉ ở trong tâm, làm gì có cõi Tây phƣơng mà hằng
mong về! Thế là họ phủ nhận tất cả 48 đại nguyện của
đức A Di Đà và thế giới Cực lạc trang nghiêm. Có sự
chấp nệ tai hại ấy, nguyên do chỉ vì họ lầm lẫn hai hiện
tƣợng Chân Ðế và Tục Ðế mà họ vô tình đem trộn lại
làm một. Vì lấy thể làm dụng nên thể dụng hỗn loạn,
chân tục bất phân. Đã là ngƣời học Phật, ít nhất cũng
đã từng đọc qua bài Bát Nhã Tâm Kinh. Trong Tâm
Kinh có dạy rằng: “Vô trí diệc vô đắc” (không có trí
mà cũng không có sở đắc). Nhƣng liền sau đoạn ấy,
Tâm Kinh lại dạy: “Dĩ vô sở đắc cố… đắc a nậu đa la
tam miệu tam Bồ Ðề” (Vì vô sở đắc cố… đƣợc quả Vô
Thƣợng Bồ Ðề). Qua hai đoạn kinh ấy, ta thấy rằng:
Nếu y vào Chân Ðế thì nói rằng không có “sở đắc”
(chỗ đạt đƣợc), nhƣng nếu y vào Tục Ðế thì phải nói
rằng có sở đắc. Nếu lầm lẫn Chân Ðế và Tục Ðế, tức là
tự mâu thuẫn rồi vậy. Các câu nhƣ trên, không riêng gì
Tâm Kinh mới có, trong các kinh khác thƣờng cũng
nói đến. Đó là y cứ vào hai phƣơng diện chân và tục
bất đồng mà khai thị cho rõ khía cạnh, xin các học giả
đừng ngộ nhận khiến sai lạc hết ý nghĩa uẩn áo của
kinh văn. Còn nhƣ ngài Lục Tổ, khi ngài phủ nhận
cảnh giới Tây phƣơng, chính là lúc ngài đƣơng y vào
145
Đức Thanh
chân lý thƣờng trú để thuyết minh chân tâm, chứ không
phải y vào tục lý để nói về các cảnh giới. Vì duy chân
thì hết thảy đều không, nhƣng duy tục thì vạn hữu đều
có. Chúng ta không nên tuyệt đối nhận lầm rồi chấp
trƣớc ý Tổ, khiến sinh tâm mạt sát pháp môn Tịnh độ.
Có hiểu đƣợc nhƣ vậy thì mới thật là biết cách đọc
sách cổ nhân một cách thiện xảo và thâm hiểu ý cổ
nhân một cách tinh vi.
Vì các lý do trên, một lần nữa, ta phải cân nhắc lại
thật kỹ để định lại một cách chân xác giá trị và phạm vi
của câu danh ngôn “Tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh độ”.
Nếu đứng về phƣơng diện Chân Ðế mà nói thì không
một pháp gì tồn tại (nhất pháp bất lập), ngay đến Phật
cũng không còn đƣợc trú trƣớc, huống nữa là Cực lạc
và niệm Phật cầu vãng sinh! Vì thế mà nói ngoài bản
tánh không có Di Đà (tự tánh Di Dà) và ngoài tâm
không có Tịnh độ (duy tâm Tịnh độ). Cảnh giới ấy là
cảnh giới tuyệt đối của Ðệ Nhất Nghĩa Không, cho nên
đem “dụng” quy về “thể” thì không một pháp nào đƣợc
gọi là pháp sở đắc cả.
Ngƣợc lại, khi chƣa đạt đƣợc Ðệ Nhất Nghĩa
Không thì phải trú trên “dụng” mà nói và phải nƣơng
theo từng tầng bậc tu chứng để làm bàn đạp và tiến lên,
do đó mỗi tầng bậc đều có những pháp sở đắc riêng
biệt. Đối với công phu nội chứng của hành giả chƣa đạt
đến trình độ tuyệt đối thì không thể bảo rằng tâm cảnh
đều không, thọ tƣởng đều tịch. Tâm cảnh chƣa không,
thọ tƣởng chƣa tịch thì hiển nhiên năng và sở còn tồn
tại, y báo và chánh báo đều phân minh. Một sắc, một
146
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
hƣơng, một cành hoa, một ngọn lá của cảnh giới Cực
lạc trang nghiêm, thảy đều là đối tƣợng của ta và ta cần
phải mong cầu đạt đến chứ không thể bỏ qua. Nếu
không tự lƣợng sức, chỉ nhắm mắt học thuộc luận điệu
của kẻ khác, có thể rất xác thực với kẻ ấy, nhƣng chỉ là
lý suông đối với mình, thì có khác nào kẻ điên rồ chƣa
qua khỏi sông đã toan bỏ thuyền bè! 130
Cũng có ít ngƣời chuyên tu về phép tham thiền
nói Tâm là Tịnh độ đâu có Tịnh độ nào. Tánh là Di Đà,
bất tất cầu thấy Di Đà nào nữa.
Lời nói ấy mới nghe qua tuồng nhƣ là phải, mà
xét lại thời không phải. Vì sao? Bởi cảnh Tây phƣơng
Tịnh độ, có lý có sự. Luận về lý, thời hễ tâm mình tịnh
thời tất cả đều tịnh, thật đúng cái nghĩa tâm là Tịnh độ.
Luận về sự, thời quả có thế giới Cực lạc, đức Phật đã
cặn kẻ dạy rành, Ngài đâu có nói vọng.
Nghĩa là ngƣời nào cũng có thể thành Phật đặng,
đó là tánh mình đã có ông Phật Di Đà, quyết chắc
không sai vậy. Nhƣ mà bây giờ cái tâm chƣa đặng
thanh tịnh, thời làm sao nói: Tâm là Tịnh độ, Tánh là
ông Phật Di Đà?
Ví nhƣ có một thứ cây danh mộc, cây ấy có thể
chạm trổ hình tƣợng Phật, hình Bồ Tát cực kỳ xinh
đẹp, song cần phải gia công dùi mài khắc chạm, vậy
sau mới thành, chớ chẳng lẽ vội chỉ cây danh mộc kêu
là tƣợng Phật thật khéo, tƣợng Bồ Tát rất đẹp.
130 “Có ngƣời… thuyền bè” háp môn Tịnh , trang 172, 176 - Hòa Thƣợng
Thích Trí Thủ.
147
Đức Thanh
Thế là ngƣời tham thiền nói: Tâm là cõi Tịnh độ,
Tánh mình là ông Phật Di Đà, tất bất cần thấy Di Đà
nào khác, ấy là không phải lẽ vậy. Lại nữa hoặc tin có
Tịnh độ mà chấp Tịnh độ là ở trong tâm mình, không
muốn cầu sinh về Tây phƣơng kia vậy. Nghĩa là họ
nói: Hễ tham thiền tỏ ngộ tánh mình, thì cố nhiên bằng
Phật, bằng Tổ, lời nói ấy cũng quấy nữa. Vì sao? Lời
ấy thật là cao quá cao, nhƣng mà không thực hành cho
kịp lời ấy: “Năng thuyết bất năng hành”, nghĩa là Nói
ư c mà làm không ư c.131
Thầy hiệu trƣởng Trƣơng Lạc Tây là một Phật tử
thuần thành nghiên cứu Phật pháp rất sâu, cũng rất
khẩn thiết niệm Phật. Lúc nói chuyện thầy hiệu trƣởng
hỏi tôi:
- Con có một nghi vấn xin Hòa thƣợng từ bi giải
thích, không biết có phiền lắm không?
Tôi nói:
- Có nghi vấn gì ông cứ hỏi.
- Con đọc kinh, đọc ngữ lục, thấy có nói “Duy
tâm Tịnh độ, tự tánh Di Đà”, con thấy có chút nghi vấn
với hai câu này. Đã là “Duy tâm Tịnh độ” thì cần gì
phải cầu vãng sinh? Ngay nơi tâm tức là Tịnh độ, cầu
tâm của chính mình là đủ rồi, hà tất phải cầu vãng sinh
Tây phƣơng? “Tự tánh Di Đà“, chúng ta ai cũng có tự
tánh, cần gì phải niệm Phật A Di Đà ở Tây phƣơng? Tự
tánh chính là Phật A Di Đà, hà tất niệm Phật A Di Đà?
131 “Cũng có… không đƣợc” Long thơ Tịnh , trang 54, 55 - Hòa thƣợng
Thích Hành Trụ dịch.
148
NHẬN RA CHÍNH MÌNH
Ông ta hỏi cũng đúng, tôi nói: “Ông nghi vấn
rất đúng, phải nên nghi nhƣ thế, nếu nhƣ không biết
nghi vấn thì việc học Phật của ông làm sao mà khai
ngộ đƣợc?
Tôi đi thẳng vào vấn đề, ông nói “Duy tâm Tịnh
độ”, đã có Tịnh độ này rồi thì cần gì phải xin lên Tịnh
độ ở Tây phƣơng Cực lạc thế giới?
Tây phƣơng Cực lạc có một cõi Tịnh độ, cũng là
Tịnh độ này, “duy tâm” của ông cũng là Tịnh độ này,
đƣơng nhiên là ông có thể hoài nghi.
“Duy tâm Tịnh độ” của ông đây với Tịnh độ ở
Tây phƣơng Cực lạc thế giới, hai Tịnh độ này chia ranh
giới ở đâu?
Chỗ nào đƣợc gọi là “Duy tâm Tịnh độ”, ở đâu là
Tịnh độ Tây phƣơng Cực lạc thế giới? Nhất định phải
phân biệt cho đƣợc cho rõ ràng, thì ông có thể niệm
chính ông, tu cái “Duy tâm Tịnh độ” của ông.
Còn “Tự tánh Di Đà”, cái “tự tánh Di Đà” của ông
và Phật A Di Đà ở cõi Tây phƣơng Cực lạc thế giới
phân biên cƣơng ở đâu?
Ở đâu là tự tánh Di Đà? Tự tánh Di Đà rộng bao
lớn? Biên giới của Phật A Di Đà ở Tây phƣơng Cực lạc
ở đâu? Bắt đầu chia ranh giới ngay chỗ nào?”
Thầy hiệu trƣởng suy nghĩ cả buổi nhƣng lại
không phân biệt đƣợc. Ở đâu là ranh giới của “Duy tâm
Tịnh độ”, ở đâu là chỗ của “Tự tánh Di Đà”, ở đâu là A
Di Đà Phật. Thầy nói:
- Chỗ này con chịu rồi!
Tôi nói: “Tất cả đều đúng cả, tôi nói tự tâm
chính là hật tâm, tự tính chính là hật tính! Nói đến
149