49 khoảng 200 nhân công và chủ yếu là phụ nữ. Vào các ngày lễ như ngày Quốc tế phụ nữ 8/3 hay dịp Tết Nguyên đán, ngoài khoản tiền lương hàng tháng mà các công nhân nhận được, Công ty thường có một phần tiền thưởng để động viên tinh thần làm việc của người lao động. Vậy khi nhận được những khoản tiền thưởng như trên, các công nhân có phải nộp thuế thu nhập cá nhân hay không? Trả lời: Thuế thu nhập cá nhân điều tiết đối với các khoản thu nhập hợp pháp của cá nhân thuộc các trường hợp quy định tại Điều 3 Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2014 như: thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, tiền công, thu nhập từ đầu tư vốn, thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản... Quy định tại tiết đ.7 điểm đ và điểm e khoản 2 Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC hướng dẫn thu nhập tiền công, tiền lương ghi rõ: “đ.7) Các khoản lợi ích khác. Các khoản lợi ích khác mà người sử dụng lao động chi cho người lao động như: chi trong các ngày nghỉ, lễ; thuê các dịch vụ tư vấn, thuê khai thuế cho đích danh một hoặc một nhóm cá nhân; chi cho người giúp việc gia đình như lái xe, người nấu ăn, người làm các công việc khác trong gia đình theo hợp đồng...
50 e) Các khoản thưởng bằng tiền hoặc không bằng tiền dưới mọi hình thức, kể cả thưởng bằng chứng khoán...”. Căn cứ quy định nêu trên, các khoản tiền chi cho thưởng, quà tặng... vào các dịp như Quốc tế phụ nữ 8/3, Tết Nguyên đán,... được xác định là thu nhập từ tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công. Do đó, trong trường hợp này, các công nhân vẫn phải kê khai và nộp thuế thu nhập cá nhân các khoản tiền được nhận nói trên. Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế đối với các khoản tiền nói trên là thời điểm Công ty M trả các khoản này cho người lao động. Các khoản tiền này được cộng vào thu nhập từ tiền lương, tiền công theo kỳ và tính thuế thu nhập cá nhân theo quy định của pháp luật. Ví dụ: Tiền chi ngày Quốc tế phụ nữ 8/3 được công ty trả cho công nhân trong tháng 3 thì sẽ được cộng vào cùng với tiền lương, tiền công của tháng 3 và tính thuế thu nhập cá nhân theo quy định của pháp luật sau khi trừ đi các khoản được miễn giảm, giảm trừ gia cảnh. Tiền thưởng Tết, lì xì Tết Nguyên đán hoặc tiền lương tháng thứ 13 được trả chung vào tháng 12 thì cũng sẽ được cộng vào cùng với tiền lương, tiền công tháng 12 và tính thuế thu nhập cá nhân theo quy định của pháp luật.
51 11 THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TRONG TRƯỜNG HỢP MUA, BÁN NHÀ Tình huống: Anh C đang sống trong căn nhà 2 tầng ở trung tâm Quận A, Thành phố H. Anh C dự định bán căn nhà này và mua một căn nhà khác nhỏ hơn để có dư một số tiền dùng làm vốn kinh doanh. Anh C đã tìm được căn nhà như mong muốn và cũng tìm được người dự định sẽ mua căn nhà mà anh đang ở.
52 Tuy nhiên, anh C phân vân là nên mua nhà trước rồi chờ người mua khác để bán nhà cũ với giá cao hơn hay bán nhà trước rồi mua nhà mới sau. Liệu có khác biệt gì về nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước khi thực hiện hai cách mua bán trên và cách nào sẽ có lợi cho anh C hơn? Trả lời: Như vậy, căn cứ quy định hiện hành, việc anh C mua nhà trước rồi mới bán căn nhà của mình và bán căn nhà hiện có trước rồi mới mua căn nhà mới sẽ có sự khác biệt về nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân đối với nhà nước. Trong đó: - Trường hợp anh C mua nhà trước, sau đó mới bán căn nhà hiện tại, thì sẽ có khoảng thời gian, anh C sở hữu 2 căn nhà cùng một lúc. Nên theo quy định của pháp luật hiện hành, thu nhập mà anh C nhận được khi bán nhà ở của mình sẽ phải nộp thuế thu nhập cá nhân do đây là thu nhập nhận được từ việc chuyển nhượng bất động sản một cách hợp pháp. - Trường hợp anh C bán nhà trước rồi mới mua căn nhà mới: Trường hợp này sẽ có lợi hơn cho anh vì phần thu nhập này được xác định là thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất. Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 4
53 Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007, sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2014 và khoản 2 Điều 4 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP thì đây là thu nhập được miễn thuế của các cá nhân.
54 12 MUA MÌ GÓI TRÚNG KHUYẾN MÃI CÓ PHẢI NỘP THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN KHÔNG? Tình huống: Gia đình anh H là gia đình thuộc diện khó khăn của xã Đ. Ngày 10/6/2018, gia đình anh được Ủy ban nhân dân xã thông báo lên trụ sở để nhận 2 thùng mì tôm do một mạnh thường quân ở Thành phố HCM gửi tặng các hộ gia đình nghèo trên địa bàn xã. Anh H phấn khởi đi nhận và thầm cảm ơn
55 sự giúp đỡ của mọi người và chính quyền đối với gia đình anh. Ngay trưa hôm đó, đang chuẩn bị ăn mì tôm, anh chợt nghe B, đứa con lớn 12 tuổi của mình reo lên: “Ba ơi, hình như mì 3 Miền đang khuyến mãi ăn trúng giải đó ba”. Anh H thấy vậy nói với con: “Vậy chút cắt gói mì con cẩn thận coi có trúng không nha”. Tuy nói vậy, nhưng trong bụng anh H nghĩ: “Có cái ăn là mừng rồi, còn nghĩ trúng giải gì nữa”. B nghe lời ba nên rất cẩn thận cắt 5 gói mì cho bữa trưa ăn và tìm thẻ cào bên trong. Khi lấy 5 thẻ cào, nó thầm khấn vái gì đó rồi mới cào từng thẻ một. Sau khi cào xong, B nhăn mặt vì nó thấy dòng chữ: “Chúc bạn may mắn lần sau”. Tuy nhiên, đến thẻ cào cuối cùng, sau khi cào xong, tự dưng B nhảy cẫng lên và hét lớn: “Ba ơi, trúng vàng ba ơi”. Anh H chưa tin lời con nên nói B đưa tấm thẻ cào để anh kiểm tra lại. Dòng chữ “Chúc mừng bạn đã trúng giải nhất” được in đậm và rất rõ nét trên phiếu cào. Biết chắc là sự thật, anh và gia đình vỡ òa trong niềm hạnh phúc. Sau khi gia đình anh H thông báo, phía công ty mì liên hệ với gia đình anh về việc trao giải thưởng dành cho giải nhất là 3 lượng vàng (quy đổi thành 111 triệu đồng). Nhưng khi công ty trao tiền, thực tế lại không đủ 111 triệu đồng. Anh H thắc mắc thì công ty giải thích là đã khấu trừ tiền thuế thu nhập cá nhân. Anh H không đồng ý vì cho rằng gia
56 đình anh là thuộc diện khó khăn của xã, được Nhà nước hỗ trợ hằng năm, do vậy không phải là đối tượng phải chịu thuế thu nhập cá nhân. Vậy anh H đúng hay công ty mì đúng? Trả lời: Căn cứ quy định tại điểm b khoản 6 Điều 3 Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2014 thì thu nhập từ trúng thưởng trong các hình thức khuyến mại phải chịu thuế thu nhập cá nhân. Bên cạnh đó, theo khoản 1 Điều 15 Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2014 thì: “Thu nhập chịu thuế từ trúng thưởng là phần giá trị giải thưởng vượt trên 10 triệu đồng mà đối tượng nộp thuế nhận được theo từng lần trúng thưởng”. Do vậy, khi quy đổi ra tiền, anh H chỉ bị điều tiết thuế cho phần thu nhập vượt trên 10 triệu chứ không phải bị điều tiết cho toàn bộ số tiền trúng thưởng. Thuế suất của thuế thu nhập cá nhân được quy định tại khoản 2 điều 23 Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2014 là: Thu nhập tính thuế Thuế suất (%) a) Thu nhập từ đầu tư vốn 5
57 Thu nhập tính thuế Thuế suất (%) b) Thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại 5 c) Thu nhập từ trúng thưởng 10 d) Thu nhập từ thừa kế, quà tặng 10 đ) Thu nhập từ chuyển nhượng vốn quy định tại khoản 1 Điều 13 của Luật này Thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán quy định tại khoản 1 Điều 13 của Luật này 20 0,1 e) Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản 2 Trong trường hợp này, thu nhập của anh H là thu nhập từ trúng thưởng, nên bị tính là 10% cho phần thu nhập vượt trên 10 triệu đồng. Cụ thể: - Thu nhập tính thuế của anh Hoàng là: 111 triệu đồng - 10 triệu đồng = 101 triệu đồng. - Thuế thu nhập cá nhân anh Hoàng phải nộp là: 101 triệu đồng x 10% = 10,1 triệu đồng. Vậy, số tiền anh H sẽ được công ty trả thực tế là: 101 triệu đồng - 10,1 triệu đồng = 90,9 triệu đồng.
58 Đồng thời, theo quy định tại Điều 24 Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2014, thì công ty khuyến mãi có nghĩa vụ trích số tiền thuế thu nhập cá nhân trước khi chi trả thu nhập cho anh H để nộp lại cho Nhà nước. Do đó, việc công ty làm là đúng theo quy định của pháp luật.
59 13 CHUYỂN NHƯỢNG BẤT ĐỘNG SẢN VỚI GIÁ THẤP HƠN GIÁ MUA CÓ PHẢI NỘP THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN KHÔNG? Tình huống: Ông H làm công nhân cho Công ty sản xuất Da giày BT gần 30 năm. Trong thời gian này, ông đã dành dụm được 800 triệu đồng dự định gửi tiết kiệm để dưỡng già. Tuy nhiên, tháng 3/2018, ông H nhận thấy khu vực huyện B nơi ông ở giá nhà, đất có xu hướng tăng lên chóng mặt. Cách nhà ông
60 khoảng 400m có căn nhà cuối năm 2016 bán 1,2 tỷ đồng, nhưng đến tháng 8/2017, đã bán lại được 2 tỷ đồng. Ông nhẩm tính, với đà tăng giá bất động sản như trên thì lợi nhuận từ việc mua bán bất động sản cao gấp mấy lần tiền lãi gửi ngân hàng. Vì vậy, ông quyết định đầu tư vào bất động sản. Sau gần một tháng tìm hiểu, ông được người bạn giới thiệu có lô đất mặt tiền đường hẻm 5m trên đường K, thị trấn T, huyện B, diện tích 100m2 , được rao tin chuyển nhượng với giá 800 triệu đồng. Thấy lô đất này hợp túi tiền và được nhiều người tư vấn là giá đất còn tăng trong thời gian tới, nên ông quyết định đồng ý chuyển nhượng vào tháng 9/2017. Sau 1 tháng làm các thủ tục, giấy tờ, lô đất nêu trên đã được sang tên cho ông H. Ngay lúc này, đã có người tìm ông và trả giá 1 tỷ đồng để ông sang nhượng lô đất đó, nhưng ông chưa đồng ý vì tin rằng giá sẽ còn tăng. Tuy nhiên, tháng 5/2018, vợ ông phát hiện bị bệnh ung thư phổi. Bác sĩ tư vấn là gia đình cần có số tiền lớn để chạy chữa cho bà. Ông quyết định rao tin muốn chuyển nhượng lô đất trên. Tuy vậy, lúc này, cơn sốt khu đất trên đã hạ nhiệt. Có một người đồng ý mức chuyển nhượng, nhưng chỉ trả giá 750 triệu đồng cho lô đất này. Vì muốn nhanh chóng có tiền trị bệnh cho vợ, ông H đành đồng ý mặc dù biết rằng giá như vậy là thấp hơn lúc ông mua lô đất trước đó.
61 ịấKhi làm thủ tục sang tên lô đất, cơ quan thuế yêu cầu ông H nộp thuế thu nhập cá nhân cho hoạt động chuyển nhượng bất động sản nêu trên. Ông H không đồng ý vì cho rằng lúc đầu ông phải trả 800 triệu đồng và giờ chuyển nhượng với giá 750 triệu đồng là bị lỗ, nên ông không có thu nhập. Vậy trong trường hợp này, ông H có phải nộp thuế thu nhập cá nhân cho hoạt động chuyển nhượng bất động sản không? Trả lời: Thu nhập của ông H trong trường hợp trên là thu nhập có được từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản. Đây là thu nhập được tính thuế thu nhập cá nhân theo Điều 3 Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2014, vậy nên thu nhập này phải chịu sự điều chỉnh của thuế thu nhập cá nhân. Lập luận của ông H sẽ đúng nếu đối chiếu với các quy định pháp luật thuế áp dụng từ ngày 01/01/2009 đến ngày 31/12/2014. Trong khoảng thời gian này, theo quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân có 2 cách tính thuế thu nhập cá nhân cho thu nhập có được từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản của cá nhân là1 : 1. Tham khảo các Điều 14, 23 Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 (khi luật này chưa được sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2014).
62 Cách 1: Thuế thu nhập cá nhân = (Giá bán - giá mua - chi phí liên quan) x 25% Theo cách tính này, ông H mua 800 triệu đồng và bán 750 triệu đồng nên không có thêm thu nhập từ lợi nhuận bán bất động sản và không phải nộp thuế. Cách 2: Thuế thu nhập cá nhân = Giá chuyển nhượng bất động sản x 2% Theo cách tính này, Nhà nước không quan tâm đến giá mua trước đây mà chỉ quan tâm, quản lý phần giá bán bất động sản. Tuy nhiên, từ ngày 01/01/2015, khoản 6 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế năm 2014 đã thay đổi cách tính thuế đối với thu nhập có được từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản như sau: “Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng bất động sản được xác định là giá chuyển nhượng từng lần”. Do vậy, lập luận của ông H trong trường này là chưa chính xác. Theo đó, trong trường hợp này, cách tính thuế thu nhập cá nhân của ông H như sau: Thuế thu nhập cá nhân = Giá chuyển nhượng bất động sản x 2% = 750 triệu đồng x 2% = 15 triệu đồng Lưu ý: Trường hợp trên hợp đồng chuyển nhượng không ghi giá đất hoặc giá đất trên hợp
63 đồng chuyển nhượng thấp hơn giá do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định thì giá chuyển nhượng đất là giá do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại thời điểm chuyển nhượng theo quy định của pháp luật về đất đai.
64 14 TÀI SẢN CÓ ĐƯỢC KHI LY HÔN CÓ CHỊU THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN KHÔNG? Tình huống: C và D là cặp đôi “thanh mai, trúc mã” trong thị trấn B, huyện H, tỉnh Đ. Tháng 6/2013, C và D nên vợ, nên chồng. Để tạo điều kiện cho vợ chồng C và D làm ăn sinh sống, gia đình anh C đã cho họ
65 một nền đất diện tích 150m2 trên đường Q, còn gia đình chị D cho 500 triệu đồng để xây nhà và làm vốn kinh doanh. Hai vợ chồng anh C dành ra 250 triệu đồng để xây trên đó một căn nhà nhỏ và mở tiệm tạp hóa kinh doanh. Sau 4 năm chí thú làm ăn, hai vợ chồng đã mở rộng tiệm tạp hóa thành đại lý phân phối mặt hàng sữa các loại cho toàn thị trấn. Tuy nhiên, từ ngày có chút tài chính, anh C đã không còn quan tâm nhiều đến vợ nữa vì chị D chỉ biết buôn bán và lo con cái, không chịu chăm sóc mình, lại không sinh được con trai cho anh C. Anh C ngày càng mải mê chơi bời, buông thả bản thân. C sau đó tán tỉnh và gặp gỡ L, một cô gái 19 tuổi. C đồng ý cấp dưỡng cho L mỗi tháng 20 triệu và một số sinh hoạt phí phát sinh khác. L trở thành “bà nhỏ”, ngày càng được C chiều chuộng hơn khi L mang thai và được xác định là con trai thì L thay đổi hẳn. Cô không cam chịu thân phận “bà nhỏ” mà muốn có danh phận rõ ràng. C quyết định nộp đơn ly dị để dễ dàng đến với L và chính thức chăm lo cho con trai của mình. Tại Tòa khi giải quyết ly hôn, C và D đã thỏa thuận chia cho D căn nhà trước đây được tạo lập từ tiền hai bên cho và 2 tỷ đồng tiền mặt, còn C sẽ nhận 2 tỷ đồng cùng với lô đất trên đường quốc lộ. Tuy nhiên, lô đất trên đường quốc lộ lại do chị D đứng tên nên khi chia thì chị D đã làm thủ tục
66 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh C. Vậy khi làm thủ tục này, anh C có phải nộp thuế thu nhập cá nhân không? Trả lời: Theo quy định của pháp Luật thuế thu nhập cá nhân, chị D chuyển nhượng quyền sử dụng đất sang cho anh C thì hoạt động này sẽ làm phát sinh thu nhập phải chịu thuế thu nhập cá nhân. Tuy nhiên, về bản chất, việc chị D chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ chị D sang cho anh C không phải là hành vi mua, bán chuyển nhượng đất phát sinh lợi nhuận, mà là hoạt động chuyển nhượng đất để thực hiện thỏa thuận khi ly hôn đối với tài sản chung của vợ và chồng. Vậy nên, theo điểm a khoản 1 Điều 3 Thông tư số 111/2013/TT-BTC thì: “Trường hợp bất động sản (bao gồm cả nhà ở hình thành trong tương lai, công trình xây dựng hình thành trong tương lai theo quy định pháp luật về kinh doanh bất động sản) do vợ hoặc chồng tạo lập trong thời kỳ hôn nhân được xác định là tài sản chung của vợ chồng, khi ly hôn được phân chia theo thỏa thuận hoặc do tòa án phán quyết thì việc phân chia tài sản này thuộc diện được miễn thuế”. Do vậy, trong trường hợp này, anh C không phải thực hiện việc nộp thuế thu nhập cá nhân.
67 15 GIẢM TRỪ GIA CẢNH KHI TÍNH THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Tình huống: Anh X đang là Giám đốc của một công ty cổ phần tại Việt Nam, có mức lương ổn định là 30 triệu đồng/tháng. Hiện nay, anh X đang phụng dưỡng mẹ già 80 tuổi và nuôi 2 con còn nhỏ (3 tuổi và 15 tuổi). Vợ anh X chỉ ở nhà chăm sóc mẹ và 2 con nên không có thu nhập. Ngày 10/12/2017, khi
68 bộ phận nhân sự của công ty thực hiện quyết toán thuế thu nhập cá nhân cho anh X thì chỉ xác định mẹ và 2 con của anh X là người phụ thuộc để thực hiện thủ tục giảm trừ gia cảnh cho anh X. Anh X thắc mắc thì nhân viên phòng nhân sự trả lời rằng, mặc dù vợ anh X không có thu nhập nhưng vẫn trong độ tuổi lao động, không bị khuyết tật, không bị mất khả năng lao động nên không phải là người phụ thuộc của anh X. Anh X cho rằng việc trả lời trên là chưa đúng, vì việc vợ anh không đi làm là do phải lo chăm sóc mẹ già và con nhỏ chứ không phải là không muốn đi làm. Vì vậy, việc vợ anh phải phụ thuộc vào anh là hoàn toàn đúng. Vậy khi tính thuế thu nhập cá nhân, anh X sẽ được giảm trừ gia cảnh như thế nào? Trả lời: Theo quy định tại Điều 19 Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2014 và Điều 12 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP thì giảm trừ gia cảnh là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của đối tượng nộp thuế là cá nhân cư trú. Giảm trừ gia cảnh gồm 2 phần: - Giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế: 9 triệu đồng/tháng. - Giảm trừ cho mỗi người phụ thuộc: 3,6 triệu đồng/tháng.
69 Việc xác định mức giảm trừ gia cảnh đối với người phụ thuộc thực hiện theo nguyên tắc mỗi người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ một lần vào một đối tượng nộp thuế. Theo quy định hiện hành, người phụ thuộc bao gồm: - Con (bao gồm con đẻ, con nuôi hợp pháp, con riêng của vợ, con riêng của chồng) dưới 18 tuổi; - Con (bao gồm con đẻ, con nuôi hợp pháp, con riêng của vợ, con riêng của chồng) từ 18 tuổi trở lên bị khuyết tật không có khả năng lao động; - Con (bao gồm con đẻ, con nuôi hợp pháp, con riêng của vợ, con riêng của chồng) đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, kể cả con từ 18 tuổi trở lên đang học bậc học phổ thông mà không có thu nhập hoặc có thu nhập không vượt quá mức thu nhập 1 triệu đồng/tháng; - Người ngoài độ tuổi lao động, người trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật nhưng bị khuyết tật không có khả năng lao động mà không có thu nhập hoặc có thu nhập nhưng không vượt quá mức thu nhập 1 triệu đồng/tháng, bao gồm: Vợ hoặc chồng của người nộp thuế; Cha đẻ, mẹ đẻ, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ nuôi hợp pháp, cha vợ, mẹ vợ (hoặc cha chồng, mẹ chồng) của người nộp thuế; Cá nhân khác không nơi nương tựa mà người nộp thuế phải trực tiếp nuôi dưỡng.
70 Như vậy, trường hợp của anh X vẫn được giảm trừ gia cảnh, cụ thể như sau: - Giảm trừ cho bản thân người nộp thuế: 9 triệu đồng/tháng. - Giảm trừ cho người phụ thuộc: + Mẹ (80 tuổi): Trường hợp này do anh X chưa nêu rõ về mức thu nhập của mẹ anh nên chưa đủ cơ sở để xác định mẹ anh có phải là người phụ thuộc của anh hay không. Bởi vì, cho dù bà đã ngoài độ tuổi lao động, nhưng nếu có thu nhập trên 1 triệu đồng/tháng thì bà vẫn không được coi là người phụ thuộc của anh X. + Hai con (3 tuổi và 15 tuổi): Do con anh X đang dưới 18 tuổi nên vẫn có thể là người phụ thuộc của anh X. + Vợ: Trường hợp này cũng chưa rõ các thông tin nên rất khó xác định vợ anh X có phải là người phụ thuộc của anh hay không. Bởi vì, dù vợ của anh không có thu nhập, nhưng nếu vợ anh vẫn còn trong độ tuổi lao động, không bị tàn tật dẫn đến không có khả năng lao động thì vẫn không được coi là người phụ thuộc của anh X. Vợ anh chỉ được coi là người phụ thuộc khi mặc dù còn trong độ tuổi lao động nhưng bị tàn tật, không có khả năng lao động và không có thu nhập vượt quá mức quy định hiện nay là 1 triệu đồng/tháng.
71 16 XÁC ĐỊNH THU NHẬP ĐƯỢC GIẢM TRỪ GIA CẢNH ĐỐI VỚI CÁ NHÂN CÓ NHIỀU KHOẢN THU NHẬP Tình huống: Hiện nay, anh Đ đang làm Trưởng phòng kiểm định chất lượng sản phẩm của một doanh nghiệp với mức lương 20 triệu đồng/tháng. Bên cạnh đó, anh Đ còn góp vốn với một số người bạn thành lập 2 công ty trồng cà phê và tiêu. Sau mỗi năm, anh Đ được trả lợi nhuận khoảng 300 triệu đồng từ 2 công ty này. Anh Đ có được giảm trừ gia cảnh khi
72 nộp thuế thu nhập cá nhân không? Nếu có thì mức giảm trừ gia cảnh được tính như thế nào? Trả lời: Căn cứ quy định tại Điều 19 Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2014 và Điều 12 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP, thì trong trường hợp này, anh Đ có hai khoản thu nhập là thu nhập từ tiền lương của trưởng phòng và thu nhập từ việc đầu tư vốn vào 2 công ty. Tuy nhiên, khi tính giảm trừ gia cảnh thì pháp luật hiện hành chỉ cho phép giảm trừ gia cảnh đối với thu nhập từ tiền lương. Còn thu nhập từ đầu tư vốn vào công ty thì không được giảm trừ gia cảnh. Do tình huống trên không trình bày cụ thể hoàn cảnh gia đình anh Đ nên chỉ có thể xác định thu nhập giảm trừ của anh Đ cơ bản như sau: - Giảm trừ gia cảnh cho bản thân anh Đ là: 9 triệu đồng/tháng. - Ngoài ra, tùy thuộc vào trường hợp cụ thể của gia đình anh Đ, ví dụ: nếu anh Đ có con, cha, mẹ, vợ (chồng) và có các chủ thể khác thỏa mãn các điều kiện tại Điều 19 Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2014, Điều 12 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP thì sẽ được giảm trừ cho mỗi người là 3,6 triệu/tháng mà không bị giới hạn người phụ thuộc.
73 17 XÁC ĐỊNH NGƯỜI CÓ NGHĨA VỤ NỘP THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP TRONG TRƯỜNG HỢP CHƯA CÓ GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Tình huống: Tháng 12/2017, vợ chồng anh T được chuyển nhượng 1 mảnh đất diện tích 100m2 ở tại trung tâm thành phố R, tỉnh K. Hợp đồng chuyển nhượng đã được công chứng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, do bên chuyển nhượng đất cho gia đình anh T
74 phải ra nước ngoài trong vòng 6 tháng nên anh Đ chưa làm thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vậy khi sử dụng mảnh đất này vợ chồng anh Đ có phải nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp không? Trả lời: Theo quy định Điều 4 Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2010 và Điều 3 Thông tư số 153/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp thì thông thường, người nộp thuế là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền sử dụng đất thuộc đối tượng chịu thuế quy định. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt thì người nộp thuế được xác định như sau: Trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) thì người đang sử dụng đất là người nộp thuế. Người nộp thuế trong một số trường hợp cụ thể được quy định như sau: - Trường hợp được Nhà nước cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư thì người thuê đất ở là người nộp thuế; - Trường hợp người có quyền sử dụng đất cho thuê đất theo hợp đồng thì người nộp thuế được
75 xác định theo thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp trong hợp đồng không có thỏa thuận về người nộp thuế thì người có quyền sử dụng đất là người nộp thuế; - Trường hợp đất đã được cấp Giấy chứng nhận nhưng đang có tranh chấp, thì trước khi tranh chấp được giải quyết, người đang sử dụng đất là người nộp thuế. Việc nộp thuế không phải là căn cứ để giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất; - Trường hợp nhiều người cùng có quyền sử dụng một thửa đất thì người nộp thuế là người đại diện hợp pháp của những người cùng có quyền sử dụng thửa đất đó; - Trường hợp người có quyền sử dụng đất góp vốn kinh doanh bằng quyền sử dụng đất mà hình thành pháp nhân mới có quyền sử dụng đất thuộc đối tượng chịu thuế quy định tại Điều 2 Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp thì pháp nhân mới là người nộp thuế. Như vậy, căn cứ theo các quy định pháp luật nêu trên, trong trường hợp này, gia đình anh T tuy chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng là người thực tế đang sử dụng mảnh đất đó thì gia đình anh Đ vẫn là người nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp.
76 18 ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP CÓ TRANH CHẤP THÌ AI LÀ NGƯỜI CÓ NGHĨA VỤ NỘP THUẾ? Tình huống: Chị A có một mảnh đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng do không có nhu cầu sử dụng nên vẫn để không hơn 5 năm qua. Chỗ ở của chị A hiện nay cũng cách xa vị trí mảnh đất đó, nên chị cũng không lui tới trông coi. Gần đây, chị phát hiện ông B ở gần đó đã chiếm dụng mảnh đất này để làm nơi kinh doanh vật liệu xây dựng.
77 Khi chị A yêu cầu ông B trả lại đất, thì ông B không đồng ý. Ông B cho rằng trong thời gian qua, ông B là người nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp cho mảnh đất đó, nên ông phải là người có quyền sử dụng và điều này đã được Nhà nước thừa nhận. Chị A là người có quyền sử dụng đất, nhưng ông B lại là người nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, như vậy có đúng không? Việc ông B nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp cho Nhà nước có đồng nghĩa với việc Nhà nước đã thừa nhận quyền sử dụng hợp pháp của ông B hay không? Trả lời: Theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2010 và khoản 3 Điều 3 Thông tư số 153/2011/TT-BTC, thì người nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là: Người nộp thuế là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền sử dụng đất thuộc đối tượng chịu thuế quy định tại Điều 2 Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2010. Trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) thì người đang sử dụng đất là người nộp thuế. Người nộp thuế trong một số trường hợp cụ thể được quy định như sau:
78 - Trường hợp được Nhà nước cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư thì người thuê đất ở là người nộp thuế; - Trường hợp người có quyền sử dụng đất cho thuê đất theo hợp đồng thì người nộp thuế được xác định theo thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp trong hợp đồng không có thỏa thuận về người nộp thuế thì người có quyền sử dụng đất là người nộp thuế; - Trường hợp đất đã được cấp Giấy chứng nhận nhưng đang có tranh chấp thì trước khi tranh chấp được giải quyết, người đang sử dụng đất là người nộp thuế. Việc nộp thuế không phải là căn cứ để giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất; - Trường hợp nhiều người cùng có quyền sử dụng một thửa đất thì người nộp thuế là người đại diện hợp pháp của những người cùng có quyền sử dụng thửa đất đó; - Trường hợp người có quyền sử dụng đất góp vốn kinh doanh bằng quyền sử dụng đất mà hình thành pháp nhân mới có quyền sử dụng đất thuộc đối tượng chịu thuế quy định tại Điều 2 Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2010 thì pháp nhân mới là người nộp thuế. Như vậy, trường hợp của chị A thuộc trường hợp đất đã được cấp Giấy chứng nhận, nhưng đang có tranh chấp, thì theo quy định của pháp luật hiện hành, trước khi tranh chấp được giải quyết, người
79 đang sử dụng đất, tức ông B (đang sử dụng đất để kinh doanh vật liệu xây dựng) phải có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước. Quy định này thể hiện rõ nét bản chất của thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là tập trung vào hành vi sử dụng đất. Theo đó, các chủ thể có hành vi sử dụng đất, được hưởng hoa lợi, lợi tức từ đất phải có nghĩa vụ nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp cho dù hành vi sử dụng này có hợp pháp hay không hợp pháp. Việc điều tiết thuế đối với các chủ thể này không đồng nghĩa với việc Nhà nước thừa nhận tính hợp pháp của hành vi sử dụng mà chỉ nhằm bảo đảm nguồn thu ngân sách nhà nước, sự công bằng đối với các đối tượng nộp thuế và thực hiện quản lý nhà nước đối với việc sử dụng đất phi nông nghiệp.
80 19 ĐẤT NHÀ THỜ HỌ CÓ PHẢI NỘP THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP KHÔNG? Tình huống: Đất của dòng họ Phùng của gia đình anh L là do nhiều đời trước để lại với mục đích xây dựng nhà thờ họ phục vụ cho việc nhang khói thờ cúng tổ tiên, có diện tích là 500m2 (được ghi chép lại trong cuốn gia phả thừa kế của dòng họ bằng chữ Hán từ năm 1526). Trong đó, diện tích xây dựng nhà thờ họ là 250m2 . Diện tích còn lại được giao cho người có nhiệm vụ quản lý, trông coi nhà thờ của họ. Cha anh L là trưởng họ đời thứ 12 nên được phép ở trên
81 đất của dòng họ để tiện bề nhang khói và cũng là để quét dọn, trông coi nhà thờ họ. Gia đình anh L đã xây một căn nhà trên diện tích 100m2 và 150m2 còn lại sử dụng để trồng rau, nuôi gà. Suốt một thời gian dài, việc sử dụng mảnh đất trên của gia đình anh L diễn ra bình thường và không thấy có bất kỳ yêu cầu nào về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. Tuy nhiên, vừa qua Chi cục thuế của huyện đã yêu cầu gia đình anh kê khai và nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đối với phần diện tích 500m2 nói trên. Vậy trong trường hợp này, gia đình anh L có phải nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp hay không? Và nếu có thì phải nộp thuế cho phần diện tích đất nào? Trả lời: Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là loại thuế thu vào hành vi sử dụng đất phi nông nghiệp của các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình. Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2010, đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ được xem là đất phi nông nghiệp sử dụng không vào mục đích kinh doanh nên thuộc đối tượng không chịu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. Tuy nhiên, theo hướng dẫn tại khoản 5 Điều 3 Nghị định số 53/2011/NĐ-CP ngày 01/7/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
82 một số điều của Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp thì chỉ phần diện tích đất có các công trình xây dựng nói trên mới thuộc trường hợp không chịu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. Người nộp thuế đăng ký, khai, tính và nộp thuế tại cơ quan thuế huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoặc khai thuế, nộp thuế tại cơ quan, cá nhân được cơ quan thuế ủy quyền theo quy định của pháp luật (gọi chung là cơ quan thuế cấp huyện) nơi có quyền sử dụng đất. Cách tính: Số thuế phải nộp (đồng) = Số thuế phát sinh (đồng) - Số thuế được miễn, giảm (đồng) (nếu có) Số thuế phát sinh (đồng) = Diện tích đất tính thuế (m2) x Giá của 1m2 (đồng/m2) x Thuế suất (%) Trong đó: + Giá của 1m2 đất tính thuế là giá đất theo mục đích sử dụng của thửa đất tính thuế do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định và được ổn định theo chu kỳ 5 năm, kể từ ngày 01/01/2012. + Thuế suất: Bậc thuế Diện tích đất tính thuế (m2) Thuế suất (%) 1 Diện tích trong hạn mức 0,03
83 Bậc thuế Diện tích đất tính thuế (m2) Thuế suất (%) 2 Phần diện tích vượt không quá 3 lần hạn mức 0,07 3 Phần diện tích vượt trên 3 lần hạn mức 0,15 Trong trường hợp của gia đình anh L, thì chỉ diện tích xây dựng nhà thờ họ (250m2 ) là không chịu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, còn diện tích 250m2 còn lại vẫn thuộc đối tượng chịu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và vẫn phải nộp thuế theo quy định của pháp luật.
84 20 ĐẤT NÔNG NGHIỆP BỎ HOANG CÓ PHẢI NỘP THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP HAY KHÔNG? Tình huống: Gia đình ông T có 1ha đất nông nghiệp để trồng lúa tại huyện A, thành phố H. Tuy nhiên, cùng với tốc độ đô thị hóa ngày càng nhanh, nhất là khi tỉnh B được sáp nhập vào H, thì các gia đình trong xã nơi ông T sống đều chuyển sang kinh doanh, buôn
85 bán hoặc làm đồ gỗ, thủ công mỹ nghệ chứ không canh tác nông nghiệp nữa. Gia đình ông T cũng mở một xưởng mộc chuyên sản xuất trang thờ và các sản phẩm gỗ khác, nên 1ha đất nông nghiệp hiện bỏ hoang. Tuy nhiên, cán bộ thuế của xã vẫn yêu cầu gia đình ông T nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp cho diện tích đất nói trên. Ông T cho rằng, gia đình ông không còn canh tác nông nghiệp trên diện tích đất 1ha nữa nên không có nghĩa vụ phải nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp. Vậy trong trường hợp này, 1ha đất nông nghiệp bỏ hoang của gia đình ông T có chịu thuế sử dụng đất nông nghiệp hay không? Trả lời: Thuế sử dụng đất nông nghiệp là loại thuế điều tiết đối với hành vi sử dụng đất vào mục đích sản xuất nông nghiệp của các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình. Thuế sử dụng đất nông nghiệp đánh vào giá trị của đất đai sử dụng trong nông nghiệp và người chủ sở hữu đất là đối tượng nộp thuế. Theo quy định tại Điều 2 Nghị định số 74-CP ngày 25/10/1993 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp, trong trường hợp không sử dụng đất thuộc diện chịu thuế theo quy định thì chủ sử dụng đất vẫn phải nộp thuế theo quy định của Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp.
86 Theo đó, căn cứ tính thuế sử dụng đất nông nghiệp là diện tích, hạng đất và định suất thuế tính bằng kilôgam thóc trên một đơn vị diện tích của từng hạng đất. Diện tích tính thuế sử dụng đất nông nghiệp là diện tích giao cho hộ sử dụng đất phù hợp với sổ địa chính nhà nước. Trường hợp chưa lập sổ địa chính thì diện tích tính thuế là diện tích ghi trên tờ khai của hộ sử dụng đất1 . Hạng đất: Đất trồng cây hàng năm và đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản được chia làm 6 hạng, đất trồng cây lâu năm được chia làm 5 hạng. Căn cứ để xác định hạng đất gồm các yếu tố: Chất đất; Vị trí; Địa hình; Điều kiện khí hậu, thời tiết; Điều kiện tưới tiêu. Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác định hạng đất tính thuế cho từng hộ nộp thuế trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt2 . Định suất thuế một năm tính bằng kilôgam thóc trên 1ha của từng hạng đất3 như sau: Đối với đất trồng cây hàng năm và đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản: Hạng đất Định suất thuế 1 550 2 460 1, 2, 3. Điều 6, Điều 8, Điều 9 Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp năm 1993.
87 Hạng đất Định suất thuế 3 370 4 280 5 180 6 50 Đối với đất trồng cây lâu năm: Hạng đất Định suất thuế 1 650 2 550 3 400 4 200 5 80 Thuế sử dụng đất nông nghiệp tính bằng thóc, thu bằng tiền. Giá thóc thu thuế do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định được thấp hơn không quá 10% so với giá thị trường ở địa phương trong vụ thu thuế. Công thức tính: Thuế sử dụng đất nông nghiệp = Diện tích x Định suất thuế tính bằng kilôgam thóc trên một đơn vị diện tích của từng hạng đất Như vậy, trong trường hợp này, 1ha đất nông nghiệp bỏ hoang của gia đình ông T vẫn phải chịu thuế sử dụng đất nông nghiệp.
88 21 ĐẤT DÙNG ĐỂ SẢN XUẤT GẠCH, NGÓI PHẢI NỘP NHỮNG LOẠI THUẾ NÀO? Tình huống: Ông M có một lò gạch chuyên sản xuất gạch, ngói nung cung cấp cho các cửa hàng vật liệu xây dựng. Ông M có 700m2 đất khu lò nung, sân phơi, kho bãi và 1ha đất khai thác nguyên liệu làm gạch, ngói. Vậy phần đất sử dụng cho việc sản xuất gạch, ngói của ông M phải chịu các loại thuế nào?
89 Trả lời: Trong tình huống trên, với việc sử dụng đất cho hoạt động sản xuất gạch ngói, ông M sẽ phải nộp những loại thuế như sau: Thứ nhất, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. Đất sản xuất gạch, ngói trong tình huống này là loại đất thuộc diện chịu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2010. Như vậy, 700m2 đất kho bãi và 1ha đất sử dụng để khai thác nguyên liệu làm gạch, ngói đều thuộc diện chịu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. Thứ hai, thuế tài nguyên. Trong trường hợp này, 1ha đất khai thác sử dụng cho mục đích làm gạch, ngói là đối tượng chịu thuế tài nguyên, thuộc loại khoáng sản không kim loại theo quy định tại khoản 2 Điều 2 và Điều 7 Luật thuế tài nguyên năm 2009 sửa đổi, bổ sung năm 2014. Căn cứ tính thuế tài nguyên là dựa vào sản lượng tài nguyên tính thuế, giá tính thuế và thuế suất. Cụ thể: Sản lượng tài nguyên tính thuế: Đất sử dụng để làm gạch ngói là loại tài nguyên khai thác xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng. Do vậy, sản lượng tài nguyên tính thuế trong trường hợp này chính là số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng
90 của tài nguyên thực tế khai thác trong kỳ tính thuế theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật thuế tài nguyên năm 2009 sửa đổi, bổ sung năm 2014. Giá tính thuế tài nguyên: là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên của tổ chức, cá nhân khai thác chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật thuế tài nguyên năm 2009 sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thuế suất: Theo Biểu mức thuế suất thuế tài nguyên ban hành kèm theo Nghị quyết số 1084/2015/UBTVQH13 ngày 10/12/2015 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì thuế suất đối với đất làm gạch là 15%.
91 22 KHAI THÁC NƯỚC SỬ DỤNG CHO SINH HOẠT VÀ TƯỚI TIÊU CÂY TRỒNG CÓ CHỊU THUẾ TÀI NGUYÊN KHÔNG? Tình huống: Gia đình bà H có một rẫy cà phê với diện tích là 3ha. Do vị trí ở trên sườn đồi nên việc dẫn nước từ kênh mương thủy lợi về để tưới tiêu, chăm bón cho rẫy cà phê rất khó khăn, đồng thời cũng không chủ động được trong việc cung cấp nước cho cây cà phê theo yêu cầu sản xuất.
92 Gia đình bà H có xây dựng một nhà cấp 4 cho nhân công ở và trông nom rẫy cà phê nên cũng cần có nguồn nước để phục vụ sinh hoạt cá nhân cho mọi người. Vì vậy, bà H đã thuê người khoan 2 giếng nước để lấy nước vừa phục vụ tưới tiêu một cách chủ động, vừa phục vụ sinh hoạt. Vậy việc khai thác nước ngầm sử dụng cho tưới tiêu và sinh hoạt của gia đình bà H có phải nộp thuế tài nguyên hay không? Trả lời: Thuế tài nguyên là loại thuế thu vào hành vi khai thác tài nguyên thiên nhiên trên lãnh thổ Việt Nam của các tổ chức, cá nhân. Trong tình huống trên, gia đình bà H không phải nộp thuế tài nguyên đối với hành vi khai thác nước tự nhiên để sinh hoạt và phục vụ cho việc tưới tiêu. Bởi vì: Đối với nước sử dụng cho tưới tiêu: Đây là trường hợp thuộc diện không chịu thuế tài nguyên theo quy định tại khoản 7 Điều 2 Luật thuế tài nguyên năm 2009 được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Đối với nước sử dụng cho sinh hoạt: Đây là trường hợp được miễn thuế tài nguyên theo quy định tại khoản 5 Điều 9 Luật thuế tài nguyên năm 2009 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
93 23 KHAI THÁC MẠCH NƯỚC NGẦM ĐỂ BÁN Tình huống: Gia đình bà A là dân cư ngụ tại phường L, quận T, Thành phố H từ hơn 40 năm nay. Lúc gia đình bà đến lập nghiệp thì khu đất này còn hoang sơ, vắng vẻ. Gia đình bà đã khai hoang diện tích đất gần 1.000m2 để sử dụng. Năm 1999, theo chủ trương của Nhà nước, cha mẹ của bà A đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho diện
94 tích và quyền sở hữu nhà trên đó. Năm 2000, cha mẹ bà A mất và để lại diện tích đất trên cho bà. Năm 2001, bà A lập gia đình với ông B (ông B lúc đó 50 tuổi và không có tài sản gì). Năm 2002, nhu cầu tuyển dụng lao động của khu chế xuất LT gia tăng trong khi khu lưu trú công nhân lại không đáp ứng đủ nhu cầu chỗ ở, lượng công nhân tìm chỗ trọ cũng tăng lên. Tranh thủ thời điểm này, bà A gom góp tiền để xây 10 phòng cho thuê với thu nhập hàng tháng trung bình là 12 triệu đồng. Do lượng người sử dụng tăng lên, nên giếng nước của gia đình bà không đủ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, đồng thời khu vực này chưa có hệ thống nước sạch của nhà máy nước, vì vậy gia đình bà đã thuê người về khoan một giếng nước. May mắn cho gia đình, giếng nước này được khoan ngay mạch nước ngọt và không bị phèn trong khi nhiều nhà gần đó giếng nước bị phèn. Cho nên, gia đình bà không chỉ sử dụng giếng nước cho gia đình, người thuê trọ mà còn bán giá rẻ cho các hộ gia đình xung quanh (chủ yếu là lấy đủ tiền điện bơm nước). Mọi việc đều bình thường và gia đình bà không bị chính quyền địa phương yêu cầu gì về thuế. Cho đến đầu năm 2017, gia đình bà C (là láng giềng đã sử dụng nước nhà bà A từ năm 2003 đến nay), phát hiện nước có mùi lạ và không đồng ý trả tiền cho gia đình bà A số tiền nợ từ đầu năm 2016 đến nay. Bà C còn nói với bà con xung quanh là
95 nhà bà A cố tình gian lận số tiền nước và tính với giá cao hơn giá Nhà nước quy định. Gia đình bà A sau khi kiểm tra lại nguồn nước thấy không có vấn đề gì bất thường, đã làm đơn nhờ chính quyền địa phương can thiệp đối với hành vi vu khống của bà C. Được sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, khúc mắc của hai gia đình đã được giải quyết. Tuy nhiên, lúc này, cơ quan thuế lại yêu cầu gia đình bà A nộp tiền thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động cho thuê nhà trọ và nộp tiền thuế tài nguyên cho việc sử dụng nguồn nước ngầm trên. Gia đình bà A không đồng tình và giải thích với cơ quan thuế như sau: - Gia đình bà A có 3 người gồm bà A (51 tuổi), ông B (68 tuổi, không có thu nhập), N (16 tuổi). Theo đó, thu nhập bình quân của việc cho thuê là 12 triệu đồng/tháng thì được giảm trừ gia cảnh cho bà A là chủ khu nhà trọ 9 triệu đồng/tháng, đối với ông B và N mỗi người là 3,6 triệu đồng/tháng. Như vậy, tổng số tiền giảm trừ gia cảnh là 16,2 triệu đồng/tháng [9 triệu đồng + (3,6 triệu đồng x 2)] đã vượt quá thu nhập hàng tháng từ việc cho thuê nhà trọ, nên bà A không phải nộp thuế thu nhập cá nhân. - Đối với thuế tài nguyên thì nguồn nước ngầm gia đình bà A khai thác là để sử dụng sinh hoạt cho gia đình và giúp đỡ láng giềng chứ không nhằm
96 mục đích kinh doanh nên không phải nộp thuế tài nguyên. Vậy lời giải thích của bà A như trên là đúng hay sai? Trả lời: - Về nộp thuế thu nhập cá nhân: Như đã nêu ở các tình huống trước, thu nhập từ kinh doanh không bao gồm thu nhập của cá nhân kinh doanh có doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Hoạt động cho thuê nhà trọ của bà A được xác định là hoạt động kinh doanh thu nhập 12 triệu đồng/tháng và 01 năm bà A có thu nhập là 144 triệu đồng từ tiền cho thuê nhà đã vượt trên mức quy định, nên đây là thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân. Khu nhà trọ là tài sản riêng của bà A, không phải là tài sản chung phát sinh trong thời kỳ hôn nhân (do cha, mẹ bà để lại), nên trong trường hợp này, bà A chính là người nộp thuế cho hoạt động kinh doanh trên. Quan điểm của bà A về việc giảm trừ gia cảnh cho thu nhập từ kinh doanh là đúng với các quy định áp dụng từ ngày 01/01/2009 đến ngày 31/12/2014. Còn từ ngày 01/01/2015, việc giảm trừ gia cảnh không còn được áp dụng cho thu nhập từ kinh doanh của cá nhân cư trú. Vì vậy, trong trường hợp này, bà A phải nộp thuế thu nhập cá nhân theo
97 quy định tại Điều 10 Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2014: “1. Cá nhân kinh doanh nộp thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ trên doanh thu đối với từng lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, kinh doanh. 2. Doanh thu là toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền hoa hồng, tiền cung ứng dịch vụ phát sinh trong kỳ tính thuế từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Trường hợp cá nhân kinh doanh không xác định được doanh thu thì cơ quan thuế có thẩm quyền ấn định doanh thu theo quy định của pháp luật về quản lý thuế. 3. Thuế suất: a) Phân phối, cung cấp hàng hóa: 0,5%; b) Dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu: 2%; Riêng hoạt động cho thuê tài sản, đại lý bảo hiểm, đại lý xổ số, đại lý bán hàng đa cấp: 5%; c) Sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hóa, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu: 1,5%; d) Hoạt động kinh doanh khác: 1%.” Căn cứ theo quy định này, thuế suất áp dụng cho thu nhập của kinh doanh nhà trọ là 1%. Vậy số thuế thu nhập cá nhân mà bà A phải nộp sẽ được tính theo công thức sau: Thuế thu nhập cá nhân = Doanh thu từ cho thuê nhà trọ x 1%
98 - Về nộp thuế tài nguyên: Theo quy định tại Điều 2 và Điều 3 Luật thuế tài nguyên năm 2009 sửa đổi, bổ sung năm 2014 về đối tượng chịu thuế và người nộp thuế tài nguyên thì: “Điều 2. Đối tượng chịu thuế 1. Khoáng sản kim loại. 2. Khoáng sản không kim loại. 3. Dầu thô. 4. Khí thiên nhiên, khí than. 5. Sản phẩm của rừng tự nhiên, trừ động vật. 6. Hải sản tự nhiên, bao gồm động vật và thực vật biển. 7. Nước thiên nhiên, bao gồm nước mặt và nước dưới đất, trừ nước thiên nhiên dùng cho nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp. 8. Yến sào thiên nhiên. 9. Tài nguyên khác do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định”. “Điều 3. Người nộp thuế 1. Người nộp thuế tài nguyên là tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thuộc đối tượng chịu thuế tài nguyên. 2. Người nộp thuế tài nguyên trong một số trường hợp được quy định cụ thể như sau: a) Doanh nghiệp khai thác tài nguyên được thành lập trên cơ sở liên doanh thì doanh nghiệp liên doanh là người nộp thuế;