The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.

Nội dung trong cuốn sách gần 700 trang tinh túy kiến thức Ngữ Văn được trình bày như thế nào? Cùng cô Sương Mai khám phá qua bản đọc thử 93 trang này nhé!

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by hocvancosuongmai.gram, 2024-03-06 19:40:57

[QUÀ TẶNG] BẢN ĐỌC THỬ SÁCH BỨT PHÁ 9+

Nội dung trong cuốn sách gần 700 trang tinh túy kiến thức Ngữ Văn được trình bày như thế nào? Cùng cô Sương Mai khám phá qua bản đọc thử 93 trang này nhé!

Cuốn sách này dài 660 trang, nhưng hy vọng các bạn đừng vì độ dày của nó mà bỏ cuộc. Cuốn sách là tất cả tinh túy được đúc kết từ 4 năm giảng dạy - luyện thi Đại học môn Ngữ Văn của cô cùng tâm huyết từ đội ngũ biên tập viên. Cô rất mong cuốn sách sẽ trở thành một "Bách khoa toàn thư" để các bạn có thể tự tin xử lý trọn vẹn 3 phần trong cấu trúc đề thi THPT QG 2024. Ngoài các kiến thức về học thuật cùng những phần thực hành và các tài liệu tham khảo mở rộng, trong cuốn sách cũng có các hoạt động tương tác để trải nghiệm học tập của chúng ta trở nên thú vị hơn. Cuốn sách này được biên soạn trên các nguyên tắc: Cuốn sách gồm 4 phần chính: 1. Đọc Hiểu 2. Nghị Luận Xã Hội 3. Nghị Luận Văn Học 4. Luyện Tập Để cuốn sách có thể phát huy tối đa hiệu quả của mình, các bạn hãy lưu ý nghiên cứu thật kĩ phần kỹ năng, bổ sung kiến thức và tự mình thử sức với các đề luyện ở phần thực hành - sau đó đối chiếu với phần hướng dẫn và đọc thêm các bài mẫu tham khảo với tâm thế "học hỏi những điều hay" chứ không phải sao chép. Vì học Văn là quá trình tôi luyện tư duy của mình, hãy để mình thực sự được hoàn thiện và phát triển thông qua chính quá trình ôn thi nhé! Hy vọng cuốn sách sẽ cung cấp cho các bạn đầy đủ kiến thức, kỹ năng để chinh phục môn Ngữ Văn. Chúc các bạn có một hành trình trọn vẹn và tuyệt vời để tuổi trẻ của ta thêm đáng nhớ. Nào, chúng ta cùng bắt đầu! LỜI NGỎ Đáp ứng cấu trúc đề thi, theo ma trận đề thi THPT QG 2024. Học đến đâu song song luyện đề đến đó. Kiến thức chuyên sâu giúp các bạn chinh phục 8+ 9+. Học kỹ năng để tự xử lý mọi dạng đề. Những nội dung "chữa lành" dịu dàng để ta không cô đơn trên hành trình ôn thi


THƯ gửi học sinh


MỤC LỤC PHẦN I. ĐỌC HIỂU A. CÁCH TRẢ LỜI CÁC DẠNG CÂU HỎI PHỔ BIẾN 06 06 I. NHẮC LẠI 3 DẠNG CÂU HỎI THƯỜNG GẶP TRONG ĐỀ THI II. MỘT SỐ KĨ NĂNG CẦN SỬ DỤNG 1. Kĩ năng đọc lướt văn bản và tương tác với văn bản 06 2. Kĩ năng đọc câu hỏi 07 3. Kĩ năng trình bày câu trả lời 07 4. Kỹ năng kiểm soát thời gian 08 III. CÁCH TRẢ LỜI TỪNG DẠNG CÂU HỎI 1. Câu hỏi nhận biết 08 08 2. Câu hỏi về nội dung chủ đạo của văn bản 08 3. Câu hỏi về biện pháp tu từ 09 4. Câu hỏi “Anh/chị hiểu gì về … (1 trích dẫn từ văn bản đọc hiểu)?” hoặc “Anh/chị cảm nhận thế nào về…” 09 5. Câu hỏi về sự lựa chọn 10 6. Câu hỏi Nêu thông điệp anh/chị ấn tượng từ đoạn trích 10


B. CÁC KIẾN THỨC TIẾNG VIỆT CẦN NẮM I. BIỆN PHÁP TU TỪ TỪ VỰNG - NGỮ NGHĨA 1. Biện pháp so sánh 13 13 2. Biện pháp ẩn dụ 13 II. BIỆN PHÁP TU TỪ CÚ PHÁP Đảo ngữ 19 19 2. Câu hỏi tu từ 1. 20 3. Biện pháp hoán dụ 15 4. Biện pháp nhân hoá 16 5. Phép điệp 17 6. Biện pháp nói quá và nói giảm nói tránh 18 7. Biện pháp liệt kê 19 III. PHƯƠNG THỨC BIỂU ĐẠT 1. Tự sự 20 20 2. Miêu tả 21 3. Biểu cảm 21 4. Nghị luận 21 5. Thuyết minh 22 6. Hành chính - ngôn luận 22 IV. PHONG CÁCH NGÔN NGỮ 1. Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt 23 22 2. Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật 24 3. Phong cách ngôn ngữ chính luận 25 4. Phong cách ngôn ngữ báo chí 27 5. Phong cách ngôn ngữ khoa học 28 6. Phong cách hành chính - công vụ 30


V. THỂ THƠ 1. Thể thơ quy định số chữ 31 31 2. Thể thơ lục bát 32 3. Thể thơ song thất lục bát 32 4. Thơ Đường luật 32 34 II. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM ĐOẠN VĂN 1. Khái niệm 49 2. Các thành phần của đoạn văn 49 3. Các phương pháp trình bày đoạn văn 51 4. Yêu cầu đoạn văn NLXH kì thi THPTQG 55 PHẦN II. NGHỊ LUẬN XÃ HỘI A. LÝ THUYẾT CHUNG VỀ ĐOẠN NLXH 200 CHỮ 48 49 I. KHÁI NIỆM NGHỊ LUẬN XÃ HỘI C. ĐỀ LUYỆN B. NÂNG CẤP ĐOẠN NLXH 200 CHỮ III. KĨ NĂNG LÀM CÁC DẠNG NLXH PHỔ BIẾN 1. Các bước làm bài chung (áp dụng cho mọi kiểu bài) 2. Dạng bài Tư tưởng đạo lý 2. 3. Dạng bài Hiện tượng đời sống 59 55 55 56 I. KĨ NĂNG MỞ ĐOẠN 1. Mở đoạn trực tiếp Mở đoạn gián tiếp 61 61 62


II. KỸ NĂNG LẤY DẪN CHỨNG HIỆU QUẢ Vai trò của dẫn chứng nghị luận xã hội 65 65 2. Cách đưa dẫn chứng trong đoạn văn và bài văn 1. 65 I. 5 ĐỀ LUYỆN TẬP (KÈM HƯỚNG DẪN GỢI MỞ) II. 30 ĐOẠN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI 200 CHỮ THAM KHẢO 72 78 3. Các yêu cầu chung của dẫn chứng trong bài NLXH 66 4. Ví dụ tham khảo 67 Dạng bài chứng minh nhận định 103 103 2. Dạng bài Liên hệ, So sánh 1. 109 a. Dạng Đề So Sánh 111 b. Dạng Đề Liên Hệ Tác phẩm A - Tác phẩm B 113 72 II. CẤU TRÚC ĐIỂM BÀI THI VĂN THPT QG PHẦN III. NGHỊ LUẬN VĂN HỌC A. KỸ NĂNG LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC PHÂN TÍCH CHUYÊN SÂU 10 TÁC PHẨM TRỌNG TÂM TRONG KÌ THI THPTQG 2024 B. 99 99 I. MỘT SỐ DẠNG ĐỀ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC PHỔ BIẾN IV. KỸ NĂNG LÀM DẠNG NGHỊ LUẬN VĂN HỌC (DẠNG NÂNG CAO) KĨ NĂNG LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC 100 (DẠNG CƠ BẢN, PHỔ BIẾN) III. C. LUYỆN TẬP


TÂY TIẾN (Quang Dũng) KHÁI QUÁT TÁC GIẢ, TÁC PHẨM 115 II. PHÂN TÍCH CHI TIẾT I. 116 VIỆT BẮC (Tố Hữu) KHÁI QUÁT TÁC GIẢ, TÁC PHẨM 138 II. PHÂN TÍCH CHI TIẾT I. 139 ĐẤT NƯỚC ( Nguyễn Khoa Điềm) KHÁI QUÁT TÁC GIẢ, TÁC PHẨM 169 II. PHÂN TÍCH CHI TIẾT I. 170 SÓNG (Xuân Quỳnh) KHÁI QUÁT TÁC GIẢ, TÁC PHẨM 210 II. PHÂN TÍCH CHI TIẾT I. 211 NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ (Nguyễn Tuân) KHÁI QUÁT TÁC GIẢ, TÁC PHẨM 229 II. PHÂN TÍCH CHI TIẾT I. 231 AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG? (Hoàng Phủ Ngọc Tường) KHÁI QUÁT TÁC GIẢ, TÁC PHẨM 272 II. PHÂN TÍCH CHI TIẾT I. 274 VỢ CHỒNG A PHỦ (Tô Hoài) KHÁI QUÁT TÁC GIẢ, TÁC PHẨM 298 II. PHÂN TÍCH CHI TIẾT I. 301


VỢ NHẶT (Kim Lân) KHÁI QUÁT TÁC GIẢ, TÁC PHẨM 321 II. PHÂN TÍCH CHI TIẾT I. 324 CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA (Nguyễn Minh Châu) KHÁI QUÁT TÁC GIẢ, TÁC PHẨM 341 II. PHÂN TÍCH CHI TIẾT I. 343 377 1. Việt Bắc (Tố Hữu) Tây Tiến (Quang Dũng) 377 377 3. 2. Đất Nước (trích trường ca “Mặt đường khát vọng” Nguyễn Khoa Điềm) 377 378 378 379 380 381 382 382 383 4. Sóng (Xuân Quỳnh) 5. Người lái đò Sông Đà (trích tùy bút “Sông Đà” – Nguyễn Tuân) 6. Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc Tường) 7. Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài) 8. Vợ nhặt (Kim Lân) 9. Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu) 10. Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ) C. TÀI LIỆU THAM KHẢO MỞ RỘNG HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT (Lưu Quang Vũ) KHÁI QUÁT TÁC GIẢ, TÁC PHẨM 366 II. PHÂN TÍCH CHI TIẾT I. 367 TỔNG HỢP ĐOẠN ĐÁNH GIÁ NỘI DUNG  NGHỆ THUẬT (THAM KHẢO) I.


II. TỔNG HỢP CÁC VẤN ĐỀ NGHỊ LUẬN PHỤ THƯỜNG GẶP 385 TỔNG HỢP 20 BÀI VĂN THAM KHẢO VỀ CÁC TÁC PHẨM 409 TRỌNG TÂM III. 2. PHẦN IV. ĐỀ LUYỆN SÓNG NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ 447 459 6. 5. 4. AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG? 470 VỢ CHỒNG A PHỦ VỢ NHẶT 482 494 9. 8. 7. CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA 506 10. HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT 514 524 554 LUYỆN TẬP 5 ĐỀ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC THAM KHẢO DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO D. 1. TÂY TIẾN VIỆT BẮC 409 423 3. ĐẤT NƯỚC 434


ĐỌC HIỂU Cách trả lời các dạng câu hỏi phổ biến Các kiến thức Tiếng Việt cần nắm 5 đề luyện tập kèm đáp án chi tiết


PHẦN I. ĐỌC HIỂU A. CÁCH TRẢ LỜI CÁC DẠNG CÂU HỎI PHỔ BIẾN I. Nhắc lại 3 dạng câu hỏi thường gặp trong đề thi Câu hỏi nhận biết Câu hỏi về kiến thức Tiếng Việt, ngữ pháp, thể loại, … Những câu hỏi nhận biết thường hỏi theo nghĩa đen, câu trả lời là đáp án ngắn gọn và thông thường chỉ có 1 đáp án chính xác cho dạng câu hỏi này. Câu hỏi thông hiểu Câu hỏi về nội dung của ngữ liệu – đòi hỏi học sinh hiểu và sử dụng được các thông tin trong ngữ liệu làm câu trả lời. Câu hỏi vận dụng cao Câu hỏi khơi gợi góc nhìn, tư duy, cảm nhận riêng của học sinh – đòi hỏi học sinh đưa ra được suy nghĩ của mình một cách mạch lạc, lưu loát II. Một số kĩ năng “chinh phục” phần ĐỌC HIỂU 1. Kĩ năng đọc lướt văn bản và tương tác với văn bản - Đọc lướt: Đọc nhanh nhưng vẫn nắm được ý chính, tiết kiệm thời gian mà vẫn hiểu được nội dung chủ đạo của ngữ liệu. - Tương tác: Tạo sự kết nối giữa học sinh với ngữ liệu, bằng cách nhấn mạnh các thông tin cần chú ý. Khi đọc văn bản lần đầu tiên, học sinh nên dùng bút gạch chân các từ khóa, các chi tiết hoặc các câu văn/câu thơ quan trọng trong ngữ liệu để có sự định hướng về nội dung của văn bản. Vừa đọc vừa tương tác trực tiếp với ngữ liệu như vậy sẽ giúp thông tin của ngữ liệu lưu lại trong tâm trí một cách sâu sắc hơn. 6


2. Kĩ năng đọc câu hỏi Sau khi đọc văn bản, học sinh đọc 1 lượt toàn bộ các câu hỏi để nắm được yêu cầu của đề bài. Khi đọc câu hỏi, học sinh cũng gạch chân các từ khóa quan trọng để xác định yêu cầu của câu hỏi một cách chính xác, kết hợp với những thông tin mình vừa thu thập được từ đọc văn bản. **Ghi chú: Tùy theo thói quen làm bài cũng như thói quen tiếp nhận của từng bạn, học sinh có thể đảo trật tự 2 bước này. Các em có thể làm như trên, hoặc đọc câu hỏi trước, gạch chân yêu cầu đề, sau đó mới quay trở lại đọc ngữ liệu và tìm kiếm thông tin. Cách làm này cũng khá hiệu quả, giúp học sinh biết định hướng câu hỏi để sẽ để ý hơn khi đọc ngữ liệu. Các bạn có thể thử nghiệm xem cách nào phù hợp nhất, hiệu quả nhất để lựa chọn cho bản thân mình nhé! 3. Kĩ năng trình bày câu trả lời - Có thể trả lời câu hỏi nhận biết và câu hỏi thông hiểu theo hình thức gạch đầu dòng. - Luôn trả lời bằng các mệnh đề đủ chủ ngữ – vị ngữ, không trả lời cụt lủn, dễ gây mất thiện cảm với người chấm. - Câu hỏi vận dụng cao nên trả lời bằng đoạn văn ngắn hoàn chỉnh để thuyết phục người chấm về quan điểm của mình một cách trọn vẹn hơn. - Học sinh nên trình bày thoáng, cỡ chữ vừa phải, khoảng cách giữa các chữ thoải mái, tạo cảm giác dễ chịu cho người chấm. (Video Hướng dẫn chi tiết cách trình bày bài thi môn Văn) 7


B. CÁC KIẾN THỨC TIẾNG VIỆT CẦN NẮM I. Biện pháp tu từ từ vựng - ngữ nghĩa Biện pháp tu từ từ vựng - ngữ nghĩa là việc sử dụng sáng tạo, khéo léo từ vựng và ngữ nghĩa nhằm tăng giá trị biểu đạt. Biện pháp tu từ từ vựng - ngữ nghĩa bao gồm những biện pháp sau: 1. Biện pháp so sánh So sánh là việc so sánh các đối tượng với nhau dựa trên sự tương đồng giữa chúng. So sánh luôn có hai vế: vế được so sánh và vế so sánh. ° Ví dụ: “Cánh buồm giương to như một mảnh hồn làng” (Tế Hanh) Ở ví dụ trên, “cánh buồm giương to” là vế được so sánh, “mảnh hồn làng” là vế so sánh, phương tiện so sánh là từ “như”, thể hiện sự ngang bằng giữa hai sự vật, hiện tượng. So sánh có thể ngang bằng (phương tiện so sánh thường là: là, như, cũng như, giống, y,...; hoặc dấu hai chấm, dấu gạch nối,...) hoặc không ngang bằng (phương tiện so sánh thường là: không như, khác, hơn, thua, không bằng,...) ◆ Tác dụng của phép so sánh: - Về nghệ thuật: Làm cho diễn đạt thêm sinh động, giàu hình ảnh. - Về nội dung: Làm cho sự vật thêm cụ thể hoặc trừu tượng, đóng góp thêm nhiều góc nhìn về sự vật, hiện tượng đó. Trong một số trường hợp, vế so sánh không nhất thiết phải cụ thể hơn vế được so sánh. Như trong tuỳ bút “Người lái đò sông Đà”, Nguyễn Tuân viết: “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa.” Ở đây, tác giả đã so dùng hai sự vật mang tính trừu tượng “bờ tiền sử”, “cổ tích tuổi xưa” để so sánh cho một sự vật vô cùng cụ thể “bờ sông”. Điều đó làm thiên nhiên nơi sông Đà càng trở nên huyền ảo, bí ẩn, tựa như nơi xứ sở thần tiên. 2. Biện pháp ẩn dụ Ẩn dụ là biện pháp lấy sự vật này để lâm thời biểu thị cho sự vật khác dựa trên những nét tương đồng về tính chất. Có thể coi ẩn dụ là một hình thức so sánh nhưng bị khuyết một vế. 13


° Ví dụ: “Ngày ngày mặt trời (1) đi qua trên lăng, Thấy một mặt trời (2) trong lăng rất đỏ.” (Trích “Viếng lăng bác”, Viễn Phương) Hình ảnh “mặt trời” ở câu thơ thứ nhất là mặt trời của vũ trụ, nhưng hình ảnh “mặt trời” ở câu thơ thứ hai lại là hình ảnh ẩn dụ. Tác giả đã lấy sự tính chất của mặt trời (chỉ có một, tỏa sáng, mang hơi ấm cho nhân loại) để biểu thị cho vị lãnh tụ vĩ đại Hồ Chí Minh (người đã mang ánh sáng của Đảng đến cho nhân dân). ◆ Phân loại ẩn dụ: - Ẩn dụ hình thức: Là ẩn dụ dựa trên nét tương đồng về hình thức của sự vật. Ví dụ: “Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông” (Nguyễn Du). Từ “lửa” là một phép ẩn dụ hình thức, biểu thị cho màu đỏ đậm, rực rỡ của hoa lựu. - Ẩn dụ cách thức: Là ẩn dụ dựa trên nét tương đồng về cách thức của sự vật. Ví dụ: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Câu tục ngữ trên đã sử dụng phép ẩn dụ ở hai từ ngữ “ăn quả” (chỉ người hưởng thụ thành quả), “kẻ trồng cây” (chỉ người đã làm nên thành quả đó) - Ẩn dụ phẩm chất: Là ẩn dụ dựa trên nét tương đồng về phẩm chất của sự vật. Ví dụ: “Thuyền về có nhớ bến chăng/ Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”. Ở đây, hình ảnh “thuyền” biểu thị cho người con trai (thường xuyên đi đây đi đó để tìm cơ hội cho bản thân) và “bến” biểu thị cho người con gái (luôn chờ đợi, ngóng trông thuyền trở về) - Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: Là việc lấy giác quan này để biểu thị cho giác quan khác. Ví dụ: “Ánh nắng chảy đầy vai”. Từ “chảy” (xúc giác) biểu thị cho việc ánh nắng chiếu xuống vai (thị giác) ◆ Tác dụng của phép ẩn dụ: - Về nghệ thuật: Làm cho diễn đạt trở nên ấn tượng, ngôn ngữ cô đọng, hàm súc. - Về nội dung: Cung cấp thêm góc nhìn về sự vật, hiện tượng. 14


C. LUYỆN TẬP ĐỀ LUYỆN 01 Đọc đoạn trích sau: 52HZ - CHÚ CÁ VOI CÔ ĐƠN NHẤT ĐẠI DƯƠNG 52 Hz hay 52 Blue là tên thường gọi của chú cá voi cô đơn nhất hành tinh. Sở dĩ nói rằng 52Hz cô đơn là bởi tiếng kêu của nó có tần số bất thường, lên đến 52 Hz. Trong khi đó ở những loài cá voi khác, ví dụ như cá voi xanh, tần số tiếng kêu của nó là từ 10 - 39 Hz và con số này là 20 Hz với cá voi vây. Chính vì tần số quá đặc biệt nên 52Hz không được đồng loại của mình "lắng nghe". Tiếng kêu của nó chẳng bao giờ có lời lời hồi đáp từ những chú cá voi xung quanh. Thế nhưng suốt mấy chục năm qua kể từ khi được phát hiện đến nay, 52Hz vẫn ngày ngày miệt mài cất tiếng gọi mong đợi một người bạn. Cô đơn và khác biệt là thế, nhưng 52Hz vẫn sống sót và trưởng thành đến tận bây giờ. Thậm chí một số nhà khoa học còn nhận định, 52 Hz vẫn đang sống khỏe mạnh là đằng khác. Câu chuyện về chú cá voi đặc biệt này đã trở thành một thông điệp về sự lạc quan thường xuyên được lan truyền trên mạng xã hội trong những năm gần đây. Chú cá voi này đã trở thành đề tài cho thơ ca, nhạc họa và thậm chí có hẳn một tài khoản trên Twitter. Chú cá voi này dường như đại diện cho những người đang cảm thấy cô đơn và vô định. Mắc kẹt trong cô đơn và công việc mà mình không hề yêu thích, một nhạc sĩ đã soạn một album lấy cảm hứng từ chú cá voi này. Một nhà làm phim trải qua những lo lắng trong cuộc sống cảm thấy bình tĩnh hơn khi thấy hình ảnh chú cá voi cô độc trong đại dương và lắng nghe tiếng kêu của nó. Năm 2015, một bài hát của nhóm nhạc KPop nổi tiếng BTS mang tên Whalien 52 cũng nói về một chú cá voi với "tiếng nói cô độc không bao giờ có thể chạm đến ai khác cho dù cố gắng thế nào". Bạn thân mến, bạn có thể không giống những người khác, bạn có thể cô đơn, lạc loài, thậm chí là bị cuộc đời bạc đãi về một phương diện nào đó. Nhưng mong rằng sau tất cả, bạn vẫn giữ vững được niềm tin và hy vọng sống của mình. (Nguồn: VOV - cuộc sống đó đây) Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1: Theo tác giả, tại sao chú cá voi 52Hz lại được gọi là chú cá voi cô đơn nhất đại dương? 34


Câu 2: Anh(chị) cảm nhận như thế nào về sự cô đơn của chú cá voi qua câu văn: “Tiếng nói cô độc không bao giờ có thể chạm đến ai khác cho dù cố gắng thế nào”? Câu 3: Xác định và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn: “Bạn thân mến, bạn có thể không giống những người khác, bạn có thể cô đơn, lạc loài, thậm chí là bị cuộc đời bạc đãi về một phương diện nào đó.” Câu 4: Anh/chị có bao giờ cảm nhận bản thân là một “chú cá voi 52Hz” chưa? Làm sao để anh/chị vượt qua được cảm giác đó? (Trình bày từ 3-10 câu) HƯỚNG DẪN (Biểu điểm sẽ có sự vận động theo từng năm, từng đề - học sinh tham khảo) Câu Hướng dẫn Điểm 1 - Sở dĩ nói rằng 52Hz cô đơn là bởi tiếng kêu của nó có tần số bất thường, lên đến 52 Hz. - Chính vì tần số quá đặc biệt nên 52Hz không được đồng loại của mình "lắng nghe". Tiếng kêu của nó chẳng bao giờ có lời lời hồi đáp từ những chú cá voi xung quanh. 0.25 0.5 2 Học sinh trả lời theo cảm nhận của bản thân. Câu hỏi “cảm nhận” nên trình bày thành đoạn văn ngắn hoàn chỉnh, khoảng 7 – 10 dòng. Gợi ý: -> Sự cô đơn của chú cá voi diễn ra cùng cực, bế tắc, dù đã cố gắng nhưng tiếng nói của chú vẫn không chạm đến đồng loại. Dường như chú vô định trong chính môi trường sống của mình, cảm thấy lạc lõng, chơi vơi, không ai thấu hiểu mình. 0.75 3 - Biện pháp tu từ liệt kê: “cô đơn, lạc loài, thậm chí là bị cuộc đời bạc đãi về một phương diện nào đó”. 0.25đ 35


- Tác dụng: + Tác dụng nội dung: Cụ thể hóa những trải nghiệm tiêu cực mà chúng ta dễ dàng bắt gặp trong cuộc đời, nhấn mạnh rằng đôi lúc sự khác biệt sẽ mang đến cho chúng ta sự lạc lõng, chơi vơi, vô định trước thế giới rộng lớn ngoài kia. + Tác dụng nghệ thuật: Tạo nhịp điệu cho câu văn; tăng sức thuyết phục cho diễn đạt. 0.5đ 0.25đ 4 Học sinh trả lời theo trải nghiệm của bản thân mình. Câu này cũng nên triển khai thành đoạn văn ngắn hoàn chỉnh khoảng 7 – 10 dòng. - Đã từng cảm nhận bản thân là một chú cá voi 52Hz bao giờ chưa? ➜ câu trả lời cá nhân. - Biện pháp để vượt qua cảm giác ấy theo lăng kính riêng của mình: + Tìm thấy những điều tích cực, những lợi ích khi ở một mình – học cách kết bạn với chính bản thân. + Cởi mở hơn với những người xung quanh. + Trân trọng bản thân mình cũng như trân trọng sự khác biệt của người khác. + Biện pháp hỗ trợ khác: Viết nhật ký, thiền định, thư giãn, đọc sách, nghe podcast chữa lành, … 0.5 ĐỀ LUYỆN 02 Đọc đoạn trích sau: “Có rất nhiều người đinh ninh rằng hiện tại của mình đã được số mệnh định sẵn, nhưng thực ra không phải như vậy. Khả năng kỳ diệu nhất của con người đó là có được quyền tự do chọn lựa, chọn lựa một thái độ, chọn lựa một cách sống, một cách nhìn…Chúng ta vẫn quen đổ lỗi cho những người khác. Có những lúc tôi cũng cho là mình kém may 36


mắn, nhưng rồi tôi hiểu ra rằng không ai có thể kiểm soát được những biến cố xảy đến, nhưng mỗi người luôn có quyền chọn lựa cách đối phó với chúng. Những người suy sụp tinh thần hay thất bại, thường đưa ra những lý do như là: do không có tiền, không có thời gian, do kém may mắn, do quá mệt mỏi hay tâm trạng chán nản… để biện minh cho việc bỏ qua những cơ hội thuận lợi trong cuộc sống. Nhưng sự thực chỉ là do họ không biết sử dụng quyền được lựa chọn của mình. Chính vì thế, họ chỉ là đang tồn tại chứ không phải đang sống thực sự. Điều đó cũng giống như việc bạn muốn mở khóa để thoát khỏi nơi giam cầm, nhưng lại không biết rằng chiếc chìa khóa đang ở ngay trong chính bản thân mình, trong cách suy nghĩ của mình. Cuộc sống là do chúng ta lựa chọn chứ không phải do may rủi. Bản chất của sự việc xảy đến không quan trọng bằng cách chúng ta đối phó với nó. Chính điều chúng ta chọn để nghĩ và chọn để làm mới là quan trọng hơn cả.” (Theo https://sachvui.com/doc-sach/nhung-bai-hoc-cuoc-song/chuong-4.html) Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1: Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn văn là gì? Xác định nội dung chính của đoạn văn? Câu 2: Theo tác giả, những người suy sụp tinh thần hay thất bại, thường đưa ra những lí do gì? Câu 3: Anh/chị hiểu như thế nào về ý kiến của tác giả “Bản chất của sự việc xảy đến không quan trọng bằng cách chúng ta đối phó với nó” Câu 4: Anh/chị đồng tình với quan điểm “Cuộc sống là do chúng ta lựa chọn chứ không phải do may rủi” không? Vì sao? HƯỚNG DẪN (Biểu điểm sẽ có sự vận động theo từng năm, từng đề - học sinh tham khảo) Câu Hướng dẫn Điểm 1 Phương thức biểu đạt chính được sử dụng là nghị luận. 0,25 37


Nội dung chính của đoạn văn: Mỗi chúng ta có quyền lựa chọn một cách sống, đừng bao giờ đổ lỗi cho hoàn cảnh mà hãy nỗ lực thoát khỏi vỏ bọc của chính mình và làm chủ cuộc đời mình. 0,5 2 Theo tác giả, những người suy sụp tinh thần hay hay thất bại, thường đưa ra những lý do như là: do không có tiền, không có thời gian, do kém may mắn, do quá mệt mỏi hay tâm trạng chán nản. 0,5 3 - Học sinh nên triển khai câu này thành một đoạn văn ngắn hoàn chỉnh khoảng từ 7 – 10 dòng. - Gợi ý tham khảo: + “Bản chất của sự việc xảy đến”: Tính chất thực sự của sự việc, có thể là chuyện vui, có thể là chuyện buồn, có thể là một việc như ý, có thể là những thất bại hay những vấp ngã mà ta không mong muốn đối diện. + “Cách chúng ta đối phó”: Cách mỗi người đón nhận và “định nghĩa” câu chuyện của mình. Bản chất sự việc chỉ có một, nhưng ý nghĩa và sự tác động của nó sẽ khác biệt – tùy vào nhận thức và cách ta đón nhận nó. Góc nhìn và lăng kính của bạn về các sự kiện còn quan trọng hơn cả chính sự việc đó, bởi nếu bạn lựa chọn một tâm thế chủ động, tích cực, lạc quan, kể cả những chuyện không như ý cũng trở thành bài học giá trị để ta trưởng thành hơn mỗi ngày. (Còn nếu như trước chuyện vui, trước thành công lớn, bạn chọn cách đắm chìm vào nó để rồi tự mãn về bản thân, bạn thậm chí còn tự đánh mất cơ hội phát triển của chính mình sau này). 1,0 38


4 - Học sinh nên triển khai câu này thành một đoạn văn ngắn hoàn chỉnh khoảng từ 7 – 10 dòng. - Gợi ý tham khảo: + HS đưa ra quan điểm đồng tình/không đồng tình + Lý giải sự lựa chon của mình. VD: Em đồng tình với quan điểm trên. Bởi lẽ cuộc sống của mỗi người đều do bản thân mình quyết định, không có ai khác để chúng ta có thể đổ lỗi hay dựa vào mãi mãi. Sống như thế nào đó là quyết định riêng của mỗi người. Nếu nói cuộc sống do may rủi thì hoàn toàn không đúng bởi không ai có thể may mắn cũng như xui xẻo cả đời được. Vì vậy, bản thân mỗi người mới là nhân tố quyết định tất cả. 0,75 ĐỀ LUYỆN 03 Đọc đoạn trích sau: “…Những dấu chân lùi lại phía sau Dấu chân in trên đời chúng tôi những tháng năm trẻ nhất Mười tám hai mươi sắc như cỏ Dày như cỏ Yếu mềm và mãnh liệt như cỏ Cơn gió lạ một chiều không rõ rệt Hoa chuẩn bị âm thầm trong đất Nơi đó nhất định mùa xuân sẽ bùng lên Hơn một điều bất chợt Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình (Nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc) Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc? Cỏ sắc mà ấm quá, phải không em...” (Trích “Những người đi tới biển” – Thanh Thảo – 1977) Thực hiện các yêu cầu sau: 39


NGHỊ LUẬN XÃ HỘI Lý thuyết chung về đoạn NLXH 200 chữ Nâng cấp đoạn NLXH 200 chữ 5 đề luyện tập kèm đáp án chi tiết 30 đoạn văn NLXH 200 chữ tham khảo


PHẦN II. NGHỊ LUẬN XÃ HỘI A. LÝ THUYẾT CHUNG VỀ ĐOẠN NLXH 200 CHỮ Nhìn lại đề thi các năm gần đây và có sự phân tích của riêng mình: ● 2021: Sự cần thiết phải sống cống hiến (đợt 1) ● 2021: Sự cần thiết của tinh thần hợp tác trong cuộc sống (đợt 2) ● 2022: Trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc tiếp bước thế hệ đi trước ● 2023: Sức mạnh của tinh thần vượt khó trong cuộc sống (đề minh họa) ● 2023: Sự cần thiết phải cân bằng cảm xúc trong cuộc sống I. Khái niệm Nghị Luận Xã Hội - Nội dung: Quan điểm, suy nghĩ, ý kiến, lăng kính của người viết về một vấn đề xã hội. - Hình thức: Triển khai theo một hệ thống lập luận có tổ chức #Làm bài cảm tính, mơ hồ, men theo cảm xúc, nghĩ đến đâu viết đến đó ➜ Cần nỗ lực xây dựng và mở rộng tư duy nghị luận xã hội của mình (góc nhìn của bạn về cuộc sống; cách bạn quan tâm và nhìn nhận đến những sự vận động đa dạng trong đời sống xã hội) + Quan sát thế giới xung quanh một cách tỉ mỉ, kĩ càng, chậm rãi + Đa dạng trải nghiệm của bản thân + “Vay mượn” trải nghiệm từ người khác thông qua các mối quan hệ, các cuộc đối thoại, các thói quen tiếp nhận những thông tin, … + Nghe nhiều, xem nhiều, đọc nhiều + Đặt thật nhiều câu hỏi ➜ thúc đẩy tư duy 48


II. Khái niệm và đặc điểm đoạn văn 1. Khái niệm Khi phân tích các đơn vị ngôn ngữ, nhiều nhà ngôn ngữ học đã sắp xếp chúng theo chiều từ bé đến lớn: Ngữ âm -> Hình vị -> Từ -> Cụm từ -> Câu -> Đoạn -> Văn bản Nếu nhìn vào trình tự trên, có thể thấy đoạn văn được tạo nên từ việc kết nối các câu với nhau, là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản. Về mặt hình thức, một đoạn văn bắt đầu từ chữ viết hoa được lùi đầu dòng và kết thúc bằng dấu kết thúc câu của câu cuối cùng. Xuyên suốt đoạn văn, người viết không được xuống dòng. ° Ví dụ: Lắng nghe có những vai trò đặc biệt quan trọng đối với cuộc sống của chúng ta. Lắng nghe là một từ rất hay; bởi nó được kết hợp bởi hai động từ “lắng” và “nghe. Đúng vậy, phải “lắng” thì mới “nghe” một cách trọn vẹn, chân thành nhất. Chính vì thế mà lắng nghe trở thành một phương tiện giúp chúng ta phát triển những mối quan hệ xung quanh. Việc lắng nghe giúp chúng ta dễ dàng đồng cảm, thấu hiểu người khác; từ đó có những điều chỉnh phù hợp trong lời nói và hành động. Chỉ khi lắng nghe đủ sâu, đủ nhiều, đủ chân thành; ta mới có thể yêu thương, lan tỏa những nguồn năng lượng tích cực đến người khác. Máy ATM gạo chính là một sản phẩm của lòng nhân ái; nhưng nó sẽ chẳng thể nào được ra đời dù chỉ là một ý tưởng nếu như anh Tuấn Anh không có sự lắng nghe, thấu hiểu nỗi lòng của những người khó khăn, cơ cực trong đại dịch. Không chỉ lắng nghe người khác, mà lắng nghe chính mình sẽ giúp chúng ta kết nối với bản thân nhiều hơn, từ đó ta sẽ hiểu mình muốn gì, cần gì. Tóm lại, lắng nghe là một việc cần thiết nếu chúng ta muốn sống một cuộc đời hạnh phúc và an nhiên. (Nhóm biên soạn) 2. Các thành phần của đoạn văn Một đoạn văn chủ yếu được tạo nên từ ba thành phần chính: câu chủ đoạn, câu thuyết đoạn và câu kết đoạn. ◆ Câu chủ đoạn (câu chủ đề) 49


Câu chủ đoạn là câu nhận nhiệm vụ khái quát toàn bộ nội dung của đoạn văn, định hướng cho việc khai triển, lập luận của các thành phần sau. Ở ví dụ phần 2.1, có thể thấy người viết đã để câu chủ đoạn ở đầu đoạn văn: Lắng nghe có những vai trò đặc biệt quan trọng đối với cuộc sống của chúng ta. Câu chủ đoạn có chức năng khái quát nội dung mà đoạn sắp sửa hướng tới: vai trò của sự lắng nghe trong cuộc sống. Một đoạn văn có thể có câu chủ đoạn hoặc không, phụ thuộc vào phương pháp trình bày đoạn văn. Câu chủ đoạn có thể nằm ở đầu (đoạn văn diễn dịch), nằm ở giữa (trường hợp không phổ biến), hoặc nằm ở cuối (đoạn văn quy nạp). ◆ Câu thuyết đoạn Thành thuyết đoạn bao gồm những câu văn có vai trò triển khai nội dung câu chủ đề, cũng có trường hợp câu chủ đề là sự tổng hợp nội dung của những câu thuyết đoạn. ° Ví dụ: Nếu câu chủ đề khái quát về giải pháp để bảo vệ môi trường thì các câu thuyết đoạn phải cụ thể hoá đó là giải pháp gì. Có thể theo hướng như sau: + Tuyên truyền mọi người về tác hại của việc gây ô nhiễm môi trường cũng như động viên họ chung tay bảo vệ môi trường. + Loại bỏ các thói quen xấu như xả rác, dùng đồ nhựa, túi bóng; tích cực trồng cây, sử dụng chất liệu có thể tái chế được trong cuộc sống. ◆ Câu kết đoạn Trong một đoạn văn tổng - phân - hợp; ngoài sự xuất hiện của câu chủ đoạn, ta cũng sẽ bắt gặp câu kết đoạn. Câu kết đoạn là câu văn cuối cùng của đoạn, nhận nhiệm vụ kết luận lại nội dung đã được triển khai bên trên. Cách viết câu kết đoạn: Câu kết đoạn thường là một cách diễn đạt khác của câu chủ đề. Nếu câu chủ đề là: Lắng nghe có vai trò quan trọng trong cuộc sống; câu kết đoạn thường là: Như vậy, vai trò của việc lắng nghe trong cuộc sống là không thể phủ nhận. Từ đó, ta có thể suy ra rằng câu kết đoạn và câu chủ đề thường có mối quan hệ mật thiết với nhau. Cần tránh dùng câu kết đoạn để mở rộng thêm vấn đề hoặc đề cập những phương diện mà câu chủ đề không thể hiện. Ngoài ba thành phần trên, khi phân tích một vài đoạn văn của học sinh hoặc những người viết sáng tạo khác, ta cũng sẽ bắt gặp những thành phần khác xuất hiện. 50


◆ Câu văn móc câu (Hook) Thông thường, để cho đoạn văn trở nên sáng tạo, thu hút sự tò mò của người đọc, nhiều người viết không lựa chọn cách viết thông thường là nêu câu chủ đề đầu tiên, mà họ sẽ dùng những cách dẫn dắt mới lạ, thú vị,.. - gọi chung là Hook. Hook là một khái niệm phổ biến được dùng trong đoạn mở bài của một bài văn; nhưng một số người viết đã tận dụng nó, với một hình thức nhỏ và hạn chế hơn, để đưa vào đoạn văn. ° Ví dụ: Trong thời đại hội nhập và xu thế toàn cầu hóa hiện nay, mạng xã hội trở thành một công cụ vô cùng tiện ích giúp gắn kết mọi người vào cùng với nhau. Nhưng nó lại mang tính hai mặt, dẫn đến hiện tượng sống phụ thuộc vào mạng xã hội của nhiều người trẻ hiện nay. (Bài làm của học sinh) Ở ví dụ trên, trước khi học sinh trình bày câu chủ đề (phần in đậm), bạn đã dùng một câu văn nêu hiện trạng nhằm khơi gợi sự tò mò của người đọc về vấn đề. - Để có thể hấp dẫn người đọc, ta có thể dùng các cách dẫn dắt sau: + Một câu hát, danh ngôn, ngạn ngữ, tục ngữ,... + Hiện trạng đang diễn ra hiện nay. + Một số liệu, tình huống, sự kiện gây sốc. + Nêu phản đề Lưu ý: Vì “hook” vốn dĩ không phải là một thành phần cốt yếu của đoạn văn, cũng như vì dung lượng đoạn văn khá hạn chế, nên học sinh không nên viết thành phần này quá dài. Thông thường chỉ cần một câu là đủ. ◆ Câu văn lạc đề Câu văn lạc đề là những câu văn mắc lỗi lạc ý, không đi đúng hướng của câu chủ đoạn mà trình bày những thông tin ngoài lề, không quan trọng, không có giá trị lập luận cụ thể. Trong bài viết, số lượng câu văn lạc đề càng nhiều, đoạn văn càng bị mơ hồ, nếu tham gia các kì thi thì điểm sẽ càng thấp. Học sinh cần tránh viết các câu này. 3. Các phương pháp trình bày đoạn văn 3.1. Đoạn văn có câu chủ đoạn 51


B. NÂNG CẤP ĐOẠN NLXH 200 CHỮ I. Kĩ năng mở đoạn “Chúng ta chỉ có một cơ hội để tạo ấn tượng đầu tiên.” Phần mở chính “ấn tượng đầu tiên” mà bạn tạo ra với người đọc, người chấm bài mình. Bạn muốn ấn tượng ấy sẽ nhạt nhòa, cứng nhắc, hay mềm mại, thú vị, riêng biệt? ◆ Hai cách dẫn dắt cơ bản của mở bài/mở đoạn: - Mở đoạn trực tiếp: giới thiệu thẳng vấn đề cần nghị luận – xuất phát từ chính vấn đề cần nghị luận <đi một con đường thẳng để đến đích> - Mở đoạn gián tiếp: dẫn dắt từ một vài yếu tố khác rồi mới giới thiệu vấn đề cần nghị luận <đi đường vòng để đến đích> ➜ Dù đi đường nào, bạn cũng cần phải đến đích. (Đích ở đây chính là vấn đề nghị luận – sau đây viết tắt là VĐNL) ◆ Yêu cầu chung với mở đoạn: Mở đoạn trước khi hay – phải là mở đoạn đúng. - Mở đúng: mở đoạn giới thiệu được VĐNL - Mở hay: + Diễn đạt lưu loát, trôi chảy + Có sự sáng tạo khi giới thiệu vấn đề, thoát khỏi những khuôn mẫu quá quen thuộc Ta sẽ cùng tìm hiểu về từng cách mở bài/mở đoạn, để từ đó bạn có sự gợi mở tư duy và linh hoạt triển khai của riêng mình nhé! 1. Mở đoạn trực tiếp ◆ Một số cách mở trực tiếp: Cách 1: (VĐNL) là một…lối sống/bài toán/vấn đề/hiện tượng… trong đời sống của mỗi người/trong xã hội hiện đại. ➜ Giới thiệu khái quát về VĐNL (hoặc nói về tầm quan trọng, ý nghĩa, vai trò; hoặc nêu mức độ phổ biến của vấn đề, ...) ° Ví dụ: + Sống thật với chính mình là một lối sống ngày càng được ưu tiên, trân trọng trong xã hội ngày nay. 61


+ Hiện tượng yêu sớm ở tuổi học trò đang ngày càng trở thành một vấn đề nóng bỏng, thu hút sự quan tâm của thầy cô và gia đình. Cách 2: (VĐNL) là …………… ➜ định nghĩa về vấn đề nghị luận (áp dụng thao tác lập luận giải thích ngay từ mở bài/mở đoạn) – trả lời cho câu hỏi: VĐNL là gì? ° Ví dụ: + Sống thật với chính mình là khi ta chân thành với những xúc cảm, suy ngẫm của bản thân – dẫu nó có khác biệt với xung quanh đến thế nào. + Yêu sớm ở lứa tuổi học trò là khi các bạn học sinh còn ngồi trên ghế nhà trường đã bắt đầu có những mối quan hệ trên mức tình bạn, thậm chí vượt ngoài tầm kiểm soát của sự non nớt về trải nghiệm. Cách 3: (VĐNL) + Liên hệ bản thân (VĐNL) với tôi là…. ➜ giới thiệu chủ quan về vấn đề nghị luận ° Ví dụ: + Sống thật với chính mình, với tôi, đó là khi tôi không quay lưng lại với những xúc cảm của chính mình, không phủ nhận những yếu đuối của bản thân… + Yêu sớm ở tuổi học trò, với tôi, đó là những rung động đầu đời trong sáng giúp hành trình trưởng thành của ta thêm trọn vẹn. Cách 4: (VĐNL) + Đánh giá đa chiều về vấn đề (thích hợp với mở bài hơn mở đoạn – mở đoạn cần ưu tiên sự ngắn gọn, súc tích) ➜ dẫn dắt từ các ý kiến khác nhau (nên đưa khoảng 2 ý kiến để mở bài không quá dài dòng, lê thê). ° Ví dụ: Bàn về (VĐNL), có người cho rằng…. Một người khác lại khẳng định…. + Bàn về giá trị của sống thật với chính mình, nhiều người tin rằng đó là cách để ta có một cuộc đời thanh thản, nhẹ nhõm, không giả dối. Thế nhưng, trong vòng quay phức tạp của xã hội hiện đại, nhiều người lại nhận định: Càng thật thà, càng thiệt thòi mà thôi. + Trò chuyện về hiện trạng yêu sớm ở lứa tuổi học trò, nhiều bậc phụ huynh ngay lập tức cho rằng đó là một điều sai trái, gây ra những hệ quả khó lường mà học sinh chưa thể nhận thức được. Tuy nhiên, đối với những người trong cuộc, nhiều bạn học sinh chia sẻ thật thà rằng, nhờ có tình yêu trong sáng, ngây thơ ấy, mà mình có thêm động lực để phấn đấu nhiều hơn. 2. Mở đoạn gián tiếp ◆ Mở từ (một/vài) câu hỏi: 62


- Câu hỏi chính là bước đệm quan trọng để có câu trả lời; là bước đầu tiên của hành trình tìm kiếm đáp án. ➜ có thể là một chất liệu bình dị mà hấp dẫn để dẫn dắt vào vấn đề nghị luận. ➜ Đặt câu hỏi có liên quan hoặc bám sát VĐNL – sau đó từ câu hỏi dẫn dắt vào vấn đề. ° Ví dụ: Sống thật với chính mình + Bạn đã bao giờ lừa dối cảm xúc của chính mình hay chưa? Cảm giác lúc ấy thế nào?... + Theo bạn, (VĐNL) là gì? ➜ Theo bạn, sống thật với chính mình là gì? Là khi ta không giấu diếm những cảm nhận của bản thân? Là khi ta dám đứng lên để bảo vệ giá trị của chính mình? Là khi ta không bị ảnh hưởng bởi những xu hướng bên ngoài để rồi đánh mất bản ngã? … - Một số kiểu câu hỏi: + Câu hỏi Là gì? + Câu hỏi Bạn đã bao giờ….? + Câu hỏi Vì sao…? + Câu hỏi về sự lựa chọn Nếu được lựa chọn giữa ……, bạn sẽ chọn gì? ° Ví dụ: Nếu được lựa chọn giữa việc sống theo xu hướng của đám đông để bình yên và an toàn mà tồn tại; với việc sống thật với chính mình nhưng cần rất nhiều bản lĩnh, dũng cảm; bạn sẽ chọn gì? ◆ Mở bằng một câu nhận định/châm ngôn/câu hát/câu thơ/câu văn… <mở bằng cách trích dẫn ý kiến của người khác rồi dẫn về vấn đề nghị luận chính> Lưu ý: - Chọn các nhận định có liên quan/bám sát VĐNL. - Chọn các câu trích dẫn súc tích, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ ➜ có tính ứng dụng cao. - Tránh mắc lỗi đưa nhận định vào một cách bơ vơ, lạc lõng, không có sự dẫn dắt kết nối với VĐNL ➜ chú trọng sự liên kết khi diễn đạt. - Nên có sự chủ động tích lũy trong quá trình đọc ➜ ghi chép lại những câu nói/những câu châm ngôn/thơ/văn/… hay, hấp dẫn, có khả năng ứng dụng vào quá trình viết. - Bạn có thể trích dẫn 2 ý kiến về VĐNL rồi dẫn dắt về vấn đề. 63


◆ Mở từ một dẫn chứng thực tế (một câu chuyện/một số liệu/một nhân vật/một sự kiện…) Lưu ý: - Cần chọn lọc dẫn chứng kĩ càng khi đưa vào phần mở + Dẫn chứng phổ biến ➜ lôi kéo được sự quan tâm, chú ý của người đọc + Dẫn chứng có sự tác động mạnh về nhận thức hoặc cảm xúc + Dẫn chứng có tính thời sự - dẫn chứng nóng hổi, đang được quan tâm - Đưa dẫn chứng vào phần mở nên ngắn gọn, súc tích, trúng vấn đề - Có thể đan xen kết hợp thêm phương thức biểu đạt tự sự và biểu cảm để làm phần mở hấp dẫn, giàu cảm xúc hơn ◆ Mở từ chính chiêm nghiệm của bản thân mình Lưu ý: - Có thể là một câu chuyện, một trải nghiệm cá nhân; một góc nhìn – quan điểm của mình; một hành trình có liên quan đến VĐNL hoặc về VĐNL … - Xuất phát từ chính mình rồi dẫn dắt đến VĐNL (liên hệ bản thân) - Có thể tạo kết cấu đầu cuối tương ứng (VD: Ở phần mở, bạn đặt ra một câu hỏi hoặc mở ra một vấn đề nào đó trong góc nhìn của bản thân – đến cuối, bạn sẽ đưa ra câu trả lời hoặc cách giải quyết vấn đề) NGOÀI RA: Sẽ có rất nhiều cách khác để bạn tiếp cận vấn đề nghị luận: - Mở từ một số liệu “nóng hổi” phản ánh về thực trạng vấn đề - Mở bằng thao tác lập luận bác bỏ (đưa ra ý kiến trái ngược với quan điểm của mình ➜ phủ nhận ý kiến ấy ➜ đưa ra ý kiến của bản thân) - … Bạn chủ động và linh hoạt theo lăng kính riêng, theo khả năng lập luận của bản thân và theo đề bài để tạo ấn tượng riêng và giới thiệu được VĐNL một cách hiệu quả nhé! 64


C. LUYỆN TẬP I. 5 đề luyện tập (kèm hướng dẫn gợi mở) **Ghi chú: Các bạn đọc dàn ý để mở rộng lăng kính và có thêm những góc nhìn mới, có thể học hỏi thêm cách dùng từ, chứ mình không coi đây là “đáp án” chính xác bắt buộc phải viết y hệt nha. Đề 01. Nêu suy nghĩ của anh/chị về giá trị của việc chiến đấu cho lẽ phải trong cuộc sống. Trình bày suy nghĩ bằng một đoạn văn 200 chữ. - VĐNL: Giá trị của việc chiến đấu cho lẽ phải trong cuộc sống - Dạng đề: Tư tưởng đạo lý Dàn ý tham khảo ◆ Giải thích: - “Lẽ phải” là những điều được coi là đúng đắn, chuẩn mực, phù hợp với đạo lí và lợi ích chung của xã hội. ➜ Chiến đấu cho lẽ phải là tôn trọng và bảo vệ lẽ phải; là sẵn sàng đứng lên chống lại điều xấu – điều bất công; là nỗ lực tôn vinh giá trị của những vẻ đẹp bình dị, chân thành trong cuộc sống ngày càng phức tạp, bộn bề. ◆ Bình luận: Vì sao ta cần chiến đấu cho lẽ phải? - Khi đó, ta sẽ lan tỏa những giá trị tử tế, tích cực đến với đời sống – giúp mọi người hướng thiện và sống giàu yêu thương hơn. - Khi tất cả đều nhận thức được tầm quan trọng của lẽ phải, mỗi người sẽ có cách ứng xử phù hợp, tự điều chỉnh hành vi của bản thân sao cho hợp tình, hợp lý, không làm ảnh hưởng hay tổn thương đến những người xung quanh. Đây cũng chính là nền tảng cho một cuộc sống công bằng và phát triển. + Dẫn chứng thực tế về một cá nhân, tổ chức luôn tôn trọng và bảo vệ những điều đúng đắn (VD: bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là kết quả của một quá trình đấu tranh bền bỉ, là tiếng nói khẳng định sức mạnh của lẽ phải và chính nghĩa, vẫn còn vẹn nguyên giá trị cho đến tận ngày hôm nay và mãi sau này). 72


- Hiện trạng, giải pháp, liên hệ bản thân (linh hoạt và ngắn gọn, súc tích – nếu đã đủ dung lượng đoạn 200 chữ rồi thì em giữ phần liên hệ bản thân như một câu kết đoạn là đẹp – không cần viết hiện trạng, giải pháp nữa). ° Ví dụ: 3 câu ý này: (theo thứ tự hiện trạng – giải pháp – liên hệ bản thân) Thế nhưng, nhiều người trẻ vẫn còn bị động, sợ hãi khi đối diện với cái ác, cái xấu; chưa trang bị được tinh thần sẵn sàng đấu tranh cho lẽ phải, không hề biết rằng chính sự im lặng của mình đang khiến cho thế giới này xấu xí đi. Là một người trẻ thế hệ mới, chúng ta cần thẳng thắn và dũng cảm hơn trong việc bảo vệ những điều đúng đắn. Đó cũng là hành trình mà cá nhân tôi đang nỗ lực theo đuổi mỗi ngày, từ những hành động nhỏ nhất. Đề 02. Anh/chị hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ chia sẻ suy nghĩ về ý nghĩa của việc chấp nhận bản thân khi ở một mình. - VĐNL: ý nghĩa của việc chấp nhận bản thân khi ở một mình. - Dạng đề: Tư tưởng đạo lý Dàn ý tham khảo ◆ Giải thích: “Chấp nhận bản thân khi ở một mình” là khi bạn hoàn toàn thoải mái với sự cô độc, biết cách đối diện với chính mình những lúc không có ai ở bên, và “tận hưởng” được khoảng thời gian ấy theo cách của mình. ◆ Bình luận: - Dẫu cho cuộc sống của mỗi người được hoàn thiện nhờ các mối quan hệ xung quanh, ta vẫn không thể phủ nhận một thực tế: Sẽ có những hoàn cảnh bạn chỉ có một mình, sẽ có rất nhiều tình huống bạn buộc phải tự mình độc lập giải quyết mà không thể dựa vào bất cứ ai khác. Nếu cố chấp với quan điểm phải luôn có người đồng hành, làm sao ta đủ bản lĩnh vượt qua những lúc như thế? + Học cách chấp nhận bản thân cả trong những thời khắc cô độc sẽ giúp bạn “bình thường hóa” những giây phút ấy, không quá căng thẳng, áp lực mỗi lúc một mình. Từ đó, bạn sẽ hoan hỉ và chủ động tìm ra nhiều hình thức để kết bạn với chính mình, để thỏa hiệp với cả nỗi cô đơn mình từng lo sợ. Đó là những khoảng một mình cần thiết để bạn trò chuyện với bản thân, xoa dịu những nỗi 73


lắng lo, tìm hiểu về chính mình để biết mình thực sự mong cầu điều gì – chứ không phải chỉ nghe theo những xôn xao ngoài kia mà quên mất ý kiến riêng của mình. + Thế nhưng, thái độ ấy không có nghĩa bạn tự tách mình ra khỏi thế giới ngoài kia, thoát ly khỏi những mối quan hệ xã hội và thu mình lại chỉ có một mình mình. Ta cần học cách cân bằng để có một cuộc sống trọn vẹn nhất. + Dẫn chứng thực tế phù hợp ° Ví dụ: Tài tử Mỹ Jared Leto dù là một người của công chúng với nhiều vai diễn gây ấn tượng trên màn ảnh, thế nhưng thi thoảng anh vẫn chọn “ở ẩn” một thời gian, tách mình khỏi thế giới bận rộn, để dành cho mình một khoảng trống bình yên. Đó là một minh chứng cho thấy ai cũng có thể học cách chấp nhận bản thân khi ở một mình. - Hiện trạng, giải pháp, liên hệ bản thân: HS linh hoạt theo đoạn mình nha, nếu bình luận đã dài và khá kĩ, các em có thể bỏ qua hiện trạng – giải pháp, kết đoạn bằng 1 câu liên hệ bản thân súc tích để đoạn trọn vẹn nhất. Đề 03. Theo anh/chị, mỗi người trẻ nên cống hiến như thế nào cho Tổ quốc ngày hôm nay? Hãy trình bày suy nghĩ của mình bằng một đoạn văn 200 chữ. - VĐNL: mỗi người trẻ nên cống hiến như thế nào cho Tổ quốc hôm nay? (Đề thiên về giải pháp, cách thức) - Dạng đề: Với đề bài này, học sinh có thể triển khai theo hướng TTĐL hoặc HTĐS đều được, miễn là lập luận chặt chẽ - bám sát vấn đề nghị luận về cách cống hiến của người trẻ cho Tổ quốc hôm nay. Dàn ý tham khảo: ◆ Giải thích: Cống hiến là khi ta tự nguyện, tự giác đem tài năng, sức lực của mình để đóng góp vào lợi ích chung của cộng đồng. Khẳng định giá trị của VĐNL: Thái độ sống cống hiến là một lối sống cần có của người trẻ hiện nay. ◆ Bình luận: 74


- Tập trung vào câu hỏi trọng tâm mà đề đặt ra: Vậy người trẻ nên cống hiến như thế nào cho Tổ quốc hôm nay? + Dẫu ở bất cứ thời điểm nào, thời chiến hay thời bình, khi đại dịch hoành hành hay trong “bình thường mới”, mỗi người trẻ đều cần ý thức được sứ mệnh cống hiến của mình cho Tổ quốc. Đầu tiên, ta cần nắm bắt được tình hình đời sống xã hội của đất nước, lắng nghe những câu chuyện của thời đại, để từ đó biết rằng mình cần làm gì. + Tình yêu đất nước không chỉ được biểu hiện bởi những việc lớn lao, vĩ đại, ta có thể bắt đầu từ những việc nhỏ, như nỗ lực lan tỏa sự tử tế trong từng hành động, giúp đỡ những người khó khăn hơn mình trong khả năng của bản thân, cố gắng trau dồi và tu dưỡng để đóng góp cho Tổ quốc, vv… + Dẫn chứng thực tế: Nêu ví dụ về 1 người trẻ đang cống hiến cho đất nước (Hoa hậu, Cầu thủ, Nghệ sĩ, Những du học sinh,…) - Hiện trạng: Chỉ ra mặt tiêu cực hoặc tích cực VD: Thế nhưng, hiện nay vẫn có nhiều người trẻ lựa chọn cách sống khép kín, ích kỉ, chỉ biết đến bản thân mà xa rời những câu chuyện chung của xã hội. - Liên hệ bản thân (phần Giải pháp đã được đan xen trong bình luận vì đó là trọng tâm, nên các bạn có thể đến phần liên hệ bản thân là câu kết đoạn, chia sẻ về một chiêm nghiệm – một nỗ lực của riêng mình trên hành trình này nhé). Đề 04. “Trên thế gian này, sẽ có người yêu thương chính sự tồn tại của bạn” (Trích Tr.100, “Yêu những điều không hoàn hảo”, Đại đức Haemin) Hãy viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của anh(chị) về lý do vì sao chúng ta cần phải trân trọng sự sống của chính mình. - VĐNL: Lý do ta cần phải trân trọng sự sống của chính mình - Dạng đề: Tư tưởng đạo lý Dàn ý tham khảo: ◆ Giải thích: Bạn có thể giải thích từ khóa “sự sống của chính mình” hoặc “trân trọng sự sống của chính mình”. 75


° Ví dụ: “Trân trọng sự sống của chính mình” là khi bạn học cách nâng niu sự tồn tại của bản thân, không phủ nhận mình, không ghét bỏ mình, không làm tổn thương mình. Đại đức Haemin từng viết: “Trên thế gian này, sẽ có người yêu thương chính sự tồn tại của bạn”, lẽ nào bạn lại không phải là người ấy? ◆ Bình luận + Chúng ta phải trân trọng sự sống của mình bởi vì mỗi người chỉ có một cơ hội sống duy nhất trên đời. Khi ta còn sống, nghĩa là ta còn cơ hội để bước tiếp, được trải nghiệm hết những dư vị của cuộc đời. + Sự sống của ta vô cùng quý giá, thiêng liêng. Có thể bây giờ ta đau khổ, tuyệt vọng; nhưng không có nghĩa là sau này sẽ vẫn như thế. Đừng tự đánh mất cơ hội sống quý giá của bản thân mình. + Nếu bạn chưa gặp được người “yêu thương chính sự tồn tại của bạn”, bạn phải học cách nương tựa vào mình, yêu thương chính mình. + Học sinh lấy 1 dẫn chứng tiêu biểu, người thật, việc thật để làm sáng tỏ nội dung. (VD: Ca khúc “Đừng kết thúc hôm nay” của nhạc sĩ, ca sĩ Orange với thông điệp tích cực, động viên người trẻ đừng tìm đến sự giải thoát đau đớn mà hãy thử tìm kiếm những điều tươi đẹp ở cuộc sống này, hãy trao cho mình một “ngày mai”). - Hiện trạng, giải pháp, liên hệ bản thân: HS linh hoạt theo đoạn mình nha, nếu bình luận đã dài và khá kĩ, các em có thể bỏ qua hiện trạng – giải pháp, kết đoạn bằng 1 câu liên hệ bản thân súc tích để đoạn trọn vẹn nhất. Đề 05. Đọc câu chuyện sau: Hôm ấy là ngày đầu tiên tôi học môn Toán với thầy Peter. Vừa vào lớp, thầy cho cả lớp làm bài kiểm tra đầu năm. Cả lớp ngạc nhiên khi thầy phát cho chúng tôi ba loại đề khác nhau rồi nói: 76


- Đề thứ nhất gồm những câu hỏi vừa dễ và khó, nếu làm hết các em sẽ được 10 điểm. Đề thứ hai có số điểm cao nhất là 8 với những câu hỏi tương đối dễ. Đề thứ 3 có số điểm tối đa là 6 với những câu hỏi rất dễ. Các em được quyền chọn đề cho mình. Thầy chỉ cho làm bài trong 15 phút nên tôi đã chọn đề thứ 2 cho chắc ăn. Không chỉ tôi mà các bạn cùng lớp cũng thế, chẳng có ai chọn đề thứ nhất cả. Một tuần sau, thầy Peter phát bài kiểm tra. Cả lớp lại càng ngạc nhiên hơn khi biết ai chọn đề nào thì được tổng số điểm của đề đó, bất kể làm đúng hay sai. Lớp trưởng hỏi thầy: - Thưa thầy tại sao lại như thế? Thầy cười rồi nghiêm nghị trả lời: - Với bài kiểm tra này, thầy chỉ muốn thử thách sự tự tin của lớp mình. Các em đều muốn đạt được điểm 10 nhưng ít ai dám vượt qua thử thách để biến ước mơ ấy thành sự thật. Bài kiểm tra kỳ lạ ấy của thầy Peter đã dạy chúng tôi một bài học: …… Theo anh/chị, bài học ấy là gì? Nếu là một bạn học sinh trong lớp, anh/chị sẽ chọn đề kiểm tra nào? Hãy viết một đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ chia sẻ suy nghĩ của bản thân. - VĐNL: thông điệp, bài học từ câu chuyện mà bản thân mỗi học sinh tự rút ra cho chính mình. - Dạng đề: Tư tưởng đạo lý - Đây là một đề khá “mở”, học sinh có quyền cảm nhận của riêng mình, miễn là em có lập luận chắc chắn. Dàn ý tham khảo: ◆ Giải thích: HS tóm tắt ngắn gọn câu chuyện. ◆ Bình luận: Các bạn đưa ra thông điệp, bài học mà bản thân thấm thía từ câu chuyện. Mỗi bạn có thể có những cảm nhận riêng mình. 77


° Ví dụ gợi mở: + Bài học về tinh thần bản lĩnh, dám chinh phục những đỉnh cao hơn để vượt qua giới hạn của chính mình – thúc đẩy bản thân tiến bộ hơn nữa. Đôi khi, thứ giới hạn mình chính là sự sợ hãi, lo lắng của bản thân. + Chúng ta thường có xu hướng lựa chọn an toàn để hạn chế rủi ro, nhưng những thành quả vượt trội lại cần một chút sự mạo hiểm, thử thách. Nếu cứ mãi nép mình trong vòng tròn an toàn, bạn sẽ khó lòng bứt phá và tạo nên kì tích của riêng mình. + Nếu bạn hài lòng với điểm 6, điểm 8, bạn sẽ mãi mãi chỉ dừng ở mức điểm đó. Nếu bạn thử chinh phục điểm 10, bạn đã bước một bước chân đầu tiên trên chặng đường chạm đến đỉnh cao mới này. - Hiện trạng, giải pháp, liên hệ bản thân: Linh hoạt theo thông điệp, bài học mà em chọn. + Tuy nhiên, một góc nhỏ an toàn chưa chắc đã là điều xấu. Quan trọng là bạn cần biết rõ bản thân mình ở đâu để đưa ra những lựa chọn phù hợp, tránh mạo hiểm quá sức của bản thân để rồi chuốc thất bại đau đớn. II. 30 đoạn Nghị Luận Xã Hội 200 chữ tham khảo * Các bài viết được sưu tầm từ bài làm học sinh các khóa 2K3 - 2K6 của Học Văn cô Sương Mai, đã được chỉnh sửa bởi đội ngũ biên tập. 1. Sức mạnh của lòng nhân nghĩa: Trong “Một nhành xuân”, Tố Hữu từng bộc bạch: “Dân tộc này sẽ là một bài ca/ Của nhân nghĩa bốn nghìn năm toả rộng”. Đôi câu thơ trên đã để lại trong tôi nhiều dư ba, dư vị bởi những suy tư, chiêm nghiệm về sức mạnh của lòng nhân nghĩa. Lòng nhân nghĩa là lòng thương người, nó như mạch nước ngầm dù ẩn sâu nhưng thuần khiết và mát lành. Nó có thể vun tưới và gột rửa đi sự ích kỷ, toan tính, mọi tham - sân - si để con người gần nhau hơn. Từ bệ phóng cảm xúc đó, mỗi chúng ta sống với nhau bằng tình cảm chân thành, keo sơn, đoàn kết để rồi dân tộc ta có thể “sánh vai với các cường quốc năm châu” như nguyện ước của Bác Hồ lúc sinh thời. Không chỉ vậy, lòng nhân nghĩa dù chỉ xuất phát từ một cá nhân cũng sẽ lan toả những giá trị tích cực cho cộng đồng - tạo thành làn 78


sóng đầy yêu thương nếu mỗi chúng ta tự thắp lên bên trong ngọn lửa lấp lánh lòng trắc ẩn. Ta sẽ chẳng thể nào quên được câu chuyện đầy lòng nhân nghĩa về anh Nguyễn Ngọc Mạnh khi anh “chẳng suy nghĩ gì” ngoài việc phải cứu được em bé đang rơi từ tầng mười hai toà chung cư. Sức mạnh của lòng nhân nghĩa khi ấy đã thúc giục anh hành động để rồi một “mầm non” có cơ hội được lớn lên và tiếp tục hành trình tươi đẹp chốn nhân gian. Tôi luôn tự dặn lòng mình rằng cần nỗ lực để nuôi dưỡng, nhân bản những “hồng cầu” mang tên tình người trong huyết mạch của mình, tránh những “tế bào ung thư” ăn mòn đi trái tim yêu thương, và tôi mong bạn cũng ấp ủ và sẵn sàng hành động cho điều ấy. 2. Ý nghĩa của sự nỗ lực không ngừng Diễn viên Jared Leto từng chia sẻ rằng: “Nếu bạn cảm giác rằng đã đến lúc phải bỏ cuộc, hãy nghĩ xem bạn đã cố gắng hết mình vì điều gì đến tận bây giờ”. Ta khó có thể phủ định ý kiến của nam tài tử bởi khó khăn, thử thách là một “điềm báo” để ta biết mình sắp chạm đến thành công và điều ta cần làm là luôn nỗ lực không ngừng nghỉ. “Nỗ lực không ngừng” là giữ cho mình một trái tim kiên định, lạc quan để dũng cảm chiến đấu, cố gắng hết mình để đạt được mục tiêu ban đầu đã đề ra. Cuộc sống sẽ tẻ nhạt biết bao nếu ta cứ “bình chân như vại”, không chút nỗ lực vì ước mơ. Sẽ hoài phí biết bao nếu tuổi trẻ của ta cứ quanh quẩn trong ngưỡng an toàn của bản thân mà chẳng màng cố gắng trải nghiệm vượt khỏi sự quen thuộc. Nỗ lực không ngừng sẽ là liều thuốc tinh thần để ta khát khao sống, mong muốn vươn lên tạo ra giá trị cho bản thân và cộng đồng. Đó cũng là cách ta khẳng định chính mình, là nền tảng vững chắc cho ta trên cuộc lữ hành hoàn thiện bản thân. Hành trình sống và sáng tạo nghệ thuật của nữ ca sĩ Taylor Swift là minh chứng cho sự nỗ lực không ngừng nghỉ. Đứng trước những cái lắc đầu, lời chê bai từ nhà sản xuất hay Viện hàn lâm, cô luôn đáp lại bằng một thái độ không bỏ cuộc: “Tôi sẽ cố gắng làm một album âm nhạc hay hơn”. Đã có thời điểm cô cảm thấy suy sụp vì sự quay lưng của khán giả, cô quyết định sống ẩn dật hơn một năm trời không phải để chạy trốn, mà là để chuyển hoá câu chuyện vào âm nhạc. Kết quả là, như con chim phượng hoàng, cô “hồi sinh từ đống tro tàn”, giành lại được tình cảm của người yêu âm nhạc thế giới. Chỉ khi thực sự nỗ lực, may mắn và hạnh phúc mới có thể đến với chúng ta. Vậy nên, mong rằng từ khoá “nỗ lực không ngừng” sẽ mãi khắc ghi trong trí óc và trái tim của tôi và bạn, vì tôi tin rằng nếu ta không ngừng “ươm mầm”, cuộc sống sẽ trả lại cho ta những hoa thơm, trái ngọt trong tương lai. 79


NGHỊ LUẬN VĂN HỌC Kĩ năng làm bài NLVH Phân tích chuyên sâu 10 tác phẩm trọng tâm Tài liệu tham khảo mở rộng 5 đề luyện tập kèm đáp án chi tiết


PHẦN III. NGHỊ LUẬN VĂN HỌC A. KỸ NĂNG LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC I. Một số dạng đề Nghị Luận Văn Học phổ biến - Dạng đề phân tích đoạn trích mà đề bài cho sẵn (VĐNL chính) ➜ từ đó đánh giá/nhận xét/nêu cảm nghĩ về một VĐNL phụ được gợi ra từ đoạn trích ấy ➜ Dạng đề cơ bản, phổ biến trong 4 năm gần đây (2019 ➜ 2023) - Dạng đề liên hệ hoặc so sánh (đề thi 2018 – dạng đề liên hệ) - Dạng đề chứng minh nhận định văn học (ít phổ biến) - Dạng đề không trích sẵn đoạn trích (ít phổ biến – nhưng vẫn có thể ra) II. Cấu trúc điểm bài thi Văn THPT QG **Ghi chú: Barem điểm tham khảo, có thể thay đổi theo đề cụ thể và theo chuẩn từng năm. Nội dung Điểm Xác định được đúng VĐNL: (tập trung vào đoạn trích đề cho – phân tích/đánh giá được VĐNL phụ theo yêu cầu) 0.25-0.5 Bảo đảm được cấu trúc chính xác của bài văn nghị luận - Mở bài: Giới thiệu VĐNL - Thân bài: Thực hiện đúng các “lệnh”, các yêu cầu của đề. - Kết bài: Khẳng định lại VĐNL 0,25 Triển khai VĐNL: Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, cần vận dụng kết hợp các thao tác lập luận, phối hợp chặt chẽ giữa lí lẽ - dẫn chứng. (Học sinh nắm chắc kĩ năng nghị luận) a. Khái quát về tác giả, tác phẩm – giới thiệu VĐNL chính (nên giới thiệu VĐNL – tức là đoạn trích cụ thể cần phân tích trong tác phẩm đó - ở câu cuối đoạn) 0,5 b. Phân tích đoạn trích đã cho (cảm thụ, phân tích các tín hiệu 1,75 99


nghệ thuật đặc sắc, những vẻ đẹp trong ngôn từ của đoạn trích – qua đó biểu hiện nội dung của đoạn ấy) ➜ Phân tích theo hệ thống luận điểm rõ ràng c. Đánh giá đặc sắc nghệ thuật (chỉ ra và nêu tác dụng của các tín hiệu nghệ thuật đặc sắc) 0,5 Rút ra kết luận chung về giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích 0,25 d. Đánh giá VĐNL phụ 0,5 – 1,0 e. Hình thức (ngữ pháp, trình bày, chính tả, …) 0,25 g. Sáng tạo <~20% dung lượng bài viết> Nội dung: (linh hoạt về vị trí phù hợp trong bài, tùy theo lập luận riêng của mình) - Suy ngẫm sâu sắc, phân tích mới mẻ, chuyên sâu về đoạn trích Hoặc: - Ứng dụng lý luận văn học phù hợp trong bài thi Hoặc - Có các liên hệ phù hợp với những tác phẩm khác (đây là cách khá phổ biến và an toàn để vận dụng trong bài thi ĐH) Diễn đạt: Có diễn đạt trên mức lưu loát 0,5 III. Kĩ năng làm bài Nghị Luận Văn Học (Dạng cơ bản, phổ biến) Dạng đề phân tích đoạn trích mà đề bài cho sẵn (VĐNL chính) ➜ từ đó đánh giá/nhận xét/nêu cảm nghĩ về một VĐNL phụ được gợi ra từ đoạn trích ấy ➜ Dạng đề cơ bản, phổ biến trong 4 năm gần đây (2019 ➜ 2023) 1. Mở bài: **Ghi chú: Mở bài trước khi HAY phải là 1 Mở bài ĐÚNG! ➜ MB cần giới thiệu được VĐNL (cả VĐNL chính và VĐNL phụ mà đề bài đặt ra) và giới thiệu được tên tác giả, tác phẩm trong mở bài. 100


**Cách giới thiệu đoạn trích: - Giới thiệu vị trí của đoạn trích (đoạn trích phải có vị trí cụ thể, rõ ràng, có thể gọi tên chính xác; VD: 2 khổ thơ đầu, 3 khổ thơ cuối, …) - Giới thiệu nội dung chủ đạo của đoạn trích sau đó trích dẫn: “Câu đầu tiên … Câu cuối cùng.” (với văn xuôi) ◆ Với thơ, nên trình bày: “(Hai) Câu đầu tiên … (Hai) Câu cuối cùng” ** Một số kĩ thuật mở bài (gián tiếp) ◆ Kỹ thuật 1: Ứng dụng kiến thức lý luận văn học phù hợp để dẫn dắt vào VĐNL (khoảng 2 – 3 câu văn dẫn dắt lưu loát, mềm mại) - Một số kiến thức lý luận có tính ứng dụng cao, dễ đưa vào bài NLVH khi đi thi THPTQG (cả phần mở bài và thân bài) + Đặc trưng văn học + Đặc trưng thể loại + Giá trị/Chức năng văn học + Tiếp nhận văn học ◆ Kỹ thuật 2: Dẫn dắt từ đặc điểm giai đoạn văn học mà tác phẩm đó thuộc về ◆ Kỹ thuật 3: Dẫn dắt từ hình tượng nghệ thuật nổi bật của tác phẩm ◆ Kỹ thuật 4: Dẫn dắt từ chủ đề chính của tác phẩm ◆ Kỹ thuật 5: Dẫn dắt từ những liên hệ, mở rộng phù hợp (dựa trên cơ sở một điểm tương đồng nhất định) … 2. Thân bài a. Khái quát tác giả tác phẩm: - Tác giả: 101


+ Một vài thông tin cơ bản: Quê quán, tác phẩm nổi bật, giải thưởng, năm sinh – năm mất, … ➜ những thông tin thuyết minh + Phong cách nghệ thuật/Phong cách sáng tác của tác giả + Vị trí của người nghệ sĩ trên văn đàn - Tác phẩm: + Nguồn gốc xuất xứ + Hoàn cảnh sáng tác + Ý nghĩa nhan đề (chọn lọc, ngắn gọn) b. Phân tích đoạn trích đề cho: theo hệ thống luận điểm rõ ràng - Có các luận điểm rõ ràng – mỗi luận điểm có thể triển khai thành 1 đoạn văn - Nên triển khai đoạn phân tích theo lối diễn dịch (Câu chủ đề ở đầu đoạn văn) hoặc Tổng phân hợp (câu chủ đề ở đầu và cuối đoạn văn) ➜ Đẩy câu chủ đề làm câu mở đoạn – xác định nội dung chính mình sẽ phân tích trong đoạn đó. - Cấu trúc đoạn phân tích cơ bản: Nêu nội dung chính của đoạn sẽ phân tích ở câu chủ đề - sau đó đi vào phân tích nghệ thuật ngôn từ của đoạn trích ấy, lựa chọn cảm thụ các dẫn chứng nổi bật trong đoạn đó. b. Đánh giá đặc sắc nghệ thuật ➜ rút ra kết luận chung về giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích - Đặc sắc nghệ thuật: Các tín hiệu nghệ thuật nổi bật trong đoạn trích đề cho (phương thức biểu đạt, thể thơ, các biện pháp tu từ, các chi tiết nghệ thuật, giọng kể, ngôi kể, ngòi bút miêu tả, vv…) - Giá trị nội dung: + Thơ: Tình cảm, thái độ của nhà thơ + Truyện/Kịch: Giá trị hiện thực (Phản ánh hiện thực của xã hội thời kì đó) và Giá trị nhân đạo (Đồng cảm với số phận bất hạnh – Ca ngợi vẻ đẹp của con người – Đồng tình với khát vọng giải phóng – Tố cáo tội ác của xã hội đương thời) + Kí: “cái tôi trữ tình” của người cầm bút và vẻ đẹp của đối tượng được khắc họa - Giá trị nghệ thuật (1 câu): Khẳng định phong cách nghệ thuật riêng của người nghệ sĩ được thể hiện qua đoạn trích 102


B. PHÂN TÍCH CHUYÊN SÂU 10 TÁC PHẨM TRỌNG TÂM TRONG KÌ THI THPTQG 2024 Học sinh đọc tham khảo để mở rộng lăng kính, cảm nhận và những suy ngẫm của riêng mình về văn bản. Chúc các bạn có một hành trình trải nghiệm nhiều cảm xúc và giàu ý nghĩa. TÂY TIẾN (Quang Dũng) I. Khái quát tác giả, tác phẩm 1. Tác giả: - Là một nhà thơ – người lính/một nhà thơ khoác màu áo lính ➜ Nhà thơ sáng tác bằng chính những trải nghiệm thực tế và xúc cảm của một người thấu hiểu nỗi đau của bom đạn chiến tranh, từng lăn xả nơi chiến trận với đôi mắt “đã nhiều lần nhìn vào cái chết” (Nguyễn Đình Thi), từ đó để lại cho đời những vần thơ đậm đà tính hiện thực sâu sắc. - Là một người nghệ sĩ đa tài – vừa là thi sĩ, vừa là họa sĩ, vừa là nhạc sĩ ➜ Trong thơ ông đậm đà cả chất nhạc và chất họa một cách nhẹ nhàng, tinh tế - khiến người đọc càng thêm đắm say - PCST: Ngòi bút phóng khoáng, hào hoa – hòa quyện giữa cảm hứng lãng mạn (khơi dậy cảm xúc tự nhiên nơi nhân vật trữ tình cũng như trong tâm hồn bạn đọc) và bút pháp hiện thực (tái hiện những lát cắt của thực tế một cách tỉ mỉ, chi tiết đến day dứt và ám ảnh khi viết về chiến tranh). 2. Tác phẩm: - HCST: Được sáng tác năm 1948 – ở Phù Lưu Chanh, bên dòng sông Đáy hiền hòa và thơ mộng - ở thời điểm nhà thơ không còn đồng hành cùng binh đoàn Tây Tiến ➜ Chính nỗi nhớ dạt dào trong trái tim người cầm bút đã khắc họa nên một thi phẩm thấm đẫm xúc cảm, một “lâu đài” được dựng xây bằng niềm mong mỏi về những kí ức đã qua. - Nhan đề: “Nhớ Tây Tiến” ➜ “Tây Tiến” + Như chính nhà thơ bộc bạch, bản thân thi phẩm đã ngập tràn nỗi nhớ - chữ “nhớ” trong nhan đề không còn cần thiết nữa. Ông giữ chữ nhớ ấy cho riêng mình. 115


+ Ta thường dùng chữ “nhớ” đặt cạnh những điều đã qua, để bày tỏ sự nhớ nhung với những kí ức, những con người không còn đồng hành cùng mình ở hiện tại. Vì thế, ở một góc độ nào đó, có lẽ chữ “nhớ” vô tình đẩy Tây Tiến về một miền quá vãng xa vời. Nhưng đối với Quang Dũng, Tây Tiến không chỉ là hoài niệm, mà còn là hiện tại. Vì thế, khi lược bớt chữ “nhớ”, để nhan đề vỏn vẹn hai chữ “Tây Tiến” mà thôi, ta cảm nhận được rằng Tây Tiến thực sự là một mảnh ghép quan trọng luôn hiện diện thường trực trong tâm hồn người cầm bút. II. Phân tích chi tiết 1. 14 câu thơ đầu: Nỗi nhớ da diết của người lính về những cuộc hành quân gian khổ cùng binh đoàn Tây Tiến nơi núi rừng hoang vu, hiểm trở a. 4 câu thơ đầu: Nỗi nhớ về Tây Tiến và những cuộc hành quân gian khổ đã được gợi dậy trong tâm trí nhà thơ – người lính “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi! Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi ➜ Hành trình từ hiện tại tìm về quá khứ qua nỗi nhớ đong đầy - Thi phẩm mở đầu với một câu thơ cảm thán, bộc lộ cảm xúc trực tiếp như đang trào dâng trong tâm hồn người cầm bút, như một tiếng gọi tha thiết. Lời gọi thường thể hiện khao khát giao tiếp của chúng ta với một ai đó hay một điều gì đó. Với câu thơ này, ta hiểu rằng người nghệ sĩ xứ Đoài mây trắng đang mong mỏi được kết nối với Tây Tiến, với quá khứ về những cuộc hành quân cùng đồng đội. ➜ Cảm hứng chủ đạo bao trùm toàn bộ thi phẩm chính là nỗi nhớ. - Nhà thơ nhắc đến dòng sông quen thuộc trên chặng đường hành quân năm nào, gắn liền với không gian nơi rừng thiêng nước độc nhiều thử thách. Sông Mã như một người bạn đồng hành cùng những người lính, cất giấu bao kỉ niệm – chứng kiến bao bước đi của binh đoàn Tây Tiến. Có lẽ đó là lý do mà Sông Mã đã hiện diện trong hình dung của Quang Dũng về khoảng thời gian đi cùng Tây Tiến. - Đặt con người ngang hàng với thiên nhiên trong cùng một câu thơ ➜ nâng vị thế người lính lên tư thế làm chủ cuộc đời, để những con người bé nhỏ vô danh chẳng còn lạc lối, lạc lõng, cô đơn trước mênh mông vũ trụ bất tận. 116


➜ Ngăn cách giữa Sông Mã và Tây Tiến, giữa quá khứ và hiện tại là hai chữ đầy bâng khuâng: “xa rồi” – như tạo nên một bức tường thành ngăn cách giữa những tháng năm ta từng có nhau với ngày tháng của bây giờ khi ta không còn sánh bước. Khoảng cách ở đây không phải là khoảng cách về mặt địa lý, mà là sự cách trở về thời gian chẳng gì có thể xóa nhòa. Mở rộng: Khi Quang Dũng mất, đứng trước linh cữu của người nghệ sĩ đa tài ấy, hội nhà văn đã ngâm nga: “Sông Mã xa rồi Sông Mã ơi – Người yêu Sông Mã cũng xa rồi”. Hai câu thơ đầy xúc động ấy càng khẳng định tấm chân tình mà Quang Dũng dành cho dòng sông, cũng như sự nghẹn ngào trong xúc cảm mà hai chữ “xa rồi” đã chuyên chở… Dùng lại tứ thơ của người đã khuất, cũng là một cách để người ở lại nói tiễn biệt. - Câu thơ thứ hai, nhà thơ sử dụng điệp từ “nhớ” như một cách khẳng định cảm xúc chủ đạo xuyên suốt toàn bộ hành trình của thi phẩm. Quang Dũng như gom góp nỗi nhớ trong lòng để mà trải dài trên những vần thơ… + “Nhớ về rừng núi”: Nỗi nhớ đã đưa Quang Dũng về với không gian núi rừng – không gian quen thuộc của con đường hành quân, là nơi tạo nên những kỉ niệm gắn bó giữa những người lính – để từ những chàng trai xa lạ, họ thực sự trở thành đồng chí. Tác giả dùng chữ “về” khiến không gian vốn đầy thử thách khốc liệt bỗng trở nên thân thương lạ kì. Rừng núi hiểm trở nhưng cũng đong đầy yêu thương, như trở thành ngôi nhà thứ hai trong trái tim của những người lính. + QD đặt tên cho nỗi nhớ bằng một từ láy: “nhớ chơi vơi”. - “Chơi vơi” tạo cảm giác mơ hồ, vô định giữa một không gian bao la, rộng lớn… Từ hiện tại tìm về quá khứ, dường như những khắc khoải trong trái tim đã khiến người nghệ sĩ QD rơi vào một miền tâm tưởng không xác định, lơ lửng, bay bổng trong nỗi nhớ mong về những ngày đã qua… Đó là không gian giao bờ giữa quá khứ và hiện tại, một không gian không có thật mà được dệt nên bằng những mộng tưởng da diết. Chính nỗi nhớ chơi vơi ấy sẽ dần dần đưa người lính đặt chân về vùng kí ức xa xôi mà người lính luôn khao khát. - Nỗi nhớ ấy vượt qua cả không gian mênh mang rộng lớn, len lỏi trong những kẽ hở của thời gian, để rồi khiến chính bạn đọc cũng được đến với miền quá vãng của người cầm bút. 117


Mở rộng: Nếu như trong thi phẩm “Ánh trăng”, nhà thơ Nguyễn Duy khắc họa sự vô tình của con người khi lãng quên quá khứ, về với ánh điện cửa gương và không còn nhung nhớ những gì đã qua. Để rồi “vầng trăng đi qua ngõ – như người dưng qua đường” … Người lính trong Tây Tiến không như vậy. Đối với Quang Dũng, những tháng năm gắn bó với núi rừng, với những người đồng đội, những cuộc hành quân đầy khắc nghiệt, khó khăn – đã trở thành một “bài ca không bao giờ quên” trong trái tim người thi sĩ, chiến sĩ. Nếu như ở hai câu thơ đầu, nhà thơ bâng khuâng từ hiện tại tìm về quá khứ, thì đến với hai câu thơ sau – những hoài niệm đã quay trở về thật rõ nét trong tâm trí người cầm bút: Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi” ➜ Quang Dũng đã thực sự trở về với những tháng năm trong quá khứ -với những cuộc hành quân gian khổ đầy thử thách giữa núi rừng hoang vu cùng đồng đội Tây Tiến. - Nhà thơ đã kể tên các địa danh trên con đường hành quân của binh đoàn Tây Tiến. Sài Khao, Mường Lát không chỉ là những địa danh trên bản đồ địa lý mà còn là những điểm đến thân thương trong bản đồ của trái tim khi được nhìn nhận bởi nỗi nhớ trào dâng nơi người cầm bút. - Những khó khăn trên con đường hành quân đã được khắc họa một cách đầy chân thực và day dứt: + “sương lấp đoàn quân mỏi” Mở rộng: Trong nhiều thi phẩm, “sương” xuất hiện như một hình ảnh lãng mạn, dịu dàng, nhẹ nhàng, mang theo những tâm tư của thi sĩ. Có lúc, sương “chùng chình qua ngõ” trong khúc giao mùa qua ngòi bút của nhà thơ Hữu Thỉnh. Có lúc, sương giăng mắc những bản làng trong thơ của Chế Lan Viên: “Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ”. 118


➜ Bước vào trang thơ của Quang Dũng, “sương” lại gắn liền với sự khắc nghiệt của thiên nhiên, thời tiết nơi “rừng thiêng nước độc” – cản trở bước chân hành quân của những người lính trẻ. Động từ “lấp” như khắc họa trước mắt bạn đọc một màn sương dày đặc đến mức che kín làm khuất lấp cả đoàn quân. Họ không thể nhìn rõ con đường mà mình đang đi – khó khăn nối tiếp khó khăn. + Đằng sau màn sương mù dày đặc ấy là những người lính Tây Tiến với đôi chân rã rời sau những ngày dài hành quân. Sự rệu rã về cơ thể là không thể tránh khỏi, nhưng họ chỉ “mỏi” đôi chân – chứ không “mỏi” về tinh thần. Dẫu khó khăn ra sao, họ vẫn sẽ luôn can trường bước tiếp trên con đường mà mình đã chọn, vì lý tưởng lớn lao của dân tộc. - Bên cạnh những nét vẽ gân guốc của hiện thực, nhà thơ còn khắc họa những đường nét mềm mại trong tâm hồn hào hoa của những người lính trẻ: “Mường Lát hoa về trong đêm hơi”. + Đêm hơi: không phải là “đêm sương”, mà là “đêm hơi” – như một cách tác giả nói giảm nói tránh những khó khăn khắc nghiệt mà người lính phải đối diện, khiến cho màn sương dày đặc ấy như mỏng manh thêm phần nào bởi chính ý chí cùng sự lạc quan, lãng mạn của họ. + Hình ảnh “hoa về”: Có thể là những bông hoa trên con đường hành quân – cũng có thể là ẩn dụ cho những ngọn đuốc ấm áp, rực rỡ trên tay những người lính ➜ tượng trưng cho vẻ đẹp phẩm chất trong sáng, đáng quý của những người lính ➜ Dù hiểu theo nét nghĩa nào, hình ảnh hoa vẫn đem lại cảm giác vỗ về, êm dịu, như xua tan đi những mệt nhọc trên con đường hành quân trước đó. Mở rộng: Trong “Những người đi tới biển”, nhà thơ Thanh Thảo cũng từng viết rất xúc động: “Hoa chuẩn bị âm thầm trong đất Nơi ấy nhất định mùa xuân sẽ bùng lên” Hoa ở đây có lẽ cũng chính là vẻ đẹp bất khuất, là tinh thần dân tộc sâu sắc mạnh mẽ trong trái tim của những người dân Việt Nam. Những bông hoa như thế sẽ góp phần 119


tạo nên “mùa xuân” tươi đẹp của nước nhà – đó là những tháng ngày hòa bình, êm ấm mà chúng ta luôn khao khát hướng về. + Nhà thơ Quang Dũng đã sử dụng các thanh bằng liên tiếp để tạo nên một không gian xúc cảm thật nhẹ nhàng, êm ái. Phải chăng đó chính là tâm hồn lãng mạn của những người lính – dẫu phải quăng mình vào thử thách khắc nghiệt nơi chiến trận, nhưng những chàng trai Hà Thành ấy chưa bao giờ mất đi sự hào hoa vốn có của mình? b. 4 câu thơ tiếp: Con đường hành quân gian nan của người lính Tây Tiến “Dốc lên khúc khủyu, dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây, súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” - Hai câu thơ đầu như vẽ lên trong trí tưởng tượng của bạn đọc về chặng đường hành quân nhọc nhằn, nhiều thử thách của những người lính trẻ + Điệp từ “dốc” ➜ Con đường hành quân hiểm trở, gập ghềnh, không hề bằng phẳng, dễ đi. Những người lính trẻ không được đi trên những con đường êm ái, mà luôn phải nỗ lực vượt qua những chông gai “khúc khuỷu” nơi núi rừng hoang vu, phải đối diện với những con dốc hun hút đòi hỏi thể lực, sức bền về ý chí mạnh mẽ nơi tâm hồn. Nếu như những chàng trai Hà Thành ấy không giữ vững niềm tin vào lý tưởng mà họ đã chọn, không có lòng kiêu hãnh với chính giá trị của bản thân mình, làm sao họ có thể vượt qua được những thử thách liên tiếp trên những chặng đường dài? + Không gian mà những người lính thuộc về khi ấy đâu phải là nơi ấm êm bên gia đình, người thân – mà là giữa vùng trời “heo hút cồn mây”. Từ láy “heo hút” khắc họa trước mắt ta một khung cảnh vắng vẻ, hoang vu, hẻo lánh, thưa thớt – thiếu hơi ấm con người. Đó là một nơi xa lạ, dễ khiến con người cảm thấy bất an. ➜ Tác giả đã linh hoạt và tinh tế sử dụng những từ láy tượng hình để phác họa nên bức tranh nơi núi rừng hoang vu ấy. Chất họa trong thơ của Quang Dũng được tạo nên một cách bình dị và thật đỗi tự nhiên. + Hình ảnh “súng ngửi trời” 120


AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG? (Hoàng Phủ Ngọc Tường ) I. Khái quát tác giả, tác phẩm 1. Tác giả: - Hoàng Phủ Ngọc Tường là một cây bút đa tài với các thiên bút ký vừa trữ tình, thâm trầm - vừa độc đáo, tài hoa. Không những thế, mỗi áng văn sâu lắng, lãng mạn mang tên ông còn để lại nhiều dấu ấn sâu đậm trong lòng độc giả bởi vốn kiến thức đa dạng trên nhiều lĩnh vực. ➜ Qua những tác phẩm của mình, nhà văn đã khéo léo gửi gắm nhiều tình cảm sâu kín về gia đình, đất nước, đặc biệt là xứ Huế thân thương từng gắn bó máu thịt, nơi đây đã trở thành bến đỗ bình yên của ông và vợ mỗi khi trở về. - Nét đặc sắc trong sáng tác của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hóa, lịch sử, địa lý... Tất cả được thể hiện qua lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa. - Ông được mệnh danh là “nhà văn đi cùng những dòng sông kỷ niệm’; “nhà văn của xứ Huế mộng mơ” vì tuổi thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường luôn gắn liền với thành phố Huế mộng mơ và dòng Hương giang lung linh, biến ảo. Chính nó đã nuôi dưỡng mạch máu văn chương nơi tâm hồn nhà văn, khơi nguồn cảm hứng bất tận giúp ông viết nên những trang tùy bút đầu tiên. Mở rộng: - Nhiều người ví von sự nghiệp văn chương của ông cũng giống như là một dòng sông vậy, luôn chăm chỉ, miệt mài sáng tác không nghỉ ngơi để đóng góp cho đời những áng văn thơ hay – như những dòng sông muôn đời vẫn chảy trôi để kể câu chuyện cuộc đời. - Bút kí Hoàng Phủ Ngọc Tường là những áng thơ văn xuôi thấm đẫm chất thơ. Trong khi đó, thơ ông mang vẻ đẹp của nỗi buồn hoài niệm, những suy ngẫm triết học về lẽ sống, cái chết, ... từ trong sâu thẳm thời gian ngân vọng, day dứt tâm hồn người đọc. Những trang viết của ông thể hiện sự tài hoa của một tài tử chốn kinh thành. - Hoàng Phủ Ngọc Tường cho rằng sức mạnh của thể ký trước hết là ở tính sự kiện: “… Cùng với cảm xúc văn học, bút ký còn chứa đựng cái cõi thực vốn là bản 272


Click to View FlipBook Version