The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.

Nội dung trong cuốn sách gần 700 trang tinh túy kiến thức Ngữ Văn được trình bày như thế nào? Cùng cô Sương Mai khám phá qua bản đọc thử 93 trang này nhé!

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by hocvancosuongmai.gram, 2024-03-06 19:40:57

[QUÀ TẶNG] BẢN ĐỌC THỬ SÁCH BỨT PHÁ 9+

Nội dung trong cuốn sách gần 700 trang tinh túy kiến thức Ngữ Văn được trình bày như thế nào? Cùng cô Sương Mai khám phá qua bản đọc thử 93 trang này nhé!

gốc của tác phẩm. Sức nặng ấy được di chuyển đi, không giống như một cảm giác mỹ học, mà là một quả táo Newton rơi xuống tâm hồn người đọc.” 2. Tác phẩm: - “Ai đã đặt tên cho dòng sông?’’ ban đầu có tên là “Hương ơi, e phải mày chăng?’’ là bài bút ký do nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường viết ở Huế vào ngày 4 tháng 1 năm 1981, và được in trong tập sách cùng tên vào năm 1986. a. Nhan đề của tác phẩm: - “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là một câu hỏi, gợi lên hành trình tìm kiếm câu trả lời ngay từ tựa đề văn bản. Điều này đã thể hiện được nét độc đáo của nhà văn cũng như sự tài hoa trong cách mà ông khơi gợi sự tò mò, khát khao tìm đến đáp án hay cũng chính là những vẻ đẹp ẩn giấu từ sâu bên trong của dòng Hương giang xứ Huế lắm nghĩa, lắm tình. ➜ Qua câu hỏi trên, Hoàng Phủ Ngọc Tường muốn hướng người đọc đến việc tìm hiểu nguồn gốc của dòng sông. Nguồn gốc của dòng sông bắt nguồn từ một huyền thoại mỹ lệ của người dân làng Thành Chung: “Người làng Thành Chung có nghề trồng rau thơm. Ở đây kể lại rằng vì yêu quí con sông xinh đẹp, nhân dân hai bờ sông đã nấu nước của trăm loài hoa đổ xuống dòng sông cho làn nước thơm tho mãi mãi”. Cái tên “sông Hương” sông thơm - tuy giản dị nhưng lại chứa đựng một ý nghĩa thật sâu sắc. - Không chỉ vậy, qua nhan đề trên, Hoàng Phủ Ngọc Tường còn bộc lộ một niềm tự hào về những con người nơi đây, với những nét văn hóa truyền thống còn được giữ gìn từ ngàn xưa. Tác giả cũng muốn bộc lộ sự biết ơn dành cho thế hệ đi trước đã có công khai phá vùng đất này. Đó là niềm tự hào sâu sắc dành cho quê hương, đất nước. ➜ “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là một tác phẩm giàu chất thơ, chất trữ tình lãng mạn; tạo nên một không gian nghệ thuật đầy ắp cảm xúc, chứa đựng nội dung tư tưởng mà Hoàng Phủ Ngọc Tường muốn gửi gắm. c) Một số nhận định về tác giả - tác phẩm: - “Ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường có "rất nhiều ánh lửa". (Nguyễn Tuân) - “Trong một cuốn sách gần đây của anh, viết và in ngay giữa những ngày anh đang vật lộn với cơn bệnh nặng-chứng tỏ ở anh một đức tính dũng cảm và một nghị lực phi thường của một người lao động nghệ thuật-anh tự coi mình là "người ham chơi". Quả 273


thật, anh là một người ham sống đến mê mải, sống và đi, đi để được sống, với đất nước, với nhân dân, với con người, đi say mê và say mê viết về họ... ” (Nguyên Ngọc) - “Hoàng Phủ Ngọc Tường có một phong cách viết bút ký văn học của riêng mình. Thế mạnh của ông là tri thức văn học, triết học, lịch sử, địa lý sâu và rộng, gần như đụng đến vấn đề gì, ở thời điểm nào và ở đâu thì ông vẫn có thể tung hoành thoải mái ngòi bút được…” (Hoàng Cát) - “Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong số rất ít nhà văn viết bút ký nổi tiếng ở nước ta vài chục năm nay. Bút ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường hấp dẫn người đọc ở tấm lòng nhân văn sâu sắc, trí tuệ uyên bác và chất Huế thơ huyền hoặc, quyến rũ. Đó là những trang viết tài hoa, tài tử, tài tình...Thực ra, bút ký Hoàng Phủ Ngọc Tường chính là những áng thơ văn xuôi cuốn hút người đọc...thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường là vẻ đẹp của nỗi buồn hoài niệm, những day dứt triết học, từ sâu thẳm thời gian, sâu thẳm đất đai vọng lên trong tâm khảm người đọc. Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo cho rằng thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường thấm đẫm "triết học về cái chết...thơ anh buồn mỗi nỗi buồn đứt ruột...Đấy là thơ của cõi âm"... Đó là một nhận xét xác đáng.’’ (Ngô Minh) - “Bút kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường là một cuộc đi tìm cội nguồn, một sự phát hiện bề dày văn hoá và lịch sử của các điều kiện đời sống… Văn anh giàu những tư liệu lấy từ sử sách tri thức khoa học và huyền thoại kí ức cá nhân lóe lên những ánh sáng bất ngờ… Cái mới của Hoàng Phủ Ngọc Tường là khám phá bình diện văn hoá với tư liệu lịch sử phong phú và một tâm hồn Huế nồng nàn.” – (Trần Đình Sử) II. Phân tích chi tiết 1. Sông Hương nhìn từ thượng nguồn: Đoạn đầu tiên: Từ đầu cho đến dưới chân núi Kim Phụng. a. Sông Hương như một “bản trường ca của rừng già”: “Trong những dòng sông đẹp ở các nước mà tôi thường nghe nói đến, hình như chỉ sông Hương là thuộc về một thành phố duy nhất. Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó đã là một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn, và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng.” 274


Mở rộng: Nói tới sông Hương, người ta thường có ấn tượng về sự bằng phẳng, êm đềm và có phần lộng lẫy trong khung cảnh yên ả, thanh bình của Huế. Riêng Hoàng Phủ Ngọc Tường thì có cái nhìn khác, có lẽ bởi tình yêu và góc nhìn đặc biệt mà ông dành cho dòng sông xứ sở. Nhà văn không chỉ ngắm nhìn ‘’khuôn mặt kinh thành’’ với vẻ mặt sang trọng, cổ kính của sông Hương mà còn ngược dòng không gian cũng như xuôi theo mái chèo thời gian để tìm về những cánh rừng đại ngàn, khám phá vẻ đẹp bí ẩn cùng sức mạnh tiềm tàng được đóng kín trong tâm hồn sâu thẳm của dòng chảy mãnh liệt mà hướng nội ấy. Cây bút nặng lòng với xứ Huế đã đi sâu khám phá cội nguồn bằng cách đặt sông Hương trong mối quan hệ với dãy Trường Sơn hùng vĩ, đồng thời nhận ra: dòng sông này “thuộc về một thành phố duy nhất”. - Câu văn mở đầu: thể hiện sự hòa quyện nhịp nhàng giữa kiến thức khách quan và góc nhìn, tình cảm chủ quan của người cầm bút. + Nhà văn không đưa ra một nhận định mang chất cảm tính của một người “thiên vị” sông Hương, mà nhẹ nhàng viết lên kết luận của một hành trình khám phá nhiều nơi, của một cái tôi tài hoa, uyên bác, đi nhiều, hiểu nhiều, biết nhiều. Từ những vốn liếng sâu rộng về các dòng sông trên thế giới, ông mới có thể đưa ra nhận xét như thế. + Cây bút vừa khẳng định dòng sông xứ Huế là “một trong những dòng sông đẹp ở các nước”, vừa nhấn mạnh được điểm độc đáo riêng biệt của Hương giang: thuộc về một thành phố duy nhất. Cũng giống như nhà văn NT nhìn sông Đà như một sinh thể độc lập, có cá tính riêng, có linh hồn riêng; HPNT cũng tin rằng sông Hương không chỉ đi theo những sự sắp đặt từ tạo hóa. Nhà văn đất Quảng như ngầm khắc họa sông Hương đã chủ động lựa chọn xứ Huế, đã nỗ lực để được “thuộc về” thành phố của riêng mình. ➜ Những từ như “chỉ”, “thuộc về”, “duy nhất” đã bộc lộ vẻ đẹp thủy chung, trọn vẹn nghĩa tình của Hương giang – đồng thời khoác lên ngôn từ một màu sắc lấp lánh của tình yêu đôi lứa. - Định nghĩa vẻ đẹp của sông Hương chốn thượng nguồn: “bản trường ca của rừng già” 275


+ Không phải là “một bài hát”, “một khúc ca”, hay “một giai điệu” - mà phải là “bản trường ca” – hào hùng, mạnh mẽ, kì vĩ. Sông Hương như biểu trưng cho tiếng nói, cho tinh thần của dãy Trường Sơn hùng vĩ. + “rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn”: âm sắc của bản trường ca ấy không dịu dàng, trong trẻo, mà ồn ào, huyên náo, vang động cả núi rừng. + Nó còn “mãnh liệt qua những ghềnh thác”: vừa mạnh mẽ, vừa dữ dội ➜ một diện mạo rất khác biệt, mới mẻ của dòng sông mà nhiều người vốn chỉ mặc định là luôn duyên dáng nằm trong lòng kinh thành Huế. Trước khi về với vùng châu thổ êm đềm ấy, dòng Hương giang cũng đã phải trải qua nhiều gập ghềnh, khúc khuỷu, những thử thách lớn lao để tìm về được với thành phố mình yêu. + “cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn”: Động từ mạnh + so sánh ➜ khẳng định nội lực mạnh mẽ trong dòng chảy của sông Hương, cùng những bí ẩn chưa có lời đáp mà thiên nhiên đặt ra trước con người. + Giống như một bản trường ca đồ sộ với nhiều nốt thăng nốt trầm, sông Hương vừa mạnh mẽ, dữ dội là thế - nhưng cũng có những lúc rất đỗi nhẹ nhàng: “dịu dàng và say đắm”. Vẻ đẹp của dòng sông ấy cũng như một người con gái đang yêu vậy, có lúc “dữ dội và dịu êm”, có lúc lại “ồn ào và lặng lẽ”. Những tiết tấu trầm bổng ấy cùng hòa quyện trong một cá thể tạo nên nét thu hút riêng cho dòng sông xứ Huế. ➜ Dòng sông ấy như làm duyên cho núi rừng Trường Sơn, khi uốn mình giữa những dặm dài chói lọi đỏ rực của hoa đỗ quyên, làm dịu lại cái sắc đỏ chói ấy, tạo nên những nét phác họa “sơn thủy hữu tình” của một bức tranh thiên nhiên đẹp lộng lẫy. b. Hoàng Phủ Ngọc Tường coi dòng chảy của sông Hương như hành trình trưởng thành của một người thiếu nữ ➜ Góc nhìn mang tính phát hiện của HPNT “Giữa lòng Trường Sơn…đã đóng kín lại ở cửa rừng và ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng.’’ - Đầu tiên, sông Hương đã sống nửa cuộc đời mình như “một cô gái Digan phóng khoáng và man dại”: + Hình ảnh của những cô gái Di-gan thường gợi nhắc tới vẻ đẹp tự do, phóng khoáng, nghệ sĩ. Có lẽ, đó cũng là những liên tưởng của HPNT với hình ảnh của dòng sông Hương ở nửa đầu của hành trình trưởng thành. Như một con người, phải đi qua những lầm lỡ, non nớt, vụng dại để rồi lớn lên – thì 276


Hương giang cũng thế, nó cũng từng sống hoang dã, bản năng, không theo một khuôn khổ nhất định nào. Nó cũng từng chỉ sống cho chính nó mà thôi. Đó là giai đoạn sôi động và bùng nổ nhiệt huyết của tuổi trẻ, để người thiếu nữ ấy được khám phá thế giới, được trải nghiệm nhiều điều. + Dường như, rừng già hùng vĩ đã trở thành người mẹ thiên nhiên của dòng sông ấy, đã “hun đúc”, nuôi dưỡng, dạy bảo, uốn nắn – để người thiếu nữ ngày càng chín chắn, trưởng thành. Món quà mà mẹ thiên nhiên ban tặng cho Hương giang chính là “một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng”. ➜ Rừng già không làm dòng sông thay đổi hoàn toàn, mà chỉ giúp sông Hương sẽ trưởng thành hơn theo cách tích cực nhất. Cũng chính rừng già đã “chế ngự sức mạnh bản năng” của dòng chảy ấy – như một cách để uốn nắn sông Hương đi đúng con đường. - Khi ra khỏi rừng, dòng sông khoác lên mình một diện mạo mới: “trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở”. + HPNT không dùng kiến thức khoa học hay địa lý để lý giải về sự thay đổi, hoàn thiện của dòng sông – mà dùng góc nhìn thấm đẫm cảm xúc của một kẻ tương tư, dùng phép nhân cách hóa để giải thích cho cuộc hành trình. HPNT không muốn nói rằng sông Hương phải đi theo bất kì quy luật tạo hóa nào, mà muốn khẳng định dòng Hương giang xinh đẹp ấy đã tự mình lựa chọn chặng đường của riêng mình. + Từ một cô gái sống bản năng, phóng khoáng, man dại, sông Hương đã chuyển mình để trở thành một người phụ nữ đằm thắm, biết sống cho mình và cho người, biết san sẻ yêu thương, biết hy sinh vì người khác. Một người mẹ sẽ biết cống hiến, biết cho đi mà không chỉ cầu nhận lại. Nhà văn đã có một sự lý giải thật tinh tế rằng dòng sông đã bồi đắp phù sa cho vùng đất ấy như thế nào, đã cùng con người xây đắp văn minh và tạo nên những nét đẹp văn hóa đáng tự hào ra sao. Mở rộng: Câu văn cuối cùng, HPNT đã khẳng định tình yêu thật đủ đầy, trọn vẹn mà ông dành cho dòng sông xứ Huế. Ông phủ nhận cách si mê nhất thời “chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành của nó”, nghĩa là chỉ thưởng thức vẻ đẹp sông Hương khi nằm trong lòng xứ Huế mà không biết đầy đủ bản chất của dòng chảy này. Đó là lý do ông “lặn lội” về với chốn thượng nguồn, để tìm hiểu về cuộc hành trình 277


Hương giang cũng thế, nó cũng từng sống hoang dã, bản năng, không theo một khuôn khổ nhất định nào. Nó cũng từng chỉ sống cho chính nó mà thôi. Đó là giai đoạn sôi động và bùng nổ nhiệt huyết của tuổi trẻ, để người thiếu nữ ấy được khám phá thế giới, được trải nghiệm nhiều điều. + Dường như, rừng già hùng vĩ đã trở thành người mẹ thiên nhiên của dòng sông ấy, đã “hun đúc”, nuôi dưỡng, dạy bảo, uốn nắn – để người thiếu nữ ngày càng chín chắn, trưởng thành. Món quà mà mẹ thiên nhiên ban tặng cho Hương giang chính là “một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng”. ➜ Rừng già không làm dòng sông thay đổi hoàn toàn, mà chỉ giúp sông Hương sẽ trưởng thành hơn theo cách tích cực nhất. Cũng chính rừng già đã “chế ngự sức mạnh bản năng” của dòng chảy ấy – như một cách để uốn nắn sông Hương đi đúng con đường. - Khi ra khỏi rừng, dòng sông khoác lên mình một diện mạo mới: “trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở”. + HPNT không dùng kiến thức khoa học hay địa lý để lý giải về sự thay đổi, hoàn thiện của dòng sông – mà dùng góc nhìn thấm đẫm cảm xúc của một kẻ tương tư, dùng phép nhân cách hóa để giải thích cho cuộc hành trình. HPNT không muốn nói rằng sông Hương phải đi theo bất kì quy luật tạo hóa nào, mà muốn khẳng định dòng Hương giang xinh đẹp ấy đã tự mình lựa chọn chặng đường của riêng mình. + Từ một cô gái sống bản năng, phóng khoáng, man dại, sông Hương đã chuyển mình để trở thành một người phụ nữ đằm thắm, biết sống cho mình và cho người, biết san sẻ yêu thương, biết hy sinh vì người khác. Một người mẹ sẽ biết cống hiến, biết cho đi mà không chỉ cầu nhận lại. Nhà văn đã có một sự lý giải thật tinh tế rằng dòng sông đã bồi đắp phù sa cho vùng đất ấy như thế nào, đã cùng con người xây đắp văn minh và tạo nên những nét đẹp văn hóa đáng tự hào ra sao. Mở rộng: Câu văn cuối cùng, HPNT đã khẳng định tình yêu thật đủ đầy, trọn vẹn mà ông dành cho dòng sông xứ Huế. Ông phủ nhận cách si mê nhất thời “chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành của nó”, nghĩa là chỉ thưởng thức vẻ đẹp sông Hương khi nằm trong lòng xứ Huế mà không biết đầy đủ bản chất của dòng chảy này. Đó là lý do ông “lặn lội” về với chốn thượng nguồn, để tìm hiểu về cuộc hành trình 277


gian truân mà dòng sông đã đi qua, để biết và để yêu từng dấu chân của người thiếu nữ ấy, để nỗ lực chạm vào phần tâm hồn sâu thẳm “mà dòng sông hình như không muốn bộc lộ”. Nhà văn đã tìm thấy chiếc chìa khóa bí mật, mở ra những cánh cửa mà sông Hương từng khóa kín – để từ đó, thực sự thấu hiểu dòng sông này. HPNT cũng không loại trừ điều gì thuộc về Hương giang cả. Ông muốn hiểu hết, để yêu tường tận dòng chảy ấy, yêu từ những bước đi đầu tiên, yêu từ những điều nhỏ nhất. ➜ Tình yêu đi liền với sự nỗ lực thấu hiểu là tình yêu trọn vẹn nhất. Cũng như cách mà Nguyễn Tuân say mê dòng Đà giang, dẫu biết rằng người cố nhân ấy lắm bệnh lắm chứng – nhưng vẫn yêu, vẫn thương, vẫn nâng niu trân trọng vô cùng. Đó tuyệt nhiên không phải sự si mê nhất thời, mà như một hành trình tình yêu với nỗ lực tìm hiểu tất cả về người mình thương. 2. Sông Hương trong mối quan hệ với kinh thành Huế “Phải nhiều thế kỉ qua đi… mãi chung tình với quê hương xứ sở.” Nhìn tổng quan, cuộc hành trình tìm về với Huế - gặp gỡ thành phố trong mộng – rồi nói lời tạm biệt Huế của sông Hương, được HPNT xây dựng như thế nào? - HPNT không khắc họa sông Hương như một dòng chảy vô tri vô giác, đơn thuần đi theo sự sắp đặt của tạo hóa. Nhà văn nhìn dòng sông như một sinh thể độc lập, có sự lựa chọn riêng, có linh hồn và những xúc cảm đặc biệt. - Chân dung dòng Hương giang hiện lên trong cuộc hành trình tìm về với “thành phố duy nhất” của nó như một người thiếu nữ đang trên chặng đường tìm kiếm tình yêu đích thực. - Huế sẽ là bến bờ tình yêu, là điểm tựa tinh thần vững chắc, là khao khát mà sông Hương luôn mong mỏi hướng về. Mở rộng: Chân dung nàng Hương giang xinh đẹp hiện lên trong cuộc hành trình tìm về với “thành phố duy nhất” của nó như chặng đường một người phụ nữ tìm kiếm tình yêu đích thực của mình. Rõ ràng, HPNT không chỉ khắc họa sông Hương như một dòng chảy vô tri vô giác với những kiến thức tự nhiên, địa lý. Ông thực sự tin rằng sông Hương có linh hồn riêng, có tình yêu của riêng mình. Khác với hành trình “Sông không hiểu nổi mình – Sóng tìm ra tận bể” qua ngòi bút của nữ thi sĩ Xuân Quỳnh, 278


Mở rộng: Có lẽ, người con gái ấy đang làm duyên để chờ tới khoảnh khắc được gặp “người tình mong đợi” của mình. Cách dòng sông gọi thành phố mà nó còn chưa gặp mặt ấy đã cho ta hiểu rõ những tình cảm sâu đậm mà sông Hương dành cho xứ Huế. Dòng sông đã chờ đợi đến lúc ấy rất lâu, thậm chí chờ trong “nhiều thế kỉ”, để được hội ngộ với “thành phố duy nhất” mà nó thuộc về. - Nhà văn đã khắc họa thật duyên dáng những chuyển động của sông Hương khi ra khỏi vùng núi: + dòng sông chuyển dòng liên tục, vòng giữa khúc quanh đột ngột + uốn mình theo những đường cong thật mềm ➜ Dường như, lúc này, dòng sông không còn là “bản trường ca” “rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn” hay “mãnh liệt qua những ghềnh thác” nữa, mà khoác lên mình một dáng vẻ dịu dàng, uyển chuyển, nữ tính hơn rất nhiều. Thay vì sử dụng những tính từ mạnh, nhà văn phác họa Hương giang với những động tác thật mềm mại – như thể dòng sông đã bắt đầu làm duyên vì biết mình sắp được gặp Huế. Văn nhân không lý giải những sự chuyển mình của sông Hương bằng kiến thức tự nhiên, địa lý – mà khơi gợi cảm xúc nơi bạn đọc để ta thấm thía tâm hồn nàng như một người thiếu nữ trong tình yêu. + như một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của nó ● Cây bút một lần nữa công nhận sông Hương có linh hồn riêng và sự lựa chọn riêng. Nó tìm về với Huế không phải vì một sự sắp đặt tự nhiên nào hết, mà đơn giản, vì trái tim dòng sông mách bảo. Đây là một hành trình chủ động và tự nguyện của Hương giang. HPNT không dùng kiến thức địa lý để lý giải về thủy trình của sông Hương, mà dùng góc nhìn của con tim để thủ thỉ nỗi lòng dòng sông ấy. ● Sông Hương gọi Huế là “thành phố tương lai của nó”. Từ ngữ mang tính sở hữu dường như cũng bộc lộ những rung động sâu sắc mà sông Hương dành cho mảnh đất cố đô. Dẫu không ai biết trước được tương lai, nhưng nàng vẫn khẳng định Huế là “tương lai” của mình, bởi Huế là điểm đến duy nhất mà sông Hương thuộc về. 280


Mở rộng: Tiến sĩ Chu Văn Sơn từng nhận định: “Như một cây rừng héo úa tàn rụi, nhưng sâu trong mao mạch của thân, nhựa vẫn chảy thầm. Vừa có cái gì chết mòn, chết mỏi đi, vừa có cái gì không chịu chết hẳn.” Chắc hẳn, trong trái tim Mị cũng ấp ủ và âm ỉ một nguồn nhựa sống, nhựa sống của hy vọng, nhựa sống của tình yêu, nhựa sống của những khao khát trỗi dậy trong một thời thanh xuân đã cũ… Tất cả những điều ấy khiến cho Mị, kể cả trong những năm tháng đang lụi tàn dần, chết dần chết mòn về tinh thần, nhưng vẫn có một ngọn lửa bé nhỏ le lói nơi tận cùng của trái tim. Chính tiếng sáo quen thuộc trong quá khứ của Mị vang lên mùa xuân năm ấy đã thắp sáng cho ngọn lửa dẫu yếu ớt nhưng “không chịu chết hẳn” đó, để lòng Mị lại thổn thức về bài hát năm xưa. Chúng ta cứ ngỡ để gọi dậy một khao khát ngủ quên cần một sự tác động lớn lắm. Hóa ra chính những thanh âm bình dị cũng có thể khiến một người khắc khoải cả cõi lòng và nhớ về “mình” của quá khứ. Giống như trong buổi sáng sau hôm ân ái với Thị Nở, Chí Phèo thức dậy bằng tiếng chim hót líu lo ngoài cửa. Những thanh âm thường nhật của cuộc sống, tiếng xôn xao người bán người mua bỗng khiến hắn càng thêm tỉnh táo sau một cơn say dài, để lòng Chí quay quắt nhận ra một giấc mơ thuở cũ. Hắn cũng từng khao khát sống một đời bình thường, hắn cũng từng mơ cuộc sống giản dị: chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải, hạnh phúc chỉ là thế mà thôi… - Mị chủ động uống rượu, uống ực từng bát ➜ Phải chăng Mị đang chủ động tìm tới cơn say để tiếp thêm cho mình dũng cảm, để nhìn nhận lại những tàn tạ đã qua, để đối diện với quá khứ mà mình đã từng quên lãng? Chìm vào cơn say, mọi hình ảnh trước mắt Mị dường như đều chẳng còn ý nghĩa, cô không quan tâm người hát, người nhảy đồng, bởi: “lòng Mị đang sống về ngày trước”. ➜ Nhà văn không khắc họa là Mị nhớ đến những kí ức xưa, mà là đang sống trong kí ức ấy – một cách mạnh mẽ, mãnh liệt vô cùng. - Một lần nữa, tiếng sáo lại quay trở lại, “văng vẳng” bên tai Mị. Ta không rõ đây là tiếng sáo thật hay là tiếng sáo trong tâm tưởng, trong quá khứ, trong khát khao và ước vọng của Mị nữa. Ta chỉ biết rằng, tiếng sáo ấy đã thôi thúc Mị sống lại kí ức xưa. ➜ Những mảnh ghép của quá khứ bắt đầu quay về, hiện hữu một cách rõ ràng hơn bao giờ hết. Mị không chỉ dừng lại ở việc lắng nghe tiếng sáo, mà còn là người thổi sáo giống như khi xưa. Ranh giới giữa quá khứ và hiện tại như mờ nhòa đi, để “Mùa xuân này, Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo.” Những kí ức sống dậy trong tâm tưởng mạnh mẽ đến mức Mị tưởng như đó chính là hiện tại của mình. Cô Mị của ngày xưa dường như đã được đánh thức: cô Mị trẻ 307


trung, tự do, yêu đời, khao khát sống theo cách của riêng mình – một “phiên bản” của mình mà Mị đã từng đánh mất. ➜ Mị dần dần ý thức được sự bất công cay đắng của thực tại, Mị nhớ lại được quá khứ tự do mà mình luôn khao khát. Đây là những bước chân đầu tiên trên hành trình cô tìm lại chính bản thân mình. b. Đoạn trích “Rượu đã tan lúc nào … Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa.” Ở đoạn trên, những yếu tố ngoại cảnh đã tác động đến sự thay đổi tâm lý của Mị, khiến tâm hồn cô như hồi sinh sau bao ngày tháng úa tàn. Đó là cảnh mùa xuân ở Hồng Ngài, là tiếng sáo gọi bạn tình lấp ló ngoài đầu núi, là men rượu say. Vậy, nếu như cảnh hội xuân chẳng còn đông đúc náo nhiệt, tiếng sáo cũng tan dần trong không gian, và men rượu không còn trong cơ thể nữa – liệu Mị sẽ ra sao? ◆ Tâm trạng của Mị sau khi rượu tan, người vãn: “Rượu đã tan … quả pao rơi rồi…” - Men rượu đã chẳng còn trong hơi thở, người đi chơi cũng đã vãn dần, chỉ còn lại bầu không khí tĩnh lặng của màn đêm ➜ những yếu tố ngoại cảnh tác động đến sự hồi sinh trong tâm lý Mị đã biến mất. Ta những tưởng Mị sẽ lại quay trở về kiếp nàng dâu gạt nợ, sống như con trâu con ngựa nhà thống lí, tự xem mình là con rùa lùi lũi nuôi nơi xó cửa. Ta những tưởng cô Mị của quá khứ kia chỉ được gọi dậy trong chốc lát bởi men rượu và tiếng sáo mà thôi. ➜ Tuy nhiên, thái độ của Mị lúc này cho ta biết đó không phải chỉ là sự thay đổi nhất thời trong khoảnh khắc. “Mị không biết, Mị vẫn ngồi trơ một mình giữa nhà.” – Dường như, tâm trí của Mị không thực sự hiện diện trong thực tại nữa, đầu óc cô như lơ lửng trong một vùng ký ức vừa mới ùa về. Phải chăng, đó là lý do mà Mị ngồi bần thần mất một lúc lâu, mãi sau mới đứng dậy? - Nhà văn không vội vàng trong việc khắc họa tâm lý và hành động của Mị, có lẽ bởi ông thấu hiểu hành trình tìm lại bản ngã không phải một chặng đường dễ dàng. Ông đã miêu tả từng chuyển động cả bên trong và bên ngoài của Mị một cách tỉ mỉ, cẩn thận, chậm rãi: Mở rộng: Mị không bước ra đường chơi – mà Mị từ từ bước vào buồng - 2 không gian này nói lên điều gì? 308


+ Đường: không gian tự do mà trong sâu thẳm Mị đang khao khát, vừa là quá khứ được vẫy vùng thoải mái – lại vừa là tương lai mà Mị đang mong mỏi hướng tới + Buồng: vừa là nơi giam cầm thể xác – vừa là ngục thất tinh thần đã giam hãm tuổi trẻ của Mị suốt những tháng năm rực rỡ nhất; đây cũng là thực tại mà Mị đang thuộc về. Lại một lần nữa, tác giả miêu tả Mị ngồi xuống giường, “trông ra cái cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trăng trắng”. Đã bao năm qua, trong căn buồng chật hẹp thiếu thốn ánh sáng ấy, Mị đã ngồi thế và nghĩ rằng sẽ mãi ngồi đấy cho đến khi nào chết thì thôi. ➜ Nhưng lần này, tâm trạng của Mị đã có sự khác biệt lớn. + Mị thấy phơi phới trở lại >< hình ảnh nàng dâu nhà thống lí suốt bao năm chỉ cúi đầu, mặt buồn rười rượi ➜ Liệu niềm vui lâng lâng ấy của Mị có chiến thắng được cái nỗi buồn đã ngấm ngầm ủ sâu suốt bao năm? + Mị nhận thức được giá trị của mình: Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. ➜ Trước đó, Mị tự coi mình như con trâu, con ngựa nhà thống lí – thậm chí còn nghĩ rằng đàn bà con gái không được coi trọng như kiếp trâu ngựa. Mị đã tự hạ thấp giá trị của mình, và có lẽ cũng bởi vậy, mà cô chẳng dám ước vọng hay khát khao. ➜ Nhưng giờ đây, Mị nhận ra mình vẫn còn trẻ, còn trẻ là còn được tự do, còn được yêu thương, còn được sống cho ra một con người. Nhận thức ấy đưa Mị đến với một mong muốn thật bình dị: Mị muốn đi chơi. Nhà văn không để Mị mơ một điều gì đó quá lớn lao, xa vời, mà chỉ đơn giản là được đi chơi như bao nhiêu người khác, như những người phụ nữ có chồng khác cũng vẫn được ra ngoài ngày Tết. Mị đơn thuần muốn có được sự công bằng như những người bình thường. ➜ Mị nhận thức được sự cay đắng của thực tại: Huống chi A Sử với Mị, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau! Câu văn như một tiếng thở dài ngao ngán, xót xa cho số kiếp mà Mị đã không được lựa chọn cho riêng mình. (sự “bất hòa” cuả Mị với thực tại cũng là một dấu mốc quan trọng cho tâm lý của nhân vật, bởi trước đó Mị đã quen với cái khổ, coi nó như một điều bình thường, chấp nhận cho số phận làm khổ mình.) 309


+ Và thế là, suy nghĩ về nắm lá ngón lại quay trở lại trong Mị một lần nữa. Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa. Nắm lá ngón ấy tượng trưng cho khao khát sống mãnh liệt bên trong cô gái trẻ. Mở rộng: Những lúc Mị muốn chết, lại là thời điểm lòng ham sống trong cô trỗi dậy mãnh liệt nhất. Những sự uất ức, đau đớn tích tụ suốt bao năm qua mà có lúc Mị đã từng chấp nhận – nay như tuôn trào trong cõi lòng đầy xót xa. Lần đầu tiên sau rất nhiều năm, Mị đã có cảm xúc với bản thân và với cuộc đời. Để rồi, thanh âm tiếng sáo quay trở lại một lần nữa: tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường. Ta không rõ đó là thanh âm của thực tế, hay là tiếng sáo trong tâm tưởng mà Mị tự tạo nên. Nhưng dù thế nào đi chăng nữa, thanh âm ấy – bài hát ấy, vẫn văng vẳng trong tâm trí, vẫn đánh dấu sự thay đổi của cô Mị lúc này. ◆ Thái độ và hành động của A Sử với Mị: “Lúc ấy … khép cửa buồng lại.” - Chân dung của mối quan hệ vợ - chồng giữa A Sử và Mị suốt những năm qua: + Mị không phải là một nàng dâu thực thụ mà là một nàng dâu gạt nợ của nhà thống lí Pá Tra ➜ 4 chữ thôi mà chất chứa bao xót xa trước thân phận bị rẻ rúng, coi thường, chà đạp của người phụ nữ trong xã hội phong kiến miền núi. + Đó là một cuộc hôn nhân không có tình yêu, “không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau” ➜ khiên cưỡng, gượng gạo, biểu hiện của những hủ tục trong xã hội phong kiến. + Lúc ấy, A Sử đang sửa soạn đi chơi, một hành động rất bình thường và hợp lý trong bối cảnh đêm tình mùa xuân, nhưng lại khiến lòng người đọc dấy lên cảm giác bất công khi AS lúc nào cũng được ngang nhiên tận hưởng cuộc sống – còn Mị thì bị kìm kẹp, tước đi quyền tự do vốn có. ● Nhà văn khắc họa sự chuẩn bị kĩ lưỡng của A Sử trước khi đi chơi: thay áo mới, khoác thêm hai vòng bạc, bịt cái khăn trắng lên đầu. ● Có khi sẽ đi chơi mấy ngày mấy đêm ➜ Trong lúc vợ mình bị cuốn vào guồng quay lao động lặp đi lặp lại quanh năm suốt tháng, thì AS chỉ có ăn chơi, tận hưởng mà thôi. ● Mục đích của hắn: còn muốn rình bắt mấy người con gái nữa về làm vợ ➜ Mị không phải là nạn nhân duy nhất của A Sử, của 310


nhà thống lí, của cường quyền – thần quyền và những hủ tục trong xã hội phong kiến. Sẽ còn biết bao người con gái nữa bị tước đoạt cuộc sống tự do, bị chôn vùi thanh xuân trong căn nhà lạnh lẽo tàn độc ấy, để rồi dần dần đánh mất mình như Mị đã từng. + Bình thường, “chẳng bao giờ Mị nói gì” ➜ Cô đã quen câm lặng suốt bao nhiêu năm, và khi bản thân còn mang nhiều vụn vỡ - cô cũng chưa thể nào mở lòng mà quan tâm đến những người khác được. - Những hành động của Mị: + “Bây giờ Mị cũng không nói” ➜ Mị tiếp tục im lặng, không quan tâm đến sự tồn tại của A Sử lúc này. + Mị xắn một miếng mỡ bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng. Mở rộng: Theo nghĩa đen, hành động của Mị để thắp sáng căn phòng vốn luôn tăm tối (căn phòng ấy chính là ngục thất tinh thần giam giữ trái tim Mị bao năm qua. Cô đã từng đánh mất mình trong căn buồng đó, đã từng chẳng còn khái niệm về thời gian khi chôn mình nơi ấy, đã từng nghĩ rằng mình sẽ cứ ở đó cho đến khi nào chết thì thôi…) ➜ Phải chăng trong sâu thẳm, Mị muốn tìm thấy một lối đi – một đường thoát khỏi bế tắc của riêng mình? Dường như, qua chi tiết này, nhà văn Tô Hoài cũng bày tỏ niềm tin rằng: Trong trái tim Mị đã được thắp lên một ngọn lửa mới, dẫu cho ngọn lửa ấy có nhỏ bé le lói – nhưng nó vẫn là dấu hiệu đầu tiên đầy tích cực cho hành trình tìm lại bản thân của bông hoa ban rực rỡ năm nào. + Trong đầu Mị rập rờn tiếng sáo ➜ Phải chăng, đó không phải là tiếng sáo thực tế - mà là thanh âm trong trẻo Mị tự tạo ra bằng khao khát sống mãnh liệt tiềm tàng bên trong mình? Chính thanh âm ấy đã thôi thúc Mị hành động, để Mị tìm về với quá khứ tự do, để Mị muốn đi chơi – muốn là một phần của cuộc sống sôi nổi bên ngoài khung cửa nhà thống lí? ➜ Từ suy nghĩ đi đến hành động của nhân vật: Mị muốn đi chơi (suy nghĩ) ➜ Mị cũng sắp đi chơi (hành động bên ngoài – Mị tự đưa ra quyết định cho mong muốn của mình) ➜ sự thay đổi đầy mạnh mẽ. Từ “cũng” như một lời khẳng định quyền bình đẳng của Mị - rằng cô cũng có thể đi chơi đêm xuân như bao 311


người khác, như chính A Sử. A Sử sửa soạn đi chơi, Mị cũng thế: Mị quấn lại tóc, với tay lấy cái váy hoa. - A Sử để ý sự thay đổi của Mị và hành động để ngăn cản cô: + AS “lấy làm lạ”, bởi Mị vốn đã chấp nhận câm lặng suốt bao năm, không đòi hỏi cũng không khao khát hay phản kháng - ấy thế mà giờ đây lại ngang nhiên chuẩn bị đi chơi Tết trước mặt A Sử. + Hắn hỏi: Mày muốn đi chơi à? như một phản xạ tự nhiên vì bất ngờ trước hành động của Mị, nhưng rồi sau đó cả hai đều không ai nói gì, quay trở lại với bầu không khí im lặng chắc hẳn đã quen thuộc trong nhiều năm qua. Mở rộng: Nếu như khi khắc họa nhân vật Mị, nhà văn Tô Hoài sẽ đan xen những lời trần thuật nửa trực tiếp – đi sâu vào thế giới nội tâm phong phú, phức tạp của nhân vật – thì khi miêu tả A Sử, giọng văn lại trở nên thản nhiên, đơn giản đến lạnh lùng. A Sử hành động liên tiếp như một thói quen, chẳng có chút phân vân, đắn đo; không hề suy nghĩ hay bộc lộ một chút xúc cảm nào: bước lại, nắm Mị, lấy thắt lưng trói hai tay Mị, trói đứng Mị vào cột nhà, quấn luôn tóc Mị lên cột – làm cho Mị không cúi, không nghiêng được đầu. ➜ Nhà văn liệt kê liên tiếp các hành động của A Sử, lạnh lùng và ngang nhiên bạo hành chính vợ của mình. Tội ác đã trở thành thói quen, đã như một điều bình thường với con trai thống lí. ➜ A Sử chính là hiện thân của cái xấu, cái ác đã giam cầm và hành hạ Mị suốt những tháng năm qua. + Sau khi trói đứng vợ mình, không một chút lăn tăn suy nghĩ: A Sử thắt nốt cái thắt lưng xanh ra ngoài áo rồi A Sử tắt đèn, đi ra, khép cửa buồng lại. ➜ Hắn không hề suy tư về tội ác mình vừa mới thực hiện. Chiếc thắt lưng của người đàn ông ấy vừa là thứ vũ khí có thể thuận tiện để hành hạ vợ, lại vừa là một món phụ kiện để hoàn thiện vẻ bề ngoài của hắn khi đi chơi. Nếu như trước đó, Mị thắp đèn cho sáng, thì giờ đây, AS dập tắt ánh sáng ấy như một lẽ đương nhiên, cũng là dập tắt đi ngọn lửa sống le lói vừa mới được thắp lên trong tâm hồn cô Mị. Hắn khép cửa buồng lại, để rồi chỉ còn lại một mình Mị trong ngục thất tinh thần. 312


<?> Vì sao Mị lại sửa soạn đi chơi trước mặt A Sử mà không đợi A Sử đi rồi mới chuẩn bị? ** Những góc nhìn: + Có thể, Mị đang muốn thách thức A Sử, muốn khẳng định quyền bình đẳng – tự do của mình, rằng A Sử được đi chơi, bao nhiêu người phụ nữ có chồng cũng được đi chơi ngày Tết, và Mị cũng vậy. + Cũng có thể, vì lúc này Mị đã trở về là cô Mị ngày xưa, lòng Mị hoàn toàn sống về ngày trước, Mị khao khát đi chơi – khao khát tự do. Trong mắt Mị không có sự tồn tại của A Sử. Mị không ý thức được hắn đang hiện diện trong căn phòng và trong cuộc sống của mình ➜ Mị thản nhiên chuẩn bị đi chơi. ◆ Tâm trạng của Mị sau khi bị trói: “Trong bóng tối … mình không bằng con ngựa.” - Khó khăn lắm, Mị mới tìm lại được một chút ánh sáng le lói thắp lên trong tâm hồn tưởng chừng đã khô cằn của mình, ấy vậy mà giờ đây, một lần nữa – cô lại bị nhấn chìm “trong bóng tối”. Đó không chỉ là bóng tối của đêm khuya, mà còn là bóng tối của xã hội, của cường quyền thần quyền, của những sự trói buộc chà đạp đã giam cầm cô suốt bao năm qua. ➜ Tuy nhiên, lúc này, dường như đầu óc Mị vẫn còn lâng lâng, cô không có mặt ở thực tại, vậy nên Mị mới im lặng, “như không biết mình đang bị trói.” ➜ Dường như, lòng Mị vẫn đang sống trong kí ức tự do. “Hơi rượu còn nồng nàn” – dù trước đó, “rượu đã tan lúc nào.” Mị vẫn nghe tiếng sáo – dù lúc này, chắc hẳn chẳng còn ai thổi nữa. Phải chăng, hơi rượu ấy, tiếng sáo ấy là do Mị tự tưởng tượng ra, là do khát vọng tự do cháy bỏng đã tạo nên cho cô những sức mạnh tinh thần quý giá? ➜ Hành động quả quyết, mạnh mẽ, dứt khoát, như không quan tâm đến thực tại nghiệt ngã và sợi dây đay đang trói chặt vào cơ thể mình: “Mị vùng bước đi.” Không phải bước đi, mà là “vùng bước đi”, như một cách phản kháng mãnh liệt. AS chỉ trói được thân xác Mị - chứ không thể trói được tâm hồn cô, khao khát đang trỗi dậy bên trong cô. Dù hành động ấy không thành công đưa Mị thoát khỏi nhà thống lí, nhưng vẫn đánh dấu một bước chuyển mình quan trọng trong tâm hồn cô, khẳng định sức mạnh nội tâm của Mị đã trở nên mạnh mẽ hơn rất nhiều. 313


- Hành động ấy đã đưa Mị về với thực tại, về với cái đau đớn của những sợi dây đay đang siết chặt cơ thể: “tay chân đau không cựa được”. Có lẽ, đó là lý do trong đầu Mị không còn tiếng sáo nữa, không còn là cô Mị của quá khứ nữa. Mị đã có mặt ở thực tại, cảm nhận được tiếng chân ngựa đạp vào vách. Mở rộng: Lại một lần nữa, Mị so sánh mình với ngựa – nhưng lần này rất khác. Trước đây, ở thời điểm chấp nhận làm con rùa lùi lũi nuôi nơi xó cửa nhà thống lí, Mị cũng từng cho rằng đàn bà con gái nhà này còn chẳng bằng con trâu con ngựa. Nhưng đó đơn thuần là cái gật đầu chấp nhận, Mị không hề phản kháng hay có cảm xúc gì với sự thật ấy. Nhưng giờ đây, Mị lại “thổn thức”. Cái thổn thức ấy là sự xót xa, đau đớn, là cảm giác nghẹn ngào trước số phận nghiệt ngã mà bản thân đang phải chịu đựng. Điều đó cho thấy, Mị không còn là một cô gái chỉ biết cúi đầu mặt buồn rười rượi, vô cảm chấp nhận cuộc sống, vô cảm với chính bản thân mình nữa. ➜ Bước chuyển quan trọng trong sức mạnh nội tâm, trong thế giới tâm hồn. 4. Mị trong đêm mùa đông: a. Thói quen hơ tay sưởi lửa của Mị trong những đêm đông lạnh giá trên núi cao “Những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn … Nhưng đêm sau Mị vẫn ra sưởi như đêm trước.” - Cách khắc họa mùa đông trên núi cao của nhà văn Tô Hoài Mở rộng: Nếu như thông thường, người ta sẽ sử dụng những tính từ như giá rét, lạnh lẽo, buốt giá để nói về mùa đông – thì Tô Hoài lại miêu tả mùa đông “dài và buồn”. Có lẽ, đó không phải là những đặc điểm của mùa đông thiên nhiên, mà là cảm nhận về những ngày đông ấy trong góc nhìn chủ quan của nhân vật Mị. ↪ Trước đây, Mị từng chấp nhận cái guồng quay tẻ nhạt lặp đi lặp lại của cuộc sống “nàng dâu gạt nợ”, cho rằng suốt năm suốt đời cũng sẽ sống như thế. Nhưng kể từ sau đêm tình mùa xuân, khi những khát vọng tự do đã quay trở lại, khi nỗi nhớ quá khứ khắc khoải cứ in đậm trong trái tim, khi lòng ham sống cuối cùng cũng đã được đánh thức, Mị không thể cúi đầu chấp nhận cuộc sống như thế nữa. Trái tim cô đã rung động trở lại. Cô không còn là con rùa lùi lũi nuôi nơi xó cửa, vô cảm với cuộc đời và vô cảm với chính mình. Đó là lý do cô gái miền sơn cước ấy cảm thấy những ngày 314


C. TÀI LIỆU THAM KHẢO MỞ RỘNG I. Tổng hợp đoạn đánh giá Nội Dung - Nghệ thuật (Tham Khảo) Các đoạn văn được tổng hợp từ bài viết của các bạn học sinh các lớp tại Học Văn cô Sương Mai. Học sinh đọc tham khảo và vận dụng linh hoạt theo đề cụ thể để có hiệu quả lập luận tốt nhất (tránh sử dụng nguyên đoạn vào tất cả các đề). 1. “Việt Bắc” (Tố Hữu) Tác giả đã tái hiện lại cuộc chia tay giữa người ở lại và người ra đi với những lời gợi nhắc về quá khứ và những kỉ niệm của 15 năm gắn bó gian khổ. Việt Bắc hiện lên trong những hoài niệm đầy cay đắng, gian khổ nhưng tình nghĩa mặn nồng. Bao trùm lên cả bài thơ về nỗi nhớ. Nỗi nhớ của cả người ở lại và người ra đi. Trong tâm thức của người ra đi, nỗi nhớ về Việt Bắc hiện lên với những cung bậc đa dạng, nhiều nhiều: nhớ con người, cuộc sống Việt Bắc; nhớ thiên nhiên, núi rừng Việt Bắc; nhớ về cuộc kháng chiến anh hùng và nhớ cả những ngày đầu độc lập. Qua đó, người đọc có thể cảm nhận được mối quan hệ và sự gắn bó keo sơn, cá nước giữa nhân dân Việt Bắc với những người cán bộ cách mạng. Bài thơ được viết theo kết cấu đối đáp của ca dao trữ tình với sự luân phiên của người ở lại và người ra đi tạo cho bài thơ sự nhịp nhàng, đăng đối. Bài thơ Việt Bắc thể hiện tính dân tộc đậm đà, tác giả sử dụng thể thơ lục bát – thể thơ đặc sắc của dân tộc, với những luyến láy, vần điệu nhịp nhàng khiến cho nỗi nhớ trong bài thơ càng trở nên nồng nàn, sâu đậm. Ngôn ngữ, hình ảnh giản dị, quen thuộc, gần gũi, đậm sắc thái dân gian. ách xưng hô “mình – ta” quen thuộc trong ca dao với sự biến đổi linh hoạt giữa mình với ta; người ở lại có lúc là mình, có lúc là ta; người ra đi lúc là ta, lúc là mình tạo ra tình cảm thân mật, tha thiết, để lại nhiều dư âm trong lòng người đọc… 2. “Tây Tiến” (Quang Dũng) Cả bài thơ là nỗi nhớ da diết của nhà thơ đối với đơn vị Tây Tiến: Nhớ những chặng đường hành quân với bao gian khổ , thiếu thốn, hi sinh mất mát mà vẫn có nhiều kỉ niệm đẹp, thú vị, ấm áp; nhớ những đồng đội Tây Tiến anh hùng. Qua đó, tác giả đã khắc họa thành công hình tượng người lính Tây Tiến hào hùng, hào hoa và vẻ đẹp hùng vĩ thơ mộng của thiên nhiên miền Tây tổ quốc. Chất lãng mạn bi tráng cũng trở thành vẻ đẹp độc đáo của hình tượng người lính cách mạng trong thơ Quang Dũng. Tác giả đã sử dụng bút pháp hiện thực kết hợp lãng mạn, đan xen với nhiều sáng tạo về hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu, hình ảnh thơ sáng tạo mang sắc thái thẩm mĩ phong phú, gây ấn tượng sâu sắc với bạn đọc. Giọng điệu khi tha thiết bồi hồi, khi hồn nhiên vui tươi, khi bâng 377


khuâng man mác, khi trang trọng, khi trầm lắng… đã góp phần bộc bạch cảm xúc của người nghệ sĩ - chiến sĩ khi viết về chính những người đồng đội của mình. Bài thơ được xem là một thi phẩm xuất sắc, gần như đạt đến sự toàn bích về nghệ thuật, với đôi cánh lãng mạn cùng những chất liệu chân thực của cuộc chiến. Tác phẩm cũng là một minh chứng cho ngòi bút “thi trung hữu họa, thi trung hữu nhạc” của cây bút xứ Đoài. 3. “Đất Nước” (trích trường ca “Mặt đường khát vọng” – Nguyễn Khoa Điềm) Đoạn trích thể hiện cảm nghĩ mới mẻ của tác giả về đất nước qua những vẻ đẹp được phát hiện ở chiều sâu trên nhiều bình diện: lịch sử, địa lí, văn hóa,… qua đó nhấn mạnh tư tưởng Đất Nước của nhân dân vô cùng sâu sắc, mới mẻ. Người cầm bút khẳng định mối quan hệ sâu sắc giữa Đất Nước với nhân dân, bày tỏ tinh thần dân tộc cùng lòng biết ơn chân thành tới những người dân bé nhỏ mà phi thường. Tác phẩm là sự kết hợp giữa cảm xúc nồng nàn và suy tư sâu lắng của người trí thức về đất nước và con người. Thể thơ tự do, uyển chuyển, kết hợp giọng thơ thủ thỉ, tâm tình, biến đổi linh hoạt đã góp phần bộc lộ những cảm xúc thiết tha trong tâm trí người nghệ sĩ. Tác giả sử dụng các chất liệu văn hóa dân gian phong phú, đa dạng: ngôn từ, hình ảnh bình dị, dân dã, tạo nên một không gian nghệ thuật riêng cho đoạn trích: vừa bình dị, gần gũi, hiện thực, lại vừa giàu tưởng tượng, vừa bay bổng, mơ mộng. Cách nhà thơ trân trọng viết hoa hai chữ “Đất Nước” xuyên suốt toàn bộ thi phẩm đã cho độc giả thấy được tình yêu đầy trang nghiêm ông dành cho Tổ quốc thân yêu. Sức truyền cảm lớn từ sự hòa quyện của chất chính luận và chất trữ tình cũng khiến những vần thơ không chỉ chạm tới tâm hồn mà còn lay động tâm trí mỗi người đọc, dẫu cho ta tiếp nhận bài thơ ở thời đại nào. 4. “Sóng” (Xuân Quỳnh) Qua hình tượng sóng, ta cảm nhận được sức sống và vẻ đẹp của tâm hồn phụ nữ trẻ. Bài thơ diễn tả tình yêu của một trái tim giàu nữ tính thiết tha, nồng nàn chung thủy trọn vẹn, muốn vượt lên thử thách của thời gian và sự hữu hạn của đời người. Từ đó, độc giả cảm nhận sâu sắc tình yêu là một tình cảm cao đẹp, một hạnh phúc lớn lao của con người. Bài thơ khắc họa một cái tôi nồng nàn tha thiết, yêu hết lòng, thuỷ chung. Thông qua hình tượng sóng, nhà thơ đã khám phá rất nhiều những quy luật tình cảm cũng như những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ trong tình yêu, bộc bạch góc nhìn vừa truyền thống lại vừa hiện đại. Bài thơ có những sáng tạo độc đáo về nghệ thuật, từ việc xây dựng hình ảnh trùng phức sóng đôi: sóng và em đến việc sử dụng thể thơ năm chữ có sự cách điệu đầy sáng tạo ở những “bước sóng” phù hợp, tạo nhịp điệu thơ như nhịp 378


III. Tổng hợp 20 bài văn tham khảo về các tác phẩm trọng tâm ** Bài viết được sưu tầm và biên soạn từ bài viết của các bạn học sinh các lớp tại Học Văn cô Sương Mai. “TÂY TIẾN” Đề bài 1: “Nếu như Chính Hữu viết về những chàng vệ quốc bằng bút pháp hiện thực thì Quang Dũng đã tái hiện vẻ đẹp người lính bằng đôi cánh lãng mạn đem đến men say cho thi tứ, sự bay bổng của hình tượng... Nếu thiếu đi cái chất lãng mạn, “Tây Tiến” cơ hồ sẽ mất đi vẻ đẹp toàn bích của nó.” (Nguyễn Đăng Điệp) Hãy phân tích khổ thơ sau để làm rõ bút pháp hiện thực và “đôi cánh lãng mạn” trong hình tượng người lính của Quang Dũng. “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành” (Trích “Tây Tiến”) BÀI LÀM Sinh thời, Hàn Mặc Tử khi nghĩ về thơ đã từng tâm niệm“Máu đã khô rồi, thơ cũng khô-Tình ta chết yểu tự bao giờ”. Nếu với thi sĩ đau thương, máu là sự sống của thơ ca, của văn chương thì tôi tin những trang viết của Quang Dũng trong “Tây Tiến” sẽ mãi bất tử với thời gian bởi nó được viết bằng tình yêu và “ máu chảy trong huyết quản” của nhà thơ xứ Đoài. Những trang viết của Quang Dũng đã sống trong lòng bạn đọc bởi sự kết hợp tài tình giữa chất liệu hiện thực và đôi cánh lãng mạn khi xây dựng hình tượng người lính của Quang Dũng. Nói như Nguyễn Đăng Điệp: “Nếu như Chính Hữu viết về những chàng vệ quốc bằng bút pháp hiện thực thì Quang Dũng đã tái hiện vẻ đẹp người lính bằng đôi cánh lãng mạn đem đến men say cho thi tứ, sự bay bổng của hình tượng... Nếu 409


thiếu đi cái chất lãng mạn, “Tây Tiến” cơ hồ sẽ mất đi vẻ đẹp toàn bích của nó”. Những điều đó được minh chứng rõ nét qua những vần thơ sau: “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành” (Trích “Tây Tiến”) Platon đã nói: “Thơ là thần hứng”, thơ chỉ ra đời trong những giây phút thăng hoa của người nghệ sĩ. Quang Dũng đã có được giây phút ấy khi viết Tây Tiến. Từ xa xưa đến nay, thơ phải là tiếng hát thật sự của tâm hồn, khi tâm hồn lên tiếng, thì nhà thơ không cần lý luận. Nguyễn đăng Điệp đã thật tài tình khi nắm được phong cách nghệ thuật riêng biệt, không trộn lẫn của Quang Dũng so với những cây bút cùng thời như Chính Hữu. Cảm hứng lãng mạn trong bài thơ được thể hiện thông qua nỗi nhớ da diết của tác giả, của khung cảnh thiên nhiên Tây Bắc nên thơ, hùng vỹ và cảnh sinh hoạt của người dân qua con mắt nghệ sĩ của người lính. Hay trong bút pháp hiện thực, cái khó khăn, cái khắc nghiệt, chông gai luôn hiện hữu thế nhưng trong cái khó khăn, gian khổ, khắc nghiệt, những người lính Tây Tiến vẫn hướng đến những điều tốt đẹp. Và ta bắt gặp hình tượng người chiến sĩ bất khuất, oai phong, lẫm liệt, những điều trên không hề bi lụy mà lại mang tinh thần bi tráng vô cùng. Có lẽ khi nhắc đến một nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp mang hồn thơ phóng khoáng, lãng mạn, tài hoa và “đứng riêng một cõi” thì chắc chắn ai cũng sẽ nghĩ đến Quang Dũng. Quả thực đúng như vậy, Quang Dũng một nghệ sĩ rất đa tài, ngoài là một nhà thơ, nhà văn xuất sắc ông còn là một họa sĩ, nhạc sĩ rất nổi tiếng. Từ xưa đến nay, vạn vật trong kí ức vốn chỉ như những tĩnh vật trong bảo tàng, dù là kí ức của một thời chưa xa. Nếu không có thần sắc của cảm xúc thổi vào, vạn vật dù có mỹ lệ trữ tình đến mấy cũng chỉ là hóa thạch. Và kí ức "Tây Tiến" trong Quang Dũng cũng thế, nó được xây đắp nên từ sự chân thành trong xúc cảm của tác giả vào năm 1948 khi nhà thơ rời xa đơn vị Tây Tiến, nhớ về một thời chiến đấu gian 410


khổ trong đoàn quân. Trong lúc ấy, ông đã “ xuất thần trên đầu ngọn bút”, một mạch viết nên bài thơ này từ những nỗi nhớ cuộn trào như thác lũ trong tâm trí. Đó là “thần hứng”, một niềm cảm hứng sâu sắc và dồn dập, cho ra đời những vần thơ bồi hồi trở thành bất tử. Thế mới biết, dù là một bài thơ chỉ được làm vỏn vẹn trong vài mươi phút, nhưng nó đủ sức gợi, đủ sức ngân vang trong suốt vài mươi năm, hay thậm chí vài mươi thế kỉ. Đó là sự bất diệt của thi hứng, của thơ ca, những “nguyên liệu” góp vào sự vĩnh cửu của Tây Tiến không gì khác Đoàn quân Tây Tiến được thành lập vào đầu năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào tiêu hao sinh lực địch và bảo vệ biên giới Tây Bắc của tổ quốc. Các anh chủ yếu là thanh niên Hà Nội , những chàng trai hào hoa phong nhã, vừa gác bút nghiên đi theo tiếng gọi của kháng chiến. Họ ra đi với một quyết tâm cao độ: “Tây Tiến người đi không hẹn ước". Nếu như ở các đoạn thơ trước đó, nhà thơ tập trung bút lực khắc hoạ lại chặng đường hành quân đầy kỉ niệm vừa thơ mộng, lại vừa thấm đẫm vết hằn tháng năm. Thì ở đoạn thơ này, Quang Dũng đưa ta trở lại với lăng kính hiện thực nhằm tôn vinh vẻ đẹp của người lính kiêu hùng. Đoạn thơ đã trở thành một bức tượng đài về hình ảnh người chiến sĩ với vẻ đẹp hào hùng của lí tưởng cao cả, của ý chí kiên cường, của sự gan góc, hy sinh dũng cảm cùng với vẻ đẹp hào hoa lãng mạn của tâm hồn đằm thắm mộng mơ: Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm. Những tháng năm “hoa lửa", những cuộc chiến khắc nghiệt, những thiếu thốn vất vả đều là những sự thật không thể chối bỏ. Quang Dũng không những không trốn tránh những vất vả, những gian lao ấy, ngược lại ông đã tái hiện cuộc sống chiến đấu gian khổ, hào hùng của chiến sĩ Tây Tiến bằng bút pháp hiện thực đậm nét qua bốn câu đầu của khổ ba. Thế nhưng không vì hiện thực đau thương mà bài thơ mang trong mình màu sắc ảm đạm, đau đớn, chính chất lãng mạn của những chàng trai Hà Thành năm ấy đã thực khiến cho sức mạnh niềm tin trở nên mãnh liệt đến phi thường, vượt qua cả những gian khó chồng chất trước mặt, để lý tưởng một thời hoa lửa cứ rực cháy trên bầu trời mong mỏi màu xanh hoà bình. Quả thực, nó không khiến cho bài thơ ủy mị hay khiến con người ta nản chí, 411


D. LUYỆN TẬP 5 ĐỀ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC THAM KHẢO Biểu điểm THAM KHẢO các đề: - Sáng tạo: 0.5: Học sinh có phân tích hay hoặc liên hệ mở rộng phù hợp hoặc diễn đạt rất lưu loát, ấn tượng. - Hình thức: 0.25: Trình bày đúng hình thức bài tập làm văn, không sai ngữ pháp và chính tả. - Bài viết xác định đúng VĐNL, tập trung vào VĐNL 0,25 - Mở bài Kết bài đạt yêu cầu: 0,25 – Thân bài 3,75 ➜ Tổng điểm: 5,0 Lưu ý: - Phần hướng dẫn gợi ý chi tiết và nâng cao, học sinh có thể không cần phân tích đoạn trích được đầy đủ, mở rộng như trong dàn ý, nhưng cần làm bật lên được những điểm nổi bật nhất về nội dung – nghệ thuật của đoạn trích đề cho. - Học sinh cần phân tách thành hệ thống lập luận rõ ràng, không “diễn xuôi” hoặc viết bài mà không có luận điểm, luận cứ mạch lạc. - Học sinh có thể chia luận điểm theo cách khác, nhưng phải hợp lý và chặt chẽ với nội dung đoạn trích. - Trong phần triển khai của hướng dẫn chỉ gạch ý chính. Học sinh có thể tham khảo thêm các phần phân tích tác phẩm trong sách này để có thêm gợi ý chi tiết phần phân tích từng đoạn trích đề cho. Đề 01. Cho đoạn trích sau: “…Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ 524


Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành…” (Trích “Tây Tiến” – Quang Dũng) Anh/chị hãy phân tích đoạn trích trên, từ đó nhận xét về bút pháp của Quang Dũng trong đoạn thơ. HƯỚNG DẪN MỞ BÀI - Giới thiệu được tên tác giả, tác phẩm - Giới thiệu được VĐNL chính (đoạn trích đề yêu cầu) - Giới thiệu được VĐNL phụ (bút pháp của Quang Dũng) THÂN BÀI 3.75 1. Khái quát tác giả tác phẩm 0.5 - Tác giả: + Là một nhà thơ khoác màu áo lính, vừa là người nghệ sĩ sáng tạo ngôn từ - vừa là người chiến sĩ trực tiếp lăn xả nơi chiến trường khốc liệt, thấu hiểu nỗi đau của bom đạn, chiến tranh. (Đó là lý do mà cảm hứng lãng mạn và bút pháp hiện thực đan xen hài hòa trong những trang thơ của cây bút xứ Đoài mây trắng). + Là một người nghệ sĩ đa tài: thi sĩ – họa sĩ – nhạc sĩ ➜ thơ của ông vừa có chất họa lại vừa có chất nhạc, vừa có những đường nét màu sắc như một bức tranh – lại vừa du dương trong những giai điệu, lời ca của những bản nhạc ➜ Ngòi bút phóng khoáng, hào hoa. - Tác phẩm: HCST: Được sáng tác năm 1948 ở Phù Lưu Chanh - ở thời điểm nhà thơ không còn đồng hành cùng binh đoàn Tây Tiến ➜ Cảm hứng chủ đạo trong thi phẩm chính là nỗi nhớ dạt dào nơi trái tim người cầm bút. Nhan đề: “Nhớ Tây Tiến” ➜ “Tây Tiến” 525


2. Phân tích đoạn trích: 2.0 LUẬN ĐIỂM 01: Vẻ đẹp hào hùng của những người lính 0.5 “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Hai câu thơ đầu khắc họa chân dung người lính trong hoàn cảnh khắc nghiệt của những năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp: + Ngoại hình của họ hiện lên có phần kì lạ với mái đầu “không mọc tóc”, làn da “xanh màu lá”. Thực tế, họ thường phải cạo trọc đầu để thuận tiện sinh hoạt và di chuyển trong những cuộc hành quân dài ngày nơi rừng thiêng nước độc. Bên cạnh đó, căn bệnh sốt rét rừng cũng là nguyên nhân lớn khiến mái đầu của họ không còn tóc, làn da thì xanh xao do mỏi mệt, ốm đau. ➜ Nhà thơ gọi những người lính là “đoàn binh không mọc tóc”, như một cách tôn vinh chính những khó khăn khắc nghiệt mà những người lính đã dũng cảm đối diện, coi “không mọc tóc” là một đặc điểm nhận dạng, một tấm “huy chương” đặc biệt để công nhận bản lĩnh của các chàng trai trẻ. + Sắc mặt xanh xao của những người lính khi phải chịu đựng cơn đau lại trở thành màu xanh biếc của lá rừng để thể hiện tinh thần “dữ oai hùm” – họ mang khí phách hiên ngang có thể sánh với các loài thú dữ chốn rừng sâu, không run sợ trước bất cứ điều gì. LUẬN ĐIỂM 02: Vẻ đẹp hào hoa của những chàng trai Hà Thành năm ấy 0.5 Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” Câu mở đoạn tham khảo: Không chỉ khắc họa vẻ đẹp hào hùng, kiên cường, bất khuất của những chàng trai Tây Tiến; nhà thơ Quang Dũng còn dùng ngòi bút và tấm lòng của mình để đem tới cho độc giả chân dung những người lính vô cùng hào hoa – có tâm hồn lãng mạn, bay bổng cả ở nơi chiến trường khốc liệt. - Chân dung người lính lúc này hiện lên với ánh mắt đầy mạnh mẽ, kiên trường, bất khuất – ánh mắt “trừng” như nhìn thẳng vào khó khăn, vào quân thù, vào con đường đi tới lý tưởng lớn lao của Tổ quốc - Thế mà chính đôi mắt quả quyết ấy cũng “gửi mộng qua biên giới” – cũng đem những giấc mơ đi xa, bay cao, vượt ra khỏi giới hạn của khoảng cách địa lý xa 526


xôi; giúp những người lính có cảm giác họ được gần gũi quê nhà ngay cả khi đang ở nơi xứ người. - Để rồi trong những giấc mơ ấy, khi đêm dài tĩnh mịch đã bao phủ vạn vật, khi những người lính có giây phút hiếm hoi được thả lỏng tâm trí mình, tâm hồn họ dường như lại được đặt chân về Hà Nội. Họ mơ về một “dáng kiều thơm” – hình ảnh một người thiếu nữ duyên dáng yêu kiều; họ nhớ nhung và mong mỏi người thương hoặc khao khát về một tình yêu mang tên mình. Trong trái tim của những người lính Tây Tiến dường như ôm ấp cả hai giấc mộng: một là giấc mơ hòa bình độc lập cho đất nước, hai là khao khát riêng tư bé bỏng vẫn luôn cất giữ trong sâu thẳm trái tim mình. ➜ Chân dung người lính qua ngòi bút của nhà thơ Quang Dũng hòa quyện giữa vẻ đẹp hào hùng và vẻ đẹp hào hoa. LUẬN ĐIỂM 03: Sự hy sinh anh dũng của những người lính trẻ 1.0 “Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành” - Câu thơ đầu tiên như khắc họa trước mắt bạn đọc một “nghĩa trang” khổng lồ nơi biết bao người lính đã ngã xuống: + Từ láy “rải rác” cho ta thấy được rất nhiều chàng trai đã mất, đã để lại thanh xuân của mình mãi mãi nơi chiến trường khốc liệt. + Họ mất ở nơi xa lạ, nơi “mồ viễn xứ” chứ không được ôm ấp bởi đất mẹ thương yêu, không được ở gần quê hương – gần người thân vào giây phút cuối cùng - Để rồi, với ngôn từ mạnh mẽ, dứt khoát – nhà thơ làm bật lên vẻ đẹp trong tinh thần kiên cường, bất khuất của những người lính, không run sợ trước bất cứ điều gì, kể cả cái chết: “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” + Chữ “đi” vừa là tham gia chiến trận, vừa gợi tới sự hy sinh. Những người lính một khi đã khoác lên mình màu áo xanh để nhập quân tham gia bảo vệ đất nước thì quyết không nuối tiếc tuổi trẻ của mình; kể cả phải đánh đổi bằng chính sinh mệnh. + Hai chữ “chẳng tiếc” như nhấn mạnh tinh thần khảng khái, mạnh mẽ, quyết đoán của họ. Ngay từ bước chân đầu tiên, họ đã sẵn sàng tự 527


nguyện hy sinh và cống hiến “đời xanh” của mình. Dẫu cho phải bỏ mạng nơi chiến trận, dẫu cho cuộc đời sẽ chỉ dừng lại ở “mãi mãi tuổi hai mươi”, nhưng họ vẫn lựa chọn được sống và chết vì Tổ quốc. - Với tất cả lòng biết ơn và trân trọng của mình, người cầm bút đã thiêng liêng hóa sự ra đi của những người lính: Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành + Thực tế, những người lính ngã xuống nơi chiến trường khốc liệt thậm chí còn chẳng có được một manh chiếu quấn thân. Có nhiều người còn không tìm được thân xác, bởi họ bị chôn vùi nơi bom đạn. Thế nhưng, nhà thơ Quang Dũng đã khoác lên mình những chàng trai ấy một tấm “áo bào” đầy danh giá, oai nghiêm – vốn là trang phục mặc ngoài của các vị tướng thời xưa. + Đoạn thơ khép lại với tiếng “gầm lên” đầy mạnh mẽ, vang động cả núi rừng của dòng sông đã từng gắn bó, đồng hành cùng binh đoàn Tây Tiến. Dòng sông ấy đã gọi về biết bao kỉ niệm trong trái tim người lính Quang Dũng: “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi – Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”. Cũng chính dòng sông ấy đã thay thiên nhiên núi rừng nói lời tạm biệt với những chàng trai trẻ khi họ ngã xuống vì đất nước. Thanh âm của dòng sông đã tấu lên một “khúc độc hành” đầy trang nghiêm để tiễn biệt những người lính một cách trọn vẹn nhất. Phải chăng, đến thiên nhiên còn đau lòng khi họ ra đi? Dẫu hành trình của những người lính ấy đã mãi mãi dừng lại, nhưng họ sẽ sống mãi trong thiên nhiên bất diệt của núi rừng Tây Bắc, trong niềm thương nỗi nhớ của những người ở lại, trong lòng biết ơn vô bờ của thế hệ mai sau. Họ trở thành những tượng đài bất tử bởi lẽ họ đã sống và cống hiến tất cả cho đất nước, cho dân tộc, cho cuộc sống bình yên mà ta đang có ngày hôm nay. 3. Đánh giá đặc sắc nội dung: 0.5 - Khắc họa chân dung những người lính Tây Tiến + can trường, bất khuất, sẵn sàng hiến dâng thanh xuân của mình cho mùa xuân của Tổ quốc, sẵn sàng gác lại cả những giấc mơ riêng tư để sống vì quê hương. + hình tượng người lính hòa quyện giữa vẻ đẹp hào hùng và hào hoa 528


- Thể hiện tình cảm tha thiết của người cầm bút: trân trọng, ngợi ca, tiếc thương và biết ơn vô cùng đối với những người lính vô danh của Tây Tiến năm nào - Mở rộng: Một bài học giàu giá trị cho thế hệ sau (Bản thân em rút ra được điều gì từ đoạn thơ? Hoặc theo em, thế hệ hôm nay cần học tập gì ở tinh thần của những người lính Tây Tiến?) 4. Đánh giá VĐNL phụ: bút pháp của nhà thơ Quang Dũng được thể hiện trong đoạn trích 0.75 - 0.5 Có sự hòa quyện giữa bút pháp hiện thực và cảm hứng lãng mạn + Nhà thơ khắc họa một cách gai góc, chân thực và đầy day dứt về những khó khăn, khốc liệt trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Ông không hề tô hồng hiện thực hay né tránh những khắc nghiệt ấy mà vẫn chỉ ra một cách đầy cụ thể: đó là căn bệnh sốt rét rừng, đó là những thiếu thốn trên con đường hành quân, đó là sự hy sinh của biết bao chàng trai trẻ nơi đất khách quê người, … + Tuy nhiên, thi phẩm tạo được dấu ấn riêng trong lòng bạn đọc là bởi người nghệ sĩ đa tài ấy đã lồng ghép cảm hứng lãng mạn một cách đầy tinh tế. ● Bên cạnh việc khắc họa vẻ đẹp hào hùng của những người lính, nhà thơ không quên bộc bạch với bạn đọc về vẻ đẹp hào hoa trong tâm hồn những chàng trai Hà Thành ngày ấy. ➜ Ông không cho rằng những tâm tư tình cảm chân thành của họ sẽ khiến họ thêm ủy mị mà lùi bước; ngược lại; ông tin rằng chính sự lãng mạn trong tâm hồn sẽ là một đôi cánh đầy mạnh mẽ giúp họ tiếp tục vững bước trên con đường theo đuổi lý tưởng cao đẹp của dân tộc. ● Thi phẩm “có bi nhưng không có lụy”, bởi sau những nét phác họa khốc liệt về chiến tranh đầy đau thương, tác giả luôn nhấn mạnh tinh thần quả cảm, lòng quyết tâm “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” của những người lính. Sức mạnh nơi tâm hồn có thể giúp họ chiến thắng mọi thử thách, thậm chí kể cả khi họ đã ngã xuống… 529


- 0.25 Các đặc sắc nghệ thuật khác: + Thể thơ bảy chữ thể hiện tình cảm người cầm bút một cách phóng khoáng + Chắt lọc từ ngữ một cách phù hợp để mỗi từ ngữ đều đem lại giá trị biểu đạt cao (từ láy, từ thuần Việt, từ Hán Việt, …) + Sử dụng các biện pháp tu từ phù hợp để khắc họa đối tượng một cách sinh động nhất + Giọng thơ vừa hào hùng, mãnh liệt, lại vừa tha thiết, yêu thương, đong đầy nỗi nhớ + … KẾT BÀI. Khẳng định lại VĐNL Đề 02. Trong tác phẩm “Người lái đò sông Đà”, có đoạn Nguyễn Tuân viết: “Lại như quãng mặt ghềnh Hát Loóng, dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò Sông Đà nào tóm được qua đấy.” Lại có đoạn: “Con Sông Đà gợi cảm. Đối với mỗi người, Sông Đà lại gợi một cách. Đã có lần tôi nhìn Sông Đà như một cố nhân. Chuyến ấy ở rừng đi núi cũng đã hơi lâu, đã thấy thèm chỗ thoáng. Mải bám gót anh liên lạc, quên đi mất là mình sắp đổ ra Sông Đà. Xuống một cái dốc núi, trước mắt thấy loang loáng như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy. Tôi nhìn cái miếng sáng lóe lên một màu nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu.” Bờ Sông Đà, bãi Sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên Sông Đà. Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng. Đi rừng dài ngày rồi lại bắt ra Sông Đà, đúng thế, nó đằm đằm ấm ấm như gặp lại cố nhân, mặc dầu người cố nhân ấy mình biết là lắm bệnh lắm chứng, chốc dịu dàng đấy, rồi chốc lại bẳn tính và gắt gỏng thác lũ ngay đấy.” Anh/chị hãy cảm nhận về vẻ đẹp sông Đà qua khắc họa của Nguyễn Tuân, từ đó lý giải sự khác biệt trong cách miêu tả con sông Đà qua hai đoạn kể trên. HƯỚNG DẪN MỞ BÀI. Học sinh giới thiệu đủ các thông tin cơ bản mà đề bài yêu cầu: 530


- Tên tác giả, tên tác phẩm - VĐNL chính: vẻ đẹp Sông Đà qua khắc họa của Nguyễn Tuân ở vẻ hung bạo nơi mặt ghềnh Hát Loóng và vẻ đẹp gợi cảm như một cố nhân. - VĐNL phụ: sự khác biệt trong cách miêu tả từng vẻ đẹp của sông Đà THÂN BÀI 3.75 a. Khái quát tác giả tác phẩm (0,5) Tác giả: - Nguyễn Tuân là nhà văn có một phong cách nghệ thuật rất độc đáo: + Trước Cách mạng tháng Tám, phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân có thể thâu tóm trong một chữ "ngông", mỗi trang viết của ông đều muốn chứng tỏ sự tài hoa, uyên bác; mọi sự vật được tác giả miêu tả quan sát chủ yếu ở phương diện văn hoá, mĩ thuật. Ông chênh vênh giữa hiện tại, không nhiều niềm tin vào tương lai nên thường hướng mình về quá khứ, đi tìm cái đẹp của thời xưa còn vương sót lại, cái mà ông ưu ái gọi là “Vang bóng một thời.” + Sau Cách mạng tháng Tám, phong cách Nguyễn Tuân có những thay đổi quan trọng: Mặc dù ông vẫn tiếp cận thế giới, con người thiên về phương diện văn hóa nghệ thuật, nghệ sĩ nhưng giờ đây ông còn tìm thấy chất tài hoa nghệ sĩ ở cả nhân dân đại chúng chứ không chỉ ở những con người “đặc chủng đặc tuyển” như trước đây. Ông tìm thấy mối quan hệ giữa quá khứ - hiện tại và tương lai. Đồng thời, giọng văn trong người nghệ sỹ ấy cũng trở nên đôn hậu, tin yêu đến lạ thường. - Nguyễn Tuân là “hiện thân về định nghĩa người nghệ sỹ” (Nguyễn Đăng Mạnh). Đối với ông, văn chương trước hết phải là văn chương, nghệ thuật trước hết phải là nghệ thuật, và đã là nghệ thuật thì phải có phong cách độc đáo. Tác phẩm: - “Người lái đò Sông Đà” là bài tùy bút được in trong tập Sông Đà (1960). - Tác phẩm là kết quả của chuyến đi thực tế Tây Bắc của tác giả - vừa để thỏa mãn thú phiêu lãng vừa để tìm kiếm “chất vàng mười” của thiên nhiên và “chất vàng mười đã qua thử lửa” trong tâm hồn của những con người lao động - chiến đấu trên miền sông núi hùng vĩ và thơ mộng đó. 531


b. Khái quát về dòng sông Đà (0,25) Có thể phân tích lời đề từ của Nguyễn Quang Bích để dẫn dắt giới thiệu về dòng sông Đà. “Chúng thủy giai Đông tẩu – Đà Giang độc Bắc lưu” (Mọi dòng sông đều chảy về phía Đông, chỉ có sông đà là chảy theo hướng Bắc) - Nhà văn Nguyễn Tuân đã sử dụng hai câu thơ của Nguyễn Quang Bích làm lời đề từ; tuy ngắn gọn nhưng hàm ẩn nhiều ý nghĩa sâu sắc. Với việc sử dụng những câu thơ chữ Hán, tác giả đã tăng thêm tính trang trọng, đồng thời nhấn mạnh đến sự đặc biệt, khác thường của con sông Đà. Mọi con sông đều chảy về Đông như quy luật của tự nhiên, duy chỉ có con sông Đà chảy về phương Bắc như thể tự nó tạo nên một cuộc hành trình của riêng mình, không đi vào lối mòn của số đông cũng không chấp nhận sự sắp đặt từ tạo hóa. Từ “độc” được sử dụng vô cùng hiệu quả để thể hiện sự độc nhất, cá tính khác biệt của con sông. - Lời đề từ thể hiện được nét đẹp hoang sơ nhưng không kém phần độc đáo của sông Đà, đồng thời thể hiện sự mạnh mẽ của con sông khi chảy qua một vùng núi non hiểm trở như Tây Bắc chênh vênh đỉnh cao, núi đèo. ➜ Mặc dù lời thơ tuy không phải của Nguyễn Tuân nhưng lại được ông sử dụng rất đắt giá trong vị trí lời đề từ của bài tùy bút. Câu thơ ấy không chỉ bộc lộ được vẻ đẹp độc đáo, dữ dội của sông Đà mà còn vô cùng phù hợp với phong cách “ngông” của Nguyễn Tuân - một con người luôn tìm tòi cái mới, sáng tạo ra những gì chưa có bằng tài năng uyên bác, cá tính hơn người của mình. ➜ Con sông Đà hung dữ nhưng đồng thời cũng vô cùng thơ mộng ấy là nguồn cảm hứng mãnh liệt thôi thúc nhà văn Nguyễn Tuân khám phá, tìm tòi trong giai đoạn xây dựng kinh tế mới ở miền bắc. Sông Đà rộng lớn, hoang sơ ẩn chứa nhiều bí ẩn là mảnh đất màu mỡ để Nguyễn Tuân bộc lộ sự tài hoa của mình; bởi chính ông cũng là một “Đà giang độc bắc lưu” trên dòng chảy văn học Việt. c. Phân tích Sông Đà ở đoạn 1 (vẻ hung bạo, dữ dội ở mặt ghềnh Hát Loóng) – 1,0 Câu văn mở đoạn tham khảo: Đến quãng mặt ghềnh Hát Loóng, dường như sự hung bạo của con sông lại tăng thêm một bậc, không chỉ dừng lại ở việc gieo rắc cảm giác lạnh lẽo cho người qua khúc đó; mà còn có thể gây nên nguy hiểm trực tiếp tới ai dám “bén mảng” đến địa phận của nó. 532


- Quãng sông này dài tới hàng cây số ➜ từ “hàng” đã nhấn mạnh vào độ dài của quãng sông – gây nên những lo âu cho người qua khúc này. - Các sự vật thiên nhiên như đang giao tranh trực tiếp trong một cụm từ vừa sử dụng thủ pháp liệt kê, lại vừa có phép điệp vô cùng ấn tượng: “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió.” Đến từ ngữ của nhà văn cũng như xô vào nhau, vẽ nên trước mắt ta sự gập ghềnh của quãng sông – đồng thời đẩy nhịp văn lên cao, khiến ngôn từ như dồn dập, gấp gáp. - Hệ thống từ láy để khắc họa dòng chảy mạnh mẽ cuộn trào của con sông: cuồn cuộn, gùn ghè ➜ dường như, đây không chỉ là trạng thái tự nhiên của dòng chảy – mà còn là trạng thái tâm lý của con sông một mình một hướng ấy. Đó là trạng thái muốn tấn công, muốn đe dọa, muốn gây sự với con người. - So sánh “như lúc nào cũng đòi nợ xuýt” ➜ đòi người không mắc nợ mình ➜ vô lý, ngang ngược + “suốt năm” ➜ thói quen ➜ tính cách của dòng sông. ➜ Người cầm bút cũng đưa ra nhận định của mình, khẳng định quãng này không thể khinh suất, không được phép thiếu thận trọng bởi dòng sông thực sự nguy hiểm. d. Phân tích SĐ ở đoạn 2 (vẻ gợi cảm, trữ tình của một cố nhân) – 1,5 ◆ Dòng sông gợi cảm trong mắt kẻ “si tình”: - Nhà văn ưu ái dành một mĩ từ để nói về dòng sông, đó là “gợi cảm” – khắc họa vẻ quyến rũ, cuốn hút rất riêng của con sông Tây Bắc. Vẻ đẹp đó không phải một diện mạo đại trà, cũng không dừng lại chỉ ở nhan sắc bề ngoài, mà là một vẻ đẹp từ sâu bên trong. Bởi với mỗi người, “Sông Đà lại gợi một cách” – như một người thiếu nữ duyên dáng, tinh tế, khéo léo trong giao tiếp, đối nhân xử thế. - Đối với Nguyễn Tuân, cái “gợi” của dòng sông với ông là vẻ đẹp của một “cố nhân”. Từ “cố nhân” vốn được dùng để cất tiếng gọi thân thương, hoài niệm về một người quen cũ đã có vị trí quan trọng trong lòng ta, như tri âm – tri kỉ với câu chuyện của xúc cảm. Người đó như có một sợi dây kết nối mạnh mẽ, luôn thấu hiểu nỗi lòng của ta vậy… ➜ Việc sử dụng từ Hán Việt như một cách NT thiêng liêng hóa mối quan hệ giữa nhà văn với dòng sông, giữa thiên nhiên với con người. Phải chăng, qua góc nhìn ấy, nhà văn cũng ngầm nhắn gửi thông điệp với bạn đọc về thái độ, cách cư xử của ta với thiên nhiên? 533


- Nhà văn lồng ghép yếu tố tự sự một cách tự nhiên để giãi bày trải nghiệm của mình với bạn đọc, đưa độc giả bước chân vào trang viết. Ông kể lại về cuộc tái ngộ ấy một cách thật bình dị. Lúc đó, nhà văn quên khuấy đi mất là mình sắp gặp lại Sông Đà, vì thế cảm xúc càng thêm ngỡ ngàng, vỡ òa khi ánh nắng phản chiếu từ dòng sông ánh lên đôi mắt… Đó giống như là tâm trạng của ta khi bất ngờ được gặp một người thương cũ mà mình vẫn luôn ngóng đợi. Có lẽ vì thế mà ánh nắng hắt lên từ dòng sông càng trở nên đặc biệt. + Lúc đầu, ông so sánh thật bình dị, như cảm giác một đứa trẻ nghịch gương rồi bỏ chạy. + Nhưng dường như khi nhận ra cố nhân, cảm xúc của người cầm bút trở nên thật khác lạ. Ông liên tưởng màu nắng Sông Đà với nắng tháng ba trong thơ Đường ➜ nhấn mạnh vẻ đẹp cổ điển, thơ mộng, nhuốm màu thời gian của dòng sông – đẹp như những câu thơ Đường. ◆ Niềm vui khi gặp lại “cố nhân”: “Bờ Sông Đà, bãi Sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên Sông Đà… bẳn tính và gắt gỏng thác lũ ngay đấy.” - Câu văn đầu: Nhà văn sử dụng phép liệt kê – trải ra trước mắt bạn đọc những sự vật thiên nhiên quanh dòng sông ấy: đó là bờ, là bãi, là chuồn chuồn bươm bướm – những hình ảnh vô cùng bình dị, đời thường, nhưng lại được khắc họa một cách đầy rung động, xao xuyến… Nhịp điệu câu văn chậm rãi như thể người viết cũng đang từ tốn chiêm ngưỡng từng cảnh vật một, để thu vào trọn vẹn trong đôi mắt và trái tim hình bóng của “người thương”. ➜ Nhà văn viết kiểu câu đặc biệt như một cách để nhấn mạnh giá trị của từng sự vật bé nhỏ trong trái tim mình, để nâng niu – để chắt chiu – để trân quý từng đường nét tạo nên bức tranh Đà giang… - Để rồi sau đó, dòng chảy xúc cảm như miên man tuôn trào nơi đầu ngọn bút, bộc lộ niềm vui vỡ òa của cả người cầm bút lẫn dòng sông trong giây phút tái ngộ: + Thán từ “Chao ôi” dùng để bộc lộ cảm xúc một cách trực tiếp, có lẽ bởi nỗi lòng của nhà văn quá da diết, mãnh liệt, chẳng thể kìm nén… + 2 hình ảnh so sánh khắc họa một cách tinh tế, độc đáo, duyên dáng cảm xúc của cả con người và cả dòng sông: vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm: vui như nối lại chiêm bao đứt quãng: 534


➜ Nhân vật trữ tình đã chờ đợi khoảnh khắc tái ngộ tri kỉ của mình từ rất lâu rồi… - Nhà văn khẳng định cảm xúc hân hoan khi gặp lại “cố nhân” bằng hai từ láy toàn phần liên tiếp “đằm đằm ấm ấm”, nhấn mạnh những tình cảm dạt dào tha thiết mình dành cho Đà giang. Tình yêu ấy không phải chỉ là sự si mê nhất thời, không phải chỉ yêu những gì rực rỡ lộng lẫy, mà là nâng niu, trân quý toàn bộ những điều thuộc về cố nhân. Dẫu biết “người cố nhân ấy” không hoàn hảo, lắm bệnh lắm chứng, nhưng vẫn yêu thương vô cùng. Đó quả là một tình yêu đủ đầy, trọn vẹn – bởi yêu là bao dung, yêu là chấp nhận, yêu là thấu hiểu mọi điều. e. Lý giải sự khác biệt trong cách miêu tả ở hai đoạn (0,5) Lưu ý: Đề yêu cầu LÝ GIẢI – chứ không chỉ PHÁT HIỆN, vì thế học sinh không chỉ chỉ ra những sự khác biệt trong nghệ thuật, mà còn cần phân tích và giải thích được nguyên nhân của sự khác biệt ấy. - Sự khác biệt: (0,25) + Khi miêu tả Sông Đà hung bạo, nhà văn sử dụng nhiều động từ mạnh, từ ngữ trùng điệp, ý văn dồn dập để nhấn mạnh sự chủ động, dữ dội của đá, của nước – đồng thời tạo cảm giác lo lắng cho người đọc. + Khi khắc họa dòng sông dịu dàng, thơ mộng, cây bút lại sử dụng nhiều từ Hán Việt để trang trọng hóa đối tượng, lối so sánh rất tình, lối văn nhẹ nhàng, câu văn dài như bộc lộ những tình cảm tha thiết, say mê dành cho dòng sông ➜ từ đó đem đến cảm giác êm ái, dịu dàng nơi độc giả. - Nguyên nhân cho sự khác biệt ấy: (Lý giải) – 0,25 + Nhà văn lựa chọn lời văn, giọng văn phù hợp với từng tính chất riêng của dòng Đà giang cá tính. Giọng văn mạnh mẽ ngang tàng khi miêu tả về sông Đà hung bạo; và giọng văn dịu dàng nhẹ nhàng khi nói về một “cố nhân” Đà giang rất đỗi nên thơ. + Chính sự khác biệt trong cách miêu tả ấy lại một lần nữa khẳng định sự điêu luyện trong ngòi bút của nhà văn Nguyễn Tuân cũng như nỗ lực khám phá và thấu hiểu dòng chảy mà ông say mê chân thành. KẾT BÀI. Khẳng định VĐNL. 535


ĐỀ LUYỆN Đề 1 Đề 2 Đề 3 Đề 4 Đề 5 Đề 6 Đề 7 Đề 8 Đề 9 Đề 10 Đề 11 Đề 12


PHẦN IV: ĐỀ LUYỆN 12 ĐỀ HOÀN CHỈNH THAM KHẢO Đề được soạn theo cấu trúc của đề thi THPTQG – xu hướng mới nhất năm 2024. Học sinh tham khảo hướng dẫn và biểu điểm để tự mình đánh giá quá trình tự luyện và củng cố thêm kĩ năng làm bài, mở rộng lăng kính – cảm nhận của bản thân. Chúc các bạn luyện đề hiệu quả! BIỂU ĐIỂM CHUNG THAM KHẢO ĐOẠN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI: 0.25 hình thức (trình bày đúng đoạn văn, không quá dung lượng, không sai ngữ pháp và chính tả) 0.25 sáng tạo (học sinh đưa được ý kiến hay hoặc diễn đạt rất tốt) 1.5 – triển khai lập luận – chấm dựa trên bài làm cụ thể - Học sinh giới thiệu được đúng VĐNL –tập trung VĐNL, ko lạc đề, lan man: 0,25 - Học sinh giải thích được vấn đề: 0,25 - Học sinh bàn luận được về ý kiến: 0,5 lý lẽ 0,25 dẫn chứng thực tế - Hiện trạng, giải pháp và liên hệ bản thân không bắt buộc – là gợi ý để học sinh tham khảo hoàn thiện bài viết. Nếu bài viết còn “nông”, người chấm có thể khuyên học sinh bổ sung thêm để đoạn văn hoàn chỉnh, trọn vẹn hơn. Đặc biệt, nên liên hệ bản thân ở kết đoạn để bài viết có tính chiêm nghiệm cá nhân và mềm mại hóa lập luận. ➜ Tổng điểm: 2,0 BIỂU ĐIỂM CHUNG THAM KHẢO BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC: - Sáng tạo: 0.5 Học sinh có phân tích hay hoặc liên hệ mở rộng phù hợp hoặc diễn đạt rất lưu loát, ấn tượng. - Hình thức: 0.25 Trình bày đúng hình thức bài tập làm văn, không sai ngữ pháp và chính tả. - Bài viết xác định đúng VĐNL, tập trung vào VĐNL 0,25 - Mở bài Kết bài đạt yêu cầu: 0,25 – Thân bài 3,75 ➜ Tổng điểm: 5,0 554


- Trong phần triển khai của hướng dẫn chỉ gạch ý chính. Học sinh có thể tham khảo thêm các phần phân tích tác phẩm trong sách này để có thêm gợi ý chi tiết phần phân tích từng đoạn trích đề cho. ĐỀ 01 PHẦN ĐỌC HIỂU Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi: “Rất nhiều người đều đã từng xem múa rối. Mỗi con rối đóng một vai trò khác nhau, gương mặt biểu cảm, cử chỉ sống động như thật. Nếu nhìn kỹ sẽ thấy những con rối bị những sợi dây mảnh điều khiển. Mỗi biểu cảm, mỗi động tác của nó đều bị đôi tay mà chúng ta không nhìn thấy khống chế. Trên sân khấu cuộc đời, chẳng phải rất nhiều người cũng giống chúng sao? Chúng ta không biết mình đang làm những gì, không biết vì sao làm như vậy, nhưng không dừng lại được, giống như để mặc cho đôi tay vô hình sắp đặt. Tôi nghĩ trong lòng mỗi người chúng ta đều có bóng dáng lý tưởng của mình, nhưng tại sao chúng ta cứ làm những chuyện không thể khiến bản thân vui vẻ, bản thân không muốn làm nhưng lại không thể không làm? Bạn biết vì sao không? Bạn đã từng hỏi vì sao mình lại làm như vậy không? (…) Trong cuộc đời, chúng ta luôn chạy về hướng đám đông chứ không phải là hướng của mình. Chúng ta cứ đi theo bước chân của người khác như thế, chạy ngược chạy xuôi về phía đám đông. Cuối cùng, tiền không kiếm được mà việc mình muốn làm cũng không làm được. Nếu chúng ta có thể chú tâm vào việc mình muốn làm, cộng với tinh thần và sức lực chúng ta dùng để chạy theo người khác thì chúng ta cũng có thể được thành công. Liệu chúng ta đã từng nghĩ vì sao mình lại bị nhấn chìm trong đám đông không thể thoát ra được chưa? Lẽ nào chúng ta thực sự không biết mình muốn gì, muốn làm cái gì sao? Tôi nghĩ mỗi chúng ta đều có thứ mình muốn và việc mình thích làm. (Trích Tìm lại cái tôi đã mất cứu vãn cuộc đời không vui vẻ - Trình Chí Lương, Nxb Văn học, tr.160-161) Câu 1. Xác định các phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích. Câu 2. Theo tác giả, kết cục của việc “luôn chạy về hướng đám đông chứ không phải hướng của mình” là gì? Câu 3. Theo anh/chị, hình ảnh “con rối” trong đoạn trích có ý nghĩa gì? Câu 4. Anh/chị hiểu gì về ý kiến: Trong cuộc đời, chúng ta luôn chạy về hướng đám đông chứ không phải là hướng của mình.? 555


PHẦN LÀM VĂN. Câu 1. Theo anh/chị, làm thế nào để ta có thể “chạy về hướng của mình” giữa bộn bề phức tạp của cuộc sống? Hãy chia sẻ suy nghĩ của bản thân bằng một đoạn văn khoảng 200 chữ. Câu 2. Cho đoạn thơ sau: “Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời! Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi” (Trích “Tây Tiến” – Quang Dũng) Anh/chị hãy cảm nhận về đoạn thơ trên, từ đó nhận xét về vẻ đẹp của người lính Tây Tiến. HƯỚNG DẪN: (Biểu điểm sẽ có sự vận động theo từng năm, từng đề - học sinh tham khảo) PHẦN ĐỌC HIỂU. Câu Hướng dẫn Điểm 1 Các phương thức biểu đạt được sử dụng: nghị luận, miêu tả. 0.5 2 Theo tác giả, kết cục của việc “luôn chạy về hướng đám đông chứ không phải hướng của mình” là tiền không kiếm được mà việc mình muốn làm cũng không làm được. 0.5 556


3 - Chỉ ra đặc điểm của con rối được nêu ra trong đoạn trích “Những con rối bị những sợi dây mảnh điều khiển. Mỗi biểu cảm, mỗi động tác của nó đều bị đôi tay mà chúng ta không nhìn thấy khống chế.” - Ý nghĩa của hình ảnh + Hình ảnh “con rối” tượng trưng cho những người thiếu chính kiến, luôn nghe theo ý kiến người khác hoặc chạy theo đám đông, chịu sự sắp đặt của những bàn tay vô hình. + Hình ảnh này thôi thúc mỗi chúng ta nhìn nhận lại bản thân mình: mình có đang sống như vậy hay không? Từ đó, tác giả khơi gợi khao khát được làm chủ cuộc sống của mình bên trong mỗi người. 0.25 0.75 4 - Giải thích ngắn gọn ý kiến Tác giả nói về thái độ “luôn chạy về hướng đám đông” của những người không có chủ kiến, dễ chịu sự tác động của môi trường xung quanh, không tìm được “hướng của mình”. - HS nêu được cách hiểu của bản thân. VD tham khảo: + Xu hướng của đám đông chưa chắc đã phù hợp với bản thân mình, sự lựa chọn của phần lớn mọi người chưa chắc đã là điều bạn đang tìm kiếm. + Mỗi người cần tự xác định được cho mình “hướng của mình”, biết mình mong muốn điều gì và nỗ lực hướng về điều đó. 0.25 0.75 557


PHẦN LÀM VĂN. Câu 1. Theo anh/chị, làm thế nào để ta có thể “chạy về hướng của mình” giữa bộn bề phức tạp của cuộc sống? Hãy chia sẻ suy nghĩ của bản thân bằng một đoạn văn khoảng 200 chữ. - VĐNL: làm thế nào để “chạy về hướng của mình” ➜ phần bình luận cần thiên về GIẢI PHÁP - Dạng đề: Tư tưởng đạo lý - Gợi ý tham khảo: + Học sinh giới thiệu được đúng VĐNL (Cách thức để ta “chạy về hướng về của mình”) + Học sinh giải thích được VĐNL VD: “Chạy về hướng của mình” nghĩa là tìm cho bản thân một lộ trình riêng, một đích đến riêng, một con đường riêng để nỗ lực theo đuổi – thay vì chạy theo xu hướng của đám đông trong hoang mang, lạc lối. + Học sinh bình luận được VĐNL: làm thế nào để “chạy về hướng của mình”? VD: + Tìm hiểu bản thân, dành thời gian riêng cho mình - thường xuyên đối thoại với mình để khám phá những mong muốn bên trong. + Trải nghiệm nhiều điều để biết mình thích gì, phù hợp với điều gì. + Không nên so sánh với những người xung quanh quá nhiều vì sẽ khiến bản thân dễ lạc lối, lung lay. …. + Trong bài có 1 dẫn chứng thực tế phù hợp VD: Dù xuất thân ở một vùng quê nghèo khó, nơi các cô gái trẻ khác sẽ chỉ lấy chồng, sinh con, cô gái Đắk Lắk H’Hen Niê vẫn quyết tâm đi theo “hướng của mình”, nỗ lực hoàn thiện bản thân để trở thành chủ nhân của chiếc vương miện danh giá Hoa hậu Hoàn vũ Việt Nam. 558


Câu 2. MỞ BÀI - Giới thiệu được tên tác giả, tên tác phẩm cần phân tích. - Giới thiệu được đoạn trích cần phân tích và yêu cầu phụ của đề (“vẻ đẹp của người lính Tây Tiến”). MB cơ bản, đủ ý, học sinh đọc tham khảo: Thời kì chiến tranh, văn học tập trung khắc họa hiện thực đau thương nơi khói lửa đạn bom, đồng thời đem đến hình tượng những người lính hào hùng, kiên cường, bất khuất – luôn sẵn sàng đối diện với khó khăn và vươn lên vì lý tưởng cao đẹp. Những chàng trai trong thi phẩm “Tây Tiến” cũng mang trong mình phẩm chất như thế. Qua ngòi bút hòa quyện giữa bút pháp hiện thực và cảm hứng lãng mạn của người nghệ sĩ đa tài Quang Dũng, vẻ đẹp ấy càng được khắc ghi sâu sắc hơn trong tâm hồn bạn đọc. Đặc biệt ở đoạn thơ: “Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời! Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi” Gợi ý tham khảo phần thân bài: a. Khái quát tác giả tác phẩm (0.5) Tham khảo phần khái quát ở đề 01 - phần 05 đề nghị luận văn học phía trên. b. Phân tích đoạn thơ: 2,5 LUẬN ĐIỂM 01 Chân dung người lính trong 4 câu thơ đầu đoạn trích (1,75) “Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người” 559


- Hình ảnh người lính được khắc họa vô cùng chân thật và đầy cảm xúc: (1,0) + Từ “anh bạn” vang lên thật thân thương, bình dị mà ấm áp. Nhà thơ không chỉ coi những chàng trai Tây Tiến là những người đồng đội trong cùng một binh đoàn, mà thực sự - với đại đội trưởng QD, họ thực sự là bạn, là chiến hữu, là anh em trong một gia đình. + Nhà thơ sử dụng tính từ “dãi dầu” khắc họa sự nhọc nhằn, vất vả của những người lính – kết hợp với ba chữ “không bước nữa” gợi lên nhiều cách hiểu. Đó có thể là hình ảnh người lính dừng lại nghỉ ngơi trên con đường dài nhiều thử thách. Nhưng đó cũng có thể là điểm dừng chân mãi mãi của nhiều chàng trai trẻ… + Tuy nhiên, dẫu có phải bỏ mạng nơi chiến trường khốc liệt, tư thế hy sinh của những người lính vẫn thật anh dũng, kiên cường. Động từ “gục” kết hợp với ba chữ đầy khảng khái “bỏ quên đời” cho ta thấy rõ sự chủ động, bất khuất của những người lính trẻ. Họ có thể ra đi, nhưng điểm tựa của họ vẫn là “súng mũ” – là những lý tưởng lớn lao cao đẹp vì Tổ quốc. Lý tưởng ấy sẽ mãi mãi ở lại với non sông, với quê hương xứ sở mà họ thương yêu vô cùng. - Không gian núi rừng ẩn chứa nhiều hiểm nguy: (0.75) + Tác giả sử dụng từ láy toàn phần để khắc họa thời gian: “chiều chiều”, “đêm đêm” – tạo nên một vòng tuần hoàn lặp đi lặp lại, chiều nào cũng thế và đêm nào cũng vậy. + Hình ảnh “thác gầm thét” – “cọp trêu người” là những khó khăn đe dọa người lính từ chốn rừng thiêng. Đó là những thanh âm vang dội cả núi rừng – như “gầm” như “thét” bên tai con người. Đó là những loài thú dữ có thể tấn công bất cứ lúc nào, như đang vờn – đang chơi đùa với chính nỗi sợ hãi của con người. + Hai chữ “Hịch cọp” với hai thanh nặng liên tiếp như tạo nên tiếng bước chân chắc nịch của thú dữ chốn rừng sâu. Giữa không gian tĩnh mịch chìm trong đêm tối, chỉ có ánh sáng bàng bạc của trăng trên trời, chỉ có tiếng lá xào xạc rất khẽ và tiếng thở kín đáo của những người lính hành quân – từng âm thanh của thiên nhiên đều trở nên thật đáng sợ. Thế nhưng những người lính vẫn bình tĩnh và kiên cường vượt qua tất cả. LUẬN ĐIỂM 02: Tình cảm quân dân khăng khít, bình dị (0,75) “Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi” 560


Đoạn thơ khép lại với tình cảm quân dân ấm áp mà những người lính Tây Tiến và người dân Tây Bắc dành cho nhau. - Câu thơ bắt đầu với từ cảm thán “Nhớ ôi”, qua đó bộc lộc cảm xúc trực tiếp của người cầm bút – nhấn mạnh nỗi nhớ da diết như bật thành một tiếng gọi của những người lính, hướng về bản làng, hướng về những người dân, hướng về những kỉ niệm bình dị mà họ đã có được trên con đường hành quân nhiều trắc trở. - Nỗi nhớ của họ không bao gồm những điều lớn lao, vĩ đại, mà chỉ đơn thuần là những điều bé nhỏ vô cùng. Đó là “cơm lên khói”, đó là hương vị “thơm nếp xôi”. Chính những bữa ăn thân thương ấy đã xoa dịu tâm hồn của những chàng trai, giúp họ được nghỉ ngơi, được chăm sóc, được sống trong không khí ấm áp như một gia đình. - Lại một lần nữa, tên địa danh trên con đường hành quân lại được nhắc đến một cách thân thương vô bờ. Mai Châu, không chỉ còn là một địa điểm trên bản đồ địa lý, mà còn được “định vị” bởi những xúc cảm nồng nàn trong trái tim người lính. Tấm bản đồ đầy thương nhớ - họ gửi gắm trọn vẹn trong từng bước chân, trong từng địa điểm mà họ đã đi qua suốt những ngày dài. Tất cả những nơi ấy đã trở thành một phần trong tâm hồn người lính, như nhà thơ Chế Lan Viết đã từng ở: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở - Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”. - Nhà thơ đã có một sự sáng tạo vô cùng duyên dáng khi lấy con người để định nghĩa cho dòng chảy thời gian: “mùa em”. Tác giả tự tạo nên một mùa mới mang tên em, ghi dấu nụ cười em, thướt tha trong hình bóng của những cô gái miền sơn cước. a. Nhận xét yêu cầu phụ (0,5) Vẻ đẹp người lính Tây Tiến HS nhận xét những nét đẹp trong hình tượng người lính Tây Tiến thể hiện ở đoạn thơ trên: - Vẻ đẹp kiên cường, hào hùng + Dũng cảm, gan dạ, không sợ khó khăn, không lùi bước trước những thử thách khắc nghiệt trên con đường hành quân – kể cả cái chết cũng không làm cho họ lung lay tinh thần + Tấm lòng trọn vẹn dành cho lý tưởng cao đẹp của đất nước + Bên cạnh đó, họ vẫn giữ cho mình những nét đẹp hào hoa, lãng mạn, giàu cảm xúc ● Dành tình cảm chân thành, nồng ấm cho nhân dân 561


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Lã Thị Bắc Lý, Phan Thị Hồng Xuân, Nguyễn Thị Thu Nga, Giáo trình Tiếng Việt và Tiếng Việt thực hành, 2013, NXB Đại học Sư phạm. 2. Nguyễn Thị Ly Kha, Dùng từ, viết câu và soạn thảo văn bản, 2017, NXB Giáo dục Việt Nam. 3. Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển Tiếng Việt, 2004, NXB Khoa học xã hội. 4. Diệp Quang Ban, Ngữ pháp Tiếng Việt, 1998, NXB Giáo dục. 5. Lê A, Đỗ Xuân Thảo, Giáo trình Tiếng Việt 1 (Giáo trình đào tạo Cử nhân Giáo dục Tiểu học), 2021, NXB Đại học Sư phạm. 6. Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên), Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết, Dẫn luận ngôn ngữ học, Tái bản 2022, NXB Giáo dục Việt Nam. 7. Bùi Minh Toán, Giáo trình Dẫn luận Ngôn ngữ học, 2023, NXB Đại học Sư phạm. 8. Bùi Đức Minh, Cái “tôi” của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong “Ai đã đặt tên cho dòng sông”, Đại học Sư phạm Hà Nội 2. 9. Tôn Ngọc Minh Quân, “Sóng”, Acdemia.edu. 10. Sương Mai, Kỹ Năng Nghị Luận Xã Hội, 2022 11. Sương Mai, Kỹ Năng Nghị Luận Văn Học, 2022 12. Sương Mai, Mở Hay Kết Đẹp, 2022 13. Bài làm từ các bạn học sinh trong các khóa 2K3 - 2K6 của Học Văn cô Sương Mai. 659


Click to View FlipBook Version