Và biểu đồ bên dưới là mua ở vùng Discount Price:
Sự hiệu quả và không hiệu quả (Efficiency and Inefficiency) và vùng mất cân bằng (Imbalance) Như chúng ta đã thảo luận trước đó, BFI đặt các khối lệnh nhỏ để di chuyển thị trường theo hướng mà họ mong muốn. Nhưng đôi khi những dãy lệnh này nhỏ trong khi thị trường di chuyển thì tạo ra nhiều khối lệnh và khai thác chúng gần như ngay lập tức sau đó, tạo đủ hoặc tương đương các cơ hội mua bán trên thị trường và chúng ta gọi đó là thị trường hiệu quả (Efficient Market). Đôi khi các khối lệnh lớn được đặt và di chuyển thị trường theo một hướng, tạo ra sự mất cân bằng trong cung cầu, và điều này ta gọi đó là không hiệu quả (Inefficiency). Đây là những vùng giá cho thấy có nhiều người mua hơn người bán hoặc ngược lại. Và đôi khi thị trường có thể sẽ lấp đầy những khu vực kém hiệu quả này ngay sau đó. Vùng mất cân bằng (Imbalance) Chính là một dạng kém hiệu quả được hình thành khi có lượng người mua và người bán mất cần bằng, khiến thị trường di chuyển nhanh chóng theo một hướng. Vì những khu vực này có sự mua bán không cân bằng, giá quay trở lại để tạo ra thêm các cơ hội mua bán khác để đưa thị trường trở lại trạng thái cân bằng. Như hình bên dưới thể hiện sự mất cân bằng cung cầu của vùng giá không hiệu quả:
Và biểu đồ dưới là ví dụ về thị trường hiệu quả:
Mitigation Khi BFI tạo ra một phạm vi nơi có cơ hội mua bán ngang nhau trên thị trường, và điều này được dùng để tạo nên tính thanh khoản cho cả 2 bên. Trước khi thị trường phá vỡ khỏi phạm vi và di chuyển về một hướng chúng ta sẽ thấy một chuỗi đơn hàng cuối cùng thường được đặt theo hướng ngược lại với hướng mà giá thoát ra khỏi phạm vi đi ngang. Ví dụ như hình bên dưới ta thấy một loạt các đơn hàng được bán ra liên tục, xếp chồng lên nhau trước khi một đợt tăng giá mạnh xuất hiện: Các hình chữ nhật màu hồng nhạt thể hiện những đơn hàng bán ra đẩy giá xuống thấp hơn để có được những vùng giá Discount cho BFI mua vào. Và ô vuông màu xanh thể hiện một lệnh mua lớn được thực hiện ở vùng Discount Price. Tương tự ngược lại với những động thái bán ra của BFI tại vùng Premium Price:
Như bạn có thể thấy, sau khi một lệnh mua hoặc bán lớn được đặt. Thì sẽ có một loạt lệnh nhỏ được hình thành trước đó. Và quá trình đưa giá trở lại những vùng trước khi thị trường tăng hoặc giảm mạnh để đóng những lệnh trước đó thì ta gọi đó là Mitigation. Và một đợt giá tăng hoặc giảm mạnh khác sẽ được đặt tại đó để tiếp tục đưa giá theo hướng mà họ muốn. Tại sao điều này lại quan trọng? Bởi vì chúng ta có thể sử dụng kỹ thuật này để xem BFI đặt các đơn hàng của họ ở đâu và lần theo dấu vết của họ. Như vậy chúng
ta sẽ biết được vùng giá tiếp theo mà họ sẽ khai thác hay (mitigate) ở đâu để lên chiến lược giao dịch. Return to zone (Trở lại vùng giá) Anh em nhìn biểu đồ bên dưới: Thị trường hình thành một vùng giá đi ngang, tạo được vùng order block (vùng màu hồng), sau đó giá giảm mạnh thoát khỏi vùng này. Giai đoạn tiếp theo khi giá hồi về khai thác khối order block này chính là giai đoạn mitigation. Giá vượt đến gần cạnh trên của order block để khải thác nó và sau đó quay trở lại theo hướng mà thị trường muốn. Tương tự như biểu đồ bên dưới cũng vậy:
Vậy thì làm cách nào để chúng ta bắt được những động thái này? Các bạn nhìn hình minh họa cho lệnh bán tại khối order block giảm giá bên dưới: Đối với một vùng cung cầu, chúng ta sẽ di chuyển về khung thời gian thấp hơn để tinh chỉnh (refinement) thành một khối order block, thể hiện khối đơn hàng cuối cùng của BFI.
Sau đó chúng ta đặt lệnh sell limit tại khối order block đó và chờ cho giá chạm vào đó. Với mục tiêu là ở đáy trước đó. Và ngược lại với giao dịch mua: Lý thuyết Liquidity và Inducement Liquidity Liquidity (thanh khoản) về cơ bản là yếu tố thúc đẩy thị trường. Để thị trường Forex hoạt động thì cần một lượng lớn tiền được bơm hoặc đưa vào thị trường dưới dạng lệnh. Lệnh dừng lỗ và lệnh chờ ở trên các vùng đỉnh đáy hoặc 2 đỉnh 2 đáy. Một mức giá được thiết lập trên thị trường nơi mà có nhiều lệnh chờ và lệnh dừng được đặt thì ta gọi đó là nhóm thanh khoản, là các khu vực mà BFI nhắm đến, vì họ cần tìm kiếm thêm thanh khoản để hỗ trợ cho các đơn đặt hàng lớn của mình,. Các mô hình phổ biến được tạo ra trong thị trường hối thường trở nên không được an toàn khi sử dụng để giao dịch vì chúng trở thành nơi mà hầu hết các nhà giao dịch thường tập trung vào, từ đó tạo ra các vùng thanh khoản cho các tổ chức lớn. Rất nhiều mô hình biểu đồ được hình thành trong thị trường trở nên rất dễ phát hiện và giao dịch trong lần thử đầu tiên hoặc lần thứ 2. Đó là lý do tại sao chúng ta không giao dịch các mô hình biểu đồ vì đối với chúng ta nó không nhất quán và khó có thể nắm bắt được chúng.
Anh em nhìn các trường hợp mô hình có thể trở thành mục tiêu lấy thanh khoản của BFI: Và trong biểu đồ thực tế:
Inducement Inducement hay còn được gọi là các vùng thu hút, nó hình thành trong trường hợp mà thanh khoản được hình thành trong thị trường. Vùng thu hút là yếu tố cần thiết khi thị trường hoạt động dựa trên tính thanh khoản và nó thường bị thu hút bởi những vùng giá có thanh khoản. Vậy thì inducement có ích gì cho chúng ta? Trong trường hợp cấu trúc thị trường khi mà đỉnh không phá vỡ được đáy thì ta xác định mức đỉnh đó là một đỉnh yếu và nó có thể thu hút giá, khả năng cao có thể khiến giá tăng cao hơn. Và điều này cũng tương tự như với một đáy yếu. Đây cũng là cách mà chúng ta có thể xác định được một đỉnh đáy là yếu (vùng thu hút) hoặc mạnh. Các đỉnh đáy mạnh được biết đến như những đỉnh đáy được bảo vệ và các đỉnh đáy yếu thì được biết đến như các đỉnh đáy mục tiêu. Một loạt các đỉnh đáy không được hình thành ở khối lệnh (order block) trong quá trình khai thác (mitigation), thì các đỉnh đáy đó trở thành những vùng thu hút (inducement) và chúng không phải là một thành phần của quá trình khai thác. Nó có thể giúp chúng ta trong việc lựa chọn POI (điểm xem xét) và xây dựng được xác suất vùng nào có thể giữ và vùng nào thì không.
Như biểu đồ bên dưới: Chúng ta có thể thấy các đáy yếu là những đáy trở thành các vùng dẫn dụ. Kỳ vọng của dòng tiền Đây là việc xây dựng nhiều xác suất về thanh khoản cũng như cấu trúc thị trường, dòng tiền để có thể kết luận được nơi mà giá có thể tìm đến tiếp theo. Điều này rất cần thiết trong việc hiểu hướng giá đi trong ngày, giúp bạn xác định những vùng giá chính để thực hiện tốt nhất các giao dịch trong ngày đó. Ví dụ như trong một xu hướng tăng giá, ta ta sẽ tiếp tục mua cho đến khi chu kỳ tăng giá cạn kiệt. Các bạn nhìn biểu đồ bên dưới:
Phía bên trái biểu đồ hình thành một vùng cầu mạnh, sau đó giá di chuyển từ vùng cung xuống vùng cầu này. Chúng ta thấy những vùng cầu tiếp đó được hình thành đã giữ được giá và thị trường liên tục khai thác vùng cầu này bằng cách xây dựng thanh khoản theo hướng giảm giá. Tương tự phía bên phải biểu đồ chúng ta thấy, những ô màu hồng thể hiện các vùng cung được hình thành, chúng giữ được giá và thị trường liên tục khai thác vùng này xây dựng thanh khoản theo hướng tăng giá. Nhìn vào vùng cung cầu, và cách thị trường xây dựng thanh khoản và khai thác một vùng giá chúng ta có thể xác định được dòng tiền của thị trường đang đi về hướng nào. Điểm vào lệnh Có một vài mô hình vào lệnh theo smc, tuy nhiên chủ yếu là chúng ta sẽ tập trung vào tín hiệu BOS (phá vỡ cầu trúc) và CHoCH (Change of Character – Sự thay đổi đặc tính) và Flips. Chúng ta sẽ học cách xác định và sử dụng chúng để giao dịch. CHoCH
CHoCH hay Change of Character, đây là tín hiệu đầu tiên cho thấy xu hướng có sự thay đổi. Điều này chủ yếu xảy ra ở vùng cung cầu trên khung thời gian lớn. Chúng ta sử dụng tín hiệu này để bắt kịp xu hướng mới ngay từ đầu, đưa ra quyết định với tỷ lệ RR tốt hơn. Anh em nhìn hình minh họa CHoCH bên dưới:
Có thể thấy ChoCH chính là tín hiệu phá vỡ đỉnh gần nhất (trong xu hướng giảm) hoặc phá vỡ đáy gần nhất (của xu hướng tăng). Các bạn nhìn biểu đồ bên dưới: Cây nến giảm cuối cùng trước đợt tăng phá vỡ đỉnh gần nhất chính là vùng cầu gần nhất. Những lệnh mua cuối cùng được thực hiện trước khi giá phá vỡ vùng này. Hoặc như hình bên dưới:
Flips Flips (mình tạm dịch là vùng hoán đổi nhé), nói đơn giản Flips là khi giá phản ứng với một vùng cung cầu và sau đó phá vỡ nó gần như ngay lập tức và đi ra xa khỏi vùng này. Thì những vùng cung cầu mới được hình thành trong quá trình phá vỡ vùng cung cầu cũ được gọi là Flips. Anh em nhìn hình bên dưới:
Chúng ta thấy ở hình này, trước tiên giá về phản ứng với vùng cầu trước tiên, sau đó phá vỡ vùng cầu này ngay sau đó. vùng cung phá vỡ vùng cầu hoặc đáy trước đó sau khi phản ứng từ vùng cầu chúng ta gọi đó là Flips. Vùng màu hồng chính là Flips. Tương tự với vùng cung nhé anh em: Anh em nào vẫn chưa hiểu thì có thể nhìn hình bên dưới:
Khá đơn giản đúng không ạ, nhưng tốt nhất chúng ta nên luyện tập để nhận biết được những vùng này tốt hơn nhé. Mô hình vào lệnh Dưới đây là mô hình vào lệnh đơn giản để có thể áp dụng vào thực tế giao dịch trong bất cứ khung thời gian nào. Những gì xảy ra ở khung thời gian thấp hơn cũng đều xảy ra ở khung thời gian lớn, đó là lý do mô hình này hoạt động với mọi khung thời gian mà bạn chọn. Các bạn nhìn hình bên dưới: Ở trên khung thời gian lớn chúng ta sử dụng thân nến để xác định những cú phá vỡ cấu trúc (BOS) và CHoCH mạnh trên khung thời gian này. Điểm vào lệnh của chúng ta sẽ là khung thời gian thấp hơn khi có sự phá vỡ cấu trúc đồng dạng với cấu trúc của khung thời gian lớn.
Điểm dừng lỗ cho các điểm vào lệnh là bên dưới những vùng kém hiệu quả (Ineffeciency) và bên dưới các đuôi nến đối với tín hiệu mua và ngược lại. Cấu trúc nâng cao Thị trường di chuyển theo các giai đoạn trong đó là các giai đoạn thị trường có xu hướng hoặc không có xu hướng. Khi chúng ta giao dịch thì sẽ tập trung vào trong giai đoạn thị trường có xu hướng. Bạn có thể đi theo con sóng đẩy (pro trend) hoặc giao dịch theo xu hướng của con sóng hồi (counter trend). Dù bạn lựa chọn cách thức giao dịch nào thì bạn cũng phải tìm cấu trúc thị trường và nương theo nó để giao dịch. Hình bên dưới là đánh dấu đơn giản nhất về điều kiện thị trường có xu hướng: Như chúng ta thấy thị trường tạo cấu trúc đỉnh đáy sau thấp hơn đỉnh đáy trước thể hiện thị trường đang có cấu trúc giảm giá. Nếu chúng ta giao dịch theo những đợt sóng giảm, thì gọi là bạn đang đi theo xu hướng chính (pro trend) để giao dịch. Nếu bạn giao dịch ở giai đoạn giá điều chỉnh thì gọi là bạn đang giao dịch theo counter trend.
Nếu giao dịch theo cấu trúc thị trường chính thì bạn sẽ tiếp tục bán cho đến khi nào đỉnh mạnh trong cấu trúc giảm hiện tại này bị phá vỡ. Chỉ có khi nào đỉnh quan trọng trong cấu trúc giảm bí phá thì chúng ta xác định cấu trúc đã thay đổi từ giảm qua tăng. Như biểu đồ bên dưới thì chúng ta thấy được cấu trúc thị trường là tăng giá khi các đỉnh yếu trong cấu trúc liên tục bị phá vỡ để tạo đỉnh cao hơn. Và trong điều kiện thị trường này thì chúng ta sẽ chỉ canh mua cho tới khi nào mà đáy mạnh trong cấu trúc bị phá vỡ, lúc đó chúng ta mới chuyển hướng xác định cấu trúc thị trường chuyển qua giảm giá: Trong một cấu trúc tăng giá, chúng ta sẽ thấy thị trường mở rộng về hướng tăng giá mạnh hơn, việc mua vào sẽ thuận lợi hơn cho chúng ta hơn là việc bán ra. Vì những đợt giảm thực tế là những đợt giá điều chỉnh. Như hình bên dưới bạn có thể thấy được điều này:
Tương tự, trong cấu trúc giảm giá cũng như vậy: Chúng ta thấy thị trường mở rộng về hướng giảm giá nhiều hơn, chúng ta bán ra trong điều kiện này sẽ có lợi hơn cho chúng ta rất nhiều hơn là việc mua vào.
Anh em có thể hiểu đơn giản là thị trường di chuyển từ vùng giá này đến vùng giá khác. Tích lũy tại vùng cầu và phân phối tại vùng cung. Với khái niệm này, chúng ta có thể hiểu được rằng, một đợt tăng giá bắt đầu tại một vùng giá giảm thiểu (mitigation) tạo ra một vùng cầu và tương tự một đợt giảm giá sẽ bắt đầu khi nó quay trở về khai thác lại vùng cung trước đó hoặc tạo ra một vùng cung. Tất cả các chuyển động trong khung thời gian cao hơn đều do chạm vào vùng cung hoặc vùng cầu, đây là lý do vì sao mà việc đánh dấu vùng cung cầu của bạn từ khung thời gian lớn là lý tưởng nhất. Tín hiệu mitigation ở khung thời gian lớn sẽ là tín hiệu tiếp diễn ở khung thời gian thấp hơn. Hình bên dưới là một ví dụ bề thị trường tăng giá đến các vùng cung (vung màu hồng) hoạt động như một chất xúc tác cho tín hiệu thị trường bắt đầu cú điều chỉnh: Biểu đồ thực tế:
Tương tự về cấu trúc giảm giá, thị trường giảm xuống chạm vào vùng cầu như một chất xúc tác để bắt đầu sự điều chỉnh: Biểu đồ thực tế:
Kết hợp tất cả những điều này lại với nhau, bạn có thể mường tượng được phương hướng giao dịch của chúng ta đó là sẽ tham gia vào một động thái trên thị trường bằng cách bán ở vùng cung hoặc mua từ vùng cầu. Trong cấu trúc tăng giá, chúng ta xác định đáy mạnh và đỉnh yếu. Sau đó đánh dấu vùng cầu trong đợt tăng giá gần nhất kèm theo sự phá vỡ cấu trúc. Việc còn lại là chờ giá hồi về vùng cầu đó và giao dịch với mục tiêu là đỉnh yếu hoặc nhắm đến mục tiêu mà thị trường sẽ mitigation một vùng cung nào đó trên khung thời gian lớn. Tương tự, cấu trúc giảm, chúng ta sẽ xác định đỉnh mạnh và đáy yếu. Sau đó đánh dấu những vùng cung trong đợt giảm giá gần nhất kèm theo sự phá vỡ cấu trúc. Việc còn lại là chờ giá hồi về vùng cung đó và giao dịch với mục tiêu là đỉnh yếu hoặc nhắm đến mục tiêu mà thị trường sẽ mitigation một vùng cầu nào đó trên khung thời gian lớn. 2 biểu đồ bên dưới sẽ đánh dấu lại cho chúng ta những vùng có thể giao dịch theo cấu trúc thị trường:
Biểu đồ trên, chúng ta thấy thị trường nằm trong cấu trúc giảm, chúng ta đánh dấu đỉnh mạnh và đáy yếu. Trong đó các vùng cung gần với đỉnh là những vùng lý tưởng để giao dịch. Hay chính xác hơn là những vùng giá Premium (trên mức 50%). Chúng ta sẽ chờ giá hồi về những vùng cung này và tìm tín hiệu giao dịch. Tương tự biểu đồ bên dưới chúng ta có cấu trúc tăng giá, chúng ta chờ giá hồi về những vùng cầu trong cấu trúc tăng giá rồi tìm cơ hội mua lên theo cấu trúc:
Tất nhiên là chúng ta cần thêm nhiều yếu tố khác xác nhận mới có thể quyết định mua lên theo cấu trúc tăng hoặc bán theo cấu trúc giảm trên các đợt hồi. Thực tế chiến lược này là các chiến lược đi theo xu hướng nhưng các cú hồi nó có tính định hướng hơn. Chúng ta sẽ mong chờ giá mitigate vùng cầu trong cấu trúc tăng và ngược lại giá mitigate vùng cung trong xu hướng giảm thì mới tìm cơ hội giao dịch. Ngoài ra chúng ta cũng có thể tận dụng đợt điều chỉnh trên khung thời gian thấp hơn với ý tưởng là sự mitigation của khung thời gian lớn sẽ được tiếp diễn ở khung thời gian thấp hơn và từ đó những động thái lớn hơn sẽ di chuyển theo đó. Kỳ vọng của dòng tiền Việc xác định kỳ vọng của dòng tiền là việc xây dựng xác suất về thanh khoản, cấu trúc thị trường và dòng lệnh với mục đích là đưa ra kết luận về nơi giá có thể đi đến tiếp theo và giao dịch tốt nhất mà bạn có thể thực hiện ngày hôm đó. Đây là điều rất cần thiết cho việc xác định xu hướng của giá trong ngày, nó giúp bạn xác định được những vùng giá quan trọng và tìm được những điểm vào lệnh chính xác và lợi thế nhất. Nếu thị trường bắt đầu cấu trúc tăng giá thì bạn sẽ mua cho đến khi cấu trúc tăng giá này kết thúc và ngược lại với cấu trúc giảm giá. Các bạn nhìn biểu đồ bên dưới:
Phía bên dưới biểu đồ chúng ta có thể thấy được một loạt những vùng cầu được xây dựng và giữ giá. Giá hồi về mitigate vùng đó, xây dựng thanh khoản theo hướng giảm giá. Và tương tự phía trên bên phải biểu đồ có thể thấy được một loạt các vùng cung được xây dựng và giữ giá, thị trường hồi về mitigate vùng này và xây dựng thanh khoản theo hướng tăng giá. Dựa vào việc xác định các vùng cung cầu và vùng thanh khoản hình thành có thể giúp chúng ta nhận biết được dòng tiền hiện tại của thị trường. Vùng cung cầu Vùng cung cầu mình đã có viết ở các phần trước rồi, các vùng cung cầu trên biểu đồ thường khá lớn nên để tối ưu hóa được điểm vào lệnh thì chúng ta nên về khung thời gian thấp hơn để tinh chỉnh những vùng cung cầu này thành một khối lệnh cuối cùng trước thời điểm thị trường tăng hoặc giảm mạnh. Các bạn nhìn hình bên dưới chính là cách thức đơn giản để xác định được vùng cung:
Thị trường cần hình thành một vùng giá đi ngang trước khi giá bật tăng mạnh để quét thanh khoản và giảm xuống hình thành vùng cung. Như hình trên thì chúng ta có thể thấy, giá phá vỡ vùng giá cao nhất của phạm vi giá đi ngang để quét thanh khoản của cả người mua và người bán ở vùng này và sau đó tạo thanh khoản cho BFI mua hoặc bán. Sau khi quét thanh khoản xong thì thị trường giảm mạnh hình thành cho chúng ta vùng cung. Sau đó thì anh em về khung thấp hơn để tinh chỉnh vùng cung này nhỏ hơn, và chúng ta gọi đó là order block. Và lưu ý thêm một điều nữa đó là thị trường tăng mạnh lên để quét thanh khoản trước khi giảm mạnh chính là vùng cung của chúng ta. Tương tự ngược lại chúng ta có cách thức xác định vùng cầu:
Yếu tố hợp lưu quan trọng để có được một vùng cung cầu mạnh hay một vùng cung cầu có khả năng cao sẽ giữ được giá bao gồm: • Vùng cung cầu phải phá vỡ cấu trúc thị trường • Vùng cung cầu phải có quét thanh khoản • Vùng cung cầu phải có một đợt sóng đẩy mạnh theo sau • Và thêm một yếu tố hợp lưu nữa đó là vùng cung cầu phải gây ra sự mất cân bằng (imbalance) Tinh chỉnh vùng cung cầu (refinement) Vùng cung cầu được tinh chỉnh lại còn được gọi là khối lệnh hay order block. Một khối lệnh được hình thành bởi chuỗi lệnh cuối cuối cùng được đặt được khi thị trường mở rộng sang hướng ngược lại. Với tư duy này chúng ta có thể hình dung rõ hơn về vùng cung cầu. Bên dưới là các ví dụ về cách tinh chỉnh vùng cung cầu để xác định những khối lệnh:
Hình trên là vùng cung được hình thành sau khi thị trường quét thanh khoản. Và hình bên dưới là khung thời gian thấp hơn của biểu đồ phía trên: Chúng ta thấy ở khung thời gian thấp hơn, vùng cung được tinh chỉnh lại thành
một khối lệnh trước khi thị trường giảm mạnh và hình thành vùng cung. Tiếp theo là vùng cầu được hình thành tren khung H1: Chúng ta thấy là đã có sự quét thanh khoản trước khi thị trường tăng mạnh và hình thành vùng cầu. Ngoài ra các yếu tố để xác nhận vùng cung cầu mạnh chúng ta thấy đều thỏa, và việc còn lại là di chuyển xuống khung thời gian thấp hơn để tinh chỉnh lại vùng cầu này là được. Biểu đồ bên dưới là vùng cầu gần nhất được xác định ở khung thời gian thấp hơn và chúng ta thấy vùng cầu này được hình thành sau khi có tín hiệu quét thanh khoản:
Có thể thấy được một điều rằng, việc tỉnh chỉnh lại các vùng cung cầu có thể dẫn đến các điểm vào lệnh của bạn không được khớp nhưng chúng ta nên sử dụng những vùng này để giao dịch vì ở khung thời gian thấp hơn, số pip của những vùng được tinh chỉnh rất nhỏ, như vậy nó sẽ mang lại cho bạn tỷ lệ RR rất lớn. Đôi khi không phải lúc nào thị trường cũng sẽ kiểm tra, khai thác lại những vùng giá tinh chỉnh nhưng chúng sẽ mitigate lại những vùng cung cầu. Hình bên dưới cho thấy nếu bạn tinh chỉnh một vùng giá quá mức thì giá có thể sẽ không chạm tới được:
Hoặc như biểu đồ bên dưới: Nhưng nếu bạn xác định chúng cùng với vùng cung cầu bạn có thể thấy giá đã khai thác vùng cung cầu rất hiệu quả:
Hoặc như biểu đồ bên dưới: Như vậy là chúng ta cũng đi được kha khá nội dung trong hệ thống smc, trước mắt là bạn đã nắm được cách thức xác định cấu trúc, sự phá vỡ cấu trúc, cách xác định vùng cung cầu/khối lệnh và vùng giá tốt để giao dịch. Tín hiệu ChoCH, thanh khoản và inducement,... Về cơ bản hệ thống này là hệ thống giao dịch theo cấu trúc thị trường, chúng ta sẽ
nương theo cấu trúc lớn, đợi giá hồi về những vùng quan trọng sau đó tìm tín hiệu để giao dịch. Các vùng mà chúng ta theo dõi thường là vùng cung cầu hoặc các khối lệnh được tinh chỉnh lại từ những vùng cung cầu. Tiếp theo đây chúng ta sẽ tìm hiểu xem, điều mà chúng ta kỳ vọng khi giá tìm về những vùng giá xem xét này là gì? Và đâu là tín hiệu khả thi để chúng ta giao dịch. Chúng ta kỳ vọng điều gì khi giá tìm về vùng mà chúng ta xem xét (POI) Có lẽ điều mà chúng ta kỳ vọng nhất khi giá tìm về vùng POI đó là giá có tín hiệu mitigate, quét thanh khoản hoặc thao túng giá tại đó. Khi giá tiếp cận vùng POI của bạn thì tốt nhất đó là có sự phản ứng chứ không phải là dự đoán. Hay nói các khác, những vùng giá đó thường sẽ bẫy trader khi họ cố gắng giao dịch trong những bước di chuyển đầu tiên của thị trường. Tại những vùng giá này thường sẽ có nhiều sự thao túng giá để cố gắng quét hết thanh khoản của trader nhỏ lẻ và thực tế thì động thái thực sự của thị trường chỉ xảy ra khi hầu hết các giao dịch đac bị quét thanh khoản (hay bị săn dừng lỗ). Thực tế rằng, đa số những vùng mitigate thường xảy ra ở vùng 50% của vùng giá, và khi giá đi vào khu vực này ở khung thời gian cao hơn thì bạn nên chuyển về khung thời gian thấp hơn để giao dịch. Dưới đây là một vài ví dụ về POI:
Ở hình trên bạn có thể thấy, ô kẻ ngang màu hồng là vùng cung trên khung thời gian cao hơn. Đây cũng chính là vùng mà chúng ta xem xét. Khi giá tiếp cận đến vùng này thì chúng ta chuyển về khung thời gian thấp hơn là H1. Như biểu đồ bên dưới: • Ở biểu đồ này bạn có thể thấy được rõ hành động giá hơn khi thị trường bắt đầu tiếp cận vùng này. Các bạn nhìn phía bên trái biểu đồ, giá chạm đến vùng cung màu hồng lần đầu tiên và tạo đỉnh nhưng nó đã thất bại trọng việc tạo ra cấu trúc mới. Sau đó thì đỉnh này đã bị quét thanh khoản. • Giá bật tăng và hình thành một loạt các vùng cầu giữ giá. • Sau đó thị trường tạo ChoCH ở đỉnh khi nó phá vỡ vùng cầu gần nhất và cú hồi bắt đầu. Đây cũng là vùng mua cuối cùng trước khi thị trường giảm mạnh. Khi giá tạo ChoCH ở đỉnh, lúc này bạn có thể trở về khung thời gian thấp hơn như M1 để tìm tín hiệu giao dịch. Hình bên dưới là vùng cung trên khung M15 phút trước khi chúng ta nhảy về M1 để tìm tín hiệu giao dịch:
Nhìn hình trên có thể thấy, giá tăng mạnh lên lại vùng cung để mitigate vùng này. Vậy khi nào thì chúng ta giao dịch được khi giá tiếp cận vùng mà chúng ta theo dõi (POI) hay đúng hơn là một POI có hiệu lực? Mô hình của nó sẽ là như sau. Các bạn nhìn hình minh họa bên dưới:
Giá chạm vào vùng giá bạn theo dõi và sau đó tạo ChoCH đi theo hướng mà bạn nhận định. Tức là giá phải phá vỡ được vùng giá đối diện. Như hình bên dưới là giá phải phá vỡ được vùng cầu đánh dấu màu xanh:
Hoặc trường hơp giá không tiếp cận đến vùng đối diện hoặc không có nến mitigate vùng này nhưng sau đó giá quay trở lại phá vỡ vùng này thì chúng ta vân có thể giao dịch được. Như hình bên dưới:
Vậy khi nào thì không nên giao dịch ngay cả khi giá chạm vào vùng mà chúng ta theo dõi/POI? Có một trường hợp mà các bạn cần lưu ý đó là khi giá chạm vào vùng cầu màu xanh, như biểu đồ bên dưới:
Đó được coi như tín hiệu mitigate và có thể tăng cao hơn. Trong trường hợp này có thể thấy người mua vãn đang nắm quyền kiểm soát nên chúng ta không nên bán ở vùng cung lúc này. Đây có thể xem như phần cuối của hệ thống, có nghĩa là sau phần này anh em có thể bắt đầu backtest và thực hành. Hệ thống smc về phần lý thuyết không quá nhiều nhưng việc rèn luyện và giao dịch cho thành thạo thì lại khá tốn thời gian. Vì mỗi một khái niệm kỹ thuật trong hệ thống này anh em nên dành chút thời gian để luyện cách xác định chúng trên biểu đồ. Ví dụ đơn giản như vùng thanh khoản hay tín hiệu ChoCH hoặc là khối OB, tất cả những cái này nếu anh em đưa vào áp dụng luôn sẽ rất dễ bị rối. Đọc lý thuyểt cũng có vẻ không phải là quá khó nhưng nếu muốn tìm và xác định được chúng trên biểu đồ lại không dễ. Nên chắc chắn chúng ta cần thời gian để rèn luyện là vậy. Những khái niệm kỹ thuật này, khi các bạn tập nhìn và xác định chúng trên biểu đồ thì có thể bạn sẽ chẳng thấy được chúng sẽ đem về cho bạn lợi nhuận gì nhưng để có được một chiến lược chuẩn theo smc thì lại không thể thiếu những yếu tố kỹ
thuật này. Nên khi bạn xác định chúng càng chuẩn thì xác suất thành công cho chiến lược của bạn càng cao. Cuối cùng đó là đưa chúng vào trong một quy trình giao dịch nhất định. Bấy nhiêu khái niệm kỹ thuật thôi nhưng anh em có thể thấy chúng ta có cực nhiều cách thức giao dịch. Chưa bàn về chiến lược có tốt hay không, đúng hay sai, miễn là nó đi đúng bản chất của thị trường thì chúng ta có thể áp dụng được. Rồi, luyên thuyên khá nhiều rồi. Bây giờ đi vào nội dung chính. Phần này chúng ta sẽ nói về những mô hình vào lệnh của hệ thống smc. Ví dụ như viết kỹ hơn về đọc cấu trúc, hoặc cách xác định thanh khoản hoặc khối OB hoặc ChoCH,...
Phần 3: Power Of Three (PO3) 3 chu kỳ chính của thị trường bao gồm: • Giai đoạn tích lũy: đây là giai đoan dòng tiền thông minh tích lũy vị thế mua hoặc bán của họ và bạn sẽ tìm cơ hội để giao dịch trong giai đoạn này. • Giai đoạn phát triển lợi nhuận: đây là giai đoạn này trader sẽ phát triển lợi nhuận khi phạm vi thị trường được mở rộng • Giai đoạn phân phối:tương tự như giai đoạn tích lũy, dòng tiền thông minh sẽ tích lũy vị thế mua hoăc bán của họ trong giai đoạn này. Giá mở cửa • Dòng tiền thông minh phân phối tiền ở phần trên của vùng mở cửa trong giai đoạn phân phối và phần dưới của vùng mở cửa trong giai đoạn tích lũy. • Đối với ngày tăng giá, việc di chuyển bên dưới giá mở cửa chính là tín hiệu săn dừng lỗ (hay trong Ict còn gọi đó là Judas Swing). Nếu bạn thấy giá di chuyển nhanh bên dưới giá mở cửa thì đó là tín hiệu xác nhận rằng giao dịch sẽ đi theo hướng của chúng ta. • Giá mở cửa nên gần với mức giá thấp nhất của ngày, thường là 20% trên tổng phạm vi. Nó sẽ là một thân nến dài ở giữa và sau đó thì đóng cửa gần với vùng giá cao nhất của ngày. • Đối với những ngày giảm giá, giá di chuyển phía trên mức giá mở cửa chính là tín hiệu săn dừng lỗ (hay Judas Swing). Nếu bạn thấy giá di chuyển nhanh phía trên giá mở cửa thì đó là tín hiệu xác nhận rằng giao dịch sẽ đi theo hướng của chúng ta. • Giá mở cửa nên gần với mức giá cao nhất của ngày, thường là 20% trên tổng phạm vi. Nó sẽ là một thân nến dài ở giữa và sau đó thì đóng cửa gần với vùng giá thấp nhất của ngày. Vùng giá tích lũy điển hình • Vùng giá tích lũy điển hình bắt đầu từ giá mở cửa: o Nếu chúng ta tìm kiếm một giao dịch mua, thì chúng ta sẽ phải đợi để thấy thị trường di chuyển xuống bên dưới phạm vi của vùng giá tích lũy hoặc giá mở cửa.
o Tương tự nếu chúng ta tìm kiếm một giao dich bán thì sẽ phải đợi giá di chuyển lên phía trên vùng giá tích lũy hoặc giá mở cửa. o Dòng tiền thông minh mua trong cú giảm giá và bán trong xu tăng giá. Bạn cũng nên như thế. • Và khi giao dịch thì bạn cần đảm bảo được rằng, bạn cần nắm rõ cấu trúc của khung thời gian cao hơn. Chờ giá đạt đến các vùng giá quan trọng và đừng giao dịch trước khi giá đi đến được kháng cự hỗ trợ trên khung tuần, khung ngày, H4 và đừng bao giờ thấp hơn H1. • Khi giá đang giao dịch ở kháng cự hỗ trợ ở khung lớn. Thì lúc này bạn hãy tìm tín hiệu phân kỳ (SMT – cái này mình sẽ viết ở phần sau). • Tiếp theo là áp dụng thêm yếu tố xác nhận cho chiến lược của bạn là thời gian và giá cả (phần này mình sắp viết bên dưới đây). • Sau đó thì chờ cho biểu đồ ngày hình thành đỉnh hoặc đáy và sau đó thì mới bắt đầu tìm kiếm giao dịch. • Nói tóm lại là bạn sẽ tìm kiếm giá mở cửa, sau đó là Judas Swing, và sau đó là tìm kiếm sự mở rộng của thị trường hay đó chính là hướng đi thực sự. Phần 4: Lý thuyết thời gian và giá trong smc Những điều anh em cần lưu ý:
• Bạn cần xác định được thời gian cụ thể trong năm, tháng, tuần, ngày mà giá hình thành nên đỉnh đáy quan trọng. • Thời gian và giá là khu giá gặp kháng cự hỗ trợ tại một thời điểm đặc biệt trong ngày mà chúng ta đã dự đoán đỉnh đáy sẽ được hình thành và trong Ict gọi đó là vùng hủy diệt (Kill Zones). Khi tín hiệu này xuất hiện nó sẽ cho chúng ta xác nhận mạnh mẽ để giao dịch. • Ví dụ như thứ 2, thứ 3 và thứ 4 là những ngày có khả năng hình thành nên đỉnh đáy của tuần nhưng chúng ta nên xem xét kỹ thời điểm phiên Âu mở cửa ở thứ 3 và thứ 4. Vùng hủy diệt (Kill Zones) • Chúng ta cần hiểu những giờ đặc biệt trong ngày mà đỉnh đáy được hình thành, hiểu được điều này sẽ giúp chúng ta biết được khi nào thì bạn sẽ tìm thiết lập để giao dịch và khi nào thì không. • Bên dưới là thời điểm đặc biệt hay vùng hủy diệt mà chúng ta sẽ sử dụng để san những giao dịch đẹp. o Vùng hủy diệt phiên Á: 23:00-3:00 o Vùng huỷ diệt phiên Âu: 7:00-10:00 GMT o Vùng hủy diệt đóng cửa phiên Âu: 15:-18:00 GMT o Vùng hủy diệt phiên Mỹ mở cửa: 12:-15:00 GMT o Cho phép tăng lên 1 tiếng trước và sau vùng hủy diệt vì đôi khi thiết lập giao dịch sẽ đến sớm hơn 1 tiếng vì giờ tiết kiệm năng lượng mặt trời. • Hãy theo dõi 4 tiếng sau 5:00 GMT hoặc nửa đêm của phiên Mỹ vì nhiều khả năng đỉnh đáy sẽ được hình thành trong 4 tiếng này. • Bạn sẽ thấy mức đỉnh đáy trong ngày hình thành hầu hết trong khoảng thời gian 9:00-9:30 GMT. • 10:00 GMT hầu hết là thời gian của Judas Swing hay săn dừng lỗ và tín hiệu phân kỳ (SMT – nội dung này mình nói ở phần sau). 7:00-9:00 GMT giá thường hình thành đỉnh đáy theo hướng của thị trường. • Ví dụ như bạn đang trong một giao dịch bán, bạn sẽ thấy giá hồi về đỉnh trong ngày và sau đó quay đầu tiếp tục giảm. Đánh dấu giá mở cửa cửa 10:00 GMT và trong hầu hết thời gian này thì giá sẽ thiểt lập để vào lệnh ở phiên Mỹ (Optimal Trade Entry – OTE) đồng bộ với đỉnh đáy được hình thành ở phiên Âu.
• Trong hầu hết phiên Mỹ, giá sẽ quay trở lại mức giá 7:00 GMT và cung cấp cho bạn OTE. Nếu như trong trường hợp bạn không thấy Judas Swing trong phiên Âu thì nên kỳ vọng cú săn dừng lỗ này sẽ xuất hiện ở 10:00 GMT. • Đối với giao dịch bán, đỉnh của ngày thường sẽ hình thành trong 4 giờ đầu tiền sau 5:00 GMT (vùng hủy diẹt mở của của phiên Âu) nhưng khoảng thời gian lý tưởng để hình thành đỉnh là từ 7:00-10:00 GMT và đáy trong ngày sẽ hình thành khoảng 15:00-16:00 GMT. Và ngược lại đối với giao dịch mua. Điều đó có nghĩa là nêu như bạn đang bán từ các vùng tiêu diệt của phiên Âu thì bạn nên đóng giao dịch vào khoảng 15:00-16:00 GMT. • Thông thường, các đỉnh đáy hằng ngày được hình thành trong trong hướng ngược xu hướng (Counter Trend) của ngày đó (Judas Swing/Stophunt). • 5:00 GMT là thời điểm bắt đầu của ngày giao dịch thực sự và cũng là thời điểm kết thúc phạm vi của phiên Á. • 19:00 GMT là thời điểm kết thúc ngày giao dịch. • 20:00 GMT đến 00:00 GMT là vùng giá giao dịch của ngân hàng trung ương. • 00:00 đến 5:00 GMT là vùng giá phiên Á. • 10:00-11:00 GMT là thời điểm mà bạn sẽ thấy giá tạm dừng di chuyển sau phiên Âu hoặc Judas Swing và nó sẽ tạo một đỉnh đáy đi theo hướng của thị trường trong khung thời gian thấp hơn. • 12:20 (20 phút sau vùng hủy diệt bắt đầu phiên Mỹ) là thời điểm thị trường tương lai bắt đầu giao dịch. • Chúng ta sẽ bắt đầu tìm kiếm các thiết lập giao dịch ở phiên Mỹ từ 12:20. Đối với các giao dịch mua thì bạn cần mua dưới mức giá tại 12:20 khoảng 10 pip và đối với các giao dịch bán thì bạn cần bán trên mức giá tại 12:20 10 pip. • Khá nhiều điều cần nắm cho chúng ta ở phần này. Tuy nhiên thì anh em chỉ cần lưu ý đến vùng hủy diệt là được. Và nhớ rằng thị trường thường sẽ tạo một cú phá vỡ giả hay săn dừng lỗ trước khi di chuyển thực sự. Phần 5: smart money Correlation (Sự tương quan của dòng tiền thông minh) Chúng ta biết rằng: • Các hành động của dòng tiền thông minh được tiết lộ thông qua các lỗ hổng trên thị trường
• Sự tương quan là dấu hiệu dòng tiền thông minh để lại trên biểu đồ khi chuyển đổi xu hướng trung hạn. • Các đỉnh đáy trung hạn là nơi có tiềm năng thực sự chứ không phải là những điểm dao động nhỏ. • Khi mối tương quan được thể hiện rõ ở ngưỡng kháng cự hỗ trợ quan trọng, chúng ta tin rằng sẽ có phản ứng giả xảy ra. Phân kỳ của USDX • Khi chúng ta giao dịch tiền tệ, thì chỉ số USDX được sử dụng để xác định được tình trạng của thị trường hiện tại. • Nếu là điều kiện thị trường hiện tại là Risk On tức là rủi ro được cảm nhận ở mức thấp và các nhà đầu tư có xu hướng đổ tiền vào các tài sản rủi ro, thì lúc này đồng USD giảm giá. • Nếu điều kiện thị trường hiện tại là Risk Off tức là rủi ro được cảm nhận ở mức cao và các nhà đầu tư có xu hướng chuyển sang đầu tư các tài sản an toàn, thì lúc này đồng USD tăng giá. • Vậy thì nếu USD tăng, chúng ta có tương quan ngược lại là hàng hóa, chứng khoán và các tiền tệ khác sẽ giảm. • Ngược lại, nếu USD giảm, chúng ta có tương quan ngược lại là hàng hóa, chứng khoán và các tiền tệ khác sẽ tăng. • Với mối tương quan nghịch đảo của các cặp tiền, thì khi giá trên một cặp tiền tạo mức đáy thấp hơn, thì chúng ta kỳ vọng cặp tiền khác sẽ tạo mức đỉnh cao hơn. Nếu như điều này không xảy ra thì chúng ta có tín hiệu phân kỳ (hay còn gọi là SMT) • Tín hiệu phân kỳ như là một sự gợi ý về giai đoạn tích lũy trươc một động thái lớn theo hướng ngược lại. Các bạn nhìn hình bên dưới để dễ hình dung hơn:
Những cặp tiền tương quan để xác định phân kỳ Phân kỳ tăng giá • Nên xuất hiện và được xác nhận tại ngưỡng hỗ trợ quan trọng. • So sánh những mức đáy trong các cặp của EUR và GBP tại những ngưỡng hỗ trợ kháng cự quan trọng. Nếu như một cặp thất bại trong việc tạo đáy thấp hơn sẽ cho thấy sự thay đổi ngắn hạn trong thị trường để bật lên cao hơn. • So sánh đỉnh trong các cặp tương quan tại ngưỡng kháng cự quan trọng, nếu không tạo được đỉnh cao hơn thì cho thấy thị trường thay đổi trong ngắn hạn để giảm thấp hơn. • Nếu một cặp thất bại trong việc tạo đáy thấp hơn trong khi cặp kia lại thành công thì cả 2 cặp có khả năng cao sẽ bật lên cao hơn tại ngưỡng kháng cự quan trọng.
• Khi xác định ngưỡng hỗ trợ để canh mua hãy xem xét cặp không thể tạo ra được mức đáy thấp hơn. Cơ sở đằng sau cho điều này là: cặp không giảm xuống được thấp hơn tức là nó đang được mua vào nhiều hơn nên nó chưa sẵn sàng giảm xuống thấp hơn. Về cơ bản thì đây chính là vùng cầu hoạt động để đẩy giá đi cao hơn. Cụ thể như, EURUSD đang tạo đáy cao hơn trong khi GBPUSD tại đáy thấp hơn >>> chúng ta chọn EURUSD để mua. Như hình bên dưới: Phân kỳ giảm giá Chúng ta có những điều kiện nhận biết tương tự: • Nên xuất hiện và được xác nhận tại ngưỡng kháng cự quan trọng. • Nếu một cặp thất bại trong việc tạo đỉnh cao hơn trong khi cặp kia lại thành công thì cả 2 cặp có khả năng cao sẽ giảm xuống những ngưỡng hỗ trợ quan trọng. • Khi xác định ngưỡng kháng cự để canh bán hãy xem xét cặp không thể tạo ra được mức đỉnh cao hơn. Cơ sở đằng sau cho điều này là: cặp không giảm xuống được thấp hơn tức là nó đang được bán ra nhiều hơn nên nó chưa sẵn sàng tăng lên cao hơn nữa. Về cơ bản thì đây chính là vùng cung hoạt động để đẩy giá xuống thấp hơn.
Các bạn nhìn hình bên dưới, ta có EURUSD tạo đỉnh cao hơn nhưng GBPUSD lại tạo đỉnh thấp hơn, trong điều kiện này chúng ta canh bán GBPUSD: Các bạn nhìn hình bên dưới là biểu đồ trong thị trường thực tế để thấy được sự tương quan giữa các cặp tiền: Ta thấy GBPUSD tạo được đỉnh cao hơn trong khi EURUSD lại thất bại, trong trường hợp này chúng ta chọn EURUSD để giao dịch. Tuy nhiên anh em có thể
thấy giá sau đó đã giảm ở cả 2 cặp tiền. Phân kỳ trên CRB (chỉ số giá hàng hóa) • Chỉ số CRB được sử dụng để theo dõi giá của hàng hóa như vàng, dầu,... và chúng ta thấy CRB có mối tương quan nghịch đảo với USDX. • Chỉ số CRB có sự thay đổi hướng hơi sớm và có thể cảnh báo về khả năng có thể xu hướng thay đổi trong dài hạn. Phân kỳ trên chỉ số chứng khoán • Chúng ta tìm các chỉ số chứng khoán lớn như (S&P 500, Dow Jones, Nasdaq,..) để so sánh đỉnh tại kháng cự hoặc đáy tại hỗ trợ. Bảng bên dưới giúp anh em xác định được hướng chính của thị trường trong các điều kiện Risk On/Risk/Off: Phần 6: Hồ sơ của thị trường Hồ sơ thị trường đơn giản là để chúng ta nắm được điều kiện hiện tại của thị trường và phân loại được nó. Đa số các nhà giao dịch tìm cơ hội tham gia thị trường mà bỏ qua yếu tố này.