Phuoc's cafe
https://www.facebook.com/phuocsongnam2
April 6, 2018
NGÀY 30/4 NGHIỆT NGÃ.
LỜI NÓi ĐẦU:
Tôi chưa hề có ý định viết lại cũng như không muốn nhớ tới những ngày
cuối cùng của tháng tư đen. Vì đến bây giờ, lịch sử đã phô bày rõ ràng là
các nổ lực chiến đấu của QL/VNCH nói chung và các thành viên trong
đó nói riêng, đều vô vọng trong một ván bài đã được định sẳn của các
cường quốc. Họ tạo ra một không khí hoảng loạn để các đơn vị
QL/VNCH buông súng, đồng thời có không ít các nhà lãnh đạo và chỉ
huy quân sự cao cấp biết trước thời cơ , tự lo lấy thân mình để mặc cho
thuộc cấp trôi theo dòng đời. Nhưng trong hoàn cảnh tuyệt vọng đó, vẫn
có những nổ lực kiên cường và những quyết tâm đơn độc để duy trì sức
chiến đấu cho đơn vị , đến tận giây phút cuối cùng trong những ngày của
tháng tư gọi là " nghiệt ngã " đó . ++++++++++
Ăn cơm xong, tôi cầm túi xách nhỏ, từ biệt mẹ tôi để xuống tàu đi công
tác. Bà nói:" Má thấy kỳ nầy nguy hiểm lắm nghe con. Đà Nẳng mất rồi.
Má mua mấy bao gạo để dành. Con rán giữ gìn nghen ". Tôi gắt lời bà
già:" Má lúc nào cũng lo, làm tụi bán chợ đen có dịp thao túng ". Bà
thẩn thờ nhìn tôi rời nhà trưa ngày 30/3/1975.
Tàu tôi, HQ 231, đang sửa chửa đại kỳ, theo chương trình đến tháng
5/75 mới xong. Nhưng vì biến động miền Trung. Bộ Tư Lịnh Hạm Đội
can thiệp Hải Quân Công Xưởng sửa chửa gấp để HQ 231 lên đường
tham dự chiến trận. Tôi nhận được lịnh hành quân đi Cam Ranh,
BTL/V2DH. Tàu tách bến lúc 5 giờ chiều, từ từ chạy qua tượng Đức
Trần Hưng Đạo. Tôi đưa tay chào kính Ngài. Tôi thấy Ngài đưa tay chỉ
xuống dòng sông và hình như Ngài bảo:" Không đuổi được giặc, đừng
về đây ". Trong lòng trăm mối ngổn ngang, cảm thấy chuyến đi nầy
nhiều bất trắc, tôi ngồi thừ trên đài chỉ huy đến 12 giờ khuya. Tàu sắp ra
cửa biển, lại nhận được công điện thay đổi công tác:" Neo Vũng Tàu ,
chờ lịnh mớ́i ".
Sáng hôm sau, lên trình diện BTL/V3DH tại Cát Lở để nhận lịnh công
tác khác. TMP/HQ là Thiếu Tá Lê khánh Dư bảo:" Cam Ranh đang di
tản, HQ 231 chưa ra đó được chờ lịnh mới. Tạm thời đi tuần bảo vệ dàn
khoan ". Đi tuần bảo vệ dàn khoan có nghỉa là được thêm tiền phụ trội
do dàn khoan trả, tôi cũng mừng cho đời lính đở khổ. Cầm lịnh hành
quân về tàu, tôi chuẩn bị nhổ neo đi công tác thì nhận được lịnh hủy bỏ.
Tối hôm đó, tàu nhận được lịnh pháo mấy điểm ở Gành Ráng, mật khu
địch quân Tiếng đại bác 76,2 ly ầm ì , tôi có cảm giác như tiếng gầm
rống cuối cùng của chúa sơn lâm , trước khi hậm hực bỏ vào rừng mất
dạng .
Mấy ngày sau đó, chiến hạm được lịnh tuần tiểu canh chừng các thương
thuyền và xà lan chở người di tản từ miền Trung về. Trên xà lan lúc
nhúc đầy người, các bà mẹ ôm các đứa con gầy rạc, giơ lon ra xin nước
uống. Tôi nhận được lịnh không được cặp vào các xà lan và thương
thuyền vì trên đó có bọn cướp giết người cướp cùa. Chúng tôi tận dụng
mọi thứ cái gì đựng nước được là đem ra xử dụng, rồi quăng vào các xà
lan tiếp tế một cách tuyệt vọng cho ̣đồng bào trên đó , để chia xẻ một
chút tình người . Cảng Vủng Tàu náo động hẳn lên, đầy nghẹt thương
thuyền và chiến hạm. Ngoài khơi hai chiếc LST (Dương vận hạm) của
Đài Loan, đang neo nằm im lìm chờ đón kiều bào của họ . Lính TQLC
Đài loan canh gác trên tàu, đứng im như các pho tượng.
Cuối cùng, HQ 231 nhận được lịnh đi Cam Ranh. Chiến hạm quay mủi
tàu ra khơi một cách mạnh mẽ, háo hức hoàn thành nhiệm vụ mới. Trên
đường đi, công điện BTL/HĐ gởi ra tới tấp, dặn các hạm trưởng đích
thân giữ chìa khóa kho súng, đề phòng phản loạn. Tôi bình tĩnh, kín đáo
dặn riêng Trung uý Hiển, sĩ quan trọng pháo, bảo ông giữ chìa khóa thay
vì hạm trưởng, xem như tình hình vẫn bình thường, để tinh thần thủy thủ
không bị hoảng loạn. Mỗi sáng có công điện kỷ thuật, báo cáo tình trạng
kỷ thuật của chiến hạm , tôi dặn Hạm Phó , tất cả các mục đều ghi tốt để
tỏ thiện chí phục vụ và tránh gây ưu phiền cho BTL/HĐ . Không ngờ
đây là điểm sai lầm của tôi. Sau nầy, TL/HĐ là Đại Tá Nguyễn xuân
Sơn tiết lộ cho biết, ông kín đáo cho sắp xếp các chiến hạm tuần tự về
Sài Gòn. Riêng HQ 231, ông quên mất, chắc có lẽ vì các công điện báo
cáo kỷ thuật nói trên.
Trên đường đi, gặp HQ 08 báo cáo hai máy bất khiển dụng, neo khẩn
cấp ngoài khơi Phan Rang. Tôi cặp tàu vào, ghé thăm Hạm Trưởng
Thiếu Tá Nguyễn trường Yên. Anh là sĩ quan, chuyên nghiệp giỏi nhứt
khóa tôi. Anh có vẽ mệt mõi và chán nản. Tàu đến Cam Ranh nhưng
không vào trong vịnh. BTL/V2DH đã di tản còn chơ vơ lại chiếc HQ
605, Hạm Trưởng Thiếu Tá Trịnh như Toàn. Trên tàu có Thiếu Tá Đặng
quang Lạc, thuộc BTL/V2DH. Tôi phỏng vấn anh Lạc, tình hình ra làm
sao? Anh Lạc, một người năng nổ, đã từng bắt sống Việt Cộng lúc còn là
thiếu uý, khi phục vụ ở giang đoàn tuần thám bây giờ xuống sắc thấy rỏ.
Anh nói:" Tình hình kỳ cục lắm. Tao theo Đề Đốc Minh để đổ bộ Qui
Nhơn. Ra đến nơi thì Qui Nhơn mất rồi. Lẹ không thể tưởng tượng
được! Tôi cười cười với anh:" Mất rồi thì lấy lại!” Bây giờ mới thấy là
tôi quá ngốc nghếch.
Nha Trang vào tay địch, HQ 605 và HQ 231 nhận lịnh án ngử phòng
tuyến phía Bắc Cam Ranh đề phòng tàu địch xâm nhập . Toàn rủ tôi vào
vịnh Nha Trang quan sát, nơi mà chúng tôi theo học suốt hai năm, xem
bây giờ ra sao. HQ605 chạy trước, khuất vào trong vịnh giữa Bãi Dài
thuộc bán đảo Cam Ranh và Hòn Lớn. Tôi chuẩn bị quẹo theo anh thì
nghe tiếng đại bác rít lên và tiếng Toàn trong máy:" Nó bắn tao Phước ơi
". Còi nhiệm sở tác chiến của HQ 231 vang lên dồn dập, đại bác 76.2 ly
và các khẩu 40 ly chĩa vào Cầu Đá Nha Trang tìm kẻ địch. Chiếc HQ
605 chạy ngược chiều trở ra, vải bố căng sau tàu rách tơi tả. Tôi nhìn
ống dòm quan sát, không thấy kẻ địch ở đâu, chỉ thấy dân chúng đi qua
đi lại trên bờ thong thả. Chắc bọn chúng bắn lén rồi chém vè ". Trong tíc
tắc, tôi quyết định cho tàu quay trở ra vì tiến vào chỉ đưa đầu cho kẻ địch
núp bắn, còn bắn ẩu thì chỉ chết dân.
HQ 605 được lịnh về Sài Gòn, HQ 231 ở lại đơn độc thi hành nhiệm vụ.
Cam Ranh mất, tôi được lịnh về Phan Rang. Một chiếc tàu buôn Mỹ
20.000 tấn tiến vào vịnh Phan Rang.Tàu tôi chớp đèn hỏi, nó trả lời: đến
để di tản dân chúng. Cần ghi nhận ở đây, lúc đó Phan Rang chưa mất
như vậy tàu Mỹ nhận lịnh của ai? Nếu không phải là một thế lực muốn
làm tan rã QL/VNCH thì lịnh xuất phát từ đâu và tại sao họ biết Phan
Rang sẽ mất?
Qua ngày hôm sau, chiến hạm hết thức ăn tươi vì đi liên tục ngoài biển
nửa tháng. Tôi xin cho tàu đi chợ Phan Rang. Chiếc tiểu đỉnh của tàu
chở nhân viên đi chợ. Mấy đồng hồ sau, tiểu đỉnh trở về, gương mặt các
thủy thủ đi chợ có vẻ hoảng hốt vì trông thấy T54 của địch xuất hiện ở
chợ Phan Rang. Trên bầu trời, một chiếc trực thăng bay vần vũ gần một
chiếc WHEC (Tuần dương hạm) rồi một bóng người nhảy xuống biển.
Sau đó mới biết là Thiếu Tướng Trần văn Nhựt, TL/SĐ2BB. Mặt trận
Phan Rang tan vở. Tàu tôi về trấn ở eo biển Cà ná, phía nam Phan Rang.
Quốc lộ 1 chạy song song và sát bờ biển Cà Ná. Ban đêm, quốc lộ 1
sáng rực lên, kéo thành một vệt dài như con rắn, uốn khúc theo sườn núi.
Quân xa của địch, mở đèn sáng trưng, chạy nườm nượp như vào chổ
không người. Tôi thở dài: Phan Thiết chắc chắn rồi sẽ mất, nhưng là
chiến sĩ thì phải chiến đấu đến giờ phút cuối cùng. HQ231 tắt đèn tối
om, tiến sát vào bờ và bắn trực xạ vào đám lúc nhúc đó. Nghe tiếng đại
bác chúng vội vàng tắt đèn đứng im. Chiến hạm cũng ngừng bắn vì
không thấy bọn chúng.
Khi chúng mở đèn tiếp tục chạy, chiến hạm lại bắn. Thỉnh thoảng một
chiếc xe cháy đỏ rực lên là biết trúng đạn của chiến hạm. Địch hoạt động
suốt đêm. Chúng tôi cũng bắn phá liên tục không biết mệt vì nghĩ đến sự
an toàn của đất nước. Nửa đêm về sáng, hoạt động giảm dần, chắc có lẻ
địch bị thiệt hại nặng và bị ngăn chặn nên không tiến nhanh được.
Sáng tờ mờ đã thấy nhiều chiếc T54 của chúng xuất hiện đồng thới cũng
thấy HQ11 (Hạm trưởng Trung Tá Phạm đình San ) đang tác xạ . Trung
Tá San quả thật là một hạm trưởng gan lì và nhiệt huyết. Ông cho tàu
tiến gần sát bờ đấu súng với T54. Nhưng chiến hạm bị bất lợi vì mục
tiêu lồ lộ còn chúng núp vào khe núi bắn ra. Chúng tôi còn một bất lợi
nữa là muốn tác xạ chính xác, chiến hạm phải luôn luôn di chuyển để
giữ đúng hướng. Ngừng tại chổ, gió và sóng biển sẽ làm chiến hạm
xoay, không thể bắn chính xác được. Còn tiếp tục chạy, đưa mủi tàu vào
bờ, đến một lúc nào đó, phải quay ra, lại là mục tiêu cho địch bắn. Cho
tàu chạy song song với bờ, cũng là mục tiêu tốt cho địch.
Chúng tôi chỉ có hai còn chúng vô số kể. Sau khoảng nửa tiếng giao
tranh, HQ11 bị bắn trúng pháo tháp đại bác 40 ly và hầm máy. Một
thượng sĩ đứt đầu chết taị chổ, vài thủy thủ bị thương nặng. Trong khi
đó, một trung đoàn của sư đoàn 2 Bộ Binh án ngữ mủi Cà ná bị VC tràn
ngậ , các đơn vị của ta rút xuống biển . Dương vận hạm HQ 503, Hạm
Trưởng Trung Tá Nguyễn văn Lộc, có nhiệm vụ bốc các chiến sĩ của ta
lên. Địch quân đặt đại bác trong khe núi bắn ra. Một viên trúng đài chỉ
huy, hạm trưởng bị thương nơi đầu, bất tỉnh
Chúng tôi được lịnh rút ra khơi. HQ11 về Sài Gỏn còn HQ231 đi Phan
thiết. Trên đường đi, một máy bay thám thính không biết từ nơi đâu xà
xuống trên đầu chiến hạm, lúc đó đang ở tình trạng ứng chiến. Thủy thủ
chưa bao giờ đối phó với không chiến, có vẻ hoảng sợ. Tôi trấn an bằng
cách truyền đạt cho thuỷ thủ đoàn biết: Can đảm chiến đấu thì có cơ hội
sống còn và máy bay địch luôn luôn tìm cách bắn đài chỉ huy trước, nơi
đó có hạm trưởng. Thủy thủ lên tinh thần. Máy bay đi một vòng xa, quay
trở lại lượn trên đầu chúng tôi. Các khẩu pháo chỉa lên trời tua tủa. Máy
bay vội vàng lảng xa. Sau đó mới biết là máy bay KQ/VNCH. Trong lúc
hoảng loạn, truyền tin không liên lạc được với nhau nên tưởng lầm
chúng tôi là Hải Quân Bắc Cộng.
Tàu về Phan Thiết vào buổi chiều, lại nhận lịnh pháo kích núi Tà Cú ở
phía nam Phan Thiết. Có thể đây là điểm tập trung của Cộng Quân. Đo
trên hải đồ, tầm xa khoàng 22.000 yards trong khi tầm bắn tối đa của đại
bác 76.2 ly là 20.000 yards. Tôi báo cáo cấp trên. Lại nhận lịnh cứ thi
hành. Chiến hạm phải tiến sát vào bờ biển để giảm khoảng cách càng
nhiều càng tốt. Mệt mỏi vì pháo suốt đêm, tôi ngủ gà, ngủ gật trên đài
chỉ huy. Sáng hôm sau bừng tỉnh dậy, một cảnh tượng thật huy hoàng,
khoảng 30 chiến hạm HQ/VNCH, đủ mọi loại, đang chỉa mủi tàu vào bờ
biển phía nam Phan Thiết, các khẩu đại bác với tư thế sẳn sàng nhả đạn.
Cảnh tượng thật hùng vĩ giống như trận đổ bộ của Đồng Minh ở
Normandie. Hào khí dâng lên trong lòng tôi. Đang ngất ngay với cảnh
tượng đó thì nhận được lịnh về Vủng Tàu nhận tiếp tế nhiên liệu và đạn
dược.
Buổi chiều về neo ở Vủng Tàu. Sáng hôm sau, một số đoàn viên lên bờ
nghỉ xả hơi vì đi liên tục 20 ngày rồi . Vũng TÀu hơi lao xao, nhưng
sinh hoạt vẫn bình thường. Tôi và một số sĩ quan vào ăn hủ tiếu ở bồn
binh trước chợ, gần phòng thông tin. Khi xong tôi từ giả các sĩ quan để
đi thăm một người bạn. Bước ra ngoài, có một người chận tôi lại. Anh
ăn mặt tươm tất và trông phương phi. Anh nói:" Tôi muốn nói chuyện
với hạm trưởng ". Tôi ngạc nhiên, hỏi lại:" Làm sao ông biết tôi? ". Anh
chỉ vào huy hiệu hạm trưởng mà tôi đeo trên nắp túi áo bên trái. À ra
thế, tôi cười cười với anh ta:" Như vậy là ông có nghiên cứu trước ".
Anh đưa tôi vào tiệm kem kế bên rồi đề cập thẳng:" Miền Nam sẽ mất,
tôi là người Hoa Kiều buôn bán, tôi không thể sống dưới chế độ Cộng
Sản. Tôi muốn đi Singapore. Ông có phương tiện. Tôi trả tiền ông mỗi
đầu người 5 lượng vàng". Tôi lại cười cười hỏi:" Bao nhiêu người?".
Anh trả lời:" Khoảng 40 người, có thể hơn". Tôi nhẩm tính "200 lượng
vàng". Lúc đó tôi không mường tượng được một lượng vàng ra làm sao?
Tôi có bao giờ thấy nó đâu. Tính là tính vậy thôi. Tôi trả lời cho qua
chuyện:" Ông ở chổ nào, cho tôi biết, tôi sẽ liên lạc sau ". Anh đưa tôi
một visiting card đề tên phía trước, mặt sau anh viết tay tên khách sạn và
số phòng ở tại Vũng Tàu. Tôi từ biệt, anh bịn rịn, cứ nhắc :" Nhớ nghe
ông hạm trưởng, nhớ nghe!". Nhưng tôi có nhớ gì đâu rồi quên hẳn đi.
Tôi đi Cát Lở, ghé Duyên Đoàn 32 thăm Thiếu Tá Nguyễn hữu Thiện
CHT/DĐ. Ở đó bảo anh đi hành quân ở Bình Tuy rồi. Trong sân Duyên
Đoàn 32, đặc nghẹt xe hơi dân sự , một vài thương gia Tàu đứng lấp ló .
Tôi trở về tàu. Buổi chiều, tôi vận chuyển chiến hạm cặp vào HQ802 để
nhận tiếp tế nhiên liệu và nước ngọt. Cảm thấy hoang mang và đơn độc,
tôi ngồi lì trong phòng của chiến hạm. Một sĩ quan qua HQ 802 chơi, về
cho tôi biết Tổng Thống Thiệu nói chuyện trước Quốc Hội, trực tiếp
truyền hình. Tôi trèo qua HQ 802, đến phòng ăn sĩ quan đông nghẹt
người, có một số đông đàn bà, con nít. Hình ành Tổng Thống Thiệu thấp
thoáng, hình như ông ấy khóc! Tôi thẩn thờ, bao nhiêu biến cố dồn dập,
Tôi không biết suy nghĩ gì chỉ cảm thấy đất nước đang lâm nguy.
Sáng hôm sau, HQ 231 nhổ neo đi Căn Cứ Hải Quân Đồng Tâm trình
diện BTL/ Lực Lượng Thủy Bộ cùng lúc với HQ228 đi Cần Thơ ,
BTL/V4SN , hạm trưởng Thiếu Tá Nguyễn hoàng Be . Gần đến Mỹ Tho
, tôi nhận lịnh xuống cù lao An Long, Long Xuyên, biệt phái cho Bộ Chỉ
Huy Liên Giang Đoàn ở đó, CHT là Thiếu Tá Nguyễn Thìn (nhạc sĩ
Trường SA). Tàu vừa neo, một chiếc LCVP chờ sẵn đón tôi qua Cơ
Xưởng Hạm gần đó, CHT là Đại Úy Phạm văn Bảy. Anh có một bửa
cơm nhỏ chờ tôi. Anh cho biết ở đây yên tĩnh, dân xung quanh theo đạo
Hòa Hảo. VC không hoạt động được. Tôi cũng thấy thế, không khí thật
an bình
.
Sáng hôm sau, tôi gặp Thiếu Tá Thìn. Ông ngạc nhiên:" Không hiểu tại
sao họ đưa ông xuống dưới nầy. Tình hình ở đây yên tĩnh lắm, đâu cần
tàu ông ". Tôi cũng thắc mắc tình trạng kỳ quái đó. Đang tham gia chiến
trận khốc liệt ở miền Trung thì được lịnh về đây hưởng nhàn. Tình hình
chiến sự và chính trị ở đất liền dồn dập hàng ngày. Tôi ở ngoài biển suốt
gần một tháng đâu biết gì. Sẳn dịp, tôi nói với Thiếu Tá Thìn:" Nếu
không cần đến chiến hạm, cho tôi về Sài Gòn một hai ngày xem sao".
Thiếu Tá Thìn nói:" Ờ, ông đi đi! Tôi cấp cho ông một PCF (Duyên tốc
đỉnh) đưa ông về Bắc Mỹ Thuận, từ đó ông đi đường bộ về Sài Gòn cho
lẹ". Ông viết một bức thơ nhờ tôi đưa về gia đình.
Về tàu, tôi dặn Hạm Phó chăm sóc tàu và chọn một sĩ quan đi theo tôi để
mang thơ từ của sĩ quan và đoàn viên về Sài Gòn. Tôi đặt chân về nhà xế
chiều ngày 26/4, ăn một bửa cơm gia đình ấm áp. Sáng 27/4, tôi vào
BTL/HQ thì gặp Thiếu Tá Toàn, hạm trưởng HQ 605. Chúng tôi đi ăn
sáng. Toàn ra vẽ thạo về chánh trị:" Sẽ có giải pháp chánh trị, mầy yên
tâm về tàu đi". Tôi yên lòng, vui vẽ đi thăm người anh ruột làm việc ở sở
Hàng Hà. Anh ngây thơ, hiền lành không có suy nghĩ gì chỉ biết làm
việc thôi. Tình hình Sài Gòn rất lộn xộn, người nói nầy, kẻ nói khác.
Không ai nghĩ rằng người Mỹ sẽ rút bỏ. Riêng tôi cứ cho là chánh phủ sẽ
rút về Cần Thơ, tiếp tục đánh.
Sáng 28/4, tôi ra bến xe đò Phú Lâm để đi Long Xuyên. Bến xe đầy
nghẹt người, không có chiếc nào khởi hành được vì cầu Bến Lức bị
chận. Tôi trở về Sài Gòn, đến hãng HKVN gần chợ Bến Thành, xếp
hàng mua vé đi Cần Thơ. Đến đúng phiên tôi lại hết vé, cô nữ tiếp viên
nhã nhặn xin phép đóng cửa quày. Tôi lại trở ra Phú Lâm, cũng không
có kết quả. Bỗng nhiên có người nói lớn:" Ngả Gò Công đi được ". Tôi
trở về, đến bến xe Gò Công ở Ngã Bảy. Người ta chạy tới, chạy lui nhộn
nhịp. Tôi kiếm một quán nước ngồi xem tình hình. Bỗng có một anh
chàng lái xe Honda, phía trước ôm một sac marin. Anh rồ ga ruùm,
rùum, rùum, hất hàm hỏi tôi:" Anh đi Gò Công hả?". Tôi gật đầu. Anh
bảo:" Lên đây đi với tôi". Tôi phóng lên ngồi phía sau anh. Sau đó anh
cho biết anh là nhân viên quân cảnh, rời đơn vị ở Tây Ninh về nhà ở Gò
Công, đi một mình lạnh cẳng, anh rủ tôi đi cùng cho vui. Quốc lộ 4 vắng
tanh, một vài chiếc xe đò bị giật mìn nằm dọc đường. Anh chàng lái bạt
mạng, lạng qua bên nầy, lạng qua bên kia. Tôi ôm cứng eo ếch anh. Vậy
mà cũng đến được bến phà Gò Công. Anh quân cảnh bỏ tôi ở đó. Tôi
qua phà đến Mỹ Tho trời chạng vạng tối.
Ngủ đêm tại Mỹ tho, 5 giờ sáng ngày 29/4, tôi lò mò ra bến xe. Hai bữa
rồi không có chiếc nào chạy được, tài xế đói meo. Trời xui đất khiến thế
nào, chiếc xe đò tôi mua vé, tài xế quyết định chạy. Quốc lộ 1 vắng tanh,
không khí chiến tranh thấy rõ . Không một xe đạp, không một xe gắn
máy, không một bóng người. Xe chạy được một đoạn đường lại ngừng,
chờ xe đò đi ngược chiều, hỏi thăm có sao không rồi chạy tiếp. Đoạn
đường qua Cai Lậy mới là hồi hộp. Hơi sương còn mờ mờ, xung quanh
không một bóng người. Cuối cùng tới Bắc Mỹ Thuận, tôi thở phào một
cái.
Qua Bắc, không khí khác hẳn, cảnh vật thật thanh bình, người dân hình
như không biết đến chiến tranh là gì. Rồi đến Long Xuyên, rồi đến Tân
Châu vào chiều tối. Tôi gặp Thiếu Tá Ngô như Chương, CHT Giang
Đoàn Tuần Thám đóng tại đây . Tôi và anh nói chuyện tới 10 giờ khuya
rồi anh đưa tôi về tàu tôi. Bước lên tàu , sĩ quan trực đưa mấy công điện
" hỏa tốc ", là độ khẩn cao nhứt, ra lịnh chiến hạm nhổ neo về Đồng
Tâm, Mỹ Tho. Công điện cuối cùng ra lịnh thi hành ngay và báo cáo.
Điểm danh nhân viên thiếu Hạm Phó, một sĩ quan và vài thủy thủ. Tôi
không muốn bỏ rơi một ai. Tôi hỏi các sĩ quan biết Hạm Phó và các thuỷ
thủ ở đâu không? Nếu biết thì cho tiểu đỉnh vào bờ gọi về. Không ai biết
gì cả. Không thể đợi đến sáng mai. Tôi quyết định nhổ neo vì nếu chậm
trể trong khi Căn Cứ Đồng Tâm bị tấn công thì sao? Cứu binh còn hơn
chửa lửa. Vả lại, tôi nghĩ, những người vắng mặt, ngày mai có thể liên
lạc với Cơ Xưởng Hạm tìm biết vị trí của chiến hạm để tìm đường về,
nếu họ muốn .
Tàu giang hành ban đêm, tôi thức suốt đêm trên đài chỉ huy. Vào khoảng
2 giờ sáng, gặp một đoàn công voa của Quân vận đi ngược chiều, dài
mấy cây số. Đi sát gần bên, tôi hỏi lớn:" Từ đâu đến, đi về đâu". Họ trả
lời:" Từ Sài Gòn, đi Cần Thơ". Tôi lại đinh ninh là chánh phủ sẽ di
chuyển về Cần Thơ. Tự suy diển để an tâm chiến đấu.
Sáu giờ sáng, tàu đến Đồng Tâm. Căn cứ Hải Quân Đồng Tâm đồn trú
bên một cái hồ rất lớn, thông ra dòng sông cái. Tôi chuẩn bị quẹo tàu
vào thì ở trong ùa ra hàng trăm tiểu đỉnh đủ mọi loại: thủy bộ, ngăn
chận, LCVP …, giống như một đàn cá tuồn qua một cổ chai. Không phải
một cuộc di chuyển bình thường mà một cuộc tháo chạy. Tôi ngạc nhiên
quá, cho tàu ngưng máy và thả trôi lềnh bềnh. Một chiếc tiểu đỉnh cặp
vào tàu, một viên trung úy đến chào tôi:" Trong căn cứ không còn ai.
Một thiếu tá trở cờ, đang khống chế căn cứ. Họ sẽ kêu hạm trưởng vào
để bắt giữ chiến hạm. Hạm Trưởng ở đây thâm niên nhứt. Chúng tôi đặt
dưới quyền chỉ huy của Hạm Trưởng ".
Tôi mất bình tỉnh, không ngờ sự việc xảy ra diển tiến như vậy. Giải
quyết làm sao đây? Tôi bảo ông Trung Úy:" Ông ra lịnh các tiểu đỉnh uỉ
bãi vào cù lao chờ đó". Ở đây cần nhấn mạnh đến tinh thần chiến đấu
của các chiến sĩ Hải Quân, đặc biệt các thủy thủ đồn trú ở CCHQ/ĐT, là
bằng chứng hùng hồn lòng kiên cường của binh sĩ VNCH. Mặc dầu biết
các cấp chỉ huy đã bỏ nhiệm sở, những người lính ở cấp thấp nhứt vẫn
tiếp tục can trường cầm súng chiến đấu. Ai bảo QL/VNCH hèn nhát?
Tôi bảo phòng vô tuyến liên lạc với BTL Hạm Đội . Phòng vô tuyến trả
lời, tất cả đều đổi tần số, không liên lạc được BTL/HĐ là nơi chính gốc
của tôi, BTL/LLTB là nơi biệt phái. Một nơi không liên lạc được, một
nơi bị khống chế. Làm sao đây? Vào lúc đó, CCHQ/ĐT gọi qua máy âm
thọai PRC25:" Yêu cầu HQ231 vào cặp cầu căn cứ để nhận tiếp tế và
nhận chỉ thị ". Tôi cầm ống liên hợp hỏi lại:" Cho tôi nói chuyện với ông
số 1". Tiếng trên máy trả lời:" Ông số 1 đi họp với sư đoàn 7 rồi". Tôi
hỏi tiếp:" Ông số 2 đâu?". Trả lời:" Ông số 2 cũng đi rồi". Tôi hỏi dồn
còn ông số 3? Tiếng trên máy trả lời là không có luôn. Tôi hỏi là để trắc
nghiệm thôi, như vậy là quá rỏ ràng, họ muốn bắt giữ HQ231. Tôi gằn
giọng trên máy:" Anh là ai? Anh không có thẩm quyền chỉ huy tôi".
Tiếng trên máy đổi giọng đe dọa:" Anh không tuân lịnh, tôi kêu mấy con
chuồn chuồn bắn anh". Tôi biết tỏng tòng tong là hắn hù tôi. Trên trời có
mấy chiếc trực thăng, nhưng họ cũng lo bấn xúc xích, hơi đâu mà đi bắn
đơn vị bạn. Tôi cười thành tiếng trên máy:" Anh lòi đuôi anh ra rồi, anh
không phải là sĩ quan Hải Quân chính cống, không biết một tí gì về Hải
Quân! Anh không biết hỏa lực con cá của tôi mạnh đến mức nào! Hai
con chuồn chuồn không ăn thua gì đâu! Anh phải kêu 10 con chuồn
chuồn mới hạ được tôi ".
Tiếng máy im bặt, hình như hắn bối rối! Tôi nạp thêm:" Anh cho tôi biết
ý định của anh đi, nếu anh còn tiếp tục chiến đấu, tôi sẳn sàng yểm trợ
anh. Còn không! Anh đừng gọi tôi! ". Đến phiên tôi, tôi bối rối khủng
khiếp. Bây giờ làm sao đây? Tôi cảm thấy như rơi xuống một vực thẳm
tối om, có một lực nào đó lôi tôi tuồn tuột xuống, không bám víu vào
đâu được. Các tiểu đỉnh bơ vơ còn bám lấy tôi, còn tôi bơ vơ, tôi bám
vào đâu?
Chiến hạm vẫn chạy tới, chạy lui trước Mỹ Tho và Căn Cứ Đồng Tâm.
Một thủy thủ mang một radio lên đài chỉ huy, mở lớn cho tôi nghe.
Tiếng Tổng Thống Dương văn Minh làm nghẹn lòng người:" Yêu cầu
QL/VNCH buông súng, ngừng chiến đấu, ai ở đâu thì ở đó ". Lời nói
của Tổng Thống Minh như muôn ngàn mủi tên cắm vào thân thể tôi. Tôi
như Từ Hải chết ngoài trận tiền. Một làn khí lạnh chạy suốt xương sống.
Mồ hôi đổ ra đẵm ướt đầy mình. Tôi ngồi bất động không biết bao nhiêu
lâu , có thể là 5 phút , có thể là 10 phút , mà cũng có thể hơn . Hoàn hồn
lại, tôi nghĩ ngay là phải cứu con tàu. Biết đâu được, còn một lực lượng
nào còn chiến đấu thì sao? Sực nhớ tới hàng trăm tiểu đĩnh ở cù lao,
nhưng Tổng Thống Minh tuyên bố đầu hàng rồi, tôi không còn trách
nhiệm nữa. Còn sanh mạng họ? Tôi không thể tập họp hỏi ai đi, ai ở. Vì
như vậy Cộng Quân đủ thời giờ phong tỏa một khúc sông nào đó trên
đường tàu ra cửa biển.
Tôi quyết định quay tàu ra cửa biển. Hai máy tiến full, động cơ nổ ầm
ầm , nước rẽ sóng hai bên mũi tàu trắng xóa . Tàu đang ở nhiệm sở tác
chiến, khi nghe Tổng Thống Minh tuyên bố đầu hàng, thủy thủ đoàn tự
động tan hàng. Họ đứng tụm năm, tụm ba bàn tán, có người mang hành
lý ra sân tàu. Tôi biết tình hình bất ổn, không khéo có nổi loạn. Cuối
cùng việc gì đến, sẽ đến. Họ cử Thiếu Úy Long lên nói chuyện với tôi.
Ông đứng dưới cầu thang nói vọng lên đài chỉ huy, giọng to tiếng hơn
ngày thường:" Hạm Trưởng, quay tàu về Mỹ Tho cho tụi tôi lên bờ".
Nghĩ cho cùng, cách cư xử và lời nói của Thiếu Úy Long hoàn toàn
đúng. Quân đội tan hàng rồi, thủy thủ có quyền đòi hỏi trở về với gia
đình. Mục đích của tôi là muốn gìn giữ con tàu. Nếu tàu cặp bến Mỹ
Tho, thủy thủ rời tàu, HQ231 sẽ là đống sắt vụn. Mục đích thứ hai là tôi
thầm mong được tiếp tục chiến đấu, dại gì nộp con tàu cho kẻ địch. Làm
theo lời thiếu uý Long là không được mà cứng rắn với thủy thủ đoàn lại
càng không xong. Phải dùng tình cảm thôi. Tôi nghiêm sắc mặt nói với
thiếu uý Long:" Mặc dù chúng ta ở tình hình như thế nầy, nhưng truyền
thống của sĩ quan Hải Quân, một sĩ quan đàn em nói với đàn anh như
vậy sao?". Bình thường, thiếu uý Long là một sĩ quan năng nổ, làm việc
chăm chỉ và rất kỷ luật. Ông đã trui rèn hai năm ở quân trườn, thấm
nhuần truyền thống của Hải Quân, vì vậy ông thấm ý lời tôi nói . Ông
đứng im. Tôi nói tiếp:" Thôi tập họp nhân viên cho tôi nói chuyện ".
Quân số thủy thủ đoàn gồm 80 người, đi phép và vắng mặt còn lại vào
khoảng 60. Họ đứng im phăng phắc, gương mặt rất nghiêm trọng. Chỉ
còn mình tôi là còn mặc áo giáp, đội nón sắt. Bỗng nhiên hôm đó tôi nói
chuyện rất hùng hồn. Đại khái:" Mọi người thấy rõ, tôi làm việc cho con
tàu, cho Hải Quân, cho Quân Đội. Thủy thủ đoàn ở dưới tàu được chăm
sóc đầy đủ quyền lợi. Các anh được tuần tự đi phép, kể cả các sĩ quan và
Hạm Phó, còn tôi thì không. Tôi luôn luôn nghĩ đến chiến hạm. Tôi
quyết định đi ra biển có 2 lý do. Thứ nhứt là gìn giữ con tàu. Quay trở
lại cặp bến, người ta sẽ phá nát con tàu. Đây là tài sản của quốc gia. Thứ
hai là bảo vệ sinh mạng của các anh. Mặc dù quân đội tan hàng rồi, tôi
vẫn còn trách nhiệm. Trong lúc tranh sáng, tranh tối các anh lên bờ có
thể bị giết. Tôi hứa với các anh là, khi ra biển rồi, tình hình bình yên, ai
muốn về, tôi cho về. Phương tiện ghe đánh cá nhiều lắm. Tôi hứa ".
Tôi biết phần đông các cuộc nổi loạn trên tàu là do hạm trưởng hoặc
thuyền trưởng o ép quá đáng. Tôi muốn làm cho rõ trắng đen để mọi
người đều hả dạ. Nhưng để lái theo ý mình phải khôn khéo một tí xíu
cộng thêm một tí tình cảm. Tôi quyết định trưng cầu dân ý. Tôi nói:"
Bây giờ, tôi lấy ý kiến các anh, bên nào đa số tôi làm theo. Tôi đặt ra hai
câu hỏi. Thứ nhứt, ai muốn quay lại Mỹ Tho lên bờ. Thứ nhì, ai theo tôi
ra biển rồi ai muốn về thì về". Tôi biết cái gì đưa ra đầu tiên, người ta bỡ
ngỡ, ngập ngừng, ngại quyết định. Tôi nắm tâm lý đó. Vả lại ý kiến thứ
hai hấp dẫn hơn, đi thì cứ đi rồi sau đó muốn về thì về. Tôi biết chắc là
tôi sẽ thắng.
Để chắc ăn, tôi nêu câu thứ nhứt trước:" Ai muốn quay tàu lại Mỹ Tho ".
Không ai đưa tay lên. Tôi chậm rãi lặp lại lần thứ nhì rồi lần thứ ba.
Không có người nào đưa tay. Tôi mừng thầm trong bụng vì biết mình
thắng rồi. Tôi nói tiếp:" Bây giờ, tôi sang câu thứ hai, ai theo tôi ra biển
rồi muốn về thì về". Một người đưa tay lên, rồi hai người, rồi ba người
rồi cả tàu. Một chiến thắng tuyệt đối. Cần nhấn mạnh ở đây là không có
"cò mồi". Tôi vẫn trầm tĩnh nhẹ nhàng:" Như vậy là các anh đồng ý với
tôi hết rồi, phải không? Các anh tiếp tục làm việc. Nhớ là ai muốn vào
bờ, cứ gặp tôi. Thôi tan hàng". Mọi người vui vẽ mà tôi không bận tâm
nữa
.
Chiến hạm ra cửa biển bằng cửa Tiểu vào buổi chiều. Nhạc sĩ Trường Sa
bập bồng trên một chiếc WPB, tuần duyên đỉnh. Ông gọi tôi, tôi ngừng
lại để ông lên tàu. Tối hôm đó, bắt được tần số của Hạm Đội cho biết tất
cả tàu tập trung tại Côn Sơn. Trên đường đi, tôi gặp HQ 229, Hạm
Trưởng Thiếu Tá Vương thế Tuấn, cũng lạc loài bơ vơ như tôi. Đi ngang
qua cửa Định An, có hai chiếc LCM tôi không để ý vì ruột gan bời bời.
Đi qua một khoảng khá xa, sĩ quan trực phiên gọi tôi. Tôi ngoáy cổ nhìn
lại, một cảnh tượng quá bất nhẫn mà tôi không đành lòng. Đàn bà và con
nít quỳ trên tàu, lạy như tế sao vào hướng chúng tôi. Hóa ra 2 chiếc
LCM chết máy ngoài biển. Chúng tôi quay lại cứu vào khoảng 200
người. HQ231 đến Côn Sơn rồi theo đoàn tàu qua Subic.
Đến Subic, tôi là người cuối cùng rời tàu. Một viên Đại Úy Bộ Binh,
trong đ̣ ám người di tản trên chiếc LCM, cố chờ tôi trên bờ, đến bắt tay
tôi:"Tôi di tản từ miền Trung về, chưa thấy tàu nào có kỷ luật như tàu
của ông". Tôi cầm tay ông siết nhè nhẹ, thẩn thờ không nói được lời nào.
Tôi muốn chia xẻ tình chiến hữu với ông, nhưng trong lòng trăm mối
ngổn ngang. Tình nước, tình nhà còn đó. Rồi từ đây phải bỏ lại tất cả sau
lưng. Bỏ lại quê hương yêu dấu, bỏ lại Hải Quân, bỏ lại biển xanh lồng
lộng, bỏ lại Mẹ Già, bỏ lại con tàu thân yêu.
NGUYỄN VĂN PHƯỚC
Mến tặng tất cả các bạn trong thủy thủ đoàn HQ 231. Chúng ta đã cùng
chiến đấu và đã cùng trải qua những giờ phút cuối cùng bi thảm nhứt của
đất nước.
TÔI SAY SÓNG.
Chiếc Hải vận hạm, HQ 403, lướt trên sông Sài Gòn, đưa những tên lính
thủy tò te vừa mới nhập ngũ, đi Nha Trang học tập (tháng 11 năm 1964).
Súng sính trong bộ đồ xanh Hải Quân mới được cấp phát mấy ngày
trước đó, tôi leo lên boong tàu, vây thành một lối đi quanh chiến hạm, để
nhìn cảnh vật xung quanh. Các bạn mới quen, đứng rải rác, mặt còn
ngây thơ vô số tội, chỉ chỏ nói chuyện vui cười. Tàu chạy qua thương
cảng, đến Nhà Bè rồi vào sông Lòng Tàu, cây Rừng Sát hai bên chằng
chịt. Gió mát quá, các gương mặt non trẻ hớn hở, hướng nhìn về tương
lai một cách háo hức.
Tàu ra cửa biển, sóng hơi nhấp nhô. Trời chập choạng tối, nhìn xung
quanh lác đác chỉ còn vài bạn, họ đi lúc nào tôi không hay. Tôi thấy
chóng mặt, người nôn nao, mò xuống lòng tàu kiếm chổ nằm. Tàu rộng
không biết đi đâu, tôi nằm đại kế bên đống hành lý, sac marin gối ở đầu,
áo mưa cấp phát phủ kín lên người vì bắt đầu có gió lạnh. Tôi kh̀ ông ngủ
được, tiếng sóng vỗ ì ầm bên hông tàu, nước biển văng lên hắt vào lòng
tàu như những hạt mưa sa. Lâu lâu hé áo mưa nhìn lên bầu trời nhìn các
vì sao để cảm nhận sự lảng mạn của các chàng thủy thủ trong bản nhạc
"Tình yêu và thủy thủ" của Y Vân:
"....Nhớ em điểm sao đêm,
Đếm sao mà vấn lòng ...."
Tàu lắc qua, lắc lại, các vì sao như nhảy múa, chạy qua, chạy lại trên bầu
trời như trêu tôi. Tôi nằm chịu trận, trong người khó chịu muốn nôn
mửa. Bao tử tôi thót lại chực nhảy ra ngoài. Chóng mặt quá, tôi sợ nhìn
các ngôi sao khủng khiếp. Làm sao đếm sao mà vấn lòng để mà nhớ, để
mà thương đây nè! Tôi nhắm mắt lại để không thấy gì hết, tôi ghét các vì
sao. Nhưng không ngờ, nó là những đốm sáng dẩn đường cho thủy thủ
trên biển mà sau nầy tôi phải học thuộc nằm lòng.
Tàu đến Nha Trang vào ngày hôm sau. Tôi loạng choạng đứng dậy, hai
chân yếu xìu, sac marin trên vai sao mà nặng quá. Lần mò xuống cầu
thang, tôi lắc đầu lẩm bẩm: "Thôi chọn lầm nghề rồi. Phải chi mình theo
thằng Triết đi Không Quân (khoá 63 D) hay theo thằng Hồ vào trường
Vỏ Bị Đà Lạt (khoá 21). Cho đáng cái tội yêu bộ đồ đại lễ Hải Quân, oai
nghiêm mà thanh thoát. Cho đáng cái tội yêu cái nón trắng Hải Quân với
thanh kiếm dài in trên các bích chương dán khắp Sài Gòn". Rồi cảm giác
say sóng đó cũng phai đi sau vài tháng học tập ở quân trường. Nhưng
mỗi lần thực tập trên biển là mỗi lần sợ. Tàu chao đi, chao lại là tôi thốc
mửa các thức ăn ra, đầu nhức như búa bổ, tìm chổ nằm bẹp dí, Nhìn ra
bên ngoài thấy một anh bạn, biệt hiệu Đạo Dừa, ngồi trên ổ neo thản
nhiên nhìn sóng gió. Chúng tôi đùa với nhau, nói anh nhờ uống nước
dừa mà lì sóng. Cơ thể mỗi người mỗi khác, có người lì sóng, có người
say sóng. Phòng tôi có tám người thì hết bốn kiện tướng say sóng, trong
đó có tôi. Một tay trong bộ tứ sợ biển, sợ tàu, tìm cách trốn biệt trên bờ,
đến năm 75 cũng chưa chịu xuống tàu . Một số rất đông các bạn sĩ quan
Hải Quân khác cũng vậy .Vì vậy có danh từ "Hải Quân Nước Ngọt". Nói
ra để biết phục vụ trên tàu biển cực khổ đến mức nào. Mỗi lần ra khơi,
nếu không gặp kẻ thù thì cũng phải chiến đấu với biển cả.
Rồi cái gì cũng qua đi, sau gần hai năm rèn luyện ở quân trường, tôi về
Sài gòn trình diện Bộ Tư Lịnh Hải Quân( tháng 7 năm 1966), cầm công
điện xuống tàu MSC 114 (Trục lôi hạm Hàm tử 2). Tàu bằng gỗ Teak,
sạch sẽ, trang nhã. Gỗ Teak (giá tỵ) là loại gỗ quý, không thấm nước .
Tàu của Mỹ, nguyên dùng để rà mìn cận duyên, làm bằng gỗ để triệt tiêu
từ tính. Tàu giao cho Việt Nam dùng để tuần tiểu cận duyên, Tôi không
ngờ đây là loại tàu lắc nhứt trong Hải Quân. Ngồi trong phòng ăn sĩ
quan, một chiếc tàu khác đi ngang qua mình cũng biết, vì nó lắc qua, lắc
lại nhè nhẹ. Tôi thầm nghĩ trong bụng: "Mình là vua say sóng mà đi tàu
nầy thì chỉ có nước chết. Đúng là thiên bất dung gian".
Tôi được Hạm Phó phân chia đi "ca" chung với Tăng văn Trâm (khóa
14). Trâm có cái răng khểnh, cười nói có duyên, tánh tình vui vẻ, nhã
nhặn.
Chuyến công tác đầu tiên đi Vùng 2 Duyên Hải đúng ngay gió mùa
Đông Bắc. Biển động, sóng bạc đầu phủ trắng xóa khắp nơi. Tàu lắc
qua, lắc lại như trứng vịt lăn qua, lăn lại. Tàu chúc mủi xuống rồi ngẩng
lên, múc nước biển đầy ắp lên boong tàu. Mọi vật đều phải cột chặt, nếu
không sẽ lao xuống biển. Trên đài chỉ huy, tôi cũng xiêu đi, xiêu lại, dĩ
nhiên là ói mửa tùm lum để biết thế nào là đời thủy thủ. "Hoa biển" và "
một loài chim biển" đâu không thấy chỉ thấy cái "sô" dùng đ̣ ể thốc mửa
thức ăn trong bụng, cột dưới chân la bàn điện. Thức ăn thốc ra hết, mệt
lã người nhưng cũng phải làm việc. Cứ 15 phút định point một lần, để
giữ con tàu lúc nào cũng ở trên đường mà hạm trưởng đã kẻ sẳn trên hải
đồ.
Người lính thủy, ngoài chiến đấu với kẻ thù còn phải chống chọi với
biển cả nữa. Cảm giác say sóng thật khủng khiếp, nó làm cho mình lả đi,
gần như kiệt sức, đầu óc quay mòng mòng. Ý chí không còn nữa vì nhức
đầu triền miên, giờ nầy sang giờ khác, ngày này sang ngày khác. Có
thủy thủ chịu đựng không nổi, đòi nhảy xuống biển. Chúng tôi phải xích
anh vào chân giường, đợi tàu cặp bến rồi đưa anh lên bờ. Thú vật cũng
say sóng. Trong một chuyến công tác tiếp tế chở bò từ Sông Cầu về Qui
Nhơn, vì quốc lộ 1 bị cắt đứt, hàng chục con bò lắc lư trên tàu, miệng
mồm đầy nước giải vì say sóng. Người dân đánh cá, hàng ngày, hàng
tháng trên ghe nhỏ trên biển cả, bước lên tàu chúng tôi cũng bị say sóng
vì biên độ lắc mỗi tàu một khác. Tàu lớn khác tàu nhỏ, sóng ngược khác
sóng ngang. Tàu bị sóng ngang khó chịu hơn.
Mãn "ca", xuống phòng ăn, phờ phạc cả người. Nhà bếp phát mỗi người
một dĩa cơm, đâu có ăn uống bình thường được, vì thức ăn lẫn chén dĩa
sẽ bay xuống sàn tàu ngay. Tôi nhìn dĩa cơm lắc đầu, xin lỗi hạm
trưởng, chạy vào phòng vệ sinh, ọc ọc. Trong bụng không còn thức ăn
nữa, nước giãi trắng nhờn nhợt bắt đầu tuôn ra. Hết nước giãi, thấy
miệng đăng đắng là biết dịch vị của gan hay lá lách, một chất lỏng màu
vàng. Và cuối cùng là máu, bao tử cứ chực nhảy ra ngoài vì đâu còn gì
để mửa. Máu không phải từ bao tử ra mà do các mạch máu li ti ở cổ bị
đứt vì mửa quá nhiều. Nước mắt, nước mủi đầm đìa, tôi loạng choạng
bước vào phòng ăn lại. Trâm cầm dĩa cơm, miệng nhai ngồm ngoàm,
cười ha hả: "Phước ơi, đời hải hồ vui lắm Phước ơi!". Tôi biết là Trâm
chọc quê tôi, ma cũ lòe ma mới. Bụng trống không, tôi mò về giường
ngủ, tiếng cười của Trâm vẫn còn vang vọng bên tai tôi.
Làm sao ngủ được, bụng trống cồn cào, đầu nhức như búa bổ, cứ mơ
mơ, màng màng thầm trách các ông nhạc sĩ, ở trên bờ hoặc đi biển rất ít,
viết các bản nhạc rất nên thơ, rất lãng mạn. Nào là hoa biển, nào là một
loài chim biển, tưởng tượng tàu đi trong biển tuyết, có ông thầm ước tàu
là một hoàng cung mà em là hoàng hậu. Có ông thấy: "Kìa ngư nhân in
hình trên sóng. Bao nàng công chúa dưới thâm cung". Có ông còn đi xa
hơn nữa: "Những chuyện ngàn đêm xứ Ba Tư và chuyện thần tiên bao
thế hê". Có người tình cảm nhẹ nhàng, thắm thiết: "Chờ một người đi xa,
áo trắng bay trong nắng tà", hay "mắt em màu trùng dương, tóc em như
sóng cồn". Cám ơn các ông nhạc sĩ đã thêu dệt nên đời sống thủy thủ rất
lãng mạn, rất đa tình, nhưng người thường không nhìn thấy được đời
sống thật sự của các chàng lính biển: phong sương với bão táp, phong
trần với gíó mưa, gan lì trong gian khổ, trầm tĩnh để chịu đựng. Tôi chỉ
thấy một câu nói về biển là hay nhứt: "Biển là người đàn bà đẹp, nhìn xa
thấy quyến rũ, ao ước được gần, sống gần thì chiụ không nổi vì tánh
nàng đỏng đảnh quá nhưng khi xa thì lại nhớ". Nghĩ quanh co, luẩn
quẩn, mệt quá rồi cũng thiếp đi.
Làm sao để khỏi say sóng, bạn bè khuyến cáo ăn củ sắn hay khoai mì,
khoai lang... Riêng tôi, tôi thấy ăn cháo là thích hợp nhứt. Dễ ăn, dễ hấp
thụ và cũng ... dể nôn ra cho nhẹ nhàng. Nôn ra rồi cũng phải cố gắng ăn
thêm khi tới bửa ăn, để có cái mà nôn. Tôi cử ăn đồ hộp, nhứt là cá mòi,
mửa ra rồi, mùi của nó qua một năm rồi vẫn còn sợ. Quan trọng nhứt là
ý chí muốn vượt qua. Tôi không mắc cở với Trâm nhưng với thủy thủ
trên tàu mình cần phải cho họ biết là mình có khả năng chống chọi với
biển cả. Đi "ca", lúc nào tôi cũng đứng, ôm cái la bàn điện để làm point"
và cũng để ...nôn ra cho dễ. Dần dần tôi quen với biên độ lắc của tàu, tôi
lấy lại tự tin. Ba tháng sau, tàu gặp một trận bão ở Đà Nẳng. Các lượn
sóng cao ngất, ụp vào tàu, phủ tràn lên boong, nước biển văng lên tới tận
đài chỉ huy. Tàu nghiêng gần 45 độ, tôi có cảm giác tàu lật úp, nhưng
không, tàu lấy lại thăng bằng rồi nghiêng qua bên kia. Các thủy thủ trên
đài chỉ huy gục hết. Trâm lộ vẽ mệt, mặt trắng bệt. Trâm nói: "Phước ơi,
tao mệt quá, tao xuống nghỉ, mầy coi dùm tao". Tôi nói:" Ờ, xuống đi".
Trâm lọ mọ xuống cầu thang. Tôi kêu giựt ngược, Trâm quay lại. Tôi
nói: "Trâm ơi, đời hải hồ vui lắm Trâm ơi". Trâm cười, cái miệng méo
xẹo.
Đầu năm 1968, trước trận đánh Mậu Thân vài ngày, tôi được lịnh đổi về
Vùng 2 Duyên Hải, qua các đơn vị Duyên Đoàn 25 (Hòn Khói, Nha
Trang), Duyên Đoàn 21 ( Đề Gì, Qui Nhơn), Bộ Chỉ Huy Vùng 2 Duyên
Hải, trại Tây Kết (Nha Trang), Phòng Thủ Hải Cảng Qui Nhơn. Giữa
năm 1970, tôi trở về Hạm Đội , được bổ nhiệm làm Hạm Phó HQ 330
(Pháo Hạm Lôi Công). Chiến hạm hoạt động trong sông ngòi nhiều, yểm
trợ hải pháo cho bộ binh trong các cuộc hành quân ở Cần Thơ, Châu
Đốc, Bến Tre, đặc biệt là ở Năm Căn (Cà Mau) và hộ tống thương
thuyền lên Nam Vang. Cuối năm 1971, tôi được lịnh chuyển về làm
Hạm Phó HQ11 (Hộ tống hạm Chí Linh). Cấu trúc chiến hạm được xây
dựng để chịu đựng sóng gió, vì vậy chiến hạm thường xuyên hoạt động
ở Vùng 1 Duyên Hải, địa đầu giới tuyến, nơi mưa bão thường xuyên.
Hạm Trưởng là người khá cứng rắn trong luật lệ, tôi là Hạm Phó vẫn
phải đi phiên như các sĩ quan khác trên tàu trong khi hạm phó ở các
chiến hạm khác được miển. Tôi cố gắng chịu đựng gần một năm rưởi và
như con sói biển đang độ trưởng thành nhào lặn, vùng vẩy ngoài biển
khơi. Tôi trở thành người lính biển chuyên nghiệp dạn dày với bão táp.
Chiến hạm tham dự các cuộc hành quân quan trọng: cùng các chiến hạm
Mỹ, yểm trợ hải pháo cho TQLC trấn đóng ở bờ sông Thạch Hản và
pháo ngày, pháo đêm, ngày này qua ngày khác, tuần nầy qua tuần khác
để yểm trợ cho Tiểu Khu Quảng Ngải giải phóng Sa Huỳnh.
Tháng 2/1973, tôi thụ huấn khóa Trung Cấp Chuyên Môn Hải Quân ở
Trung Tâm Huấn Luyện Sài Gòn. Tháng 5/1973, tôi được bổ nhiệm
xuống HQ617 (Tuần duyên hạm Phú Quý), mà tôi hân hạnh, lần đầu
tiên, được nhận lảnh quyền chỉ huy. Đây là chiến hạm nhỏ nhứt trong
các chiến hạm của HQVNCH và người chỉ huy được mang danh xưng
Hạm Trường cùng với một huy hiệu riêng biệt trên túi áo. Đây là niềm
hảnh diện của một sĩ quan Hải Quân, một số rất ít trong các sĩ quan Hải
Quân VNCH.
Trong một chuyến công tác dài ngày ở Phú Quốc, HQ617 được lịnh về
Sài Gòn nghỉ bến. Tin tức khí tượng cho biết một trận bão đang "đánh "
vào Nha Trang. Tôi hỏi ý kiến thủy thủ trên tàu, họ quyết định về ngay
vì nhớ nhà. Tàu vừa ra khỏi mủi Cà Mau, mây mù che thấp , mưa nặng
hột, gió thổi vù vù đánh thốc vào đài chỉ huy, biển trắng xóa, xung
quanh không thấy gì hết. Chiến hạm như người mù đi trong mưa. Tôi
cho mở radar, vì bờ biển thấp nên không có echo. Đành phải hải hành
bằng fathometer (máy đo độ sâu). Mưa càng nặng hột, sóng càng lớn.
Tàu nhỏ, sóng phủ lên đài chỉ huy. Tàu rung động mạnh, chồm lên các
lượn sóng. Sĩ quan đương phiên và thủy thủ trên đài chỉ huy chịu không
nổi, nằm gục hết, chỉ còn thủy thủ cầm tay lái và ... tôi là còn đứng
vững. Tôi cảm thấy bình tỉnh lạ lùng, có lẽ là vì trọng trách chỉ huy, sinh
mạng bao nhiêu người cùng chiến hạm tùy thuộc vào sự lèo lái con tàu .
Không vững tay lái, tàu sẽ bị sóng ngang đánh lật úp , hoặc không đi
đúng hướng tàu sẽ bị mắc cạn trước các cửa sông.
Nhớ lại những ngày chập chửng vào nghề và bây giờ tôi tự hào là con
sói biển đang vẩy vùng ngoài biển khơi. Nhìn ra bên ngoài , mưa trắng
xóa , biển đang cuồng nộ , tôi lẩm bẩm: "Biển ơi, mặc dầu nàng đỏng
đảnh quá, tôi vẫn yêu nàng".
NỖI LÒNG KẺ TRỞ VỀ hay CON NGƯỜI MỚI XHCN
Tên công an biên phòng gọi tôi vào phòng và bảo:" Anh chọn cho tôi 10
thuyền viên ở lại giữ tàu và để bàn giao, còn những người khác lên bờ
trước ". Tôi nhìn hắn. Đôi mắt đỏ ngầu đầy gân máu hình như gắn lên
trên một cái mặt nạ bằng sáp, gương mặt hắn phẳng lì, các sớ thịt trên
mặt hình như không động đậy, không lộ một chút xíu tình cảm, xúc
động nào, chỉ thấy đôi môi mấp máy khi hắn nói. Tôi vẫn còn nhớ mãi
tên hắn ta: tên Thùy.
Tôi đưa cho tên Thùy một danh sách 10 người có tay nghề chuyên môn
trong thủy thủ đoàn đưa chiếc Việt Nam Thương Tín về từ Guam. Khi
thấy đề cấp bậc thiếu tá trong danh sách, hắn gạch đi tên hai anh bạn tôi:
anh Vương thế Tuấn, nguyên Hạm Trưởng HQ 229 và anh Trần cao
Khải, nguyên Cơ khí trưởng chiếc HQ 5. Tôi bảo hắn: "Hai anh nầy rất
quan trọng, nếu không có anh Khải, tàu không nổ máy được và không có
anh Tuấn, không có ai bàn giao vật liệu hải hành". Đôi mắt đỏ ngầu đầy
gân máu của hắn nhìn tôi, đôi môi trên mặt nạ bằng sáp mấp máy:" Thôi
được, có toán bảo vệ trên tàu. Anh sẽ làm việc chung với họ". Hắn kêu
tên thượng sĩ công an biên phòng vào phòng và giới thiệu với tôi. Tôi
gật đầu chào tên thượng sĩ. Hắn trông trẻ hơn tôi, gương mặt láu lỉnh,
toát ra một vẽ trung thành như con chó trung thành với chủ. Tôi thầm
bảo, tên nầy "canh" mình đây. Toán bảo vệ gồm 10 người, võ trang súng
ống đầy đủ, trấn đóng ở phòng lái tàu phía trước.
Bên ngoài, tiếng chân thùm thụp bước trên boong tàu của các sĩ quan đủ
quân binh chủng Hải Lục Không quân, tay xách hành trang, đang lần
lượt bước xuống cầu thang, xuống tàu nhỏ để đưa họ vào bờ. Tất cả
gương mặt họ biểu lộ một tình cảm phức tạp, vừa vui mừng, vừa lo âu.
Hôm trước, bọn Việt Cộng đưa các sĩ quan cấp Trung Tá, các đàn anh
của tôi, lên bờ trước. Tôi đến cầu thang tiễn các anh đi. Anh Trần ngọc
Thạch, Trung Tá Chánh võ phòng của Tổng Thống Trần văn Hương,
một người mộ đạo và rất đạo đức, anh luôn luôn ngẫng cao đầu kiêu
hãnh về những việc mình làm. Anh Trần đình Trụ, Trung Tá Hải Quân,
Thuyền Trưởng chiếc VNTT, không có anh chắc chiếc VNTT không về
được, một sĩ quan Hải Quân tài ba , đầy kinh nghiệm nhưng cũng nhiều
tình cảm . Anh Trần văn Nam, Trung Tá Phụ Tá Tổng Trưởng Chiêu
Hồi (Bác sĩ Hồ văn Châm). Anh Cao văn Tư, lái trực thăng riêng cho
Đại Tướng Cao văn Viên, anh Quế, Trung Tá Quận Trưởng, anh Thiện,
Trung Tá Bộ Binh, anh Bình, Trung Tá Không Quân, phi công lái máy
bay A37...Các vị sĩ quan đàn anh của tôi lầm lủi bước chân xuống tàu.
Tôi biết tâm trạng của họ, lo lắng nhiều hơn vui mừng. Nhưng họ vẫn
bước tới. Có thể khả năng chánh trị của họ non kém nhưng tình cảm cao
quý trong lòng họ đã làm tôi khâm phục. Ra sao thì ra, hình như họ
muốn la to lên rằng: nợ nước đã trả, bây giờ là nợ gia đình đây. Ngày
nay thấy hành động đó là vô ích, nhưng lúc đó đau khổ quá, tình thế lại
tuyệt vọng, mấy ai biết được ngày sau sẽ ra sao? Họ và kể cả tôi, đâu
biết rằng bọn Việt Cộng thấp hèn làm sao hiểu được những tình cảm cao
quý đó.
Ngày hôm sau nữa, đến phiên các hạ sĩ quan, binh sĩ và những người
dân sự, di chuyển rời tàu. Tất cả đều im lặng, bình tĩnh chờ đợi những gì
sẽ xảy đến. Chiếc tàu trọng tải gần 7000 tấn trở nên vắng lặng sau khi
1500 người di tản rời khỏi tàu. Buổi trưa, 10 người còn ở lại, lần đầu
tiên ăn cơm chung với nhau, trên boong tàu phía sau lái. Thức ăn toàn là
đồ ăn Mỹ được biến chế lại cho hợp với khẩu vị Việt Nam. Biển trong
xanh, gió dìu dịu, phong cảnh thật hữu tình, nhưng chúng tôi, mười
người, mười tâm trạng khác nhau, tất cả đều im lặng không nói gì. Bỗng
nhiên tên thượng sĩ công an xuất hiện, chắc là để quan sát chúng tôi.
Một người trong toán chúng tôi mời anh lấy lệ: "Mời anh dùng cơm
chung cho vui!". Tôi thấy hắn ta nhún vai và lẩm bẩm trong miệng.
Tiếng gió rì rào, tôi thoáng nghe mấy tiếng: "Thức ăn của đế quốc Mỹ".
Có một cái gì nghèn nghẹn nơi cổ tôi. Quả thật là đồ ăn của đế quốc Mỹ.
Tôi thấy mình nhục nhã, mắc cở với tên thượng sĩ công an Việt Cộng
thất học. Tôi buông đủa xuống, thẩn thờ nhìn ra khơi. Biển thật xanh,
trời trong vắt, hình như trong ảo giác, tôi thấy thấp thoáng chiến hạm
HQ 231 của tôi ngoài cửa biển.
Trung tuần tháng 4/75, Nha Trang đã mất và Cam Ranh đang di tản.
Chiếc HQ 231 được lịnh trấn tuyến đầu, phía bắc Cam Ranh, đề phòng
tàu Việt Cộng xuất hiện. Cùng nhiệm vụ với tôi là HQ 605 của Thiếu Tá
Trịnh như Toàn. Anh Toàn rủ tôi vào vịnh Nha Trang để xem Nha Trang
ra sao vì dẫu sao Nha Trang là nơi chúng tôi có nhiều kỷ niệm . Chiếc
HQ605 chạy trước quẹo vào cửa mất hút, một bên là Hòn Lớn, mốt bên
là bãi Dài thuộc Cam Ranh. Tôi nghe tiếng đại bác đi. Tiếng Toàn vang
lên khẩn cấp trên máy: "Nó bắn tao Phước ơi". Tiếng còi hụ nhiệm sở
tác chiến vang lên, các súng trên tàu HQ 231 tua tủa ra như lông nhím.
Chiến hạm lấy hết tay lái sang trái để vào cửa. Chiếc HQ 605 chạy
ngược chiều trở ra, vải bạt phía sau rách tơi tả. Đại bác 76,2 ly của HQ
231 dài ngoằng chỉa thẳng vào Cầu Đá Nha Trang, phụ họa vào là 3 ổ
đại bác 40 ly đôi sẳn sàng nhả đạn. Tôi quan sát ống dòm để tìm kiếm kẻ
địch. Bọn chúng núp kỷ quá, không thấy đâu, chắc là bắn lén rồi chém
vè. Dân chúng trên bờ thản nhiên đi qua đi lại. Trong tíc tắc, tôi thầm
nghĩ: " Nếu bắn bậy dân chúng chết oan, mà cứ tiến vào , đưa đầu cho kẻ
địch núp lén bắn". Chiếc HQ 231 quay đầu lại, trở ra biển khơi, tiếp tục
tuần tiểu trấn ải địa đầu.
Sáng hôm sau, nhiều phái đoàn Việt Cộng xuống "tham quan" chiếc
VNTT. Có một mụ đàn bà mặc áo bà ba, làm ra vẻ bình dân cách mạng,
hình như là tỉnh ủy lên tàu thăm. Tôi mặc kệ họ làm gì thì làm, không
thèm chào hỏi. Tên Thùy dẩn một người ốm nhỏ con, mặc blouse trắng
đến gặp tôi. Anh chàng đội cái mũ giống như mũ Tam Tạng, gương mặt
trông có vẻ có học, đặc biệt đôi môi lúc nào cũng ươn ướt. Cả gương
mặt hình như toát ra một vẻ thèm thuồng, khao khát. Đôi môi gắn lên
trên cái mặt nạ bằng sáp của tên Thùy mấp máy: "Đây là bác sĩ viện
trưởng viện Pasteur, xuống tàu lấy các mẫu thức ăn đóng hộp của đế
quốc Mỹ, để phân chất. Bọn chúng thâm độc lắm, có thể bỏ thuốc độc
vào". Tôi dẩn tên bác sĩ đi gặp nhân viên tiếp liệu của chiếc VNTT và
nhờ anh ấy lấy mỗi thức ăn, 3 hộp, rồi đem xuống tàu nhỏ của viện
Pasteur Nha Trang. Thức ăn dự trữ của tàu VNTT phần nhiều là đồ hộp,
được Mỹ câu xuống, chất đầy các khoang dưới hầm. Hải trình từ Guam
về Việt Nam là 10 ngày. Mỹ cung cấp thức ăn cho chúng tôi một tháng,
theo tiêu chuẩn của ngườ Mỹ. Một ngàn năm trăm người người Việt trên
tàu có thể xử dụng 3 tháng mà không cần tiếp tế. Theo báo chí ở Guam
lúc đó, họ phỏng đoán có thể có nổi loạn trên tàu và Việt Cộng có thể
không cho vào hải phận Việt Nam. Vì vậy người Mỹ cung cấp cho
chúng tôi một tháng thức ăn, đề phòng tàu VNTT có thể quay lại Guam .
Họ có lý, những phỏng đoán đó đều xác đáng nhưng sự việc lại không
xảy ra như vậy vì lý do NỘi TẠi lẫn BẤT NGỜ. Buổi trưa, chiếc tàu
nhỏ của viện Pasteur nặng nề rời chiếc VNTT, trên đó chất đầy đồ hộp
của đế quốc Mỹ. Tôi thích thú cười một mình: " Rồi đây bao tử của bác
sĩ phân chất các đồ hộp đã đời".
Một phái đoàn Hải Quân Việt Cộng đến gặp tôi, cả ba đều mặc quân
phục xanh của HQ/VNCH , lấy được ở Sài Gòn . Tên đại úy mặc quân
phục xanh sĩ quan, hai tên còn lại, cấp bậc trung úy, mặc quân phục
xanh Canada của thủy thủ. Đặc biệt cả ba đều mang dép râu trông rất
buồn cười. Tên đại úy trông già tuổi hơn tôi, có vẽ đứng đắn, dáng dấp
như thầy giáo làng. Hắn hỏi tôi đủ thứ, học ở đâu, phục vụ đơn vị nào .
Rồi hắn hỏi tôi có biết đại úy Giới không? Tôi nói: có biết , nhưng
không quen . Tôi không ngờ, lúc đó , anh Hoàng mộng Giới , đại úy gốc
Hàng Hải Thương Thuyền , đã trốn trại ở trong Nam. Hắn muốn dò xét
tôi. Tên VC thứ nhì, mạnh khỏe, gân guốc như một nông dân, mặt hơi
ngố, vênh vênh tự đắc. Và tên thứ ba đen như cục than hầm, mặt rỗ
chằng rỗ chịt. Bọn họ đòi tôi dẫn họ đi xem tàu. Đi lung tung, đến kho
vận chuyển , thấy áo phao cấp cứu , tên đen như cục than hầm , lục tung
các túi mưu sinh trên biển : một dây câu có lưỡi câu , các viên thức ăn
chống đói , thuốc chống cá mập , một cái đèn pin , một cái kiếng , một
cái còi tu hít ... Thấy cái còi , tên đen mặt rỗ , lục các túi mưu sinh ở các
phao cấp cứu khác , lấy một số các còi. Một lát sau, tên Thùy mặt hầm
hầm , chạy đến gặp tôi . Hắn gắt tiếng, tôi biết hắn giận dữ: "Tại sao anh
cho lấy đồ đạc trong áo phao, anh có biết đó là tài sản XHCN không?".
Tôi chả biết tài sản XHCN là cái quái gì, nhưng tôi hiểu hắn muốn nói
đó là thuộc về Nhà Nước, là của Chánh Phủ. Tôi chống chế: "Tôi làm
sao ngăn cản được, các ông ấy là sĩ quan, là bộ đội, là chánh phủ". Tên
Thùy biết mình vô lý, hắn bỏ đi nhưng thòng thêm: " Từ đây về sau, tôi
cấm không cho ai lấy bất cứ vật gì trên tàu".
Buổi chiều, cơm nước xong, tôi thích lên boong chánh đi bách bộ vòng
vòng . Xa xa là Cầu Đá Nha Trang, nơi chúng tô , sinh viên sĩ quan khóa
15, từng thực tập các bài tập về hải nghiệp. Tôi bồi hồi nhớ lại những kỷ
niệm xưa. Chiều xuống dần, đèn đường trên Cầu Đá bật sáng, trong tích
tắc, máy camera trong đầu tôi chụp được hình ảnh đó rồi chuyển qua bộ
nhớ để lục lại kỷ niệm xưa. Anh Trần văn Dùng cũng cùng khóa tô ,
Hạm Trưởng chiếc HQ 618 , đến Guam một thân, một mình. Anh muốn
trụ lại Guam để chờ tin tức gia đình và như theo lời anh nói, khí hậu ở
Guam giống Việt Nam, anh muốn sống trong môi trường đó một thời
gian. Với số tiền anh mang the , anh mướn một phòng trọ ở ngoại ô
thành phố và mua một cái xe cà tàng 500 đô. Buổi chiều, anh hay vào
trại tị nạn đưa chúng tôi đi chơi: Xuân Ròm, Phước Đen, Nam Lõi và
tôi. Anh chạy vòng vòng cho chúng tôi biết thành phố và trước khi về
phòng trọ, anh ghé siêu thị mua một vài món làm đồ nhậu Việt Nam:
chân gà , lòng gà ... Có một vài cô gái VN đứng bán hàng ở đó. Các bạn
tôi sà vào tán gẫu. Anh Dùng la to lên: "Xong rồi, lên đường". Ngồi trên
xe về phòng trọ anh Dùng, chiều xuống trời tối dần. Đèn đường thành
phố Agana, thủ phủ đảo Guam, bật sáng. Trong khoảnh khắc bàng hoàng
đó, tôi nhớ Sài Gòn da diết. Tôi từng chứng kiến bao lần cảnh Sài Gòn
lên đèn. Thời gian như ngừng lại, các bạn nói chuyện lao xao, tôi không
còn nghe gì nữa. Tôi gục đầu xuống, thầm bảo: " Sài Gòn ơi, tôi sẽ trở
về".
Tôi thấy một bóng người đi xuống hầm thực phẩm. Tôi rón rén đi theo.
Nếu Khải hay Tuấn, tôi hù cho các anh ấy giật mình chơi. Bóng người
đó lục tung các thùng giấy đựng các thức ăn đồ hộp, hình như tìm kiếm
một vật gì đó. Nhận thấy không phải Khải hay Tuấn, tôi tằng hắng . Anh
ta giật mình quay đầu nhìn lại. À, hóa ra tên thượng sĩ công an. Hắn
ngượng nghịu, lúng ba lúng búng: " Cấp trên cho phép chúng tôi bồi
dưởng, tôi muốn kiếm cái hộp nào đựng cái gì đo đỏ , xanh xanh mà
hôm qua các anh ăn đó". Tôi lục trong đầu óc, nhớ lại ... cái gì đo đỏ
xanh xanh . À biết rồi, món fruit cocktail đó mà. Bao nhiêu mặc cảm của
tôi đối với hắn biến mất. Hắn là người thất học tầm thường làm sao có lý
tưởng được. Hắn bị cấp trên nhồi sọ và rồi như con chó giữ nhà. Con
người dùng những lý tưởng để sai khiến người khác và để che dấu
những xấu xa bên trong. Càng có chức có quyền, càng tệ hại . Những
người lãnh đạo anh minh, có lý tưởng , như viên kim cương sáng chói ,
hiếm lắm . Tôi khoan thai đến thùng fruit cocktail lấy một hộp đưa hắn,
vui vẻ, khoan hòa nói: " Lần sau , anh cứ đến chổ nầy lấy". Hắn vừa
ngượng nghịu vừa thích thú bước đi.
Tôi đứng trên boong tàu VNTT, thấy chiếc yabuta của HQ/VNCH mà
bọn Việt Cộng lấy xử dụng, cặp vào chiếc VNTT. Tên Thùy cho người
gọi tôi vào phòng. Nghe tiếng nói râm ran, vui vẻ bên trong, tôi bước
vào phòng thì thấy đầy đủ bộ mặt bọn chúng: tên Thùy, 3 tên sĩ quan
VC, tên bác sĩ với gương mặt lém lỉnh và đôi môi lúc nào cũng ươn ướt .
Tên Thùy nói với tôi, giọng êm ái mà tôi chưa bao giờ nghe hắn nói như
thế: " Bác sĩ viện Pasteur Nha Trang cần thêm để phân chất gấp, để báo
cáo cấp trên, anh giúp bác sĩ". Hắn ta nói trống không, ngượng nghịu khi
đề cập tới thức ăn đóng hộp. Hình như bọn chúng đã nhất trí, đồng ý
thông qua "nghị quyết đồ hộp", trông có vẻ hồ hởi, phấn khởi lắ . Tôi
quay ra , tên Thùy gọi giựt lại, giọng an ủi, phỉnh phờ: "Anh cố gắng
làm tốt, lao động tốt, học tập tốt, Đảng và Nhà Nước sẽ cho anh về xum
họp với gia đình sớm". Tên trung úy Hải Quân, tướng nông phu vênh
váo, lên lớp tôi: " Đảng và Nhà Nước chỉ đánh kẻ chạy đi, không đánh
kẻ chạy lại. Anh cố gắng trở thành CON NGƯỜI MỚI XHCN. Bọn anh
ở chế độ cũ sa đọa, chỉ biết ăn chơi, vì vậy mới thua. Anh có thấy xã hội
XHCN là ưu việt không?". Tôi không biết con người mới XHCN ra làm
sao, tròn hay méo. Nếu bọn chúng là con người mới XHCN thì tôi chịu
thua vì mới qua mấy ngày tiếp xúc, bản chất bẩn thỉu, dơ dáy của bọn
chúng đã lộ ra. Tôi trả lời lông bông: "Xã hội nào cũng có người tốt và
người xấu. Chế độ cũ VNCH mặc dù mất rồi cũng có cái hay của nó".
Tên trung uý nông phu nói: "Hay gì, xã hội thối nát, ăn cắp như rươi, đĩ
điếm tràn đầy. Tham nhũng từ trên xuống dưới. Thằng Thiệu ôm mười
mấy tấn vàng chạy mất đó". Tôi nóng mặt khi hắn gọi ông Thiệu bằng
thằng. Dẫu sao ông ấy cũng là cấp chỉ huy trong quân đội, là nhà lãnh
đạo hàng đầu của tôi. Tôi biết tánh tôi, ở lại trả lời là có chuyện. Lần đầu
tiên, tôi biết nhịn nhục bỏ đi.
Trời Nha Trang âm u, báo hiệu bão sắp tới , có lẽ cơn bão cuối mùa. Ở
Orote Point (trại tạm cư ở Guam), tôi đã đón cơn bão đầu mùa rồi. Lúc
cao điểm, trại chứa tới 50 ngàn người , như một thành phố nhỏ. Bão sắp
tới, người Mỹ quyết định đưa dân tị nạn qua Mỹ gấp. Tiếng nói trên loa
vang lên ra rả trong trại, nhắc nhở người tị nạn lên đường. Hàng chục
chiếc xe buýt tỏa đi khắp trại, ngừng từng lều một, hỏi ai muốn đi, họ
đưa ra phi trường, thậm chí còn xách hành lý dùm ra xe. Một người Mỹ
hỏi tôi, tôi thẩn thờ lắc đầu. Thành phố lều hoang vắng, tối đen. Lều tôi
ở, không còn ai, tôi ra ngoài nằm võng mắc ở hàng cây dương cạnh lều.
Tiếng võng cọt kẹt, cọt kẹt như tiếng đàn khảy lên tâm sự của lòng tôi.
Ba ngày trước đây, tôi đưa vợ chồng Toàn lên xe buýt ra phi trường .
Tôi cũng có vé đi trại Pendleton, California, cùng vợ chồng Tòan, nhưng
tôi quyết định ở lại. Chị Toàn mếu máo khóc, còn Toàn xúc động nói:
"Mầy quyết định rồi, tao không cản. Chúc mầy may mắn. Còn tao thì
mười năm nữa, hai mươi năm nữa tao cũng sẽ tìm cách về Việt Nam".
Bước lên xe buýt, anh dúi vào túi tôi hai chục đô.
Lúc mới bước chân lên Guam, tôi còn hăng lắm, quyết định ra đi lập lại
cuộc đời mới. Nhưng càng ở lâu tôi càng bị thấm đòn, như một vỏ sĩ bị
đòn liên tiếp. Nhìn những người có gia đình riú ra, ríu rít, tôi càng đau
khổ.
Tôi biết đời sống vật chất đầy đủ đang chờ đợi tôi. Tôi nghĩ đến mẹ tôi
và em gái tôi. Phải chi tôi biết lo xa, giờ thứ 25 còn mang áo giáp, đội
nón sắt. Tôi là người thua cuộc, thua hoàn toàn. Như một người đánh
bài, tôi xả láng, thua trắng tay. Dạo chơi xuống bờ biển, thiên hạ thản
nhiên tắm giỡn, nô đùa . Các ban nhạc trẻ còn tổ chức nhảy đầm ở ngoài
trời nữa. Tôi cảm thấy cô đơn như đi giữa chốn không người. Tưởng vớ
được cái phao khi Phó Đề Đốc Hoàng cơ Minh kêu gọi các sĩ quan Hải
Quân đến họp mặt, ở trại Orote Point, vào một buổi trưa. Tôi chưa từng
thấy ông, lần đầu mới gặp. Dáng người ốm, mảnh khảnh, tiếng nói sang
sảng chứng tỏ một người có năng lực và ý chí cao. Ông bảo: "Tôi xin
người Mỹ lập một cái làng Hải Quân, nhưng họ không cho. Họ nói rằng
không muốn có một quốc gia trong một quốc gia. Các anh em qua bên
Mỹ, muốn liên lạc với tôi , gọi số điện thoại nầy ...". Qua lời Phó Đề
Đốc Minh tôi hiểu ngay là ván cờ Việt Nam đã lật úp rồi không phải lật
ngửa. Tôi liên tưởng ngay tới bức màn sắt hay bức màn tre buông xuống
như ở Nga sô và Tàu Cộng và rồi sao đây Mấy ai biết được ngày sau sẽ
ra sao?
Tên Thùy nhờ tôi viết đơn lên Bộ Công Chánh Việt Cộng, nhờ yểm trợ
và bảo vệ tàu VNTT khi bão đến vì tàu VNTT được bọn chúng giao cho
Bộ Công Chánh. Tôi biết tên nầy thất học chỉ giỏi nghề dò xét và kềm
kẹp dân chúng, làm gì biết thảo đơn. Tôi viết rồi đưa hắn ký. Thật ra
chiếc VNTT cần gì ai yểm trợ và bảo vệ chống bão. Tự nó, nó có thể
vượt bão rổi. Chắc có lẽ tên Thùy không biết đến khả năng của chiếc
VNTTvà có lẽ sợ, nhân dịp bão, chúng tôi nổi loạn? Sau đó một tiểu đội
bộ binh, với súng ống đầy đủ, lên trấn đóng trên tàu phụ với toán bão vệ
của công an biên phòng.
Rồi cơn bão cũng qua đi, cái lạnh và gió mưa kéo dài lê thê mấy ngày
sau. Là dân đi biển, tôi thích đứng trên boong tàu nhìn ra biển khơi. Trời
mưa lất phất, gió lành lạnh cho tôi có cảm giác giống như hôm nào tôi
ngồi chờ trên băng ghế gỗ, bên ngoài căn nhà nhỏ ở trong trại Orote
Point. Những người di tản muốn qua Mỹ thì đi hết rồi, chỉ còn lại những
người không muốn đi hay muốn về Việt Nam . Trại Orote Point giải tán.
Chúng tôi được lịnh tập họp bên ngoài một căn nhà nhỏ, chờ xe buýt
đến , đưa qua các trại khác an toàn và tiện nghi hơn . Mưa nhẹ lất phất,
ai nấy đều im lặng , chìm đắm trong nỗi suy tư của riêng mình . Bỗng có
tiếng chân thùm thụp chạy tới, tiếng khóc của một đứa nhỏ, vào khoảng
sáu, bảy tuổi. Cháu nức nở: "Em muốn về Việt Nam, em muốn về với
Má". Tiếng của đứa lớn hơn, thằng anh: "Nhưng bỏ Ba một mình vậy
sao , trở lại với Ba đi". À! Tôi hiểu ra rồi , một người đàn ông nào đó ,
trong cơn hoảng loạn, dắt hai thằng con trai nhảy xuống tàu di tản, bỏ lại
bà vợ. Bây giờ, thằng nhỏ thương Mẹ, muốn quay về, còn thằng lớn
không nỡ bỏ Ba một mình. Hai anh em dằng co. Không một ai can thiệp
vào vì chuyện lòng của mình còn chưa giải quyết xong làm sao can thiệp
vào chuyện của người khác. Thằng nhỏ yếu sức, ngồi trì xuống, thằng
lớn kéo lết đi. Hai gót giày của đứa nhỏ cày xuống đất hai lằn giống như
những vết cày rướm máu trong trái tim tôi. Mưa phùn tỏa xuống như
phun sương, mọi người ngồi thừ như tượng đá , trên má đọng những giọt
nước, không biết là nước mưa hay nước mắt. Tiếng nức nở của đứa nhỏ
xa dần, xa dần: " Em muốn về với Má, em muốn về với Má ......."'
Buổi thử máy tàu là buổi bàn giao chánh thức. Hai phái đoàn Bộ Công
Chánh và Hải Quân xuống rất đông. Tôi phân phối công việc: ai muốn
học máy thì theo anh Khải, ai muốn biết về Truyền Tin, Điện Tử và Hải
Hành thì theo anh Tuấn, ai muốn biết về Vận Chuyển, cách xử dụng
máy neo thì theo một Trung Sĩ Vận Chuyển . Còn tên đại úy Việt Cộng,
trông như thầy giáo làng thì theo sát bên tôi ở phòng chỉ huy. Trên bàn
hải đồ, tên Việt Cộng hỏi tôi cái thước to bản màu đen, xếp ra xếp vào
được, là cái gì. Tôi bảo đó là thước song song của Mỹ, còn Pháp dùng
thước Crass. Hắn nói: "Tôi biết dùng thước Cờ - Rát". Rồi hắn bảo:
"Anh nhổ neo, cho tàu chạy một vòng quanh hòn Lớn, rồi neo trở lại gần
Cầu Đá hơn". Hắn hỏi tôi:" Anh biết neo chính xác không? ". Tôi trả lời:
"Hải Quân chúng tôi ai cũng biết". Hắn chấm một điểm trên hải đồ, rồi
nói:"Anh chuẩn bị như thế nào?". Tôi kẻ một đường từ cửa biển vào
điểm neo rồi nói với hắn: " Mình sẽ chạy trên đường tà hành nầy, cách
điểm neo chừng 3000 yards , mình ngưng máy và gần điểm neo mình
buông neo". Tôi đo hướng điểm dự trù ngưng máy, cách điểm neo 3000
yards, lấy mép của Hòn Lớn gần thẳng góc với đường tà hành càng tốt.
Tàu nhổ neo, chạy trước mặt bãi biển Nha Trang về hướng Bắc, vòng
Hòn Lớn ra biển, đi về hướng Nam và vào cửa biển giữa Hòn Lớn và
Bãi Dài thuộc Cam Ranh. Tàu đang chạy, tên Việt Cộng hỏi tôi đủ thứ ,
nào loran, nào la bàn điện, cách chỉnh la bàn từ ra làm sao, nào máy
chỉnh hướng. Tàu HQ/VNCH không chiếc nào có máy chỉnh hướng,
Chiếc VNTT có trang bị, chỉ cần gài máy, máy sẽ lái hướng mà mình
muốn. Tàu vào đường tà hành, tôi nhờ một nhân viên giám lộ đứng canh
hướng. Tàu giảm máy từ từ. Đến điểm ngưng máy, tôi cho hướng trước ,
nhân viên giám lộ hô " Top ". Tàu ngưng máy hoàn toàn. Tàu còn trớn
chạy tới gần điểm neo 100 yards, tàu buông neo. Dây xích neo tuôn rồn
rột. Quán tính tàu quá lớn, neo chạm đất rồi , dây neo vẫn còn tuôn lẹ .
Tôi hô thắng neo. Dây xích neo được thắng lại, các bố thắng ép vào
thành trục quay bốc khói dữ dội. Cuối cùng tàu ngừng laị, neo cắn một
cái "sực". Tàu đang trôi bị giựt một cái. Quay lại bàn hải đồ, tôi thấy tên
đại úy cầm cái thước Crass đo rồi gật gù. Tôi biết tàu vào đúng điểm
neo.
Bước xuống cầu thang, tên Thùy chận tôi lại hỏi, còn gì để bàn giao
không? Tôi dẩn hắn vào phòng ăn sĩ quan. Tôi đã làm sẳn một bảng liệt
kê, đọc cho hắn nghe các vật dụng trong phòng: mấy cái đồng hồ để bàn,
mấy cái đồng hồ đeo tay (không biết của ai), vài cây viết mực (loại mắc
tiền), một chục bộ máy hớt tóc, một chục bộ máy may singer... Máy hớt
tóc và máy may là của Mỹ trang bị cho chúng tôi lúc còn ở Guam. Tôi
liếc nhìn tên Thùy, đôi mắt hắn bớt đỏ hình như sáng long lanh, các bắp
thịt ở quai càm hắn giựt giựt. Tôi biết là hắn đã tìm ra được kho tàng rồi.
Hắn nhìn sửng tôi, chắc không tưởng tượng được vì tôi bình thản quá.
Tôi đưa cho hắn tờ giấy liệt kê rồi bước ra khỏi phòng.
Ba người chúng tôi, Khải, Tuấn và tôi ngủ cùng một phòng. Tôi trấn giữ
bộ ghế sofa. Tên thượng sĩ công an vào phòng. Hắn sởi lởi: "Ngày mai
sẽ có ghe đi chợ riêng cho các anh. Các anh đã làm tốt nên được bồi
dưởng, Các anh muốn ăn gì?" Tuấn suýt soa: "Chúng tôi chỉ thèm rau
thôi, nhứt là rau muống. Ở Guam chúng tôi chỉ ăn đồ hộp". Tên thượng
sĩ ghi nhận rồi quay sang hỏi đời sống trong Nam. Tôi biết Tuấn môi
miếng, đưa đẩy:" Đời sống trong Nam bấp bênh lắm, lo đủ thứ. Tôi thích
đời sống XHCN, con cái lớn lên được Nhà Nước lo đầy đủ, cha mẹ khỏi
lo". Tên thượng sĩ ba hoa chích chòe về thiên đường XHCN của hắn, cái
gì cũng có, cái gì cũng hay. Tôi nằm mơ mơ, màng màng nghe Tuấn hỏi:
"Ở ngoài Bắc có xe Honda không?". Tên thượng sĩ ú ớ không biết
Honda là gì. Tuấn giải thích: "Là một loại xe mô tô đẹp lắm, của Nhật".
Tên thượng sĩ ba hoa: "Ở ngoài Bắc có một loại xe mô tô của Ba Lan,
màu đỏ, đẹp lắm. Chở em gái phía sau thì tuyệt". Sau nầy tôi biết xe đó
tên là Minsk, xấu ơi là xấu. Lúc đó tánh tôi còn nóng, thấy ngờ ngợ,
chướng tai là không chịu được. Tôi ngồi dậy, xách mền gối , để mặc tên
thượng sĩ ngồi đó, qua phòng khác nằm ngủ.
Sáng hôm sau, Tuấn và tôi đứng trên boong tàu nhìn phong cảnh chơi.
Một chiếc Yabuta cặp vào, trên đó đầy những bó rau muống. Tuấn như
bắt được vàng, chạy ào xuống. Tôi ngẫm nghĩ: "Thế bọn Việt Cộng cũng
giử lời hứa đấy chứ nhỉ?". Các bó rau muống được quăng lên sàn tàu.
Tuấn ngồi lặt rau, tôi xề xuống kế bên Tuấn. Hai đứa hể hả, cười nói.
Những cọng rau muống to tròn mum múp, những lá rau muống xanh
rờn. Tôi đang tưởng tượng đem rau muống luộc, rồi chấm nước mắm giả
ớt tỏi, pha chanh và đường. Tôi nhớ tiếng Bắc trong trường hợp nầy:
"Tuyệt cú mèo". Nước miếng tươm ra trong miệng tôi.
Tên thượng sĩ đứng kế bên tôi hồi nào không hay. Hắn bảo: "Các anh
chuẩn bị hành trang lên bờ". Hắn tủm tỉm cười bí hiểm. Tuấn như lò xo ,
bật dậy rồi chạy ào về phòng. Tôi biết giờ nầy nó sẽ đến nhưng không
biết lúc nào. Tôi đứng dậy, đủng đỉnh đi theo Tuấn. Các bộ mặt của các
tên Việt Cộng lướt qua trong đầu tôi; cái mặt phẳng lì với đôi mắt đầy
gân máu của tên Thùy, tên đại úy giống như thầy giáo làng, tên trung úy
tướng tá giống như nông phu, tên trung úy đen sì, rỗ chằng, rỗ chịt, tên
bác sĩ với đôi môi lúc nào cũng ươn ướt và tên thượng sĩ cái mặt như
chó giữ nhà. Tôi lẩm bẩm: " Rồi đây mình sẽ trở thành con người
XHCN như bọn chúng chăng?".
NGUYỄN VĂN PHƯỚC
Dòng đời biến đổi.
Tôi ghé chợ Hòa Bình mua hai tờ báo. Khi bước ra cửa. Một người đàn
ông chặn tôi lại hỏi: " Xin lỗi , có phải anh Phước không?". Tôi nhìn
người đối diện, ăn mặc chửng chạc với hàng ria mép tỉa thật gọn. Tôi
không nhớ là ai: "Tôi là Phước, xin lỗi tôi không nhớ anh". Anh bạn trả
lời thật mau: "Tôi là Tùng, Việt Nam Thương Tín đây". Hàng ria mép
mấp máy, làm tôi nhớ lại anh. Tôi mừng rỡ, cầm bàn tay anh giục giặt
thật mạnh:" Trời ơi, Tùng, hơn 40 năm rồi".
Sau 30/4/75, Tùng và tôi cùng ở trại tị nạn Asan, Guam, để chờ về Việt
Nam. Anh là người nổi tiếng, dân tị nạn ở trại vào khoảng 2000 người,
đều biết anh. Anh nói tiếng Anh rất lưu loát vì ở Việt Nam, anh là thông
dịch viên. Mỗi khi có phái đoàn Mỹ đến thăm hỏi về đời sống cũng như
tâm tư của người dân tị nạn, anh là người thông dịch. Tôi rất mến anh vì
anh còn trẻ, nhỏ hơn tôi chừng 5 tuổi, mà rất năng nổ và nhiệt huyết.
Dáng người gầy, dong dỏng, ăn mặc giản dị, đặc biệt hàng ria mép để
dài ra, trông giống như tài tử xi nê. Gương mặt đượm vẽ buồn nhưng tỏ
ra cương quyết. Nhiều lần tên thống đốc đảo Guam, Bordallo, dẩn đàn
chó săn đến trại tị nạn, diệu võ giương oai, anh đứng ra thông dịch, dáng
dấp hòa nhã nhưng vẫn hiên ngang. Tình cảm gia đình mạnh đến nỗi anh
bỏ ngoài tai những lời hứa giúp đở của người Mỹ nếu anh ở lại, để rồi
nhận lảnh 10 năm tù của bọn "đỉnh cao trí tuệ loài người".
Tôi nắm tay Tùng: "Tôi và Tùng đi uống cà phê nói chuyện chơi"
Tùng lắc đầu nói: "Tôi không uống cà phê". Tôi hỏi gia đình Tùng ra
sao? Anh nói ở một mình. Tôi hơi ngạc nhiên và tưởng trường hợp của
anh, giống như bao người khác, gẫy gánh giữa đường. Tôi đùa: "Về Việt
Nam vớt một bà qua cho đở buồn, với lại lớn tuổi rồi cần một người
chăm sóc chứ!. Tùng nhìn tôi nghiêm trang không nói gì. Anh đề nghị
với tôi về phòng anh, ở gần chợ Hòa Bình, nói chuyện thoãi mái hơn.
Apartment của anh trông đơn giản nhưng ngăn nắp. Trên tường treo mấy
bức ảnh của anh rọi lớn, đẹp trai, rất phong độ, trông giống như Trần
Quang thời trước. Anh cất giữ mấy món đồ ở chợ xong, ra ngồi đối diện
với tôi. Anh tâm tình, ngày 30/4/75, vì hoảng loạn, anh bỏ chạy lên tàu
Hải Quân ở bến Bạch Đằng, bỏ lại người vợ đang mang thai. Ở Guam,
anh nhớ và thương vợ, vả lại đứa con sắp sanh. Anh nghĩ rằng, rất đơn
giản, anh phải có trách nhiệm, vì thế mà anh cương quyết trở về. Anh
làm việc hăng say, mọi việc thông dịch đều cần đến anh. Nhiều lúc tôi
thấy anh phờ phạc cả người. Và cũng chính vì vậy mà bọn VC kết án
anh là CIA. Mười năm tù đày, lao công khổ nhục, anh được cho về xum
họp với vợ con thân yêu. Sau đó anh dạy kèm Anh Văn, anh nói ,cũng
kiếm được khá bộn bạc. Đời sống vững vàng.
Tôi hỏi anh, tại sao ra đi. Anh trả lời: "Thì anh cũng biết, làm sao sống
với bọn Cộng Sản được". Anh kể tiếp: " Rồi đưa vợ con vượt biên, may
mắn là trót lọt, với vốn Anh ngữ của tôi, tôi tìm việc dễ dàng.
Nhưng ...". Anh ngừng lại, đôi mắt trở nên xa xăm, gương mặt rắn lại ,
cương quyết. "Tôi và "nó" cãi nhau hàng ngày, mười bửa hết chín bửa.
Mà "nó" hỗn quá, tôi chịu không nỗi!..." Tôi không dám hỏi thêm vì sợ
xúc động tình cảm của anh. Chúng tôi ngưng một chút cho thời gian
lắng động lại và để tâm tư anh bớt xao động. Tôi hỏi: "Bây giờ anh sống
một mình hả?". Anh nói: "Tôi vẫn còn đi làm, công việc nhàn mà lương
cũng khá, ngoài giờ đi làm, nhàn rỗi tôi dịch sách, toàn là sách về triết lý
Phật giáo". Anh chỉ một đống sách trên kệ rồi anh cầm một quyển dày
cộm, khoảng năm, sáu trăm trang, đưa biếu tôi. Liếc nhìn quyển sách, tôi
nhớ lại thời sinh viên, bắt chước bạn bè cho là thời thượng, vác quyển
sách dày khoảng bốn , năm trăm trang của Phạm công Thiện viết về
Krisnamurti, một triết gia mà ông Thiện khâm phục và cho là Phật sống,
về nhà, tâng tiu quyển sách, nằm nghiền ngẫm nhưng rồi không hiểu gì
hết. Cho là quá cao siê , mình không đủ tầm, tôi xếp vào tủ chờ dịp khác.
Mười hai năm sau, đi tù về, lúc đó 44tuổi , thấy quyển sách còn nằm
trong tủ, lấy ra đọc tiếp, vẫn không hiểu gì hết. Nhận biết mình là người
trần mắt thịt, không nắm bắt được triết lý cao siêu của Đức Phật. Vì vậy
khi Tùng đưa cho quyển sách, tôi vội từ chối ngay: "Tôi không có thì giờ
đọc, Tùng cho người khác có ích hơn". Tùng thuyết giảng với tôi về
Phật Pháp cả tiếng đồng hồ. Tôi chịu khó ngồi nghe nhưng lời giảng của
Tùng từ lổ tai nầy chạy qua lổ tai kia. Tôi chỉ nhớ loáng thoáng là Tùng
tìm được hướng đi mà Phật Pháp là ngọ̣ n đuốc soi đường. Tùng ca ngợi:
"Hay lắm anh à, tôi như người ngủ mê, bây giờ bừng tỉnh dậy. Càng đọc
càng thấy hay". Tùng cho biết thêm, thứ bảy và chủ nhật nghỉ, anh đi
thiền buổi sáng. Tôi lẹ miệng hỏi: "Chắc tập với thầy Hằng Trường hả?"
Tùng nói: "Tôi tập thiền chính tông, với các nhà sư Tây Tạng". Tôi gật
gù thán phục: "Hay quá!" Nhưng trong lòng tôi nghĩ khác. Tùng và tôi
có duyên gặp lại nhưng hình như tôi cảm thấy Tùng sống ở một thế giới
khác tôi. Chắc có lẽ vì đời sống tình cảm không được như mong muốn,
Tùng muốn kiếm một lối đi khác cho tâm hồn thanh thản . Chúng tôi nói
chuyện cũng cả hai tiếng đồng hồ. Tôi cáo từ ra về, chúc Tùng có một
đời sống mới vui vẻ, an bình.
Xe tôi để ở chợ Hòa Bình, cách chổ ở của Tùng 500 mét. Tôi lội bộ ra xe
mặc dù Tùng nằn nì đưa tôi đi. Mặc cho dòng xe chảy ào ào, tôi trầm tư
suy nghĩ. Dòng đời biến đổi của Tùng làm tôi xúc động. Nhưng suy nghĩ
cho cùng dòng đời cũng như dòng sông, ẹo chổ nầy, ẹo chổ kia, có lúc
gấp khúc lại như dòng đời quay lại 180 độ. Có dòng sông chia đôi, mạnh
dòng nào nấy chảy cũng như dòng đời tách ra mạnh ai nấy sống. Dòng
sông kết thúc ở biển khơi. Dòng đời cũng kết thúc, sự sống chấm dứt.
Kết thúc cách nầy hay cách khác, đểu đi đến chổ kết thúc cả.
Chiến tranh Việt Nam.
Nhiều bạn hỏi tôi xem The Viet Nam War chưa, tôi trả lời: tôi không
xem và chả cần xem. Chúng ta đã sống, đã chiến đấu và thoát thai từ
cuộc chiến tranh đó, chúng ta hiểu rõ mục đích và bản chất của cuộc
chiến tranh đó là gì rồi, cần gì phải xem. Có bạn nói: xem cho biết . Xem
để nghe bọn chúng chửi chúng ta à.
Bạn hãy nói người làm ra bộ phim là ai, tôi sẽ nói mục đích và ý nghĩa
của bộ phim là gì. Truyền thông của bọn Việt Cộng, "bên thắng cuộc",
núp đằng sau khẩu hiệu thống nhứt đất nước để chiêu dụ những người
yêu nước, ra rã lên là chiến đấu cho lý tưởng Cộng Sản, cho một xã hội
tốt đẹp, mọi người giàu nghèo bằng nhau, cho một xã hội công bằng, để
chiêu dụ lớp nông dân nghèo khổ. Bây giờ xã hội đó ra làm sao? Đọc
báo, mọi người đều biết, bọn lãnh đạo Việt Cộng đua nhau xây dựng
dinh thự nầy, lâu đài nọ, sống trên sự đói khổ, lầm than của người dân ,
bửa đói, bửa no. Bọn đảng viên đua nhau cào cấu của cải của người dân
mà không có một thế lực nào che chở. Bọn chúng cho rằng chế độ Cộng
Sản dân chủ gấp trăm lần chế đ̣ ộ tư bản thì ta cũng có thể nói rằng chế
độ bọn chúng bất công gấp ngàn lần chế độ của chúng ta. Bọn chúng
vênh váo cho là người thắng cuộc nhưng bọn chúng vờ đi làm như
không biết là " nếu như vị trí địa dư Việt Nam cách xa Trung Cộng,
không có biên giới dính liền, thì số phận của các nhà lãnh đạo Việt Cộng
sẽ ra sao?" Có giống như Saddam Hussein và Gaddafi không?
Người Mỹ vào Việt Nam không thèm xin phép mà ra đi thì phải cần đến
Tổng Thống Dương văn Minh "đuổi mới chịu đi", cho danh chánh ngôn
thuận . Họ dàn xếp với Trung Cộng một chiến lược mới và để biện hộ
cho sai lầm chiến thuật của họ ở Việt Nam, họ đổ vấy cho Việt Nam
Cộng Hòa và tâng tâng " bên thắng cuộc " một chút cho đở mất mặt. Các
nhà viết sách và làm phim cho rằng VNCH sụp đổ là do chánh quyền và
quân đội hèn nhát. Họ núp đằng sau sự thật, chộp đằng nầy một số hình
ảnh, chộp đằng kia một số hình ảnh, chắp vá lại với nhau, phỏng vấn
người nầy một chút xíu, người nọ một chút xíu rồi đưa ra kết luận trên
kia. Xin lỗi các ông, hãy chỉ cho chúng tôi biết trên thế giới nước nào
không tham nhũng, kể cả nước Mỹ? Các ông ở thời bình, luật lệ sát sao
nên mới ngăn chặn được, ví dụ như trường hợp Bộ Trưởng Y Tế của Mỹ
vừa qua. Còn VNCH, đang lúc chiến tranh thì như vậy là quá hay, so với
bọn Việt Cộng sau nầy thì một trời một vực . Chúng tôi thiếu gì người
thanh liêm: nhứt Thắng, nhì Chinh , tam Thanh , tứ Trưởng. Những
người lãnh đạo mà tham nhũng là người của các ông và do các ông dựng
lên. Tôi cũng xin lỗi các ông khi nói chúng tôi hèn nhát. Hình ảnh sơ sài
không nói lên một điều gì ví dụ như người lính điạ phương quân đeo
càng máy bay. Bộ quân đội của các ông không có người như thế sao?
Người lính Mỹ đào ngũ, trốn qua Bắc Hàn, vừa mới chết, nói lên điều
gì? Trên thế giới, từ cổ chí kim, chưa có quân đội nào bại trận mà có 5 vị
tướng tuẩn tiết, chưa kể đến hàng ngàn sĩ quan và binh sĩ tự kết liễu đời
mình. Điều đó nói lên sự can đảm và tiết tháo của người lính VNCH và
cũng nói lên sự uất ức khi biết mình thua trận trong một hoàn cảnh đau
thương, nghiệt ngã.
Việt Cộng thì không nói làm gì nhưng truyền thông Mỹ khi đề cập tới
VNCH đều đưa ra một hình ảnh quá tệ bạc. Họ che dấu ý đồ cũng như
sách lược của họ. Gần hết chiến tranh, Pháp muốn thay thế Mỹ, đưa ra lá
bài trung lập hóa miền Nam với sự yểm trợ của Trung Cộng vì nước nầy
không muốn Việt Cộng trở thành một lực lượng quân sự hùng mạnh.
Trong khi đó, Việt Cộng cướp lấy thời cơ với sự giúp đở ngầm của Mỹ .
Mỹ muốn Việt Cộng mạnh để làm một lực lượng đối trọng với Trung
Cộn . Chiến lược đó bây giờ vẫn tồn tại. Vì vậy VNCH thua một cách
chóng vánh và có " bài học dạy Việt Nam " của Đặng tiểu Bình. Việt
Nam cố thoát ra khỏi gọng kềm nhưng tài hèn và tinh thần bạc nhược
nên đành "cố đấm ăn xôi".
Sau 42 năm, chúng ta nhìn thấy rõ lắm rồi, không cần tài liệu giải mật,
giải mã nào hết. Có người bảo chiến tranh VN là chiến tranh ý thức hệ ,
chiến tranh uỷ nhiệm , người kia bảo nội chiến , người nọ bảo xâm lược .
Tôi cho là vì quyền lợi. Mỹ vì quyền lợi của nước Mỹ, Việt Cộng vì
quyền lợi của bọn tập đoàn lãnh đạo, bây giờ thấy rõ lắm rồi .Còn
VNCH thì sao? Chúng ta vì quyền lợi dân tộc và vì tự do, dân chủ .
Hà Tiên, một lần ghé bến.
Đại Tá Khương hữu Bá, Tư Lịnh Vùng 4 Duyên Hải , gọi tôi lên văn
phòng và dặn: "Sẳn dịp đi tuần tra Hà Tiên, ông đưa dùm Phu nhân Đề
Đốc Lâm ngươn Tánh đi Hà Tiên. Bà ấy có hai người con du học ở Pháp
về nghỉ hè, muốn đi Hà Tiên chơi".
Tôi đón Phu Nhân Đề Đốc Tánh ở cầu tàu An Thới thuộc BTL/V4DH.
Bà Tánh trạc tứ tuần, người mảnh khảnh, ăn mặc rất giản dị, gương
mặt hiền hòa với đôi mắt sáng. Dáng vẻ và cách ăn nói, tôi đoán bà xuất
thân từ một gia đình lễ giáo và khá giả ở miền Nam. Tôi mời bà xuống
phòng tôi ở , riêng cậu ấm khoảng 16 tuổi và cô chiêu khoảng 14 tuổi,
tôi đưa qua phòng Hạm Phó và sĩ quan đệ tam. Còn tôi trấn giữ phòng
quản nội trưởng phía trước mũi tàu.
Chiếc HQ 617 khởi hành lúc 6 giờ chiều. Biển êm như mặt hồ, tàu lướt
êm ái. Mười giờ đêm, tôi lên đài chỉ huy để xem có gì lạ không và kiểm
soát lại vị trí chiến hạm. Trong bóng tối mờ mờ, tôi hơi ngạc nhiên khi
thấy các thủy thủ nhìn tôi cười khúc khích. Tôi giựt mình khi vịn vào
thành ghế Hạm Trưởng, có một người nhỏ thó ngồi trên đó. Theo nội
quy Hải Quân, chiếc ghế dành riêng cho Hạm Trưởng để trống, không ai
được ngồi, kể cả các sĩ quan có cấp bậc cao hơn đi quá giang. Truyền
thống Hải Quân VN rất chặt chẻ và quan liêu truyền từ Hải Quân Pháp.
Huy hiệu hạm trưởng có khắc dòng chữ la tinh "Sau Trời là Ta"
(Magister post Deum). Khi ông Ngô đình Diệm chấp chán , thấy hỗn
xược quá, cho sửa lại là "Danh Dự, Kỷ Luật, Tài Đức". Lúc đầu tôi nghĩ
là sĩ quan đương phiên nhưng rồi nhận ra ông ấy đứng kế bên tôi đây
mà. Qua ánh sáng radar quét trên màn hình, tôi nhận ra cô bé , con của
Đề Đốc Tánh. Cô bé vô tư, thản nhiên ngồi chống tay ở cằm, thích thú
nhìn về phía trước mủi tàu. Sĩ quan đương phiên tỏ vẻ lúng túng, hình
như muốn phân trần với tôi: nếu là người khác thì ông đã ngăn cản rồi,
nhưng mà đây là ...con gái một vị Phó Đề Đốc. Tôi phì cười vì sự ngây
thơ của cô bé. Để tránh sự lúng túng cho sĩ quan đương phiên và cả cho
tôi, tôi xem lướt qua vị trí chiến hạm trên hải đồ rồi lặng lẽ rời đài chỉ
huy.
Mười hai giờ đêm tôi lại lên đài chỉ huy. Tôi có thói quen, mỗi khi tàu
hải hành, tôi hay lên đài chỉ huy lúc đổi phiên 12 giờ đêm để kiểm soát
lại đường đi, vị trí cùng sự an ninh của chiến hạm và cuối cùng là viết
tiêu lịnh để sĩ quan đương phiên thi hành. Trời tối đen như mực, chiến
hạm hải hành bằng radar. Tôi tính lại đường đi, vận tốc rồi cho tăng máy
để chiến hạm đến Hà Tiên lúc 6 giờ sáng. Tàu tăng tốc độ lên khoảng 18
nơ, hai máy tiến 3, mủi tàu chẻ sóng, nước biển tóe ra hai bên những làn
nước lập lòe như ánh lân tinh. Trên bầu trời muôn ngàn vì sao lấp lánh.
Biển thật đẹp và nên thơ quá. Tôi bước ra cánh gà bên ngoài để thưởng
thức cảnh đẹp và hít thở không khí trong lành. Tôi suýt vấp té vì hình
như có đống gì đen đen ở sàn tàu. Tôi cúi xuống nhìn thật kỹ. Ồ! Lại cô
bé. Cô bé ngủ thật mê, nằm co rút lại như "con tôm kho tàu". Tôi bật
cười vì sự vô tư của cô bé. Tôi rón rén bước ra xa. Tôi sợ làm động đến
giấc ngủ thần tiên của cô, một giấc ngủ chắc đầy mộng đẹp.
Sáu giờ sáng tàu neo ngoài khơi Hà Tiên. Duyên Đoàn 44 cho ghe
Yabuta ra đón. Bà Tánh mời tôi đi theo cho vui. Tôi từ chối vì ngại gây
ra sự lúng túng giữa đôi bên. Vả lại tôi muốn ghé Duyên Đoàn 44 để
thăm Tống Què, bạn cùng khóa đang là đơn vị trưởng. Đơn vị nhỏ ở Hà
Tiên nầy để lại trong lòng tôi nhiều ấn tượng. Vùng hoạt động của
Duyên Đoàn 44 bao trùm đường dây buôn lậu từ Kampuchia sang Việt
Nam, vì vậy mà sanh ra nhiều sự rắc rối. Trước khi về đơn vị nầy, Tống
nói với tôi: "Bộ mầy tưởng ai về đó cũng được sao? Mà nếu mầy có về
đó được, bọn buôn lậu không chịu, tụi nó cũng bứng mầy đi như
thường". Ghê gớm quá, quyền lực bọn buôn lậu mạnh đến như vậy sao?
Tôi muốn ghé thăm Tống Què để xem hắn hoạt động như thế nào?
Người lính gác cổng đưa tôi đến văn phòng duyên đoàn. Tôi thấy Tống
ngồi nói chuyện với hai, ba người mặc quần áo dân sự. Không dám quấy
rầy, tôi đi loanh quanh trong trại. Doanh trại Duyên Đoàn 44 nhỏ và
trông rất đơn sơ. Nơi ở của Tống là một căn lều căng bằng vải dù. Độ
nửa tiếng sau, tiển biệt khách xong, Tống quay qua tôi rôm rả: "Bà Tánh
đâu rồi?". Tôi trả lời: "Bà ấy cùng với hai người con đi chơi rồi. Có một
người quen ở đây hướng dẩn đi".
Tống bước lên xe jeep có "cần câu cao vút" và bảo: "Lên xe đi, tao chở
mầy ra Hà Tiên chơi ". Chiếc xe vọt đi, Tống lái cao bồi, anh lính tài xế
ngồi phía sau. Tôi ngẩm nghĩ: "Chà, mình được ăn hủ tiếu Hà Tiên đây".
Chợ Hà Tiên nhỏ xíu, rất mộc mạc , người bán ngồi chồm hổm bày rau
trái ở trước mặt. Tống nhảy xuống xe, ngoáy cổ lại nói: "Mầy ngồi đây
chờ tao". Bây giờ tôi mới quan sát kỷ Tống. Anh mặc quân phục xanh
Hải Quân, đầu trần, bên hông lủng lẳng một cây súng rouleau, lấp láng
ánh sáng: cây súng bá vàng. Dây đeo súng to bản được trang điểm bằng
các nút mạ vàng trông rất đẹp. Dáng người anh cao lớn, trông như chàng
cao bồi miền Viễn Tây Hợp Chủng Quốc, nổi bật lên giữa đám dân quê
mặc áo bà ba đen hiện đang mua bán ở chợ. Mặc dù vậy tôi chẳng thấy
ai ngạc nhiên dòm ngó anh. Chắc cảnh tượng nầy đã quá quen thuộc đối
với họ.
Tôi sực nhớ một cuốn phim cao bồi, hình như tựa đề cũng là "Cây súng
bá vàng". Chuyện kể một chàng cao bồi lãng tử, thiện xạ, chán cảnh
giang hồ, rày đây mai đó (do tài tử Henry Fonda đóng, cha của cô đào
phản chiến Jane Fonda), sống hạnh phúc cùng vợ con ở một ngôi làng
hẻo lánh. Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng, một tên cướp dử tợn xuất
hiện (tài tử Ernest Borgnine đóng). Hắn quấy nhiễu dân làng đủ thứ, đe
dọa cả vợ con chàng cao bồi lảng tử. Cuối cùng chàng cao bồi lảng tử
phải rút ngăn kéo đóng đầy bụi, lấy ra một dây đeo súng cùng cây súng
bá vàng. Cuốn phim kết thúc có hậu.
Tôi ngẫm nghĩ, Tống cũng xứng đáng mang cây súng bá vàng vì Tống
cũng là một tay thiện xạ. Lúc anh còn ở duyên đoàn 42, đóng tại An
Thới, anh có tập tôi bắn súng. Anh biểu diển cho tôi thấy: đứng cách xa
20 mét, anh bắn bá phát bá trúng 10 lon bia để sắp hàng trên môṭ hàng
rào cây. Tống cười hề hề: "Mầy thấy tao bắn không? Vậy mà ông Luật
(Đại Tá Luật / Tư Lịnh V4 Duyên Hải lúc đó) rủ tao bắn súng thi đua.
Ai thua chung một chai Hennessy cổ lùn". Tôi bắt chước giọng cà lăm
và ngọng của Tống: "Ồ , ai...ai ua " (Rồi ai thua?). Tống không giận mà
còn chọc quê tôi với giọng tưng tửng: " Thì mầy biết rồi, ai trồng khoai
đất nầy". Tôi hỏi tới: "Ồi , ông Uật ó..ó ung ..ung ai uợu ông?". (Rồi ông
Luật có chung chai rượu không)
Tống nheo mắt: "Chung chớ, ổng là dân chơi mà". Hắn lên giọng dạy
đời tôi: "Nhưng mầy phải biết, ở đời phải biết điều". Hắn cười bí hiểm.
Đến bây giờ tôi cũng không biết "cái biết điều" của hắn ra làm sao cả,
tròn hay méo?
Tiếng máy PRC 25 rè rè sau lưng tôi. Anh thủy thủ tài xế phóng xuống
xe, chạy vào trong chợ . Một lát sau, Tống vôị vả đi ra, bước lên xe ,
cầm tay lái: "Mình về, tao có khách ở căn cứ". Lúc đi đã cao bồi, lúc về
anh càng lái cao bồi hơn vì có vẻ vội vàng. Về̀ đến căn cứ, Tống hấp tấp
đi vào văn phòng , không nói với tôi một lời. Tôi liếc về văn phòng, lần
nầy khách khứa đông, vào khoảng bảy, tám người. Tất cả đều mặc quần
áo dân sự. Thấy Tống bận rộn quá, tôi thơ thẩn ở bên ngoài chơi. Chán
rồi, tôi vào chổ ở của Tống, lục mấy tờ báo đem ra đọc. Đọc hết báo, tôi
liếc đồng hồ, thấy 12 giờ rồi. Đói bụng, lại mệt, tôi nằm vật xuống một
ghế bố kế bên, để nguyên cả giày vớ và quân phục rồi ...phê.
Đang ngủ ngon, có ai lay vai tôi và có tiếng gọi: "Ông Hạm Trưởng, ông
Hạm Trưởng". Tôi choàng tỉnh dậy, thấy bà Tánh đứng kế bên. Tôi mắc
cở quá, vì đường đường một đấng nam nhi, vai năm tất rộng, thân mười
thước cao mà ngủ bờ ngủ bụi như vậy. Bà Tánh hỏi dồn tôi: "Ông ăn gì
chưa, ông ăn gì chưa? ". Tôi đang lúng túng, bà ấy hỏi tiếp tục , nói một
tràng càng làm tôi bối rối. Nếu trả lời "rồi " thì không đúng , còn trả lời
chưa thì mất mặt bầu cua quá. Bà Tánh thật thông minh, thấy tôi lúng ta
lúng túng, không để tôi trả lời , bà nói một hơi coi như biết " sự việc "
hết rồi: " Ông đi ăn với chúng tôi, có một tiệm Tàu ở chợ nấu ngon lắm.
Đi, đi ông Hạm Trưởng". Lòng nhiệt thành của bà đã lôi cuốn tôi.
Tôi ̣đứng dậy cầm nón, định bụng đến chào từ biệt Tống nhưng thấy anh
ta bận rộn quá với các vị khách quí, tôi lẩm bẩm: "Bai bai Ống È".
Ra đến quán ăn, ngồi vào bàn, bà Tánh mới thú thật là ̣đã dùng cơm
xong với gia đình người quen. Bà thân mật nói: " Ông cứ dùng tự nhiên.
Hai cháu và tôi uống nước ngọt. Ở đây có bít tết khoai chiên ngon lắm.
Người Tàu, nhưng họ nấu món Tây được lắm. Ông dùng nha, để tôi gọi
cho. Ông uống cà phê sửa đá nha, để tôi gọi luôn". Bà nói một tràng, bà
tự nhiên quá làm tôi lúc đầu bở ngở nhưng sau đó yên tâm . Ở hoàn cảnh
đó, phân tách tâm lý tôi thì mới thấy tôi vừa lâng lâng vừa mắc cở.
Đường đường một đấng nhà " banh ", không thèm đi chơi, định "chỉa"
thằng bạn một chầu ăn thì bị bắt quả tang là đang "meo". Sáu đôi mắt,
mặc dù không cố ý, tôi có cảm giác là nhìn chằm chằm vào tôi. Tôi lấy
lại bình tỉnh, ngồi ăn nhỏ nhẻ, thỉnh thoảng cầm khăn ăn xếp lại, chậm
chậm ở miệng để chứng tỏ mình là một "giên tờ mên". Để cho tôi khỏi
ngượng, bà Tánh vui vẽ nói chuyện gia đình, nói về cậu ấm và cô chiêu
ở Pháp. Bà thản nhiên cho biết giữa bà và Đề Đốc Tánh đã ly thân,
nhưng vẫn ở chung một nhà. Tôi thấy bà hay gọi tôi là
"Ông Hạm trưởng". Tôi nhắc khéo bà: "Bà đừng gọi tôi như vậy , bà gọi
tên tôi đi". Tôi chỉ vào bảng tên đeo ở túi áo. Bà Tánh phản đối: "Chức
vụ của ông mà, tôi phải kêu ông bằng chức vụ. Nhà tôi khó lắm, ổng
không chịu đâu. Nhà tôi mê Hải Quân lắm, suốt ngày ổng lúc nào cũng
nói về Hải Quân". Bà ngừng nói, đôi mắt bà trở nên mơ màng. Chắc bà
đang nghĩ về thời xa xưa hạnh phúc với vị sĩ quan trẻ tuổi, đẹp trai
nhưng nghiêm nghị. Bà hỏi tôi: "Ông có bao giờ làm việc với ông nhà
tôi không?" Tôi bảo: "Thưa chưa, nhưng nghe nói ổng khó lắm". Bà
Tánh cười.
Đề Đốc Tánh có nhiều huyền thoại trong Hải Quân. Ông lại mang các
huyền thoại đó lên trên núi, vào trong trường Sĩ Quan Chiến Tranh
Chánh Trị ở Đà Lạt. Tôi chưa được hân hạnh làm việc dưới quyền ông,
thành thử không biết các huyền thoại đó ra làm sao. Nhưng có một điều
tôi tâm đắc với một việc làm của ông. Mặc dù giữ chức vụ Tư Lịnh Hải
Quân có một vài tháng, ông làm một cú ngoạn mục: “Tất cả các sĩ quan
" Hải Quân Nước Ngọt " đều được ông cho biến thành sĩ quan " Hải
Quân Nước Mặn "chánh hiệu" con sói biển". Tôi chưa từng diện kiến
ông lần nào, chỉ một lần duy nhứt gặp ông trong một hoàn cảnh oái oăm
và bi thảm của đất nước . Đầu tháng 5 năm 1975 , trên một chiếc tàu
buôn 20,000 tấn, lúc nhúc dân tị nạn Việt Nam, đi từ Subic Bay qua
Guam. Yên, một người bạn cùng khóa, rủ tôi mời Đại Tá Phan Phi
Phụng cùng đến thăm Đề Đốc Tánh hiện đang ở trên tàu . Các vị tướng
đến Subic Bay trên đoàn tàu di tản của Hải Quân đều được bốc qua
Guam bằng máy bay, không biết tại sao Đề Đốc Tánh lại lọt sổ đi bằng
tàu buôn như chúng tôi. Chúng tôi lọ mọ leo cầu thang xuống tận tầng
hầm thứ ba, trong khoang chứa hàng hóa của tàu. Ở đây yên tỉnh, it́
người hơn phía trên. Trong ánh sáng lờ mờ, nhờn nhợt , tôi ngồi lắng
nghe Đại Tá Phụng và Yên hỏi thăm vẩn vơ vị Đề Đốc Ông có vẻ mệt
mỏi và chán nản . Vài phút sau, chúng tôi kiếu từ ra về , trả lại sự yên
tỉnh cho ông cùng với một người đàn bà rất ̣đẹp , vào khoảng 25 tuổi ,
ngối kế bên.
Ăn xong, tôi đứng dậy định tranh tiên với bà Tánh. Nhưng ông chủ tiệm
người Tàu, lanh ý biết được ý tôi, bảo: "Hà cái lầy nị ngồi xuống li. Bà
chủ ở lây tính hết dồi mà. Nị không có lo nữa mà". Đến bây giờ tôi vẫn
không biết bà Tánh trả tiền bằng cách nào. Tôi lại lúng túng. Bà Tánh
cười hiền hòa: "Về tàu đi ông Hạm trưởng. Sáng mai, tôi phải đưa hai
cháu về Sài Gòn sớm". Tàu khởi hành lúc 3 giờ chiều, 12 giờ khuya thì
tới An Thới.
Đó, cuộc du ngoạn ở Hà Tiên của tôi là như vậy đó. Đến Hà Tiên ăn một
dĩa bít tết, khoai chiên rồi về. Thật là mắc cở khi nhắc tới các địa danh:
lăng Mạc Cửu, Thạch Động, chùa Hang. Nhưng mỗi khi nhắc tới Hà
Tiên, hình ảnh " Ống È " lừng lửng hiện ra trước mắt tôi, trong bộ quân
phục xanh Hải Quân, cao lớn như chàng cao bồi John Wayne miền viển
tây xứ Huê Kỳ, cây súng bá vàng lấp lánh ở bên hông.
MA ĐỀ GI.
Tôi được lịnh thuyên chuyển đến Duyên Đoàn 21 vào mùa mưa năm
1969 .Căn cứ đơn vị nằm sát bờ biển, mang nhiều gió lạnh và không khí
ẩm ướt làm cho tôi có cảm giác se sắt và hoang sơ khi đặt chân đến đơn
vị nầy lần đầu tiên.
Duyên Đoàn 21 là đơn vị tiền tiêu của Vùng 2 Duyên Hải, cách Qui
Nhơn về phía Bắc khoảng 40 km đường chim bay, nằm kế bên đầm
nước ngọt Đề Gi. Căn cứ nằm án ngữ bên bờ Nam cửa biển . Bờ phía
Bắc là mật khu của Cộng Quân. Duyên Đoàn Trưởng là Đại Uý Huê
(khóa 11), Duyên Đoàn Phó là Trung Úy Cung (khóa 14), và sĩ quan đệ
tam là Chuẩn Úy Mẩn , Hàng Hải Thương Thuyền. Tất cả, 3 người , đều
có lịnh thuyên chuyển đi nơi khác cùng một lượt vì trong đơn vị có biến
động .
Đại Úy Huê tiếp đón tôi trong sự thân mật và đưa tôi qua ở cùng phòng
với Chuẩn Úy Mẫn. Mẫn người tròn trịa trắng trẻo, tầm thước, để râu
mép không được tỉa gọn, các sợi ria dài thòng xuống hai bên mép, cộng
thêm giọng nói nhỏ nhẹ của người Bắc, làm cho anh có vẽ hơi "rừng"
pha thêm một tí xíu "điệu đà". Chắc không có ai tâm tình nên khi Mẩn
gặp tôi là "ba lô , ba la". Anh kể cho tôi nghe đủ thứ, chuyện đơn vị,
chuyện dân làng kế bên, chuyện Việt Cộng bên kia núi ... Anh cười ha
hả: "Ông về đây sẽ được ăn cua Huỳnh Đế và món gỏi cá mai, đặc sản
Đề Gi ". Quả thật đó là hai món ăn đặc biệt mà các nơi khác không có.
Cua Huỳnh Đế chỉ có ở vùng biển Sa Huỳnh, phía Bắc Đề Gi và chỉ có
trong lúc biển động do ghe giả cào đánh bắt. Một người ăn một con cua
Huỳnh Đế là đủ ngất ngư rồi, to gấp hai con cua bình thường. Còn cá
mai, là cá ở đầm Đề Gi, to bằng ngón tay, được mổ bụng lấy ruột, chặt
đầu chặt đuôi rồi rửa thật sạch. Xong bóp dấm và chanh cho cá chín tai
tái, cuốn với bánh tráng và rau sống. Nước chấm là chao pha chế. Khác
với món gỏi cá Nha Trang, thông thường là cá thu, được thái mỏng rồi
cũng được bóp dấm và chanh. Nước chấm được pha chế từ gan heo,
được nấu chín rồi xay nhừ ra. Nước chấm nầy tôi cho là một tuyệt tác
của người dân Nha Trang. Dân Hải Quâ , chắc ai cũng một lần say bí tỉ ở
quán gỏi cá nổi tiếng dưới chân cầu Hà Ra. Chủ quán là Thượng sĩ
Luyện, quân cảnh Hải Quân.
Mẩn và tôi tâm tình cho tới chiều. Cơm nước xong trời chập choạng tối.
Mẩn chỉ giường trong góc phòng và bảo: “Ông ngủ đó đi, tôi ngủ giường
ngoài cho tiện”. Sau nầy tôi mới biết tiếng “tiện” của anh ta. Phòng ngủ
chúng tôi rất đơn sơ, rộng và dài, chỉ có hai giường sắt đặt dọc theo vách
tường. Trên nóc nhà, không có trần, lòng thòng xuống một bóng đèn
điện. Thế là hết, phòng trống trơn, không có gì. Phòng chỉ có một cửa
chánh ra vào, ba vách ba bên kín mít , chỉ có lổ thông hơi bên trên. Tôi
có cảm giác lạnh lẻo, bí hơi và âm u .
Vì đi đường hơi mệt, đặt lưng xuống là tôi ngủ ngay. Nửa đêm thức dậy,
nghe tiếng sột soạt bên phía giường Mẩn, tôi thấy bóng Mẩn lò dò ngồi
dậy, ôm mền đi ra ngoài. Tất cả động tác đều lẹ làng, nhanh gọn. Lúc đó
tôi cũng hơi thắc mắc, không hiểu tại sao Mẩn lại làm như vậy. Nhưng
thấy Mẩn không nói gì nên tôi cũng yên tâm, chắc không có điều gì lạ
xảy ra. Tôi nhắm mắt ngủ tiếp. Sự việc đó xảy ra mấy đêm liên tiếp, cứ
nửa đêm là Mẩn ôm mền chạy ra ngoài. Một hôm tôi chận Mẩn lại hỏi:
“Tại sao đêm nào ông cũng ôm mền chạy ra ngoài ngủ vậy?”. Tôi đùa
với Mẩn: “Bộ ông hẹn hò với ai hả?” Mẩn tròn xoe mắt nhìn tôi: “ Bộ
ông không biết gì sao?”. Tôi lặng thinh bởi vì có biết gì đâu mà nói. Mẩn
thấy tôi không trả lời, nói tiếp: “Ông không biết thật hả ? Phòng có ma”.
Rồi Mẩn nói chậm, gằng từng tiếng: “Phòng ... ngủ ... của ... mình...
có ... ma”. Mẩn ngừng một chút để cho tôi thấm câu nói của anh, rồi
anh nói tiếp: “ Đêm nào tôi cũng bị “nó” nắm chân giựt, cho nên tôi phải
chạy ra ngoài ngủ cho yên”. Người tôi nổi da gà, một cảm giác rờn rợn
bao trùm lên, nhưng tôi cố bình tỉnh làm bộ thản nhiên. Tôi cười cười ,
chưa biết nói gì thì ông thượng sĩ già, Quản nội trưởng, đi ngang qua .
Nghe nói tới ma, ông dừng lại xen vào: “Chuẩn uý Mẩn nói đúng đó .
Tôi là người Công giáo mà cuối cùng vẫn phải tin. Hồi trước tôi ngủ ở
hành lang trước phòng ông. Đêm nào cũng bị ma phá. “ Nó “ nắm chân
tôi nó giựt, sợ quá, tôi phải thiên di xuống khu gia binh”. Hai người còn
cho tôi biết, căn nhà hiện chúng tôi làm Bộ Chỉ Huy Duyên Đoàn,
nguyên thủy là toà nhà Quan Thuế hồi thời Pháp thuộc. Các cô gái bị
đem vào đây hảm hiếp rồi có người tự tử. Nghe họ kể mà tôi chết điếng,
trong bụng chửi thề: “ Chết cha rồi, căn nhà có ma, làm sao đây?”.
Nhưng ngoài mặt, tôi làm ra vẻ bình tỉnh và ờ ờ cho qua chuyện. Mẩn
hỏi tôi: “Mấy đêm qua ông có thấy gì không?”. Tôi lắc đầu làm ra vẻ
gan lì: “Có thấy gì đâu ?”. Mẩn nói: “Có thể là ông nặng vía cho nên
“nó” không phá ông!” Tôi cũng tự an ủi, cho là như vậy đi. Nhưng bây
giờ làm sao đây, rồi cũng có ngày gặp “ nó”. Không lẻ đi kiếm chổ khác
ngủ, hoá ra mình nhát quá, làm sao làm việc được. Thôi kệ nó, tới đâu
hay tới đó:
Thôi đành nhắm mắt đưa chân,
Để xem con tạo xoay vần đến đâu.
Buổi chiều hôm đó, trời mưa vần vũ, mây kéo đến đen kịt, báo hiệu trận
mưa bão sắp tới. Mưa bắt đầu lâm râm. Mưa ở miền Trung, ai cũng biết
là không phải kéo dài vài giờ, vài ngày mà có khi kéo dài cả tháng .
Người miền Trung hay nói :” Mưa như con gái khóc “ , có nghĩa là mưa
dai , mưa dài , lâm râm , rưng rức , nỉ non . Ăn cơm xong, Mẩn chìa sự
vụ lịnh ra và bảo: “Tôi đi hành quân tuần tiểu 4 ngày, sau đó rời đơn vị
đi luôn. Lúc trở về đây không biết có gặp ông không? Thôi từ biệt ông
trước vậy “. Tôi cũng chúc Mẩn thượng lộ bình an.
Mưa càng lúc càng nặng hột, gió mạnh thổi phần phật. Duyên Đoàn có
một máy điện duy nhứt êm là tắt để máy nghỉ. Trước 12 giờ đêm tôi đi
tuần một vòng căn cứ để xem các vọng gác có canh phòng cẩn mật
không. Về phòng rủ sạch nước mưa thì máy điện tắt. Tiếng máy điện
đang rầm rì tự nhiên ngưng. Thời gian như ngừng lại, không khí im vắng
lạ thường. Chỉ còn nghe tiếng gió rào rào và tiếng mưa rầm rập trên mái
nhà. Trời tối đen như mực, giơ bàn tay trước mặt không thấy. Tôi leo lên
giường, chui vào mền, cố dổ giấc ngủ. Sực nhớ lại chuyện ma của Mẩn
và ông thượng sĩ già. Tôi nằm nghiêng, quay mặt ra ngoài, co hai chân
lại, quặp đầu gối, cố dấu hai bàn chân ra phía sau để cho ... ma không có
gì nắm kéo.
Tôi cố ngủ mà không được, chuyện ma cứ lởn vởn trong đầu óc tôi. Rồi
bổng nhiên tôi nhớ lại một chuyện ma mà tôi đã đọc, tôi cho là hay nhứt.
Câu chuyện có tựa đề "Đêm giao thừa kể chuyện ma", được đăng trên
một tờ báo xuân. Chuyện kể, trong một bửa tiệc của đám thanh niên trẻ
trong đêm giao thừa, họ bàn cải đủ mọi vấn đề rồi cuối cùng đi đến
chuyện ma. Có hai người có hai lập trường khác nhau, cải với nhau hăng
nhứt. Một người chúng ta tạm đặt tên là Song, cứ nhứt quyết là có ma.
Và người kia tạm đặt tên là Nam, phản bác lại: làm gì có chuyện ma
quy. Cuối cùng Song bảo: “Tao có một căn nhà có ma, mầy dám ngủ từ
bây giờ tới sáng không? Nếu mầy gật đầu, tao đãi cả bọn một chầu ăn
sáng, còn nếu mầy sợ thì mầy đãi!". Nam ngần ngừ, nhưng cuối cùng
quyết định "bắt" vì phải giử thể diện chớ. Thế là cả bọn lên xe gắn máy,
chạy đến căn nhà có ma của Song. Căn nhà củ kỹ, đầy bụi vì không ai ở.
Cả bọn đưa Nam vào phòng ngủ, đốt cho Nam một cây đèn cầy rồi rút
lui, sau khi khoá cửa lại cẩn thận. Nam hối hận nhưng lở leo lên lưng
cọp rồi, không dám nằm ngủ, ngồi thao thức chờ đến sáng. Đêm khuya,
phòng im vắng lạ thường, không một tiếng động, Nam chỉ nghe trái tim
mình đập thình thịch. Thỉnh thoảng, chuột chạy xẹt qua, xẹt lại làm Nam
giật mình. Ánh sáng ngọn đèn cầy chập chờn, chập chờn làm khung
cảnh thêm ma quái. Chốc chốc, Nam lại giơ đồng hồ lên xem, một giờ
rồi hai giờ , sao mà lâu quá. Người ta bảo: "Nhứt nhựt tại tù , thiên thu
tại ngoại". Còn Nam bây giờ, một giờ lâu hơn một thế kỷ. Rồi ba giờ, rồi
bốn giờ. Bổng Nam nghe tiếng sột soạt ngoài cửa, rồi tiếng chân bước
đến phòng Nam. Nam điếng người, mọc ốc đầy mình, miệng líu lại ,
ngồi cứng đơ tại chổ. Một cái đầu thò vào, Nam xón đái muốn tè tại chổ.
Nhưng nhận ra Song, gương mặt trắng bệch. Nam thở phào một cái,
cười xòa để lấy gân cốt nói: “Mầy sợ tao trốn hả, đến đây dò xét, phải
không?. Thôi đến sáu giờ sáng dẩn cả bọn đến đây đưa tao đi ăn sáng".
Song không nói gì, vẻ mặt buồn rầu , bỏ đi . Nam thấy tinh thần phấn
chấn, ngồi chờ đến sáng. Sáu giờ, cả bọn chạy xe rần rần đến trước cửa
nhà. Cửa mở lách cách, Nam chạy ào ra ngoài, giơ hai tay lên trời tỏ vẻ
thắng trận , vui vẻ nói: “Tao thắng rồi!” Nhìn quanh quất không thấy
Song đâu! Nam tỏ vẻ muốn hỏi. Một anh bạn buồn rầu nói: “Sau khi để
mầy ở đây, tụi tao chạy đua xe suốt đêm đón giao thừa . Rồi thằng Song
đụng xe , người ta đưa nó vào nhà thương. Nó chết lúc bốn giờ sáng".
Mưa càng lúc càng to. Gió rít qua cành cây, gió hú trên mái nhà. Tâm
trạng của tôi bây giờ giống như của Nam vậy, thao thức không ngủ
được, chỉ chờ trời sáng lên. Nếu tôi là nhạc sĩ hay thi sĩ, tôi sẽ sáng tác
một bản nhạc hay một bài thơ với tựa đề là “Ngồi chờ sáng” , để diển tả
tâm trạng thấp thỏm, lo âu, hồi hộp, sợ sệt của tôi vào lúc đó. Sự xúc
động còn hơn chờ người yêu nữa. Đang suy nghĩ miên man, bỗng nhiên
tôi nghe một tiếng coong vang lên trong phòng. Âm thanh trong trẻ , gọn
và sắc, tôi nghe rõ mồn một. Không thể nào sai được, tôi nghe rõ mà .
Trong phòng trống trơn, không có đồ đạc gì làm sao có tiếng động đó .
Trời tối thui, xung quanh toàn màu đen, giơ bàn tay trước mặt không
thấy. Chuột chạy, vô lý. Đồ đạc rơi, vô lý. Chắc là ma rồi, "nó" đang tiến
tới để nắm chân tôi đây. Tôi định thò tay xuống gối để rút cây súng colt
mà tôi nhét ở dưới đó để đề phòng chuyện bất trắc, nhưng người cứng
ngắt không cục cựa được. Tôi ú ớ muốn la lên nhưng hai hàm răng cũng
cứng ngắt, không mở được. Tôi cố vùng vẫy, thân thể vẫn bất động. Sự
sợ hãi trùm lên người tôi làm thần kinh tôi tê liệt. Rồi thêm một tiếng
"coong" thứ hai nữa. Rõ ràng là "nó" rồi. Mồ hôi tôi xuất ra như tắm.
Chỉ còn chờ "nó" đến giật chân. Đôi mắt tôi mở thật to, cố nhìn xuyên
qua bóng đêm để thấy con ma tới. Bên ngoài trời sấm sét liên hồi. Một
tia sáng len lỏi qua lổ thông hơi, tỏa ánh sáng mờ mờ trong phòng.
Trong giây phút tích tắc đó, tôi nhìn thấy dây điện thòng bóng đèn
xuống, đong đưa qua lại vì gió thổi qua lổ thông hơi, bóng đèn chạm vào
vách tường nghe một tiếng "coong" . À thủ phạm là đây rồi. Tôi thở
phào một cái thật nhẹ nhỏm. Tay chân cục cựa nhẹ nhàng, tôi thò tay
xuống gối rút cây súng colt để trên bụng. An tâm rồi đây, tôi làm một
giấc ngủ tới sáng.
Ngày hôm sau, tôi nhờ nhân viên trong căn cứ, đập thủng tường, đối
diện với cửa cái, làm thêm một cửa khác. Phòng trở nên sáng sủa,
thoáng đạt và không còn âm khí nữa.
Con mèo xám được nuôi bởi một người tù trong chế độ Cộng Sản, cho
thấy lòng nhân ái của những người lính VNCH.
Con mèo xám.
Đi lao động về, bước chân vào cổng trại, tôi thấy không khí có vẻ khác
thường. Các anh cùng trại tù với tôi (trại Xuân Lộc, phân trại A) đang
lăng xăng chạy tới , chạy lui. Tất cả gương mặt đều nghiêm trọng nhưng
tiềm ẩn một điều gì phấn khởi ghê gớm. Tôi chận một anh lại hỏi: “Cái
gì vậy?". Anh ta vừa chạy vừa nói với theo: “ Trưa nay, trại đọc danh
sách, thả nhiều lắm".
Tôi bình tỉnh bước về phòng giam, lòng hơi xao xuyến nhưng nghĩ rằng
không có tên mình. Dân "Xịa" ( CIA ) mà, các anh trong trại thường hay
kháo nhau khi nói về tôi. Bước ngang qua cửa sổ để vào buồng, một con
mèo xám nhỏ, gương mặt thật dể thương đang nhảy lên nhảy xuống từ
thành cửa sổ xuống đất. Một sợi dây nhỏ buộc cổ nó và nối vào song sắt
cửa sổ. Tôi cúi xuống ôm con mèo xám nhỏ, vuốt ve nó, mặc cho hoạt
động lao xao bên ngoài. Một anh chạy ngang qua bảo: “ Của thằng trực
buồng đó". Con mèo kêu meo meo, đôi mắt sáng long lanh nhìn tôi. Tôi
buông nó xuống, không muốn vấn vương tình cảm vì bản tánh tôi yêu
mến thú vật. Tôi có kinh nghiệm, ở tù Cộng Sản, những liên hệ tình cảm
không được lâu bền, dễ gây cho mình những sự mất mát.
Cơm nước xong, nằm nghỉ ngơi một chút thì có kẻng tập họp. Bước vào
sân trại, các bạn cùng tù ngồi chật cả sân, gương mặt nôn nóng chờ đợi .
Một tên cán bộ Cộng Sản đứng trước mặt, cầm một xấp giấy trên ta .
Hắn ta đọc tên những người được thả. Lần lượt những người được đọc
tên, luống cuống đứng dậy, gương mặt tái xanh vì vui mừng quá độ,
chạy vội về buồng sắp xếp hành trang. Tên cán bộ đọc từ 2 giờ trưa đến
4 giờ chiều mới xong, danh sách thả hơn một ngàn người. Đợt thả năm
1985 là đợt thả lớn nhứt. Trại tù Xuân Lộc gồm 3 phân trại A, B, C có
khoảng 2000 người. Như vậy, danh sách thả gần 2/3 tù của ba trại.
Cuối cùng, quả thật không có tên tôi . Dân "Xịa" mà. Tôi lủi thủi bước
về buồng, chẳng màng đến các anh có tên về, chạy qua chạy lại như tên
bắn đem quà của mình cho những bạn ở lại. Chiều nay, trại cho ăn cơm
sớm. Một thau lớn đựng cơm, mốc và mọt, và một thau nhỏ đựng canh
để trước cửa buồng. Bọn tù chúng tôi gọi là canh đại dương vì toàn là
nước, nổi lềnh bềnh vài cọng rau muống hay một vài lá xanh xanh gọi là
rau. Mọi bửa, anh trực buồng chia cơm, nay vắng anh vì anh có tên về,
để thau cơm, mốc và mọt, nằm chênh vênh. Tôi lẩm bẩm: “Hôm nay là
ngày XHCN mà, làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu". Tôi uể oải
xúc một tô cơm rồi bước vào buồng, đến chổ nằm từng trên. Buồng vắng
tanh, mọi hôm nhộn nhịp lắm. Luôn luôn, buồng nào cũng có hai đội,
mỗi đội khoảng từ 20 đến 25 người, vị chi tất cả là 50 người. Hôm đó
lác đác chỉ còn lại khoảng mười mấy người. Tôi leo lên từng trên, chổ
tôi nằm, để tô cơm xuống, nhìn anh bạn láng giềng, người Huế, độc nhứt
còn lại. Anh cười với tôi, miệng méo xệch, không nói một lời nào Tôi
cũng cười với anh, chắc miệng cũng méo xệch như vậy.
Tôi lấy trong túi cót ra một hộp chao nhỏ xíu, trong đó có 4 cục chao.
Mỗi bửa ăn tôi giới hạn cho mình một cục chao, như vậy với hộp chao
nhỏ, tôi có thể kéo dài thức ăn ra hai ngày. Trịnh trọng trải khăn trắng ra
dưới sàn nằm, đặt tô cơm mọt và mốc lên rồi mở hộp chao ra, vít một
cục chao vào tô cơm và cuối cùng rưới một tí xíu nước chao lên cơm.
Đó là buổi ăn thịnh soạn của tôi hàng ngày. Tôi ngồi trên sàn cao nhìn
xuống, lác đác vài người ngồi ăn. Tất cả đều im lặng, miên man nghĩ về
gia đình mình. Một không khí buồn bã, im vắng ngự trị trong buồng.
Con mèo xám nhỏ, đánh hơi thức ăn, chạy kêu meo meo dưới đất. Chắc
anh trực buồng, trước khi về, chỉ kịp mở dây ra cho nó. Con mèo xám
nhỏ bơ vơ, cầu cứu kêu ăn. Tất cả các anh trong buồng ngồi im như
tượng đá. Họ vừa trải qua một cơn xúc động ghê gớm, thân phận mình
về đâu và gia đình ra làm sao đây? . Họ dửng dưng nhìn con mèo xám
như muốn nói: "Tao lo thân tao chưa xong làm sao lo cho mầy".
Tôi leo xuống đất, ôm con mèo xám lên. Kiếm một cái chén nhỏ, xúc ra
một ít cơm. Vì biết con mèo không ăn chao được, tôi lấy bình chà bông
mà mẹ tôi cho. Đó là đồ ăn chiến lược, tôi để dành khi nào ốm đau hay
cạn kiệt mới lấy ra ăn. Tôi chúm một ít chà bông, trộn vào cơm rồi đưa
cho con mèo. Con mèo ăn một cách ngon lành. Gương mặt nó láu lỉn ,
thông minh, nó gừ gừ, hình như muốn nói: “ Cám ơn , cám ơn". Chắc có
lẽ vì đói quá, nó ăn một loáng là xong. Tôi xúc thêm cho nó một it́ cơm