Một thời đã qua
Mót lúa!
Tôi tốt nghiệp “Đại Học Máu” sau 2 năm, 9 tháng, 11 ngày. Trước khi
chia tay, bạn trong tù hỏi tôi về dự tính tương lai. Tôi đáp: “Bố tao còn
không biết, nói chi tao. Nhưng tao khẳng định là chỉ vài ngày là có việc
làm. Bảo đảm không thất nghiệp”. Tôi bàn giao: chim mồi, lồng bẫy, và
vài loại bẫy cho thằng em K29 rồi chuẩn bị chia tay.
Bạn bè đinh ninh là tôi có gốc bự, thuộc dạng COCC (con ông cháu
cha). Chứ mấy ai biết tôi chính hiệu Con Ông Chúa Chổm!
Về nhà gặp lại Mẹ hiền và 6 đứa em, hai trai, bốn gái; (còn một thằng
em đang ôn thi tại trại Kà Tum, Tây Ninh) Lòng mừng mừng, tủi tủi.
Vậy mà cha Vương Hàn trong bài Lương Châu Từ đã hù chúng tôi là:
Cổ lai “cải tạo”, kỷ nhân hồi? Trật lất phải không các bác?
Nhìn Mẹ già ốm yếu xác xơ, đàn em đen đủi; mò cua, móc ốc, lòng tôi
như có ai xé, ai cào!
Hôm sau, tôi vào xã Tân Thới Nhì, Hóc Môn trình bằng “tốt nghiệp”.
Rồi về nhà chuẩn bị cho cuộc “trường chinh”!
Đồ nghề: Mẹ trang bị cho tôi rất đơn giản, gọn nhẹ. Gồm: 6 cái bao
đựng đất kết dính với nhau. (Mẹ đã theo người ta dỡ đồn Tân Phú Trung,
Củ Chi) và một khúc cây vừa tay nắm dài chừng 60 cm.
Lục lại quần áo thì ôi thôi!!! Mẹ sợ, đốt sạch hết rồi! Ngay cả bộ dạo
phố mùa đông, mùa hè Mẹ cũng tặng cho “bà hỏa”!
Bí quá, tôi đành lấy bộ đồng phục mà trại phát cho cải tạo viên, chơi
luôn. Cùi đâu sợ lở! Chiến trường đầu tiên của tôi là cánh đồng “Cầu An
Hạ”.
Việc đầu tiên là tìm chỗ đặt “bộ chỉ huy”; thường là sau lưng thợ đập.
Tiếp sau là trải "Tấm bản đồ", rồi rút ""gậy chỉ huy" ra điều binh, khiển
tướng. Bọn giặc cỏ, anh hùng rơm bị tôi gom lai, chung quanh rồi xử trí.
Xả từng bó rơm của thợ đập, nắm từng lọn nhỏ, dùng gậy gạt mạnh để
những hạt lúa rơi xuống bạt. Xong bó nào lại cột lai, dựng đứng lên, cứ
thế mà làm. Quả đúng câu: “kiến tha lâu cũng đầy tổ”. Càng chịu khó,
lúa càng nhiều.
Trong đám thợ đập, đa phần là đàn ông, nhưng đám này có lẫn một bóng
hồng. Tôi nghĩ thầm, đàn bà, con gái, tay yếu chân mềm, sức lực bao
nhiêu, lúa sót nhiều là cái chắc. Thế là hồn thơ nhẩy cỡn lên, tui khe khẽ
ngâm:
Ta sẽ theo em dù gầm cầu, góc suối...
Cải tạo vừa xong, ta vội đến sau nàng!
Vừa đập được hai bó rơm, thì mấy cô thợ gặt la lên:
- Tụi bay ơi! Ngó kìa con Tư nó đập cho thằng chồng nó mót.
Cô Tư cũng đáp trả:
- Ừa đó, ghen hả? Ảnh hứa xong mùa, bán lúa cưới tao, hổng mời mày
đâu!
Với tình thế này các bạn xử trí thế nào? Còn tôi? Tôi đành ra lệnh lui
quân.
Rút kinh nghiệm, tôi trải bạt sau lưng một người đàn ông. Đập được một
lát, thì có một ông xách một méo rơm tiến tới, sau khi sa méo lúa chưa
đập xuống bạt, ông ta ngồi cạnh tôi móc bịch thuốc rê, mời vấn rồi xầm
xì:
- Cấp gì? KBC, mấy cuốn?
- Dạ một “bi”, 4027, 2 năm, 9 tháng, 11 ngày.
Tôi ghé tai ông thầm thì: Còn huynh?
- 1 bi một điếu cày, quân y Trung Tâm Ba Tuyển Mộ.
-Sao anh thoát?
- Cho thuốc sốt rét, nên được coi là có công!
Thôi để “Tá” đập cho “Uý mót”. Nhớ là đừng theo sát nút, kẻo chúng
nghi. Đảo qua đảo lại hai bên, là ổn.
Nhờ cái áo cải tạo, tôi gặp được "đồng minh". Ôi! Cái tình huynh đệ chi
binh thật ngọt ngào, cảm động!
Lên rừng! (tiếp theo 1)
Một hôm hết muối ăn, tôi qua chòi bạn xin. Cả nhà lên rẫy, em gái ra
tiếp.
- Có chuyện gì không anh Tú?
- Còn muối không? Cho anh vài muỗng!
Cô bé vào bếp bưng hủ muối ra.
- Còn chừng ba muỗng, anh lấy đỡ hai muỗng, mai mẹ mang vào anh
qua lấy tiếp nha.
Nhét dúm muối gói bằng lá mướp vào túi áo, tôi đi thăm bẫy gà rừng thì
vồ được hai chú. Tôi quay trở lại chòi gọi em gái.
-Anh gọi em có chuyện gì vậy?
- Anh biếu bố con gà.
Cô bé ngạc nhiên:
- Ở đâu anh có vậy?
Tôi nói đùa: “Gà của ông nội anh nuôi, giờ đói quá bắt về thịt.”
Chợt nhớ cụ Tú Xương, tôi giải bày, tâm sự:
Một mình đứng giữa cảnh hoang vu!
Biết có gặp không, để đợi chờ?
Cũng muốn vượt biên, vàng chẳng có,
Thôi đành ôm hận đến ngàn thu!
Thế rồi, ma đưa lối, quỷ dắt đường. Một buổi trưa, anh em đang ngồi ăn
cơm trong chòi thì một toán du kích bất ngờ xuất hiện. Ba phát súng bắn
chỉ thiên, cảnh cáo. Anh em tôi đành chôn chân tại chỗ. Họ lùa chúng tôi
về xã Hắc Dịch. Trên đường giải về, qua trình bày, biết hai thằng tôi là
dân “hiện dịch”, anh trưởng toán hù: “Chỉ cần ghép hai anh vào tội liên
hệ với tàn quân là hai anh hết đường về”. Tôi đành xuống nước:
- Anh cũng có cha mẹ, anh em, vợ con. Mong anh thấu hiểu! Chúng tôi
lên rừng vì đói quá! Phá rẫy làm nương chứ không có ý gì khác!
Anh ta kề tai tôi khẽ nói: “Lỡ bắt rồi, em sẽ nói giúp hai anh, em là hạ sĩ
BĐQ đây. Muốn thoát anh phải được ấp, xã xác nhận anh là người của
địa phương.” Thấy Mẹ tui rồi. Tôi trốn lên rừng thì ai dám bảo lãnh
đây?! Đúng là số con rệp!
Bác gái tôi nghĩ ra một kế là nhờ một cô gần nhà, nhận tôi là chồng, làm
đơn bảo lãnh với lý do vào rừng chặt tre, vót chông, nộp cho xã chống
quân Trung quốc.(thời điểm 79)
Không hiểu bà bác tôi nói thế nào mà cô ta chấp nhận. Quả ngược đời,
xưa nay anh hùng cứu mỹ nhân còn tôi thì "mỹ nhân vén váy cứu anh
hùng". Ôi, chua chát thay! Nhưng nghĩ lại khi xưa Lưu Bị qua Giang
Đông, bị Chu Du gài thế hãm hại, bên cạnh có Triệu Tử Long còn run,
sau phải cầu cứu Tôn phu nhân mới thoát, so với ổng tôi hên hơn nhiều,
nên lẩm bẩm bằng bốn câu thơ sau:
Mỹ nhân vén váy trợ anh hùng
Khác nào Lưu Bị, khổn Giang Đông
Em gái Tôn Quyền không khựng giúp
Chắc gì Hoàng thúc vượt thoát sông?
Rồi vì ơn này mà lửa bén rơm, cùng nồi cơm, cùng khói um trong căn
bếp. Đọc đến đây
Thầy Nghĩa Thi của tôi gõ email trách là lù khù chứ biết đâu thằng em
của ổng lúc đó nghĩ lấy cô này to con mắn đẻ, nuôi con khỏi nhờ “ông
Thọ” hay sữa của cô gái Hà Lan! Hoặc tôi có mệnh hệ gì thì nàng đủ sức
tảo tần, nuôi dạy lũ con thơ. Ơn Trời, tôi đoán đúng!
Tôi từng nghe: “Ví dầu nhà dột, cột xiêu! Muốn đi cưới vợ, sợ nhiều
miệng ăn!
Trật lất! Hai câu trên chỉ đúng với đồng bằng, hay thành phố chứ với tôi
"một túp lều tranh, hai củ khoai mì" thì tôi dư sức qua cầu, chỉ cần một
tuần thôi! Tội cho vợ tôi, nàng thiệt thòi đủ thứ. Không có những buổi
hẹn hò, không mai, không mối, không cưới không xin. Hứa sẽ theo tôi
tới tận đáy mồ và em đã giữ lời cho đến tận hôm nay. Còn tôi lúc đó đã
ra điều kiện với em là:
Nếu loạn ly, em đừng ghì chân ta lại!
Nếu yên bình thì dù có cháu ngoại vẫn còn thương!
Từ ngày cõng cô vợ mập trên lưng, tôi cật lực để sinh tồn. Pha thêm rẫy,
mùa mưa tôi đi xắn măng, hai ngày vợ gánh ra chợ bán. Kẽo kẹt trên vai
40 kg với đoạn đường dài 15 km. Quên sao được vợ hiền ui!
Bà bác thương vợ chồng tôi chịu thương, chịu khó, tặng cho 2 kg nhân
đậu phộng giống. Tối về hai vờ chồng rang vài nắm, nằm nhai. Nghe tôi
kể chuyện Tầu, nàng cười híp mắt.
Cuối cùng nàng bàn: “Còn một nửa, mai anh cuốc, em thả hột, chứ ăn
hết cuối mùa không có đậu, bác chửi chết!”
Thấy có lý, tôi tuân theo. Sáng hòm sau hai vợ chồng tôi vừa làm, vợ tôi
vừa tủm tỉm nghe tôi ngâm thơ:
“Cuốc anh đi trước, giống nàng theo sau”. Chứ hổng phải ngựa anh đi
trước, võng nàng theo sau đâu mà ham!
(còn tiếp ...gõ mỏi tay rồi)
Lên rừng! (tiếp theo 2)
Thật ra tôi không tin tưởng vào đám đậu phộng đâu, nhưng vì chiều vợ,
tôi không muốn nàng buồn. Hơn hai tháng sau, đậu vừa mẩy hạt thì tai
họa ập đến. Vừa đặt gùi măng xuống nền nhà, nhìn mắt vợ đỏ hoe, tôi
ngạc nhiên hỏi: Tại sao em khóc?! (Bắt chước giọng ông Bụt hỏi nàng
“Tấm” năm xưa!)
- Anh lên mà coi, tan nát hết rồi!
- Cái gì tan nát, anh không hiểu?!
- Thú về phá nát đậu với mì hàng ranh rồi!
Tôi mỉm cười, reo to, trúng mánh rồi!
- Anh có điên không? Đói tới nơi rồi mà anh còn cười được.
-Thú rừng nó cũng sòng phẳng lắm em yêu ạ. Chúng không ăn quỵt đâu!
Quạ ăn khế còn trả vàng mà!
Buổi trưa vợ đi bán măng, tôi lên thăm rẫy đậu và mì ranh, rộng cỡ một
héc ta. Lòng mừng vô hạn vì bị phá tanh bành. Dấu chân chi chít, đếm
không xuể; nào nhím, nào chồn, nào cheo, heo rừng...nhiều quá!!!
Sáng hôm sau tôi không đi xắn măng, ở nhà làm bẫy, rồi xách xà beng đi
phòng thủ. Lòng hân hoan phơi phới như ngày chinh phục “đỉnh Lâm
Viên” năm nào. Vợ tôi thấy tôi quyết tâm diệt thú như quyết tâm vô Võ
Bị có lẽ cũng yên tâm nhưng vẫn rụt rè:
- Hy vọng không anh?
- Em yên trí! Anh hỏi chúng rồi, hứa tuần sau chúng trả cả vốn lẫn lời!
Nói thật hồi còn trong trường Võ Bị, học văn hoá tôi run run sợ rớt, chứ
bắt thú rừng phá đậu thì tôi nắm chắc chức “Thủ khoa”! Rồi hai hôm
sau, khi vợ đi bán măng, tôi lên thăm bẫy, đem về một chú heo con cỡ
12 ký, răng nanh vừa mới nhú. Tôi không quá vui mừng vì cảnh này tôi
đã quen từ Trường Đại học Cây Cầy A Tây Ninh.
Tôi gọi thằng em trai của bạn qua làm thịt. Mượn cái nồi to luộc măng,
bỏ nguyên con vào luộc. Xong bảo thằng em thích gì xẻo nấy, ăn trả thù.
Hai tiếng sau, thằng em xoa xoa bụng rồi nói: “Lâu lắm rồi mới được ăn
thịt, đã thật! Tôi cắt cho em một miếng cỡ hơn 1 kg còn gan, lòng muốn
bi nhiêu cũng chiều.
Vợ tôi về qua chòi nhà em, em đã khoe: “Chị ơi, hôm nay anh bắt được
heo rừng! Vợ tôi nói:
- Chú xạo, đừng chọc quê chị mà.
- Chị coi miệng em nè, mỡ còn đinh, anh còn cho thịt đem về nữa!
Tưởng được vợ khen, ai dè, vừa mở vung nồi, vợ lắc đầu:
- Anh luộc hết rồi, bán sao được?
Lúc đó tôi mới ớ ra! Lén nhìn thấy nét mặt vợ tươi tỉnh, tôi thấy mình
đẹp trai lạ!
Rồi từ hôm ấy, tôi tạm nghỉ xắn măng, vợ tôi đi bán thịt; việc nhẹ, lương
cao. Hì hì!
Những hôm trời mưa to, nước suối đang cao, tôi không cho vợ đi bán, vì
rất nguy hiểm! Mấy con heo nhỏ vợ tôi luộc bằng nước mắm rồi xẻ nhỏ
phơi khô để dành ăn dần.
Lại nói về ngày mùa, khi nông sản gần được thu hoạch, thú rừng kéo
nhau về "thu thuế!" Đêm đêm bà con đem thùng, nồi niêu ra gõ để xua
đuổi cầm canh, còn tôi thì không! Nằm trong chòi ôm cho vợ hiền bớt
trằn trọc. Tôi tỉnh bơ vì xung quanh rẫy tôi đã "gài mìn" phòng thủ. Khi
nghe thùng gõ tứ tung, chỉ có rẫy vợ chồng tôi là im ắng nên chúng mò
qua, thế là tôi bắt gọn.
Mùa mưa thì vậy, còn mùa nắng chuyển qua bắt chim. Năm 1980, hai vợ
chồng tôi gieo được một héc ta lúa “mọi”, năm đó hạn hán mất mùa. Cả
10 ngàn mét vuông đất mà chỉ được vỏn vẹn 8 thùng lúa. Vợ tôi méo
mặt, than trời! Trong lúc vợ tôi về chòi nấu cơm thì “quới nhơn” xuất
hiện. Một ông già xách lồng bẫy đi ngang, biết ông đi bẫy chim khướu,
tôi gạ chuyện làm quen. Ông ta bắt được một con, bỏ trong túi đựng
chim bổi, tôi hỏi ông bán bao nhiêu tiền? Ổng nói không lấy tiền mà lấy
một thùng lúa về cho Cu mồi ăn. Nhân lúc vợ vắng mặt, tui bằng lòng.
Thế rồi khiếu trao, lúa xúc, đường ai nấy đi. Tôi rút chỉ trong bao ra cột
chân, cột cánh rồi lấy nón che đỡ. Nhìn lúa, vợ tôi nghi nghi, tôi ngừa
tình huống này rồi nén đã xúc mỗi bao một ít. Vậy mà bí mật đã phơi
bày khi thấy con chim khướu úp trong nón của nàng.
-Anh xúc lúa đổi chim hả?
Tôi thật thà khai báo như Tân Khóa Sinh khai với đàn anh cán bộ.
- Ừ, một thùng em ạ.
Vợ tôi gầm lên không thua gì ông cán bộ đội mũ nhựa đỏ (cán bộ Đại
Đội trưởng) “Mùa Tân Khóa Sinh” trong trường tôi năm xưa.
- Anh liều thật, cả năm có tám thùng, mà đam đem một thùng đổi
“khướu”!
Tôi phải giải thích để bênh vực cho sự liều lĩnh của mình:
- Em yên tâm, nếu mua một con chim sẻ giá một đồng, thì bắt được một
con cũng chỉ bán một đồng. Anh đổi con khiếu một thùng lúa thì bắt một
con anh cũng đổi một thùng.
Tôi vừa dứt lời thì em đã bỉu môi thấy ghét!
- Có ai liều và khùng như anh đâu!
Tôi than thầm trong bụng: “Thượng Đế ơi có thấu”! Vợ con còn không
tin con, thì cõi thế này còn ai tin được con bi giờ? Nỗi lo của tôi lúc này
là cố bảo tồn mạng sống cho chú chim khiếu của tôi, nếu em có mệnh hệ
gì thì tôi sẽ bỏ nhà ...đi hoang thôi!
Suốt một tuần hì hục, kiếm dụng cụ, tôi đã hoàn thành, được cái lồng
bẫy. Tôi thả chú chim mồi vào lồng mà giọt lệ rưng rưng. Tôi cưng chim
mồi như cưng vợ tôi vậy. Sau khi kiểm tra, tôi quyết định trổ tài cho vợ
biết mặt.
“Thần Rừng” thương, tổ nghiệp đãi, chỉ buổi sáng hòm đấy tôi vồ được
một đôi. Không tham bắt thêm vì sợ chim mồi vỡ trận, tôi bỏ hai chú
chim vào hai túi đụng chim mồi, quàng len cổ, rồi xách lồng ra về. Trên
đường về, đi ngang rẫy của ông già cùng xóm, ông ta thấy tôi xách lồng
bẫy đi ngang thì hỏi:
-Chim gì vậy Tú?
- Dạ, chim khướu bác ơi!
- Ở đâu mày có?!
- Dạ con đổi một thùng lúa đó bác.
-Bẫy được con nào không?
- Dạ được hai con! Tôi gỡ trên cổ xuống khoe ông.
Ông reo lên: “Giỏi thật! Rồi hỏi:
- Hai con này mày đổi không?
- Dạ đổi!
Ông mời tôi vô chòi uống trà, nhận chim và nói: “Lúa chưa kho, vài bữa
nữa tao bảo em vác qua cho”.
Tôi hân hoan ra về, vừa vào sân, vợ đã hỏi:
- Được con nào không anh?
Tôi vội đóng kịch, với vẻ mặt bơ phờ, lắc đầu, chim mồi chưa quen, ra
rừng không chịu đấu. Không một lời an ủi, em tàn nhẫn với tôi khi
buông lời cay đắng: “Thấy người ta ăn khoai, vác mai đi đào!” Nỗi buồn
này tôi hổng thèm chia sẻ với ai đâu!
Rồi việc gì đến, tất sẽ đến.
- Chị Tú ơi! Anh có nhà không chị?
Vợ tôi lịch sự hỏi:
- Có chuyện gì không em gái? Ảnh trong buồng.
- Dạ ba em bảo em đem hai thùng lúa giao cho anh.
Tôi vừa lú đầu ra, đã bị em chì chiết: “Sướng nha! Đem lúa đổi chim,
giờ đi vay lúa, bao giờ mới trả đây? Em gái nhanh nhảu cứu bồ:
- Không có, ba em đổi hai con khướu của anh đó, chứ có vay đâu, và bây
giờ vợ tôi mới biết trong xóm cũng có người khùng xúc lúa đổi khướu
như tôi!
Khướu mồi hót hay đủ thứ tiếng, kích chim bổi nhanh hót và dùng để
kêu bổi về
https://www.youtube.com/watch?v=NDgXfr172Kk
Lên rừng! (Tiếp theo 3)
Giờ tôi đã tạo được niềm tin của vợ là chim khướu cũng biến thành
lúa.Tháng nắng là mùa nông nhàn, tôi tha hồ lặn suối, trèo non với lồng
bẫy trong tay. Chỉ cần mỗi ngày một con là có lúa, khỏi phải gặt. Một
hôm tôi đang theo tiếng hót, lần tới suối lớn thì gặp một anh H' mông
cũng đi bẫy khướu. Anh ta đưa kèn len thổi hệt tiếng hót của chim rừng,
lâu lâu lại đổi giọng, lại có cả giọng mái nữa chứ. Không bao lâu sau thì
một cặp bay về, anh ta giương bẫy lên và bắt được một con, con còn lại
cứ lờn vờn không chịu đá. Biết gặp phải cao nhân, tôi chờ con chim rừng
bỏ đi mới tới làm quen, muốn xem cái kèn anh đang đeo trên cổ. Anh
vui vẻ tháo đưa cho tôi xem. Kèn được làm bằng ống trúc, tôi xem xét tỉ
mỉ lắm. Đường kính ống thổi tôi dùng ngón tay thọc vào, vừa vặn ngón
tay cái. Chiều dài ống là 5 đốt ngón tay, từ lỗ ngậm tới lỗ tròn gắn khúc
lưỡi lam là 3 đốt. Tôi dư sức làm, nhưng gay nhất là cách thổi, có ai chỉ
không cho mình, khi mình mới gặp mà lại là đối thủ cạnh tranh?
Tôi đề nghị đổi cái áo nhà binh vợ mới mua đổi ống thổi, với điều kiện
anh dạy cho tôi cách thổi. Anh ta bằng lòng. Sau hai giờ thực hành tôi đã
nắm vững 8 điệu hót khác nhau. Như bắt cô trói cột, bớt tham bớt khổ, 5
trâu 6 cột, gò cổ gò cổ....Tôi hân hoan nghĩ cảnh Trương Lương dùng
tiếng sáo " chiêu hồi" binh , tướng của Hạng Võ giúp Hán Cao Tổ thống
nhất Giang san. Còn tui. Tui sẽ dùng ống thổi này để dụ khướu của
“Thần Rừng”, bắt đổi lúa để mưu sinh. Cuối cùng bắt chước vua Lê cởi
long bào giao cho Lê Lai, cứu chúa.
Thấy tôi về mình trần, vợ tôi ngạc nhiên hỏi: Áo anh đâu? Hay là
"Thương nhau cởi áo cho nhau; về nhà vợ hỏi, qua cầu gió bay?”
Nhờ câu hỏi tếu của vợ, tôi nhanh trí trả lời:
- Trời nóng quá anh cởi quần áo để trên bờ, xuống suối tắm, tắm xong
len bờ thì chỉ còn quần, áo trôi theo suối mất rồi.
Vợ tưởng thật, giặt áo cũ đem phơi, trưa hôm sau vá lại. Nhưng chỉ hai
hôm sau là nàng phát hiện. Số là tôi nóng lòng ôn tập, lén lấy ống thổi ra
thổi, khác gì em ơi! Anh ở bụi này.
Bả lắc đầu than:
- Anh lại đem áo đổi ống thổi khướu chứ gì?
Biết không thể giấu được vợ “lù khù” bù “thông minh”, tôi gật đầu.
Nhưng cố vớt vát:
- Cái áo, mặc cùng lắm chỉ sáu tháng là mục. Còn cái ống này anh sẽ
truyền lại cho con cháu mai sau. thấy vợ không nói gì, tôi lại lôi truyện
Tầu ra nhắc tích xưa. Đoạn Tôn Sách đem Ngọc tỷ đổi quan của Viên
Thuật, nhờ đó hùng cứ Giang Đông. Vợ tôi hứ lên một tiếng, biết rồi kể
mãi!
Thế là thế giới bình yên. Có ống thổi rồi, tôi kết hợp với chim mồi, khác
nào có bùa trong những kỳ thi giai đoạn của tôi trong Trường Mẹ năm
xưa. Suốt mùa khô năm đó tôi vồ được trên 40 chú khướu, đem về dụ
khị thiên hạ đổi lúa, đủ gạo ăn. Ngoài khướu ra tôi còn nhiều loại chim
mồi khác như: chào mào, chích choè lửa, than, đa đa, bìm bịp,
quốc ...sáng ra chúng hót tưng bừng.
Tiện dịp tôi kể cho các bác nghe chuyện đi gác cu. Trong các loại chim
thì cu có tuổi thọ cao nhất, có thể kéo dài tới 20 năm. Chắc các bác đã
từng nghe: “Ở đời có bốn cái ngu: làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu”.
Trong bốn cái ngu kể trên, tôi dính cái thứ ba, âu cũng do mệnh trời, các
bác ạ. Tôi tuyển được hai con mồi, nó suốt đời ăn chay, thức ăn là ngũ
cốc, không ăn cào cào, giun, dế. Tiếng gáy trầm trầm chứ không véo
von, gợi nên vẻ thanh bình, u tịch. Chả vậy mà có câu: “Cu kêu, ba tiếng
cu kêu. Mong cho đến tết dựng nêu, ăn chè!”
Những lúc rảnh, tôi thường để hai lồng bẩy gần nhau để xem chúng gù,
thúc, múa lân. Chúng xoay tròn trong lồng, gườm thế nhau vui lắm. Có
lần bà goá vườn bên qua chơi. Nhìn hai con cu gù đấu bả khen: Hồi còn
sinh tiền, ông xã em cũng nuôi cu, nhưng nó gù yếu lắm; không sung
như của anh đâu. Em không rành về chim, nhưng nhìn cu anh gù thấy
mà ham. Bả ung dung phát biểu, tôi muốn rụng tim. Cũng hên lúc đó vợ
tôi đang bận trong bếp, nên không nghe, không biết, không nhìn. Thấy
tôi cười quá cỡ, bả biết bị hớ, đỏ mặt nhìn tôi, tội nghiệp quá chừng
chừng!
Cái hay là nếu một tay xách lồng, một tay xách cây sào để treo lồng lên
cây thì ghé vườn nào cũng không bị la, bị đuổi mà còn được chủ vườn
chỉ chỗ có chim, rồi cùng theo rình cu so cựa.
Một hôm đang cắt chồi cà phê, toi thấy bên vườn nhà bà goá xuất hiện
một cặp cu, chúng gù, đấu hay quá; tôi liền về nhà xách lồng qua đặt,
xong xuôi lủi vào bụi ngồi rình. Mặc cho muỗi đốt cũng không đam đập
mạnh, sợ chim ngoài nghe tiếng động bay đi. Hấp dẫn, lẫn hồi hộp nhất
là lúc hai con song đấu, gườm nhau. Con trong lồng thủ thế gù, thúc, đầu
hạ thấp, hai cánh nhịp nhịp khiêu khích. Con bên ngoài vừa gù, vừa
chuyền từ cành thấp qua cành cao. Đúng giờ sinh tử ấy, thì bà chủ vườn
xuất hiện. Tôi bụm miệng than trời, vì ra cản bả, thì chim ngoài bay mất.
Bà chủ nhìn dáo dác, không thấy ai bèn xụp quần ngồi "rán mỡ". Tôi
nhìn chết trân, gần quá mà. Tức cảnh sinh tình, tôi lầm bầm trong miệng:
Giũa trưa, em tưởng vắng người,
Em ngồi, em để cái sự đời em ra
Sự đời giống hệt lá đa.
Phải anh chưa vợ, hai ta...cùng gù!
Tôi nghĩ bụng, rán mỡ xong, bà ta đi tản, còn hy vọng! Nào ngờ vừa
đứng lên, nghe chim gù, bà ta xăm xăm đi lại phía lồng tôi treo con
chim. Ngoài vừa thấy bà là nó bay mất dép. Tôi tiếc hủi hụi con chim,
còn bả biết chắc là tôi đã nhìn thấy hết trơn hết trọi rồi. Bả e thẹn, ngỡ
ngàng nhìn tôi, còn tôi xách lồng về và hứa với bả là ngày mai tôi qua
gài tiếp!
Lên rừng (4)
Sau bao năm vật lộn với “Thần Rừng”, cuộc sống đã tạm ổn. Vợ chồng
tôi đã có mảnh đất rộng 15.000 mét vuông, xung quanh ranh trồng chuối
và cậy ăn trái đã được thu hoạch. Trong rẫy trồng ba loại cây lương thực
bắp, mì, lúa. Mỗi loại thu hoạch cách nhau ba tháng theo tuần tự: bắp,
lúa, mì. Đủ ăn chứ chưa đủ mặc. Phải cố thêm nữa chứ biết sao!
Một bữa đẹp trời, có một tốp người ghé nhà tôi xin tá túc để làm tre, tôi
hân hoan đón nhận. Anh em xúm lại đốn tre, cắt tranh, che bạt sát chòi
tôi nhờ thế nhà tôi trở nên đông vui và to nhất xóm. Anh em là người ở
Long Thành làm tre cho công ty giấy Cogido. Mấy chú em thấy tôi vui,
tếu, nên rủ tôi tham gia. Thấy tôi còn lưỡng lự, anh cai thầu phân tích:
- Anh theo tụi em đi làm một ngày được 20 đồng, thuê hai người làm cỏ
rẫy tốn 10 đồng anh còn dư 10 đồng để chi dụng. Chị khỏi ra rẫy ở nhà
chăm sóc con cái. Em sẽ ứng trước cho chị 200 đồng mua cặp heo cái về
nuôi đẻ, để tăng gia sản xuất. Thấy có lý, tôi ưng thuận. Anh ta giao cho
tôi 1 cái câu liêm, 1 cây rựa và một cái búa. Tôi được dạy cách cầm câu
liêm giựt gai, cách rong cựa gà và cuối cùng là đẽo sạch mắt tre. Nhưng
cái gì cũng có giá của nó. Các cụ nhà đã bảo: nhất chặt tre, nhì ve gái.
Quả không sai! Các bác chỉ nghe! Chứ em thì vừa được nghe, vừa
được...mếu! Má ôi! Gốc tre gai cứng như sắt! Còn cái gai của nó đỏ tựa
mắt cua, rựa rèn bằng nhíp xe GMC mà nhiều phen nháng lửa! Với giá
bẩy mươi xu một gốc, muốn có hai mươi đồng các bác cứ nhân lên. Một
ngày chúng tôi uống hết bốn lít nước, mồ hôi ướt hết áo, không chỗ nào
khô. Tôi tự nhủ: “Tám tuần “huấn nhục” còn qua được, thì xá gì mấy
gốc tre gai! Và tôi đã vượt qua sau mười ngày phòng da, tróc vẩy.
Nhưng nói thật nghề này không có hậu, lúc mới vào nghề thì áo quần
tươm tất, càng lâu tre gai nó móc sẽ te tua. Để lãng quên, tôi sửa hai câu
thơ của cụ Danh Án, đốt than, chịu khổ chứ không chịu thần phục Gia
Long. Hai câu ấy như sau:
Chán nghề gai góc, toan nghề khác.
Lại sợ công an thiếu giấy xài!
Rồi cũng nhờ nghề này mà một hôm tôi lang thang trên đường xe be thì
gặp Nguyễn văn Xanh, bạn cùng khoá. Hai thằng trân trối nhìn nhau,
không cần đếm một, hai, ba mà hai thằng cùng quăng câu liêm nhào ra
ôm nhau...khóc. Tôi không đủ văn tài để diễn tả nỗi mừng vui của anh
em tôi lúc đó! Bạn cách nhà tôi cỡ bẩy km. Vừa làm tre, vừa làm rẫy.
Nhưng tay nghề thì thua tôi một bậc, vì bạn chơi ngọn về bán cho Phạm
Ngũ Lão đan sọt. Còn tôi đục gốc, xay bột, mần giấy khen thưởng công
nhân viên. Rồi từ đấy! Mấy ông anh mò ra tôi. Hôm ấy tôi đang ngồi
trên rẫy, vợ bế con lên gọi về có người gặp. Về tới sân, tôi sững sờ gặp
lại Niên Trưởng Đỗ Khắc Mai khóa 27. Tôi với ông cùng đại đội F; năm
tôi hai gạch."Tôi mừng quá, vội xà vào đôi tay đang dang rộng của anh
tôi, cùng lúc ấy lại một ông từ trong bếp bước ra, ông nói: “Ta lạc
đường, em chỉ dùm ta đường về Phạn xá!” Thì ra đó là Niên Trưởng
Nguyễn Phương Thuỵ Khóa 25. Sau này Niên Trưởng Mai cho biết lúc
vợ tôi lên rẫy gọi tôi, thì ông “Thầy Khóa 25”, lục tung thùng gạo, giở
từng nắp nồi của nhà tôi; khác nào cảnh khám xét phòng của đàn em vào
sáng thú bẩy trong tuần vậy. Ký ức Trường mẹ lại ùa về. Tôi khóc thật
sự khi NT Mai kể tiếp: “Ông Thuỵ nói với tao, phải lục bếp nhà nó mới
biết rõ hoàn cảnh của nó hiện tại, chứ hỏi nó không khai thật đâu!”
Vợ tôi nghe xong, cũng kéo vạt áo lên lau nước mắt. Trường Mẹ ơi, con
xin đa tạ ơn Người!
Lên rừng (5)
Một tuần sau, ông Thầy sai Niên Trưởng Mai qua triệu tôi về triều kiến,
tôi vội khăn gói lên đường, không dám trái lệnh. Lúc tôi đến nơi, ông
cũng vừa câu được con cá trắm to đùng trong ao rồi giục chị đưa tôi ra
chợ mua đồ về đãi hai thằng em.
Lúc ngồi vào bàn ăn, tôi nhìn chăm chăm vào cái thố đựng cơm, cái thố
y chang cái thố trong Trường năm xưa. Tôi bèn chọc: “Ngày rời Trường,
cái thố đựng cơm làm sao Niên Trưởng dấu được hay vậy! Hèn gì hôm
sau khi đọc xong nhật lệnh, phạn xá thông báo ai mượn thố đựng cơm
thì tự giác đem trả” Ổng nhướng mắt nhìn tôi đầy vẻ hăm dọa. Chị Bảng
vợ ông bèn khoe: “Ổng ra chợ nhìn thấy cái thố, ổng về bắt chị ra mua
cho bằng được đó. Ổng còn nói với chị là nhìn nó mà nhớ Trường xưa”.
Cơm nước xong, ông Mai phải về đưa con đi học, hứa quay lai sau. Còn
lại hai thấy trò, ông thầy bắt đầu phỏng vấn:
- Diện tích đất mày được bao nhiêu?
-Dạ một mẩu rưỡi.
- Thu hoạch khá không?
- Dạ đủ ăn, nhưng không đủ mặc!
- Mày trồng thứ gì mà đủ ăn, lại không đủ mặc?
-Dạ, em trồng ba thứ bắp, mì, lúa.
-Hèn gì!
Rồi thầy dắt tôi ra vườn cà phê và tiêu, sai trĩu quả. Tôi thấy choáng
ngợp. Giọng thầy chùng xuống: “Muốn khá phải trồng cây công nghiệp.
Một kg tiêu tao đổi được hai tạ mì là it. Về trồng lấy ba sào cà phê, vài
năm sẽ đỡ”. Tôi than là không có vốn, ổng gắt lên: “Đợi có vốn thì đợi
kiếp sau, mày y chang thằng Mai!” Tôi nghĩ thầm hồi trước nhìn cá hai
đuôi của ông, tôi chỉ cần có cá thôi mà hổng biết có được không nữa!
Tôi hỏi: “Niên Trưởng Mai cũng có cà phe hả thầy?” Ổng nói: “Ba năm
trước tao bảo nó trồng, nó cũng nói như mày là không vốn. Tao nẹt cho
một tăng nó mới chịu nghe, năm sào của nó năm nay hái bộn rồi!” Ổng
vô nhà lấy rổ, ra lựa cho tôi 5 kg cà phê giống, chỉ cho cách lột vỏ; lựa
nhan, cách ương ; dặn về ương, còn cách đào lỗ, xuống giống thì ông
Mai đảm nhận sau.
Trên đường về nhà, Niên Trưởng Mai rù rì với tôi: “Cố lên, 5 sào cà phê
tao có là nhờ ổng đó. Lúc đó tao cũng than hổng vốn. Ổng chửi te tua
như mày bây giờ. Bổn cũ ổng soạn lại để khi tao trồng ổng qua trồng
phụ, rồi rủ tao trồng bắp xú lấy tiền bỏ phân. Mày cố lên, ổng không hứa
nhưng ổng không bỏ rơi mày đâu!” Nhờ lời hăm dọa lẫn khuyên răn của
hai ông anh, tôi liều mạng xuống giống ba sào. Phân ông anh trợ cấp,
còn tưới thì tôi đã có 4 cái thùng và 2 cây đòn gánh.
Lâu lâu, hai ông anh qua kiểm tra, chỉ cách trừ sâu bệnh. Vợ chồng tôi
mừng biết chừng nào. Cuối năm đó, lúc gần tết, ông Mai qua nói chị
Bảng nhắn sáng hăm chín qua nhà, chị gởi quà cho mấy cháu. Mấy nhà
hàng xóm thấy vậy hỏi vợ tôi là họ hàng xa hay gần, vợ tôi kể lại cho họ
nghe, và khoe hai ông ấy là đàn anh cùng Trường, còn hơn ruột thịt nữa.
Thật sự lời vợ tôi nói không ngoa đâu, sa cơ thất thế, họ hàng coi
thường, chỉ có đàn anh, bạn bè, đàn em cưu mang, giúp đỡ thôi.
Sáng 29 tôi qua, chị gánh bắp xú ra chợ dẫn tôi theo. Được một lúc chị
biểu tôi canh hàng, chị vào chợ. Tôi nghĩ chị mua quà cho con mình,
nhưng không phải. Chị đưa cho tôi một mớ tiền rồi nói:
- Sợ em đợi lâu, chị vào ứng tiền, em đem tiền về cho thím nó sắm đồ tết
cho các cháu. Ôi! Tấm lòng của chị, chắc gì chị ruột đã được như vậy
chưa?
Nhờ sự giúp đỡ của hai ông anh và hai bà chị dâu, ba sào cà phê có thu
hoạch, dần dần tôi phủ kín vườn với 1400 cây cà phê và 100 cây sầu
riêng.
Vui nhất là ngày giỗ cụ thân sinh của ông Thầy, ông Mai lại được lệnh
triệu hồi các Cùi đến tham dự đông vui. Tôi lại gặp thêm bạn bè như
Ngô văn Thanh Vũng Tàu, Nguyễn Văn Xanh Phước Thái, Cao Đức
Lan Kim Long...Niên Trưởng Hổ Khóa 27 .
Nhìn lão Xanh ngồi, Thầy tôi chọc: “Mèo vằn, chó vá đừng nuôi, râu rìa
lông ngực là tôi phản thần!” Bị chạm nọc, Văn xanh vội phân bua: “Em
râu rìa nhưng không có lông ngực!” Thầy tôi lại bồi tiếp: “Đã mập lại
còn lùn, bụng to ngồi giống hệt con cóc!” Thấy thế tôi bèn cứu bạn. Tôi
nói, nếu không có ngày 30 tháng tư, bạn Xanh của em ít nhất cũng đeo
lon “Thiếu Tướng”. Thầy tôi hỏi căn cứ vào đâu mà mày nói vậy Tôi
vừa gãi đầu vừa thưa: Dạ em thấy trong những buổi diễu binh, ban quân
nhạc đều bắt đầu là kèn thổi: cà chớn đến nơi, cà chớn đến nơi, cà chớn!
Còn trống thì đập: mập, mập mà lùn. Thầy tôi gật đầu, cười khen là tôi
nhận xét đúng.
Còn chuyện này tôi giữ kín lâu rồi, nhưng mãi bức rứt trong lòng nay
đem ra kể. Mong các bác giữ kín dùm, đừng kể lại với ông Thầy tôi
nghe. Ổng mà biết ổng "nhốt gầm" tôi đó!
Nhân một hôm ghé nhà thăm thầy, thì nghe thằng nhóc nói: con giống
ông nội, ba giống con. Ông Thầy tôi nói: “Con phải nói ba giống ông
nội, con giống ba!” Nhìn cảnh này tôi nhịn cười không nổi, Thầy tôi ốm
nhom, cao nhồng, cúi đầu bên thằng nhóc giống hệt "ông đồ già". Thấy
tôi đến, chị tôi pha hai ly và phê rồi bưng ra cái bàn kê ngoài hiên cho
hai Thầy trò tâm sự. Thấy chị xuống bếp, tôi bèn tấn công ngay: “Thầy
quá giỏi, nhưng không bao giờ giàu!” Thấy thằng em láu cá nói vậy, ổng
mím môi hỏi: “Mi căn cứ vào đâu mà trù tao vậy?” Tôi nghĩ thầm trong
bụng nếu giải thích không hợp lẽ thì ổng phạt 50 hít đất là cái chắc. Toi
sợ sệt thưa: “Dạ em nghe ông bà xưa dạy rằng tam nam bất phú, ngũ nữ
bất bần!” Ổng phản pháo liền (ổng chơi cờ tướng hay lắm): “Mày có 4
thằng, sao nghèo dữ vậy?” Tôi hơi đuối lý nhưng cố cãi ngang: “Dạ em
còn nghèo, vì chỉ có ba đứa con gái, nếu vợ còn trứng, em khuyên nó đẻ
thêm hai đứa con gái nữa thì em giàu nhất khoá 28, chứ chẳng đùa đâu!”
Tưởng chỉ đùa cho vui, nào ngờ 11 tháng sau, Ông Mai lại loan báo qua
nhà Thầy dự tiệc đầy tháng thằng cháu út.
Vừa gặp mặt, chưa kịp chào hỏi, chị dâu đã chỉ thẳng mặt tôi rồi phản
trần với mấy thằng em:
Tại thằng Tú mắc dịch mà ra cớ sự! Không biết nó rù rì với Thầy nó thế
nào mà ổng bắt chị tháo vòng đẻ tiếp, ổng hăm nếu không, ổng nhờ bà
giá vườn bên đẻ giúp. Biết tội, tôi chỉ biết gãi đầu cười. Liếc qua thấy
ông Thầy nhìn tôi, mặt nghênh nghênh, thấy...ghét!
Lên rừng! (6)
Rồi theo lệnh của ông Lê Duẩn, Nông Trường Cù Bị được thành lập, để
đưa dân Quảng Trị từ quê và Đồng Phú (Đồng Xoài) đến lập nghiệp.
Mấy trăm mẫu rừng bị đốn sạch. Khi đốt cây, chim chóc thú rừng bị chết
thui. Chỉ có cu rừng bay thoát còn mấy loại bay yếu như gà rừng, bìm
bịp, sáo, nhồng....là toi mạng trong biển lửa mong mênh, và cũng kể từ
đó, mộng tăng diện tích của chúng tôi đành tắt lịm. Không còn măng
rừng, chim, thú, nghề làm tre cũng gác câu liêm!.
Vợ tôi khuyên tôi vào công nhân, tôi quyết chối từ. Tôi phân tích cho vợ
tôi là chỉ vì cái vòng kim cô đeo trên đầu mà tề Thiên phải phò Tam
Tạng đi thỉnh kinh, tội nhất là Trư Bát Giới bị ép chứ lão chỉ muốn làm
rể Cao lão gia mà. Tối tối nghe tiếng kẻng tập họp, tổ trưởng phân công,
công đoàn ra chỉ thị. Nghe tiếng kẻng mà não lòng. Tôi thừa biết công
nhân không bao giờ giầu. Không để công nhân đói vì đói họ bỏ chạy
nhưng cũng không cho giàu, vì giàu thì bướng không nghe lời.
Cùng thời gian này phong trào trồng dâu, nuôi tằm rộ lên. Mỗi lứa tằm
chỉ 21 ngày, một kg kén giá 40.000 đồng; nhiều hộ bắt đầu cưa cà phê
để trồng dâu. Sở dĩ họ làm vậy vì trồng dâu mau ăn hơn với giá kén cao
như vậy cà phê cũng khó vượt mặt.
Cà phê phải bỏ vốn và công sức quá nhiều sau chữ cà là chữ phê mà!
Hơn nữa công ty mua cà phê sọ, nên nông dân cũng phải ké sọ vào gốc
cà phe.
Trường Đại học Bách khoa Sài Gòn cũng tham gia phong trào. Họ cử
người lên chỗ tôi thuê và mua đất để trồng dâu, nuôi tằm; mục đích
chính là để bán nguyên phụ liệu cho ngành này như động cơ, quạt gió,
máy sấy, máy quay tơ. Trong tài liệu quảng cáo, cổ động cho dâu tằm thì
thơ của Nguyễn Bính xuất hiện nhiều nhất. Nào là "ngùi trông theo chị
khuất ngàn dâu thưa", " vườn dâu em đốn, mẹ già em thương", " Mẹ
ngồi bên cửi quay tơ" Tôi dư sức biết mấy đoạn thơ này, trong bài Lỡ
Bước Sang Ngang. Máu thơ trong người nổi dậy, tôi bèn mượn đỡ ít vần
của ông Nguyễn Bính để viết riêng cho mình bài:
“Lỡ bước sa cơ”
Mẹ ngồi bên cửi quay tơ
Đít thường nhấp nhổm, anh giờ ra sao?
Anh giờ biết nói thế nào
Hùm thiêng bị nhốt, kẽm rào vây quanh.
Còn đâu chí cả tung hoành?
Vệ binh áp tải, cuốc tranh; trồng mì.
Mười ngày học tập, đảng ghi
Ba năm chết dở, ngày về còn xa.
Nhờ em nuôi dưỡng Mẹ già
Đừng trông mong, ngóng chỉ là toi công!
Anh giờ sống cũng bằng không
Xem như lúc bé tắm sông...mất quần!
Trại nuôi tằm được dựng lên, một ông già trong xóm đứng ra nhận lãnh;
tôi được nhận làm phụ tá do lời đề nghị của ông. Ông ta được giao 10
cây vàng để làm trại; không lợp tôn vì nóng mà lợp bằng lá dừa. Nào
khay, nia, né, kệ, sạp để đựng lá dâu. Tôi được cử đi học khoá nuôi tằm.
Ông thầy dạy kỹ lắm. Chúng tôi hỏi: kỹ quá vậy thầy! Ông ta bảo: “Tôi
dậy kỹ để sau này các anh ẩu đi là vừa. Các anh nén biết tằm là con gái
nhà giàu. Nắng không ưa, mưa không chịu, kỵ gió, ngại mù sương”. Tôi
rụt rè hỏi: Thành công không thầy? Ông phân trần: “Có hai yếu tố để
khẳng định là các anh sẽ thành công. Thứ nhất dụng cụ các anh còn mới
chưa bị nhiễm khuẩn, mới vào nghề các anh còn sung. Thứ hai là yếu tố
tâm linh, thổ đãi người mới”.
Rồi chỉ hai tháng sau, với mười héc ta dâu, chúng tôi thực tập với hai
hộp trứng. Tôi có năm thằng quân trong tay, lựa một thằng lanh nhất làm
tuỳ viên. Chỉ nó cách ươm trứng, chăm sóc khi trứng nở, thái lá dâu cho
tằm con, canh tằm ngủ, thay nong, rửa khay, nghĩa là từ A tơi Z. Và
đúng 21 ngày sau chúng tôi xuất mẻ kén đầu tiên, thành công mỹ mãn.
Cũng kể cho các bác nghe về giai đoạn chót của một lứa tằm. Đọc thơ
Nguyễn Bính tôi khoái lắm nhưng nuôi rồi tôi mới biết ông ta chưa hề
nuôi, mà chỉ xem rồi phăng."Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương" tôi
cứ nghĩ chị ông ta lấy Đài Loan, khi theo chồng về xứ lạ, dặn ông ta phá
vườn dâu, nghỉ chơi luôn. Nhưng thực tế là mỗi năm phải đốn sát gốc, vì
không đốn sẽ không còn lá, nếu có thì chót vót trên cao cũng không hái
được.Đừng nghe mấy cha thi sỹ phăng, nhất là mấy cô mới lớn.
Giai đoạn cuối nuôi tằm mới te tua. Thời gian này gọi là ăn rỗi, chạy lá
muốn khùng luôn.Thả lá vào là tiếng rào rào gặm lá, tằm không lớn nữa
mà ăn để lấy sức nhả tơ, kéo kén trả nợ dâu. Thời gian này không ai
được ở không chả thế mà có câu: “Làm ruộng ăn cơm nằm, chăn tằm an
cơm đứng!” Khi tằm chín phải bắt chúng lên né để chúng kéo kén, phải
canh chừng ong, vì ong đốt là nó chết, phải canh thạch sùng và nhất là
mấy con tằm lười biếng, dựa lưng bè bạn. Chúng không tự mình kéo kén
mà chờ con bên cạnh máng góc xong rồi chun vào kéo chung, tạo thành
kén đôi, rối tơ không kéo sợi được. Bởi vậy khi bị chủ nợ đòi mà không
có tiền trả mới có câu: “Ruột rối tợ tơ vò”.
Lên rừng (7)
Phong trào dâu, tằm, tơ bùng phát được vài năm thì tắt ngúm. Tổng công
ty Sơ Ry Lâm Đồng phá sản.
Trồng dâu thì dễ, nhưng phá đi để trồng thứ khác thì quá ê chề. Máy cày
David cày ba chảo cứ lồng len như ngựa chứng. Trại nuôi và dụng cụ
không bán được một xu vì toàn là tre, lá, gỗ lạt. May là làm mướn cho
Đại Học Bách Khoa nên tôi không bị ảnh hướng. Cà phê bắt đầu lên giá
42 ngàn/kg. Một tấn cà phê mua được 8 lượng vàng. Một chiếc Dream
Nhật chỉ cần một tấn mốt cà phê, xóm tôi mua nhiều lắm. Một ông ngồi
trên yên xe tuyên bố: “Nợ thì nợ, sắm một cái ngồi cho sướng cái đít rồi
tính sau!” Phong trào cà phê bốc cao. Bà con xầm xì: “Muốn sướng về
Vũng Tàu, muốn giàu lên Tây Nguyên!”
Đất bốc khói. Mảnh vườn của tôi một mẫu rưỡi có người trả 48 cây
vàng. Vợ tôi bàn bán đi rồi rút về Hóc Môn mua nhà, có vốn làm ăn, ghi
số đề sống khỏe hơn. Tôi lắc đầu, tôi đã từng bỏ phố lên rừng vì không
thích cuộc sống bon chen, tôi vững tin là bầy con không bị đói, nhưng
tương lai bầy cháu sau này ra sao? Tôi thấy ý định làm chủ đề của vợ mà
nổi da gà.. Tôi kể cho vợ tôi nghe chuyện này để cảnh tỉnh vợ tôi: “Ông
bố có máu số đề; thằng rể mua được con chó giá 70 ngàn cột trong bao,
nhờ bố vợ ở nhà canh chừng giúp để ra chợ mua riềng, sả. Ông bố vợ
móc ra một ngàn nhờ ghi hộ số con chó. Ra tới chợ thằng con không ghi
mà lấy tiền đó mua sả, riềng vì nghĩ dễ gì trúng. Về nhà ông bố hỏi, anh
ta nói không ghi, thấy ông bố buồn, anh ta hùng hồn tuyên bố nếu chiều
trúng con sẽ chung. Ăn cơm xong, nghỉ trưa một lát thì hai cha con bắt
đầu làm thịt con chó. Chừng hai tiếng thì xong xuôi, chỉ còn đợi nấu
nướng là bắt đầu...nhậu!
Trời bất dung gian, 5 giờ chiều xổ số thì: con chó ló đầu ra! Một ngàn
của bố bây giờ thành 72 ngàn. Thằng rể không có tiền chung, đành đem
con chó và riềng, sả giao cho bố vợ và xin ngồi ăn ké.
Tôi không dám liều, nhìn đoàn xe lửa kéo bẩy toa của tôi, tôi sẽ tiến từ
từ, vì sụp hố là đi đứt chứ không có đường lui. Tôi bàn với vợ, tôi sẽ lên
Tây nguyên để mua thêm vài mẫu nữa để trồng cà phê và sầu riêng. Còn
rẫy cũ coi như khẩu cà nông 175 ly bắn yểm trợ rẫy mới, hợp lý quá đi
chứ!
Chúng tôi gồm bẩy người ghé xã Quảng Tín gặp chủ tịch xã. Ông tiếp
chúng tôi rất nhiệt tình. Sau khi biết tụi tôi là dân Long khánh, tìm đất
trồng cà phê, ông ta ưng thuận ngay. Cấp liền một khu có suối với 50
héc ta. Cam kết đốt dọn xong sẽ cấp cho sổ đỏ (nhớt bôi trơn là 1 cây/
héc ta). Tôi xin 4 héc ta rồi thuê dân địa phương đốn dọn.
Rút kinh nghiệm tôi không làm nhà trên rẫy, mà tìm mua nền nhà. Tôi
may mắn mua được 1 sào cập theo ngã ba cửa rừng, nhờ gỗ khai thác
trên rẫy đang phá. Tôi làm được căn nhà gỗ 200 mét vuông.
Thời gian này, tôi bận tíu tít, chạy như con thoi. Lúc chạy về nhà vay
tiền trả công người làm, lúc săn sóc vườn ươm giống. Một hôm trên
đường lên rẫy, tôi ngồi kế một ông từ miền tây cũng lên Tây Nguyên
thăm con trồng nhãn. Ông hỏi tôi ở chỗ nào? Tôi nói tôi ở cửa rừng. Ông
nhìn tôi gật gù: “Qua mừng cho em chọn được nơi lý tưởng”. Rồi ông
phân tích cho tôi nghe, ông nói:
“Có bốn chữ cửa: cửa rừng, cửa biển, cửa sông, cửa khẩu, thì cửa rừng
là nhất!”
Rồi ông phân tích:
“Sống ở cửa rừng vốn liếng chỉ cần vài trăm ngàn, mua một con rựa, cái
cuốc vào rừng chặt tre , sắn măng, bức dây mây là có thể sống!
Cửa sông phải sắm ghe, mua lưới, ngư cụ thì 50 triệu bõ bèn gì?
Nhất là cửa Biển thì ôi thôi! Vốn nặng lắm, nói không xiết đâu!
Còn cửa khẩu chỉ làm cửu vạn, gò lưng cõng hàng cho thiên hạ thôi!”
Được ông phân tích, tôi thấy mình yên tâm hơn; càng quyết tâm đeo
đuổi cho tới cùng chọn lựa của mình!
Lên Rừng (tiếp theo 8)
Thời gian chầm chậm trôi, đầu mùa mưa, xuống giống xong, chúng toi
ngồi tán dóc. Vợ với thằng con lớn lên thăm rẫy, thấy tôi khoe địa thế
căn nhà mới; vợ tôi thầm thì với thằng con: “Bố mày chọn được ngã ba
cửa rừng, mà ổng vui như bắt được vàng”. Tôi nói: Trong đầu tao ao ước
ba mươi năm nay, nay mới có được. Nói thật bốn mẫu cà phê, tao không
mừng bằng cái nền nhà này đâu.
Mình ngu hơn mấy thằng Tầu nhiều lắm. Nó nghèo thấy mẹ, xách cái đít
không qua Việt Nam! Nhưng khi cắm rễ được rồi thì biết tay nó; nó
chọn ngã tư, ngã ba để cất nhà. Dân mình cười nó là ngu, sát đường ngửi
bụi, nghe ồn? Có biết đâu nó đã nắm yết hầu của khu đó. Bây giờ là
rừng, dân cư thưa thớt, chục năm sau bà sẽ thấy địa thế tôi chọn lợi hại
như thế nào!
Các bác cứ nghĩ mà xem, dân mình ngu mà lỳ! Nhà nước phóng đường
nông thôn, ta giết gà, vịt đãi cán bộ nhờ tránh ủi vào rẫy, còn ngược lại
“ba tầu” giết heo đãi cả đoàn, xin nhắm ngay giữa rẫy mà ủi. Sau mới
biết nó khôn thì "muộn rồi Lượm ơi!" Ta khôn nên không mất mét nào;
còn nó ngu nên mất cả hơn hai sào đất, rẫy còn bị chia làm hai, khổ
chua?
Nhưng rẫy nó ôm trọn con đường, sau này phát triển dân đông, nó phân
nền nhà ra bán, nó cứa ngọt lắm! Vậy ai ngu hon ai? Khu tôi ở vỏn vẹn
có 8 căn nhà, cùng một trạm kiểm lâm. Nước uống phải xin của trạm
hoặc xuống suối gánh lên. Riêng tôi, bắt buộc phải đào giếng vì nhà quá
đông, thế là xóm tôi có thêm cái giếng thứ hai. Chợ cách nhà khoảng 2
km, gọi là "ngã 3 sung sướng". Gà móng đỏ nườm nượp lại qua nhờ cái
trạm phúc kiểm của kiểm lâm. Cần giải thích cho các bạn hiểu là xe chở
gỗ từ Gia Lai, Đắc Lắc về tới đây đều dừng lại để cân, và khám xét.
Xe đậu dài trên đường, đợi tối mới cân và làm thủ tục qua trạm. Xe quá
tải thường lách luật bằng cách thuê xe trâu chuyển gỗ qua đường tắt, chờ
xong thủ tục xe chạy tới thì chất lên lại. Nhờ vậy chị em ta ung dung
sống, và tồn tại đông vui! Rừng còn đông đặc, chim, thú còn nhiều
nhưng tôi đành rửa tay gác kiếm, vì chăm lo vườn rẫy, không còn thì
giờ. Một ông anh khóa 26 nghe tôi kể, thắc mắc: sao chỉ thấy một mình
xông pha trận mạc, còn nửa kia sao không thấy? Tôi vội giải thích: Dạ
nửa kia phải trấn thủ “Phạn Xá”, chăm sóc và huấn luyện “Tân Khoá
Sinh”.
Sau hai năm khò khè chăm bón, vườn mới đã có thâu hoạch, vài tạ cà
phê đủ tiền bỏ phân. Vườn cũ được hon ba tấn nữa. Tôi nghĩ thầm trong
bụng mình sắp giàu rồi, ha ha! Quên mất lời răn của Thiên Chúa: Làm
bởi bay, ban bởi ta! Có ai ngờ giá cà phê bắt đầu tụt dốc, từ 42 ngàn dần
dần xuống 30 rồi 20, tạm dừng ở 18 ngàn. Chủ nợ tới tấp đòi, không cho
mượn nữa. Không khác gì Mỹ cúp viện trợ năm 1975.
Với tình huống này tôi chỉ còn có hai phương án để chọn lựa. Bán rẫy
mới thì không ai mua, nợ mẹ đẻ nợ con cuối cùng phải bán với giá 18
cây vàng. Trả nợ xong xuôi còn dư được vài cây, đem lên rẫy mới, đong
gạo ăn chờ đợi thời cơ. Vợ tôi được thể cằn nhằn: Ông không nghe tôi
nên mất 30 cây vàng, cả đời còn lại chắc gì kiếm được 10 cây! Tôi cười:
Nếu biết chiều ra con số gì thì dân ghiền đề, sao phải ra đê mà ở. Trời
không triệt đường sống của ai cả, miễn đừng nản và biếng lười. Tôi định
chọc là “Tái ông mất vợ, họa phước khôn lường”, hên là ngưng kịp lúc.
Rồi làm đơn chuyển khẩu, chuyển trường cho con mà lòng đầy vấn
vương cảnh cũ. Với số vốn ít ỏi, tôi mở quán tạp hoá và ba bàn bi đa cho
vợ trông coi và săn sóc lũ trẻ. Tôi truyền kinh nghiệm nghề nghiệp cho
vợ không qua sách vở, mà thực tế của một anh “ba tầu” chỉ vẽ cho trong
trại cải tạo. Anh ta bảo: Buôn bán là một nghệ thuật thu phục nhân tâm,
chứ không phải là cứ nhiều vốn là thắng đâu. Nị biết không, hai thằng
cùng một nghề nhưng Việt Nam và Tầu khác nhau xa lắm. Trong tiệm
người Việt treo hàng tùm lum trên trần nhà nào là thùng nhựa, áo mưa,
dầu gội đầu kín mít cho xôm tụ, đâu biết rằng khách ngại chui vào xem
hàng. Khách càng quen càng bán mắc, vì quan niệm khách quen, ngại trả
giá. Lúc mới mở, còn nghèo thì dễ thương, lúc giàu thì ta đây, làm phách
khinh người nén bị chúng ghét rời xa.Nội khi đi cất hàng, nhìn qua thì
biết. Ra vẻ ta đây, đeo kính râm, áo bỏ trong quần, chân đi giày, chỉ
thiếu cái cà vạt thôi, đó là chưa kể thích làm quen với những thằng có
chức có quyền. Còn tiệm của “ba tầu” thì hàng đa dạng hơn, nhưng mỗi
thứ chỉ vài cái thôi. Khách hỏi thứ gì cũng có trừ súng đạn hay xe tăng.
Thứ không có cũng nói có, giả bộ vào lục lọi một hồi rồi trả lời hết rồi,
chiều đi cất hàng đem đến tận nhà cho khách.
Cực nhưng có lời ngay không bị chôn vốn. Anh ta còn kể cho tôi nghe
một tình huống mà chính anh ta là nạn nhân mới vui: “Nị biết không,
hôm đó ngộ trông tiệm thay cho vợ đi ăn đám cưới. Có một anh thương
binh chống gậy mua đôi dép, anh ta xỏ chân đi một chiếc, còn một chiếc
nhờ ngộ gói lại. Trưa vợ về, nhìn thấy có đôi dép hai chiếc cùng bên trái.
Hỏi ngộ sao lạ vậy? Chết mẹ ngộ dzôì! Nó lấy hai chiếc bên phải, giờ
còn lại hai chiếc bên trái ngộ biết bán cho ai?
Nị biết con vợ ngộ nó nói sao không? Tôi cười, tôi có ở đó đâu mà biết!
Vợ ngộ nó nói: “Nị đừng la lớn người ta cười cho. Chiến tranh, đạp mìn
cụt chân nhiều mà. Có thằng cụt chân phải, cũng có thằng cụt chân trái
chớ. Chờ thằng cụt chân phải tới mua mình bán cho nó hai chiếc bên trái
là được mà”. Rồi anh ta còn dặn thêm, nếu bán thiếu; lúc tính sổ nếu
khách quen vài món nhỏ, thì đừng to tiếng ầm ỹ. Nhịn để giữ khách, lấy
lại từ từ. Nếu làm găng khách bị quê bỏ đi là mất nguồn lợi.
Chưa đầy ba năm mà tôi mất 30 cây vàng, đắng cay lắm chứ! Nhưng đâu
phải tôi mê đề hay mê gái. Chỉ mừng là vườn rộng gần gấp ba, rừng còn
nhiều, còn cơ hội phát triển. Nhưng một điều nghịch lý là lúc cà phê nhỏ
thì no, tới lúc cà phê to thì lại đói. Cuối cùng cà phê còn lại 4 ngàn một
kg trong lúc một ly cà phê đá giá ba ngàn. Đúng là cà phê thua cà pháo!
Ai đã từng trồng cà phê vào thời 1994-1995 sẽ xác minh lời tôi nói là
thật.
Lên Rừng (tiếp theo phần 9)
Nhờ sát trạm kiểm lâm, nên khung cảnh bớt u buồn cô tịch. Tài xế xe be,
cán bộ kiểm lâm, lâm tặc ghé đánh bi da để móc ngoặc cùng sinh tồn.
Nên cuộc sống cũng ổn. Thuốc lá, nước ngọt tiêu thụ mạnh nhất. Cà phê
cũng được yêu cầu phục vụ. Vợ tôi không biết được ai chỉ cách mà đem
ba bốn loại trộn chung, nên không bị khách chê. Điều đặc biệt chỉ có hai
cái bàn và ít cái ghế, vì khách chỉ uống đứng chứ không ngồi.(cầm ly
đứng xung quanh bàn bi đa để cổ vũ trận đấu).
Ngộ một điều là “lâm tặc” đánh với “lâm trường”, độ nào cũng thua.
Chúng tôi chọc bị thua là do cơ chế chứ không phải tại yếu cơ. Giỏi
muốn thua thì chấp điểm, khó gì đâu. Hai thằng cùng họ Lâm nên đùm
bọc thương yêu nhau lắm; hình như thằng Lâm trường là con ông bác,
thằng Lâm tặc là con ông chú nên có phần nhún nhường hơn. Đêm đánh
tới 11, 12 giờ đêm mới chịu buông cơ. Chủ bàn cáo lỗi đi ngủ trước để
họ Lâm giàn xếp với nhau. Giờ này là giờ cao điểm, cây trong rừng đã
kéo ra mà. Sáng mới tờ mờ, bốn ông bên trạm đã mò qua mượn bi cá độ.
Thường là hai thùng. Bốn anh chơi chung một bàn. Lúc đầu tôi tưởng
hai thùng bia, sau mới biết là hai thùng nước. Ai thua thì về quay nước
để anh em đánh răng, rửa mặt, còn nồi niêu, chén đũa anh thua bao chót.
Tôi dặn vợ đừng khe khắt tiền bàn. Tỉ dụ tiền thuốc, cà phê, nước ngọt
khoảng 45 ngàn thì tính gộp là 50 dù đánh hai tiếng cũng đừng đòi hơn.
Trên vách chỉ dán Quý khách là ân nhân chứ không có hai chữ Miễn
Thiếu.
Tạp hoá dần dần cũng đông khách, nhưng đa số ghi thiếu tới mùa trả.
Không bị giựt nhưng tiền lời thì nằm trong sổ. Đúng với câu: Chưa buôn
thì vốn còn dài; buôn rồi vốn đã theo ai mất rồi!
Dân trong xóm tăng rất nhanh, đa số là dân Lộc Ninh, bên Bình Long
qua, thuộc “lâm tặc” chính tông, gồng gánh, lùa cả trâu qua nữa. Chỉ nửa
tháng sau họ đã thăm dò đường đi, lối lại, và mua được nhớt bôi trơn.
Ngã ba, đem về đã lục cục tiếng xe trâu. Nhân lúc vắng khách, mấy ông
bên trạm khuyên tôi mua trâu, đóng xe vào rừng theo “lâm tặc” lấy tiền
thuê người làm rẫy, và mua phản bón chăm cà phê chờ thời. Tôi gom
góp được một cây vàng mua được con nghé vừa đủ răng và một chiếc xe
trâu mới keng. Tôi nhớ lại bài thơ học thời trung học tả về hai người
bạn, một ông làm quan, một ông làm dân hỏi thăm nhau.
Tư bề sóng bổ xao
Ở đây nhờ lộc nào
Con cái được mấy đứa?
Sưu thuế đóng làm sao!
Bạn nghèo trả lời:
Tư bề sóng bổ xuyên
Ở đây nhờ lộc thuyền
Vợ chằm gai vá lưới
Chồng đánh cá đổi tiền.
Khỏi cần sưu tra lý lịch, cũng biết cha này ở miền sông nước. Còn tôi ở
rừng nên trả lời như sau:
Tư bề gió thổi tung
Ở đây nhờ lộc rừng
Vợ chăn trâu, cắt cỏ
Chồng kéo mướn gỗ rừng!
Trâu kéo gỗ khác trâu cày, mười con trâu cày may ra lựa được một con.
Móng phải là móng vỏ sò, đế móng phải lõm; nếu bằng hoặc lồi, không
bám trơn leo dốc được thì khóc ra tiếng Miên. Xoáy không được lẻ, kỵ
nhất là xoáy tam tinh ngay giữa trán, loại này hung cục, lúc mệt, thúc nó
nhiều lúc khùng lên nó phang luôn cả chủ. Mấy cha “cắt mạng” thường
khuyên là: “Tranh đấu là trâu đánh; đấu tranh là tránh đâu?” Mấy bác
xem hội chọi trâu Đồ Sơn, Hải Phòng thì rõ.
Mua được rồi chưa yên đâu, về còn phải huấn luyện cả tuần mới quen.
Cũng như huấn luyện Tân Khoá Sinh, chỉ khác là thời gian ngắn hơn
thôi.
Thằng con đang học lớp chín, ham vui; thương bố đòi nghỉ học thay bố
đi trâu. Tôi sợ quá gắt lên: không được, phải cố học! Bố có Tú tài hai,
bây giờ còn phải lái xe Trâu, mày không học thì sau này chỉ lái xe tang
thôi! Tôi quăng bài thơ Nỗi Lòng Tài Xế cho nó đọc.
Bằng không có, lái xe ai mướn?
Lưng quá dài, cuốc ruộng nào kham!
Thôi đành nhận lái xe tang,
Rồng vàng một cặp nghênh ngang, ngạo đời,
Khách của ta? Toàn người...Thiên cổ!
Xe của ta, một chỗ...giường nằm.
Đường dài vạn dặm xa xăm,
Ta nào quản ngại khó khăn, nhọc nhằn.
Chú Giao thông không ngăn, chẳng thổi,
B.O.T khỏi đổi tiền xu.
Khách hiền hơn cả Thiền sư,
Đường dằn, xe xóc đứ đừ chẳng rên.
Ta đưa khách vui miền âm cảnh,
Vuông đất hồng giá lạnh từ đây.
Trống, kèn trồi nhạc chia tay,
Khách ơi ở lại, chia tay ta về.
Một hôm đi học về, nó than phiền: Bố đặt tên con là “Vũ Đình Trường”,
trong lớp con có thằng tên Lại Trường Sơn, tên nào hay hơn hả bố? Tôi
nói: khỏi cần hỏi bố cũng biết bố nó phe bên kia. Con biết không?
“Tướng, Tá” của miền Nam trước kia, trước khi ra Trường đều phải quỳ
trước chỗ mà bố dặt tên cho con đó. Hai em con, bố đặt là Vũ Kiến
Quốc, Vũ Quốc Phòng là tam ước của đời bố; còn thằng út bố dặt Vũ
Thiên Phú là mong Trời cho bố thoát nghèo để các con bớt khổ, con rõ
chưa?
Lên rừng (phần cuối)
Tôi dặn con, nghèo cố mà học, vì nghèo chỉ cần trúng vài tờ vé số là
thành “Đại Gia” ngay, nhưng giàu mà dốt, thiên hạ vẫn chửi lén là đồ
trọc phú. Tan học, chiều về qua vườn phụ hai người làm, chăm nom rẫy,
giữ vững hậu phương để bố yên tâm ngoài chiến tuyến. Con phải lễ phép
vì họ là người ơn của nhà mình, họ không dở hơn mình đâu chẳng qua là
không may mắn như mình thôi!
Kể ra làm tài xế xe trâu nhàn hơn làm rẫy nhiều. Lúc vào rừng nằm trên
xe cho trâu kéo. Văn hoá không biết chữ cũng không sao, nếu cần chỉ
cần đọc được ba chữ: “Cấm phá rừng”. Còn điều khiển trâu cần thuộc
bốn câu thần chú là “thá, ví, dọ, đi”. (trái, phải, dừng, đi) là trâu sẽ theo
ý tài xế. Nhưng rất cần sức khỏe vì nhiều lúc phải phụ trâu lúc lên dốc
hoặc dính lầy!
Ngồi trên xe, tôi thấy hai câu thơ:
Ai bảo đi trâu là khổ,
Đi trâu sướng lắm chứ!
Của thằng cha nào đó (tôi không nhớ tên) hay tuyệt cú mèo. Vào đến
rừng, lựa gỗ đã xẻ thành phách, xúm nhau xếp lên xe, chặt cây nín, nín
cây lại. Cơm nước xong là dìu trâu về. Tôi đích thân đi nén chỉ cần 4 tấc
cây là có được nửa chỉ vàng. Cuộc sống bắt đầu lên hương.
Như các bạn đã biết, nghề nào cũng có nhục, có vinh nhưng đa số vinh
ít, nhục nhiều. Vào mùa mưa, mới thê thảm, chuyện đó tôi sẽ kể sau.
Ngồi trên xe, trâu nhẩn nha theo đàn, hai bên đường có những vũng
nước to, mấy chú ếch kêu quệt, quệt dịch sang tiếng Mỹ là “Welcome!
Welcome!” Làm tôi ngứa nghề. Chiều về, tôi nhờ ông thợ mộc làm cho
toi một cái giàn thun, bản vẽ do tôi thiết kế. Để làm vũ khí hộ thân; vài
chục viên đất sét vo tròn, hong khô trên bếp là tôi có đủ cấp số đạn.
Khi vào rừng, tôi lặng lẽ rời xe trâu, trán đeo đèn pin, truy tìm mấy chú
ếch đang ca hát trong quán karaoke! Khi cách mấy chú khoảng 3 mét tôi
dừng lại, chọn chú nào to nhất rồi nhắm ngay đầu thả đạn. Gần quá ít hụt
lắm. Hôm thì năm bẩy con, có hôm cả chục; tha hồ ăn. Đi rừng, ngoài
cơm ra, bà xã còn mua cho tôi vài đòn bánh tét nhỏ, để phòng những lúc
tránh kiểm lâm phục kích, kẹt lại trong rừng. Chúng tôi có những khinh
binh trong đoàn là dân bản địa, đeo xà gạc dò đường. Nếu gặp kiểm lâm
chặn hỏi thì bảo là vào rừng chặt mây về đan gùi, rồi lủi sau vào rừng
chụm hai tay như Tarzan hú vượn. Trong đám, tôi kết được thằng em
người S'tiêng to và khoẻ. Có đồ ăn tôi thường chia cho nó, tôi thương nó
mà nó cũng mến tôi, nó thúc trâu nó sát đít trâu tôi, lúc chất cây nó nhiệt
tình giúp đỡ, bù lại giữa đường về tôi lén đưa bánh tét cho nó ăn. Nghệ
thuật chỉ huy được học trong Trường tôi đem ra áp dung.
Trên đường đi, gặp những khúc dây nín bị rớt tôi lượm, giặt sạch trong
những vũng nước rồi cột trên càng xe. Mấy thằng cháu thấy thế bảo xe
chú có nhiều còn lượm làm chi vậy? Tôi cười: Để dành cho mày đấy!
Nó cười cười không tin. Nhưng lúc cột cây, dây nín mục, đứt, nó chạy
lại xin tôi lúc đó mới tin là thật.
Dù cực nhưng cũng nhiều niềm vui. Trong xóm có vài con voi, cũng đi
kéo cây; người ta bảo khỏe như voi, nhưng thực tế nó thua ba con trâu?
Nếu kéo lết nó có thể kéo một cây 3 mét khối gỗ, nhưng kéo bằng xe, gỗ
xẻ vuông nó chỉ kéo không quá hai khối. Thứ nhất càng xe không chịu
nổi, thứ hai xuống dốc nó không móng để kìm. Ngược lại trâu có móng
guốc, lại có hai sừng để kềm xe; cái hay là dù lật xe, trâu vẫn an toàn.
Nhược điểm lớn nhất của voi là không biết tiếng dân tộc thì không điều
khiển được nó. Voi thích nhất là lá may, lồ ô và chuối rừng. lúc nghỉ
phải thả nó trong rừng chứ không cắt cỏ về cho ăn như trâu được. Lúc
thả trong rừng, chân sau của nó được buộc bằng sợi lòi tói của xe be, dài
độ năm mét, to bằng cổ tay người lớn. Muốn tìm nó chủ sẽ theo lằn đây
xích cạ trên nền đất à dắt nó về.
Ngộ một điều là voi không bao giờ chịu đi sau trâu cái. Gặp là nó lủi
ngang tiến lên trước. Tôi thắc mắc hỏi thì mấy thằng cháu người bản địa
giải thích: phía sau của con trâu cái hệt mặt con voi. Cái đuôi giống cái
vòi, cái ấy giống cái miệng nên nó quê.
Một hôm, chính mắt tôi chứng kiến cảnh này, kể cho mấy bác nghe về
sự tinh khôn của voi. Trên đường kéo cây về, voi dừng lại trước quán tạp
hoá dựng bên đường; chú voi bỗng nhiên dừng lại, không chịu đi. Thằng
nài hét cách gì nó cũng không nhúc nhích. Anh nài nhảy xuống đất,
bước vào năn nỉ chủ quán mua thiếu một thùng bia. Chủ quán không
chịu bán, anh nài tháo xe cho voi nghỉ, rồi ghé tai nói gì với nó, chúng
tôi ở đàng sau nghe mà không hiểu gì cả. Chỉ thấy chú voi tiến sát vào
quán mà cà lưng gãi ngứa. Tội nghiệp ái quán đung đưa theo nhịp cà của
voi. Voi cao gần ba mét, ngang tầm mái nhà. Chủ quán la làng, ra nhờ
anh nài đuổi voi ra dùm. Anh nần phản bua rằng trong rừng, anh hứa với
nó kéo cây về thưởng nó một thùng bia. Bây giờ tới quán không mua
bia, nó không đi, cuối cùng anh chủ quán đành phải bán thiếu. Anh nào
đem thùng bia ra đường chú voi lẽo đẽo ra sau. Thùng bia được mở ra
đặt trước mặt, voi lấy vòi đưa từng lon lên miệng. Rồi từng tiếng bụp,
bụp phát ra, lon bia được vất ngột ngang dưới đất, anh nài không được
một giọt bia nào.
Đi kéo chung với voi vào mùa mua rất lợi vì cây đổ lấp đường, chúng tôi
phải dùng cưa máy, khò khè dọn dẹp , nhưng có voi thì nài chỉ huy voi,
dùng vòi quấn vào thân cay đổ, nhích dần vào ven đường là xong. Nhìn
chú voi nặng trên 3 tấn, so với chú nài chừng 50 kg, tôi nghiệm ra rằng
bộ não mới quan trọng, còn mặt phệ, cổ nọng, bụng to chứa đầy giun,
sán tham nhũng thì chẳng bõ bèn gì.
Nay sức khỏe yếu rồi, tôi như con “sư tử già” không còn đủ sức bắt mồi,
nhưng vẫn nằm bên sườn đồi canh linh cẩu, dõi theo đàn con bắt mồi
nuôi đàn sư tử cháu.
Nhờ ơn “Thần Rừng”, tôi giữ được vườn, trụ được tại ngã ba, nhờ điểm
tựa này bầy con vươn lên thoát nghèo, ổn định cuộc sống.
(Hết)
Vũ văn Táp
Niên Trưởng Nguyễn Phương Thụy K25
Chuyện bây giờ mới kể!
Vũ Văn Táp
Chuyện bây giờ mới kể!
Sau hồi ký lên rừng; được các NT, bạn bè và các NĐ hết lòng ủng hộ,
hối thúc viết tiếp. Để đáp lại tấm thịnh tình đó, tôi xin kể tiếp những gì
tôi bỏ sót. Mong gởi đến chư vị những nụ cười pha nước mắt, với chủ
đề: Chuyện Bây Giờ Mới Kể...
Thú thật tôi thích làm thơ, không tin vào tài viết văn của mình. Định viết
xong chuyện Lên Rừng là rửa tay gác kiếm. Nào ngờ ông Nghĩa Thi là
Thầy tôi (ĐĐT đợt 1 khi tôi tập tễnh lăn bò) ra lệnh viết tiếp, chưa kể
đàn em và bạn bè yêu cầu. Tình thế này, toi khác nào Trư Bát Giới trong
Tây du ký. Bát giới đâu thích đi thỉnh kinh mà do Tề Thiên ép vì thiếu
người gánh đồ đạc. Sau có Sa Tăng gia nhập thì gánh nặng đó được bàn
giao. Toi chợt nghĩ sao giống trong Trường tôi vậy? Vì khoa em út được
bàn giao nùi giẻ để chăm sóc hành lang và phòng vệ sinh. Tôi khôn rồi,
lấy chủ đề Chuyện Bây Giờ Mới Kể, không phải theo thứ tự thời gian,
nhớ đâu kể đó, ít bị áp lực. Khà khà!
Một hôm có mấy bạn cùng khoá đến thăm, tôi mừng và cảm động vô
cùng. Anh em ôm hôn thắm thiết. Một bạn ái ngại hỏi: “Sao mày mò lên
tới đây vậy?”
Tôi ngần ngại trả lời: Tại chỗ cũ tao xạo quá hết ai tin, đành lên đây để
xạo tiếp!
Toi thầm nghĩ bạn này đã dốt còn lười đọc thơ, nên đâu thuộc hai câu:
“Tổ quốc không bằng tổ cò
Bởi chưng đói quá, mới mò lên đây.”
Một bạn khác lai. Phỏng vấn tiếp:
- Vùng này có bị sốt rét không?
- Có, nhưng sốt rét nó kỵ vàng. Có vàng là không bị sốt.
- Sao mày không sắm lấy mấy chỉ đeo vào tay mà ngừa!
Thấy bạn thật thà, tôi vơ vội thằng xạo nhét vào túi áo rồi giải thích:
-Trên thế gian này, bất cứ quốc gia nào thì thằng nghèo cũng khổ. phải
vô tuốt rừng sâu kiếm ăn, uống nước suối pha lá mục, đỉa cắn, vắt đeo.,
thiếu ánh mặt trời tránh sao khỏi sốt! Có vàng nó mua ngoài đường hoặc
chờ thằng nghèo phá xong, dọn sạch, hết tiền đong gạo, nó mua. Khác
nào dân nghèo phá rẫy mướn cho nó mà nó khỏi cần kiểm tra, đôn đốc?
Như vậy vàng kỵ sốt phải không?
Như tôi đã từng kể, lúc tôi lên chỗ mới rừng bạt ngàn. Thú rừng, chim
chóc làm gì cho hết, nhưng bỏ nghề, chú tâm làm vườn. Vì người lười
chứ đất không lười. Có vườn rồi thì con lớn, cây nó cũng lớn theo, đỡ
vất vả, cuộc sống ổn định hơn.
Trong bộ phim Tam quốc xuất hiện bao nhiêu anh tài cái thế. Bao vị
quân sư lừng danh. Cuối cùng gom gọn trong bốn câu thơ:
“Trường giang cuồn cuộn chảy về đâu?
Bao lớp sóng đưa, bấy lớp anh hùng.
Ngoảnh mặt lại nhân tình thế thái,
Được, mất, bại, thành bỗng chốc hoá hư không!”
Tôi kết nhất câu: “Bao lớp sóng đưa, bấy lớp anh hùng!” Các bác nghe
tôi kể về bẫy heo rừng, chồn, nhím, cheo, gà, mấy bác khen giỏi. Nhưng
lúc đó tôi chỉ có cáp xe đạp, dây dù và chùm lưỡi câu 20 lưỡi đem từ
Hốc Môn lên. Một lần đụng phải cá chình, chỉ trong vòng nửa giò nó
làm gỏi của tôi mười lưỡi. Cứ móc dế cơm thả xuống, là cả mồi lẫn lưỡi
nó nuốt ngon ơ. Biết đụng thứ dữ, tôi tìm cách trị. Tìm được cộng lưới
B40, Tôi hì hục làm lưỡi câu. dùng đục sắt và dũa ba lá làm ngạnh, đuôi
lưỡi uốn khoen tròn, dây câu là sợi đây dù cột ba lô còn nguyên ruột.
May mắn bắt được ba chú sóc đất chưa mở mắt làm mồi câu. Thả xuống
rồi về nhà.Sáng hòm sau vào thăm thì cành cay toi cột bị cá lỏi mất rồi.
Toi lội xuống tìm thì thấy dưới bụi tre gai cạnh suối có tăm bọt nước, toi
kéo nhưng không lại sức cá, phải nhờ người ghị lôi ra con cá chình hơn
mười ký, dài hơn một mét.
Thời điểm đó thứ gì cũng phải tự làm, như lồng bẫy, các loại bẫy. Còn
bây giờ mọi thứ đều làm sẵn, nào cáp lụa, bẫy kiềng, bẫy cạp, bẫy cò ke
vòng ...mọi thứ đều bán sẵn thì tôi lam sao hơn họ được.
Dân miền Bắc ào vào, họ sống bằng nghề săn thú, bắn, bẫy. Thịt rừng
cung cấp cho nhà hàng, quán nhậu, thú sống bán qua Trung quốc, giá
cao ngất trời. Một con tê tê nặng 6 kg giá bằng nửa mẫu đất hoang. Nai,
mễn họ chưa thèm bắt, chỉ mê chồn hương, nhím, dộc, hổ Chúa...
Một dàn bẫy ít nhất cũng vài trăm cửa, thậm chí còn mướn người đi
thăm bẫy nữa.
Có lần một em đi thăm bẫy mướn, luồng bẫy dính con gấu khoảng50 kg.
Anh ta chặt khúc cây rồi xông vào đập, con gấu bị đinh chân trước cũng
xông lên quyết tử. Đập một hồi, gấu chưa chết, người mệt le lưỡi hai bên
nghỉ xả hơi. Đến tăng thứ ba gấu mới chết cũng là lúc sợi cáp bẫy đứt lìa
khỏi chân gấu. Mạng anh ta quá lớn, nếu cáp đứt sớm chừng vài phút thì
anh ta rời rừng theo diện OBOV (Ông Bà Ông Vải). Anh ta nhờ người
về báo chủ bẫy. Bắt được gấu đã khó, tìm cách qua mặt nhân viên còn
khó hơn có vị cao nhân nào giúp kế cho không?
Cuối cùng chú gấu được đặt lên chiếc võng dù, hai đầu võng cột vào đòn
khiêng bằng cây rừng, bên trên phủ kín bằng một cái mền do hai thầy trò
chủ bẫy khiêng ra.
Ngang qua trạm, kiểm lam hỏi vọng ra: thứ gì vậy? Hai thầy trò "Đường
tăng" mặt buồn thiu, trả lời: báo cáo anh thằng em làm rừng bị sốt nặng
gần chết, anh em tôi khiêng nó ra đường nhựa, đón xe đưa nó xuống
bệnh viện Huyện Bù Đăng.
Thấy vậy, trưởng trạm động lòng trắc ẩn ngoắc tay cho đi, miệng lẩm
bẩm hai từ...tội nghiệp!
Chuyện bây giờ mới kể (2)
Từ ngày NT Đỗ Khắc Mai qua Mỹ theo diện HO lao. Thầy trò tôi ở lại,
gặp nạn suối khô, hồ cạn nước! Tôi ghé thăm thì gặp cảnh:
“Hồ nuôi nay đã lên vồng,
Nửa trồng bắp xú, nửa trồng khoai lang.
Đêm nghe cóc, nhái thở than,
Giật mình cứ ngỡ còn đang trong tù!”
Rồi tôi vù lên Đak Nông, còn Thầy tôi dông tuốt lên Gia Lai lập phương
kế mới. Thấm thoát đã mười ba năm. Thấy tô có ý định lên thăm Thầy,
con gái tôi đặt vé xe giường nằm cho tôi đi. Tôi lên xe lúc 10 giờ đêm,
tờ mờ sáng hôm sau thì đến chợ Phú Quang đối diện ngã ba đường vào
căn cứ Pleime thì xuống. Chờ trời sáng rõ, tôi điện báo đã đến nơi nhờ
mấy cháu ra đón. Đến nhà Thầy, tôi mừng rơi nước mắt .Thầy đã nắm
trong tay 10 Ha đất trồng cao su, cà phê, tiêu, dưới trũng trồng mía. Nhà
cửa khang trang, Thầy còn phang một sân Tennis nữa mới khiếp chứ!
Hỏi đến Thầy thì chị dâu cho biết Thầy về Sài Gòn khám bệnh, tối nay
về tới. Ổng dặn chị giấu chuyện này vì thấy ổng không có ở nhà thì em
không lên.
Tôi vòng qua vườn một lượt thì gặp thằng út, nhớ chuyện năm xưa tôi
tủm tỉm cười nhìn nó. Nó khoanh tay, cúi đầu: “Chào chú!” Tôi đáp lại:
Chú chào con. Nó đâu biết nó là nạn nhân của tôi 14 năm về trước khi
tôi khích bố cháu ông Nguyễn Phương Thuỵ G25 là có ba thằng con trai
không thể giàu, ổng tức quá, về bắt mẹ cháu tháo vòng đẻ tiếp, nhờ vậy
cháu mới chun ra.
Gia Lai gió nhiều, cà phê con nhiều cây trụi lá. Tôi chọc thằng cháu: “Cà
phê giống ba cháu mua ở Chùa nào vậy?” Thằng cháu không biết chú
đùa neên thật thà: “Dạ cà phê giống ba con tự ương chứ đâu mua!” Sau
nó biết tôi đùa. Nó cười vui vẻ.
Cơm trưa xong, chị ngồi than thở:
- Ông Thầy của em ổng chướng giàn trời. Toi gân cổ bênh Thầy:
- Ổng húc ác lắm chứ có lười đâu?
- Em coi, ổng xây cái san Tennis, ổng bắt thằng út tập để hai cha con
giải trí ngặt nỗi nó không ham, giờ ổng bò không nổi, biến thành sân
phơi cà, phơi tiêu đó?
Chị lại kể tiếp ổng trồng mía dưới trũng, tụi dâ tộc thả bò, dê vào phá,
ổng mài rựa xuống chặt đứt đuôi một con bò. Em biết không, tụi nó kéo
một bầy xuống tìm ổng bắt đền, bu xung quanh nhà hăm dọa, ổng phải
nhờ xã can thiệp. Cuối cùng phải thường nó chín triệu để lấy con bò
chính tay ổng chặt đuôi, hên là hai tháng sau ổng bán được 11 triệu lời 2
triệu. Nghe đến đây tôi nói chị cho em xin tờ giấy và cây viết, chị ngạc
nhiên hỏi: “Giấy bút chi vậy em. Tôi cười, dạ em sửa thơ cụ Nguyễn
Khuyến. Có giấy rồi tôi viết:
Kính thăm Thầy:
Em nghe lũ tộc nó chèn ông,
Nó thả bò, dê phá mía trồng.
Chặt đứt đuôi bò, "gươm" bén nhỉ?
Bồi thường chín triệu, tức dùm ông!
Chín triệu ông mua mỗi khúc đuôi!
Một bàn, một ghế, một mình...xơi?
Phú Quang chợ bán toàn ...đuôi Cọp.
Chơi bạo như ông, đệ nhất rồi!
Tối thầy về tới nhà, hai thầy trò nhìn nhau mừng mừng tủi tủi. Ổng hỏi
mần ăn độ này thế nào? Dạ! Đủ ăn đủ mặc, đỡ phải xin viện trợ của thầy
rồi.
Sáng hòm sau, thầy dậy sớm đun nước pha trà, cà phê rồi khua tôi dậy,
hối đi rửa mặt uống cà phê, ăn sáng. Vừa nhâm nhi cà phê tôi vừa móc
trong túi áo đưa tặng thầy bài thơ, đọc xong ổng cười nói: mày dọn nhà
tới xóm cụ Nguyễn Khuyến hồi nào vậy?
Tôi ở chơi với thầy đúng một tuần lễ, ghé thăm hai ông em của thầy, và
nhà của ba thằng cháu. Hai thầy trò tam đắc, ổng hỏi thăm từng thằng
cháu, tôi khoe gả cưới hết rồi, còn thằng út nữa thôi, rồi chọc ổng; Thầy
thấy em giỏi không, rượt kịp thầy rồi đó. Ổng trả đũa: “Mày có ba đứa
con gái, có thằng rể nào là ngoại quốc không? - Dạ được một thằng Hàn
cuốc ạ. Ổng bồi tiếp:
- Một năm nó gởi cho mấy đồng?
- Dạ không được đồng nào mà nhiều lúc còn phải rửa đít cho cháu ngoại
nữa thầy ui! Ổng ngạc nhiên hỏi sao ngộ vậy? Toi phải giải thích cặn kẽ
để thầy tôi hiểu. Thằng rể út của tôi gốc Bình Long, thuê đất nhà tôi mở
tiệm sửa xe Honda, xe trâu, kiêm thêm nghề Hàn cuốc xẻng, rồi nó thuê
dài hạn con gái tôi làm vợ, nên toi mới khoe là có con rể là dân Hàn
Cuốc chứ có man khai đâu!
Vui mừng nhất là anh em, con cháu thầy, tất cả đều thành công, nhà cửa
khang trang, rẫy vườn xanh tốt. Thầy trò toi được như hòm nay đã phải
đánh đổi vài phuy mồ hôi và nước mắt. Nhìn nhau cùng ngậm ngùi vì
đầu tóc ông nào cũng trắng phau như cước.
Chuyện bây giờ mới kể (3)
Một hôm, bạn tôi k9 Lý Thường Kiệt Hóc Môn; k28 cùng khoá, định cư
ở Mỹ gọi về hỏi tôi: Hello, mày nhận ra tao không?
Tôi làm sao nhớ nổi! không phải khoe; các bạn nghĩ xem một khoá
chúng tôi có 3 khoá đàn anh, 3 khoá đàn em, mỗi khoá trung bình250
người thì 7 nhân 250 chúng toi có 1750 người thì cỡ thần đồng nhớ dai
Lê Quí Đôn cũng phải xem lại. Thấy tôi ú ớ, hắn tự xưng danh: Tao là
Nguyễn Thành Tâm B28 đây. Tôi lặng người trong ít phút. Thằng bạn
thân 11 năm gắn bó bên nhau, giờ không còn nhận ra nhau qua điện
thoại, ba mươi mấy năm ly biệt rồi còn gì. Còn nhớ cuối năm lớp 12, rủ
nhau trốn học, vào Miểu con ngựa cạnh trường ăn bánh tráng cuộn cải
xanh, tóp mỡ. Hỏi nhau về mộng ước tương lai. Thôi thì mỗi anh một ý,
nào Bác Sĩ, kỹ sư, Giáo sư nhà báo...
Lúc đó Tâm hỏi tôi: nếu lỡ đậu Tú tài hai, mày chọn gì? Tôi đáp: “Chán
học rồi! Tôi chọn nghiệp võ, còn ông! Hắn đáp: “Tao khoái cầm quân
viễn chinh”
Biết gặp tri âm, hai thằng tôi cùng 6 bạn nữa nộp đơn thi vào VB dù
chưa thi Tú hai. Nói thêm qui định lúc đó là lớp 12 có quyền nộp đơn
dự thi, nhưng nếu đậu phải có bằng tú tài 2 mới được nhập học. Mấy ông
học giỏi nhất nhì lớp xầm xì: Học không lo học, toàn bàn chuyện đi lính.
Chúng toi phang lại: “Với tình thế này mấy anh cũng không yên mà ngồi
học được đâu!” Quả nhiên năm sau, 1972 Tổng động viên, các chàng
đành xếp bút nghiên, theo nghiệp kiếm cung. Ra chiến trường trước bọn
tôi hai năm. Còn 8 thằng chúng tôi ung dung ngồi học cho tới ngày 21
tháng 4 năm 1975.
Nhắc lại cuộc gọi, bạn tôi trách toi sao không liên lạc với bạn bè; còn
làm thơ chọc đời nữa không? Tôi nói nhớ lắm, hiện đang sống trên rừng,
không có phương tiện để liên lạc. Nghe xong, bạn hỏi tiếp: Một cái
Computer ở Việt Nam! Giá bao nhiêu? Tôi nói khoảng 10 triệu. Hắn nói:
Tao không rành tiền Việt, mày nói tiền đô đi. Toi nói khoảng 500 Đô.
Hắn nói: Ok! Tuần sau tao gởi cho.
Tuần sau tôi về Sài Gòn theo lời gọi của bác Quảng ở Tân Bình để nhận
550 Đô Mỹ. Toi thắc mắc: Hứa cho 5 trăm, sao nhận 550 . Bác Quảng
nói: Nó gởi bao nhiêu, tao giao bấy nhiêu, thắc mắc thì hỏi nó. Rồi hai
anh em đi mua máy, tôi nhờ bác Quảng chỉ cách cài đặt và sử dụng, tập
gõ để quậy phá Khai Tâm.
Khai Tâm xuất phát từ K hai tám, gom gọn lại thành hai
chữ Khai Tâm! Đó là diễn đàn của khoá, vào đây chúng toi chọc phá
nhau thả cửa, nhưng luôn tôn trọng, không xúc phạm bạn là đủ.
Toi làm thơ ngâm giấm, phăng truyện tếu như: Táo Quân - Thổ Địa luận
anh hùng, lý do Tổ Mẫu ly dị Lạc Long Quân. Gài chim cu bên vườn bà
giá lại cả gan viết truyện Nhị Thập bát tú (phong sao cho 28 vị trong
khoá 28) bằng thơ song thất lục bát, để so cựa với nhị thập tứ hiếu của
cụ Lý Văn Phức nữa chứ. Cái may cho toi là quậy tưng nhưng chưa bị
ném đá lần nào.
Rồi nhờ đăng bài trên face book, tôi gặp lại đàn anh, đàn em, bạn
bè.cũng từ đó bạn bè gởi tiền về cứu giúp trong đó có hai ông cho nhiều
nhất là Nguyễn Thành Tâm và Trần Tuấn Ngọc mỗi ông cho 500 đô Mỹ,
Úc. Mấy thằng con khen: Bố làm việc nhẹ, lương cao.
Mấy thằng cháu trong xóm thấy tôi trang bị Computer, Ipad, gõ chữ
bằng một ngón, chúng khen: Bố già độc đáo thật, chúng đâu biết. Những
thứ tôi đang xài đều là đồ Viện trợ của bạn bè toi.
Chuyện bây giờ mới kể (4)
Trong thời gian cách ly, buồn quá, ngồi gõ ít hàng gởi các bác đọc cho
vơi nỗi cô đơn, nhàm chán.
Tôi quan niệm rằng ở cái xứ khỉ ho, cò gáy này nhiều người còn đóng
khố thì tôi dù mặc quần xà lỏn cũng hơn thiên hạ hai cái ống quần.
Nghĩa là trong xứ đóng khố thì thằng mặc quần xà lỏn sẽ làm vua, hoặc
ít ra cũng là Thôn Trưởng? Nhưng lầm to rồi các bác ui! Hic! Híc!
Cái quan niệm xưa: rừng nào Cọp nấy đã phá sản hoàn toàn vì thời đại
bi giờ Cọp rất ngán thợ săn, thợ bẫy. Câu khôn ngoan chẳng lại với lão
Trời già mới thực sự là chân lý. Em sẽ phản giải cho các bác nghe đây.
Khi đặt chân lên đất mới, phe quần dài mua vài Ha trồng cà phê, xen
Điều, một nửa đất trồng cao su. Thả giống xong là nhịp nhịp đùi. Với
thời giá lúc xuống giống, thì chỉ vài năm sau có thể mua máy bay chứ
bợn à. Cà phê xen điều, mỗi hàng cách nhau 8 mét, cặm cành Vong thả
tiêu cho chúng bò Iên. Người giàu thì mua nọc gỗ đỡ phải xén lá tỉa
cành. Với giá 250 ngàn một kg thì chỉ cần hai ký tiêu là có một khoen
vàng một Chỉ. Cao su thì được mấy thằng báo hại quốc doanh, cầm ống
đu đủ thổi phồng là vàng trắng xứ An Nam. Nhưng chỉ vài năm sau giá
tụt dốc, nông dân nghèo kéo quần lên không kịp. Mộng mua máy bay trở
thành máy bay giấy! Tiêu bám trên cây Điều, cây vông khi tiêu còn 50
ngàn, vàng lên 2 triệu rưỡi thì vườn đành thành Tiêu điều, dông luôn.
Kém phân tro, thuốc ngừa bệnh thì dịch bệnh hoành hành, tiêu chết hàng
loạt. Chủ vườn đành nhổ nọc bán rồi ngậm ngùi, than thở với bà Chúa
Thơ Nôm:
“Nọc nhổ lên rồi, lỗ bỏ không!”
Ngược lại phe đóng khố vẫn duy trì tập tục du canh, du cư. Phát ba mẫu
đốt dọn xong, một lớp tro dầy đủ để cung cấp cho ba thứ bắp mì lúa. Bỏ
xen vào đó vài trăm hạt điều giống Ấn Độ theo khoảng cách 8 m - 8m.
Ba năm sau, đất hết mầu, phá tiếp và làm theo phiên bản cũ. Làm thêm
tăng ba thì tổng diện tích là 9 Ha. Đùng một phát giá điều bằng giá cà
phê. Thời Nguyễn Minh Triết làm chủ tịch nước, phong cho trái điều là
"trái điều vàng". Mấy thằng dịch vật bưng bô, bẻ cong ngòi bút, tâng bốc
xếp cùng trái điều lên tận ...mây xanh. Lúc đó dân đóng khố lại làm vua.
Xe Nhật nhập về không kịp, vứt khố diện veston, cởi xà rong chơi Jupe
ngắn, tập đi giày, thắt ...cà vạt.
Khi nông sản bị đào thải bởi giá cả, và định luật cung cầu, giá đất ngang
nhau thì phe đóng khố thắng vì đất nhiều hơn. Ai nói du canh thắng định
canh hả Trời?
Phe quần dài, con lớn, ít đất chia mỗi thằng vài sào thì hỡi ôi! Đành
phải: Quét lá Điều, ăn mày tộc. Đúng với câu: Quét lá đa, ăn mày Phật
của các đấng chân tu.Nghĩa là dụ khị Tộc mua Điều bông (điều mới ra
hoa, chưa có quả). Kiểu này không khác chơi Tài xỉu 5 ăn, 5 thua. Thắng
thì cười ha hả, nhưng chỉ cần một cơn mua trái mùa, bông thui sạch là
khóc ra tiếng Mán ngay.
Chuyện bây giờ mới kể (5)
Theo lời đề nghị của bác Huỳnh Văn Thái k28, tôi kể về tám tuần lột xác
cho các bác nghe chơi. Tôi hứa không bẻ cong ngòi bút để "Điểm phấn,
tô son" cũng không thê thảm hoá vấn đề. Để mở màn, tôi bắt chước bà
Đoàn Thị Điểm dạo đầu bằng:
Chặng Đầu.
(Chinh phụ tân biên)
Chàng từ cổng Nam Quan khơi nẽo,
Tám tuần đầu, dặt dẹo nơi đâu?
Chia tay, khó lấp mạch sầu,
Vào Lò Luyện Thép khởi đầu bốn niên.
Trong sân cỏ khùng điên lăn, ấp,
Kìa Lâm viên đỉnh thấp, đỉnh cao.
Giả nhà nhận bức chiến bào,
Chén cơm Phạn xá, nao nao tấc lòng.
Lầu ba đã tấn công bao lượt,
Giao Thông hào, nhúng ướt nhiều phen.
Al pha đỏ, mắt quầng đen,
Tiếng gào, giọng thét đêm đêm giật mình.
Ép ăn nghĩ còn kinh trong dạ,
Trái chuối lùn, lùa cả chén cơm.
Gian nan chí cả không sờn,
Nặng mang ơn nước, coi thường hiểm nguy!
Với thơ, tám tuần tôi gom gọn chỉ bấy nhiêu câu. Còn văn xuôi, tôi chưa
biết dài ngắn thế nào, chỉ cố tránh ba chữ dai, dài, dở khiến độc giả chán
nhàm, bỏ mứa.
Đầu năm lớp 12 trong Lý Thường Kiệt Học Môn, tôi được bạn Nhuyễn
Ngọc Giao cho xem hình Huấn nhục của ông chú là ông Nguyễn Ngọc
Trí k27 Võ Bị. Tôi khoái quá đòi vào. Hắn hăm: khổ lắm, không dễ xơi
đâu! Tôi nói: ổng qua được, thì tao cũng cố qua được. Ngặt nỗi có đậu
nổi Tú tài hai không mà bày đặt. Sợ thiên hạ cười, tôi hạ quyết tâm bằng
cách ghi vào sách học với hai hoài bảo:
- Học để làm gì? Rồi tự trả lời:
- Học để lấy Al pha đỏ, về cưới con nhỏ nhà bên cạnh.
Các bác đừng cười tội nghiệp, tôi cũng biết đặt việc nước trước việc nhà
chứ bộ.
Tôi với em cùng Trường nhưng khác lớp, em học giỏi còn tôi thì...Từ
đấy tôi không trốn học nữa, học đêm học ngày, cuối cùng vồ được Tú
Tài hai, rồi đậu luôn vô trường Võ Bị.
Nhận được thơ của Trung Tướng LQ T chúc mừng và hẹn ngày nhập
học, tôi mang qua khoe em., vì sợ em không biết rồi xảy ra tình trạng
như bố Nguyễn Bính tả trong thơ thì sao?
Quan Trạng che bốn lọng vàng,
Cờ thêu tám chữ qua làng trang nghiêm.
Dân làng no nức ra xem,
Chỉ riêng có một cô em chạnh buồn.
Ngày nào cô chửa thành hôn,
Ngày nào anh khoá vẫn còn Hàn vi.
Thế rồi vua mở khoa thi,
Thế rồi Quan trạng vinh quy về làng.
Ngày hẹn đã đến, Lý Thường Kiệt chúng tôi được chín người. Chúng tôi
tình diện tại Quân Vụ Thị Trấn Sài Gòn. Về đón chúng tôi là hai ông,
một ông tôi quên tên, còn ông tôi nhớ là Đinh Như Khả.. Nhìn hai ông,
dạ tôi nao nao, ông nào cũng đẹp trai, phong thái, nhất là bộ dạo phố
mùa đông mới đẹp làm sao! Ước gì mai mốt mình cũng được như hai
ông ấy!
Chúng tôi đi chuyển lên Đà Lạt bằng máy bay quâÈn sự C123, đáp
xuống phi trường Cam Ly, sau đó chuyển về khu Tạm Trú bằng xe
GMC. Ở đây chúng toi được cân đo, thi trắc nghiệm thể chất, nhóm Hóc
Môn còn lại tám anh. Hàng ngày điểm danh, rồi đuoc phản thành tám
Đại Đội, và được tám ông k25 qua nhận quân, chờ ngày nhập Trường.
Chuyện bây giờ mới kể (6)
Sau bao ngày nôn nao chờ đợi, ngày 24 .12.71. Chúng tôi lên xe nhập
Trường. Chúng toi là nai tơ, khác với các bạn từ Trường Bộ binh Thủ
Đức thi đậu được chuyển qua. Tôi cười thầm, mình dân chính được ví
như lần đầu lên xe hoa, còn mấy cha kia giống ly dị chồng rồi lấy chồng
mới!
Mấy bác diện quân phục có vẻ ngạo nghễ, tự tin. Còn dân chính chúng
em thì khù khờ, ngây ngô quá. Vào Hội Quán Huỳnh Kim Quag chúng
tôi được phát mỗi tên hai cái thẻ, viết tên và Đại Đội, một cái cột vào
lưng quần, cái còn lại vào túi xách quần áo. Tôi chẳng biết công dụng
của chúng ra sao. Chừng nửa giờ sau, được lệnh xếp thành 8 Đại Đội,
trước mặt là 8 ông anh k25 để nghe Tiểu đoàn Trưởng dặn dò. Sau khi 8
Đại Đội trưởng báo cáo quân số, Tiểu Đoàn Trưởng (cũng k25) dõng
dạc tuyên bố:
“Chúng tôi rất hãnh diện được đón tiếp các anh trước cổng Nam Quan.
Kể từ giờ phút này các anh hãy vứt bỏ tại đây những gì thuộc về dân
chỉnh như lè phè chậm chạp, biếng lười vô kỷ luật. Khi nào các anh đặt
chân lên đỉnh núi Lâm Viên (vừa nói ông vừa xoay người chỉ về hướng
núi trước mặt chúng tôi) lúc đấy các anh ra đây nhặt lại. Ông hỏi to: Các
anh nghe rõ chưa? Chúng toi đồng thanh đáp: Rõ! Tiếp theo, quân nhạc
chào đón. Quân nhạc vừa dứt, chúng tôi được lệnh nhập Trường.
Vừa vào khỏi cửa là hai khoảng trời cách biệt. Má ơi cách đây chưa bao
lâu, các ông đối xử rất lịch thiệp mà giờ này tiếng gào thét vang lên như
ong, mấy ông áo vàng, nón nhựa ùa ra vây quanh chúng tôi, ông nào ông
nấy mặt đằng đằng sát khí; gầm lên như sư tử vồ mồi. Chúng toi ngỡ
ngàng, lính quýnh. Cán bộ gầm lên: “Theo tôi anh, nhanh lên anh, tà tà
hả anh! Tà tà là thác nghe anh. Trời ạ, mấy ổng quen rồi, còn chúng tôi
mới quẳng bút bi theo nghiệp kiếm cung làm sao đương cự nổi. Tội nhất
mấy anh" 4 thằng một mâm" (KBC 4100) bị quần như xơ mướp, lên bờ,
xuống ruộng vì có kinh nghiệm. Chừng hai tiếng đồng hồ sau, trên sân
cỏ như bãi chiến trường, giỏ xách, giày, dép vương vãi tứ tung. Chúng
tôi bỏ của chạy lấy người mà. Trên sân cỏ Tiểu đoàn (khu doanh trại)
được kê sẵn 8 cái bục gỗ to đùng có bực thang lên xuống, có tên từ A
đến H. Đây là nơi thu góp tàn quân. Giờ chúng tôi mới biết công dụng
của hai cái thẻ đeo bên hong và trên giỏ xách. Đúng là Hiệp Phố để gom
Châu về. Anh nào xỉu được gom về bục của từng Đại Đội nằm sùi bọt
mép, gác chân len bục để suy nghĩ ...tình đời! Lúc này nhìn trên sân cỏ
toàn áo ka ki vàng đeo găng trắng, thắt lưng cổ truyền trắng, riêng mũ
nhựa thì hai màu , màu đen là Trung đội, màu đỏ là cấp Đại Đội. Nhưng
có lẽ ấn tượng nhất là mũ nhựa trên đầu mấy ông cán bộ. Cách đội là đạt
hai ngón tay xếp lại bên nhau, đặt dọc theo sống mũi rồi kéo vành mũ
cho chạm cạnh ngón tay. Vành mũ hình như che kín mắt, lúc ổng liếc
lên nhìn. Mẹ ôi, khiếp lắm!
Hét to, gào lớn, khàn cổ, giọng mấy ổng khàn khàn, càng khiếp tợn.
Chưa biết tên, vì còn khoác áo thư sinh, chúng tôi có tên chung là "anh
kia". Để gạt đàn em, mấy ổng hỏi: anh nào sau này ra Trường chọn
BĐQ? Có chừng 7, 8 anh lác đác giơ tay, thấy chưa đủ mẻ lưới ổng dậm
cẳng hét: VB mà yếu đuối thế sao! Tôi hỏi lại lần nữa anh nào chọn
BĐQ? Sợ bị chê nên mười tên khác giơ tay. Thấy đủ vốn, ông ra lệnh:
các anh theo tôi đi học sình lầy! Cả đám bị lùa xuống giao Thoòng hào,
bùn ngập tới đầu gối mà đàn anh đã xả nước, quậy bùn mấy hôm trước
để đón tiếp đàn em. Lúc đầu còn luyến tiếc áo thư sinh, sau thấy càng
thậm thụt thì càng ở lâu, cuối cùng đành" trầm mình tuẫn tiết "như Hai
Bà Trưng trên sông Hát cho yên thân! Toán chọn Nhảy Dù thì xếp hàng
lần lượt leo len bục, nhảy xuống hô: “Nhảy dù cố gắng!” Nhẩy chừng
chục lượt là nằm quay đơ. Sau thời gian luân chuyển binh chủng, anh
nào cũng bùn dính đày người, chỉ còn hai con mắt. Mấy anh còn tỉnh
được lệnh đi gom đồ đạc của bạn bè về bục cho anh em.Nhờ có thẻ nên
không bị thất lạc. Riêng giày dép thì chào thua.
Xong xuôi, được dẫn lêÈ lầu ba nhận phòng. Mỗi phòng là 3 em, có
bảng tên gắn ngoài cửa. Đàn anh chu đáo thật! Một anh được dẫn xuống
lầu một, chỗ đường nhựa, sát sân cỏ Tiểu đoàn hét to: Đại đội A tập họp!
Nghe lệnh, chúng toi ùn ùn kéo xuống xếp hàng, đi chuyển xuống Phạn
Xá ăn trưa. Nhà ăn rộng lớn lắm, có thể chứa hơn ngàn người. Ở đây
chúng tôi được dạy cách đi đứng, cách ngồi, cách đi chuyển. Mọi động
tác đều phải vuông góc. Động tác gập cằm, cổ ba ngấn mới tức cười,
nhìn vào thấy giống hệt cảnh bị Tào Tháo truy kích mà cầu tiêu đông
nghẹt người. Ông bà mình dặn: Trời đánh tránh bữa ăn nhưng trong
Phạn xá, mấy ông anh không được học. Bữa ăn kéo dài hơn một tiếng,
đủ thời gian cho các ổng phạt tụi tôi. Bảo đảm còn xét nét, hà khắc hơn
mấy bà mẹ chồng hắc ám đối xử với nàng dâu ngày xưa nhiều. Cơm ở
đây không thiếu, gạo đã được tích cóp từ vài tháng trước do ba khoá đàn
anh tiết kiệm trong mùa Văn Hoá. Các bác không thể tin là chúng tôi
phải ăn ít nhất là tám chén cơm trong một bữa. Ép dầu ép mỡ, ai nỡ ép
duyên. Chúng tôi phải sửa lại là ép dầu ép mỡ, ai nỡ ép ăn. Ông anh hỏi:
ăn mấy chén rồi anh? Ngồi trả lời cũng chết, đứng trả lời khi miệng còn
nhai cũng chết. Tôi nghĩ thầm mấy ổng không được học môn Tâm lý
học khi mấy ổng hét căm hờn lên mà sống anh. Vào đây rồi chỉ có cơm
Phạn xá thương anh thôi. Các bác cứ tưởng tượng xem mỗi bữa tiêu
chuẩn hai trái chuối già lùn, trong mùa TKS ba khoá đàn anh nhường
cho thằng em út thì mỗi thằng phải dồn tám trái vô bụng chứ ít đâu. Lúc
đầu mấy ổng ép ăn, kiếm mọi cách phạt, bắt lăn trên sân cỏ trước phạn
xá, nôn ói rồi đưa vào Phạn xá bắt ăn tiếp, ác đến thế là cùng các NT 25
ơi! Nhưng chỉ một tuần sau, với cường độ hành xác càng ngày càng tăng
thì không cần ép nữa. Ngộ một điều là sau tám tuần sơ khởi khoá 28 đàn
em tăng từ 6 tới 8 ký , còn đàn anh k 25 sụt ít nhất là 4 ký. Chúng tôi
cười thầm trong bụng là Trời cao có mắt, ai bảo phạt chúng tôi dữ vậy.
Suốt ngày đầu tiên nếu người yêu hỏi: Em tên gì hả anh? Thì có nhiều
anh trả lời là không nhớ, trừ tôi ra. Tối về phòng, than thể rã rời, chúng
tôi nhìn nhau mà ngậm ngùi, thương cảm. Phòng ốc khang trang, sạch
sẽ. Mấy công tử con nhà giàu, cậu ấm của quan to nghĩ sao không biêt;
chứ bọn nghèo như tôi thì ngại leo lên vì drap trắng tinh vuông góc, rồi
gối, rồi mền gọn gàng, ngăn nắp. Nếu hỏi các anh thích nằm trên giường
hay trên sàn phòng thì 100 thằng sẽ có 102 thằng (có thằng giơ tay hai
lần vì quá khiếp) xin nằm bên dưới , sợ sáng mai bị phạt vì không biết
xếp vuông, nhưng đâu phải muốn là được.
Mấy ông anh đi kiểm soát từng phòng, bắt leo lên giường ngủ trong
vòng 30 giây. Nếu nghịch chỉ là lôi ra hành lang lầu lại lăn, bò, nhún ,
ấp. Toi giải thích thêm chữ ấp là nghiêng người, tay cong theo thân rồi
lộn về phía trước, như thế khởi động của võ phái judo. Khổ nhất là đi vệ
sinh ban đêm, phải xin phép mới được đi mà Đà Lạt đêm về lạnh lắm
người ơi!
Chuyện bây giờ mới kể (7)
Tôi kể cho các bạn nghe về từng hình phạt, từng tình huống . Nhận quân
trang xong, chúng tôi bắt đầu nghiền ngẫm câu thơ " Giã nhà, nhận bức
chiến bào ; ấp, lăn sân cỏ, bò vào phòng ăn" của bà Đoàn Thị Điểm mà
tôi tự ý sửa vài chữ cho phù hợp với không gian và thời gian.
Quần áo rộng thùng thình, rất thoải mái khi lăn, bò, nhào lộn. Thứ hành
hạ chúng toi nhiều nhất là đôi giày trận. Từ là những gã thư sinh, bút bi
nhét túi sơ mi, chân đi ba ta mềm nhẹ, nay đi giày Map nặng chình
chịch; đi chuyển là chạy, thời gian tính bằng giây thì sao thấu hả ông, bà
Thượng Đế? Bị trầy và đau quá, toi năn nỉ Thầy tôi là NT Phan Thế
Duyệt (một hiền thần) xin được đi dép. Ông không cho mà khuyên phải
cố làm quen ông nói: “Với bất cứ giá nào anh cũng phải vượt qua vì đôi
giày trận sẽ gắn bó với anh cho tới ngày...xuống lỗ!” Toi còn nhớ như in
bạn tôi Huỳnh Văn Thái A 28, Chân trầy sưng múp, được "đặc cách" đi
dép. Nhìn đôi dép anh mang, toi không thể nín cười trong hai giòng lệ
cảm thương. Chạy trên đường nhựa, một phần ba chiếc dép đã biến mất,
đuôi dép còn lại bén tựa lưỡi lam cạo râu. Khi được lệnh tấn cong lên
"Viên đá đầu tiên" hay lầu ba; sau tiếng ho: Tan hàng! của Trung đội
trưởng thì đàn em hô: Tự Thắng! Anh ta nhanh như cắt, khom người
xuống xỏ hai tay vào hai dép rồi xoay người, vượt qua đồng đội, cán
đích đầu tiên.
Trong tuần lễ đầu, 1/3 quan số, biến thành con cháu của Tôn Tẫn người
nước Yên. Được gom lại từng nhóm với mỹ từ "phái đoàn thiện chí",
khập khiễng chạy sau lưng bạn bè, miệng la to: Từ nay tô thất bại rồi!
Từ nay tôi thất bại rồi! Quá thê thảm, có bạn liều mạng hỏi: Chúng tôi là
lính tình nguyện, mà sao hành hạ dữ vậy? Cán bộ lạnh lùng trả lời: Một
người lính có quyền xỉu trên chiến trường, các anh sẽ là cấp chỉ huy,
nắm bao sinh mạng thì các anh không thể xỉu. Quan trường đổ mồ hoi,
chiến trường bớt đổ máu anh rõ chưa?
Rồi anh ta bị lỏi ra phạt cuối cùng được bạn bè khiêng về. Cứ tưởng anh
ta có lá gan của Cọp? Xin thưa còn có anh gan to hon. Anh này giơ tay
xin về mới rụng tim chứ. Nghe xong, Cán bộ "Nộ khí xung Thiên" gầm
to : “VB không phải là cái chợ mà anh thích thì vào, chán lại xin ra. Vào
đây rồi, mạng anh nhẹ như hai tờ giấy Pơ luya. Một báo về gia đình, một
gởi về Tổng cục quân huấn là...xong phim!” Không cần kể, các bạn đã
biết đoạn cuối thế nào rồi. Đó là chiến thuật Giết gà, dọa khỉ đó!
Rồi chúng tôi được làm quen với từng bãi tập, từng môn, chiến thuật, địa
hình bên cạnh Hồ Than Thở hay Hai Mộ giữa rừng Thông, nhìn tận mắt
hai câu thơ ghi trước mộ:
“Nước biếc non xanh, dù biến đổi,
Ngàn năm Thảo vẫn ở bên Tâm.”
Nói thật các bác thương, học kiểu này, chúng tôi biết rõ rằng:
“Chữ Thầy, em trả cho Cô cả,
Em chỉ còn mang chữ...hận đời!”
Chúng tôi thương Huấn luyện viên bao nhiêu, thì ghét phụ tá H L V
cũng bấy nhiêu. Một ông cố nhét vào đầu mấy thằng em kiến thức Quân
sự; còn phụ tá thì ngồi rung đùi nghĩ cách phạt đàn em. Sau khi nhận bàn
giao nào là đi vịt, bơm dầu, lăn, bò nhúng dấm ở Hồ Than Thở, hay chạy
qua mồ Cô Thảo xem cô đã điểm trang chưa. Chúng tôi luôn có ấn
tượng với bãi C1, C2, dốc B52, dốc Nhữ Văn Hải. Cũng có những HLV
thương, cứu đàn em bằng cách kéo dài thời gian rao giảng để ông Phụ tá
không còn thời gian pho diễn tài năng phạt. Nhiều lúc bị phạt vô cớ,
nhưng Mèo khôn thì Chuột cũng khôn. Một thằng vi phạm thì cả bọn bị
phạt chung, nên tinh thần đồng đội của chúng tôi "cao ngất Trường sơn"!
Như tôi đã kể, làm chuyện gì cũng phải xin phép. Mót tiêu, xin đi thì bị
từ chối bàng câu: “Tự thắng đi anh! Chưa có khoá nào yếu đuối như
khoá 28.” Khoá toi lúc trước cả tuần mới đi một lần, chùi bằng giấy
nhám chứ không chùi bằng giấy mềm như các anh bây giờ đâu! Giàng
ơi, thứ gì còn Tự thắng được chứ tiêu, tiểu thì làm sao mà Tự thắng? Có
lần một anh trong Đại đôi A, gồng mình dứng nghiêm, xưng danh: Tân
Khoá sinh, danh số....A28 xin đi tiêu, xong sẽ thi hành bất cứ hình phạt
gì. Nghe xong, cả bọn cùng phì cười. Ông Cán bộ cũng sặc cười (nụ
cười hiếm hoi) gật đầu cho đi.
Ép ăn mà cấm đi tiêu, tôi nghĩ mấy ông anh chơi ác với đàn em hơn
Cống Quỳnh chơi khăm Chúa Trịnh , khi lệnh cho lính ị mà cấm đái
nhiều. Đi tiêu thì chúng tôi ngại, chứ tiểu chúng tôi có cách rồi. Bò thì
quá dễ, còn lăn trên sân cỏ thì cửa sổ mở toang, cứ ngửa thi khoá, úp thì
xả. Vững tin rằng đồng đội lăn sau mình có bị ướt lưng cũng không la
lên vì sợ bị phạt cả chùm.
Phạt cả ngày, đêm về sinh hoạt ngoài hành lang lầu ba mới ly kỳ, rùng
rợn. Đại đội phó đảm nhận về đêm. Ông đem thơ phát cho những anh có
tên, rồi bắt từng anh đứng len đọc cho bạn bè cùng nghe, chỉ sai một chữ
là bị bò ngay, bạn bè cười nghiêng ngả. Rồi ổng nổi hứng lên bắt chúng
toi viết thơ "Từ đào". Ổng phản trần rằng thì là: Các anh đã chọn binh
nghiệp làm lý tưởng; Vương Hàn đã viết: Cổ lai chinh chiến kỷ nhân
hồi. Thì các anh đừng để các cô phải ngâm câu: Thiếp nhìn rặng núi,
ngẩn ngơ nỗi nhà. Của bà Đoàn Thị Điểm. Rõ chưa? Đàn em thưa: “Dạ
rõ.” Chúng tôi phải viết làm sao cho mấy cô bồ đọc xong sẽ nhổ sào neo
bến khác, nếu còn vương vấn tơ lòng, thì khó thoát cảnh ấp, bò, lăn. Rồi
thơ phải được đọc lên để bạn bè tham khảo, góp ý, hoặc cóp py . Mãi
sau này chúng toi mới biết là những bức thư này đã được đàn anh giữ
lại, nén không làm kho héo đời ...trai!
Chuyện bây giờ mới kể( phần 9)
Ngày rời nhà lên đường nhập ngũ, chúng tôi đa số chỉ mang hai bộ quần
áo, vì biết sẽ được nhận chiến y. Một bộ đã cúng cho "Thần Giao Thông
hào" ngày đầu tiên vượt cổng Nam Quan rồi, còn một bộ để dành làm kỷ
niệm, khoe với em út mai sau.
Một hôm chúng tôi reo hò khi nhận tin vui từ mấy ông cán bộ, khoá 28
được đi phố đêm. Chúng tôi có nửa ngày để chuẩn bị. Ôi! Còn gì vui
sướng cho bằng. Lòng dạ non nao, tôi nghĩ mấy chị lúc leo lên xe hoa về
nhà chồng, cũng nôn nao đến thế là cùng, các bác nhỉ ?
Các NT K27 cho chúng tôi mượn bàn ủi, ủi quần áo.