Thang máy Sài Gòn (1)
Paris
Năm giờ chiều, khi Paul Polotski mở báo ra đọc thì mây đen bắt đầu kéo tới. Hai người ngồi cách nhau hai
chục thước, trên hai ghế đá của một vườn hoa vô danh. Người đàn ông này không hoàn toàn xa lạ với
cô. biết ông ta sinh năm nào. Cô biết ông ta sống ở đâu. Thậm chí biết cả mặt vợ ông ta. Một vài thói quen
của ông ta, cô cũng bắt đầu nắm được. Từ hai tuần nay, cô đi sau Polotski. Đó không phải là một việc khó:
đối tượng của cô hầu như chỉ ra khỏi nhà để đến khoa Đông Âu, nơi ông ta dạy hợp đồng một tuần hai lần,
mỗi lần chín mươi phút, như thời khóa biểu đã ghi.
Lần đầu theo Polotski tới trường, trong lúc ông ta rẽ qua văn phòng khoa, cô đã nhanh chân lẻn vào giảng
đường, định tìm một chỗ kín đáo để ngồi nhưng không thành: giảng đường mênh mông chỉ có ba sinh viên,
thấy cô một cậu tóc rễ tre ngẩng đầu lên nói “nhầm lớp rồi”. Cô đành xin lỗi và đi ra. Một lát sau, đứng ở
một góc không xa, cô nhìn ông ta uể oải bước trên hành lang, uể oải rẽ vào giảng đường, rồi uể oải khép cửa
lại. Chín mươi phút tiếp theo, khi đã ngồi trên một chiếc ghế dựa, cô ngáp và tưởng tượng rằng, sau cánh cửa
kia, ông ta đang uể oải giảng, còn ba sinh viên thì uể oải nghe, đến giữa buổi cả bốn lăn đùng ra làm một
giấc, cậu tóc rễ tre lúc nãy ngáy khò khò, thỉnh thoảng ú ớ một câu gì đó, dường như là “nhầm lớp rồi” và
hướng thẳng về phía Polotski vì cậu ta ngồi ngay hàng đầu, đối diện với bục giảng.
Cô mở mắt khi Polotski đã ở đầu kia của hành lang. Mới đầu cô ngỡ là đang mê
ngủ và định thiếp thêm vài phút nữa bởi đêm qua hầu như cô không chợp mắt chút nào. Nhưng một giọng
quen quen đã đánh thức cô dậy. Cậu tóc rễ tre hỏi to: “Ngủ ngon chứ?”, không phải hướng về cô mà một ai
đấy ở đầu kia của điện thoại cầm tay. Cô chạy vào tàu điện ngầm đúng lúc cửa tàu chuẩn bị sập lại, tay va
phải lưng của Polotski. May mà tàu khá đông nên ông ta chẳng buồn phản ứng. Ra khỏi tàu, ông ta không về
nhà ngay. Vườn hoa công cộng không có đài phun nước, nhưng có rất nhiều cẩm tú cầu đỏ, nằm cách căn hộ
của ông ta mươi phút đi bộ. Ông ta cắm cúi đọc báo, một tờ báo mang sẵn trong cặp. Theo đối tượng đến lần
thứ ba, cô hiểu rằng đọc báo ở vườn hoa không phải là ngẫu hứng, mà là thói quen của Polotski. Cô không
biết thói quen này hình thành từ bao giờ, nhưng cô tự hỏi tại sao ông ta không ở lại cho tới hết buổi chiều.
Dù sao thì cô cũng có cảm giác chẳng ai đang đợi ông ta ở nhà.
Trời tối dần. Có những tiếng sấm. Và hình như có cả những ánh chớp. Cô quay đầu nhìn Polotski một lần
nữa. Không hiểu hôm nay có việc gì xảy ra với ông ta. Từ lúc ra khỏi nhà, khuôn mặt ông ta đã đờ đẫn khác
thường. Bước chân cũng chậm chạp quá mức. Cô phải liên tục giảm tốc độ để không bất ngờ vượt lên trước.
Giảng đường hôm nay ba sinh viên vẫn chuyên cần ngồi đợi, cậu tóc rễ tre vẫn chiếm vị trí hàng đầu, đối
diện với bục giảng, để cô lại gật gù chín mươi phút trên ghế dựa, trong một góc hành lang. Sau đó, tất cả tuần
tự như mọi khi, trừ việc ông ta nấn ná trong vườn hoa, mây kìn kịt, cẩm tú cầu ủ rũ, ghế đá nóng rãy đùi.
Không một bóng người. Không một bóng mèo. Tất cả đang đợi một cơn mưa lớn. cô tưởng tượng rằng hơn
một tiếng đồng hồ vừa qua ông ta chỉ mở báo rồi để đấy bởi đầu óc còn bận ở nơi khác. Nhưng nơi nào thì cô
không thể biết.
Cô nhớ tới bức ảnh tìm thấy trong cuốn sổ tay của mẹ, bức ảnh đen trắng giấy mịn, bức ảnh chụp Polotski
tóc thẫm, mắt trong veo, trong đến độ nếu không nhìn thấy toàn thân người trong ảnh thì cô đã nghĩ đó là
cặp mắt của một đứa trẻ con. Lần đầu tiên giáp mặt Polotski cách đây hai tuần, cô giật mình: mái tóc thẫm
trong ảnh giờ đây đã bạc trắng, còn cặp mắt trong veo thì bị che lấp bởi cặp kính to bản. Nửa thế kỷ đã trôi
qua.
Cô nhìn những bông hoa ủ rũ. Ngay từ khi bắt đầu theo dõi Polotski, cô đã tự hỏi dưới cõi âm, mẹ nghĩ thế
nào khi biết cô tìm hiểu bí mật của mẹ, bí mật mà mẹ từng âm thầm giữ kín từ nhiều năm nay, không muốn
và có lẽ cũng không dám chia sẻ cùng ai. Cuốn sổ tay mẹ đã mang theo người cả những ngày cuối đời, trước
khi chết còn cất kỹ trong gối.
Mưa đã rơi. Trong khi những hạt nước thi nhau trút xuống thì từ dưới đất, hơi nóng cũng hừng hực dâng lên.
Mặt đường như được một làn khói mỏng bao phủ. Cô mở ô. Polotski vẫn bất động ở ghế đá, tay đặt trên gối
còn mắt nhìn xuống đất. Chỉ một loáng những sợi tóc bạc đã ướt sũng, nước loang lổ trên vai và ngực áo sơ
mi. Cô ngập ngừng. Cô vừa muốn chạy tới che ô cho ông ta, vừa muốn biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu ông ta cứ
tiếp tục ngồi dưới mưa như thế.
Polotski đứng dậy rồi uể oải rút từ trong cặp ra một chiếc ô. Toàn bộ khuôn mặt đẫm nước. Cô đợi mãi mà
ông ta không tháo cặp kính to bản. Sát vỉa hè, nước làm thành một dòng suối nhỏ cuồn cuộn chảy. Cô lặng lẽ
đi sau ông ta. Hai chiếc ô chuyển động nhấp nhô rồi biến mất trong vô vàn những chiếc ô khác giữa ngã tư.
Mưa hối hả rơi. Người hối hả đi. Tháng Sáu năm nay mưa nhiều vô kể.
Sài Gòn
Đêm mưa tầm tã. Đêm mưa trái mùa năm 2004, mẹ em qua đời, vì một tai nạn phi lý, có lẽ chưa
kịp có tên trong tiếng Việt. Anh Mai, anh trai duy nhất của em, xây ngôi nhà không biết thứ bao
nhiêu, vẫn cao tầng, nhưng lần này quyết định lắp thang máy tư gia, nghe nói là đầu tiên của cả
nước. Để đánh dấu sự kiện này, anh mua vé máy bay mời mẹ vào Sài Gòn. Anh bảo, mẹ phải
bấm nút khánh thành thang máy, đi một vòng từ tầng trệt lên tầng thượng, quay trở lại, thì khách
mới có quyền sử dụng. Anh mời cả truyền hình và báo chí tới dự. Không khó hình dung những
kịch bản kiểu này, em vẫn dành một buổi tối, ngay sau đám tang mẹ, để xem hết một CD sáu
mươi phút cùng một tập mấy trăm bức ảnh. Xem xong, lại ngồi xem tiếp một CD sáu mươi phút
cùng một tập mấy trăm bức ảnh nữa, về chính đám tang mẹ, mà bản thân em đã chứng kiến từ
đầu tới cuối.
Mẹ bao giờ cũng khác thường, từ nhỏ em đã nhận thấy như vậy, trong đám đông hay đứng một
mình, dù là họp đảng ủy hay họp khu phố, dù là nhận bằng khen hay trao phần thưởng, và bây
giờ, trên bàn thờ, giữa những người đã khuất, những người thân của mẹ, ông bà nội ngoại, anh
chị của mẹ… Và cả bố nữa. Anh Mai đã cố tình để hai tấm chân dung sát nhau, trước mặt bày
bình hoa hồng đỏ, thế nhưng bố và mẹ vẫn cứ như những kẻ xa lạ, như chưa từng cùng đăng ký
kết hôn, chưa từng sống với nhau hai mươi năm, chưa từng có hai đứa con (là anh Mai và em) rồi
hai đứa cháu (là cái Ngọc con anh Mai và thằng Mike con em). Suốt buổi tối, em đã thử nhiều lần,
những lúc còn tỉnh táo và cả khi bất ngờ chợp mắt, mà không sao hình dung lại cảnh gia đình
ngày trước, khuôn mặt mẹ thì rõ mồn một, còn khuôn mặt bố liên tục phải nhờ đến sự trợ giúp của
tấm chân dung, tấm chân dung giữa hoa hồng đỏ và hương khói nghi ngút. Bố mất trước mẹ mười
năm.
Bữa cơm tối có hai anh em và hai đứa trẻ. Anh Mai bảo: Thanh tra hãng thang máy Đức gửi sang
tìm mãi vẫn chưa ra nguyên nhân tai nạn. Họ bảo không hiểu tại sao buổi khánh thành, thang máy
chạy êm, ba hôm sau vẫn chạy êm, sau tai nạn vẫn chạy êm, thế mà mẹ lại bị rơi vào khoảng
trống, từ tầng thượng xuống tận tầng trệt, nơi hộp thang nằm lì như không nhận được lệnh nào.
Anh thì không hiểu tại sao đêm muộn như thế, trời mưa to, mà mẹ lại ở tầng thượng, và ở trên đấy
khá lâu. Anh nhớ là tối ấy, anh nằm ở xa lông xem thi hoa hậu từ sớm rồi ngủ luôn tại đi văng, cái
Ngọc thì ở nhà mẹ nó, nhân viên về hết chỉ còn mỗi bà giúp việc, nếu có lên các tầng trên để lau
dọn thì cũng chỉ chín giờ tối là xuống phòng riêng đi nghỉ. Trong buổi hỏi chuyện của thanh tra
nước ngoài, bà ấy cũng khai như thế, và bằng chứng là hộp thang đã dừng lại ở tầng trệt, nơi có
phòng riêng của bà ấy. Vậy có nghĩa là mẹ đã sử dụng thang máy để lên tầng thượng trước cả
chín giờ tối, sau đó đến lượt bà giúp việc lấy thang máy để quay trở về tầng trệt, rồi khoảng hai
giờ đêm khi mẹ bấm thang máy để đi xuống, cửa mở ra, mẹ bước vào thì hộp thang lại không có
ở đó. Tai nạn đã xảy ra vào hai giờ đêm. Hai giờ đêm, bác sĩ pháp y đã nhận định mẹ mất vào hai
giờ đêm. Thế từ chín giờ tối tới hai giờ đêm mẹ làm gì trên tầng thượng?
Em im lặng. Em cũng không hiểu mẹ làm gì trên tầng thượng từ chín giờ tối tới hai giờ đêm?
Người ta có thể làm gì trên tầng thượng từ chín giờ tối tới hai giờ đêm? Có gì để mà làm trên tầng
thượng từ chín giờ tối tới hai giờ đêm?
“Thi thể của cụ nhà rơi từ tầng thượng xuống tầng trệt nát bấy, chỉ còn mỗi khuôn mặt là nguyên
vẹn”, bà giúp việc nhà anh Mai kể với em về tai nạn của mẹ như vậy. Em cho là bà ấy cũng không
biết gì hơn, vì tai nạn xảy ra theo nhận định của bác sĩ pháp y là vào hai giờ đêm, lúc mọi người
đều đã ngủ say. Nhưng hai giờ đêm hay mấy giờ đêm thì có thay đổi được gì. Mẹ đã mất rồi. Em
không thể không hình dung cảnh mẹ rơi từ tầng thượng xuống tầng trệt, trong khoảng không hình
ống tối tăm của thang máy. Và em có cảm giác như trong lúc rơi, mẹ đã cố hết sức ngẩng cổ lên,
và dùng cả hai tay quấn quanh đầu để tránh cho khuôn mặt bị tổn thương, tuy rằng như thế thì
đau hơn rất nhiều, vì không thể ngất đi ngay lập tức, mà phải tiếp nhận cơn đau cho tới tận lúc
não ngưng hoạt động hoàn toàn.
Cũng theo bà giúp việc thì vì thi thể nát bấy của mẹ mà thợ may và các nhân viên tang lễ phải làm
việc liên tục ba ngày, trong khi đó chuyên gia hóa trang chỉ mất có mấy tiếng đồng hồ. Lúc em vào
tới nơi thì khuôn mặt mẹ đã được trang điểm kỹ, có cả phấn nền, có cả mascara, những thứ bình
thường mẹ không sử dụng bao giờ. Thi thể mẹ, mặc áo dài gấm đen, xung quanh phủ hoa hồng
đỏ, được đặt trong quan tài kính có gắn điều hòa và máy khử mùi, quan tài kính lại được đặt trong
nhà tang lễ bệnh viện quốc tế. Anh Mai chỉ đồng ý cho khách tới viếng khi mọi thứ đã xong xuôi,
ngay cả em cũng phải chấp thuận điều kiện ấy. Thực ra thì tự trong lòng, em cũng chỉ phản đối
một cách yếu ớt. Em cũng sợ phải chứng kiến tận mắt một thi thể nát bấy, của mẹ hay của ai cũng
vậy. Tưởng tượng dù sao cũng đỡ sợ hơn, nhất là trong những trường hợp như thế này. Nhưng
cũng có lẽ vì thế mà khi nhìn thấy mẹ trong quan tài kính, nguyên vẹn, áo dài gấm và hoa hồng đỏ,
phấn nền và mascara, em có cảm giác mẹ đang diễn vai người chết và không khóc được tiếng
nào. Mà khóc sao được khi phòng tang lễ bệnh viện quốc tế sạch sẽ lịch sự, nhân viên phục vụ
tận tụy tươi cười, ngay cửa ra vào đã treo biển song ngữ Anh-Việt: TRÂN TRỌNG ĐỀ NGHỊ
KHÔNG GÂY ỒN ÀO MẤT TRẬT TỰ.
Đám tang mẹ một tay anh Mai đảm trách. Khách tới dự phần lớn là bạn làm ăn của anh, trang
phục đen từ đầu tới chân, mỗi người khệ nệ một vòng hoa khổng lồ, xe hơi nêm chặt cổng nghĩa
trang. Một đội kèn đồng tám com lê trắng đồng phục như tám anh em ruột. Chục thanh niên cầm
máy ảnh bấm lia lịa, không hiểu thợ ảnh hay nhà báo. Chục thanh niên khác, cầm điện đài di động
đi đi lại lại, không hiểu là nhân viên của anh Mai hay bảo vệ phường. Một khu đất bề thế, xung
quanh bao tường dày, ở giữa xây sẵn một nhà mồ bằng đá hoa cương xanh, hai bên có hai cây
bách trăm tuổi, chính giữa là một lư hương cao xấp xỉ đầu người. Quan tài kính đặt trước lư
hương, đầu quay về hướng Đông, chân xuôi theo hướng Tây. Mặt trời buổi sớm chênh chếch.
Mây nhè nhẹ trôi. Hoa hồng đỏ thoang thoảng. Amazing Grace. Kính trong suốt và nắng tinh khôi, mẹ
hiện ra phi thường trong ánh hào quang bí hiểm của cái chết.
Em và anh Mai đứng đối diện với quan tài, tay chắp lại, mặt nghiêm nghị, đầu hơi cúi. Anh áo dài
đen quần đen, em áo dài đen quần đen, cùng kiểu, cùng màu, cùng chất liệu với mẹ, cùng thợ
may đặc biệt do anh Mai gọi đến, cắt đo cho mẹ trước, sau tới lượt em và cuối cùng là anh Mai.
Sáng sớm, em mặc vào, anh Mai nheo mắt bấm điện thoại. Mười lăm phút sau thợ hóa trang đến
cùng đồ nghề, khuôn mặt em được trang điểm kỹ, có cả phấn nền, có cả mascara, những thứ bình
thường em không sử dụng bao giờ. Anh Mai nheo mắt lần nữa, lại bấm điện thoại. Mười lăm phút
sau nhân viên của anh mang về một chiếc mũ màu đen, để trong hộp cũng màu đen, không hiểu
mua hay đặt lúc nào mà vừa khít đầu em. Cái Ngọc và thằng Mike cũng có mặt trong đám tang,
đứng sau lưng em và anh Mai, trang phục như trang phục của em và anh Mai thu nhỏ. Rất có thể
là thợ may đặc biệt, vì đã quá bận với trang phục của người lớn, chẳng còn thời gian để tự tay cắt
đo cho hai đứa trẻ, nhưng đã chỉ đạo đám thợ phụ để trang phục của cả nhà, người sống cũng
như người chết, đều cùng kiểu, cùng màu, cùng chất liệu. Mọi thứ được làm nhanh gọn và chính
xác, như thể cả một ê kíp trợ lý đang đứng sau lưng anh Mai, chỉ đợi anh bấm điện thoại là răm
rắp thực hiện.
Khi khách đến dự đã khá đông thì một nhóm quay phim gồm ba người từ từ tiến vào. Người vạm
vỡ nhất cũng là người trẻ tuổi nhất vác trên vai máy quay to, ống kính để mở và tiếp tục phát ra
những tiếng kêu khe khẽ. Có vẻ như cả nhóm vừa làm một vòng nghĩa trang để quay cảnh phụ,
bây giờ đã sẵn sàng cho cảnh chính. Người bé nhỏ nhất cũng là người lớn tuổi nhất rất có dáng
thư ký, lăm lăm trong tay cuốn sổ ghi chép và điện thoại di động, thỉnh thoảng ngẩng lên trao đổi
với người thứ ba – cao, gầy, ria con kiến, đội mũ phớt và ngậm tẩu, không nghi ngờ gì nữa chính
là trưởng nhóm. Trưởng nhóm chỉ tay về phía quan tài, nhà quay phim trẻ lập tức tiến lại, chĩa ống
kính thẳng vào khuôn mặt mẹ, quay mấy phút liền, rồi bắt đầu thả ống kính, quay toàn thân, và
sau đó còn quay những gì nữa thì em không rõ lắm vì đầu liên tục ở vị trí hơi cúi. Ai đó chợt nắm
tay em, hóa ra thư ký, có lẽ quá bé nhỏ nên ra hiệu cho em cúi đầu thêm chút nữa, để có thể nói
thầm vào tai em rằng bây giờ sẽ tới lượt em, nghĩa là khuôn mặt em sẽ trở thành tâm điểm của
ống kính. Em chưa kịp phản ứng thì thư ký giải thích rằng em sẽ phải giữ làm sao để mắt không
chớp trong vài phút liền, để lên hình không giống đang ngủ gật, rằng trường hợp của em nên thận
trọng vì chiếc mũ màu đen hắt bóng tới tận môi trên. Em im lặng gật đầu. Đây là lần đầu tiên em
đối diện với máy quay phim, lại máy quay phim chuyên nghiệp. Em tưởng tượng, thư ký bé nhỏ
phải đi một vòng hoặc vài vòng, để dặn dò vào tai tất cả những ai sẽ có vinh dự trở thành tâm
điểm của ống kính như em vừa rồi. Tất nhiên có những người hiểu ngay và có những người
không hiểu gì cả, thế là sẽ phải nhắc lại, và không được nói to sợ ảnh hưởng tới không khí chung.
Có khi một câu mà phải nói tới cả trăm lần không biết chừng. Thư ký trường quay hóa ra là một
nghề không dễ chút nào.
Khi nắng vẫn còn chưa gắt, mây vẫn nhè nhẹ trôi và hoa hồng tỏa hương ngào ngạt, Amazing
Grace chuyển sang Hoài Niệm, lễ hạ huyệt bắt đầu. Khoảng năm phút thì nhạc hết, anh Mai đọc một
điếu văn ngắn, đại khái gia đình chúng tôi vô cùng biết ơn sự quan tâm của quý vị đối với thân
mẫu của chúng tôi, thân mẫu của chúng tôi sinh thời ưa sống giản dị nên xin được ra đi trong yên
tĩnh, thương tiếc nên giữ trong lòng, sầu bi là điều không cần thiết. Diễn văn kết thúc, cử tọa im
phăng phắc (có cảm giác còn nghe thấy cả tiếng xè xè của máy quay phim), có lẽ một phần bởi đề
nghị trực tiếp của anh Mai,nhưng em cho rằng phần lớn là do khách tới dự quá ấn tượng khi nhìn
thấy mẹ trong quan tài kính. Ai nấy tự động xếp những vòng hoa khổng lồ vào một góc, sau đó
đứng thành mấy hàng song song, tay chắp lại, mặt nghiêm nghị, đầu hơi cúi, chỉ đợi anh Mai đọc
xong điếu văn là nối đuôi đi ra chiêm ngưỡng mẹ một lần nữa. Làm một vòng quanh miệng huyệt,
trong tiếng kèn đồng vừa quay về Amazing Grace, mỗi người dừng lại một lát, ném xuống một bông
hồng đỏ, một nắm đất con con, quay sang bắt tay anh Mai rồi bắt tay em, im lặng, đầu vẫn tiếp tục
hơi cúi cho tới lúc về lại chỗ của mình. Cử chỉ, vẻ mặt đều tăm tắp như thể đã được tập luyện
trước đó bao lần.
Anh Mai bắt tay từng người nói cám ơn, em cũng bắt tay từng người nói cám ơn. Anh Mai gật đầu,
em cũng gật đầu. Anh Mai gọi người ấy là chị, em cũng gọi là chị, gọi là bà, em cũng gọi là bà, gọi
là ông, em cũng gọi là ông. Tóm lại, anh Mai làm gì, em làm nấy. Chỉ có lúc anh đọc điếu văn là
em phải đứng một mình, hết nhìn mẹ trong quan tài kính lại nhìn hoa hồng đỏ, nhìn đất mới đào,
nhìn ổ kiến lửa cạnh gốc cây bách, đầu vẫn hơi cúi, mặt vẫn nghiêm nghị, tay tiếp tục chắp. Hai
mươi phút cũng nhanh chóng trôi qua, chiếc mũ đen vẫn yên vị trên đầu. Kể ra chẳng có gì là khó,
chỉ cần tập trung một chút. Ngay cả cái Ngọc và thằng Mike cũng làm được. Xem lại băng video
sáu mươi phút và mấy trăm bức ảnh, em nhận thấy rằng đứng sau lưng em và anh Mai, người lớn
làm gì, chúng nó làm nấy. Cử chỉ, vẻ mặt của người lớn đều tăm tắp như thể đã được tập luyện
trước đó bao lần. Cử chỉ, vẻ mặt của chúng nó cũng đều tăm tắp như thể đã được tập luyện trước
đó bao lần. Như thể tất cả những người ở đây không phải đang tiến hành đám tang của mẹ mà
đang diễn chung với nhau một kịch bản phim, với một bảng phân vai thế này:
Anh Mai – trong vai con trai trưởng,
Em – trong vai con gái thứ,
Cái Ngọc và thằng Mike – trong vai cháu nội và cháu ngoại,
Khách tới dự – trong vai khách tới dự,
Chục thanh niên cầm máy ảnh – trong vai thợ chụp ảnh kiêm nhà báo,
Mấy chục thanh niên cầm điện đài di động – trong vai bảo vệ phường kiêm nhân viên của anh Mai,
và đương nhiên,
Mẹ – vai người quá cố.
Đám tang mẹ thành tác phẩm điện ảnh (về sau không ít người so sánh với Hollywood), công lao
đầu tiên phải kể tới là anh Mai, nhà sản xuất kiêm đạo diễn. Công lao tiếp theo, không kém quan
trọng, em mạo muội nghĩ rằng lại thuộc về mẹ. Thuộc về mẹ chứ không ai khác, bằng cách chấp
nhận cơn đau khủng khiếp để giữ cho khuôn mặt được nguyên vẹn. Thử tưởng tượng, nếu khuôn
mặt mẹ cũng nát bấy như thi thể mẹ, thì phấn nền và mascara cao cấp đến đâu cũng vô tác dụng,
chuyên gia hóa trang nhà nghề đến mấy cũng đành bó tay, anh Mai chỉ còn mỗi một cách là đặt
mẹ vào quan tài gỗ và trong trường hợp này có lẽ không cần tới áo dài gấm đen và hoa hồng đỏ.
Và thế là tài thánh cũng không thể biến đám khách đến dự thành những diễn viên nhu mì và tận
tụy, bởi làm thế nào để họ tự động xếp những vòng hoa khổng lồ vào một góc cũng đã là việc
không đơn giản chút nào. Đám tang yên tĩnh – lịch sự – có tổ chức sẽ bị thay thế bởi một đám
tang ồn ào – dung tục – vô tổ chức. Có vẻ chính sự hiện diện của mẹ, đẹp đẽ và sang trọng trong
quan tài kính, như một diễn viên gạo cội, đã truyền hứng diễn cho những người xung quanh. Và
kết quả là ai nấy động tác cử chỉ đều tăm tắp như thể được tập dượt trước đó bao lần. Xem lại CD
sáu mươi phút và mấy trăm bức ảnh, em ngạc nhiên thấy họ là những diễn viên thực sự có năng
khiếu. Em cũng ngạc nhiên khi nhìn mình trong đó. Như thể không phải là em mà là một phụ nữ
cỡ tuổi em, có hình thức tương đối giống em, đã được mời đến để thay thế em. Người phụ nữ ấy
trang điểm kỹ với phấn nền và mascara, những thứ em chưa sử dụng bao giờ. Người phụ nữ ấy
trang phục cầu kỳ với áo dài đen, quần đen, mũ đen – những thứ em cũng chẳng mặc bao giờ.
Người phụ nữ ấy có khả năng không chớp mắt mấy phút liền và tỏ ra tự tin trước ống kính quay
phim. Người phụ nữ ấy không phải là em.
Em bỗng ngờ rằng khi chứng kiến thi thể nát bấy của mẹ giữa vũng máu, anh Mai cũng vô cùng
kinh ngạc phát hiện ra rằng, ngay kề đấy, khuôn mặt mẹ vẫn hoàn toàn nguyên vẹn. Mười mấy
năm lập nghiệp ở Sài Gòn đã cho anh không ít cơ hội dàn dựng các kịch bản khác nhau (mà buổi
khánh thành thang máy chỉ là một kịch bản khiêm tốn) và đã biến anh thành một đạo diễn có nghề.
Gác nỗi xúc động sang một bên, anh lập tức phác họa trong đầu một kịch bản có khả năng khai
thác triệt để cái cơ may có thể nói là không ngờ này. Hành động cấp tốc và chính xác như thế nào
mới kịp đặt cho mẹ một quan tài kính cỡ lớn, rồi lại chuyên chở từ Singapore về Sài Gòn. Bảy
ngày là một cái hạn kỷ lục.
Người chết thật diễn vai người chết? Không ít đạo diễn từng mời cảnh sát thật diễn vai cảnh sát,
gái điếm thật diễn vai gái điếm, bác sĩ thật diễn vai bác sĩ, bệnh nhân thật diễn vai bệnh nhân,
người Pháp thật diễn vai người Pháp… nhưng mời người chết thật diễn vai người chết thì có lẽ
trong lịch sử điện ảnh Hollywood chưa có trường hợp nào. Tuy vậy, thật ngược đời, điều này có
thể xảy ra ở một số quốc gia có nền điện ảnh hoàn toàn vô danh, Cộng hòa Nhân dân Triều Tiên
là một ví dụ. Không biết một năm sản xuất được bao nhiêu bộ phim, nhưng từ khi Kim Nhật Thành
qua đời tới nay phải có vài chục tác phẩm điện ảnh chỉ riêng về đám tang của Lãnh tụ Vĩ đại. Tác
phẩm điện ảnh chứ không phải phim a-ma-tơ, vì tất cả những người tham gia đều diễn rất đâu vào
đấy: tay đấm ngực, chân khuỵu xuống, mặt mếu máo, tóc tơi tả… một rừng người động tác, vẻ
mặt đều tăm tắp như thể được tập dượt trước đó bao lần. Rồi các dàn nhạc đồng loạt chơi những
bản bi hùng, các MC đồng loạt nói những câu có cánh, các bí thư các đảng cộng sản đồng loạt
đọc những lời ngợi ca… Nhưng có lẽ vai diễn sinh động nhất, thuyết phục nhất lại thuộc về chính
người chết – Chủ tịch Kim Nhật Thành: đầu đặt trên gối cao, hơi chếch sang trái để che đi khối u
lớn mọc sau gáy, toàn thân phủ cờ đỏ rực rỡ, Chủ tịch tám mươi hai tuổi má hồng, da mọng, môi
căng, khuôn mặt của tám mươi bức tượng cỡ người thật đặt khắp nơi trên lãnh thổ Cộng hòa
Nhân dân Triều Tiên. Khuôn mặt ấy, ngày hôm nay, còn uy nghi lẫm liệt hơn nữa, dưới ánh hào
quang bí hiểm của cái chết.
Em nhớ rằng, đầu tháng Bảy năm 1994, trường Sư phạm Hà Nội gửi lời chia buồn tới trường Sư
phạm Bình Nhưỡng, một tuần sau nhận lại một băng video chín mươi phút đám tang Lãnh tụ Vĩ
đại, hai tháng sau, nhân liên hoan Quốc khánh mồng Hai tháng Chín, quyết định chiếu chiêu đãi
cán bộ và giáo viên toàn trường. Mặc dù đã về hưu, nhưng mẹ vẫn nhận được giấy mời. Sau khi
uống nửa ly vang Thăng Long chua ngọt, giữa hàng ghế đầu, mẹ đã ngồi xem bộ phim từ A tới Z,
với một cảm giác lâng lâng thoải mái hiếm có. Rồi trong lúc các đồng nghiệp cũ thổn thức trước
hình ảnh quan tài kính được vây quanh bởi một rừng người đang đập đầu bứt tai, mẹ đã nhanh
chóng phát hiện ra ý tưởng phi thường của các đồng chí đạo diễn điện ảnh Triều Tiên – ý tưởng
“người chết diễn vai người chết”. Có lẽ từ giây phút đó trở đi, mẹ bắt đầu mơ màng tới vai diễn
cuối cùng của chính mình. Em còn nhớ cả tháng liền, gặp ai mẹ cũng kể về đám tang có một
không hai của Kim Chủ tịch, về chiếc quan tài kính mỗi chiều dễ tới tám mét, ban ngày thì rực rỡ
dưới ánh mặt trời, ban đêm thì lung linh bởi hàng vạn ngọn nến, và dĩ nhiên về khuôn mặt tươi
như hoa của Kim Chủ tịch. Khuôn mặt người chết như thế còn đẹp hơn chân dung người sống.
Phải đẹp thế nào mới khiến hai chục triệu người đang sống đập đầu bứt tai đòi được chết theo.
“Thật là phi thường!” trở thành câu yêu thích của mẹ, được mẹ nhắc đi nhắc lại, lần nào cũng
bằng ngần ấy hân hoan.
Nhưng không phải lúc nào niềm hân hoan của mẹ cũng được chia sẻ. Việt Nam thời điểm đấy đã
bắt đầu cơn sốt Đại Hàn. Nghe mẹ ca ngợi đám tang của Kim Nhật Thành, nhiều người nhíu mày
bỏ đi. Mẹ cũng đã về hưu, quyền chức không còn, không thể diễn vai tổ trưởng bộ môn hay phó bí
thư đảng ủy để chỉ tay vào mặt ai, đề nghị ngồi yên khi cấp trên phát biểu. Nhưng mẹ bất chấp.
Cái câu “Thật là phi thường!” vẫn không ngớt phát ra từ miệng mẹ. Trong một tháng liền, mẹ diễn
vai “cuồng fan” của Kim Chủ tịch.
Tuy vậy, nhanh chóng phát hiện bao nhiêu thì cũng nhanh chóng thất vọng bấy nhiêu: một tháng
sau, mẹ nhận thức được rằng phi thường dễ biến vô tưởng, người chết thật diễn vai người chết,
cả Cộng hòa Nhân dân Triều Tiên chỉ Kim Nhật Thành mới có vinh dự. Cơn thất vọng, chính xác
hơn là sự buồn chán đã theo mẹ trong vòng mười năm, bắt đầu ở tuổi lục tuần. Năm 2004, sáu
mươi chín tuổi, không biết vì lý do gì mẹ chấp nhận lời mời của anh Mai vào Sài Gòn khánh thành
thang máy. Đây là lần thứ hai mẹ vào Sài Gòn. Lần đầu tiên, trước đó hai thập kỷ, mẹ theo đoàn
của Sở Giáo dục Hà Nội vào dự hội nghị toàn ngành sư phạm các tỉnh phía Nam. Những năm đầu
tám mươi, nhân viên phục vụ nhà khách thành phố vẫn còn nhầm khăn ăn với giấy toa lét nên
chuyến đi hầu như không để lại cho mẹ ấn tượng nào. Hai mươi năm sau, ở nhà anh Mai vài
ngày, sử dụng thang máy tư gia vài lần, ngồi Mercedes vài buổi, ăn khách sạn năm sao vài bữa,
xem phim Mỹ màn ảnh rộng vài tối, cái nhìn của mẹ về Sài Gòn thay đổi hoàn toàn, và giấc mơ về
vai diễn cuối cùng lại bắt đầu cựa quậy, tất nhiên không theo tinh thần Cộng hòa Nhân dân Triều
Tiên mà theo tinh thần điện ảnh Hollywood. Nếu buổi khánh thành thang máy với anh Mai là một
kịch bản khiêm tốn thì với mẹ, lại trở thành một khám phá quan trọng. Đó là lần đầu tiên mẹ được
gặp gỡ giới thượng lưu Sài Gòn. Trong cuốn băng video sáu mươi phút và bộ ảnh mấy trăm bức,
em không ít lần bắt gặp mắt mẹ mở to trước một chuỗi vòng cổ lấp lánh, tay mẹ luống cuống khi
phải dùng dao dĩa, tai mẹ hướng về hai vị khách nữ đang khoe nhau hai chiếc túi Louis Vuitton.
Em cũng không ít lần bắt gặp mẹ thẹn thùng nhìn xuống bộ áo dài ny lông thêu rồng phượng của
phố Hàng Đào, đôi giày giả da vừa nặng vừa cứng của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, chiếc
vòng tay đồi mồi của cửa hàng Bách hóa Tổng hợp Hà Nội. Đúng thế, ngoài mặt mẹ cố đóng vai
người phụ nữ Hà Thành thanh lịch và tự tin, nhưng em biết trong đầu mẹ suy nghĩ rất lung khi bọt
sâm banh trào lên trắng xóa, khi đèn flash nháy như sao đêm hè, khi bốn nhân viên của anh Mai
khiêng chiếc bánh ga tô khổng lồ tiến vào, khi xung quanh mẹ người ta chúc nhau thu nhập mấy tỉ,
du lịch mấy nước, sổ đỏ mấy nhà.
Sáu mươi chín tuổi, mẹ vẫn đủ minh mẫn để ý thức rằng mơ theo Kim Nhật Thành vừa phí phạm
thời gian vừa phí phạm sức lực (mười năm liền thất vọng và buồn bã), rằng bước sang thế kỷ 21
chỉ anh Mai mới có khả năng thực hiện ý tưởng năm xưa – ý tưởng “người chết diễn vai người
chết”. Để vai diễn cuối cùng của mẹ là vai diễn để đời. Và khác thường cuối cùng của mẹ là khác
thường đáng nhớ nhất. Em ngờ rằng khi cân nhắc các khả năng, mẹ cũng thoáng nghĩ tới Hà Nội
– nơi mẹ đã trải qua sáu mươi chín năm trên cõi đời này, dù sao thì cũng không thể nói là không
gắn bó, rồi lại quyết định chọn Sài Gòn làm địa điểm duy nhất cho đám tang của mình.
Mẹ đã thử tưởng tượng mẹ qua đời ở Hà Nội: anh Mai sẽ cùng vài nhân viên vội vã ra sân bay
Tân Sơn Nhất, ba tiếng sau có mặt ở Nội Bài, trên đường về nhà bấm điện thoại cho họ hàng dưới
quê sẽ tìm được dăm người cả nam lẫn nữ thuận tình giúp việc khẩn cấp năm ngày, tiền công một
triệu trọn gói không kể vé ô tô khứ hồi, sau khi thương lượng một buổi chiều với ủy ban phường
và khu tập thể sẽ dựng được một nhà bạt mỗi chiều năm mét trong sân chung của khu, rồi cả
ngày hôm sau cũng sẽ tìm được một miếng đất tương đối tinh tươm trong nghĩa trang Văn Điển.
Suốt thời gian ấy, mẹ sẽ nằm trên giường, đắp một tấm chăn mỏng, đầu giường để bát cơm và
quả trứng luộc, bên cạnh là bàn thờ treo hai tấm phướn màu tím, hương khói chưa bao giờ nghi
ngút như thế. Ngày thứ ba sẽ là ngày động quan, pháp sư tới làm lễ cả ngày, đem theo một
phường bát âm và hai bà khóc mướn, đêm ngày sẽ thay nhau vật vã, hết khóc hộ anh Mai và em,
lại khóc hộ cái Ngọc và thằng Mike, có lúc lại khóc hộ cả bố và các cán bộ giảng dạy trường Sư
phạm.
Anh Mai sẽ không tiếc tiền mua cho mẹ một bộ quan tài gỗ, hàng Việt Nam chất lượng cao, bảo
đảm ba năm sau bốc mộ vẫn chưa mục. Các nhân viên của anh sẽ làm vài vòng taxi quanh phố cổ
Hà Nội rồi mang về cho mẹ một bộ áo dài ny lông, tất ny lông, giày giả da, khuyên, xuyến, kiềng
mạ vàng… tất cả đều made in China, nhập cảng không chính thức cửa khẩu Hữu Nghị. Ngày thứ
tư sẽ là ngày đưa tang, rất đông người đến dự, đông hơn ở Sài Gòn rất nhiều. Họ hàng, đồng
nghiệp, người quen của mẹ phần lớn ở Hà Nội. Phường, quận, thành phố, hội cựu chiến sĩ Việt
Minh, trường Sư phạm, Sở Giáo dục… sẽ đều cử đại diện mang vòng hoa tới viếng. Sân khu tập
thể suốt ngày nườm nượp người, nhà bạt hai mươi lăm mét vuông hết chỗ, anh Mai sẽ lại một lần
nữa thương lượng với phường và khu tập thể để kê thêm chục bộ bàn ghế nhựa trong sân, anh
cũng sẽ luôn miệng xin lỗi hàng xóm vì khách đưa tang, trong lúc leo bộ ba tầng thang gác lên
thắp hương cho mẹ, có lẽ vì mỏi mệt đã vô ý vặt trụi mấy chậu cây cảnh và để lại một đống rác
ngay đầu cầu thang gồm vỏ hương Chí Thành, lá chuối bọc hoa, giấy gói quà cúng… mà những
người giúp việc mới ở quê ra còn say xe chưa kịp quét dọn.
Nói chung đám tang của mẹ ở Hà Nội sẽ rất đông. Anh Mai
sẽ làm hết trách nhiệm của con trai trưởng. Anh sẽ sẵn sàng thuê vài xe buýt gắn điều hòa chở tất
cả khách dự ra nghĩa trang Văn Điển, rồi lại chở về Hà Nội. Anh sẽ chẳng ngại đội mũ rơm và
chống gậy. Mấy chục mâm tám bát tám đĩa của cỗ bàn Bắc Bộ anh cũng sẽ không tiếc. Nhưng
trách nhiệm nhà sản xuất điện ảnh nằm ngoài kế hoạch của anh, đơn giản vì mọi kịch bản mà anh
bỏ vốn đầu tư, làm đạo diễn (và bao giờ cũng giành đóng một vai), là để phục vụ công chúng Sài
Gòn, nơi thời điểm nào anh cũng có vài trăm căn hộ và biệt thự đang trong giai đoạn tìm người
làm chủ. Phục vụ công chúng Hà Nội thì anh được cái gì? Công chúng Hà Nội có hoan hỉ ngưỡng
mộ đám tang đáng tầm Hollywood của mẹ thì cũng hoan hỉ ngưỡng mộ từ xa, chứ đời nào chịu
vượt hai nghìn cây số vào tận Sài Gòn, gọi điện tới công ty của anh, nhất định đòi nhân viên bằng
mọi cách phải thu xếp cho gặp giám đốc để có thể nói trực tiếp với anh rằng họ đã có dịp theo dõi
đám tang yên tĩnh – lịch sự – có tổ chức của thân mẫu anh và vô cùng tự hào khi thấy rằng không
phải tất cả người Việt Nam đều chấp nhận thói quen ma chay ồn ào – dung tục – vô tổ chức, và
điều ấy chứng tỏ khả năng hội nhập thế giới của Việt Nam. Nhân dịp này, họ cũng muốn được anh
chỉ dẫn làm thế nào để trở thành chủ nhà hay làm thế nào để đầu tư vào bất động sản… Anh sẽ
mời họ lên xe và bảo tài xế riêng đưa đi thăm một số căn hộ và biệt thự, hoặc đã hoàn thiện hoặc
chuẩn bị xây. Vừa giới thiệu chi tiết, anh sẽ vừa ân cần chỉ bảo để giúp họ tìm được ngôi nhà
trong mộng phù hợp với hầu bao, để cái đống tiền bắt đầu cồng kềnh của họ được gom gọn lại
một cách có ý nghĩa. Trong lúc nói chuyện thế nào anh cũng tìm thời điểm thích hợp để kể về mẹ
một cách trân trọng, thêm vài chi tiết hài hước, ví dụ bà cụ không phải là người đề cao tiện nghi vật
chất, và từ lâu vẫn có thói quen leo ba tầng cầu thang khu tập thể Hà Nội, nhưng lại mê mẩn thang
máy, đến độ tìm mọi cách để sử dụng, sáng trưa chiều tối, thậm chí cả ban đêm (lúc cả nhà đang
ngủ say) bấm nút lên tầng thượng hóng gió, tưới hoa, tập thể dục. Người nghe sẽ càng thêm hoan
hỉ ngưỡng mộ một bà mẹ tuy đã cao tuổi và có vấn đề về sức khỏe (hẳn đây là nguyên nhân dẫn
tới cái chết) mà vẫn lạc quan yêu đời, không bao giờ làm phiền con cháu, mỗi ngày vài lần lên sân
thượng hóng gió, tưới hoa, tập thể dục dưỡng sinh. Câu chuyện cứ thế mà lan tỏa. Nói chung,
giữa những người lịch sự và có phương tiện thì mọi chuyện đều dễ chịu. Với họ, mua căn hộ sáu
buồng như người thường mua bao gạo sáu cân. Căn bản là tạo được niềm tin lẫn nhau. Đương
nhiên trong những câu chuyện kiểu này, không có một chữ nào cho tai nạn thang máy.
Tai nạn thang máy mãi mãi là một bí mật của những người trong nhà.
Thang máy Sài Gòn (3)
Paris
Thứ Hai. Cô nhìn căn phòng lần cuối trước khi tắt đèn. Phòng không có gì ngoài bàn ghế nhựa và một chiếc
bảng treo tường mà cô đã sử dụng bao lần cũng chẳng biết có bằng nhựa hay không. Trên bảng vẫn còn một
bài tập chép gồm một đoạn thơ ngắn của một bài thơ dài đã hiện ra trong trí nhớ của cô lúc nãy, khi cô chạy
từ bến tàu điện ngầm về đây, dưới một cơn mưa nặng hạt:
Anh vẫn tìm em qua chiều thứ Hai sạch
Qua đôi môi mời sạch
Qua Hồ Tây mây sạch
Qua nhà đôi ngồi sạch
Qua thơi thới ngày sạch
Qua đôi giày sạch
Tìm em
Cô đóng cửa phòng lại rồi theo cầu thang gỗ đi lên. Một buổi dạy tiếng Việt vừa kết thúc. Học trò là hai phụ
nữ lớn tuổi đã theo học từ ngày đầu mở lớp. Cả lớp bây giờ chỉ còn lại họ. Hôm nay, cô không muốn mở
sách giáo khoa, nhưng chưa biết dạy gì ngoài việc cho tập chép đoạn thơ trên. Sau khi chép xong, ba người
ngồi nhìn nhau. Rồi một trong hai học trò đề nghị thử dịch sang tiếng Pháp. Cô gật đầu. Thế là nửa giờ tiếp
theo, trong khi hai học trò đánh vật với hai cuốn từ điển Việt-Pháp dày như hai viên gạch, cô ngồi nhớ lại lần
đầu tiên đọc bài thơ này, đã bất ngờ thế nào trước sự giản dị của thơ ca. Lúc đó, cô vừa đặt chân tới Pháp,
ngày ngày ghé trung tâm tìm việc cho sinh viên nước ngoài, ngày ngày thất vọng ra về, thứ Hai nào cũng
nặng trĩu nước mưa. Lúc đó, cô đã thử viết truyện ngắn, tối tối ngồi gõ máy tính, gõ mãi gõ mãi vẫn thấy văn
chương là cõi mơ hồ.
Cô đứng dưới một mái hiên nhỏ trên vỉa hè, cách cửa hàng mỹ nghệ mấy số nhà. Ra khỏi lớp tiếng Việt, cô
đã định chạy một mạch tới bến tàu điện ngầm, nhưng mưa càng to thì đường càng trơn. Mới hơn tám giờ tối
mà trung tâm thành phố đã vắng tanh. Từ căn hộ sau lưng, vọng ra một giọng nam ồm ồm: “Maria, anh ngàn
lần xin lỗi em!”. Tiếp theo là một đoạn nhạc ẻo lả, rồi một giọng phụ nữ cũng ẻo lả cất lên: “Octavio, anh
không bao giờ có thể tưởng tượng em đã đau khổ thế nào, những ngày vắng anh”. Tiếp theo nữa là một đoạn
nhạc ẻo lả khác, rồi có tiếng sụt sịt, hình như của cả đàn ông lẫn đàn bà… Cô ngước nhìn tòa nhà bên kia
đường, cửa kính các căn hộ tầng một và tầng hai loang loáng màn hình vô tuyến, đối diện là mấy cái bóng
ngồi bất động. Ngay buổi học đầu tiên, một học trò đã cảnh báo rằng tối thứ Hai thường có phim hay, và đề
nghị cô đổi lớp học sang ngày khác trong tuần. Vì cô lắc đầu nên sau hai buổi, anh ta tự động biến mất. Tối
hôm đấy, giở chương trình vô tuyến cả tuần ra xem, cô không thể không giật mình, ngày thường chẳng trò
giải trí nào cạnh tranh nổi vô tuyến truyền hình nữa là tối thứ Hai: tối thứ Hai vô tuyến truyền hình cạnh
tranh lẫn nhau, thế nên khán giả tha hồ chọn phim. Và cũng từ đấy, cô thấy có cảm tình hơn với những học
trò đến lớp vào tối thứ Hai. Ít ra thì họ cũng không dễ trở thành nạn nhân của vô tuyến truyền hình. Nhưng số
ấy ngày càng mai một. Đầu tháng Chín vừa rồi, cô phải nằn nì rất lâu thì bà Wang mới không hủy buổi học
tối thứ Hai. Cô có cảm giác chấp nhận điều ấy có nghĩa là chính cô đã chấp nhận đầu hàng vô tuyến truyền
hình.
Lớp tiếng Việt của cô mở ra cách đây hai năm, đầu tiên bà Wang chỉ muốn tận dụng cái tầng hầm bỏ không
của cửa hàng mỹ nghệ, nơi cô một tuần vài ngày làm nhiệm vụ bán hàng. Giá thuê nhà nghe nói là đắt cứa cổ
trong khi đồ châu Á thời điểm đó đã bắt đầu hết mốt. Bà Wang bao giờ cũng tỏ ra là người sòng phẳng, ngay
lần gặp đầu tiên đã giao hẹn: “Bán hàng, dạy học, nghỉ buổi nào trừ lương buổi ấy, nghỉ nửa buổi trừ nửa
buổi”. Cô vào dạy được một thời gian, thấy trên cửa kính dán áp phích quảng cáo dạy tiếng Hoa. Sau khi dọn
dẹp mươi cái lọ độc bình nhái đời Khang Hy, bà Wang cũng tạo được một góc học trong chính cửa hàng mỹ
nghệ. Không ngờ nhu cầu tiếng Hoa lớn gấp mấy lần tiếng Việt, học trò tới đông đến nỗi ngồi cả vào dãy ghế
khảm trai bày bán cạnh đấy mà vẫn không hết. Bà Wang nghĩ ngay tới việc mở thêm lớp, chiêu thêm trò.
Mỗi tuần hai tối cô tới dạy, tối nào cũng thấy có một lớp tiếng Hoa ngay trên đầu. Nghe nói các tối khác
trong tuần đều chật cứng. Thỉnh thoảng nếu cô và giáo viên tiếng Hoa có bất ngờ gặp nhau thì chỉ dừng lại
chào một câu. Chẳng ai biết tên ai. Quan hệ không có gì đặc biệt. Tiếng ồn vẫn còn ở mức độ chấp nhận
được, trừ những khi lớp trên kia học hát, và chỉ độc một bài “Đông phương hồng, mặt trời lên, hu ớ hai da”.
Lúc này, bước trên vỉa hè nhớp nháp nước mưa, cô lại nghĩ từ bây giờ trở đi, tối thứ Hai cô sẽ không bao giờ
còn bị bài « Đông phương hồng » ấy ám ảnh. Cũng chẳng còn dịp nào để hỏi “hu ớ hai da” nghĩa là gì. Học
sinh cả tiếng Việt lẫn tiếng Hoa của thứ Hai đang lần lượt đầu hàng vô tuyến truyền hình. Lớp tiếng Việt chỉ
còn hai phụ nữ lớn tuổi. Lớp tiếng Hoa hôm nay vắng đến nỗi giáo viên đã quyết định cho nghỉ ngay từ đầu.
Học hát đã thuộc về quá khứ. Hai phụ nữ lớn tuổi không biết còn trụ được bao lâu?
Cô quay đầu tìm xem họ có đứng tránh mưa dưới một mái hiên bên cạnh. Nhưng cả một đoạn vỉa hè chỉ còn
lại những thân cây tối om.
Thang máy Sài Gòn (4)
Sài Gòn
Có lẽ để kịch bản được trọn vẹn Hollywood từ A tới Z, khi mộ của mẹ được đậy nắp và phủ kín hoa, anh
Mai mời tất cả đi ăn một “bữa cơm giản dị” với gia đình. Tới nơi mới biết là tiệc đứng, năm mươi món, có cả
món chay, có cả rượu chát và sâm banh, đặt trước ở tầng thượng một khách sạn năm sao nhìn xuống bến
Bạch Đằng.
Mọi người nhanh chóng đứng thành nhóm, không hiểu cớ gì mà chia theo tuổi. Nhóm phụ lão dường như
vẫn chưa hết xúc động, chỉ im lặng nhìn nhau. Nhóm trung niên thì thầm được mươi phút, một cặp trèo lên
lan can sân thượng, áp người lại, dang tay vươn cổ ra sông Sài Gòn, tóc gió bay bay, diễn Titanic, có lẽ chưa
hết bị Hollywood ám ảnh. Nhân viên khách sạn hốt hoảng chạy ra, tưởng khách hàng định tự tử tập thể theo
mốt Hàn Quốc thời thượng. Nhóm thanh niên ré lên cười. Một thằng đẹp trai cởi cà vạt ném xuống sông.
Mấy thằng khác ném theo. Có thằng còn tụt cả tất ra ném. Lơ mơ em nghĩ may mà những phút cuối, máy
quay phim không ngừng chĩa ống kính vào cổng nghĩa trang (hẳn được coi là một cảnh chính trong phim),
nên các diễn viên không chuyên leo lên xe vẫn tiếp tục nhu mì và tận tụy, mấy chục tay lái cùng nổ máy một
lúc mà anh Mai không một lần phải nhờ tới công an phường. Nhờ tới công an phường thì kịch bản mất mấy
chục phần trăm Hollywood.
Anh Mai liên tục rót sâm banh cho mọi người, rồi rót cho chính mình, vài lần rót cả cho em. Không khí trong
phòng vừa trang nghiêm vừa nhộn nhạo. Thằng đẹp trai lúc nãy đề nghị bật nhạc nhảy. Anh Mai bảo nhân
viên khách sạn mang thêm sâm banh, rót cho nó một ly đầy, rồi dẫn ra tận buffet gợi ý ăn chút gì đấy cho ổn
bụng. Nhưng thằng này làm ra vẻ không hiểu, anh Mai quay lưng đi, nó lao đến chỗ mấy thằng bạn, lập tức
có tiếng thủy tinh loảng xoảng. Cặp trung niên trèo lên lan can sân thượng lúc nãy bây giờ quỳ gối dưới sàn,
dựa lưng vào nhau, ngửa cổ, tóc gió vẫn bay bay, rất phim truyện tình cảm lãng mạn, nhu cầu diễn hình như
vẫn còn nhiều.
Giữa buổi, một phụ nữ vận váy ngắn màu đen tiến lại, đặt tay lên vai anh Mai, rồi quay về phía em bảo: “Em
gái từ Pháp về chơi sao không giới thiệu?”. Em định đính chính rằng tuần trước em và thằng Mike lấy xe
buýt ra sân bay Roissy, bay chuyến sớm nhất về Sài Gòn, không phải để chơi mà để đưa tang mẹ, nhưng lại
thôi. Thâm tâm em thấy mình cũng như những người khác, đến đám tang mẹ chỉ để diễn, xét cho
cùng diễn cũng là một kiểu chơi, cái này tiếng Anh tiếng Pháp đều công nhận.
Anh Mai kéo tay người phụ nữ để lên bàn, đặt vào một ly sâm banh rồi quay về phía em bảo: “Đây là miss
Diễm Lan, nhân vật đặc biệt của bất động sản Sài Gòn”. Em gật đầu, lúc này mới thấy bên dưới váy ngắn
đen là đôi tất dài trắng toát, còn dưới đôi tất dài trắng toát là đôi giày cao gót cũng trắng toát. Biết em nhìn,
Diễm Lan ngả hẳn vào người anh Mai, bàn tay đặt trên bàn hóa ra cũng sơn móng trắng, may mà điểm thêm
mấy hạt kim nhũ lấp lánh. Em làm một ngụm sâm banh, không biết có đủ say, nhưng bỗng thấy tầng thượng
tối sầm, mấy thằng thanh niên lần lượt biến mất, Diễm Lan khập khiễng trên đôi chân bó bột, mười móng tay
giống hệt mười con đom đóm bay lượn vui vẻ, lúc sà vào ngực anh Mai, lúc lại trốn xuống gầm bàn.
Anh Mai nhìn em nheo mắt bấm điện thoại. Ngay lập tức hai nhân viên nam chạy đến, cả hai dìu em xuống
tầng trệt, ra tới cửa đã thấy xe sáu chỗ đỗ sẵn, tài xế riêng của anh Mai ngồi sau vô lăng. Bà giúp việc chạy
theo, cũng đang say sâm banh, muốn về nhà uống nước khổ qua để giã rượu. Thằng Mike chạy sau cùng, tự
leo lên ghế, sâm banh không say, nhưng thắc mắc “khổ quá” là nước gì nó có thử được không. Chẳng ai trả
lời. Có lẽ vì không hiểu câu hỏi.
Đường nhựa chói chang. Mặt trời chói chang. Lá cây trắng xóa. Em nhắm mắt lại, đầu ong ong, tự nhủ làm
sao trong vòng nửa tiếng đồng hồ mà Diễm Lan đã kịp thay tất trắng, giày trắng, sơn móng tay trắng và rất
có thể cả móng chân trắng cũng nên, cái này không biết anh Mai có rõ.
Xe cứ đi được một đoạn lại dạt vào vệ đường, tài xế riêng của anh Mai bảo: “Đánh bỏ mẹ cái bọn miền Lam
đéo biết lái xe”. Anh Mai thuê nhân viên đều dân gốc Bắc, cả bà giúp việc, xấp xỉ lục tuần, cán bộ phụ nữ
nhà máy sứ Hải Dương mà lưu lạc vào đây lau nhà rửa bát cho anh Mai, mỗi lần xe dạt vào vệ đường là đưa
tay chặn ngực, đòi nhảy xuống bắt xe ôm. Tài xế riêng không nói gì, kính râm gườm gườm, rất ra dáng đất
cảng Hải Phòng. Yên lặng đến nỗi nghe thấy cả tiếng điều hòa rầm rì.
Thằng Mike tự dưng bảo tối nay cho nó ngủ cùng phòng, nó “sợ” ngủ một mình lắm. Em nhìn sang bà giúp
việc, lại nhìn lên tài xế, vẫn chỉ thấy kính râm gườm gườm. Từ hôm mẹ mất, hình như người lớn trong nhà
tránh dùng từ “sợ”. Nhà anh Mai, hôm em và thằng Mike đi, chưa kịp đếm xem tổng cộng bao nhiêu phòng.
Nhà anh Mai, hôm em và thằng Mike về, anh Mai bảo bà giúp việc dọn cho hai phòng riêng, phòng nào cũng
có buồng tắm và toa lét, ở giữa là một hành lang rộng, nên cách biệt hoàn toàn. Có lẽ vì thế mà thằng Mike
“sợ”. Em im lặng. Bà giúp việc im lặng. Tài xế giơ tay bấm nút play. Quang Dũng hát: tuổi nào nhìn lá vàng
úa chiều nay, tuổi nào ngồi hát mây bay ngang trời, tay măng trôi trên vùng tóc dài…
Xe mấy lần loạng choạng. Có lẽ lái xe ngủ gật, nhưng không ai phát hiện ra, vì đeo kính râm và không có
tiếng ngáy, dân đất cảng nổi tiếng lắm biệt tài. May mà cảnh sát giao thông giờ này cũng tranh thủ ngủ trưa.
Và đường Sài Gòn nói chung là thẳng, ít cây xanh và vỉa hè nhỏ. Ba mươi tuổi, đám tang mẹ là dịp đầu tiên
để em đặt chân tới Sài Gòn. Gọi điện vào máy cầm tay của em, anh Mai bảo: “Paris-Saigon khứ hồi, hết bao
nhiêu anh sẽ hoàn lại”. Em im lặng. Anh Mai bảo tiếp: “Đi hai người, anh sẽ hoàn hai vé”. Nói xong, anh bỏ
máy, để em suốt đêm thắc mắc ngoài sự tồn tại của thằng Mike, anh còn biết những gì về em.
Xe vượt qua tòa nhà trắng phau của khách sạn Rex, làm một vòng bùng binh Nguyễn Huệ. Ba giờ, ba mươi
chín độ, không mây, độ ẩm 83%, lặng gió. Gặp đường Lê Thánh Tôn rẽ trái, cũng về được đến cánh cổng
sơn đen nhà anh Mai. Em phải cù vào cổ, thằng Mike mới chịu mở mắt chui ra, vừa ngáp vừa hỏi nước «khổ
quá» đâu. Chẳng ai trả lời. Có lẽ vì vẫn chưa hiểu câu hỏi.
Mặt trời chói chang. Lá cây trắng xóa. Thằng Mike đứng giữa sân. Tóc nó vàng hoe. Mắt nó xanh biếc. Ngày
nó mới đẻ, ở vườn Luxembourg, người Paris hỏi em có phải là vú nuôi của nó. Cách đây ba hôm, trong Công
viên Đầm Sen, người Sài Gòn hỏi em có phải là ô-sin của bố mẹ nó. Thằng Mike năm tuổi thì đặt chân tới
cửa khẩu Tân Sơn Nhất. Quốc tịch chưa có, hộ chiếu chưa có, mỗi tấm ảnh 3×4 dán vào trang áp cuối hộ
chiếu của em. Tên bố không có, họ bố không có, giấy khai sinh của nó phần bố bỏ trống, phần mẹ là em, họ
là họ em, tên là Mike, đọc theo kiểu Pháp thành “mích”, đọc theo kiểu Anh-Việt thành “mai”. Mẹ chưa bao
giờ gặp nó để em được biết giáo viên tiếng Pháp Sư phạm Hà Nội gọi nó theo kiểu Pháp hay kiểu Anh-Việt.
Anh Mai đón hai mẹ con ở chân máy bay, gọi nó là Mai-kơn, ngay lập tức nhân viên của anh đồng loạt gọi
nó là Mai-kơn Jắc-xơn, bà giúp việc vừa rán nem vừa bảo cho thằng Ních-xơn ăn nem để thằng Ních-xơn
không đánh bom phá hoại miền Bắc, để nhân dân miền Bắc hoàn thành chủ nghĩa xã hội. Thằng Mike hỏi
chủ nghĩa xã hội là món gì, có thử được không. Ai cũng bật cười. Cái Ngọc đòi nghỉ học ở nhà đi chơi Đầm
Sen và xem phim Hồng Kông với em Mike. Trong nhà mỗi nó là gọi đúng tên thằng Mike, nhưng mỗi thằng
Mike là gọi sai tên nó. Không thành « gọc » thì lại thành « nọc ». Mọi người lại có dịp cười.
Anh Mai sáng nào cũng cầm một phong bì đô la ghé bệnh viện quốc tế trả tiền phòng tang lễ cho mẹ, sau đó
về đưa cả nhà đi ăn sáng ở khách sạn, rồi cả nhà lại đưa cái Ngọc tới trường mẫu giáo Việt-Úc. Bà giúp việc
cũng được đi cùng, nhưng hỏi ăn gì thì không dám nói, cuối cùng nằng nặc ăn thừa của thằng Mike và cái
Ngọc. Còn tài xế thì bao giờ cũng ngồi lại trông xe, gọi là ngồi chứ thực ra là nằm, trên băng ghế sau cùng,
nghe Quang Dũng hát “Còn tuổi nào cho em”, chưa tới nửa bài đã ngủ mất, hỏi ăn gì để cho người đem ra thì
nhất định bảo đã ăn sáng ở nhà. Anh Mai lắc đầu. Anh không thể phục vụ điểm tâm cho chục đội công nhân
xây dựng và hai chục nhân viên văn phòng. Ở nhà anh Mai một tuần, em biết mặt vài nhân viên mà anh Mai
vẫn gọi điện thoại (vì chiếc mũ màu đen của em, vì món kem sô cô la của thằng Mike, vì chiếc va li gãy bánh
của cả hai mẹ con, và vì nhiều thứ không sao nhớ nổi…), và tất nhiên tài xế riêng của anh, kè kè bên anh từ
sáng tới tối, kính râm gườm gườm, được cái ít nói, chỉ thỉnh thoảng mở mồm khoe giọng Hải Phòng.
Buổi sáng đầu tiên sau đám tang mẹ, anh Mai bảo hôm nay chiêu đãi cả nhà cao lâu. Trước khi đi, anh gọi
điện tới trường mẫu giáo Việt-Úc xin cho cái Ngọc được nghỉ thêm một ngày nữa, vẫn lý do đưa tang bà nội.
Anh cũng hứa tặng ban giám hiệu một CD sáu mươi phút song ngữ. Bên kia có tiếng cười to, có vẻ đã quá
quen với các tác phẩm điện ảnh của đạo diễn Mai Nguyễn. Cái Ngọc và thằng Mike nằn nì đòi mặc lại tang
phục hôm qua, cho giống diễn viên điện ảnh Hồng Kông. Em lắc đầu. Anh Mai im lặng, lúc sau bấm điện
thoại bảo nhân viên gọi thợ may đặc biệt, đặt cho cả nhà mỗi người một bộ màu trắng, cứ kiểu và số đo cũ
mà áp dụng. «Giá cả không thành vấn đề, nhưng bốn tám tiếng nữa nhất định phải xong!».
Xe dừng lại trước một quán ăn ba tầng cũ kỹ, cây cổ thụ rất to trước cửa che gần hết một bảng hiệu màu đỏ,
trên có mấy dãy chữ Hoa màu đen đã tróc sơn. Cửa xe vừa mở, mùi thơm nồng nặc xông vào. Nhìn ra góc
đường, mới thấy biển đề Hải Thượng Lãn Ông, nổi tiếng là phố thuốc bắc của Chợ Lớn. Một thanh niên tóc
dài chạy ra nhìn anh Mai chào nỉ hảo, bắt tay lái xe ra hiệu đỗ ngay trên vỉa hè, rồi quay về phía em cười hỏi:
“Hà Nội a?”. Em không nhớ đã gật hay lắc, chỉ nhớ anh ta quay sang anh Mai, vừa nháy mắt vừa nói một
tràng tiếng Hoa. Anh Mai đỏ mặt lắc đầu. Xe đỗ xong, nửa trước trên vỉa hè, nửa sau dưới lòng đường, ở
giữa có dòng nước cống chảy róc rách, bên cạnh là gánh hàng của một ông già mũ phớt, ngồi ghế đẩu, không
hiểu bán gì mà có hai thùng to đen và một cái nồi sùng sục trên hỏa lò than. Tài xế gườm gườm đi xuống mở
cửa xe. Bà giúp việc lao ra đầu tiên, ọe một bãi trắng phau xuống cống. Hai đứa trẻ lao theo. Thanh niên tóc
dài thoáng thấy mái tóc vàng hoe của thằng Mike thì tái mặt, liếc sang anh Mai anh Mai đi thẳng, liếc sang
em, em ngó đi chỗ khác, cuối cùng liếc sang bà giúp việc, bị bà giúp việc lườm cho một cái cháy má. Thằng
Mike thản nhiên cầm tay cái Ngọc đi vào. Một tuần ở Sài Gòn nó cũng kịp học vài điều hay ho.
Mặt tiền hẹp, càng vào sâu càng ngoằn ngoèo, ánh sáng lờ mờ tựa mê cung. Trong mê cung ấy em tưởng
tượng hàng trăm con người đang ăn uống nấu nướng vui vẻ, toàn những món những vị không có trong tiếng
Việt, không ai buồn biết tới cả thang máy lẫn tai nạn thang máy. Người ta vẫn bảo Hoa kiều coi tiện nghi là
phù phiếm, coi ẩm thực là trọng sự. Anh Mai một tay dắt cái Ngọc, một tay dắt em, em dắt thằng Mike,
thằng Mike lại nắm tay bà giúp việc. Cả nhà một hàng ngang năm người bám vào nhau. Đi dưới đất đã khó,
lúc leo cầu thang còn khó hơn. Loạng chà loạng choạng, mấy lần suýt ngã. Đi qua một loạt phòng ăn thông
thống, ám khói và thấp tè, cuối cùng cũng đặt chân được vào một phòng trần cao, tường trắng, cửa sổ buông
rèm. Em chợt nghĩ có khả năng trước đám tang mẹ một hôm, mặc dù rất bận, anh Mai đã bấm điện thoại bảo
nhân viên gọi điện đặt một phòng « đặc biệt » trần cao, tường trắng, cửa sổ buông rèm. Rồi có thể trước khi
đặt máy, anh cũng nói câu này: « Giá cả không thành vấn đề, nhưng bốn tám tiếng nữa nhất định phải
xong !”
Em nhìn anh Mai. Anh Mai nhìn vào góc phòng, góc phòng có mấy ngọn xanh uốn hình lò xo, phương Đông
gọi là cây phát tài, trồng trong chậu đất, phương Tây gọi là lucky bambou, trồng trong lọ nước, cây của em
ốm yếu vàng hoe có lẽ đang khô cong bên cạnh một cửa sổ nhìn ra đồi Montmartre.
Cả nhà ngồi xuống năm chiếc ghế, lưng ghế khảm trai, khắc hình đôi chim sẻ tha mồi về tổ. Cái Ngọc và
thằng Mike quay lại nhìn nhau, kêu chiêm chiếp. Bà giúp việc mặt tái xanh, chạy ra ngoài tìm toa lét mấy
lần, bây giờ ngồi tại chỗ ôm ngực, cổ họng giật cục liên tục. Hai đứa trẻ bắt đầu kêu đói. Nhân viên phục vụ
mang ra một mâm gỗ, trên đặt năm bát sứ, mỗi bát là một con gia cầm hồng hồng, mắt nhắm nghiền, nằm
trong một chất nước sanh sánh.
Thằng Mike nhìn em. Em nhìn cái Ngọc. Cái Ngọc nhìn anh Mai. Anh Mai mỉm cười. Nhân viên phục vụ
cũng mỉm cười: “Xin mời xơi yến huyết cho nóng”.
Hai đứa trẻ òa lên khóc, bảo không ăn chim sẻ, rồi nhất định đứng lên đòi về. Nhân viên phục vụ vẫn mỉm
cười, chỉ thằng Mike bảo: “Bạch tạng ăn yến huyết là phải lắm”.
Thằng Mike không phản ứng, có lẽ không hiểu cả bạch tạng lẫn yến huyết là gì, nhưng cái Ngọc vớ chiếc
đũa trên bàn đòi chọc mù mắt nhân viên phục vụ. Dù thế nào cũng phải công nhận từ vựng Hán-Việt của nó
phong phú hơn nhiều so với các trẻ em cùng tuổi, học được ở trường mẫu giáo quốc tế chắc là không, nhưng
nhiều phần trăm là nhờ điện ảnh Hoa ngữ. Ngay sau đó, em phải cùng bà giúp việc lao tới giữ tay nó lại.
Nhân viên phục vụ đặt mâm gỗ lên bàn, chạy ra khỏi phòng, vừa chạy vừa lấy hai tay che mắt.
Hai đứa trẻ tiếp tục khóc đòi về. Anh Mai đành đứng lên giải quyết. Anh gọi cho cái Ngọc món phở xào, gọi
cho thằng Mike món nem rán. Nhà hàng phải cử người mang cặp lồng đi xe máy cả cây số mới mua được.
Chợ Lớn chỉ phục vụ món Hoa. Thanh niên tóc dài lúc nãy xung phong đi mua, mua xong lại mang lên tận
phòng, xoa đầu thằng Mike khen đẹp trai như tài tử Brad Pitt, không biết có phải để chuộc lỗi.
Trong lúc đợi, cái Ngọc vẫn chưa nguôi cơn giận, tay lăm lăm chiếc đũa, rình nhân viên phục vụ vào để chọc
cho mù mắt, nhưng sau nửa tiếng đói lả, vừa ngửi thấy mùi phở xào đã quên hết. Nhân viên phục vụ lại được
dịp hỏi cả nhà có nhu cầu thưởng thức cổ nhạc, yến huyết mà kèm cổ nhạc mới là sành điệu. Thằng Mike hỏi
“cổ nhạt” là món gì, có thử được không. Em và anh Mai cùng cười.
Bà giúp việc bưng bát húp một miếng, than ngày mai có chết cũng thỏa lòng. Em ăn thử một thìa thấy thơm
thơm, tanh tanh, nhưng có vẻ cũng không hơn bồ câu tần ở ngõ Cấm Chỉ. Bồ câu tần, em nếm một lần, lâu
lắm rồi, trước ngày đi Pháp.
Cuối cùng anh Mai và bà giúp việc mỗi người ăn hai bát, vì phải ăn thêm suất của thằng Mike và cái Ngọc.
Trên đường về nhà, anh Mai vẫn không nói gì, thỉnh thoảng lại mỉm cười. Sáng nay, anh không mặc com lê
màu ghi sáng mà mặc quần jeans và áo cá sấu kẻ ngang. Bốn mươi lăm tuổi, anh vẫn còn phong độ. Hai lần
ly dị và một vị trí đặc biệt trong thị trường bất động sản Sài Gòn. Mười lăm năm trước, anh cao lòng khòng
và đi xe cuốc. Chưa một lần lấy vợ và dạy hợp đồng toán-lý trường đại học Cần Thơ. Mười lăm năm, hai anh
em không gặp nhau. Em không thể không nhớ tới câu hỏi từng khiến em một đêm mất ngủ: ngoài sự tồn tại
của thằng Mike, anh Mai còn biết những gì về em?
Thang máy Sài Gòn (5, 6)
5
Paris
Tòa nhà bảy tầng, hai cánh cổng màu xám, kiên cố như một nhà tù.
Đồng hồ đeo tay chỉ số 15. Đã một tiếng trôi qua kể từ lúc Paul Polotski biến mất sau hai cánh cổng màu
xám. Cô không biết ông ta vào căn hộ nào, để gặp ai và sẽ còn ở lại bao lâu. Tất cả những gì mà cô có thể
làm được là đi theo đối tượng.
Hôm nay, Paul Polotski không ra vườn hoa ngồi đọc báo như mọi khi. Hết giờ lên lớp, từ cổng trường, ông ta
bất ngờ đi về phía bến tàu điện ngầm, với một tốc độ chóng mặt. Cô vội vàng theo sau. Đối tượng của cô
dường như càng đi càng nhanh, khiến cô phải đánh vật với một đoàn khách du lịch Bắc Âu lừng lững, vài
mét dừng lại chụp ảnh một lần. Tim đập loạn xạ, cô cảm giác như trước mắt hiện ra một con người khác.
Polotski tỏ ra thuộc đường như lòng bàn tay. Ông ta thoăn thoắt xuống tàu điện ngầm, đi vài bến lại đổi, qua
những hành lang dài với rất nhiều ngã rẽ, chưa lần nào dừng lại tìm bảng chỉ đường. Phần lớn thời gian cô
phải nín thở mới không bị bỏ rơi. Tới bến cuối của đường số 4, khi tàu vừa dừng, ông ta bước ngay ra ngoài
và nhanh chóng lướt vào một hành lang nhỏ dẫn tới một hành lang nhỏ hơn nữa, chưa đầy phút sau đã lên tới
mặt đường, rồi lại cắm cúi bước, còn nhanh hơn cả lúc nãy, dường như được thôi thúc vì sắp tới đích.
Thế nên cô hốt hoảng khi ông ta đột ngột giảm tốc độ lúc đi qua cầu sắt. Cầu vắng tanh. Trời 39° mà sống
lưng cô đẫm mồ hôi lạnh. Nếu Polotski quay đầu, thế nào cũng phát hiện bị theo dõi ngay sau lưng. May mà
ông ta chỉ bước chậm hơn để nhìn ra xa, về phía những khu nhà cao tầng nứt nẻ giữa nắng hè. Dưới kia là xa
lộ nườm nượp mấy làn xe. Một xe tải khổng lồ của siêu thị Hoa kiều lảo đảo dạt vào vệ đường. Đến gần đầu
cầu bên kia thì Polotski dừng hẳn lại, đặt cặp và áo khoác trên lan can. Cô đã ngờ sẽ còn phải đợi lâu thì đối
tượng thình lình cúi xuống lôi ra một cặp kính râm thay thế cặp kính to bản, đưa tay vuốt tóc và tiếp tục lên
đường. Buổi tối về nhà, giở bản đồ, cô mới hay cầu sắt là ranh giới giữa Paris và thị trấn nhỏ có tên
Montrouge. Đấy là lần đầu tiên cô đặt chân ra ngoại ô phía Nam.
Một tiếng tiếp theo ngắn hơn nhờ chị gác cổng. Chị gác cổng theo bố mẹ sang Pháp từ nửa thế kỷ trước, nói
tiếng Việt giọng Thanh Hóa. Chị đuổi theo đứa con gái út không thành, bèn đem nỗi sầu trút cả vào cô lúc ấy
đang đi lại bên ngoài đợi Polotski.
– “Vì chúng tôi quen miệng gọi nó là “công chúa An Nam”, nên nó mắc bệnh hoang tưởng. Nó nào biết để
có thể trả cho nó tiền váy áo, tiền học ba lê và đàn tam thập lục, ngoài giờ gác cổng tôi phải tắm rửa cắt
móng tay cho cả chục phụ lão trong khu, bố nó thì hằng ngày hết mười tiếng lắc chảo ở quán chính lại lắc
thêm vài tiếng nữa ở quán phụ, thứ Bảy và Chủ nhật tiếp tục lắc, để đóng hộp phục vụ khách hàng siêu thị.
Nó nào biết chúng tôi đã mượn tiền của ngân hàng và người quen, nhưng thay vì mua một căn hộ tử tế thì
mua một Mercedes mui trần để chở nó đến trường và đi đây đi đó. Nó chỉ thích ra khỏi nhà vì cứ rời căn
phòng chật hẹp thiếu ánh sáng nhưng thừa mùi mì xào, mặc một bộ váy lụa trắng đính ngọc trai, ngồi lên ghế
sau của Mercedes mui trần là nó trở thành công chúa. Ở cổng trường, ở cửa hàng quần áo, ở các lớp học
thêm, người ta nhìn nó ngưỡng mộ, người ta tưởng chúng tôi là ô-sin và tài xế của bố mẹ nó. Càng lớn bệnh
hoang tưởng của nó càng trầm trọng, tới độ nó ngờ rằng đã bị bắt cóc khỏi hoàng cung từ lúc mới đẻ và kẻ
chủ mưu chính là chúng tôi. Đầu năm nay nó bắt cả nhà đi thử ADN”.
– Vô lý không?
Chị gác cổng nói xong phải đập vào vai, cô mới gật đầu. Câu chuyện kỳ quặc, cô nghe không bỏ sót từ nào,
nhưng đúng lúc chị ta đặt câu hỏi thì hai cánh cổng xám đột ngột mở toang và một nhóm cán bộ hưu trí xuất
hiện, người xách túi du lịch, người kéo va li. Hai chiếc mini buýt màu bạc nối đuôi nhau lao tới. Cả bọn nhí
nhảnh bước lên, sau một hồi bắt tay vỗ vai, hẹn ngày tái ngộ. Cô phải căng mắt nhìn xem Paul Polotski có
nằm trong số đó. Cô chỉ gật đầu với chị gác cổng khi hai chiếc mini buýt bạc phóng vút đi, để lại hai đám
khói cũng bạc. Vừa gật, cô vừa nghĩ có thể trong mấy phút nhộn nhạo mới đây, đối tượng của cô đã kịp rời
khỏi khu nhà lúc nào mà cô không hay và bây giờ đang mải mê đếm bước trong một hành lang vô tận của
một bến tàu điện ngầm nào đó. Chị gác cổng thì ngược lại, không để ý tới cả nhóm người lẫn hai chiếc mini
buýt, tiếp tục than vãn đứa con gái út giờ đây liên tục bỏ học đi hoang. Lý luận của nó thế này: vợ chồng chị
từ chối thử ADN chẳng qua vì sợ bị phát giác.
-Vô lý không?
Cô gật đầu nhưng chỉ được nửa chừng: hai cánh cổng xám lại đột ngột mở toang, từ trong ào ra năm sáu đứa
trẻ. Cổng chưa kịp khép lại, lồ lộ hiện ra cái dáng lòng khòng của Polotski, đôi kính râm vẫn ngự giữa mặt.
Không uể oải như mọi khi, cũng không thoăn thoắt như cách đây mấy tiếng, đối tượng của cô tay xách cặp,
tay khoác vai một phụ nữ cũng lòng khòng không kém, mặc váy dài, khuôn mặt giấu kỹ dưới chiếc mũ rộng
vành khổng lồ. Nhờ cái mũ này mà cô tìm ra họ mười phút sau, khi cả hai đã đi tới giữa phố và rơi vào đoàn
người chuẩn bị sang đường. Mười phút ấy, cô nhấp nhổm, vừa tỏ ý muốn bỏ chạy là bị ngay những giọt nước
mắt to tướng của chị gác cổng giữ lại. May mà « công chúa An Nam » bỗng dưng xuất hiện. Lướt qua khuôn
mặt xanh như nhái bén của nó, cô cúi đầu bước thật nhanh, được một đoạn thì nghe tiếng gào Thanh Hóa.
Không quay đầu, cô cũng biết chị gác cổng lại tóm trượt con bé.
Khu trung tâm với hai dãy cửa hiệu nằm dọc hai vỉa hè. Không xa là một tháp chuông nhà thờ bé như đồ
chơi trẻ con. Mùa hạ giá đã lên đến đỉnh điểm, đường phố hỗn loạn chân và mùi. Lúc này, Polotski không đi
cạnh người phụ nữ mà bước ngay sau lưng bà ta. Hai cái dáng lòng khòng cứ vừa đi vừa trò chuyện như giữa
chốn không người. Nhưng cô chẳng nghe được từ nào do không khí ồn ào và người phụ nữ nói giọng rất
khàn, khò khè nơi cổ họng, tới độ nhiều khi chính Polotski muốn nghe cũng phải ghé sát tai vào chiếc mũ
rộng vành. Ông ta liên tục gật cặp kính râm và mấp máy môi, cũng không thành tiếng. Cô không rõ người
phụ nữ có nghe thấy gì không. Rồi cô lại nghĩ có thể bà ta bị điếc cũng nên vì chẳng thấy bà ta gật hay lắc.
Cuối cùng, để đỡ mỏi chân, cô tưởng tượng ra một chuyện tình lãng mạn, kiểu tiểu thuyết thế kỷ mười chín.
Bộ váy dài, chiếc mũ rộng vành, tháp chuông nhà thờ, cặp kính râm, chàng và nàng … cũng khiến hai bàn
chân cô nguôi ngoai được vài phút.
6
Paris
Ở phía sau hay ở bên trái, cô luôn cố giữ khoảng cách một mét và để đánh lạc hướng, vừa đi vừa nhìn ngó
như khách xem hàng. Được thêm mười lăm phút, cô chán ngấy, quyết định tiến lại gần và đã có lúc đứng sát
hai đối tượng khi người phụ nữ dừng chân trước một tiệm bán mũ, Polotski cũng cum cúp dừng theo. Ngoẹo
đầu ngó khuôn mặt bà ta trên chiếc gương lắp trong tủ kính, cô bị ánh nắng cuối ngày hắt thẳng vào mắt,
nhưng bù lại, đã nghe được mẩu hội thoại sau đây:
– Lần nào qua cửa hàng, em cũng nhìn chiếc mũ này. Bao nhiêu năm rồi, nó vẫn nằm trên giá như đợi em.
Em không hiểu tại sao đẹp như thế mà nó không được người nào mang đi.
– Sao em không bao giờ nói cho anh biết là em thích chiếc mũ này? Em còn giấu anh nhiều điều nữa phải
không?
– Anh thấy đấy, tất cả đều quá muộn. Chiếc mũ đã không còn hợp với tuổi của em nữa. Những chuyện khác
giờ đây anh có biết thì cũng giải quyết được gì cơ chứ.
Polotski ngừng nói và cô thấy thất vọng về những câu vơ vẩn giữa hai nhân vật. Rồi cô nghe tiếng ông ta thở
hồng hộc. Người phụ nữ có vẻ muốn nói thêm nhưng cuối cùng chỉ quay lưng bước sang tủ kính cửa hàng
bên cạnh. Polotski cúi đầu bước theo, tiếng thở cũng chẳng vì thế mà nhẹ nhàng. Cô lại cố giữ với hai đối
tượng khoảng cách một mét, không dám thay đổi tốc độ vì sợ lộ và sợ ngã: mỗi khi ai đó định chen vào giữa
đều bị cái dáng lòng khòng của Polotski đẩy bật trở ra. Sức khỏe của ông ta, cô bắt đầu thấy gờm.
Đường càng ngày càng đông. Cô phải luồn lách không ngừng giữa những thân thể đẫm mồ hôi và những
chiếc túi ny lông căng phồng. Người phụ nữ lướt qua các tủ kính. Polotski lầm lũi theo sau, tiếng thở vẫn
hồng hộc.
Tới trước một cửa hàng hoa giả, người phụ nữ thình lình quay đầu lại. Giá không có chiếc mũ rộng vành thì
cô đã có thể tiếp cận trọn vẹn khuôn mặt của bà ta. Bắt đầu một hội thoại khác:
– Anh có nhớ bó hoa đầu tiên anh tặng em?
– Có chứ. Ngay từ khi nhìn thấy em, anh đã đoán được là em thích hoa tử đinh hương.
– Anh chưa bao giờ tặng em hoa hồng đỏ.
– Ừ, anh biết là em không thích.
Cô thở dài. Đến bao giờ hai nhân vật mới thôi nói với nhau những câu vơ vẩn kiểu này. Rồi cô bắt đầu cảm
thấy tiếc cho một buổi chiều vô ích. Nhưng ngay lập tức cô phải thay đổi ý kiến: Polotski bất ngờ bước lên
ôm lấy vai người phụ nữ, còn bà ta thì quay ngoắt người, lách đám đông, bước thẳng xuống lòng đường. Một
chiếc taxi từ đâu lao tới. Cửa sau vừa mở, bà ta lập tức leo lên, tự tay sập cửa rồi xe lại vút đi.
Tất cả diễn ra trong vòng vài phút. Cô chỉ biết ngẩn người nhìn theo. Một lát sau, khi đã hoàn hồn, cô quay
sang bên cạnh: Polotski cũng đứng ngây như trời trồng. Từ xa một cặp nam nữ hớt hải chạy lại, tay nào tay
nấy mấy túi ny lông, mắt hút theo luồng khói mỏng, miệng kêu trời. Hóa ra chính họ nửa tiếng trước đã gọi
điện đặt taxi, gọi đến chục số mới được chiếc này, nhưng chưa kịp ra khỏi cửa hàng thì đã bị người phụ nữ
đội mũ rộng vành nẫng mất.
Mươi phút trôi qua, Polotski vẫn còn ở trong cơn choáng. Ông ta cứ đứng nguyên chỗ ấy, giữa vỉa hè, đầu
quay về hướng taxi vừa đi, cặp kính đen càng đen hơn giữa khuôn mặt trắng và mái tóc cũng trắng. Cô đứng
cách ông ta vài bước chân. Cô chỉ lo đối tượng của mình có thể ngã vật xuống bất kỳ lúc nào, nếu không vì
một cơn đau tim cấp tính thì cũng vì đám đông rầm rập xung quanh, những thân thể đẫm mồ hôi ôm những
túi ny lông căng phồng. Không ít lần cô phân vân, vừa muốn chạy tới đỡ lấy ông ta, vừa muốn đợi xem
chuyện gì sẽ xảy ra nếu ông ta tiếp tục đứng như thế, y hệt như cách đây vài hôm, ở vườn hoa công cộng, khi
trời Paris đột ngột đổ một cơn mưa nhiệt đới.
Đúng vào lúc mà cô cảm thấy cổ họng khô rát, định ghé siêu thị bên đường mua một chai nước nhỏ thì
Polotski bừng tỉnh, rùng mình, rồi lập tức xốc lại áo, chỉnh lại kính, vuốt lại tóc, và lặng lẽ bước đi. Cô đành
ghìm cơn khát chưa bao giờ khổ sở như thế để cùng ông ta ngược lại đoạn đường ban chiều, về phía cầu sắt
giờ đây bơ phờ và nóng như nung.
Dưới xa lộ, xe cộ vẫn chạy như mắc cửi. Chiếc xe tải khổng lồ của siêu thị Hoa kiều đã biến mất, thay vào đó
là một đoàn ba chiếc hùng dũng của một công ty thực phẩm Bungari. Điều mà cô lo sợ đã xảy ra: Polotski
không đi một mạch tới bến tàu điện ngầm, mà uể oải bước qua đầu cầu, uể oải dừng lại ở đúng chỗ lúc nãy,
rồi sau khi vắt áo và để cặp lên lan can thì uể oải đưa mắt nhìn ra xa, nơi chẳng có gì ngoài mấy khu nhà cao
tầng nứt nẻ.
Trên cầu vẫn chỉ có cô và ông ta. Sống lưng cô mồ hôi lạnh lại bắt đầu chảy. Bây giờ nếu ông ta bất ngờ
quay lưng và túm cổ cô ném xuống xa lộ thì tối nay thằng Mike sẽ chết đói ở đồn cảnh sát. Ông ta hoàn toàn
có thể làm điều ấy vì ông ta khỏe hơn cô tưởng rất nhiều, còn cô thì ngược lại, yếu hơn cô tưởng rất nhiều.
Để quên cơn sợ, cô hình dung một chai nước chanh ướp lạnh hiệu Vitalia. Sau đó để quên chai nước chanh
ướp lạnh, cô hình dung tiếp chuyện tình lãng mạn tiểu thuyết thế kỷ mười chín dở dang lúc nãy: trên cầu sắt
này Polotski đã bao lần tới thăm người phụ nữ đội chiếc mũ rộng vành khổng lồ và lần nào cũng dừng chân ở
đúng một chỗ. Ngày trước, những khu nhà kia mới hơn rất nhiều, thậm chí vừa xây xong, chưa có người dọn
đến ở. Xa lộ cũng ít xe hơn, xe tải của siêu thị Hoa kiều chưa chạy ngược chạy xuôi như bây giờ. Chị gác
cổng lúc đó mới có thai đứa con gái, ngày đêm mơ màng con bé sẽ xinh đẹp sang trọng như « công chúa An
Nam », mà chị được ngắm một lần duy nhất, trong họa báo Paris Match. Còn Polotski thì chưa biết thế nào là
tuổi già, mắt vẫn trong veo. Người phụ nữ kia cũng còn rất trẻ, đội mũ hẹp vành và mặc váy ngắn quá đầu
gối. Những buổi chiều mùa hè nóng nực hơn cả hôm nay. Những buổi chiều mùa đông ủ rũ, đôi khi có cả
tuyết rơi. Những buổi chiều mùa thu mưa rả rích, lá vàng trôi giữa dòng sông. Những bông tử đinh hương rất
có thể màu tím.
Thế còn mẹ? Mẹ ở chỗ nào trong câu chuyện đầy vẻ lãng mạn này? Cô thở dài tự hỏi khi cùng đối tượng rời
khỏi cầu sắt.
Dưới tàu điện ngầm, trong một hành lang mênh mông của bến Montparnasse, lúc cô dừng lại trước máy tự
động để mua một chai nước chanh ướp lạnh hiệu Vitalia, thì Polotski đã bất ngờ biến mất.
Thang máy Sài Gòn (7, 8)
9
Sài Gòn
Nắng Sài Gòn nắng từ sáu giờ sáng. Tới giữa trưa bất ngờ có một cơn mưa. Người xe ôm vứt điếu thuốc
đang hút dở, gật đầu, đưa một cái giá khá mềm. Năm phút trước, cô bấm số bà giúp việc đưa. Chưa hết một
hồi chuông, đầu kia đã nhấc máy. Cô đề nghị gặp tại nhà riêng, đầu kia đồng ý. Cô đề nghị gặp ngay bây giờ,
đầu kia đồng ý. Mọi thứ nhanh không kịp thở.
Trong phòng khách tầng trệt, từ một góc nhỏ tối om, ông Linh im lặng nhìn cô. Khác hẳn thái độ cởi mở qua
điện thoại lúc nãy, giờ đây ông ấy im lặng. Trên thực tế, từ lúc cô bước vào, ông ấy đã im lặng. Khi người xe
ôm thả cô xuống thì cổng đã mở. Cô đi thẳng vào và phải mất một lúc mới phát hiện ra chủ nhà. Cái góc ông
ấy ngồi đã tối mà bộ quần áo ông ấy mặc trên người thì lại màu đen. Cô không biết đứng vào chỗ nào. Cuối
cùng đành dừng lại giữa phòng khách bé nhỏ.
Mười lăm phút, khi chắc rằng sẽ không được mời ngồi, cô tự động tìm lấy một chỗ trên chiếc đi văng đối
diện với chủ nhà, cảm giác như đối diện với một pho tượng đồng đen. Từ sau lưng, chiếc quạt cây thổi những
đợt gió hôi hổi. Trên tường không một bức tranh, không một khung ảnh, không cả một vết bẩn, để cô có thể
tránh được cái nhìn của chủ nhà. Cô luôn phải tự trấn an rằng cô chỉ tình cờ nằm trên tầm nhìn của ông ấy và
nói chung không nên để ý tới cái nhìn của một pho tượng.
Ông ấy sẽ không tự mở miệng, cô thở dài. Cuối cùng, lấy hết can đảm cô nói nếu cô không nhầm thì ông ấy
và mẹ quen nhau đã lâu và không phải ở Sài Gòn. Thực ra, trong câu này, cô chỉ chắc có vế đầu (quen nhau
đã lâu) vì ông Linh tự giới thiệu với bà giúp việc là “người quen cũ” của mẹ, còn vế sau (không phải ở Sài
Gòn) thì cô chỉ linh cảm, nhưng không hiểu sao cô tin vào linh cảm ấy, ngay khi nghe thấy giọng ông Linh
qua điện thoại, cái giọng Hà Nội giờ đây chỉ còn thấp thoáng ở Sài Gòn hay Paris, cái giọng Hà Nội của
người Hà Nội đã xa Hà Nội hàng nửa thế kỷ.
Tầng trên không một tiếng chân người. Ngoài hẻm không một tiếng xe máy. Trong tiếng vù vù của quạt cây,
ông Linh bất ngờ bảo:
– Năm mươi năm.
Tấm ảnh Polotski cựa quậy trong túi áo cô. Nó cũng được chụp cách đây năm mươi năm. Đặt tấm ảnh lên
mặt bàn rồi cô thấy hối hận. Lâu lắm, trước khi chia tay vào Sài Gòn, anh Mai dặn: « Hành động không được
nhanh hơn suy nghĩ». Thời gian trôi đi. Cô lớn lên, đi học, đi làm, lấy chồng, ly dị, sang Pháp nhập cư, sinh
con một mình …Trải qua tất thảy những chuyện này, cô mới hiểu ý nghĩa cái câu mà anh Mai đã nói. Bây
giờ, không ngày nào cô không cố nghĩ tới câu nói ấy. Thế nhưng, mỗi lần nghĩ tới, cô lại có cảm giác anh
Mai còn muốn nói với cô một điều gì nữa, một điều mà cô sẽ chẳng bao giờ tự nghĩ ra.
Một tiếng động điếc tai từ trên gác vang xuống. Ai đó đã làm rơi một vật bằng thủy tinh lên thềm đá hoa.
Ông Linh vẫn nhìn cô không chớp. Cô hơi cúi đầu, để khỏi phải nhìn vào đôi mắt của người đối diện, để có
thể nghe ông ấy kể câu chuyện khó tin của mình:
“Chúng tôi gặp nhau năm mươi năm trước, trong nhà tù Hỏa Lò, ngay hôm bà bị bắt. Tôi không phải là đồng
chí của bà. Tôi là thông dịch viên. Tôi bằng tuổi bà. Đọc hồ sơ của bà, tôi giật mình biết ngày bà trở thành
liên lạc cho Việt Minh cũng là ngày tôi bắt đầu cuộc đời công chức cho chính phủ Pháp. Và trong lúc bà
được cấp trên của bà cử đi công tác ở các nơi khác nhau thì tôi cũng được cấp trên của tôi cử đi công tác ở
các nơi khác nhau. Không ít lần, chúng tôi suýt giáp mặt. Cuối cùng, số phận đã sắp xếp để cuộc giáp mặt ấy
không xảy ra ở bờ hồ Hoàn Kiếm hay sân chùa Trấn Quốc hay bất cứ một địa điểm thơ mộng nào của Hà
Nội, mà xảy ra ở nhà tù Hỏa Lò.
Mười chín tuổi phải biết nhà tù, lại nhà tù Hỏa Lò, thì ở vị trí phạm nhân hay thông dịch viên đều là bất
hạnh. Khi nhìn thấy bà bị trói ở khuỷu tay và một bên má tím lại, tôi đã chạy vào toa lét, nôn thốc nôn tháo.
Hôm đó là cuộc hỏi cung đầu tiên của bà, cũng là lần nghỉ việc đầu tiên của tôi. Tất nhiên không cấp trên nào
muốn trì hoãn công việc và người ta đã ngay lập tức tìm được một thông dịch viên thay thế, kinh nghiệm dày
hơn, thể lực tốt hơn.
Đêm hôm đó, nằm trên giường mà tôi không ngủ. Sáng hôm sau, tới văn phòng, ngồi vào bàn, tôi cũng
không thể tập trung. Đến trưa, không chịu nổi, tôi đi vào Hỏa Lò, lấy cớ tìm sổ công tác để quên hôm qua.
Phòng hỏi cung lúc đó có ba người. Ngoài đồng nghiệp thông dịch viên mà tôi quen mặt và một nhân viên
Phòng Nhì đã gặp hôm trước, còn có một thanh niên da trắng, nhưng năm mươi năm trôi qua, tôi đã quên
mặt. Nhân viên Phòng Nhì giới thiệu anh ta là bà con một cấp trên trong phòng, tên là Paul kèm theo cả họ,
nhưng cái tên đơn giản bao nhiêu thì cái họ trúc trắc bấy nhiêu, tôi có cảm giác đã trôi khỏi tai ngay từ lúc
vừa nghe”.
Phòng lại rơi vào im lặng. Sau tiếng động chói tai lúc nãy, tầng trên đã yên ắng trở lại từ lâu. Chiếc quạt cây
nhẫn nại thổi ra từng đợt gió hôi hổi. Cô nhìn ông Linh. Trước mặt cô lại là pho tượng đồng đen. Cô tự hỏi lý
do gì mà khi nói về mẹ, ông Linh không bao giờ sử dụng tên riêng, dù đã biết qua hồ sơ phạm nhân Phòng
Nhì cung cấp. Ông ấy cũng không gọi mẹ là “nàng” cho giống Tự lực Văn đoàn, dù tuổi trẻ của hai người
gắn liền với Khái Hưng và Nhất Linh. Ông ấy cũng không gọi mẹ là “cô ấy”, dù thời đó mẹ mới mười chín
tuổi. Ông ấy nhất định chỉ dùng một từ “bà” để nói về mẹ.
Cô phải đợi thêm nhiều phút nữa mới được nghe ông Linh kể tiếp rằng trong lúc chờ mẹ ở phòng hỏi cung,
ông ấy ngồi nói chuyện với Paul và bất ngờ biết anh ta cùng tuổi với mình. Ông ấy không khỏi nghĩ ba con
người cùng sinh một năm nhưng ba số phận khác nhau hoàn toàn. Ông ấy và mẹ từng trải bao nhiêu thì Paul
vô tư bấy nhiêu. Ngày mẹ trở thành liên lạc viên cho Việt Minh, ngày ông ấy bắt đầu cuộc đời công chức cho
quân đội Pháp, cũng là ngày Paul bước chân vào trường đại học tổng hợp. Học xong năm thứ hai, anh ta tự
thưởng cho mình một chuyến phiêu lưu sang Đông Dương, cái xứ mà anh ta chỉ mới biết qua sách vở, và Hà
Nội là điểm dừng đầu tiên. Chẳng người Việt Nam nào muốn đặt chân vào Hỏa Lò. Paul thì ngược lại, chính
anh ta đòi ông anh họ Phòng Nhì sắp xếp cho đến thăm quan nhà tù, nhà tù khiến chuyến phiêu lưu của anh
ta thêm phần phiêu lưu. Mười chín tuổi, Paul kịp chia tay chín bạn gái. Mười chín tuổi, lần đầu tiên ông Linh
bị phụ nữ ám ảnh.
10
Sài Gòn
“Nghe tiếng chân ở hành lang, thông dịch viên lớn tuổi và nhân viên Phòng Nhì nhìn tôi khinh khỉnh. Khi bà
được đưa vào thì cũng chính là lúc tôi phải bước ra. Chúng tôi giáp mặt nhau trong tích tắc. Ngay trên
ngưỡng cửa. Tim tôi ngừng đập. Bà vẫn bị trói ở tay, nhưng má đã hết tím. Năm mươi năm sau tôi cũng
không gặp ai đẹp như bà, nét đẹp của con gái Hà Nội, nhưng còn có cái gì đó rất khó xác định. Mười chín
tuổi thì nhiều thứ chưa định hình. Mười chín tuổi, phụ nữ chưa lộ hết nhan sắc, đàn ông chưa biết rõ bản
thân. Tôi không biết tôi có yêu bà không. Từ trước tới nay, tôi chưa bao giờ tin vào tình yêu sét đánh. Nhưng
từ trước tới nay, tôi cũng chưa từng bị ai ám ảnh như thế. “Ám ảnh chết người”. Ngày xưa, tôi vẫn cười khẩy
khi đọc cụm từ này trong tiểu thuyết. Tôi vẫn nghĩ các nhà văn khéo phóng đại tô màu.
Chiều hôm đó, tôi lại tìm cớ để có mặt ở Hỏa Lò. Việc này vừa dễ lại vừa khó. Dễ vì tôi là công chức chính
phủ Pháp. Còn khó vì là công chức chính phủ Pháp, nếu không được giao nhiệm vụ mà lại lảng vảng ở khu
giam chính trị phạm thì cũng có nguy cơ bị đưa vào sổ đen của Phòng Nhì. Chiều hôm đó, không biết lấy cớ
gì để vào phòng hỏi cung và cũng không chắc bà có bị gọi lên hay không, tôi đứng từ trạm lính canh nhìn
sang phía trại giam tù nhân nữ. Trời đầu năm lạnh tê tái. Chỗ tôi đứng là tầng áp mái, xung quanh hầu như
không được che đậy, do sắp phải dỡ đi sửa lại toàn bộ. Tôi đã chọn chỗ này vì biết rằng lính canh nếu không
có lệnh, chẳng dại gì ra đây hứng gió. Mà gió kinh khủng, kèm theo hơi ẩm nên buốt thấu xương. Sau này, ở
Sài Gòn, mỗi lần nghĩ tới mùa đông Hà Nội, tôi không sao quên được buổi chiều hôm ấy. Buốt thấu xương.
Tê tái da thịt.
Tôi đứng khoảng một tiếng thì một đoàn tù nhân nữ được quản giáo dẫn sang nhà tắm công cộng. Mấy chục
người, cả già lẫn trẻ, đi tụm vào nhau thành từng nhóm, có lẽ để cho đỡ lạnh. Đồng phục xám xịt và thùng
thình, tóc bù xù che gần hết khuôn mặt, nên rất khó phân biệt. Đã thế lại vừa đi vừa cúi gằm xuống đất. Vào
nhà tù tôi mới biết, luật không bắt, nhưng cai ngục không cho phép phạm nhân ngửa mặt bao giờ. Tuy vậy
tôi tự nhủ, nếu bà ở trong đoàn người ấy thì dù thế nào tôi cũng nhận ra. Nhưng tôi đợi mãi. Mấy đoàn nữa đi
qua đều không có bà. Nhiệt độ ngày càng xuống thấp. Gió thổi ngày càng mạnh. Năm giờ chiều, trời tối hẳn,
không còn nhìn thấy gì nữa thì tôi ra về. Hoặc là về hoặc là chết cóng. Lựa chọn nào cũng ngoài sức chịu
đựng. Trái với điều người ta hay nói: “mười bảy bẻ gãy sừng trâu”, tôi thì thấy mười chín tuổi sức chịu đựng
rất ít, cả thể lực lẫn tinh thần, có lẽ vì thế mới bị “ám ảnh chết người” tấn công”.
Đó là đêm thứ hai ông Linh mất ngủ. Hồi ấy, không ai biết thuốc an thần là gì. Sáng hôm sau, nhìn vào
gương lúc cạo râu, ông ấy tự hứa đây là lần cuối cùng ông ấy quay lại Hỏa Lò. Ông ấy còn cả một gánh nặng
gia đình. Ông ấy chấp nhận đi làm ngay sau khi tốt nghiệp tú tài, là bởi vì cha ông ấy đã mất và ông ấy phải
có trách nhiệm nuôi các em ăn học. Ông ấy ghé văn phòng xin phép nghỉ nốt ngày hôm đó. Ông ấy không
dám đưa ra lý do nào, cứ thế cúi đầu đi, trong một cảm giác mâu thuẫn pha trộn giữa yếu đuối và lì lợm.
“Phòng hỏi cung đã sáng đèn. Và thật quái đản, tôi gặp lại ba nhân vật của sáng hôm qua. Thông dịch viên
lớn tuổi và nhân viên Phòng Nhì lại nhìn tôi khinh khỉnh. Chỉ Paul là vui vẻ. Anh ta trêu chưa tìm thấy sổ
công tác hay sao. Tôi vừa nghe vừa liếc về phía cửa. Anh ta còn nói những gì nữa tôi không biết, tai dỏng lên
như tai lừa. Đúng chín giờ, nhân viên Phòng Nhì đứng lên bảo lịch của ông ta hôm nay rất chặt, ngoài “con
bé Việt Minh xinh đẹp” còn có thêm gần chục chính trị phạm nữa phải hỏi cung gấp, tình hình Điện Biên rất
căng. Tôi nghe thì hiểu “con bé Việt Minh xinh đẹp” đấy là ai. Tôi cũng hiểu đã sắp đến lúc được nhìn thấy
bà, và phải làm sao để không bị đuổi ra ngoài trước khi bà được dẫn vào đây.
Tôi cố nói chuyện với Paul. Anh ta hình như cũng thích nói chuyện với tôi, và không hiểu sao cũng không có
ý định ra về. Rồi có tiếng chân người ngoài hành lang. Tim tôi ngừng đập. Để giấu vẻ bối rối, tôi cố mở to
mắt, nhìn thẳng vào mặt Paul. Tôi có cảm giác anh ta cũng bối rối và cũng cố mở to mắt nhìn thẳng vào mặt
tôi. Nhưng tôi không còn thời gian để tìm hiểu lý do. Tôi đứng lên đi về phía cửa. Và mọi việc lại xảy ra
đúng như hôm qua: khi bà được đưa vào cũng chính là lúc tôi phải bước ra. Chúng tôi giáp mặt nhau trong
tích tắc. Ngay trên ngưỡng cửa. Bà đưa một tay lên vuốt sợi tóc mai. Môi hơi nhếch. Cái nhếch môi khiến tôi
không thể không vịn vào tường. Đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy bà. Ngày hôm sau, từ văn phòng, tôi
hay tin bà đã được thả tự do. Nhưng tôi giữ lời hứa với chính mình. Tôi không bao giờ gặp lại bà nữa.
Sau trận Điện Biên Phủ và hội nghị Genève, tôi được phép đưa gia đình sang Pháp sinh sống theo chế độ
công chức. Nhưng mẹ đẻ tôi không muốn rời Việt Nam. Tháng Tám năm 1954, khi đã hết sạch chỗ trên máy
bay, cả nhà mới đưa nhau ra Hải Phòng, xuống tàu há mồm, nhập vào đoàn người cuối cùng di cư vào Nam.
Tôi không sao quên được hơn hai tuần lênh đênh trên biển, trong khi những người khác nghĩ về Sài Gòn,
nghĩ về Hà Nội, thì tôi không giây phút nào không nghĩ tới khuôn mặt bà. Với cái nhếch môi khó hiểu.
Người tôi lại nóng ran, tay lại phải vịn vào đâu đó. Ruột gan như lửa đốt. Li bì trong một cơn sốt khủng
khiếp tưởng đã phải đi gặp tử thần, tới khi tàu chuẩn bị cập bến Sài Gòn thì tôi cảm thấy toàn thân nhẹ bẫng.
Và thay vì nóng ran, người tôi lại lạnh ngắt. Trong một tích tắc, tôi hiểu rằng “ám ảnh chết người” đã chấm
dứt, bệnh của tôi đã khỏi, nhưng từ nay trở đi, tôi sẽ thành một người khác. Giữa trưa hè, cả bầu trời và mặt
biển bỗng dưng nhuốm đỏ, một màu đỏ dữ tợn chưa từng thấy. Mấy phút sau sấm chớp nổi lên. Và một cơn
mưa ào ào đổ xuống. Một cơn mưa nhiệt đới đích thực. Sài Gòn đã đón tôi bằng một cơn mưa nhiệt đới.
Để nước mưa vừa mặn vừa nóng đập vào lớp da mỏng tang vừa qua những ngày đối mặt với cái chết, tôi tự
nhủ gần hai nghìn cây số đã nằm giữa chúng tôi. Vĩ tuyến Mười Bảy đã chia đôi đất nước. Người ta nói tới
ngày tổng tuyển cử hai năm nữa. Nhưng tôi biết ngày ấy sẽ không bao giờ xảy ra”.
Cô đứng lên, cất tấm ảnh đen trắng vào túi. Cô buộc phải ra về vì sau khi kể xong câu chuyện, ông Linh tỏ ra
hết sức lạnh lùng, hết khụt khịt mũi lại giơ tay ngó đồng hồ. Có cảm giác không phải ông ấy đang hài lòng vì
đã cất được gánh nặng trong lòng mà đang hối tiếc vì đã kể nó ra. Cô nhìn về phía cửa. Chiếc cổng sắt,
không hiểu bằng cách nào, đã mở.
Cô đi bộ ra đầu hẻm đón xe ôm. Mưa đã tạnh từ lâu. Đặc điểm đô thị của Sài Gòn là hẻm, hẻm mẹ đẻ hẻm
con. Cô không chắc có ra đúng hẻm, có đi về phía cây cầu nhỏ mà người xe ôm lúc nãy gọi là cầu Bông,
dưới chân cầu ngay ngã tư có hai tiệm bán vịt quay một giờ trưa vẫn tấp nập khách.
Dưới cái nắng không hề dịu ngọt, cô tự hỏi sao bỗng dưng ông Linh đem kể câu chuyện có vẻ đã được đào
sâu chôn chặt ngần ấy năm, cho một người không quen là cô, và chẳng để làm gì. Cô nghĩ mãi, nghĩ mãi mà
không tìm được câu trả lời. Cuối cùng cô tự nhủ nếu ông Linh không gọi mẹ là “bà” mà là “nàng” thì câu
chuyện của ông ấy sẽ rầm rề hơn cả mưa phùn Hà Nội.
Trước mắt cô không phải là cầu Bông mà một cái chợ đông nghịt. Hỏi ra thì biết không phải là chợ Bến
Thành mà chợ Đa Kao. Chợ Đa Kao, cô từng nghe nói là nơi cư ngụ của dân gốc Bắc những ngày chân ướt
chân ráo tới đất Sài Gòn, năm mươi năm trước.
Thang máy Sài Gòn (9, 10, 11)
9
Sài Gòn
Trong căn phòng nơi mẹ ở hai tuần trước khi tai nạn xảy ra, cô đã tìm được cuốn sổ tay ở một chỗ khá bất
ngờ: giữa chiếc gối đặt trên đầu giường mẹ. Trước đó, cô đã mất cả tiếng lục lọi mọi ngóc ngách và ngăn tủ
nhưng sờ tới chỗ nào cũng thấy trống trơn. Căn phòng ngay khi mẹ mất đã được bà giúp việc dọn dẹp, rồi
đem đốt hết quần áo và vật dụng mà mẹ để lại. Căn phòng từ đó bị đóng kín, hẳn là ai cũng sợ bước vào nơi
ở của người vừa qua đời. Thế nên, một ngày sau đám tang, cả anh Mai và bà giúp việc đều ngạc nhiên khi cô
đòi mượn chìa khóa, rồi vào đó một mình.
Đặt lên bàn cuốn sổ tay của một thời bao cấp, cô vội lật từng trang giấy mủn, và ngạc nhiên khi không tìm
thấy một dấu tích nào của mẹ. Thế nhưng càng ngẫm nghĩ, cô càng tin rằng cuốn sổ tay này có một ý nghĩa
đặc biệt với mẹ. Phải đặc biệt thế nào, mẹ mới mang từ Hà Nội vào đây, rồi lại cất kỹ trong lớp bông dày của
chiếc gối. Cầm cuốn sổ lên, lật đi lật lại, cô phát hiện ra tấm ảnh đen trắng giữa hai lớp bìa. Trên ảnh là một
thanh niên da trắng, tóc thẫm, mắt trong. Mặt sau của tấm ảnh có ba dòng viết tay:
Paul Polotski
1954
Số nhà 21 đại lộ Suffren, Paris.
Cô nhận ra nét chữ quen thuộc của mẹ.
Cô không nhớ đã đứng bao lâu ở cửa sổ trước khi nhận thấy đối diện với cô, qua khoảnh sân nhỏ, một đôi
trai gái không mảnh vải trên người, đang hì hụi dịch chuyển từ đi văng xuống mặt sàn, trong phòng khách
tranh sáng tranh tối. Ngay cạnh đấy một đôi khác có vẻ trẻ trung hơn, nhà nghề hơn, liên tục thay đổi tư thế,
trên một chiếc giường rộng mênh mông. Nhìn một lúc thì cô phát hiện ra bà hàng xóm và bạn trai, còn đôi
kia là hai diễn viên của dòng phim X.
10
Paris
Thứ Năm. Tám người được dẫn tới một bàn tròn, bàn tròn nằm ngay cạnh cửa sổ tầng hai, còn cửa sổ tầng
hai thì trông xuống đường lớn, đường lớn chín giờ tối đã chìm vào im lặng, thi thoảng một chiếc ô tô chạy
qua, đèn pha lướt trên vỉa hè ẩm ướt. Một học trò đã gọi điện đặt chỗ từ trước. 7 giờ 15, chuẩn bị chữa bài
tập về nhà, ai đó chợt bâng quơ: “Chút nữa đi chén nhé”. Không khí sôi động hẳn. Chủ yếu để bàn xem
“chén” ở đâu. Quán này, mấy em bồi bàn màu mỡ nhưng món nem lại khô cằn. Quán kia, gỏi cuốn rất hào
phóng tôm nhưng toa lét lại vô cùng tiết kiệm nước. Quán kia nữa, nem màu mỡ, mỗi gỏi cuốn có hẳn hai
con tôm, toa lét hào phóng nước, nhưng nhìn mặt lão chủ chỉ muốn cho mấy cái tát…
Lần nào nghe những nhận xét kiểu này, cô đều nghĩ nếu ai có nhu cầu tìm hiểu ẩm thực Việt tại Paris thì nên
đến gặp học trò tiếng Việt, còn nếu ai có nhu cầu học tiếng Việt thì cuối cùng cũng chỉ biết mỗi ẩm thực Việt
tại Paris.
Nửa tiếng sau cũng quyết định xong, một quán có lẽ quy tụ được cả ba yêu cầu. Thế nhưng khi gọi điện tới
thì mới hay cả tuần nay một trăm cái nồi đất bị ách lại ở cảng Le Havre nên đầu bếp không thể phục vụ món
gà hấp nồi đất. Thế là lại mất thêm mươi phút nữa tranh luận. Cuối cùng vẫn nhất trí tới quán đó, ăn món
này, món này… nhưng phải gọi điện lại để kiểm tra trước rồi mới đặt bàn. Hóa ra cũng ổn. Còn đúng hai
mươi phút để sửa bài tập về nhà. Không khí có vẻ chùng xuống. Đầu óc chỉ nghĩ tới mấy món sắp ăn. Bụng
sôi sùng sục. Cũng dễ hiểu, giờ học tiếng Việt rơi đúng vào giờ cơm tối.
Cô thở dài, hóa ra kẻ thù nguy hiểm của lớp học tiếng Việt không chỉ là vô tuyến truyền hình Pháp mà còn là
các quán cơm Việt. Một lát sau, nhìn cả lớp chăm chú nghiên cứu thực đơn, cô lại thở dài lần nữa: học trò
của cô dù sao cũng có nhiều lựa chọn (hàng trăm món ăn Việt cùng với mấy chục kênh vô tuyến truyền hình
Pháp), còn cô thì không có lựa chọn nào khác – « bán hàng, dạy học, nghỉ buổi nào trừ lương buổi ấy, nghỉ
nửa buổi trừ nửa buổi », bà Wang đã giao hẹn ngay từ buổi đầu tiên.
8 giờ 30 cả lớp lên đường tới quán. Trừ một người, có lẽ trẻ nhất, tên là Luc mà cô và những học trò khác
đều không biết họ là gì. Nói chung, chẳng ai biết chút thông tin nào về nó, và cũng không có ý định biết thì
phải. Nó bao giờ cũng chọn góc khuất nhất để ngồi, không trò chuyện, không giơ tay phát biểu ý kiến, không
đi ăn chung, không về cùng tàu điện ngầm, không đến chơi nhà người nào ở lớp. Thực ra, thời gian đầu, nó
cũng đã thử tham gia các hoạt động tập thể, vì mục đích đến đây của nó có lẽ không phải là học tiếng Việt
mà là tìm một chỗ giải khuây, kiểu một câu lạc bộ nho nhỏ, rồi biết được thêm câu tiếng Việt nào thì càng
tốt. Đúng thế, nó đã cố tìm cách hòa mình vào đám đông, không ít lần. Nhưng ngay lập tức nó bị gạt ra
ngoài. Và điều này thì ai cũng biết.
Nó vừa bước chân vào lớp, người ta đã bụm miệng cười.
Nó bảo hè tới định đi Việt Nam một chuyến, từ Bắc vào Nam, muốn tìm ai đó đồng hành cho vui. Người ta
quay sang nhìn nhau ngáp.
Nó khoe mới mua một chiếc khăn đũi để ngày mai tặng sinh nhật một nữ đồng nghiệp cùng phòng, chưa dứt
lời đã bị hỏi giật giọng: “U50 hay U60?”
Một học trò lấy chồng, gửi thiếp mời cả lớp, trừ nó. Không hiểu bằng cách nào mà nó biết, nó đòi góp tiền
mua quà, nhưng người ta không nhận, bảo chuẩn bị xong đâu đấy rồi, muốn tặng gì đưa thẳng cho cô dâu
chú rể. Hôm cưới, tất nhiên không thấy nó đâu: trên bàn tiệc ghi rõ tên từng khách mời.
Tết Việt Nam, nó rụt rè hỏi có tổ chức hội hè gì không, nó biết một cửa hàng bán bánh tét và giò thủ chuyển
thẳng từ bên kia sang, theo đường Vietnam Airlines nên không sợ bị ách ở cảng Le Havre. Không ai trả lời.
Ngay tối đó, cả lớp rủ nhau đi ăn quán, người ta bàn phải dứt khoát với “thằng Luc ấy”, không hiểu sao nhìn
mặt nó là mất vui.
Từ đấy, nó có vẻ hiểu ra vấn đề. Nó co rúm vào một góc. Cô thấy lạ là nó vẫn tiếp tục đến lớp. Tiếng Hoa
mở ra, nó vội vàng đăng ký đi học. Thời gian đầu, nó có vẻ phấn khởi. Nó tới lớp tiếng Việt với vẻ tự tin, vác
theo mấy quyển sách giáo khoa tiếng Hoa. Giải lao mười phút, nó mở sách ra làm bài tập, rồi đọc thành
tiếng, không hiểu để tranh thủ thời gian hay muốn lòe người khác. Chẳng ai buồn để ý. Những giờ giải lao
sau đó, nó ngồi cắn móng tay, mặt cúi gằm xuống đất. Cô chỉ sợ nó sẽ òa lên khóc hoặc bật dậy đánh một ai
đó. Nhưng không có chuyện gì xảy ra. Tất cả các buổi học đều thấy nó đến, rất đúng giờ, rồi rón rén chọn
góc khuất nhất. Một hôm, tình cờ gặp cô ở bến tàu điện ngầm, giáo viên tiếng Hoa nói: “Thằng Luc ấy chẳng
hiểu thế nào, ngày trước giải lao có mười phút mà mở sách giáo khoa tiếng Việt ra làm bài tập, đọc thành
tiếng, bây giờ thì ngồi cắn móng tay”. Cô tưởng tượng nó cũng đã thử tham gia các hoạt động tập thể của lớp
tiếng Hoa, nhưng ngay lập tức nó bị gạt ra ngoài. Ở đấy, người ta cũng bàn nhau phải dứt khoát với “thằng
Luc ấy”, không hiểu sao nhìn mặt nó là mất vui.
Tám người quyết định mỗi người chọn một món rồi ăn chung, thiếu thì gọi tiếp. Ai cũng hồ hởi, đề nghị bồi
bàn mang cho một ly rượu đế, nhấp môi một lượt trong lúc chờ đợi. Tinh thần tập thể tỏ ra rất cao. Bồi bàn
còn mang cho một đĩa phồng tôm và củ kiệu để nhắm, thấy cô nháy mắt hỏi: “Hà Nội qua hồi nào zdậy?”
Cả bọn nhìn nhau. Một bà thở dài bảo tiếng Việt khó kinh hồn, học mãi mà chỉ nghe được mỗi từ “Hanoi”.
Bà này là học trò nghiêm túc nhất của lớp, bài tập về nhà bao giờ cũng làm rất đâu vào đấy, ngay hôm đầu đã
xin phép được thu băng giờ học để về nhà ôn lại. Một ông loắt choắt, tỏ ra thông thạo, vội giải thích “khó
kinh hồn” chẳng qua là vì bồi bàn nói giọng Nam. Bà học trò nghiêm túc có vẻ không được thuyết phục lắm
nhưng im lặng, không muốn mất thời gian vào việc tranh cãi, dù sao cũng bỏ tiền túi ăn quán tối nay.
Ông kia lại nói bạn gái ông ta “Hà Nội chính gốc” vào Sài Gòn chơi mà chỉ nghe được có một nửa, nửa còn
lại phải nhờ phiên dịch của ông ta giải thích hộ. Những người khác nhìn ông ta gật gù. Còn ông ta thì nhìn cô
len lén. Cách đây hơn năm, một lần sau giờ học, đợi những người khác về hết rồi, ông ta mới chìa ra một bức
thư nhờ cô dịch hộ. Bức thư cụt lủn những chữ ngoằn ngoèo, rất khó đọc và be bét lỗi chính tả. Ngồi một lúc
cô cũng luận ra được rằng người viết khẩn khoản yêu cầu ông ta gửi gấp tiền về để trả tiền nhà, tiền điện
thoại và chuộc xe máy. Ông ta nghe xong thì đỏ mặt, gãi đầu nói “cô ấy” thực ra là một người cần kiệm, rất ít
nhu cầu “vật chất”, chẳng qua vì gánh nặng gia đình nên mới cần ông ta giúp đỡ “tài chính”. Cô để ý rằng
ông ta luôn tránh dùng từ “tiền”, cái từ, ngược lại, nao nức xuất hiện trong bức thư mà cô vừa dịch xong. Sau
đó, ông ta rút từ túi áo ngực một tờ giấy A4 gấp tư, hóa ra đã đánh máy sẵn hồi âm và nhờ cô dịch hộ càng
sớm càng tốt. Ở bến tàu điện ngầm, ông ta có vẻ suy nghĩ, cuối cùng trước khi bước lên tàu, ông ta nhìn cô
gãi đầu nói “chuyện này” ông ta đề nghị cô giữ kín, vì ông ta và vợ đang giai đoạn ly dị, luật sư của ông ta
yêu cầu không được để hở “chuyện này” ra ngoài. Sau đó, cô còn dịch thêm cho ông ta vài lần nữa, chủ yếu
từ Việt sang Pháp, vì “cô ấy” ở đầu kia đã tìm được ai đó có thể dịch hộ thư của ông ta. Cô thấy nhẹ cả
người, định hỏi tại sao “cô ấy” không nhờ dịch luôn thư trước khi gửi đi Pháp, nhưng lại thôi. Cô không hình
dung nổi ông ta đến lớp tiếng Việt làm gì nếu không phải để nhờ dịch thư «cô ấy».
Bồi bàn lần lượt mang ra các món, trông đều bắt mắt, món bò nướng có lẽ bắt mắt nhất, được mang ra sau
cùng. Ai đó vừa thốt lên “nhìn kìa”, đã thấy chiếc chảo trên tay bồi bàn bốc cháy, lửa kêu xèo xèo, mùi thơm
nức mũi. Thực khách trong phòng cùng ngoái ra xem, rồi một vị vỗ tay, những vị khác vỗ theo, rất nhiệt tình,
không hiểu theo điệu nhạc tưởng tượng nào, riêng cô bỗng dưng nhớ tới bài hát “Nổi lửa lên em, đánh Mỹ
đêm nay” từng rất được ưu ái bởi loa truyền thanh phường Thành Công. Bồi bàn đặt chảo vào giữa bàn, nhìn
cô cười khoái chí: “Hà Nội không có món này nha !”. Mấy học trò lại nhìn nhau, vẫn chỉ nghe được mỗi từ
“Hanoi”. Bà học trò nghiêm túc nhất không phản ứng. Bà ấy đang gắp một miếng bánh cuốn nhân tôm.
Mọi người lần lượt nếm các món rồi thi nhau khen ngon. Ông loắt choắt lại được dịp tỏ ra thông thạo, giải
thích rằng muốn ăn cơm Việt phải tới Noisy-Le-Grand, vừa ngon vừa rẻ, chỉ ngại đường sá vòng vèo. Chị
trung niên ngồi trước mặt nói đường sá vòng vèo thì sợ quái gì, thời buổi khủng hoảng toàn cầu, tiết kiệm
được đồng nào hay đồng đấy. Nói xong thở phì phò như một con tê giác. Mọi người im thin thít. Chắc chưa
ai quên giờ học cuối tháng Chạp vừa rồi, chủ đề là nghề nghiệp, học trò nào cũng được đề nghị trả lời câu
hỏi: “Bạn làm nghề gì? Bạn có thích công việc của mình không?” Tất cả tham gia sôi nổi. “Thằng Luc ấy”
còn mạnh bạo đưa ra một câu trả lời lê thê. Không ai hiểu gì nhưng cũng không bụm miệng cười. Có lẽ cũng
nên một đôi lần tỏ ra khoan dung, nhất là vào những dịp lớp có sinh nhật như tối nay, góc phòng đã bày sẵn
bánh ga tô, nước hoa quả, bia táo và một mùi gì thơm thơm rất đặc trưng của cơm Việt. Riêng chị trung niên
thì cáu kỉnh ra mặt, thay vì trả lời bằng tiếng Việt, chị ta nhả ra một tràng tiếng Pháp: “Nghề của tôi ấy à, là
nghề đi nhận trợ cấp thất nghiệp, vì trong khi mà các vị có cái may mắn là hằng ngày tới chỗ làm đú đởn với
nhau thì tôi vừa bị đuổi việc hôm qua. He he, đúng như vậy đấy, thằng giám đốc nhân sự vớ được một con
bớp ở đâu mang về, một thời gian sau tống cho tôi một lá thư, thông báo hợp đồng đã hết, công ty không có
khả năng gia hạn”. Dứt lời, chị ta òa lên nức nở. Mọi người im thin thít. Thực ra, đây không phải là lần đầu
tiên chị ta một mình khiêu khích tập thể. Cách đấy mấy tuần, trong một giờ học về chủ đề gia đình, chị ta kể
rằng gia đình nhỏ của chị ta có một «thằng cu bé bỏng», một tháng tuổi thôi, dễ thương vô cùng. Ai cũng giật
mình kinh ngạc. Chị ta đã bao giờ bụng mang dạ chửa. Một người đánh bạo nói: “Vớ được ông chồng khéo
ghê, cũng biết trông con trai cho vợ đi luyện tiếng Việt”. Thế là chị ta cười sằng sặc bảo chồng con quái gì,
đấy là con tũn mà chị ta mới xin được, rồi kết luận tỉnh bơ: “Kể ra các vị cũng dễ tin nhỉ!”. Trong mọi giờ
học, có bị hỏi bằng tiếng nào thì chị ta cũng cứ tiếng mẹ đẻ mà phang. Mỗi lần như thế cô lại tự nhủ chị ta
phí tiền đi học tiếng Việt để làm gì. Trong Paris này, lướt net vài giây là hiện ra một tá hiệp hội của người
độc thân. Tới đấy thế nào cũng tóm cổ được vài chục ông độc thân. Lớp tiếng Việt của cô có dăm ông độc
thân, nhưng lại toàn các ông độc thân đang mong được phụ nữ Việt tóm cổ. Thế mà hình như chị ta không
hiểu ra vấn đề, gần hai năm rồi vẫn tiếp tục trả tiền học để lâu lâu lại òa lên nức nở hay cười sằng sặc giữa
lớp.
Lúc này, cô bỗng có linh cảm thế nào cũng xảy ra một cuộc đụng độ. Chị trung niên có cái vẻ hiếu chiến
đáng sợ của một con tê giác mắc chứng trầm uất. Không hiểu tình cờ hay cố ý, hôm nay chị ta vận một chiếc
váy màu xám nhạt, để lộ cặp đùi núng nính đi tất cũng xám nhạt, còn tóc thì búi thành một chiếc sừng nhỏ
ngay trên trán. Người ta nói tê giác mà nổi cơn thịnh nộ thì không gì cản nổi, nhất là loại tê giác một sừng.
Ông loắt choắt lại lên tiếng kể chuyện du lịch Việt Nam, chủ yếu là lấy cớ để kể về “cô ấy” mà ông ta không
ngừng nhấn mạnh là “Hà Nội chính gốc”. Những người khác không phản ứng. “Hà Nội chính gốc” hay “Hà
Nội mở rộng” không quan trọng bằng bánh bột lọc nhân tôm hay bánh cuốn nhân thịt. Tám đĩa đồ ăn vơi đi
rất nhanh. Sau đó lại bàn bạc để gọi thêm vài món nữa ăn với cơm rang thập cẩm cho chặt dạ dày. Thịt kho?
Cá kho? Rau xào? Nhớ xin thêm bát nước mắm chanh ớt. Tinh thần tập thể có vẻ vẫn được giữ vững. Nhưng
điều này khiến chị trung niên không thể chịu nổi. Chẳng thèm nhìn ai, chị ta tuyên bố một câu xanh rờn:
“Biết thế đặt quách từ đầu một thực đơn 12 euro ba món, bảo đảm dạ dày chặt tới tận ngày mai, xong xuôi
còn được khuyến mại một cà phê đá”. Mọi người im thin thít. Nói chung, từ sau cái lần chị ta kể chuyện con
tũn, mỗi khi chị ta cất tiếng là ai nấy im thin thít.
Tối nay sự im lặng phảng phất ít nhiều bồn chồn: giống như cô, tất cả đều có cảm giác con tê giác đang tìm
cách trút cơn thịnh nộ lên đầu ai đó. Chỉ ông loắt choắt là hồn nhiên, cười nói luôn miệng. Khi ông ta ngoác
miệng ra, trông đặc biệt giống một con ễnh ương (trên người ông ta lúc này là một bộ com lê màu xanh biếc
lác đác vài sợi óng ánh vàng, có vẻ đắt tiền nhưng hẳn là mua nhầm số). Nghe chị trung niên tuyên bố thì
ông ta phẩy tay, ăn xong ai trả được bao nhiêu thì trả, phần còn lại ông ta chịu trách nhiệm. Cả bọn hoan hỉ,
chị trung niên lúc lắc chiếc sừng nhỏ và ông ta tiếp tục kể chuyện du lịch Việt Nam. Từ lúc ấy cho tới gần
cuối bữa, ông ta độc thoại. Có vẻ như ông ta chấp nhận trả nhiều tiền hơn để được nói về ông ta và “cô ấy”.
Ông ta cần được thổ lộ “chuyện này” với người khác. Lớp tiếng Việt là nơi duy nhất ông ta có thể thổ lộ mà
không đến nỗi nguy hại lắm. Ở nhà ông ta, ở nhà bạn bè ông ta, ở cơ quan ông ta, ở tất cả những nơi công
cộng, ông ta buộc phải ngậm miệng vì luật sư của ông ta đã yêu cầu không được hở “chuyện này” ra ngoài.
Ngồi ngay bên cạnh, cô ù hết hai tai vì kế hoạch “về hưu làm lại cuộc đời” của ông ta với Nguyễn Thị Dinh
(trong tất cả các bức thư mà cô phải dịch sang tiếng Pháp, có mỗi ba chữ này là không phải luận gì). Đã mấy
lần, cô thử tưởng tượng ông loắt choắt và cô Dinh dắt tay nhau đi tập tài chí chuẩn ở bờ hồ Hoàn Kiếm,
nhưng lần nào cũng thất bại, vì trong óc cô nhất định chỉ hiện lên một con ễnh ương cao một mét rưỡi và con
gái bà giúp việc nhà anh Mai. Bà giúp việc, hôm cô lên đường quay lại Pháp, đặt vào tay cô một bức ảnh con
gái út để đầu duỗi, mặc áo dài cách điệu, dặn đi dặn lại: “Nếu quen anh Tây nào cô đơn thì gửi ngay về Hải
Dương cho cái Dinh”.
11
Paris
Câu chuyện của ông loắt choắt lẽ ra đã hạ cánh an toàn nếu ông ta không bất ngờ phang một câu khá gay
cấn:
– Nhưng tôi và cô ấy chưa bao giờ làm cái trò đó!”. Những người khác ngừng khua đũa.
Chị trung niên chồm hẳn dậy:
– Thế thì làm quái gì? Ngửi nách nhau chắc? Hay là uống vi-a-gờ-ra chưa đủ liều?
Chị ta nói to tới mức cả phòng giật mình quay ra. Cô hiểu là cuộc đụng độ đã thực sự bắt đầu. Vì hai người
ngồi đối diện với nhau, và chị ta thì rất to con còn ông ta lại quá bé nhỏ, kẻ đứng người ngồi, nên từ ngoài
nhìn vào, có cảm giác chị ta đang chuẩn bị chộp lấy ông ta, con tê giác chộp con ễnh ương, một hình ảnh
không thể nói là không ấn tượng. Tuy vậy ông ta không có vẻ giận. Ông ta uống ực một ngụm nước lọc rồi
trả lời dõng dạc như để mọi người cùng nghe:
– Chúng tôi đã quyết định trong thời gian tìm hiểu, không làm cái trò đó!
Chị trung niên thở hồng hộc, chiếc sừng nhỏ ve vẩy:
– Nghe ngứa cả tai. Không làm được gì thì cứ nói phắt ra cho nhau nhờ!
Uống thêm một ngụm nước lọc nữa, ông ta đáp lại bằng một câu tuyên bố đầy kiêu hãnh:
– Cô ấy vẫn còn trinh!
Ai đó bật cười. Nhưng những người khác dường như không để ý vì mải theo dõi cuộc đấu khẩu mà kẻ nào
thích lý luận có thể gọi là cuộc đụng độ giữa truyền thống và hiện đại, còn kẻ nào không thích lý luận có thể
gọi là cuộc đụng độ giữa tê giác và ễnh ương.
– Ối giời, đúng là thằng chập mạch ! chị trung niên cười hô hố, xa xa có tiếng cười theo. Ông loắt choắt tím
mặt ngồi im. Một lát sau, dường như quá mếch lòng vì không được ai trong đám cửa tọa lên tiếng bênh vực,
ông ta quay lại nhìn một lượt từ bàn này sang bàn khác, rồi bất ngờ phang một câu:
– Nói thật với các vị, tôi đã chán ngấy cái quy luật ngu xuẩn của các vị, cái quy luật mà đàn ông đàn bà cứ
gặp nhau là phải đè ngửa nhau ra.
Không một phản ứng. Mọi người cúi đầu tiếp tục khua đũa. Kể ra nếu ông ta cường tráng hơn chút nữa thì
thế nào câu tuyên bố này cũng thuyết phục được một vài tâm hồn lãng mạn. Ông ta xách cặp đứng lên, không
nói không rằng đi thẳng xuống nhà. Ngay dưới bộ com lê xanh biếc, lộ ra một đôi giày cùng màu, bóng nhẫy
và rất oách, nhưng có lẽ cũng mua nhầm số.
Bàn ăn hết vẻ sôi nối. Bảy khuôn mặt nhìn nhau gượng gạo. Bảy nỗi tuyệt vọng gắn liền với cái hóa đơn hẳn
phải nở bung gấp bảy lần (từ lúc ông loắt choắt tuyên bố “ai trả được bao nhiêu cứ trả”, hai chục món nữa đã
xuất hiện trên mặt bàn, không biết có chắc dạ hay không nhưng đều bắt mắt, lần nào bồi bàn bưng vào cũng
được các thực khách trong phòng đồng loạt vỗ tay).
Chỉ đến lúc bà học trò nghiêm túc nhất e hèm gọi bồi bàn lại thanh toán, nhân tiện đem hộ chiếc máy tính để
chia tiền cho tiện, thì cả bọn mới hay ông loắt choắt đã trả toàn bộ bằng thẻ visa. Bảy cái miệng toang hoác
cười. Trên đường ra bến tàu điện ngầm, một người lên tiếng: – Thằng cha ấy làm gì mà có vẻ lắm đạn thế
nhỉ?
Một người khác trả lời: – Giám đốc phụ trách thương mại, ở công ty cũng quyền sinh quyền sát chứ bộ!
Chị trung niên đắc thắng: – Biết ngay mà, tất cả những thằng giám đốc đều chết mê chết mệt những con bớp!
Mọi người im thin thít cho tới lúc đường ai nấy đi.
Sau lần đổi tàu, không hiểu bằng cách nào, cô tình cờ ngồi sau lưng hai học trò, vẫn đang theo đuổi câu
chuyện từ nãy. Học trò thứ nhất có vẻ cay cú, thề rằng vụ này cần phải kiểm tra lại, vì theo anh ta “con ễnh
ương ấy mọt đời cũng không lên được chức giám đốc”, anh ta nói có sách mách có chứng, anh ta vừa đọc
xong một cuốn sách cực hay tên là Cẩm nang xem tướng Trung Hoa, cuốn sách ấy khẳng định rằng “loắt
choắt” là một điều tối kỵ trong tướng mạo con người.
Học trò thứ hai cố pha trò bằng cách bảo các cụ tác giả có lẽ cần đội mồ đứng dậy mà cập nhật cẩm nang, thử
tới dự một cuộc họp lãnh đạo công ty anh ta mà xem, một tiểu đội ễnh ương ngồi chồm chỗm, điểm mặt ra
toàn các sếp bự.
Học trò thứ nhất không có cách nào phản biện, đành chua chát ghi nhận rằng đó là lý do mà trong cả lớp chỉ
có “con ễnh ương ấy” mới đủ đạn để năm nào cũng lượn vài vòng Việt Nam. “Còn những bọn như tôi và anh
thì chắt bóp mãi mà chưa đi nổi một lần”, anh ta nói thêm có phần khiêu khích.
Dường như không để ý, học trò thứ hai tiếp tục đùa cợt:
– Sang Việt Nam đột nhiên ễnh ương trở thành tê giác, có khi còn cưỡi cả xe máy phân khối lớn.
Vẫn không thể nào thoát khỏi trạng thái cay cú, học trò thứ nhất thốt lên:
– Nhưng sang Việt Nam mà không làm cái trò đó thì sang làm quái gì!
Học trò thứ hai im lặng, vẻ suy nghĩ, một lát sau nhắc lại, giọng phẫn uất:
– Ừ, sang Việt Nam mà không làm cái trò đó thì sang làm quái gì!
Thế rồi cả hai xuống tàu bỏ cô ngồi lại với ý nghĩ rất có thể sáng nay, ông loắt choắt đã giải quyết xong vụ ly
dị, nên tỏ ra rất thoải mái khi kể chuyện “cô ấy”, và cũng nhân đây muốn chiêu đãi cả lớp một bữa. Giá như
không có vụ đụng độ với chị trung niên, biết đâu ông ta còn cao hứng mời cả lớp sang Việt Nam dự đám
cưới – tiền vé trả được bao nhiêu cứ trả, phần còn lại ông ta chịu trách nhiệm.
Sau đó, cô tưởng tượng ra cách đây nửa ngày ông ta đứng giữa tòa (trong bộ com lê xanh biếc và rộng hơn
hai số), ngó vào mặt từng thành viên đoàn bồi thẩm, rồi bất ngờ phang một câu: “Nói thật với các vị, tôi đã
chán ngấy cái quy luật của các vị, cái quy luật mà đàn ông đàn bà cứ lấy nhau là phải ăn đời ở kiếp với
nhau!”. Luật sư của ông ta sững sờ. Bà vợ ông ta cũng sững sờ, rồi nước mắt tuôn rơi như đài phun nước (rất
có thể bà ta cũng vận một bộ váy xam xám, để lộ cặp đùi núng nính, và tóc cũng búi thành chiếc sừng nhỏ
ngay giữa trán). Ai cũng tỏ vẻ thông cảm. Một con tê giác cũng có quyền đau khổ cơ mà. Phiên tòa kết thúc,
bà vợ kéo luật sư ra một góc :
– Năm nào lão ấy cũng lượn vài vòng Việt Nam, không hiểu để làm gì ?
– Sang Việt Nam, không làm cái trò đó, thì có quái gì mà làm ? luật sư quặc lại.
– Nhưng lão ấy bất lực ! bà vợ khẩn khoản.
– Thì đã có vi-a-gờ ra! luật sư cười khẩy.
Bà vợ lại òa lên.
Cô về tới nhà khi đồng hồ chỉ hai mươi ba giờ. Thằng Mike đã được bác hàng xóm đón về từ sáu giờ chiều,
đang ngủ trên đi-văng, tay nắm chặt, bên cạnh là vô tuyến, chương trình “Điều tra tội phạm”, cấm trẻ em
dưới 12 tuổi.
Thang máy Sài Gòn (12, 13)
12
Paris
“Đúng vào ngày sinh nhật thứ hai mươi, tôi quyết định hỏi mẹ tôi về bố đẻ của mình. Lý luận của tôi thế này:
con người cần phải biết kẻ đã sinh ra mình là ai. Mẹ tôi quá bất ngờ, chủ đề bố đẻ chưa bao giờ xuất hiện
giữa hai mẹ con. Mẹ tôi ngay lập tức từ chối, lấy lý do vấn đề này đã thuộc về quá khứ, không cần thiết phải
nhắc lại. Nhưng tôi nằn nì. Tôi hứa dù thế nào cũng không để hai mẹ con xích mích. Tôi còn nói thêm tôi sắp
hai mươi tuổi, đủ chín chắn để đương đầu với sự thật, và tôi không tin có một thứ tình cảm gọi là phụ tử giữa
những người chưa bao giờ sống với nhau ngày nào. Cuối cùng, mẹ tôi cũng xuôi lòng. Nhưng tất cả thông tin
mà mẹ tôi có thể có được chỉ là họ và tên của người được coi như bố đẻ của tôi. Paul Polotski”.
Bill ngừng nói. Cô giật mình. Hóa ra trên đời cũng lắm tình cờ. Tối hôm qua, cầm điện thoại lên cô phải đợi
một lúc. Đã ngỡ bị gọi nhầm máy thì đầu kia một giọng đàn ông nói rằng muốn gặp cô không phải để xin
học tiếng Việt, mà để nói chuyện về một người có tên là Paul Polotski. Giữa đêm cô giật mình tỉnh dậy. Cô
thấy tiếc là đã vội nhận lời, đã quên không hỏi làm cách nào anh ta biết được mối quan hệ giữa cô và
Polotski, mối quan hệ mà cô tin rằng ngay cả Polotski cũng chẳng hay.
Thông tin duy nhất mà cô có được về anh ta là cái tên Bill không kèm họ. Nó khiến cô nghĩ tới tổng thống
Clinton. Cái tên đặc Mỹ, cô suy luận.
Cô tới nơi sớm hơn mười lăm phút, hồi hộp. Trong tàu điện ngầm, cô chợt có ý nghĩ Bill sẽ thay đổi ý kiến
và tự hủy cuộc hẹn, mặc dù chính anh ta là người đưa ra đề nghị. Sau đó cô lại nghĩ anh ta sẽ xuất hiện ở
điểm hẹn đúng giờ đã định, sẽ ngay lập tức yêu cầu cô không nên đi theo Polotski, vì nếu biết, ông ta có
quyền kiện cô ra tòa hay thuê côn đồ đánh cho một trận. Cô hơi rùng mình. Cuối cùng để bớt sợ, cô tự thuyết
phục rằng hành động của cô mấy tuần nay đã bị anh ta phát giác, nhưng việc ấy chỉ nói lên một sự thật rằng
cả anh ta và cô cùng có chung một đối tượng theo dõi – Paul Polotski.
Quán đã bớt đông. Khách tới đây phần lớn để ăn trưa. Mặt bàn la liệt đĩa bát bẩn và vỏ chai rỗng. Sau khi đã
chạy như những con thoi trong một tiếng liền, bồi bàn mệt mỏi, vừa thu dọn vừa ngáp và lấy tay áo lau mồ
hôi.
Hai người đối diện nhau trong tiếng ồn ào không ngừng vang lên từ tứ phía.
Hóa ra hai khả năng mà cô nghĩ tới lúc nãy đều không xảy ra. Bill đến đúng giờ nhưng im lìm như một pho
tượng thạch cao (trên người anh ta một màu trắng toát, từ quần áo tới khăn quàng và mái tóc bạch kim). Đi
thẳng tới bàn cô đang ngồi, anh ta thậm chí không mở miệng chào cũng không đưa tay ra bắt. Sau khi đứng
một lúc thì anh ta tự động ngồi xuống chiếc ghế còn lại và nhìn cô chằm chằm. Tuy vậy, cô không cảm thấy
ngạc nhiên hay khó chịu. Vẻ lạnh lùng bất lịch sự của anh ta, cô đã từng thấy ở ông Linh. Nếu ông Linh đã
khiến cô liên tưởng tới một pho tượng đồng đen thì Bill khiến cô liên tưởng tới một pho tượng thạch cao. Cái
nhìn của anh ta lúc này cũng là cái nhìn của ông Linh cách đây mấy tháng. Cách đây mấy tháng, trong phòng
khách nhỏ của con hẻm nhỏ của một thành phố không nhỏ, cô đã thất vọng vì bức tường trước mặt không có
một bức tranh, không có một khung ảnh, không có cả một vết bẩn để có thể tránh được cái nhìn ấy. Còn bây
giờ, cô thở dài rồi quay đầu xuống phố. Phố trải một màu vàng. Sáng sớm nay, một cơn giông lớn đã đi qua
Paris và đem theo toàn bộ hơi nóng tích tụ từ đầu hè. Bao lâu rồi cô không quay lại đây. Tối hôm qua, lúc
Bill hỏi có thể gặp nhau ở đâu, cô nói tên của quán, cái tên tự nhiên hiện ra trong đầu, rõ ràng rành mạch với
cả địa chỉ và cách đến. Anh ta đồng ý và đặt máy xuống khiến cô ngay sau đó muốn thay đổi mà không kịp.
Bao lâu rồi cô không quay lại đây, không ngồi ở cửa sổ này, ở cửa sổ này nếu nhìn xuống thì thấy phố mà
nhìn lên sẽ thấy các mái nhà nhấp nhô. Lần cuối cùng ngồi đây, cô phát hiện ra một lồng chim treo trên cây
tiêu huyền, gần sát mái nhà thấp nhất. Lần cuối cùng ngồi đây, cô không nói gì với Kai. Thời gian trước khi
chia tay, Kai cáu kỉnh như khỉ ăn mắm tôm, vì những lý do mà cô không sao hiểu nổi. Một ngày giữa hè, từ
nhà nghỉ của gia đình, Kai gửi tin nhắn : “Anh không muốn tiếp tục mối quan hệ của chúng ta”. Một tuần
sau, cô định nhắn lại: “Anh làm ơn im đi được không”. Nhưng cuối cùng cô đã không gửi gì cả.
Bồi bàn tiến lại hỏi có muốn uống gì không. Hỏi tới lần thứ hai thì cô đành gọi một ly nước cam với thật
nhiều đá bào. Không cần nhìn sang Bill, cô cũng biết là anh ta không nghe thấy gì hết, kể cả câu hỏi của bồi
bàn, kể cả câu trả lời của cô, kể cả đám người đang đi xuống cầu thang, vừa đi vừa ồn ào bình luận về một bộ
phim mới ra, rất bạo lực mà không ghi cấm trẻ em, như thế là phạm luật. Ai đó còn nói to không phải cứ
tiếng súng thì mới là bạo lực, “có những sự im lặng còn nguy hiểm hơn tiếng súng!”, những kẻ khác vỗ tay
tán thưởng rồi cả bọn chen nhau bước ra đường.
Trong góc phòng, một phụ nữ trung niên ngồi lật họa báo, trước mặt bày một chai bia đã cạn tới đáy. Chị ta
có mái tóc vàng xù như rơm và cứ vài phút lại buông họa báo để ngó nghiêng. Bill ngồi quay lưng lại. Như
vậy có lẽ tốt hơn, cô nghĩ. Bởi nếu thấy chiếc khăn trắng toát thế nào chị ta cũng sẽ bỏ họa báo để nhìn chằm
chằm vào mặt anh ta như anh ta đang nhìn chằm chằm vào mặt cô bây giờ, rồi rất có thể sẽ buột miệng kêu
to: “Chỉ những pho tượng mới quàng khăn giữa mùa hè!”. Sau đó, vì Bill sẽ im lặng, chị ta sẽ kêu to hơn
nữa: “Có những sự im lặng còn nguy hiểm hơn tiếng súng!” hay một câu gì na ná như thế mà người ta vẫn
hằng ngày đọc được trong các họa báo.
Bồi bàn sau khi mang lại ly nước cam thì giơ tay nhìn đồng hồ và phi xuống cầu thang. Có vẻ như đã quá giờ
phục vụ. Anh ta không nhận ra khách quen một thời. Ngày trước mỗi khi cô đặt chân tới cửa, anh ta đều nháy
mắt chỉ lên gác, nơi ấy Kai đã ngồi sẵn bên chiếc bàn kê sát cửa sổ, tờ báo mở đôi đặt trên ghế đối diện. Có
lần cô hỏi Nagasaki cũng phải xếp gạch giành chỗ như Hà Nội hay sao, Kai không hiểu và cô cũng không
tìm cách giải thích.
Cô đẩy ly nước cam đến trước mặt Bill. Chiếc khăn quấn mấy vòng quanh cổ khiến mồ hôi chảy tong tỏng từ
trán anh ta xuống mặt bàn. Nhưng sự ngốt ấy, anh ta không thể nói lên lời nên đành trút vào cái nhìn về phía
cô và cô lại đành ngó xuống phố.
Phố vẫn trải một màu vàng tươi. Trong màu vàng không lẫn đi đâu được của tháng Sáu, cô lại nghe thấy cái
giọng đều đều của Bill kể tiếp:
“Ngoài cái tên Paul Polotski, mẹ tôi không có thông tin nào khác. Đấy là một cuộc gặp gỡ bất ngờ và chớp
nhoáng, cả hai không biết gì về nhau và cũng không có ý định gắn bó cuộc đời với nhau. Cách đây hai mươi
năm người ta hầu như chưa biết tới bao cao su và thuốc tránh thai. Ngay lập tức tôi tìm thấy tên ông ta trong
danh bạ điện thoại. Tôi tin đó là bố đẻ của mình, bởi tôi đã kiểm tra danh bạ của cả nước Pháp, chỉ có đúng
một người mang tên họ như vậy, trong thành phố Paris. Và cũng vì linh tính. Càng sống tôi càng tin là trong
các cuộc tìm kiếm, linh tính luôn đóng vai trò quan trọng. Tôi cầm điện thoại lên, bấm số vừa tìm được. Ba
lần chuông reo, có tiếng trả lời. Một giọng đàn ông khiến tôi run bắn. Cố trấn tĩnh, tôi bảo tôi tìm một người
tên họ như thế này, nếu đúng xin được phép nói chuyện riêng. Đầu dây kia ngần ngừ rồi đồng ý. Lấy hết can
đảm, tôi nói cái câu đã hình dung nghìn lần trong đầu: “Bố ơi, chắc là bố không biết con đâu, nhưng con là
con trai của bố”.
Đầu dây kia im phăng phắc. Tôi lại lên tiếng: “Con sẽ không làm phiền bố đâu. Con chỉ muốn biết rằng bố
tồn tại trên đời. Một tuần nữa là con tròn hai mươi tuổi”. Tôi im lặng chờ đợi. Một lát sau, đầu dây kia trả
lời, rằng ông cũng rất vui được biết tôi sắp hai mươi, ông không ngờ là có một đứa con trai đã lớn như vậy,
sau cuộc gặp gỡ chóng vánh, ông và mẹ tôi không hề liên lạc với nhau. Tôi liền bảo tôi không trách ông, rằng
không ai có lỗi trong việc này, rằng tôi không hề cảm thấy bất hạnh khi sống một mình với mẹ vì đó là một
người mẹ trên cả tuyệt vời… vân vân và vân vân. Câu chữ cứ thế mà tuôn trào. Như thể bao nhiêu năm
không được nói. Tôi nhớ là tôi đã bảo ông: “Đó có lẽ là sự lựa chọn của mẹ, bố ạ”. Tôi đã chuẩn bị tinh thần,
nhưng lần đầu tiên được gọi ai đó là “bố”, thấy xúc động khôn tả. Cuối cùng, tôi nói với ông rằng vài ngày
nữa tôi có việc phải lên Paris, đây là đầu tiên tôi đặt chân tới thủ đô, nếu ông không cảm thấy ngại thì tôi rất
muốn được gặp ông, ở một quán cà phê chẳng hạn, độ nửa tiếng. “Con sẽ không làm phiền bố đâu. Con chỉ
muốn biết rằng bố tồn tại trên đời”, tôi nhắc lại cái câu lúc nãy. Ông chấp nhận, lại còn đưa cho tôi địa chỉ
của một quán cà phê mà ông nghe bảo là khá yên tĩnh. Tôi đặt máy xuống mà thấy người lâng lâng”.
13
Paris
“Mấy tối liền sau đó tôi nằm mơ thấy Paul Polotski, và dù chưa bao giờ biết mặt ông, tôi cũng có cảm giác
đó là một người đàn ông bé nhỏ, tóc đen, có vẻ nhút nhát và mơ màng, một “tâm hồn Nga” như người ta hay
nói.
Trong mơ tôi thấy ông đưa tôi về một làng nhỏ hệt trong tiểu thuyết Sông Đông êm đềm, tối hôm đó chúng
tôi được dân làng làm tiệc tiếp đón, lần đầu tiên tôi biết thế nào là bánh rán nhân thịt và bia làm từ lúa đại
mạch, và được nhảy với một thiếu phụ vô cùng duyên dáng mà không hiểu sao tôi cứ nghĩ đó là nàng Asinia.
Tỉnh dậy tôi vẫn còn ngất ngư. “Paul Polotski” với tôi là một cái tên đẹp nhất lúc đấy. Tôi bắt đầu tiếc là đã
không được mang họ Nga của ông, và tự hỏi không hiểu sao mẹ tôi lại đặt cho tôi một cái tên đặc Mỹ. Thậm
chí tôi còn thử ghép tên tôi với họ của ông và ngán ngẩm lắc đầu: Bill Polotski nghe không ổn chút nào.
Đúng hẹn, tôi đáp máy bay lên Paris, rồi tiếp tục đi tàu điện ngầm tới quán cà phê. Tôi đến nơi sớm hơn một
tiếng. Phải nói là tôi hồi hộp, bảo là lên thủ đô có việc nhưng thực ra chỉ là cớ để gặp bố. Tôi chọn một bàn
khuất nhất của một góc vắng nhất, ngồi tì tay nhìn ra cửa, hy vọng sẽ nhìn thấy bố ngay khi ông xuất hiện.
Tôi chuẩn bị một tệp khăn mùi soa giấy. Tôi biết là tôi sẽ khóc ngay câu đầu tiên. Tôi biết là tôi đã không giữ
lời hứa với mẹ. Nhưng tình phụ tử là cái gì đó không thể nói là không thiêng liêng.
Tháng Sáu nắng bao giờ cũng vàng một màu không lẫn đi đâu được. Nửa tiếng trôi qua. Nửa tiếng nữa trôi
qua. Quá giờ hẹn một tiếng, vẫn không thấy ông đâu. Quán quả là yên tĩnh như ông đã nghe nói, trong suốt
mấy tiếng đồng hồ chỉ có vài khách bước vào, nhưng ba người thì đi với một ai đó, còn lại là một ông say bí
tỉ và một thanh niên hút thuốc phì phèo. Tôi hết cả kiên nhẫn và bỏ điện thoại ra bấm để rồi choáng váng:
đầu dây bên kia là giọng tổng đài, thông báo rằng số điện thoại ấy không còn hợp lệ. Tôi gọi lại một lần nữa,
vẫn là giọng tổng đài. Tôi gọi lại một lần nữa. Sau ba lần, tôi mới đành chấp nhận đó là sự thật”.
Bill dừng lại. Cô quay sang nhìn anh ta. Cô vẫn không thoát được cảm giác trước mặt mình là một pho tượng
thạch cao. Và từ khi pho tượng ấy mấp máy môi, cô lại có thêm cảm giác đang nghe một băng học ngoại
ngữ. Nhưng rồi cô tự nhủ có lẽ nhờ cái giọng đều đều dễ gây buồn ngủ này mà người nghe đã không rơi
nước mắt trước câu chuyện của anh ta. Một ý nghĩ chợt tới trong đầu cô: rất có thể cả đêm hôm qua, Bill đã
giam mình trong phòng riêng, kể đi kể lại câu chuyện ấy cả chục lần, mới đầu vừa kể vừa thút thít, sau đó
vừa kể vừa oán hờn, cuối cùng khi thuộc như cháo chảy thì cũng là lúc đã chai sạn cảm xúc. Gần một tiếng
đồng hồ lúc nãy, anh ta đối diện với cô mà không mở miệng nói câu nào, chẳng qua chỉ để dượt thêm vài lần
nữa trong đầu cho thật chắc. Và kết quả đúng là ngoài sức tưởng tượng: anh ta đã kể câu chuyện của chính
mình như kể câu chuyện của một người khác. Cô có cảm giác thậm chí mấy câu trao đổi ở điện thoại tối hôm
qua cũng được anh ta tập trước, chúng cũng được nói bằng một giọng đều đều vô cảm đến nỗi cô đã mất bình
tĩnh và phản ứng như một cái máy: ngay lập tức đồng ý tới gặp anh ta, rồi lại ngay lập tức đưa cho anh ta tên
của cái quán vừa bất ngờ hiện ra trong đầu.
Nếu có một cuộc thi lạnh lùng thì Bill và ông Linh sẽ đồng giải nhất, cô tự nhủ. Ông Linh muốn cô hiểu rằng
cơn “ám ảnh chết người” mà mẹ từng gây cho ông ấy ngày nào đã chấm dứt từ lâu, còn Bill muốn cô hiểu
rằng nỗi “xúc động khôn tả” mà Polotski từng gây cho anh ta ngày nào cũng chấm dứt từ lâu.
Cô nhìn anh ta một lần nữa. Khả năng tỏ ra lạnh lùng của Bill kể ra cũng đáng gờm. Bộ quần áo trắng toát
cùng chiếc khăn quàng trắng toát kết hợp tài tình với mái tóc bạch kim. Anh ta quả là tính đến từng chi tiết.
Nhưng điều khiến cô ngạc nhiên hơn cả là chính Bill chứ không ai khác đã vô tình gây ra nỗi khốn khó mà
cô phải gánh chịu trong quá trình tìm kiếm Paul Polotski: sau cú điện thoại mà anh ta nằng nặc nhận là con
trai, Polotski lúc ấy hẳn đã lập gia đình, không muốn gặp rắc rối, đã quyết định đổi số điện thoại nhà riêng.
Từ đó đến nay hai mươi năm, mỗi năm ông ta phải trả France Télécom một khoản tiền để họ tên không bị
hiện lên danh bạ điện thoại.
Mười ngày sau khi đưa tang mẹ, quay lại Paris, cô đã mở danh bạ điện thoại, tìm khắp thành phố và ngoại ô
Paris, rồi sau đó là hai mươi bốn vùng của nước Pháp, nhưng không thấy người nào là Paul Polotski. Lúc ấy,
ông ta chưa bắt đầu dạy hợp đồng cho khoa Đông Âu. Bấm họ tên ông ta ở Internet, chỉ được một vài thông
tin mù mờ, một vài địa điểm nơi ông ta đã là giáo viên thỉnh giảng từ những năm nảo năm nao, trong một
thời gian rất ngắn, cho một chủ đề lỗi thời, đến nỗi khi cô gọi điện tới, chẳng ai buồn vào lưu trữ để kiểm tra.
Một thư ký còn nói huỵch toẹt rằng ngày xưa làm gì có máy vi tính để có thể cất vào kho ảo “mọi thứ hổ lốn
trên đời”.
Mấy tuần tiếp theo, cô không nhớ đã gõ cửa bao nhiêu khách sạn và bưu điện để xin danh bạ điện thoại cũ.
Hai trăm cuốn danh bạ điện thoại của Paris và hai mươi bốn vùng nước Pháp cũng không giúp cô dò được
dấu vết nào của Paul Polotski.
Mấy tuần tiếp theo, cô đành ngồi lập danh sách tất cả những ai mang họ Polotski mà cô tìm thấy trong hai
trăm cuốn danh bạ điện thoại, với hy vọng mong manh rằng đó là những kẻ ruột thịt của Paul Polotski.
Có máu nhập cư trong người cũng có nghĩa là ít khi nào chấp nhận dừng chân. Sau khi tra xong hai trăm
cuốn danh bạ, cô biết được rằng toàn bộ nước Pháp trong vòng chục năm nay có chín vị mang họ Polotski,
nhưng duy nhất một vị tên là Anatole trong năm năm cuối không chuyển nhà lần nào, còn lại thì cứ đều đặn
hai hay ba năm lại thấy thay địa chỉ một lần. Có những vị bỗng dưng từ đâu xuất hiện, có thể thanh niên ra ở
riêng, hoặc trung niên mới ly dị, hay bất kỳ tuổi nào nhưng vừa từ Nga sang. Có những vị tự nhiên biến mất,
có thể đã qua đời, vào nhà dưỡng lão, trở về cố quốc hay lập gia đình rồi chuyển đến ở với vợ, hoặc rất đơn
giản, đã bỏ điện thoại bàn và chỉ sử dụng di động như rất nhiều dân Pháp độc thân bây giờ. Cô không còn
cách nào hơn là gọi điện tới từng vị. Cô nghĩ, thám tử tư đầy kinh nghiệm thì cũng phải sử dụng cái phương
pháp thủ công này.
Chín vị nhưng cuối cùng thành mấy chục cú điện thoại, mấy chục cú điện thoại đều bắt đầu bằng câu hỏi
“Xin lỗi, có phải đây là nhà ông Paul Polotski?”, mấy chục cú điện thoại trong đó một nửa vừa nghe xong,
đầu kia đã đặt máy, không biết vì lý do gì và cô đành để vài ngày sau gọi lại, vài ngày sau mà vẫn bị đặt máy
thì lại đành để vài ngày sau nữa gọi lại. “Quá tam ba bận” cô tự đặt cho mình quy tắc như thế. Có cú điện
thoại chỉ kéo dài chưa đầy nửa phút, đủ để cô nhắc lại cái câu hỏi đã thuộc lòng ấy và đầu kia trả lời ngắn
gọn: “Xin lỗi, nhầm số rồi”. Lại có cú điện thoại kéo dài cả tiếng, cô vừa nghe vừa nghĩ tới hóa đơn điện
thoại tháng sau, nhưng đầu kia một cụ già nào đó đang buồn chán và thèm trút bầu tâm sự, không có Paul
Polotski nào ở đây nhưng có cụ, cụ cũng gốc Nga, càng già càng nhớ cố hương, càng phát khổ phát sở vì các
kỷ niệm. Có cú điện thoại khiến cô phì cười khi đầu kia một giọng phụ nữ quang quác: “Thằng Paul đâu, lại
thêm một con ranh gọi mày đi nhảy đây này”. Lại có cú điện thoại khiến cô không cười nổi khi đầu kia một
giọng phụ nữ nghẹn ngào: “Cô là ai mà không biết Paul đã qua đời năm ngoái, một ngày trước khi anh ấy
tròn ba mươi”. Nhưng cú điện thoại sau đây cô cho là kỳ lạ nhất:
– Xin lỗi có phải đây là nhà ông Paul Polotski?
– Sáng nay cũng có một người Mỹ gọi tới đây hỏi Paul Polotski. Cô gọi có việc gì?
– Tôi chỉ muốn xem ông Paul Polotski có sống ở đây không.
– Nói thật cho tôi biết có đúng là mafia Hoa kiều đang truy lùng cái văn tự thổ trạch ấy?
– Văn tự thổ trạch nào cơ?
– Văn tự thổ trạch mà nhà Thanh của các người đã ký với Sa hoàng của chúng tôi.
– Tôi không hiểu ông đang nói gì.
– Thôi đừng giả bộ. Các người đã làm mất văn tự trong chiến tranh Hoa-Nhật, giờ đây mới cuống cuồng tìm
lại, nhờ cả CIA tìm giúp.
– Nhưng văn tự về cái gì vậy?
– Các người đã lợi dụng Sa hoàng để mua rẻ bốn hòn đảo phía Đông sông A-mo của chúng tôi.
– Sông A-mo ở tận Xi-bi-ri ấy à?
– Chứ còn ở đâu nữa.
– Lần đầu tiên tôi nghe thấy chuyện này đấy.
– Thôi dừng giả bộ. Các người chẳng tính toán từ cả thế kỷ nay.
– Thế mafia quận Mười Ba thì có dính dáng gì tới chuyện này?
– Chính các người vừa ra giá một trăm triệu cho ai tìm thấy văn tự.
– Thế Paul Polotski thì có dính dáng gì tới văn tự?
…
Mỗi khi nhớ lại cú điện thoại này, cô lại tự nhủ không biết vì lý do gì mà đầu kia thình lình đặt máy ở đúng
câu hỏi cuối cùng của cô, rồi ngay lập tức để kênh máy và từ ngày hôm sau, cắt luôn số điện thoại. Cách đây
mấy ngày, cô thử gọi lại vẫn bị rơi vào tổng đài. Bây giờ, ngồi trước mặt Bill, cô chợt nghĩ rất có khả năng
Bill đã là người gọi điện tới số máy ấy vào buổi sáng hôm đó: sau hai mươi năm sống trong thắc mắc, anh ta
không chịu nổi và lại bắt đầu cuộc tìm kiếm dấu vết của bố đẻ. Việc đầu tiên mà anh ta làm là lục tung danh
bạ điện thoại Paris và hai mươi bốn vùng của nước Pháp để lên danh sách tất cả những ai mang họ Polotski,
với hy vọng mong manh rằng đó là họ hàng máu mủ của ông ta (và vì thế cũng là họ hàng máu mủ của chính
anh ta). Lập xong danh sách chín vị, Bill đã quyết định cầm máy lên gọi điện cho từng vị một. Lý luận của
anh ta cũng chẳng khác gì cô: thám tử tư đầy kinh nghiệm cũng không thể không sử dụng phương pháp thủ
công này. Tóm lại, anh ta và cô đều vô tình suy tính và tiến hành một số thao tác tìm kiếm cơ bản bằng điện
thoại. Rồi có một ngày cả hai cùng gọi tới một số máy, cùng đặt câu hỏi về Paul Polotski và đã bị đầu dây
kia ngờ là đang truy lùng văn tự thổ trạch của bốn hòn đảo trên sông A-mo, anh ta thì đại diện cho CIA (vì
có tên đặc Mỹ) còn cô thì đại diện cho mafia Hoa kiều (vì có giọng Á châu).
Trời tối lại từ lúc nào, không phải vì đã muộn mà vì một cơn mưa. Tầng vẫn không có thêm khách, bồi bàn
cũng chẳng buồn quay lại hỏi thăm.
Cô chợt muốn đứng dậy để ra về. Thình lình người phụ nữ tóc vàng tiến thẳng tới bàn cô, một tay chống
nạnh, một tay chỉ vào chiếc khăn màu trắng quấn quanh cổ Bill, miệng nói dõng dạc: “Đúng là thằng chập
mạch!”. Cô vội đứng lên cầm tay chị ta kéo ra chỗ khác. Ngay sau đó, cô hơi bất ngờ vì hành động của mình
rồi tự lý giải rằng cô chỉ muốn bảo vệ một kẻ không có khả năng tự vệ: trước sự tấn công của người lạ mặt,
Bill tiếp tục ngồi im như tượng.
Người phụ nữ tóc vàng dãy dụa quyết liệt. Sau mấy cái vung tay khiến cô bắn ra một góc, chị ta quay phắt lại
và nổ như súng liên thanh vào Bill cái câu lúc nãy: “Đúng là thằng chập mạch!”, tay tiếp tục chỉ vào chiếc
khăn màu trắng. Vì Bill vẫn không phản ứng nên chị ta nhảy choi choi, vừa nhảy vừa ngó nghiêng khắp
phòng, nhưng vẫn không quên đong đưa bộ tóc vàng làm duyên. Có cảm giác chị ta đang tìm một vật đủ sắc
để cắt phéng chiếc khăn. Lại cũng có cảm giác chị ta đang đóng vai một quí bà nạ dòng đỏng đảnh. Cảnh
tượng vừa hung hãn vừa khôi hài. Cô suýt bật cười, đứng nhìn cho tới khi bồi bàn từ dưới nhà lao lên, lôi chị
ta xuống cầu thang, tống ra ngoài.
“Đúng là một lũ chập mạch!”, tiếng bồi bàn rú rít. Cô phẩy tay, đứng lên.
Buổi chiều, trên đường tới trường mẫu giáo đón thằng Mike, cô không thể nào không nhớ lại cảnh này, và
vẫn thấy buồn cười như lúc nãy. Người phụ nữ tóc vàng có thể đập vỡ chai bia để tấn công chiếc khăn quàng
màu trắng, nhưng Bill bắt buộc phải ngồi im vì anh ta đã không lường trước được rằng chiếc khăn của mình
có khả năng khiến ai đó nổi điên. Anh ta không biết phải làm gì trong trường hợp này. Đánh lại một người
điên thì anh ta không dám, mà lên tiếng giải thích cho chị ta hiểu thì anh ta không thể (anh ta chưa kịp luyện
giọng trước ở nhà). Anh ta chấp nhận bị một người điên tấn công còn hơn là phải để lộ giọng thật của mình.
Cô có linh cảm rằng cô và Bill sẽ còn gặp lại nhau, trong một hoàn cảnh khác.
Thang máy Sài Gòn (14, 15, 16)
14
Paris
Cách đây hai năm, bà hiệu trưởng trường mẫu giáo của thằng Mike nhắn cô lên văn phòng để nói chuyện.
Cô có mặt đúng giờ nhưng đợi hơn hai mươi phút vẫn chưa được tiếp. Điện thoại của bà hiệu trưởng liên tục
réo và mỗi lần nhấc máy lên, vừa nói a-lô bà hiệu trưởng vừa giơ ngón tay trỏ về phía cô không hiểu muốn
đề nghị ở lại hay ra về.
Đúng lúc cô quay lưng định đi thì bà hiệu trưởng thò đầu ra mời vào, rồi không để cô kịp ngồi xuống ghế, bà
hiệu trưởng tuyên bố nguyên nhân của cuộc nói chuyện sáng nay: cô giáo chủ nhiệm lớp thằng Mike, sau
mấy tháng theo dõi đã đi tới kết luận là thằng Mike “mắc bệnh tự kỷ”, chính xác hơn là “hội chứng tự kỷ”,
“một trong những hội chứng rối loạn phát triển ở trẻ em”.
Cô bật dậy nói: “Thằng Mike hoàn toàn bình thường như những đứa trẻ khác”.
Bà hiệu trưởng gạt tay nói tiếp: “Trong phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới trước đây thì người ta xếp tự kỷ
vào loại bệnh tâm thần, nhưng ngày nay nó được tách ra như là một hội chứng rối loạn phát triển”.
Cô hoảng hốt nhìn quanh và thấy các cửa sổ đều đóng, cửa ra vào hình như còn gài cả then sắt. Bà hiệu
trưởng lại bảo hội chứng tự kỷ của thằng Mike được biểu hiện qua các loại hành vi sau: thứ nhất, khiếm
khuyết về quan hệ xã hội, thằng Mike không chia sẻ cảm xúc với những người xung quanh, không chú ý đến
các hoạt động tập thể; thứ hai, khiếm khuyết về sử dụng ngôn ngữ giao tiếp, thằng Mike rất chậm nói, ba tuổi
rồi mà không biết biểu đạt nguyện vọng bằng ngôn ngữ, và mắc tật nhại lời trì hoãn, rất nhiều lần cô chủ
nhiệm bắt gặp nó nhắc lại một đối thoại đã có từ trước đó rất lâu; thứ ba, là chơi tưởng tượng, thằng Mike
không thích chơi với các bạn mà chỉ thích chơi một mình, cũng không đa dạng trong cách chọn trò chơi, lặp
đi lặp lại một động tác.
Bà hiệu trưởng nói rất hăng, kể thêm mấy hành vi khác thường nữa của thằng Mike, sau đó đưa ra cả nguyên
nhân và biện pháp đối với “hội chứng tự kỷ”.
Cuối cùng, bà hiệu trưởng bảo nhà trường rất thông cảm với hoàn cảnh không có bố của thằng Mike nên đã
kiên trì theo dõi nó trong ngần ấy thời gian, nhưng nhà trường yêu cầu cô đưa thằng Mike tới các nhà chuyên
môn để điều trị. Nếu không năm tới nhà trường sẽ buộc phải gửi thằng Mike đến cơ sở giáo dục đặc biệt
dành riêng cho trẻ em cùng bệnh, bệnh của thằng Mike bị phát hiện ở tuổi này là quá muộn, để thêm một thời
gian ngắn nữa sẽ vô phương cứu chữa. Nếu không, bản thân cô cũng có nguy cơ bị đưa ra tòa vì tội “cố ý gây
tổn hại tới trẻ vị thành niên”.
Cô nhìn vào tờ giấy bà hiệu trưởng ấn vào tay, trong đó ghi danh sách những chuyên gia mà cô có trách
nhiệm mang thằng Mike đến gặp, đứng đầu là bác sĩ tâm thần trẻ em, một tuần hai buổi mỗi buổi một tiếng
rưỡi.
Khi cô đứng lên chuẩn bị ra về, bà hiệu trưởng nhìn thẳng vào mắt cô, rồi bất ngờ hỏi:
– Đã bao giờ đi khám bác sĩ tâm thần chưa?
Cô không hiểu gì cả và chưa kịp phản ứng thì bà hiệu trưởng nghiêm giọng bảo:
– Muốn đưa trẻ em tới bác sĩ tâm thần trẻ em thì người lớn nên chủ động đến gặp bác sĩ tâm thần người lớn
trước đã.
Sau lần gặp đó, chuẩn bị vào năm học mới, cô đã phải nhờ bà Wang cho mượn địa chỉ để xin trường mẫu
giáo mới cho thằng Mike. Nhà bà Wang ở ngoại ô phía Bắc, hơn một nửa là dân nhập cư, các cô mẫu giáo
cũng là dân nhập cư nên không ai phát hiện ra thằng Mike mắc bệnh tự kỷ. Cô chưa bị bà hiệu trưởng trường
mẫu giáo mới gọi lên văn phòng nói chuyện bao giờ. Chỉ có điều ngày nào hai mẹ con cũng mất hai tiếng
trong tàu điện ngầm, hai mươi bến, hai lần xuyên thành phố.
15
Sài Gòn
Mưa đã rơi vào chín giờ sáng.
Cả nhà ăn trong im lặng. Không ai lên tiếng bình luận về cả cơn mưa lẫn tiếng mưa. Bàn đặt giữa ban công.
Ban công bồng bềnh trong kính. Kính bồng bềnh trong mưa. Thế là được ngắm mưa thoải mái mà không sợ
ướt người.
Thằng Mike nhìn đĩa nem rán, mặt buồn rười rượi. Nó không bằng lòng. Nó đã quen hằng ngày ngủ dậy
được đi ô tô đến khách sạn Caravelle ăn sáng. Khách sạn năm sao phục vụ năm chục món điểm tâm. Sushi.
Đỉm Sum. Petit déjeuner. Breakfast. Nó đã quên Paris. Paris chỉ có sữa ca cao và bánh bích qui, sản phẩm
công nghiệp nhưng bảo đảm năng lượng, bảo đảm năng lượng cho hơn chục bến tàu điện ngầm, cho buổi
sáng tới mười hai giờ trưa của thằng Mike, cho buổi sáng tới mười bốn giờ chiều của cô, mười bốn giờ chiều
người Paris mới bớt lượn cửa hàng mỹ nghệ để cô ngồi vào ghế khảm trai tu nước chai và gặm bánh mì thịt
nguội. Paris bây giờ tạm thuộc về quá khứ. Hà Nội đã thuộc về quá khứ từ lâu.
Mưa tạnh. Hành lang tiếng chân rầm rập. Bà giúp việc ngó đầu vào trước, cô chẳng nghe được từ nào nhưng
thằng Mike đã vụt ra cửa để mấy giây sau lại quay đầu bỏ chạy. Vì húc phải người lạ. Người lạ ở đây là hai
thanh tra nước ngoài, một già, một trẻ, không hiểu sao trông như đã gặp. Cả hai cùng giật mình trước phòng
khách xanh thẳm, rồi tháo kính mát, hết nhìn ba cây dừa đung đưa từ xa, lại nhìn đôi cá ngựa vật nhau dưới
nước.
Cô và thằng Mike cũng từng giật mình như thế, lần đầu đặt chân vào đây. Anh Mai nhìn hai mẹ con cô cười
cười. Trên đường từ sân bay về nhà, anh không ngừng bấm điện thoại, hóa ra là để chỉ đạo biến phòng khách
thành bãi biển Nha Trang. “Giá cả không thành vấn đề, nhưng bốn tám phút nữa nhất định phải xong”, anh
Mai nói vào máy điện thoại khi xe bất ngờ giảm tốc độ trên đường Cộng Hòa chói nắng.
Hai vị thanh tra ngần ngừ nửa phút rồi xăm xăm hướng về chiếc thuyền độc mộc. Mỗi vị chiếm một đầu, tay
dang sang hai bên, chân duỗi về phía trước, mặt cúi xuống giấu một cái ngáp nhẹ. Xong xuôi, vị lớn tuổi
nhìn cô mỉm cười ra hiệu ngồi xuống ghế đối diện, vị trẻ tuổi nhìn bà giúp việc mỉm cười ra hiệu đi ra ngoài.
Nhìn hai con người tươi tỉnh, giữa đề-co bãi biển, chỉ vài phút sau cô đã hầu như không còn cảm giác đang
đối diện với các thanh tra. Trong lúc hai vị hồn nhiên chọn đồ uống mà bà giúp việc liên tục khuân vào thì cô
chợt phát hiện ra một điều khá thú vị: vị lớn tuổi, cao to, tóc bạch kim, giá thay quần jeans và polo kẻ ngang
bằng com lê nâu và măng tô xám thì sẽ giống hệt thanh tra Derrick; còn vị trẻ tuổi, tầm thước, tóc bồng, giá
thay quần jeans và áo polo kẻ sọc thành quần tím than và vest len ghi xám hẳn sẽ khiến nhiều người nhầm là
phụ tá Klein. Derrick và Klein, cô gặp trong phim hình sự Đức, ba tháng liền, tất cả các buổi chiều nằm ôm
thằng Mike, trước màn hình vô tuyến, từ ngày rời nhà hộ sinh, cho tới khi đầu óc mụ mị.
Derrick bật nút một chai sâm banh nhỏ, tự rót cho mình một ly rồi quay về phía cô mỉm cười:
– Làm chút cho mát ruột?
Đã một tuần không nghe thấy tiếng Pháp nên cô giật mình. Klein tay cầm một chai bia, nhanh nhẹn tiếp lời,
cũng khiến cô giật mình không kém:
– Tự nhiên nhé, bọn này khát cháy họng!
Không khí phòng khách thư giãn, hết hẳn tiếng tích tắc của đồng hồ treo tường, còn tiếng rì rầm của điều hòa
nhiệt độ thì nhiều lúc tưởng tiếng sóng biển Nha Trang lúc trời lặng gió. Dierrick làm xong ly sâm banh, ngả
hẳn vào lưng ghế, tay trái vỗ lên đùi một nhịp vu vơ. Klein đã sang chai bia thứ ba, nhưng mặt vẫn tỉnh như
sáo (khả năng uống bia của dân Đức vô địch không kém khả năng ngoại ngữ), miệng chúm chím một giai
điệu, nghe một lúc cũng nhận ra Lili Marleen. Mit dir Lili Marlene. Mit dir Lili Marlene. Lili Marleen, cô
xem mòn cả băng video, ba tháng nằm nhà, từ lúc đợi sinh thằng Mike cho tới khi đầu óc mụ mị. Lili
Marleen hôm nay, giữa Sài Gòn, cũng trở thành quá khứ.
Phòng rơi vào im lặng lúc nào không hay. Lili Marleen được thay thế bằng những tiếng thở nhẹ. Mặt trời len
lỏi khắp nơi. Bấy giờ mới hay hai vị thanh tra đến từ nước Đức có nước da rám nắng đặc biệt. Ngoài quần
jean và polo kẻ đang vận trên người (rất điển hình cho du khách phương Tây), thì nước da rám nắng (điển
hình không kém) cũng góp phần tạo nên cái vẻ tươi tỉnh dễ gần ấy. Có lẽ nên hiểu rằng hai vị thanh tra muốn
nhân dịp thanh tra tai nạn thang máy của Sài Gòn thì giải quyết luôn một thể nhu cầu nghỉ ngơi thư giãn của
bản thân. Hai vị làm gì không biết cô có mặt ở Sài Gòn từ ngày nào, nhưng chưa vội gặp ngay vì còn đang
bận tắm biển và phơi nắng ở Nha Trang hay Phú Quốc hay một nơi xa xa nào đó, như Bãi Cháy hoặc Sầm
Sơn. Rất có thể, trước khi quyết định làm cho da chuyển thành màu đồng và khoác lên người những bộ quần
áo của dân du lịch, hai vị cũng cảm thấy tiêng tiếc (được nhầm với diễn viên hình sự nổi tiếng kể ra cũng thú
vị) nhưng rồi tặc lưỡi: giữa nhu cầu chinh phục công chúng Việt Nam và nhu cầu nghỉ ngơi thư giãn (đặc
biệt là tắm biển và phơi nắng) thì rõ ràng nên nghiêng về nhu cầu thứ hai. Giữ nước da trắng bợt, vận áo vest
len và măng tô dạ giữa cái nóng 39° để chinh phục công chúng Việt Nam thì hai vị được cái gì? Công chúng
Việt Nam có chỉ trỏ hai vị từ xa, có gọi hai vị là Derrick và Klein, có xin chữ ký, tặng hoa thì hai vị được cái
gì? Đặt chân tới Việt Nam hai vị biết ngay chẳng cần là diễn viên truyền hình nhiều tập Đức thì vẫn được chỉ
trỏ từ xa, thậm chí có cả một đoàn thiếu nữ xinh xinh tiến lại tặng hoa, không xin chữ ký mà xin địa chỉ
khách sạn.
Để cưỡng lại cơn buồn ngủ bất ngờ ập đến, cô tưởng tượng trong máy bay, Derrick và Klein tình cờ bị xếp
ngồi cạnh một lão bụng đầy mỡ, đầu nhẵn thín, quần áo nhàu nhĩ, hơi thở đã hồng hộc lại thối hoắc đến độ
đạo diễn điện ảnh nào có nhu cầu tìm diễn viên phụ đóng vai ăn mày cũng thấy ngần ngại. Các hành khách
khác đều sợ vì hơi thở của lão mà mất dịp thưởng thức món cơm rang thập cẩm của Vietnam Airlines nên cứ
chuyển chỗ dần dần và kết quả là hai thanh tra của chúng ta và lão ăn mày chia với nhau một góc khá rộng,
gồm mấy dãy ghế bỏ không. May mà bình khử mùi và viên nút tai (những thứ này có thể nói khó để các
chiêu đãi viên duyên dáng mặc áo dài hồng mang lại) cũng giúp Derrick và Klein ăn hết mấy bữa cơm rang
thập cẩm và ngủ được vài giấc thoải mái trên hai dãy ghế bỏ không. Trong hơn mười tiếng ấy, lão kia vẫn
nghênh ngang đi lại, hết vào toa lét lại ghé khoang đồ uống, rồi đi dạo giữa các dãy ghế, dường như để phân
phối cho cả máy bay cái hơi thở kinh hoàng của lão. Hành khách tức điên mà không làm gì được, vì lão
không phạm luật, vì không ai có thể bảo thẳng vào mặt lão rằng hơi thở của lão đã hồng hộc lại thối hoắc, lão
không có quyền đi lại nghênh ngang. Nhưng có lẽ tức nhất là phải chứng kiến cảnh vừa ra khỏi máy bay, mới
chạm chân đến lãnh thổ nước Việt, lão đã được hai em chân dài eo nhỏ lao tới ôm bụng (tất nhiên là mỗi em
một bên và không em nào cần ghen tị với em nào). Hai em còn thi nhau hôn vào miệng hắn, như thể cái hơi
thở từng khiến toàn bộ máy bay mất ăn mất ngủ kia thơm tho ngọt ngào chưa từng thấy. Hành khách tức nổ
mắt. Nhưng có tức nổ mắt thì cũng không làm gì được lão, vì lão không phạm luật, vì không ai có thể bảo
thẳng vào mặt lão rằng bụng lão đầy mỡ, đầu lão nhẵn thín, lão không có quyền được các em chân dài eo nhỏ
lao tới ôm, vào vòng hai hay vào đâu cũng không được. Tóm lại, sau khi đã mục kích cảnh tượng trên và bản
thân ngay ngày đầu cũng mấy lần được các thiếu nữ ân cần đề nghị trao đổi địa chỉ và điện thoại, Derrick và
Klein quyết định đã tới Việt Nam thì nên bỏ các diễn viên điện ảnh lại cho công chúng châu Âu, để tận
hưởng mặt trời, nước biển, các em chân dài eo nhỏ và bất cứ món quà gì mà cuộc sống trao tặng.
Tới Việt Nam để trở về với chính mình! Nếu có thể, Derrick và Klein sẽ khuyên tất cả các hãng du lịch
phương Tây lấy câu này làm quảng cáo cho các tua đi Việt Nam.
Tới Việt Nam để trở về với chính mình! Cô đồ rằng trong cơn mơ màng, hai vị thanh tra nhắc đi nhắc lại tới
độ mở mắt rồi, nhìn một lượt khắp phòng mà vẫn cứ tưởng đang nằm trên một bãi biển thần tiên, đầy ắp ánh
nắng nhưng lại mát lịm như máy lạnh made in Japan, xa xa là bóng dừa xanh ngắt, gần hơn là nước biển
cũng xanh ngắt, còn ngay bên cạnh là trùng điệp đồ uống, nguyên sâm banh đã gần chục loại, chưa biết nên
chọn loại nào để vừa nồng lại vừa êm, vừa ngọt ngào lại vừa đỡ buồn ngủ. Brut hay extra brut? Sec hay Bi-
sec? Cru hay grand cru?
Derrick bất ngờ vỗ hai tay vào nhau, giọng ngái ngủ:
– Bắt đầu làm việc nhé!
Klein im lặng, đứng lên vặn ba vòng lưng, rồi ngồi xuống thẫn thờ mở túi du lịch, lôi ra một máy ghi âm tí
hon đặt lên bàn uống nước. Giơ tay ra hiệu cho cô ngồi gần lại, dưới bóng một cây dừa, và hướng về máy ghi
âm, Klein hắng giọng nói một tràng tiếng Đức, không vấp chỗ nào nhưng uể oải tới phát khóc. Cô cố mãi
cũng nghe được “Ho Chi Minh Stadt”, tên mẹ, tên anh Mai, tên cô. Tên cô nằm ở cuối cùng, không biết là
chủ ngữ, bổ ngữ hay phụ ngữ. Ngữ pháp tiếng Đức nói chung cực kỳ phức tạp và rất ngược đời.
Derrick nhìn vào máy ghi âm, giọng vẫn ngái ngủ:
– Đề nghị kể một kỷ niệm sâu sắc với người quá cố!
Cô im lặng. Quả thật cô không bao giờ tính đến một câu hỏi như thế.
Derrick vẫn nhìn vào máy ghi âm, gợi ý, giọng đã bớt ngái ngủ:
– Ví dụ, lần đầu được mẹ dẫn đến trường.
Cô im lặng. Rồi bất ngờ nói:
– Mẹ không bao giờ dẫn đến trường.
Derrick ngẩng lên, hỏi vội:
– Thế ai dẫn đến trường?
Cô trả lời:
– Anh Mai.
Derrick hỏi tiếp:
– Ai kiểm tra bài tập về nhà?
Cô trả lời:
– Anh Mai.
Derrick hỏi tiếp:
– Ai đi họp phụ huynh?
Cô trả lời:
– Anh Mai.
Derrick thay đổi tư thế ngồi. Klein có vẻ đã lấy lại tinh thần sau một giấc trái giờ. Derrick vừa dừng lại,
Klein liền tiếp lời:
– Ai nấu cơm?
Cô trả lời:
– Anh Mai.
Klein hỏi tiếp:
– Ai rửa bát?
Cô trả lời:
– Anh Mai.
Klein hỏi tiếp:
– Ai xếp hàng mậu dịch?
Cô trả lời:
– Anh Mai.
Derrick và Klein quay ra nhìn nhau, rồi cùng nhún vai. Bản thân cô cũng ngạc nhiên. Có vẻ như không có
buổi hỏi cung ngày hôm nay thì cô cũng quên hẳn những chi tiết ấy.
16
Sài Gòn
Rồi, như thể bị ai đó nhập vào người, cô hít thật sâu rồi nói một mạch:
– Lần nào nhìn thấy anh Mai, cô giáo cũng nhíu mày. Cuối cùng, cô giáo viết giấy yêu cầu gặp riêng phụ
huynh. Mẹ đã tới và để lại rất nhiều ấn tượng. Hôm sau cô giáo nói với cả lớp rằng mẹ là một phụ nữ phi
thường, một phụ huynh kiểu mẫu, một trí thức xã hội chủ nghĩa điển hình, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ
thù nào cũng chiến thắng. Giảng viên đại học, bí thư đảng ủy, tổ trưởng bộ môn, vừa tận tình với Đảng vừa
tận tình với con…
Cô còn định nói thêm rằng đó cũng là lần đầu tiên cô nghĩ tới các vai diễn của mẹ. Nhưng dường như chính
cái người vừa nhập vào cô đã ngăn cô lại.
Derrick bỗng e hèm một cái rồi nghiêm giọng:
– Hai mẹ con bao lâu rồi không gặp nhau?
Cô trả lời:
– Mười năm.
Derrick và Klein lại quay ra nhìn nhau rồi nhún vai. Rồi Klein hỏi:
– Vì sao?
Cô im lặng. Câu hỏi này, cô biết thế nào các vị ấy cũng đặt ra, nhưng trả lời thì cô không muốn.
Không khí căng căng.
Derrick đứng dậy (lần đầu tiên trong buổi nói chuyện hôm nay), bước những bước dài quanh phòng, tay chắp
sau lưng.
Klein quay về máy ghi âm, bối rối giơ tay bấm nút off (chẳng lẽ lại để máy ghi âm ghi toàn tiếng lộp cộp của
giày đàn ông).
Phòng lại rơi vào im lặng. Nghe rõ tiếng tích tắc của đồng hồ và tiếng rì rào của điều hòa nhiệt độ.
Derrick làm thêm vài vòng phòng khách. Klein vò đầu bứt tai chục lần. Cả hai cứ thỉnh thoảng lại liếc về
phía cô rồi quay sang nhìn nhau nhún vai. Cuối cùng, vị lớn tuổi ngồi xuống, ngả lưng ra ghế, hất đầu cho vị
trẻ tuổi ngồi theo. Như không có chuyện gì xảy ra, hai vị thanh tra cùng thở phào một lượt. Derrick dướn
người tóm lấy một chai Pommery Grand Cru Millésime, Klein quay ra nhấc một chai Pilsner Urquell. Trước
khi đưa lên miệng, cả hai đồng thanh cái câu lúc nãy, với một thứ tiếng Pháp chuẩn hơn cả dân Paris:
– Tự nhiên nhé, bọn này khát cháy họng.
Cửa phòng khách chẳng hiểu vô tình hay cố ý mà để ngỏ một cánh. Mùi đặc sản Việt từ dưới bếp bay lên
quyện với mùi bia Đức thành một hỗn hợp cực kỳ dễ chịu. Klein ngửa cổ làm một hơi, nháy mắt với cô rồi
giơ tay tắt luôn máy ghi âm, dường như chỉ muốn chấm dứt cái công việc buồn tẻ này càng nhanh càng tốt.
Cô cũng thở phào trong bụng, thế là đã qua một câu hỏi không muốn trả lời.
Từ đó về sau Derrick và Klein luân phiên đặt câu hỏi. Đại khái hồi bé đi sơ tán ở đâu, khi còn đi học phổ
thông thì khá tự nhiên hay xã hội, vào đại học nào, khoa nào, tại sao, sang Pháp làm cho tư nhân hay nhà
nước, lương có đủ tiêu, bao nhiêu con, con mấy tuổi, thỉnh thoảng có cho con đi tắm biển và phơi nắng, về
Hà Nội lần cuối năm nào, công viên Lê-nin vẫn bày tượng Lê-nin, lăng Bác Hồ vẫn bày xác Bác Hồ?
Phải công nhận là hai vị thanh tra đến từ nước Đức nhanh trí, sau kinh nghiệm lúc nãy, không câu hỏi nào
đặt ra là cô không thể trả lời. Máy ghi âm quay liên tục cả tiếng đồng hồ. Tuần tự một bên đặt câu hỏi, một
bên trả lời, chưa bên nào phải đợi quá mấy giây.
Đồng hồ máy ghi âm chỉ số 80. Klein bấm vào nút off nhưng Derrick lập tức bấm vào nút on. Câu hỏi cuối
cùng, dành cho anh Mai: “Anh trai cô là người như thế nào?”.
Câu hỏi này không khiến cô bất ngờ. Chắc hẳn họ cũng từng hỏi anh Mai rằng cô là người thế nào, rồi lại hỏi
bà giúp việc rằng anh Mai và cô là người như thế nào. Nhìn đôi cá ngựa vật nhau say sưa ngay dưới chân, cô
lại hít một hơi thật sâu rồi chậm rãi nói:
– Anh Mai là một người tử tế, chưa bao giờ bị kiện ra tòa vị tội lừa đảo. Anh Mai cũng là người có hiếu. Anh
đã tổ chức một đám tang ngang tầm Hollywood cho mẹ. Sau đám tang, anh Mai chỉ được cuốn CD sáu mươi
phút và mấy trăm bức ảnh màu.
Rồi cô cúi đầu làm một ngụm nước cam. Cô có quyền uống chút gì đấy vì từ khi buổi nói chuyện bắt đầu, chỉ
có hai vị thanh tra là tự phục vụ và để lại một đống vỏ chai kha khá cạnh chân bàn. Nước cam khiến đầu óc
tỉnh táo hơn, nhưng lại tạo ra một hố nhỏ ở bụng. Từ phía Derrick và Klein, không mảy may phản ứng,
không hiểu có phải lại rơi vào một giấc ngủ mới. Mi mắt cô cũng bắt đầu nằng nặng. Nếu không có cái hố
giữa bụng thì cô đã gục xuống bên cạnh hai vị thanh tra.
Khi đồng hồ máy ghi âm chuyển từ số 84 sang số 85, Derrick bừng tỉnh, Klein cũng giật mình. Cả hai quay
ra nhìn cô chằm chằm khiến cô bỗng thấy tim hơi loạn nhịp. Cô cố trấn tĩnh rồi tiếp tục chủ đề anh Mai:
– Anh Mai rộng rãi, sáng nào cũng đưa cả nhà đi ăn sáng ở khách sạn Caravelle, khách sạn Caravelle phục
vụ điểm tâm năm chục món. Buổi sáng đầu tiên sau đám tang mẹ, anh Mai chiêu đãi cả nhà cao lâu, món yến
huyết made in China mỗi bát nửa triệu.
Klein bật cười khùng khục, Derrick ngúc ngắc đầu, định quơ tay làm một chai gì đó, nhưng lại thôi. Đồng hồ
máy ghi âm chỉ số 87. Ba phút nữa sẽ hết cuộn băng. Hai vị thanh tra ngồi thẳng dậy, tỏ ý muốn chấm dứt
cuộc nói chuyện. Cô tự hỏi: có nên thông báo cho các vị ấy về tấm ảnh đen trắng tìm thấy trong sổ tay của
mẹ? Rồi lại tự hỏi: ba phút có nên giao phó một bí mật?
Máy ghi âm kêu cạch một tiếng, ngừng quay. Klein hoan hỉ nhấc lên, mở ổ băng tí hon rút cuộn băng tí hon
đút vào túi quần bên trái rồi lại mở ổ pin tí hon rút đôi pin tí hon đút vào túi quần bên phải, xong đâu đấy
nhét máy ghi âm vào túi du lịch. Derrick quay sang bắt tay cô mỉm cười bảo “buổi nói chuyện” hôm nay đã
kết thúc, rất cám ơn sự hợp tác của cô.
Cô thở dài nghĩ hai vị thanh tra về tới Đức sẽ làm được một bản báo cáo dài về cô để đưa vào hồ sơ tai nạn
thang máy (băng ghi âm chín mươi phút và hai trí tưởng tượng kết hợp lại thì phải xào ra mấy chục trang
A4), còn cô thì chẳng thu thập được thông tin nào từ hai vị ấy, không thể biết hai vị ấy đã điều tra đến đâu,
có manh mối gì, sắp tóm được ai trong vụ án thang máy Sài Gòn.
Rồi cô lại nghĩ thực ra, cô đã dự cảm được điều này ngay khi nhìn thấy trang phục du lịch và nước da màu
đồng của hai vị thanh tra. Hơn một tuần vừa qua, hai vị ấy còn mải “trở về với chính mình” ở một hay vài bãi
biển nguyên sơ và thơ mộng nào đấy của Việt Nam. Nếu đôi khi hai vị ấy có nhíu mày, nghiêm mặt, hay
bước những bước dài quanh phòng khách thì chỉ để cưỡng lại cơn buồn ngủ hoặc tránh những câu hỏi mà cô
không muốn trả lời. Những câu hỏi mà cô không muốn trả lời không là mối quan tâm của hai vị ấy, nhưng lại
gây ra những im lặng mất thời giờ. Hai vị ấy không cần cô im lặng, hai vị ấy cũng không cần “quay” cô, hai
vị ấy chỉ cần cô trả lời cho hết 90 phút là xong trách nhiệm chuyến công tác chín ngày (đầu chuyến là 90
phút nói chuyện với anh Mai và bà giúp việc, cuối chuyến là 90 phút nói chuyện với cô, còn giữa chuyến là
chín ngày “trở về với chính mình”). Hai vị ấy chưa bao giờ dọa cô và tỏ ý muốn dọa cô. Hóa ra một vài lúc,
tim cô đã đổi nhịp một cách vô lý.
Cô tự nhủ, có lẽ chính vì thế mà Derrick và Klein đã trở thành hai nhân vật đáng yêu nhất trong ngành thanh
tra. Hai nhân vật đáng yêu tươi cười cảm ơn lời mời “bữa cơm giản dị” chắc hẳn là rất hấp dẫn, nhưng
“chúng tôi không còn nhiều thời gian, xin hẹn một dịp khác”.
Phòng khách đóng lại, lần này thì cả hai cánh hẳn hoi (hai vị ấy sợ cô chạy theo đòi được nói chuyện tiếp).
Tiếng chân như chạy trong hành lang (hai vị ấy cũng sợ bà giúp việc lao từ bếp ra đòi được chiêu đãi đặc sản
Việt).
Cô ngồi xuống đi văng thở dài, may mà không giao phó bí mật của mẹ cho hai vị thanh tra đáng mến. Hai vị
thanh tra có nhìn thấy tấm ảnh của Paul Polotski thì cũng nhíu mày, nghiêm giọng hỏi tìm thấy bao giờ, bước
vài vòng xung quanh phòng khách rồi nhét vào một ngăn nào đấy của hai túi du lịch. Mấy hôm nữa về tới
Đức, trong lúc soạn quần áo bẩn mang đi giặt, nếu có vô tình sờ thấy cũng chẳng còn nhớ là của ai, hoặc nếu
nhớ thì cũng tặc lưỡi vứt vào sọt rác vì tự dưng lại mua việc vào thân, biết khai thế nào vào báo cáo gửi cho
hãng thang máy. Khai thật thì sẽ bị hỏi tại sao không ở lại thêm một vài tiếng để tiếp tục điều tra. Chẳng lẽ
lại trả lời rằng một vài tiếng đấy chúng tôi đã sử dụng để “trở về với chính mình” lần cuối cùng, trước khi lên
máy bay quay lại châu Âu âm u buồn tẻ.
Người ta bảo Berlin mùa xuân âm u và nhiều gió. Cô tự nhủ Paris mùa hè không có gió nhưng cũng âm u.
Tháng Tám cửa hàng nào cũng đóng, trừ cửa hàng mỹ nghệ của bà Wang, bà Wang bảo khách Paris đi nghỉ
hè nơi khác thì bán cho khách nơi khác đến Paris nghỉ hè, rồi bày lên tủ kính một loạt tháp Eiffel bằng nhôm
và khăn mùi xoa in hình lâu đài Versailles made in China, nhưng cuối cùng cũng chẳng câu được khách nào.
Chín tiếng một ngày, cô ngồi trên ghế khảm trai, uống nước chai và gặm bánh mì thịt nguội, một chồng tiểu
thuyết trinh thám đặt bên cạnh, cuốn nào cũng dở dang.
Paris mùa hè nhớ nhất những cơn mưa rào, trời bỗng tối đen và nổi sấm đùng đùng.
Thang máy Sài Gòn 17, 18
17
Hà Nội
Có lẽ tất cả người Việt Nam đều công nhận một điều rằng công an khu vực là những người nắm rõ nhiều chi
tiết trong cuộc đời chúng ta hơn chính bản thân chúng ta.
Ngày ấy, nếu không có công an khu vực thì em không biết bác Cả đưa vợ con ra thăm ông bà nội.
Khi em đi học về, công an khu vực đã cầm cặp đứng lên. Trên bàn là hai tách nước chè vẫn đầy nhưng nguội
ngắt. Mẹ có vẻ vui. Ở ngưỡng cửa, mẹ tiếp tục kể chuyện.
Mẹ kể chuyện họp đảng ủy, ủng hộ chiến dịch phản công biên giới Tây-Nam.
Mẹ kể chuyện họp khu phố, đấu tranh với các phần tử làm ăn cá thể.
Mẹ kể chuyện họp chiến sĩ thi đua, đẩy mạnh phong trào “Người tốt việc tốt”.
Trong vòng có mấy phút mà mẹ tự đảm nhiệm ba vai liền: vai “phó bí thư đảng ủy”, vai “tổ phó khu phố” và
vai “tổ trưởng bộ môn”. Vai nào cũng thấm nhuần tinh thần lạc quan cách mạng. Nhưng em biết mẹ chỉ làm
công việc của một diễn viên. Khán giả chính (công an khu vực) vừa quay đầu đi, mặt mẹ chùng hẳn lại, mẹ
ngồi bất động trên ghế.
Một lúc sau bố đi làm về.
Không khí căng thẳng.
Mẹ cao giọng: – Anh ra bàn, em nói chuyện.
Bố ngồi xuống chiếc ghế trước mặt mẹ.
Mẹ chỉ hai tách nước chè vẫn đầy nhưng nguội ngắt: – Tại gia đình anh.
Bố im lặng.
Trong khu tập thể, bố mẹ được tiếng là hòa thuận vì bao giờ một người cao giọng, người kia cũng im lặng.
Em cũng nghĩ thế, chỉ có điều mẹ thường là người cao giọng còn bố thường là người im lặng. “Người vợ mới
xã hội chủ nghĩa”, hai chục năm mẹ diễn với bố, có lẽ là vai đạt nhất của mẹ.
Mẹ bảo: – Anh Cả từng làm việc cho chính quyền ngụy.
Bố im lặng.
Mẹ bảo: – Anh Cả từng đi cải tạo.
Bố im lặng.
Mẹ bảo: – Con gái anh Cả nhiều lần bị bắt vì tội vượt biên.
Bố im lặng.
Mẹ bảo: – Công an khu vực vừa tới nhà mình.
Bố giật nảy người. Mặt bố chùng hẳn lại.
Bữa tối chỉ có anh Mai và em. Cơm ghế mì sợi, rau muống luộc, lạc rang. Bố mẹ cùng xách xe đạp ra khỏi
nhà. Không theo bố mẹ xuống đường thì cô cũng biết bố và mẹ mỗi người đi một ngả.
Sau này em biết thêm rằng, vào thời điểm đó, mẹ đang chuẩn bị hồ sơ đi Pháp thực tập. Cả Bộ được ba suất
thì có chín mươi ứng cử viên, chín mươi cán bộ giảng dạy tiếng Pháp của ba miền. Một chọi ba mươi là tỉ lệ
ngặt nghèo. So với các ứng cử viên khác, mẹ tuy đuối về mặt chuyên môn nhưng mạnh về mặt lý lịch. Thời
ấy, lý lịch vẫn ăn đứt chuyên môn. Bộ lý luận rằng đế quốc Mỹ vẫn còn là kẻ thù số một của dân tộc Việt
Nam, Pháp là đồng minh của Mỹ, lý lịch phải thật vững vàng mới không bị đồng minh của kẻ thù mua
chuộc. Sau nhiều vòng xét duyệt, hồ sơ của mẹ đã trụ lại trên bàn vụ trưởng Vụ Đào tạo và Hợp tác. Bước
cuối cùng là nhận xét của Công an khu vực. Nếu mọi thứ xong xuôi, mẹ sẽ trở thành một trong những thực
tập sinh Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đầu tiên ở Pháp. Nhưng sự xuất hiện của gia đình bác Cả đã
thay đổi tất cả.
Sau này em biết thêm rằng, trước ngày giải phóng, bác Cả là nhân viên kế toán cho một ngân hàng nhỏ tại
Sài Gòn. Lương bác như lương Công chức. Thu nhập chính trong nhà đến từ tiệm may Đa Kao của bác gái.
Hai bác đông con nhưng đều được học hành đến nơi đến chốn. Những người lớn được gửi đi nước ngoài. Ba
người bé hơn ở lại với hai bác. Nói chung, không có gì đặc biệt so với các gia đình trung lưu ngày ấy. Đầu
tháng Tư năm 1975, ngân hàng tuyên bố đóng cửa, bác Cả mất việc nằm nhà. Một tháng sau, bác được chính
quyền mới gọi đi học tập hai tuần. Sau đó lại về nằm nhà. Tất nhiên, ngân hàng của chính quyền mới không
có nhu cầu tuyển những nhân viên có lý lịch cũ. Cả nhà chỉ còn biết trông chờ vào tiệm may của bác gái.
Nhưng nỗi lo lớn nhất của gia đình lại nằm ở con gái thứ tư: chị Đức. Từ ngày giải phóng, trong đầu chị Đức
chỉ có một mong muốn duy nhất: vượt biên. Chị vượt biên chục lần đều không thành: thuyền chưa kịp nhổ
neo đã bị biên phòng giữ lại, lần nào cũng mất ba lạng vàng và chịu ba tháng bóc lịch trong tù. Sau chục lần
ấy, chị nếm gần hết các nhà tù từ Nam ra Bắc. Sau chục lần ấy, hai bác suýt bán cả nhà đi trả nợ. Sau chục
lần lần ấy, chị bất đắc chí một thời gian dài. Suốt ngày chị nằm nhà đọc truyện chưởng cùng bác Cả. Hai bố
con hai chiếc giường gấp, ở giữa là một chồng tiểu thuyết Kim Dung và một chồng cơm đĩa ăn dở. Tiểu
thuyết Kim Dung, chị được đọc lần đầu tiên trong trại giam Chí Hòa, đọc bản viết tay, do một bạn tù viết lại
theo trí nhớ. Mới đầu chỉ đọc để giết thời gian, không ngờ càng về sau càng ghiền. Ra tù, việc đầu tiên là
chải chấy, tắm rửa rồi sang tiệm sách thuê một chồng Kim Dung. Chị truyền cơn ghiền ấy cho bác Cả. Chị
chẳng gặp ai. Chị không đẹp, lại nam tính nên khó lấy chồng. Bác gái nhìn mà nẫu cả ruột gan.
Nhưng chị Đức là người sáng dạ và cứng cỏi. Cuối năm 80, Đổi Mới vừa bắt đầu, chị đốt hết truyện chưởng,
xếp giường gấp lại, quyết tâm làm giàu. Các anh của chị ở tư bản gửi tiền về. Chị nhập hàng ngoại bán giá
gấp đôi ở Sài Gòn. Một nửa chợ Bến Thành lấy nho Mỹ, pho mát Bò Cười và rượu vang Ý của chị. Chị xây
khách sạn cho du lịch nước ngoài thuê. Chị thành lập công ty dịch vụ du học và xuất khẩu lao động. Chị hùn
vốn với Việt kiều Đông Âu mở nhà máy may ở Bình Chánh. Chị đại diện cho Việt kiều Tây Âu mở xí
nghiệp giày da ở Đồng Nai. Chị buôn bán bất động sản. Chị là chủ một loạt biệt thự. Chỉ có điều chị vẫn độc
thân. Có vài người đặt vấn đề. Hai vợ chồng bác Cả cũng hùn vào. Nhưng chị đều gạt đi. Người ta đồn chị có
bồ nhí. Các nam sinh viên cần tiền đi học. Toàn những người có vẻ tử tế, đẹp trai nhưng con nhà nghèo. Chị
rộng rãi. Các em họ mới vào Sài Gòn lập nghiệp đều được chị giúp đỡ. Anh Mai, sau hợp đồng dạy toán-lý ở
trường đại học Cần Thơ, chập chững làm quen với thương trường cũng chạy tới cầu cứu chị.
Đợt mẹ vào Sài Gòn vừa rồi, chị chiêu đãi mẹ ba ngày du lịch Băng Cốc, máy bay hạng nhất, khách sạn năm
sao. Chị bảo chị được giảm giá năm mươi phần trăm, còn rẻ hơn đi du lịch trong nước. Mẹ vui vẻ nhận lời.
Em không có mặt ở Sài Gòn lúc ấy, nhưng em tự hỏi: có phải với chị Đức, mẹ đã diễn vai cán bộ miền Bắc
khoan dung, độ lượng.
Nhưng đó là chuyện sau này. Còn năm 1977, chị Đức là kẻ thù không đội trời chung của bố mẹ. Sau cái lần
công an khu vực ghé thăm nhà, bố mẹ mấy tháng trời lao đao. Bữa tối nào cũng chỉ có em và anh Mai ngồi
nhìn nhau. Anh Mai đi chợ, nấu cơm. Em rửa bát, quét nhà. Trên mâm vẫn gồm cơm hấp mì sợi, rau muống
luộc, lạc rang.
Mẹ xách xe đạp đi một ngả.
Bố xách xe đạp đi một ngả.
Mẹ tới nhà người quen của mẹ nhờ tác động hộ.
Bố tới nhà người quen của bố nhờ tác động hộ.
Các người quen của bố và mẹ lại xách xe đạp đi các ngả, nhờ các người quen của họ tác động hộ.
Công an khu vực trông thế mà xa vời vợi.
Đồ đạc quý trong nhà lần lượt ra đi. Đầu tiên là cái vô tuyến đen trắng Sony, sau đó là cái tủ lạnh Hitachi, cả
hai đều là đồ cũ chợ trời Sài Gòn, cả hai đều được bố ôm vào lòng trên tàu Thống Nhất, trong hai chuyến đi
dự hội nghị toàn ngành sư phạm các tỉnh phía Nam. «Người Nam nhận họ, người Bắc nhận hàng» là thế.
Tóc bố bắt đầu điểm sợi bạc. Mặt mẹ thêm vài nếp nhăn. Bố mẹ thôi không ngủ cạnh nhau. Mẹ nằm trên
giường, bố trải chiếu dưới đất. Đông chuyển sang hè, mùa nồm nước chảy lênh láng, bố mẹ vẫn kiên nhẫn
mỗi người một nơi. Lo âu khiến con người thui chột mọi ham muốn. Nhưng tình đoàn kết của bố mẹ có vẻ
không gì chia cắt nổi. Bố và mẹ cùng diễn vai đồng chí. Nhiều đêm thức dậy em không hiểu những lo âu ấy,
những người quen ấy, bố mẹ bàn bạc với nhau lúc nào, ở đâu. Lo âu của thời ấy khác lo âu của bây giờ.
Người quen của thời ấy cũng khác người quen bây giờ. Người quen của thời ấy nhận mảnh vải, hộp sữa.
Người quen bây giờ nhận mỗi đô la.
Ngày mẹ được quyết định của Bộ, bố mẹ không dám nói với ai. Ngày mẹ lên đường sang Pháp, cả khu tập
thể không ai biết, em và anh Mai cũng không ai biết. Hằng ngày, anh Mai vẫn đi chợ nấu cơm, em vẫn quét
nhà rửa bát, bố đi lại vật vờ. Ba sinh vật mỗi người một góc. Giá mà còn có cái vô tuyến Sony đen trắng để
gắn bó với nhau, dẫu chỉ là hai tiếng trước khi lên giường đi ngủ. Giá mà còn cái tủ lạnh Hitachi để góc nhà
đỡ trống, để đi học về được mút đá thay kem.
Một tuần sau, tàu liên vận quốc tế tới Mạc tư khoa. Cầm vé máy bay đi Pháp trên tay, mẹ đánh điện về, bố
mới thông báo cho ông bà ngoại. Ông bà nội, từ ngày gia đình bác Cả ra chơi, cả bố lẫn mẹ đều chưa gặp lại.
Các anh chị em khác của bố, từ ngày bác Cả ra chơi, bố cũng chưa gặp lại. Họ hàng và người quen ở xa chưa
kịp hay tin thì mẹ đã trên đường về nước.
Ngày mẹ về nước, bố đi đón mẹ ở ga Hàng Cỏ. Bố đèo mẹ bằng xe đạp, cả hai trong vai vợ chồng ba tháng
không gặp. Đi song song với bố mẹ là một chiếc xích lô. Trên chiếc xích lô là một chiếc xe đạp và một chiếc
xe máy, còn nguyên trong hộp, cùng gắn mác Peugeot. Sau đó, hai đại diện của nước Pháp được bày trân
trọng giữa phòng khách, hộp tháo ra nhưng bánh và khung vẫn quấn mút mấy lần. Mẹ mang sô cô la, nho
khô và khăn mặt mùi soa đi tặng những người quen đã tác động hộ mẹ. Chỉ sô cô la là sản phẩm của Pháp,
còn nho khô được mua ở Liên Xô và khăn mùi soa được mua ở Trung Quốc. Người quen của thời ấy không
câu nệ tư bản hay xã hội chủ nghĩa như người quen bây giờ.
Một tháng sau, bố mẹ gọi người vào bán chiếc xe máy. Một tháng sau nữa, bố mẹ đi sắm lại vô tuyến và tủ
lạnh, mới nguyên nhưng sản xuất tại Cộng hòa Dân chủ Đức. Số tiền còn lại, bố mẹ gửi tiết kiệm. Mấy tháng
sau nữa, xảy ra sự kiện đổi tiền đầu tiên của cả nước, ngoài mấy chục cân gạo mua vội theo giá chợ đen, em
không biết bố mẹ còn lại bao nhiêu, không biết có đủ làm quà Tết cho những người quen đã từng tác động hộ
mẹ, không biết có đủ mỗi tháng bù ra vài cân thịt và chục cân gạo. Tóm lại, chuyến thực tập ở Pháp của mẹ
lãi đúng chiếc xe đạp Peugeot.
Hai năm sau thì bố mẹ ly dị. Trẻ em mười tuổi không được phép có mặt ở tòa. Nhưng ngồi trong lớp học, em
tưởng tượng vai «phụ nữ mới xã hội chủ nghĩa» mẹ đang diễn trước hội đồng bồi thẩm nhân dân. Mẹ diễn
xuất sắc đến nỗi hội đồng bồi thẩm nhân dân xem xong cảm động lắm, không hỏi han gì thêm. Cuối buổi, bố
mẹ bắt tay nhau, như những người đồng chí. Cử tọa cả trên lẫn dưới đều vỗ tay nhiệt liệt.
Buổi trưa đi học về, ăn bữa cơm cuối cùng với anh Mai, em đã nghĩ giá như có một chuyến đi nước ngoài,
không tư bản thì xã hội chủ nghĩa, để củng cố tinh thần đoàn kết của hai đồng chí bố mẹ.
18
Paris
Sandra là nữ tiếp tân đã đứng lên đưa cô ra tận thang máy. Sandra để tóc xù, đi giày cao gót mũi nhọn, mặc
mini màu hồng đào. Cứ vài bước, cô phải dừng lại cho Sandra kéo váy. Kéo thế nào cũng không chạm nổi
mép mông. Mới đầu cô cũng áy náy. Nhưng sau đó cô phát hiện ra rằng Sandra thích được đứng lên đi lại
hơn là ngồi đằng sau cái bàn tiếp tân vừa to vừa cao khiến chẳng ai có thể nhìn thấy đôi chân, đôi chân có vẻ
đã ngốn của Sandra khá nhiều thời gian và ít nhất vài chục phần trăm lương tháng cho tiền kem, tiền se lông,
tiền xoa bóp, và rất có thể cả tiền hút mỡ, vì đôi chân thon thả hơn hẳn các bộ phận còn lại của cơ thể. Trong
lúc đứng đợi thang máy, Sandra vẫn tiếp tục quay trước quay sau, vừa kéo váy vừa vuốt từ eo xuống mông,
vừa kéo váy vừa liếc phải liếc trái, còn mái tóc xù thì lắc liên tục. Cô hơi tiếc cho Sandra, giá không phải là
cô mà một đấng nam nhi nào đó thì hai người sẽ có vài phút sôi động trong thang máy của Bộ Nông nghiệp.
Thang máy ngập ngừng rồi dừng lại ở tầng bảy. Sandra ra trước, rón rén rẽ phải, chân bước thẳng nhưng mắt
nhìn xiên. Cô theo sau, vẫn thỉnh thoảng dừng lại cho Sandra kéo váy. Được một đoạn khá xa, Sandra xoay
người, rón rén quay ngược lại, theo đường cũ, để tiến về phần bên kia của hành lang. Không ngoái đầu,
Sandra nhún vai. Đôi vai đầy thịt. Nhất là tấm lưng. Cô đành nhìn từ đùi trở xuống. Không thể phủ nhận là
công nghệ sắc đẹp ngày càng đạt được những thành tựu xuất sắc. Sandra mở cửa, chân bước vào còn mắt
xiên dọc hành lang. Hành lang âm u hai dãy đèn nê ông xanh ngắt. Sandra nói: “Bảng đây nhé, khăn đây nhé,
bút đây nhé”. Mắt mơ màng. Tai nghe ngóng. Tiếng chân ai rất nhẹ từ xa. Rồi dừng lại như chờ đợi. Sandra
quay một trăm tám mươi độ. Không kịp chào. Không kéo váy. Giày cao gót lướt như bay trên hành lang. Mái
tóc xù thành đám mây nhỏ. Mấy giây sau, thang máy ập vào rồi lao vút đi.
Từ ngày mẹ mất, cô hay tìm đọc các tài liệu về thang máy. Cùng với sự phát triển của văn minh nhân loại,
thang máy cũng có lịch sử của riêng nó: một cái hộp tuyềnh toàng được kéo bằng dây thừng, dùng để chuyên
chở hàng hóa, qua một thế kỷ đã biến thành một không gian đặc biệt của con người, có thể nói là khá ấm
cúng, có gương soi, có đèn mờ, sạch sẽ, thơm tho, yên tĩnh. Vì thế, trong các Công ty lớn và các khách sạn
nhiều sao, nơi thang máy được đầu tư rất kỹ (vì là chỗ mà người ta xét nét đầu tiên ngay sau khi đặt chân vào
cửa), thang máy đã được coi là địa điểm của nhiều cuộc tình chớp nhoáng (hay “cuộc phiêu lưu lãng mạn”
theo ngôn ngữ thời thượng), những lúc bên trong chỉ có hai người, ở những giờ vắng vẻ. Trên một diễn đàn
Internet về chủ đề này, cô đọc được những chia sẻ đại loại như sau: “Ôi, tuyệt vời, đề nghị các đấng mày râu
hãy thử một lần cho biết. Này nhé, nàng ngó đầu soi gương và thò tay sửa lại áo lót ngực, còn ta tiến lại từ
phía sau rồi bất ngờ ôm lấy vòng eo, đôi mông của nàng ấm, lại càng đê mê trong chuyển động êm ái của
thang máy…”. “Cảm giác thật kỳ lạ khi đột nhiên tôi thấy mình ở trong một không gian bé nhỏ và khép kín
với một người đàn ông lạ mặt. Tôi nghe thấy tiếng thở nhè nhẹ của anh ta, ngửi thấy mùi thơm toát ra từ
quần áo anh ta, và bàn tay anh ta đặt hờ trên thanh vịn, ngay cạnh tay tôi. Thang máy rùng mình một cái rồi
vút đi, như thể đưa hai chúng tôi vào một hành tinh khác, như thể biến chúng tôi thành những con người
khác. Lúc đấy thành thực mà nói, tôi đã quên tất cả để ngã vào lòng anh ta, người đàn ông mà tôi không
quen, quà tặng bất ngờ của thượng đế. Ôi điều đó mới kỳ diệu làm sao!…”. Có kẻ còn cả quyết (bằng những
dấu chấm hỏi không ngừng) rằng chính trong thang máy khách sạn mà các chị em phụ nữ thường cởi bỏ xi
líp cũng như tất cả những thứ lủng củng khác trên cơ thể. “Thử hỏi chỗ nào lý tưởng hơn thang máy để làm
chuyện ấy? – Ở nhà chăng? – Nếu bạn định báo cho chồng biết bạn đã có người mới rồi. Ở toa lét công cộng
chăng? – Nếu bạn muốn khi tới với anh ấy, chỗ đó của bạn sực nức mùi thuốc khử trùng. Ở buồng tắm khách
sạn chăng? – đáng tiếc là hơi muộn, vì anh ấy đã rình ở sau cửa, chỉ đợi thang máy mở ra là lao tới bế bổng
bạn vào phòng và nuốt chửng bạn trong tích tắc. Nhưng bạn có biết cái gì thần diệu nhất trong việc cởi bỏ xi
líp ở thang máy không? – Chính lúc ấy, lúc mà bạn đối diện với tấm gương dài của thang máy, tự tay giật
phăng quần lót của mình (như một cản trở cuối cùng) trong một trạng thái bay bổng (vì thang máy đang đưa
bạn đi lên, đúng không nào?), bạn đã bắt đầu làm tình rồi đấy! Thang máy phải chăng là cuộc giải phóng tình
dục ở mức độ cao nhất trong lịch sử nhân loại? ”…
Mỗi khi đọc những tâm sự say sưa kiểu này, cô nghĩ cùng là thang máy, nhưng người ta đến đấy để tìm khoái
lạc, còn mẹ thì đến đấy để nhận lấy cái chết. Cô không thể nào không hình dung cảnh mẹ rơi từ tầng thượng
xuống tầng trệt, trong khoảng không hình ống tối tăm của thang máy, hai tay quàng quanh đầu để giữ cho
khuôn mặt không bị tổn thương. Thang máy nhà anh Mai, lúc cô về, đã bị niêm phong để thanh tra Đức tiến
hành điều tra. Nhưng CD sáu mươi phút và mấy trăm bức ảnh chụp buổi khánh thành nhà mới của anh Mai
mà mẹ là khách mời danh dự, đều trình bày một thang máy lung linh, điệu đàng, một trong những mác lớn
của châu Âu, khó có thể nghi ngờ về mức độ thanh lịch cũng như an toàn.
Hôm nay, bắt đầu buổi dạy tiếng Việt đầu tiên cho hai cán bộ cao cấp Bộ Nông nghiệp, nghe nói đang chuẩn
bị đi Hà Nội nhận Công tác mới. Tuần trước, thư ký phòng Hợp tác của Bộ đã gọi điện tới cửa hàng mỹ
nghệ, nơi cô vẫn dạy tiếng Việt tối thứ Hai và tối thứ Năm, xin bà Wang số điện thoại cá nhân của cô để liên
lạc trực tiếp với cô. Thư ký nói rằng việc cực kỳ khẩn cấp, hai cán bộ cao cấp chỉ có một tháng để học ngoại
ngữ, với mục đích là nắm được những phép giao tiếp chủ yếu của tiếng Việt. Cô thở dài tự nhủ, những phép
giao tiếp chủ yếu của tiếng Việt thì nhiều người Việt cũng còn chưa nắm được. Thư ký nói tiếp, trong một
tháng ấy, hai cán bộ cao cấp cũng chỉ có thể học mỗi tuần hai buổi, mỗi buổi một tiếng, vào những giờ không
cố định, vì “họ đều có rất nhiều trọng trách”. Rồi dường như vẫn sợ người nghe không hiểu, thư ký nhấn
mạnh: “Một vị thì tốt nghiệp khoa Kinh tế lớn nhất nước Pháp, một vị thì tốt nghiệp trường Hành chính quốc
gia”. Cô đặt máy, thầm nghĩ may mà mỗi buổi dạy cũng kéo dài có một tiếng.
Có tiếng gõ nhẹ. Cô ngước lên và sửng sốt mất vài giây. Người đàn ông đứng ở ngưỡng cửa ra vào như thể là
anh em sinh đôi với Kai. Cũng cặp kính nhỏ gọng kim loại, cũng sống mũi thẳng và hai gò má nhô cao. Cô
nhìn xuống chiếc áo của anh ta (dù sao thì cô cũng chưa bao giờ thấy Kai mặc áo màu xanh nước biển và đeo
cà vạt chấm vàng). Anh ta tự giới thiệu là Lionel Roux (anh ta có vẻ rất tự hào khi nói cái tên đó cho cô).
Anh ta xin lỗi vì đã tới muộn, rồi tự động ngồi xuống một trong hai chiếc ghế đối diện với cô. Rút từ trong
cặp ra mấy tờ giấy trắng và một cái bút bi, đặt tất cả lên bàn, Roux thở dài kêu mệt, ra dáng một cán bộ cao
cấp “có nhiều trọng trách”. Sau đó anh ta nói liên tục. Phải công nhận là anh ta lợi khẩu. Cầm chiếc bút bi
phác lên tờ giấy trắng trước mặt một hình thù bí hiểm, anh ta tâm sự với cô rằng cả tuần vừa qua anh ta phải
lo dứt điểm vụ cho thuê ngôi biệt thự của gia đình trước khi lên đường. “Vấn đề lại ở chỗ có quá nhiều người
muốn thuê”, anh ta phân trần bằng một giọng cũng tự hào y hệt như khi giới thiệu tên riêng lúc nãy. Cuối
cùng, anh ta và vợ đồng ý chọn một cặp vợ chồng trung lưu, có mức thu nhập không phải là cao nhất trong
số các ứng cử viên, nhưng đều là Công chức nhà nước, và điều ấy có nghĩa là “sẽ không có chuyện vài ba
tháng nữa, họ sẽ gửi cho chúng tôi một lá thư bảo đảm sang tận Hà Nội để thông báo rằng một trong hai
người đã bị mất việc và do đó không thể tiếp tục trả tiền thuê nhà, rồi đưa ra đề nghị hóc búa: hoặc là quay
về Pháp để nhận lại biệt thự, hoặc là đồng ý cho họ ở lại với giá thuê giảm đi ba mươi phần trăm”.
Sau khi nhắc đi nhắc lại cái câu “sẽ không bao giờ có chuyện đó”, Roux lôi điện thoại cầm tay ra gọi cho vợ.
Cô đã định đứng lên rời khỏi phòng, nhưng anh ta vội vàng dùng tay bịt máy điện thoại rồi quay sang thì
thào với cô rằng cứ yên tâm, không cần đi đâu cả, vì “toàn chuyện không có gì bí mật”. Cô đành ngồi lại.
Anh ta tiếp tục nói chuyện với vợ như thể đang ở giữa nhà riêng, thỉnh thoảng quay về phía cô gật đầu,
không hiểu lý do gì. Hai vợ chồng đang phân vân giữa mấy biệt thự định thuê tại Hà Nội. Nhìn qua ảnh nên
cũng khó quyết. Chồng thích nhà mới, đã sạch sẽ lại tiện nghi. Vợ thích nhà cổ vừa lãng mạn vừa quý phái.
Chồng thích khu Hồ Tây, có vườn rộng, để nghỉ ngơi thoáng đãng. Vợ thích khu Hồ Gươm, gần sứ quán, để
tiện quản chồng. Cả hai thuộc lòng các phố đẹp của Hà Nội vì đã hai lần sang trước để tìm hiểu, nhất là để
nắm được giá thuê cho đỡ hố, cò nhà đất Việt Nam nổi tiếng chặt đẹp khách hàng nước ngoài, nhất là khách
hàng đến từ Pháp. Tiếp tục phác những hình thù bí hiểm trên tờ giấy trước mặt, anh ta vừa gật đầu với cô,
vừa nói vào điện thoại, giọng vẫn ăm ắp tự hào: “Sao em cứ rỗi hơi lo những chuyện đâu đâu, đi lại đã có tài
xế riêng đưa đón, nhức đầu xổ mũi đã có bệnh viện Việt-Pháp, nếu em nhất định muốn trẻ con nhổ răng ở
bệnh viện năm sao thì Bộ cũng chi vé cho sang Băng Cốc… Đi nghỉ á? Năm đầu sẽ tạm đi các nước xung
quanh. Nepal, Miến Điện cũng không đến nỗi. Trẻ con gửi về Pháp cho các cụ nhà em hay mời các cụ sang
Hà Nội trông hộ. Tặng cho các cụ một đôi vé thì các cụ chẳng đồng ý cả hai tay… Khách sạn á? Em yên tâm,
ngay trên đỉnh Phú Sĩ cũng có tiêu chuẩn quốc tế. Cứ chịu khó chi tiền là được!”
Đúng lúc ấy, cán bộ cao cấp thứ hai bước vào, bóng loáng từ đầu tới chân. Roux nói thêm vài câu nữa rồi
mới tắt máy. Phòng tạm yên lặng được một phút. Cô thở ra, tự hỏi không biết Kai có nói chuyện điện thoại
với vợ như thế hay không. Từ nãy tới giờ cô không biết để mắt vào đâu ngoài chiếc áo sơ mi màu xanh nước
biển của anh ta.
Cán bộ cao cấp thứ hai tên là Nicolas Marchand. Cũng như Roux, đưa tay bắt tay cô, vừa ngồi xuống chiếc
ghế còn lại, Marchand đã kêu mệt bã cả người. Từ sáng tới giờ, anh ta phải qua mấy cuộc họp, lần lượt với
các sếp trong Bộ và cuối cùng với một nhân vật “đặc biệt quan trọng” mà anh ta tuyên bố là “không thể nêu
tên”. Roux làm như không nghe thấy và chấp nhận cái nhìn không được hài lòng lắm của đồng nghiệp. Cô
đứng lên định đi về phía bảng thì Marchand bất ngờ kêu đói. Trong bữa tiệc lúc nãy, với nhân vật “đặc biệt
quan trọng” mà anh ta tuyên bố lại lần nữa là “không thể nêu tên”, có bao nhiêu món ngon, trứng cá đen
ngon tuyệt, nhưng anh ta làm gì còn thời gian để nếm, đến sâm banh cũng chỉ nhấp môi một cái là bỏ ra
ngay, vì phải liên tục trả lời các câu hỏi “sắc nhọn” của nhân vật “đặc biệt quan trọng”… Anh ta vừa kể vừa
liếc về phía Roux. Roux vẫn làm như không nghe thấy. Có lẽ vì vậy mà anh ta lại phải kể về chuyến công tác
một vòng các nước Đông Nam Á, dự định vào cuối năm, với một nhân vật cũng “đặc biệt quan trọng” mà lần
này anh ta không ngần ngại tuyên bố là thành viên của Văn phòng Thủ tướng. Roux không thể làm ngơ được
nữa. Roux choáng váng ra mặt. Anh ta không hiểu tại sao một dự định như thế này của Văn phòng Thủ
tướng mà không ai trong Bộ thèm thông báo cho anh ta câu nào. Anh ta nhìn ra cửa rồi nói: “Thế đấy, tôi vẫn
còn lù lù ra đây mà đã bị người ta coi là đồ bỏ đi!”. Giọng anh ta lúc nãy tự hào bao nhiêu thì bây giờ lại cáu
kỉnh bấy nhiêu.
Cô đã chán chiếc áo màu xanh nước biển và không thể không nhìn vào mặt anh ta, mặc dù giây phút này anh
ta giống Kai ghê gớm. Roux vẫn lảm nhảm rằng việc gửi anh ta đi Hà Nội đồng nghĩa với việc loại anh ta ra
khỏi guồng máy lãnh đạo: hôm nay thì không được mời tới dự cuộc họp với nhân vật “đặc biệt quan trọng”
mà Marchand không nói thẳng ra nhưng ai cũng hiểu là người đứng đầu Bộ, còn sắp tới thì không được cử đi
áp tải thành viên của Văn phòng Thủ tướng, mà không nghi ngờ gì nữa là người phụ trách mảng nông nghiệp
trong chính phủ hiện thời.
Marchand im lặng nhún vai. Chỉ thoáng nhìn cũng đủ biết anh ta đang rất mãn nguyện. Giày tóc quần áo
bóng loáng, khuôn mặt tròn cũng bóng loáng, tất cả đều ánh lên một màu đo đỏ. Anh ta thấy cái tên đồng
nghiệp sắp sánh vai với mình ở Hà Nội này thật đáng thương, đầu óc loanh quanh mấy chuyện hưởng thụ vặt
vãnh và cái quy tắc lỗi thời “chất lượng/giá cả”. Giá như bây giờ được quyền nói thẳng vào mặt người khác
tất cả mọi suy nghĩ của mình thì anh ta sẽ nói với Lionel Roux thế này: “Thằng đồng nghiệp đáng thương ơi,
phải biết là trên đời này có những điều không thể tính được bằng tiền! Cuộc họp với nhân vật “đặc biệt quan
trọng” kia chẳng hạn… Nếu phải chọn giữa xả hơi khách sạn năm sao đỉnh Phú Sĩ của mày và áp tải thành
viên Văn phòng Thủ tướng của tao, tao sẽ chẳng lưỡng lự giây nào: đương nhiên là cái thứ hai!”.
Nhưng cuối cùng đó không phải là điều anh ta nói với Roux. Rất ra dáng một cán bộ cao cấp “có nhiều trọng
trách”, sau khi “uống tạm” một ly sô cô la nóng mua ngay ở máy tự động trong hành lang, anh ta vỗ hai tay
vào nhau, giọng sôi nổi: “Thế nào, các bạn thân mến của tôi, chúng ta bắt đầu buổi học đầu tiên nhé! Tiếng
Việt là một ngôn ngữ rất thú vị !”. Lúc này, cô mới phát hiện Marchand đi người không tới lớp.
Dẫu sao thì buổi học cũng bắt đầu.
Thang máy Sài Gòn 19, 20, 21
Chương 19
Sài Gòn
Bảy giờ tối phòng khách là bãi biển về đêm. Đối diện với anh Mai là hai vị khách lớn tuổi, một nam và một
nữ, hai “đồng nghiệp” của mẹ, theo lời bà giúp việc thông báo lúc ra mở cổng. Em bước vào, cả ba quay ra
nhìn. Câu chuyện trước đó có lẽ rất buồn tẻ. Anh Mai ướt rượt như gà trúng mưa.
Hai vị khách co quắp trong đi-văng. Ba cây dừa bất động. Đâu đó vang lên tiếng cá quẫy. Khi có ý định biến
phòng khách thành bãi biển, chẳng phải anh Mai đã không nghĩ tới buổi tối lúc mặt trời và ánh nắng sẽ
không còn. Bởi có nghĩ, cũng thay đổi được gì. Bãi biển thật mà thiếu mặt trời và ánh nắng còn chẳng ra bãi
biển nữa là bãi biển nhân tạo. Cái gì nhân tạo dưới mặt trời cũng dễ lộ vẻ nhân tạo, nhưng bãi biển nhân tạo
thì không: bãi biển nhân tạo cần mặt trời để giấu bớt vẻ nhân tạo. Anh Mai biết điều này, nên buổi tối không
tiếp khách ở nhà mà ra khách sạn năm sao. Tòa thị chính Paris cũng biết điều này, nên cứ đợi tháng Bảy chói
chang là đổ một đống cát bên bờ sông Seine, bày thêm vài cái ghế gấp và dăm cây dù vải, thu hút được bao
nhiêu người mỗi ngày, cả dân Paris lẫn khách du lịch, cả thanh niên lẫn cụ già… Năm đầu tiên ít kẻ lai vãng:
người ta nhìn sông Seine bé tẹo thì lắc đầu. Nhưng càng về sau càng thành công rực rỡ: người ta tặc lưỡi còn
hơn cởi trần phơi nắng ban công. Các thủ đô khác cũng noi theo. Nghe nói Berlin, Bruxelles đều có bãi biển
nhân tạo. Tháng Bảy châu Âu nắng cũng kinh hồn.
Hai vị khách im lặng, chẳng biết làm gì ngoài xoa tay vào chén nước chè. Qua tường kính mênh mông của
phòng khách, có thể thấy một phần thành phố. Tít ngoài kia là cảng Sài Gòn, mặt nước loang loáng ánh đèn.
Bên phải là nhà thờ Đức Bà, hai tháp chuông sâm sẫm trong đêm. Đường Lê Lợi xe chạy như mắc cửi.
Không hiểu đường nào là đường Huyền Trân Công Chúa la liệt quần áo thể thao, đường nào là đường Cách
Mạng Tháng Tám dài gấp mấy lần phố Huế, đường nào là đường Công Xã Paris ngắn hơn cả ngõ Tạm
Thương, đường nào là đường Tự Do bị đổi tên ngay ngày thống nhất.
Anh Mai bỗng chỉ vị khách nữ giới thiệu là cô Huệ cùng thực tập với mẹ ở Paris, rồi lại chỉ sang vị khách
nam giới thiệu là chú Đỗ, chồng của cô Huệ. Nói xong, im lặng ngáp. Em nhìn cô Huệ, rồi lại nhìn thêm một
lần nữa, nhưng không thể nhận ra người phụ nữ cạnh mẹ trong album ảnh mang từ Pháp về, cuốn album mà
mẹ thường cất vào ngăn kéo riêng. Lần đầu tiên được biết thế nào là ảnh màu, và phải đợi rất lâu sau đó ảnh
màu mới trở thành phổ cập ở Việt Nam, nên ký ức của em về bộ ảnh của mẹ tới bây giờ hầu như vẫn nguyên
vẹn. Album nhỏ gồm hai mươi tấm ảnh màu cỡ 9×12, luôn luôn chụp mẹ bên một phụ nữ rất cao mà mẹ giới
thiệu với mọi người là “đồng nghiệp”, cùng thực tập ở Paris. Hơn hai mươi năm trôi qua, em đã quên tên cô
ta, nhưng đó khó có thể là cô Huệ, bởi cô Huệ thấp bé bao nhiêu thì người phụ nữ kia cao lớn bấy nhiêu, một
chiều cao mà dường như phần lớn đàn ông Việt Nam thời ấy đều ganh tị.
Anh Mai ngáp thêm vài cái nữa. Điện thoại mà không bất ngờ reo vang thì anh sẽ vật ra đi-văng làm một
giấc. Ngay tiếng chuông đầu, anh như bừng tỉnh. Anh đứng lên bắt tay hai vị khách, mời chút nữa ở lại dùng
“bữa cơm giản dị” với gia đình rồi cầm điện thoại đi thẳng ra cửa. Cửa phập lại như nhốt chặt ba người bên
trong.
“Còn một cô nữa trong đoàn thực tập?”, em nín thở hỏi.
“Madame Hòa, thực tập sinh nổi bật: cao nhất, lớn tuổi nhất, chức to nhất, thâm niên ba mươi hai năm tuổi
Đảng”, cô Huệ trả lời.
Đúng rồi, cô Hòa. Em còn nhớ sau khi giới thiệu cô Hòa là đồng nghiệp, mẹ nói thêm cô Hòa giữ chức phó
khoa một trường đại học.
“Madame Hòa là người ác độc nhất”, chú Đỗ tiếp lời cô Huệ.
Rồi không đợi phản ứng của những người đối diện, chú Đỗ vội vã kể :
“Tôi không phải là thực tập sinh. Tôi là Việt kiều, suốt đời là Việt kiều, lúc ở Lào thì là Việt kiều Lào, lúc
sang Pháp lại là Việt kiều Pháp. Tiếng Lào giỏi, tiếng Việt giỏi, nhưng tiếng Pháp chỉ đủ chào hỏi và cám ơn
nên tôi làm thuê cho một xưởng sửa xe ô tô ở ngoại ô Đông Nam, gần khu Tàu, khách chủ yếu là người gốc
Á”.
Nhìn khuôn mặt ngẩn ra của em, chú Đỗ hối hả giải thích:
“Nửa năm sau ngày sang Pháp, vợ tôi bỏ đi, để lại ba đứa con. Các con còn nhỏ, tôi muốn tìm một người
thay thế. Nhưng phụ nữ gốc Việt ở Pháp chê tôi gốc Lào. Phụ nữ gốc Lào ở Pháp chê tôi gốc Việt. Phụ nữ
gốc Miên ở Pháp chê tôi gốc Việt-Lào. Phụ nữ gốc Hoa ở Pháp thì tôi không dám. Tôi vẫn nghe người ta bảo
phụ nữ gốc Hoa ở đâu cũng sắc sảo. Vợ cũ của tôi chỉ có một phần tám máu Hoa trong người mà bỏ tôi ngay
khi nhận được thẻ cư trú. Rồi tôi tình cờ gặp Huệ trong sứ quán, nhân dịp đến chỉnh hộ nhóm thực tập sinh
chiếc vô tuyến màu không hiểu sao cứ rời tay ra lại biến thành đen trắng. Tính tới hôm đó Huệ mới sang
Pháp được đúng một tuần. Tôi đã nghĩ là mình gặp may”.
Em giật mình. Chưa kịp hiểu gì thì cô Huệ đã tiếp lời:
“Chúng tôi bằng tuổi, nhưng quá khứ mỗi người mỗi vẻ. Khi gặp nhau, Đỗ bốn mươi hai tuổi vợ con đùm
đuề, còn tôi bốn mươi hai tuổi vẫn chăn đơn gối chiếc. Học hết phổ thông, tôi theo anh trai ra mặt trận, ở chủ
yếu chiến trường khu 9, trong rừng U Minh, giáp biên giới Cao Miên. Ba mươi tuổi, sau một lần bị sốt rét,
tôi được gửi ra Bắc đi học. Không cần đi thi, tôi cũng được vào đại học. Không cần đạt điểm tốt nghiệp cao,
tôi cũng được giữ lại trường. Không cần viết đơn lên ban giám hiệu, tôi cũng được phân một căn buồng trong
khu tập thể. Không cần lên gặp giám đốc Sở, tôi cũng được hưởng tiêu chuẩn thực phẩm đặc biệt. Tất cả đều
nhờ chế độ ưu đãi cán bộ tập kết”.
Chỉ có đường chồng con là chế độ không cách nào ưu đãi nổi. Người ta cứ bảo ở một mình mãi cũng thành
quen. Nhưng tôi thì càng ở một mình càng thấy sợ. Nhất là những ngày cuối năm. Cái rét của Hà Nội khiến
tôi đắp bao nhiêu chăn vẫn thấy lạnh. Trai Bắc lại không lấy gái Nam nên quần áo không mua chỉ mua chăn.
Rồi tôi được chọn sang Pháp thực tập và tình cờ gặp Đỗ trong sứ quán. Tính đến hôm đó, Đỗ ly dị được đúng
nửa năm. Tôi đã nghĩ là mình gặp may”.
Cô Huệ dừng lại, chú Đỗ tiếp lời:
“Tôi gặp Huệ lần đầu là thấy ưng ý ngay. Tôi không cần sắc đẹp, tôi cũng không cần tuổi trẻ, hai thứ phù hoa
giả tạo. Tôi chỉ cần một người vợ không bao giờ bỏ mình ra đi. Tôi cũng tin Huệ gặp tôi lần đầu là thấy ưng
ý ngay. Huệ không cần thanh lịch, Huệ cũng không cần giàu sang, hai thứ phù hoa giả tạo. Huệ chỉ cần một
người chồng cho đỡ phải mua chăn. Chuyện giữa chúng tôi đơn giản có vậy. Nhưng Madame Hòa đã biến nó
thành vụ án phức tạp. Ngay từ trong nước, Madame Hòa đã được bầu là trưởng nhóm nữ thực tập sinh. Sang
tới Paris, Madame Hòa yêu cầu cả ba ở chung một phòng. Hôm nay Huệ làm gì đi đâu, hôm sau cả sứ quán
đều biết. Sứ quán biết cả chuyện tôi có ba con riêng, và vì vợ tôi chỉ bỏ đi chứ chưa ly dị nên trên giấy tờ tôi
vẫn là người có gia đình. Trong cuộc họp nội bộ thực tập sinh, Madame Hòa đứng lên chỉ vào mặt Huệ, buộc
liền một lúc hai tội: hủ hóa và quan hệ với Việt kiều. Madame Hòa bảo tinh thần đảng viên để đâu mà chân
ướt chân ráo tới Paris đã bị tư bản đồi trụy mua chuộc. Madame Hòa ra lệnh cho Huệ làm ba bản tự kiểm
điểm: một gửi lên Sứ quán, một gửi về Bộ Giáo dục và Đại học, một gửi về Đảng ủy trường đại học nơi Huệ
là cán bộ giảng dạy. Ba bản kèm ba lời hứa chấm dứt quan hệ với tôi. Madame Hòa còn trực tiếp yêu cầu đại
sứ đuổi Huệ về nước trước thời hạn. Nếu thời điểm đó, nhân viên sứ quán mà không phải hằng ngày lót dạ
mì gói thì đại sứ đã xiêu lòng xuất năm nghìn quan Pháp mua một vé Paris-Hà Nội, rồi cử cán bộ an ninh đưa
Huệ ra sân bay Roissy ngay ngày hôm sau”.
Chú Đỗ lắc đầu, cầm tách chè lên chưa kịp uống, cô Huệ đã nói:
“Từ cuộc họp nội bộ thực tập sinh, tôi nghiễm nhiên đi đâu cũng có Madame Hòa đi kèm. Ra siêu thị mua
băng vệ sinh, vừa trả tiền xong đã thấy Madame Hòa đứng sẵn ở cửa, chỉ vào túi bảo lại mua quà cho bố con
thằng Đỗ à. Đau răng một tuần liền mới dám đổi ba lần tàu điện ngầm tới phòng khám, đang ngồi đợi gặp