bác sĩ nha khoa, Madame Hòa tiến lại hất hàm hỏi gặp bác sĩ phụ khoa có việc gì. Ở Paris ba tháng mà tôi
chưa bước vào rạp xem phim lần nào, bảo tàng Louvre tôi chỉ được nhìn từ xe buýt, thư viện Quốc Gia tôi
chỉ được xem qua ảnh, vì những chỗ đấy Madame Hòa không quan tâm, Madame Hòa bảo văn hóa tư bản
yêu đương nhăng nhít. Đỗ thì bị cấm cửa sứ quán. Người ta đã tìm được một Việt kiều khác, là thợ điện hẳn
hoi, để chỉnh hộ cái vô tuyến màu vẫn thỉnh thoảng bất ngờ chuyển thành vô tuyến đen trắng. Một tuần trước
ngày hết hạn thực tập, tôi đến trường để trả sách giáo khoa. Madame Hòa theo tôi lên tầng ba, nhìn cánh cửa
thư viện đóng lại sau lưng tôi thì mới yên tâm quay xuống phòng giáo vụ làm nốt thủ tục hành chính trước
khi về nước. Madame Hòa không ngờ Đỗ đã ngồi sẵn bên trong, cách quầy trả sách vài mét. Tôi cũng không
ngờ. Tôi giật nảy mình khi nhìn thấy Đỗ”.
Chương 2O
Sài Gòn
Cô Huệ cúi đầu im lặng. Chú Đỗ tiếp lời. Trong tiếng cá ngựa quẫy dưới chân, chú bảo không chỉ cô Huệ
giật nảy mình khi nhìn thấy chú. Chú cũng giật nảy mình khi soi gương. Mặt chú đầy râu ria. Quần áo chú
xộc xệch. Mấy ngày rồi chú lảng vảng ở đây. Nhân viên thư viện bắt trình thẻ sinh viên, chú đành nói thật.
Nhân viên thư viện nghe một lúc ba tiếng Pháp Việt Lào chẳng hiểu gì, nhưng cũng không nỡ đuổi chú đi,
chỉ ra hiệu cho chú ngồi im một góc, có thể vì ngại sinh viên nhìn thấy chú sẽ cho là móc túi trá hình. Mấy
ngày xin phép chủ nghỉ việc, đến thư viện từ chín giờ sáng, ngồi ở cái bàn này tới sáu giờ chiều, nhìn người
ta im lìm làm việc, chú bắt đầu suy nghĩ. Chú tự hứa hôm nay là hôm cuối cùng chú quay lại thư viện. Chú
còn ba con nhỏ phải nuôi ăn học. Chú mà mất việc ở xưởng ô tô thì bốn bố con chú tháng sau mang nhau ra
đường ngay lập tức. Chủ nhà không bao giờ đủ lòng kiên nhẫn để đợi chú tìm được việc khác. Cái bụng của
các con chú cũng không bao giờ đủ kiên nhẫn để đợi chú tìm được việc khác. Bản thân chú cũng không biết
tìm việc khác như thế nào. Chú không cho phép mình chờ đợi cô Huệ vô vọng. Trong hoàn cảnh của chú,
mọi vô vọng đều xa xỉ, mọi xa xỉ đều nguy hiểm ngang nhau.
Chú Đỗ im lặng quay sang nhìn cô Huệ. Suốt buổi tối, chú chưa lúc nào quay sang nhìn vợ. Có lẽ đây là lần
đầu tiên chú thổ lộ cái điều mà chú đã đào sâu chôn chặt hơn hai mươi năm nay. Và thật kỳ lạ, đây cũng là
lần đầu tiên chú dừng lại đã vài phút mà cô Huệ không tiếp lời.
Em đứng lên đi về phía cửa sổ. Các nhà hàng xóm đều đóng cổng im ỉm. Các tầng trên cũng chỉ thấp thoáng
ánh đèn. Không thể tưởng tượng cách đây vài bước là tiệm phở bò một tối bán cả nghìn tô, cạnh tiệm phở bò
là quán cơm gà xối mỡ, tủ kính lủng lẳng ba xâu gà vàng ươm. Bỗng một taxi phanh kít trước ngôi nhà đối
diện, tài xế bước ra đầu tiên, rồi đi vòng qua mũi xe để mở cửa sau, loay hoay một lúc cũng lôi được ai đó từ
bên trong ra ngoài. Không biết say sỉn ở mức nào mà chân tay loạng choạng, tài xế phải gần như bế về phía
cổng, rồi lại phải ép vào hàng rào sắt, một tay giữ cho khỏi ngã, một tay bấm chuông. Ngay lập tức cả cổng
lẫn sân sáng bừng, rồi có tiếng chân vội vã. Một phụ nữ đứng tuổi vận bà ba đen, có lẽ người giúp việc, chạy
ra mở cổng. Hẳn đã quen với cảnh này, sau khi đưa cho tài xế xô nước và cái giẻ lau, liền giơ cả hai tay đỡ
lấy người say, bây giờ dưới ánh đèn lộ rõ mái tóc xù mì ăn liền nhuộm vàng kiểu Hàn Quốc và đôi chân đi
tất lưới thỉnh thoảng hở một miếng thịt hồng hồng. Em vừa nhận ra bà chủ nhà hàng xóm thì người say đã
được nhấc bổng lên, chỉ mấy giây mà vào tận trong nhà, rồi đèn ngoài sân tắt phụt. Tài xế taxi cũng có vẻ đã
quen với cảnh này, lẳng lặng lau chùi ghế sau, xong nhiệm vụ thì lên xe đi thẳng, xô và giẻ lau để lại ở cổng
ra vào. Sự việc xảy ra rất nhanh, không biết có láng giềng nào nép sau cửa sổ nhìn trộm hay không, nhưng
tuyệt nhiên không thấy ai chạy ra bình luận. Mấy cánh cổng vẫn im lìm đóng kín. Người giàu Sài Gòn tế nhị
hơn cả dân Tây.
Em quay về đi-văng. Bụng sôi lên không dám nhìn về phía quán phở bò. Dường như giây phút riêng tư của
chú Đỗ và cô Huệ đã trôi qua từ lâu và cô chú chỉ đợi em ngồi xuống là tiếp tục câu chuyện. Chú Đỗ lên
tiếng. Chú bảo cái hôm ở thư viện ấy, nhìn thấy cô Huệ bước vào là chú đứng lên ngay, chú không cần biết
sau lưng cô Huệ có cô Hòa hay không. Chú bảo “con giun xéo lắm cũng quằn”, chú bóp vào vai Cô Huệ đề
nghị chọn lấy chú hay về nước, và phải trả lời chú ngay lập tức. Cô Huệ ngượng ngùng nhìn nhân viên thư
viện và những người xung quanh. Chú lại bảo số phận của bốn bố con chú phụ thuộc vào câu trả lời này. Cô
Huệ ngượng hơn nữa, vì sinh viên thấy hai người giằng co giữa phòng đọc thì bắt đầu để ý, đầu cúi xuống
xem sách nhưng mắt vẫn lén nhìn lên. Chú càng bóp vai cô Huệ giục trả lời, cô Huệ càng đỏ mặt đứng im.
Bỗng có tiếng chân thình thịch. Cô Hòa ngất ngưởng đi vào. Một tay gạt chú Đỗ, một tay kéo cô Huệ. Những
người xung quanh chưa kịp phản ứng thì cửa thư viện đã sập lại, rồi cửa thang máy cũng sập theo. Chú Đỗ
chạy ra cửa sổ phòng đọc, nhìn xuống sân trường thấy Cô Hòa bình thản khoanh tay đi trước, cô Huệ chạy
theo sau, hai tay ôm chiếc túi ny lông căng phồng sách giáo khoa chưa kịp trả.
“Tôi về nhà mà ruột gan tan nát. Tôi thề sẽ ở vậy nuôi con, coi phụ nữ trên đời này chết hết. Hết đông sang
hè, những ngày khốn khó nhất cũng trôi qua, các con lớn lên, tôi già đi, cũng là quy luật. Đến năm chín
mươi, khi thằng con út đã chuẩn bị vào đại học thì tôi bất ngờ nhận được thư Huệ. Huệ viết vỏn vẹn mấy
dòng, Huệ bảo nếu tôi vẫn còn muốn lấy Huệ thì Huệ sẵn sàng làm vợ tôi. Huệ vừa về hưu, không còn sợ bị
buộc tội hủ hóa và quan hệ với Việt kiều. Huệ ở lại Hà Nội, trong căn phòng tập thể của trường. Càng có tuổi
Huệ càng ngại di chuyển. Biên Hòa bây giờ cũng chẳng còn người thân. Ba má Huệ mất từ lâu. Anh chị Huệ
đều đã lên Sài Gòn lập nghiệp”.
Cầm thư cô Huệ trong tay, chú đi một mạch tới sứ quán. Chú đứng ngẩn người, mười mấy năm bị cấm cửa,
chú không biết sứ quán đã được xây lại toàn bằng gạch men trắng, hình hoa sen cách điệu, ven tường trồng
cúc vạn thọ. Chú chưa đặt chân tới Việt Nam nhưng chú mường tượng tòa nhà sứ quán giông giống ủy ban
nhân dân huyện Tiên Sơn quê nội của chú. Chú bấm chuông nhưng đợi mãi mà cửa không mở. Một lúc sau,
xuất hiện hai phụ nữ xách túi ny lông tình cờ thế nào cũng màu cúc vạn thọ, nhìn thấy chú thì đưa mắt ra
hiệu đi sang chiếc cổng nhỏ xíu bên cạnh. Sau chiếc cổng nhỏ xíu là một ô vuông cũng nhỏ xíu. Chú gõ nhẹ
một tiếng. Cửa mở, rồi một bàn tay của ai đó không nhỏ lắm quẳng ra mấy tờ giấy phô tô cô py ố vàng. Chú
chưa kịp cầm thì cửa đã sập. “Thật chẳng hiểu ra làm sao”, chú Đỗ vừa nói vừa lắc đầu.
Em nhìn sang cô Huệ. Cô Huệ đang nhìn chú Đỗ. Em muốn nói với cô chú một câu gì đó, nhưng cuối cùng
chỉ nghĩ em cũng từng có dịp lên sứ quán, một lần để xin gia hạn hộ chiếu, một lần để xin dán ảnh thằng
Mike. Hoa sen cách điệu vẫn giống y hệt ủy ban nhân dân huyện. Nhưng ô vuông nhỏ xíu chú Đỗ nhìn thấy
ngày xưa đã được thay thế bằng một phòng tôi tối với bảy ô vuông nhỏ xíu khác nhau. Có lẽ như thế mới đủ
phục vụ nhu cầu thị thực của Việt kiều và du khách Pháp những năm 2000. Giấy phô tô cô py vẫn úa vàng.
Cúc vạn thọ mùa đông ngập dưới tuyết.
Bà giúp việc gõ cửa thông báo cơm đã xong. Chú Đỗ và Cô Huệ vội vàng đứng lên, rồi vội vàng xuống nhà,
hai chiếc bóng bé nhỏ vội vàng mất hút trong hành lang mênh mông. Cứ ngỡ sẽ gặp lại cô chú ở phòng ăn,
em bất ngờ thấy bà giúp việc một mình trước một mâm ú ụ nem rán. Hai đứa trẻ đang ngay ngắn trước màn
hình vô tuyến. Anh Mai đi tiếp khách ở khách sạn năm sao. “Hai đồng nghiệp của cụ nhà” nói thế nào cũng
không chịu ở lại. Em ngồi xuống ăn cơm, vừa uể oải nhai nem vừa nghĩ hóa ra bà giúp việc cũng không biết
cô Huệ và chú Đỗ là vợ chồng.
“Thật chẳng hiểu ra làm sao”, em nhớ lại câu cuối cùng của chú Đỗ và tự nhủ chú không hiểu được cái ô
vuông nhỏ xíu của sứ quán Việt Nam tại Pháp, còn em thì không hiểu buổi viếng thăm của cô chú tối hôm
nay, cô chú ngồi mấy tiếng, thay nhau kể chuyện cô chú mà không có từ nào dành cho mẹ, như thể mẹ không
tồn tại trong ba tháng thực tập ở Paris. Nhưng ngay sau đó, em lại nghĩ, mẹ cũng vậy, mẹ từng ngồi vài tiếng
liền, sôi nổi kể chuyện làm nem chào mừng quốc khánh cùng “toàn thể anh chị em sứ quán” mà không có từ
nào dành cho cô Huệ, như thể cô Huệ không tồn tại trong ba tháng thực tập ở Paris.
“Thật chẳng hiểu ra làm sao”.
CHƯƠNG 21
Sài Gòn
Đêm hôm đó, lần đầu tiên em hình dung mẹ đi trên đại lộ Exalmens trống ngoác và buồn tẻ nối sứ quán với
bến tàu điện ngầm, ba tháng liền, mỗi ngày hai lần, và lần nào cũng cùng với hai nữ đồng nghiệp: cô Huệ và
cô Hòa. Trên thực tế, ba nữ thực tập sinh thuộc lứa đầu tiên của Bộ làm thành một phiên bản độc đáo của “ba
chàng ngự lâm pháo thủ” hay “ba anh em trên một chiếc xe tăng”: ăn chung bàn, ngủ chung phòng, ngồi
chung tàu, học chung lớp, thời gian biểu của một người là thời gian biểu của hai người còn lại. Em tưởng
tượng, ba tháng đó, họ không bước chân vào rạp chiếu phim lần nào, bảo tàng Louvre họ chỉ nhìn từ xe buýt,
thư viện Quốc Gia họ chỉ xem qua ảnh, vì cô Hòa, trưởng nhóm của họ, đã quyết định văn hóa tư bản yêu
đương nhăng nhít.
Một lần đẹp trời, vài ngày trước khi về nước, bộ ba mượn máy đi chụp ảnh kỷ niệm. Sông Seine, tháp Eiffel,
vườn Luxembourg, những nơi ít dấu vết văn hóa tư bản đồi trụy nhất. Nhìn thấy cầu Alexandre đệ Tam, cô
Hòa dừng ngay lại, cô nao nao nhớ nước Nga vĩ đại nơi cô đã học năm năm đại học khoa tiếng Pháp, liên tục
giữ chức bí thư đảng ủy kiêm hội trưởng hội đồng hương. Cô Hòa ra hiệu cho mẹ và cô Huệ đứng ra giữa
cầu để cô bấm cho một kiểu. Chỉ cần cầm máy chụp ảnh một lần là đủ biết với mỗi cảnh thì kiểu đầu tiên
thường mang tính thí điểm. Hai kiểu sau là để cô Hòa đứng lần lượt với mẹ (do cô Huệ bấm) và với cô Huệ
(do mẹ bấm). Tới vườn Luxembourg, quá trình chụp ảnh cũng diễn ra tương tự. Cô Hòa ra hiệu cho mẹ và cô
Huệ ngồi lên ghế đá, cạnh bụi hoa hồng, và bấm cho hai người một kiểu. Nhưng hai kiểu sau, lúc cô Hòa
chụp lần lượt với từng người, cô yêu cầu được chụp đứng, lấy cả chân. Cô muốn chứng minh rằng cái chiều
cao vẫn bị gọi sau lưng là “sếu vườn” của cô thực ra không chỉ đấng mày râu mà cả chị em cùng giới cũng
thèm muốn. Hãy nhìn xem: cô đứng khoanh tay giữa lối đi trồng đầy hoa hồng, nhưng mẹ thì phải trèo lên vệ
đường, cô Huệ thì còn thê thảm hơn: trèo lên cả ghế đá.
Cô Hòa cảm thấy vô cùng khoan khoái. Kể ra cách cô bấm kiểu đầu tiên cho mẹ và cô Huệ, rồi mới lần lượt
chụp với từng người, cũng là một phép toán tối ưu, bảo đảm ở mỗi cảnh ai cũng có hai tấm chụp với hai
đồng nghiệp của mình. Tính bình đẳng của bộ ba như thế là tuyệt đối an toàn. Rất có thể ở một vài cảnh, họ
còn nhờ được khách qua đường bấm hộ một kiểu cho cả ba: cô Hòa đứng giữa, một bên là mẹ và một bên là
cô Huệ. Nói chung, cô Hòa cũng thích chụp ba (là Đảng viên, cô không mê tín dị đoan), chụp ba cô được
đứng giữa, càng khoe được chiều cao. Cô Hòa nhìn thẳng về phía trước, tay đặt lên vai hai nữ đồng nghiệp
thấp bé nhẹ cân. Như thể cả ba đang đứng trên bục chuẩn bị nhận ba chiếc huy chương Olimpic. Vị trí trung
tâm rất tôn chức vụ “trưởng nhóm” của cô Hòa. Có lẽ vì thế, cô Huệ mới nói cô Hòa là người “nổi bật nhất”
trong ba nữ thực tập sinh đợt ấy.
Tóm lại, ở mỗi cảnh, mỗi người đều có ít nhất là hai tấm chụp lần lượt với hai người kia và đôi khi, thêm một
tấm chụp ba người với nhau. Thế nên, nếu trong album của mẹ, chỉ có mỗi ảnh mẹ chụp với cô Hòa thì bởi vì
mẹ đã cố tình loại bỏ những tấm có cô Huệ trong đó (khả năng mẹ và cô Hòa đi chụp ảnh riêng với nhau là
rất ít vì trừ khi có thể nhốt cô Huệ vào phòng khóa trái cửa lại, thì cô Hòa mới đồng ý để cô Huệ ở nhà một
mình).
Bộ ảnh đó, mẹ cất vào một ngăn kéo riêng chứ không lồng kính treo la liệt trong phòng khách như những
bức ảnh chụp mẹ lúc nhận bằng khen, lúc trao giải thưởng, lúc đi họp cấp thành, lúc gặp gỡ bộ trưởng, thứ
trưởng…
Cuối cùng em nghĩ câu chuyện cô Huệ và chú Đỗ kể hôm nay tuy không có từ nào về mẹ nhưng không phải
là không cung cấp chút thông tin nào về mẹ. Ít ra thì nó cũng khiến em loại được giả thuyết rằng mẹ và Paul
Polotski đã gặp nhau ở Paris năm 1977: dưới sự kiểm soát gắt gao của cô Hòa, mẹ trừ khi có phép tàng hình
mới có thể làm quen, rồi sau đó giữ quan hệ hơn mức bình thường với một người ở bên ngoài sứ quán (đến
mức nhận ảnh, và giữ ảnh). Vậy chỉ còn lại giả thuyết mẹ gặp Paul Polotski năm 1954. Giả thuyết này trùng
với lời kể của ông Linh: một người Pháp tên Paul đã có mặt ở Hỏa Lò đúng vào thời gian mẹ bị bắt giam, và
cùng với ông Linh chứng kiến cảnh mẹ bị đưa vào hỏi cung. Tấm ảnh đen trắng rất có thể đã được Paul
Polotski tặng cho mẹ vào dịp đó, rồi chính ông ta đã đọc để mẹ viết lên mặt sau mấy chữ thế này: Paul
Polotski, 1954, số nhà 21 đại lộ Suffren Paris.
Vì giả thuyết hai người gặp nhau ở Paris năm 1977 bị loại, nên giả thuyết hai người tái ngộ ở Paris năm ấy
khó lòng đứng vững. Cứ cho là một lần hiếm hoi, nhân lúc cô Hòa nhức đầu ngủ sớm hơn thường lệ hay bận
làm thám tử tư sau lưng cô Huệ, mẹ viết vội cho Polotski một lá thư ngắn tới “số 21 đại lộ Suffren” mà sáng
hôm sau mẹ sẽ len lén thả vào thùng thư bưu điện màu vàng đặt ở trước bến tàu điện ngầm Exalmens. Cứ
cho là địa chỉ Polotski đưa cho mẹ hai mươi ba năm trước vẫn còn dùng được, và ngay khi nhận được thư
mẹ, Polotski cũng hồi âm lập tức thì bức thư của ông ta gửi cho mẹ sẽ gửi theo địa chỉ nào bây giờ?
Mẹ không thể mất cảnh giác đến độ cho ông ta địa chỉ sứ quán hình hoa sen cách điệu. Ngay cả đề địa chỉ
người gửi lên mặt sau phong bì, mẹ cũng không dám: bởi nếu trong trường hợp không có người nhận (Paul
Polotski đã chuyển đi nơi khác) thì bưu điện sẽ căn cứ vào địa chỉ người gửi mà ngược thư về sứ quán cho
mẹ.
Mẹ cũng chẳng thể mất cảnh giác đến độ quên cả bài học của cô Huệ và chú Đỗ. Mẹ hoàn toàn ý thức được
rằng trong trường hợp quan hệ của Polotski và mẹ bị phát giác thì tội của mẹ sẽ nặng gấp đôi tội của cô Huệ:
mẹ đã có chồng (trong khi cô Huệ vẫn còn độc thân) và Paul Polotski là người Pháp (trong khi chú Đỗ là
Việt kiều). Và điều gì bảo đảm được rằng cô Hòa không nhân dịp này mà tìm hiểu gốc gác của Paul Polotski,
rồi mừng rú như bắt được vàng khi phát hiện mẹ đã quen ông ta ngay trong thời gian bị bắt tại nhà tù Hỏa
Lò. Cả sứ quán náo loạn. Phòng an ninh liên tục đánh điện khẩn xin ý kiến của Bộ Nội vụ trong nước. Đại sứ
hẳn là không còn suy tính một vé Paris-Hanoi tương đương với bao nhiêu cân thịt bò tươi, yêu cầu trưởng
phòng an ninh vào phòng tài vụ nhận tiền mặt rồi đích thân đưa mẹ ra sân bay Roissy ngày hôm sau.
Mẹ không dám liên lạc với Paul Polotski bằng thư. Thậm chí nếu vô tình gặp ông ta ngoài đường, mẹ cũng
không dám chào. Trong trường hợp ông ta nhanh mắt nhận ra mẹ, tay bắt mặt mừng, mẹ sẽ đành diễn vai
không quen, mẹ lắc đầu bảo: “Xin lỗi, chúng ta chưa gặp nhau bao giờ”, rồi quay sang cô Hòa nhún vai:
“Pháp kém thật, cứ thấy Việt là nhầm”.
Em ngờ rằng vai này mẹ diễn rất trơn tru vì mẹ đã luyện trước nhiều lần, những lúc ở trong buồng tắm hay
trong toa lét, những địa điểm tế nhị mà cô Hòa không thể kè kè bên cạnh. Thực ra, vô tình gặp Paul Polotski
ngoài đường là cơn ác mộng của mẹ trong ba tháng thực tập ấy. Có phải vì thế mà mẹ luôn phải lép vế trước
cô Hòa, và trong bộ ảnh kỉ niệm Paris, nụ cười của mẹ bao giờ cũng gượng?
Thang máy Sài Gòn (22, 23)
22
Paris
“Paul Polotski ấy à? Tôi đã muốn đập nát cái bản mặt của lão. Nhưng tôi không làm thế. Tôi viết cho lão một
bức thư. Tôi cũng chẳng nhớ chính xác đã viết những gì trong đó. Hẳn là những câu ướt át, đắm đuối, rẻ tiền
mà bất cứ ai cũng có thể mười lăm phút tuôn ra cả rổ. Nhưng tôi biết là lão sẽ mắc bẫy. Quả như thế. Hai
hôm sau khi quẳng thư vào thùng thì tôi nhận được hồi âm của lão. Lão viết rằng lão không ngờ tôi vẫn còn
nhớ tới lão sau ngần ấy năm, rằng ngần ấy năm lão sống trong đau khổ vì đã đành lòng bỏ rơi tôi. Lão huyên
thuyên một trang liền về cái gọi là “cuộc chiến giữa lý trí và tình cảm”. Sau đó lại lảm nhảm một trang nữa
về cái gọi là “hy sinh cho tổ quốc thân yêu”. Lão cứ tưởng tôi vẫn ngu xuẩn như ngày xưa để có thể tin được
vào mấy cái trò nhạt phèo ấy của lão, rằng lão yêu tôi nhưng vì Công tác mà tổ chức giao cho, lão không thể
phụ bạc vợ, người phụ nữ đã ở bên cạnh lão trong mọi gian truân, vân vân và vân vân… Rồi lão bảo lão cô
đơn quá đỗi và rất muốn gặp tôi, nếu tôi cho phép. Tất nhiên là tôi trả lời rằng tôi cho phép. Thế là lão mò tới
ngay. Lão có vẻ xúc động. Tay lão run run. Hoặc cũng có thể tôi nhầm. Tay người già nào mà chẳng run.
Nhưng lão xúc động thật hay xúc động giả thì tôi cũng cóc cần biết. Mục đích của tôi bây giờ không còn là
tìm hiểu con người lão. Tôi mời lão uống chè đen với chanh tươi rồi thỏ thẻ với lão vài lời trách móc. Tất
nhiên là kèm theo mấy động tác ngọt ngào. Xong xuôi, tôi rủ lão đi dạo. Lão hăm hở đi. Tôi bồi thêm cho lão
mấy câu lăng quăng hoa lá cành. Và vào chính cái lúc mà lão tưởng bở nhất thì tôi tếch lên taxi, mặc xác lão
giữa đám người đi vét đồ giảm giá. Tôi chỉ cầu mong cho họ giẫm lên xác lão hộ tôi. Lão mà tỏi thì tôi sẽ gửi
viếng một vòng hoa thật to. Nhưng lão vẫn sống nhăn.”
Cô mở to mắt. Từ lúc nghe những lời tâm sự huỵch toẹt này, cô luôn tự hỏi: đối diện với cô có phải là người
phụ nữ đội mũ rộng vành đã đi dạo cùng Paul Polotski.
Vài hôm sau cái ngày đi theo hai nhân vật ở trung tâm ngoại ô Montrouge, cô đã một mình quay lại tòa nhà
có hai cánh cổng sơn màu đỏ gụ để gặp chị gác cổng, nhận nốt bầu tâm sự dở dang hôm trước, rồi được chị
ấy nhiệt tình đưa lên gặp “nữ bá tước Astrakhan” để hỏi thăm tin tức về “ông Paul”. Hóa ra hôm trước,
thoáng thấy Polotski chị ấy nhận ra ngay mặc dù đã gặp ông ta cách đây mấy chục năm có lẻ, vào cái hồi mà
bố mẹ chị ấy còn làm gác cổng cho tòa nhà này. Hồi đấy, đôi khi chị ấy vẫn được mẹ giao cho những nhiệm
vụ nho nhỏ, trong đó có việc mang lên cho “nữ bá tước Astrakhan” một hộp các tông do cửa hàng bán mũ
chuyển tới nhằm lúc bà ta không có nhà. Lần nào cũng vậy, cửa mở sẵn và chị ấy, theo lời dặn của bà ta,
mang hộp vào tận phòng ngủ, vì thế mà ngó được tận mắt cảnh Polotski nửa nằm nửa ngồi trên giường, còn
bà ta thì phủ phục bên cạnh, tay ôm một con mèo, rất là lãng mạn. “Ông Paul điển trai và ăn vận lịch sự,
không bao giờ rời cặp kính râm”, chị ấy nhận xét, “nữ bá tước Astrakhan trái lại không đẹp, mũi quá khổ và
có ria mép, nhưng biết cách làm đỏm, trang phục như đi dự tiệc, mùa đông cũng như mùa hè luôn luôn đội
mũ”. Cô tròn mắt và chị ta nói tiếp: “Trong căn hộ nữ bá tước Astrakhan dành hẳn một phòng chỉ để bày
mũ!”
Về chuyện mũ thì mấy phút sau cô phải công nhận là chính xác. Ngay ở lối vào, cô đã nhìn thấy mũ treo la
liệt trên những móc nhỏ đóng thẳng vào tường. Từ phòng bên, vọng ra một giọng khàn khàn, ra lệnh cho chị
gác cổng dẫn cô sang “phòng mũ”. Lập tức cô có cảm giác như lạc vào một cửa hàng bán mũ. Bộ sưu tập mũ
của nữ bá tước Astrakhan dễ tới cả trăm chiếc, để đầy trên các giá gỗ cao thấp khác nhau, phần lớn có vành
rộng, một số còn có cả chàng mạng mỏng tang, nhưng đều đã phủ bụi. Chiếc phất trần treo ngay cạnh đấy
phủ bụi trắng xóa. Trong góc phòng, một lò sưởi tuyệt đẹp bằng đá cũng im lìm dưới lớp bụi dày. Toàn bộ
căn hộ bốc lên một mùi hăng hắc kỳ lạ, một thứ mùi tổng hợp của nhiều mùi, ngoài mùi nước hoa, mùi thuốc
lá quấn tay, mùi bát đĩa bẩn, mùi quần áo lâu ngày không thay, mùi toa lét lâu ngày không cọ, còn một mùi
nữa mà cô chưa đoán ra.
Cuộc nói chuyện tay đôi giữa nữ bá tước Astrakhan và cô kéo dài đúng mười phút (khi chị gác cổng gọi điện
lên để xin phép, bà ta đồng ý tiếp nhưng ra điều kiện chỉ được mười phút, không phải vì không có thời gian,
không phải vì không trân trọng “người quen” của chị ấy, mà vì bà ta đã chán ngấy chủ đề Paul Polotski).
Tham quan xong “phòng mũ”, cô không được mời sang phòng khách mà vào phòng ngủ.
Trung tâm phòng ngủ là một cái giường sắt đồ sộ, khăn trải giường bằng xa tanh hồng viền đăng ten nham
nhở như bị chuột gặm. Quấn mình trong một chiếc áo ngủ bằng voan mỏng, nửa nằm nửa ngồi trên giường,
đầu tựa lên một chồng gối cáu bẩn, tay này ôm một con mèo, tay kia dụi điếu thuốc đang hút dở vào gạt tàn,
nữ bá tước Astrakhan mang dáng vẻ của một gái điếm về già. Da dẻ nhăn nheo và bự phấn. Chiếc mũi tuy
không hẳn “quá khổ” như chị gác cổng miêu tả lúc nãy nhưng rúm ró thành một cục ngay giữa khuôn mặt.
Bộ ngực qua lớp voan chảy sệ xuống gần thắt lưng. Nhưng có lẽ kinh hãi nhất là mái tóc nhuộm đen, mỏng
dính, để lộ từng mảng da đầu mà không cần sờ tay vào thì người ta cũng có thể đoán là rất nhũn. Cô vội nhìn
lên tấm chân dung bán thân sơn dầu trên vải, đóng khung vàng hình bầu dục, treo ngay đầu giường. Con
người trong khung chẳng đẹp đẽ gì, đỉnh điểm của dung tục, nhưng dù thế nào cũng không thể xấu hơn cái
đống bầy nhầy, sực nức mùi nước hoa rẻ tiền, đang nằm ghếch đùi cách cô chưa đầy một mét. Không thể nào
tưởng tượng đó chính là người phụ nữ đội mũ rộng vành từng thủ thỉ cùng Polotski, rồi lại bỏ rơi ông ta giữa
đường hôm trước. Cô còn nhớ đã sững sờ thế nào khi chứng kiến cảnh bà ta bước thẳng lên taxi và hất đầu ra
hiệu cho tài xế chuyển bánh, còn ông ta thì đứng như trời trồng. Rồi cô lại tự hỏi trong cái tòa nhà bảy tầng ở
ngoại ô phía Nam này, ngoài “Công chúa An Nam” và “nữ bá tước Astrakhan” còn có bao nhiêu đại diện của
quí tộc nước ngoài. Cô từng nghe bảo trong khu nhà cô ở hiện nay có hẳn một hoàng tộc châu Phi. Cô cũng
từng nghe bảo trong tòa nhà chọc trời này của khu phố Tàu có một công chúa Lào đang làm gác cổng, còn
khu nhà chọc trời kia (cũng của khu phố Tàu) có một thái tử Miến Điện đang chuẩn bị hồi hương, cướp
chính quyền…
“Nữ bá tước Astrakhan” tỏ ra rất hãnh diện về tấm chân dung. Bà ta trịnh trọng thông báo rằng cách đây hai
chục năm đã phải trả cho họa sĩ số tiền một nghìn quan, “tương đương với một tháng tiền nhà”, nói xong đưa
cả hai tay xoa lưng con mèo ra chiều âu yếm lắm. Cô thở dài tự nhủ một trăm năm mươi euro bây giờ chẳng
thuê nổi một cái hầm nhỏ chứa đồ. Hẳn là người chủ căn hộ hay con cháu của ông ta không ít lần muốn cầm
súng tới đây, nhưng cuối cùng lại sợ án tù chung thân nên nữ bá tước Astrakhan vẫn sống nhăn nhở để tiếp
tục mấy chục năm liền trả một cái giá thuê nhà bèo bọt chưa từng thấy. Kể ra bà ta cũng biết lo cho tương lai
từ rất xa. Nếu bà ta từng là gái điếm thì có lẽ là một gái điếm khôn ngoan. Rồi cô lại cố hình dung ra cảnh
Paul Polotski đẹp trai nửa nằm nửa ngồi trên giường, đầu tựa lên chồng gối cáu bẩn, còn bà ta phủ phục bên
cạnh, một cảnh “rất lãng mạn” theo lời đánh giá của chị gác cổng. Nhưng cô thất bại hoàn toàn.
– Đã nhìn thấy heo nái của lão chưa? nữ bá tước Astrakhan đột ngột lên tiếng, hai tay không ngừng ve vuốt
con mèo. Mụ ta béo tròn, có lẽ lăn nhanh hơn đi. Ngày trước, mỗi lần lão ra tới cửa, tôi đều nói với theo “cho
gửi lời thăm heo nái nhé”, lão rất ngượng nhưng cứng họng nên biến thẳng.
Cô giật mình. Người đàn bà khẳng khiu như một que củi và không thấp hơn Polotski chút nào, cô cứ đinh
ninh là vợ ông ta. Ít ra thì cô cũng đã hai lần chứng kiến hai người cùng rời nhà, sau đó ông ta tiếp tục tới
trường, còn bà ta thì có lẽ đi chơi hay thăm thú ai đó vì ăn vận lịch sự, đặc biệt là mái tóc được chăm sóc rất
công phu.
– Rất có thể ông ta đã ly dị giữa chừng?
Câu hỏi của cô được đáp lại bằng một tràng cười khùng khục kéo dài có đến cả phút. Cô quay sang nhìn kẻ
đối diện, tự nhủ nói cho cùng bà ta cũng là người vui tính. Trên đường tới đây, cô đã chuẩn bị tinh thần phải
ngồi nghe suốt buổi chiều một thiên tình sử diễm lệ thế nào cũng tim tím màu tử đinh hương. Nhưng nữ bá
tước Astrakhan cười đến rơi cả nước mắt, một vệt đen đen chảy từ mí dưới, vòng qua tuyến lệ, bò xuống tận
giữa cằm:
– Ôi giời ơi, sao lại có người ngây thơ thế nhỉ? Paul Polotski mà dám ra tòa ly dị thì trời sụp. Nói thật,
chuyện này khó tin ngang tuyết rơi mùa hè.
– Hoặc vợ cũ ông ta đã bỏ đi và người bây giờ là vợ mới?
– Không, không bao giờ có chuyện đó, bà ta nhanh chóng đáp lại, tuy hơi ngập ngừng, có vẻ như bản thân
cũng không tin một trăm phần trăm vào điều đang nói. Nhưng trấn tĩnh ngay lập tức, vuốt ve con mèo bằng
đôi tay nổi gân chằng chịt và rất có nghề (khiến nó phát ra những tiếng rên nho nhỏ), bà ta nhìn thẳng vào
mặt cô giọng khiêu khích:
– Có biết ông ấy từng làm tới chức vụ gì không?
A, cái này thì cô chưa bao giờ nghĩ tới và cô đang định nói với bà ta như thế, nhưng bà ta đã lại bò ra cười
rồi xua tay ra hiệu cô không cần phải trả lời. Cười chán chê, lấy ống tay áo ngủ lau mắt, bà ta lại ngả lưng
vào chồng gối cáu bẩn, con mèo tiếp tục rên rỉ. Cô nhìn đồng hồ đeo tay, vội vã hỏi:
– Ông ta phục vụ cho tổ chức nào?
Cô vừa dứt lời, nữ bá tước Astrakhan đã bất ngờ ném con mèo ra góc xa nhất của căn phòng rồi bật dậy
tuyên bố:
– Chủ đề Paul Polotski từ nay vĩnh viễn nằm trong sọt rác!
Ngay lập tức, đồng hồ đầu giường reng một tiếng chói tai, hẳn là được đặt báo thức “đúng mười phút” như
bà ta đã đưa điều kiện qua chị gác cổng.
Con mèo loạng choạng ngồi dậy, ngơ ngác một lát rồi từ từ bước ra khỏi phòng. Bà ta vớ điếu thuốc hút dở
lúc nãy đưa lên môi, châm lửa đốt và nhả khói theo đường mũi thành những đám mây.
Sau đó, cô được mời ở lại uống chè đen mà bà ta ra lệnh cho chị gác cổng rót từ ấm xa-mô-va “đã pha sẵn
trong bếp”. Nhìn ba ly thủy tinh cáu ghét đựng một thứ nước nhờn nhợt tanh lòm, cô không hiểu Polotski
muốn tìm gì ở mụ phù thủy già kia. Nhưng điều mà cô quan tâm lúc này là “ông ta phục vụ cho tổ chức nào”.
Rồi cô tự hỏi tất cả những gì đi từ miệng nữ bá tước Astrakhan đáng tin bao nhiêu phần trăm.
Bà ta là một người khôn ngoan, cô phải công nhận như thế. Một lần lấy cớ vào bếp tìm đường viên, cô đã
làm hai vòng căn hộ nhưng không tìm được dấu vết nào của Polotski và của con mèo.
Bà ta là người biết cách làm đỏm. Ra ngoài đường không thể thiếu mũ, ở trong nhà (khi không thể đội mũ)
thì lại bắt buộc có mèo. Nhưng nếu bà ta chi bộn tiền vào mũ (để có những chiếc rất cầu kỳ) và hy sinh hẳn
một phòng chỉ để bày mũ (chính là phòng khách với lò sưởi tuyệt đẹp bằng đá), thì ngược lại bà ta hầu như
chẳng chi khoản nào cho mèo (một đống đồ hộp đã mở và chưa mở trong bếp, tuyệt nhiên không cái nào
chứa thức ăn của mèo) cũng chẳng buồn sắm cho nó một cái ổ (chiếc rổ mây duy nhất trong nhà lại chính là
chiếc được dùng để đựng vỏ đồ hộp). Vì sao lại có sự phân biệt đối xử như vậy? Cô suy nghĩ và không tìm
thấy lý do nào khả dĩ hơn lý do sau đây: một chiếc mũ cầu kỳ (đã rộng vành lại có chàng mạng) giúp người
đội nó che đi khuôn mặt xấu xí với một cái mũi quá khổ; trong khi đó, một con mèo được chăm sóc tử
tế (được ăn đồ hộp và ngủ rổ mây) không thể khiến khuôn mặt của người đang vuốt ve nó từ xấu xí bỗng trở
thành xinh đẹp; không những thế nó còn kém một con mèo chột mắt hay rụng lông ở chỗ một con mèo chột
mắt hay rụng lông ít ra cũng giúp người đang vuốt ve nó bày tỏ khả năng và ham muốn vuốt ve vô cùng lớn
của mình (phải lớn thế nào mới bỏ qua được hai thứ là chột mắt và rụng lông).
23
Paris
Cô tưởng tượng nữ bá tước Astrakhan mỗi khi sắp có khách tới thăm, đều ra ngoài bế một con mèo lang
thang nào đó về nhà, cho nó một chút đồ hộp mà bà ta vừa bỏ mứa ở bữa trước, rồi ra sức vuốt ve nó trước
mặt khách, nhưng khi khách bước chân ra khỏi cửa thì bà ta cũng lập tức tống tiễn con mèo. Có những con
mèo đa cảm và tham ăn không muốn tiếp tục cuộc đời lang thang và đói khát (cả thức ăn lẫn tình thương),
nên kiên quyết ở lại, ngỡ là sẽ tiếp tục được vuốt ve và cho xơi đồ hộp. Bị bà ta đá đít rồi quẳng qua cửa sổ
mà chúng vẫn tìm cách quay về (chúng thường núp sẵn ở cửa, chỉ đợi cửa mở là luồn ngay vào). Nếu may
mắn mà bà ta sắp có khách tới thăm thì chúng sẽ được giữ lại, được cho xơi đồ hộp thừa và vuốt ve, rồi sau
đó lại bị đá đít và quẳng qua cửa sổ, quy trình cũ sẽ lập lại. Nếu không may mà bà ta cả tuần chẳng có ai đoái
hoài (điều này, thật đáng tiếc, lại tăng lên cùng với tuổi già) thì chúng sẽ bị bỏ đói cho tới chết, vì bà ta sẽ
giận cá chém thớt và nhất định đóng chặt cửa bếp để chúng không thể trốn vào ăn vụng đống đồ hộp mà bà
ta vẫn bỏ mứa, cũng như đóng chặt cửa chính và mọi cửa sổ để chúng không thể trốn ra ngoài bới thùng rác
công cộng. Thế là không còn lối thoát cho những con mèo đa cảm và tham ăn. Cô hít mạnh một cái rồi tự
nhủ một trong những yết tố tạo nên cái mùi hăng hắc mà cô chưa nhận ra lúc nãy chính là mùi mèo chết.
Nhưng tại sao nữ bá tước Astrakhan lại có nhu cầu bày tỏ với cô khả năng và ham muốn vuốt ve của mình?
Cô hình dung một cảnh tượng như sau: ngay khi nhận được hồi âm của Paul Polotski, bà ta ra đầu phố và lập
tức tìm được một con mèo đang thoi thóp trên vỉa hè, nó quá già và chỉ có thể kiếm ăn quanh quẩn khu này,
nhưng từ hôm qua tới giờ nó chưa có cái gì vào bụng vì thùng rác công cộng đã bị bọn thanh niên nghịch
ngợm dùng keo siêu dính dán chặt lấy nắp.
Mang nó lên nhà, cho nó xơi toàn bộ hộp cá mòi xốt cà chua mà bà ta không tài nào nuốt nổi lúc ban trưa, bà
ta bế nó ra giường rồi bắt đầu vuốt ve con mèo già khốn khổ. Dễ đến chục năm nay bà ta mới có dịp làm lại
động tác này và hai bàn tay đương nhiên không thể tránh khỏi ngượng nghịu. Tuy vậy, kết quả thật mỹ mãn:
con mèo run rẩy vì sung sướng, từ hai khóe mắt của nó những giọt nước theo nhau rơi ra, suốt cuộc đời lang
bạt kì hồ nó chưa bao giờ được một bữa no nê và lạ miệng như thế, được người khác âu yếm vuốt ve như thế.
Nữ bá tước Astrakhan nhìn nó kinh ngạc, suốt cuộc đời mua vui cho đám đàn ông, bà ta chưa bao giờ gặp
con mèo nào đa cảm hơn con mèo này. Bà ta quyết định giữ nó lại cho tới cuộc hội ngộ với Paul Polotski.
Mục đích của bà ta rất rõ ràng: hai hôm nữa, phải bỏ rơi Paul Polotski phũ phàng như ông ta đã bỏ rơi bà ta
cách đây mấy chục năm. Hai chữ “phũ phàng” là hai chữ mà bà ta nhằm tới. Phải làm sao cho thật phũ
phàng. Và lý luận của bà ta đơn giản thế này: ngày xưa bà ta cảm thấy bị bỏ rơi phũ phàng vì ngay trước đó
đã quá tin tưởng vào tình cảm của Paul Polotski, nên bây giờ để ông ta cảm thấy bị bỏ rơi phũ phàng, phải
tìm cách để ông ta ngay trước đó tin như đinh đóng cột vào tình cảm của bà ta.
Mọi sự đã xảy ra đúng như dự tính. Paul Polotski có mặt sớm hơn mấy phút, thấy cửa mở nhưng không dám
bước vào ngay, sau đó được mời vào phòng ngủ cũng không dám ngồi xuống giường ngay, được mời uống
chè đen với chanh tươi cũng không dám xin thêm đường viên, được thỏ thẻ vài lời trách móc cũng không
dám mở miệng thanh minh. Tóm lại, bao nhiêu hay ho của “cuộc chiến giữa lý trí và tình cảm” và “sự hy
sinh cho tổ quốc” đã đổ hết vào lá thư hồi âm, còn đối diện với nữ bá tước Astrakhan thì Paul Polotski nơm
nớp sợ người tình xưa hạch tội. Chỉ khi bà ta bế con mèo già khốn khổ vào lòng và đưa hai tay vuốt ve nó
(bà ta gọi đó là mấy “động tác ngọt ngào”) thì ông ta mới bớt lo lắng và nhen nhóm hy vọng. Con mèo càng
rên rỉ vì sung sướng, ông ta càng hy vọng. Con mèo, như ông ta vẫn nhớ, là vật trung gian để bà ta bày tỏ
ham muốn và khả năng vuốt ve của mình. Lúc những giọt nước thi nhau rơi ra từ khóe mắt của con mèo
cũng là lúc hy vọng của ông ta đang dần dần biến thành niềm tin. Rồi hai người đi dạo ở trung tâm ngoại ô
Montrouge, bà ta mặc váy dài, đội mũ rộng vành màu đỏ gụ, ông ta theo sát sau lưng, thỉnh thoảng lại cúi
xuống thủ thỉ, xa xa là tháp chuông nhà thờ, thi vị không khác tiểu thuyết thế kỷ mười chín. Được bồi thêm
vài câu hoa lá cành, ông ta khấp khởi nghĩ tới tình cảm của bà ta. Bước lên để ôm lấy vai nữ bá tước
Astrakhan là động tác mà ông ta chỉ làm khi đã hoàn toàn tin tưởng. Nhưng “vào chính cái lúc mà lão tưởng
bở nhất thì tôi tếch lên taxi, mặc xác lão giữa đám người đi vét đồ giảm giá”. Bà ta đắc thắng kể cho cô. Mối
thù xưa đã được trả xong.
Về tới nhà, việc đầu tiên của nữ bá tước Astrakhan là đá vào đít con mèo rồi quẳng nó qua cửa sổ (như bà ta
vẫn từng làm), xong xuôi bà ta phủi tay vào nhau và lên giường nằm rít thuốc lá nhâm nhi chiến thắng. Paul
Polotski không thể nào bị bỏ rơi một cách phũ phàng hơn cú vừa rồi, bà ta tự nhủ, tưởng tượng kẻ thù của
mình trong cơn choáng váng sẽ lăn kềnh ra đất và rất có thể sẽ bất lực chứng kiến người đi đường giẫm lên
đùi, lên bụng, lên ngực mình. “Nhất định phải theo dõi báo chí để xem gia đình lão có gửi cáo phó”, bà ta thì
thầm một cách khoái chí.
Tuy vậy, hút xong điếu thuốc, hồi tưởng lại sự việc, bà ta bắt đầu cảm thấy tiếc cho đôi tay bấy lâu nay
không được sử dụng tới. Bà ta tin vào tiềm năng vuốt ve của chúng, miễn là chịu khó tập luyện cho đừng bị
mất thói quen. Nghĩ tới đây bà ta vùng dậy, mở tủ lấy chiếc váy ngủ bằng voan mỏng mặc vào người rồi ra
đứng trước gương. Quay trước quay sau, bà ta gật đầu tự nhủ: “Phải Công nhận là mình kháng cự với tuổi
già không đến nỗi tồi!”.
Một quyết định đột ngột được đưa ra: từ nay bà ta sẽ lao vào cuộc chiến chống lại bọn con gái trẻ. “Tuổi trẻ
không bao giờ là tất cả”,bà ta nói to rồi ngồi vào bàn phác thảo một quảng cáo như sau: “Elizabeta, nữ bá
tước Astrakhan, mắt xanh mơ màng, không còn trẻ nhưng dày dặn kinh nghiệm và hừng hực sức sống, đôi
tay của nàng chắc chắn sẽ đưa chàng lên đỉnh. Hân hạnh đón tiếp tất cả các đại diện của phái mạnh, không
phân biệt tuổi tác và màu da”.
Cuộc gặp gỡ với cô trên thực tế chỉ là một dịp để nữ bá tước Astrakhan tập luyện đôi tay. Bà ta tự nhủ nếu
phụ nữ cũng tỏ ra ngưỡng mộ khả năng vuốt ve của bà ta thì có nghĩa là bà ta sẽ thành công với cả những vị
khách đàn ông khó tính nhất. Thế là ngay sau khi nhận được cú điện thoại của chị gác cổng, bà ta đã xuống
sân sau định tìm một con mèo lang thang thì đụng phải con mèo già hôm trước. Mặc dù rất đa cảm (tính đa
cảm của nó đã khiến bà ta kinh ngạc), nó cũng là một con mèo lang bạt kì hồ và khá từng trải. Bị bà ta đá đít
và ném qua cửa sổ, nó đã hiểu ra vấn đề và tự nhủ ngay cả khi sức khỏe của nó khá khẩm hơn, nó cũng sẽ
không bao giờ chịu leo mấy tầng thang gác rồi ngồi rình để lúc nào cửa mở thì lẻn vào, đợi bà ta bố thí cho
chút đồ hộp và vài cái vuốt ve, nó từng này tuổi và không cho phép mình ngu xuẩn như những con mèo trẻ
người non dạ khác.
Nữ bá tước Astrakhan không hề đếm xỉa tới những suy nghĩ ấy của con mèo già, cứ thế vác nó lên nhà,
quẳng cho nửa hộp pa tê gan mà bà ta ăn thừa cách đấy mấy tiếng. Sau đó, cô bước vào cùng chị gác cổng và
mọi việc xảy ra như cô vừa chứng kiến. Mọi việc, trừ cuộc đấu tranh nội tâm của con mèo! Vâng, đúng thế,
mặc dù vẫn bị coi là con vật có chỉ số IQ cực kỳ hạn chế, mèo cũng có cuộc sống nội tâm và vì vậy, đôi khi
cũng phải trải qua một cuộc đấu tranh nội tâm nho nhỏ. Được xơi nửa hộp pa tê gan và được xoa lưng ngay
khi khách xuất hiện, con mèo già khốn khổ vẫn cố gắng chế ngự tính đa cảm của mình. Tuy vậy, khi nữ bá
tước Astrakhan ra sức thao tác hai tay để vuốt ve con vật (bà ta có vẻ bị kích thích vì nó đã không run rẩy lập
tức như lần trước) thì nó đành đầu hàng vô điều kiện và len lén mơ màng tới phần cuối đời êm ấm, bên một
bà chủ đáng yêu.
Thế nhưng, đúng vào cái lúc mà nó phát ra những tiếng rên rỉ như cổ động cho đôi tay của bà ta, người với
nó bây giờ đã trở thành ân nhân lớn nhất trên đời, thì nữ bá tước Astrakhan bất ngờ ném nó ra một góc xa
nhất của căn phòng để tuyên bố với cô “đề tài Paul Polotski từ nay vĩnh viễn nằm trong sọt rác”.
Nó đau đớn và ngơ ngác. Nó từ từ bước ra khỏi phòng. Nó thề tìm mọi cách để thoát khỏi nơi đây. Trong lúc
đám người ngồi uống chè đen từ ấm xa-mô-va, nó làm một vòng căn hộ để nhanh chóng nhận ra rằng cửa ra
vào và tất cả các cửa sổ đều bị bà ta đóng kỹ. Tuy nhiên vẫn còn một cách, lại là cách khá mạo hiểm: chui
vào lò sưởi trong “phòng mũ” rồi leo theo đường ống khói thông qua các tầng để lên tới mái nhà và sau đó,
một khi đã ra được bên ngoài, lại men theo máng dẫn nước mưa để bò xuống mặt đất. Nó không chắc tình
trạng sức khỏe của nó cho phép một hành trình khó nhọc như thế. Nó do dự. Dù từng trải đến mấy nó vẫn
ham sống sợ chết. Nhưng có lẽ cuối cùng nó vẫn kiên quyết ra đi. Cô đã làm hai vòng căn hộ mà không tìm
được dấu vết nào của con mèo già đáng thương.
Thang máy Sài Gòn 24, 25, 26
24
Hà Nội
Bố mất trước mẹ mười năm. Thực ra, bố mẹ đã xa nhau mười năm trước đó. Ngày bố mẹ ly hôn, em học hết
cấp một, anh Mai vừa tốt nghiệp đại học. Em không được nghe lời giải thích nào, cả từ phía bố, lẫn từ phía
mẹ.
Bà nội em thời Pháp thuộc có một quầy bán tơ lụa ở phố Hàng Đào. Nếu ngày trước, nhờ cái quầy ấy mà bà
nuôi sống được một đại gia đình gồm bố mẹ chồng, chồng và năm đứa con, thì sau này, cũng vì cái quầy ấy
mà bà và đại gia đình bị xếp vào thành phần «trí thức-tiểu tư sản», thành phần «cặn bã» theo đánh giá của
chế độ mới.
Bố là người duy nhất trong nhà chữa được cái phốt này trong lý lịch: ngay ngày Hà Nội giải phóng, bố bỏ
học tham gia Cải tạo Công tư thương. Sau khi lên danh sách và đưa các đồng chí tới gõ cửa các bạn hàng của
mẹ mình, bố đích thân đề nghị gia đình hiến biệt thự hai tầng đang ở cho chính phủ mới. Gọi là đề nghị,
nhưng thực ra là bị gây áp lực: lúc đấy anh trai cả của bố đang chuẩn bị di cư vào Nam, gia đình sợ bị báo
cáo lên chính quyền địa phương, đành đồng ý chuyển tới sống trong nhà kho của một Công ty Pháp bỏ lại.
Biệt thự hai tầng của bà nội em, sau đó được nhà nước phân cho một gia đình cán bộ cao cấp.
Các biệt thự hai tầng của các bạn hàng của bà nội em, sau đó cũng được nhà nước phân cho các gia đình cán
bộ cao cấp khác.
Nhờ những đóng góp này, bố được gọi lên khen ngợi. Nhưng bố chỉ thực sự được cấp trên tin tưởng khi đã
viết đơn tuyên bố «từ» người anh cả lúc ấy vừa đặt chân đến Sài Gòn. Bố được kết nạp vào Đảng và được
chọn làm cán bộ nòng cốt cho Cải cách ruộng đất, do đã có kinh nghiệm trong Cải tạo Công tư thương.
Ngược lại với bố, con đường đến với Cách Mạng của mẹ bằng phẳng ngay từ đầu: mẹ xuất thân từ thành
phần «dân nghèo thành thị», hết cao đẳng tiểu học thì bỏ học đi theo Việt Minh, mười bảy tuổi là đảng viên,
mười chín tuổi là cán bộ liên lạc.
Hai mươi tuổi, cả bố lẫn mẹ đều được đặc cách vào đại học năm thứ hai.
Hai mươi ba tuổi, cả bố lẫn mẹ đều tốt nghiệp đại học, được phân về hai trường lớn của thành phố, vừa giảng
dạy vừa làm cán bộ nòng cốt, đầu tiên cho Đoàn, sau đó cho Đảng.
Lý lịch của bố đẹp. Lý lịch của mẹ đẹp. Nhưng bố mẹ còn muốn lý lịch đẹp hơn nữa nên vẫn miệt mài chăm
lo từng chi tiết bên trong.
Trong lý lịch của mẹ, em đọc được ngày tháng năm mẹ tham gia công tác gì, ở đâu, với thủ trưởng nào, cùng
tất cả các loại giấy khen và danh hiệu.
Trong lý lịch của bố, em đọc được ngày tháng năm bố tham gia công tác gì, ở đâu, với thủ trưởng nào, cùng
tất cả các loại giấy khen và danh hiệu.
Trong lý lịch của bố, phần bố khai về vợ, em đọc được ngày tháng năm mẹ tham gia Công tác gì, ở đâu, với
thủ trưởng nào, cùng tất cả các loại giấy khen và danh hiệu. Trong lý lịch của bố, phần bố khai về anh
chị em, em chưa bao giờ đọc thấy tên bác Cả. Năm 1977, khi Công an khu vực đến nhà nói chuyện với mẹ,
em mới hay ngoài ba anh chị em ở miền Bắc, bố còn có một người anh trai nữa, người anh lớn nhất trong
nhà, từng hai chục năm “sống dưới chế độ ngụy”. Những ngày ở Hà Nội, bác Cả không đặt chân tới căn hộ
của bố mẹ. Những ngày ấy, bố mẹ cũng không đặt chân tới nhà ông bà nội, tới nhà các anh chị em khác của
bố. Bố mẹ hoàn thành xuất sắc và sáng tạo vai «con người mới xã hội chủ nghĩa».
Vài tuần trước khi anh Mai thi tốt nghiệp đại học, em đã chứng kiến một trận cãi nhau đặc biệt giữa bố và
mẹ. Gọi là cãi nhau nhưng đúng ra là chỉ có bố lên tiếng, bằng một giọng khá to, còn mẹ luôn cúi đầu im
lặng. Em không thể không ngạc nhiên. Bố mẹ có vẻ đang đổi vai cho nhau.
Đứng giữa phòng khách, mắt nhìn thẳng ra cửa sổ, bố lên giọng: – Cô là đồ ích kỷ!
Mẹ cúi đầu im lặng.
Bố tiếp tục lên giọng: – Cô vô trách nhiệm với con cái!
Mẹ cúi đầu im lặng.
Em không sao quên được căn phòng chật vàng ánh đèn dầu, một đêm đầu hè nóng không tả nổi, cái dáng cao
lớn của bố đột nhiên trở nên hung tợn, còn cái dáng mảnh mai của mẹ bỗng dưng trở nên yếu ớt. Ngoài cửa
sổ bất động một màu đen. Em không hiểu bố tìm gì trong đó. Không có tiếng chó sủa. Không có tiếng lá cây.
Ngay cả côn trùng cũng tắt lịm.
Suốt đêm em ngủ vật vờ. Mỗi lần tỉnh dậy, em lại vén màn nhìn sang phòng khách. Ngoài ấy, bố vẫn nhìn
thẳng ra cửa sổ, mẹ vẫn cúi đầu im lặng. Lần nào em cũng thấy đúng một cảnh. Lần nào em cũng tự nhủ vai
nạn nhân không hợp với mẹ chút nào.
Đến gần sáng thì em thức hẳn.
Đứng giữa phòng khách, mắt nhìn thẳng ra cửa sổ, bố lên giọng: – Thằng Mai không được lỡ suất thực tập
Liên Xô.
Mẹ cúi đầu im lặng.
Bố tiếp tục: – Thằng Mai phải có lý lịch thật đẹp.
Mẹ cúi đầu im lặng.
Bố tiếp tục: – Cô phải có chứng nhận “Gan dạ bất khuất trong nhà tù thực dân”.
Mẹ cúi đầu im lặng. Bố đi đi lại lại trong phòng khách và thở hổn hển.
Căn hộ vang lên tiếng thở của bố, hổn hển như của một người sắp bị thần chết bắt đi.
Bất ngờ bố dừng lại giữa phòng khách, nín thở, chỉ tay vào mặt mẹ: – Cô đã làm gì ở Hỏa Lò trong ba ngày
đó?
Tới hôm nay em vẫn còn nhớ đã choáng váng thế nào khi nghe câu hỏi ấy, đúng hơn là khi nghe cái giọng
của bố lúc đặt câu hỏi ấy, một cái giọng rành mạch mà em chưa từng nghe thấy ở bố, một cái giọng chất
chứa biết bao ngờ vực, biết bao căm phẫn, biết bao chịu đựng.
Em cũng nhớ là mẹ đã hơi giật mình, một chút thôi, vì bóng mẹ thoáng lay động trên bức tường đối diện.
Nhưng mẹ một mực im lặng. Sự im lặng của mẹ khiến em rùng mình. Em hết nhìn bố lại nhìn mẹ. Chiếc đèn
dầu thoi thóp một góc, khí nóng vẫn hun đúc khắp nơi. Mong muốn lớn nhất của em lúc đó là mẹ chấp nhận
trả lời. Tuy không hiểu câu hỏi ấy của bố, em vẫn cảm thấy đó là một mối nguy hiểm. Đầu óc của một đứa
trẻ lên mười vừa khai bản lý lịch đầu tiên trong đời cho phép em suy tính được rằng nếu mẹ không chấp nhận
trả lời, thì mối nguy hiểm đó sẽ theo mẹ suốt đời, như một chi tiết không rõ ràng trong lý lịch.
Nhưng mẹ một mực im lặng. Nửa năm sau bố mẹ ra tòa ly dị. Bố chuyển công tác vào Sài Gòn, làm hiệu phó
một trường đại học. Anh Mai đi theo bố, em ở lại với mẹ. Không biết cơm Sài Gòn hồi ấy hấp gì thay cho mì
sợi Hà Nội nhưng chẳng bao giờ còn nữa những ngày anh Mai đi chợ nấu cơm và em rửa bát quét nhà,
những ngày anh Mai đưa em tới trường, anh Mai đi họp phụ huynh cho em, anh Mai rẽ vào lớp xin phép cô
giáo cho em nghỉ học, vì em bị cúm, bị lên sởi, bị viêm họng…
Chứng kiến cảnh bố xách va li ra khỏi cửa, em chợt nghĩ bố chia tay với mẹ như chia tay một mối nguy
hiểm, một chi tiết không rõ ràng trong lý lịch. Sau này, em lại nghĩ trên thực tế hai mươi năm sống với mẹ là
hai mươi năm bố sống với câu hỏi ấy trong đầu, và cuộc cãi nhau suốt đêm hè mất điện chỉ là cái cớ để bố
nói lời chia tay một khi đã âm thầm lo xong chức hiệu phó ở Sài Gòn.
– Cô đã làm gì ở Hỏa Lò trong ba ngày đó?
Bố mẹ mỗi người sống một nơi. Em không bao giờ nghe lại câu hỏi ấy của bố. Câu hỏi ấy, em nghĩ tới ngay
khi phát hiện ra tấm ảnh đen trắng của Paul Polotski, giữa hai lớp bìa cuốn sổ tay của mẹ, một buổi tối ở Sài
Gòn, một ngày sau khi đưa tang mẹ. Câu hỏi ấy luôn gắn liền với hình ảnh mẹ cúi đầu im lặng. Câu hỏi ấy,
có bao giờ em tìm ra câu trả lời?
25
Paris
Tháng Bảy cuối cùng cũng đã đến. Paul Polotski nghỉ dạy cả tuần nay và chỉ ra khỏi nhà để làm mỗi một
việc là đến vườn hoa ngồi đọc báo. Từ hôm qua, cô đã quyết định chuyển hướng theo dõi sang vợ ông ta.
Cho tới bây giờ, tất cả những gì cô biết về người phụ nữ này bao gồm cái tên Victoria (mới đây cô đã lọt vào
cổng rồi đọc được trên hộp thư) và thói quen làm đỏm (trang phục của bà ta không một nếp nhàu, còn tóc thì
miễn bàn, óng ả và lúc nào cũng như vừa ở hiệu bước ra).
Trên thực tế, cô đã muốn đi theo bà ta ngay sau cuộc nói chuyện mười phút với nữ bá tước Astrakhan (trong
đó bà ta bị người tình xưa của chồng nhắc tới với biệt danh “heo nái”). Nhưng cô biết đó là một việc không
dễ. Gần một tháng liền theo dõi Polotski, cô chạm mặt Victoria một số lần, đủ để hiểu rằng đối tượng này ra
khỏi nhà không theo một thời gian biểu cố định nào cả. Hôm qua, cô đã đợi tới sáu giờ chiều mà bà ta không
ló đầu xuống cổng. Sau sáu giờ chiều thì cô không thể.
Hôm nay có vẻ là một ngày may mắn. Ra khỏi cửa hàng mỹ nghệ của bà Wang (thứ Năm cô chỉ làm việc
nửa ngày), cô xuống tàu điện ngầm đi thẳng tới đây, đứng khoảng hơn một tiếng thì Victoria xuất hiện ở
cổng, váy áo chỉnh tề, mái tóc không chê được vào đâu, hai bàn tay sơn móng đỏ và đeo rất nhiều mặt đá.
Tuy vậy, ngắm bà ta thì nghĩ ngay tới một gái già khó tính, không biết vì cái dáng khẳng khiu như một que
củi, hay đôi mắt xám sâu hoắm, hay cặp môi mỏng mím chặt. Cô tự nhủ nếu có dịp trực diện Victoria, cô sẽ
nhìn lên mái tóc của bà ta (vì bà ta cao hơn cô gần một cái đầu), và sau đó, khi đã mỏi cổ, cô sẽ nhìn xuống
những chiếc nhẫn trên hai bàn tay bà ta (dù sao thì cảm giác ban đầu của cô là chúng không thuộc loại bán
đại trà ngoài siêu thị).
Paris không nắng từ sáu giờ sáng nhưng tới một giờ trưa thì bầu trời cũng biến thành chiếc chảo gang.
Victoria không đi tàu điện ngầm mà đi xe buýt. Theo đối tượng bước lên xe, đầu suýt va phải lưng bà ta, cô
thấy tim như rơi khỏi lồng ngực. May mà vừa vào trong, bà ta đã được nhường một chỗ ngay cạnh cửa sổ, và
từ đầu tới cuối chỉ ngồi quan sát đường phố, không hề biết rằng mình đang bị quan sát từ sau lưng. Ban đầu,
cô đã thận trọng chọn một chỗ khá xa, nhưng xe mỗi lúc một đông, mỗi lúc một ngột ngạt, dần dần cô bị đẩy
đi tứ tung, cuối cùng chỉ còn cách ghế của Victoria có mấy bước chân, thấy rõ từng cọng tóc vàng óng ánh.
Mấy phút liền, cô đã ngắm trọn vẹn mái tóc của bà ta mà không cần phải ngẩng đầu hay kiễng chân. Sau đó
cô cố nhớ tới mái tóc nhuộm đen, mỏng dính và nặng mùi của nữ bá tước Astrakhan. Như thế cũng giúp cô ít
nhiều thoát khỏi cơn buồn ngủ mang tính tập thể vì xe buýt không hiểu lý do gì mà chạy chậm hơn cả rùa bò,
còn không khí thì hầu như không chuyển động.
Sau đó, sẽ không có gì đáng kể nếu trên đại lộ Courcelles không xảy ra một sự kiện nho nhỏ sau đây. Tại bến
đỗ cách Khải Hoàn Môn vài chục mét, xe đã bớt đông do khách du lịch nối đuôi nhau đi xuống, hành khách
còn lại bắt đầu dãn ra để hít không khí (vì từ nãy tới giờ toàn phải hít hơi người), cô tỉnh hẳn ngủ và nhân dịp
này lùi ra sau một đoạn ngắn, và tình cờ thế nào lại đứng ngay cạnh một nữ hộ pháp, với chiều cao khoảng
thước chín và chiều ngang khoảng năm gang, địu trên lưng một thằng bé chừng ba tuổi. Chị ta có vẻ mệt,
đứng im, động tác duy nhất là thở (cô có cảm giác đỉnh đầu bị gió Lào ngùn ngụt thổi qua). Ngược lại, thằng
bé gầy gò và vô cùng hiếu động, không ngừng quay ngang quay ngửa và quờ quạng khắp nơi. Phải nói là
nhờ chiều cao khác thường của mẹ nó, nó có thể làm những việc đấy một cách khá dễ dàng. Sờ vào gáy ông
đằng trước, mó vào vai bà đằng sau, chạm vào tai thanh niên bên cạnh, giật tóc cô vài lần, nó tỏ ra rất khoái
chí, thỉnh thoảng ré lên cười. Cô không phản ứng. Không hành khách nào phản ứng. Dường như ai cũng bị
cái lò nướng thịt di động này làm cho tê liệt. Người ta vẫn chưa quên trận nắng nóng thê thảm năm ngoái.
Chỉ một tháng mùa hè mà khai tử mấy chục nghìn sinh mệnh.
Cô nhắm mắt. Để chống lại một cơn buồn ngủ mới, cô nghĩ tới phòng khách mát lịm nhà anh Mai. Sau ngày
cô đi, bãi biển Nha Trang được thay thế bằng cung điện Versailles, có cả kiến trúc sư Pháp sang chỉ đạo, báo
chí trong nước ca ngợi là bước nhảy vọt của nghệ thuật nội thất Sài Gòn. Trong ảnh minh họa, anh Mai thắt
cà vạt đỏ, ngồi phô tơi mạ vàng kiểu hoàng hậu Marie-Antoinette, đằng sau là tượng thần Vệ Nữ thành Milo,
xa hơn nữa là chân dung nàng Mona Lisa. Anh có vẻ tự tin. Nói chung, anh hay gặp may với phái đẹp.
Xe buýt lảo đảo tiến về phía trước. Hành khách im lặng. Ngay cả thằng bé hiếu động cũng im lặng. Có cảm
giác nó bị mất hứng. Tất cả không có gì đặc biệt, ngoài hơi nóng. Nhưng vào cái phút không ngờ nhất, không
hiểu sao cô lại mở mắt, để thấy ngay trên đầu cô, thằng bé hiếu động đang giơ lên một bộ tóc giả (như thể
vừa tìm được một đồ chơi mới) và cạnh nó, bên tay phải là cái sọ lưa thưa vài cụm tóc nhuộm đen của
Victoria.
Cảnh này, tuy vậy, chỉ gây cho cô đôi chút ngỡ ngàng (cô không lạ gì tính nghịch ngợm của trẻ con, và cả
tính ưa làm đỏm của nhiều phụ nữ cao tuổi).
Cảnh tiếp theo mới thực sự khiến cô choáng váng, đó là khoảnh khắc khi Victoria quay đầu nhìn xoáy vào
mặt thằng bé.
Tất cả đã xảy ra không những chớp nhoáng mà còn trong tuyệt đối im lặng: đối tượng của cô không kêu gào,
những người xung quanh không thất thanh, mẹ thằng bé cũng không quát mắng nó, chỉ lặng lẽ đặt bộ tóc giả
về lại vị trí cũ. Nhưng về phía thằng bé, cô tin rằng tâm hồn tơ non của nó vừa bị hằn một vết mà không gì có
thể xóa nổi. Nó không òa lên nức nở (giá mà nó khóc được một cái). Toàn thân nó run lên từng hồi nhè nhẹ,
và khuôn mặt quay về phía sau thì bộc lộ cả một sự kinh hoàng. Ba tuổi, hẳn nó đã nhìn thấy chó sói, nếu
không trong sở thú thì cũng trên phim hoạt hình. Cô hình dung đêm nay nó sẽ rơi vào một cơn ác mộng. Và
từ ngày mai trở đi sẽ thay đổi hoàn toàn, sẽ tránh xa những ai có mái tóc màu vàng, sẽ từ chối đi sở thú, sẽ
lắc đầu với phim hoạt hình. Nhưng cơn ác mộng với những cặp mắt sói nhất định không buông tha nó, mà nó
cũng không dám thổ lộ với ai. Thời gian đầu, bố mẹ nó sẽ mừng nhiều hơn lo, vì từ một thằng bé hiếu động,
gây khá nhiều phiền hà cho người xung quanh, giờ đây nó trở nên e dè và có vẻ lẩn tránh đám đông. “Nó
chín chắn sớm hơn tuổi”, họ nói với nhau như vậy. Không ai biết nó sẽ như thế nào ở tuổi thiếu niên, thanh
niên, trung niên… Chịu không ai biết. Dù sao, cô cũng không thể không nghĩ tới “thằng Luc ấy” của lớp học
tiếng Việt.
Ngay sau đó, xe cập vào một bến chính. Hành khách đổ xô ra cửa. Cô vội vàng theo chân Victoria bước
xuống. Thế là cuối cùng cũng thoát được cái lò nướng thịt di động. Từ xa đã thấy chóp tròn lấp lánh của nhà
thờ Nga. Nhà thờ Nga Alexandre Nevski, người Paris ai cũng biết là ở quận Tám, phố Daru, cạnh đại lộ
Courcelles. Bấy giờ cô mới vỡ ra rằng, khi nãy trên xe buýt, trong lúc cô nhắm mắt mơ tưởng tới phòng
khách mát lịm nhà anh Mai thì Victoria đã đứng lên định đi ra cửa, để xe cập bến là xuống ngay, nhưng vừa
đứng lên chưa kịp đi đã bị thằng bé hiếu động tóm lấy bộ tóc giả. Cũng như cô, thằng bé bị thu hút bởi
những sợi tóc óng ánh vàng. Có thể nó bị thu hút từ trước, nó rất muốn sờ tay vào xem sao, nhưng vì bà ta
ngồi dưới ghế còn nó thì ở trên lưng mẹ nên nó đành phải đợi thời cơ. Nó đã không khóc lóc đòi mẹ cho ngồi
xuống để ngay lập tức đạt được ý muốn. Nó có quyền làm thế, vì nó còn bé, hành khách trong xe phải
nhường chỗ cho nó ngồi. Nhưng nó quyết định đợi. Nó sợ đối tượng cảnh giác và bỏ đi mất. Nó im lặng. Cô
đã ngỡ là nó bị mất hứng nghịch ngợm những người xung quanh, không biết rằng nó đang đợi thời cơ. Và
thời cơ quả thực đã đến ngay sau đó, khi Victoria đứng lên để đi ra cửa. Tóm lại, nó là một thằng bé khá tự
tin và biết tính toán. Đúng thế, trước khi bị cặp mắt xám kinh rợn của Victoria xoáy vào, không nghi ngờ gì
nữa đầu óc ba tuổi của nó phát triển hết sức bình thường. Vấn đề ở chỗ là một điều bình thường như thế khó
lòng thu hút được sự chú ý của người lớn. Người lớn thường có chiều hướng coi thường đầu óc của bọn trẻ
ba tuổi. Bản thân cô đã từng như vậy, nhưng thằng Mike đã nhanh chóng giúp cô hiểu ra vấn đề. Ba tuổi, nó
được cô dẫn ra cửa hàng bán đồ chơi phố Tolbiac. Chọn nửa tiếng được một con robot biến hình. Bà bán
hàng bảo bốn mươi euro. Cô lắc đầu. Chọn nửa tiếng nữa được một con robot biến hình nhỏ hơn một nửa. Bà
bán hàng bảo hai mươi euro. Cô vẫn lắc đầu, định chọn tiếp. Bà bán hàng bảo lần sau hỏi giá rồi hãy chọn
hàng, đừng làm mất thời gian của người khác. Thằng Mike không nói gì. Sau lần đấy, trước khi ra phố
Tolbiac, nó đề nghị cô kiểm tra ví tiền, nếu dưới hai mươi euro thì nhất định không đi. Sau lần đấy nữa, nó
không đề nghị cô kiểm tra ví tiền, nó tự động kiểm tra ví tiền của cô. Ba tuổi, chưa biết đọc, chưa biết đếm,
nhưng thằng Mike biết số 0, biết càng nhiều số 0 đằng sau thì càng có giá trị. Bảy tuổi, mới biết đọc, mới biết
đếm, nhưng cô đã chứng kiến lần đổi tiền đầu tiên của cả nước, bây giờ vẫn nhớ mấy ngày trước khi đổi tiền,
dân Hà Nội mang bao tải đi mua gạo ngoài, vì nghe đồn sau đổi tiền giá gạo tăng gấp đôi. Về sau lại nghe
nói, dân Sài Gòn nghe đồn đổi tiền từ lâu mà không biết mua gì, hôm đổi tiền mang cả bao tải tiền đi đốt…
Trước cửa nhà thờ, một đám chục người đang bàn luận sôi nổi, chủ đề có vẻ là biên giới Nga-Trung, bốn hòn
đảo trên sông A-mo. Victoria lập tức góp chuyện. Lập luận nhiệt tình. Váy áo trau chuốt. Mái tóc hoàn hảo.
Mười móng tay đỏ chói dập dờn trong không khí. Những chiếc nhẫn mặt đá không ngừng lóe sáng. Câu nào
cũng bắt đầu bằng “ông Paul nhà tôi nói rằng”… Cử tọa còn biết làm gì hơn là tỏ vẻ thán phục. Tất nhiên
chẳng ai biết sự kiện nho nhỏ vừa xảy ra trên xe buýt.
Cuộc bàn luận có lẽ còn tiếp tục không kém sôi nổi ở bên trong nhà thờ. Cô xuống tàu điện ngầm đi về
hướng Nation. Hôm qua, thư ký của Vụ Hợp tác Bộ Nông nghiệp đã gọi điện thông báo: vì lý do công việc,
hai cán bộ cao cấp chỉ có thể học tiếng Việt vào giữa giờ chiều. Cô im lặng. Vào giữa giờ chiều hay vào giờ
nào khác thì cô cũng biết chắc chắn một điều: buổi học thực chất chỉ kéo dài hai mươi phút. Và điều ấy
không khiến cô khó chịu chút nào. Không một chút nào.
26
Paris
Năm giờ chiều, trong cửa hàng mỹ nghệ của bà Wang, cô đã mơ một giấc mơ quái đản: cô ngồi bên một cửa
sổ rộng. Trời rất oi. Một phụ nữ lớn tuổi bỗng dưng tiến lại và nhìn cô từ đầu tới chân. Đó chính là Victoria,
vợ của Paul Polotski. Cặp mắt nhỏ sâu hoắm của bà ta nhìn xoáy vào cô khiến cô liên tục rùng mình. Sau khi
xòe cho cô thấy hai bàn tay phủ kín nhẫn mặt đá, bà ta rút từ người ra một tập ảnh màu, trong đó cô là nhân
vật chính từ A đến Z: lúc thì cuốc bộ sau Paul Polotski, lúc thì ngồi quán cà-phê với Bill, lúc thì lấp ló cạnh
nhà thờ Saint Alexandre Nievski. “Bây giờ đến lượt cô bị tôi theo dõi! » bà ta thì thầm tuyên bố rồi biến
mất. Cô còn đang chết lặng đi vì sợ thì chỉ mấy giây sau bà ta lại hiện ra, lơ lửng trên đầu cô, trong một tràng
cười khoái chá.
Ai đó vỗ vào vai cô. Không cần mở mắt cô cũng biết rằng đó là “ông Robert”. Ngày nào cũng vậy, đúng giờ
này là ông ấy ghé thăm cửa hàng. Cô có cảm giác ông ấy thuộc lòng thời gian biểu của cô, chỉ đợi cô tới bán
hàng là đến ngồi tâm sự đời tư. Thời gian đầu, cô đã lịch sự mời ông ấy ra ngoài, lấy cớ rằng bà Wang, chủ
của cô, có thể bước vào bất cứ lúc nào. Nhưng sau đó, cô nghĩ dù sao thì tạm làm chị Thanh Tâm cho ông
Robert vẫn còn hơn là mộng mị quái đản, vì từ khi cô làm việc ở cửa hàng này, không hiểu sao cứ khoảng
cuối giờ chiều là cô lại lăn ra ngủ rồi ngay lập tức rơi vào một giấc mơ quái đản. Thế là, sau năm năm, ông
Robert thì biết rõ thời gian biểu của cô, còn cô thì biết rõ đời tư của ông Robert. Ví dụ như ông Robert sinh
ra trong một làng nhỏ ven biển tỉnh Quảng Trị, là đồng hương của bà Wang, hơn nửa thế kỉ trước ông Robert
sang Pháp bằng tàu thủy, hai tháng rưỡi lênh đênh từ cảng Hải Phòng tới cảng Marseille… Ví dụ như ông
Robert tên cúng cơm là Rô, nhưng từ ngày vào quốc tịch Pháp thì quyết định đổi tên thành Robert… Ví dụ
như ông Robert cưới vợ được đúng ba tháng thì ly dị vì vợ ông ấy cứ ngửi thấy mùi mắm tôm là buồn nôn
còn ông ấy cứ ngửi thấy mùi pho mát là chóng mặt, vân vân và vân vân…
Cô mở mắt ra và thấy hai bàn tay vẫn còn run. Ngẩng đầu nhìn khắp ngóc ngách của hàng, cô nghe thoang
thoảng tiếng thì thầm của Victoria: “Bây giờ đến lượt cô bị tôi theo dõi”, cùng tràng cười khoái chá của bà ta.
Ông Robert nhìn tay cô rồi hỏi có phải cô bị trúng gió hay không rồi chạy sang cửa hàng thực phẩm bên cạnh
mang về một túi gừng tươi. Vừa xắt gừng thành từng lát mỏng, ông Robert vừa kể quê ông ta mới bị một trận
lụt to nhất thế kỷ, sau lần này thì tất cả sẽ phải bỏ làng mà đi, vì nhà cửa đồ đạc đã bị nước cuốn hết ra biển.
Cô định bảo ông Robert rằng các hoa hậu Việt Nam thế nào cũng đang tranh nhau tới quê ông để phát chẩn
mì ăn liền thì nhận thấy cả hàm dưới của cô cứng như đá tủ lạnh.
Ông Robert lại kể tiếp rằng, thực ra, một nửa làng của ông ta đã bỏ ra thành phố từ mấy năm nay rồi, con trai
làm thợ hồ, con gái làm ô-sin hay bất cứ nghề nào mang lại tiền. Lần cuối cùng ông ta về Hà Nội, trong một
cửa hàng cắt tóc, một đứa con gái kháu khỉnh lại gần rủ ông ta đi hát karaoke, nghe giọng nó ông ta nhận ra
ngay người cùng làng, ông ta dẫn nó tới một hiệu cơm, cho nó ăn một trận thỏa thích, rồi hỏi con cái nhà ai
mà lưu lạc ra đây, thế là con bé nổi cáu, nó bảo Việt kiều rắc rối bỏ mẹ, làm gì thì làm cho nhanh, ngay bên
cạnh có khách sạn mini đấy, nó có là công nhân viên chức nhà nước đâu mà phải kê khai lý lịch. Ông Robert
bảo nghe thế nhưng không giận. Ông ta chỉ thương quê hương bé nhỏ quanh năm nhận thiên tai hộ cả nước.
“Nhưng đó là một cái làng đẹp vô cùng”, ông Robert nói gần như khóc, “tôi đã bôn ba nhiều nơi, nhưng chưa
thấy nơi nào có mái đình đẹp như làng tôi, cuối xuân hoa gạo nở đỏ”.
Ông Robert đang rút khăn mùi soa thì thấy cái đầu của chị Lăm Phun. Không như ông Robert, chị Lăm Phun
chỉ ghé thăm cửa hàng vài tháng một lần. Có lẽ vì vậy mà cô chưa bao giờ mời chị ấy ra ngoài. Sau năm
năm, cô cũng có dịp biết vô khối chi tiết đời tư của chị Lăm Phun. Ví dụ như tên cúng cơm của chị ấy là Lăm
Phun, khi vào quyết tịch thì thành Lucienne, nhưng bị “quân mất dậy quận Mười Ba” gọi là “bé bự”. Ví dụ
như ở Pháp gia đình chị ấy mấy thế hệ chui rúc trong một căn hộ tí hon nhưng ngôi biệt thự mà bố mẹ chị ấy
bỏ lại Viên Chăn thì giờ đây đã trở thành nhà thổ lớn nhất nước Lào.
Lần này, vừa đẩy cửa bước vào, chẳng nhìn ai, chị Lăm Phun lên giọng bất bình: “Thật là khủng khiếp!
Chúng nó không chừa một nơi nào, phòng thờ ông bà tổ tiên mà dám đem trai vào làm cái trò đó!”. Rồi quay
sang cô, chị Lăm Phun bảo trong số nhân viên nhà thổ ở Viên Chăn, con gái Việt được trả tiền cao nhất,
nhưng khách bắt trình chứng minh thư nhân dân để làm tin. Chị Lăm Phun vừa dứt lời thì ông loắt choắt xuất
hiện. Cô không hiểu tại sao ông ta có mặt vào lúc này vì mấy tiếng nữa mới bắt đầu giờ học tiếng Việt. Ông
loắt choắt kịch liệt phản đối chị Lăm Phun. Ông ta bảo đó luận điệu của bọn phản động, chứ phụ nữ Việt
Nam không bao giờ “làm cái trò đó” để lấy tiền, chứng cớ là ông ta và cô bạn “Hà Nội gốc” chưa bao giờ
“làm cái trò đó”.
Ông loắt choắt và chị Lăm Phun cãi nhau rất to. Cô và ông Robert không biết tham gia như thế nào, đành
khoanh tay ngồi nhìn. Ông loắt choắt vẫn diện bộ com lê xanh biếc có vằn vàng rộng hơn hai số. Chị Lăm
Phun bất ngờ búi tóc rơi xuống trán như một chiếc sừng nhỏ. Thế là lại thêm một cuộc đụng độ giữa ễnh
ương và tê giác.
Chị Lăm Phun đùng đùng bỏ đi. Ông loắt choắt quay sang đưa ông Robert một tờ giấy gập tư. Đó là thư bạn
gái của ông ta, được gửi kèm một bản dịch tiếng Pháp, nhưng ông ta vẫn nài nỉ xin ông Robert “dịch lại hộ”.
Ông ta có vẻ rất bị kích động. Cứ gặp người không quen là ông ta bị kích động. Vì gặp người không quen,
ông ta có thể kể mỏi miệng về cô bạn “Hà Nội gốc” của ông ta, về dự định “về hưu làm lại cuộc đời” của ông
ta, về các chuyến du lịch của hai người ở Sài Gòn, Mũi Né, Phú Quốc, Hội An… những chuyện mà ông ta
từng kể không ít lần trong các quán ăn Việt, nơi các bạn học của ông ta chấp nhận nghe với điều kiện ông ta
trả hóa đơn từ A tới Z.
Nhìn ông ta loay hoay giữa đám hoa sen lụa y hệt một con ễnh ương, cô tự hỏi cửa hàng mỹ nghệ của bà
Wang sẽ trụ được tới bao giờ vì đã từ rất lâu, cô có cảm giác tới đây không phải để bán hàng mà để nghe tâm
sự đời tư. Sau đó, cô thở dài và nghĩ trong ngần ấy năm, cô không ít dịp được nghe các kiều dân quận Mười
Ba thổ lộ nỗi lòng, nhưng chưa từng chứng kiến kiều dân Căm-pu-chia nào có ý định trút bầu tâm sự. Quả
thật là cô có ý đợi, cô cũng nổi máu tò mò, nhưng họ chỉ viếng thăm cửa hàng thực phẩm bên cạnh chứ nhất
định không bước chân vào cửa hàng mỹ nghệ của bà Wang. Về sau, cô nghe có người nói rằng cuộc diệt
chủng Pôn-pốt đã phá hủy mọi nhu cầu tâm sự của dân xứ Ăng-ko. Muốn hay không thì quá khứ gần nhất
vẫn là chất liệu chính của các cuộc tâm sự. Trong trường hợp dân Căm-pu-chia, quá khứ gần nhất lại là cái
mà họ tìm mọi cách để quên đi. Ghế khảm trai và bình hoa sứ, họ xóa sổ đầu tiên. Cửa hàng mỹ nghệ của bà
Wang họ không ghé là phải. Năm 2004, Phnom-pênh trở thành trung tâm nô lệ tình dục trẻ em lớn nhất thế
giới.
Ông loắt choắt mời ông Robert sang quán cà phê bên cạnh, làm một “ly giải nhiệt”, có lẽ cho dễ bề tâm sự
đời tư. Cửa hàng bỗng dưng rơi vào im lặng. Để chống lại một cơn buồn ngủ mới, cô đành nhớ lại giấc mơ
quái đản lúc năm giờ chiều. Thế rồi, thay vì nhớ lại cặp mắt nhỏ sâu hoắm của Victoria và những chiếc nhẫn
mặt đá của bà ta, cô lại nhớ ra điều này: trong cuộc bàn luận trước cửa nhà thờ Alexandre Nevski, Victoria là
người duy nhất không nói được chữ tiếng Nga nào.