The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.
Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2022-07-24 19:41:08

60 ngày ở Mỹ Hoàng Minh Tường

60 ngày ở Mỹ Hoàng Minh Tường

60 ngày ở Mỹ

Bút ký Hoàng Minh Tường

Sau hai tháng “tư du” Mỹ quốc, viếng thăm hầu hết các địa danh nổi tiếng
xứ Cờ Hoa, theo lời mời của chính con trai mình (Mr. Ty), nhà văn Hoàng
Minh Tường đã hoàn thành tác phẩm 60 ngày ở Mỹ. Mời bạn đọc thưởng
thức thiên du ký hấp dẫn mà tác giả là một người cầm bút đã chạm ngưỡng
cổ lai hy nhưng vẫn rất hào hứng với những chuyến xê dịch đường trường.

Văn Việt

Những lần du hí trước đây, hoặc là tôi đi theo tour, hoặc theo đoàn, theo lời mời của
bạn bè, mọi việc như đã được lập trình sẵn, có người đưa đón, khoác ba lô lên vai là đi,
khỏi lăn tăn…

Lần này đi Mỹ, người mời là cậu con trai, mà cả nhà gọi bí danh là Mister Ty (TY, cũng
có ý viết tắt của Tình Yêu – LOVE). Mr. Ty sẽ hoàn thành khóa học cử nhân và tốt
nghiệp vào tháng 12/2016. Giấy mời chính tay Mr. Ty ký tên, có chứng nhận của
California State University, Fullerton, khiến Đại sứ quán Hợp chúng quốc Hoa Kỳ tại Hà
Nội rất mau mắn làm thủ tục cấp visa chỉ trong vòng năm phút.

Cuộc thăm Mỹ lần này, tôi có hai nhiệm vụ. Một, mừng ngày nhận bằng cử nhân của
Mr. Ty, nấu ăn cho Ty và tư vấn xem Ty có nên ở lại học tiếp cao học hay về nước. Hai,
điền dã và trải nghiệm để hoàn thành tiểu thuyết Những Mảnh Rồng, mà trước đó một
tháng tôi vừa viết xong bản đầu.

1. NHÂN VẬT CỦA TÔI

Ở California, ngoài Mr. Ty, tôi chỉ có một người thân duy nhất: kỹ sư công chánh ngoại
hạng Bùi Đức Hợp, nguyên mẫu của nhân vật Nguyễn Kỳ Vọng trong tiểu thuyết Thời
của Thánh Thần. Không có cuộc đời chìm nổi đầy dông bão và nhân ái vị tha của Bùi
Đức Hợp, tôi không có nhân vật Nguyễn Kỳ Vọng, không thể tái dựng một mảng đời
sống của người trí thức miền Bắc di cư vào Nam năm 1954, gần hai mươi năm sống
đời công chức trong chế độ Sài Gòn, sau 30/4/1975 sống tiếp mấy năm cán bộ ngành
giao thông vận tải dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, rồi vượt biên sang Mỹ…

Chương Kẻ tha hương trong Thời của Thánh Thần hầu như ghi lại trung thực lời kể của
ông Bùi Đức Hợp, một thuyền nhân may mắn không phải làm mồi cho cá trong hàng
vạn người bỏ nước ra đi vào thập niên 1980.

Tháng 8 năm 2008, khi tiểu thuyết Thời của Thánh Thần (Nhà xuất bản Hội Nhà văn
Việt Nam) ra mắt bạn đọc, người tôi gửi sách biếu đầu tiên là ông Bùi Đức Hợp, đang
sinh sống ở California. Hẳn là ông đã đọc cuốn tiểu thuyết như đọc lại chính một phần
đời mình. Hơn tháng sau, ông gửi một bức thư cám ơn tôi, nhưng không quên trách

móc: “Biết rằng tiểu thuyết có quyền hư cấu. Nhưng tác giả dựng lên cảnh ông đại tá
tỉnh trưởng Trương Phiên sai quân chôn đứng bẩy cán binh Việt cộng để cho xe ủi cán
đầu thì không thể chấp nhận được. Chính quyền Sài Gòn không bao giờ cho phép làm
điều đó. Cũng không có chuyện ông trưởng ty Công chánh Nguyễn Kỳ Vọng (mà
nguyên mẫu là Bùi Đức Hợp) sớm nhìn thấy cảnh hành hình man rợ đó và đã kịp thời
ngăn tội ác của Trương Phiên. Người đọc sẽ nhận ra ác ý ngụy tạo và vu khống của
nhà văn. Tác giả nên cắt bỏ đoạn này…”.

Tôi trả lời ông Hợp rằng, đây là câu chuyện có thật xảy ra ở mặt trận Tây Nguyên, do
chính ông anh họ tôi, từng tham gia trận đánh Mỹ ở Plâyme kể lại. Vả lại những cảnh
tương tự làm sao không xảy ra trong suốt cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Nhưng tôi
ghi nhận điều ông trăn trở, và sẽ chỉnh sửa ở lần tái bản. (Chao ôi, cho đến bây giờ,
gần mười năm, Thời của Thánh Thần đã bị in lậu hàng chục vạn bản, bày bán trên các
vỉa hè Hà Nội, Sài Gòn, nhưng vẫn bị coi là sách đen, cấm tái bản!).

Bốn năm sau, năm 2012, tôi có dịp tiếp nguyên mẫu tiểu thuyết Thời của Thánh
Thần tại nhà riêng ở Hà Nội. Đó là thời kỳ ông Hợp chuyển từ New Orleans về sống ở
California và thường xuyên về nước để làm công việc thiện nguyện (xây dựng nhà tình
thương, mổ mắt miễn phí cho người kém thị lực, xây dựng nhà thờ họ Bùi, trường mẫu
giáo mang tên người cha của ông là Bùi Đức Hậu ở quê nhà Xuân Bảng, Xuân Trường,
Nam Định…). Trong câu chuyện với tôi, ông vẫn có ý trách móc về đoạn văn mà tôi vẫn
chưa có cơ hội chỉnh sửa.

Vừa đặt chân tới Los Angerles, người đầu tiên tôi muốn đến thăm là ông Bùi Đức Hợp.

– Đợi ít ngày nữa ba ơi – Mr. Ty nói – Bác Hợp ở San Jose, cách Fullerton hơn sáu
trăm cây số. Xe của con bị hỏng. Với lại con mới lấy bằng lái xe, chưa dám đi đường
xa. Đi xe đò Hoàng thuận lợi hơn, ba ạ.

Thì ra người Việt ở California không phải sống tập trung, cách nhau chỉ vài chục cây số
như tôi tường, mà kéo dài từ San Diego đến Sacramento trên mười độ vĩ (từ 32 độ B
đến 42 độ B), giống như ở quê mẹ Việt Nam, trải dài trên mười lăm độ vĩ từ chót Mũi
Cà Mau tới Lũng Cú, Hà Giang. Một sự tương đồng đến kỳ lạ.

Dải xương sống Trường Sơn, tựa như sơn mạch Sierra Nevada chạy suốt chiều dài
Bắc- Nam. Biển Đông bên kia và bờ Đông Thái Bình Dương bên này. Chỉ có điều
California rộng lớn hơn Việt Nam và thưa dân hơn nhiều (diện tích 423.070 km2 so với
327.900 km2, và dân số 38,34 triệu so với 95 triệu). Cả tiểu bang là một hình chữ nhật
đứng, trải dài dọc bờ Đông Thái Bình Dương hơn 1.200 km, ngang hơn 400 km.
California có vẻ như như là mảnh đất của Trời dành sẵn để chờ đón những người Việt
tha hương.

Hai ba con đi xe đò Hoàng từ bến gốc, trung tâm Little Sài Gòn. Đây là một hãng xe bus
của người Việt hình thành từ vài chục năm nay. Giới trung lưu, giới trẻ, ai cũng có xe
riêng, ít đi xe tuyến. Chỉ người già, người đi thăm thân nhân mới chọn đi xe đò. Lên xe,
có cảm giác như đi một chuyến hành hương từ Sài Gòn ra Huế. Lao xao những giọng
Bắc – Trung – Nam. Dầu dãi những gương mặt người già, người đi thăm thân nhân,

người cất hàng buôn… chân chất, khắc khổ như vừa quá giang từ các bến xe miền
Đông, Bến Thành, ngã ba Dầu Giây…

Xe đò chạy hai chiều Bắc Nam mỗi ngày ngược xuôi hai chuyến, máy lạnh sáu mươi
chỗ, màu trắng sáng, sạch sẽ ngăn nắp, giá 40 USD/người. Vừa ngồi vào chỗ đã có
người mang đến một chai nước lạnh, một bánh mì kẹp rau thịt cho bữa trưa. Rồi các
màn hình gắn trên xe đồng loạt mở chương trình Thúy Nga Paris by Night trong suốt
hành trình. Xe chạy hướng Bắc từ Westminster lúc chín giờ sáng, mười giờ đón thêm
khách ở Los Angeles, mười hai giờ nghỉ giữa chặng mười lăm phút. Bốn giờ chiều tới
San Jose.

Lâu không làm thơ. Nhưng rồi cảm xúc dâng đầy khi lặng lẽ ngồi ngắm, nghe, nghĩ về
những đồng bào tha hương đang ngồi quanh mình. Phác thảo bài thơ Xe đò
Hoàng hầu như đã hình thành:

Chuyến xe đò dọc miền Tây nước Mỹ

Từ Westminster lên San Jose

Gợi nhớ chặng đường Sài Gòn ra Huế

Tuyến xe người Việt nối những miền quê

Lao xao trên xe tiếng Trung Nam Bắc

Tivi mở kênh Paris by Night

Những gương mặt Việt nắng mưa dầu dãi

Mấy chục năm mưu sinh xứ người

Mấy chục năm rồi vẫn chưa thành Mỹ

Chỉ thuộc mấy từ OK, Thank you

Ăn đồ Tây vẫn da vàng mũi tẹt

Vẫn chảy trong hồn tiếng Việt mến yêu.

Ngày học địa lý ở trường đại học, tôi cố mường tượng ra dải sơn thạch Sierra Nevada,
xương sống của sườn Tây nước Mỹ với đỉnh Whitney cao 4.421 mét quanh năm tuyết
phủ, với công viên quốc gia Yosemte đầy mê hoặc, với hồ Tahoe, hồ Mono, hồ Clear
mờ mịt trong sương… nhưng bây giờ, từ Los Angeles lên San Francisco, xe phóng với
tốc độ 70 mile một giờ (tương đương 100 km/h) trên các tuyến cao tốc số 57, số 5
thẳng tắp, mới thấy California quá tuyệt vời.

Đô thị tiếp nối đô thị, những khu nhà hai tầng xinh xắn với sân vườn mát xanh. Những
cụm nhà trung lưu quần tụ trên những đỉnh đồi. Những bãi đỗ xe bạt ngàn, những rừng
thông đủ loại, từ thông cao tới thông lùn hình thù kỳ dị. Rồi núi tuyết như bò ra đường
cao tốc. Rồi những đồi cỏ mịn mượt bị nước xâm thực, tạo thành những đường cong
bất hủ, như vú, như mông, như thân hình thiếu nữ.

Có lúc xe chạy hàng giờ liền trên xa lộ mười hai làn xe thẳng tắp bổ đôi bồn địa San
Joaquin. Đó là lòng chảo khổng lồ nơi hai con sông Sacramento và San Joaquin chảy
ngược chiều rồi đổ vào vịnh San Francisco. Phóng hết tầm mắt vẫn chỉ thấy những
cánh đồng cam, quýt, nho, táo, những bãi chăn thả, những trang trại bò, lợn, dê, cừu…
bạt ngàn, nhưng hầu như vắng bóng người. Xa tít là các dải núi phủ tuyết lấp lánh.

Về nông nghiệp, California đứng đầu nước Mỹ. Từ ngày có trung tâm điện ảnh
Hollywood, có hệ thống các trường đại học dày đặc, có thung lũng Silicon, tiểu bang
vươn lên đứng hàng đầu cả về giáo dục, nghệ thuật, khoa học, công nghệ.

***

San Jose, thành phố tập trung đông người Việt nhất tiểu bang Cali, với trên 100.000
người, có trung tâm thương mại dịch vụ sầm uất tương tự như Little Saigon ở quận
Cam.

Xe vừa đỗ, đã thấy nhân vật của tôi, mũ len trùm kín đầu, áo khoác dạ đứng đợi trong
gió lạnh thổi hun hút. Mấy năm không về quê vì những căn bệnh kinh niên buộc ông
khó xa nổi mấy phòng khám bệnh viện, giờ đây xuất hiện trước tôi là một ông già trong
bộ khung to cao kềnh càng, nhưng có vẻ liêu xiêu không vững.

“Nhớ quê lắm nhưng không về nổi chú ạ”, ông nói và nắm tay tôi lên cầu thang dẫn tới
căn phòng trên tầng hai khu cư xá Leon cách bến xe vài chục mét. Đây là khu chung cư
hầu như của người Việt, hàng rào bao quanh, có cửa chính ra vào bằng khóa từ, có bể
bơi, sân chơi, gara ô tô.

Bác Hợp ở căn hộ chừng ba chục mét vuông, dạng studio, vừa kê đủ một giường ngủ,
một bàn làm việc, vừa làm nơi nấu ăn và tiếp khách. Tôi quá đỗi ngạc nhiên về nơi ở
quá ư giản dị của một kỹ sư công chánh đặc hạng từng thiết kế và thi công đập trị thủy
cửa sông Mississippi bang Louisiana, có mức lương hưu không dưới năm ngàn đô la
một tháng.

Sau này thì tôi hiểu ra. Ông thuộc típ người sống không chỉ cho mình. Tiền thuê nhà
1.200 USD/ tháng, tiền ăn và thuốc (tất nhiên ông có bảo hiểm y tế, miễn phí dịch vụ
khám chữa bệnh) chừng 500 USD, còn lại hơn nửa, ông dành để làm từ thiện và trợ
giúp cho con cháu.

Căn phòng ở thuê, ngoài chiếc máy laptop để liên lạc với quê hương, con cháu, với Hội
VNHelp, hầu như không có vật dụng gì đáng giá. Mười tập sách, mỗi tập vài ba trăm
trang do ông biên soạn và tự in ấn suốt chục năm qua có tên chung Nhật ký tha hương,
chỉ để ghi lại những chuyến đi hầu khắp thế giới, những cuộc thiện nguyện khắp ba

miền Bác Trung Nam … với số tiền nhiều ngàn đô la, đủ nói rằng ông đâu sống cho
riêng mình.

Sống một mình, thế này là đủ rồi chú ạ. Hai con gái của tôi, đứa bác sĩ, đứa giáo viên
có gia đình riêng đời sống đầy đủ, tôi không muốn phiền hà chúng nó. Lúc nào tôi “đi”
cũng luôn trong tư thế thanh thản – ông như muốn thanh minh với tôi.

– Chú sẽ ngủ trên tấm phản này. Sẽ trải nệm và túi ngủ cho thằng cháu nằm dưới.
Thức ăn trong tủ lạnh tôi đã trữ sẵn cả tuần. Riêng tối nay, tôi sẽ đãi hai cha con ở nhà
hàng Nha Trang, hay Ánh Tuyết chuyên hải sản và gỏi bạch tuộc. Biết chú và cháu đến,
tôi đã mua sẵn hai chai vang, một đỏ một trắng. Vang California chính hiệu ngon lắm.
Đãi chú thôi, chứ cả năm tôi không đụng một giọt nào…

Bữa lẩu hải sản ở nhà hàng Ánh Tuyết đông nghịt người. Khách ngồi chật cả mấy dãy
bàn. Mới qua ngày ông Táo chầu trời mà đã ngập bánh chưng giò chả. Khách mới đến
xếp hàng từng tốp ngoài hiên. Cứ ngỡ như đang ở khu ẩm thực nào đó ở quê Việt.
Bữa ăn rất ngon. Chai vang đỏ không phải chịu phí vì bác Hợp là người quen của chủ
nhà hàng. Tôi như một gã nát rượu, cố uống cho hết chai vang Mỹ tuyệt hảo, để lại thì
phí quá.

Tôi nằm thao thức trên tấm ván đã trải nệm, lại riêng một máy sưởi do bác Hợp ưu ái
dành cho, nhưng thao thức mãi không ngủ được. Lời nhắc nhở trước khi tắt đèn: “Chú
nhớ lần tái bản tới phải sửa chi tiết Trương Phiên dùng máy ủi cán đầu bẩy cán binh
Cộng quân đi nhé”, khiến tôi day dứt mãi.

Lúc ấy tôi định kể lời tự thuật của tác giả bài thơ nổi tiếng Màu tím hoa sim, mới in trong
tuyển tập thơ Hữu Loan, cho ông nghe. Rằng câu chuyện dùng bừa để xử chết địa chủ
thời cải cách ruộng đất ở xứ ta là chuyện hoàn toàn có thật. Chính bố mẹ bà Phan Thị
Nhụ, vợ nhà thơ Hữu Loan là nạn nhân của cuộc thảm sát kiểu này.

Hồi ấy Hữu Loan là chính trị viên tiểu đoàn đi tham gia cải cách ruộng đất ở Thanh
Hóa. Ông gặp lại cô gái mười bẩy tuổi Phan Thị Nhụ giữa lúc bố mẹ cô vừa bị đấu tố, bị
chôn ngang người, bị trâu bừa cho đến chết, một mình cô lang thang không nơi nương
tựa. Quá thương cảm người con gái xấu số, Hữu Loan đã đưa cô về quê, từ bỏ đơn vị,
từ bỏ giấc mơ thi sĩ, lấy cô Nhụ làm vợ, âm thầm đẽo đá sinh nhai và đẻ mười người
con, sáu trai, bốn gái…

Khi nhân loại bị triệt tiêu phần Người, để khơi dậy phần Con thì bên này hay bên kia
đều vọt trào thú tính. Đức Quốc xã hay chính quyền xô viết Stalin; cách mạng văn hóa
thời Mao, hay chế độ Polpot; Việt cộng hay Cộng hòa… khi say máu chém giết, mất
tính người, đều dẫn đến thảm họa. Nhà văn không thể bịa tạc được hiện thực. Julius
Fučík từng kêu lên: “Hỡi con người, hãy cảnh giác!”.

2. NHỮNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC

Trong tiểu thuyết Những Mảnh Rồng, nhân vật chính của tôi, có tục danh là Thuyền
Nhân, từng là sinh viên trường Đại học UC Berkeley, một trường đại học hàng đầu của

Mỹ, có phong trào phản chiến ở Việt Nam sớm nhất, quyết liệt nhất. Berkeley là một đại
bối cảnh trong tiểu thuyết, nơi nảy nở mối tình thơ mộng của cặp tình nhân vừa qua
tuổi vị thành niên: Thuyền Nhân – Phạm Hải Hành và Ngô Đoan Diễm. Vì thế, để hoàn
chỉnh lại bản thảo, tôi phải đến thiên đường tình yêu của họ. Từ San Jose lên Berkeley
chỉ chừng hai giờ ô tô. Tôi ngỏ ý mời bác Hợp đi cùng như một hướng dẫn viên.

– Sức khỏe tôi không cho phép đi xa, chú ạ. Xe tôi kia, Ty có thể lái, nhưng cháu mới
có bằng lái xe. Vả lại không quen đường, đi không an toàn.

Ông dẫn tôi ra bãi xe trước nhà, nơi có con xe của ông, một chiếc Nissan 91 bốn chỗ
đỏ chói, như mới, nhưng ông bảo đã dùng nó 26 năm rồi, lẽ ra phải mang ra nghĩa
trang Junk Car, nay chỉ đáng giá 500 USD, còn rẻ hơn con Acura 2000 USD của Mr.
Ty.

– Hôm vừa rồi có một xe đâm vào con ngựa sắt này, bảo hiểm bắt đền cho tôi 1.000
USD cơ đấy. Của bền tại người chú ạ. Tôi vẫn dùng xe này đi khám bệnh hay loanh
quanh trong thành phố. Nhưng hôm nay chú đi Berkeley, phải dùng xe xịn và tài xế
thông thuộc địa bàn. Để tôi gọi cho chú một taxi. Chỗ người quen, chắc chỉ 300 USD.

Tôi và Mr. Ty đưa mắt cho nhau, thầm bảo: Thà cắt cổ còn còn hơn. Nhưng rồi không
còn cách nào khác, nếu muốn một giờ là gặp sinh viên trường UC Berkeley.

Như đọc được ý nghĩ và nhìn thấu túi tiền của một nhà văn nghèo, chục năm nay bị
đầu nậu sách vặt sạch, trước lúc lên taxi, bác Bùi Đức Hợp nháy tôi ra cửa, dúi vào tay
tôi chiếc phong bì đỏ chói, loại phong bì người già dùng lì xì cho trẻ con ngày Tết.

“Tôi mừng tuổi chú và cháu. Nhưng chú chỉ được mở khi về đến quận Cam”. Cầm
chiếc phong bì dày cộp, tôi tò mò và áy náy quá. Khi xe qua Oakland, tôi đành không
thực hiện lời dặn. Trời ơi, nhiều tiền thế này. Một ngàn USD. Ồng già thương tôi, muốn
làm từ thiện với tôi, muốn trả tiền taxi và chiêu đãi cha con một bữa tiệc thịnh soạn ở
Berkeley đây.

Trước đó mấy ngày, biết tôi sang Mỹ, nhà văn Đỗ Hoàng Diệu, tác giả Bóng đè, sau
chuyến về nước ra mắt cuốn tiểu thuyết mới rất ấn tượng: Lam Vỹ, đang có mặt ở San
Francisco, nhắn tin cho tôi. Chúng tôi hẹn gặp nhau buổi trưa ở Berkeley.

– Ở đây người ta không thích dân Bắc, nhất là vừa từ Việt Nam sang. Ba nên kín đáo,
đừng chuyện trò gì, tốt nhất là không nói chuyện chính trị – Lên xe rồi mà Mr. Ty vẫn
nhoài người lên ghế trên, rỉ tai tôi. I am sorry.

Tôi biết Ty vừa đọc tin trên mạng, rằng các nghị sĩ người Việt đang đề nghị chính
quyền thành phố ra dự luật cấm cờ đỏ sao vàng ở San Jose. Một động thái quá khích.

Lái xe tên Dũng, một người đàn ông chừng dưới năm mươi tuổi, săn chắc nhanh nhẹn
như một võ sư, người Sài Gòn, mới nhập cư hơn bốn năm. Mới gặp, tưởng lạnh lùng
khó gần, nào ngờ lên xe, biết tôi mới ở Việt Nam sang, Dũng rất cởi mở, chân tình.
Chúng tôi mau chóng thân thiết. Chuyện nổ như pháo ran. Ở Sài Gòn, Dũng là dân gốc

quận Nhất, có nhà riêng, xe taxi riêng, tháng thu nhập hơn mười triệu, đủ xài. Do mâu
thuẫn với vợ (hay một vở kịch sắp đặt sẵn?), người vợ mang con gái sang định cư ở
Florida. Hơn chục năm sau, con gái có gia đình, có quốc tịch Mỹ, làm giấy bảo lãnh cho
cha sang Mỹ. Lúc này Dũng đã có gia đình mới, người vợ trẻ và đứa con trai. Dũng
sang San Jose trước, rồi đưa vợ con sang sau, mua taxi tự lái, tháng thu nhập dăm
ngàn USD.

– Vậy là con gái rất yêu bố – tôi nói. Thỉnh thoảng Dũng có sang Florida thăm con gái
và bà cả không?

– Cô ấy vừa bệnh mất năm ngoái rồi anh ạ. Bất ngở quá, nhận tin con gái báo, em
phóng con xe này liên tục hơn hai ngày hai đêm sang lo tang cho cô ấy…

Hơn năm mươi giờ chạy xe từ cực Tây sang cực Đông nước Mỹ ư? Tôi tưởng mình
nghe lầm, hết nhìn Dũng lại nhìn con xe như để kiểm chứng. Dẫu chạy xe trên những
đại lộ thẳng tắp ngang qua Arizona, Texas theo đường chim bay thì cũng không dưới
sáu ngàn kilomet.

-Anh không tin à? Có hương hồn cô ấy chứng giám. Em cũng không hiểu sao mình lại
có sức mạnh và sự dẻo dai đến thế. Chặng ngang qua hoang mạc Texas có khi hàng
mấy tiếng đồng hồ chỉ mình em và con đường nhựa thẳng tắp không một bóng xe…
Vừa lo đám tang cho cô ấy xong, em nằm vật, ngủ li bì suốt hai ngày.

Tôi đọc thấy một tình yêu sâu đậm, da diết, cố kìm giấu bao nhiêu năm tháng trong câu
chuyện của Dũng.

– Bên này ai cũng có xe, nên gọi taxi không dễ – Hình như Dũng có ý thanh minh – Em
chạy một ngày 300 USD là thường. Có ngày còn được nhiều hơn. So với hồi ở Sài
Gòn, kiếm tiền bằng taxi ở bên này dễ hơn.

– Vậy là một tháng có thể kiếm mười ngàn…

– Thế đã nhằm nhò gì. Có thể kiếm vài chục ngàn USD một phi vụ, như buôn lậu, cờ
bạc… Cảnh sát liên bang vừa bắt một băng nhóm người Việt chuyên giả đò gây đụng
xe để ăn tiền bảo hiểm. Họ phục mấy năm mới bắt được anh ạ. Trò lừa gạt, sớm muộn
cũng vào tù. Muốn kiếm 45 USD một giờ, tháng vừa rồi em đã bỏ nghề taxi rồi…

– Nghề gì mà hốt bạc nhiều vậy?

– Nghề trang điểm xác chết, anh ạ. Quen thân lắm bà chị người quen cũ mới rủ em
cùng làm. Đám ma người già, người ốm trong bệnh viện, là lẽ thường. Thân chủ báo
cho mình địa điểm, thời gian. Mình chỉ đến nhà lạnh nhận xác, rồi trang điểm, nhập áo
quan là xong. Một ngày trang điểm vài xác chết cũng kiếm được cả ngàn USD. Nhưng
cực nhất là những xác chết bị tai nạn, những xác chết bị bệnh nguy hiểm. Có xác chết
chỉ còn như một đống thịt bầy nhầy. Có xác chết bốc mùi… Bà chị từ miệt vườn miền
Tây mang bốn đứa con nheo nhóc sang, vậy mà bây giờ đứa nào cũng nhà cửa đàng

hoàng, đi xe bóng lộn… Bà chị nghĩ em cần tiền, rủ rê mãi để truyền nghề, nhưng em
xin chào thua…

Chỉ một cung đường từ Milpitas lên Oakland mà tôi như đọc được cả mấy pho sách.

Berkeley kia rồi. Một thành phố trên cao nhìn xuống vịnh San Francisco. Bỗng gợi nhớ
Đà Lạt. Những con đường quanh co lên xuống dốc như trườn đi qua những biệt thự,
những đồi thông, những hàng sồi cổ thụ. Xe con đủ màu như những con bọ cánh cam
đỗ nép ven đường. Mr. Ty vốn là anh chàng phớt Ăng lê trầm tĩnh, vậy mà cũng xăng
xái chọn cảnh, chọn điểm đứng và bấm máy liên tục. Chúng tôi bỏ xe đi bộ, thích thú
dừng bên những tủ sách ngoài trời, một loại thư viện công cộng rất đặc trưng cho thành
phố đại học này. Người ta dựng những chòi gỗ như tổ chim bồ câu, có mái nhọn xinh
xinh trên những trụ đỡ như chùa Một Cột, trong các khung kính chia các ngăn giá sách.
Sách ai đó đã đọc, nay muốn chuyển cho người khác thì đem ra các thư viện công
cộng này. Thật đáng yêu, thành phố của tri thức.

Idian Rock Park là một mỏm đá kỳ dị thu hút du khách khi đến thăm Berkeley. Từ đây,
phóng tầm mắt nhìn toàn cảnh vùng vịnh, với những cây cầu nổi tiếng Golden Gate
Bridge, Bay Bridge vắt qua vịnh biển. Chúng tôi hòa cùng những tốp khách, nhờ chụp
ảnh và len lỏi trên những bậc đá đã mòn vẹt chân người.

Đúng giờ hẹn, đến nhà hàng Hàn Quốc ở khu phố cổ, đã thấy vợ chồng Đỗ Hoàng Diệu
đứng chờ. Ngày tôi gặp cặp vợ chồng Việt-Mỹ trong căn nhà thuê ở ngõ phố Hạ Hồi,
Hà Nội, Alec Holcombe nói tiếng Việt còn ngượng, giờ đã như một chàng rể Việt thuần
thục. Trong bộ com lê xám, Alec không cần cái mác tiến sĩ giáo sư trường Đại học
Ohio, anh vẫn bảnh trai như một tài tử điện ảnh, khiến bao cô gái xao xuyến. Dịp nghỉ
này Alec đưa vợ và hai con từ Ohio về chơi với gia đình chị gái. Từ San Francisco sang
đây chỉ mất gần giờ đồng hồ. Gặp cha con tôi, cả Diệu và Alec như gặp người nhà.

Tôi vốn chơi với nhà văn Đỗ Văn Phác, bố Diệu, từ ngày ông hay gửi những thiên bút
ký, truyện ngắn ngồn ngộn đời sống xứ Thanh về báo Văn Nghệ. Ngày ông bị bệnh
nguy kịch, ông có nguyện vọng tha thiết được gặp tôi và nhà văn Nguyễn Khắc Trường
ở quê. Thế là vợ chồng Diệu thu xếp một chuyến xe cho tôi và ông Mảnh đất lắm người
nhiều ma về Tĩnh Gia. Ông Phác nằm trên giường đưa cả hai tay ra với chúng tôi, giữ
mãi. Được gặp hai ông tại quê nhà là tôi toại nguyện lắm rồi. Không ngờ sau những lời
nói ấy, hai tuần sau, nhà văn, thầy giáo Đỗ Văn Phác qua đời.

Sau chuyến về Việt Nam ra mắt tập tiểu thuyết Lam Vỹ, Đỗ Hoàng Diệu vui lắm. Nàng
bắt chồng gọi món Hàn Quốc mà mấy năm từng làm cư dân ở đây Alec thích nhất, để
chiêu đãi chúng tôi. Thì ra, thành phố này không xa lạ gì với họ.

Cuối năm 2006, sau khi ra mắt tập truyện ngắn Bóng đè nổi tiếng và tai tiếng, cái tên
Đỗ Hoàng Diệu sôi sục trong làng văn và vả cả giới quan chức, như một hiện tượng,
như một kẻ đốt đền. Diệu được đích thân ông trưởng khoa Đông Nam Á trường Đại
học Berkeley mời sang thuyết trình về văn học Việt Nam. Chuyến Tây du này là cơ
duyên để nàng quen biết chàng, lúc đó là nghiên cứu sinh tiến sĩ về văn hóa lịch sử Á
Đông.

Cuối năm 2006 họ cưới nhau tại một nhà thờ Mỹ, có cha mẹ Alec và ông trưởng khoa
chứng giám. Con gái đầu lòng của họ, Asa Lieu Holcombe ra đời năm sau đó. Và tiếp
đó là cậu con trai kháu khỉnh.

Những năm đầu tiên Diệu làm công dân Hoa Kỳ đó, hai vợ chồng từng ở thuê trong
những căn phòng chuyên dành cho sinh viên. Diệu chăm con, đi chợ, nấu ăn, đọc sách
và học cách cãi nhau với chồng bằng tiếng Mỹ lịch sự nhất. Cô vợ Việt đáo để, thông
minh luôn lấn lướt chồng, nhưng chẳng bao giờ làm nhà khoa học cáu giận. Bây giờ
cũng vậy, Alec nói với tôi bằng thứ tiếng Việt đã được tu từ như một nhà ngôn ngữ giàu
có: “Cháu luôn tìm mọi cách thua Diệu. Cho nàng sướng”. Vi diệu quá. Luôn thua vợ,
nhưng bao giờ ánh mắt của họ nhìn nhau cũng như cặp tình nhân đang tuần trăng mật.

Chúng tôi ăn barbecue, uống rượu vang đỏ và thêm cả một chai Soju. Tửu lượng Alec
chẳng kém gì tôi, và đã có Diệu cầm lái khi về, nhưng mỗi lần vợ lừ mắt là anh chàng
lại đặt ly xuống như sợ phạm luật, trông đến tức cười.

Biết chủ đích của tôi, ăn trưa xong, Alec đưa chúng tôi đi thăm trường đại học danh
tiếng mà anh đã thuộc từng đường ngang ngõ tắt. UC Berkeley quả danh bất hư
truyền. Tháp biểu tượng sừng sững bên khu thư viện danh giá và những giảng đường
trầm mặc, những phòng thực nghiệm đồ sộ cùng sân vận động nổi tiếng.

Được thành lập từ năm 1868, UC Berkeley trở thành một trong những trường đại học
hàng đầu của nước Mỹ, nơi từng khám phá ra chất Plutonium để phát triển bom
nguyên tử thế chiến thứ hai, nơi đã đóng góp bảy mươi giải Nobel cho thế giới. Từ năm
1965, khi Mỹ đưa quân sang Việt Nam, nơi đây trở thành trung tâm phản đối chiến
tranh. Công viên trung tâm Willard Park tuần nào cũng đông nghịt người biểu tình ủng
hộ Việt Nam, từng có lúc được gọi tên là công viên Hồ Chí Minh. Và trên đường Haste
vẫn còn bức tranh vẽ hình cô bé Kim Phúc bị bom na pan Mỹ đốt trần, như một lời tố
cáo với toàn thế giới. Nhưng bây giờ thì ngược lại. UC Berkeley trở thành nơi đi đầu
bài xích cộng sản.

Hòa lẫn với sinh viên đủ quốc tịch và khách tham quan, chúng tôi đi tha thẩn trên
những bãi cỏ mênh mông, những con đường ven suối lẩn dưới bóng cây, đùa chơi,
chụp ảnh với những chú sóc, những chú thỏ và bầy vịt nhởn nhơ. Đỗ Hoàng Diệu bỗng
reo lên khi phát hiện ra mấy chiếc xe đạp còn mới, khóa khung vào cột sắt, nhưng đã bị
vặt hết vành bánh, yên xe, nằm chỏng trơ bên đường. “Các vị xem này. Thử đoán xem
đây là triển lãm sắp đặt hay là minh chứng hùng hồn về tư bản giãy chết?”.

Mọi người cùng cười thích thú phát hiện ra một góc hài hước của UC Berkeley. Tôi
đoán thể nào chi tiết này cũng sẽ được nữ văn sĩ đáo để nhưng rất hóm hỉnh và cá tính
này đưa vào một trang viết nào đó của nàng.

***

Vào dịp nghỉ Noel và đón năm mới 2017, Mr. Ty kết thúc khóa học California State
University, Fullerton.

So với UC Berkeley, Đại học Fullerton ở hàng dưới, nhưng không thể ngoài top 10 các
trường đại học hàng đầu của miền tây nước Mỹ. Tôi đã có nửa tháng ở trong khu ký túc
cạnh trường mà Mr. Ty thuê ở, có nhiều buổi sáng, buổi chiều đi dạo bộ quanh những
con đường dọc ngang trường, rồi chạy khắp SCUF Parking, cái bãi xe ngày nghỉ rộng
mênh mông như sân vận động Hàng Đẫy, ngày học xe đậu bạt ngàn nhiều hơn cả bãi
xe sân bay Nội Bài.

Chạy, hít thở không khí trong lành, ngắm nhìn bồn hoa khoe sắc, những thảm cỏ hàng
cây được chăm tỉa như ở các resort, các cô cậu sinh viên đủ quốc tịch, và luôn ước ao
giá ở Hà Nội, Sài Gòn có một môi trường văn hóa giáo dục, một khuôn viên trường, với
những tòa giảng đường, thư viện, siêu thị bề thế chuyên bán đồ lưu niệm riêng, với sân
vận động và cả một cánh rừng hàng chục hecta như thế này.

Từ mấy năm nay, Đại học Fullerton đã liên kết với Đại học Ngoại thương Hà Nội gửi
sinh viên ưu tú năm cuối sang học để lấy hai bằng đại học. Mr. Ty vừa nhận được văn
bằng cử nhân quản trị kinh doanh loại xuất sắc, một phần thưởng mà thế hệ chúng tôi
nằm mơ cũng không có được.

– Ba có nhớ thằng Bryan, bạn cùng lớp với con không? Tuần tới nó sang Hà Nội dạy
tiếng Anh đấy. Bryan mời ba đến dự liên hoan tối nay.

Nhớ rồi. Bryan, anh chàng có bộ râu quai nón đẹp trai, mê cô bạn cùng khóa với Ty, đã
rủ nhau về Hà Nội hè vừa rồi, đến nhà tôi chơi mấy buổi. Chuyến đi ấy dường như cơ
duyên khó cưỡng để vừa tốt nghiệp xong anh chàng đã muốn khoác ba lô sang Việt
Nam.

Nghe Ty thông báo, tôi khấp khởi được chứng kiến một ngày vui. Bảy giờ tối, chúng tôi
đến nhà hàng Zito’s Rozza ở Westminter.

Khỏi nói bữa tiệc buffet vui như thế nào. Bố mẹ, anh em, bạn bè ngồi chật tám bàn tròn.
Thực đơn có những món ăn dân tộc do chính tay mẹ Bryan nấu, nước hoa quả và bia
tươi Guileless thỏa thích. Ba mẹ Bryan gốc Ireland, thuộc lớp bình dân Mỹ, Bryan là
anh cả của hai đứa em nữa. Khi biết Bryan vừa tốt nghiệp đã có việc làm ngay, lại
được sang Việt Nam làm việc, cả nhà mừng khôn xiết. Cả hai ông bà cứ nắm tay tôi và
tuôn ra hàng tràng những lời cảm thán toàn những sorry, very, enjoy, happy, mà tôi
cảm thấy hơn là hiểu.

Bryan bảo, chuyến sang chơi Việt Nam hè vừa rồi khiến cậu chàng say Hà Nội như
điếu đổ. Vừa nhận bằng tốt nghiệp, cậu vào mạng tìm ngay việc làm ở Việt Nam. Nhìn
thấy tấm bằng của trường Đại học Fullerton, nhiều công ty ô kê ngay. Lương khởi điểm
hơn hai ngàn USD một tháng ở Việt Nam đã thuộc hạng người giàu, sống ung dung
hơn cả thu nhập mười ngàn USD ở Mỹ.

Suốt mười ngày trước và sau Tết ta, tôi như được sống lại tuổi trẻ thời sinh viên. Mồng
hai tháng giêng, tiến sĩ Nguyễn Văn Thắng đặc cách mời hai ba con đến ăn Tết với gia
đình tại khu ký túc Viện Công nghệ California (California Institute of Technology, viết tắt
là Caltech).

Caltech là một trường tư thục, thành lập năm 1891, tại thành phố Pasadena, cách Los
Angeles chừng hai mươi cây số. Quy mô trường chỉ khoảng hơn 2.200 sinh viên, trong
đó gần một ngàn sinh viên đại học và hơn một ngàn sau đại học. So với Harvard, MIT
(Viện Công nghệ Massachusetts), hai trường đại học hàng đầu của Mỹ ở miền Đông
mà một tháng sau tôi có vinh dự ghé thăm, thì nhỏ hơn về quy mô đào tạo, nhưng vị trí
và tầm quan trọng về khoa học kỹ thuất và khoa học ứng dụng của Caltech không hề
thua kém.

Năm 2012- 2013 từng xếp thứ nhất thế giới trong bảng xếp hạng của Times Higher
Education. Nơi đây đã giành 32 giải Nobel, từng là nơi Albert Einstein đến thỉnh giảng
và hoàn thiện lý thuyết tương đối tổng quát.

Xe vừa đến Pasadena đã có cảm giác như lọt vào một đại công viên, với những con
đường ẩn dưới hàng long não xanh mướt. Cả khuôn viên trường năm mươi hecta là
một đại resort được chăm sóc từng thảm cỏ, từng bồn hoa, hàng cây, tường rào, thanh
sạch, trong lành đến ngỡ ngàng. Thì ra tiến sĩ Nguyễn Văn Thắng quả có con mắt
xanh. Anh đã đến Harvard, đã được mời ở lại làm việc, nhưng anh lại chọn Caltech, vì
nơi đây có môi trường yên tĩnh và thuận lợi hơn để anh kết hợp làm việc, nghiên cứu
và cùng vợ chăm cho hai cậu con trai lộc ngộc đang học phổ thông.

Mới gặp Thắng trong bữa tiệc đón giao thừa ở nhà người bạn Mr. Ty ở Garden Grove,
tôi đã bị cuốn hút bởi nhà khoa học sinh năm 1973 gốc gác từ vùng quê Văn Giang –
Hưng Yên, tự đi lên từ đồng ruộng. Cái chất thôn quê ở Thắng còn phô trên gương mặt
chữ điền, nước da bánh mật, vóc dáng thợ cày cuồn cuộn trên cơ bắp.

Hồi học đại học, dịp mùa vụ Thắng thường đạp xe về nhà phụ giúp bố mẹ. Tảng sáng
chủ nhật dong trâu ra đồng, làm nhoáng nhoàng xong sào ruộng khoán, chiều tối lại
đạp xe lên trường để kịp lên lớp ngày mai. Bề ngoài như một vận động viên thể thao,
nhưng bên trong lại tiềm ẩn tố chất một nhà khoa học.

Ngày còn ở Đại học Nông nghiệp Hà Nội và cả bây giờ, Thắng đều luyện chạy bộ mỗi
ngày hai mươi cây số. Chiều nào cũng có mặt trên sân cỏ trong vị trí trung phong.
Nhiều ngày đọc sách liền hai mươi tiếng đồng hồ, đọc những sách khoa học hóc búa,
đọc triết học, kinh tế và những tác phẩm văn học kinh điển.

Với xuất phát điểm chỉ là một sinh viên khoa thú y, Đại học Nông nghiệp ở Trâu Quỳ,
như mọi người chắc bây giờ chàng kỹ sư nông nghiệp cũng chỉ xách túi đi các xã tiêm
chủng bò lợn hay mở cửa hàng bán thức ăn chăn nuôi. Nhưng, ngay từ năm cuối khóa,
Thắng đã chọn con đường nghiên cứu khoa học. Anh được ở lại trường giảng dạy, tự
học, rồi đăng ký thi, tìm học bổng ở những trường danh giá trên thế giới.

Được học bổng toàn phần tại Bỉ, học xong thạc sĩ, lại đăng ký học tiếp tiến sĩ ở Đại học
Texas – Hoa Kỳ. Với luận văn tiến sĩ nghiên cứu về y sinh và huyết học xuất sắc, nhiều
trung tâm “săn đầu người” ở Mỹ và các nước đều ngỏ ý mời Thăng đến làm việc.
Nhưng anh chọn Caltech và ấp ủ nhiều hoài bão.

Buổi gặp gỡ đầu năm truyền thống ở nhà vị tiến sĩ có tới ba gia đình và hơn chục
nghiên cứu sinh Việt Nam đang làm việc và hoàn thành luận án tiến sĩ tại Caltech và
các trường đại học xung quanh. Họ là Thắng Hà, Dũng, Kiên, Hoàng, Tiến, Trình, Gia
Bảo…, chỉ trên dưới ba mươi, kém Thắng vài tuổi, cùng tập hợp trong một đội bóng
bán nhà nghề thường giao lưu trên sân cỏ những ngày cuối tuần. Nhàn, vợ Thắng và
mấy cô gái, người xào nấu, người cuốn nem rán, nấu chè, gói bánh tíu tít chuẩn bị bữa
cỗ thuần Việt y hệt như mâm cỗ quê nhà.

Trong khi mọi người làm cỗ, Thắng nháy cha con tôi ra xe để anh đưa một vòng thăm
thú Caltech, cũng là cách gián tiếp khích lệ tinh thần khởi nghiệp của Mr. Ty. Tôi thực
sự bước vào thánh đường học thuật hàng đầu nước Mỹ với những tòa nhà cổ kính hơn
trăm năm được xây bằng những nguyên vật liệu mang từ Pháp, Ý, những hành lang lát
gạch đỏ đã mòn vẹt từng in dấu chân Abert Einstein. Kia, phòng thí nghiệm Gates, tòa
nhà khoa học đầu tiên chằng chịt loại cây hoa leo trăm tuổi. Kia, khẩu pháo vươn cao
nòng và mô hình chuẩn của vật lý cơ bản, biểu tượng của Caltech. Và khu phòng thí
nghiệm vật lý Norman Bridge, phòng thí nghiệm toán-lý Alfred Sloan, nơi thỉnh giảng và
làm việc của những bộ óc lớn của nước Mỹ và thế giới.

Không có hàng rào, chẳng người gác cổng, chẳng ai hỏi han giấy tờ. Có thể vào ngồi
trong những giảng đường, những thư viện mênh mông, như chính mình là chủ. Cả
khuôn viên trường rộng hàng chục héc ta mở toang với bên ngoài. Hầu như các trường
đại học ở Mỹ đều tự do và dân chủ như thế cả. Ở UC Berkeley, ở Đại học Fullerton hay
Harvard, Massachusetts tôi đến sau này, cánh cửa trường đại học đều mở toang đón
mọi người.

Bữa tiệc thịnh soạn như một bữa cỗ truyền thống mồng hai Tết ở quê nhà. Không biết
bằng cách nào, từ bao giờ, cô giáo Nhàn vốn là bạn cùng quê với tiến sĩ Thắng, dạy
hóa sinh ở Đại học Sư phạm Hà Nội, nay mang hai con theo chồng, đã chuẩn bị một
bữa cỗ Tết như hết thảy những nàng dâu Việt đảm đang: gà luộc (gà đi bộ hẳn hoi) rắc
lá chanh. Nem Sài Gòn ăn với cà rốt, su hào, đu đủ ngâm dấm ớt. Nem chua Thanh
Hóa, thịt đông, giò lụa, thịt quay, bò xào cần tây, thịt kho tàu… Tất nhiên không thể
thiếu bánh chưng xanh, dưa hành.

Thầy trò anh em con cháu đông hơn hai mươi người ngồi quây quần trên sàn trải chiếu
trong không khí se lạnh gợi nhớ quê Việt. Tôi nhận ra một gương mặt quen quen ngồi
cạnh tiến sĩ Nguyễn Văn Thắng. Hỏi ra, mới biết đó là thạc sĩ Hoàng, con trai bạn tôi,
phó giáo sư Phạm Thu Yến, giảng dạy ở Khoa văn Đại học Sư phạm Hà Nội.

“Cháu có nghe mẹ cháu nói đến bác. Tiếc là chưa được đọc Thời của Thánh Thần của
bác”.

Hoàng mở đầu câu chuyện có dính líu đến văn chương, sau đó phát triển thành chủ đề
tuổi trẻ và đất nước, sôi nổi, thú vị, kéo dài suốt cuộc vui.

Chợt nhớ đến một lớp trí thức tinh hoa, những Trần Đại Nghĩa, Đặng Văn Ngữ, Lương
Định Của, Trần Đức Thảo, Nguyễn Khắc Viện, … những năm sau cách mạng tháng

Tám 1945, đã từ bỏ hết vàng son, náo nức trở về từ Pháp, từ Nhật để một lòng phụng
sự Tổ quốc.

Thế hệ các trí thức trẻ ngồi quanh tôi đây không thể thua tài, kém chí cha anh. Không
thiếu những gương mặt tầm cỡ Ngô Bảo Châu ở mọi lĩnh vực khoa học, văn hóa nghệ
thuật, nhưng hỏi có mấy ai khi thành tài muốn trở về nước làm việc?

Nào các bạn. Hãy mở lòng với nhau. Có bằng tiến sĩ rồi, các bạn có về phụng sự đất
nước không? Mọi người cười ồ. Tức cười. Một câu hỏi ngô nghê. Lương tiến sĩ năm
triệu đồng, tức hơn hai trăm đô la, mấy chục nghìn tiến sĩ trong nước còn thất nghiệp,
về làm gì cho thêm chật ghế.

Không khí bỗng trầm hẳn xuống. Không ai muốn nhắc dến câu chuyện bi hài này nữa.

“Quanh hồ Gươm không ai bàn chuyện Vua Lê” từ lâu rồi.

Chất xám ở Việt Nam giờ là thứ rẻ nhất thế giới.

3. BẠN VĂN

Cho đến bây giờ, tôi vẫn được coi là nhà văn thành nghiệp từ dòng văn học chính
thống, tức là tôi từng viết theo cái khuôn mẫu văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, cái
dòng văn học mà theo nhà văn Nguyễn Khải, người đã theo và trung thành với nó cho
tới khi sắp lên thiên đàng mới nhận ra rằng, việc ông được nhận giải thưởng Hồ Chí
Minh “Mừng thì rất mừng, nhưng tôi đã nhận ra ngay đây là tấm bia mộ sang trọng cắm
lên một đời văn đã tới hồi phải kết thúc” (Đi tìm cái tôi đã mất – NK).

Chuyến sang Mỹ lần này, tôi không quen biết nhà văn nhà báo nào, vì hầu hết họ sống
và viết ở miền Nam trước năm 1975. Thậm chí tôi có thể bị nghi ngờ “điệp viên hai
mang”, bị ghẻ lạnh khi tiếp xúc với các văn hữu hải ngoại. Vì thế, khi nhận được tin
nhắn và điện thoại của nhà thơ Phan Tấn Hải, sẽ đón tôi đến thăm một vài nhà văn mà
tôi từng đọc và ngưỡng mộ, tôi cảm kích vô cùng. Anh Hải người gốc Bắc, theo cha mẹ
di cư vào Nam, vượt biên khi còn trai tân, chưa lập gia đình. Sang Cali, Hải làm đủ
nghề, tham gia viết báo, có truyện ngắn, thơ in trên nhiều ấn phẩm văn học hải ngoại.
Hiện anh đang là cây bút chủ lực của Việt Báo, một tờ báo hàng đầu ở quận Cam, có
số độc giả không thua kém gì báo Người Việt.

Lần đầu tiên gặp nhau, nhưng văn kỳ thanh, nên anh em đã thân thiết như duyên nợ từ
lâu lắm. Anh có quen thân ông Tống Văn Công không? Hai vợ chồng ông mới sang
định cư tại quân Cam cùng vợ chồng con gái. Nghe Hải nói, tôi mừng quá. Hồi Tống
Văn Công làm Tổng biên tập báo Lao Động, tôi đã gặp ông một vài lần. Một người hiền
lành, nho nhã rất dễ gần. Nghe nói ông vừa có cuốn hồi ký Đến già mới chợt tỉnh in ở
bên này đang gây xôn xao dư luận.

Đã được báo trước có khách đến chơi, vợ chồng nguyên Tổng biên tập báo Lao Động
vui lắm. Mừng vì có người đồng hương đến thăm, nhưng trong đôi mắt họ vẫn vời vợi
nỗi buồn của “người di tản”. Căn hộ trong khu cư dân ở Santa Anna thật đẹp, như niềm

mơ ước của hầu hết những người nghỉ hưu. Mới sang vài tháng, chưa quen môi
trường, ít bạn, lại chưa biết lái xe, hai vợ chồng già hầu như chỉ ở nhà chơi với cháu
ngoại, nấu ăn, đọc sách. Bà Mai là vợ thứ hai của ông Tống Văn Công, có người con
gái duy nhất đang định cư ở quận Cam. Ngoài sáu mươi, gầy mảnh, nhưng bà Mai là
một phụ nữ năng động, thức thời, là chỗ dựa tinh thần, bác sĩ riêng của chồng từ ngày
ông về hưu. Ngay khi sang Mỹ, bà đã cố gắng rút ngắn thời gian hòa nhập, hàng ngày
học tiếng Anh và theo học lớp lái xe. Bà Mai thổ lộ: “Vợ chồng con gái mua cho bố mẹ
chiếc xe, nhưng không biết lái, cũng như người bị bó chân. Đi chợ, đi khám bệnh cũng
phải nhờ con, mà chúng nó bao nhiêu việc. Tôi phải cố lấy cái bằng lái anh ạ. Hôm rồi,
lái xe lên đường cao tốc lao vù vù bảy mươi mile một giờ, tay run bần bật. Nhưng sẽ
phải cố, nếu không muốn ngồi nhà trở thành gánh nặng cho con cháu…”.

Phan Tấn Hải đưa chúng tôi đi thăm làng Đức và chợ Nhật ở quận Cam. Gặp ngày lễ
hội, cộng đồng người Đức quy tụ nhau ở khu trung tâm, uống bia, thưởng thức món ăn
dân tộc và vui chơi, quay số có thưởng. Chúng tôi len lỏi giữa những gian hàng, giữa
giới trẻ ồn ã hết mình rồi tha thẩn quanh những ngõ hẹp quanh co với đường phố lát
gạch, những ngôi nhà mái nhọn kiểu Đức, những bồn hoa mini rực rỡ đủ sắc hoa hồng,
những giò phong lan và hoa dây treo bên của sổ. Một làng cổ đẹp như trong truyện
Grimm.

-Từ ngày sang Mỹ, hôm nay vợ chồng tôi mới có một chuyến dã ngoại khám phá Cali
anh ạ – ông Công tâm sự. Nếu không có anh Hải, làm sao chúng mình biết có một làng
Đức độc đáo và giàu bản sắc thế này.

Tôi cố lái câu chuyện về cuốn hồi ký Đến già mới chợt tỉnh ông vừa cho xuất bản.
Thông thường những tác giả khác sẽ mừng hú lên. Đọc thế nào? Có hay không? Hấp
dẫn đấy chứ? Nhớ chương nào, đoạn nào nhất? Nhưng nhà báo kỳ cựu Tống Văn
Công cố né tránh. Ông tỏ ra thờ ơ. Dường như bất đắc dĩ lắm ông mới phải viết cuốn
sách đó. Dường như đó là nỗi đau nhất của đời ông. Một nỗi đau lúc nào cũng cố phải
nuốt khi chực trào bật lên thành tiếng.

Trước khi sang đây tôi mới kịp đọc một vài chương giới thiệu qua một trang mạng. BBC
tiếng Việt bình luận: Đây là tự thuật của một người từ theo cộng đến chống cộng, một
tiếng kêu than hối tiếc vì cả đời làm công cụ của đảng. Đau lắm chứ. Bảy mươi tuổi
đảng. Cả đời lầm tưởng lý tưởng, cuối đời đành viết đơn xin ra. Tôi đùa: “May mà cụ
sang đây, nếu không, ngay khi sách in ra, các đồng chí đã cách cái nguyên Tổng biên
tập của cụ rồi”. Ông Công cười cay đắng, không nói gì.

Cho đến quá trưa, khi chúng tôi về nhà hàng Thuận Kiều ở trung tâm Westminster,
dường như trong không khí có vẻ thuần Việt, từ mùi xào nấu đặc trưng trong bếp, từ
mùi phở Bắc ngào ngạt, và những gương mặt đồng bào thân quen ở các dãy bàn bên
cạnh, ông Tống Văn Công mới thổ lộ với chúng tôi nỗi cay đắng của chuyến tha hương
lần này.

-Mười bảy tuổi, đã từ giã quê hương Bến Tre đi theo kháng chiến. Có ai nghĩ ngoài tám
mươi tuổi lại ly hương, chia tay những gì thân yêu nhất của đời mình…

Ông nghẹn ngào buông đũa và bỏ giữa chừng câu nói. Trời ơi, ông già khóc. Đôi mắt
ông hoe đỏ và hai ngấn nước trào bên khóe. Tôi biết, tim ông đang thổn thức. Ai có thể
nghi ngờ được ông, người đã cùng cha và năm em trai đi theo cộng sản, phản bội Tổ
quốc mình?

Nếu như Văn Nghệ, tờ báo mà tôi có vinh dự được làm việc từ thời Tổng biên tập
Nguyên Ngọc là tờ báo tiên phong cho giới văn chương tiếp cận đời sống hiện thực, cổ
vũ phong trào đổi mới, thì báo Lao Động thời Tống Văn Công làm Tổng biên tập là tờ
báo thời sự chính luận hàng đầu những năm đó dám ủng hộ tiếng nói của công nhân
và người lao động. Người ta gán cho ông tội buông lỏng quản lý, dám thu nạp một loạt
các cây bút (Chánh Trinh, Chóe…) từng làm báo dưới chế độ Sài Gòn, những cây bút
“có vấn đề”, nhưng thực chất là những nhà báo có tài, trung thực, có chính kiến, muốn
phụng sự một nền báo chí chân chính.

Rồi việc ủng hộ giai cấp công nhân bị tư bản đỏ bóc lột, tán thành quan điểm gần dân
của tướng Trần Độ, ủng hộ tư tưởng đổi mới của Trần Xuân Bách, … đã khiến ông lao
đao trên đe dưới búa. Nghỉ hưu, nhưng ông vẫn đau đáu với vận nước, nhiều lần lên
tiếng phản biện. Đến già mới chợt tỉnh là tiếng đồng vọng với Đi tìm cái tôi đã mất của
nhà văn Nguyễn Khải, chưng cất từ đời sống, từ hơn sáu mươi năm “theo voi ăn bã
mía” của chính ông.

Biết là sách không thể in trong nước, và in ra ông sẽ bị sách nhiễu, thậm chí tù tội, nên
để yên ổn những năm cuối đời, ông đành phải theo gót bao người “di tản”, sống gửi
nước Mỹ chăng?

***

Ai đã một lần đọc tiểu thuyết Thềm hoang hẳn không thể quên một thời Hà Nội những
năm Pháp tạm chiếm với những xóm nghèo ngoại ô, có ông xẩm mù, chú bé đánh giày,
cô gái “bán hoa”, những phu bốc vác… Chân dung lớp người lao khổ được Nhật Tiến
tiếp nối những bậc đàn anh đi trước, những Vũ Trọng Phụng, Tam Lang, Thạch Lam…,
dựng lại một cách sống động, xa xót trong thiên tiểu thuyết đầu tay Thềm hoang của
ông. Cuốn tiểu thuyết ngay khi ra mắt tại Sài Gòn đã gây xôn xao dư luận văn đàn, năm
1962 được giải thưởng Văn chương toàn quốc.

Đã được Phan Tấn Hải gọi điện báo từ hôm qua, nhà văn Nhật Tiến đã nhắc cô giúp
việc đứng đợi sẵn đón khách, khi xe chúng tôi đỗ trước căn nhà tuyệt đẹp tọa lạc ở góc
cua một đường phố Garden Grove. Vẫn phong thái một người Hà Nội gốc, nho nhã,
thanh mảnh, tác giả Thềm hoang mặc dù mới qua một cơn tai biến, hai tay còn run,
nhưng chân tình, thân ái ngay không hề cách bức.

Năm 2009, hồi tiểu thuyết Thời của Thánh Thần bị (ngầm) cấm lưu hành, tôi có tặng
nhà văn Nhật Tuấn bản vi tính và đã được chuyển sang California đăng feuilleton trên
một tờ nhật báo. Biết tôi chơi thân với nhà văn Nhật Tuấn em trai ông từ lâu, nên ông
coi tôi như em út.

“Nghe Hải nói, mình đã chuẩn bị sẵn sách để tặng Tường”. Ông đứng dậy với tay lấy
chồng sách để trên chiếc bàn lớn ngồn ngộn sách vở tài liệu: Thềm hoang, Từ nhóm
Bút Việt đến Trung tâm Văn bút Việt Nam, Sự thật không thể chôn vùi, Người kéo
màn... Có cả Đi về nơi hoang dã, sách vừa tái bản của Nhật Tuấn và những băng đĩa
liên quan đến các văn nghệ sĩ, các sự kiện văn nghệ. Những cuốn sách còn thơm mùi
mực, do nhà xuất bản Huyền Trân ấn hành, có lời đề tặng và chữ ký của nhà văn Nhật
Tiến.

Chúng tôi uống trà Thái Nguyên, ăn bánh ngọt, nho Mỹ và nói chuyện văn chương,
chuyện những nhà văn quen biết. Tôi ngạc nhiên vì trí nhớ của ông già tám mươi hai
tuổi. Dường như năm tháng chưa làm phai mờ những gì không thể quên. Đó là những
ngày thành lập Hội Văn bút Việt Nam năm 1957 mà ông là một trong những thành viên
sáng lập. (Một ngẫu nhiên trùng hợp (?), vào năm ấy, Hội Nhà văn Việt Nam cũng mở
đại hội thành lập tại Câu lạc bộ Đoàn Kết, Hà Nội. Nhưng sau đó Hội Văn bút Việt Nam
có tên trong Hội Văn bút quốc tế – International Pen, còn Hội Nhà văn Việt Nam thì
không).

Thềm hoang nhận Giải thưởng văn chương đầu tiên của văn học phía Nam, 1962. Đặc
biệt là năm 1963, thời kỳ chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp tự do dân chủ, o ép nhà
văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, người sáng lập Tự lực Văn đoàn, nhà văn bất đồng
chính kiến, buộc nhà văn phải tự sát. Lá thư tuyệt mệnh của ông sẽ còn găm mãi vào
lịch sử: “Đời tôi để lịch sử xử. Tôi không chịu để ai xử tôi cả. Sự bắt bớ và xử tội những
phần tử quốc gia đối lập là một tội nặng, sẽ làm cho nước mất về tay cộng sản. Vì thế
tôi tự hủy mình cũng như Hòa Thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu là để cảnh cáo
những ai chà đạp mọi thứ tự do”.

Chỉ những kẻ giá áo túi cơm, văn nô, bút nô mới sợ hãi, im lặng trước cái chết đầy khí
phách của kẻ sĩ chống lại cường quyền. Nhà văn Nhật Tiến, người tiêu biểu cho phẩm
chất trí thức tinh hoa, đã vận động các bậc thức giả, bất chấp sự ngăn cản của chính
quyền gia đình trị, đứng ra tổ chức đám tang Nhất Linh ngay tại trụ sở Hội Văn bút, và
chính ông đã đọc điếu văn thương tiếc một tài năng văn chương, một chính trị gia, một
người yêu nước chân chính.

Những ngày ở quận Cam, tôi đã mê mải đọc Từ nhóm Bút Việt đến Trung tâm Văn bút
Việt Nam, một hồi ký tư liệu bao quát cả một giai đoạn hình thành và phát triển của đội
ngũ những người làm văn chương ở nửa nước phía Nam từ năm 1954 đến 1975, mà
các nhà nghiên cứu sau này rất cần để bổ khuyết một mảng trống của lịch sử phát triển
văn học dân tộc.

Có một điều rất khác biệt giữa các nhà văn miền Bắc và miền Nam thời kỳ 1954 -1975,
đó là, nếu như ở miền Bắc, hầu như “người người lớp lớp” tụng ca đảng, chế độ, lãnh
tụ và chỉ lóe lên một một phách đảo Nhân văn Giai phẩm để xiển dương quyền tự do
sáng tác, quyền được viết lên sự thật, liền bị dập tắt, thì ở miền Nam, hiếm thấy có
chuyện nhà văn ngợi ca Ngô Tổng thống, tâng bốc chế độ, ca mãi bài ca không quên.

Trừ một số văn nô, bồi bút tay sai của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, đa phần nhà
văn miền Nam sẵn sàng tử vì đạo như Nhất Linh, cùng xuống đường với sư sãi, Phật

tử, nhà báo, sinh viên phản đối chế độ độc tài. Nhà văn nhà báo bị gậy đi ăn mày vì một
nền dân chủ. Nhà văn luôn tâm nguyện cùng Trương Quốc Khánh “Nếu là người tôi sẽ
chết cho quê hương” …

Những trang hồi ức, biên khảo của Nhật Tiến cho tôi nhìn rõ hơn cốt cách, phẩm hạnh
các nhà văn phía Nam, của dòng văn học phía Nam, mà lâu nay một số người thường
ngộ nhận, thậm chí ác cảm vô lối. Tha phương đất khách, lẽ ra buông bỏ, an phận thủ
thường, hoặc hằn học hận thù, ngùn ngụt sắt máu, nhưng, như nhiều tài năng văn
chương khác, nhà văn Nhật Tiến vẫn đau đáu nghĩ về thứ văn chương muôn thuở, vẫn
không nguôi ngoai nhen nhóm, gìn giữ và nuôi dưỡng tiếng mẹ đẻ, kho tàng văn hóa
Việt ở miền đất khách quê người.

Nhà xuất bản Huyền Trân, Radio Hồn Việt, Ti vi Hồn Việt… được ông và nhà văn Đỗ
Phương Khanh, vợ ông, cùng các con ông gây dựng bao năm nay, là những mạch
nguồn văn hóa giữ cho hồn Việt không ngừng chảy và thấm đẫm từ thế hệ thứ hai, thứ
ba và mai sau…

***

Có một địa chỉ ở quận Cam mà tôi mang ơn và nhất thiết phải đến cảm tạ, đó là Tập
đoàn Truyền thông Xuất bản Người Việt.

Cuối năm 2013, tôi viết xong tiểu thuyết lịch sử Nguyên Khí. Câu chuyện trong tác
phẩm chỉ gói gọn trong hai mươi bảy ngày, từ 20 tháng Bảy năm Nhâm Tuất 1442,
ngày Hoàng tử Lê Tư Thành (còn có tên Lê Hạo), sau này là vua Lê Thánh Tông, chào
đời, đến ngày 16 tháng tám năm Nhâm Tuất, ngày Ức Trai tiên sinh Nguyễn Trãi và Lễ
nghi Học sĩ Nguyễn Thị Lộ cùng ba họ thụ án tru di.

Cuốn tiểu thuyết sẽ rất hiền lành nếu chỉ viết theo lối tái hiện lịch sử thông thường. Vấn
đề ở đây là tác giả dùng thủ pháp hai trong một, đồng hiện và soi chiếu, đưa các nhân
vật thời nay tham gia câu chuyện, để dẫn tới một thông điệp: Chế độ độc tài toàn trị
tham nhũng quyền lực bằng mọi giá, thời xưa cũng như nay đều tìm mọi cách triệt hại
kẻ sĩ, đặc biệt kẻ sĩ đó lại là vĩ nhân.

Lời đề từ trích từ tiểu thuyết Vạn Xuân của nữ văn sĩ Pháp Yveline Féray: “Tấn thảm
kịch thực sự của Nguyễn Trãi là tấn thảm kịch của một vĩ nhân sống trong một xã hội
quá ư bé nhỏ”, đã phần nào nói rõ tư tưởng tác phẩm. Chính các chương viết đương
đại khiến mạng lưới kiểm duyệt “động lòng” …

Tôi đưa bản thảo đến mấy nhà xuất bản có vẻ có “bản lĩnh”, đều có lời khen nhưng từ
chối không dám in, bèn tìm đến nhà xuất bản Tri Thức. Giám đốc – Giáo sư Chu Hảo,
đọc liền hai ngày, tâm đắc lắm, thành lập một hội đồng biên tập, có nhà văn Nguyên
Ngọc, giáo sư Nguyễn Huệ Chi cùng đọc, nhất trí xuất bản. Tên thể loại tiểu thuyết bị
bỏ đi, vì trong giấy phép thành lập nhà xuất bản không có chức năng in tiểu thuyết.
Giấy phép xuất bản được cấp. Giám đốc nhà xuất bản mời đến 53 Nguyễn Du để ký
hợp đồng. Đợt đầu tạm in 2000 bản, sách ra sẽ in nối bản vài nghìn nữa. Bìa do họa sĩ
tài danh Ngô Xuân Khôi vẽ. Một gam màu máu chết, chữ Nguyên Khí màu trắng kiểu

thư pháp, phía dưới, thanh đại đao nhỏ máu ròng ròng và lăn lóc một chiếc mũ cánh
chuồn trong vũng máu đỏ tươi. Tôi âm ỉ sướng và hy vọng chỉ hơn tháng sau tiểu
thuyết Nguyên Khí sẽ xuất hiện trên các quầy sách cả nước.

Đầu tháng 11 năm 2013, đang cùng đoàn nhà văn ngược Tây Bắc để viết bài kỷ niệm
60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, thì nhận tin Nguyên Khí vừa vào nhà in, đã bị ách
lại. Sau này giáo sư Chu Hảo cho biết, đích thân ông đã lên gặp lãnh đạo Cục xuất bản
Bộ Thông tin và Truyền thông. Ông hỏi: Vì sao không cho xuất bản Nguyên Khí? Nội
dung ư? Nghệ thuật ư? Được trả lời (bằng miệng): Nhà xuất bản Tri Thức không có
chức năng in tiểu thuyết. Giáo sư Chu Hảo cự lại: “Sách có đề thể loại tiểu thuyết đâu?
Đây là loại sách khảo luận lịch sử”. Vị lãnh đạo cười, khoát tay: “Đây là tiểu thuyết bác
ạ. Để cho các nhà xuất bản Hội Nhà văn hay Văn học, Trẻ, Thanh Niên, Phụ Nữ… có
chức năng in tiểu thuyết, họ in”. Thế là tạnh vở.

Vì quá nặng lòng với Nguyên Khí, một tác phẩm chiêu tuyết cho cụ Nguyễn Ức Trai và
Học sĩ Nguyễn Thị Lộ, bạn bè tìm cách giới thiệu với nhà xuất bản Dân Khí vừa được
thành lập ở nước ngoài. Đây là nhà xuất bản của tổ chức xã hội dân sự trong tổ hợp
truyền thông seri 5D: Nâng cao Dân trí, Chấn hưng Dân khí, Thực thi Dân quyền, Cải
thiện Dân Sinh, Xây dựng Dân chủ. Không biết bao giờ Dân Khí mới xuất bản đầu sách
thứ hai, nhưng cuốn sách đầu tiên này được liên kết với nhà xuất bản Người Việt và
phát hành trên mạng Amazon toàn cầu. (Ít lâu sau, tháng 5/2017, cuốn sách thứ hai
được NXB Dân khí cho ra mắt bạn đọc là: “Precariat, giai cấp mới nguy hiểm” của tác
giả Guy Standing).

Ngày 16 tháng Tám âm, Giáp Dần, 2014, tôi cùng giáo sư Chu Hảo, tiến sĩ Nguyễn
Quang A về ăn giỗ hai cụ Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ tại đền thờ Lệ Chi Viên, xã Đại
Lai, Gia Bình, Bắc Ninh. Với tấm lòng thành kính, chúng tôi dâng bản thảo Nguyên
Khí lên hai cụ và hóa dưới chân tượng đài Lễ nghi Học sĩ.

Mấy tháng sau, bốn cuốn Nguyên Khí bản quyền tác giả được gửi từ California về.
Nhưng kỳ lạ, sao có hai mươi ba trang bị mất chữ? Có trang vài ba dòng để trắng. Có
trang trắng gần nửa. Hai trang trắng hoàn toàn. Tôi gửi email sang hỏi nhà xuất bản
Người Việt, được trả lời: In nguyên văn theo file PDF gửi đến. Cả một seri sách đợt đầu
đều mất chữ như thế cả. Vì sao? Không chuyên gia kỹ thuật nào trả lời cho hiện tượng
khó hiểu này. Tôi chợt giật mình nhớ lại: Có vấn đề tâm linh. Lúc hóa Nguyên Khí, trời
trở gió. Để vun các trang bản thảo lại cho cháy hết, tôi và tiến sĩ Nguyễn Quang A đã
tìm quanh để kiếm một thanh cời. Thấy một vòi ấm vỡ sau chân tượng, tôi vội lấy để
cời lửa. Nào ngờ trong vòi có nước. Một vài mẩu giấy nhỏ như cúc áo, không cháy hết.
Phải chăng, đó là những trang trắng, người xưa chưa “nghiệm thu” được? Vi diệu vậy
thay.

Trở lại với cuộc đến thăm Tập đoàn Truyền thông Người Việt. Đó là một tổ hợp đồ sộ,
với nhiều loại hình truyền thông văn hóa: báo in, báo điện tử, nhà xuất bản sách in,
sách điện tử, đài phát thanh tiếng Việt – tiếng Anh, truyền hình đa hệ, trung tâm hội
thảo, hệ thống in ấn, phát hành…

Chắn ngang con phố cụt Moran, nhìn thẳng ra đại lộ Bolsa trục chính của Little Saigon,
Trung tâm truyền thông Người Việt được coi là bộ tổng hành dinh tinh thần của người
Việt xa xứ không chỉ ở California, ở nước Mỹ, mà trên toàn thế giới. Riêng tờ báo in,
phát hành hằng ngày, bản tiếng Việt và tiếng Anh, đã có số lượng hơn 10.000 bản. Ra
số đầu tiên vào ngày 15 tháng 12 năm 1978, cho tới nay, nhật báo Người Việt đã cắm
một cột mốc chói ngời ngoài lãnh thổ trong lịch sử phát triển của văn hóa người Việt.

Cứ ngỡ như đã gặp Tổng biên tập Phan Huy Đạt ở Sài Sơn, chùa Thầy ngày giỗ cụ tổ
họ Phan Huy Chú, Phan Huy Ích. Cứ ngỡ đã gặp trợ lý Ban biên tập Đinh Quang Anh
Thái ở phố Hiến, Hưng Yên, gặp nhà văn Phạm Ngọc Bảo, biên tập viên Nguyễn
Phương ở Nam Định, Thái Bình… Cả ban lãnh đạo Người Việt cùng tay bắt mặt mừng
với tác giả Nguyên Khí, cùng uống trà Thái Nguyên, hút thuốc Thăng Long hộp sắt hảo
hạng mang từ quê Việt sang. Và nói cười ha hả. Ngoài cái tình đồng hương đồng bào,
còn gắn kết nhau ở hơi văn, khí văn đồng điệu, đồng tâm.

Đang hàn huyên tại phòng Tổng biên tập, một nhân viên đưa đến cho tôi bốn
quyển Nguyên Khí vừa lấy trong kho. Đây là seri in đợt hai, đã lấp đầy hai mươi ba
trang trắng, bát chữ và khổ sách nhỏ hơn, một ấn phẩm đẹp đến mẫu mực. Tôi khoe
với các anh hồi tháng sáu vừa rồi, khi sang Hàn Quốc dự buổi ra mắt bản dịch tiếng
Hàn tiểu thuyết Thời của Thánh Thần, đã nhìn thấy Nguyên Khí tại phòng giáo sư Bae
Yang Soo ở trường đại học Busan, do ông đặt mua trên mạng Amazon.

-Nhiều người Việt trên toàn cầu đặt mua Nguyên Khí và rất tâm đắc – Anh Thái nói và
nhìn anh Nguyễn Phương ý muốn khẳng định – Tuần sau chúng tôi sẽ bổ sung hai chữ
tiểu thuyết vào bìa một và trang lót.

Tôi nói vừa hoàn thành bản thảo tiểu thuyết mới Những mảnh Rồng, đợt sang Mỹ này
là để điền dã, trải nghiệm trước khi hoàn thiện.

-Nếu các nhà xuất bản trong nước không in, tôi đành gửi gắm Người Việt… – Tôi nói và
cố nuốt cục nghẹn trào lên cổ. Có người viết nào không tha thiết được in sách tại nước
mình, cho độc giả là đồng bào mình. Cá phải sống trong nước. Nhà văn phải có độc
giả. In sách ở hải ngoại, khác gì di tản hồn mình chốn quê người!

-Nhà xuất bản Người Việt sẵn sàng in và phát hành độc quyền trên toàn cầu – Anh
Phan Huy Đạt cười chân tình và xòe tay cho tôi bắt.

-Chỉ xin các anh đừng cắt những đoạn có thể làm phe cờ vàng phật lòng. Nhà văn chỉ
muốn đứng về phe Tổ quốc…

Mọi người nhìn nhau cả cười. Chúng ta cùng ở phe người Việt.

Anh Thái dẫn tôi đi thăm một vòng cơ quan. Sân trước và sân sau san sát xe ô tô đủ
loại, đủ biết biên chế tòa soạn không dưới trăm người. Tầng lầu được dùng làm hội
trường, thư viện, phòng chức năng. Tầng trệt được ngăn nhiều ô kính, phòng nào cũng
vài dàn vi tính, nhân viên làm việc miệt mài. Phía sau là khu sản xuất, phòng chế bản,
nhà in, dịch vụ và nhà ăn.

Anh Thái chỉ tôi một phụ nữ gầy mảnh đang ngồi bên bàn vi tính phía cửa: Người phụ
nữ kiều diễm kia là vợ nhà thơ Du Tử Lê đó. Còn kia là hai nhà báo Khôi Nguyên, Đỗ
Dzũng, những người đã có vinh dự tháp tùng Tổng thống Obama thăm Hà Nội. Ngày
nào hai anh cũng có tin bài và ảnh nóng gửi về tòa soạn…

Đang thời kỳ chuẩn bị cho hai số báo Tết dương lịch và Tết Đinh Dậu, từ lãnh đạo đến
biên tập viên, nhân viên như vắt chân lên cổ. Số báo Tết cổ truyền vừa là văn hóa
phẩm chất lượng cao, hội tụ các tên tuổi người Việt trong ngoài nước, vừa là quà biếu
đầu Xuân, thường dày vài trăm trang khổ lớn với mấy chục trang quảng cáo, thiếp chúc
Tết và giao lưu thăm thân. Không ngoa nếu nói rằng, từ một tờ báo hải ngoại do một
nhóm người sáng lập, đứng đầu là nhà báo Đỗ Ngọc Yến, in ấn thủ công trong gara gia
đình, bằng tình yêu xứ sở, yêu tiếng Mẹ đẻ và văn hóa nước Việt, bốn mươi năm qua,
đội ngũ những nhà báo, nhà văn di tản đã xây dựng và phát triển Người Việt thành một
tổ hợp truyền thông – báo chí – xuất bản hùng mạnh, góp phần lưu giữ di sản văn hóa
tổ tiên; truyền bá tinh hoa văn hiến Việt trong cộng đồng; bảo tồn, phát triển ngôn ngữ
Việt cho mai hậu.

4. TRONG VAI NGƯỜI DI TẢN

Hoàn thành khóa học, Mr. Ty dời khu ký túc xá Fullerton đến nơi ở mới. Garden Grove
cách Fullerton mười lăm phút xe, nơi tập trung người Việt đông nhất ở quận Cam (nếu
kể cả thành phố Westminster liền kề, hai thành phố này đã có gần 100.000 người Việt).
Đúng như cái tên gọi, Garden Grove – vườn gò – ngày xưa vốn là vùng đất bằng, cây
cối lúp xúp nằm bên sông Santa Ana. Sau năm 1975, những người Việt di tản đầu tiên
đã đến Westminster và Garden Grove lập nghiệp. Họ đến từ trại Peldleton, cách
Westminster năm mươi dặm về phía Nam, tiếp đó là từ các tiểu bang Pennsylvania,
Arkansas, Florida… Một vùng đất ngoài tổ quốc của người Việt được hình thành, mà
tâm điểm là nơi giáp ranh các thành phố Westminster, Garden Grove, Santa Ana,
Foutain Valley, sau này có tên gọi chung là Little Saigon, có đại lộ Bolsa, xương sống
của đặc khu.

Qua mạng, chỉ vài ba ngày Mr. Ty đã thuê được nơi ở, một căn phòng mười sáu mét
vuông, chung bếp và công trình phụ, trong khu cư dân người Việt ở phố Lewis, Garden
Grove, giá 420 USD một tháng (bao gồm cả bếp ga, điện sinh hoạt, máy giặt sấy, chỗ
để xe ô tô…). Mức giá này tương đương một xuất trong căn phòng hai giường mà Mr
Ty vẫn ở khu ký túc sinh viên, một mức giá rất phải chăng.

Cũng qua dịch vụ mạng và qua nhà hàng giá rẻ 1dollar, Mr. Ty đã mua sắm mọi đồ đạc
cho cuộc đi ở riêng: ti vi, giường nằm, chăn đệm, bàn ghế, tủ sách, đồ nấu bếp và đồ
dùng phòng ăn. Toàn thứ hợp túi tiền sinh viên. Đắt nhất là chiếc tivi Samsung mỏng 32
inch đã qua sử dụng nhưng còn như mới, giá bèo chỉ có 60 USD.

Bà chủ nhà tên Điệp, loài hoa gợi tuổi học trò, chừng năm mươi, quê gốc Sài Gòn,
cùng chồng sang Cali trước năm 2000. Vừa nuôi dạy cô con gái duy nhất tốt nghiệp đại
học (đã lấy chồng, sinh con, có công ăn việc làm), vừa mua được căn nhà bốn phòng
ngủ, một phòng khách lớn kiêm phòng ăn, trên diện tích đất năm trăm mét vuông, có

sân cỏ, hoa cảnh phía trước phía sau thơ mộng, quả là niềm mơ ước của nhiều gia
đình Việt.

Lần đầu bước vào phòng khách, tôi đã giật mình nhìn vào góc nhà, nơi có bàn thờ, lung
linh đèn nến, dưới tượng Chúa là bức ảnh người đàn ông rậm râu mắt nhìn thăm thẳm.
Đoán chừng người chết chưa hết tang, tôi lặng lẽ đến thắp cho gia chủ một nén nhang
và thầm nói với ông rằng, Mr. Ty con tôi, người đồng bào với ông sang du học, để hoàn
thành tiếp tấm bằng master, ông hãy coi Mr. Ty như con cháu trong nhà…

Từ bàn thờ quay lại, đã thấy bà chủ chắp tay phía sau.

-Xin hỏi khí không phải, anh nhà mất đã lâu chưa?

-Nhà tôi bị bệnh…Tết này là mười bốn năm – Bà chủ như chợt nhớ về quá vãng.

-Vậy mà tôi tưởng… Cứ đèn nến hương hoa sáng trưng thế này, ai cũng nghĩ rằng anh
mới đi xa.

-Vậy hả? Tôi đi làm ca đêm. Hai giờ sáng đã dậy. Trời tối thui, hốt lắm. Có đèn bàn thờ
ảnh, tôi yên tâm…

Câu chuyện giữa tôi và bà chủ ngay phút đầu tiên đã thân tình. Người thiếu phụ vốn là
nữ sinh Sài Gòn đầy mộng mơ, sang vùng đất hứa chưa được mấy năm đã góa chồng.
Một mình nuôi con, học tiếng, học nghề, xin việc làm. Thợ làm ca ở nhà máy kính cách
nhà mười lăm phút xe, có lương ổn định hơn hai ngàn USD một tháng, ngày nào hai
giờ sáng cũng dậy đánh ô tô đi làm cho đến mười hai giờ trưa hôm sau mới về nhà.

-Anh thấy đó, tuần nào tôi cũng có mấy cái bì thư, cái thì tiền thuế nhà đất, cái tiền ga,
cái tiền điện… Bốn phòng cho thuê cũng chỉ đủ chi mọi thứ thuế ấy. Với lại mình tôi,
cũng không dám ở. Nhà con gái tôi gần đây, đi làm về lại sang ăn cơm với con và chơi
với cháu ngoại…

-Bây giờ có thêm ba con tôi…

-Thế ư? Cả anh nữa? Tưởng chỉ có mình cháu? – Người đàn bà tròn đôi mắt to nhìn tôi
ngỡ ngàng.

-Vâng. Chỉ mình cháu – Tôi đọc được ý bà chủ – Tôi là ba cháu. Mới từ Việt Nam sang.
Tôi muốn được trải nghiệm như một người Việt di tản… Tôi sẽ ở cùng cháu một
tháng… Ngoài số tiền phòng của cháu, tôi sẽ trả thêm tiền những ngày ở lại…

-Thế cũng được. Hai ba con một phòng, tùy nghi sử dụng. Bếp và phòng tắm thì phải
chung với ba hộ khác – Bà chủ đưa mắt về ba phía.

Đối diện với phòng Mr. Ty là phòng của một lão già nhỏ thó, lầm lì đầy bí ẩn, đầu húi
cua bạc, trông hao hao như nhân vật của Mario Puzo. Lão có cái tên Mỹ là Tony, sau
này ba con tôi đặt cho lão bí danh: lão Tôn. Phòng ngay gần cửa ra vào là tổ uyên

ương của cặp vợ chồng trẻ, có cậu con trai Alec Trần mới ba tháng tuổi xinh như tiên
đồng. Chồng tên Mạnh, làm thợ nails, vợ tên Huệ, mới từ Việt Nam sang, đã có bằng
cử nhân tiếng Pháp, định học tiếp thạc sĩ, nhưng khi lấy được chồng có quốc tịch Mỹ
bèn nghỉ học, sinh con.

Nói qua về anh hàng xóm Mạnh mà tôi ấn tượng ngay từ buổi gặp ban đầu. Nhỏ thó,
xấp xỉ bốn mươi mà trông tưởng như cậu chàng hai chục. Mạnh con nhà giàu Sài Gòn,
sang cùng bố mẹ theo diện H.O. Ăn chơi rách trời rơi xuống. Nghề nghiệp chính là chơi
chứng khoán và thỉnh thoảng cùng nhóm bạn đánh hàng về Sài Gòn. Suốt ngày đàn
đúm bạn bè cà phê, rượu mạnh, vũ trường. Trước khi lấy vợ, Mạnh từng có tám mươi
ngàn USD trong tài khoản. Nhưng rồi, thằng bạn cùng làm ăn lừa chuyển tài khoản để
tránh bị đánh thuế. Vừa chuyển xong, bạn vàng bốc thẳng sang Hàn Quốc, biệt vô âm
tín. Đau hơn heo cắt tiết. Mạnh bảo thế. Chính lúc đó, Huệ đã đến, như vị cứu tinh. Huệ
quê Thanh Hóa, sang với chị gái, vừa học tiếp lên thạc sĩ, vừa tìm cơ hội trở thành
người Mỹ. Lấy Mạnh, chắc chắn sẽ nhập cư. Mạnh gặp gái ngoan lại xinh như mộng từ
nước Việt sang, quyết đổi đời. Mua hẳn con Lexus trả góp. Học nghề nails trong hai
tháng có chứng chỉ. Ngày làm từ chín giờ sáng tới chín giờ tối, lương tháng hơn ba
ngàn, đủ thuê nhà và nuôi vợ con. Dịp Noel vừa rồi, được nhiều tiền tips, Mạnh mua
hẳn hai đôi giày Italy tặng vợ và cho mình, mỗi đôi trên ngàn USD.

(Nói sơ qua về nghề nails của Mạnh. Đây là nghề chính của người Việt nhập cư, tạo
công ăn việc làm, thậm chí vươn lên làm giàu, làm chủ. Người ta kháo nhau: Ở Cali
nếu người Mỹ (trắng) là chủ đất, thì người Tàu là chủ chợ và người Việt là chủ nails.
Hiện nước Mỹ có tới hơn 374 ngàn người Việt được cấp chứng chỉ kỹ thuật viên nghề
nails, chiếm hơn 40% số người làm nghề này. Nếu như trước đây có nhiều người Tàu
cũng làm nghề nails, thì nay họ chuyển dần sang nghề massage và nhường nghề nails
cho người Việt. Từ khi người Việt sáng chế ra máy làm nails (phun sơn móng tay –
phun design), có thể phun sơn mười ngón tay trong một phút, thì công nghệ nails càng
phát triển. Tuy nhiên với khách thượng lưu, vẫn thích làm móng tay bằng thủ công để
có thời gian thư giãn và xả stress. Vì thế những thợ lành nghề như Mạnh vẫn có nhiều
khách quen, tiền tips rất hào phóng).

Hộ thuê nhà thứ ba là một người đàn ông độc thân chừng hơn năm mươi, có gương
mặt đao đao và cái tên ngồ ngộ: Trần Hội Họp, người Bắc di cư, vốn là con một đại gia
gốc Bắc có xưởng sửa chữa ô tô và xe đò chạy tuyến Sài Gòn – Vũng Tàu. Sau này đã
thân thiết, Họp thường hay bình luận thời sự mà anh vừa nghe qua cái radio cũ rích lúc
nào cũng đeo bên người. Ngày bé, Họp có vú nuôi và người hầu riêng. Sang Mỹ, không
biết làm việc gì, chỉ suốt ngày nghe radio, đánh bài tây. Bố mẹ chết, anh chị em ở riêng,
ai lo thân người ấy. Đến lượt Họp phải tự lo thân mình. Hơn bốn chục không vợ con,
Họp thuê một cửa hàng buôn bán đồ điện. Thua lỗ. Trả cửa hàng, sắm chiếc xe tải
secondhand đi chữa điện thuê và giấu biệt anh em họ hàng, bí mật thuê nhà trọ với hi
vọng kiếm được tiền lại mở tiếp cửa hàng, trở thành ông chủ. Căn phòng Họp ở chính
là gara ô tô có cửa cuốn nhìn ra đường phố, cửa sau thông với nhà giặt sấy và bếp.
Họp làm nghề điện, sáu giờ sáng đã ra khỏi gara, chín giờ tối mới cùng chiếc xe bán tải
về nhà. Xe dạt vào lề đường, còn chủ vào thẳng phòng tắm và sau đó chui vào căn
hầm kín như hũ nút, cho tới sáng hôm sau.

Căn phòng thứ tư, vốn là phòng xép để đồ, là phòng bà chủ.

-Căn phòng duy nhất có toilet riêng, tôi dành cho vợ chồng Mạnh – Huệ vì có con nhỏ.
Tôi ở phòng xép được rồi. Ăn ở nhà con gái gần đây, chỉ về ngủ vài tiếng thôi mà. Khi
thấy tôi đăng tin cho thuê nhà, nhiều người nước ngoài tìm đến, nhưng tôi chỉ dành
riêng cho người Việt mình.

Bà chủ chừng như bắt đầu thiện cảm với tôi khi Mr. Ty đưa ngay 520 USD tiền thuê
nhà tháng đầu tiên.

***

Ba con tôi lọt vào giữa cộng đồng người Việt. Hầu hết các dãy phố xung quanh đều có
người Việt ở chen kẽ với người Mỹ trắng, người Ấn, người Mễ. Trải dài bên hữu ngạn
sông Santa Ana, các dãy phố thoáng rộng, đến mức xe không cần phải vào gara mà cứ
tự nhiên đậu bên đường, trên bãi cỏ. Phố nào cũng sạch như lau, có đường đi bộ dọc
bãi cỏ các nhà, nhà nào cũng chỉ một tầng và đều có sân vườn trước và sau như
những tiểu resort, nhiều nhà trồng cam, quýt và đào. Cam vàng trĩu cành, không ai
muốn hái, quýt như mang từ Tứ Liên, Nghi Tàm sang, nhiều cây giữ quả từ năm ngoái,
như giữ một vừng lửa.

Tôi chăm chú theo dõi những cây đào. Trước Noel và sau Tết Tây, thân đào gầy guộc,
trơ cành. Ngày nào đi dạo qua cũng để ý đến từng búp mầm. Trước khi người Việt đến
đây đã có đào chưa nhỉ? Nhìn dáng cây, thân, vỏ, quả quyết đây là những cây đào
phai, những khóm bích đào mới di giống từ Nhật Tân, Quảng Bá sang.

Ngay sau tuần chuyền nhà, Mr. Ty bảo:

-Bạn con mời đến ăn Tết Tây ba ạ. Nhà Bùi Đăng Diễn ở ngay Garden Grove, cách nhà
mình chỉ năm phút. Ba Diễn vừa bay từ Sài Gòn sang. Nhà mua giá cả triệu đô, , có bể
bơi, sân bóng rổ chứ không phải phòng thuê như con đâu. Diễn cùng khóa với con, có
bố là một đại gia đi lên từ nghề đạp xích lô. Vừa tốt nghiệp xong, bố cậu ta đã nộp tiền
cho Diễn vào học Harvard.

Khi ba con tôi đến nhà Diễn, trước ngôi nhà sáng rực ánh đèn đã đỗ kín xe và lao xao
tiếng người, tiếng nhạc. Tôi tò mò muốn tìm hiểu về đại gia đi lên từ nghề xích lô Sài
Gòn, thì thấy Diễn cùng một người đàn ông thấp đậm, có gương mặt phong sương ra
bắt tay, niềm nở mời khách vào nhà. Trò chuyện vài phút, nhận ra ông chủ, tên Bùi
Đăng Quy, người Quảng Nam, hiện đang điều hành một công ty xây dựng lớn ở Sài
Gòn.

-Anh Quy từ Sài Gòn sang ăn Tết với con trai, hay ở hẳn bên này? Nghe nói ngày xưa
anh từng đạp xích lô. Để đóng phim hay quảng cáo? – Tôi nói vui với ông chủ khi có cả
tiến sĩ Nguyễn Văn Thắng cùng vợ con từ viện Caltech đến.

Quy cười lớn, rung cả hai vai:

-Anh em mình uống chúc mừng năm mới đã. Tôi sang thăm các cháu vài ngày. Đầu
tuần tới tôi bay sang Houston thăm cô con gái lớn rồi về đón Tết Đinh Dậu ở Sài Gòn
anh ạ. Sẽ có lúc tôi kể cho nhà văn nghe về cuộc đời của tôi. Cũng tiểu thuyết lắm đó
nghe.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Thắng tiếp lời:

-Qua gia đình anh Quy đây, nhà văn có thể tìm hiểu về một dòng di cư mới của người
Việt.

Dòng di cư mới? Di cư chứ không phải di tản. Tôi gật gù tâm đắc. Có thể kể dòng di tản
đầu tiên của người Việt sang Hoa Kỳ khởi từ ngày 30 tháng Tư năm1975, trong đó có
125.000 người thuộc diện đã trực tiếp làm việc với người Mỹ mà thường bị gọi là ngụy
quân, ngụy quyền. Họ được chuyển bằng máy bay và tàu chiến đến các trung tâm
Philippines, Guyam … Đợt thứ hai, từ năm 1976 cho đến giữa năm 1980, năm mà
Quốc hội Hoa Kỳ thông qua đạo luật Người tị nạn và chính phủ Việt Nam chấp nhận
chương trình “ra đi có trật tự”, với các diện H.O, U11, V11. Từ giữa năm 1981 đến năm
2000, Hoa Kỳ tiếp nhận 531.310 người tị nạn từ Việt Nam… Cũng trong giai đoạn này
là những cuộc di tản bất hợp pháp với làn sóng “thuyền nhân” vượt biển ào ạt, tới hàng
chục vạn người…

-Tôi đã đọc ở đâu đó nói rằng người Mỹ gốc Việt là người nhập cư mới nhất tại Hoa Kỳ
– Tôi nói với tiến sĩ Thắng – Người Việt đông thứ tư trong số người gốc Á, sau Ấn Độ,
Hoa, Philippines, nhưng là người nhập cư có tỷ lệ người lai chủng tộc thấp nhất trong
nhóm người Mỹ gốc Á. Năm 2000, có đến hơn một triệu người từ năm tuổi trở lên nói
tiếng Việt ở nhà, làm cho tiếng Việt đứng thứ bẩy trong những ngôn ngữ phổ thông tại
Hoa Kỳ.

-Tất cả chúng ta ngồi đây, tiêu biểu cho dòng nhập cư mới của người Việt – Tiến sĩ
Thắng nói – Đó là dòng nhập cư chất xám và dòng nhập cư mang theo tài chính. Một
dòng nhập cư thay đổi về tính chất và mục đích. Anh thử ngẫm mà xem, có bao nhiêu
sinh viên Việt Nam sang Hoa Kỳ du học tình nguyện trở về? Trong số này đa phần là
những thanh niên học giỏi, nếu không được cấp học bổng thì cũng đã qua tuyển chọn.
Và họ đã mang theo cả chất xám cả tiền bạc mà cha mẹ họ tích cóp được… Họ cố
gắng học giỏi và tìm mọi cách ở lại để thực hiện ước mơ đổi đời.

Câu chuyện về người Việt tị nạn kiểu mới khiến không khí đón năm mới trở nên sôi
động. Chúng tôi uống vang đỏ, vang trắng, bia Heineken, ăn cá hồi, cua biển, bắp bò
nhúng và hàng chục món buffet đặt từ nhà hàng trên phố Brookhurst. Hai chiếc bàn
tròn chật kín. Người Việt đủ các vùng miền. Bọn trẻ kéo nhau ra sân bể bơi sau nhà,
nơi đã nhóm sẵn bếp sưởi và lò nướng barbecue. Gió rét, lại mưa lất phất. Nhưng vui
đến nổ trời. Tiệc đang lúc cao trào thì pháo hoa bắn lên tứ phía. Cứ ngỡ như mình
đang đứng bên hồ Gươm, hay trên bến Bạch Đằng.

-Lúc nãy anh hỏi tôi về chuyện đạp xích lô. Đó là câu chuyện hoàn toàn có thật. Đúng
hơn là đạp xe ba gác chứ chưa được đạp xích lô. Đời tôi đã có lúc dưới đáy anh à –
Mặc cho mọi người ra đường ngắm pháo hoa, Quy rủ tôi vào phòng riêng của anh,

cùng nằm trên giường nệm, tâm sự – Quê tôi ở Quảng Nam, một vùng quê nghèo bị
tan hoang trong chiến tranh. Tôi mồ côi cha. Mẹ nuôi năm đứa con, tôi là lớn. May mắn,
mẹ tôi tần tảo cho anh em tôi đi học, năm 1988 tôi trúng tuyển Kỹ thuật Phú Thọ. Vào
Sài Gòn chỉ với bàn tay trắng và cái đầu đầy mơ mộng. Nhưng rồi cuối năm thứ tư, tôi
bị nhà trường đuổi học vì tham gia vụ đánh nhau với sinh viên Khmer ở ký túc xá. Bọn
chúng láo. Kêu Việt Nam là yuon, Việt Nam xâm lược. Bị đuổi khỏi trường, chỉ còn
nước về quê. Nhưng tôi quyết trụ lại, tìm kiếm việc làm. Tôi đi làm thuê, dành tiền sắm
một cái xe ba gác. Cứ hai giờ sáng, lúc đường vắng nhất, dậy đi chở hàng thuê, toàn
lọai hàng vật liệu xây dựng, như sắt thép, xi măng. Chỉ trong hai năm, tôi đã kiếm được
mấy cây vàng. Rồi cô con gái ông chủ nơi cho tôi ở trọ, tức là mẹ thằng Diễn bây giờ,
đem lòng yêu tôi. Năm sau tôi cưới nàng. Để môn đăng hộ đối, đám cưới phải thuê nhà
trai, mua dây chuyền cỡ bự bằng vàng tây cho cô dâu để lừa bố mẹ vợ rằng nhà mình
cũng giàu có. Rồi tôi xin học lại một năm để lấy cái bằng đại học. Có bằng đại học, lại
có vốn sống, có địa bàn và anh em chiến hữu, tôi làm cai xây dựng…

-Thợ xây dựng Quảng Nam- Đà Nẵng có tiếng. Nhiều công trình xây dựng Hà Nội chỉ
kén thợ Đà Nẵng- Tôi bình luận.

-Ở Sài Gòn có hàng ngàn doanh nghiệp xây dựng. Do tôi đã học qua đại học, có kinh
nghiệm xây dựng, lại biết thâu nạp những người có tay nghề giỏi đến cộng tác với
mình, nên sau khi thành lập công ty, nhiều nhà thầu nước ngoài, như Nhật Bản, Hàn
Quốc, Hoa Kỳ tìm đến với tôi. Họ nhận công trình với nhà nước Việt Nam và tôi là nhà
thầu phụ của họ. Nhiều công trình trị giá vài trăm tỷ họ đều tin tưởng giao cho tôi đảm
nhận. Nên tôi tránh được việc phải đi lạy lục các quan chức chính quyền, không phải đi
đêm, không phải đút lót, chạy chọt để kiếm việc làm…

Tôi chợt hiểu ra sự đi lên vững vàng của Quy. Từ những cuốc ba gác đêm, đến nay
vốn liếng của anh đã lên tới cả ngàn tỷ. Nhận các công trình, Quy chỉ dùng vốn tự có
của mình mà không phải vay vốn ngân hàng, thậm chí không cần đối tác ứng vốn. Từ
kinh doanh xây dựng, Quy phát triển sang thu mua và chế biến cà phê, hạt điều, kinh
doanh địa ốc. Quy chuyển tiền sang Mỹ qua việc du học của các con để mua nhà ở
Texas, ở California, để ở và kinh doanh nhà hàng. Các con vừa du học vừa tập quản lý,
xâm nhập thương trường …

-Mỗi năm vợ chồng tôi sang Mỹ vài lần nghỉ và giúp các cháu làm ăn. Ở Việt Nam kiếm
tiền dễ hơn, nhưng muốn giữ tiền và tránh rủi ro thì phải chuyển qua bên này. Chắc
anh cũng như tôi, muốn đời các con mình tránh được rủi ro thì phải đưa chúng nó qua
bên này…

Câu nói của Quy làm tôi cay sống mũi. Đúng quá. Và cay đắng quá. Hầu hết các quan
chức và đại gia Việt Nam muốn bảo toàn nguồn vốn và nguồn gien của mình đều tìm
cách chuyển chúng qua Canada, Mỹ, Úc… Họ sống trên quê hương với quyền lực mà
vẫn luôn thắc thỏm bất an…

-Có hàng trăm căn nhà ở Cali này, ở ngay dãy phố này, nhiều tòa nhà to đẹp hơn nhà
của tôi nhiều, đều của các quan chức và doanh nghiệp Việt Nam cả anh à – Quy thổ lộ
– Buổi sáng đi thể dục, thỉnh thoáng tôi vẫn gặp người quen từ Việt Nam sang. Anh có

muốn đến thăm nhà anh Y, anh X, anh Z… ở gần đây không? Họ sống nhờ quyền lực,
bổng lộc, đất đai… Nhưng tôi khác với họ. Tôi mua nhà và đầu tư cho các con tôi du
học bằng tiền sạch của tôi…

Ít lâu sau, theo một nguồn tin từ Hiệp hội quốc gia chuyên viên địa ốc Hoa Kỳ
(Nationnal Association of Realtors), tôi được biết, năm 2016 Việt Nam đứng trong tốp
10 các nước mua nhà tại Mỹ với giá trị 3,06 tỷ USD (Đứng đầu là Trung Quốc, chiếm
14% (đạt kỷ lục 31,7 tỷ USD), tiếp sau là Canada 12%, Mexico 10%, Ấn Độ 5%, Anh
5%, Brazil 4%, Việt Nam, Đức, Nhật, Venezuela cùng chiếm 2%). Hơn ba tỷ USD
chuyển sang mua địa ốc tại Mỹ, với một nước nghèo như Việt Nam, chứng tỏ giới
quyền lực đỏ, tư bản đỏ đã giàu lên nhanh chóng tới mức nào!

***

Trước thềm năm mới 2017, chiếc xe nhãn hiệu Acura màu trắng sữa của Mr. Ty, sau
khi được đầu tư hơn ngàn USD nữa, bỗng trở thành con tuấn mã dễ thương.

Xin nói đôi chút về con Acura ấn tượng này. Đây là nhãn hiệu xe hạng sang mà hãng
Honda đưa sang Bắc Mỹ, những năm 1990s từng lên hàng danh giá. Sau hơn mười
năm rong ruổi khắp các nẻo đường Cali, với vài chục vạn cây số, Acura đã được một
anh bạn sinh viên mua lại của mấy anh bạn sinh viên khác, rồi trước khi về nước bán
cho Mr. Ty. Vỏ xe chưa mối mọt, trắng ngà như thiếu phụ vừa đi mỹ viện, giá 2000
USD, quá bèo. Mr. Ty nghe bùi tai, thương mẹ đỡ phải móc hầu bao, OK liền. Nào ngờ
tiền nào của ấy. Đúng hôm cần điều Acura từ Fullerton lên sân bay Los Angeles đón
ông già Khốt ta bit từ Việt Nam sang thì xe trở chứng, phải nhờ xe của cô bạn gái.
Tưởng phải thuê kéo Acura đi nghĩa địa. Nhưng rồi còn nước còn tát. An toàn là trên
hết. Tôi đưa Ty hai ngàn mẹ gửi, nếu cần sửa cứ chi hết. Tiền sửa thậm chí hơn cả tiền
mua. Quyết tâm cải lão hoàn đồng. Lần lượt thay bốn bánh. Thay mới hộp số. Mua
bình ắc quy. Thay gạt nước. Tổng rà soát toàn bộ. Acura bình phục dần…

Tay lái của Ty lúc này cũng đã sành điệu, hai ba con thường xuyên có những chuyến đi
du ngoạn trong ngày, như thăm Disneyland, Long Beach, Laguna Beach, xuống San
Diego thăm viện bảo tàng, vườn sinh vật cảnh, quân cảng khổng lồ với con tàu USS
Midway nổi tiếng đã từng tham chiến ở Việt Nam.

Rồi một trưa cao hứng, cô bạn Huyền Danh dễ thương của Ty tự tay lái con xe Toyota
tám ngàn USD mới mua từ vốn vay sinh viên, mời hai ba con vượt hai giờ qua vùng
hoang mạc đá để đến công viên tuyết Palm Spring. Một vùng núi đá tuyệt vời. Gợi nhớ
những lần đi cao nguyên đá Đồng Văn. Nhìn từ trong xe chỉ thấy bạt ngàn đá, những
cánh đồng đá và sừng sững những bức trường thành đá. Và kìa, những chiếc con quay
gió. Từng bãi từng hàng con quay điện gió lấp lánh sáng trong nắng chiều.

Đi sâu vài chục cây số là một nhà ga cáp treo chênh vênh trên sườn đá, tuyết phủ trắng
xóa. Chiếc cáp treo có độ dốc tới 60 độ, dốc nhất thế giới, với sức chứa tới 80 người
một ca bin, như một tòa nhà khổng lồ đưa khách lên độ cao 2.595 mét, với nền nhiệt độ
dưới 10 độ C, sau mười phút đã lên tới đỉnh. Nhìn xuống, thấy toàn cảnh xung quanh,
những cánh đồng đá nhấp nhô, những bãi con quay điện gió bạt ngàn, những thành

phố san sát. Và thật bất ngờ, giữa thung lũng đá quanh năm băng tuyết là cánh rừng
thông nguyên sinh, nhiều cây đường kính hơn một mét, ba, bốn người ôm, cao vút hơn
ba chục mét.

Nghe nói, sau khi phát hiện khu rừng thông đặc hữu trên vành đai núi đá 2.500 mét với
nhiều loài động vật đặc hữu, chính quyền liên bang đã khoanh vùng bảo tồn đặc biệt và
giao cho các đơn vị tổ chức bảo vệ và khai thác du lịch để phục vụ cộng đồng. Rất
nhiều du khách nước ngoài đưa con cái lên đây cùng với ván trượt để thực hiện các
chương trình thể thao trên băng, thể thao mạo hiểm.

Chúng tôi mải miết chụp ảnh. Bâng khuâng thưởng thức tách cà phê nóng hổi trong cái
lạnh gần không độ trên đỉnh trời đầy sao. Trời ập tối rất nhanh khiến những con đường
trượt băng trong rừng không thể hiện lên trong ánh đèn flash. Nhìn xuống, cả bốn phía
như những tấm bánh đa vừng khổng lồ với đủ màu ánh sáng nhấp nháy huyền hoặc.

Trên đường về Garden Grove, Mr. Ty đọc một bản tin trên CNN cho biết chương trình
bàn giao chức vị Tổng thống Hoa Kỳ giữa Barack Obama và Donald Trump. Chỉ ít ngày
nữa, sau chuyến du hí của chúng tôi đến công viên đá thần tiên kia, máy bay chuyên
cơ sẽ chở gia đình cựu Tổng thống Obama từ Nhà Trắng về thẳng Palm Spring để nghỉ
dưỡng tuần đầu tiên ông trở lại công dân Mỹ bình thường. Vị cựu Tổng thống Mỹ da
màu này sẽ đến nghỉ chỗ nào trong cái công viên đá Palm Spring rộng lớn, băng tuyết
phủ trắng, mờ mịt kia? Liệu ông có đến và ngồi vào chiếc bàn chúng tôi đã ngồi uống
cà phê và nhìn ngóng về phía bên kia đại dương để nhớ về nước Việt?

***

Sẽ mãi là những ngày vui bất tận bên con trai cho đến những phút giao thừa đón cái
Tết cổ truyền đầu tiên trên đất Mỹ.

Nhưng rồi phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí.

Như lệ thường, tôi gọi Mr. Ty dậy vào khoảng tám giờ sáng. Hôm ấy tôi dậy sớm hơn
để đọc facebook. Rồi nấu ăn sáng cho Ty. Hơn một tháng nay, trừ những ngày đi ăn
tiệc, đi chơi, ngày nào tôi cũng nấu ăn ba bữa cho Ty, dạy Ty cách đi chợ và nấu ăn
một số món thông thường. Anh chàng đã đỏ da thắm thịt khác hẳn ngày tôi mới sang.

Món cháo đầu cá hồi đã xong rồi đây. Thơm ngậy điếc mũi. Đầu cá hồi là một phát hiện
mới của tôi. Đi chợ Đà Lạt hay AA Market, thú nhất là qua quầy thực phẩm. Phong phú
chẳng kém gì các chợ truyền thống Việt Nam. Rẻ nhất là món thịt gà. Đùi gà nục nạc
chỉ 2 USD một pound (gần nửa kg), Ty rất thích món đùi gà rán. Đầu cá hồi giá cũng
tương đương, nấu cháo rất tuyệt.

Buổi đầu tiên đi chợ Hòa Bình, tôi mua được chai nước mắm Phú Quốc, hí hửng vì
thương hiệu nổi tiếng Việt Nam đã có mặt tại thị trường Mỹ, ai ngờ khi nấu, nhìn kỹ,
thấy dòng chữ “Made in Thailand”. Đau ê ẩm suốt mấy ngày trời. Gạo cũng toàn của
Thái, của Indo, Campuchia, tịnh không thấy một bao gạo Việt.

Sau này, lần nào đi chợ cũng buồn nẫu ruột vì thấy thứ hàng gì cũng nhãn hiệu Trung
Quốc, Thái Lan. Đến các loại rau củ hoa quả, thậm chí lòng lợn, đậu phụ, mắm tôm, ê
hề… giống như ở chợ Bến Thành, Bà Chiểu đấy nhưng chỉ là thứ giống Việt, chứ đâu
phải được nhập từ nước Việt…

Đang cho rau thì là vào cháo, bỗng linh cảm có một điều gì bất an. Tôi mở điện thoại.
Màn hình Samsung chỉ: 8 giờ 30, thứ 6 ngày 13 tháng 1 năm 2017 (16 tháng chạp ta).

-Ty ơi, dậy ăn sáng. Hôm nay ngày 13 thứ sáu đen đấy con ạ.

Vừa nói dứt câu thì máy Mr. Ty reo. Một giọng Mỹ gay gắt vọng ra. Ty nhảy dựng dậy
khỏi nệm ngủ, nghe qua, rồi hốt hoảng:

-Ba ơi, FBI nó gọi con. Hôm qua ba làm gì lão Tôn thế?

Trời ơi, có chuyện gì mà liên quan đến an ninh quốc gia Mỹ? Có gì dính líu đến lão
Tôn? – Tôi hốt hoảng nhìn Ty vừa nghe máy vừa mở cửa vọt ra ngoài sân cỏ.

Mấy hôm trước tôi có cuộc đụng chạm với lão Tôn. Đó là lần thứ ba tôi đợi lão trước
của phòng vệ sinh. Khi nào lão dậy trước chiếm toilet thì người đợi sau tha hồ mà ôm
bụng nhăn nhó. Tôi tự hỏi: lão kỳ cọ gì trong đó cả tiếng đồng hồ? Hay lão mắc chứng
táo bón kinh niên? Hay lão vừa bài tiết vừa tranh thủ ăn sáng? Và cả ba lần từ cửa
phòng vệ sinh ra để đi sang phòng lão phía đối diện, lão đều trần truồng, bộ “ấm chén”
lòng thòng rất kinh dị.

-Này ông, nhà có đàn bà con gái. Đề nghị lần sau tắm xong ông nên mặc quần áo xong
hãy ra, hoặc quàng khăn tắm trước khi về phòng ông thay đồ – Chướng mắt quá, tôi
buộc phải cảnh báo.

Nghe tôi to tiếng, và thấy ánh mắt lão Tôn quắc lên đầy thách thức, Mr. Ty vội kéo tôi
vào phòng, thì thào:

-Sao ba lại gây mâu thuẫn với lão? Ở Mỹ người ta đặc biệt tôn trọng tự do cá nhân. Lão
ta báo với cảnh sát, ba có thể bị rầy rà đấy…

-Báo cáo thế nào được. Ba không táng cho lão thì thôi …

Rồi tôi kể cho Mr. Ty nghe chuyện động trời mới phát hiện về lão Tôn. Cả ba người
trong căn nhà này, bà Điệp chủ nhà, ông Họp thợ điện và cô Huệ gái đẻ. “Lần đầu gặp
lão thỗn thện từ nhà tắm đi ra, cháu hoảng quá hét lên – Huệ nói, mặt bỗng đỏ lựng –
Sợ nhất là lúc khuya chờ nhà cháu đi làm về, thấy lão tồng ngồng đứng ngoài vườn
như bóng ma…”.

Bà Điệp bảo: “Nhìn thấy lão thế, tôi bực lắm, nhưng không dám nói. Anh dọa lão giúp
tôi”.

“Đã có lần tôi cho lão cái bạt tai – Họp nói oang oang. Thằng này từng mắc tội giết
người, bị đi tù hơn mười năm anh biết không?”.

“Giết người? đi tù? Thật thế sao?”.

Ban đầu lão còn quen thói côn đồ định đánh tôi. Tôi lôi lão ra ngoài đường và rút điện
thoại ra.

“Để tao gọi police đến đây chứng kiến tao đánh mày như thế nào”.

Thấy tôi định gọi cảnh sát thật, lão vội chuồn, từ đấy cạch mặt tôi, không dám giáp mặt.

Đúng là Tony đã có tiền án. Cuộc đời lão là một bí ẩn lớn. Nghe nói lão từng tham gia
băng đảng ở Sài Gòn. Sang đây, lão tiếp tục hành nghề cũ. Một lần xảy ra xích mích
trong băng nhóm, lão rút súng hạ sát đối thủ. Cảnh sát đến, lão điềm nhiên đưa tay cho
còng. Rồi ngoan ngoãn trong tù hơn mười năm. Ra tù, chính quyền tạo điều kiện cho
lão làm khuân vác và vệ sinh tại một siêu thị. Lão là khách thuê nhà lâu nhất của bà
Điệp. Suốt ngày lầm lì như một cái bóng. Ngay cả bữa ăn lão cũng giải quyết ở đâu đó.
Ngày nghỉ lão hay đóng cửa phòng chế biến đồ ăn. Toàn thứ mua ở của hàng bán thực
phẩm hữu cơ Organic, nghĩa là đồ ăn xịn, đắt hơn hàng chợ và siêu thị.

-FBI nó cần gặp con. Ba ăn sáng đi. Đừng đợi con – Mr. Ty nói chuyện điện thoại hồi
lâu, mặt cắt không còn giọt máu, rồi lao ra xe, mở cửa con Acuara.

Tôi chạy theo:

-Để ba đi cùng.

Ty khoát tay:

-Không được. Họ bảo chuyện này không cho ai biết. Chỉ mình con đi thôi…

Ty truyền sang tôi sự hoảng loạn. Ty có thể bị xóa kết quả tốt nghiệp, bị trục xuất về
nước. Còn tôi, sẽ ra sao, khi Donald Trump chưa nhậm chức Tổng thống nhưng đã
truyền đi những thông điệp không mấy tốt lành đối với những khách không mời của
nước Mỹ.

Suốt cả buổi sáng, rồi trưa, rồi chiều, đầu óc tôi quay cuồng trong lo lắng, hoảng hốt.
Từ cửa sổ phòng tắm nhìn ra đường, thấy mấy xe lạ đỗ trước cửa, rất khả nghi. Hay là
FBI đang bố trí lực lượng? Như có lửa cháy trong ngực, chốc chốc tôi lại gọi điện thoại
cho Mr. Ty, nhưng chỉ một giọng Mỹ nói: Máy bận. Tại sao FBI lại gọi Ty? Vì việc gì? Ty
tham gia một băng nhóm nào chăng? Ty vướng mắc gì trong thi cử vừa rồi chăng? Ừ
nhỉ, hay là việc Ty cùng nhóm bạn Mỹ tuần trước vác súng vào sa mạc trong clip Ty đã
cho tôi xem. Đạn thật vàng chóe. Chúng lần lượt bắn hạ những cây xương rồng. Có thể
băng ghi hình trong đó có sự tham gia của Ty đã lọt vào tay cảnh sát? Rồi chuyện lão
hàng xóm nữa. Tại sao lão Tôn lại dính líu vào đây? Lão ta được FBI trả lương hay ai
trả? Rất có thể lão đã ngầm theo dõi tôi, một nhà văn từng trong ổ cộng sản, nhận chỉ

thị của Hà Nội để sang đây chống phá cộng đồng người Việt? Mà lão có chứng cứ gì
để tố giác? Tôi đã làm gì lão? Ân hận quá. Sao lúc ấy mình không quyết lên xe cùng
Ty. Ít ra để con có chỗ dựa tinh thần. Ty non nớt thế, ngờ nghệch thế, thánh thiện thế,
làm sao chống chọi nổi với FBI?

Năm 2011, khi qua Canada chơi, tôi đã có ý định gửi Ty cho người bạn ở Vancouver
ngay năm Ty đang học lớp 11. Nhưng mẹ Ty nhất quyết không đồng ý. Tiền cho thuê
nhà chưa đủ cho Ty đi du học. Ty chưa có khả năng tự lập. Nấu một bát mì tôm còn
chưa xong, làm sao xa được vòng tay mẹ? Tôi cũng không tự tin lắm về con trai. Lực
học trung bình, thậm chí môn toán hổng nhiều, tôi phải nhờ ông bạn chí cốt Đinh Hồng
Việt, vốn là giảng viên toán giỏi mỗi tuần dành một buổi kèm cặp. Ty vẫn ham chơi hơn
học. Mỗi ngày ngốn một tập Doremon, đến mức trong một năm phải thay mắt kính vài
diop.

Rồi bỗng như có Trời phù hộ, năm cuối cấp, khả năng đọc và nói tiếng Anh của Ty
khiến tôi kinh ngạc. Cậu chàng mua nguyên bản Sherlock Holmes của Arthur Conan
Doyle và dịch. Tôi lén đọc, thầm khen khả năng tiếng Anh và ngôn ngữ tiếng Việt. Vào
Đại học Ngoại thương, Ty thi đỗ vào khoa Quản trị Kinh doanh hệ nâng cao, ngay từ
năm thứ nhất đã học với các giảng viên nước ngoài, hoàn toàn nghe nói trên lớp bằng
tiếng Anh. Năm thứ tư, mười một sinh viên trong khoa được gửi sang Đại học Fullerton,
trong đó có Mr. Ty.

Một năm ở Mỹ, Mr. Ty như đã là một chàng trai khác.

-Con thấy tình hình này nước mình khó có thể thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình. Còn
đạo đức thì ngày một xuống cấp trầm trọng ba ạ – Hè vừa rồi về xin ra hạn visa, trước
khi đi, Ty nói với tôi.

-Sao, con? Đừng bi quan quá thế. Lớp các con cần phải học giỏi để trở về …

-Đợt này đi, có lẽ con không về đâu ba ạ…

Đang gấp quần áo sắp vào va ly cho Ty, tôi bỗng buông sững, quay nhìn con. Có gì
đau đớn nghẹn ngào cứ chẹn ngang cổ. Tôi quay đi, không cầm nổi nước mắt. Cay
đắng quá. Con cũng bỏ nước mà đi ư? Những người trẻ như con bỏ đi hết, thì ai sẽ là
người chấn hưng nước Việt?

-Làm gì còn có chỗ dành cho con ba ơi. Bao nhiêu học sinh giải vàng giải bạc trong các
cuộc thi toán lý hóa quốc tế có mấy người về nước? Những đứa học trung bình, thậm
chí dốt nát nhưng con ông cháu cha, chưa học xong đã có chỗ trong bộ này, ủy ban nọ
cả rồi. Những đứa học khá, giỏi thì bố mẹ chúng đã gửi sang Mỹ, Canada, Úc, mua sẵn
nhà cho ở lại. Ba viết văn, quá nghèo, sách lại bị bọn in lậu cướp nhuận bút, giờ ba
nghỉ hưu, không có khả năng chạy chọt…

Nói thế là Ty đã quyết. Vẫn biết rằng Ty khó trở về. Nhưng thà rằng con đừng nói ra…

Hơn một tháng ở bên con, thấy Ty lớn lên nhiều. Con người Ty như được lập trình lại.
Hình thành một loạt thói quen mới. Ty chững chạc và người lớn hẳn ra. Ví như, đã ngồi
vào ghế xe là khoác dây bảo hiểm và nhắc ba cùng khoác. Đến chỗ rẽ cho xe đi chậm
lại, quan sát qua đèn xe. Đi bộ, gặp người lạ đi ngược chiều đều gật đầu chào. Không
nói chuyện chính trị với người lạ. Đi ăn hiệu luôn để lại tiền tips. Sử dụng rất thành thạo
computer. Giao tiếp với người Mỹ rất tự tin, thậm chí rất có khả năng humour như
người Mỹ. Hăng hái tham gia các hoạt động thiện nguyện, hoạt động cộng đồng. Và bắt
đầu biết nói chuyện, biết quan tâm tới bạn gái…

Cho đến ba giờ chiều, mọi liên lạc với Ty đều bị cắt đứt. Đang lo thắt ruột, thì điện thoại
reo.

-Con đây ba ơi… Con đang lái xe từ Long Beach về. Tay lái con rất run… Ba đừng rời
máy nhé… Ba hãy nói bất cứ điều gì để con thấy đang ở gần ba…

Tôi cảm thấy rất rõ tiếng Ty thảng thốt run rẩy bên tai mình.

-Con ơi, bình tĩnh nhé, vững tay lái nhé. Đi tốc độ vừa phải. Không có chuyện gì hết. Ba
đang đợi con ở nhà… – Tôi nói linh tinh những chuyện không đâu. Nói về những món
ăn và cách nấu mà tôi đã chuẩn bị để đón Ty về. Nói để Ty phân tâm quên đi những
điều khủng khiếp đã xảy ra với Ty, nếu có.

Mười lăm phút sau thì Ty về. Vừa mở cửa bước vào nhà, Ty ôm chầm lấy tôi, bật khóc.
Chàng trai hai mươi ba tuổi cao một mét bảy lăm nặng bảy mươi ký, cường tráng như
một dũng sĩ bỗng run rẩy mềm yếu như một đứa trẻ.

Rồi Ty nằm sấp trên nệm, lưng rung lên từng nhịp.

-Con ngu quá ba ơi. Con bị bọn chúng nó lừa. Mất hết 7.000 USD trong tài khoản rồi.

-Mất tiền ư? Vậy mà ba tưởng chuyện gì? Của đi thay người con ạ. Mất tiền là không
mất gì… Hôm nay là ngày 13 thứ 6 đen mà…

Nói những điều ấy với con, tôi thấy nhẹ bỗng. Thực tình ngay lúc ấy, gặp con trai, tôi
thấy như phúc nhà mình còn lớn lắm. Mất ngần ấy tiền mà con trở về lành lặn, không
đâm quẹt xe, không tai nạn, nhằm nhò gì?

Sau này, chỉ vài giờ sau này, món tiền bị mất mới dần đè nặng lên tôi, lên hai cha con
tôi, rằng 7.000 USD là món tài sản không hề nhỏ. Hai năm lương hưu của tôi đấy.
Trước khi tôi sang, tài khoản Mr. Ty lúc nào cũng chỉ vài trăm USD. Tôi đã nạp hết số
tiền mặt 5.000 USD được mang theo. Rồi mẹ Ty tiếp tục gửi thêm 2.000 USD nữa…

-Nhưng mà con ngu. Tin và sợ chúng nó. Bọn lừa đảo ấy nó đóng vai FBI rất diệu
nghệ. Chúng có cả một bọn mấy thằng con trai và hai đứa con gái. Chúng nó nói lao
xao trong máy, như đang ngồi trong văn phòng ở San Jose. Ban đầu chúng nó dọa
con: Mày tên là Mr. Ty, đúng không? Mày vừa làm hồ sơ xin ở lại học Master phải
không? Mày mắc một tội rất lớn trong chuyện làm hồ sơ vừa rồi. Lỗi này khiến mày có

thể bị hủy kết quả học tập, và bị trục xuất về nước. Rồi chúng nó nói những lỗi con bị
mắc. Toàn những điều con không hiểu gì cả. Chúng bảo, chúng tao có thể giúp mày,
với điều kiện không được nói với ai và đến gặp chúng tao ngay. Thế là chúng điều con
đi. Con như kẻ mộng du, như bị nhập đồng, lái xe theo sự điều khiển của chúng. Chúng
điều con lên mấy của hàng Targets ở Fullerton, ở Wetminster. Mỗi cửa hàng mua 1.000
USD. Đến khi con xuống Long Beach, cũng là lúc mua hết tiền trong tài khoản, thì đột
ngột chúng tắt máy. Đến lúc ấy con mới biết mình bị lừa. Sao con ngu quá ba ơi…

Mặt trái của nước Mỹ đã lộ ra. Bọn lừa đảo đã để ý đến tài khoản của Mr. Ty từ lâu.
Vừa thấy ví con mồi căng phồng là chúng ra tay. Nhìn một đống hóa đơn Ty vứt trên
bàn, tôi lóe lên tia hy vọng. Với khối lượng hàng lớn thế này, rất có thể chúng chưa lấy
kịp. Hai ba con tức tốc phóng xe đến siêu thị Targets ở Fullerton. Chìa hóa đơn ra. Hai
nhân viên quầy trả hàng rất nhiệt tình trợ giúp, đối chiếu hóa đơn, tra trên máy. Nhưng
rồi họ nhìn nhau, nhún vai: Rất tiếc những hóa đơn này đã thanh toán rồi.

5. TẾT VIỆT XỨ NGƯỜI

Nước Mỹ đã lộ ra mặt trái, khiến tôi thất vọng.

Ở Hà Nội, những lúc buồn thế này, nhấc máy lên, vài phút sau đã có mấy thằng bạn
phóng xe máy vù vù đến tụ tập. Hoặc khoác áo ra phố, sà vào đâu cũng có hàng quán,
cà phê, bia rượu. Thậm chí bức xúc quá, dạt vào vệ tường vạch quần tè một cái xả hết
nỗi buồn. Tè ngay bờ hồ Hoàn Kiếm cũng được, chẳng có mã-tà nào bắt như thời Tây.

Ở Mỹ, dù đi giữa hoang mạc cũng chẳng ai dừng xe đái bậy. Thèm bia không biết mua
chỗ nào. Uống phải vào nhà hàng. Bữa trưa nhiều hàng quán không bán bia rượu. Vào
siêu thị, muốn mua bia rượu phải có thẻ, không bán cho chip choai dưới mười sáu tuổi,
người nước ngoài phải có hộ chiếu.

Chao ơi, nhớ quay quắt những bãi bia Hải Hói, Cường Râu, Lan Chín, Hà Nội giờ nào
cũng ồn ã tưng bừng dô dô trăm phần trăm. Việt Nam đúng là tự do muôn năm. Chỉ cần
thu nhập hai mươi triệu mỗi tháng là có thể sống tùy thích. Đến cái xe bus của Hà Nội
cũng ưu việt hơn hẳn xe bus Mỹ. Đi khắp năm cửa ô Hà Nội cũng chỉ mất chục ngàn và
chỉ phải đợi ở mỗi bến dăm phút. Dù xe hôi hám, chen chúc nhưng thế vẫn ngàn lần
hơn tư bản.

Ở Cali, đi xe bus là một cuộc hành xác. Hôm con xe Acura của Mr. Ty đưa vào xưởng
sửa chữa hộp số, hai ba con đi từ chợ Phước Lộc Thọ ở Little Saigon về phố Lewis
quãng đường chỉ mười lăm cây số mà chờ xe bus ở hai bến mất hơn hai giờ và cuốc
bộ nửa giờ nữa. Ở đây nhà nào cũng có vài con ô tô nên người ta không quan tâm đến
taxi và xe bus.

Từ hôm chuyển nhà xuống Garden Grove, tôi thường hay đi bộ kết hợp chụp ảnh buổi
sáng và nhiều hôm đi cả buổi chiều theo dọc bờ sông Santa Ana, hoặc dạo một vòng
hình chữ nhật sáu cây số: W. Menmory Ln – N. Bristol St – W.17th St – Adna Park –
Fairvew St.

Con sông Santa Ana thơ mộng quyến rũ như một đại công viên. Khác hẳn những con
sông nước ta, sông Santa Ana chảy thẳng một mạch ra biển, hạ dần độ cao và chẳng
có miligram phù sa nào. Ngày mưa, nước màu tro xám chứ không đỏ phù sa như sông
Hồng. Nước dâng ngập hai bờ, mênh mông, cuồn cuộn, qua những quãng đập cũng
tung bọt, sôi réo. Nhưng chỉ qua một ngày tạnh ráo, nước lại rút kiệt phơi đáy, phô ra
những bãi tập golf xanh mướt, những cồn cát trắng mịn, nơi trú ngụ của những đàn hải
âu, nơi bơi nhởn của họ hàng ngỗng trời dẫn con cháu kiếm ăn và đi tha thẩn.

Ở phía cầu gỗ gần W.17th St người ta còn đổ bê tông lòng sông phẳng lì, chỉ để một
khe chảy ở giữa, khiến nhiều người cao hứng ào xuống chạy bộ và thư giãn. Nhớ mãi
buổi sáng trước ngày Donald Trump nhậm chức tổng thống một tuần, khi đi bộ dọc sân
tập golf bờ sông, tôi bỗng đọc thấy dòng chữ to đùng, ai đó vừa viết trên một hố cát:
FUCK TRUMP (Đ.M. Trump). Ghê gớm quá. Dám chửi đểu Tổng thống vừa đắc cử
giữa thanh thiên bạch nhật. Tôi ghi vội hình ảnh này và đưa lên facebook. Suốt mấy
ngày sau, tôi để ý, vẫn chẳng thấy ai xóa đi. Vẫn chẳng thấy police hỏi thăm ai. Phải
chờ mấy ngày mưa liên tiếp trong cả tháng trời, những dòng chữ ấy mới bị nước phủ
mờ dần. Nước Mỹ tự do đến thế là cùng.

Phóng xe trên đại lộ 57 đoạn qua sân vận động, hay đi bộ dọc bờ sông Santa Ana,
bỗng nhận ra một góc nước Mỹ của người homeless (vô gia cư). Suốt từ gầm cầu đại
lộ 57 xuôi xuống W17 th. St là rải rác từng đoạn những lều bạt đủ màu sắc của các
homeless, có đoạn tập trung tới trăm hộ. Dường như họ đã cư ngụ tại đây từ lâu lắm.
Không thấy trẻ con. Chỉ thấy người độc thân và các cặp không hiểu vợ chồng hay nhân
ngãi nhân tình. Đi qua, nhưng không dám nhìn lâu, vì sợ khiếm nhã, vì thấy mùi gầm
cầu lạnh lẽo phả ra… Buổi sáng thường thấy xe vệ sinh đến chuyển chất thải đi. Không
biết họ lấy nước sạch ở đâu và phóng uế thế nào. Ở chỗ góc cầu W17th. St thấy một
khu vực có nhiều xe đạp và có người hay lui tới, hình như đây là nơi homeless thu
gom, sửa chữa và bán các loại xe đạp cho sinh viên và những người nghèo.

Rồi những ngày mưa khiến tôi thảng thốt nỗi nhớ nhà. Mưa lâm thâm. Và rét tái tê như
rét tháng chạp. Những cơn gió từ Thái Bình Dương ào ạt thổi về. Các phố xung quanh
từ bao giờ đã vàng rực cam, quất. Hình như cam quất chỉ là vật trang trí để nhắc nhớ
quê hương chứ chẳng ai hái, chẳng ai ăn. Rồi đào thắm, đào phai, đào Nhật, đủ loại.
Đã nhu nhú những nụ mầm, lất phât những chồi xanh. Nhìn thấy gốc đào trong vườn,
bên hè phố trước nhà, đích thị đó là gia đình Việt.

Trước khi sang Cali tôi cứ hình dung, nếu gặp một người Việt, một gia đình Việt, chắc
họ sẽ reo lên, giang tay chào đón người đồng bào là tôi. Hóa ra không phải. Gặp người
Mỹ đen, Mỹ trắng, người Mễ, người Ấn đạp xe dọc bờ sông, đi bộ ngoài đường, ai cũng
nhìn tôi rồi mỉm cười, gật đầu chào, hoặc giơ tay Hi, Hello. Tôi chờ đón mỗi khi gặp
người đồng bào, tôi rất muốn mỉm cười, rất muốn bắt chuyện, nhưng họ thường lạnh
tanh, quay đi. Họ biết tôi là Việt cộng? Họ đoán tôi đến từ Hà Nội? Hay sự dè chừng,
cảnh giác có phản xạ đã nhiễm vào máu họ? Họ như bầy chim gặp làn cây cong. Cảnh
giác, cho lành.

Mr. Ty từ hôm mất tiền thường buồn thiu, ít nói. Tôi viết cho mẹ Ty một email. Năm
hôm sau, tài khoản của Ty đã có năm nghìn USD. Chúng tôi đi mở một tài khoản mới.
Tài khoản cũ đã lộ, vẫn giữ, nhưng chỉ để ít tiền tiêu vặt.

Buồn quá. Tôi muốn về. Nhưng vé khứ hồi đã đặt. Phải qua Tết ta. Vả lại, nhiệm vụ của
tôi là phải ở lại ăn Tết với con và trải nghiệm những ngày xuân ly hương để bổ sung
cho bản thảo tiểu thuyết Những mảnh Rồng.

Hình như một buổi sáng mưa, ngồi một mình bên ly cà phê Mai đặc sánh, tôi đã khóc.

NGÀY MƯA Ở GARDEN GROVE

Tưởng mưa xứ người không ướt áo

Nào hay trời tưới đẫm hồn ta

Cà phê Mai giọt giọt buồn ngưng đọng

Gợi nhớ thương thăm thẳm quê nhà

Ngày mưa này Hà Nội đang trở lạnh

Lá dong về xanh mướt chợ Long Biên

Năm cửa ô hoa đào tràn ngập phố

Quất còn sai như năm ngoái không em?

Chợt thương mình, thương những ai xa xứ

Giữa Garden cam quýt trĩu vườn xanh

Vẫn xa hút một góc hồn tháng chạp

Bên kia đại dương có ai nhắc tên mình?

***

Nhưng rồi chính Mr. Ty lại kéo tôi vượt những ngày buồn nản. Mr. Ty nhắn Huyền Danh
đến đón ba con đi chợ tết Phước Lộc Thọ. Ngôi chợ thuần Việt lớn nhất Little Saigon có
bãi đỗ xe rộng bằng sân vận động Hàng Đẫy mà đi ba bốn vòng cũng không thấy một
chỗ đỗ xe trống. Cả mặt trước mặt sau chợ đều đông nghịt người.

Người Việt khắp ngả rủ nhau đi sắm Tết, hẹn gặp nhau. Đủ loại hàng Tết khắp ba miền
Bắc Trung Nam. Đông nhất là những dãy hàng hoa phía trước, nơi có sân khấu lúc nào
cũng có diễn xướng và múa lân. Hoa đào, hoa mai, quất, cam, thủy tiên, phong lan, cúc
vàng, cúc trắng… như chợ Bến Thành.

Một cành đào có dáng dấp đào Nhật Tân, giá tới ngàn USD. Một chậu mai vàng giá tới
1.500 USD. Phía trong, khu ăn uống, ngập tràn hương vị ngày Tết. Đông nhất là những
quầy bánh mứt kẹo, túi quà mừng tuổi và đồ chơi con trẻ. Dường như nước Việt không
còn là kỷ niệm, là hồi ức, là xa cách trùng dương, mà hiện diện, mà thân thuộc, sống
động, phập phồng trong hơi thở người xa xứ.

Mr. Ty bảo: Hội Sinh viên Việt Nam tại California đang có một loạt chương trình đón Tết
Đinh Dậu. Các bạn con mời ba tham gia.

Nếu gọi là Hội Sinh viên ở một tiểu bang rộng lớn như California, nơi có đến hàng ngàn
sinh viên Việt Nam sang du học, mà chỉ có vài chục hội viên nòng cốt, thì quả là còn rất
khiêm tốn. Trong khóa học của Mr. Ty ở trường Đại học Ngoại Thương, có mười một
sinh viên, nhưng mới chỉ một mình Ty tham gia. Và nhờ đó, khóa tiếp theo, có thêm
bốn cô gái nữa. Có thể họ không có phương tiện đi lại. Có thể họ dành thời gian cho
học tập. Nhưng thực tế cho thấy rằng khả năng tập hợp của Hội chưa cao.

Trở lại những ngày vui áp Tết. Tôi khấp khởi đi với Mr. Ty hết cuộc này đến cuộc khác.
Hoạt động đầu tiên là đến nhà Diễn để gói quà do sinh viên Việt Nam du học tại Mỹ
quyên góp, tặng homeless và những gia đình khó khăn. Các bạn cùng các sư trụ trì
chùa Quán Thế Âm quyên góp được mấy trăm suất quà. Hai ngày tới, trước khi mang
quà đi tặng sẽ có thêm bánh chưng và mứt kẹo nữa. Nhà Diễn lại trở thành nơi hội ngộ
đầy ấn tượng. Ở đây tôi gặp các nghiên cứu sinh thạc sỹ, tiến sỹ, nhóm sinh viên khu
vực San Diego… Đặc biệt có cô bạn Anh Phương và ba bạn gái mới từ Đại học Ngoại
Thương sang.

Phương có vẻ mến Mr. Ty. Biết Ty gặp tai nạn, nàng đã chủ động rủ hai ba con đi chơi
công viên bảo tồn Cayon, chợ trời Swap Mitt, công viên Craig Regional để xả xui.

Vui nhất là buổi tối đón Tết sớm với Hội Thanh niên Việt Nam tại California tổ chức tại
khu ký túc trường Đại học Alliance ở San Diego (San DERA), một trường đại học mới
thành lập ở sâu trong rừng. Một hội trường ấm cúng chứa khoảng trăm người được bài
trí băng rôn, câu đối, cây nêu, hoa đào gợi nhớ quê Việt. Tôi thắc mắc, sao các bạn
sinh viên không treo cờ tổ quốc, không hát quốc ca? Ai đó ghé tai tôi: Đây là địa điểm
mượn của trường Đại học Alliance chứ không phải trụ sở của tòa lãnh sự Việt Nam. Ở
bang California có luật bất thành văn: Không treo cờ đỏ sao vàng. Thậm chí ở San
Jose, nơi tập trung người Việt đông nhất, vừa rồi hội đồng thành phố còn ra nghị quyết
cấm treo cờ đỏ sao vàng. Cờ vàng và cờ đỏ, cùng của người Việt, ở Việt Nam và ở
Hoa Kỳ, vẫn chưa có chỗ đứng chung.

Có mấy gia đình, cả bố mẹ, vợ con cùng đến. Cô bạn Huyền Danh của Mr. Ty đưa cả
mẹ và cậu ruột đến gói bánh chưng. Sau bữa buffet do các cô gái tự nấu với các món
ăn thuần Việt: nem Sài Gòn, gà xé phay, bánh cuốn, giò, chả, xôi, chè đỗ xanh…, mọi
người tự phân chia thành bốn đội để thi gói bánh chưng, thứ bánh đặc trưng cho Tết
dân tộc.

Đủ cả gạo nếp, đỗ xanh, thịt lợn… vật liệu cho ruột bánh, có cả khuôn gói, nhưng
không có lá dong, phải thay bằng lá chuối tươi và giấy bạc. Bốn đội thi nhau trổ tài. Lá

chuối tươi chỉ có thể gói giò. Gói gạo và đỗ, dù trong khuôn, vẫn rách tua ra. Ba đội kia,
nhất là đội của vợ chồng tiến sỹ Nguyễn Viết Tú – Thu Thủy, do có kinh nghiệm từ năm
trước, gói khuôn bằng giấy bạc rồi bọc lá chuối bên ngoài, vì thế bánh của họ vuông
vức như bánh Lang Liêu. Đội tôi, gồm Mr. Ty, nhóm Anh Phương, Huyền Danh…, gói
toàn bằng lá chuối. Loay hoay mãi, cũng đùm được mười hai chiếc, giành giải tư trong
bốn đội.

Tiếp đó là hái hoa dân chủ, đơn ca, đồng ca và múa sạp. Những chiếc gậy gỗ thay cho
tre, nhưng cũng phát ra những âm thanh vui nhộn. Xòn xòn xòn đô xòn. Xòn xòn xòn
đô rê… Các đôi cầm sạp, các cặp nhảy, ban đầu trục trặc, sau điêu luyện dần. Tất cả
hoạt động đầm ấm này đã được phóng viên thường trú Đài Truyền hình Việt Nam tại
Cali ghi hình để chuyển về phát sóng trên VTV vào đêm giao thừa.

Sau phần phát thưởng, đèn hội trường bỗng vụt tắt. Những ngọn nến được thắp lên.
Nguyễn Phú, trưởng ban tổ chức đêm hội bỗng nhắc đến tên tôi. Trời ơi, bất ngờ quá.
Hôm nay 21 tháng 1, một ngày sau khi Donald Trump lên ngôi tổng thống thứ 45 của
nước Mỹ, là ngày sinh của tôi. Hình như có ai đó đã nhớ ra, hoặc trang facebook đã
nhắc tới. Một chiếc bánh ga tô lớn có cắm nến đã chuẩn bị sẵn. Mọi người vây quanh
tôi, chúc mừng.

Mr. Ty cầm hai ly vang, đến bên, đưa một ly cho tôi: “Con chúc mừng sinh nhật ba”.

Tôi rưng rưng cảm động. Có ai ngờ tôi vừa bước sang tuổi 70 trên đất Mỹ.

***

Suốt đêm giao thừa Tết cổ truyền của người Việt, tôi lang thang dọc sông Santa Ana.
Đó là một buổi sáng se lạnh. Giờ này ở Hà Nội, Sài Gòn, Đà Nẵng… chuẩn bị bắn pháo
hoa, đón phút trừ tịch, thì bên này đang là chín giờ sáng ngày ba mươi Tết.

Tôi mường tượng, bốn chục năm qua, vào giờ này, hàng triệu người bên bờ đông Thái
Bình Dương này, đau đáu ngóng về cố hương.

Ôi từ không đến có / Xảy ra như thế nào? Câu thơ của Xuân Diệu gợi nhớ những ngày
di tản bi thương, những chuyến vượt biển năm ăn năm thua, sống thì con nuôi má, chết
thì con nuôi cá. Xa nữa, xa thăm thẳm mấy trăm năm, là những cuộc thiên di của người
Việt, từ châu thổ sông Hồng, sông Mã, sông Lam vượt sông Gianh vào sông Thạch
Hãn, sông Hương. Rồi từ những dòng sông ấy ùa tràn xuống Đồng Nai, Bến Nghé,
Vàm Cỏ, sông Tiền, sông Hậu, sông Đốc…

Đâu đây trong gió, hình như Thái Thanh đang hát nhạc Phạm Duy:

Tôi yêu tiếng nước tôi

Từ khi mới ra đời, người ơi

Mẹ hiền ru những câu xa vời

À à ơi tiếng ru muôn đời…

…Tấm áo nâu, những mẹ quê chỉ biết cần lao

Những trẻ quê bạn với đàn trâu, bé ơi

Tấm áo nâu, rướn mình đi từ cõi rừng sâu

Dắt dìu nhau vào đến Cà Mau, áo ơi…

Hơn bốn mươi năm trước, khó ai ngờ, người Việt lại dắt dìu nhau sang tới nước Mỹ
bên kia đại dương này. Lẽ ra nhạc sỹ Phạm Duy phải sáng tác thêm phần vĩ thanh
bản Tình ca Nước Việt. Phải có đoạn dắt dìu nhau sang đến Cali, Nước ơi…

Tôi ngồi lặng trên tảng đá bên bờ sông Santa Ana để nghĩ lại những phút giây gặp gỡ
mấy ngày áp Tết vừa qua với các nhà văn, nhà thơ xa xứ. Cảm động vô cùng, khi anh
Đinh Thái, thay mặt báo Người Việt tặng tôi túi quà Tết trong đó có chiếc bánh chưng
lạt đỏ lá dong, quả giò nạc, hai hộp xúp gà, xúp bò và tờ nhật báo Người Việt số Xuân
dày hơn hai trăm trang, một ấn phẩm thượng thặng. Rồi nhà thơ Phan Tấn Hải tặng tôi
ấn phẩm Việt Báo đặc biệt cũng kỳ khu và dày dặn như thế. Đến khi nhà văn Nhật Tiến
tặng tôi ấn phẩm Suối Việt do ông và bạn bè biên soạn đón Tết, thì tôi đã có trọn vẹn
bộ ba siêu phẩm văn hóa Xuân Đinh Dậu của người Việt ở Mỹ. Đấy chính là phi vật thể
của Tiếng Nước Tôi. Đó chính là Việt Nam hồn trên hành tinh này.

Vài chục năm nữa, hàng trăm năm nữa, những thế hệ F5, F6, thế hệ Fn của người
Việt, có thể chỉ biết nói tiếng Mỹ, có thể không nhớ nổi bản quán gốc gác, nhưng nhờ
những lao động âm thầm không mệt mỏi của những thế hệ cha anh đi trước mở đường
này, họ vẫn truy tìm được nguồn cội. Và chính những ấn phẩm Người Việt, Việt Báo,
Suối Việt mà tôi vừa được tặng, chính cả một hệ thống các nhà xuất bản, các báo viết,
báo hình, báo nói, báo điện tử, các hệ thống sản xuất thu băng, thu hình ở trung tâm
Little Saigon kia, sẽ giúp họ bảo lưu và phát triển chữ Việt, tiếng Việt, và cốt lõi hơn là
văn hóa, là gốc gác nguồn cội.

Sẽ đến lúc, tôi tin, phải có hình thức vinh danh những cộng đồng người Việt đi khai mở
trên khắp thế giới. Ví như cộng đồng người Việt ở Cộng hòa Séc, vì họ đã góp phần
làm cho nhà nước Séc công nhân cộng đồng người Việt là dân tộc thứ 11 của nước
Cộng hòa Séc, có chữ viết, ngôn ngữ riêng. Sẽ đến lúc Nước Việt phải vinh danh
những người khai mở ở bờ Tây nước Mỹ, tạo nên một cộng đồng người Việt, được gọi
là người Mỹ gốc Việt, là cộng đồng nhập cư mới nhất tại Hoa Kỳ, có tỷ lệ lai chủng tộc
thấp nhất trong nhóm người Mỹ gốc Á (năm 2000, có đến 1.009.627 người từ 5 tuổi trở
lên nói tiếng Việt tại nhà, làm cho tiếng Việt đứng thứ 7 trong những ngôn ngữ phổ
thông tại Hoa Kỳ).

Phải tới mười hai tiếng sau, trong căn nhà Mr. Ty thuê trọ, chúng tôi mới chính thức
đón giao thừa trên đất Mỹ. Bà Điệp chủ nhà đã chuẩn bị sẵn một bữa cỗ thịnh soạn và
một số rượu Remy Martin đủ cho sáu người. Chủ cuộc rượu là toàn thể cư dân trong
căn hộ, bao gồm bà Điệp, vợ chồng Mạnh, Họp thợ điện và cha con tôi (trừ Mr. Tôn, lão

già lập dị suốt ngày đóng cửa trong căn phòng của lão). Khách mời có ông bạn người
Sài Gòn xưa của bà chủ. Tôi và Mr. Ty mang chai rượu Lúa Mới cuối cùng, giò lụa của
báo Người Việt và bánh chưng trong cuộc thi hôm trước, góp vui. Mạnh, bà Điệp và
ông bạn sâu rượu đều uống đến mức thần sầu. Chúng tôi nói đủ thứ chuyện. Nhớ Sài
Gòn. Nhớ đất Bắc. Nhớ Tết xưa. Chúng tôi uống từ trước lúc bắn pháo hoa, cho tới khi
bên bàn tiệc chỉ còn người khách với chai Martin trống rỗng…

***

Ngày mồng 1 Tết, chúng tôi lên chùa Huệ Quang trên Little Sài Gòn thắp hương. Ngôi
chùa của người Việt tọa lạc trên một diện tích rộng bên đại lộ Bolsa, giống như chùa
Vĩnh Nghiêm – Sài Gòn, chùa Quán Sứ – Hà Nội. Người người chen vai thích cánh. Bãi
xe không còn một chỗ trống, phải vòng đỗ xe ở dãy phố phía xa.

Sau khi thắp hương cầu khấn, tôi nói với Mr. Ty:

-Con ạ. Có ai đó nói rằng: “Tôn giáo là thuốc phiện của con người”.

Ty bảo:

-Nhưng con cũng đọc được ai đó nói: “Nếu con người không có tôn giáo, sẽ rất dễ mất
tính Người”.

Tôi mừng thầm, Ty đã bắt đầu trưởng thành.

Theo lời mời của anh em Đào Đồng, Đào Tiền, chúng tôi đến nhà sách Tự Lực trên phố
Brookhurst để xem múa sư tử, dự lễ đốt pháo và ăn Tết. Trước khi sang Mỹ, tôi tra trên
mạng và được biết Tự Lực là trung tâm sách tiếng Việt không chỉ lớn nhất Cali mà cả
nước Mỹ. Chủ cửa hàng là vợ chồng Đào Đồng, gia đình gốc Hà Nội, di cư năm 1954,
mở nhà hàng sách tại Sài Gòn. Sang Mỹ, vợ chồng, anh em vẫn theo nghiệp cũ, mở
tiếp cửa hàng sách, đặt tên Tự Lực. Hầu hết sách báo của các nhà xuất bản, các trung
tâm văn hóa của người Việt hải ngoại đều có mặt trên các kệ hàng.

Từ ngày nối lại quan hệ Việt Mỹ, Đào Đồng thường về Sài Gòn, Hà Nội lùng mua sách
quý. Anh có ông chú họ là giáo sư nghỉ hưu ở Hà Nội, bèn nhờ ông đọc chọn sách
giúp. Rồi mở rộng mạng lưới, mời thêm mấy vị trí thức nữa cùng đọc chọn, mỗi tháng
gửi mỗi vị 100 USD. Sách có chọn lọc, chủ yếu là sách lịch sử, địa lý, khoa học, sách
văn học của các tác giả trước 1954, các tác phẩm có dư luận…, được mua từ các nhà
xuất bản, đóng thùng gửi sang Cali. Nhiều đại lý, của hàng bán lẻ trên toàn nước Mỹ,
rồi Canada, Úc… đều lấy sách của Tự Lực.

Có một dạo, nhà sách Tự Lực bị dân cờ vàng bủa vây dọa đốt. Ấy là thời kỳ mà chủ
tiệm Trần Văn Trường gần đó dám treo cờ đỏ sao vàng và ảnh cụ Hồ. Dân cờ vàng
bủa vây 53 ngày đêm, biểu tình phản đối và đòi chính quyền bắt giam Trần Văn
Trường, khiến cảnh sát phải can thiệp và ông Trường phải dẹp tiệm. Cũng thời gian
này, làn sóng bài Cộng lan đến nhà sách Tự Lực. Có người tố giác anh em Đào Đồng
truyền bá văn hóa cộng sản, nhập nhiều sách đỏ từ Việt Nam sang. Nhiều người kéo

đến đòi đốt sách. Hoảng quá, anh em nhà sách Tự Lực phải tìm cách tháo ngòi nổ, một
mặt nhờ các nhà văn, nhà báo uy tín thuyết phục đám đông, gặp chủ bút các báo xin
đừng viết bài, nhờ cảnh sát can thiệp… và cuối cùng phải làm một buổi đốt sách tượng
trưng, mang một số sách có hơi hướng thân Cộng ra “hóa vàng” giữa sân.

Bây giờ thì Tự Lực vững vàng và uy tín lắm rồi. Tất cả những người Việt thế hệ thứ
nhất thứ hai và lớp trẻ có ý thức cội nguồn đều tìm đến Tự Lực. Tầng tầng các giá sách
xếp theo loại thể, khoa học, lịch sử, địa lý, văn học, khảo cứu… Tiếng Việt, tất nhiên.
Tôi đọc thấy trên giá sách văn học các tên tuổi từ thời Lý, Trần, Lê; từ Thơ Mới, Tự lực
Văn đoàn. Và sách văn học Việt Nam đương đại, không phân biệt Nam, Bắc, khuynh
hướng chính trị, từ Tản Đà, Ngô Tất Tố, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, đến Nhất Linh,
Khái Hưng, Thạch Lam, Nguyễn Mộng Giác, Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Bùi Minh
Quốc, Võ Phiến, Vũ Bằng, Nguyễn Khải, Nhã Ca, Dương Thu Hương, Bảo Ninh,
Nguyên Sa, Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Bùi Tín, Bùi Ngọc
Tấn, Du Tử Lê, Nhật Tiến, Nhật Tuấn, Vũ Thư Hiên, Ma Văn Kháng, Nguyên Ngọc,
Phùng Quán, Nguyễn Xuân Khánh, Hoàng Quốc Hải… Kia rồi, Nguyên Khí của tôi,
cuốn tiểu thuyết lịch sử hiền lành mà số phận chìm nổi, nay đã được Người Việt ấn
hành.

-Năm nay dãy phố Brookhurst này làm ăn thuận hòa, anh ạ. Các nhà phở Thuận Kiều,
tiệm bánh, tiệm tạp hóa bên cạnh cùng làm ăn phát đạt. Tết Đinh Dậu này mọi nhà đều
đốt pháo. Tự Lực thua thầy một vạn, nhưng không thể kém bạn một ly. Đào Đồng đưa
tôi đi xem các quầy sách, khoe vậy và mời tôi ra sân đốt pháo. Sáu cối pháo, mỗi cối to
bằng chiếc mâm, 8.000 quả, giá 130 USD một cối đã được treo cao ngoài hiên, vòng
vèo như rắn lượn, kéo dài ra mãi khoảng sân để xe mênh mông phía trước.

Đồng loạt hai dây pháo cùng nổ. Mù trời khói và mùi diêm sinh. Tiếng nổ giòn căng.
Xác pháo nở hoa đỏ sắc xuân, xoáy trong khói. Cả dãy phố dài náo nức hò reo. Rồi
tiếng trống, tiếng chiêng. Màn múa sư tử ở khu sân cửa hàng tạp hóa bên cạnh rộn
ràng với các vũ nữ, các tay võ hiệp múa côn, múa đao rỡn cùng chúa sơn lâm.

Dường như nước Mỹ những ngày này là sân chơi của người Việt và người Hoa. Ở
nước người, nhưng văn hóa truyền thống của người Việt được thỏa sức diễn xướng,
tung hứng hết mình.

***

Tết Việt ở Mỹ sẽ chỉ là hồi quang, là dư âm quá khứ, là nỗi nhớ cố hương như những
gì tôi đã thấy, nếu tôi không được tham dự một lễ hội của tuổi trẻ Việt ở ngay thung
lũng sông Santa Anna. Cái lễ hội hoành tráng và kỳ vĩ mở cửa đã mấy ngày đêm
nhưng tối ấy vẫn thu hút cả biển người xe tràn về. Dường như tôi được thấy sức sống
của những rừng măng đại ngàn, được thẩm thấu năng lượng văn hóa và trí tuệ, đo
đếm được những dự báo tương lai tiềm ẩn của một cộng đồng trải qua muôn vàn khổ
ải bi thương đang trỗi dậy và không ngừng lớn mạnh, đi xa, vươn cao nữa trên mảnh
đất quê người. Ấy là Hội chợ Xuân Festival Sinh viên Việt Nam 2017.

Tọa lạc trong khu Hội chợ Triển lãm Anaheim rộng hàng hục hecta, có sức chứa hàng
vạn người, Festival Sinh viên Việt Nam mùa xuân này đã là mùa thứ 36. Đây là Festival
truyền thống của tuổi trẻ Việt Nam, do thế hệ người Việt di tản đầu tiên khởi xướng từ
xuân Tân Dậu 1981, với nhiều nội dung phong phú: Các trò chơi dân tộc (ném còn,
ném đĩa, ném chai, bắt vịt, đốt pháo, đu vòng, nhào lộn, đấu vật, kéo co…); các sản vật
truyền thống; các món ăn dân dã ba miền; các quầy hàng lưu niệm, giới thiệu sản
phẩm, thành tựu công nghệ, các seminar giao lưu văn hóa, nghệ thuật…

Chủ và khách không chỉ có tuổi trẻ Việt mà còn thu hút nhiều thanh niên sinh viên da
trắng, da màu, người châu Á, người Caribe và Mỹ Latin. Một festival đã trải qua ba con
giáp, đến Tết Con Gà này càng chứng tỏ một sức vóc cường tráng. Bãi xe mênh mông
lúc nào cũng đông nghịt xe đỗ, mỗi xe giá vé 8 USD, cửa vào hội chợ, trẻ con người
lớn, thanh niên nam nữ gốc Việt, người Mỹ, khách nước ngoài, xếp hàng rồng rắn, vé
vào cửa 6 USD. Người ta bảo, họ hàng, anh em, bạn bè người Việt cả năm không gặp
nhau, nhưng nếu đi Festival ở Anaheim thì thể nào cũng sẽ gặp. Và điều thú vị nữa là,
nơi đây không hề có sự phân biệt màu cờ sắc áo, không có cờ vàng và cờ đỏ, không
cách biệt giữa người từ Hà Nội vừa sang và người đi từ Sài Gòn sau 1975.

Dường như đã có hò hẹn trước, cả bộ sậu thanh niên sinh viên dự liên hoan đón tất
niên ở trường Đại học Aliance tối hôm nào đều có mặt đông đủ. Mr. Ty và các bạn trẻ
rủ nhau ném chai, ném đĩa, ăn thịt xiên nướng, bún bò, hát karaoke, đi rồng rắn từ gian
hàng này đến sân chơi kia.

Có một lúc tôi như kẻ dư thừa. Tuổi tác khiến tôi tự thấy mình lạc lõng. Tôi đi tha thẩn
và bỗng phát hiện một hội trường rộng mênh mông sáng trưng ánh đèn, rộn rã âm
thanh ca nhạc. Một hội trường mở của học sinh sinh viên người Việt toàn tiểu bang hay
của riêng quận Cam? Người vào, người ra tự do, nhưng các hàng ghế đều chật kín.
Không dưới ngàn khán giả. Và bên hai cánh gà sân khấu, từng tốp diễn viên với những
trang phục học sinh, sinh viên của các trường khác nhau đang đứng túc trực chờ đến
lượt lên sân khấu.

Qua lời giới thiệu tiếng Việt và tiếng Mỹ của hai MC, một nữ sinh phốp pháp nói tiếng
Anh hơn cả Mỹ nhưng nói tiếng Việt chưa thành thục và một chàng trai giọng chuẩn Sài
Gòn, tôi được biết hội diễn này quy tụ hàng trăm trường từ cấp mẫu giáo, tiểu học,
trung học và đại học tiểu bang, từ Berkeley, San Jose, Sacramento, Las Vegas, Los
Angeles phía Bắc, tới San Diego phía Nam và đông nhất là quận Cam, có tiết mục
tham gia.

Khó khăn lắm, tôi mới chọn được một chỗ ghế trống ở phía hông, nơi có hai panô tài
trợ của báo Người Việt và Việt Báo. Và tôi lập tức bị cuốn vào những tiết mục trên sân
khấu, vào những tràng vỗ tay, những tiếng hoan hô chốc chốc lại rộ lên của những
khán giả vô tư và tràn trề tình yêu nghệ thuật. Điêu luyện và đẳng cấp quá. Bài hát Việt
xen bài tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha. Những giọng hát vàng; những giàn
đồng ca lớp lang, hoành tráng; những tiểu phẩm độc đáo, những màn ảo thuật siêu
hạng. Lớp lớp, tầng tầng những gương mặt thế hệ thứ ba, thứ tư, thuần Việt và lai Việt
đang hát lên, tấu lên thăng hoa tình yêu cội nguồn. Không có hoặc không thấy một lời
thóa mạ, cạnh khóe chính trị. Không thấy áo rằn ri, mũ sắt, súng AK, sắc cờ bên này

bên kia trên sân khấu. Không có những màn hồi tưởng lê thê bất tận về quá khứ một
đất nước chia cắt, nồi da nấu thịt. Quá khứ thương đau hận thù đã bỏ lại phía sau. Chỉ
còn nước Việt, các thế hệ tương lai Việt nhớ về quê hương cội nguồn, hòa vào dòng
chảy nhân loại. Những lứa trẻ Việt trên sàn diễn chưa thể nói hết, nhưng đủ nói với tôi
về một lớp trẻ được cha mẹ, ông bà nuôi dạy tử tế, trong một cộng đồng người Việt tử
tế, gắn bó máu thịt với cội nguồn, dù tha hương nhưng không phải là những tha nhân,
vong bản.

Tôi bất ngờ cùng mọi người đứng dựng cả dậy vỗ tay vang rền khi một dàn vũ nữ áo tứ
thân, nón quai thao, đeo trống cơm ra sân khấu.

Tình bằng có cái trống cơm

Khen ai khéo vỗ, ấy mấy bông nên bông

Một bầy tang tình con sít

Lội sông, ấy mấy đi tìm

Em nhớ thương ai

Con mắt ấy mấy lim dim…

Đám cô cậu, người Việt và Mỹ ở mấy dãy ghế trên, sướng quá nhảy cả lên mà vỗ tay
reo hò tán thưởng.

Tôi không thể cầm nước mắt. Trên đất Mỹ mà tôi thấy mình như đang giữa những làng
Quan họ, thấy các đàn anh đàn chị sau buổi cấy cày lam lũ ngoài đồng, thoắt thay áo
xiêm dập dìu trẩy hội. Dàn diễn viên áo tứ thân nón thúng quai thao như những nàng
tiên lộng lẫy dưới ánh đèn. Họ sinh ra và lớn lên trên đất Mỹ, có thể họ chưa một lần trở
về cố hương, nhưng trong dòng máu, trong trái tim, vẫn thấm đẫm hồn cốt nước Việt.

6. BỜ ĐÔNG, TUYẾT TRẮNG

Trong tiểu thuyết Những mảnh Rồng mà tôi vừa kịp hoàn thành bản thảo trước khi sang
Mỹ, có một chương về nhân vật David Bùi, anh chàng con lai Mỹ – Việt. David Bùi đã
cùng các bạn từ quận Cam tìm đến bức tường đá đen Vietnam Veterans Memorial ở
Washington DC, nơi khắc chìm tên tuổi hơn 58.000 lính Mỹ chết trận và mất tích ở Việt
Nam, để tìm tung tích người cha sau khi có chiếc bật lửa zippo, kỷ vật vô giá thời lính
Mỹ viễn chinh.

Không thấy tên ngài trung úy Jemes Quinn trên bức tường đen. Vậy là, có thể cha
David Bùi vẫn còn sống, ở đâu đó. Và chàng ta lại hy vọng tiếp tục kiếm tìm… Tất
nhiên, ngoài chuyện đi tìm cha David, các nhân vật của tôi cũng từng sống ở New York,
Massachusetts, nói chung là vùng New England, khởi thủy của nước Mỹ sau này…
Cho nên, dù bọn đạo chích ở Cali đã rút cạn hầu bao cha con, nhiệm vụ tối hậu của tôi
vẫn phải bay sang miền Đông nước Mỹ, dù chỉ cưỡi ngựa xem hoa, nhưng vẫn phải

được hít thở cái giá lạnh của những cơn bão tuyết, phải thu vào tầm mắt những tòa nhà
chọc trời New York, phải đích mục sở thị chứng kiến cái thảm cảnh của tư bản giãy
chết (!), trước khi về nhuận sắc lại Những mảnh Rồng.

Thấy ba con tôi chuẩn bị rong chơi bờ Đông nước Mỹ, bà Điệp và cư dân trong nhà tỏ
vẻ kính nể. Nhiều người từ Sài Gòn sang quận Cam đã vài chục năm, nhưng chưa dám
nghĩ tới chuyện bay từ Tây sang Đông. Tiền bạc đã đành. Những người nhiều tiền thì
lên trời cũng được. Nhưng loại công chức, hoặc mới “mất sổ gạo”, ăn đâu, ở đâu, ai
đưa đón, hướng dẫn, giữa New York gạo châu củi quế và rậm rạp như rừng?

Một ngày đẹp trời, mồng 5 Tết âm lịch, tôi và Mr. Ty đáp máy bay của hãng American
nội địa từ sân bay Long Beach, transit qua Phoenix, bang Arizona, lên Washington DC
rồi hạ cánh ở sân bay Boston. Hơn sáu ngàn cây số mà giá mỗi vé khứ hồi chỉ 300
USD, rẻ bất ngờ.

Qua mỗi ngày, những mối nghi ngờ, thiếu tin tưởng ở “thằng bé” lại ít dần đi. 10 giờ
đêm, khi transit ở sân bay Phoenix, chiếc va ly da bò của chúng tôi bị thất lạc. Không
tìm kịp, rất có thể sẽ lỡ chuyến đến sân bay Washington Reagan. Mr. Ty tỏ ra bình tĩnh.
Với vốn tiếng Mỹ thành thạo, cậu hỏi phòng thông tin, tìm đến phòng thất lạc hành lý.
Gần một giờ sau, chúng tôi đã tìm thấy đồ và ung dung vào phòng chờ, bay tiếp. Tảng
sáng đã đến sân bay Washington Reagan. Từ phòng chờ để chuyển tiếp về Boston, đã
nhìn thấy tòa Bạch Ốc với đỉnh vòm sáng trắng, và cạnh đó, hẳn là quảng trường Quốc
gia, nơi có bức tường đá đen Vietnam Veterans Memorial?

Buổi sáng đầu tiên ở sân bay Boston, gió thổi như bão, lạnh bốn độ C. Ra khỏi nhà ga,
muốn cuốn theo chiều gió. Đã thế, lại mặc phong phanh, áo ấm dưới đáy va ly, khó lấy.
Đang loay hoay chưa biết tính sao thì một chiếc taxi đã đỗ xịch trước mặt. Thì ra, Mr.
Ty đã gọi Uber từ lúc nào. Lái xe là thổ dân Boston, chỉ mười lăm phút sau xe đã đến
khu phố cổ Cambridge.

Khác hẳn California, vùng đất mới phía Tây rộng dài, phóng túng. Boston cổ kính và
tráng lệ như những thành phố châu Âu. Những đường phố hẹp leo dốc, những ngõ nhỏ
ngỡ ngàng, những nhà thờ mái nhọn gợi nhớ Montreal của Canada mà tôi đã ghé qua.
Người ta bảo Boston là bảo tàng thu nhỏ của nước Mỹ, có lẽ vì sự cổ kính và mang
nhiều dấu ấn cựu lục địa của nó.

Đón chúng tôi trước cửa ngôi nhà hai tầng lầu, có ống khói theo kiểu xứ Scotland, là
một chàng trai cao lênh khênh tới một mét tám, có gương mặt đẹp như thánh Antoan
với đôi mắt hiền, mi cong như con gái. Đó là Nguyễn Phúc Bảo Hưng, có tên gọi thân
mật là Nhi, người bạn mà Mr. Ty đã quen trong giới học sinh sinh viên. Tuổi trẻ có
những tình bạn kỳ lạ. Chỉ mới quen nhau qua mạng, hay qua một cuộc gặp gỡ, đã thân
thiết như cố tri. Hưng thuộc dòng Phước tộc nhà Nguyễn, đang học lớp năm ở Hà Nội
thì theo mẹ và chị sang Boston. Bây giờ cậu nói tiếng Mỹ giỏi hơn tiếng Việt, đang học
nốt kỳ cuối cùng phổ thông để chuyển tiếp Đại học Massachusetts.

Tôi sẽ còn ngỡ ngàng hơn nữa, khi bỗng thấy trái đất tròn xoe. Mẹ của Hưng, chẳng
phải ai xa lạ, chính là cô giáo Nguyễn Minh Phương, người có thời được dự định sẽ

mời về phụ trách Ban Đối ngoại Hội Nhà văn Việt Nam, nơi tôi từng công tác. Phương
từng học đại học ở Nga, về giảng dạy và công tác ở Đại học Bách Khoa Hà Nội, đi làm
thạc sỹ tại Úc, rồi sang Mỹ. Thông thạo tiếng Nga và tiếng Anh, sành điệu âm nhạc và
am hiểu văn hóa, giáo dục Hoa Kỳ, từng dịch phim cho đạo diễn Đặng Nhật Minh khi
ông mang phim Đừng đốt qua Mỹ, dịch các buổi seminar cho nhiều đoàn nhà văn Việt
Nam sang trao đổi học thuật tại Trung tâm William Joiner. Trong nhiều hoạt động,
Phương luôn đóng vai trò đại sứ văn hóa kiêm hướng dẫn viên du lịch.

Biết tôi sang với Mr. Ty, nhà thơ Trần Nhương bảo: “Sang Boston mà chưa gặp
Nguyễn Minh Phương thì coi như chưa đến Mỹ”. Số tôi may, cứ đi tận cùng thế giới lại
gặp một người tốt. Phương về Hà Nội ăn tết vừa sang ba ngày. Nàng đang giảng dạy
môn tiếng Việt tại Đại học Massachusetts, Boston và gấp rút hoàn tất luận văn tiến sỹ
về sự giao thoa văn hóa Việt Nam – Hoa Kỳ.

Vẫn còn dư âm Tết. Ngay buổi chiều đầu tiên tới Boston, hai cha con đã được tham dự
buổi gặp đầu năm truyền thống của sinh viên Việt Nam theo học khóa tiếng Việt. Ở
Massachusets có nhiều khoa dạy tiếng nước ngoài (Nga, Đức, Ý, Nhật, Hoa, Hàn,
Philippines…), trong đó có tiếng Việt. Đã được chuẩn bị sẵn, mười bốn học trò của cô
giáo Phương, những Tom Nguyễn, Elena Bùi, David Tran Le, Jeny Hoàng …, mỗi em
mang một món quà tết do tự tay làm hoặc cùng với gia đình làm, đến góp vui. Bánh
chưng, nem Sài Gòn, xôi xéo, giò lụa, chè lam… Có một cô gái người Hoa, một cô gái
người Nhật cũng theo học tiếng Việt. Và quà của hai cô lại là những món ăn thuần Việt
độc đáo. Cô giáo Minh Phương, đã chuẩn bị cả một thùng nem rán và nước chấm tuyệt
hảo đến đãi học trò.

Buổi gặp mặt đầu năm rất sinh động và ấn tượng. Vừa ăn Tết, mỗi sinh viên, bằng
ngôn ngữ Việt, trình bày suy nghĩ của mình về gia đình, ông bà, tổ tiên, về phong tục
tập quán, những món ăn truyền thống của người Việt. Minh Phương giới thiệu những
tác phẩm của tôi, trong đó cuốn sách quan trọng sẽ xuất bản: Những mảnh Rồng được
cô giáo viết lên bảng và hy vọng các em sẽ có đủ trình độ để đọc nguyên bản tiếng
Việt.

Liên tiếp có các buổi ăn Tết lu bù và khép lại là buổi “hóa vàng” tiễn ông công ông táo
về Trời, với các bạn đồng nghiệp, đồng hương của Minh Phương ở Boston. Nhà thơ
Nguyễn Bá Chung, tiến sỹ Ngô Như Bình và hai người đẹp Mai Hương, Quế Anh vừa
hoàn thành chương trình master cùng đại đầu bếp Trần Khương, người láng giềng
cùng ở với ba con tôi trong căn gác áp mái, trổ tài làm các món ẩm thực Việt. Rượu
vang Mỹ và Chivas Regal 18, rượu Lúa Mới, Hà Nội. Giò, bánh chưng, nem rán. Rồi
guitar và dân ca Quan họ. Vui nổ trời suốt đêm.

Như đã hẹn với nhà thơ Nguyễn Bá Chung, Phương đưa chúng tôi đến Trung tâm
William Joiner, một tổ chức văn hóa thân cộng do các nhà văn nhà thơ cựu chiến binh
Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam thành lập từ ba mươi năm trước, do trường Đại học
Massachusetts bảo trợ. Rất nhiều nhà văn nhà thơ Việt Nam đã đến thăm và trao đổi
văn hóa ở trung tâm này. Tại tầng tám của toà nhà lớn, tôi đã được nhà thơ Michael
Sullivan nồng nhiệt đón tiếp, đưa đi thăm các phòng trưng bày la liệt tranh của Nguyễn
Quang Thiều và các họa sĩ, điêu khắc gia Việt Nam, tầng tầng trên giá sách những tên

tuổi nhà văn Việt Nam, từ Lê Lựu, Ngụy Ngữ, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khải, Nguyên
Ngọc… đến các nhà văn nhà thơ trẻ sau này.

Tôi rất đỗi ngạc nhiên, khi bỗng gặp một người cao to có gương mặt như một tài tử
điện ảnh từ trong phòng giám đốc đi ra, chìa tay cho chúng tôi và nói tiếng Việt thật lưu
loát: “Chào các bạn. Tôi rất hân hạnh được các bạn đến thăm. Tôi đã từng sống và làm
việc ở Hà Nội sáu năm…”. Ô, thì ra là tân giám đốc của Trung tâm William Joiner, ngài
tiến sỹ Thomas T. Kane, người vừa có quyết định thay cựu giám đốc – nhà thơ Kevin
Bowen đến tuổi nghỉ hưu.

***

Sẽ là những câu chuyện thừa khi lại viết về những cuộc đến thăm Đại học Harvard,
Viện Công nghệ Masachusetts, Đại học Masachusetts Boston…, những trung tâm giáo
dục đại học hàng đầu của nước Mỹ và thế giới, mà quá nhiều du khách đã ghi lại.
Nhưng vẫn phải dành hai chữ tuyệt vời để nói về những cuộc viếng thăm này.

Ở Harvard (trường đại học tư gần 400 năm, có tuổi đời xấp xỉ tuổi vùng New England
này, có số giảng viên, sinh viên đoạt giải Nobel kỷ lục 150 người, góp cho nước Mỹ 8
cựu sinh viên làm tổng thống và 62 tỷ phú hiện tại của Hoa Kỳ), là một ngày mưa ẩm
ướt với những tòa nhà cổ kính mái nhọn màu gạch non ôm lấy bức tượng John
Harvard, người bỏ tiền sáng lập trường, trong thế ngồi an nhiên tự tại như một hoàng
đế trong vương quốc của mình.

Tất cả như đang bước ra từ thế kỷ XVII; với quảng trường mênh mông và khu ẩm thực
ẩn giấu dưới lòng đất lúc nào cũng huyền ảo trong tiếng nhạc, trong ánh đèn vàng, suốt
ngày đêm tỏa ra hương vị cồn cào và quyến rũ của thứ ẩm thực đặc trưng sinh viên
khó cưỡng…

Ở MIT (Viện Công nghệ Massachusetts) là chuỗi liên hoàn những tòa nhà phức hợp
khoa học công nghệ, giáo dục. Khác hẳn với Caltech, một cao thủ ở phía Tây, MIT
vắng sự thâm trầm uyên thâm, nhưng lại năng động bứt phá hết mình trong cuộc phát
triển vũ bão của cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4.

Còn Đại học Massachusetts Boston với tòa nhà kính khổng lồ đang gấp rút hoàn thành,
với những sảnh đường mênh mông hướng ra sông Charles và vịnh biển, lại có một vẻ
hấp dẫn riêng biệt. Sẽ chẳng thể nào quên những phút được ngồi bên ly cà phê bốc
khói trong sân khuôn viên giữa hai tòa cao ốc, tựa như đang lọt giữa một khe núi hun
hút, tựa như ếch đang ngồi đáy giếng, và bỗng nhận ra tít trên ao, như giữa từng trời,
một gương mặt sáng hồng, một nụ cười tỏa nắng của ai đó đang như bay xuống chỗ ta
ngồi…

Tôi nói với Mr. Ty: “Dù chỉ ‘cưỡi ngựa xem hoa’, nhưng con đã đích mục sở thị những
trường đại học hàng đầu nước Mỹ, từ Berkeley, Caltech, Harvard,
Massachusetts…Được vào đây học là một thử thách lớn. Nhưng đi lướt qua không có
nghĩa là không học được gì. Trường đời nước Mỹ sẽ cho con biết bao điều mà thế hệ
ba không may mắn có được…”.

Và riêng tôi vẫn còn rất may mắn khi mỗi ngày ở Boston lại được biết thêm những
khoảng trời mới. Nhi và Miss Phương quả là hai thổ công và hướng dẫn viên quá nhiệt
tình. “Đi với em, anh hoặc Ty sẽ không mất tiền vé tàu điện ngầm và xe bus” – Phương
cho tôi xem chiếc card miễn phí dành cho người khiếm thị đặc biệt. Người có
chiếc card này có quyền bao thêm một người nữa (với tư cách người bảo vệ) – đi bất
cứ tuyến tàu xe nào.

Tưởng chuyện khôi hài, rằng nàng cố tình bịa ra để trêu tôi, vì từ lúc gặp nàng, tôi vẫn
nghĩ rằng đôi mắt huyền sau cặp kính kia lúc nào cũng có thể làm nghiêng ngả khối
chàng khả kính ở Boston này. Nhưng sau rồi tôi hiểu. Đã có thời gian Phương tưởng
không còn nhìn thấy ánh sáng mặt trời. Bị căn bệnh thoái hóa điểm vàng, Phương hoàn
toàn suy sụp. Cả thế giới như bức màn đen bao phủ. Phương phải chống gậy dò dẫm
lên tàu điện ngầm, lên xe bus từ nhà đến trường, đến bệnh viện…

Nước Mỹ tưởng như không cưu mang nổi ba mẹ con. Nhưng rồi chỉ có nền y học đỉnh
cao và chế độ siêu việt với người khiếm thị của nước Mỹ mới cứu nổi đôi mắt ấy. Và từ
trong bóng đêm, Phương lại lần ra ánh sáng…

Có một vé miễn phí, hai vé tháng, bộ tứ chúng tôi thỏa sức lang thang trong thành phố,
chui xuống từng ngõ ngách tàu điện ngầm, tha thẩn trong những nhà ga mênh mông
với những tổ hợp bách hóa, hiệu sách, nhà hàng, thời trang sâu hút dưới lòng đất.

Có những buổi sáng nắng trong vắt, mẹ con Phương dẫn chúng tôi dạo chơi trên
quảng trường lớn thành phố, đến Omni Parker House, nơi chàng thanh niên Nguyễn
Tất Thành từng có những ngày làm đầu bếp trong thời kỳ bôn ba tìm đường cách
mạng.

Phương khoe đã từng đi tìm và phỏng vấn những nhân chứng cuối cùng trong biệt đội
tình báo Con Nai đã nhảy dù xuống Việt Bắc và được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh năm
1945.

Lẽ ra ở Omni Parker House phải có một phòng trưng bày trọng thể về vị lãnh tụ của
nước Việt cộng sản từng đánh thắng đế quốc Mỹ. Tiếc rằng, chỉ có hai tấm ảnh đặt ở vị
trí khiêm tốn dưới cầu thang tầng hầm và vài dòng chú thích sơ sài.

Cũng từ quảng trường trung tâm, chúng tôi đi theo những đường gạch đỏ nối từng sự
kiện lịch sử, từng trận đánh oai hùng thời cách mạng giành độc lập, thời khai mở để
thiết lập một New England, cốt lõi của nước Mỹ sau này. Boston mới gần 400 năm, kém
Thăng Long 600 tuổi, nhưng hầu như mọi dấu tích khởi đầu cho đến cả chặng đường
dằng dặc tiếp sau vẫn còn được lưu giữ nguyên vẹn.

Chúng tôi đã đến những nghĩa địa lọt giữa khu phố cổ, dưới bóng những cây sồi, cây
phong vài trăm tuổi, ở đó còn nguyên sơ những mộ đá, những cây thập tự còng gục bởi
thời gian, những tấm bia khắc loại chữ La tinh, chữ Anh từ thời Thomas Jefferson soạn
thảo Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ, những khu mộ của những dòng họ đã có công
lao chiến đấu cho nền độc lập ngay từ buổi đầu đặt chân tới mảnh đất này: John
Winthrop, Roger Williams, Benjamin Fraklin, John Adams… Và kia, hình ảnh George

Washington hiên ngang trên lưng ngựa đẹp như một biểu tượng vĩnh hằng của nước
Mỹ.

Khiêm tốn hơn, cạnh nhà tòa nhà thị chính là bức tượng tướng Hoocker, mà chỉ những
người am hiểu sâu sắc lịch sử thành phố, lịch sử nước Mỹ như Miss Phương mới biết
vị tướng lắm tài nhiều tật này đi trận bao giờ cũng mang theo một đoàn gái bao, và ông
có biệt danh là tướng Gái điếm!

Và kia, đang diễu qua chúng tôi là nước Mỹ thời hiện đại. Một đoàn biểu tình đủ người
da đen, da trắng, da vàng, xếp hàng hai, hàng ba với cờ, băng rôn, biểu ngữ đầy màu
sắc, vừa đi vừa đánh trống và hô khẩu hiệu phản đối tổng thống Donald Trump. Hơn
chục police quần áo xanh phản quang cưỡi xe đạp lẽo đẽo theo sau canh chừng những
người quá khích hoặc có xung đột, ẩu đả.

Trông người chạnh nghĩ đến ta. Ở Hà Nội, Sài Gòn, bao giờ người dân mới được là
chính mình thế kia?

***

Xe bus đi New York khởi hành từ Boston lúc 7 giờ. Trời trong xanh và lạnh buốt. Suốt
đêm qua, tôi để nguyên quần dài áo len, nằm ôm lấy con trai, lại đắp thêm hai chiếc
chăn dày và ấm, nhưng vẫn thao thức khó ngủ. Thời gian ở miền Đông chỉ còn một
tuần, vì vé máy bay khứ hồi đã mua. Bay về Garden Grove, tôi chỉ có ba ngày chuẩn bị
cho kịp chuyến mã hồi về Hà Nội. Chuyến lên kinh đô nước Mỹ này, mặc dù Phương
đã gửi đến nhà một người bạn gái rất thân, có chồng làm ở Đại sứ quán. Nhưng đất lạ
người lạ, biết thế nào…

Tôi lên kế hoạch chi tiết với Mr. Ty: Ba ngày chơi New York, sau đó đi Washington DC
hai ngày rồi trở về Boston để ra máy bay ngược về California. Không phải là cưỡi ngựa
xem hoa, mà là cưỡi ô tô và máy bay xem hoa. Thời gian không cho phép cha con la
cà.

Chạy một mạch hơn 300 cây số trên đường cao tốc, qua bạt ngàn những cánh rừng
còn đọng tuyết trắng xóa, những thành phố, sông hồ cảnh đẹp như tranh, chừng hơn
10 giờ, xe đã vào trung tâm thành phố. Tôi vốn không thích những đô thị quá náo nhiệt,
quá chật chội, nên khi xe rời con đường ven bìa rừng để chạy sóng đôi với sông
Hudson, tôi thấy ngỡ ngàng.

New York đây ư? Con đường cặp một bên sông, song song những đường sắt với
những kho bãi ngổn ngang, cây cối xám xịt xác xơ, rồi chiếc cầu sắt qua sông dẫn vào
khu trung tâm san sát nhà chọc trời. Chiếc xe bus màu xanh hai tầng đi chậm chạp qua
những ngã tư đèn đỏ. Ngồi trên hàng ghế đầu ở tầng hai, bên cô bạn nặng chừng hơn
tạ, ngủ vật vờ, hở hết cả mảng lườn trắng mỡ, có cảm giác ngộp thở. Đúng là một
thành phố ngộp thở.

Ngang dọc bàn cờ những đường phố hun hút chạy dưới những dãy nhà mấy chục
tầng. Xe con đậu hai bên ken nhau, chỉ chừa một đường lưu thông ở giữa. Những dòng

người, rất đông người da màu, nối đuôi nhau tấp nập, Các cửa hàng, quán ăn, văn
phòng, còn chật chội hơn cả khu phố của người Tàu. Đó là khu Manhattan, Wall Street,
quảng trường Thời Đại… mà tôi từng nghe nói đến.

Chúng tôi xuống xe ở nút giao đường 18. Mr. Ty mở iPhone, sững người, đưa cho tôi
đọc. “Ba ơi, bão tuyết lớn sáng mai sẽ kéo về. Từ ngày mai tuyến xe bus Boston – New
York sẽ ngừng chạy cho đến khi nào có thông báo mới”. Trời! Tôi muốn kêu lên. Vậy thì
phải quay về gấp con ạ. Nếu kẹt bão tuyết, ba con mình sẽ bị giam tại đây, lỡ chuyến
bay về Cali.

Tôi bảo Ty: Con hỏi xem chuyến xe cuối cùng về Boston tối nay lúc mấy giờ? Tám giờ
phải không? Vậy thì chúng ta có 10 tiếng ở chơi New York. Sẽ điện cho bạn cô
Phương, xin lỗi phải về gấp, không đến được. Mình sẽ lướt qua thành phố và chỉ ưu
tiên đến thăm Nữ thần Tự do, con ạ.

Như kẻ chạy loạn, hai cha con tìm đến nhà hàng Nhật Bản gần đó để ăn trưa rồi gấp
rút tìm đường xuống tàu điện ngầm ra cửa sông. Cửa hàng Nhật Bản mờ ảo ánh đèn,
âm u hơi khói và sâu hun hút. Các cô cậu tiếp viên vận đồ đen thắt nơ nâu bưng bê
như biểu diễn xiếc. Khách phải xếp hàng từng tốp, chờ mỏi chân chưa đến lượt. Tô mì
thịt bò, thịt gà 12 USD, kém xa một bát phở Việt giá 30k, trở thành món ăn tra tấn.

Mr. Ty như một Tour guide mẫn cán. Có một tuyến du lịch dọc sông Hudson, tour Best
of NYC Cruise gía 41 USD/người cho hai tiếng rưỡi lênh đênh trên dòng Hudson, đi
xuyên qua Manhattan, trung tâm chứng khoán Wall Street, cập đảo Ellis ngay dưới
chân tượng Nữ thần Tự do. Nhưng để đến điểm mua vé tour du lịch, không đủ thời
gian. Mr. Ty nhanh trí tìm kiếm trên bản đồ vệ tinh tuyến xe điện ngầm đông nam.

Nếu như mỗi nhà ga xe điện ngầm ở Moskva là một cung điện nguy nga tráng lệ dưới
lòng đất với những bức phù điêu, những hoa văn dát vàng, những nhóm tượng kỳ khu,
thì tàu điện ngầm New York chỉ thuần túy là những đường hầm chờ người. Đủ mọi loại
người tuồn xuống rồi lại cuồn cuộn trồi lên.

Khi tàu đến ga cuối, đã thấy biển báo đại lộ số 5. Kia rồi, phía trước, sau những khe
phố, đã thấy một khoảng nước mênh mông của vịnh Hudson. Rất may, ở chỗ đường
chắn tàu vào cảng, chúng tôi thấy những tốp người đứng túm tụm bên lề đường. Rồi
một tốp thanh niên da màu, cả nam và nữ, mũ len, mũ mỏ vịt, túi xách ba lô như đi
picnic đến gần chìa ra những tấm vé và thì thào điều gì đó.

Bán tour chui đó ba ơi, Mr. Ty nói với tôi sau khi đến gần một gã trai bụi bặm, hỏi nhỏ
điều gì. Từ đây ra bến tàu du lịch còn mấy chặng nữa, đi taxi cũng mất cả trăm USD.
Nếu đi chui với bọn này, mất 40 USD một người, đi không ba? Tôi nhìn đồng hồ. Thấy
rất nhiều khách Âu, Á cũng mua vé chui và tự nguyện đứng vào hàng để chờ xe đến
đón, tôi bèn quyết định: Đi thôi con ạ. Chúng ta không còn nhiều thời gian.

Chờ chừng nửa tiếng, ba con tôi cũng được xếp lên một xe mười sáu chỗ, chạy một
mạch ra bến cảng. Một tàu du lịch hạng xoàng, hai tầng đang chờ sẵn. Không biết
chúng tôi là khách chuyến thứ bao nhiêu trong ngày. Tất cả tràn lên boong. Ai cũng

muốn chọn hàng ghế, hoặc phía lan can hướng về đảo Liberty và tranh thủ chụp ảnh tự
sướng, hoặc chĩa máy ảnh, iPhone về phía những tòa nhà chọc trời phía Manhattan.
Kia rồi, ba chiếc cầu vắt qua cửa biển mà tôi đoán là cầu Brooklyn, Manhattan và
George Washington, những tuyệt mỹ về kiến trúc đã lọt vào ống kính triệu triệu du
khách.

Tàu hướng về tượng thần Tự Do. Ban đầu chỉ thấy một điểm đen trên mặt sóng. Chỉ
mấy phút sau đã thấy rõ vành vương miện và ngọn đuốc giương cao. Sóng lớn, boong
tàu chao đảo, người lại chen nhau dồn về một phía, rất khó chụp được những kiểu ảnh
như ý. Lẽ ra, có thời gian, đi theo tour Best of NYC Cruise, chúng tôi sẽ lên đảo, đứng
trước quảng trường để chọn những góc đẹp nhất thu vào ống kính. Theo tuyến du lịch
này, tàu chúng tôi chỉ được chạy chậm và dừng neo phía trước đảo chừng chục phút
cho du khách chụp ảnh.

Tôi mở Samsung, đọc lại những dòng tư liệu: Tượng Nữ thần Tự Do Mỹ cao 46 mét,
nếu tính cả chân đế là 96 mét, do nhân dân Pháp tặng nước Mỹ, được dựng trên đảo
Liberty, cảng New York. Đây là công trình do kiến trức sư người Pháp Frederic
Bartholdi thiết kế năm 1886. Cũng thời gian này, một phiên bản nhỏ Nữ thần Tự Do,
còn có tên gọi là Bà Đầm xòe, cao 2,85met, do nhân dân Pháp tặng Việt Nam, được
dựng tại đỉnh Tháp Rùa hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945,
Bà Đầm xòe bị giật đổ, chuyển tới vườn hoa Cửa Nam, một thời gian sau lại bị chuyển
đi, rồi bị nung chảy, để làm vật liệu đúc vũ khí và đúc tượng.

Tiếc mãi một báu vật, phiên bản Thần Tự Do duy nhất mà nước Pháp đã dành tặng cho
Hà Nội.

… Số phận nữ thần Tự Do New York thật may

Nếu nước Pháp lầm lẫn đem nàng tặng nước Việt

Nàng sẽ bị nung chảy

Trong cuộc cách mạng long trời lở đất

Mà chúng tôi đang tiếp nối từng ngày…

Đó là những câu thơ vụt hiện trong đầu trên chuyến xe bus chạy bão tuyết từ New York
về Boston ngay trong đêm ấy.

***

Tiếc không thể đến Washington DC. Nhưng rất may không bị tuyết giam ở New York.

Ngay nửa đêm hôm ấy, khi ba con tôi vừa từ bến xe bus về nhà thì bão tuyết bắt đầu
quần hú trên bầu trời Boston. Sáng ra, hàng triệu bông hoa tuyết bay đầy trời. Cửa kính
phủ trắng tuyết. Những mái nhà trắng tuyết. Tuyết ngập trắng đường, dày đến nửa mét.
Hình như tuyết sẽ còn rơi vài ba ngày nữa.

Tôi là kẻ ham xê dịch và ưa khám phá. Mấy lần du hí xứ tuyết (Trung Quốc, Mông Cổ,
Nga, châu Âu, Canada, Hàn Quốc…) đều vào mùa hè, nên tôi vẫn háo hức một lần
thấy tuyết.

Tháng trước, từ Los Angeles lên San Jose, khi xe qua vùng núi đá tuyết phủ, tôi chỉ
muốn xe dừng để ào xuống bốc lên những vốc tuyết bên taluy đường. Ba tuần trước
khi đi cáp treo lên Palm Spring, chỉ gặp tuyết đóng băng trên thảm rừng. Mấy ngày
trước, khi chơi ở quảng trường trung tâm Boston, cả tôi, Mr. Ty và Nhi đều thích thú dò
dẫm đi trên mặt nước đóng băng ra gần đảo nhỏ giữa hồ. Đó là những lần hậu tuyết,
tuyết quá khứ. Còn bây giờ mới là mưa tuyết, bão tuyết, tuyết đang rơi. Tôi tung chăn,
cù vào cổ Mr. Ty: “Ba con mình đi chơi tuyết đi. Con nhìn tuyết rơi kìa, đi ra đường lúc
này mới thú”. Mr. Ty co người lại, lấy chăn trùm kín đầu. Tôi biết khó lòng lay chuyển Ty
ra khỏi giường, ít nhất là cho đến trưa.

Thật may, hôm nay có lịch khám mắt của Hưng. Thế là tôi được đi theo đến bệnh viện
nhi Boston, một bệnh viện có chuyên khoa về mắt hàng đầu của Hoa Kỳ.

Rất có thể bị rụng tai, rơi ngón tay, nếu anh không có mũ len trùm đầu và găng tay ấm.
Lời cảnh báo của Phương không hề là lời dọa dẫm suông. Cả thành phố như phủ một
tấm chăn bông trắng toát. Hàng cây đen đúa mọi ngày giờ như dát bạc. Những chiếc
xe dọc hai bên đường không còn nhận ra hình thù, chỉ gồ lên một đống trắng. Chúng tôi
đi tắt qua khách sạn Marriot ra ga tàu điện ngầm Kendo để đến bệnh viện.

Bão tuyết vẫn vần vũ, thổi bay người. Tuyết rơi mù trời, hất từng chùm vào mặt. Không
một chiếc xe nào chuyển động trên đường. Những công nhân dọn tuyết lầm lũi điều
khiển xe gạt tuyết, mở những con đường cho người đi bộ. Nhiều người đội tuyết đang
cố dùng xẻng dọn một lối đi trước cửa nhà.

Dường như cả thành phố đang đông cứng lại, sống chậm lại. Học sinh, sinh viên các
trường được nghỉ học. Nhiều cơ quan, cửa hàng cũng được phép đi làm muộn, hoặc
nghỉ một số giờ. Riêng các tuyến tàu điện bỗng đông đúc gấp bội. Người ta thi nhau
chui xuống lòng đất.

Từ nhà ga, đi bộ vài phút đã đến viện nhi Boston. Một bệnh viện tuyệt vời, sạch và tiện
nghi đến mức giữa bão tuyết mịt mù ngoài trời mà tôi cảm tưởng mình đang ở trong
khu resort ấm áp năm sao.

Nhi khám mắt xong, đã 11 giờ. Phương bảo: Trưa nay chúng ta sẽ ăn
bánh hambuger ở nhà ăn bệnh viện, để thấy chất lượng sống ở đây thế nào.

Đi qua dãy hành lang sáng trắng, nhiều tranh tượng, xuống tầng hầm. Tấp nập bệnh
nhân, người nhà bệnh nhân và y bác sĩ. Như một restaurant cao cấp, mọi người xếp
hàng, chọn món rồi tự mang ra bàn ăn. Một xuất trưa 10 USD, kèm nước uống và hoa
quả tự chọn. Nói là ăn tiệc thì quá. Nhưng đây là lần đầu tiên tôi ăn trong bệnh viện mà
thấy ngon và yên tâm vô cùng.


Click to View FlipBook Version