The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.

Vinh Quang của Sự Phi Lý
The Triumph of the Absurd
Uwe Simon-Netto

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2023-01-27 13:51:59

Vinh Quang của Sự Phi Lý Uwe Simon-Netto

Vinh Quang của Sự Phi Lý
The Triumph of the Absurd
Uwe Simon-Netto

Chương 7 Đức chăn trâu Một buổi sáng sớm, Lành đến phòng tôi thúc giục: "Đã đến lúc anh phải biết đất nước Việt Nam đích thực như thế nào rồi." Đối với anh ấy, "Việt Nam đích thực" chính là cố đô Huế và là quê hương của Lành. Tôi nghĩ anh ta có lý. Tôi nghe nói là trong tất cả những thành phố lớn ở đây, chỉ còn Huế là giữ được những bản sắc Việt Nam nguyên thủy nhất. Huế vẫn chưa bị ô nhiễm bởi các khía cạnh gớm ghiếc của văn hóa Tây Phương, bởi căn bệnh và sự náo nhiệt đô thị đang từ từ làm giảm đi vẻ quyến rũ của thành phố Sài Gòn. Huế là một thành phố thú vị nhưng sôi sục một cách ngấm ngầm. Nơi đây là cái nôi của Chủ nghĩa Quốc gia Việt Nam: trường Quốc Học, được thành lập năm 1896 bởi vua Thành Thái. Thượng thư Ngô Đình Khả, cha của cố tổng thống Ngô Đình Diệm là vị hiệu trưởng đầu tiên của ngôi trường trung học ưu tú này, nơi cung ứng một nền giáo dục Pháp và Á châu tốt nhất. Ông Diệm đã từng học ở đây, cũng như Hồ Chí Minh và thủ tướng Phạm Văn Đồng, con của một vị quan từng làm đến nhất phẩm triều đình Huế. Ngoài ra còn một yếu tố thích hợp nữa cho một phóng viên người Đức đến tường thuật tại Huế. Một số giáo sư Đức vừa mới thành lập xong một trường Đại học Y khoa. Một người trong họ là bác sĩ tâm lý Erich Wulff, người có đóng một vai trò nào đó trong cuộc nổi dậy của Phật giáo năm 1963 mà đã dẫn đến sự sụp đổ của chế độ ông Diệm và cuối cùng là cái chết của ông này. Sau này mới rõ ra là Wulff là một người thân cộng thứ thiệt và đã làm nhân chứng chống Mỹ tại tòa án Bertrand Russell. Hắn nhẫn tâm làm chuyện đó mặc dù bọn cộng sản đã thảm sát ba đồng nghiệp của hắn, BS Alois Alteköster, BS Raimund Discher và BS Horst-Günther Krainick, cùng với vợ là Elisabeth trong vụ tấn công Tết Mậu Thân 1968. Nhục nhã thay, Wulff đổ hết hành động ác nhân đó cho những toán ám sát được Mỹ huấn luyện cải trang là lính Việt Cộng. Vụ này xảy ra ba năm sau chuyến đi đầu tiên của tôi đến Huế, hóa ra là một trong những chuyến hữu ích nhất trong thời gian năm năm tôi làm việc tại Việt Nam. Lần này tôi không bay bằng máy bay quân sự C-123 nữa mà bằng một chiếc DC-6A rất thoải mái của hãng Air Vietnam với chỗ ngồi cũng như chỗ đặt chân khá rộng rãi. Hãng hàng không Air Vietnam là một trong những viên đá quý của quốc gia đang bị chiến tranh tàn phá này: một nhóm người văn minh trên trời thể hiện hoàn hảo cái phương châm là "một hãng hàng không với truyền thông quyến rũ" (The Airline with the Charming Tradition). Chiếc máy bay chúng tôi đi, với bốn động cơ cánh quạt, trông có vẻ còn mới tinh mặc dù nó đã gần 20 tuổi rồi. Những cô tiếp viên hàng không thanh lịch trong chiếc áo dài màu xanh mang đến những món ăn chơi ngon đến độ có thể làm cho các hành khách ngày nay của những chuyến bay nội địa tại Mỹ phải thèm muốn. Nhìn qua cánh cửa kính lớn, tôi có thể thấy Việt Nam thật đáng yêu với những bãi biển cát trắng tinh, những cánh rừng xanh rì và những núi đồi thung lũng hùng vĩ. Thỉnh thoảng tôi có thể nhận ra từng đàn trực thăng quân sự bay thật xa phía dưới. Tuy nhiên quang cảnh rất thanh bình này lại khiến tôi bị thôi thúc phải đi thám hiểm bằng xe hơi hay xe lửa mới thỏa. Nhưng tất nhiên tôi biết không thể nào ngang dọc nổi trên đất nước này bằng chiếc xe Citroen Traction cũ của tôi được. Mà đường sắt thì chắc đã bị phá hủy rồi. Ngồi bên cạnh tôi là một viên đại úy trẻ thuộc quân đội Ấn Độ trong bộ quân phục kiểu Ăng lê thẳng tắp không một chút tì vết. Anh ta tự giới thiệu là sĩ quan liên lạc của Ủy ban Quốc tế Kiểm soát Đình chiến tại Việt Nam ICSC (International Commission for Supervision and Control in Vietnam), một lực lượng được thành lập năm 1954 để giám sát việc thực hiện Hiệp định Geneva kết thúc cuộc chiến Đông Dương lần thứ nhất. Thường trong mỗi toán ICSC thì nước Ấn Độ không liên kết làm chủ tịch, Gia Nã Đại đại diện cho Phương Tây và Ba Lan đại diện cho khối Cộng sản. "Tôi đang trên đường đến Gio Linh, căn cứ của ICSC trong vùng phi quân sự," viên đại úy cho biết. "Tại sao anh không đi cùng? Là nhà báo anh có thể cảm thấy thú vị lắm đấy." Thật là một lời mời không thể nào từ chối được. Đối với với phóng viên chúng tôi, Ủy ban Kiểm soát là một khách hàng hết sức khó khăn, nhất là bây giờ khi Bắc Việt đã vi phạm trắng trợn hiệp định 1954 và đang chuyển hàng ngàn quân vượt qua vùng phi quân sự kéo dài 60 dặm từ Biển Đông đến dãy Trường Sơn ở phía Tây. Khi tôi nói điều này với viên đại úy, ông ta nhún vai: "Chúng tôi


hoàn toàn bất lực thưa ông. Làm sao mong đợi điều gì từ một nhóm nhỏ quan sát viên không vũ trang? Chúng tôi bay tới bay lui giữa Sài Gòn và Hà Nội trên chiếc Boeing 307 cũ mèm gần ba mươi năm tuổi, chiếc máy bay duy nhất được phép đáp xuống hai thủ đô. Đó là mức độ công việc của chúng tôi: nhìn, nghe, đọc - và không làm gì cả." Một chiếc xe Jeep đồ cổ từ thời Thế chiến Thứ hai chờ chúng tôi phía ngoài trạm phi hành Phú Bài, phi trường của thành phố Huế. Nó được sơn màu trắng như mọi loại xe của ICSC, kể cả chiếc máy bay cổ lỗ sĩ. Sàn xe được lót bao cát nhằm bảo vệ hành khách khỏi bị miểng bom mìn trên lộ. Tài xế là một người Việt Nam dáng dẻo dai với cặp mắt soi mói và hình dạng thô kệch của một nông dân. Anh chào tôi, miệng không nở nụ cười, và làm bộ không hiểu gì khi tay Đại úy giới thiệu bằng tiếng Anh rằng tôi là một phóng viên Tây Đức. "Tôi là một ký giả Tây Đức," tôi nói bằng tiếng Pháp. Anh ta ngó tôi chằm chằm, có vẻ bối rối về sự hiện diện của tôi. "Chào ông!" Anh ta trả lời khô khan bằng tiếng Pháp mà không tự giới thiệu tên mình. Chúng tôi lái lên hướng Bắc, vượt qua dòng sông Hương của Huế. Tôi thoảng ngắm được thành phố cổ xinh đẹp này và tiếp tục chạy trên Quốc lộ 1 về hướng Quảng Trị. Người Pháp mệnh danh con đường này là "Con Đường Không Vui" bởi đã có quá nhiều binh sĩ và thường dân bỏ mạng tại đây trong cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. "Con Đường Không Vui" cũng là tiêu đề cho cuốn sách đầy mê hoặc của Bernard Fall. Tôi chưa hề thấy ai lái xe như anh chàng tài xế Việt Nam này, chân đạp ga, cặp mắt soi mói dán chặt vào mặt đường, và anh ta bẻ quặc tay lái đột ngột sang bên trái, tiếp theo đó sang bên phải và lại một lần nữa qua bên trái với vẻ thất thường. "Mìn", anh lạnh lùng nói. "Có thể đoán ra mìn bởi màu đất trên đường khác đi. Đây không phải là chuyện của người đui chưa ông. Đây nè, có một trái nè, rồi một trái khác nữa", vừa nói anh vừa giật tay lái qua bên phải suýt nữa phóng xe ra khỏi lề đường. "Sao lái nhanh quá vậy?" Tôi hỏi. "Tụi nó bắn sẻ, thưa ông. Bọn này không hề tôn trọng màu trắng trung lập của chiếc xe Jeep. Cách duy nhất để tránh bị bắn sẻ là phải đạp ga lái nhanh hết cỡ." Chúng tôi chắc không lấy nhanh hơn năm mươi dặm một giờ nhưng chiếc xe Jeep cũ run bần bật và lắc dữ dội như thể chúng tôi đang chạy đua vậy. Tôi nghĩ rằng có lẽ không nên làm rộn anh ta thêm nữa, ngoại trừ một lần khi tôi thấy quang cảnh thôn dã của đám trẻ con, của những con trâu sừng cong dài trên những cánh đồng hai bên vệ đường. "Mấy thằng chăn châu. Toàn là bọn mồ côi. Rất quan trọng trong chiến tranh du kích," anh tài nhận xét ngắn gọn trong khi vẫn tiếp tục lái ngoằn ngoèo hướng về phía Bắc. Khối bắp thịt căng thẳng ở phía sau cổ cho tôi thấy là anh đang cố gắng tập trung để đưa chúng tôi an toàn đến trại ICSC cách cầu Hiền Lương gần một dặm về phía Nam. Cây cầu gỗ này được người Pháp xây dựng, bắc ngang sông Bến Hải và chia cắt hai miền Nam Bắc Việt Nam. Tôi thận trọng nhìn về phía bên trái. Mặt trời đã thấp dần trên bầu trời và sẽ sớm biến mất đằng sau những dãy núi, nơi mà tôi biết rằng các đơn vị lớn của Bắc Việt Nam đã được tập trung trong các hang động đá vôi. Bằng mọi giá chúng tôi phải đến căn cứ Gio Linh trước khi trời tối, điều mà may thay chúng tôi thực hiện được, mặc dù chút xíu nữa là trễ rồi. Tuy nhiên lính gác ngoài cổng không cho tôi vào. Anh lính nói với tôi là thẻ nhà báo Mỹ và Việt Nam của tôi không cho phép tôi được vào phần đất trung lập của Ủy ban Kiểm soát. Sau cùng anh Đại úy trẻ thuyết phục được người lính gọi điện cho vị chỉ huy căn cứ Gio Linh là một trung tá Ấn Độ. "Ông không thể vào được thưa ông", viên chỉ huy nói. "Nhưng thưa Trung tá," anh Đại úy phản đối trong một trạng thái cứng cỏi bất thường. "Thưa Trung tá, tất cả những điều này không phải lỗi của ông ta. Đây là lỗi của tôi. Đáng lẽ tôi không nên mời ông ta. Tôi không lường được những rắc rối về quốc tế. Tuy nhiên chúng ta không thể để ông lang thang xung quanh trong bóng đêm được. Đang có đánh nhau tại đây. Cho ông ta tạm trú đi, thưa Trung tá." Tôi rất cảm động trước tấm lòng của viên sĩ quan trẻ này, và có vẻ ông Trung tá cũng đã động lòng.


"Thôi được rồi, Đại úy. Mời ông vào vậy. Đêm nay ông là khách mời của phái đoàn Ấn Độ. Ông sẽ ngủ trong khu vực của chúng tôi và dùng cơm tối chung với chúng tôi. Tôi sẽ thông báo cho phái đoàn Gia Nã Đại biết, nhưng đừng nói với tụi Ba Lan biết ông là ai nhé - một người Tây Đức trời đất ơi! Nếu ông là Thụy Sĩ hay Hà Lan thì may ra... nhưng Đức? Họ sẽ không bao giờ chịu để yên đâu, nên biết rằng họ coi Tây Đức là kẻ thù không đội trời chung. Tốt hơn là đừng để xảy ra chuyện rắc rối quốc tế, chậc chậc?" Và như thế tôi được phép vào khu vực trung lập. Tôi được chia cho một chiếc giường trong phòng của viên Đại úy trẻ, tắm rửa một cái và theo anh ta vào trong trang phòng ăn kỳ lạ nhất mà tôi từng gặp. Căn phòng nổi bật với ba cái bàn giống hệt nhau: một cái cho phái đoàn Ấn Độ, một cho toán Gia Nã Đại, và một cái cho nhóm Ba Lan. Ông Trung tá mời tôi ngồi bên trái của ông. Tôi quay lưng về phía nhóm Ba Lan và mặc dù tôi nhìn thấy được toán Gia Nã Đại nhưng họ có vẻ không màng đến sự hiện diện của tôi. Cả ba nhóm cũng có sự phân biệt về ẩm thực. Bạn tôi có món càri Ấn Độ mà tôi rất thích. Tôi thấy nhóm Gia Nã Đại ăn thuần túy đồ ăn Bắc Mỹ. Đối với nhóm Ba Lan thì tôi chỉ có thể đoán được họ đang ăn thứ gì qua mùi vị. Hương thơm xúc xích và dưa cải bắp thoảng đến làm tôi thèm nhỏ dãi và nhớ lại tài nấu nướng của bà ngoại tôi lúc còn ở nhà. Trong khi phe Ấn Độ và Gia Nã Đại kín đáo trao đổi với nhau thì nhóm Ba Lan dần dần náo nhiệt hẳn lên. Vừa lúc uống xong tách trà, ông Trung tá tỏ ra không hài lòng khi nhận thấy những anh hàng xóm của mình đang chuyền tay nhau một chai vốt-ka. Đột nhiên, ông ta nhìn tôi một cách báo động. Các sĩ quan Ấn Độ khác cũng vậy. Ngay lúc đó tôi cảm thấy một bàn tay đè nặng lên vai trái tôi. Tôi ngước nhìn lên thì thấy khuôn mặt băng bó của một tay thiếu tá Ba Lan. "Sprechen Sie Deutsch" anh hỏi tôi - Anh có biết tiếng Đức không? "Ja", tôi đáp. "... und Französisch?", và tiếng Pháp nữa? Hắn tiếp tục hỏi. "Auch Französisch," tôi trả lời - cả tiếng Pháp nữa. Tay Thiếu tá Ba Lan toét miệng cười và hỏi tôi bằng tiếng Đức rằng có thể nào giúp một chuyện được không? Đầu anh bị thương khá nặng, nhưng không phải vì chiến tranh mà chỉ vì chơi bóng chuyền. "Ngày mai tôi xuống bệnh viện Việt Nam tại Quảng Trị để cắt chỉ khâu. Tôi cần thảo luận với bác sĩ một số vấn đề khác liên quan đến sức khỏe nhưng ông bác sĩ chỉ nói được tiếng Pháp thôi. Anh có thể làm thông dịch viên cho tôi được không?" "Dĩ nhiên là được rồi," tôi trả lời, "nhưng tôi cần phải xin phép ông Trung tá đã. Nói cho cùng tôi là khách của ông ta mà." Tôi dịch cuộc trò chuyện qua tiếng Anh. Ông Trung tá thận trọng gật đầu. "Xong rồi," tôi báo cho tay Ba Lan biết, và nói thêm một cách tinh quái, "tuy nhiên anh phải trả cho tôi một thứ gì đó. Giá là một cái xúc xích và một chút cải dưa bắp kia kìa, nghe thơm quá chừng." "Mời anh qua bàn chúng tôi." Tôi bèn xin phép rời bàn ông Trung tá, ông này có vẻ miễn cưỡng lắm. Nhóm Ba Lan chuyền cho tôi một khẩu phần xúc xích khổng lồ và một ly rượu vốt ka Zubrówka đầy tràn. Cả đám nói được ít nhất vài tiếng Đức. Sau một lúc thì chúng tôi say bí tỉ. Một người dân sự cở tuổi trung niên tự giới thiệu với tôi là cố vấn trưởng thuộc đại sứ quán Ba Lan tại Hà Nội và chỉ huy phó đoàn ICSC tại đây. Ông ta hỏi tôi: "Cớ sao một người Anh Quốc như bạn lại nói tiếng Đức giỏi vậy?" "Tôi không phải là người Anh, tôi là người Đức." Nhóm Ba Lan đang ngà ngà say phá lên cười ầm ĩ, kể cả tay cố vấn trưởng mà sau này sẽ trở thành một nguồn thông tin khá hấp dẫn đối với tôi. Thì ra ông ta cũng duy trì một căn phòng thường trực tại khách sạn Continental ở Sài Gòn. Chúng tôi sau đó thỉnh thoảng gặp nhau để ăn một bữa xúc xích và dưa cải bắp theo lối Alsace tại quán Guillaume Tell, hoặc uống vốt ka Ba Lan hay bia Löwenbräu của Đức tôi mua được trong PX. Chúng tôi cẩn thận tránh nói về chính trị hay chiến tranh nhưng chúng tôi rất thích kết thân với nhau như hai người Âu châu theo lối xưa tại một nơi kỳ lạ này của thế giới. Hơn nữa, nhờ thường xuyên bay trên chiếc máy bay Boeing 707 cổ lỗ sĩ của Ủy ban Đình chiến


giữa Sài Gòn và Hà Nội nên ông ta tỏ ra là một nguồn cung cấp tin đáng tin cậy về cuộc sống hằng ngày ở miền Bắc Việt Nam, quốc gia không bao giờ chịu cấp chiếu khán cho tôi vào. Ông Trung tá Ấn Độ gõ cái muỗng lên tách trà tuyên bố: "Thưa quý vị! Đã đến giờ chiếu phim rồi!" Chúng tôi đi qua một cái phòng tạm bợ dùng làm phòng giải trí bên cạnh để xem một cuốn phim Mỹ trắng đen chiếu trên một tấm màn thô sơ. Tôi ngồi bên cạnh ông Trung tá, bây giờ đã tỏ ra dễ chịu trở lại. Ông vỗ vào đùi tôi nói: "Anh là một người Đức vui tính nhỉ, rất, rất là tức cười, chậc chậc!" Một vài đứa trẻ Việt Nam ngồi tản mác trên đất dọc theo những bức tường tre của phòng giải trí. "Bọn nó là ai vậy?" Tôi hỏi ông Trung tá. "Con nít bên làng Vĩnh Thanh qua đó." "Tại sao có vài đứa tóc vàng mắt xanh vậy?" "Ê, đừng dòm tôi chứ, thưa ông," viên Trung tá nói, "Ấn Độ không có tóc vàng mắt xanh à nha, chậc, chậc!" Tôi nhìn qua những người Gia Nã Đại. Họ lắc đầu với vẻ bị xúc phạm. Tôi lại nhìn qua nhóm bạn Ba Lan của tôi còn đang say khướt vốt ka. "Không phải tụi tôi à nha," viên Thiếu tá với cái đầu băng bó tuyên bố. Sau này tôi mới biết chúng là con rơi của các cựu chiến binh người Đức trong đoàn quân viễn chinh lê dương Pháp. Sáng sớm hôm sau, tay thiếu tá Ba Lan, anh tài xế với cặp mắt soi mói và tôi lên đường tới cái bệnh viện cũ của người Pháp tại Quảng Trị. Trong cuộc chiến Đông Dương lần thứ nhất, hàng trăm thương bệnh binh đã mất mạng tại đó, kể cả một số lính lê dương gốc Đức. Tôi hoàn thành trách nhiệm thông dịch viên. Trên đường về, tay Thiếu tá nảy ra ý kiến khá hấp dẫn: "Anh biết công việc chúng tôi làm chứ?" anh ta hỏi. "Không rõ lắm." "Thế này. Mặc dù nhóm chúng tôi đóng trụ sở tại miền Nam Việt Nam nhưng chúng tôi đi tuần tra ở phía Bắc vùng phi quân sự. Tại sao anh không tháp tùng chúng tôi một chuyến? Vui lắm đấy. Chúng ta sẽ vượt sông Bến Hải sáng sớm mai. Bên kia có sẵn xe đạp cho chúng ta để đạp ra bờ biển. Không có Việt Cộng bắn tỉa đâu. Chúng ta sẽ tắm biển một chập rồi ra về. Coi như một buổi tập thể dục vui vẻ. Chúng ta sẽ trở về trại vào chiều tối." "Bạn nghĩ là tụi Bắc Việt sẽ để cho một người Tây Đức qua hả?" Tôi hỏi lại. "Họ sẽ không biết đâu nếu anh mặc quân phục sĩ quan Ba Lan và không trình hộ chiếu Đức. Chúng ta trạc cỡ nhau, tôi sẽ cho anh mượn bộ quân phục của tôi. Nhớ là nói chuyện với chúng tôi bằng tiếng Đức nhé. Phía Bắc Việt sẽ không nhận ra sự khác biệt đâu." Anh tài xế với cặp mắt soi mói quay lại và trong một tích tắc phóng cho tôi một cái nhìn cảnh cáo. Thật là một con người bí ẩn, anh chàng với cặp mắt cú vọ này. Có lẽ anh nghe được cuộc trao đổi bằng tiếng Đức của chúng tôi! Tại Gio Linh, chúng tôi trao đổi với ông Trung tá Ấn Độ về ý kiến của tay Thiếu tá Ba Lan, nhưng ông Ấn Độ không nồng nàn lắm: "Quý vị tỉnh táo lại đi nào! Tôi không thể đẻ xảy ra nguy cơ rắc rối quốc tế vì cái chuyện vô nghĩa này được, chậc, chậc!" Chỉ ngón trỏ về phía tôi, ông ta nói tiếp: "Này, anh có thể theo chúng tôi đến tận cầu Hiền Lương và chào tạm biệt chúng tôi tại đó. Sau đó, anh tài xế này sẽ đưa bạn trở về Huế, rõ chưa nào?" Đến đây chấm dứt một trong những chuyện điên rồ nhất của tôi tại Việt Nam, hoặc là tôi tưởng như vậy. Sáng hôm sau tôi tiễn những người bạn Ấn Độ, Ba Lan và Gia Nã Đại đi bộ qua chiếc cầu gỗ của Pháp sang bên Bắc Việt. Anh chàng đại úy trẻ thì đã trở về ngày hôm trước rồi thành thử chỉ có tôi và "Cặp Mắt Cú Vọ" trên chiếc xe jeep lắc lư trên "Con Đường Không Vui" về hướng nam. Những gì xảy ra tiếp theo đây nằm yên trong ký ước của tôi đã 47 năm nay và tôi chợt nhớ lại trong lúc lục lọi các hồ sơ bừa bộn nhằm thực hiện cuốn sách này. Tôi tìm thấy lại bản thảo một cuốn tiểu thuyết tôi đã viết trong một kỳ nghỉ dài hạn tại văn phòng của bố vợ tôi ở Anh Quốc nhưng thuộc về một nhà xuất bản tại Vienna. Cuốn sách này dụng ý là một câu chuyện tiểu thuyết dựa vào nhân vật những đứa trẻ chăn trâu dọc theo "Con Đường Không Vui".


Tôi không hoàn tất được bản thảo vì một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng đã xảy ra tại Trung Đông và đạt cao điểm qua cuộc chiến sáu ngày năm 1967 mà tôi được phân công tường thuật bên phe Ả Rập; căn bản là tường thuật từ Jordan và Lebanon. Sau đó tôi trở lại vùng Viễn Đông nhưng bây giờ lại có hai chủ đề lớn hơn để tường trình: Việt Nam và Cách mạng Văn hóa của Mao Trạch Đông ở Trung Quốc. Tôi không còn nhớ đến cuốn tiểu thuyết này cho đến khi phát hiện ra bản thảo đã vàng ố trong thư viện riêng của tôi ở Pháp. Trước khi tiếp tục câu chuyện, tôi cần phải nhấn mạnh với các độc giả đây là những dữ kiện dựa trên bản thảo trong đó có những chi tiết do anh tài xế ICSC kể lại trên lộ trình từ sông Bến Hải đến Huế mà tôi đã nhớ lại với sự minh mẫn của tuổi già. "Ông còn nhớ trên đường đi ông có nhắc đến mấy đứa trẻ này không?" "Cặp Mắt Cú Vọ" chỉ vào đám trẻ chăn trâu đang vẫy chúng tôi. "Vâng?" "Như tôi đã nói, tất cả bọn chúng đều là trẻ mồ côi, và chúng đóng một vai trò rất quan trọng trong cuộc chiến tranh này. Chúng được tổ chức thành các băng nhóm khác nhau. Một số trung thành với Việt Cộng còn một số khác thì theo chính quyền Sài Gòn. Điều này tùy thuộc vào vùng chúng ta lái xe qua. Những đứa trẻ ở đây đang vẫy chúng ta bởi vì chúng biết rằng chiếc xe jeep này thuộc về một cơ quan trung lập. Nếu là người Mỹ hoặc xe quân sự miền Nam Việt Nam, chúng có thể giả vờ làm ngơ không ngó ngàng gì đến chúng ta." "Làm ơn giải thích thêm đi?" "Nhiều đứa trong những băng nhóm này là những hệ thống cảnh báo trải dài nhiều cây số. Ngay bây giờ tôi chắc là bọn chúng đang ra hiệu cho nhau là có một chiếc xe trung lập đang chạy qua. Điều này tốt cho chúng ta thôi. Nếu gặp một nhóm giao liên Cộng sản và có đoàn xe Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đi ngang, bọn nó báo cho nhau và có thể dẫn đến ổ phục kích của Việt Cộng." "Tại sao có chuyện nhóm này theo Việt Cộng còn nhóm khác theo chính phủ?" "Để tôi kể cho anh nghe một câu chuyện," "Cặp Mắt Cú Vọ" nói. "Đây là một câu chuyện cũ về một đứa bé chăn trâu tên là Đức." "Vậy sao, tôi cũng có một người bạn trẻ tên là Đức," tôi ngắt lời anh. "Nó đứng đầu một băng đảng bụi đời bán báo bên ngoài khách sạn của tôi ở Sài Gòn." "Đức là một cái tên rất phổ biến ở Việt Nam. Đức của tôi là Đức nông thôn đối nghịch với Đức thành thị của anh." Cặp Mắt Cú Vọ bắt đầu với một cuộc thảm sát tương tự như hành động tội ác tôi đã chứng kiến và mô tả trong chương Năm, chỉ khác là lần này nó xảy ra trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất vào khoảng thập niên 50. Trong một đêm mùa đông, Việt Minh đột nhập một làng Công giáo gần Con Đường Không Vui với ý đồ mưu sát ông lý trưởng, vợ ông ta và tám người con vì ông đã trung thành với người Pháp. Bọn chúng bắt dân làng phải chứng kiến cảnh chúng trói tay treo ông lý trưởng lên, cắt bộ phận sinh dục ông nhét vào miệng với cái lối chúng vẫn thường áp dụng đối với tù binh Pháp. Sau đó chúng trói bà vợ lại và cắt đi bộ nhũ hoa. Tiếp theo là đến lượt đám trẻ em nhưng bọn Việt Minh không thấy có một đứa - Đức - ngã xuống đất. Hai người bàng quan đã can đảm lặng lẽ đứng lên phía trước che chở không cho bọn du kích thấy. Nó rón rén bò đi và biến mất trong vùng nông thôn chung quanh. Đến khi bò được một khoảng tương đối xa khỏi ngôi làng nó vùng chạy qua những cánh ruộng bùn lầy cho đến khi kiệt sức ngã gục xuống đất. Khi tỉnh dậy, nó cảm thấy một cái gì ấm áp đè nặng lên người. Đó là một con trâu. Theo Cặp Mắt Cú Vọ, Đức lúc đó mới tám tuổi đầu. Khi nó trườn ra khỏi bụng con trâu, một cậu bé khoảng 14 tuổi đứng trước mặt nó nói, "Mày mồ côi phải không? Tụi tao cũng vậy." Nó chỉ tay về phía một đám trẻ đứng chung quanh. "Tụi tao bây giờ là một gia đình và mày cũng được nhập vào gia đình tụi tao." Có cả thảy 38 đứa vừa trai vừa gái đủ mọi lứa tuổi, những đứa lớn không những chăn trâu mà còn coi những đứa nhỏ hơn. Cả bọn ngày ngày cưỡi và chăm sóc trâu cho những nông dân địa phương. Ban đêm chúng ngủ trong lòng những con trâu này. Những đứa lớn dạy những đứa nhỏ học đọc và viết. Vì không có sách và giấy bút nên chúng chép chữ lên trên biển chỉ đường và dùng ngón tay vẽ các chữ, số xuống bùn đất trong mùa mưa hay trên cát trong mùa nắng. Chúng nó chia nhau cơm, trái cây và rau cỏ mà các nông dân phát cho bọn chúng, còn cá và ngêu sò ốc hến thì bắt ở suối hay hồ ao mà ăn.


Một ngày nọ, Đức bảo những đứa lớn là, "tụi mình phải thực sự đi học mới được. Tao nhớ có ông linh mục Tây truyền đạo trọng làng. Ông ấy có một cái trường học nhỏ. Có thể ông ta sẽ nhận một nửa trong số bọn mình, và những đứa đó sẽ dạy lại cho những đứa khác vào ban đêm, rồi tụi mình sẽ lần lượt thay phiên nhau chăn trâu và đi học." Nghe nói có lý, bọn trẻ sai Đức đi gặp ông cha, một linh mục Dòng Tên gọi là cha Alexandre. Ông cố đạo bằng lòng, nhưng không có đủ tiền để mua sách, bút giấy cho tất cả 38 đứa trẻ chăn trâu. Sau đó, ngôi trường nhỏ bé bị phá hủy trong một trận đánh và đức giám mục từ chối cấp tiền để xây lại cũng như để mua sách, bút giấy cho mấy đứa kia. Sau cùng thì chính ông linh mục Alexandre cũng bị Việt Minh sát hại và đám trẻ phải trở lại cách dạy nhau như trước là dùng ngón tay vẽ xuống bùn vậy. Cuối cùng, vài đứa trong nhóm của Đức cũng gặp được mấy đứa mồ côi khác cũng chăn trâu ở làng kế cận nằm trong vùng kiểm soát của Việt Minh. Chúng nói là cách mạng mới xây xong một cái trường mới tinh và gọi Đức cùng bạn bè đến tham gia. "Nói tóm lại, đó là lý do Đức và băng đảng đã gia nhập tổ chức Việt Minh." Cặp Mắt Cú Vọ nói. "Trong trường, chúng nó được học đọc và học viết, được dạy cả về đại số, hóa học, vật lý cơ bản và địa lý nữa. Nhưng đồng thời chúng cũng bị nhồi sọ. Chúng được tuyên truyền về cộng sản và học cách ra ký hiệu với nhau, với các băng nhóm lân cận và sau cùng cho trinh sát Việt Minh mỗi khi thấy quân đội Pháp chuyển quân dọc theo Con Đường Không Vui." Cũng theo Cặp Mắt Cú Vọ, Đức sau này được phân công làm cán bộ cho Việt Cộng, tổ chức kế thừa của Việt Minh. Đó là thành phần chiến đấu của cái gọi là Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam được chính thức thành lập sáu năm sau khi có lệnh ngừng bắn của Hiệp định Geneva 1954. Giống như Việt Minh, Việt Cộng tàn sát đối thủ chính trị của họ cùng với gia đình, thực thi công thức của tướng Võ Nguyên Giáp cho cuộc "Chiến tranh Nhân dân." Tuy nhiên, có một lần được lệnh thi hành một cuộc tàn sát tập thể Đức đã nhớ lại cảnh gia đình bị thảm sát lúc còn bé nên từ chối và đào thoát sang phía người Pháp. Cặp Mắt Cú Vọ kể đến đoạn này của câu chuyện lúc chúng tôi nghỉ ăn trưa tại một ngôi làng giữa Quảng Trị và Huế. Anh chăm chú ngó tôi như thể muốn thăm dò cảm xúc của tôi. Lúc đó tôi rất xúc động, nghĩ lại cảnh giết người tôi đã chứng kiến vài tuần trước đó ở Nha Trang. Uống ực xong cả một chai bia 33, tôi chợt nhìn thấy một sợi dây chuyền thánh giá ẩn hiện sau ngực áo anh ta và nhớ lại rằng Đức là người có đạo. "Đức - chính là anh rồi!" Tôi là lên bằng tiếng Pháp. Lần đầu tiên tôi thấy Đức mỉm cười: "Không phải đâu ông ạ, nhưng tôi biết anh chàng Đức này rõ lắm," anh ta lặng lẽ trả lời cũng bằng tiếng Pháp. Anh trấn an tôi là Đức bây giờ "an toàn" rồi. Và sau đó im lặng không nói gì nữa. "Cho tôi hỏi thêm câu nữa," tôi nói. "Hôm qua rõ ràng là anh biết tiếng Đức, đúng không?" "Tôi biết vừa đủ để hiểu cái ý định điên rồ của ông Thiếu tá Ba Lan mà người Đức các ông gọi là eine Schnapsidee (một ý tưởng điên khùng vụt đến trong cơn say). Tôi mừng là anh đã đọc được ánh mắt của tôi và tôi cũng yên tâm là ông Trung tá Ấn Độ đã chận đứng được cái chuyện vô lý đó." "Anh học tiếng Đức ở đâu vậy?" "Từ mấy người lính Đức trong đoàn Viễn Chinh Lê Dương. Thời Tây họ hiện diện quanh đây nhiều lắm. Họ rất tử tế với mấy đứa trẻ đám chúng tôi. Bọn tôi thích bu quanh họ, đặc biệt là trong mùa Giáng Sinh. Họ hát những bài Giáng Sinh hay lắm. Tôi vẫn còn nhớ một vài bài thánh ca như "Tochter Zion, freue dich" trong mùa Vọng, và "Stille Nacht, Heilige Nacht" vào đêm Giáng Sinh." "Vậy là anh từng đón Giáng Sinh với họ?" "Vâng, nếu tình hình an ninh cho phép. Họ mời chúng tôi đến doanh trại của họ để ăn Giáng Sinh. 'Weihnachten ohne Kinder ist kein Weihnachten', họ nói với chúng tôi 'Giáng Sinh không có trẻ con thì không phải là Giáng Sinh'". "Anh có được ăn thịt ngỗng Giáng Sinh không?" "Có chứ, có bắp cải đỏ và bánh bao khoai tây đủ cả. Họ có một Küchenbulle (đầu bếp) tuyệt vời. Người Pháp cũng rất thích đồ ăn của ông ta. Ai cũng muốn đón Giáng Sinh với người Đức." "Anh có biết tại sao họ trở thành lính Lê Dương không?" "Chúng tôi biết hầu hết trong số họ được tuyển mộ từ trong những trại tù binh Pháp sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai. Họ được lựa chọn giữa cái chết đói hoặc đánh liều trong một cuộc chiến


khác, vì vậy họ đã chọn giải pháp thứ hai. Một số rất vornehm như người Đức các ông nói, rất lịch lãm. Chúng tôi được biết họ từng là sĩ quan quân đội Wehrmacht Đức, có cả những hạm trưởng tàu ngầm, nhưng trong đoàn Lê Dương họ chỉ là lính trơn." "Họ đã làm gì cho bạn?" "Họ cố gắng bảo vệ chúng tôi bằng mọi cách. Họ cho chúng tôi đồ ăn, bánh kẹo và những món quà khác. Họ rất nhớ nhà và nói chuyện nhiều về quê hương của họ. Họ dạy chúng tôi âm nhạc." "Một người bạn tôi, tên Lành, cũng là người Huế. Anh ta đã học thổi kèn trombone trong một ban nhạc Lê Dương, tôi xen vào." "Vâng, một người lính Lê Dương đã tặng tôi cái kèn harmonika của ông ta và dạy tôi thổi. Tôi vẫn còn giữ nó ở nhà. Họ cũng dạy chúng tôi về ngôn ngữ và thơ ca Đức. Chúng tôi rất thích nghe họ nói chuyện. Tôi có nhiều kỷ niệm với những người Đức đó nhưng đa số là kỷ niệm buồn vì có quá nhiều người trong bọn họ đã bỏ mình nơi đây." Chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình trong im lặng cho tới khi đến Huế. Khi chúng tôi đến gần thành phố, anh hỏi tôi: "Ông muốn tôi thả ông xuống đâu?" "Đại học xá," tôi đáp lời, "có nghĩa là cái tòa nhà xấu xí kiểu Pháp bên cạnh con kinh Phú Cam, nơi mà các giáo sư Đức đang ở." "Đừng vội đi đến đó làm chi," Cặp Mắt Cú Vọ khuyên tôi. "Ông mới nghe một câu chuyện thực sự về Việt Nam. Bây giờ hãy thưởng thức một buổi tối Việt Nam đích thực trước khi đi thăm các đồng hương Đức của ông." "Số phận tôi nằm trong tay anh. Anh muốn đề nghị gì đây?" "Để tôi chỉ cho." Chúng tôi lại đến thành nội Huế và rẽ qua mạng Tây Bắc của dòng sông Hương. Ở đó có thể trông thấy pháo đài và Hoàng Thành. Chúng tôi ngừng lại tại một bến đò dành cho khách trọ. "Ông sẽ ngủ đêm tại đây," Cặp Mắt Cú Vọ nói, chỉ tay về phía một cái ghe tam bản. "Ông sẽ thoải mái và an toàn ở đây. Tôi quen ông lái đò." Anh ta chia cho ông lái đò một ít tiền, giới thiệu với ông ta tôi là ai và chào từ biệt tôi. "Chào tạm biệt nhé thưa ông, tối nay ông là khách của tôi. Nhớ cầu nguyện cho chúng tôi nhé." Sau đó, Cặp Mắt Cú Vọ phóng xe ra phi trường Phú Bài để đón một người khách khác từ Sài Gòn lên. Ông lái đò đưa tôi vào khoang đò đơn sơ trong đó có một chiếc giường thật sạch dọn sẵn cho khách trọ. Bên cạnh là cái giỏ nhỏ trong đó có măng cụt, chuối, cam và một chai nước suối. Ông lái đò và hiệu cho tôi là chai nước dùng để uống hay đánh răng cũng đều tốt cả. Ông đốt nhang muỗi lên và dắt tôi ra ngoài chỉ cho tôi một cái xô có cột dây. Ông ra hiệu là tôi có thể dùng nó để tắm rửa khi ra giữa dòng sông. Ngay trước khi con đò được đẩy ra khỏi bến, một cô gái khá trẻ với mái tóc dài đen nhánh bước lên ghe. Cô ta chỉ vào khoảng 16 tuổi. Tôi đoán chừng là con gái ông chủ đò. Cô mang theo một nhạc cụ hình thang với cần gỗ dài có 10 cần phím và có ba sợi dây đàn. Sau này tôi mới biết đó là một thứ nhạc cụ đặc trưng của miền Trung và miền Bắc Việt Nam gọi là đàn đáy. Cô bé bước lên mũi thuyền khi chúng tôi ra giữa dòng sông. Cơn gió thoảng thật mát mẻ bao trùm lấy tôi và tôi nằm thoải mái trên chiếc giường nhỏ. Mặt trời lặn dần trên đỉnh núi về hướng Tây của thành phố Huế và phản chiếu xuống mặt sông Hương như một dòng nham thạch chảy xuống hai bên là biển vàng nóng chảy. Đúng lúc đó thì cô gái bắt đầu cất tiếng hát, vừa đệm theo bằng cây đàn đáy. Đối với tôi là người Đức, những bài ca của cô thật tuyệt diệu, vừa gợi cảm mà vừa quý phái không cách nào tả xiết. Về sau tôi được biết là một số những điệu hát cổ xưa này được lưu truyền từ thời triều đình An Nam. Cô gái tiếp tục hát cho đến khi mặt trời lặn sau dãy núi và mặt sông chuyển màu từ vàng đỏ qua xanh thẫm rồi lại đổi màu bạc khi trăng lên. Dường như cô chọn những khúc hát lạ tai cho phù hợp với những sự thay đổi của cảnh sắc. Trong lúc nghe cô hát, tôi nhớ đến Cặp Mắt Cú Vọ, cái dây chuyền thánh giá ẩn hiện trên ngực áo anh và câu chuyện về Đức, nhớ đến thằng bé tinh khôn Đức ở Sài Gòn. Lại nhớ đến đại úy Ngữ và Long Khốt, nhớ cuộc thảm sát tại Nha Trang và anh chàng phụ tá Lành ở Sài Gòn. Trước khi chìm hẳn vào giấc ngủ, tôi chợt có cái viễn cảnh khủng khiếp là chiếc


ghe đã biến thành một chiếc tàu đổ bộ bọc sắt chứa đầy lính tráng và tiếng nổ dòn của hàng ngàn viên đạn súng liên thanh bật vào thành sắt át dần tiếng hát của con gái ông lái đò. Khi tỉnh giấc vào sáng sớm hôm sau, tôi thấy cô gái còn nằm ngủ cuộn tròn trong một tấm bạt và cảm thấy một nỗi mất mát sâu xa trong lúc ông chủ đò chống ghe về lại bến. Tôi không còn hứng thú đi thăm mấy ông bạn bác sĩ Đức nữa, nhưng sau này nghĩ lại, tôi mừng là tôi đã quyết định làm chuyện đó. Tôi đã ăn tối với bác sĩ Krainich và bà vợ Elisabeth của ông. Họ là hai người Kitô giáo khiêm nhường và đã từ bỏ tất cả các tiện nghi của cuộc sống giáo dục tại trường đại học Freiburg để đến dạy y khoa tại quốc gia đầy hiểm nguy này với đồng lương chỉ bằng một phần ba tiền lương của một giáo sư tại Đức. Tôi được ngồi trong phòng khách của họ để ngưỡng mộ bộ sưu tập tranh vẽ trên kính yêu quý của Krainich và được nghe những câu chuyện về các phòng khám mà ông đã xây dựng bằng tiền túi trong những ngôi làng bên ngoài Huế nằm trong những vùng còn tranh chấp. Tại đó ông đã chữa trị cho các bệnh nhân bất kể lòng trung thành của họ thuộc về phía chính quyền Sài Gòn hay Cộng sản. Sau đó, qua một chầu rượu tối tại căn phòng của Erich Wulff sát bên, rồi tôi qua đêm tại đó, tôi lại phải kềm lòng nóng giận vì tay thiên tả này cứ lải nhải phê bình phong cách "trưởng giả" của bà vợ Elisabeth Krainich. Bà có thói quen bơi và chơi tennis trong Câu lạc bộ Thể thao Pháp cũ trên đại lộ Lê Lợi bên bờ Đông Nam của dòng sông Hương. Tôi suýt nữa đã "bóp cổ" hắn khi hắn tuyên bố là Krainich đã tỏ ra vô tình khi thỉnh thoảng nhận lời đáp những chuyến trực thăng của quân đội Mỹ để có thể bay đến các trạm y tế nông thôn một cách nhanh chóng hơn. Đêm hôm đó, cơn ác mộng lại trở về dữ dội hơn với tôi. Tôi quyết định trở về Sài Gòn sáng hôm sau. Trong chuyến bay Air Vietnam DC-6A tôi nhớ lại với lòng biết ơn lời khuyên của Lành: "Đã đến lúc anh phải biết Việt Nam thật sự như thế nào." Tôi đã thấy Việt Nam đích thực rồi, anh bạn lành ạ. Nhưng tôi cũng đã phải trải qua hai lần cơn ác mộng đáng sợ mà không ngờ ba năm sau nó lại trở thành hiện thực.


Chương 8 Trẻ em giết nhau Cuộc hành trình đến Huế vào vùng phi quân sự của tôi đã đánh dấu sự kết thúc của lần công vụ đầu tiên và trong tâm trí tôi, có lẽ là đoạn kết của một chương trong cuộc chiến Việt Nam. Khi tôi rời Sài Gòn vào mùa xuân 1965, nó vẫn còn mang dáng dấp của một thành phố kiểu Pháp, và sự xung đột vẫn còn ở dạng chung là chiến tranh du kích, đặc trưng của giai đoạn hai trong cuộc "chiến tranh nhân dân" theo sách giáo khoa của tướng Võ Nguyên Giáp. Khi tôi trở lại vào cuối mùa hè, trung tâm Sài Gòn làm tôi nhớ đến khu vực xung quanh nhà ga xe lửa trung tâm của Frankfurt nhiều hơn là đến một đô thị quyến rũ ở Pháp. Theo chân sự hiện diện của những đơn vị lớn thuộc bộ binh Hoa Kỳ, một khu phố đèn đỏ chơi bời đã di căn vào trong trung tâm thành phố và cuộc xung đột đang tiến vào giai đoạn thứ ba: chiến tranh quy ước. Tôi bay đến New York qua ngã Hamburg, nơi mà dấu hiệu phôi thai của phong trào chống chiến tranh đang chờ tôi tại trụ sở chính. Hằng đống thư từ của những nhóm sinh viên cánh tả Frankfurt và Tây Bá Linh, cùng với bài viết của một tạp chí cực đoan, Konkret, buộc tội tôi đã vinh danh cuộc chiến và tỏ ra "vô tình với nguyện vọng của một dân tộc bị áp bức". Chủ biên của tạp chí đó là Ulrike Meinhof, người mà ba năm sau sẽ trở thành thủ lãnh của Nhóm Hồng Quân, Red Army Fraction, một tổ chức khủng bố giết người. Bài viết không mang tên tác giả nhưng về sau tôi khám phá ra đó là một trong những người bạn học cũ ở trường nội trú; thực sự chúng tôi đã có thời từng là bạn thân với nhau. Để theo dõi câu chuyện dễ hơn, tôi xin phép được lướt nhanh qua hơn hai thập niên sau đến mùa hè 1987. Lúc đó tôi đã tạm ngưng sự nghiệp ký giả để làm việc như một tuyên úy nội trú tại bệnh viện cựu chiến binh VA Medical Center tại Saint Cloud, Minnesota. Công việc của tôi là chăm sóc mục vụ cho các cựu chiến binh Việt Nam bị rối loạn tâm thần sau chấn thương (PTSD) và những chứng bệnh khác có liên quan đến chiến tranh. Một ngày thứ bẩy nóng nực được nghỉ việc, tôi lái xe đến Duluth trên con đường được mệnh danh là "Scandinavian Riveria" dọc theo hồ Superior và dừng chân tại một lữ quán đồng quê với mục đích uống một ly bia. Tại quầy rượu chỉ có một người khách duy nhất là một người đàn ông dáng gầy nhưng dẻo dai ở lứa tuổi gần 40, mặc quần cụt. Tôi đoán ngay anh là một cựu chiến binh Việt Nam qua dáng dấp và biểu hiện khắc khoải trên khuôn mặt, một dấu hiệu chung của các cựu chiến binh Việt Nam vào lúc đó. "Ông đến đây làm gì vậy?" Anh ta hỏi tôi. "Tôi chỉ đi ngang qua thôi", tôi trả lời, "tôi là mục sư làm việc với các cựu chiến binh Việt Nam tại St. Cloud." "Ông đang diện kiến một cựu chiến binh Việt Nam đây này", người lạ mặt tự giới thiệu tên ông - chúng ta tạm gọi - là Kurt. "Tôi có thể nhìn ra điều đó." "Vậy ông có nghĩ tôi là một thằng giết con nít không?" "Sao anh lại nói vậy, anh Kurt?" "Mọi người đều nói chúng tôi là bọn giết con nít. Trong trường hợp tôi thì đó lại là sự thật. Tôi đã bắn một đứa tám tuổi ngày tôi vừa đến đó. Ông có biết những gì tôi đã phải trải qua hằng đêm không? Hơn 20 năm qua tôi vẫn gặp ác mộng thấy khuôn mặt của thằng bé ngày nào." "Chuyện gì đã xảy ra vậy?" "Lúc đó tôi bị động viên mới chỉ có 18 tuổi," Kurt nói tiếp. "Tôi ngồi sau phòng lái để canh chừng trên một chiếc xe vận tải cùng với trung đội ra ngoài phòng tuyến. Có một thằng bé đứng bên cạnh đoàn xe ôm theo một giỏ đầy xoài. Nó giơ tay vẫy cười với chúng tôi, bọn tôi vẫy tay lại." Vừa khua tay làm động tác vậy, Kurt vừa tiếp tục câu chuyện: "Đột nhiên nó thò tay vào giỏ trái cây móc ra một trái lựu đạn, rút chốt và định ném vào xe chúng tôi. Cả trung đội tôi chắc sẽ bị tiêu tùng nếu tôi không quạt nó ngay lập tức bằng một băng M-16. Bây giờ mỗi lần tôi nhắm mắt ngủ đều ác mộng thấy khuôn mặt thằng nhỏ nằm dẫy chết và trái lựu đạn trong tay đã nổ tung banh xác nó ra thành từng mảnh."


"Những chuyện ám ảnh đó rất thường xảy ra đối với cựu chiến binh," tôi nói. "Hằng ngày tôi nghe kể lại rất nhiều khi làm việc." "Tôi biết," Kurt trả lời. "Nhưng nỗi ám ảnh đã trở nên trầm trọng hơn đối với tôi trong những ngày gần đây. Ông thấy đấy, tôi hiện có hai đứa con song sinh tám tuổi. Trong những cơn ác mộng hằng đêm, khuôn mặt méo mó của đứa bé bị tôi giết bắt đầu mang hình dáng của hai đứa con tôi." Anh ta còn kể cho tôi là anh đã từng làm thợ bánh ở St. Paul nhưng vì trạng thái tâm thần nên không thể hòa đồng được với những người chung quanh, kể cả vợ anh. Giống như một số cựu chiến binh khác sống tự cô lập tại Minnesota anh ta mua một lô đất khá lớn sâu trong rừng. Ở đó, anh tạo cho mình một môi trường sống giống như các căn lều tiền trạm anh từng ở trong rừng rậm Việt Nam. Doanh trại này được bảo vệ chống lại những kẻ lạ mặt bằng dây kẽm gai và bao cát. "Anh định phòng thủ chống ai vậy?" Tôi hỏi. "Tụi nó đó", Kurt trả lời một cách mơ hồ. "Mấy thằng khốn mà tới thì tôi đã sẵn sàng. Tôi đào sẵn cả giao thông hào và có đầy đủ vũ khí đạn dược." "Bộ anh sống như vậy một mình quanh năm suốt tháng hả?" "Đúng vậy, trừ những tháng mùa hè. Lúc đó thì tôi lái xuống St. Paul đón mấy đứa nhỏ để nghỉ hè trong trại của tôi. Chúng hiện đang ở đó, ông có muốn ghé qua chơi và gặp chúng nó không?" Méo mó nghề nghiệp phóng viên khiến tôi quên cả thận trọng. Tôi bằng lòng nghỉ nốt cuối tuần với Kurt và hai đứa nhỏ trong rừng. Anh ta có một chiếc scooter bốn bánh đi rừng đậu ngoài lữ quán và bảo tôi lái chiếc Volkswagen Rabbit theo sau. Chúng tôi lái xe vào một khu vực cây cối rậm rạp vùng Tây Bắc thành phố Duluth, rời khỏi đường nhựa và tiếp tục lái trên một con đường đất bụi bậm vào sâu trong rừng rậm. Mặt đất trở nên sình lầy hơn và cuối cùng thì chiếc xe bé nhỏ của tôi bị mắc kẹt. "Không sao cả," Kurt nói. "Chúng ta khá gần cái trại của tôi rồi. Tôi có một chiếc xe jeep và sẽ trở lại trong vòng nửa tiếng đồng hồ để kéo ông ra." Tôi đang ngồi chờ trong xe với cái cửa kính bên tay lái mở xuống. 30 phút trôi qua. Đột nhiên tôi cảm thấy chất kim khí lạnh dí vào màng tang tôi: một nòng súng Colt 45. "Tao muốn mày cút ra khỏi nơi đây ngay," Kurt thốt lên đầy vẻ khích động. "Tao không muốn mày vào căn lều của tụi tao nữa vì tụi nhỏ sẽ biết tao là một thằng giết người." Nếu có một điều gì hữu ích tôi tự khám phá ra được từ thuở còn nhỏ chịu đựng hằng đêm bom đạn Thế chiến Thứ hai thì có lẽ là cái khả năng trong lúc hiểm nguy, tôi trở nên vô tri vô giác, như thể biến thành tảng đá lạnh băng vậy. Tôi chẳng hãnh diện gì lắm vì đó không phải là cái gì tôi hoàn thành được mà chỉ là một ân sủng trời ban cho mà tôi có nhiều dịp phải cảm tạ trong đời. Bị khẩu súng Kurt dí vào đâu, tôi vẫn kiên nhẫn nói chuyện với anh ta ít nhất 20 phút đồng hồ nhằm thuyết phục anh đưa lại cho tôi khẩu súng. "Nếu anh bắn tôi bây giờ và đeo súng về trại, mấy thằng con anh sẽ biết ngay anh là kẻ sát nhân," tôi còn nhớ đã nói với Kurt như vậy. Cuối cùng, Kurt trao cho tôi khẩu Colt. Tôi vội vàng cầm lấy, khóa chốt an toàn lại, tháo băng đạn ra và trả lại cho anh ta. Tôi cũng khuyên anh nên giấu nó đi không để tụi nhỏ biết. Kurt quỵ gối xuống bật khóc. Một chút sau anh ngồi dậy lặng lẽ đi đến chiếc xe jeep và trở lại với một sợi dây thừng cột vào cái xe Volkswagen của tôi. Sau đó anh mở máy và kéo xe tôi ra khỏi vũng lầy. Anh tháo sợi dây thừng ra và bắt tay tôi. Tôi tìm cách bỏ được vào túi quần anh cái băng đạn trước khi anh lên xe jeep và biến mất vào trong khu rừng. Hai bàn tay tôi không ngừng run lên bần bật khi tôi lái trở lại lữ quán. Không còn mất cảm xúc nữa, tôi kêu một ly Scotch to gấp ba để tự trấn tĩnh lại. "Có phải Kurt đã làm phiền ông không?" Ông chủ quán hỏi tôi vì đã nghe được câu chuyện chúng tôi trao đổi với nhau hồi sáng. "Chứ còn gì nữa!" "Tôi biết, tôi biết. Không phải lần đầu tiên đâu." "Ông nghĩ gì về anh ta?" Tôi hỏi ông chủ quán. "Thật là đáng thương. Theo tôi biết, anh ta chưa hề hại ai bao giờ. Nhưng tội nghiệp cho anh ta. Anh ta là một người đã bị tổn thương nặng nề và không phải là người duy nhất quanh đây đâu." "Như vậy có nghĩa là còn nhiều người như Kurt sống trong rừng nữa à?"


"Đúng vậy, không ít đâu. Họ sống ẩn dật trong rừng trong các doanh trại bao bọc bởi dây kẽm gai và bao cát. Họ đều mang mặc cảm tức giận và cho rằng nước Mỹ đã bỏ rơi họ như những thứ đồ ăn bỏ mứa. Tất cả đều tin là Chúa đã vĩnh viễn kết án họ cho nên họ tự tạo cho mình cảnh địa ngục riêng trong rừng. Buồn lắm, thật là đáng buồn, thưa ông! Nhiều người còn thảm hại hơn Kurt nhiều. Họ không tiếp xúc với người lạ." Mãi đến chiều tôi mới bình tĩnh lại được để tiếp tục cuộc hành trình dọc vùng "Scandinavia Riviera", lòng vẫn không hết bàng hoàng vì nhớ lại cái cảnh 22 năm về trước khi lần đầu tiên tôi chứng kiến cảnh những anh chàng thanh niên Mỹ luống cuống vấp ngã trong vùng rừng rú của cao nguyên trung phần Việt Nam. Tôi còn nhớ tôi đã xúc động vô cùng trước sự ngây thơ của họ. Họ còn quá trẻ để đi bầu hay uống rượu nhưng đủ tuổi để chém giết và bị giết. Kurt thuộc vào thế hệ bi kịch của những thanh niên Mỹ đó. Khi trở về St. Cloud, tôi kể lại cho các thành viên của nhóm chăm sóc mục vụ về chuyện của Kurt. Vài người trong số những cựu chiến hữu biết Kurt và tình nguyện đi gọi anh ta gia nhập nhóm. Anh ta từ chối nhưng nhắn lại là rất ân hận về hành động thất thường của mình đối với tôi. Chúng tôi thảo luận về trường hợp của Kurt nhiều tuần lễ vì nghĩ rằng đây là một trường hợp tiêu biểu cho nhiều cựu chiến binh khác. Chúng tôi tính ra rằng vào năm 1965, Kurt mới 18 tuổi và thuộc vào thành phần bị động viên đi lính vì không đủ tiêu chuẩn học vấn và tài chánh để lên đại học; một cách để hoãn dịch hoặc cố tình tránh né bị động viên. Tôi đoán chừng Kurt là một người yêu nước hết lòng nên không muốn làm chuyện đó. Nỗi đau khổ của Kurt vì bị ruồng bỏ bởi những người Mỹ khác đã khởi lên nỗi lòng của các thành viên trong nhóm chúng tôi. Nó biểu hiện chung những gì các cựu chiến binh Việt Nam đã trải qua khi họ trở về nước. Hầu hết những người trong nhóm mục vụ của tôi ở St. Cloud đã kể ra những câu chuyện khủng khiếp giải thích lý do tại sao họ cảm thấy trở thành xa lạ và sống cô độc như vậy. Một trong những chuyện mang nhiều tai tiếng nhất là câu chuyện của một cựu chiến binh đã hoàn thành nhiệm vụ 12 tháng tại Việt Nam. Anh trở về nhà vào tối thứ bẩy. Sáng ngày hôm sau, anh theo bố mẹ đến nhà thờ nơi mà anh đã được nhận bí tích Thêm Sức 5 năm về trước. Đứng trên bục giảng là một mục sư còn trẻ và để tóc dài theo kiểu phản chiến. Tay mục sư này nhận ra ngay người chiến binh trở về qua mái tóc cắt ngắn và bộ quân phục mới ủi. Anh mục sư lên giọng mắng người cựu chiến binh: "Đừng quay lại đây cho đến khi mái tóc anh đã dài trở lại và ăn mặc cho đúng cách hơn!" Người cựu chiến binh này không bao giờ đặt chân đến nhà thờ nữa. Kurt không bao giờ dứt được mặc cảm tội lỗi đã bắn chết một đứa trẻ, mặc dù thằng bé đã được huấn luyện như là một bộ máy giết người bởi những kẻ thù tàn nhẫn nhất, và nhiều lúc anh đã phải chiến đấu chống lại cán binh Bắc Việt còn thua anh đôi ba tuổi. Trên thực tế, không phải chỉ có một mình anh rơi vào trường hợp này. Trong lúc huấn luyện, không ai chuẩn bị tinh thần cho những người lính Mỹ mới động viên là sẽ phải đối đầu với sự ác độc khốn nạn, điển hình của những tay độc tài toàn trị đã không chút mảy may hối hận khi hy sinh trẻ em vì những mục tiêu về ý thức hệ của họ. Bọn Đức Quốc xã đã từng ném mạng sống của những chú lính sữa vào những chỗ nguy hiểm như cho chúng điều động những khẩu đại bác phòng không. Một trong những đứa bé này tên là Joseph Ratzingen và sau này trở thành Đức Giáo Hoàng Benedict XVI. Trong cuộc Đại Cách mạng Văn hóa của Mao Trạch Đông tại Trung Hoa mà tôi đã tường thuật song song với chiến tranh Việt Nam, trẻ em cũng bị đưa ra thực hiện những tội ác khủng khiếp nhất, và điều này lại xảy ra lần nữa trong thời gian tàn sát tại Cambodia. Sự hung bạo của cộng sản khi sử dụng trẻ em trong hai cuộc chiến Đông Dương trong thế kỷ 20 là tác phẩm thô lỗ của một gã nguyên là thầy giáo: Tướng Võ Nguyên Giáp. Sau chiến thắng của Hà Nội năm 1975, Đảng Cộng sản Việt Nam lại đặt hắn vào một vị trí để hủy diệt một lượng sinh mạng trả em lớn mà lại còn nhỏ tuổi hơn nữa: chủ tịch ủy ban quốc gia dân số và sinh đẻ có kế hoạch. Nhiệm vụ của ủy ban này bao gồm chuyện lập kế hoạch và thực thi các chính sách phá thai. Đã bị loại ra ngoài vòng pháp luật tại miền Nam Việt Nam, nhưng ngay sau khi được tái thống nhất vào năm 1975, phá thai đã được hợp thức hóa toàn quốc. Dưới sự lãnh đạo của Giáp, Việt Nam đã trở thành quốc gia hạng nhất của văn hóa toàn cầu phục vụ cho thần chết: thực hiện hơn triệu rưỡi cuộc phá thai hằng năm. Theo viện Alan Guttmacher tại New York, với 83,3 vụ phá thai hằng năm cho


mỗi ngàn phụ nữ, Việt Nam đã vượt xa Romania, Cuba và liên bang Nga. Tại thời điểm bài viết này, Giáp đã 101 tuổi và đang vui thú tuổi già ở Hà Nội Về phía Hoa Kỳ và Nam Việt Nam hầu hết các binh sĩ cũng không vượt hơn tuổi thanh thiếu niên bao nhiêu, nhưng đó là thông lệ của mọi quốc gia trong thời chiến. Tương tự như các nơi trên thế giới, tuổi động viên của Hoa Kỳ là 18 tuổi. Khi tôi chứng kiến lần đầu tiên những người lính bộ binh Mỹ ra trận tại Việt Nam, tôi đã xúc động bởi thái độ ngây thơ của họ. Các binh sĩ này thuộc Sư đoàn I Không Kỵ đã tham chiến tại Trung Nguyên vào giữa năm 1965 và đã trở thành bất tử trong cuốn sách "Chúng tôi đã từng là chiến sĩ" (We Were Soldiers) bởi Trung tướng Harold G. Moore và nhà báo Joseph L. Galloway. Biệt danh "Không Kỵ" (Air Cav) được đặt ra vì sư đoàn này ra trận với 434 chiếc trực thăng thay vì là ngựa chiến hay xe bọc sắt. Đơn vị 17.000 người này đã gây cảm giác mạnh trong tôi vì họ giống như một sự phối hợp lạ lùng giữa kỹ thuật cao và sự non nớt cá nhân khi tôi đến thăm họ tại An Khê, mặc dù sự non nớt này sẽ biến mất nhanh chóng qua những trận đánh đẫm máu. Tôi đáp xuống căn cứ An Khê cùng với anh bạn Donald Wise, một biên tập viên người Anh và cựu sỹ quan chống du kích tại Mã Lai Á. Vừa vân vê bộ ria mép kiểu David Niven, anh ta vừa ngắm nghía thật kỹ doanh trại rồi chua chát nói: "Anh có thấy là họ đặt một cái máy làm kem trước khi hoàn tất chu vi phòng thủ hay không? Chẳng hiểu họ đặt thứ tự ưu tiên như thế nào đây?" Ngày hôm sau khi chúng tôi đi tuần lần đầu tiên chung với một đại đội của Không Kỵ 1, Donald nhận xét: "Những người này chưa sẵn sàng để chiến đấu. Trông họ cứ túm tụm lại như những đứa trẻ con khiếp nhược trong khi đáng lẽ họ phải đi hàng dọc mới phải. Đi kiểu này nguy hiểm vô cùng. Lỡ một đứa đạp phải mìn là cả đám sẽ tiêu tùng. Họ phải di hành cách nhau ít nhất 10 thước mới khỏi bị vạ lây." Một viên thượng sĩ nghe được chúng tôi nói gọi lên tiếng: "Đó là điều mà tôi cố nhét mãi vào mấy cái đầu đặc sệt của tụi nó. Bọn nó không chịu thực hiện những biện pháp phòng ngừa căn bản nhất. Nón chắc cũng chả chịu đội, không những có thể bảo vệ chống đạn địch mà còn có thể dùng để tránh nắng nữa. Cứ như tôm càng luộc bỏ trong bụi. Chẳng có đứa nào chịu uống nước cho đầy đủ. Ngày hôm qua có một đại đội gần như bị xóa sổ vì cảm nắng." Donald tiếp tục: "Thật không hay ho gì trong cái khí hậu này mà lính của ông cứ mập phì vì hằng đống hamburgers, nước ngọt và cà-rem." Trong một cuộc chiến tranh du kích, người phóng viên rất khó mà đoán được khi nào sẽ có đụng trận và ở đâu để có thể viết được một câu chuyện hay. Do đó Donald đề nghị chúng tôi đứng gần những chiếc trực thăng y tế tản thương bởi vì họ phải bay vào những chỗ đang đánh nhau với nhiệm vụ cứu thương binh. Chúng tôi nằm dài trong bóng mát của một chiếc trực thăng UH1-B tản thương có vẽ nhiều dấu hồng thập tự lớn với hy vọng sẽ không bị địch bắn vào. Một toán truyền hình CBS tham gia với chúng tôi. Viên phi công nói: "Thưa quý vị, chúng tôi hoan nghênh quý vị cùng đi với chúng tôi vào trận chiến nhưng sẽ không ra được đâu vì lúc đó trực thăng chúng tôi phải chở thương binh và tử sĩ ra." Chẳng bao lâu sau thì chiếc trực thăng được lệnh đi giải cứu nạn nhân của một trong những trận giao tranh lớn nhất liên quan đến binh lính Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam. Khi chúng tôi bay đến gần bãi đáp thì đạn đối phương bắn trúng động cơ trực thăng khiến phi công phải tắt máy đáp khẩn cấp. Tôi thoát nạn không hề hấn gì vì dạo đó tôi khá gầy ốm nhưng rất dẻo dai và chỉ nặng không hơn 140 cân. Sự chấn động giống như nhảy trên một bức tường 5m xuống đất. Cột sống tôi có vẻ bị chấn thương nhưng lúc đó tôi không hề biết mà mãi cho tới khi sau này tôi trở thành một người đàn ông trung niên mới khám phá ra. Chúng tôi, gồm các phóng viên, phi công và nhân viên toán truyền hình tức khắc phóng ra khỏi xác trực thăng và chạy tìm chỗ núp vì chúng tôi rơi xuống đúng vào một vùng đang giao tranh dữ dội. Trong tích tắc, một trái đạn súng cối nã xuống làm nổ tung xác chiếc trực thăng vốn đã bị hư hại rồi. Không một ai trong chúng tôi bị thương những người thương binh đáng lẽ được chúng tôi đến tản thương thì đã chết. Anh ta chỉ là một đứa trẻ 17 tuổi đã khai gian tuổi để được tình nguyện đăng lính. Một viên Kalashnikov đã bắn trúng ngực anh. Trong giây phút cuối, anh đã kêu khóc như một đứa trẻ con đầu tiên là với mẹ và sau đó với Chúa. Anh ta là người lính Mỹ đầu tiên tôi chứng kiến bị giết ngoài mặt trận. Chẳng bao lâu sẽ còn có hàng trăm người nữa, hầu hết đều gọi những bà mẹ đang ở xa, sau đó là Chúa, và luôn luôn theo thứ tự như vậy.


Một trong những nhân vật đáng quý tôi hân hạnh được gặp trong lần đi thăm Không Kỵ 1 là Charlie Black, một nhà báo đồng nghiệp. Anh là cây viết quân đội của tờ Enquirer Ledge, tờ báo đáng kính của thành phố Columbus, tiểu bang Georgia, năm vào khoảng chín dặm về phía Bắc của Fort Benning, tổng hành dinh của sư đoàn. Black không giống như bất kỳ thành viên nào của tập đoàn báo chí tại Sài Gòn. Anh đến Sài Gòn với một ngân khoản khiêm nhường. Anh không ở những khách sạn lớn kiểu thuộc địa, cũng không ăn uống tại những nhà hàng Pháp sang trọng. Anh không quan tâm tới không khí chính trị phức tạp của Sài Gòn hay các trường hợp giết người vì dâm ô, hoặc thăm viếng những khu nghỉ mát bên bờ biển cùng với các phụ nữ quyến rũ. Hàng không mẫu hạm, nhà sư Phật giáo tự thiêu hay hoàng tộc của Việt Nam không thuộc phần trách nhiệm của anh. Không, Charlie Black là một nhà báo tầm thường với một trách nhiệm giản dị. Anh có nhiệm vụ kể về cuộc sống của 16.000 binh lính thuộc Sư đoàn 1 Không Kỵ với khả năng mà một ký giả tỉnh nhỏ có thể thực hiện được để tường trình cho dân chúng của tỉnh mình. Charlie là một cựu thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đã từng tham chiến tại chiến trường Thái Bình Dương trong thế chiến thứ hai với nhiệm vụ bắn sẻ và là một thượng sỹ trong chiến tranh Cao Ly. Anh đến Việt Nam năm 1965 với một món tiền ứng trước nghèo nàn là 430 đô la trong túi và một lời khuyên của nhà xuất bản là đổi lấy tiền mặt chuyến về trong vé khứ hồi nếu chẳng may cạn tiền. Ông sếp đã cung cấp anh tem thư, giấy viết thật mỏng, dặn anh đánh máy thật khít dòng và dùng cả hai mặt tờ giấy để tiết kiệm tiền tem. Charlie không có quyền đánh điện những câu chuyện của mình về mà phải chuyển qua hệ thống APO tức hệ thống quân bưu (Armed Forces Postal System). Lệnh của anh là "trang trí" những bản tin với càng nhiều tên tuổi có liên quan đến các gia đình sống trong Fort Benning càng tốt. Lý do là gia đình của các quân nhân thường cắt những mẫu tin này và gửi ngược lại cho họ ở ngoài mặt trận. Charlie ngủ chung với binh lính, ăn cùng với họ và chia sẻ khẩu phần C mỗi khi ra trận địa. Anh rất ít khi nào đặt chân đến câu lạc bộ sĩ quan nơi mà các phóng viên chúng tôi thường ghé qua để nghỉ ngơi vào buổi chiều, đồng thời nhặt nhạnh tin tức và những cuộc trao đổi ngẫu nhiên. Anh thích giao du với lính tráng hơn và cùng họ đi tuần tiễu chu vi phòng thủ, cũng như theo họ ra trận địa. Phóng viên chiến trường như chúng tôi rất hiếm khi nào mang vũ khí nhưng Charlie thì luôn luôn kè kè một khẩu M-16 bên mình và thường xuyên phải sử dụng đến nó, hầu hết chống Việt Cộng và thỉnh thoảng chống lại thú dữ. Một đêm nọ, anh nghe thấy tiếng sột soạt trong bụi cây, tưởng là du kích Việt cộng nên nổ súng. Đột nhiên, một con cọp bị thương đổ máu nhảy chồm tới chụp anh ta. Thế là một huyền thoại trong Không Kỵ 1 được tạo ra. Charlie bắn thêm lần nữa và con cọp lớn rớt chết tươi dưới chân anh. Anh còn ngẫm nghĩ có cách nào thuộc da con thú gửi về Goergia làm kỷ niệm hay không nữa. Khi Charlie Black, một học sinh bỏ học trung học, qua đời năm 1982 ở tuổi 59, một cáo phó trên tờ New York Times đã ghi nhận một cách trang trọng: "Những tường trình của ông đích thực là những bức tâm thư nhiều hơn là báo chí truyền thống." Tôi còn nhớ một trong những bức thư đó là một trong những câu chuyện xúc động nhất về cuộc xung đột tại Việt Nam. Điều đó làm nên tính chất mạnh mẽ của bức thư chính là ở sự đơn giản thẳng tuột của nó. Lá thư tự nó chẳng cần phải trau chuốt màu mè gì cả. Tôi xin trích dẫn ra đây bởi vì nó có liên quan đến chủ đề chính của chương này là sự nhẫn tâm sử dụng trẻ em trong cái gọi là "chiến tranh giải phóng dân tộc" của tướng Võ Nguyên Giáp. Nhân vật chính của bài viết là binh nhất Toby Braveboy, một binh sĩ gốc người da đỏ Creek đến từ một tỉnh có một cái tên ngộ nghĩnh là Coward (Thằng Hèn), tiểu bang North Carolina. Sau đây là đoạn trích những gì Black viết về Braveboy trong số ngày 7 tháng 12 năm 1965 của tờ Ledger Enquirer: Ngày 17-11, Braveboy... đang hành quân đến cứ điểm... Quân Bắc Việt tấn công dữ dội đơn vị... Khi màn đêm buông xuống, Braveboy bị thương ở bàn tay trái, cánh tay và chân. Đồng đội chung quanh chỉ còn lại những người lính Mỹ bị thương. Phần còn lại của tiểu đoàn đã cố thủ lại trong một vòng đai chiến đấu và bị cuốn vào một trong những cuộc giao tranh cay đắng nhất... "Tôi muốn tìm cách giúp ba người bạn bị thương chung với tôi," Braveboy nói. "Họ bị thương cả rồi... Tôi cố bỏ đi tìm cứu viện..." Anh trườn về hướng có tiếng súng... Một toán quân Bắc Việt tiến đến và anh giả chết. Họ xử tử những người bị thương, máu phun lên cả người anh khi bọn chúng chặt đầu một thương binh Hoa Kỳ... Anh bò trong bóng đêm đến một bụi cây lớn và cuộn mình nép vào một dải đất... "Tôi nghe thấy


tiếng chân và bốn tên lính Bắc Việt đi ngang qua tôi," anh kể. "Ba tên... không thấy tôi nhưng tên thứ tư... ngó thẳng vào mắt tôi. Hắn đứng lại chĩa súng vào tôi. Tôi giơ bàn tay bị thương lắc đầu 'không'... Tôi không biết tại sao nhưng hắn hạ súng xuống và bỏ đi. Hắn còn quá trẻ, chỉ là một thiếu niên không lớn hơn 16 hay 17 tuổi." Chuyện này xảy ra tại trận chiến thung lũng Ia Drang mà tôi đã tường thuật. Tôi nghĩ rằng không cần phải nhắc lại mô tả tuyệt vời của Jo Galloway và Harold Moore về biến cố lịch sử này trong cuốn "Chúng tôi đã từng là chiến sĩ" nhưng những câu cuối cảm động của Braveboy, "hắn còn quá trẻ, chỉ là một thiếu niên" trong bản tường thuật của Charlie Black đã mang lại cho tôi những cảm xúc mãnh liệt về cuộc tắm máu đó. Là người đã từng thấy quá nhiều thanh thiếu niên thiệt mạng trong Thế Chiến Thứ Hai, bây giờ chứng kiến sự hy sinh của những người lính trẻ này khiến tôi vô cùng đau đớn, bất kể quốc tịch của họ là gì. Điều này đã thể hiện trong bản tin tôi viết cho tờ Die Welt, số ngày 13-12-1965. Với tựa đề "Und das Gras ist rot" (Và cỏ thì đỏ), câu chuyện mô tả khi tôi đến một trảng nhỏ vừa trải qua một trận đụng độ khủng khiếp giữa một toán quân lớn Bắc Việt và các đơn vị của Không Kỵ 1. Tôi diễn tả nó như một trận tấn công biển người của cộng sản, mặc dù các sử gia quân sự sau này hoài nghi thuật ngữ đó có chính xác hay không. Từ chỗ tôi chứng kiến và từ vị trí các xác quân Bắc Việt trên mặt đất, đó chính là sự thật đã xảy ra: làn sóng này tiếp làn sóng khác từng toán quân nhào lên về phía vị trí của lính Mỹ giống như cách xung phong điên rồ của binh sĩ trẻ và kém huấn luyện của Hồng Quân chống lại quân đội Wehrmacht tại mặt trận miền Đông nước Đức. Tôi viết là máu đổ lênh láng đã nhuộm đỏ đồng cỏ voi cao cả thước của cái trảng. Trực thăng của chúng tôi đã phải treo lơ lửng trên không một lúc lâu để không phải hạ cánh trên xác bộ đội, tên gọi của các chiến binh Bắc Việt. Họ nằm đó, những cánh tay của vươn lên về phía trước như thể họ vẫn còn đang nhào về phía chu vi phòng thủ của lính Mỹ. Họ chết quá nhiều khiến chúng tôi phải đợi một lúc lâu cho các lính Hoa Kỳ dọn dẹp bớt một số để chúng tôi khỏi phải đáp lên các xác chết. Thương binh và tử sĩ Hoa Kỳ đã được di tản rồi nhưng một số tù binh Bắc Việt vẫn còn đó. Họ ngồi xổm, bị bịt mắt và trói lại với nhau dưới những gốc cây. Một số cười khúc khích và một tay trung sĩ Không Kỵ nổi nóng. "Thằng khốn mày cho là chuyện đùa hả?" Anh ta la lớn. Chúng tôi phải kiềm chế anh lại vì nếu không anh đã nổ súng M-16 bắn họ chết hết rồi. Không ai nói với anh là đối với người châu Á, cách cười khúc khích như vậy biểu lộ sự bối rối chứ không phải là có ý diễu cợt. Có một điều mỉa mai là những xác lính Bắc Việt có vẻ được ăn bận chỉnh tề hơn lính Hoa Kỳ. Những bộ đồ kaki của họ trông mới hơn bộ áo trận tồi tàn và sờn nát của lính Mỹ. Ở đây nói lên sự bê bối của cơ quan tiếp liệu Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ đã không cung cấp đầy đủ cho binh lính những đồng phục và giầy trận thích ứng cho cuộc chiến trong rừng rậm, mặc dù những thứ này không hề thiếu ngoài thị trường chợ đen tại Sài Gòn. "Các anh định làm gì với những xác chết lính Bắc Việt này?" Tôi hỏi một viên sĩ quan có vẻ chịu trách nhiệm thu dọn chiến trường. "Chúng ta không thể chôn họ hết được. Nhiều quá," anh trả lời. "Tôi đoán là không quân sẽ thả bom na-pam ngay sau khi chúng ta rút khỏi nơi đây." Một vài lính GI thu nhặt ba lô và ví bóp của lính Bắc Việt mang lên trực thăng, trong đó có chiếc của chúng tôi. Trong chuyến bay về lại tiền trạm của Không Kỵ 1 ở Pleiku, chúng tôi lục lọi sơ qua các thứ này và thấy có quần áo trận và đồ lót để thay, tất cả được ủi và xếp gọn gàng bởi những bà mẹ hay các cô vợ tại một nơi xa xôi nào đó như Vinh, Hải Phòng hay Hà Nội. Đọc những tài liệu tìm thấy trong ví của những chiến binh Bắc Việt chúng tôi giật mình khi nhận ra là rất nhiều trong số họ chỉ mới 15 tuổi đầu. Trong nhiều cái bóp của đám lính trẻ con còn thấy truyền đơn Mỹ khuyến khích họ đào ngủ. Sau này tôi được biết là khoảng 1/4 số lính thiếu niên này mang theo những tờ truyền đơn với hy vọng có cơ hội để hồi chánh. Sự ác nghiệt của chiến địa đã không cho họ thực hiện điều này. Nếu bỏ ngủ lúc đơn vị đang xung phong thì chắc chắn họ sẽ bị các đồng chí của họ bắn chết đàng sau lưng. Đó cũng là tính chất của chiến tranh biển người vậy. Sáng hôm sau, một chiếc máy bay Hercules C-130 của Không Lực Hoa Kỳ đáp xuống Pleiku chở theo hầu hết tập đoàn báo chí Sài Gòn đã không tham dự trận đánh Ia Drang. Trong đám họ có tay Joe "nổ" phóng viên của tờ lá cải mà thường thì không bao giờ rời khỏi thành phố. Chiếc máy bay


vận tải khổng lồ có nhiệm vụ chở những người đã trải qua những ngày ngoài mặt trận về lại thủ đô, cùng với một số nhân viên quân sự và các thương binh khác. Những ký giả khác được lệnh phải chờ những chuyến sau nhưng Joe không chịu như vậy. Sau cuộc họp báo ngắn ngay trên đường băng, hắn cắt ngang dòng người đang chờ đợi làm nhân viên phụ trách chuyển vận nổi nóng lên. "Này, anh hãy chờ đến phiên mình," anh ta gầm lên. "Anh không có tên trong danh sách chuyến bay này." Niềm vui khi thấy hắn bị mắng tiếc thay quá nhỏ bé để làm tôi nguôi ngoai nỗi buồn vì những gì đã trải qua trong mấy ngày trước đó. Tôi trở về khách sạn Continental, đi tắm thật lâu và gặp Donald ngoài sân hiên để uống một ly rượu. "Trông anh thê thảm quá, anh bạn già ơi," anh nói. "Donald, tôi không nghĩ tôi có thể làm quen được với cảnh thanh niên bị giết hại hay bị thương tật, và tôi cũng chẳng quan tâm họ là người Mỹ, Nam Việt, Bắc Việt hay Việt Cộng nữa." "Tôi cũng vậy thôi và tôi đã thấy nhiều lắm rồi trong đời. Nhưng tôi có cái này có thể làm anh vui hơn một chút. Đi ăn tối ở chỗ Stammtisch của tôi đi." Donald mượn một thuật ngữ của Đức mà anh đã học được. Stammtisch là tên gọi một phong cách phổ biến trong những hàng quán hay cơ sở công cộng nơi xứ tôi. Đó là một cái bàn hàng tuần dành riêng cho một nhóm thành viên đến để trao đổi với nhau về những đề tài ưa thích của họ, thường là chính trị. Tuy nhiên, Stammtisch của Donald Wise là một bữa ăn tối dành cho những phóng viên Âu châu nhằm bảo vệ sự bình an về tinh thần của các thành viên bằng cách tránh bàn về tất cả những điều gì có liên quan dù mơ hồ nhất đến Việt Nam bao gồm: cuộc chiến Việt Nam, các mưu đồ chính trị, chiến tranh ở Lào, đường lối của Liên Xô và Trung Cộng đối với Đông Dương, và mọi hình thức chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Điều lệ đặt ra là không ai được đề cập đến các đề tài kể trên, và nếu một thành viên nào lỡ dại làm như vậy, người đó sẽ phải thanh toán cái hóa đơn rất tốn kém vì các buổi ăn tối được tổ chức tại quán Aterbéa, một trong những quán ăn Pháp sang trọng nhất ở Sài Gòn. Donald Wise nói với tôi là anh đã nẩy ra sáng kiến đó trong khi anh đang cố tẩy đi cái mùi tử thần trên bộ ria mép ba lần, sau vụ tường thuật cả một tiểu đoàn quân lực Việt Nam Cộng Hòa bị tiêu diệt toàn bộ. "Tôi là kỳ cọ thật nhiều mà vẫn không mất đi nổi cái mùi tử khí đó," anh nói. "Tôi tự cảm thấy kém văn minh vô cùng dù rằng chúng ta đáng lẽ phải là những người có văn hóa. Vì vậy tôi trở lại với cái ý tưởng mà tôi đã có trong thời gian bị làm tù binh Nhật trong Thế Chiến Thứ Hai: phải có cách để sống một cách văn minh, ít nhất là một tuần một lần." Aterbéa là giải pháp chúng tôi chọn. Tối hôm đó chúng tôi có chín người, năm người Anh, hai người Úc, một người Pháp và tôi là người Đức. Tất cả chúng tôi đều mặc áo ngắn tay phù hợp với khí hậu nhiệt đới hay ít nhất là áo thể thao. Chúng tôi gọi rượu ngon và bàn cãi về âm nhạc, nghệ thuật, văn chương, lịch sử và dĩ nhiên về phụ nữ. Nhưng chỉ nói chung chung mà không nói đến quốc tịch của họ vì sợ nhắc đến một số người đẹp địa phương thì có khả năng mất tiêu cả tháng lương. Một hồi sau thì chúng tôi cũng cạn đề tài bàn cãi và mọi người rơi vào im lặng. "Vậy mình soạn một bài thơ limerick (thơ con cóc) đi," Donald đề nghị. Bài thơ vần con cóc mà chúng tôi đã soạn trong buổi chiều lúc tôi trở về từ thung lũng Ia Drang có vẻ đã được phổ biến rộng rãi vì chính tôi đã thấy một vài biến thể không lịch sự lắm trên internet. Tuy nhiên nếu tuổi già đã không làm tôi lú lẫn quá Đáng, tôi xin khẳng định đây chính là tác phẩm của chúng tôi. Nói như thế này: There was a fellow named Yorrick Who could, in moments europhoric Produce for selection There kinds of erection: Ionic Corinthian And Doric Dịch là:


Có một gã tên Yorrick. Có thể lúc phấn khích Tạo ra nguồn cảm hứng Cho ba loại cương đứng: Ai-ô-ních Cô-rinh-tưng Và Đô-rích Chúng tôi lảo đảo trở về khách sạn, cười ngả nghiêng sảng khoái nhất mà tôi có thể nhớ lại được trong suốt chiều dài kinh nghiệm sống tại Việt Nam. Để có một lần cảm thấy rằng chúng tôi đã trở về được với những gì chúng tôi nghĩ là thế giới hiện thực. Bụng căng đầy rượu vang đỏ nhập từ Pháp, tôi thiết vào giấc ngủ miệng lẩm bẩm, "Doric, Doric," lòng biết rằng những hình ảnh thung lũng Ia Drang sẽ trở về ngày hôm sau. Và chúng trở lại thật.


Chương 9 Kỳ là ai? Trong tất cả các phương ngữ của Đức, không có ngôn ngữ nào kỳ cục hơn là thổ ngữ Saxony, tiếng quê hương của tôi. Tôi đã đề cập đến chuyện này trong một chương trước khi kể về cuộc gặp gỡ của tôi với một quân y sĩ tù binh Bắc Việt nói tiếng Saxony trong một trại tù trên đảo Phú Quốc. Phát ra nghe như tiếng cười tự chế diễu, cái giọng mũi kỳ lạ này tự nó đã tức cười rồi. Bây giờ nghe nó rít lên trong một khung cảnh Đông Phương từ một phụ nữ kém học đến từ vùng Dresden thì quả là một âm thanh đáng sợ. Do đó hãy tưởng tượng nỗi kinh ngạc của tôi khi được phóng trở về thời thơ ấu bởi thứ âm thanh đó trong một hoàn cảnh bất ngờ nhất. Sáng sớm đầu hè hôm đó tôi đang ngồi thưởng thức cái giây phút hạnh phúc cô đơn trong căn suite 214 của khách sạn Continental Palace, chốn trú ẩn thuộc địa Pháp của tôi. Bên ngoài trời còn mát nên tôi để cửa sổ mở. Như thường lệ, tôi ngồi ăn sáng trên chiếc ghế da và ngắm cuộc "diễn hành" quyến rũ thường lệ của những tà áo dài trên hai vỉa hè đường Tự Do. Bất chợt một giọng nói chói tay từ ngoài đường vòng vào phòng, vàng cả khu phố với một chuỗi các phụ âm và nguyên âm với âm thanh như sau: "Awwr, awwr, meinä Gudsdä: där Gie, där Gie! Nää wärglich! Ich gann Ihn'n saach'n: im Bädde issr cha guud, awwr als Brämchähminisd'r?" Dịch ra như sau: "Trời đất ơi! Ông Kỳ, ông Kỳ! Thật hết chỗ nói! Thằng cha này có thể là tay chơi, nhưng làm thủ tướng ư?" Đó là lần đầu tiên tôi biết đến sự tinh thần của thiếu tướng không quân Nguyễn Cao Kỳ lên vị trí thủ tướng sau một loạt những cuộc đảo chính và chống đảo chính điên cuồng của các chính quyền Nam Việt Nam mà tuổi thọ trung bình không quá 70 ngày. Không một chút khó khăn, tôi nhận ra ngay giọng nói đó là của bà L., bà vợ xồ xề của một tay tùy viên Tòa Đại sứ Tây Đức. Tôi vẫn luôn cảm thấy bối rối bởi sự thân thiện của bà ta với tài trăng hoa của ông kỳ. Cung cách ăn nói sỗ sàng của mụ L. là một huyền thoại trong giới chúng tôi. Mới chỉ vài đêm trước bà ta đã làm chấn động giới người Đức tại Sài Gòn trong một buổi tiếp tân ngoại giao ở tư gia của đại sứ Tây Đức Wilhelm Kopf. Bà phản đối anh bạn Fabian Fuchs cùng với cái giọng mũi đó về vấn đề hôn nhân với người bản xứ: "Vorsichd, Vorsichd! Die Fietnamäs'n sinn änne ganz verschlaachene Rasse" (Cẩn thận, cẩn thận! Người Việt là một giống dân rất quỷ quyệt.) Bước lỗi nhịp này đã gây ra một sự im lặng bối rối trong phòng khách của ông đại sứ. Trong nhiều phút đồng hồ, người ta có thể nghe thấy tiếng máy bay cất cánh và hạ cánh tại phi trường Tân Sơn Nhứt cạnh đó. Không giấu nổi vẻ xấu hổ, khách khứa cố gắng không nhìn vào những người Đức gốc Do Thái trong bọn họ, trong đó nhiều người là những nhân viên cao cấp của Hoa Kỳ tại Sài Gòn. Chắc chắn đây không phải là những lời nói khéo mà họ muốn nghe từ vợ một viên chức ngoại giao của Tây Đức mới chỉ non 20 năm sau Thế Chiến Thứ Hai. "À, hừm," Đại sứ Kopf nói với tất cả chúng tôi, quý vị đã thấy mấy con báo của tôi chưa? Những chú mèo lớn đã thuần hóa này thật là đẹp! Đi xem chúng đi." Ngay lập tức, trừ mụ L. ra, còn gần như tất cả mọi người kể luôn cả ông chồng mụ đều bước theo ông Kopf ra vườn để ngắm cái giống mèo tuyệt vời nổi tiếng với khả năng đạt vận tốc 62 dặm một giờ chỉ trong vòng 3 giây đồng hồ, tương tự như chiếc xe đua Ferrari vậy. Chúng là một món quà chia tay của vua Faisal nước Ả Rập Saudi mà trước kia ông Kopf làm việc tại đó. Mụ L. không phải là người ngoại quốc duy nhất ghét cái anh chàng phi công ba mươi lăm tuổi ưa nổ vẫn thỉnh thoảng lái xe mui trần đưa cô vợ xinh đẹp tên là Tuyết Mai chạy khắp các nẻo đường Sài Gòn; hoặc lắc mông theo điệu "tuýt" tại Moulin Rouge, một hộp đen thời trang trong vùng chợ lớn, phố tàu của Sài Gòn; hoặc lên micro đọc thơ tình tiếng Pháp trong một quán rượu thời thượng ở trung tâm thành phố. Với báo chí tự do Mỹ không ưa cái phong cách hào nhoáng của viên tướng thích dùng nước hoa này mà "nhãn hiệu cầu chứng" là chiếc khăn quàng màu hoa cà quấn quanh cổ. Stanley Karnow dè biểu ông là một "nhân vật chói chang trong một bộ quân phục loè loẹt và một bộ ria mép nham hiểm." Neil Sheehan của tờ New York Times đã nhảy dựng lên khi Kỳ kêu gọi giải phóng miền Bắc Việt Nam: "Thằng khốn... Thằng ngốc chết tiệt!"


Bản thân tôi lại thích Nguyễn Cao Kỳ. Điều này không có nghĩa đó là một sự chứng thực mang tính đảng phái hay sự tán thành những lời nói và hành động thiếu thận trọng một cách nghẹt thở, chẳng hạn như vụ cắt đứt ngoại giao với Pháp, một quyết định điên rồ đã thúc đẩy tổng thống Charles de Gaulle buồn ra một câu nói nổi tiếng không quên được trong biên niên sử của sách vợ chính trị là: "Qui est Kỳ?" (Kỳ là thằng nào kỳ vậy?). Vị trí của tôi là không muốn bênh ai trong những cuộc tranh chấp trong quá khứ giữa ông Kỳ và tổng thống Nguyễn Văn Thiệu hay các cuộc tranh cãi lâu dài giữa những người theo và chống ông Kỳ trong cộng đồng người Việt lưu vong. Họp đó cũng không phải là một sự phản ánh cuộc đấu tranh quyền lực liều lĩnh của ông đối với nhân vật không kém sáng chói là Trung tướng Nguyễn Chánh Thi, tư lệnh Quân đoàn 1 ở phần đất cực Bắc của miền Nam Việt Nam. Sau cùng, tôi không muốn phán xét liệu ông kỳ có phản bội chính nghĩa tự do của Việt Nam khi trở về quê hương dưới ách thống trị của cộng sản vào năm 2004 hay không. Bản thân tôi đã từng phải rồi bỏ quê hương vì nạn cộng sản từ thuở ấu thơ nên tôi rất thông cảm với ông. Nỗi nhớ nhà là một căn bệnh có thể đè bẹp bất cứ ai, nhất là khi tuổi đã xế chiều, vì vậy có ai nỡ lên án một người như vậy? Kỳ chết vào năm 2012 tại Mã Lai Á và khi tro của ông được mang về Mỹ để cất trong nhà mồ Phật Giáo của nghĩa trang Rose Hills Memorial Park tại Whittier, California, Neil Shehan Đã lên án ông là "một trong những kẻ tham nhũng Thổ tồi tệ nhất." Tôi cho rằng những lời lẽ đó là một sự xúc phạm không cần thiết đối với một nguyên lý của hành vi xã hội từ thời cổ La Mã là "de mortuis nihil nisi bonum". (Đối với người quá cố, không nên thốt lên điều gì ngoài những điều tốt lành, hoặc "nghĩa tử là nghĩa tận"). Hơn nữa, nếu vì lợi ích cá nhân đã thúc đẩy khi kỳ còn nắm quyền hành, tại sao ông ta lại phải xuống dốc để điều hành một tiệm rượu ở Hurtington Beach sau khi trốn thoát khỏi Việt Nam bằng trực thăng vào năm 1975? Nếu quả thật ông ta đã biển thủ hàng triệu đô la ra nước ngoài trong lúc ông làm thủ tướng và phó tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, ông chắc chắn sẽ khá hơn thế với tư cách là một người tí nạn chính trị sau này. Nhân vật Nguyễn Cao Kỳ mà tôi được giới thiệu bởi người tùy viên "thích rượu sâm banh" vào năm 1965 là một người đỏm dáng như một con công, đó là sự thật. Nhưng chắc chắn ông ta không phải là "con công" đầu tiên và duy nhất trong quân sử. Bạn có thể nhét đầy vào một bảo tàng viện tầm cỡ như bảo tàng Le Louvre với đầy chân dung của các tướng tá huênh hoang, sặc sỡ của mọi thời đại của các quốc gia khác nhau như: Hy Lạp, La Mã, Pháp, Ý, Anh Quốc, Đức, Mỹ, Nga Xô và ngay cả Bắc Việt, nếu xem những tấm hình mới nhất của tay cựu thầy giáo và du kích quân Võ Nguyên giáp trong bộ quân phục trắng tinh với cầu vai vàng chói đến bốn sao trên đó. Phải công nhận, Nguyễn Cao Kỳ có lẽ là con công duy nhất đã lái máy bay chiến đấu trong một bộ đồ bay màu đen may riêng và bộ giầy da tự sáng chế ra. Ông ta đã bận bộ trang phục này khi lái chiếc phóng pháo cơ A-1 Skyraider dẫn dắt cuộc không kích duy nhất của Việt Nam Cộng Hòa ra miền Bắc Việt Nam. Ông cũng từng cho bà vợ Tuyết Mai bận bộ đồ bất thường này khi hai người xuất hiện trong những dịp lễ quân đội chung với nhau. Chậc, chậc, chậc: trai tài gái sắc đồng bộ trong trang phục màu đen! Một số đồng nghiệp Hoa Kỳ của tôi cho rằng điều này không thích hợp chút nào. Đối với tôi thì sự kiện này chỉ làm tôi mỉm cười, giống như tôi đã rất thú vị khi được biết lúc ông còn đang tán tỉnh cô tiếp viên hàng không Air Vietnam, ông đã mang cả phi đội bay sát nóc nhà nàng để chào người đẹp sau khi trở về từ một phi vụ chiến đấu. Thật là một cử chỉ hiệp sĩ hoà hoa theo lối cổ điển rất đẹp! Mặt khác tôi thừa nhận rằng khi trông thấy một tấm hình của dịch vụ truyền thông chụp Nguyễn Cao Kỳ mặc bộ Barong Tegalog trắng của Phi luật Tân với mái tóc ép sát bằng cả nửa cân brillantine, đưa đẩy bà vợ tổng thống Johnson trên sàn nhảy trong một buổi tiếp tân họp thượng đỉnh, tôi đã phải nghĩ lại. Tôi tự hỏi giới thượng lưu chuộn lề lối tập tục của xã hội Việt Nam sẽ phản ứng ra sao khi thấy ông thủ tướng của họ "đú đởn" với phu nhân của tổng thống Hoa Kỳ? Điều đó nói lên là Nguyễn Cao Kỳ rất ưa thích màu mè bên ngoài. Ông ta và bà Tuyết Mai thật đúng là cặp bài trùng như báo chí chúng tôi vẫn thường nói. Đây cũng là lý do tại sao ông kỳ được dành nhiều phần trong cuốn sách này hơn đối thủ của ông là Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, một người điềm đạm, thận trọng và rất có tư cách lãnh đạo của một vị tổng thống. Tôi đã gặp Nguyễn Văn Thiệu nhiều lần. Các cuộc phỏng vấn luôn luôn dễ chịu và chứa đựng nhiều thông tin nhưng không bao giờ đưa đến những bài báo có tựa đề hấp dẫn được. Chúng không bao giờ lên nổi trang nhất của


những tờ báo đã gửi tôi đến Việt Nam, cũng như chưa lần nào dẫn nổi trang ba, chỗ mà báo chí Đức truyền thống dành cho những bài về chính trị quan trọng nhất. Thiệu cũng có một người vợ xinh đẹp, vương giả và thanh lịch tên là Nguyễn Thị Mai Anh. Bà không có vẻ đẹp minh tinh như bà Kỳ nhưng phù hợp hơn với khuôn mẫu của một người đàn bà Việt Nam đầy quyền lực. Với báo chí âu châu tại Sài Gòn thích đùa ra các quyết định chính trị quan trọng ở Sài Gòn không được thực hiện trong những buổi họp nội các của Thiệu mà thường tại những buổi tiệc trà của bà vợ trong vườn hoa của phủ tổng thống. Tôi gặp bà Kỳ nhiều hơn là bà Thiệu và có lần được ngồi cạnh bà Kỳ nhiều tiếng đồng hồ trong một chuyến bay của Air France từ Paris về Sài Gòn. Tôi thấy bà có duyên thầm nhưng nói chung lại có vẻ nhút nhát. Những điều này không áp dụng đối với bà Thiệu được. Với tất cả sự duyên dáng cần thiết, bà luôn để lại trong lòng khách cảm giác không thể chối cãi là họ đang đứng trước một nhân vật quan trọng với một cá tính cương quyết. Chúng ta hãy quay trở lại với Nguyễn Cao Kỳ bởi vì ông, chứ không phải ông Thiệu, là biểu hiện của một sự tương phản chung của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Nhân vật Nguyễn Cao Kỳ mà các nhà báo Phương Tây mô tả có vẻ như không phù hợp với với Nguyễn Cao Kỳ đích thực chỉ có thể phát hiện ra sau khi đã lột bỏ hết những bề ngoài che đậy. Một ngày nọ, Kỳ mời tôi đến chơi nhà ông và tôi hết sức ngạc nhiên về sự giản dị của nó. Ông đã từ chối ở trong phủ thủ tướng tại trung tâm thành phố mà dọn về hai căn trại dã chiến Quonset sơ sài trong căn cứ quân sự Tân Sơn Nhứt. Lúc bấy giờ ngôi nhà tiền chế của ông gần đó đang được trang bị sửa chữa lại. Bên ngoài chỗ ở đơn giản đó có hai con nai cái đang gặm cỏ, quà tặng của lính. Sau này khi ông chính thức dọn vào ở đây ở, ông thường mời bạn bè đứng ngoài hiên để bắn heo rừng do đầy tớ thả ra từ một cái chuồn trong vườn. Trò chơi này tôi không thích thú lắm nhưng cũng thấy vô hại. Lạ lùng thay là trong những năm kể từ khi rời khỏi Việt Nam, tôi đã suy nghĩ về Kỳ nhiều hơn bất cứ chính trị gia nào mà tôi đã từng được gặp, chính bởi vì những nét mâu thuẫn của ông. Ở trong nhà, những nét hài hước của ông biến mất, chẳng hạn như gã tay chơi nhảy tuýt ở Le Moulin Rouge hay thói đọc thơ tình trong quán rượu. Ông trở về bản chất của một người lính chân chính với ước mơ sử dụng món vũ khí sở trường của mình: điều khiển máy bay chiến đấu mà ông đã học đầu tiên với không lực Pháp tại Marốc và sau đó tại Hoa Kỳ. Điều này đã trở thành nền tảng cho tất cả các cuộc phỏng vấn của tôi đối với ông. Tôi tìm thấy trong đống hồ sơ lưu trữ của tôi câu chuyện dài dòng đầu tiên về Nguyễn Cao Kỳ. Nó được xuất bản như một bài bốn trang trên tờ Bild am Sonntag một tờ báo lớn phát hành ngày chủ nhật, số ngày 22 tháng 8 năm 1965. Tựa đề là "Der Tänzer auf dem Pulverfass" (Chàng vũ công trình thùng thuốc súng). Đọc lại bài báo này sau gần năm thập niên khiến tôi phân vân khi biết Neal Sheehan bôi nhọ Kỳ như là một kẻ tham nhũng Thổ Nhĩ Kỳ sau cái chết của ông. Trong câu chuyện của tôi, cũng như các mẩu chuyện khác về Kỳ sau đó, mối bận tâm lớn nhất của ông là sự suy đồi của xã hội miền Nam. Ông đã nổi giận trước sự kiện các viên chức chính phủ làm giàu bằng cách tống tiền ăn hối lộ để hoãn dịch hay xin chiếu khán xuất ngoại, đồng thời ông cũng đã nổi điên với thương nhân đầu cơ tích lũy gạo, bột, muối, đường và sữa đặc nhằm đẩy giá lên cao. "Điều này gây ra tình trạng bất ổn trong dân chúng," ông làm ầm lên. "Sự kiện này đang phá hoại nỗ lực chiến tranh của chúng tôi. Bọn người này là những kẻ phản bội và đáng để đem bắn bỏ. Nếu cần tôi sẽ bắn 10.000 con 'hạm' để cứu 11 triệu người dân Việt Nam." Tôi thông cảm với Kỳ về nỗi niềm này khi nhớ lại những gã trục lợi chợ đen đáng nguyền rủa ở chính nước tôi trong và sau cuộc chiến vừa qua. Những gã Đức béo phị thời đó. Nhưng sau đó Kỳ lại nhắc với tôi những điều mà ông đã nói với anh bạn phóng viên của tôi là Donald Wise của tờ London Daily Mirror một tháng trước đó. Theo tôi, đó là một nhận xét kém cỏi đã làm tổn hại cho tiếng tăm của Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến sinh tồn. Ông nói: "Tôi rất ngưỡng mộ Hitler vì ông ta đã đoàn kết được đất nước trong một tình trạng thê thảm vào đầu thập niên 30. Tình hình của Việt Nam hiện nay cũng tuyệt vọng và chúng tôi cần 4 hay 5 Hitler như vậy." "Thưa Thủ tướng, xin ngài đừng nói như vậy!" Tôi khẩn khoản. "Đây không phải là điều mà một người Đức trẻ tuổi muốn nghe. Tôi còn nhớ rõ Đức Quốc Xã. Tôi nhớ những gì Hitler đã gây ra cho


chúng tôi: cuộc tàn sát hàng triệu người dân vô tội, niềm xấu hổ quốc gia, sự tàn phá của các thành phố và chia rẽ nội bộ!" "Đó không phải là lý do tôi nói chúng tôi cần một Hitler. Ý tôi là chúng tôi cần người để ổn định lại trật tự," ông Kỳ nói. "Như vậy thì chắc chắn ông không cần Hitler rồi. Bởi vì Hitler không ổn định trật tự ở Đức mà chỉ phá hoại thêm thôi." "Thưa ông, tôi chỉ nói ẩn dụ vậy thôi..." "Tôi thấy cách ẩn dụ này không hay đâu, nếu ông không ngại tôi nói thật, thưa Thủ tướng, nhất là nếu ngài biết rằng có rất nhiều người Do Thái tỵ nạn Đức Quốc xã đang phục vụ trên đất nước này với tư cách các nhà ngoại giao cao cấp Hoa Kỳ, các nhân viên viện trợ phát triển và tình báo. Tại sao làm thương tổn đến những người bạn này?" "Đúng như vậy. Có lẽ anh nói đúng. Hãy bỏ qua chuyện Hitler vậy." Đó là Nguyễn Cao Kỳ của gần 50 năm về trước. Ông không bao giờ để lòng những lời chỉ trích của tôi và chúng tôi vẫn giữ một mối quan hệ tốt đẹp. Đáng buồn thay, ông Kỳ không từ bỏ hẳn cái ý tưởng đồng cảm bệnh hoạn của ông đối với Đức Quốc Xã trong đầu. Vài năm trước khi qua đời, ông đã cho tờ Stormfront, một tờ báo của nhóm kỳ thị chủng tộc của người da trắng tại Mỹ một cuộc phỏng vấn và ông lại ca tụng Hitler, đặc biệt là Hermann Goering, Tư lệnh Không lực Đức Quốc Xã. Tôi rất tiếc không có mặt tại đó để nói với ông rằng Goering, một phi công xuất sắc đã từng được thưởng huy chương Pour Le Mérite cao nhất của nước Đức trong Thế Chiến Thứ Nhất, nhưng đồng thời cũng là một tên tham nhũng nhất trong cấp lãnh đạo Đức Quốc Xã, một thằng ăn trộm tinh vi và một con quái vật diệt chủng. Sau đó thì tôi gặp Kỳ trong một phiên tòa. Sau khi thực hiện lời hứa cắt giảm tiền lương của các công nhân viên biến nhác xuống còn một nửa, bây giờ ông muốn thử nghiệm một phương cách ông đã hứa trong nỗ lực chống tham nhũng. Bị cáo là triệu phú Việt gốc Hoa tên là Tạ Vinh. Giống như Kỳ, ông ta cũng 35 tuổi nhưng khác với viên tướng không quân rắn rỏi, Tạ Vinh tạng người béo lùn do đó phù hợp với khuôn mẫu quốc tế của những tên trục lợi là những gã béo tốt duy nhất trong thời chiến. Tạ Vinh bị buộc tội biển thủ 104.000 đô la công quỹ, đầu cơ tích trữ bất hợp pháp và âm mưu hối lộ nhân viên cảnh sát. Một hội đồng gồm ba thẩm phán quân sự đã tuyên án tử hình ông bằng cách xử bắn vì tội phá hoại kinh tế. Đơn xin khoan hồng của ông bị bác. Thế là trong buổi sáng sớm ngày 14 tháng 3 năm 1966, một tiểu đoàn lính nhảy dù Việt Nam Cộng Hòa đến án ngữ khu vực hành quyết sáng rực ánh đèn trước chợ Bến Thành Sài Gòn để giữ an ninh. Lúc bình minh, tủ nhân có một tuyên úy công giáo quân đội kèm theo được dẫn đến một cái cọc đằng trước một bức tường bằng bao cát. Trong số người đứng xem có bà vợ và bảy trong số tám đứa con của Tạ Vinh. Bà vợ kêu gào và xin tha cho chồng bằng tiếng Anh, tiếng Việt và cả tiếng Quảng Đông nhưng vô ích. Tạ Vinh bị trói vào cọc và toán xạ thủ 10 người bắn một loạt súng vào người ông nhưng lại hỏng việc và ông chỉ bị thương mà thôi. Viên sĩ quan chỉ huy tiến đến bắn phát súng ân huệ bằng khẩu súng lục cá nhân của mình. Cùng ngày, một tòa án đặc biệt chống tham nhũng của Kỳ cũng tuyên án tử hình tay cựu giám đốc ngân khố vùng nghỉ mát miền núi Đà Lạt về tội lạm quyền. Tôi không tán thành hình phạt tử hình nhưng không thể không bực mình khi đọc báo cáo của Walt Friedenberg, phóng viên của tờ Scripps Howard về phán quyết này. Friedenberg nói như sau: "chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã tự đẩy mình xa cách hơn nữa đối với quần chúng mà đáng lẽ họ cần phải giành niềm tin, vì họ là những người ủng hộ nhiệt thành nhất." Và tiếp theo đó là những cuộc phỏng vấn theo khuôn mẫu "người dân phường ngoài phố" với các tài xế taxi, chủ các cửa tiệm, người giúp việc nhà và những người khác mà theo Friedenberg họ đều tức giận trước cái án tử hình bởi một người mà theo chính lời nói của Friedenberg là một tay "tham nhũng xấu xa như một cái móng ngựa." Tôi tự nhủ không biết anh ta tìm đâu ra những lời nói chỉ trích dữ dội như trên vì tất cả những người tôi nói chuyện sau cuộc hành quyết Tạ Vinh đều cho rằng đã đến lúc chính phủ phải có hành động gì đó trước làn sóng những tội ác kinh tế đang lan tràn có nguy cơ đưa đến một cuộc nổi loạn. Một lần nữa tôi nghĩ rằng một thành phần báo chí Hoa Kỳ tại Sài Gòn đang chuyển qua một trạng thái nghề nghiệp khác.


Bên ngoài khách sạn Continental Palace tôi chạm trán với anh bạn tinh quái Đức, người đang "mướn" và trông nom cái xe Citroën của tôi. "Hề hề," nó nói, "Tạ Vinh, ông ta không chết đâu." "Vớ vẩn," tôi trả lời, "tôi thấy vợ ông ta khóc la thảm thiết khi ông chết bên cái cọc rồi." "Hề hề, đúng vậy, vợ Tạ Vinh khóc nhưng Tạ Vinh ông ấy không chết đâu." "Thôi đi, Đức, thật là vô lý. Vậy thì ai bị bắn chết?" "Tù nhân khác, một người Việt Nam tội nghiệp đã được trả tiền để chết thay cho Tạ Vinh." "Đức, tỉnh lại đi nào. Ai mà lại đi nhận một chuyện như vậy? "Ông ta thật tội nghiệp, đằng nào cũng chết trong tù rồi bỏ lại vợ con không đồng xu dính túi. Nhưng bây giờ thì gia đình giàu có lắm, và Tạ Vinh thì đi Hồng Kông rồi." "Nhưng mà Đức, tôi cãi lại. Một người béo mập đã chết bên cái cọc. Chắc chắn trong tù chỉ có Tạ Vinh mới béo như vậy." "Người đó béo ra vì gia đình Tạ Vinh cho ông ta ăn thật nhiều trong tù để trông giống Tạ Vinh hơn." "Ai nói như vậy?" "Tất cả mọi người," Đức vừa nói vừa chỉ tay lên xuống dọc con đường Tự Do, "ông không tin tôi. Đi hỏi mọi người đi!" Cho đến ngày hôm nay, tôi vẫn tin tưởng những gì Đức nói với tôi chỉ là một câu chuyện đồn đãi mà chúng ta có thể nghe được hằng ngày ở Sài Gòn. Tôi kể lại đây không phải vì tôi tin đó là sự thật nhưng chỉ vì nó đã minh họa rất hay cái tâm trạng của "Paris cũ của Phương Đông" đã mất đi vẻ hào phóng xưa và chìm dần sâu hơn vào vũng lầy trong khoảng thời gian Nguyễn Cao Kỳ, người được mệnh danh là "chàng phi công với cặp mắt đa tình", nhảy lên cầm quyền một thời gian ngắn trong lịch sử Việt Nam.


Chương 10 Gái ca ve và sư đầu trọc nhẵn thín Năm 1966 tôi trải qua tổng cộng tám tháng tại Việt Nam nhưng không phải liên tục trong cùng một lúc. Tôi đi lại giữa Sài Gòn và New York để làm phóng sự cho cả hai mặt của cuộc chiến bao gồm các hoạt động quân sự chính trị tại chỗ và những biến chuyển đáng lo ngại tại mặt trận nội bộ nước Mỹ. Hầu như mỗi lần trở lại Việt Nam tôi đều được đón tiếp một cách trang trọng khá bất thường đối với một phóng viên chiến trường trẻ tuổi như tôi. Lần nào tôi cũng được một vị trung tá người Đức đón tiếp trong một chiếc Mercedes Benz gắn máy lạnh mang biển số ngoại giao. Viên sĩ quan này là bạn tôi tên Joachim Tzschaschel, tùy viên quốc phòng Tây Đức và là viên chức duy nhất trong tòa đại sứ đã tỏ ý lo ngại là người Mỹ và đồng minh Việt Nam Cộng Hòa khó có thể giành được thế thượng phong tại Việt Nam. Anh ta đã thẳng thừng tuyên bố với các viên chức Hoa Kỳ từ hồi đầu 1966 là: "Người Mỹ các anh không thể nào thắng nổi cuộc chiến này nữa." Không phải là trung tá Tzschaschel muốn Việt Cộng thành công. Ngược lại là đàng khác. Nước Đức và Việt Nam đã chịu chung số phận bị chia cắt thành hai quốc gia tự do và cộng sản cho nên anh ta mong mỏi một cách tuyệt vọng là sự bi quan của anh sẽ không thành sự thật. Tuy nhiên Tzschaschel là một người thực tế. Anh đã nghiên cứu các tác phẩm của đối phương và công nhận tướng Võ Nguyên Giáp đánh giá đúng là Hoa Kỳ không được trang bị về tâm lý đầy đủ để thắng một cuộc "chiến tranh giải phóng dân tộc" kéo dài. Do đó, viên sĩ quan Tây Đức này đã cùng quan điểm với các mối quan ngại của Sir Robert Thompson, chuyên viên chống nổi dậy người Anh, và Bernard Fall, sử gia người Pháp. Đặc biệt có một nhận xét lạnh lùng của Mao Trạch Đông mà cả ba người Tzschaschel, Thompson và Fall vẫn luôn trích dẫn cho bạn bè thuộc giới chức quân sự Hoa Kỳ nghe là: ai mà không thắng trong một cuộc chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích thì sẽ thua và ai không thua thì sẽ thắng." Tzschaschel có lần nói với tôi, "nhiều người trong số bạn bè thuộc giới quân sự Mỹ đã quá quen thuộc với nhận xét này, và nó đã làm họ trầm ngâm, bởi vì họ biết là tầng lớp tinh hoa và lãnh đạo nước họ đã thiếu quyết tâm để dành chiến thắng tại Việt Nam." Một người khác, có cùng lập luận hoài nghi tương tự là người bạn tên Adelbert Weinstein của Tzschaschel, phân tích gia quân sự tuyệt vời của tờ báo nổi tiếng Frankfurter Allgemeine Zeitung tại Đức. Ông đã từng là đại tá Trưởng ban 1 của một sư đoàn bộ binh Đức trong Thế Chiến Thứ Hai và sau này lên thiếu tướng trong quân đội trừ bị Tây Đức. Weinstein đã tường thuật cả hai trận chiến Đông Dương. Năm 1975 ông viết một bài bình luận đầy xúc động về cuộc thất thủ của Sài Gòn, kết thúc bằng một dòng chữ đầy bi thương: "Nước Mỹ đã không thể chờ đợi nổi." Nói cách khác, Hoa Kỳ đã không đủ kiên nhẫn để kết thúc cuộc xung đột bằng một chiến thắng. Điều này làm cho người Tây Đức bối rối vì họ bị lệ thuộc hoàn toàn vào Hoa Kỳ để bảo vệ họ chống lại mối hiểm họa về sức mạnh quân sự từ Liên Sô. Đây là lý do tại sao trung tá Tzschaschel, mỗi lần lái xe đưa tôi từ Tân Sơn Nhứt về khách sạn Continental Palace đều háo hức truy tôi về tình hình tại Hoa Kỳ. Các phong trào hòa bình ra sao? Có dấu hiệu gì về sự mệt mỏi của chiến tranh chưa? Người Mỹ nghĩ sao về vụ tranh giành quyền lực dường như vô lý giữa thủ tướng Kỳ và kẻ thù bất cộng đái thiên của ông là Trung tướng Nguyễn Chánh Thi? Ông này mới bị Kỳ loại ra khỏi cương vị tư lệnh quân đoàn một tại vùng cực Bắc của miền Nam Việt Nam sau các cuộc đụng độ vũ trang giữa các đơn vị quân đội Việt Nam Cộng Hòa với nhau. Điều gì tác động đến, nếu có, ý kiến công chúng ở Hoa Kỳ qua những biến động mới đây của Phật giáo, kết quả của sự tranh giành quyền lực này? Có đúng là người dân thường ở Mỹ cho rằng những sự tăng gia bạo động này là bằng chứng cho việc dân chúng đã mất niềm tin nơi chính quyền Kỳ và không đáng để người Mỹ đổ máu cho nữa? Tất nhiên là Tzschaschel đã đọc các bài tường thuật của báo chí Mỹ và công văn từ tòa đại sứ của chúng tôi ở Washington nhưng anh muốn tìm hiểu thêm. Biết là tôi đã không giới hạn sự tìm tòi tại Washington và New York mà chu du khắp nước Mỹ, chú tâm vào tâm trạng của người dân ở sâu trong nội địa và trong các khu đại học, ông đã tra vấn tôi như một phóng viên dày dặn kinh nghiệm muốn biết người dân thường nghĩ ra sao.


Tuy nhiên, có một lần, lúc cuộc khủng hoảng Phật giáo năm 1966 đang lên cao độ nhất, sự sắp xếp giữa chúng tôi đã bị trở ngại. Như bình thường, tôi đánh điện ngày giờ trở lại Việt Nam của tôi đến địa chỉ điện tính của anh ta, Diplogerma Saigon nhưng không nhận được điện trả lời. Tôi linh cảm là anh không vui và đoán lý do là trong lúc tôi vắng mặt ở Sài Gòn, một ký giả tự do của tờ báo lá cải Bild am Sonntag, tờ báo chủ nhật lớn nhất của Đức thuộc nhóm Axel Springer, đã đến Việt Nam. Trước khi rời Hamburg anh ta đánh điện xin tôi danh sách một số địa chỉ liên lạc hữu dụng và tôi đã cho anh ta. Vụng về thay, tôi lỡ cung cấp tên của Tzschaschel, nghĩ rằng tay ký giả này sẽ không bao giờ chính thức nêu tên ông trung tá ra. Có nghĩa là Tzschaschel sẽ chỉ cho ý kiến ngoài lề, và danh tánh sẽ không bị tiết lộ. Thời đó, bảo vệ nguồn tin là một nguyên tắc đạo đức tất yếu trong nghề làm báo, và cũng là một điều danh dự mà ngày nay các siêu sao đầy cao ngạo về thông tin thường hay vi phạm. Tôi đã tin tưởng người đồng nghiệp Đức này phải tôn trọng điều đó. Tuy nhiên khi đọc bài viết của hắn hai tuần sau đó, tôi đã nổi điên lên. Bài viết huênh hoang là một "phóng sự độc quyền" nhưng thực tế là một bài bình luận thô sơ về những nhận xét bi quan của "trung tá Joachim Tzschaschel, tùy viên quốc phòng Đức Quốc." Tôi lo ngại là bài viết ngu xuẩn trên trang chính này sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng nghề nghiệp và có thể cả sự nghiệp của anh bạn tôi. Cũng may là nó chứa đựng quá nhiều dữ kiện sai lạc thành thử cấp trên của anh trung tá tại Đức đã nhận ra ngay nguyên nhân chính của sự trục trặc này: tay ký giả tôi gửi đến Tzschaschel chỉ là một gã nghiệp dư muốn chơi nổi. Cảm ơn Chúa là tôi đã dấu hắn một chi tiết quan trọng về Joachim Tzschaschel! Sự thật anh ta không phải là một viên sĩ quan cấp tá tầm thường hoạt động tại khu vực nhiệt đới mà là một ngôi sao của tình báo Đức. Anh chỉ huy văn phòng tại Sài Gòn của cơ quan BND Đức, một cơ quan tương tự như CIA của Mỹ vậy. Sáu năm trước đó, với cấp bậc thiếu tá trong đoàn tùy viên quân sự của tòa đại sứ Đức tại Paris, anh đã từng là một trong những sĩ quan liên lạc của BND hoạt động với Mossad của Do Thái trong "chiến dịch Eichmann". Chiến dịch này sau đó đã dẫn đến việc bắt giữ và tử hình treo cổ tay đồ tể diệt chủng Eichmann. Vài năm sau này được thăng thiếu tướng, Tzschaschel trở thành nhân viên cao cấp của BND, cố vấn cho thủ tướng Helmut Schmidt. Tôi lo lắng đã làm mất niềm tin của một trong những tay phân tích chiến lược giỏi nhất trong lĩnh vực tình báo và quan trọng hơn nữa là làm sứt mẻ tình bạn với một sĩ quan có đầu óc sắc bén phi thường nhưng lại có tính khôi hài. Cuối cùng té ra tôi lại được "thưởng" thay vì bị "phạt" và được tham dự thoáng chốc vào cái thế giới đầy thủ đoạn của anh. Khi chuyến máy bay Pan Am của tôi đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhứt, trung tá Tzschaschel không có mặt nhưng thượng sĩ Abraham, hạ sĩ quan tùy viên của anh ra đón tôi tại trạm kiểm tra quan thuế. Abraham lấy vali đưa tôi ra ngoài trạm ga hành khách đến một chiếc xe DKW Munga màu xám ô-liu, một loại xe chạy trong mọi địa hình nhưng khá yếu vì chỉ trang bị động cơ hai thì phun khói xanh tùm lum. Chiếc xe khá giống chiếc Jeep mang biển số đen trắng của quân đội Đức và có màu quốc gia đen đỏ vàng của Đức trông vui nhộn một cách đặc biệt lúc phun khói chạy khắp các đường phố hỗn loạn của Sài Gòn, thu hút các cặp mắt tò mò đầy kinh ngạc. "Ông trung tá không được vui," Abraham nói. "Tôi biết, tôi đã làm một chuyện ngu ngốc là đưa tên ông ta cho cái thằng cà chớn từ Hamburg. Như người ta thường nói ở Sài Gòn: tôi rất ân hận về chuyện này." "Anh sẽ phải trả giá về chuyện này." Thượng sĩ Abraham tháu cái tôi với vẻ mặt tỉnh bơ của một tay đánh xì phé. "Bằng cách nào? "Anh sẽ biết thôi," Abraham nói. "Ông trung tá muốn anh phải đi tắm và thay đồ thật nhanh rồi đi gặp ông tại một tiệm ăn. Tôi sẽ chở anh đi. Ông ta lấy xe của anh rồi." "Còn chiếc Mercedes của ông ta thì sao?" "Mang đi thay nhớt rồi." Cái nhà hàng mà thượng sĩ Abraham đưa tôi đến buổi chiều sớm hôm đó là một trong những nơi kỳ diệu rất đặc trưng của Sài Gòn. Đó là một phòng trà cổ điển với các món ăn Pháp tạm được, có một ban nhạc lớn và có ca sỹ hát những bản nhạc của thập niên 1950 với các giai điệu tango, valse, chachacha, rock'n roll nhẹ, thỉnh thoảng lại chơi twist nữa. Tại đó có một đám ca-ve, không phải là


gái mại dâm mà là những phụ nữ đẹp với giá 200 đồng một vòng nhảy và phải trả trước cho một "tài pán" trước khi vào sàn nhảy. Ở đây không phải là một quán rượu nhếch nhác cho đám lính Mỹ GIs mà là một lời trú ẩn cho những người Việt Nam và Châu Âu hoài niệm thời gian hạnh phúc xa xưa. Đây cũng là loại địa điểm mà các phóng viên chiến trường có thể gặp gỡ bí mật các đại diện của "Mặt Trận Giải Phóng", một tổ chức chính trị của Việt Cộng. Nếu trường hợp này xảy ra thì chúng ta thường thấy một tổ chức tam tam cộng sản sẽ háo hức xuất hiện, gồm một tay công đoàn vạm vỡ, một tên thuộc hạng bộ đội khó chịu và một trí thức điển hình Á châu với gọng kính có cột dây. Trong bọn họ sẽ có một tên mang cái áo mưa khoác quanh tay, đó là dấu hiệu nhận dạng của họ. Tôi không ngạc nhiên khi thấy trung tá Tzschaschel trong cái phòng trà này vì đây chính là một nơi vô danh thích hợp nhất cho các tay tình báo hoạt động. Ánh đèn mờ ảo, chủ nhà hàng kín đáo, Nhân viên phục vụ hiệu quả và khách hàng là một đám đông chọn lọc nhưng bàng quan không chú ý đến gã người Âu hói đầu trạc tuổi trung niên, tầm trung bình lại gặp kè hai bên là hai phụ nữ Việt Nam khả ái trong trang phục Tây Phương. Nhìn kỹ hơn chúng ta có thể nhận ra cái kỳ quặc của bộ ba trong ở nơi chốn này. Hai người phụ nữ có lẽ trong lứa tuổi ngoài 30, nói tiếng Pháp rất chuẩn của sinh viên tốt nghiệp đại học Sorbonne và có dáng dấp của những phu nhân các sĩ quan cao cấp hay có thể là goá phụ không chừng. "Đây là Mai,", Tzschaschel nói, vừa gõ vào cánh tay dưới của người phụ nữ bên trái. "Tôi nghĩ anh có thể có một buổi tối vui với cô ta," anh tiếp lời với một nụ cười tinh quái. "Dĩ nhiên là anh biết rồi," Uwe, "bữa ăn tối này là của anh đấy, Uwe, của anh đấy! Anh nợ tôi chầu này." "Tôi biết, Trung tá, tôi biết mà!" Tôi trả lời. Tôi không biết là Tzschaschel có nhắc đến tên của cô kia hay không nhưng tôi nhớ cô rất nổi bật. Cặp mắt sáng, tò mò và vui vẻ nhưng cũng khá đoan trang. Cô này lập tức tiếp chuyện tôi về vai trò của truyền thông báo chí tại Việt Nam. "Anh có biết thượng tọa Thích Tâm Châu không? Cô hỏi thăm. "Vâng, tôi biết. Ông ta là một lãnh tụ phật giáo ôn hòa ở Sài Gòn này," tôi trả lời. "Tôi có một mối quan hệ khá tốt với ông ta. Gần đây ông có mời tôi dạy tiếng Đức trong Viện Đại học Vạn Hạnh." "Thế ư! Mà tại sao lại là tiếng Đức? Cô hỏi "Vì mục đích nghiên cứu. Tất cả các văn bản thiêng liêng quan trọng của Ấn Độ giáo và Phật giáo đều được biên soạn và nhận xét lần đầu tiên bằng tiếng Đức bởi nhà triết học Max Müller [1823- 1900]." "Nếu vậy thì có lý để các nhà học giả Phật giáo học tiếng Đức thật. Anh có biết là ông Thích Tâm Châu đã ra lệnh cho đệ tử của ngài chấm dứt các cuộc tuyệt thực chống chính phủ Kỳ và không được tự thiêu nữa không?" Cô hỏi thêm. "Biết." "Nhưng giới truyền thông Hoa Kỳ không muốn tường thuật chuyện này. Tại sao vậy?" "Họ có đề cập đến chứ, nhưng hầu hết không muốn làm lớn chuyện. Họ thích nhấn mạnh về chuyện quân đội với súng gắn lưỡi lê đang bao vây Viện Hoá Đạo trong đó có hàng trăm người đang có nguy cơ mắc bệnh thổ tả." Viện Hóa Đạo, hay Viện Truyền Bá Phật Pháp là nơi đang xảy ra những cuộc biểu tình bạo lực chống Kỳ và các đồng minh Hoa Kỳ. "Những cuộc bạo động này không đúng tinh thần Phật giáo chút nào," cô nói tiếp. "Tại sao giới ký giả Mỹ không biết điều này? Sao họ thiển cận vậy?" "Có nhiều phóng viên Mỹ rất khá và không thiển cận nhưng đa số thì quả thật có thành kiến. Cô nói đúng! Tại sao vậy? Tôi đoán là họ chỉ muốn viết cho nhau đọc chứ không màng đến công chúng. Thật dễ dàng vô cùng khi diễn tả cuộc xung đột này là một cuộc đụng độ giữa văn hóa Phật giáo của Việt Nam và một chế độ áp bức quân sự. Tôi biết đây chỉ là một ví dụ sáo rỗng ngu ngốc. Nhưng nếu muốn yên thân về nghề nghiệp thì tốt nhất đừng đi chệch ra khỏi các khuôn mẫu của Zeitgeist (hướng suy nghĩ chung)," tôi giải thích. "Thôi, mặc kệ Zeitgeist, anh đi xem tận mắt đi! Thật là hay nếu biết anh nghĩ sao về những người gọi là 'nhà sư' mà đi trang bị gậy gộc và xích xe đạp," cô nói, kết thúc cuộc trao đổi với tôi.


Người phụ nữ "không tên" đứng lên cùng với Tzschaschel. "Chúng tôi phải đi đây," anh nói. "Anh ở lại chơi một chút được không, mời Mai ra sàn nhảy vài bản đi, sau đó thì đưa cô ta về nhé? Nhà Mai ở đối diện với Viện Hóa Đạo trong một khu phố đang bị quân đội phong tỏa. Taxi, xích lô hay xe tư nhân đều bị cấm ra vào sau khi trời tối trừ phi có giấy phép lưu thông đặc biệt." Vừa cười khúc khích, Tzschaschel vừa tiếp: "Dĩ nhiên thượng sĩ Abraham có thể đưa mình đến đó nhưng nếu tụi mình xuất hiện ngoài chốt chận trong một cái xe Munga của quân đội Đức thì dễ bị chú ý lắm. Còn anh thì sẽ không gặp trở ngại gì với cái thẻ thông hành báo chí và nhãn tòa đại sứ trên kính chắn gió. Đó là lý do vì sao tôi đã mang cái xe Citroën cũ của anh đến đây tối nay. Nó đang đậu ngay ngoài cửa đó." Tzschaschel cười vui vẻ với tôi và cả hai bước thong dong ra phía cửa ra về trong tiếng nhạc rumba. Như đã dự định, tôi nhảy với Mai một vài bản rồi đưa nàng về. Gần đến nhà Mai, tôi phải lái qua những đám đông người biểu tình giận dữ và một loạt những nút chận kiểm soát của quân đội. Căn phòng khiêm nhường của Mai ở trên một cửa hàng đối diện với Viện Hóa Đạo. Bên trong làm tôi ngạc nhiên vì nó sạch sẽ một cách bất thường và không có vẻ gì là của người Việt Nam cả. Phòng khách được trang bị đơn giản với một bộ bàn ghế theo kiểu thập niên năm mươi gồm một cái ghế bành dài sofa và một cái bàn nhỏ hình trái thận trên đó có đặt từng chồng những bài báo cắt ra từ báo chí và được xếp rất ngăn nắp. Tuy nhiên điều làm tôi ngạc nhiên nhất tại đây là cái điện thoại đặt trên một cái kệ bên cạnh cửa sổ. Đó là một cái máy hết sức tối tân với hai chữ T và N trong một hình thoi. Đó là huy hiệu của công ty sản xuất tại Frankfurt mang tên Telefonbau und Normalzeit GmbH. Một chỗ duy nhất khác mà tôi thấy có cái điện thoại tương tự ở Sài Gòn là tòa đại sứ Đức. Mai đưa cho tôi một chai bia Löwenbräu và đề nghị: "Anh đừng quay lại khách sạn đêm nay. Giờ này ra ngoài đường nguy hiểm lắm. Ở lại đây với em đi. Anh ngủ ngoài ghế dài nhé." Qua thái độ của nàng tôi cũng hiểu được là nàng không có ẩn ý gì. Ham muốn thể xác không nằm trong chương trình của nàng tối nay. Sau đó, Mai mang lại cho tôi một cái bàn chải đánh răng mới, hai cái khăn tắm, một cái gối, chăn đắp và đi vào phòng ngủ. Tiếng reo của cái điện thoại Đức làm tôi tỉnh giấc sáng sớm hôm sau. Tzschaschel gọi tôi. "Sao, ngủ ngon không?" Anh ta hỏi. "Ngon không ngờ, cho dù bị trái múi giờ." "Coi bộ đúng như vậy," Tzschaschel cười nhẹ. "Nếu không anh đã bị đánh thức giấc bởi tiếng ồn bên ngoài cửa sổ rồi. Ngó cái xem." Bên dưới cửa sổ nhà Mai, tôi thấy một đám đông ồn ào đối diện với một toán quân trang bị súng có gắn lưỡi lê. Phần lớn những người biểu tình là các nhà sư trẻ, trong đó có nhiều người mang gậy gộc và dây xích xe đạp. Họ múa may vũ khí tấn công loạn đả, ngay cả về phía những phóng viên đang đổ dồn tới Viện Hóa Đạo, mong đợi một cuộc tự thiêu nữa của tu sĩ Phật giáo. Ngay phía dưới đường, tôi nhận ra Horst Faas, phóng viên nhiếp ảnh của Associated Press (AP), người đã từng đoạt giải Pulitzer. Horst và tôi là bạn từ thuở chúng tôi làm việc chung ở AP tại Đức. Anh là một phóng viên tạng người lực lưỡng, dũng cảm, nhưng rất hiền lành không bao giờ tấn công một người vô tội. Nhưng bây giờ tôi thấy anh hung dữ đập cả cái máy ảnh to nặng lên đầu trọc của những gã sư trẻ đang giận dữ muốn giật lấy máy ảnh của anh. Tôi mô tả cảnh này cho Tzschaschel. "Anh có thấy màu da đầu của bọn sư không?" Ông hỏi. "Nói chung là đầu trọc nhẵn thính." "Điều đó nói lên cái gì?" Tzschaschel truy tôi. "Họ mới cạo trọc." "Và...?" "Trước đây họ chưa cạo đầu." "Thì sao?" "Đây có lẽ không phải là sư thật. Họ trông giống như Việt Cộng đội lốt nhà sư." "Hoan hô, Uwe! Đó là những gì tôi nghi ngờ," Tzschaschel nói với tôi. "Điều này chứng tỏ có một âm mưu giả dối nhắm vào công chúng ở Hoa Kỳ, và nhiều phóng viên Mỹ dường như muốn đồng lõa trong việc lừa đảo này." "Buồn nhỉ," tôi trả lời.


"Đúng vậy, thật rõ chán. Nhưng tôi có nguồn tin thú vị cho anh đây. Chiều hôm qua có một nhà sư trẻ được chở đến bệnh viện Grall với độ bỏng cấp ba toàn thân. Điều lạ lùng là sư này thuộc phái Tiểu Thừa Phật giáo thường thấy trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Họ không liên quan đến các cuộc nổi loạn của phái Đại Thừa ở Huế vào Sài Gòn. Tôi biết anh ta đã tỉnh lại và nói chuyện được rồi." "Tôi sẽ cố gắng phỏng vấn anh ấy. Mai có thể thông dịch được." Vào khoảng trưa thì quân đội Nam Việt Nam tạm ổn định được tình hình bên ngoài Viện Hóa Đạo đủ để chúng tôi lái xe đến cái bệnh viện Pháp nổi tiếng được thành lập năm 1861 đó. Đi tìm vị sư bị thiêu không khó chút nào. Chúng tôi chỉ việc đi theo đoàn người bao gồm cảnh sát, nhân viên điều tra, bác sĩ và các sư sãi đang di chuyển về phía phòng anh ta. Chúng tôi ngạc nhiên được phép nói chuyện một chút với nhà sư này. Giọng nói của anh ta khá yếu ở khiến tôi không bắt được một chữ, nhưng Mai cuối sát đầu và cố gắng hỏi ra được đầu đuôi câu chuyện. Anh vốn ở một tịnh xá gần Mỹ Tho vùng đồng bằng sông Cửu Long. Sư chủ trì phái anh lên Sài Gòn để làm chuyện của chùa. Mặc bộ áo cà sa màu vàng nghệ, anh đáp chuyến bay Air Vietnam xuống Tân Sơn Nhứt và đi bộ đến một ngôi chùa nhỏ, chi nhánh phái Phật giáo anh. "Một chiếc xích lô đạp dừng lại bên cạnh tôi, trên đó có một ông sư khoác áo nâu. Ông ta hỏi tôi có muốn quá giang không," vị sư trẻ nói với Mai. "Vì vậy tôi bước lên chiếc xích lô ngồi bên cạnh ông ta ở ghế hành khách. Điều tiếp theo tôi biết là lửa cháy đầy người tôi. Người đi đường đổ xô đến cứu tôi và lấy tấm vải lớn quấn quanh tôi để dập tắt ngọn lửa. Ông sư kia và tay lái xích lô thì biến mất trong đám đông." Nói đến đây bệnh nhân yếu dần và một tay thám tử đang theo dõi cuộc phỏng vấn bổ túc câu chuyện: "Gã sư kia rõ ràng là sư giả. Có lẽ là Việt Cộng giả một cuộc tự thiêu để lừa báo chí. Chúng muốn chứng tỏ cho dư luận thế giới biết là phong trào chống đối của Phật giáo không hề suy giảm và chính quyền đang mất lòng dân hơn bao giờ hết. Điều rắc rối là chúng chọn lầm người và đánh giá sai quyết tâm của người đi đường đã ngăn chặn âm mưu bọn nó và cứu được vị sư trẻ tội nghiệp này." Tôi báo cáo ngay lập tức câu chuyện thương tâm này sau khi từ giã Mai nhưng bài báo của tôi không bao giờ được đăng. Những tay biên tập nước ngoài ở Hamburg mặc dù nói chung ủng hộ sự hiện diện của Hoa Kỳ tại Việt Nam nhưng đơn giản là họ không thể nào hiểu nổi ý nghĩa câu chuyện tôi kể về các nhà sư giả với đầu cạo trọc nhẵn thính và vị sư thật bị đốt cháy vô cớ ngoài ý muốn của mình. Trong một lần nghỉ phép tôi hỏi tại sao vứt bài viết của tôi đi. Họ trả lời là họ không thể nào tìm được những biến cố như vậy trên các tờ New York Times, Washington Post cũng như Los Angeles Time. Mãi vài năm sau họ mới hiểu ra là các phương tiện truyền thông chính thống của Mỹ đã theo đuổi một đường lối không như họ tưởng. Vì ngây thơ tin tưởng vào sức mạnh của truyền thông Hoa Kỳ hơn là phóng viên của mình, họ đã vô tình tiếp tay cho cái thói khó hiểu của một số ký giả Mỹ, chỉ muốn làm suy yếu vị trí của chính quốc gia mình và đồng minh Nam Việt Nam. Một tuần sau văn phòng thủ tướng gọi tôi. Nguyễn Cao Kỳ sửa soạn bay ra Huế sáng hôm sau để họp với các nhà lãnh đạo dân sự và quân sự tại địa phương. Họ hỏi tôi có muốn tháp tùng hay không? Dĩ nhiên là tôi đồng ý ngay. Huế là một cố đồ cổ kính tuyệt đẹp nhưng có tính bài ngoại, và đang là trung tâm của phe Phật giáo đối lập chống lại chính quyền Nguyễn Cao Kỳ. Nơi đây đồng thời là thành trì của đối thủ ông Kỳ, trung tướng Nguyễn Chánh Thi và vị sự nổi loạn Thích Trí Quang. Bay đến Huế cùng với một đoàn phóng viên, Kỳ đang cố chứng tỏ ông đang hoàn toàn nắm vững tình thế. Chúng tôi bay bằng máy bay thường đến phi trường Phú Bài và sau đó chuyển qua trực thăng để bay thêm khoảng 10 dặm nữa vào thành phố. Tôi ngạc nhiên một cách thích thú khi thấy anh chàng Eberhard Budelwitz dũng cảm, ngôi sao của "Hí trường của sự phi lý" cũng đi cùng với chúng tôi. Anh ta uốn éo một cách khoái chí trong sợi dây an toàn khi những chiếc trực thăng quân sự nhào lộn ngoạn mục trên Cổ Thành cố đô bên bờ sông Hương. Đáp xuống đất, tôi từ giã phái đoàn ông Kỳ để đến thăm chớp nhoáng giáo sư Horst Günter Krainick và vợ ông là bà Elisabeth. Lúc ăn trưa, Krainick tự hào khoe với tôi món sở hữu yêu quý nhất của ông trên tường phòng ăn: một bộ sưu tập tranh vẽ trên kiếng tuyệt đẹp. Ông nói, tôi hy vọng là chúng được an toàn tại đây nhưng tôi ngại là Huế không còn là một chốn yên ổn như trước nữa. Đó là lần cuối cùng tôi gặp họ. Hai năm sau, họ bị giết chết và tôi mường tượng ra cảnh tượng những bức tranh này bị đập phá bừa bãi.


Tôi quay trở lại kịp thời với phái đoàn ông Kỳ để đáp chuyến bay trực thăng về. Khi chúng tôi về gần bãi đáp, Thủ tướng Kỳ túm lấy cánh tay tôi và chỉ vào một "đống" đang nằm dưới càng trực thăng: "Trời ơi cái gì đây? Không thể nào tin được đó là ông bạn đồng hương Budelwitz của anh!" Rõ ràng là Budelwitz đã rớt ra khỏi trực thăng và may mắn là nó đã không đáp ngay lên người để bị gãy xương mà hạ càng an toàn chung quanh cái cơ thể đẫm rượu vốt ka của anh. Rồi lại còn tạo ra bóng mát để anh ngủ thoải mái cho đến khi giã rượu. Cười sảng khoái, Nguyễn Cao Kỳ kéo Budelwitz từ dưới chiếc trực thăng ra và một tùy viên giúp ông đưa anh ta lên trực thăng cột dây an toàn lại. Tôi rất khoái chí về giai thoại này. Sau khi chứng kiến bạo lực tại Viện Hóa Đạo và đi thăm vị sư trẻ bị đốt tại bệnh viện, đây là một cảnh tượng tuyệt vời của lòng người. Lại một lần nữa, Budelwitz đã xuất sắc đóng vai trò của mình trong "Hí trường của sự phi lý". Trong những tuần lễ sau đó, mọi chuyện trở nên tồi tệ đối với tôi. Đột nhiên tôi ngã bệnh thật nặng. Tôi không thể nào ăn uống được gì nữa, không đi đâu được, không gặp được ai cũng như không thể tập trung để viết lách gì cả. Tôi cảm thấy đau bụng vô cùng và sau này được kể lại là có lẽ cơn đau của tôi ngang với mức độ đau đớn của sản phụ chuyện bụng hay bệnh nhân bị phỏng độ ba. Tôi sút cân tới mức độ phải dùng dây thừng để túm lại quần. Một đêm kia cơn đau đạt tới mức cực điểm khiến tôi đã hét kinh hoàng tới mức làm hàng xóm và nhân viên của khách sạn Continental thức dậy. Nhưng họ không biết làm gì hơn là cho tôi uống trà xanh. Vì giới nghiêm nên không thể gọi bác sĩ đến khách sạn khám cho tôi được. Sáng sớm hôm sau khoảng sáu giờ, cơn đau giảm bớt đôi chút. Tôi lảo đảo bước ra chiếc xe Citroen cũ kỹ, bảo Đức và đám lâu la tìm chỗ khác mà ngủ. "Ông Đức ơi, trông ông thê thảm quá," Đức nói với tôi bằng cái biệt danh nó đặt cho tôi, có nghĩa là người Đức vừa có nghĩa là đức hạnh nữa. "Chắc tao chết mất," tôi trả lời. "Ông nghĩ ông định đi đâu vậy, ông Đức?" "Đến bệnh viện Hải quân Mỹ trong Chợ Lớn," tôi nói. "Ông không thể đi một mình được. Cho tôi đi theo với." Tôi chạy chậm chạp đến trung tâm y tế Hoa Kỳ trong phố tàu Chợ Lớn, mỗi lần bị ngừng tại các giao lộ lại càng cảm thấy cơn đau tăng gấp bội. Đức thì luôn xoa vuốt cánh tay phải của tôi. Tôi chỉ còn nhớ mang máng những gì đã xảy ra sau đó. Rõ ràng là tôi phải đậu lại ngoài cổng bệnh viện để thả Đức xuống vì cậu ta không có giấy tờ cần thiết để vào một cơ sở quân sự. Sau này tôi được biết là tôi đã bỏ lại chiếc xe Citroen vẫn còn nổ máy và cánh cửa phía tài xế còn mở toang. Tôi không bao giờ tìm lại được cái xe đó nữa. Điều tệ hại nhất là tôi không bao giờ gặp lại Đức. Vài tháng sau khi trở lại khách sạn Continental thì Đức và hầu hết nhóm lâu la của em đã bỏ con đường Tự Do rồi. Trong phòng cấp cứu, tôi lảo đảo nối đuôi một hàng dài lính GIs đang chờ thử nghiệm bệnh hoa liễu. Tôi còn nhớ giọng cộc cằn của một tay sĩ quan trưởng cấp thấp đang nắn bộ phận sinh dục của một bệnh nhân, miệng thốt lên "Đồ con lợn ạ, con dính chấu rồi, đồ con lợn à, con dính chấu rồi," có nghĩa là anh chàng đã mắc bệnh lậu. Khi tôi đến gần và cúi xuống, hắn gầm gừ, "này ông ơi, ông bị kiết lỵ, cánh cửa đầu tiên bên tay phải." Sau đó thì hắn tiếp tục lảm nhảm: "Đồ con lợn ạ, còn dính chấu rồi, đồ con lợn ạ, con dính chấu rồi." Tôi bước vào căn phòng mà hắn chỉ cho tôi, có lẽ là phòng khám bác sĩ và té xuống bất tỉnh nhân sự. Ba ngày sau tôi thức dậy và tưởng chừng như đã qua đời rồi và đang ở trên Thiên Đàng. Cơn đau đã biến mất, cũng như cái nóng nực và độ ẩm thấp. Tôi nghe thấy tiếng nhạc cổ điển Tây Phương và một vị thiên thần đang nghiên đầu xuống trên mặt tôi. Nàng mặc đồ màu trắng toát nhưng có mái tóc dài đen mướt thật đáng yêu. Mãi một lúc sau tôi mới nhận ra là tôi còn sống trên giường bệnh viện và người đó không phải là thiên thần mà là một cô y tá hải quân Hoa Kỳ với mái tóc đen thật dễ thương mang cấp bậc hải quân thiếu tá. Tôi luôn nghĩ rằng quân phục hải quân trắng của phụ nữ rất hấp dẫn nên cố gắng làm một nỗ lực yếu ớt để thể hiện tính hào hoa. Nhưng cô ta kéo mạnh tấm chăn ra khỏi thân tôi nói, "Thưa ông, ông không còn hơi sức đâu để mà tán tỉnh nữa. Trông kìa, trông ông giống như mới ra khỏi trại tù Ausschwitz vậy." Tôi thấy cô ta nhìn chăm chăm vào bộ xương khốn khổ gọi là thân thể của tôi. Tôi vội vàng xin cô đắp chăn lại cho tôi thật nhanh.


"Ông rất may mắn là còn sống sót đấy," cô bảo tôi. "Ông chỉ còn cân nặng không đầy 50 ký lô khi nhập viện và hoàn toàn mất nước vì bệnh kiết lỵ. Ông sẽ tịnh dưỡng tại đây một vài ngày nữa đến khi tình trạng ổn định hơn để có thể đi lại được. Tôi đã liên lạc với các sếp của ông rồi. Họ sẽ cho ông về Đức ngay sau khi ông đủ sức để đáp máy bay. Họ đã đặt mua ba vé máy bay Air France đến Paris để ông có thể ngã dài lưng thoải mái. Ông sẽ được điều trị tại bệnh viện nhiệt đới ở Hamburg. Thật là thích thú được làm việc với người của Axel Springer. Sếp của ông sốt sắng và đàng hoàng lắm!" Ba ngày sau tôi được chở đến phi trường Tân Sơn Nhứt. Hành lý của tôi đã có sẵn tại đó rồi. Ai đó - cho đến nay tôi vẫn không biết là ai - đã thu dọn đồ đạc của tôi trong khách sạn Continental. Đúng như cô y tá đã báo trước, ba ghế máy bay đã được dành sẵn cho tôi ở khoang vé tiết kiệm trong chiếc máy bay Boeing 707 của hãng Air France. Tôi hầu như ngủ vùi trong suốt chuyến bay đến Paris-Orly và từ đó tôi đáp máy bay chuyển tiếp về Hamburg. Viên chủ bút của tôi, Julius Holding, người đã từng bắt tôi hoãn lễ cưới bốn năm về trước, đến đón tôi tại phi trường với một vẻ mặt như đi đưa đám. Ông thông báo với tôi là theo lệnh của sếp lớn Axel Springer, tôi sẽ không phải nằm trong Viện Y học Nhiệt đới Bernhard Noocht mà chỉ điều trị ngoại trú tại đó. Springer đã dành sẵn một căn suite trong khách sạn Reichshof nổi tiếng sang trọng. Như vậy thoải mái cho tôi hơn là trong bệnh viện và xe của công ty sẽ đưa đón tôi mỗi buổi sáng. Khi tôi đến Reichshof, Gillian vợ tôi đã chờ sẵn cùng với mẹ tôi và ông chồng mới của bà. Mọi người đã bay đến thành phố do Springer mời. Sau ba tuần lễ điều trị tôi được cấp thêm ba tuần nghỉ phép ở Áo, tất cả do Axel Springer đài thọ và còn được đi du lịch nước Scotland cùng với Gillian trên chiếc xe Rolls Royce có tài xế riêng trong chuyến đi Âu châu sau đó. Ngày nay tôi vẫn không hiểu tại sao hai năm sau đó tôi lại nhẫn tâm từ giã người sếp tốt bụng đó để gia nhập tạp chí Stern mà sáng lập viên và biên tập không có được những phẩm chất nhân bản như Springer. Đôi khi tôi hoài nghi là những con vi trùng kiết lỵ Sài Gòn không những đã tấn công bộ tiêu hóa mà cả bộ óc của tôi nữa.


Hồi tưởng sáu Cố ý để thua trận "Cuộc chiến chúng ta không thể thắng, không nên thắng, đã không thắng nổi." "Kẻ thù giả định không hiện hữu." Giáo sư John Kenneth Galbraith, Chủ tịch hội người Mỹ hành động cho dân chủ trong làm thế nào để ra khỏi Việt Nam New York: Signet Books, 1967 "Thật là vô lương tâm khi các nhóm cực đoan đã chuyển cho nhau những bức thư kết án tôi những chuyện khủng khiếp, cho rằng tôi là kẻ phản bội. Những điều dối trá này đã lưu hành gần 40 năm nay, liên tục khơi lại vết thương của chiến tranh Việt Nam." Ý kiến của Jane Fonda trong The Huffington Post về phản ứng tại Hoa Kỳ đối với bức ảnh năm 1972 chụp cô ngồi trên một dàn hỏa tuyến Bắc Việt nhắm bắn vào bình lính Mỹ. "...Càng lúc càng rõ ràng... cách hợp lý duy nhất để ra khỏi... sẽ là bằng đàm phán, không phải với tư thế của kẻ chiến thắng, mà như một dân tộc có danh dự đã hoàn thành lời cam kết để bảo vệ nền dân chủ và đã cố gắng hết sức để thực hiện điều đó." Walter Conkrite trên CBS News, ngày 27 tháng 2 năm 1968 "Tôi đã mất Conkrite tức tôi đã mất thành phần trung lưu của nước Mỹ." Tổng thống Lyndon B. Johnson nói với các phụ tá sau khi nghe lời nhận xét của Conkrite "Khi nhìn lại, rất hiếm khi mà cơn khủng hoảng đương thời về thông tin lại có thể chuyển hướng quá xa vời với thực tế như vậy. Về căn bản, những chủ đề chính trong chữ nghĩa và phim ảnh về Việt Nam... đã vẽ lên viễn ảnh một cuộc thất trận của Đồng Minh. Ngược lại, các sử gia đều kết luận rằng cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân đã dẫn đến một thất bại về chính trị và quân sự nghiêm trọng đối với Hà Nội tại miền Nam." Peter Braestrup, trong "Câu Chuyện Lớn". New York: Westview Press, 1977. Trang 508 "Kẻ thù... không có được... các phương tiện tâm lý và chính trị để theo đuổi một cuộc chiến tranh lâu dài." Võ Nguyên Giáp trong một bài phát biểu trước các chính uỷ của sư đoàn 316 Bắc Việt. "Ai không thắng nổi một cuộc chiến tranh nhân dân hay chiến tranh du kích thì sẽ thua. Ai không thua thì sẽ thắng." Mao Trạch Đông theo trích dẫn của Sir Robert Thompson


Chương 11 Các dạng nghỉ ngơi và phục hồi sức khỏe Chỉ hai tháng sau vụ thập tử nhất sinh tại bệnh viện Hải quân Hoa Kỳ tôi đã trở lại nhiệm sở ở Việt Nam. Kết quả công việc điều trị y tế ở Hamburg thành công mĩ mãn và ba tuần lễ tại Áo với khí hậu ôn hòa, âm nhạc, thực phẩm và rượu ngon là cách nghỉ ngơi và phục hồi sức khỏe tốt nhất, còn gọi là "R&R" (Rest and Recuperation) theo lối gọi của dân nhà binh. Tôi cảm thấy sung sức trở lại. Trọng lượng trở lại 64kg, mức trung bình vào thời điểm đó trong đời tôi. Tôi còn mơ mộng là đã sẵn sàng để gặp lại cô y tá thiên thần tóc đen trong bộ quân phục Hải quân Hoa Kỳ với cấp bậc thiếu tá ngày trước. Nàng nỡ nào từ chối tấm lòng ưu ái của tôi, lại còn mỉa mai tình trạng đáng thương của thân thể nhiễm vi trùng amib của tôi vào hè trước đó nữa. Dĩ nhiên là tôi chẳng bao giờ gặp lại được cô ta. "Anh có vẻ sẵn sàng ra trận được rồi đấy," Trung tá Tzschaschel nhận xét với một nụ cười châm biếm trong lúc lái xe đưa tôi từ phi trường Tân Sơn Nhứt về khách sạn Continental trên chiếc Mercedes màu đen của anh. "Có vẻ như vậy lắm," tôi đáp lời. "Sao, có tin tức gì mới không?" "Có tin vui là Kỳ đã tổ chức thành công tốt đẹp cuộc bầu cử Quốc Hội Lập Hiến mặc dù bọn Việt Cộng đã dùng bạo lực ngăn cản cử tri đi bỏ phiếu." "Còn tin không vui?" Tôi hỏi. "Phong chào chống chiến tranh tại Hoa Kỳ và Tây Âu đang trên đà phát triển nhanh đến nổi tôi không nghĩ rằng các cuộc bầu cử tự do tại miền Nam Việt Nam sẽ có một tác động nào đáng kể. Thật là điên khùng, phải không?" "Sao lại điên khùng?" "Người Mỹ chịu ảnh hưởng xấu quá nặng nề của giới truyền thông báo chí nên họ phủ nhận mọi cố gắng và can đảm tổ chức bầu cử trong lúc đất nước còn đang chiến đấu vì sự sống còn. Anh nghĩ xem, ngay tại Anh Quốc nơi có một nền dân chủ lâu đời nhất của thế giới, các cuộc bầu cử quốc gia đều phải hoãn lại trong Thế Chiến Thứ Hai. Đó là người Anh không có lực lượng địch hiện diện trên hòn đảo của họ." "Đây là một điểm đáng chú ý," tôi nói. "Thật lạ lùng là báo chí Mỹ không đề cập đến nước Anh trong bối cảnh chung này." "Anh có nhớ những gì cô bạn tôi tại phòng trà đã nói với anh trước khi người ta lôi anh ra khỏi xứ này trong tình trạng gần chết không?" Tzschaschel tiếp. "Những người này chỉ viết cho nhau đọc mà thôi." "Anh rất đúng ở chỗ này, hầu hết họ chỉ viết cho nhau xem," tôi nói. "Nhưng chúng ta không thể vơ đũa cả nắm cho tất cả giới báo chí ở đây được. Có nhiều người cũng rất công bằng và có lương tâm nghề nghiệp chứ." "Đúng vậy, nhưng họ không phải là những người có ảnh hưởng lớn đến công luận tại Hoa Kỳ," Tzschaschel tiếp tục. "Chán nhỉ!" Non một tháng sau đó, cuộc bầu cử hoàn tất. Chính quyền Sài Gòn ăn mừng một cách chính đáng tỷ lệ cử tri đi bầu lên tới tám mươi phần trăm. Một thành tích nói lên tinh thần dân chủ đáng ngưỡng mộ mặc dù đang đối mặt với các mối đe dọa khủng bố đến mạng sống và tài sản. Trong tuần lễ trước bầu cử, có 680 vụ khủng bố đã được ghi nhận trên khắp miền Nam Việt Nam, chứng tỏ cộng sản đã cố tình ngăn chặn dân chúng hợp thức hóa chính quyền Sài Gòn trong tinh thần dân chủ. Một vài biến cố không đổ máu: Việt Cộng thiết lập các nút chặn để tịch thu căn cứ của hành khách đi trên những chiếc xe đò đường xa hay xe lam, một loại xe taxi ba bánh chuyên chở công cộng. Làm như vậy, bọn cộng sản muốn các cử tri không thể nào chứng minh được lý lịch tại các trạm bầu cử. Đáng ngạc nhiên là bộ phận chính quyền quản lý tưởng chừng như kém hiệu quả lại có cách để cấp ngay cho dân chúng những tấm căn cước tạm thời. Một số hành vi khủng bố khác thì không kém phần ghê tởm như vụ thảm sát gia đình xã trưởng mà tôi đã chứng kiến năm ngoái tại Trung Nguyên. Các cổ động viên bầu cử và ứng cử viên bị ám sát chết nhiều tới mức độ chính quyền phải cung cấp cho họ vũ khí để tự bảo vệ lấy. Vậy mà họ vẫn can đảm tiếp tục chiến dịch bầu cử. Một số tình nguyện viên có sáng kiến phát truyền đơn chỉ có hình


và dấu hiệu của ứng cử viên mà không cần tên tuổi nhằm đáp ứng cho các cử tri không biết chữ. Công bằng mà nói, một vài phương tiện truyền thông Tây Phương cũng có đề cập đến bằng chứng của lòng dũng cảm này. Và khi 11 tháng sau đó, 83 % cử tri hợp lệ đã đi bỏ phiếu bất chấp sự đe dọa rộng lớn hơn của quân khủng bố cộng sản, ngay cả tờ báo tự do nhất như New York Times cũng phải ghi nhận sự khác biệt rõ ràng so với tỷ lệ đi bầu ít hỏi 62 % trong cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ năm 1964. Nhưng đó chỉ là một bản tin vặt thông thường. Hầu hết các ngôi sao truyền thông có uy tín, đặc biệt là các bình luận gia truyền hình, thì dửng dưng bỏ qua hiện tượng này. Ngay sau cuộc bầu cử, tôi trở lại nhiệm vụ làm phóng sự tại những vùng chiến lược quan trọng ở Cao Nguyên Trung Phần, nơi vẫn làm tôi bị ám ảnh. Trong một chuyến bay C-130 của Không Lực Hoa Kỳ, tôi ngồi chen giữa hai binh nhì, một người Việt Nam tên là Hương và một lính Mỹ tự giới thiệu là Mike. Hương là một anh lính trẻ với khuôn mặt buồn khắc khoải. Anh ôm trong lòng một cái lồng nhốt một con chim hoàng yến, miệng thì thầm những tiếng nghẹn ngào. Lính Việt Nam mang lồng chim ra tiền tuyến là một cảnh tượng khá quen thuộc và cảm động nhưng chuyện này thường bị các lính Mỹ chế diễu vì họ không biết rằng đôi khi những con chim đó là tất cả tài sản còn lại trong đời sống của những người đồng đội này. Đây chính là trường hợp của Hương. Cố gắng át tiếng ồn của bốn động cơ phản lực cánh quạt của chiếc máy bay không được cách âm đúng mức, Hương kể lại cho tôi câu chuyện của anh bằng một thứ hỗn hợp đứt đoạn tiếng Pháp, tiếng Anh và tiếng Việt. Anh đang trở về đơn vị sau một kỳ nghỉ phép đặc biệt để dự đám tang của mẹ và em gái, cả hai bị Việt Cộng sát hại vì đã tình nguyện làm cổ động viên cho cuộc bầu cử vừa qua. "VC chặt đầu," anh nói vừa diễn tả bằng cử chỉ là cả hai người đàn bà đã bị cắt cổ họng. "Cả gia đình tôi đã bị giết," anh tiếp tục. "Ba tôi tử trận năm ngoái. Ông là đại úy. Anh ruột tôi chết tháng trước. Anh là thiếu úy. VC đốt cháy nhà tôi. Tôi bây giờ còn lại một mình, không gia đình, không nhà cửa, chỉ còn lại nó mà thôi," anh nói thêm, vừa chỉ vào con chim trong lồng. "Tôi chỉ còn lại nó." "Tại sao nó còn sống vậy?" Tôi hỏi. "Hàng xóm vào căn nhà cháy sau khi tụi VC bỏ đi, họ cứu và giữ nó lại cho tôi." Thật là một câu chuyện buồn! Mike ngồi bên tay phải tôi nói, vừa lắc lư theo những cái giật của chiếc máy bay quân sự. Anh này rõ ràng đang trong tình trạng giã rượu. Mike trạt độ tuổi Hương, khoảng 20 ngoài và giống như Hương, là lính động viên đang trên đường trở về đơn vị sau một kỳ nghỉ phép, nhưng không phải là đi đám ma ai. "Tôi mới đi nghỉ xả hơi một tuần ở Bangkok. Tiêu mẹ nó mất 900 đô la," Mike khoe. "900 đô la!" Hương buột miệng, "còn nhiều hơn cả một năm lương của tôi!" "Anh đã làm gì với 900 đồng đó?" Tôi hỏi Mike. "Uống rượu và ăn chơi thoải mái. Ba, bốn cô mỗi ngày." Hương lườm anh ta. "Liệu có phải là điều tốt không?" Tôi hỏi Mike trầm ngâm: "Không, không hẳn như vậy. Tôi chỉ muốn trả thù Amanda." "Amanda?" "Người yêu của tôi ở Madison, Wisconsin. Cô ta cắt đứt liên lạc với tôi và gọi tôi là đồ giết con nít. Tôi đã nổi điên khi nhận được bức thư nó chụp hình chung với thằng bạn trai mới, một kẻ híp-py nào đó." Đây là lần đầu tiên tôi biết đến hiện tượng mà Emmanuel Tanay, bác sĩ tâm thần tại Detroit, đã mô tả là "hội chứng Dear John", tức một loạt các lá thư vĩnh biệt, đa số là hằn học, do các cô bên Mỹ gửi cho chồng hay người yêu đang phục vụ ngoài mặt trận. Đã từng có nhiều lá thư kiểu "Dear John" trong mỗi cuộc chiến của thế kỷ thứ 20 nhưng theo Tanay, chưa bao giờ rầm rộ như trong thời kỳ Việt Nam, một sự kiện mà ông cho rằng vì không có sự hỗ trợ của dân chúng đối với sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ tại Đông Dương. Một trong những mặt khó hiểu nhất của những lá thư "Dear John" là sự tàn nhẫn cực độ của chúng. "Những lá thư thật là cay đắng," Tanay kể lại với Associated Press, "rõ ràng là những lá thư này được viết ra với mục đích làm tổn thương hay gây đau đớn cho người nhận thư. Những phụ nữ thường trong khoảng tuổi đời đôi mươi, họ thành hôn chưa đủ lâu để có những niềm căm hận như vậy. Nhưng


nó là như vậy. Một số lại còn gửi những tấm hình của họ chụp chung với những người đàn ông khác trong những tư thế không hay chút nào. Nhiều người còn gởi những cuốn bằng thu âm các cuộc trao đổi với người đàn ông khác." Tôi thử đặt tôi vào tâm trạng của anh lính trẻ này. Tôi tưởng tượng anh ta trở về căn cứ sau một cuộc hành quân trong rừng sâu, vội vàng đi nhận thư từ và bới đống bưu phẩm và kiện hàng ra. Anh nhặt ra cái thư mang chữ viết của người yêu đặt lên gối ngủ. Sau đó đi tắm rửa sạch sẽ, cạo râu, thay vào bộ đồ trận mới, nằm thoải mái xuống giường và mở thư ra. Đầu tiên là tấm hình gớm ghiếc rơi ra và sau đó anh đọc cái tin tàn nhẫn là Amanda đã bỏ anh để đi theo cái gã phản chiến trong hình. "Hậu quả những chuyện này đối với người nhận rất nguy hại," Tanay nói. "Họ cảm thấy bất lực để đối phó vì ở xa quá." Tanay bổ túc là ông đã chú ý đến hiện tượng này trong một lần đến Việt Nam để làm chứng tại tòa án quân sự trong một vụ án có một Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đã xách súng M-16 chạy ra ngoài căn cứ bắn loạn đả vào dân thường Việt Nam, giết hại bốn người sau khi nhận được một lá thư "Dear John" kiểu như vậy. Hương choàng qua người tôi vỗ lên tay trái của Mike: "Xin lỗi về chuyện đó, Mike," anh nói, "xin lỗi, xin lỗi nhiều." Mike gật đầu tỏ ý cảm ơn và tiếp tục câu chuyện: "Chưa hết đâu. Anh biết đó, trước khi tôi nhận được thư của Amanda, một chuyện tồi tệ đã xảy ra cho tôi trong một lần dừng quân ngoài chiến trường. Chúng tôi đang lấy lương khô C ra ăn. Tôi chọn ngay hộp trái cây giống như chúng tôi vẫn thường làm. Lạ một cái là tôi cảm thấy nó rất kỳ - nhẹ hửng, như hộp không. Rồi khi mở ra thì chẳng thấy trái cây đâu mà chỉ có một mảnh giấy ghi hàng chữ 'mày mà sống như con chó thì sẽ chết như con chó!' Tôi đã nổi điên lên, và các đồng đội của tôi cũng vậy. Đại đội trưởng phải vội vàng kéo tiểu đội chúng tôi ra khỏi trận địa và ra lệnh cho chúng tôi trở về căn cứ. Sau đó thì tôi nhận được thư của Amanda... Mẹ kiếp! Đó là lý do tại sao tiểu đoàn cho tôi nghỉ phép." "Thành thật xin lỗi bạn, Mike," Hương nhắc lại, "xin lỗi, xin lỗi thật nhiều." Sau đó chúng tôi đáp xuống Pleiku và tôi chứng kiến hai chiến binh u sầu sát cánh nhau bước ra khỏi phi đạo. Mike choàng cánh tay khổng lồ qua vai Hương, và Hương thì ôm cái lồng chim trong lòng. Hình ảnh hai người lính an ủi nhau trong u buồn đã day dứt tôi như là một trong những biểu tượng mạnh mẽ nhất của cuộc chiến Việt Nam trong suốt 40 năm sau đó. Đứng trên phương diện nhân bản, đó là một cảnh tượng đẹp đẽ, hai thanh niên khác biệt về văn hóa nhưng đã cảm thông nhau trong sự đau khổ và cùng chung một kẻ thù với những thủ đoạn tàn bạo mà Hương vừa mới diễn tả một cách linh hoạt chỉ bằng một vài câu ngắn ngủi. Tuy nhiên cảnh này không phản ảnh được mối quan hệ chung giữa lính Mỹ và lính Việt Nam Cộng Hoà, cũng như không nói lên được sự tương quan giữa lính Mỹ và dân chúng Việt Nam. Trong năm thứ nhì khi Hoa Kỳ triển khai lực lượng tại Việt Nam, rất nhiều binh lính đã biểu lộ một thái độ thù địch mạnh mẽ đối với dân chúng của nước chủ nhà, theo một công trình nghiên cứu của sử gia Hoa Kỳ Guenter Lewy. "Một cuộc khảo sát lính Thủy Quân Lục Chiến trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi vào năm 1966 đã cho thấy rằng 40 % lính Thủy Quân Lục Chiến ghét người Việt Nam và thái độ này đặc biệt rõ rệt nhất đối với cấp chỉ huy các đơn vị nhỏ. Chỉ dưới một phần năm các hạ sĩ quan là có thiện cảm với lính Việt Nam Cộng Hòa hay địa phương quân," Lewy viết trong cuốn sách Amerika in Vietnam (New York: 1978), một công trình mà tờ The Economist ca ngợi là "sáng suốt... trên nhiều mặt là một cuốn sách lịch sử hay nhất từ trước đến nay." "Thái độ thù ghét này thường là do tính kỳ thị chủng tộc", Lewy tiếp tục, "đó cũng là hậu quả từ việc những người lính này... cảm thấy bị chìm ngập trong một biển thù nghịch, một tình trạng khiến họ không thể tin cậy bất cứ một người Việt Nam nào được." Sau đó ông mô tả tình trạng mà các chiến binh Mỹ thường gặp phải: "Họ phải chịu đựng nỗi sợ hãi chết người vì hoạt động của địch quân - phục kích, bắn tỉa, mìn và bẫy cá nhân. Đồng đội bị ngã gục mà không thấy bóng dáng kẻ thù đâu cả để phục thù cho những mất mát này. Những người tưởng chừng là dân lành hóa ra lại là VC, là phụ nữ và trẻ em ném lựu đạn vào họ hoặc gài bẫy họ. Dần dần toàn bộ người dân Việt Nam đã trở thành mục tiêu cho nỗi sợ hãi và lòng thù hận.


Có lần tôi chứng kiến các bà nhà quê trông dáng dấp bên ngoài thì hiền lành nhưng bị bắt quả tang đang âm mưu cài bẫy. Họ dùng gai tre gọt thành mũi xiên, hơ qua lửa cho cứng lại và tẩm phân người lên đó. Hàng loạt những cái bẫy này được cài trong cỏ và đặt ở một góc độ thích hợp để có thể xuyên thủng giày bố của lính Mỹ và làm độc ngay lập tức. Nạn nhân phải được tản thương ngay và thường thì mất luôn bàn chân. Lewy trích dẫn lời một thiếu úy Thủy Quân Lục Chiến đã kể với bác sĩ, "anh lội bộ qua những bụi cây ba ngày đêm không ngủ. Rồi thấy binh lính, đồng đội là những người lính trẻ bị trúng mìn bẫy cài bởi một bà già. Nổ tung lên trời cả hai thước và rớt xuống đứt cả đôi chân." Tay thiếu úy này kết thúc cơn nóng giận bằng cách tuyên bố là cuối cùng rồi ai cũng phải kết luận rằng điều duy nhất cần làm là phải "giết sạch chúng nó." Sự nhẫn tâm đối với người Việt Nam cũng được tạo ra bởi những bài viết và tuyên bố của nhiều nhà báo và chính trị gia Mỹ trong lúc tìm giải pháp chấm dứt sự tham gia của Hoa Kỳ, trong nhiều năm liền, đã phóng đại những lỗi lầm của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà và từ từ tạo ra hình ảnh một dân tộc không đáng được bảo vệ, nếu không nói là chẳng có một chút giá trị nào cả," Lewy, một người tỵ nạn Đức Quốc Xã, tiếp. "Vì tất cả những lý do đó, một số người Mỹ đã coi người dân miền Nam Việt Nam còn kém hơn cả con người. Tuy nhiên, sự đồng tình với nguyên tắc 'chỉ là bọn Việt' có thể đã bị phóng đại lên. Bởi vì, đối lại với mỗi hành động độc ác hay mỗi trường hợp mất tin tưởng và thù địch, các nhà quan sát khách quan tại Việt Nam đều thấy có những ví dụ về tình hữu nghị và lòng quảng đại. Có những người lính Mỹ, hay đôi khi cả một đơn vị đã nhận nuôi trẻ mồ côi và các trẻ em khác, Đồng thời tham gia vào những chương trình dân sự vụ." Đó cũng là những gì tôi quan sát thấy trong nhiều năm làm việc tại Việt Nam. Tôi thường chứng kiến cảnh những người lính Mỹ bị thương nặng vì cố gắng bảo vệ dân lành không bị hại. Trong một trường hợp, tôi có mặt lúc Việt Cộng ném quả lựu đạn vào một trung đội Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đang bao quanh bởi một đám đông phụ nữ và trẻ em. Viên Trung uý Trung đội trưởng đã dùng thân mình để ôm lấy trái lựu đạn và chịu sức nổ bằng thân thể mình để tránh cho những người Việt Nam chung quanh không bị thương hoặc sát hại. Anh đã chết ngay lập tức, thân xác anh nát vụn vì mảnh lựu đạn, nhưng những người khác chẳng ai hề hấn gì. Nhiều phụ nữ khóc nức nở và ôm những anh lính Thủy Quân Lục Chiến còn đang bàng hoàng, biểu lộ lòng biết ơn tấm gương hy sinh của viên sĩ quan chỉ huy họ. Sự ngu dốt là một lý do khác nữa cho việc tại sao nhiều người lính Mỹ đã miệt thị người Việt Nam bằng những từ ngữ như gooks, dinks, slopes và slants. Họ chưa bao giờ thấy, nghe hay đọc về lòng dũng cảm của các đơn vị Việt Nam Cộng Hòa. Sự quả cảm này còn tiếp tục tồn tại cho đến ngày Sài Gòn thất thủ vào năm 1975 khi quân lực Việt Nam Cộng Hoà đã chiến đấu kiên trì mặc dù biết rằng họ đã mất hết tất cả. Sự ngu dốt này một phần do tinh thần cục bộ của các phương tiện truyền thông Hoa Kỳ, thậm chí ngày nay còn nặng nề hơn bốn thập niên trước. Khi lực lượng bộ binh Hoa Kỳ đổ bộ lên Việt Nam, rất ít phóng viên Mỹ bận tâm đến chuyện dành thời gian tìm hiểu các đại đội và trung đội Việt Nam Cộng Hoà cũng như sự hiện diện của một toán quân lớn người Thái Lan và thậm chí cả hai sư đoàn và một trung đoàn Đại Hàn rất đáng chú ý. Giống như những nước đồng minh của Hoa Kỳ tại chiến trường Afghanistan trong thời điểm bài viết này như Đức, Pháp, Úc, Hà Lan, Đan Mạch hay Na Uy, họ đã bị truyền hình và báo chí Mỹ bỏ quên một cách ngạo mạng. Trong trường hợp của những người Nam Hàn thì thật là khó hiểu vì có lẽ họ là lực lượng chiến đấu hiệu quả nhất trong toàn cuộc chiến. Họ chiến đấu dữ dội đến nỗi chỉ huy cộng sản phải ra lệnh cho lính phải rút lui chứ không nên đụng vào những người Á châu đáng sợ này nếu chẳng may chạm họ ngoại trận địa. Lần đầu tiên tôi đến thăm bản doanh của Sư đoàn 9 Bộ binh Đại Hàn, mệnh danh là "Sư đoàn Bạch Mã" ở Ninh Hòa, tôi được họ cắt cử một tùy viên nằm ngủ dưới chân giường trong một doanh trại thật sạch sẽ không một cọng rác nào của sư đoàn. 5 giờ sáng hôm sau, anh tùy viên đánh thức tôi dậy ra ngoài để xem một cảnh tượng đáng kinh ngạc: tất cả mọi người, từ cấp chỉ huy trưởng trở xuống cho đến anh lính trơn đều đang tập Thái Cực Đạo, một trường phái Karate của người Đại Hàn. Trong những thế võ có động tác chặt gạch bằng tay không, một kỹ năng mà họ rất thích sử dụng ngoài chiến trường. Tôi tháp tùng một trung đội Bạch Mã đi tuần tra. Trước khi di chuyển, thuyết trình viên báo với tôi là có thể chỉ là một cuộc di hành thong thả như một cuộc dạo chơi trong công viên. "Khi chúng


tôi triển khai lực lượng, bọn cộng sản sẽ triệt thoái đi chỗ khác," anh ta cười khàn với tôi. Tuy vậy, rõ ràng có một tên lính Việt Cộng không nhận được lên đó. Khi chúng tôi vượt qua một trảng trống, có tiếng bắn sẻ từ hàng cây vọng qua. Giận dữ, tay Trung đội trưởng ra lệnh cho cả toán 40 người núp xuống. Anh cởi hết quần áo chỉ còn mặc bộ đồ lót trườn mình như một con mèo rình mồi, bò nhanh đến cái cây mà anh đã phát giác ra tên bắn lén. Ngậm con dao găm trong miệng, anh trèo lên cây. Sau đó là cái thủ cấp của tên giặt bị cắt rơi xuống và tiếp theo là cả thân mình hắn. "Tốt, tốt lắm," anh trung sĩ trung đội thì thầm với tôi, lòng đầy thán phục. "Trung uý tôi đã chặt đầu thằng VC bằng một thế Teakwondo. Ông ta vô địch trong vụ này." "Nhưng làm sao cắt đứt được da bằng cách đó?" Tôi hỏi. "Không, chúng tôi dùng dao găm hay đôi khi cả răng nữa để làm chuyện này. Có lẽ lần này ông Trung Quý đã dùng dao." Tay Trung đội trưởng quay lại, cắm con dao găm xuống mặt đất nhiều lần để lau sạch máu. Mặc lại bộ quân phục, anh tuyên bố điều hiển nhiên: "Không còn VC trong vùng tôi phụ trách nữa." Thế là chúng tôi tiếp tục cuộc tuần tra. "Họ là những người đáng sợ lắm," anh Lành thông dịch viên của tôi kể lại sau này khi tôi trở lại Sài Gòn. "Nhưng dân địa phương rất thích lính Đại Hàn vì họ giữ an ninh và ngăn chận được những vụ xâm nhập ghê rợn vào ban đêm của bọn khủng bố Việt Cộng. Lính Đại Hàn cũng tỏ ra hữu sự trong sinh hoạt hằng ngày ngoài đồng quê. Rất nhiều lính Đại Hàn vốn là nông dân trồng lúa. Vào mùa gặt, họ giúp dân làng trong công việc của họ, mang theo máy giã lúa chạy bằng chân đạp nhưng hiệu quả gấp 10 lần cách đập lúa cổ truyền mà lại không cần đầu tư tiền bạc sân nhất gì cả. Thật là một chính sách rất khôn ngoan, đúng không?" Trên phương diện thuần túy nhân bản, khía cạnh đáng buồn nhất của mối quan hệ cá nhân giữa lính Mỹ với người dân nước chủ nhà thường chỉ giới hạn trong hai loại người không hay lắm: bọn cộng sản chỉ muốn ám hại họ hay làm họ bị què cụt và những gái làng chơi mà tình cảm không phải là thứ miễn phí. Thật thảm thương là những người lính Mỹ và gái bán bar hay mại dâm có nhiều điểm chung nhau hơn là những cuộc gặp gỡ xác thịt đơn thuần. Cả hai đều bị tẩy chay bởi những thành phần đáng kể trong xã hội tương ứng của họ. Những người lính Mỹ trẻ đi lang thang vào vùng đèn đỏ Sài Gòn lúc nghỉ phép có thể không nhận ra điều này vào thời điểm họ đi tìm niềm an ủi bên cạnh những cô gái bán bar hay mại dâm để trốn khỏi nỗi khiếp sợ và sự thiếu thốn. Nhưng rồi họ sẽ sớm phát hiện ra thái độ khinh miệt của dân Mỹ bên nước nhà đối với họ khi nghe những câu khẩu hiệu vô nghĩa như "Hãy làm tình, không làm chiến tranh." Tôi cảm thấy buồn nôn khi khám phá ra trong thời gian làm việc tại Hoa Kỳ vào năm 1967 câu sáo rỗng tuôn ra bởi tầng lớp ưu tú của New York, "cựu chiến binh Hoa Kỳ là thành phần thiểu số kém yêu thích nhất của tôi," đã trở thành câu thần chú của những đám tập tành muốn thành "cấp tiến" trong những bữa tiệc tùng. Những người phụ nữ Việt Nam tất nhiên nhận thức ra vị thế xã hội của họ khi bị đám phu xích lô chọc ghẹo mỗi lần băng qua đường. Chính đám phu xích lô này cũng chỉ thuộc tầng lớp thấp nhất trong hệ thống xã hội Việt Nam. Tôi đã dành nhiều thời gian trong vô số các quán bar, nơi mà hai nhóm người đó đã gặp gỡ nhau, không phải vì tôi thích thú với sự tận cùng bi thảm mà bởi vì đó là nơi mà những thảm họa cá nhân đã xảy ra, trong đó đa số những người Mỹ trẻ đàng hoàng và những cô gái Việt không kém đoan trang đã gặp gỡ nhau. Viết về điều này tất nhiên là một trong những nhiệm vụ quan trọng của tôi. Đối với nhiều lính Mỹ, thông thường là những chàng trai tỉnh lẻ trên dưới 20 tuổi, những người phụ nữ này là những cuộc giao lưu tình ái đầu tiên trong đời và trong quá nhiều trường hợp cũng là lần cuối. Hầu hết các cô gái là goá phụ, chồng đi lính bị chết, hết tiền trợ cấp hay không có khả năng nghề nghiệp nào cả. Một số lớn phải nuôi con nhỏ, còn mẹ hay bà ngoại phải trông nom. Chính những người này cũng có thể là goá phụ chiến tranh nhưng đã quá già để kiếm được những người ngoại quốc khác làm chồng. Tôi thú nhận tôi rất thương những cô gái nông dân từ vùng đồng bằng sông Cửu Long, đơn giản nhưng nồng nàn, vẫn đón chào tôi giống như đối với mọi người lính Mỹ khác: "Ê, ông ơi! Lâu quá không gặp! Ông là số dách! Ông bao tôi Sài Gòn Tea nha," tức là một thứ nước màu nâu được gọi là


Whisky tốn mỗi cái từ 2 đến 10 đô la. Những bà má hay bà chủ trả cho họ một tỷ lệ phần trăm trên giá Sài Gòn Tea nhưng các loại rượu khác mà họ chuốc cho khách uống thì không được tính. Ngoài ra bà má cũng ăn thêm hoa hồng trên giá cả các cô gái thỏa thuận với lính Mỹ muốn mua dâm nữa. Nhà chức trách Sài Gòn ước tính có ít nhất 30.000 cô gái hành nghề mại dâm kiểu này trong thủ đô vào năm 1967, và ít nhất là 100.000 trong cả nước. Các nhà báo giao du với họ nhận ra họ là những nguồn tin tức rất phong phú và đặc biệt là một thước đo đáng tin cậy về tâm trạng của người dân miền Nam Việt Nam. Khi hàng ngàn người trong số họ bắt đầu đi sửa sắc đẹp để phù hợp với thị hiếu của lính Mỹ thì giới phóng viên chúng tôi biết rằng họ không còn tin tưởng vào khả năng chịu đựng của người Mỹ để giành chiến thắng nữa. Họ muốn tìm một người chồng ngoại quốc để mang họ ra khỏi quê hương trước khi cộng sản chiếm đất nước. Cho nên họ sẵn sàng làm bất cứ điều gì để bắt cho được tấm chồng ngoại quốc. Phong trào sửa sắc đẹp nổi lên rầm rộ khi có tin là bà vợ xinh đẹp của một vị lãnh đạo đã đi Nhật Bản để sửa mắt và ngực. Tôi không muốn tiết lộ danh tánh của người này vì bà vẫn còn sống nhưng khi tôi gặp lại bà lần đầu tiên sau khi bà đi sửa sắc đẹp ở Tokyo về, tôi đã muốn hét lên với bà: "Cớ sao bà đi làm chuyện đó? Bà đã đẹp quá rồi, bây giờ trông giống như một khuôn mặt Modigliani giả mạo gắn thêm một bộ ngực Rubens!" Không quá vài tháng sau, các lang băm địa phương bắt đầu thực tập thẩm mỹ trên các cô gái trẻ với số lượng cấp lữ đoàn trở lên. Tôi đã cùng với một số ký giả khác làm một cuộc thăm dò ý kiến các bà má trong rất nhiều nhà thổ và quán bar. Họ ước tính có vào khoảng từ 5000 đến 10.000 cô gái đã đi sửa sắc đẹp. Kết quả thật đáng kinh sợ: trên vỉa hè Sài Gòn mà trước đây không lâu dòng phụ nữ trong những chiếc áo dài mong manh và duyên dáng làm tươi mát ánh mắt của chúng tôi đã được thay thế bởi những sinh vật biến thể một cách ghê gớm với những bộ ngực và bàn tọa khổng lồ trong những bộ váy ngắn cũn cỡn thấy phát sốt. Thông thường, những cuộc giải phẫu kém cỏi đến nỗi có trường hợp một bên hay cả bộ nhũ hoa chạy dài xuống cả thước và mông thì bị tuột xuống giữa đầu gối của các cô gái đó. Có lần tôi ngồi trong quán bar ở Sài Gòn bên cạnh một cô gái dễ thương tên là Ngọc với những hình thù méo mó một cách vô vọng như vậy. Tôi thấy cô ta cứ ngắm hình mình trong cái gương lớn đằng sau một hàng những chai rượu. Cô luôn tay sờ nắn cái mũi to bất thường của cô. "Cái mũi nó ngứa hả?" Tôi hỏi cô ta. "Điều này có nghĩa là cô sắp giàu to rồi, theo điều mê tín dị đoan của người Đức." "Không, không phải đâu," cô khúc khích trả lời, "chỉ vì em sửa cái mũi lớn hơn nhưng nó không chịu đứng yên. Vì vậy em cứ phải luôn nắn nó lại." "Tại sao em phải làm chuyện đó, Ngọc?" "Vì trước kia cái mũi em nhỏ và tẹt quá giống như nhiều cô gái Việt khác. Vì vậy lính Mỹ cứ gọi em là con khỉ nhỏ làm em buồn quá." "Nhưng mũi nhỏ cũng đẹp chán. Tại sao em phải bận tâm?" "Em phải lấy được một người chồng Mỹ để đi Mỹ. Nếu Việt Cộng vào bắt em, chúng sẽ giết em và con em." Một buổi trưa khi tôi rời một trong những nơi bẩn thỉu ngập khói thuốc đó mà giới ký giả chúng tôi gọi là "quán bar lâu quá không gặp," anh bạn Phillippe Franchini, chủ và quản gia của khách sạn Continental chận tôi lại lắc đầu. "Sao anh hay đến những chốn dơ dái đó?" Anh ta hỏi. "Không phải vì bất cứ lý do nhu cầu sinh lý nào cả, tin tôi đi!" Tôi đáp lại. "Những chỗ đó là nguồn tin tức tốt nhất cho phóng viên chúng tôi." "Nếu vậy để tôi chỉ cho một chỗ tốt mà đàng hoàng hơn nhiều. Gặp bạn một tiếng đồng hồ nữa ngoài cửa khách sạn nhé." Chúng tôi đã thực hiện điều đó. Anh lái xe ngược lên đường Hai Bà Trưng, được đặt tên theo hai chị em anh hùng dân tộc được thờ kính tựa như Jeanne d'Arc của Pháp. Vào khoảng năm 40 trước Công Nguyên họ đã giải phóng nước Việt Nam khỏi quân xâm lược Trung Hoa với một đạo binh 80000 người. Chúng tôi chạy một chập trên con lộ chính chạy song song với đường Tự Do cho tới khi chúng tôi đến một nghĩa trang cũ của người Pháp thì Phillippe đậu xe lại ngay trước đó. Chúng


tôi băng qua đường vào một căn nhà kín đáo nhưng trang hoàng sáng sủa và được một phụ nữ trung niên ăn mặc lịch sự ra nó ngoài cửa. "Không thích người Mỹ!" Bà ta kêu lên giận dữ. "Không phải đâu, không phải đâu! Đây là một người bạn người Đức, anh ấy nói được tiếng Pháp," Phillippe giải thích bằng tiếng Pháp. "Nếu vậy thì xin mời vào," bà ấy trả lời với một nụ cười hối lỗi cũng bằng tiếng Pháp. Bà chủ đưa chúng tôi lên lầu (tức tầng hai theo cách đếm của Mỹ) và hướng dẫn vào một căn phòng khách trang trí khá đẹp, mang dáng dấp lịch sự nhưng hơi đồi trụy của các phòng khách bên Pháp vào thế kỷ 19 mà Charles Beaudelaire đã mô tả trong văn chương của ông. Trong đây có đầy những nhân vật danh vọng ăn mặc lịch sự, trong số đó có nhiều vị tôi đã từng xin phỏng vấn mà không được: hai hay ba nhân viên cao cấp của chính phủ, một cặp tướng lãnh và chính trị gia. Một số đang uống sâm banh, những người khác thì uống trà. "Hắn làm cái gì ở đây vậy?" Một ông tướng hỏi Phillippe bằng tiếng Việt. "Đừng lo, Uwe là bạn tôi. Ông có thể tin anh ta được," Phillippe trấn an ông tướng. "Phillippe nói đúng đó, thưa thiếu tướng," tôi nói. "Trong trách vụ báo chí chúng tôi có những nguyên tắc hành xử, cũng giống như quý vị quân đội có những quy định tác chiến vậy. Tôi không dạy gì làm mất niềm tin của quý vị. Thiếu tướng có thể nói chuyện với tôi hoàn toàn tự do, tôi sẽ không nêu danh tánh của thiếu tướng hoặc không nói điều gì cả nếu thiếu tướng yêu cầu. Tôi lấy danh dự ra bảo đảm điều này." "Tôi phải trở về khách sạn Continental," Phillippe nói và để tôi ở lại với những người khác. Họ dần dần tỏ ra thoải mái hơn và bà chủ nói thầm vào tay tôi: "Thưa ông, tôi biết rõ khẩu vị của ông. Đợi tôi khoảng một tiếng đồng hồ và tiếp chuyện những người ở đây đi. Ông có thích uống sâm banh không?" "Vâng, xin vui lòng cho tôi một chai và mang ly đủ cho mọi người nhé." Một " boyesse" tức người tớ gái, mang ra chai sâm banh ngâm lạnh và mấy cái ly. Bà chủ biến mất vào trong. Một tiếng đồng hồ sau, bà trở lại với một phụ nữ đẹp một cách nghẹt thở, mặc một chiếc áo dài thật đắt tiền. "Dành cho ông đấy," bà chủ nói bằng tiếng Pháp. "Tôi muốn mời cô ấy đi ăn tối," tôi trả lời và từ giã những người bạn chức sắc mới quen mà một số sau này tôi duy trì được mối quan hệ nghề nghiệp tốt đẹp, giúp tôi rất nhiều khi làm phóng sự cho những cuộc hành quân của quân lực Việt Nam Cộng Hòa trong những năm sau đó. Bà chủ kín đáo kéo tôi sang một bên và yêu cầu một món thù lao đáng kể, vào khoảng 180 đô la mà tôi trả ngay bằng tiền mặt. Bà sai người hầu gọi xe tắc xi và chúng tôi đến tiệm Royal, một chỗ tôi thích nhất trong thành phố. Tại nơi đó ông bạn già Jean Ottavi buột miệng bằng tiếng Pháp: "Anh bạn ơi, thật là người kiều diễm, nàng thật là kiều diễm!" Nàng tỏ ra là một người có tài nói chuyện dí dỏm một cách đặc biệt, nói tiếng Pháp tuyệt vời và thông thái về lịch sử Âu châu, nhạc, nghệ thuật, những vấn đề thời sự, du lịch và tôn giáo. Tại sao, tôi thầm hỏi, một người phụ nữ có ăn học và xuất thân danh giá lại làm chuyện này, mặc dù là làm với bà chủ của một nơi sang trọng nhất? Nàng có vẻ đọc được ý nghĩ của tôi. Khi chúng tôi đến món soufflé nổi danh của Ottavi, nàng thú nhận là đã đánh bạc hết tiền lương tháng của chồng trong những canh bạc dominos. "Đây là một căn bệnh chung của người Á châu, thưa ông, nàng giải thích, đó là lý do tại sao em phải làm chuyện này." "Có nhiều người khác làm cho bà chủ cũng bị lâm trong hoàn cảnh này không?" "Chắc là có chứ." Ngày hôm sau lúc ăn trưa, tôi kể lại với trung tá Tzschaschel câu chuyện tối hôm qua. "Thật là đáng tiếc!" Anh ta kêu lên. "Tại sao đáng tiếc?" "Ý tôi là thật đáng tiếc phải thuyên chuyển đi nơi khác rồi! Bây giờ đã quá trễ để anh giới thiệu cho tôi cho quý giá đó."


Tôi không gặp lại Tzschaschel trong vòng mười lăm năm nữa. Khi chúng tôi gặp lại nhau sau đó, anh ấy đã lên cấp tướng, phụ trách bộ phận phân tích và đánh giá của BND, một cơ quan tương đương với CIA của Hoa Kỳ.


Chương 12 Tây Đức với Đông Đức Trên con sông Hàn tại bến cảng Đà Nẵng có một con tàu màu trắng toát hai bên hông có đánh dấu Hồng Thập Tự nằm thả neo trong gần suốt cuộc chiến Việt Nam. Nó hiện diện như một biểu tượng trong sáng cho lòng vị tha và đối nghịch với màu xám phổ biến của tất cả các tàu chiến chung quanh. Chiếc tàu có tên là Helgoland này nguyên dùng để vận chuyển du khách đến những khu nghỉ mát trên bờ biển Đức và sau 6 năm phục vụ tại Đông Dương, chiếc Helgoland trở thành một du thuyền của nước Ecuador đóng tại quần đảo Galapagos. Tuy nhiên trong khoảng thời gian từ 1966 đến 1972, chiếc tàu này là một bệnh viện nổi được điều hành bởi Hồng Thập Tự Tây Đức và tài trợ bằng tiền đóng thuế của dân Tây Đức. Với chiều dài 330 bộ và chiều ngang 46 bộ, chiếc Helgoland được trang bị và hoạt động tốt hơn phần lớn những trạm y tế ở Phương Tây. Đó là một bệnh viện tân tiến nhất tại Việt Nam vào thời kỳ bấy giờ. Tàu có ba khu phẫu thuật hết sức tối tân, 180 giường bệnh, 8 bác sĩ, một nhóm 22 điều dưỡng viên, cộng thêm 8 nhân viên y tế và phụ tá phòng thí nghiệm. Ngoài ra còn có 34 thủy thủ, đầu bếp và các nhân viên khác. Từ 1966 đến 1972, gần 200.000 dân thường Việt Nam mắc bệnh hay bị thương tật đã được chăm sóc trên tàu hoặc ở khu ngoại chẩn trên bờ. Những nơi này là các ốc đảo tương đối an toàn bao quanh bởi một thế giới khủng bố, bom mìn, hỏa tiễn, bom lửa napalm và hỏa lực pháo binh. Một số bệnh nhân được đưa đến từ những vùng do chính phủ Sài Gòn kiểm soát, một số khác từ những làng mạc nằm trong tay Việt Cộng, ít ra là ban đêm. Các bệnh nhân không bao giờ bị hỏi lập trường chính trị của mình thuộc phe nào cả. Tôi rất thích thăm chiếc tàu Helgoland vì nhiều lý do. Sau nhiều tuần làm phóng sự cho các cuộc hành quân và bị ăn khẩu phần C, thật là một điều thú vị khi được ăn một bữa tối kiểu Đức trọn vẹn và được tán gẫu với các y tá, bác sĩ, thủy thủ trên tàu quanh một ly bia nhập qua từ nước nhà. Helgoland đồng thời là một phong vũ biểu tương đối đáng tin cậy cho những biến cố khủng khiếp có thể xảy ra trên bộ. Nếu nó âm thầm rồi bến cảng trước khi màn đêm buông xuống, tôi biết ngay là thuyền trưởng muốn ra khu an toàn của vùng biển quốc tế vì tình báo Mỹ và Nam Việt đã báo cho ông về khả năng có một cuộc tấn công của Việt Cộng vào Đà Nẵng. Quan trọng nhất là thời gian tạm trú trên chiếc Helgoland đã cho tôi biết những câu chuyện xúc động về dân tộc mà cuộc chiến này xoay quanh: người dân thường miền Nam Việt Nam. Chẳng hạn như câu chuyện của nạn nhân bom napalm đầu tiên mà cô y tá Irene từng chứng kiến. Đó là một đứa bé trai chín tuổi tên là Lê Xiên. "Khi bé được bế lên tàu, cả tay và chân của em bị cháy đen và vẫn còn bốc khói." "Làm thế nào chuyện này xảy ra vậy?" Tôi hỏi Irene. "Em ấy nói rằng đang đá banh với chúng bạn thì đột nhiên máy bay xuất hiện trên trời và bom rơi xuống. Nó còn nhớ bị rớt xuống đất và không cảm thấy gì cả. Dân làng mang nó đến căn cứ quân sự Mỹ gần đó và trực thăng chở đến cho chúng tôi. Trong lúc bay thì nó mới bắt đầu thấy đau." "Chuyện này có làm cô giận người Mỹ không?" Tôi hỏi cô. "Không, nó chỉ làm tôi băn khoăn về bản chất của cuộc chiến này. Ông thấy đấy, chuyện này đã xảy ra ngay bên cạnh một căn cứ Mỹ, nơi mà cả cha lẫn mẹ của Lê Xiên đều làm việc, người cha làm phu hốt rác và mẹ thì lo quét dọn." "Họ có đến thăm đứa bé trên chiếc Helgoland không?" Tôi muốn biết. "Không, và đây là thảm kịch tiếp theo trong cuộc đời của Lê Xiên: chẳng bao lâu sau khi cậu bé ở với chúng tôi thì được tin cả hai người đã bị giết." "Làm sao vậy?" "Không ai biết cả." Có nhiều khả năng là cả gia đình sống trong vùng do chính phủ kiểm soát, và Việt Cộng đã xâm nhập vào ban đêm. Bà quét dọn và ông phu rác có thể đã bị mất mạng vì họ làm việc cho kẻ địch. Chúng ta không bao giờ biết được sự thật ra sao. Sau đó, Irene đã có một cuộc gặp gỡ không kém phần bối rối trong một ngày nghỉ đi phơi nắng ngoài Mỹ Khê, một bãi biển đẹp nhất của Đà Nẵng. "Một anh lính Mỹ trẻ tuổi tiến lại gần tôi và hỏi một cách lịch sự 'cho phép tôi được ngồi cạnh bên cô một lát được không?'"


"Được chứ," Irene trả lời, "Nhưng tại sao anh uống rượu say quá vậy?" "Tôi uống nhiều như vậy vì tôi muốn quên tôi đã giết ba đứa trẻ ngày hôm qua," người lính trả lời. Anh tiếp theo, "tôi là xạ thủ đại liên trực thăng. Chúng tôi bay qua vùng có Việt Cộng quấy rối. Bên dưới, tôi phát hiện có một nhóm người mặc áo bà ba đen. Khi trông thấy chúng tôi, họ vội chạy tứ tán ra ba phía. Thế là tôi nổ súng hạ ba tên trong bọn họ. Trong chốc lát tôi có cảm giác tôi là anh hùng." "Sau đó thì sao?" Irene hỏi dồn. "Sau đó chúng tôi bay xuống thấp và tôi nhận thấy đó là ba đứa trẻ bị giết vì những viên đạn của tôi." Người lính GI bắt đầu buồn bã khôn nguôi. "Hãy tha thứ cho tôi, thưa cô, vì đã khóc như vậy trước mặt một phụ nữ nhưng tôi chỉ mới 18 tuổi. Ở quê nhà tôi còn chưa được phép đi bầu hay uống bia nữa. Bây giờ tôi có cái chết của ba đứa trẻ trong lương tâm. Tôi không biết làm thế nào để sống nổi nữa." Trong một chuyến thăm khác trên chiếc Helgoland tôi đã dành một buổi chiều ngồi bên cạnh một người phụ nữ có đủ những đức tính mà chỉ có nghề điều dưỡng mới được nhiều như vậy. Đó là sự nóng nảy, lòng cảm thông, tính thực tế một cách thẳng tuột, máu hài hước, niềm vui sống và một bạn nhậu khỏe mạnh lúc nào cũng giữ bia của cô được ướp lạnh trong tủ lạnh của nhà xác bệnh viện. Nói tóm lại, cô ấy là một loại người đầy đủ đức tính mà giới phóng viên chúng tôi cảm thấy dễ hòa hợp nhất. Cô ta mô tả thật sống động lòng thương mến của mình đối với một ông nông dân 49 tuổi bị bệnh động kinh và đã bị mất gần như toàn bộ khuôn mặt sau một vụ nổ không rõ nguyên nhân. "Anh phải gặp ông ta," cô nói, "chúng tôi điều trị cho ông ta nhiều tháng trời và bây giờ thì ông ấy đang sống trong một nhà tế bần ngay bên ngoài thành phố. Chúng tôi thương và nhớ ông ấy lắm. Để mai nghỉ tôi đưa anh đi. Bây giờ làm một chai bia nữa đi." Và chúng tôi đã làm chuyện đó. Sáng hôm sau, tôi ngồi đằng sau chiếc xe gắn máy nhỏ nhắn, ôm eo cô y tá trong khi cô lái lòng vòng qua dòng giao thông hỗn loạn của trung tâm thành phố Đà Nẵng. Chúng tôi ra ngoại ô và ngừng lại ở một nhà dưỡng lão nhỏ nhưng được giữ thật sạch sẽ bởi các nữ tu Công giáo Việt Nam. Chúng tôi tìm thấy ông ta ở ngoài vườn, ngồi trên một cái xích đu đưa tới đưa lui bởi một đám trẻ em hàng xóm. Khuôn mặt phía trước của ông chẳng còn gì nữa. Ông mất cả cặp mắt, lông mày, mất gò má, không còn mũi, môi và cằm. Khi ông nghe giọng của cô y tá, ông bật khóc và nắm lấy tay cô. Thật là kỳ lạ khi thấy một người đui khóc nhưng ông quả thật đang khóc khi nói với tôi những cô y tá người Đức này thật là có lòng! Họ là những người duy nhất đến thăm tôi, họ là bạn của tôi đấy. "Thế gia đình của ông thì sao?" Tôi hỏi ông. "Họ chết cả rồi," ông ta nói. "Còn hàng xóm?" "Không ai đến cả," người đàn ông vô hình dạng nói trong tiếng nức nở, "trong xứ này có lẽ chẳng ai muốn gặp một người mất hết bộ mặt cả." Một buổi trưa nọ trong giờ ăn, nhóm điều dưỡng viên đang nghỉ ngơi trên boong tàu Helgoland tò mò nhìn thấy một anh lính quân cảnh Việt Nam Cộng Hòa dường như đang buồn ngủ trên một cây cầu gần đó. Anh ta ngã người lên lan can quan sát một cách lan man hoặc có vẻ như vậy dưới chân cầu đầy nước bùn. Có điều mà ban đầu những người Đức không trông thấy là anh đang chú ý đến một cây sậy nhỏ xíu dựng đứng dưới nước đang cố tình đi chuyển về phía chiếc tàu bệnh viện. Đột nhiên, anh lính quân cảnh ngắm súng M-16 vào mục tiêu mơ hồ đó và bắn một loạt đạn. Vùng nước trở nên đỏ và một tên người nhái Việt Cộng bị thương nổi lên. Tên du kích này dùng cây sậy để thở khi bơi một quãng xa đến mục tiêu khủng bố. Quanh người hắn có đeo một quả mìn nam châm. Khi tôi phỏng vấn một phát ngôn viên quân đội về biến cố này, ông nói, chúng tôi không rõ mục tiêu khủng bố của tên người nhái này là đâu, hắn cứ nói loanh quanh lúc bị thẩm vấn. Có lúc thì hắn khai là được lệnh đánh sập cây cầu, rồi lúc khác lại bảo là trái mìn nhằm đánh nổ chiếc tàu Helgoland. Nếu điều này đúng, thì mạng sống của 250 người Việt Nam, người Âu và thường dân đã có nguy cơ bị hung hiểm.


Mìn nam châm cũng là một món quà từ nước Đức nhưng không phải của Tây Đức mà là Đông Đức. Chi tiết đặc biệt này đã nhấn mạnh tính chất chiến lược địa lý toàn cầu của cuộc chiến. Đúng, đây là một cuộc chiến tranh nhân dân theo kiểu Mao Trạch Đông nhưng đồng thời cũng là địa hình nóng bỏng của cuộc Chiến Tranh Lạnh giữa Đông và Tây, bao gồm cả cuộc xung đột giữa hai quốc gia Đức. Một trong những món quà chết người nhất của chính quyền Đông Đức tặng cho các đồng chí Việt Nam là quả mìn tàn bạo được thế giới biết đến như là PPM-2. Tôi đã chứng kiến sức tàn phá của nó nhiều lần khi lái xe trên quốc lộ 19 giữa Pleiku trên Trung Nguyên và Quy Nhơn ở bờ biển Đông. Từng mảnhg thịt người vương vãi khắp nơi trên đường lộ và bắn tung lên bụi cây - đầu người, chân, tay hoặc đúng hơn chỉ là bàn tay, bàn chân, ngón tay, ngón chân xen kẽ với các dấu tích còn lại của những chiếc xe bị nổ tung. Đó là di hài của các phụ nữ nông dân và trẻ em, những cái đã chiếm phần lớn những vụ tử vong hằng ngày trên Quốc lộ 19. Họ đi lại giữa những ngôi làng và thị trấn có chợ búa trên những chiếc xe Lambretta ba bánh chuyên chở công cộng ọp ẹp nên rất dễ là nạn nhân của mìn sát thương hơn là những người lính ngồi trong xe tăng, xe bọc sắt, hoặc trên các xe vận tải và xe Jeep có đặt bao cát dưới sàn để chống sức nổ. Các sĩ quan Hoa Kỳ đã chỉ cho tôi những quả mình tịt ngòi mà lính đào được trên lộ 19. Chúng màu đen, có vỏ bọc bằng nhựa, và một tấm bẫy đạp cũng bằng nhựa. Ngoài ra có một ngòi nổ điện từ kích động một khối 110g TNT. Đông Đức đã cài đặt hàng ngàn loại thiết bị này trên con đường tử thần dài 875 dặm dọc theo biên giới phía tây nước Đức, không phải để ngăn chặn xâm lăng mà nhằm phòng ngừa chính người dân mình trốn đến phần đất tự do của xứ họ. Sự khác biệt giữa phương cách hai quốc gia Đức tham gia vào Việt Nam thật rõ ràng. Theo Trung tâm Quốc tế Woodrow Wilson ở Washington, Đông Đức đã cung cấp cho Bắc Việt và từ đó đưa qua cho Việt Cộng những trang thiết bị khác nhau có giá trị khoảng 200 triệu đô la, từ vũ khí tự động, mìn, lựu đạn, xe vận tải, động cơ và hệ thống phòng không nhằm huấn luyện các sĩ quan và viện trợ cả nhạc cụ cho các ban quân nhạc nữa. Cộng thêm vào đó, cơ quan tình báo đáng sợ của Đông Đức, biệt danh là Stasi, cũng đã huấn luyện và trang bị cho các bộ phận tình báo tương đương của Bắc Việts. Quân đội Bắc Việt là khách hàng quan trọng nhất của Đông Đức ngoài Âu châu. Mối quan hệ mật thiết này đã được duy trì cho đến khi chế độ của cái gọi là Cộng hòa Dân chủ Đức sụp đổ, kết quả của cuộc cách mạng hòa bình chống lại chế độ độc tài toàn trị vào năm 1989 và lãnh thổ của nó trở thành một phần của Cộng hòa Liên bang Đức tự do một năm sau đó. Tuy nhiên trước khi chuyện đó xảy ra, quân đội Cộng hòa Nhân dân Đức tiếp tục huấn luyện các sĩ quan Cộng sản Việt Nam và trang bị mới toàn bộ Học viện Sĩ quan tại Sài Gòn, bây giờ đổi tên là thành phố Hồ Chí Minh. Đối ngược lại, Tây Đức đứng hàng thứ hai chỉ sau Hoa Kỳ trong công tác viện trợ nhân đạo và kinh tế cho Nam Việt, và đây là dạng trợ giúp duy nhất cung cấp bởi chính phủ Bonn. Tây Đức cố vấn cho Nam Việt những phương cách để chống hiện tượng trẻ vị thành niên phạm pháp, giúp tái cấu trúc lại các tổ chức công đoàn và huấn luyện các cấp chỉ huy. Tây Đức cũng tặng những số lượng gạo khổng lồ khi đồng bằng sông Cửu Long, từng một thời là "vựa lúa của Á châu", đã không còn khả năng nuôi nổi đất nước nữa vì hậu quả chiến tranh. Người Tây Đức cũng đã xây dựng những trại mổ gia súc tối tân nhất nhằm cung cấp cho Nam Việt nguồn thức ăn an toàn. Tuy nhiên, sự hỗ trợ quan trọng nhất của Tây Đức lại là cho y tế. Đã có chiếc Helgoland. Rồi xây dựng trường Y khoa Huế. Ngoài ra còn có một bệnh viện tại Đà Nẵng điều hành bởi bộ phận dịch vụ cứu trợ của chi nhánh Đức thuộc nhóm "Hiệp sỹ Malta", một hàng giáo phẩm không phong chức của giới quý tộc công giáo. Bệnh viện này có một số tiền trạm tại An Hòa và Hội An. Tất cả những người Đức làm việc tại các trung tâm này đều là thiện nguyện viên trẻ tuổi, đa số là Ky-Tô hữu mà mẫu mực ứng xử và lòng cống hiến đã chiếm được cảm tình của hàng ngàn thường dân Việt Nam nơi họ phục vụ. Tuy vậy, điều này đã không tránh được cho một số trong bọn họ thoát khỏi cảnh bị bắt cóc, sát hại hay buộc phải đi bộ hàng tháng trời chết người dọc theo con đường mòn Hồ Chí Minh từ Nam ra Bắc Việt Nam. Họ bị bỏ đói, không được chăm sóc y tế và bị cầm tù trong


những điều kiện vô nhân đạo ở những trại tù cộng sản, những điều này đã vi phạm thô bạo các công ước Genève về chiến tranh. Không phải là do nhầm lẫn mà họ bị tước đoạt quyền tự do, bị ngược đãi và bị sát hại bởi vì bọn bắt giữ biết rõ họ không phải là chiến binh. Ba thành viên giảng huấn người Đức của trường Y Khoa Huế đã bị buộc phải đào mộ cho chính họ trước khi bị bắn vào sau đầu, sáu tuần lễ sau khi bị bắt trong thời gian quân Bắc Việt chiếm đóng vào năm 1968, bất chấp lời kêu gọi của quốc tế để cứu mạng sống cho họ. Monika Schwinn, một y tá nhi khoa trẻ thuộc dịch vụ cứu trợ Hiệp Sỹ Malta đã kể lại với tuần báo Der Spiegel lời tuyên bố thẳng thừng của một trong những kẻ bắt cóc cô: "Chúng tôi giam giữ cô không phải vì cô là Monika Schwinn. Chúng tôi bắt vì cô là công dân của một nước có quan hệ với kẻ địch." Monika Schwinn đã trải qua gần bốn năm trong bẩy nhà tù Cộng sản, kể cả nhà tù nổi tiếng "Hanoi Hilton" mà cô là nữ tù nhân duy nhất. Cô đã nghe thấy tiếng la hét của các phi công Hoa Kỳ trong những buổi tra tấn và cô cũng đã gặp John McCain, thượng nghị sĩ và ứng cử viên tổng thống Hoa Kỳ tương lai. Cô kể lại với Der Spiegel bằng cách nào mà cô đã sống sót được: bằng niềm tin vào Chúa, bằng ý thức là cô vô tội trước bất cứ tội ác nào vì cô đã đến để giúp đỡ người dân Việt Nam, không phải để hại họ, và bằng cách luôn tự nhắc nhở phương châm thách thức của chính cô là: "An mir beisst ihr euch die Zähne aus" - bạn sẽ gãy răng thì cắn vào tôi! Tại sao Cộng sản Việt Nam lại tàn sát các bác sĩ, y tá Đức và nhà ngoại giao Hasso Rüdt von Collenberg, một nhà quý tộc trẻ tuổi dũng cảm mà họ đã bắt khi anh cố gắng di tản một số công dân Đức ra khỏi nơi trú ngụ của họ ở Sài Gòn trong lúc chiến sự bùng nổ trong thành phố, hậu quả của cuộc tổng công kích Mậu Thân? Tại sao họ lại xử tử thành một cách sơ sài, theo lời các nhân chứng, mặc dù xe Volkswagen của anh mang biển số ngoại giao và anh đã trình cho họ hộ chiếu ngoại giao, đáng lẽ anh phải được bảo đảm quyền bất khả xâm phạm chứ? Chỉ có thể có một cách giải thích duy nhất: từ giữa những năm 1960, Đồng Đức tuyên truyền hầu như mỗi ngày điều láo khoét là Tây Đức có dính dáng về quân sự tại Việt Nam, và báo chí Bắc Việt cũng như Việt Cộng đã tiếp diễn điều nói láo này với một sự đều đặn tương tự. Lúc đầu, họ tuyên bố rằng lính Đức chiến đấu ở miền Nam Việt Nam được cải trang như người Mỹ. Sau đó, họ khẳng định rằng một số đầy đủ các đơn vị của Bundeswehr Đức (Lực lượng Phòng thủ Liên bang) đã tham gia trong các cuộc hành quân chiến đấu. Đúng là có những người Đức trẻ tuổi đã được gửi đến để chiến đấu tại Việt Nam, nhưng không phải bởi chính phủ Tây Đức. Họ đến với tư cách lính động viên người Mỹ hay người Úc. Tôi đã có lần gặp được ba binh sĩ nói tiếng Đức trong ba bộ quân phục khác nhau trong một quán bar tại Sài Gòn: Hoa Kỳ, Úc và Tân Tây Lan. Cả ba là thành phần di cư từ Đức tương tự như hàng trăm ngàn thanh niên Âu châu khác vào những thập niên 1960 và 1970. Hoa Kỳ và Úc đã động viên những người nhập cư này vào trong quân đội và điều động nhiều người trong bọn họ đến Việt Nam. Tân Tây Lan không phải thi hành nghĩa vụ quân sự nhưng họ cho các tân công dân được phép gia nhập quân đội trên tinh thần tự nguyện. Thậm chí có lần tôi gặp được một phi công trẻ lái phóng pháo cơ có tên là Helmut Bubbel đến từ Heidelberg. Anh là một đại úy thủy quân lục chiến lái A-6 Intruder bay những phi vụ trên vùng trời Bắc Việt từ hàng không mẫu hạm Coral Sea. Anh kể cho tôi là sau một số phi vụ, anh đã nãy nở một mối quan hệ cá nhân với một xạ thủ phòng không Bắc Việt mà anh nhận diện ra theo nhịp điệu bằng đại bác của hắn. "Bắn phòng không tương tự như ca hát vậy," Bubbel giải thích cho tôi trong một lần viếng thăm chiếc Coral Sea. "Hai người có thể hát cùng một bản nhạc nhưng cách diễn tả sẽ khác nhau. Xạ thủ cũng vậy. Họ bắn theo những nhịp độ khác nhau." "Vậy thì chuyện gì đã xảy ra cho hắn?" Tôi hỏi Bubbel, người đã nhập cư đến California cùng với cha vào năm 1953. "Lần cuối chúng tôi gặp nhau, tôi bổ nhào vào vị trí súng của hắn," Buddel nói. "Chuyện này rõ ràng đã trở thành một cuộc đấu tay đôi giữa chúng tôi. Tôi biết là hắn đã nhận ra tôi. Hắn bắn không nương tay với nhịp độ quen thuộc. Tôi nghĩ, một trong hai thằng phải hít bụi ngày hôm nay thôi. Tôi có thể thấy những ánh lửa đạn phụt lên và gần như nhìn thấy nòng súng phòng không của hắn. Tôi nghĩ chắc tôi không xa hắn hơn 80m khi ném trái bom và vọt máy bay thẳng lên cao. Khi đạt được


khoảng cách an toàn, tôi quay đầu lại và đã thấy đánh trống một quả bom hoàn hảo. Phía dưới hoàn toàn yên tĩnh." "Sau đó anh làm gì?" Tôi hỏi. "Tôi quay trở lại và bay một vòng chào danh dự quanh vị trí súng còn bốc khói và nói, khá lắm anh bạn dũng cảm nhỏ con. Thật là một điều không may khi lính giỏi như anh phải chịu chết." "Điều này làm tôi nhớ lại những huyền thoại trong Thế chiến Thứ Nhất về những phi công ưu tú nổi tiếng như Hồng Bá Tước Manfred von Richthofen," tôi nói. "Đúng là như vậy trên một phương diện nào đó. Ít nhất là tôi cảm thấy khâm phục anh ta và có lẽ anh ta cũng kính trọng tôi." Khác với phần lớn những di dân Đức nhập ngũ tòng quân, Helmut Buppel đã là công dân Hoa Kỳ rồi, nếu không thì không thể là sĩ quan được. Nhưng anh ta vẫn còn giữ thông hành Đức và mang ra khoe với tôi. Tôi nhớ là đã nhắc nhở anh: "Anh chớ nên mang theo nó khi bay đi ném bom nhé. Nếu anh bị bắn hạ bọn cộng sản sẽ trưng tờ thông hành đó ra, cho là bằng chứng Tây Đức đã tham gia chiến tranh. Điều này sẽ là cái cớ để chúng tàn sát thêm nhiều thường dân Tây Đức tại Việt Nam nữa. Đã có quá nhiều người bị sát hại rồi." "Anh nói đúng. Tôi sẽ không mang nó theo nữa," viên đại úy hứa với tôi. Trên thực tế, chưa bao giờ có hơn ba người mặc quân phục Quân đội Tây Đức tại Việt Nam và họ là quân nhân làm việc trong tòa đại sứ. Một người là tùy viên quốc phòng, thỉnh thoảng có một phụ tá mang cấp bậc thiếu tá. Có một thượng sỹ nữa làm công việc văn phòng cho họ. Trong thời gian bị cầm tù tại Bắc Việt, Monika Schwinn đã gặp hai nhân viên ngoại giao tòa đại sứ Đông Đức tại Hà Nội. Cuộc gặp gỡ thật là lạ lùng với đại diện của cái quốc gia vẫn luôn tuyên truyền điều dối trá chết người về vai trò chiến đấu của Tây Đức. Nói cho cùng, những điều láo khoét đó đã góp phần vào khổ nạn của cô, của cô cũng như của người tù nhân đồng hương Đức tên là Bernhard Diehl, đồng thời cũng đã dẫn đến cái chết của ba người thiện nguyện Hiệp Sĩ Malta khác đã gục ngã vì bệnh tật và suy dinh dưỡng khi bị giải đi trên con đường mòn Hồ Chí Minh. Monika cảm thấy những tay ngoại giao này hết sức nhạt nhẽo. "Tư cách và lối nói chuyện của họ quá ấu trĩ làm tôi cảm thấy xấu hổ họ là người Đức," cô viết cho Der Spiegel. Họ hoàn toàn vô tình trước vấn nạn của cô và không hứa giúp đỡ gì cả. "Thực chất là họ đến để thẩm vấn tôi." Họ muốn biết là cha cô, đã chết trong thế chiến thứ hai, có phải từng là thành viên Nazi hay không và cấp bậc của ông là gì. Bọn họ còn thúc giục cô nên chấm dứt loạt tuyệt thực chống lại các điều kiện tồi tệ của nhà tù và bảo cô nên tỏ ra thông cảm với thái độ của bọn Bắc Việt: nói cho cùng, những thành viên người Đức trong đoàn lê dương Pháp đã giết dân vô tội ở đây. Hắn không quên đề cập có đến 1400 lính lê dương gốc Đức đã đào ngũ qua phía cộng sản Việt Minh và Hồ Chí Minh đã nhận hai người trong số này làm con nuôi: Walter Ullrich, sau đó trở thành một trung úy Việt Minh với tên Hồ Chí Long và Georg Wächter với tên Hồ Chí Thọ. Khi Monika Schwinn trả lời lại là những khổ đau trên cuộc hành trình dài đã khiến cô không thể thông cảm nổi thì một tay ngoại giao Đông Đức mắng cô, "Vâng, lại Chúa tôi, họ làm sao có thể đón cô từ vùng Việt Cộng bằng xe hơi được!" Và trường hợp ba người đồng nghiệp đã bị thiệt mạng thì hắn nhún vai, "những chuyện khó chịu này vẫn thường xảy ra trong chiến tranh." Các nạn nhân bi thảm nhất của trò chơi Chiến Tranh Lạnh chết người giữa những người Đức với nhau tại Đông Nam Á hiển nhiên là người dân thường Nam Việt. Họ đã bị mất đi các bác sĩ và y tá để chăm sóc thương tích cho họ cũng như để bày tỏ tình thương với các trẻ mồ côi. Ngay sau khi Việt Cộng bắt cóc các nhân viên y tế của phòng khám Hiệp Sĩ Malta tại An Hoà, chúng cố gắng tiến chiếm một căn cứ quân sự gần đó của Sư đoàn 5 Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. Tôi đến An Hòa lúc tình hình chiến sự còn nóng bỏng. "Anh là phóng viên người Đức?" Viên sĩ quan ban 2 (an ninh) của trung đoàn hỏi tôi. "Nếu vậy thì anh phải đến ngay bệnh xá của người Đức cách đây hai cây số ở cuối con lộ, phe anh đang gặp khó khăn đấy. Trên thực tế, chỉ còn một người thôi." Anh giao cho tôi một chiếc xe Jeep và một tài xế để đưa tôi đến một đống tro tàn mà mới đêm hôm trước còn là một trung tâm y tế nhỏ gọn. Bên ngoài có một đoàn dài dân thường Việt Nam đang chờ được nhập viện. Một số người bị cụt tay chân, một số khác bị thương tích trầm trọng trên đầu, có


người bồng trên tay những đứa trẻ đã chết. Họ đều là nạn nhân thương vong sau cuộc tấn công của Cộng sản. Bên trong có một bác sĩ trẻ người Đức đang làm việc điên cuồng để cứu mạng bệnh nhân. Trên một bàn mổ tự tạo tôi thấy có một phụ nữ bất tỉnh với bộ ruột bị đổ ra ngoài từ một vết thương lớn bên trái. "Anh có phải là bác sĩ không?" Anh hỏi. "Không, tôi là phóng viên." "Không sao, tôi cần trợ giúp ngay. Không còn ai ở đây để phụ tôi cả. Bọn Việt Cộng bắt cóc hết cả rồi. Đi rửa tay đằng kia kìa, đeo găng mổ vào và giúp tôi đi." Để có thể đưa bộ phận cơ thể của người phụ nữ vào lại, anh phải mổ toang bụng của nạn nhân ra. Sau đó anh cần thêm một đôi tay trợ lực để đẩy bộ ruột vào trong vết thương bụng bên trái. Đó là công việc của tôi. Trong khi chúng tôi đang bận rộn với bệnh nhân đó thì một toán nhân viên y tế Thủy Quân Lục Chiến bước vào phòng. Họ vừa mới xong công việc chăm sóc thương binh của họ nên bây giờ sẵn sàng giúp anh bạn đồng nghiệp người Đức đã hoàn toàn kiệt sức. Một phần tư thế kỷ sau, tôi tham dự một buổi họp sáng của một tờ nhật báo thuộc loại sáng giá ở Bá Linh nơi tôi làm việc với tư cách cố vấn về biên tập. Công việc của tôi là giúp các biên tập viên và nhà xuất bản nhằm canh tân cái ấn bản cổ hủ này, với hy vọng là nó sẽ trở thành tờ báo hay nhất của thủ đô một nước Đức thống nhất. Sáng hôm đó cuộc thảo luận quay qua chủ đề tìm các câu chuyện tiêu biểu của nước Đông Đức ngày xưa. Tôi có một ý kiến như sau, tôi nói, hay là chúng ta thực hiện một bài tường trình có chiều sâu về các nhà sản xuất mìn PPM-2 ở Đông Đức mà chứng tích là những nạn nhân tôi đã thấy đầy dẫy trên con lộ 19 tại Việt Nam? Hoặc chúng ta lục trong văn khố Đông Đức các tài liệu về công việc họ tuyên truyền cáo buộc Tây Đức đã đồng loã trong chiến tranh Việt Nam, và có thể đã gây ra cái chết của các bác sĩ và y tá của chúng ta ở Việt Nam? Ồ, chắc là tôi đã dẫm vào một tổ ong vò vẽ khi đề nghị điều này! Chẳng thà tôi ca tụng Hitler cho rồi. Đây không hẳn là một tờ báo cánh tả nhưng một số biên tập viên trẻ tự mãn đã tỏ ra giận dữ đến nổi tôi phải tự hỏi không biết cộng sản Đông Đức có thật sự chết mất hay chưa. Cái ý thức hệ của phong trào sinh viên năm 1968 từng vinh danh Hồ Chí Minh đã bắt rễ quá sâu trong thế hệ tốt nghiệp đại học Đức này đến nổi tất cả các đề nghị về hành vi vô nhân đạo của phe cộng sản đều bị coi là dị giáo. Tôi cũng không ngạc nhiên mấy là các biên tập viên lớn tuổi hơn, đáng lẽ phải biết rõ hơn, đã tỏ ra hờ hững không dám bênh vực tôi. Nhà thần học Lutheran Dietrich Bonhoeffer đã có lần phải than vãn về "sự khan hiếm của lòng can đảm dân sự" trong đất nước ông khi bọn Nazi nắm quyền hành. Trong buổi họp biên tập đó vào những năm đầu 1990, tôi cảm thấy sự thiếu sót này chắc chắn còn tồn tại ở một số nơi. Điều này được tính là một trong số những điều tôi khó chịu nhất đối với các đồng nghiệp Đức trong suốt cả sự nghiệp phóng viên của tôi. Tối hôm đó, tôi trở về nhà với một khuôn mặt tái xann. Vợ tôi nói là chưa từng bao giờ thấy tôi trong tình trạng như vậy cả. Là một phụ nữ người Anh, nàng biết ngay cách chữa: một ly whisky không đá, một ly nữa và một ly thứ ba. Say không còn biết trời đất gì nữa, tôi tung ra một câu mà tôi không bao giờ nghĩ là có thể nói ra được: "Gillian em ơi, có thể nào mà những người lầm lạc đã hợp nhất lại được với nhau một cách đúng đắn không?" "Thôi anh ngủ đi, anh yêu, nàng nói, sáng ngày mai anh sẽ cảm thấy khá hơn." Và tôi đã làm như vậy. "Dĩ nhiên tôi không nghĩ là người Đức chúng tôi không xứng đáng để được thống nhất trong hòa bình," tôi nói, "nhưng kể từ buổi họp sáng ngày hôm qua trong tòa soạn, tôi biết những gì có thể làm cho mọi người cảm thấy khác đi."


Chương 13 Khúc dạo đầu cho Tết Mậu Thân Tết Mậu Thân 1968 sẽ được yên ổn, các nguồn tin ở Sài Gòn đã trấn an tôi khi liên lạc với họ trong thời gian nghỉ lễ Giáng Sinh ở căn nhà mới của tôi tại Hồng Kông. Họ nói rằng cả hai bên sẽ cam kết một lệnh ngừng bắn bảy ngày từ 27 tháng 1 đến ngày 3 tháng 2 để dân chúng Việt Nam ăn mừng ngày lễ đầu năm Mậu Thân. Thật là hay! Điều này cho phép tôi được vắng mặt nghỉ ngơi một chút ngoài Việt Nam và chuyển sự chú ý qua một vùng khác thuộc lãnh thổ tôi được phân nhiệm theo dõi. Nói cho cùng, các ông sếp cắt cử tôi là "phóng viên của vùng Viễn Đông," có nghĩa là trên lý thuyết tôi phụ trách tường thuật hầu hết vùng châu Á, mặc dù những sự thay đổi thường xuyên về tình hình Việt Nam đã khiến tôi phải bỏ bê ngay cả những nước láng giềng của Việt Nam. Nay tôi đã có cơ hội để sửa chữa khiếm khuyết này. Tôi quyết định đi Lào. Tôi trông đợi kỳ đi này vì hy vọng sẽ chỉ là một chuyến đi thăm một địa bàn cách sôi động hơn. Không phải là đất "Vạn Tượng" không có cuộc chiến khó chịu của nó để mà làm ngơ không ngó ngàng gì đến. Tuy nhiên Lào là một chốn êm dịu, dễ chịu mặc dù hơi ngô nghê một chút, dân chúng thì ôn hòa không nóng nảy bằng, và theo tôi kém phức tạp hơn người Việt. Họ có một vị vua hiền hậu tên là Sri Savang Vatthana và tôi được nghe kể lại rằng ông thuộc lòng tất cả các tiểu thuyết của Marcel Proust. Vài năm sau, bọn cộng sản đã nhốt ông vua hiền lành này cùng với hoàng hậu, hoàng thái tử và các hoàng đệ khác vào trong địa ngục "Trại cải tạo số một", nơi mà người ta cho là ông đã chết trong năm sau đó. Xứ Lào cũng được trời phú cho rất nhiều sư trẻ vị thành niên, chắc chắn không phải thuộc thành phần cực đoan. Sau khi mặt trời lặn, họ thường lẻn vào đất chùa để hút thuốc lá và nhéo mông chọc ghẹo các bà khách người Âu. Tôi tin rằng điều này đã khiến nhiều bà cứ thích đi lang thang vào đất thánh lúc chiều tối mát mẻ. Tôi có lời hỏi vị sư chủ trì của một ngôi chùa lớn ở Vientiane tại sao ông và hầu hết các sư chủ trì những ngôi chùa Lào khác phải mời các sư thầy từ Thái Lan qua. "Bởi vì, anh bạn trẻ à," ông trả lời, "đất nước Lào dường như không đào tạo được những vị tăng uyên bác nghiêm trang." Đi đến xứ Lào đã là phân nửa của niềm vui rồi. Không phải đáp máy bay đến Vientiane đã tránh được cho tôi cái bực dọc đương nhiên phải có tại các phi trường trong thời chiến, vì mỗi lần bay đến Tân Sơn Nhất tại Sài Gòn luôn luôn là một cực hình. Thay vào đó, tôi đáp một chuyến tàu hỏa có toa phòng ngủ nhàn nhã từ Bangkok đến Nong Khai tại miền Đông Bắc Thái Lan. Vào thời kỳ đó chưa có cầu nối Nong Khai với Vientiane, thủ đô hành chánh của Lào trên bờ bên kia của sông Cửu Long. Do đó tôi phải qua biên giới thông qua một thủ tục thô bỉ một cách tức cười. Sau khi đến ga Nong Khai vào buổi sáng sớm, tôi thuê hai chiếc xe lôi đạp, một cái cho bản thân tôi và cái kia cho hành lý. Chúng tôi lướt qua một nmhóm tu sĩ hành khất khoác cà sa màu vàng nghệ đến một tòa nhà tương tự như một nhà ga hàng không của các nước Phương Tây. Có đầy đủ phu khuân vác, khu vực nhập cư với một đội ngũ công chức mặc đồng phục rất nghiêm trang, lạnh lùng, lại có cả quầy bán vé đủ sức phục vụ cho hành khách máy bay Boeing 707. Tôi mua một tấm vé trong giống như vé hàng không, soát lại các va li và sang khu vực chờ đợi. Cuối cùng thì chuyến phà khởi hành được thông báo. Tôi đi đến cổng và nhìn thấy gì bên ngoài? Những bậc thang gỗ ọp ẹp, lung lay và trơn ướt dẫn xuống một bến cảng bùn lầy để lên một con phà "quốc tế" mà người Thái và Lào đã xây lên những trạm tiếp đón đồ sộ hai bờ Nam Bắc của dòng Cửu Long. Chiếc tàu trông giống như đã được thiết kế bởi nhà biếm họa người Anh William Heath Robinson và chạy bằng một cỗ máy động cơ diesel bỏ đi của xe buýt Luân Đôn thời tiền chiến. Chiếc phà có vẻ bị rò rỉ một cách đáng ngại nhưng Eban, người khách đồng hành đã từng tốt nghiệp IvyLeague trấn an tôi là chuyến vượt sông chỉ mất mười lăm phút, quá ngắn để tàu có thể chìm. "Tôi biết, tôi biết, Eban," tôi nói, "trước đây tôi đã từng ngồi trên những quan tài nổi này rồi và tôi biết bơi. Tuy nhiên, tôi không muốn bị rắn nước có nọc độc cắn tôi." "Hay bị những con 'cá đầu buồi' đầy rẫy trong nước bùn ở đây ăn thịt," anh tiếp lời. Cả hai chúng tôi cùng cười như những thằng khùng. Đêm hôm trước chúng tôi đã quá chén.


Tôi gặp Eban trong toa ăn của chuyến xe lửa, nơi có bán rượu whisky Thái, đúng hơn là rượu Mekong chỉ có 3 đô la một chai 0,7 lít. Eban đã từng là cố vấn về nông nghiệp cho nông dân Lào trước khi được thăng chức lên vị trí nhân viên cao cấp USAID đóng tại Phi Luật Tân. Nay anh ta lên tàu đi thanh tra nơi làm việc cũ của mình. "Lúc tôi đóng tại Lào, công việc tôi là huấn luyện nông dân một vùng nào đó cách trồng hai vụ lúa trong một năm," anh kể lại với một nụ cười tinh quái. "Điều này rốt cuộc là một công tác rất bực bội nhưng lại tức cười." "Tại sao lại bực bội?" Tôi hỏi. "Thì thế này, năm ngoái khi tôi quay trở lại chỗ cũ, tôi thấy những người nông dân đang vui chơi hoặc ngủ trưa dưới bóng cây mát, trong khi đồng áng thì bỏ hoang." "Có vẻ là kiến thức về trồng trọt của anh không gây được sự chú ý đối với họ lắm," tôi chọc anh. "Ê, tôi gây chú ý lắm chứ," Eban đáp lại. "Tôi lay ông trưởng làng thức dậy và hỏi ông: 'Năm ngoái tôi đã chẳng dạy ông làm hai vụ mùa sao?' Ông trưởng làng cười và nói thì đúng vậy và chúng tôi rất biết ơn ông. Chúng tôi đã làm hai vụ mùa năm ngoái rồi. Vậy năm nay chúng tôi không cần làm nữa.' Nói xong ông ta lại quay ra ngủ tiếp." Eban và tôi chia tay nhau tại Vientiane. Vì là một công chức cao cấp, anh được ở tại Lan Xang, một khách sạn sạch sẽ theo kiểu Tây Phương bên bờ sông Cửu Long, nơi mà các viên chức Hoa Kỳ và chuyên gia báo chí thích trú ngụ vì nó được trang bị máy điều hòa không khí, một nhà bếp quốc tế và có cả hồ bơi. Trong khi đó, tôi chọn khung cảnh kỳ bí của khách sạn Constellation trên con đường Samsenthai trong trung tâm bụi bặm của thành phố, nơi đặc trưng trong cuốn phim gián điệp nghẹt thở "Tên học trò đáng kính" (The honorable schoolboy) của John Le Carré. Căn phòng giá 25 đô la một đêm của tôi không có máy điều hòa không khí, chỉ có một cái quạt trần, một cái mùng trên giường, một vòi tắm nước lạnh, một bàn tiểu, cầu tiêu và một cửa sổ không trong ra sông Cửu Long mà hướng vào một cái ao vịt. Khách sạn Constellation giống như các quán trọ đơn giản ở đồng quê của Pháp, mà hầu hết buồn thay đã trở thành nạn nhân của nền văn minh. Nhà bếp của khách sạn Constellation tương tự như ngoại cảnh của nó: các loại đồ ăn chắc bụng kiểu Pháp kèm với rượu Beaujolais ướp lạnh trong hộp thiết nhưng luôn luôn được dọn ra với chỉ thị của ông chủ là người hầu phải có một cái khăn trắng tinh quàng quanh cổ tay phải. "Chào mừng ông đã trở lại! Món ưa thích của ông có trong thực đơn ngày hôm nay," Maurice Cavaliere, ông chủ Constellation nói khi xe taxi thả tôi xuống vào giờ ăn trưa, "chim bồ câu nấu đậu Hòa Lan! Tôi mua được chim bồ câu non hôm nay ngoài trời, tươi và ngon lắm!" Maurice hút thuốc lá liền tay và là một trong những nhân vật tôi thích nhất trong cả vùng Đông Dương. Sinh ra tại Côn Minh, anh là con của một nhà thực vật học Pháp và một phụ nữ quý tộc người Hoa. Anh tốt nghiệp đại học nổi tiếng "Cao đẳng Thương mại" (École Supérieure de Commerce) tại Paris và còn hay hơn là một chủ khách sạn giỏi: anh cũng là một nguồn tin tức đáng tin cậy. Điều này có lý do của nó. Khách sạn Constellation là chỗ dừng chân của một đám người tạp nhạp nhất. Nơi đó có các gián điệp từ các nơi trên thế giới đến, kể cả một phụ nữ Trung Hoa quyến rũ trạc 40 tuổi mà những người khách quen của Maurice biết là bà ta làm việc cho chế độ Mao Trạch Đông trong cao điểm của cuộc cách mạng văn hóa vô sản vĩ đại. Các đồng nghiệp Pháp của bà báo cho tôi biết công việc của bà là mồi chài gián điệp, phi công Hoa Kỳ để thu lượm tin tình báo trong lúc làm tình với họ tại khách sạn Constellation, có thể ngay trong phòng ngủ bên cạnh phòng tôi. Có cả cựu chiến binh Đức trong đoàn Lê Dương Pháp cũ với những công tác mờ ám. Có dân buôn lậu, cớm và nhiều phi công trong những nhiệm vụ hiểm nghèo. Trong hơn 24 hãng hàng không bay đi từ Lào chỉ có duy nhất hãng Royal Air Lao là thật sự chính thức. Hãng Air America được sở hữu và điều hành bởi CIA bay những phi vụ liều mạng nhất, kể cả dội bom đường mòn Hồ Chí Minh. Tôi có lần điên rồ để cho một chiếc trực thăng Air America thả xuống một căn cứ trên đỉnh núi của một bộ lạc liên minh với người Mỹ dưới hỏa lực nặng nề của đối phương. Thật ngạc nhiên là chiếc trực thăng đã trở lại sáng hôm sau, cũng bị hỏa lực địch vây hãm để mang tôi về lại Vientiane an toàn. Họ là những người quả cảm nhất mà tôi từng gặp. Và tôi đã diện kiến tất cả bọn họ ở quán bar của Maurice.


Ngoài ra có hơn 20 hãng hàng không thuê bao khác làm con thoi giữa Tam Giác Vàng trong vùng tam biên Thái Lào Miến Điện và Vientiane, Sài Gòn cùng các điểm xa hơn nữa. Có lần tôi làm phóng sự vụ đụng độ lạ lùng giữa một trong những chiếc máy bay thuê bao đó và Không quân Hoàng gia Anh Quốc (Royal Air Force) trên một hòn đảo ngoài Hồng Kông. RAF đã áp tải một chiếc máy bay lạ đáp xuống vùng mà hồi đó là thuộc địa của Vương quốc Anh. Chiếc máy bay đăng bộ kinh doanh tại Lào. Trong khoang tàu bay nhân viên Không Quân Anh tìm thấy một khối lượng vàng thật lớn dự định được thả xuống điểm hẹn ngoài khơi Hồng Kông và sẽ được thu hồi bởi một chiếc tàu buồm. Buôn lậu vàng là một hoạt động thương mại rất lớn ở Lào dạo đó và khi các thành viên tham gia cũng như các phi công uống rượu say rồi thì họ khai ra những câu chuyện hấp dẫn tại quán bar trong khách sạn Constellation của Maurice Cavaliere. Maurice mang lại cho tôi một ly Pastis, một loại rượu thơm mùi hồi và khi hòa với nước thì biến thành màu đục. Pastis là một loại rượu khai vị rất thích hợp với vùng nhiệt đới. "Tôi rất vui được thấy anh lại ở đây với chúng tôi lần nữa. Nhưng sao vậy? Đáng lẽ anh phải ở Sài Gòn chứ?" Anh hỏi. "Thỉnh thoảng tôi cũng phải viết cái gì đó về những vùng khác trong địa bàn của tôi chứ, Maurice, và lần này cũng tốt như mọi lần thôi," tôi nói. "Người Mỹ nói với tôi là chắc không có gì lộn xộn trong lần ngưng bắn này, bắt đầu từ ngày mai." "Vâng, nhưng tôi không chắc. Anh có tin vào nguồn tin của họ hay không? Chúng tôi có tin tình báo khác tại đây và có vẻ khá rắc rối đấy," Maurice nói. "Tuy nhiên anh đối chiếu lại với Mee đi. Cô ấy thật sự biết rất nhiều. Tôi đã tự ý bảo với cô ta là anh đã đến đây rồi. Chiều nay ăn tối với cô ta nhé. Được chứ?" "Được quá đi chứ, cảm ơn nhiều lắm!!" "Món bồ câu quay cho hai người vậy," Maurice cười khúc khích và quay sang tiếp những người khách khác trong quán bar. Như thế, tôi sẽ tái ngộ với Mee, tốt lắm. Mee Không phải là tên thật của cô. Tôi chỉ chọn nó từ một danh sách tên của bộ lạc Akha để đặt danh hiệu cho mỹ nhân hung tợn này mà tôi có cơ hội làm quen một vài năm trước đó. Khởi đầu của tình bạn lạ lùng giữa chúng tôi có lẽ cần phải được kể lại từ một buổi chiều thứ năm trong mùa mưa nhiệt đới và những ngày điên cuồng sau đó. Tôi đang ngồi trong phòng đợi của khách sạn Constellation sắp xếp lại giấy tờ. Để tránh mưa hắt vào, Maurice đã đóng chặt cánh cửa sổ trông ra phía đường Samsenthai. Bỗng nhiên, xoảng … đùng … đoàng … một khối lạ phóng qua cửa ra vào làm vỡ tan cửa kính và khung cửa sổ. Té ra là cả một chiếc Harley Davidson bay vào phòng, trên yên là một phụ nữ mặc đồ da trông giống như một khúc dồi huyết tròn trịa boudin noir. Cô ta đạp thắng ngay trước quầy rượu và hét lên, “Maurice, đưa tôi ly Patis! Nào!” Hoàn toàn dửng dưng với điếu thuốc Gitane vẫn lủng lẳng trên môi dưới, Maurice đưa cho cô ly rượu mạnh khai vị. Trong lúc cô đang uống, tôi nhận thấy một hình xăm kỳ lạ trên phần đỉnh tay trái của cô. Sau đó thì cô đạp số de, một tính năng duy nhất chỉ có ở xe mô tô Harley Davidson, lùi xe ra khỏi quầy rượu, cán các mảnh kính vỡ dưới bánh xe và chiếc xe gầm lên phóng vào cơn mưa nhiệt đới. “Trời đất ơi, Maurice, chuyện gì xảy ra vậy?” Tôi hỏi. “Mee đó mà,” anh nhún vai trả lời, “cô ta đến đây mỗi chiều thứ năm để uống Patis khi ở trong vùng. Tôi quên mất hôm nay là thứ năm.” “Thế còn?” “Còn cái gì?” “Cái cửa vỡ thì sao?” Tôi muốn biết. “Ồ, cái vụ đó! Cô ta sẽ cho người đến sửa chữa và dọn dẹp ngay sáng mai mà. Chắc tôi hạ cánh cửa sắt xuống bây giờ và đóng cửa tiệm thôi. Trời mưa như thế này sẽ không còn khách đâu. Đi vào phòng bên trong ăn cơm tối với tôi đi.” “Mee là ai vậy?” Tôi hỏi Maurice lúc chúng tôi đang dùng bữa cơm tối. “Một phụ nữ lạ lùng, thật là giàu, giàu lắm mà mới chỉ hơn 30 tuổi. Cô ta trước kia làm nghề giao thuốc phiện, nay đã thôi rồi! Cho tới năm ngoái cô có một chiếc xe vận tải lớn và thường xuyên từ chợ thuốc phiện từ Tam Giác Vàng (vùng trồng cây thuốc phiện trong khu vực ba biên giới Thái Lào Miến Điện) vượt qua Lào và đường mòn Hồ Chí Minh đến Nam Việt Nam và ngược lại.”


“Cô ta không bao giờ bị bắt sao?” Tôi truy hỏi. “Chắc là có bị rồi nhưng biết cách hối lộ các quan chức. Cô mời họ lên trên xe tải và thuyết phục họ cái mùi đó không phải là thuốc phiện,” Maurice nói với vẻ mặt lạnh như tiền. “Nhưng thuốc phiện bốc mùi hôi lắm, làm sao mà họ không nhận ra?” “Anh bạn tôi ơi, anh không thấy cô ta rất đẹp à?” “Thấy chứ, Maurice, vậy tôi sẽ có mặt tại đây thứ năm tuần sau nhé.” “Tôi sẽ để cửa mở, dù mưa hay nắng.” “Một điều nữa, Maurice,” Tôi tiếp. “Cái hình xăm lạ lùng bên tay trái của cô ta là hình gì vậy?” “À đó là dấu hiệu của bộ lạc Akha. Cô ta thuộc bộ lạc hung dữ đó, một dân tộc miền núi sống trong khu Tam Giác Vàng, mặc dù mẹ cô là người Mèo, còn gọi là H’mông nữa. Hầu hết người Akha mù chữ, Mee cũng vậy.” “Nhưng Maurice, Tôi thấy cô ta nói tiếng Pháp với anh mà!” “Đúng vậy, cô ta nói được tiếng Pháp và một tác ngôn ngữ khác, kể cả tiếng Đức. Cô thích người Đức lắm và đã từng nằm trong vòng tay một vài anh lính lê dương thời trước. Tuy nhiên cô không biết đọc hay viết một ngôn ngữ nào cả, đó không phải là cách giáo dục của người Akha. Dù vậy cô ấy rất thông minh. Như anh thấy đó, cô ta khá cao lớn đối với một phụ nữ bộ lạc miền núi.” “Giống như vua Charlemagne. Ông ta biết nhiều thứ tiếng nhưng thất học, có chí lớn, thông minh và rất cao lớn” tôi châm thêm. Maurice phá lên cười: “Chúc mừng! Charlemagne! Anh mới đặt một biệt danh chính xác cho cái cô kiêu ngạo này! Vừa nói, Maurice vừa mở thêm một chai Beaujolais. Ông chủ khách sạn người Pháp Hoa tại Lào và vị khách người Đức kết thúc buổi tối bằng cách nâng cao ly rượu để vinh danh vị hoàng đế Pháp của thế kỷ thứ 9. Thứ năm tuần sau đó, cửa để mở. Tôi ngồi tại quầy vào giờ uống rượu. Mee lái xe Harley vào thẳng phòng đậu bên cạnh tôi, để máy nổ và gọi rượu: “Maurice, đưa tôi ly Pastis! Nào!” M Nhận thấy tôi, cô hỏi bằng tiếng Pháp: “Anh là ai vậy?” “Một ký giả Đức,” tôi trả lời cũng bằng tiếng Pháp. “Warum sitzen Sie dann hier herum statt sich auf dem Lande um zu sehen, wo viel passiert?” Cô nói với tôi bằng tiếng Đức, có nghĩa là: Tại sao anh lại ngồi đây thay vì đi dạo quanh vùng đồng quê, nơi có nhiều chuyện xảy ra hơn? “Để gặp cô, Mee. Tôi thấy cô làm sập cả cánh cửa tuần trước.” “À ra thế, đàn áp. Khá hung bạo, phải không. Sáng mai 7 giờ sẵn sàng tại đây. Tôi sẽ đón đi chơi một vòng.” Nói xong, Mee de xe và rời khỏi quán. Đúng giờ như người Phổ, Mee có mặt tại quán Constellation vào lúc 7 giờ sáng và bảo tôi ngồi lên đằng sau. Lúc chúng tôi rồ xe về hướng Đông Bắc, tôi bám chặt vào thắt lưng áo da của cô, thưởng thức mùi tóc đuôi ngựa đập vào mặt tôi. Rõ ràng là nàng đã gội mái tóc dài sáng hôm đó bằng một loại dầu gội đầu rất mắc tiền của Pháp. Chuyện gì xảy ra trong chuyến đi hoang dã hai ngày sau đó là một câu chuyện khác cho một lần sau, ngoại trừ tôi có thể nói là chúng tôi đã đi thăm các khu vực miền Đông nước Lào bị kiểm soát bởi ba đạo quân kình địch lẫn nhau: phe hoàng gia, phe trung lập và cộng sản Pathet Lào. Cả ba nhóm đều hoan ngênh Mee, người mà họ biết tường tận, và cũng chấp nhận tôi bởi vì nàng giới thiệu tôi không phải là một phóng viên mà là người tình của nàng từ châu Âu qua. Sự thật tôi không phải và cũng không bao giờ là như vậy. Tuy nhiên đó là một điều nói dối có lý. Đến chốt của Pathet Lào, chúng tôi được cảnh báo không nên đi sâu thêm vì sợ có thể rơi vào tay Bắc Việt. “Bọn Bắc Việt chẳng tử tế đâu,” tay sĩ quan Pathet Lào nói với Mee, vừa liếc mắt đưa tình vào những đường cong bên trong bộ đồ da của nàng. “Trời tối rồi, Mee ơi,” tôi nói trên đường về. “Anh nói đúng. Về lại Vientiane tối nay khá nguy hiểm,” nàng đáp lại. “Vậy thì chúng ta ngủ ở ở đâu bây giờ?” “Ngoài máy hiên căn nhà sàn kia kìa.” “Cô có quen chủ nhà không?” Tôi hỏi.


“Không. Chúng ta cứ việc đến đó và mở túi ngủ ra. Các máy hiên để dùng vào chuyện đó. Lòng hiếu khách đối với khách lạ là một truyền thống ở Lào.” Do đó chúng tôi dừng lại tại trang trại. Mee yêu cầu tôi giúp mang cái túi vải thô, hai cái túi ngủ, chăn mỏng và mùng. Một cụ bà ra đó và mang cho chúng tôi hai bát cơm gà và một bình nước trà, cũng để dùng súc miệng sau khi ăn xong. Mee có mang theo hai hộp thiếc Beaujolais để uống kèm theo bữa ăn. Trước khi cởi bộ đồ da để chui vào tấm chăn, nàng lục túi vải thô lần nữa lấy ra hai khẩu súng lục Colt 0,45 và đưa cho tôi một khẩu. “Có một cái này bên cạnh lúc ngủ luôn luôn là điều tốt, trong mọi trường hợp mình phải đón khách bất chợt đêm nay,” nàng nói, ném về phía tôi một cái hôn gió và thiếp đi luôn. Chúng tôi đến khu trại có tường bao quanh của Mee trong trung tâm Vientiane khoảng giữa trưa hôm sau. Trong sân tôi thấy một chiếc Jaguar loại E và một chiếc Mercedes 280 màu đen mới tinh. Mee dắt tôi đến một căn phòng tắm thật sang trọng để đi tắm, một người hầu mang lại cho tôi một cái áo sơ mi và quần lót mới. Khi tôi trở ra, nàng đã thay vào một cái áo và quần Jeans giản dị. “Anh ở lại dùng cơm trưa nhé,” nàng vừa nói vừa đưa tôi đến một phòng ăn rộng nhưng trang trí đơn sơ và điều đặc biệt đáng nhớ nhất là cái sàn lót gạch màu đen. Trong bữa ăn trưa ngon kiểu Pháp được dọn lên bởi một người quản gia mặc đồng phục, nàng hỏi tôi thẳng thừng: “Anh nghĩ sao về một đứa bé mang các dòng máu Akha-Mèo-Đức?” “Chắc là xinh xắn lắm,” tôi đáp lại. “Chúng ta có thể có một đứa, em mới ba mươi lăm tuổi và rất muốn có con. Anh có muốn cưới em không?” “Nhưng Mee, anh đã có vợ, hạnh phúc và anh thương vợ anh rất nhiều.” “Điều ấy có thể được giải quyết bằng một hay hai cái thứ kia,” nàng lạnh lùng nói, tay chỉ vào những miếng gạch lót sàn nhà. “Trời đất, bộ xúi anh giết vợ bằng gạch lót nhà hả?” “Không,không, không bao giờ! Mua đứt cô ấy! Những miếng gạch lót sàn này là bằng vàng ròng đấy. Em từng buôn vàng mà, anh biết đấy. Đây là kho tiết kiệm của em,” nàng trả lời, chỉ tay vòng tròn ra dấu là cả cái sàn nhà được bao phủ bởi loài quý kim đó. Tôi tự nhủ, tại Á châu nói không ngay lập tức không những là một điều xấu mà còn có thể nguy hiểm nữa, nhất là đối với một con người có bản chất hung dữ như Mee. Vì vậy tôi tìm cách lãng tránh: “Anh phải bàn chuyện này với Gillian đã.” “Ừ anh làm vậy đi, anh bạn thân mến của em,” nàng mỉm cười trả lời tôi. “Tài xế em sẽ đưa anh về khách sạn Constelltion ngay bây giờ.” Khi tôi kể lại với Gillian biến cố này, vợ tôi tuyên bố một câu mà tôi hy vọng là câu nói đùa: “Đáng lẽ anh phải nhận lời mới phải. Thử nghĩ xem, hai cục vàng khối! Bọn mình có thể li dị nhưng vẫn làm tình nhân thì đã sao.” Rốt cuộc thì chúng tôi vẫn ở với nhau và tôi thì có thêm một người bạn tốt ở Lào. Chúng tôi gặp nhau mỗi lần tôi ghé Vientiane, nhưng vụ một đứa bé mang ba dòng máu Akha, Mèo và Đức không bao giờ được nhắc lại nữa. Tôi nghĩ đến giai đoạn kỳ thú đó trong cuộc đời với một nụ cười thú vị lúc đang sửa soạn cho một buổi tiệc có món bồ câu với Mee trong ngày 27 tháng 1 năm 1968, cái ngày mà lệnh đừng bắn tại Sài Gòn bắt đầu có hiệu lực. Bây giờ hồi tưởng lại, đó chính là cái ngày mà sự nghiệp phóng viên của tôi được cứu vãn. Mee đến khách sạn Constellation trong chiếc Jaguar loại E, lộng lẫy trong chiếc váy trắng có chấm polka màu xanh mà nàng mới mua trong một chuyến “làm ăn” tại Bangkok, điều mà nàng kể với tôi lúc đang thưởng thức ly Pastis. “Em không ngờ anh lại ở đây trong lúc này trong năm,” nàng nói, “anh là phóng viên, đáng lẽ anh phải ở Sài Gòn ăn tết chứ?” Tôi kể với nàng những gì tin tình báo Mỹ đã nói với tôi. Nàng thở dài, thật là đáng sợ khi biết người Mỹ sẽ bị bối rối như thế nào. Điều này cũng đáng lo cho những ai trong chúng ta không muốn sống dưới chế độ cộng sản. Tin tình báo của em cho biết sắp có chuyện kinh hoàng xảy ra tại Việt Nam vào dịp Tết. Em có ý kiến này: Anh kiểm tra với người Pháp ở Pakson đi. Đi ngay ngày mai đi. Em sẽ báo trước để giới thiệu anh với tay sĩ quan chỉ huy.


Pakson là thủ đô cà phê của Lào trên cao nguyên Bolaven của “cán chảo” Lào. Nhờ khí hậu mát mẻ, phái bộ quân sự Pháp cố vấn cho Quân đội Hoàng gia Lào đã thành lập một khu nghỉ phép và phục hồi sức khỏe cho các sĩ quan của họ tại đây. Sau này tôi khám phá ra đây cũng là một trạm nghe ngóng quan trọng của Pháp vì nó nằm cạnh đường mòn Hồ Chí Minh, và các nhánh phía tây xa nhất chỉ cách trung tâm nghỉ mát của người Pháp có 40 dặm. Sau bữa cơm chiều, Mee gọi lên Pakson và bảo tôi, “ông thiếu tá chờ anh ngày mai để ăn trưa với ông ấy. Sáng sớm mai em sẽ lại đưa anh đến phi trường Vientiane. Anh bay đến Paksé, thuê một chiếc xe tại phi trường và lái khoảng năm mươi cây số về hướng đông. Đường đi dễ thôi.” Buổi sáng tại phi trường Vientiane, nàng ôm tôi từ giã nói, “em nghĩ anh phải có mặt tại Sài Gòn ngay bây giờ. Đến Pakson gọi em ngay khi biết thêm tin tức gì.” Tôi không nhớ tên ông thiếu tá người Pháp. Ông trình bày cho tôi rất chi tiết về đường mòn Hồ Chí Minh và cho tôi một căn phòng nằm trên cổng của trung tâm. Giữa đêm tôi tỉnh dậy nghe thấy có người nói chuyện bằng tiếng Việt dưới cửa sổ phòng tôi. Một giọng nói là của chị quản gia trung tâm và giọng kia là của một người đàn ông nghe ghê tai và hết sức khó chịu. Tôi nghe thấy hắn nói “Mỹ Mỹ” nhiều lần và chị quản gia thì trả lời “báo chí Đức”. Cả hai cải vã một hồi, rõ ràng là nói về tôi và tôi lại ngủ thiếp đi. Hôm sau lúc ăn sáng, viên thiếu tá nói với tôi: “Đêm qua chúng ta có khách.” “Tôi biết, tôi có nghe hắn nói. Có vẻ như hắn là một tên Bắc Việt nói chuyện với chị quản gia về tôi”, tôi đáp. “Đúng vậy, nói về anh và một số vấn đề khác tôi không tiện kể ra. Dĩ nhiên là tôi hoan nghênh anh muốn ở lại đây bao lâu cũng được nhưng nếu tôi là ký giả thì tôi phải bay ngay về Sài Gòn lập tức. Sắp có chuyện lớn rồi.” Vào thời kỳ đó tôi đã ở chung quanh với quân sự và tình báo Pháp đủ lâu để hiểu ngay lời khuyên của viên thiếu tá mà không cần phải thắc mắc gì thêm nữa. Họ am tường xứ Đông Dương thuộc Pháp cũ này hơn ai hết. Tôi gọi Mee để báo là tôi sẽ trở về Viên Chăn chiều hôm đó. “Em có quen ai tại tòa đại sứ Việt Nam không?” “Quen tất cả mọi người. Anh cần gì?” “Anh cần gia hạn chiếu kháng nhập cảnh mà anh sợ ngày mai tòa đại sứ đóng cửa nghỉ tết,” tôi nói. “Đúng vậy. Họ sẽ đóng cửa nhưng không có vấn đề nào mà một tờ 100 đô la trong phong bì lì xì lại không giải quyết được. Em sẽ giúp anh. Anh chỉ cần đóng góp tờ 100 đô la mới thôi.” Nàng đón tôi tại phi trường Vientiane, lái xe đưa tôi đến khách sạn Constellation, bảo tài xế sáng hôm sau đánh xe đến tư gia viên phó đại sứ để đưa ông đến văn phòng mà chúng tôi đã đợi sẵn trong chiếc Jaguar E với giấy thông hành của tôi và một phong bì có sẵn tờ 100 đô la trong đó. Viên phó đại sứ thị thực chiếu kháng nhập cảnh cho tôi. Tôi chúc anh ta “chúc mừng năm mới”. “Nhanh lên,” Mee nói, “chuyến máy bay Royal Air Lao đến Bangkok của anh sẽ rời phi trường khoảng hơn một tiếng đồng hồ nữa. Em đã mua sẵn vé Air Vietnam chuyến chót từ Bangkok đến Sài Gòn rồi. Vé đây này.” Đến phi trường tôi gửi trả nàng tiền vé máy bay và ôm nàng vào lòng. “Có lẽ em không nên làm điều này. Anh đang bay vào vùng địa ngục. Em không muốn anh bị mất mạng,” nàng nói với tôi trong một cơn xúc động bất thường. Tôi hôn nàng và lên máy bay. Đến Bangkok tôi chạm trán một đồng nghiệp cùng toán là Friedhelm Kemna, đặc phái viên cho Die Welt nhưng không làm cho những tờ khác của nhóm Axel Springer, mặc dù chúng tôi thỉnh thoảng thay thế nhau khi một người trong chúng tôi đang làm công tác khác. “Mày làm cái gì ở đây? Mày đáng lẽ phải ở Lào mà?” Anh hỏi. “Bạn Pháp và Lào báo cho tao là sắp có chuyện lớn xảy ra ở Việt Nam. Còn mày thì sao? Tao tưởng mày phải thủ trại ở Hồng Kông chứ?” Kemna là một gã độc thân khoảng 40 tuổi đã từng phục vụ với cấp bậc thiếu úy kỵ binh trong Thế chiến Thứ Hai. Hắn cười bẽn lẽn thú thật với tôi, “thỉnh thoảng tao nhớ đàn bà Âu quá. Pan America có mấy cô tiếp viên người Đức tuyệt đẹp và họ thường ở khách sạn Siam Intercontinental. Do đó tao đi chơi Banhkok một chuyến.”


“Và mày cũng đã được báo là sẽ có khủng hoảng lớn ở Sài Gòn?” “Đúng vậy, tòa đại sứ Đức cho tao biết,” anh trả lời. “Vì vậy tao đã lấy vé máy bay đi Tân Sơn Nhứt vào chuyển cho hôm nay.” Khi chúng tôi đến, hàng trăm ngàn người Việt đang ở ngoài đường phố. Chúng tôi được kể là khoảng nửa triệu người đã đổ ra đường để chào mừng buổi tối đầu tiên không có giới nghiêm. Tiếng pháo nổ đì đùng khi taxi đưa chúng tôi về khách sạn Continental. Tôi quá mệt để đi ra ngoài ăn tối. Trong tiếng ồn của pháo nổ bên tai, tôi ngủ thiếp đi. Khi tôi thức dậy vài tiếng đồng hồ sau đó lúc nửa đêm, rõ ràng là các nguồn tin Mỹ đã tiên đoán trật lất còn Maurice, Mee và tay Thiếu tá người Pháp ở Pakson hoàn toàn đúng: không yên ổn chút nào trong dịp Tết 1968 tại Sài Gòn. Nhờ Maurice, Mee và tay thiếu tá Pháp mà tôi đã không phạm điều sai lầm lớn nhất là hụt mất cái biến cố Tổng Công Kích Tết Mậu Thân đang bắt đầu lúc tôi còn nằm trên giường đêm hôm đó tại Sài Gòn.


Click to View FlipBook Version