The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.

Vinh Quang của Sự Phi Lý
The Triumph of the Absurd
Uwe Simon-Netto

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2023-01-27 13:51:59

Vinh Quang của Sự Phi Lý Uwe Simon-Netto

Vinh Quang của Sự Phi Lý
The Triumph of the Absurd
Uwe Simon-Netto

Chương 14 Tết Mậu Thân 1968 tại Sài Gòn Bị đánh thức dậy ngay sau 3 giờ sáng, tôi cằn nhằn với khách vui xuân dịp Tết: "Không phải đã đến lúc về nhà rồi hay sao?" Nhưng khi tôi đến cửa sổ nhìn xuống công trường Lam Sơn thì ngạc nhiên không còn thấy một bóng ma nào cả, ở nơi mà trước đó vài tiếng đồng hồ còn có cả chục ngàn người đón mừng năm mới Mậu Thân. Ngày cả đám "chuột trắng", biệt danh của cảnh sát Sài Gòn cũng chẳng thấy đâu, chỉ có chuột cống chạy loanh quanh. Tôi chợt nhận ra là những gì tôi nghe thấy không phải là tiếng pháo nổ mà là tiếng liên thanh của súng trường tự động và không phải ở đâu xa xôi bên kia sông Sài Gòn mà ngay giữa thành phố, trong tầm đi bộ từ khách sạn tôi đang ở. Tôi mặc vội chiếc quần jeans và cái áo polo màu sậm, lôi cái nón sắt và chiếc áo giáp ra từ cái rương nhôm mà các nhân viên khách sạn đã mang từ tầng hầm của Continental lên phòng tôi. Khi tôi xuống dưới nhà, phòng sảnh khách sạn đầy những người mà bình thường ra không có mặt sớm như vậy: các nhân viên tiếp tân, điện thoại viên, hầu phòng, nhân viên nhà bếp, hầu bàn, và các nhà thầu người Mỹ cùng cô gái bao của họ. "Không ra ngoài được! Việt cộng! Thiết quân luật rồi!" Người gác đêm, một ông già Ấn Độ vùng Madras mặt nhăn nheo nài nỉ tôi bằng tiếng Pháp. "Thiết quân luật không áp dụng đối với tôi vì tôi là nhà báo chính thức," tôi nói, "tôi phải ra ngoài xem chuyện gì xảy ra." Ông ta mở khóa cửa và tôi mau chóng rẽ phải và lại rẽ phải thêm một lần nữa. Tôi đi bộ dọc lên đường Tự Do về phía Tây Bắc theo hướng tiếng súng càng lúc càng dữ dội của một cuộc đụng độ gần đó. Theo phản ứng thường tình tôi đi nép vào bờ tường. Đèn đường đã tắt ngóm. Thoạt đầu tôi cảm thấy lạnh lẽo một mình cho đến khi linh tính báo tôi biết có thể có ai đó đang canh chừng tôi. Tôi vội cúi xuống bước đi thận trọng hơn vì nghĩ rằng di chuyển nhanh quá có thể khiến bị người khác chú ý đến. Tôi cũng lo là khuôn mặt màu trắng của mình có thể bị phát giác trong bóng đêm kinh hoàng này nên tôi quay đầu vào mặt tiền các căn nhà trên đường tự do và tiếp tục đi ngang như con cua vậy. Đến ngã tư đầu tiên tôi liếc nhanh nhìn qua phía đối diện bên trái. Chỗ đó là quán cà phê La Pagode, nơi mà bà "Má", sếp của Đức, thường ngồi xổm bên cạnh đống báo chí. Tôi tự nhủ không biết giờ này em ở đâu? Em đã đi lính Việt Nam Cộng Hòa chưa hay lại thành Việt Cộng rồi? Lần cuối tôi gặp em đã 18 tháng từ ngày em theo tôi đến Bệnh viện Hải Quân trong Chợ Lớn. Điều gì đó khiến tôi liếc nhìn lên các tầng lầu của La Pagode. Hình như có những bóng người chạy quanh trên nóc nhà hay chỉ là trong óc tưởng tượng của tôi? Nếu đúng có thể là bọn Việt Cộng bắn sẻ? Thắc mắc này lẩn quẩn trong trí tôi trong lúc tôi tiếp tục đi ngang kiểu con cua từng đoạn đường hướng về Nhà Thờ Đức bà, thỉnh thoảng quay đầu lại quan sát các nóc nhà và vỉa hè. Nếu quả thật có đặc công Việt Cộng thì hoặc là họ không trông thấy tôi hay họ không muốn bắn vào một mục tiêu lẻ loi để bị lộ vị trí quá sớm. Tuy nhiên tôi không muốn liều chút nào. Tôi lập tức rẽ bên mặt, vẫn bám sát vào tường. Đến ngã tư tiếp theo tôi phóng hết sức lực qua đường thật nhanh và quẹo trái. Bây giờ tôi đang trên đường Hai Bà Trưng. Vẫn tiếp tục cúi mình ôm sát các tòa nhà, tôi đến gần khu giao tranh. Tôi không còn lẻ loi nữa. Một số người di chuyển về hướng tôi, họ cũng đều ở trên vỉa hè sát cạnh những tòa nhà. Tôi nhận ra những giọng nói quen thuộc của các đồng nghiệp và những tiếng thì thầm của người lạ bằng tiếng Pháp và tiếng Anh chính gốc. Khi đến đại lộ thống nhất tôi có cảm giác, một điều xảy ra hoài tại Sài Gòn, giống như có ai đó thả tôi lên "sân khấu của sự phi lý" trong một màn điên loạn đặc biệt. Bên mặt tôi thấy nhóm lính Royal Gurkha Rifles đang ở tư thế sẵn sàng chiến đấu đằng sau cánh cổng của tòa đại sứ Anh Quốc mà họ phải bảo vệ bằng mọi giá. Bên kia đại lộ tôi chứng kiến một cảnh tượng kỳ lạ: một chiếc trực thăng đang cố đáp xuống nhiều lần trên nóc nhà sáu tầng của tòa đại sứ Hoa Kỳ và liên tiếp bị súng tự động phía trong tòa nhà bắn lên đuổi đi. Đặc công Việt Cộng đã phá nổ được một lỗ ngoài bức tường bao quanh địa hình bốn mẫu vuông và chiếm giữ khu đất tòa đại sứ này Cho đến khi 18 người trong số họ bị giết và một người bị bắt sống trong cuộc đụng độ kéo dài nhiều tiếng đồng hồ. Ba Thủy quân Lục chiến và hai quân cảnh Mỹ bị thiệt mạng bởi Đặc công Cộng sản vũ trang hùng hậu hơn. Một chiếc trực thăng đã nhào xuống thả


3 thùng đạn M.16 trong một cố gắng tiếp viện cho toán an ninh Mỹ trong lúc họ đang bắn nhau với Việt Cộng. Nhưng sau đó có nguồn tin tiết lộ ra là bên trong tòa nhà ngoại giao đó không hề có một khẩu M.16 nào cả. Tôi quan sát những khán giả xếp hàng dọc theo vỉa hè đại lộ Thống Nhất bên cạnh tôi và tự dưng cái óc hí họa lại trỗi dậy, giống như nó vẫn thường xảy ra trong những ngày tôi còn là học sinh trung học, luôn luôn trong những lúc không ngờ nhất. Thời gian đó tôi hay say sưa vẽ biếm họa ông thầy dạy toán trong những buổi kiểm tra học kỳ mà tôi không tránh khỏi bị đánh rớt. Lần này thì niềm đam mê tranh hài hước có mục tiêu khác. Tôi phác họa trong đầu sự tương phản tức cười giữa những cặp chân của người dân thường và cảnh hỗn loạn của đám quân nhân bên kia đường. Tôi phát hiện bên cạnh tôi có một đôi chân mang vớ len xỏ trong dép và nghĩ "Đây chỉ có thể là một gã người Đức!" Trong tiếng giao tranh bên kia đường bên tai, mắt tôi tập trung vào một người không quen biết từ đôi dép lên. Tôi tự nhéo vào người. "Hay là mình đang có một giấc mơ kỳ lạ?" Tôi tự nhủ. Tôi thấy một chiếc quần quân phục Đức, trên nữa là một cái áo khoác sĩ quan Đức với huy hiệu xác định người này là một phi công trực thăng, trên cầu vai có một đốm bạc bao quanh bởi hai lá sồi cũng màu bạc. Một cái mũ lưỡi trai của sĩ quan đội trên đầu bổ túc toàn bộ bức hình: trong bối cảnh chiến đấu giữa trung tâm Sài Gòn tôi đang đứng cạnh một thiếu tá Đức đi dép và mang vớ đen. Sau này tôi mới biết đó là phụ tá tùy viên quốc phòng Tây Đức. "Neue Kleiderordnung, Herr Major?" Tôi hỏi anh ta: "Trang phục mới à, thưa thiếu tá?" "Wie meinen Sie das?" Anh đáp lại: "Anh muốn nói gì vậy?" Tôi chỉ vào chân anh ta nói: "Uniform, Wollsocken, Sandalen." "Quân phục, vớ len và dép!" "Gucken Sie sich gefälligst ihre eigenen Füße an," anh vặn lại: "Nhìn vào chân anh đi!" Tôi làm theo và thấy một cảnh tượng đáng thương: Tuốt phía dưới, sau cái nón sắt, bộ áo giáp và quần jeans là đôi chân dính đầy máu đã đông đặc dính cứng trong đôi dép cao su đi tắm màu xanh. Ngay tôi cũng không biết là mình đã bị thương, có thể vì mảnh thủy tinh vỡ bắn vào. "Nur Tarnung, Herr Major," Tôi trả lời: "Chỉ ngụy trang thôi!" Cả hai chúng tôi cười phá lên. Niềm vui nhộn của chúng tôi lập tức thu hút sự chú ý của những người qua đường khác và họ và nhập vào chúng tôi, không biết rằng chủ đề vui nhộn chỉ là về giày dép. Họ cũng cười lên, tưởng rằng chúng tôi đang phản ứng với sự phi lý bi thảm đang diễn ra phía bên kia đường. "Tôi tưởng anh đang ở Lào kia mà," một tay phóng viên người Anh hỏi tôi, "điều gì khiến anh về đây?" Tôi kể là tôi đã nghe theo lời khuyên của Maurice, Mee và viên thiếu tá người Pháp ở Pakson để trở về Sài Gòn trong dịp Tết. "Họ đúng đấy," tay người Anh bắt đầu bình phẩm. "Thật không thể tưởng tượng nổi là một chủ quán, một tay buôn thuốc phiện đã giải nghệ và một viên sĩ quan Pháp tuốt bên Lào lại biết trước chuyện gì sẽ xảy ra. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa cũng đã biết trước luôn. Tướng Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã được thông báo. Ba ngày trước ông đã ra lệnh cho các tư lệnh quân đoàn phải đặt quân đội vào trong tình trạng báo động. Tuy nhiên, dường như phát ngôn viên quân đội Mỹ chẳng biết gì về cái ý định của Việt Cộng cả." "Anh nói đúng về trường hợp tướng Cao," viên sĩ quan Đức nói, "ông ta đã ra lệnh này sau khi Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bắt được 11 tên Việt Cộng tại Quy Nhơn mang theo băng nhựa thâu sẵn thông điệp để phát thanh cho dân chúng nghe trong những thành phố được giải phóng như Sài Gòn, Đà Nẵng và Huế, dự tính là ngày hôm nay đấy." "Hai hôm trước đây, tôi tham dự một buổi họp mặt tất niên bên cạnh hồ bơi cùng với 200 chuyên viên tình báo MACV," tay phóng viên người Anh tiếp lời, dùng chữ viết tắt của Bộ Chỉ Huy Hỗ Trợ Quân Sự Hoa Kỳ tại Việt Nam (U.S. Military Assistance Command Vietnam). Chẳng có ai ở đó tỏ vẻ có ý niệm gì là Việt Cộng sắp tấn công cả." Bây giờ trời đã rạng đông. Từng chút một, chúng tôi nghe các chi tiết đáng kinh ngạc được tiết lộ ra từ trận giao tranh trong tòa nhà, đặc biệt tại căn biệt thự của George Jacobson, phụ tá đặc biệt của đại sứ Ellsworth Bunker. Thấy một tay súng cộng sản chui được vào nhà, ông chạy vội ra cửa sổ phòng ngủ hét một lính Mỹ bên dưới, "ném cho tôi một khẩu súng." Có súng rồi, Jacobson đối đầu với tay Việt Cộng, chỉa súng vào hắn. Một cuộc cận chiến sống chết giữa hai người diễn ra kịch liệt kế đó. Sau cùng, Jacobson lừa thế bắn được kẻ lạ mặt. Một phóng


viên Mỹ đến báo với chúng tôi là tướng William Westmoreland, Tổng tư lệnh Quân lực Hoa Kỳ tại Việt Nam, sắp xuất hiện tại tòa đại sứ nhưng tôi không thể chờ được vì phải về nộp câu chuyện. Trên đường về lại Continental tôi thấy vẫn còn những vụ chiến đấu lẻ tẻ trong từng căn nhà, hai bên vía hè đầy các xác chết làm tôi phải chạy thục mạng. Có tên bắn lén xuất hiện ở một chỗ nổ một vài phát súng rồi biến mất để xuất hiện qua một chỗ khác nhằm tạo cảm giác chúng có mặt ở mọi nơi và không lường trước được. Trong câu chuyện ngày 31 tháng 1 năm 1968, tôi viết, "những vụ bắn sẻ chỉ xảy ra cách khách sạn của tôi trong vòng vài thước." Phòng sảnh thanh lịch của khách sạn Continental trông giống như một trại tỵ nạn. Lũ lượt, từng đoàn người ngoại quốc cư trú trong các quận huyện Sài Gòn bị Việt Cộng tấn công đang tìm nơi trú ẩn. Vài người lớn giọng đòi xin thực phẩm vì không còn gì để ăn trong thủ đô mà các tiệm bánh, hàng quán đều đóng cửa, nhưng ông Lợi, quản gia của Continental thông báo là khách sạn chỉ vừa đủ lương thực để cung cấp cho khách đang trú ngụ mà thôi. Trong hoàn cảnh hỗn loạn này thì nam tước trẻ tuổi Hasso Rüdt von Collenberg nổi lên như là một khuôn mẫu cho sự điềm tĩnh. Vị đệ nhất thư ký tại tòa đại sứ Đức với khuôn mặt trắng nhợt và trẻ trung này là một người vô cùng dũng cảm. Giới ký giả thích anh ta ở cái tính khôi hài ý nhị và đầu óc phân tích sâu sắc. Khi chúng tôi chạm trán nhau trong phòng sảnh Continental thì anh ta đã thức trắng đêm lái chiếc Volkswagen trắng vòng quanh để chở các công dân Đức đến những nơi an toàn. Ngay lúc này, anh đang lo chỗ ở tạm thời cho Arno Knöchel, cựu trung sĩ trong đoàn Lê Dương hiện là người quản gia của tòa đại sứ Tây Đức và gia đình ông ở ngay trong sân của tòa đại sứ Đức, một nơi không an toàn chút nào vì vị trí của nơi này ngay ngoài rìa Chợ Lớn, khu phố Tàu trong vùng giao tranh tại Sài Gòn. Von Collenberg đã phải thực hiện ba chuyến, vừa núp Việt Cộng bắn sẻ mới chuyển hết 12 người của gia đình Knöchel vào trong trung tâm thành phố. "Bọn Việt Cộng đã bắt cóc các bác sĩ của ta ở Huế rồi," von Collenberg nói lúc anh ta đi ra khỏi phòng sảnh đông đúc của khách sạn Continental, "chúng tôi không biết gì hơn nữa. Anh có định ra đó không?" "Ngay khi nào tôi có thể bắt được một chuyến bay quân sự ra Đà Nẵng, có thể là ngày mai đấy," tôi đáp, "từ đó tôi sẽ tháp tùng một đoàn xe quân sự ra Huế." "Chúc anh may mắn! Tôi nghe là Huế đã rơi vào tay cộng quân rồi," von Collenberg bảo tôi. "Tôi sẽ cố gắng bám theo một đơn vị Hoa Kỳ hay Việt Nam Cộng Hòa mở đường tái chiếm thành phố Huế." "Cẩn thận nhé và nhớ báo cho tôi biết tin tức," anh khẩn khoản. "Tôi sẽ cố gắng hết sức. Tôi biết họ là bạn của anh mà," tôi hứa. "Đúng vậy, tôi vẫn thường xuyên ở với họ mỗi khi thăm xứ Huế. Họ là những người rất đàng hoàng và có học thức. Họ đã từ bỏ quá nhiều thứ ở Đức để đến giúp người Việt Nam. Trên thực tế, đáng lẽ họ phải hồi hương nhưng đã gia hạn thời gian phục vụ tại đây. Họ bảo tôi là đã trót thương đất nước và dân tộc Việt Nam nên không muốn bỏ rơi người ta. Bây giờ thì mình không biết họ ở đâu và còn sống hay không nữa." "Tôi hứa khi nào đến Huế sẽ liên lạc với anh ngay sau khi có thể được. Kiếm anh ở đâu đây?" "Tại tòa đại sứ, ban đêm cũng được trong thời gian khủng hoảng này. Tôi đã đặt một cái giường ta làm trong văn phòng của tôi." Tôi chạy lên phòng đi tắm và băng bó cái chân bị thương trước khi viết lại câu chuyện. Ngay lúc đó, tay bạn cùng toán Friedhelm "Freddy" Kenna bước vào phòng từ Trung tâm Báo chí kể lại cho tôi toàn bộ tình hình chung: khoảng tám mươi ngàn Việt Cộng và bộ đội Bắc Việt đã tấn công một trăm tỉnh thành tại miền Nam Việt Nam. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã tuyên bố thiết quân luật." Freddy trải một tấm bản đồ Sài Gòn lên trên giường tôi, lấy cây bút đánh dấu màu xanh khoanh vòng những địa điểm nóng xấu nhất và nói: "Có giao tranh lớn ở vùng trường đua ngựa và Tân Sơn Nhứt; nhưng tôi nghĩ giờ này phi trường chắc được giải tỏa rồi. Việt Cộng tấn công Bộ tư lệnh Lục quân và Hải quân gần Tân Sơn Nhứt, và Dinh Tổng Thống nhưng vẫn chưa chọc thủng được phòng tuyến. Tin mừng là quân miền Nam đã thiết lập phòng ngự hữu hiệu và chiến đấu giỏi. Đài phát thanh Quốc gia vẫn còn nằm trong tay Việt Cộng nhưng quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã khôn ngoan cắt các đường dây đến trạm phát thanh nên bọn Việt Cộng không thể dùng đài phát thanh để tuyên truyền được. Quận 5 Chợ Lớn là mặt trận tồi tệ nhất. Nơi đó là một mớ hỗn độn..."


"Trời đất ơi!" Tôi thốt lên. "Sao vậy?" "Quận 5! Đó là chỗ Josephine đang ở!" "Cô ta vẫn còn trong tâm trí của anh à?" Freddy nói, "tôi tưởng cô ấy đã lấy một ông thương gia bán ngũ cốc người Hoa có cái biệt thự thật lớn rồi mà?" "Đúng vậy, nhưng tôi không nghĩ là cô ta đang ở trong cái biệt thự đó. Có lẽ cô đang ở với mẹ tại căn nhà trong quận năm vào dịp tết, và điều này làm tôi lo lắng." "Thôi ăn cái gì đi và bắt đầu viết là vừa," Freddy đề nghị. "Anh có đồ ăn gì trong phòng không?" "Tôi có mang vài hộp bánh mì pumpernickel Đức từ Hồng Kông về và luôn luôn trữ một ít khẩu phần C. Trong đó có phô mai đóng hộp đấy. Bọn mình ăn bánh mì phô mai đi." Chúng tôi ăn tạm. Sau đó tôi ngồi đánh máy còn Freddy thì đứng bên trái bổ túc những chi tiết anh mới hay từ Trung tâm Báo chí. Đồng tác giả với nhau, chúng tôi đã viết bài phóng sự về Tết Mậu Thân trên trang bìa và các mẩu tin phụ khác cho tờ Die Welt. Sau đó tôi đã viết thêm cho những tờ báo khác mà tôi phụ trách. Cứ mỗi lần tôi xong hai hay ba trang đánh máy thì Freddy chụp lấy và chạy vội qua bên kia đường đến Trung tâm Báo chí mới được lắp đặt hai đường dây telex đến Manila - hai đường cho 600 phóng viên chính thức! Tại đó có ba cô nhân viên telex đều xinh đẹp, vui vẻ, và cả ba đều trở thành bạn của tôi sau khi tôi biếu các cô vài xấp lụa Hồng Kông để may áo dài mới. "Anh thật là tài với mấy cô ấy," Freddy nói, miệng cười rạng rỡ lúc quay về. "Có cả hai hàng ký giả chờ đợi để đưa tin nhưng các cô đã lén nhận bản thảo của tụi mình mà không để ai biết cả. Thật là hay khi có được những người bạn trong những vị trí khiêm nhường." "Freddy, anh chịu khó ở lại giữ chùa nhé, thỉnh thoảng chạy qua bên Trung tâm Báo chí để cập nhật chuyện tụi mình nhé được không? Tôi phải chạy ra ngoài xem một chút." "Bằng cách nào đây?" Friedhelm Kemna kêu lên, "anh không có xe hơi nữa. Ngoài đường không có taxi, xích lô, không có gì hết!" "Có cách mà," tôi trả lời. "Để tôi nói chuyện với anh quản gia, anh ta cũng là bạn tôi đấy." Tôi khá mắc cỡ khi thú nhận là tôi không còn nhớ tên anh quản gia đó nữa nếu quả tình có biết tên anh ta. Giống như rất nhiều những người như vậy làm việc trong các khách sạn khéo điều hành, anh ta là một người chững chạc với một cá tính phi thường. "Anh có cách nào kiếm cho tôi một cái xe không?" Tôi hỏi anh ta. "Có và không," anh đáp lời. "Ý anh là thế nào?" "Tôi nói không vì không có xe dân sự nào ngoài đường hôm nay cả. Nhưng tôi nói có vì anh có thể lấy chiếc Honda của tôi." "Nhưng tôi chưa bao giờ lái xe gắn máy cả!" "Anh biết lái xe đạp, đúng không? Tôi sẽ chỉ anh cách rồ ga và đạp thắng. Anh chỉ cần biết những điều đó." Anh ta dẫn tôi vào sân trong, lấy chiếc Honda ra, nổ máy xe, chỉ tôi cách sang số và sau đó nhìn tôi lái đi chập chờn về phía trước như một con cào cào mỗi lần tôi nhả dây số ra. Anh không bao giờ hỏi tôi tiền thuê hay đòi tôi phải đặt cọc cho chiếc xe quý giá của anh. Vài tháng sau, tôi hỏi anh, "bộ anh không sợ là tôi không mang về lại chiếc Honda nguyên vẹn cho anh hay sao?" "Tôi nghĩ là có 50 - 50 phần trăm xác suất," anh trả lời, "nhưng lúc đó anh cần phương tiện di chuyển và tôi không biết có cần cái xe gắn máy đó nữa hay không trong hoàn cảnh những chuyện xảy là ngày Tết. Vì vậy tôi cho là để anh mượn cái xe Honda là chuyện đáng làm." Một điều thật lạ lùng là các nhân chứng thường nhớ lại những biến cố lớn của thế giới một cách khác nhau, hay nói đúng hơn, những mặt nào của các biến cố đó đã lưu lại trong tâm trí họ một cách mạnh mẽ nhất. Về phần tôi, tôi bị xúc động xấu xa đối với những hành động nhân ái căn bản nhất, lòng độ lượng và sự dũng cảm mà tôi đã chứng kiến được trong ngày đầu đó của Tết Mậu Thân 1968. Hasso Rüdt von Collenberg và anh quản gia là hai ví dụ đầu tiên đáng ghi nhớ nhưng còn nhiều hơn nữa. Ngày hôm nay tôi tin tưởng là tôi đã được ban ơn cứu mạng từ những người dân thường Việt Nam đã không quản gian nguy để bảo vệ tôi.


Con đường đến nhà Josephine rất quen thuộc nhưng lần này nó trở thành một đoạn đường ngoằn nghèo vô định chung quanh những thây ma Việt Cộng và các khoảng giao tranh trong từng căn nhà một. Trong lúc tôi đang lái chậm chạp, núp theo vách tường qua một con đường im vắng một cách rùng rợn thì một người đàn ông đứng tuổi nhảy chồm ra từ một cánh cửa nhà, đẩy bật tôi ra khỏi chiếc Honda và giữ tôi nằm im dưới đất. Ông ra lệnh một cách nhẹ nhàng nhưng cương quyết bằng tiếng Pháp, "nằm im đừng nhúc nhích!" Ông ta bò tới chiếc xe gắn máy mà bánh xe còn đang quay tít trên không, tắt máy xe, bò lại phía tôi thì thầm, "Việt Cộng," tay chỉ về các cánh cửa sổ của các căn nhà nằm sâu hơn trong xóm. Sau đó ông kéo tôi vào trong nhà, bỏ mặc cái Honda ngoài đó. Hai mươi phút sau, ông ta ra ngoài lần nữa, trở lại báo, "Việt Cộng đi rồi. Ông đi được rồi. Nhưng tìm đường khác mà đi. Con đường này nguy hiểm lắm." Lạ lùng thay là chiếc Honda gần như không hề hấn gì. Trong lúc lái lòng vòng, tôi được báo động ba lần nữa, hai lần bởi những người phụ nữ Việt Nam và một lần bởi con nít hét lên, "Việt Cộng, Việt Cộng," đây rõ ràng là một cách thách thức mục tiêu của Việt Cộng, rằng cuộc Tổng công kích Tết Mậu Thân này là phát động một cuộc nổi dậy của quần chúng chống lại "Mỹ Ngụy", ngôn từ mà bọn cộng sản đã sử dụng. Qua những gì tôi chứng kiến, cuộc tấn công đã mang kết quả ngược lại. Như sau đó cả thế giới đều biết, không một ai trên toàn cõi miền Nam Việt Nam đã nghe theo lệnh của cộng sản. Josephine đứng ngoài cổng căn nhà nhỏ của mẹ nàng, bồng một đứa bé trên tay, còn hai đứa con trai của người chồng trước thì bám vào quần ngủ. "Em biết là anh sẽ đến," nàng nói. "Sao em biết?" "Em tự nhiên biết, không giải thích được." "Em có sao không?" "Vâng, bây giờ thì em yên tâm rồi. Em thấy bọn Việt Cộng ngoài cửa nhưng họ không vào nhà. Cảm ơn chúa điện thoại vẫn xài được. Chồng em đã gọi báo sáng sớm nay. Anh ấy sẽ đến ngay để đón mẹ con em gì tản đến chỗ an toàn." "Chồng em sẽ mang em ra ngoại quốc phải không Josephine?" "Vâng em nghĩ vậy, có lẽ đi Singapore. Chồng em người Hoa và quen biết nhiều ở Singapore." Nàng quay vào nhà một lát trao đứa bé cho bà mẹ trông và trở ra để chào tạm biệt tôi. "Như biển cả, như bầu trời... (Comme la mer, comme le ciel...)" nàng nói bằng tiếng Pháp một cách nhẹ nhàng, giống như là đã nói ba năm trước đây khi chúng tôi tắm biển chung tại bãi trước Vũng Tàu. Sau đó thì nàng trở vào nhà. Từ đó tôi không bao giờ gặp lại nàng nữa. Lái lòng vòng về lại Continental, tôi ghé qua Trung tâm Báo chí để ghi tên vào danh sách hành khách cho một chuyến bay của Không lực Hoa Kỳ vào sáng hôm sau. "Làm sao tôi đến phi trường Tân Sơn Nhứt được?" Tôi hỏi vị trung sĩ tiếp vận. "Chúng tôi sẽ đón ông tại khách sạn vào lúc 3 giờ sáng ngày mai," anh ta trả lời. Trong phòng khách sạn Continental tôi viết vội một câu chuyện ngắn trước khi đi ra ngoài ăn tối với Freddy. Chúng tôi lang thang qua những con đường vắng lặng đến tiệm Royal và không ngạc nhiên chút nào thì thấy nó vẫn còn mở cửa, không có điều gì có thể ngăn ông già Ottavi dọn một bữa ăn ra bàn được. "Tất cả những gì tôi có thể cung cấp cho quý vị là a ti sô tươi từ Đà Lạt, bánh mì cũ và món bánh Soufflé au Grand Marnier đặc biệt của tôi," ông ta tuyên bố. "A ti sô tươi từ Đà Lạt! Ông kiếm a ti sô ở đâu ra vậy?" Freddy hỏi, "Đà Lạt rơi vào tay Việt Cộng rồi phải không?" Ottavi mỉm cười một cách bí hiểm và nói, "vâng, chúng tôi có cách của chúng tôi." A ti sô là món rau ưa thích của tôi trong những ngày ở Việt Nam, thích nhiều đến nỗi bạn bè người Anh gọi tôi là "A ti sô Charlie từ Hamburg." Ngấu nghiến mỗi đứa sáu cái a ti sô, Freddy và tôi thỏa thuận là anh sẽ thủ trại tại Sài Gòn trong khi tôi sẽ bay lên mạng trên tới Đà Nẵng và Huế. Sau này chúng tôi sẽ đổi ngược lại vai trò để cho anh đi xuống đồng bằng sông Cửu Long.


Trên thực tế thì tôi phải chờ đợi mất mấy ngày trời trước khi bắt đầu một cuộc phiêu lưu mà sau này đã trở thành cuộc hành trình đau thương nhất trong cuộc đời nghề nghiệp của tôi.


Chương 15 Tết Mậu Thân 1968: hỏa ngục Huế Đà Nẵng là một thành phố khốn cùng vào đầu tháng 2 năm 1968. Lạnh lẽo và mưa phùn chẳng khác nào như tôi vừa bay đến một vùng Bắc Âu. Các đường phố vắng tanh, ngoại trừ xe quân đội. Tôi đã ôm ấp hy vọng được qua đêm trên chiếc Helgoland tại Đà Nẵng để biết tình trạng chiếc tàu này ra sao trong vụ Tổng công kích Mậu Thân và được ăn thức ăn Đức bổ dưỡng mà tôi đang thèm. Từ lúc rời khỏi Vientiane tôi chưa hề có được một bữa ăn ra hồn nào. Tuy nhiên, viên thuyền trưởng đã khôn ngoan mang chiếc tàu ra vùng an toàn của hải phận quốc tế rồi. Vì vậy tôi đến trại báo chí MACV tuy thiếu hấp dẫn nhưng có một nhà ăn tạm được và có một quầy rượu rất đầy đủ. Tôi gọi một ly Dry Martini, ăn một miếng steak kèm một chai rượu vang, đi tắm nước nóng và cảm thấy sẵn sàng cho một cuộc phiêu lưu mà sau này hóa là không thể có những thứ xa xỉ này trong một thời gian nữa. Trời vẫn còn tối khi tôi gia nhập một đoàn xe Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ sáng sớm hôm sau. Tôi bận hai bộ đồ trận chồng lên nhau, chẳng bao lâu sau thì còn tròng thêm một cái thứ ba nữa và tôi hài lòng là chiếc áo giáp còn giúp tôi ấm thêm chút ít. Một số nhà báo từ trại báo chí đã can đảm dùng đường bộ đầy nguy hiểm để đến vùng phụ cận của cố đô Huế vẫn còn nằm trong tay của cộng quân. Vì đây là cơ hội tốt nhất để chúng tôi có thể sớm đến nơi đó. Màn mây rất thấp và tình hình an ninh chung quanh phi trường Phú Bài bất ổn đến nỗi chúng tôi có thể sẽ phải chờ đợi nhiều ngày để có được một cái vé đi máy bay quân sự. Trước khi được phép leo lên xe vận tải, mỗi người trong chúng tôi được phát một khẩu M.16. "Chúng tôi biết là điều này trái với thông lệ," viên thượng sĩ giải thích, ý nói là hiệp định Geneva quy định rằng phóng viên chiến trường không được mang súng. "Nhưng," ông ta nói thêm, "chúng ta sẽ phải đi qua những vùng hết sức nguy hiểm và có thể bị phục kích. Trong trường hợp đó quý vị phải tự bảo vệ lấy. Vậy quý vị có hai sự lựa chọn: mang theo súng hay ở lại phía sau." Chúng tôi đến Phú Bài phía Nam Huế không hề hấn gì, ngoại trừ một cảnh tượng đã làm nổi dậy tính hài hước của tôi. Ngồi cạnh tôi đằng sau chiếc xe vận tải có một cặp phóng viên tạp chí Stern gồm một nhiếp ảnh gia và một ký giả. Người chụp hình là Hilmar Pabel, một trong những người nổi tiếng nhất trong nghề chụp ảnh của giới báo chí Đức, và là một cựu chiến binh lão luyện phi thường. Bức hình chụp tôi trên bìa của cuốn sách này chính là tác phẩm của anh. Hilmar đã chụp nó trong một lúc tạm lắng giao tranh trong khu phố Huế. Tay đồng nghiệp của anh là một chuyện khác. Hắn là một ký giả trẻ tuổi người Áo đặc trưng cho cái khuôn mẫu tả khuynh thổ tả đã từng nhiễm độc đời sống trí thức Tây Âu vào thời gian đó để đạt đến cực độ với cuộc nổi dậy của giới sinh viên trong đại nạn tháng 5 năm 1968 tại Paris, và nó đã lần lượt nhiễm độc toàn bộ lục địa và một phần lớn những gì còn lại của thế giới Tây Phương. Tên hắn là Peter Neuhauser. Bỏ qua ý thức hệ Mác xít thì hắn lại là một gã vạm vỡ dễ mến không khác gì những người lính Thủy Quân Lục Chiến mà chúng tôi đang tháp tùng đi chung. Vì vậy họ rất thích hắn mà không hề biết gì về quan điểm thân cộng của hắn cả. "Anh trông giống như bọn tôi lắm," đám lính nói. "Chỉ cần cắt mái tóc thôi," họ tiếp. Do đó khi chúng tôi đến tiền trạm của Sư đoàn 5 Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đàng sau phi trường Phú Bài, họ lôi Peter vào một cái lều, cạo đầu hắn, dí một cây M.16 vào tay hắn và reo lên khoái chí: "Chào mừng anh tân trung sĩ của chúng ta!" Từ đó họ gọi hắn là "Gunny", và dưới mắt bao nhiêu người, gã Peter thân Cộng này lại có vẻ thích thú với "cấp bậc" mới của mình vô cùng, mà ta có thể thấy rõ qua các bức hình Hilmar Pabel đã chụp cho hắn. Điều này đã chẳng giúp được gì cho sự nghiệp của hắn. Những tấm hình chụp Neuhauser trong tư thế tác chiến cùng với những tấm khác cụ thể hơn trong bộ sưu tập phim của Pabel rốt cuộc đã đến văn phòng chính của tạp chí Stern tại Hamburg vài ngày sau đó và đã gây phẫn nộ trong các đồng nghiệp của hắn. Không một ai thấy có gì đáng buồn cười cả. Hắn không bao giờ được phái đi công tác ở ngoại quốc nữa. Sáng hôm sau, khi Peter và tôi tháp tùng một tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến vật vã tác chiến từng tấc đất vào Huế, hắn có vẻ được giác ngộ, dù chỉ là trong khoảng khắc. Trên con lộ dẫn vào cố đồ của Việt Nam chúng tôi thấy cơ man xác chết của dân thường, riêng rẻ hay từng nhóm, toàn là phụ nữ, cụ già và trẻ em. Họ đều ăn mặc tươm tất nhân dịp đầu năm mới. Qua vị thế của các tử thi


chúng tôi thấy có nhiều phụ nữ đã cố gắng dùng thân mình để che chở cho con, chống lại bọn sát nhân. "Bọn cộng sản bạn mày đã làm điều này, Peter!" Tôi mắng Peter một cách tàn nhẫn. Mặt hắn biến sắc trắng bệch. "Chắc chắn không phải đâu," hắn trả lời, "những người này bị máy bay Mỹ giết." "Không đâu," Peter, "thương vong vì không tập chẳng như thế này," tôi vặn lại, "trông những vết thương trên đầu và trên mình của họ kìa. Nhìn cách một số người phụ nữ đang giơ tay che mặt đi. Họ bị bắn ở cự li rất gần. Tin tôi đi, tôi đã thấy chuyện này rồi: đây là thành tích của những toán chuyện giết người. Những gì chúng ta đang thấy nơi đây là bằng chứng tội ác chiến tranh. Những người này đã bị thanh toán vì bất cứ lý do điên rồ nào đó mà bọn cộng sản phải thủ tiêu cả đàn bà, trẻ em và người già." Peter Neuhauser giữ im lặng, nhưng tôi biết đã không thuyết phục được hắn. Chính hắn đã xác nhận với tôi khi chúng tôi gặp lại nhau vài tháng sau tại Hamburg. Neuhauser qua đời vài năm sau đó vì nguyên nhân tự nhiên, nhưng vẫn trong tâm trạng tả khuynh không sao cứu vãn được. Suốt vài chục năm sau, thỉnh thoảng tôi cảm thấy một nỗi buồn đau đớn là mặc dù đã chứng kiến hàng loạt người vô tội bị thảm sát trên con lộ đến Huế, vậy mà điều này vẫn không lay chuyển nổi tâm trí của một gã mà đáng lẽ ra là một con người dễ mến. Những ngày bên cạnh hắn đã dạy tôi một trong những bài học đáng sợ trong sự kiện Tết Mậu Thân là: chẳng có gì, ngay cả những bằng chứng không thể chối cãi nhất, có thể mong làm thay đổi tốt được những ý tưởng cố chấp về ý thức hệ. Phú Bài và Huế chỉ cách nhau khoảng 10 dặm nhưng chúng tôi mất gần một ngày trời để vào đến khu trại MACV gần bờ Đông Nam của dòng sông Hương có lẽ đã được đặt sai tên. Các cuộc đụng độ lẻ tẻ thiếu không trợ vì thời tiết không lưu xấu và nhu cầu phải dọn dẹp các xác chết trên đường đã khiến chúng tôi bị chậm trễ. Doanh trại nằm trong khu vực mới của thành phố, xây dựng theo lối Âu châu với những đại lộ rộng rãi và những căn biệt thự kiểu Pháp đầy tiện nghi, một cơ sở Cercle Sportif, tức Câu Lạc Bộ Thể Thao xinh xắn và một cư xá đại học với những tòa nhà chung cư theo phong cách thập niên 1950 cho nhân viên giảng huấn được xây dựng theo kiểu mẫu xấu xí đặc thù trong thời kỳ đó của các dự án và cư rẻ tiền đầy rẫy ở vùng ngoại ô phía bắc Paris. Vào thời điểm chúng tôi đến, quân đội Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa đã tạm ổn định phần nào khu vực này của thành phố, ít nhất là vào ban ngày. Trong khi đó thì Cổ Thành với vòng thành nội vi hoàng gia, còn gọi là "Purple City" bắt chước theo kiểu mẫu Tử Cấm Thành Bắc Kinh vẫn còn nằm chặt trong tay cộng quân. Doanh trại MACV gồm một khách sạn khi xưa với khu vực ăn uống ở tầng trệt, phòng ngủ của sĩ quan ở hai tầng trên và một ngôi nhà phụ với 20 căn phòng. Bên cạnh tòa nhà phụ là những cái gọi là "hootches" tức những căn lều tạm bợ, khu vực mở rộng cho lính tráng. Khu vực này chật cứng với tạp nham đủ loại người khác nhau: Quân nhân, ký giả, tình báo viên, nhân viên cứu trợ, nhân viên Việt Nam làm việc cho Mỹ và các viên chức chính quyền cùng gia đình tìm nơi trú ẩn tránh vùng giao tranh và tránh những toán ám sát của Cộng sản vẫn còn đang lùng sục để giết tại chỗ những người mà họ quy là phản động trong thành phố. "Xin lỗi quý vị, chúng tôi hết giường tạm rồi, không còn chăn nệm nữa. Quý vị phải tự tìm lấy chỗ nằm thoải mái trên nền xi măng này vậy," viên trung sĩ quân nhu đón tiếp chúng tôi tại khu vực trước kia là nhà ăn nói. "Có khẩu phần C ở góc đằng kia và rất nhiều túi giấy đựng xác để quý vị giữ ấm. Lấy bao nhiêu cũng được. Tối nay sẽ lạnh lắm đấy." Khu trại đóng cửa ban đêm. Nội bất xuất ngoại bất nhập. Chúng tôi nghe tiếng giao tranh mãnh liệt phía bắc dòng sông nhưng thỉnh thoảng cũng có tiếng súng đụng độ ngay bên ngoài chu vi doanh trại. Tôi thu người vào khoảng trống chật hẹp giữa mấy gia đình người Việt, trải ba cái túi đựng xác xuống đất dùng thay nệm, phủ lên mình ba cái túi đựng xác khác đúng ra dùng để chuyển những binh sĩ tử trận, có những lỗ đánh dấu phía nào là đầu phía nào là chân. Tôi gối đầu lên cái ba lô. Những người bên cạnh tôi nói được tiếng Pháp. Họ thì thầm với tôi là trong ngày trước Tết các toán sát thủ cộng sản đã đến từng căn nhà với danh sách những người sẽ bị tội trước cái gọi là tòa án nhân dân và sau đó thì hạ sát họ tại chỗ, không cần xét xử. "Anh có nghĩ là những ông giáo sư người Đức có tên trong các danh sách đó không?" Tôi hỏi người đàn ông bên phải tôi.


"Chắc chắn là có, giống như các linh mục người Pháp và những người ngoại quốc khác. Họ đều bị dẫn đi," anh ấy trả lời tôi. Giữa đêm, hàng loạt tiếng súng liên thanh ngày trong khu vực gần chúng tôi nhất nổi lên tạch tạch tạch, tạch tạch tạch, ... (5 lần). "Xử tử," người đàn ông Việt Nam bên tay phải tôi nói. "Súng AK-47 Kalashnikov." "Sao anh biết?" Tôi hỏi. "Bây giờ nghe tiếng súng này quen quá rồi. Vừa rồi không phải là đánh nhau. Đó là năm loạt súng từ một khẩu liên thanh có chủ đích rõ ràng." "Có gần đây không?" Tôi hỏi tiếp. "Không xa hơn 100 thước đâu." 40 năm sau, tôi kết bạn với anh Tôn Thất Di tại miền Nam California, anh có họ hàng xa với hoàng tộc. Chúng tôi thảo luận về biến cố Tết Mậu Thân 1968 tại Huế và khám phá ra là cha anh, hai người chú và hai người anh em họ khác có thể là nạn nhân của vụ thảm sát đêm hôm đó. Cha của anh Di tên là Tôn Thất Nguyên đã từng là thị trưởng thành phố Đà Lạt và sau đó làm công chức Bộ Xã hội tại Sài Gòn mà trụ sở tôi rất quen thuộc vì nằm sát cạnh tiệm cà phê La Pagode trên đường Tự Do. Tháng Giêng 1968, Tôn Thất Nguyên bay đến Huế để ăn tết với các anh em và các cháu tại biệt thự của họ. Di và tôi đã nghiên cứu tấm bản đồ Huế. "Đây là vị trí căn nhà họ," anh nói, chỉ vào một điểm cách khu nhà ăn của trại MACV không xa hơn 100 thước. "Chúng tôi chỉ tìm thấy lại xác của một ông chú. Do đó chúng tôi không thể làm đám tang cho ông cụ được." Tôi không bao giờ biết được rằng tôi thực sự là nhân chứng nói lên cái chết của họ hay đó là một vụ thảm sát khác, tuy nhiên khoảnh khắc đó nằm mãi trong trí nhớ của tôi, chủ yếu bởi vì nó được tiếp nối bằng một kinh nghiệm siêu thực khác đã từng xảy ra quá nhiều với tôi tại Việt Nam: một con gì đó thật to, nóng ấm, kêu quàng quạc chui vào dưới ba chiếc túi đựng xác của tôi. Hóa ra đó là một con ngỗng trắng với cái mỏ màu vàng và lông xám hai bên cánh. Tôi lúc nào cũng thích ngỗng nhất là khi chúng được quay và dọn với bắp cải đỏ vào dịp Giáng Sinh. Nhưng tôi chưa hề có được một con ngỗng nào chui rúc vào mình như vậy cả, mà con này có vẻ hoảng hốt cùng cực. Cùng với hàng đoàn người tị nạn Việt Nam con chim khiếp sợ này đã trốn vào khu trại Mỹ từ lúc đầu cuộc Tổng công kích Tết và chạy lạch bạch chung quanh khu đất từ đó, thỉnh thoảng kiểm tra những chỗ ngủ. Lính Mỹ đặt tên cho nó là Garfield. Như một con ngỗng canh gác, Garfield hằng đêm ra một điểm quan sát luôn luôn tại một chỗ cố định để dòm chừng ra ngoài đường. Nhưng khi nó nghe thấy tiếng súng nổ ngay ngoài cổng, nó đã hoảng hốt tìm chỗ rúc ngay bên cạnh tôi. Tôi đuổi nó ra khỏi khu vực ngủ, cho nó về chỗ canh gác lại. Lúc bình minh, nhóm phóng viên chúng tôi được phép rời khỏi doanh trại với điều kiện phải mang theo súng M.16 để tự vệ. Peter Neuhauser, Hilmar Pabel và tôi nhận mỗi người một khẩu, nhưng theo đề nghị của tôi, chúng tôi đã cãi lệnh và giao lại súng cho lính canh ngoài cổng. Trên đường đến khu chung cư của các giáo sư người Đức đã bị bắt cóc, tôi lý luận: thử hỏi nếu chúng ta chạm trán với một toán tuần tiễu Việt Cộng thì sao? Chúng ta sẽ bị chết ngay. Nếu không mang súng, ít nhất chúng ta còn vin cớ không phải là chiến binh, mặc dù chẳng biết có nghĩa lý gì với họ hay không. Vừa run rẩy trong cơn mưa phùn lạnh lẽo, chúng tôi vừa đi bộ về hướng Tây đường Lê Lợi. Cái đại lộ từng là một con đường lịch sự bây giờ vắng ngắt và trong hết sức tiều tụy. Những căn biệt thự lỗ chỗ vết đạn, cây cối đổ nát hay bị gãy cành hết sống nổi. Khi chúng tôi đến gần Câu Lạc Bộ Thể Thao, nơi mà thỉnh thoảng tôi vẫn ăn tối với các giáo sư Đức và cũng là nơi mà bà Elisabeth Krainick thường đến bơi, tôi mơ màng hy vọng là một người hầu bàn trung thành sẽ có mặt để pha cà phê cho chúng tôi, nhưng đó chỉ là một ý tưởng điên rồ. Không còn một ai nữa, không có ai ngoài trừ lính Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ vượt qua mặt chúng tôi trên xe jeep và thiết vận xa. Trong một lúc, bầu trời mây che phủ sáng ra và chúng tôi nhìn qua phía bên kia sông Hương. Chúng tôi thấy lá cờ Việt Cộng màu đỏ xanh với một ngôi sao vàng ở giữa đang bay trên pháo đài và nghe cả tiếng giao tranh ác liệt nữa. Khu chung cư gia đình Krainick đang ở nhìn qua kinh Phú Cam. Một chiếc xe tăng Mỹ cũng đậu ở mạng Bắc của khu vực này. Đùng! Chiếc xe tăng nã một phát đạn đại bác qua bên kia con kinh. Đùng đoàng! Cả căn chung cư rung chuyển khi chúng tôi đang leo lên chỗ ở của gia đình Krainick trên lầu bốn. Có cả một trung đội Thủy Quân Lục Chiến đang đóng tại chỗ đó và căn phòng trông


hoang tàn khủng khiếp. Quần áo, sách vở, tài liệu khoa học và giấy tờ riêng tư bị ném bừa bãi khắp nơi. Tôi hết sức bực mình khi thấy Peter Neuhauser lục lọi đống giấy tờ và lén bỏ vào túi một số hình ảnh của gia đình Krainick. "Mày không mắc cỡ hả?" tôi hỏi anh ta. "Phải làm vậy thôi nếu anh làm việc cho một tạp chí hình ảnh," hắn lạnh lùng trả lời tôi và bỏ đi. Tay trung đội trưởng là một thiếu úy 23 tuổi dáng dấp chắc nịch quê tại New Mexico. Nhìn thoáng qua, tôi biết ngay hắn là một kẻ ngốc và ăn nói cũng đúng như vậy. Anh ta dương oai diệu võ trong một chiếc áo thun trắng, Chẳng chịu mặc áo giáp hay đội nón sắt gì cả. Đùng! Chiếc xe tăng bắn thêm một phát nữa. "Xe tăng bắn vào cái gì vậy?" Tôi hỏi anh ta. Viên thiếu úy dắt tôi đến một cánh cửa kính mở trông ra ban công và chỉ vào một căn biệt thự xây theo lối Tây bên kia con kinh: "Bọn Việt cộng bắn tỉa," anh ta nói. "Tụi nó đang bắn về phía chúng ta." "Thế tại sao anh lại đứng đây với cái áo thun trắng, để làm mục tiêu tuyệt vời cho tụi nó sao?" "Thưa ông, tôi là Thủy Quân Lục Chiến, được huấn luyện để chiến đấu và để chết." "Có phải là dân đóng thuế bên Mỹ tốn cả nửa triệu bạc để đào tạo một sỹ quan chuyên nghiệp không?" Tôi thách thức anh ta. "Mặc dù anh không thiết mạng sống của anh, bộ anh thật sự nghĩ là anh có quyền đặt cái vốn đầu tư đó một cách cẩu thả như vậy hay sao? Và rồi tạo cơ hội để lính tráng mất người chỉ huy?" Anh ta nhìn tôi chẳng hiểu gì cả. Khi tôi bước ra khỏi cửa chính đi xuống cầu thang thì tôi nghe thấy một tiếng thét hãi hùng như chưa từng nghe thấy bao giờ. Tiếng hét không mang giọng người. Tôi quay lại. Viên thiếu úy loạng choạng tiến về phía tôi tay ôm ngực bên trái máu phun ra có vòi. Anh lảo đảo ngã xuống, lăn nhào xuống cầu thang và chết tức tưởi. Bọn bắn tỉa đã lấy mạng sống của anh. Tôi đi ngang qua bệnh viện trường đại học mà giáo sư Horst Günter Krainick, bác sĩ Raimund Discher và bác sĩ Alois Alteköster từng làm việc. 75 % cơ sở đã bị phá hủy trong cuộc xung đột. Nhìn thấy quân phục tôi, hầu hết những thường dân Việt Nam tránh ánh mắt tôi. Họ quá sợ bị trông thấy đang kết thân với một "người Mỹ", mặc dù bản tên trên nón sắt của tôi xác định tôi là một phóng viên người Đức, Tây Đức giống như các bác sĩ đã lập nên trường Đại học Y khoa. Rõ ràng là họ ngại rằng bọn cộng sản có thể trở lại và trả thù những người mà họ thấy đã hợp tác với kẻ thù - những người như tôi. Một người đàn ông lớn tuổi lặng lẽ kéo tôi sang một bên để kể lại những câu chuyện kinh hoàng của những phiên tòa khôi hài được gọi là tòa án nhân dân. Nó được bọn Bắc Việt dựng lên để xét xử các cư dân thuộc tầng lớp quý tộc cũ, thành phần tư sản, các công chức Việt Nam Cộng Hòa, những người ngoại quốc, người công giáo Tòa Thánh La Mã, các linh mục, nói chung tất cả những ai bị nghi ngờ không đồng lòng với cách mạng. "Họ không bị bắt một cách tình cờ đâu, thưa ông," ông ta nhấn mạnh, "tên tuổi của những người đó nằm trong danh sách mà bọn cán bộ Cộng sản mang theo. Tại những phiên tòa như vậy, họ không có cơ hội để bào chữa. Họ bị tuyên án, mang đi và bị bắn bỏ." "Có bao nhiêu người?" "Làm sao biết được? Hàng trăm, hàng ngàn?" Cho đến ngày hôm nay vẫn không có con số chính xác bao nhiêu nạn nhân. Những con số ước đoán vào khoảng từ 2500 đến 6000 người. Phần tệ hại nhất của cuộc tấn công này là khi giao tranh lan đến khu điều trị tâm thần, ông già tiếp tục câu chuyện. Ông không cho tôi biết tên tuổi hay chức nghiệp nhưng trông ông có vẻ là một người có học qua trường Tây. Các bệnh nhân trở nên điên cuồng, họ chạy khắp nơi, đánh lẫn nhau trong cơn hoảng loạn. Ông không thể nào tưởng tượng được nó ra sao. Nhiều người bị mất mạng vì họ không thể chạy khỏi lằn đạn hai bên bắn nhau. Thật giống như một cảnh tượng trong vở kịch Hỏa Ngục của Dante." "Lúc đó ông đang ở đâu?" "Tôi trốn trong đám bệnh nhân, thưa ông, và làm bộ cũng là bệnh nhân vậy tuy thật sự không phải, và điều này đã cứu sống tôi."


Ông khuyên tôi nên đi qua thính đường chính của trường đại học lúc đó đang chật cứng hàng trăm người vô gia cư, tất cả vẫn ăn mặc chỉnh tề, còn đang ở trong các trạng thái bàng hoàng với những nét mặt không còn cảm xúc gì nữa. Nhiều người bị thương và có rất ít, nếu có, các y tá và bác sĩ để chăm sóc họ. Không có nước máy, không có điện và không có cả phương tiện vệ sinh. "Hãy qua bên kia trường Quốc Học nữa," ông già nói với tôi và đây là một lời khuyên đúng. Ngôi trường trung học tuyệt đẹp nằm trên mạng nam của dòng sông Hương này là một trong những cơ sở tráng lệ nhất trong cả nước. Được thành lập bởi Ngô Đình Khả, phụ thân của tổng thống Ngô Đình Diệm vào năm 1896 như là một viện giáo dục quốc gia ưu tú để dạy dỗ cho các hoàng tử và con cái các đại thần có được một nền giáo dục tổng hợp Pháp và Viễn Đông. Danh sách học sinh giống như danh sách "Who's Who" (danh nhân) của nền chính trị Việt Nam, miền Bắc cũng như miền Nam. Ngô Đình Diệm đã từng học tại đó, Hồ Chí Minh cũng vậy dưới cái tên cúng cơm Nguyễn Sinh Cung, đồng thời có cả tướng Võ Nguyên Giáp cũng như Phạm Văn Đồng, con của một vị quan nhất phẩm triều đình. Khi tôi đến khuôn viên trường, nó lại giống như một khu trại tị nạn nữa. Có ai đó nói với tôi là có khoảng 8000 người tạm trú trong cái cơ sở đẹp đẽ đó, nhiều người run rẩy trong cơn gió lạnh chờ được phát thức ăn và nước uống. Mặc dù tôi không thể kiểm tra được con số đó nhưng thực tế rất là nhiều. Trên đường quay về khu trại MACV tôi phát hiện ra hàng chữ vẽ nguệch ngoạc trên tường của một căn biệt thự lớn. Hàng chữ viết "Cắt đầu Mỹ". Khi tôi nhìn kỹ hơn thì thấy chữ Mỹ chỉ mới thay chữ Pháp không lâu. Có lẽ tôi hơi nóng vội tiết lộ trước chương sau nhưng thông tin này phù hợp với chuyện vài tuần lễ sau, khi tôi đi thăm trở lại Huế thì khẩu hiệu này được đổi thành "Cắt đầu Cộng Sản"! Điều này cho tôi biết là sự ghê tởm đối với hành vi của Việt Cộng đã làm thay đổi niềm ghét bỏ người ngoại quốc của dân Huế nếu có, cũng như đã thay đổi tư tưởng bài ngoại khá mạnh mẽ tại đây. Tư tưởng bài ngoại khiến người Mỹ cho đến Tết 1968 đã phải giữ một thái độ thật âm thầm trong thành phố này. Hai mươi lăm ngày đêm chiến sự tại Huế, bắn giết, đập đầu đến chết và chôn sống hàng ngàn người dân, đưa đến 116.000 người mất nhà cửa trong một dân số vỏn vẹn 140.000 đã mang lại kết quả thất bại nặng nề nhất đối với cộng sản: nếu có lúc nào Cộng sản được lòng dân chúng Huế thì nay chúng đã mất hết rồi. Tôi đi nhanh về trại MACV để điện thoại tường thuật câu chuyện cho bạn đồng sự với tôi là Friedhelm Kemna ở Sài Gòn, cũng như để báo tin cho nam tước von Collenberg tại tòa đại sứ tin tức cập nhật về các vị bác sĩ Đức. Chỉ có một đường dây điện thoại ra ngoài mà có cả một hàng dài người đang chờ đợi để gọi đi. Hai tiếng đồng hồ sau mới tới phiên tôi. Lúc đó tôi phải làm việc thông qua một loạt các cuộc trao đổi quân sự với hy vọng là các điện thoại viên đều thông thạo công việc. Thực tế không phải như vậy. Tôi lớn tiếng hét lên trong điện thoại dã chiến: Huế đây, làm ơn cho tôi Phú Bài! Phú bài, cho tôi Đà Nẵng! Đà Nẵng, cho tôi Nha Trang! Nha Trang, cho tôi Quy Nhơn! Quy Nhơn, cho tôi Tân Sơn Nhứt! Tân Sơn Nhứt, cho tôi Mãnh Hổ (trung tâm điện thoại quân sự Sài Gòn)! Mãnh Hổ, cho tôi PPT - PPT, làm ơn cho tôi khách sạn Continental." Sau hai lần thất bại, sau cùng tôi gọi được khách sạn, trong lòng cầu nguyện là "kẻ thù" của tôi, gã Ấn Độ từ Madras lúc nào cũng say mùi thuốc phiện không trực điện thoại chiều hôm đó. Nhưng hắn đã có mặt! "Siemon-Netto đây, làm ơn cho tôi nói chuyện với Kemna," tôi nói bằng tiếng Pháp. "Ông Siemon-Netto không có ở đây," gã nghiện thuốc phiện nói và cúp điện thoại cái rụp! Cảm ơn Chúa, người đồng nghiệp Mỹ đằng sau đuôi tôi cũng ở khách sạn Continental và có một người nhận tin đang chờ sẵn tại đó. Anh ta đọc xong bản báo cáo và nói phía bên kia giữ đường dây để chạy qua gọi Freddy cũng ở cùng tầng lầu với nhau. Do đó, sau cùng tôi cũng xoay sở gửi bài tường thuật cho Freddy xong và yêu cầu anh chuyển lời nhắn qua cho nam tước Collenberg. Sau đó thì tôi cảm thấy thèm rượu. Cảm ơn Chúa, tôi có mang theo một bình Whisky mỏng trong ba lô. Sau những kinh nghiệm rùn rợn của ngày hôm đó, một vài ngụm từ cái bình đó cộng thêm vài lát bánh mì pumpernickel thật là một niềm hạnh phúc hoàn hảo. Bây giờ tôi phải chờ quân đội Mỹ di hành.


Cổ Thành Huế và pháo đài vẫn còn nằm trong tay của khoảng 10.000 quân Bắc Việt. Chúng tôi được nghe là Sư đoàn 1 Bộ binh Việt Nam Cộng Hòa mặc dù chiến đấu dũng mãnh vẫn chưa vào được mạn Tây Bắc sau khi cố gắng tái chiếm pháo đài và đang chờ các đơn vị của Sư đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ tấn công từ mạn Đông Nam. Nếu chuyện này xảy ra, tôi dự định sẽ bám theo một trong những trung đội đó. Những gì xảy ra tiếp theo sau đó quá kinh hoàng khiến tôi chỉ còn nhớ lại trong đầu những mảng rời rạc của cái ngày mà tôi tháp tùng một trung đội Thủy Quân Lục Chiến vượt qua sông Hương vào lúc 3 giờ sáng. Tôi còn nhớ là trung đội đó đông hơn bình thường, quân số khoảng năm mươi ba người. Tôi cũng nhớ là các cấp chỉ huy có bản lĩnh hơn nhiều đám chỉ huy trung đội tôi đã gặp trong căn chung cư của Krainick. Đau buồn thay, tôi chứng kiến hầu hết trong số họ bị thương hay bị thiệt mạng trước khi ngày hôm đó chấm dứt. Tôi nhớ chúng tôi đã giao tranh trong từng căn nhà gần như bắt đầu từ thời điểm đặt chân lên mạn nam bờ sông. Bọn Bắc Việt cố thủ hết sức chặt chẽ bắn về phía chúng tôi từ khắp các cánh cửa sổ. Tôi tìm lại được câu chuyện tôi viết về trận chiến này trong tờ nhật báo Amsterdam De Telegraaf, một chi nhánh của Springer Foreign News Service. Bài báo tập trung vào kinh nghiệm đau đớn nhất của tôi trong ngày hôm đó, một trong nhiều chuyện mà tôi chỉ còn nhớ một cách mơ hồ. Tôi chạy bên cạnh một tay hạ sĩ da đen. Chúng tôi bị ghìm chặt bởi lằn đạn bắn tỉa từ một cửa sổ phía trên một căn lầu nên vội vàng nhào xuống đất. Viên hạ sĩ bắn từng loạt M.16 tưới lên cửa sổ để áp đảo kẻ địch. Nhưng rồi khẩu súng anh bị kẹt đạn, Dường như tất cả loại súng đó thường hay bị kẹt hoài như vậy tại Việt Nam. Tay súng bắn tỉa lập tức nã đạn vào chúng tôi. Tay hạ sĩ ném một quả lựu đạn vào trong cửa sổ. Ngay lập tức tiếng súng ngừng lại và anh hạ sĩ reo hò lên. Tiếp theo đó một người phụ nữ bước ra khỏi nhà bồng xác một đứa trẻ đẫm máu đi về hướng anh hạ sĩ. Anh ta phát hoảng. “Ôi trời đất ơi! Ôi trời đất ơi, tôi đã làm gì vậy? Tôi đã giết một đứa bé!Cứu con với chú ơi! Trời ơi, trời ơi!!!” Anh hét lên quay cuồng như mắc cơn động kinh trong khi đó thì Việt Cộng tiếp tục bắn tỉa về phía chúng tôi từ các cánh cửa sổ khác. Tay trung sĩ trung đội phải dùng sức kềm chặt anh ta lại và sau đó dẫn anh ra khỏi vùng chiến đấu. Mãi đến 3 giờ chiều tôi mới có dịp coi giờ trên cái đồng hồ của tôi trong một lúc tạm lắng giao tranh. Tôi nhìn chung quanh. Những người lính cùng chung lưng với tôi 12 tiếng đồng hồ trước đi đâu cả rồi? Tôi đếm được 10, có thể là 15. Những người khác hoặc đã bị thiệt mạng hoặc bị thương. Một trung đội khác đến thay chúng tôi. Đã đến lúc tôi phải ra khỏi nơi này thôi. Tôi xoay sở về lại được sông Hương. Kỳ lạ thay là bọn cộng sản đã để lại cây cầu chính còn nguyên. Tôi đi bộ qua đó và đến một khu vực bãi đáp trực thăng đầy những người bị thương nặng, có đến hàng trăm người, nhiều người đang rên rĩ vì đau đớn. “Thưa thiếu tá,” tôi hỏi viên sĩ quan phụ trách bãi đáp, “chuyện gì xảy ra ở đây vậy? Tại sao những người bị thương này chưa được tản thương đi?” Hắn chỉ tay lên trời: "Điều kiện bay xấu!" "Nhưng thưa thiếu tá, tôi đã từng thấy thời tiết tồi tệ hơn nhiều. Trần mây còn đủ cao mà," tôi phản đối. "Đúng vậy nhưng anh thấy đó Thủy Quân Lục Chiến chúng tôi không có đủ trực thăng." "Lục Quân thì sao? Tôi biết là cách đây 10 dặm ở Phú Bài có hai phi đoàn trực thăng của Lục Quân đang sẵn sàng tác chiến." "Thưa ông, Thủy Quân Lục Chiến chúng tôi không gọi nhờ Lục Quân bao giờ." Tôi nhớ đã tự nhủ trong lòng: một cái lá phong trên ve áo bộ quân phục thiếu tá rõ ràng không phải là giấy chứng nhận cho một chỉ số thông minh cao. Đã đến lúc phải rời nơi đây thôi. Hí trường của sự phi lý đang biểu hiện dấu hiệu của sự điên rồ. Tôi đã thấy những mặt đẹp đẽ nhất cũng như những điều xấu xa nhất của nhân loại trong vài ngày vừa qua: sự hy sinh đầy thương tâm và lòng dũng cảm tương phản với sự ác độc không thể tưởng tượng nổi của cộng sản và sự xuẩn ngốc của một thiểu số khờ khạo chứng nhận được mặc quân phục. Tôi nhớ là nước mắt tôi đã giàn giụa khi nghĩ đến những người tôi thấy đã ngã xuống tại Huế, hầu hết là phụ nữ và trẻ em, và những thương binh Mỹ trẻ nằm rên rĩ trong đau đớn cùng cực mà không có ai để báo cho họ biết nguồn tin an ủi là họ đã đánh bại quân thù. Hơn một nửa trong số 80.000 cộng quân tham gia vào cuộc Tổng Công Kích Tết Mậu Thân đã bị thiệt mạng, cơ sở hạ tầng Việt


Cộng hoàn toàn bị phá vỡ. Đây là một chiến thắng quân sự lớn. Một chiến thắng cam go cho phe Đồng Minh, nhưng là chiến thắng hiển nhiên. "Ich habe genug vom Tod", tờ báo chủ nhật toàn nước Đức Bild am Sonntag đã lên tựa cho bài tường thuật của tôi từ Huế như vậy, có nghĩa là "Tôi đã chán cảnh chết chóc đó lắm rồi". Tôi rất nôn nóng thoát ra khỏi Huế. Nhìn thoáng qua bãi đáp trực thăng tôi đoán là tôi không có hy vọng gì mau mắn đáp được một chuyến trực thăng. Tuy nhiên tôi trông thấy một chiếc tàu đổ bộ LCU của Hải Quân Việt Nam gần đó. Tôi chạy đến chiếc tàu và gặp người chỉ huy là một trung uý với làn da sậm giống như một thủ lĩnh da đỏ Comache. "Chúng tôi sắp ra khơi đây," anh ta nói, "mình nên chào mừng cho sự tiến bộ: đây là lần đầu tiên kể từ khi bắt đầu tổng công kích Tết có một chiếc LCU vận hành đến khúc sông này. Sẽ có rắc rối đấy!" Chúng tôi hướng về phía Đông và lập tức bị hỏa lực súng nhỏ bắn tới từ hướng bắc với loạt đạn đụng vỏ tàu dội ngược ra. Nhưng chiếc tàu vẫn tiếp tục đi về phía đầm phá Tam Giang, mặc dù tôi không ở trên tàu lâu lắm. Tiếng súng lắng dần khi chiếc tàu tăng khoảng cách với Huế. Tôi ngủ thiếp đi. Khoảng nửa đêm, viên trung uý lay tôi dậy nói, "anh lên xuống chỗ này đây.” Anh ấy đã đậu tàu lại tại bãi cảng của một căn cứ MACV nhỏ ở mạng Nam dòng sông. Tôi không còn nhớ bằng cách nào từ đó tôi về lại Đà Nẵng, có lẽ bằng trực thăng. Tôi chỉ biết là tôi đến doanh trại báo chí hoàn toàn như một cái giẻ rách. Tôi không cạo râu trong tám ngày trời. Hai bàn tay bẩn thỉu, những ngón tay vàng khè vì khói thuốc và mình mẩy hôi rình. Tôi không còn nhớ tôi có đói hay không nữa, bộ phận tiêu hóa của tôi đã hoàn toàn khéc lại từ khi tôi rời khỏi trung tâm báo chí này hơn một tuần lễ trước đó. Tôi mượn đồ lót và một bộ quần áo trận mới từ một sĩ quan Mỹ và xin một người phụ nữ làm việc quét dọn trong khu trại giặt quần áo cho tôi càng nhanh càng tốt. Lúc đi tắm, một làn nước màu đen xám chảy từ mái tóc và thân thể tôi xuống. Cạo sạch bộ râu lởm chởm là việc làm chính trong ngày. Sau đó tôi xuống hội quán uống hai ly Dry Martini nhưng không thể ăn được bất cứ thứ gì. Do đó tôi nằm thẳng cẳng trên giường và ngủ một mạch bốn tiếng đồng hồ rồi dậy viết bài tường thuật và gọi điện thoại báo cáo cho Freddy ở Sài Gòn. Cuối ngày hôm đó tôi ghé thăm chiếc Helgoland, cảm ơn thay, nó đã quay về bến. Tuy nhiên trên boong lại thông báo là chiếc tàu sắp rời cầu tàu và yêu cầu tất cả khách đến thăm hãy trở về. Ở lại với chúng tôi đi, các y tá và bác sĩ khẩn khoản, trong anh tiều tụy quá. Hãy ăn một bữa cho ngon, uống vài ly rượu, quên chiến trận trong một đêm và nghỉ ngơi đi. Còi tàu hụ lên. Tôi không thể nào nhấc mình nổi cho dù tôi có muốn đi chăng nữa. Những người bạn Đức đã cho tôi một khoảng thời gian rất yên trên hải phận quốc tế. Những giây phút hạnh phúc đó không kéo dài lâu. Buổi sáng hôm sau tôi quay về trung tâm báo chí. Quần áo tôi đã có lại và tôi may mắn đón được một chiếc trực thăng bay trở lại Huế. Trong doanh trại MACV tôi chạm trán với Peter Breastrup, trưởng phòng Washington Post tại Sài Gòn. "Họ đã tìm thấy một mồ chôn tập thể," anh nói, "chúng tôi đang định đi tới đó, vậy sao anh lại không muốn đi theo hả?" Một chiếc xe vận tải quân sự chở chúng tôi và các phóng viên khác đến một chỗ thuộc ngoại vi phía tây bắc của Huế mới giành khỏi sự kiểm soát của cộng sản không lâu. Có hàng trăm phụ nữ, đàn ông và trẻ em trong nấm mồ đó, nhiều người rõ ràng bị chết cháy, nhiều người bị nện cho tới chết và nhiều người khác bị chôn sống, theo lời của một sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa. “Làm sao biết là họ bị chôn sống?” Tôi hỏi anh ta. “Chúng tôi tìm thấy địa điểm này khi phát giác có những bàn tay mới làm móng chỉa ra khỏi mặt đất,” anh trả lời, “những phụ nữ này đã cố bò ra khỏi mồ chôn họ.” Peter Breastrup thúc cùi trỏ trái vào tôi và chỉ tay đến một toán truyền hình Mỹ gồm một phóng viên, một tay quay phim và một nhân viên âm thanh đang đứng trước khu mộ chôn một cách ung dung không có hành động gì cả. “Tại sao các anh không quay cảnh này?” Peter hỏi họ. “Chúng tôi đến đây không phải để quay phim tuyên truyền chống cộng,” gã quay phim đáp. “Thật là điên khùng, Peter,” tôi nói, “tôi đã chán ngấy cái thứ này lâu rồi.” “Tôi không trách anh đâu. Chúng ta đang thua trận chiến này sau khi đã thắng về mặt quân sự. Tất cả ở trong cái đầu mà thôi.”


Ngày hôm đó là một ngày hên của tôi tại Huế. Tôi tìm được một chuyến bay ở phi trường. Có một chuyến Air Vietnam DC-6 sắp cất cánh đi Sài Gòn và tôi có được một chỗ ngồi trên đó. Freddy Kemna nóng ruột chờ tôi tại Continental. Anh đã tỏ ra sốt sắng giữ chỗ và làm người nhận báo cáo cho tôi nhưng bây giờ anh cũng muốn đi ra ngoài chiến trường, tức khu châu thổ sông Cửu Long với một phóng viên nước khác. “Tôi thích đồng bằng vào khoảng thời gian này trong năm. Ấm áp hơn,” anh nói đùa. Đó là một ngày thứ năm và tôi không mong gì hơn là được đi dự buổi Stammtisch của Donald Wise tức bữa ăn tối thường xuyên của các phóng viên Âu châu tại quán Aterbéa nơi không một ai được phép nói về chiến tranh, về Việt Nam, về chính trị của Hoa Kỳ hay tất cả những vấn đề gì có liên quan dù mơ hồ nhất với toàn bộ sự việc. Sao bữa ăn, Donald nói, “bây giờ đã xong rồi và chúng ta được phép nói về chiến tranh trở lại, cho tôi đề nghị thế này: hay là anh và tôi chia nhau một chiếc taxi để đưa chúng ta đến những mặt trận khác nhau ngay tại Sài Gòn vào buổi sáng? Cái này rất tốn kém vì tài xế taxi có thể gặp rủi ro là sẽ bị nổ tung. Tôi nghĩ cũng đáng làm lắm. Người Mỹ không quan tâm nhiều đến những trận chiến lẻ tẻ này vì chủ yếu thuộc hoạt động của quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Tuy nhiên điều này dù sao cũng rất quan trọng.” Vì vậy chúng tôi kiếm được một bác tài có kinh nghiệm chiến trận và một chiếc Buick có máy điều hòa không khí. Ông đến Continental mỗi sáng để đón chúng tôi đi từ một vùng giao tranh trong thành phố này đến một vùng khác. Một buổi sáng nọ, chúng tôi rơi vào một khu giao tranh cận chiến vùng Đông Nam ngoại ô Sài Gòn. Quân lực Việt Nam Cộng Hòa kiểm soát một bên đường và bên kia là Việt Cộng hay quân Bắc Việt. Có một căn nhà đang bị cháy phía tay trái chúng tôi. Chúng tôi nghe tiếng một phụ nữ thét lên, “Có một con nhỏ trong nhà! Cứu tôi với!” Chúng tôi đang nằm dài trên mặt đất. Donald đứng dậy, lênh khênh với chiều cao một mét chín. Vừa sửa cái nón sắt và tay phải lủng lẳng cái dù che mưa, anh ta thận trọng đi từng bước dọc theo con đường còn đang đánh nhau tới căn nhà đang cháy. Cả hai bên ngừng tiếng súng. Donald bước vào trong và trở ra với một bé gái trên tay, cái dù che mưa vẫn còn treo lủng lẳng. Anh mang cô bé đến một chiếc xe tải thương phía Việt Nam Cộng Hòa, trao nó cho anh tài xế và nói “Đưa nó đến bệnh viện, anh bạn à, đưa nó đi ngay bây giờ.” Sau đó Donald lại phóng mình xuống núp dưới đất và tiếng súng lại nổi lên. Chúng tôi quay về trung tâm thành phố ăn trưa tại Royal và lái đến vùng tây nam Sài Gòn mà theo như bác tài nói đang có cuộc giao tranh khốc liệt trong từng căn nhà giữa Việt Cộng và Biệt Động Quân Việt Nam Cộng Hòa. Khi lái đến gần, chúng tôi thấy nhóm Biệt Động Quân đang lúng túng, sau này mới biết vì các sĩ quan và hạ sĩ quan đã tử trận rồi. Giữa cơn hỗn loạn đó thì anh bạn đồng nghiệp Hans von Stockhausen của chúng tôi, một phóng viên truyền hình Đức lại đứng thẳng người không bối rối, đầu thì ngoẹo về một phía. Câu chuyện cái đầu bị nghiêng của anh chàng bắt nguồn từ Thế Chiến Thứ Hai khi von Stockhausen là một thiếu tá trẻ tuổi đang ở trong lò luyện Stalingrad mà anh bị bắn bể một nửa cái sọ ở đó. Anh là người thương binh cuối cùng được tản thương ra khỏi Stalingrad trên một chiếc máy bay của không lực Đức Luftwaffe trước khi thành phố này rơi vào tay Hồng quân. Bác sĩ giải phẫu quân đội đã thay thế miếng xương sọ bị mất bằng một tấm kim loại bạc khiến cho đầu anh bị nặng cứ nghiêng về một bên. Điều này vẫn không ngăn cản anh chàng vui tính xuất thân từ một gia đình quân nhân lâu đời đi làm phóng sự tất cả mọi cuộc chiến tranh mà anh ta mò ra được với tư cách một phóng viên. Vì vậy Donald Wise đặt biệt hiệu cho anh là viên “thiếu tá phi nước đại”. "Ah, Herr Vise," anh thiếu tá gọi to bằng tiếng Anh và ngọng tiếng Đức, "Zere is no system here. You vere a field-grade officer, I vas a field-grade officer. Now let’s together bring some system into this mess." (Ở đây chẳng ra cái thể thống gì, ở đây chẳng ra cái thể thống gì cả. Anh đã từng là sĩ quan cấp tá, tôi cũng đã từng là sĩ quan cấp tá. Nào chúng ta cùng nhau mang lại một ít thể thống cho cái mớ hỗn độn này đi). Sau đó Donald Wise, cựu Trung tá quân đội Hoàng gia Anh và Hans von Stockhausen, cựu thiếu tá quân đội Đức, lặng lẽ hướng dẫn các trung sĩ và hạ sĩ còn sống sót của một đại đội Biệt Động Quân Việt Nam Cộng hòa cách tổ chức phòng thủ trong tình huống chiến đấu trong thành phố và chẳng bao lâu sau thì cuộc đụng độ chấm dứt.


Nhiều năm sau, Donald Wise luôn nhắc với tôi, “tôi mê cái tay thiếu tá nhanh như cắt này lắm rồi. Thật là một nhân vật kỳ diệu! Tôi rất mong được dịp bàn về ‘thể thống’ với hắn ta lần nữa.” Chúng tôi lái trở về Continental. Vài ngày sau tôi đáp chuyến Air Vietnam bằng phản lực Caravelle đến Hồng Kông. Gillian Đã chờ tôi tại phi trường Kai Tak. Nàng trông rất tươi mát trong chiếc váy ngắn lộ ra đôi chân quần vợt tuyệt vời rám nắng, miệng mở một nụ cười ngọt ngào nhất. Nàng dắt theo một con chó Schnudel đặc thù của vùng New Territories, nửa giống chó chow Tàu nửa giống chó xù, màu trắng đầy lông với một cái lưỡi màu xanh. Tôi rất thích con chó nhỏ này vì cái tật kỳ cục hay chào mừng khách phụ nữ - mà chỉ người đẹp thôi - bằng một cái cắn nhẹ vào mông họ. “Chúng mình đến tiệm Peninsula để mừng ngày trở về của anh bằng một bữa ăn tối sớm đi anh,” Gillian đề nghị khi chúng tôi trèo lên chiếc Volkswagen màu đỏ, “em biết anh đang thèm một miếng thịt bò steak tartare và một chai vang đỏ từ Úc.” Tính tuyệt vời nhất của Gillian là cá tính sôi nổi của cô. Nàng làm tôi thú vị với những mẩu chuyện vui nhộn của khung cảnh xã hội thuộc địa thuộc vương quốc Anh. Tôi không nghĩ có khi nào tôi vui thích nhiều hơn tối hôm đó với nàng sau nhiều tuần lễ bị chấn thương. Nhưng khi chiều xuống chúng tôi đến căn chung cư trên đỉnh Victoria Peak thì nàng đột nhiên trở nên nghiêm trọng. Nhìn thẳng vào mắt tôi, nàng hỏi, “chuyện gì xảy ra với anh vậy, anh yêu? Trong anh xa vắng quá. Anh chưa ôm em hay hôn em thật sự nữa. Mọi chuyện ổn cả chứ?” Bây giờ tôi không thể nhớ đã kể sự thật cho nàng ngay lúc đó hay vài ngày sau nhưng rốt cuộc tôi cũng nói được với nàng câu trả lời đúng nhất: anh đã không ôm em trong lòng như đáng lẽ anh phải làm, và cũng không cho em một nụ hôn thích hợp nhất vì anh không muốn làm em bị ô uế. Từ ngày Tết Mậu Thân tại Huế đến nay anh cảm thấy đã bị nhiễm bẩn vô cùng.” Tôi bị ám ảnh bởi một cảm giác lơ là bổn phận mà tôi chưa từng bao giờ có. Hàng tuần lễ sau đó tôi không cưỡng nổi cái thôi thúc cứ phải nhảy vào vòi sen nóng để kỳ cọ thân thể nhiều lần trong ngày. Gần một nửa thế kỷ sau, thỉnh thoảng tôi nhận thấy tật này bị tái phát. Tôi chỉ biết gán những hồi ức này cho một sự kiện không thể chối cãi được, là tôi đang già đi rồi.


Chương 16 Cuộc chia tay dài lâu với niềm phi lý Trong những tuần lễ sau Tết Mậu Thân tôi bắt đầu nhận thức được rằng kịch trường của sự phi lý không còn là một đề tài để vui đùa nữa, ngay cả đối với các quan sát viên có đầu óc châm biếm nhất. Tất nhiên là anh chàng Eberhard Budelwitz, cái thước đo cho sự phi lý chưa hề sai bao giờ của tôi, đã cảm nhận điều này từ lâu rồi. Bằng một hành động kỳ quái trước khi bị triệu hồi về lại Đức để đi cai rượu, và từ đó bổ nhiệm qua thủ đô của một quốc gia Á châu khác, anh đã biểu lộ nhận thức này không phải bằng cách múa lưỡi trước khi trình bày ý kiến như trong quá khứ nữa. Anh không đặt những câu hỏi ngớ ngẩn tại các “buổi họp điên rồ vào lúc 5 giờ” chẳng hạn như các thắc mắc về tàu ngầm cho các nhà sư Phật giáo như là một phương tiện để ngăn ngừa lính Thủy Quân Lục Chiến đái bậy vào chùa. Không, lần này Budelwitz đã thể hiện quan điểm của mình bằng hành động tuyệt vọng trong một cơn điên cuồng say xỉn. Chuyện xảy ra trong khách sạn Continental chỉ vài ngày trước khi tôi đi về Hồng Kông, nếu tôi nhớ không lầm. Văn phòng tạp chí Time-Life tổ chức một buổi tiệc chia tay náo nhiệt cho phóng viên James Wilde, một tay mặt đỏ gay, nóng tính, người Mỹ gốc Ái Nhĩ Lan đã được lên bảng phong thần của những cách ngôn về Chiến Tranh Việt Nam bằng một câu nhận xét lạnh người: “Tử khí đã quyện vào da thịt tôi, phải mất hàng năm trời mới gột sạch nổi.” Jim Được chuyến đi Canada và chúng tôi chọc phá anh bằng những câu hỏi về nhiệm sở mới của anh. “Làm sao anh có thể giữ huyết áp ở mức cao được trong những ngày chủ nhật khô khan ở Ottawa?” Có người hỏi anh ta như vậy. Rồi đột nhiên anh ta biến đâu mất. Sau một vài chầu rượu chúng tôi bắt đầu lo lắng nên tổ chức đi tìm anh, dĩ nhiên là bắt đầu trong phòng ngủ. Cửa phòng khép hờ. Ghé mắt vào trong, chúng tôi thấy một bãi chiến trường. Tủ quần áo mở toang và đồ đạc vương vãi khắp nơi. Một trong những cánh cửa sổ lớn kiểu Pháp đã bị giật ra khỏi khung và bị đập vỡ trên sàn. Có những dấu chân đẫm máu khắp chỗ dẫn đến cửa sổ. James Wilde đang nằm run rẩy trên giường với tấm chăn trùm kín tận đầu. “ Đi đi, đi đi!” Anh ta khóc. “Jim, chúng tôi đây mà, bạn của anh đây! Chuyện gì xảy ra vậy?” Chúng tôi nói. “Ồ, các bạn đó hả? Cảm ơn Chúa!” Anh nói, “Tôi mới vào phòng tắm lên giường nằm nghỉ ngơi một chút rồi ngủ thiếp đi. Cửa phòng mở ra và cái thằng Đức cởi truồng bước vào làm tôi sợ vãi cả đái…” “Thằng Đức trần truồng nào, Jim?” tôi hỏi, “Tao đứng ngay đây mà, và tao có mặc quần áo đàng hoàng mà.” “Không, đồ ngu, tao có nói mày đâu! Tao nói cái thằng Đức cứ hay hỏi những câu say khướt về tàu ngầm cho sư Phật giáo và những chuyện khác tại follies. Tóm lại, hắn đi thẳng vào tủ quần áo của tao, lôi tất cả đồ ra, mặc cái áo khoác vào, đến gỡ cửa sổ ra đập xuống đất, dẫm một cách khùng điên lên những mảnh kính vỡ rồi đâm đầu nhảy ra ngoài cửa sổ. Thật là kinh quá, kinh khủng quá!” “Hắn bây giờ đâu rồi?” William Touhy của tờ Los Angeles Times hỏi. “Tôi không biết, có lẽ nó chết trên vỉa hè rồi. Tôi nghe một tiếng bụp.” Chúng tôi ra ngoài cửa sổ nhìn xuống cái tán lớn che thêm bóng mát cho khách của mái hiên Continental bên dưới. Nằm trên cái tán đó là đồng nghiệp Eberhard Budelwitz của chúng tôi đang ngủ say, trên người chỉ bận cái áo khoác của Jim Wilde. Tay và chân của anh ta dính đầy máu nhưng ngoài ra thì anh không sao cả. Chúng tôi khiêng anh vào trong nhà, mặc cho anh đồ lót của Jim và mang vào phòng anh mà vẫn không làm anh thức dậy. Đó là lần cuối cùng tôi gặp Budelwitz. Tôi vẫn luôn trân trọng anh vì những câu hỏi sắc bén dù có phần kỳ quặc và đặc biệt là cho thành tích cuối cùng của anh tại Sài Gòn mà suy nghĩ cho cùng không làm cho chúng tôi ngạc nhiên chút nào. Sự thôi thúc ném mình ra khỏi cửa sổ như là một dấu chấm than đằng sau sự nghiệp ký giả của anh tại Việt Nam đã gây được tiếng vang lớn đối với một số đồng nghiệp của anh. Không phải bất cứ ai trong chúng tôi cũng mang ý tưởng tự vẫn trong đầu. Trường hợp tôi chắc chắn là không rồi, còn tôi không tin là Budelwitz cũng nghĩ như vậy. Cho dù trong tình trạng say xỉn anh cũng đủ thông minh để biết một cú nhảy qua cửa sổ xuống cái tán không thể gây chết người được. Nhưng bằng một cách lập dị riêng, anh đã nói lên một điều mạnh mẽ: những gì chúng tôi vừa trải qua


trong dịp Tết Mậu Thân là mức độ lố bịch nhất của kịch trường cho sự phi lý. Biến cố này đã thuyết phục tôi là câu định lý La tinh “in vino veritas” (Sự thật nằm trong chén rượu) có thể áp dụng cho các ly rượu pha “screwdriver”, ít nhất là trong trường hợp của Budelwitz. Sáu tuần trong nhà ở Hồng Kông sau kỳ thử thách Tết Mậu Thân không giúp gì mấy cho lòng mong muốn của tôi được tỉnh táo trở lại. Hai diễn biến chính trị song song với nhau đã khiến cho một số phóng viên đóng tại Hồng Kông tự nhủ ai thực sự đang bị hoảng loạn đây: chúng tôi hay là thế giới mà chúng tôi có nhiệm vụ phải tường thuật? Trong xứ cộng sản Trung Quốc bên cạnh, cuộc Cách Mạng Văn Hóa vô sản vĩ đại đã đạt đến cực điểm. Chúng tôi nhận được các báo cáo rằng sông Châu Giang bị tắc nghẽn bởi xác các cán bộ Cộng sản bị các vệ binh cách mạng còn trẻ măng đập đầu chết. Một số được tìm thấy trong vùng biển Hồng Kông với tay bị trói quặc ra sau lưng bằng dây kẽm và túi thì nhét Hồng Bảo Thư của Mao Trạch Đông. Tuy nhiên, với một khía cạnh địa chính trị, các tin tức về một sự chia rẽ Liên Xô Trung Cộng và sự kiện Bắc Kinh đã từ chối không cho vũ khí Liên Xô cung cấp cho Bắc Việt được vận chuyển bằng xe lửa xuyên qua lãnh thổ Trung Quốc lại càng quan trọng hơn nữa. Điều này đáng lẽ phải được tiếp nhận như là tin tốt đối với Hoa Kỳ nhưng hầu như không được chú trọng trong giới truyền thông Mỹ. Tiếp sau đó lại còn một mẩu tin động trời hơn nữa. Gillian và tôi đi dự một buổi tiệc nhỏ tại tư gia của tay trưởng trạm một cơ quan tình báo Tây Âu. Khách danh dự là một đại tá Hoa Kỳ thông thạo sáu thổ ngữ Trung Hoa và có bằng tiến sĩ về Hán học. Chúng tôi biết anh là sỹ quan tình báo quân đội Mỹ phụ trách phân tích các chương trình phát sóng trong phạm vi tỉnh và thông tin liên lạc nội bộ trong Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Chỗ làm việc của anh, cái trạm nghe lén khổng lồ của Mỹ chỉ cách chỗ ở của chúng tôi vài phút đồng hồ. “Nói cho tôi biết đi, thưa quý vị, anh đột nhiên hỏi hai ký giả có mặt, quý vị thỉnh thoảng có thấy khó khăn như tôi khi muốn gây sự chú ý của các sếp biên tập viên khi nắm trong tay một số tin tức sốt dẻo hay không?” “Tôi thì chẳng bao giờ!” Tôi trả lời. “Tôi không,” anh đồng nghiệp Mỹ nói, “nhưng tại sao anh lại hỏi?” “Bạn thấy đấy, hiếm khi những gì tôi gửi về Washington đến được tay tổng thống trong bất cứ hình thức thích hợp nào, bất kể tin tức đó có thể quan trọng hay không.” “Chẳng hạn như?” Tôi hỏi. “Ví dụ như tôi đã báo với cấp trên rằng có bằng chứng càng lúc càng nhiều là một cuộc xung đột vũ trang sẽ nổ ra giữa người Hoa và người Nga. Mấy đứa nào đó ở Ngũ Giác Đài làm nhẹ nó đi trước khi chuyển đến tay sếp tình báo quân đội. Hắn làm loãng thêm trước khi bộ trưởng quốc phòng Mc Namara Nhận được tin đó. Mc Namara lại ‘tưới nước’ nó thêm trước khi đưa qua Bạch Cung.” “Như vậy thì Lyndon Johnson còn đọc được cái gì?” Anh đồng nghiệp Mỹ hỏi. “Một dòng chữ vô nghĩa nói rằng theo trạm Hồng Kông, người Nga và người Hoa không hài lòng với nhau hay đại loại một cái gì vớ vẩn như vậy.” “Tại sao anh lại nói cho chúng tôi biết chuyện này?” Tôi muốn biết thêm. “Bởi vì tôi tin rằng tổng thống Hoa Kỳ cần phải được chuẩn bị cho các cuộc đụng độ quân sự giữa hai cường quốc cộng sản thế giới đó. Ông ta sẽ biết khi đọc câu chuyện này trên báo chí. Quý vị viết về sự kiện đó đi nhưng làm ơn viết nhằm loan báo chung và đừng tiết lộ nguồn.” Đêm hôm đó chúng tôi báo cáo mẩu tin này và sáng hôm sau cả thế giới, chắc kể cả LBJ đều biết cuộc xung đột Trung Cộng - Liên Xô thật sự nghiêm trọng như thế nào. Tình trạng nguy hiểm này còn phải mất một thời gian nữa để đạt đến cực điểm. Nhưng một năm sau cuộc trò chuyện trong bữa ăn tối đó của chúng tôi, các lực lượng Trung Cộng và Liên Xô quả nhiên có đụng độ nhau ở sông Ussuri. Lái xe về từ buổi tiệc của các tay gián điệp, tôi làm vui Gillian với mẩu chuyện Eberhard Budelwitz tự phóng mình qua cửa sổ như một màn trình diễn tối hậu của kịch trường của sự phi lý. Nàng cười ngặt nghẽo. “Em hiểu ý anh rồi,” nàng nói, “những gì chúng ta vừa nghe là một màn nữa thuộc kịch trường của sự phi lý.” “Đúng vậy, kịch trường của sự phi lý ở mức độ cao nhất.” “Thật đáng sợ,” nàng nói, “đủ để muốn ném mình ra khỏi cửa sổ.”


“Làm ơn theo nghĩa bóng thôi nhé!” Sau đó, vào ngày 27 tháng 2 năm 1968 tin lớn bùng nổ: phát ngôn viên bản tin buổi chiều của đài truyền hình CBS, Walter Cronkite, trở về nhà sau một chuyến đi thăm chớp nhoáng Việt Nam sau cuộc công kích Tết Mậu Thân đã tuyên bố một cách ồn ào trước một cử tọa khoảng 20 triệu khán thính giả là không thể thắng cuộc chiến Việt Nam được. Điều này chối bỏ tất cả những gì các phóng viên chiến trường, bao gồm cả Peter Breastrup và tôi đã trải qua trong ngày Tết. Chúng tôi đã biết những gì mà bây giờ các sử gia đang tuyên bố: người Mỹ, Việt Nam Cộng Hòa và các đồng minh đã đánh bại cộng sản về mặt quân sự. Tuy nhiên ý kiến của Walter Cronkite đã chối bỏ thực tế, chuyển một chiến thắng quân sự thành một thất bại về chính trị. “Tôi mất Cronkite, tức đã mất thành phần trung lưu người Mỹ rồi,” Lyndon B. Johnson nói, và một tháng sau ông tuyên bố tạm ngưng ném bom Bắc Việt, cũng như quyết định sẽ không tái tranh cử nữa. Với điều này, kịch trường của sự phi lý đã đạt đến cực độ. Chuyện xảy ra là cùng ngày Johnson ra bản tuyên bố, tức ngày 31 tháng 3 năm 1968, Gillian và tôi đang cùng đi Sài Gòn. Đây là lần đầu tiên nàng đến Việt Nam. Hầu hết các phóng viên chiến trường giữ gia đình của họ tại Hồng Kông, Singapore, Bangkok, không chỉ vì sự an ninh của họ mà còn vì một lý do nghe ra rất nghề nghiệp nữa: ký giả chiến trường phải có khả năng ra ngoài mặt trận với tính cách ứng chiến đột xuất mà không cần phải bàn cãi lâu lắc vào đêm hôm trước với các bà vợ trong bữa ăn tối. Gillian chưa bao giờ tin vào lập luận này một cách thái quá và lại càng không tin nữa khi chúng tôi đáp xuống Sài Gòn. Trên chuyến bay của hãng Cathay Pacific tôi đã cảnh cáo nàng là nhân viên di trú Việt Nam Cộng Hòa có thể rất khó chịu như thế nào. Nhưng khi nàng trình thông hành Anh Quốc ra thì khuôn mặt của viên chức đó lại sáng lên. “Ồ, thưa bà Siemon-Netto, xin chào mừng bà đến đất nước chúng tôi!” Anh ta nói bằng tiếng Pháp, “dĩ nhiên là tôi quen với ông nhà rồi nhưng bây giờ thật là một vinh dự được biết bà.” “Thật là một người dễ mến,” Gillian nói, vừa nguýt tôi. “Anh đã bay đến đây cả vạn lần rồi mà hắn có bao giờ nói một tiếng chào hỏi gì anh đâu,” tôi làu nhàu. “Hãy cứ đợi đến lúc gặp nhân viên quan thuế đi. Họ sẽ gây khó khăn cho em ngay mà.” Rốt cuộc thì anh ta không gây khó khăn nào cho nàng cả mà ngược lại còn tiếp đón Gillian cũng nồng nhiệt y như anh nhân viên nhập cảnh vậy. Anh ta còn không buồn ngó vào hành lý của chúng tôi mà vẫy tay cho đi. Gillian lại còn ngó tôi một cách buồn cười nữa. “Thường thì mấy người này khám xét từng cái quần lót của anh,” tôi lầm bầm. “Nhưng hãy đợi đến khi chúng mình phải vật lộn để có xe về khách sạn Continental. Xe taxi không được phép lấy thẳng vào ga hàng không nữa.” Ngay lúc đó thì có một anh chàng trẻ tuổi, có lẽ là một trung uý Không Quân làm thêm công việc tài xế ngoài giờ, mời đưa chúng tôi về khách sạn trên chiếc Buick có gắn máy lạnh của anh. Đến lúc này thì Gillian nhìn tôi chằm chằm với biểu hiện đã mất niềm tin ở tôi một cách sâu xa. Ông Lợi, quản gia chính của khách sạn Continental đón tiếp chúng tôi với một nụ cười rạng rỡ và đích thân đưa chúng tôi đến căn suite 214, trong đó có sẵn hai mươi lăm bông hồng đỏ chờ đón Gillian với sự ưu ái của chủ nhân. Những bông hồng tuyệt đẹp này đã làm tăng thêm sự nghi ngờ của Gillian. “Tại sao anh lại giữ không cho em đến nơi chốn tuyệt vời này lâu quá vậy?” Nàng yêu cầu muốn biết. Buổi tối hôm đó tại quán Royal, me-sừ Ottavi trải thảm đỏ ra: atisô, súp hành, pa tê gan ngỗng, và vịt nấu cam kèm theo một chai Château Cheval-Blanc loại rượu vang đỏ ngon nhất từ vùng Saint Émillion. Món bánh soufflé tẩm rượu Grand-Marnier lừng danh của Ottavi tiếp theo. chung với một chai sâm banh Dom Perignon. Tay chủ quán này giấu đâu những kho báu này hàng mấy năm trời nay vậy? Trên đường trở về Continental, Gillian nhận xét một cách thẳng thừng: “Thì ra anh mang các cô tình nhân của anh ra đây!” “Nhìn này, em yêu, em có thể nghỉ thế cách nào cũng được, nhưng có một điều hết sức quan trọng em phải nghe anh,” tôi nói khi chúng tôi bước vào phòng. Tôi chỉ tay vào các căn cửa sổ kính kiểu


Pháp mà tôi đã dán băng keo trong một lần ở trước đó nhằm phòng ngừa miểng kính vỡ trong trường hợp bị Việt Cộng pháo kích. “Khi nào tối nay em nghe thấy tiếng lụp bụp,” tôi tiếp tục, “em phải theo anh ngay lập tức vào phòng tắm và ở đó cho đến khi cuộc tấn công chấm dứt. Phòng tắm là chỗ an toàn nhất trong căn suite này vì không có cửa sổ và nhờ đó tránh được miếng kính vỡ một cách tốt nhất.” Không màng trả lời tôi, Gillian cuộn mình trên cái giường mà tôi đã có lần kể cho nàng là Graham Greene có lẽ đã từng nằm trên đó. Hai tiếng đồng hồ sau, Việt Cộng rót một loại hoả tiễn từ những dàn phóng thủ công bằng tre qua sông Sài Gòn vào trong thành phố, giết hàng trăm người kể cả 19 phụ nữ và trẻ em đang trú ẩn trong một ngôi nhà thờ Công giáo. Chúng tôi ngồi suốt cả đêm còn lại trong phòng tắm. Đối với Gillian đây là bài học sơ đẳng về Chiến tranh Việt Nam: mặc dù đầy vẻ quyến rũ, Sài Gòn vẫn thật sự là một nơi rất nguy hiểm. Quan trọng hơn nữa, đây là một thông điệp không thể nhầm lẫn được từ bọn Cộng sản đối với phần còn lại của thế giới, đặc biệt cho những người mê sảng rằng hòa bình đã gần kề sau khi Hoa Kỳ ngưng ném bom và cũng trong cái ngày mà Johnson tuyên bố không ra tái tranh cử nữa. Không cần phải là thành viên của hội Mensa Quốc tế để nắm bắt ý nghĩa của cuộc tấn công này: Với sự giúp đỡ của Cronkite và những tay truyền thông tương tự, một chiến thắng quân sự đã biến thành một sự thất bại về chính trị cho Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa. Hơn 100.000 lính cộng sản đã bỏ mạng trong kỳ Tổng Công Kích Tết Mậu Thân nhưng Việt Cộng đã - theo quan điểm của họ - sử dụng một cách hiệu quả nhất phản ứng vô lý của Hoa Kỳ đối với cuộc tắm máu kinh hoàng này, cái phản ứng xác nhận cho niềm tin của Võ Nguyên Giáp là các chế độ dân chủ không được trang bị về mặt tâm lý để theo đuổi một cuộc chiến tranh lâu dài. Bằng thái độ ngạo mạn, thách thức và tàn nhẫn của độc tài toàn trị, Cộng sản đã lấy lại thế chủ động bằng cách tàn sát và khủng bố thêm nhiều người dân thường nữa. Lần này thời gian nghỉ của chúng tôi ở Sài Gòn khá ngắn vì chúng tôi được cấp giấy nhập cảnh đến Campuchia, một điều hiếm khi xảy ra. Hoàng thân Norodom Sihanouk, Người đứng đầu chính phủ Campuchia khi nào cho phép các ký giả Tây âu được vào vương quốc ông mà phần cực Đông của nó bị Việt Cộng sử dụng như là một khu vực bàn đạp và tiếp cận cho cuộc chiến chống lại miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên trước khi lên máy bay đi Phnom Penh, tôi đến thăm xã giao Wilhelm Kopf, Đại sứ Tây Đức tại Sài Gòn. Thật bất ngờ, Hasso Rüdt von Collenberg bước vào, xin lỗi vì làm gián đoạn cuộc nói chuyện của chúng tôi. Khuôn mặt vị nam tước trẻ tuổi trong tái hơn bình thường. Nam tước thì thầm điều gì đó nghe giống như mật mã. Mặt của Kopf dài ra trông thấy. Theo linh tính, tôi mạo hiểm đoán: “Họ đã tìm ra thi thể của các bác sĩ Đức tại Huế rồi phải không?” Tôi nói. Với vẻ bối rối, Hasso von Collenberg nhìn tôi trả lời, “đúng vậy, nhưng chưa chính thức. Chúng tôi phải báo cho Bonn trước.” “Tôi hiểu. Cho tôi biết không chính thức vậy: Chuyện gì đã xảy ra?” “Người ta đã tìm thấy thi thể của giáo sư và bà Krainick, của bác sĩ Discher và bác sĩ Alteköster trong một một chôn tập thể khoảng 20 dặm về phía Tây của Huế. Họ đã bị bịt mắt và tay bị trói quặt ra sau bằng dây kém. Họ đã bị buộc phải quỳ gối trước khi bị bắn vào sau gáy rồi bị đầy xuống mương.” Khi ông đại sứ và tôi chăm chú nghe anh kể, chúng tôi không thể nào biết rằng lời diễn tả đó lại đúng là số phận của von Collenberg một vài tuần lễ sau, khi bọn Việt Cộng sát hại anh trên một con đường nhỏ trong Chợ lớn, khu phố tàu của Sài Gòn, không xa tòa đại sứ bao nhiêu. Viên ngoại giao trẻ kể cho chúng tôi là Viện trưởng Viện Đại học Huế đã nhận diện được thi hài của các đồng nghiệp người Đức và tình trạng của họ cho phép một kết luận sơ khởi quan trọng: họ phải còn sống ít nhất sáu tuần lễ sau khi bị bắt cóc. Với cơ cấu chỉ huy sắt máu của Hà Nội, cuộc hành quyết bốn người Tây Đức này không thể là một sự nhầm lẫn trong lúc cuộc chiến hỗn loạn được; Họ không phải là nạn nhân vô tình của chiến tranh. Bất chấp những lời cầu xin từ khắp nơi trên thế giới, Hà Nội đã không hề hành động điều gì để cứu những người vô tội này mặc dù họ có thừa thời gian để làm chuyện đó. Do đó, chúng ta có thể giả định rằng những vụ hành quyết như thế này và


hàng ngàn người vô tội khác là có chủ đích và từ đó, được xếp hạng là những hành vi tội ác chiến tranh gây ra bởi một chế độ hay có sự đồng lõa của chế độ đó. Một năm sau, tại hội nghị Hòa Bình Paris, nơi cuối cùng đã dẫn tới sự triệt thoái của Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam, tôi chạm trán với một phóng viên Giải Phóng, cơ quan thông tấn của Việt Cộng. Anh ta nói với tôi là anh có tường thuật về cuộc Công Kích Tết Mậu Thân tại Huế. So sánh các ghi chép với nhau, chúng tôi nhận thấy là có một lúc chúng tôi chỉ cách nhau không đầy 100 thước. Tôi rất muốn hỏi anh ta: Tại sao các anh lại tàn sát hàng ngàn phụ nữ và trẻ em? Tại sao họ lại giết hại các bạn người Đức của tôi mà ‘tội ác’ của họ chỉ là chữa trị cho người dân Việt Nam, bất kể chính kiến của họ?” Buồn thay tôi đã không làm điều đó. Thật là vô ích nếu hỏi anh ta những câu hỏi như vậy vì anh ta không bao giờ đi một mình. Luôn luôn có những tay công an quanh quẩn trong tầm tai nghe. Vả lại, trong những buổi tiếp tân tại các tiệm ăn sang trọng ở Paris, bọn Việt cộng đã cho các ký giả Tây âu nghe luận điệu vô lý của họ về những gì đã xảy ra tại Huế rồi. Họ nói đó là tội ác của CIA. Cho đến ngày hôm nay, tôi vẫn không rõ nguồn gốc của sự láo khoét phi lý đó. Có phải đó là sản phẩm từ bộ óc ngu xuẩn của một số đảng viên cực đoan ở Hà Nội? Hay lại là phát minh của một bác sĩ Tây Đức khác, bác sĩ tâm thần Erich Wulff điên rồ? Hắn đã đóng một vai trò khó chịu trong thời gian dạy học tại Huế. Năm 1963 hắn đã xách động chống lại chính phủ Ngô Đình Diệm và Hoa Kỳ, cũng như lén lút chuyển thuốc men và dụng cụ y khoa cho Việt Cộng. Sau này khi bị buộc phải rời xứ, hắn đã ra làm chứng trước tòa án quốc tế Bertrand Russel về tội phạm chiến tranh tại Việt Nam. Khi tôi gặp hắn vào năm 1965, hắn đã tố cáo ông hàng xóm của hắn, Horst-Günter Krainick, là đã nuôi dưỡng một sự kỳ thị chủng tộc đối với người Việt. Hắn còn bày tỏ sự phẫn nộ đối với người vợ của Krainick hằng ngày đi bơi tại câu lạc bộ thể thao và làm thân với người Mỹ. Bản thân tôi cũng như bất cứ những người quen nào của gia đình Krainick đều không thấy điều gì khác lạ ngoài tình thương tuyệt vời dành cho dân tộc mà họ đến để giúp đỡ. Năm 1968, Wulff viết dưới bút hiệu Georg W. Alsheimer một lập luận kinh tởm với tiêu đề Vietnamesische Wanderjahre - Những năm tháng chu du tại Việt Nam (Frankfurt: Suhrkamp 1968). Trong cuốn sách này, hắn cho là một nhân viên tình báo hạng nhất của CIA với tên Bob Kelly đã kể cho hắn nghe về chương trình khủng bố của CIA gọi là những chiến thuật đen. Theo Wulff chương trình này cho những thanh niên mặc quần áo như Việt Cộng đi sát hại người già, phụ nữ và trẻ em để kích động lòng thù hận đối với Cộng sản. Lời giải thích của Bắc Việt và Việt Cộng cho cuộc tàn sát tại Huế phù hợp với luận điệu của Wulff. Nói một cách công bằng cho hầu hết các phóng viên Tây Âu, họ thấy chuyện này không có sức thuyết phục. Trong khi đó, Erich Wulff đưa ra một lý luận điên khùng khác trong những buổi hội họp của cánh tả tại Tây Đức: hắn cho là bác sĩ Discher, bác sĩ Alteköster và hai vợ chồng Krainick có thể đã bị giết bởi chính các sinh viên của họ để trả thù vì bị điểm kém, hoặc bởi chính các đồng nghiệp Việt Nam vì lòng ganh ghét. Một lần nữa, tôi lại đi quá xa câu chuyện của tôi rồi. Vào thời điểm xảy ra chuyện này tôi đang ở trong văn phòng đại sứ tại Sài Gòn. Nét mặt biểu hiện đầy nỗi buồn của Hasso von Collenberg không lời nào tả xiết. Tôi còn nhớ đã suy nghĩ trong đầu: “Thật là một tâm hồn cao quý! Thật là một người đàng hoàng và dũng cảm! Từ lúc khởi đầu cuộc tấn công Tết Mậu Thân, anh đã lái xe khắp Sài Gòn ngày đêm để bảo đảm cho các công dân Đức được an toàn. Anh không bao giờ về nhà mà ngủ trên một chiếc chiếu trong văn phòng. Anh đã cầu nguyện bọn Cộng sản sẽ tha cho những người bạn ở Huế, đó là tất cả những gì anh có thể làm được, và nay thì họ đã chết cả rồi. Chính phủ chúng ta phải tự hào về anh!” Trái lại là đằng khác. Tất cả những gì còn lại để tưởng nhớ đến anh chỉ là một câu chú thích ngắn gọn trên tờ báo cáo của Văn phòng Ngoại giao Đức. Bộ trưởng Bộ ngoại giao Tây Đức thời bấy giờ là Willy Brandt thuộc Đảng Dân chủ Xã hội mà chính sách ưu tiên cao nhất của ông là nhằm xoa dịu hoặc làm tan băng đá trong quan hệ với khối Xô viết. Người ta chỉ có thể phỏng đoán là ông nghĩ rằng sẽ khó khăn cho mục tiêu này nếu làm lớn chuyện vụ sát hại một trong những phái viên của ông Với những linh cảm đen tối, tôi là Gillian đáp máy bay đi Nông Pênh, bắt tay vào một cuộc hành trình trở về quá khứ, hay có vẻ như vậy. Thủ đô Campuchia lúc đó vẫn còn giống phong cách Sài Gòn vào những thời kỳ bình yên hơn: rất Pháp nhưng cũng rất đặc biệt, kỳ diệu, quyến rũ và thanh bình. Những bà vợ, các cô con gái của các cố vấn quân sự và dân sự Pháp uyển chuyển đầy trong hồ


bơi của khách sạn Le Royal trong những bộ áo tắm hai mảnh. Tuy nhiên trên thực tế họ chỉ là những màn trang trí có tính chất trình diễn. Sự thật chỉ có một người quan trọng hơn cả tại Campuchia: hoàng thân Sihanouk, người đã từng là vua của xứ sở này và sẽ lại lên làm vua một lần nữa về sau đó. Tuy nhiên trong thời gian chúng tôi đến thăm, ông ta chỉ vui vẻ đóng một loạt những vai trò khác nhau: đứng đầu chính phủ, làm nhà sản xuất và ngôi sao tài tử cho vô số các bộ phim, làm bình luận viên trưởng các đài radio và truyền hình, làm biên đạo chính của Vũ đoàn Ba lê Hoàng gia, làm chủ bút một tờ tạp chí trí thức, làm nhạc sĩ thổi kèn saxophone chính làm nhạc trưởng soạn những khúc nhạc hòa tấu tương tự như các giai điệu lãng mạn của Charlie Chaplin. Ông ta cũng đồng thời là người “phối ngẫu trưởng” hết sức phục tùng công chúa Monique, một người tuyệt vời nhưng có tinh thần kỷ luật nghiêm khắc. Công chúa là con gái của một thợ nề người Ý và một phụ nữ khôn ngoan người Việt Nam. Khi Monique mới mười lăm tuổi và được Sihanouk để mắt đến trong một cuộc thi sắc đẹp, bà ta đã lén đưa con gái vào cửa hậu hoàng cung. Từ đó Monique không bao giờ lẻn ra ngoài trở lại. Sihanouk lúc đó là vua đã yêu và cưới nàng gần như ngay lập tức. Họ chung sống với nhau cho đến khi Sihanouk qua đời lúc 89 tuổi vào năm 2012. Hình thức trung lập của Sihanouk cũng khá tức cười. Có những đại lộ được đặt tên Mao Trạch Đông, John F. Kennedy và Charles de Gaulle xen kẽ nhau khắp Nông Pênh. Thật là tức cười khi thấy Sihanouk đối xử với các nhà ngoại giao của cả hai phía chia cắt Đông và Tây với sự bất kính như nhau. Trong buổi lễ khánh thành một khách sạn mới tại Sihanoukville ông ta nhảy xuống hồ bơi, nước màu nâu có vẻ không được sạch bởi toàn nhân viên phụ trách đã quên không thay nước mới. “Này thưa ngài!” Sihanouk gọi viên đại sứ Trung Cộng đang đứng thơ thẩn bên bờ hồ bơi, “nếu Mao chủ tịch của ngài có thể bơi được trên dòng Giang Tử lạnh lẽo thì chắc ngài cũng có thể tham gia cùng tôi tắm một phát ở nơi thơm tho này đi.” Ngay lập tức, viên đại sứ cởi bộ áo khoác áo kiểu Mao Trạch Đông ra và nhảy xuống trong khi Sihanouk cười vui vẻ xoay qua nói với tay đại sứ Liên Xô bằng giọng the thé, “và ngài nữa ngài nên bảo chính phủ của ngài phá đổ Bức tường Bá Linh đi thôi!” Mãi đến hai thập niên sau, một vị tổng thống Hoa Kỳ, Ronald Reagan, mới nói được một câu như vậy với thủ lĩnh Xô Viết là Mikhail Gorbachev. Cùng với đồng nghiệp Ronald Ross của tờ Minneapolis Tribune với bà vợ Marilyn, Gillian và tôi cùng thuê một chiếc xe Peugeot station wagon có tài xế lái đi thăm những đền đài tại Angkor. Trong suốt cuộc hành trình qua một vùng đồng quê kỳ diệu và thanh bình chúng tôi tự hỏi không biết đất nước Campuchia có thể tránh được số phận nghiệt ngã của xứ láng giềng Việt Nam được bao lâu nữa. Sihanouk đã từng có những linh cảm đen tối. Ông đã báo động với chúng tôi: “Bọn Khmer Đỏ muốn sát hại tất cả những vị Phật nho nhỏ của tôi,” ám chỉ dân chúng của ông. Lúc đó Khmer Đỏ chỉ có độ khoảng 300 người. Thủ lĩnh của họ là một người nguyên là thầy giáo tên là Saloth Sar, còn gọi là Pol Pot mà trong những năm là sinh viên tại Paris đã từng là thành viên của nhóm Jean Paul Sartre. Bẩy năm sau chuyến đi thăm Capuchia của chúng tôi, Pol Pot đã gia nhập vào hàng ngũ những tên diệt chủng tồi tệ nhất của thế kỷ 20 cùng với Hitler, Stalin và Mao Trạch Đông bằng cách giết chết hết một phần ba đồng hương của hắn, vào khoảng gần hai triệu người. Sau khi chúng tôi trở lại Nông Pênh, Sihanouk mời một nhóm khác gồm các phóng viên ngoại quốc dự một chuyến đi thăm khu vực Mỏ Vẹt bên cạnh biên giới Việt Nam. Mục đích nêu ra của chuyến đi là để cho chúng tôi thấy bằng chứng có sự xâm nhập vũ trang của quân lực Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ vào trong lãnh thổ trung lập của Campuchia. Tuy nhiên Sihanouk còn có một chủ đích kín đáo khác nữa. Vùng Mỏ Vẹt được biết đến như là một khu vực căn cứ và an dưỡng của Bắc Việt và Việt Cộng, đồng thời là điểm chót của đường mòn Hồ Chí Minh. Lái xe về hướng Đông, vài người trong số chúng tôi thấy bằng cớ vi phạm tính trung lập của Campuchia từ Hà Nội còn rõ ràng hơn: Trên phà xe qua các cửa thông của sông Cửu Long chiếc xe Peugeot của chúng tôi bị mắc kẹt giữa những chiếc xe Land Rover mà nhóm quân nhân chất đầy trên đó có dấu hiệu lộ ra họ là Cộng sản Việt Nam. Họ đi những chiếc dép làm bằng vỏ xe hơi gọi là dép Hồ Chí Minh. Khi đó chúng tôi biết rằng xứ hạnh phúc Campuchia chỉ đơn thuần là một thiên đường được tạm tha. Chúng tôi rất thích tính cách hài hước, vẽ đẹp, nhục cảm, đồ ăn ngon của nó và người cai trị với phong thái riêng mà các nhà truyền thông Anglo-Saxon sáo rỗng lại thích gán cho nhãn hiệu là lanh lợi. Không ai vui thích với tất cả những điều này hơn một phóng viên tự do trẻ tuổi, rất vui vẻ tên là Sean Flynn. Anh là con trai của Errol Flynn. Hai năm sau, anh là một trong những người Tây Phương


đầu tiên mà thiên đường được tạm tha này đối với họ đã biến thành địa ngục. Khmer Đỏ bắt anh, cầm giữ và có lẽ tra tấn anh trong vòng 12 tháng trời. Sau đó thì họ giết anh. Sau chuyến đi của chúng tôi tại Mỏ Vẹt, Gillian và tôi trở lại Royal, tại đó có một bức điện tín đang nằm chờ cho chúng tôi. Egon Vacek, biên tập viên ngoại quốc của tạp chí Stern mời chúng tôi gặp ông tại khách sạn Siam International ở Bangkok và nơi đó tôi đã làm một chuyện sai lầm nhất trong sự nghiệp của tôi. Vacek hứa với tôi một khoản lương rất hậu hĩ và một vị trí đầy quyến rũ của một phóng viên đại diện cho Stern tại vùng Bắc Mỹ có trụ sở ở New York và Washington. Tôi đã nhận lời, có nghĩa là phải từ giã tổng công ty Axel Springer sau khi hợp đồng hết hạn vào mùa thu năm sau. Ngày nay tôi nhận ra đó là một hành động lố bịch của bản thân tôi trong kịch trường của sự phi lý. Springer đã từng là một người chủ tuyệt vời và công ty đó đã cố gắng thuyết phục tôi ở lại. Herbert Kremp, người chủ bút uyên bác của Die Welt, tờ nhật báo hạng nhất của Springer hứa cho tôi một vị trí rất uy tín là phóng viên tại Tokyo, nơi mà tôi sẽ có cơ hội được trở lại Đông Dương thường xuyên hơn. Tôi không dám nhận nhiệm vụ đầy thử thách này mà không có một kiến thức toàn diện về tiếng Nhật Bản. Stern có vẻ hấp dẫn vào thời điểm đó vì là một tạp chí và tôi sẽ có cơ hội tốt để viết các câu chuyện lớn nhiều màu sắc hơn so với các tờ nhật báo. Tôi cũng thích Egon Vacek, Ông sếp tương lai của tôi, một tay phóng viên ngoại quốc dày dạn kinh nghiệm và một người có khuynh hướng ôn hòa về chính trị trong thời điểm mà Stern càng lúc càng ngiên về cánh tả. Khi ông qua đời vài năm sau đó vì bệnh ông thư, tôi không còn người đồng minh trong cơ cấu quyền lực mà ngày càng chuyển qua phía tả của tờ tuần báo lớn nhất Tây Âu. Không cần phải nói nhiều hơn về sai lầm này mà kết quả là một giai đoạn khó chịu nhất trong cuộc đời tôi. Tuy nhiên mối tình của tôi với Việt Nam chưa chấm dứt tại đó và vào lúc đó. Trong khi đang hoàn thành nốt năm cuối hợp đồng với Springer, cảm giác của tôi về một sự linh cảm đen tối tăng cao. Lúc trở lại Sài Gòn sau chuyến đi Campuchia và Thái Lan, anh bạn Lành của tôi, người từng là nhạc sĩ kèn trombone biết nói tiếng Đức trong đoàn Lê Dương Pháp cũ ghé thăm tôi tại Continental. “Tôi đang học tiếng Nga đây,” Lành tuyên bố. “Tại sao không học tiếng tàu? ” Tôi hỏi anh ta. “Bởi vì người Nga sẽ sớm hiện diện tại đây mà không phải là người Tàu. Anh sẽ thấy! Một tay người Nga sẽ ở tại căn suite này của anh hay có thể là một tay Đông Đức không chừng!” “Mong chúa không cho điều này xảy ra! ” “Vâng, Lành nói, mong Chúa thay! ” Qua bẩy năm, sau chiến thắng của Cộng sản, người Nga và Đông Âu quả nhiên đóng đô tại Continental, nhưng lúc đó Lành đã di tản qua Paris rồi. Một cảnh tượng trưng cho những tháng cuối cùng bi thương của thời gian tôi làm phóng viên cho Springer tại Việt Nam vẫn còn ăn sâu trong đầu tôi. Tôi đi cùng với phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ trên một chuyến bay Boeing 707 của Air France từ Paris về Sài Gòn. Kỳ hướng dẫn phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa tại các cuộc đàm phán hòa bình ở Paris, nơi vợ ông, bà Tuyết Mai đã mê hoặc mọi người với sắc đẹp và chiếc áo lông chồn đi mượn của bà. Nhưng trên đường về tất cả những sự hào nhoáng đó có vẻ đã phai nhạt đi. Tôi cảm thấy Kỳ đã mất đi tính nhiệt tình cố hữu của ông. Chúng tôi nói chuyện hàng giờ đồng hồ về đủ mọi thứ, nhưng hầu như tất cả các điều ông nói chỉ là một nỗ lực vô ích để tự trấn an lấy bản thân mình. Ông biết là người Mỹ đã quyết định rời bỏ Việt Nam. Chỉ còn câu hỏi thật sự được giải quyết tại các cuộc đàm phán Hòa Bình là bằng cách nào và khi nào? Trong lúc nói chuyện ông Kỳ luôn luôn nhìn ra cửa buồng lái. “Tại sao ông cứ mãi chăm chú vào buồng lái vậy?” Tôi hỏi ông. “Bởi vì tất cả những gì tôi thật sự khát khao là được làm phi công trở lại,” ông nhẹ nhàng đáp và tôi nhận thấy một vẻ chán chường trong giọng nói của ông. “Anh đến nói chuyện với Tuyết Mai một chút đi,” ông đột ngột nói, quay sang một bên và nhắm mắt lại. Rốt cuộc thì ông đã không bao giờ là một phi công trở lại. Công việc thấp kém của quản gia một tiệm bán rượu tại Huntington Beach, California là tất cả những gì mà số mệnh đã dành sẵn cho ông. Những khoảnh khắc ngắn ngủi trong chuyến bay Air France đưa chúng tôi tới Sài Gòn đã cho tôi biết được nhiều điều về câu chuyện thực sự ở hậu trường của những cuộc hoa đàm tại Paris hơn bất cứ


những gì tôi đã nghe được trong nhiều tuần làm nhiệm vụ tường thuật ở đó. Dường như nó biểu tượng cho số phận toàn miền Nam Việt Nam. Tôi nhận nhiệm sở mới làm phóng viên cho Stern vùng Bắc Mỹ vào ngày 1 tháng 9 năm 1969. Ngay hôm sau thì Hồ Chí Minh qua đời. Bản cáo phó cho Hồ là bài báo Stern đầu tiên của tôi và trong lúc viết nó, tâm trí tôi trở về nỗi kinh hoàng tại Huế vì tôi phải diễn tả ý nghĩa quan trọng của ngôi trường Quốc Học nơi Hồ Chí Minh đã từng học lúc còn nhỏ. Điều này làm sống lại trong ký ức hình ảnh hàng ngàn người đói lạnh mà tôi đã gặp trong sân ngôi trường đó, họ bị đuổi ra khỏi nhà bởi cuộc công kích Tết Mậu Thân của Hồ Chí Minh. Trong cáo phó tôi cũng nêu ra một điểm mô tả Hồ Chí Minh là con người từ vùng đất của cái thìa gỗ vì Hồ xuất thân từ tỉnh Nghệ An của miền Trung. Dân vùng này quá nghèo và keo kiệt nên khi đi đâu, họ thường mang theo một cái thìa gỗ để chấm vào nước mắm được cho không, tức một loại nước chấm làm bằng cá đã dậy mùi của chủ quán, để tăng thêm chất đạm cho món ăn duy nhất họ có thể mua trong quán ăn: một chén cơm trắng. Cuộc chia tay dài lâu của tôi với Việt Nam kéo dài trong suốt ba năm rưỡi tôi làm việc cho Stern ở Bắc Mỹ. Cho dù có muốn đi chăng nữa, tôi cũng không thể nào ngớt bận tâm đến Việt Nam được. Không một ngày trôi qua mà không có tin nổi bật về Việt Nam. Những vụ tuần hành vì hòa bình bất tận, rồi vụ bốn người biểu tình bị bắn chết tại đại học Kent State ở Ohio vào vụ án giết người của Trung uý William Calley mà tôi đã tường thuật tại Ford Benning, Georgia. Là một trung đội trưởng, Calley đã đóng một vai trò then chốt trong vụ thảm sát bởi lính Mỹ vào khoảng từ 347 đến 504 thường dân tại Mỹ Lai, một làng tại miền Nam Việt Nam. Khi tham dự phiên tòa quân sự xử Calley Tôi không thể không nhớ đến tay quay phim truyền hình Mỹ đã từ chối quay cảnh mồ chôn tập thể tại Huế, cho rằng, “tôi đến đây không phải để truyền bá tuyên truyền chống cộng.” Dĩ nhiên tôi rất hài lòng khi Calley Nhận án chung thân nhưng đồng thời cũng rất khó chịu vì Calley là sĩ quan Hoa Kỳ duy nhất bị xử án bị tội ác chiến tranh. Tôi hoàn toàn sững sờ khi tổng thống Richard M. Nixon ra lệnh ân xá cho Calley. Tuy nhiên sự kiện tội ác của Calley đã khỏa lấp trước công chúng Mỹ hành vi diệt chủng của Cộng sản khiến tôi rất bối rối. Sự khác biệt giữa hai chuyện này đã bị đánh rơi trong cách lập luận mê sảng đã trở thành một sắc thái không thể nào chịu đựng nổi trong một nền văn hóa bị truyền thông áp đảo: tội ác của Calley rõ ràng là sự vi phạm chính sách đã được xác nhận của chính phủ Hoa Kỳ cùng các tiêu chuẩn về chiến tranh đã được quốc tế chấp nhận. Trong khi đó, các tội ác của Bắc Việt và Việt Cộng đã được thi hành như một phần không thể thiếu trong chính sách của nhà nước bao gồm các chiến lược quân sự dựa trên khủng bố. Đối với tôi đây là một sơ suất nghề nghiệp lớn của các phương tiện truyền thông đã không nêu lên thật rõ ràng điểm mẫu chốt này cho công chúng. Mùa xuân 1972 tôi trở lại Việt Nam lần cuối cùng. Hơn bao giờ hết tôi mong muốn nhìn lại Huế một lần nữa, thành phố mà bẩy năm trước tôi đã trải qua một đêm huyền diệu trên một con đò, lắng nghe giọng ca của một cô bé xinh đẹp với mái tóc dài đen tuyền. Tôi còn nhớ giọng ca ám ảnh gợi cảm của cô và giai điệu kỳ lạ của cây đàn Đáy hình thang, một nhạc cụ có ba dây mà cô gẩy trong lúc đò chúng tôi trôi trên dòng sông Hương. Tôi tương tư một cách gần như là bất thường thành phố tử đạo mà tôi đã rời bỏ trên một chiếc tàu đổ bộ bọc sắt sau nhiều giờ tham dự chiến đấu từng căn nhà một trong đợt công kích Tết Mậu Thân. Tôi cứ nhớ mãi ba bộ đồ trận mà tôi đã mặc cái này chồng lên cái kia, mọi thứ toát ra bụi bặm và tử khí. Ngoài ra tôi cũng cảm thấy bị thôi thúc một cách bệnh hoạn và u sầu là phải đi lại những bước chân dọc theo đại lộ Lê Lợi và được nhìn lần cuối cư xá đại học mà các vị bác sĩ Đức bị sát hại đã từng cư ngụ ở đó. Lần này tôi đi cùng nhiếp ảnh viên Perry Kretz của Stern, một tay Mỹ gốc Đức sừng sỏ, biết hai thứ tiếng theo một kiểu riêng biệt: Tiếng Anh theo giọng dân New York và với tiếng Kölsch một thỗ ngữ tức cười của vùng Cologne. Thật là hay có anh là bạn đồng hành vì anh đã từng tham gia chiến trận nhiều rồi, khởi đầu với cuộc chiến Triều Tiên mà anh đã chiến đấu như một chiến sĩ trong quân đội Hoa Kỳ. Perry có thể tin tưởng được là sẽ không bị hoảng sợ dễ dàng. Chúng tôi biết là nhiệm vụ phía trước rất khó khăn. Cộng sản mới phát động tổng công kích mùa xuân, một chiến dịch lớn nhất từ trước đến nay. Mục tiêu của nó không hẳn để chiếm đất mà chủ động là dùng để mặc cả trong các cuộc đàm phán Hòa Bình Paris. Một lực lượng xâm lăng khổng lồ đổ vào miền Nam Việt Nam từ Campuchia, Lào và đặc biệt trắng trợn vượt qua vùng được gọi là khu phi quân sự chia đôi miền Bắc và miền Nam. Một phần lực lượng này, sau này tôi mới biết, gồm


25.000 quân tinh nhuệ mới trở về sau khi được huấn luyện tại Liên Xô và các quốc gia khối hiệp ước Warsaw, trong đó có Đông Đức. Quân Bắc Việt đã chiếm Quảng Trị mà vào năm 1965, trong một chuyến thăm Ủy ban Kiểm soát Quốc tế đáng nhớ, tôi đã từng làm thông ngôn cho một thiếu tá Ba Lan khi ông ta cần điều trị vết thương ở đầu do chơi bóng chuyền. Tuy nhiên cuộc tấn công của Cộng quân vào Huế đã bị chặn đứng, không phải do người Mỹ lúc đó đã triệt thoái gần hết ra khỏi Việt Nam chỉ còn lại 69.000 người, mà nhờ các lực lượng ưu tú nhất của quân lực Việt Nam Cộng Hòa: Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam, Sư đoàn 1 và Biệt Động Quân. Họ được chỉ huy một cách xuất sắc bất chấp sự bịa đặt loan truyền bởi một số ký giả Mỹ cho là quân đội Việt Nam Cộng Hoà không biết chiến đấu. Thực tế thì họ có kỷ luật và chuyên nghiệp hơn đối phương phía Bắc. “Bọn Bắc Việt mang qua 100 chiến xa do Liên Xô sản xuất vượt qua vùng phi quân sự nhưng lại không biết sử dụng chúng,” một cố vấn Mỹ kể với chúng tôi trên chuyến bay từ Sài Gòn ra Huế, họ phải bỏ lại hằng đống các chiến cụ này. Anh mà lái lên Quốc lộ 1 thì sẽ thấy các bộ phận thiết bị đầy rẫy với chiến xa của Liên Xô bị bỏ lại.” Perry và tôi thuê một anh tài xế với dáng vẻ và thái độ đặc biệt của giới trí thức thuộc tầng lớp thượng lưu cổ kính của Huế. Anh là một thanh niiên điềm đạm và nghiêm trang, bị cận thị với cặp mắt kiếng dầy cộm và nói tiếng Pháp rất giỏi. Tên anh là Hiền. Anh làm chủ một chiếc xe Jeep còn tốt được trang bị bao cát để chống miểng trong trường hợp chúng tôi cán phải mìn dưới đất. Đầu tiên chúng tôi lại lên kỳ đài, nơi mà tôi không thể vào được trong dịp Tết 1968 vì còn nằm trong tay Cộng quân. Tuy nhiên trong lúc này tôi gặp các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa vẻ mệt mỏi đang nghỉ ngơi trên những chiếc võng mắc ngang các khẩu thần công có niên đại từ đầu thế kỷ 19. Những khẩu súng này là biểu tượng của niềm hy vọng và tự hào cho họ, đặc biệt trong thời điểm mà các đơn vị ưu tú Việt Nam Cộng Hòa - chứ không phải Hoa Kỳ đang sửa soạn triệt thoái - đã chận đứng một cuộc xâm lăng toàn bộ mới của quân Cộng sản. Những khẩu đại bác nhắc nhở họ là đất nước đã từng bị chia cắt trong 200 năm. Chính một vị vương miền Nam, Nguyễn Ánh, đã kết thúc sự chia cắt bằng cách đánh bại triều đại Tây Sơn vào các năm 1801/1802 với sự trợ giúp của 300 lính đánh thuê người Pháp. Sau đó Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế với danh xưng Gia Long. Vua Gia Long đã tịch thu các mảnh đồng chiến cụ của quân Tây Sơn bại trận và ra lệnh đem nấu chảy đúc hành chín khẩu thần công. Năm khẩu được đặt tên theo ngũ hành là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, còn lại bốn khẩu thì đặt tên theo bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Những khí cụ này chưa bao giờ được khai hỏa trong chiến trận mà chỉ được sử dụng trong các dịp lễ lạc. “Chi tiết lịch sử này rất sâu đậm trong tâm trí chúng tôi, Chuẩn tướng Bùi Thế Lân nói. Ông là tư lệnh Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hòa và bộ chỉ huy đặt trong thành nội Huế. Tôi quen với tướng Lân từ nhiều năm qua. Dưới mắt nhiều viên chức Hoa Kỳ, các tùy viên quân sự ngoại quốc tại Sài Gòn và các phóng viên thì người lính sinh trưởng tại Hà Nội này thuộc vào hàng chỉ huy có khả năng và dữ dằn nhất trong cuộc xung đột này. “Nếu Huế rơi thì cuộc chơi của chúng tôi sẽ chấm dứt,” Lân tiếp tục. “Đó là lý do tại sao chính phủ chúng tôi đã điều động các đơn vị tinh nhuệ nhất ra phía Bắc và phía Tây nơi đây. Nếu ngày nào Việt Nam được thống nhất thì Huế phải thành thủ đô trở lại. Bọn Bắc Việt biết điều này nên cuộc công kích hiện giờ cũng hoàn toàn nhắm vào điều đó.” Ngày hôm sau, một tù binh Bắc Việt xác nhận với tôi chuyện này. “Mục tiêu của chiến dịch này là gì, theo cấp chỉ huy của anh?” Tôi hỏi anh ta. “Chiếm Huế và thiết lập một chính quyền cách mạng trong thành nội ngay lập tức,” anh trả lời. Chúng tôi phỏng vấn anh ta tại một vị trí tiền phương khoảng 20 dặm về hướng bắc của Huế. Anh ngồi xổm dưới đất, bị trói và bịt mắt trong khi một đại úy Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hoà quạt đuổi ruồi khỏi mặt anh, một trung sĩ gắn trên môi anh một điếu thuốc đã châm sẵn và một hạ sĩ khác cho anh uống nước. Perry và tôi rất cảm động trước nghĩa cử đối với kẻ địch vào một thời điểm mà Miền Nam còn đang phải chiến đấu cho sự sống còn của mình. Anh lính mới chỉ 17 tuổi, xuất thân từ Nam Định, một thành phố cách Hà Nội năm mươi dặm về hướng Nam. Sau ba tháng huấn luyện căn bản anh được điều vào Trung đoàn 66 Bắc Việt đến Quảng


Trị và lần xung trận đầu tiên cũng là lần cuối cùng của anh. “Ba phần tư người trong tiểu đoàn tôi đã tử trận và tôi bị thương trên đầu,” anh nói với tôi, “sau đó thì tôi bị bắt.” Chúng tôi lái lên hướng Bắc theo Quốc lộ 1 được người Pháp đặt tên là “con đường không vui” do đã có quá nhiều lính tráng và dân thường bỏ mạng nơi này trong cuộc chiến Đông Dương lần thứ nhất. Chúng tôi biết là không thể đi xa được bởi vì hầu hết các đơn vị tiên phong của Bắc Việt chỉ cách Huế 20 dặm. Mục đích của chuyến đi này là thử xem tình trạng của con đường này trong bối cảnh lịch sử của nó, so sánh với những gì tôi đã đọc trong các cuốn sách của Bernard Fall. Tôi cũng tự hỏi không biết những đứa trẻ chăn trâu mà tôi đã kể khá nhiều trong một chương trước có còn đây hay không. Té ra là chúng biến mất đâu cả rồi và điều này là một dấu hiệu đáng ngại. Quốc lộ 1 đã trở thành một con đường đáng sợ. Chiếc xe của chúng tôi là chiếc duy nhất trên con lộ đột nhiên trở thành chiến tuyến giữa vị trí quân Bắc Việt hướng Tây và các lực lượng Việt Nam Cộng hòa hướng Đông. Đạn súng cối và pháo binh bay qua đầu từng đợt bất thường. Perry ngồi ngay trên ghế hành khách bên cạnh Hiền trong khi tôi thì ngồi đằng sau ngó chăm chú qua vai Hiền vào mặt đồng hồ tốc độ, càng lúc càng lo lắng. Mũi kim đồng hồ ít khi nào vượt qua mức 30 cây số một giờ. Dán sát mắt vào trong mặt kính chắn gió, anh chàng Hiền cận thị lái chậm rãi một cách nguy hiểm vô cùng trên đoạn đường gian nguy này. “Lái nhanh lên đi, Hiền,” tôi khẩn khoản nói với anh, “chúng ta bị bắn sẻ mất. Chỉ có tốc độ mới thoát thôi.” “Tôi phải xem xét mặt đường kẻo có mìn thưa ông,” Hiền nói, “nhưng mắt tôi không tốt lắm để có thể nhìn thấy chúng.” “Vậy thì để tôi lái đi, mắt tôi còn tinh,” tôi nói. “Không được thưa ông. Chiếc xe này chỉ được bảo hiểm dưới tên tôi thôi,” anh trả lời một cách không thành thật lắm làm Perry nổi điên lên. “Ya hoid him, ya schmuck…, lái nhanh lên!” Perry tru lên bằng một giọng có thể được kính nể tại New York nhưng hoàn toàn không phải là cách lý tưởng để thuyết phục một nhà trí thức người Huế. Đến đây thì Hiền giận lắm rồi. Anh đạp mạnh thắng. Chiếc xe Jeep đậu lại ở một chỗ tệ hại nhất có thể bị mắc kẹt ở trong một cuộc đụng độ: một nơi trống trải trên một con lộ thoáng ra mọi hướng, trong khi đạn pháo binh hai bên bay vun vút qua đầu. Hiền và Perry cãi nhau càng lúc càng hăng bằng bốn thứ tiếng. Tiếng Hiền the thé pha lẫn tiếng Việt và tiếng Pháp trong khi Perry hò hét một phần giống như dân New York, phần như dân sinh trưởng vùng Rhineland của anh. Kịch trường của sự phi lý đã đạt đến một mức độ mà có lẽ thần chết đã trở thành một khả năng có thể xảy ra. Tôi giựt lấy chìa khóa xe của Hiền và nói, “tôi muốn sống sót qua trận này và chạy đi núp đây. Nếu quý vị bình tĩnh lại trước khi mất mạng thì theo tôi vào cái mương kia.” Tiếp theo tôi nhảy ra khỏi đằng sau xe và chạy lúp xúp khoảng 500 thước đến khi tìm được một cái hốc bên cạnh tường đủ sâu để núp vào như một cái hố cá nhân. Hiền và Perry còn tiếp tục cãi nhau một chập nữa nhưng không lâu lắm. Họ chạy theo tôi vào cái hố cho tới khi cuộc đụng độ lắng dịu dần. Thật là kỳ diệu, chiếc xe của Hiền không hề hấn gì. Tôi sẽ lái đây, tôi nói và vòng xe lại. Tôi nhận ga và lái quanh co về lại hướng Huế, vừa cố gắng tránh bị bắn tỉa vừa lái vòng qua những khoảng mặt đường bị vá trông có vẻ như có dấu bị đặt mìn. Trên đường về gần thành phố chúng tôi chỉ đi ngang qua duy nhất một chiếc xe dân sự khác. Đó là một chiếc xe buýt Lambretta ba bánh, hay xe lam. Người tài xế có vẻ không màng gì đến chuyện bị bắn sẻ hay đạn súng cối gì cả. Đột nhiên anh ta ngừng lại, chúng tôi cũng vậy, khá ngạc nhiên về đồ chở trên xe và người hành khách. Chúng tôi thấy hai cỗ quan tài nhỏ và một người đàn bà có bộ răng nhuộm đen. Bà ta vật vã gào thét, “ôi các con tôi, ôi các con ơi, tại sao con lại bỏ mẹ ra đi?” “Chuyện gì vậy?” Tôi hỏi người tài xế xe lam. Hiền dịch lại. “Mấy đứa nhỏ chết đêm qua vì Bắc Việt pháo kích làm ngôi làng chúng tôi đằng kia bị phá hủy hoàn toàn,” người tài xế trả lời, chỉ tay về hướng một cụm những túp lều đổ nát vài trăm thước về phía Nam dọc theo Quốc lộ 1. Tám người lính Việt Nam Cộng Hòa xuất hiện từ những hầm cá nhân cạnh bên đường tiến đến khiên hai cỗ quan tài. Họ chôn chúng bên bờ một khúc ruộng, dặn dò người mẹ đừng đến quá gần. “Cẩn thận có mìn đấy!” Họ cảnh cáo. Từ một khoảng cách ngắn, người phụ nữ ném một nắm kẹo vào ngôi mộ trước khi các binh sĩ lấp nó lại.


Chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình. Đến vùng ngoại ô Huế chúng tôi đi ngang khoảng một chục thiếu niên có vũ trang ngồi xổm trên một bức tường. Trong họ còn quá trẻ để vào lính. “Họ là ai vậy?” Tôi hỏi Hiền. “Nhân dân tự vệ” anh nói. Tất cả họ đều tình nguyện chiến đấu chống cộng sản. “Cái này mới à,” tôi thăm dò, “đặc biệt ở Huế mọi người có vẻ không muốn dính dáng đến chiến tranh.” “Không đâu,” Hiền giải thích. “ chúng tôi khi trước thường ghét người ngoại quốc, đầu tiên là người Pháp rồi sau đó là người Mỹ. Nhưng từ sau Tết Mậu Thân chúng tôi thù Cộng sản, tất cả mọi người từ học sinh cho đến Hoàng Thái Hậu.” “Cái gì? Vẫn còn Thái Hậu à?” “Dĩ nhiên rồi, bà là mẹ của hoàng đế Bảo Đại. Tên bà là Hoàng Thị Cúc,” anh trả lời, “chúng tôi gọi bà là Đức Từ Cung có nghĩa là một vị cung phi từ bi đức độ nhất.” “Đức,” tôi thốt lên. “Biệt danh của tôi cũng là Đức và có nghĩa là người Đức nữa. Như vậy chúng tôi có điểm giống nhau đây.” Ít nhất một lần anh chàng Hiền đạo mạo cũng tự cho phép mình mở một nụ cười và đùa một chút: “Ngoại trừ một điều, bà là Đức … Hoàng Tộc.” “Như vậy thì bà không phải đi theo con trai lưu vong qua miền nam nước Pháp à?” “Không, bà sống ngay đây trong một căn biệt thự trên đại lộ Lê Lợi.” “Anh có quen với bà không, có thể sắp xếp cho tôi phỏng vấn được không?” Tôi hỏi. “Đúng, tôi có quen với bà. Nhưng không, bà xã không cho anh phỏng vấn. Thái hậu không cho ký giả phỏng vấn, chỉ cho tiếp kiến thôi. Tuy nhiên tôi nghĩ có thể thu xếp được cho anh.” Hai ngày sau, Hiền đưa chúng tôi đến chỗ cư ngụ của Thái Hậu. Điều đầu tiên tôi nhận ra là hàng chữ nguệch ngoạc bên bờ tường vườn bà. “Cắt đầu”, có nghĩa là cắt cổ họng. Nhưng chữ tiếp theo “Mỹ”, có nghĩa là người Mỹ, đã bị sơn trắng đi, rõ ràng là một nhận định chính trị. Một người cận thần thật gầy mặc bộ áo dài đã sờn nát hướng dẫn chúng tôi cung cách hành xử trước mặt hoàng gia. Chúng tôi phải cung kính chắp tay trước mặt. Chúng tôi không được chạm vào người Bà và không được lên tiếng trước. Bà có đặc quyền được mở đầu câu chuyện. Chúng tôi được dẫn vào phòng khách và Đức Từ Cung, một người phụ nữ bé nhỏ tám mươi ba tuổi mặc chiếc áo dài màu vàng, màu dành riêng cho vua chúa, ngồi trên một chiếc ngai vàng cầu kỳ đằng trước một bàn cũng cầu kỳ không kém, trên đó có hình phu quân của bà, Hoàng Đế Khải Định và hình của người con xa xôi Bảo Đại. Bà luôn miệng hút thuốc lá Bastos là một loại thuốc lá đen rất nặng. Nước trà ướp hoa nhài được dâng lên trong những chiếc tách bằng sứ tráng men có viền vàng. Đức Từ Cung nói nhỏ nhẹ bằng tiếng Việt và người cận thần dịch lại. Bà nói rõ bà chỉ là người giữ chỗ cho con trai là người cai trị chính danh của Việt Nam. Bà sẽ không bao giờ tự nguyện rời bỏ Huế trừ phi bọn cộng sản tiến chiếm và bắt bà. Tuy nhiên bà đã không chịu rời nhà trong suốt ba tuần lễ khủng bố của bọn chúng trong đợt Tết Mậu Thân 1968. “Tôi không thể lìa bỏ thần dân,” Bà nhấn mạnh. “Dân chúng Huế vẫn còn ủng hộ triều đình. Họ đến diện kiến tôi cả ngày, người giàu cũng như người nghèo, quý tộc và thường dân, cao hay thấp. Tổng thống Thiệu và phó tổng thống Kỳ mới đây còn phái các vị phu nhân đến viếng thăm tôi để bày tỏ sự kính trọng và đại tá Tôn Thất Khiêm, tỉnh trưởng Thừa Thiên vẫn thường xuyên thỉnh ý kiến tôi.” Nghe Bà kể chuyện là một kinh nghiệm u sầu, giống như lần gặp Hoàng thân Norodom Sihanouk vào năm 1968. Có phải đây là một màn kịch trường của sự phi lý nữa chăng? Tôi không nghĩ như vậy. So sánh với những gì tôi đã trải qua tại Huế, điều này đánh động tôi một thoáng nhìn về một cuộc sống bình thường có văn hóa mà đáng lẽ xứ sở này phải có và lòng tôi trĩu buồn khi nghe kể là để kinh tài cho phong trào phục hoàng, bà đã phải bán đi những chiếc bình sứ trong các ngôi đền thờ tiên đế. Còn một chuyện nữa tôi phải làm trước khi vĩnh viễn rời Huế: là một người say mê về xe lửa, tôi muốn đi thăm một lần chót cái ga tàu hỏa cũ kỹ của Huế. Tất nhiên du lịch bằng xe lửa tại Việt Nam đã bị gián đoạn từ lâu rồi, nhưng tôi vẫn luôn bị xúc động bởi phong cách mà người Việt Nam gin


giữ, ít nhất là bề ngoài của một sự liên tục, với các thời khóa biểu và lịch trình giá cả được cập nhật hóa hết sức tỉ mỉ. “Chúng ta có mặt ở đó tám giờ vào buổi sáng đi,” Hiền đề nghị. Chúng tôi đến sớm hơn một chút, tản bộ trên làm sân ga. Chúng tôi nhận thấy một tấm bản mờ cho biết là Sài Gòn cách 1041 cây số và Hà Nội 688 cây số. Một đầu xe lửa diesel đang nổ máy đậu tại đó. Đầu máy này cùng với một tòa hành lý tạo thành Chuyến Tàu Tốc Hành Xuyên Đông Dương đã từng lừng danh một thời. Ông trưởng ga xuất hiện, mở ra một lá cờ đỏ, vẫy lên và huýt một hồi còi. Chiếc đầu máy hụ còi và đúng 8.giờ sáng chuyến tàu rồi khỏi trạm ga. Năm phút sau, nó trở lại, chỉ di chuyển một vòng vỏn vẹn không hơn một cây số. Kỹ sư tàu, một người trạc năm mươi tuổi có tên là Dương tắt máy. Trưởng ga cuốn lá cờ đỏ lại và một ngày làm việc của họ chấm dứt. Một lần nữa họ đã chứng tỏ là Chuyến Tàu Tốc Hành Xuyên Đông Dương vẫn còn hoạt động. Lạ lùng thay, hoạt cảnh này không có gì là phi lý đối với tôi mà nói lên niềm đức hạnh hay “Đức” trong tiếng Việt tức một lời chứng thực cho niềm hy vọng khi đối mặt với tai họa. Khi chúng tôi rời ga xe lửa, 20 người phu xe đang chờ bên ngoài với những chiếc xích lô xếp hàng thật ngay ngắn. “Tại sao lại ở đây?” Perry Kretz hỏi anh xích lô trưởng toán. “Không ở đây thì chúng tôi ở đâu bây giờ?” Anh hỏi ngược lại. Vào lúc đó và tại nơi đó, tôi chợt hiểu là có sự hợp lý trong các của sự phi lý.


Lời Bạt Hậu quả của khủng bố và đức hạnh của hy vọng Hơn 40 năm đã trôi qua kể từ khi tôi giã biệt Việt Nam. Vào năm 2015, thế giới sẽ chứng kiến kỷ niệm lần thứ 40 chiến thắng của cộng sản và nhiều người sẽ gọi đó là ngày “giải phóng”. Ga xe lửa Huế, nơi một đầu máy và một toa hành lý khởi hành chuyến tàu tượng trưng 500 thước mỗi buổi sáng vào lúc 8 giờ sẽ không còn đáng đi vào kịch trường của sự phi lý nữa. Nó đã được phục hồi đẹp đẽ và sơn phết lại màu hồng. Một lần nữa, tương tự như những ngày dưới sự thống trị của người Pháp, nó là nhà ga xe lửa đẹp nhất vùng Đông Dương và tài xế taxi không phải chờ đợi vô ích bên ngoài. Mười chiếc tàu thong dong chạy qua mỗi ngày, năm chuyến xuôi Nam và năm chuyến ra Bắc. Góp chung lại chúng được mệnh danh một cách không chính thức là Tàu Tốc Hành Thống Nhất. Chẳng lẽ nào tôi lại không mừng vui? Chuyện này có khác nào bên Đức khi bức tường Bá Linh đổ xuống và những bãi mìn biến mất, và nay những chuyến tàu cao tốc phóng ngược xuôi giữa hai xứ nguyên là Cộng Sản bên Đông và Dân Chủ bên Tây với tốc độ lên tới 200 dặm một giờ? Hiển nhiên là tôi rất vui khi chiến tranh kết thúc và Việt Nam được thống nhất và phát triển, những chuyến xe lửa đã hoạt động trở lại và các bãi mìn đã được tháo gỡ. Nhưng đến đây thì sự tương đồng với nước Đức chấm dứt. Nước Đức hoàn thành sự thống nhất, một phần nhờ người dân tại Đông Đức đã lật đổ chế độ độc tài toàn trị bằng những cuộc biểu tình và phản kháng ôn hòa, một phần nhờ vào sự khôn ngoan của các nguyên thủ quốc tế như các vị tổng thống Ronald Reagan và George H.W. Bush, của thủ tướng Helmut Kohl, của lãnh tụ xô viết Mikhail Gorbachev, và cũng phần khác cũng vì sự sụp đổ có thể đoán trước được của hệ thống Xã hội Chủ nghĩa sai lầm trong khối Xô viết. Không có ai bị thiệt mạng trong tiến trình này, không một ai bị tra tấn, chẳng có ai phải vào trại tù và cũng không có ai bị buộc phải trốn chạy. Có một khuynh hướng khó hiểu, ngay cả trong số các vị học giả đáng kính của Phương Tây đã diễn tả sự kiện cộng sản cưỡng chiếm miền Nam như là một cuộc giải phóng, từ đó đã đưa đến câu nói đáng khinh rẻ, có thể là vô tình của vị giáo sư trường Harvard John Kenneth Galbraith, ngạo mạng chúc cho miền Nam Việt Nam “hãy trở về niềm thinh không mà nó đáng được hiện diện.” Điều này đặt ra một câu hỏi: giải phóng cái gì và cho ai? Có phải miền Nam đã được giải phóng khỏi sự áp đặt một nhà nước độc tài toàn trị được xếp hạng chung với những chế độ vi phạm tồi tệ nhất thế giới về các nguyên tắc tự do tôn giáo, tự do phát biểu, tự do ngôn luận, tự do hội họp và tự do báo chí? Một cái thứ giải phóng gì đã làm chết 3,8 triệu người dân Việt từ 1954 đến 1975 và nó buộc hơn một triệu người khác phải trốn ra khỏi đất nước, không những từ miền Nam bại cuộc mà cả từ những bến cảng miền Bắc và làm từ 200.000 đến 400.000 người gọi là thuyền nhân bị chết đuối? Có phải là hành động giải phóng không khi xử tử 100.000 người lính miền Nam và viên chức chính phủ sau ngày Sài Gòn thất thủ? Phải chăng chỉ là một màn trình diễn nhân đạo của bên thắng cuộc bằng cách lùa từ 1 triệu đến 2 triệu rưỡi người miền Nam vào các trại tù cải tạo, trong đó có khoảng 165.000 người mất mạng và hàng ngàn người khác đã bị tổn thương sọ não lâu dài và bị các vấn đề tâm thần do hậu quả của tra tấn, theo một cuộc nghiên cứu của nhóm học giả quốc tế do bác sĩ tâm thần Richard F. Monila của đại học Harvard dẫn đầu? Ai là kẻ giải phóng? Có ai mất công tìm hiểu tiểu sử, lịch sử và những câu nói của nhân vật đã khởi xướng cuộc chiến xâm lăng này? Một trong những biệt danh mà đám trẻ ngưỡng mộ hò reo trong hầu hết các trường đại học Tây Phương là Hồ-Hồ-Hồ-Chí-Minh… Nhưng đó không phải là tên thật của hắn. Ngày nay chúng ta biết đó chỉ là một trong 170 (!) biệt danh mà Hồ Chí Minh đã tự phong cho mình với tư cách là một nhân viên cấp cao của tổ chức Comintern hay Quốc tế Cộng sản từ những năm của thập niên 1920. Điều này chẳng có gì là bí mật lúc tôi đến Việt Nam vào năm 1965. Ai cũng có thể thấy điều đó trong những cuốn sách giáo khoa gối đầu giường của hầu hết các phóng viên. Những ai muốn tìm hiểu đều có thể tìm ra dễ dàng từ những nguồn thông tin trung thực, đáng tin cậy, mơ ước đích thật của Hồ Chí Minh là gì. Hắn đã tự nhủ rằng mong ước duy nhất là giúp mang lại chiến thắng của Chủ nghĩa Mác-xít Lê-nin-nít trên toàn cầu.


Nếu nền độc lập của Việt Nam từ tay người Pháp là mục tiêu chính thì Hồ Chí Minh đã không sốt sắng phản bội và thanh trừng tất cả các chiến sĩ tự do không nằm trong quỹ đạo của phe Liên Xô, bao gồm những người quốc gia, những người theo hoàng gia và nhóm Trotskyist. Khi tôi đang sống tại Sài Gòn, tất cả mọi người đều biết chắc chắn là Hồ chịu trách nhiệm trong việc thảm sát ít nhất là 200.000 địa chủ trong vụ cải cách ruộng đất theo lối Stalin tại Bắc Việt từ 1953 đến 1956. Nhiều nguồn tin còn cho rằng đã có 500.000 người bị giết. Hằng hà sa số người khác thì thà tự tử còn hơn bị tra tấn đến chết. Theo kinh nghiệm của Stalin và Mao Trạch Đông, lý do chính của Hồ Chí Minh trong các cuộc thảm sát này chẳng phải là để phân chia của cải gì cả mà nhằm vô hiệu hóa tất cả các mối hiểm họa của những “tầng lớp thù nghịch.” Một điều đáng ghi nhớ khi chúng ta gần đến kỷ niệm 40 năm ngày Sài Gòn thất thủ là đã có một âm mưu chính trị lạnh người trong lịch sử, là việc Quốc Hội Hoa Kỳ đã bán đứng Nam Việt Nam bằng cách bỏ phiếu chấm dứt mọi viện trợ quân sự phụ trội cho quốc gia đang dãy chết này, tức chấp nhận quan điểm của giáo sư Galbraith và các đầu óc trí thức tương tự, rằng “chúng ta đã giả định một kẻ thù không hề có thật.” Từ giữa những năm 1960, những tay bịa đặt chuyện huyền thoại về chính trị và lịch sử của Phương Tây, hoặc ngây thơ hoặc bất lương, đã chấp nhận lời giải thích của Hà Nội rằng cuộc xung đột là một cuộc “chiến tranh nhân dân”. Cũng đúng thôi nếu chấp nhận định nghĩa của Mao Trạch Đông và Võ Nguyên Giáp về cụm chữ đó. Nhưng theo luật văn phạm về sở hữu tự theo cách Saxon Genitive quy định thì chiến tranh nhân dân phải được hiểu là cuộc chiến tranh của nhân dân. Thực tế không phải như vậy. Đã có khoảng 3,8 triệu người Việt Nam bị giết chết giữa các năm 1954 và 1975. Khoảng 164.000 thường dân miền Nam đã bị thủ tiêu trong cuộc tru diệt bởi cộng sản trong cùng thời kỳ, theo nhà học giả chính trị Rudolf Joseph Rummel của trường đại học Hawaii. Ngũ Giác Đài ước tính khoảng 950.000 lính Bắc Việt và hơn 200.000 lính Việt Nam Cộng Hòa đã ngã xuống ngoài trận mạc, cộng thêm 58.000 quân Hoa Kỳ nữa. Đây không phải là một cuộc chiến tranh của nhân dân và chính là chiến tranh chống nhân dân. Trong tất cả những lập luận đạo đức giả về cuộc chiến Việt Nam ta gặp quá thường xuyên trong vòng 40 năm qua, câu hỏi quan trọng nhất đã bị mất dấu hay AWOL, nếu dùng một từ ngữ viết tắt quân sự có nghĩa là vắng mặt không phép, câu hỏi đó là: dân Việt Nam có mong muốn một chế độ cộng sản hay không? Nếu có, tại sao gần 1.000.000 người miền Bắc đã di cư vào Nam sau khi đất nước bị chia cắt năm 1954 trong khi chỉ có vào khoảng 130.000 cảm tình viên Việt Minh đi hướng ngược lại? Ai đã khởi đầu cuộc chiến tranh? Có bất kỳ đơn vị miền Nam nào đã hoạt động ở miền Bắc hay không? Không. Có du kích quân miền Nam nào vượt vĩ tuyến 17 để mổ bụng và treo cổ những người trưởng làng thân cộng, cùng vợ và con cái của họ ở đồng quê miền Bắc hay không? Không. Chế độ miền Nam có tàn sát cả một giai cấp hàng chục ngàn người trên lãnh thổ của họ sau năm 1954 bằng cách tiêu diệt địa chủ và các đối thủ tiềm năng khác theo cách thống trị theo lối xô viết của họ hay không? Không. Miền Nam có thiết lập chế độ độc đảng toàn trị hay không? Không. Với cương vị một người công dân Đức, tôi không can dự gì đến cuộc chiến này, hay nói theo lối của người Mỹ là “I have no dog in this fight” (Tôi chẳng có con chó nào trong vụ đánh lộn này cả). Nhưng, nhằm chú giải cho cuốn sách “Lời nguyện của nhà báo”, tương tự như các phóng viên kỳ cựu có lương tâm, lòng tôi đã từng và vẫn còn đứng về phía dân tộc Việt Nam nhiều đau thương. Lòng tôi hướng về những người phụ nữ tuyệt vời với tính tình rất thẳng thắn và vui vẻ; hướng về những người đàn ông Việt Nam khôn ngoan và vô cùng phức tạp còn mãi mê giấc mơ tuyệt hảo theo phong cách Khổng giáo; hướng về các chiến binh giống như trẻ con đi ra ngoài mặt trận mang theo tài sản duy nhất là một lồng chim hoàng yến; hướng về các goá phụ chiến tranh trẻ với cơ thể bị nhào nặng méo mó chỉ vì muốn bắt một tấm chồng lính Mỹ nhằm tạo một ngôi nhà mới cho con cái và có thể cho chính họ, còn hơn là đối mặt với độc tài cộng sản; hướng về nhóm trẻ em bụi đời trong thành thị cũng như ngoài nông thôn săn sóc lẫn nhau cùng với những con trâu đồng. Với trái tim chai cứng còn lại, lòng tôi thuộc về những người trốn chạy khỏi lò sát sinh và vùng chiến sự, luôn luôn đi về hướng Nam mà không bao giờ hướng Bắc cho đến tận cùng, khi không còn một tấc đất nào vắng bóng cộng sản nữa để mà trốn. Tôi đã chứng kiến họ bị thảm sát hay chôn sống trong những ngôi mộ tập thể và mũi tôi vẫn còn phảng phất mùi hôi thối của những thi thể đang thối rữa.


Tôi không có mặt vào lúc Sài Gòn thất thủ sau khi toàn bộ các đơn vị quân lực Việt Nam Cộng Hòa, thường xuyên bị bôi bẩn một cách ác độc bởi truyền thông Hoa Kỳ, giờ đây bị những đồng minh người Mỹ của họ bỏ rơi, đã chiến đấu một cách cao thượng, biết rằng họ không thể thắng hay sống sót khỏi trận đánh cuối cùng này. Tôi đang ở Paris, lòng sầu thảm khi tất cả những chuyện này xảy ra và tôi ước gì có dịp tỏ lòng kính trọng năm vị tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa trước khi họ quyên sinh lúc mọi chuyện chấm dứt, một cuộc chiến mà họ đã có thể thắng: Lê Văn Hưng (sinh năm 1933), Lê Nguyên Vỹ (sinh năm 1933), Nguyễn Khoa Nam (sinh năm 1927), Trần Văn Hai (sinh năm 1927) và Phạm Văn Phú (sinh năm 1927). Khi tôi viết đoạn kết này, một ký giả đồng nghiệp thuộc loại học giả sinh năm 1975 khi Sài Gòn bị thất thủ, đã tự tạo cho bản thân một thứ tên tuổi bằng cách nêu xấu tội ác chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam. Vâng, họ thật đáng bị bêu xấu. Đúng, đó là sự thật. Mỹ Lại có thật. Tôi biết, tôi đã có mặt trong phiên tòa mặt trận khi Trung Úy William Calley bị kết án là có tội. Tôi biết tiêu chuẩn đếm xác chết được tôn sùng bởi đầu óc méo mó của các cấp chỉ huy quân sự cũng như dân sự thời McNamara tại Washington và bản doanh Hoa Kỳ tại Sài Gòn đã làm tổn hại hàng ngàn mạng sống của người dân vô tội. Nhưng không có hành vi tàn ác nào của các đơn vị vô kỷ luật Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa có thể sánh bằng cuộc tàn sát do lệnh nhà nước giáng xuống đầu người miền Nam nhân danh Hồ Chí Minh. Những tội ác mà cho đến ngày nay những kẻ kế thừa thậm chí vẫn không thừa nhận vì không ai có dũng cảm hỏi họ: Tại sao các anh thảm sát tất cả những người vô tội mà các anh rêu rao là đi chiến đấu để giải phóng họ? Với tư cách một người Đức, tôi xin được thêm một đoạn chú thích như sau: Tại sao các anh giết người bạn của tôi là Hasso Rüdt von Collenberg, tại sao lại giết chết các bác sĩ người Đức ở Huế? Tại sao các anh bắt cóc những thanh niên thiện nguyện thuộc hội Hiệp Sĩ Malta, làm cho một số bị chết trong rừng rậm và số khác thì bị giam cầm tại Hà Nội? Tại sao các anh không bao giờ tự vấn lương tâm về những hành động đó, theo cách những người Mỹ chính trực trong khi họ đã được xác định một cách đúng đắn là họ thuộc về phía lẽ phải trong cuộc Đại Chiến Thứ Hai, vẫn bị dằn vặt bởi di sản khủng khiếp để lại vì đánh bom rải thảm những khu dân cư trong nước Đức và tấn công bằng bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki? Hồi tưởng lại cuộc thử thách trên con đường mòn Hồ Chí Minh trong tạp chí Der Spiegel, cô y tá Tây Đức Monika Schwinn nhớ lại cuộc gặp gỡ với các đơn vị chiến đấu Bắc Việt trên đường xuống phía Nam như là những kinh nghiệm khủng khiếp nhất. Cô diễn tả cường độ của mối hận thù trên khuôn mặt những người lính đó và cô viết là chính những tên Việt Cộng canh chừng phải khó khăn lắm mới ngăn chặn họ không giết những người Đức ngay tại chỗ. Không ai sinh ra là biết hận thù cả. Sự hận thù chỉ có thể có được do dạy dỗ. Nuôi dưỡng tính giết người trong lòng thanh niên là một khuôn phép huấn luyện chỉ có trường phái chủ nghĩa toàn trị là giỏi nhất. Trong cuốn tiểu sử rất hay nói về tay chỉ huy SS Heinrich Himmler, sử gia Peter Longerich diễn tả là ngay cả gã sáng lập viên lực lượng tàn độc đó gồm những tên côn đồ mặc đồ đen cũng khó lòng buộc thuộc hạ vượt qua sự kìm chế tự nhiên để thi hành lệnh thảm sát Holocaust (Longerich. Heinrich Himmler. Oxford: 2012). Chính ánh mắt thù hận của những tên sát nhân Bắc Việt tại Huế đang ám ảnh những người tôi phỏng vấn hơn cả. Nhưng dĩ nhiên phải dành nhiều thời gian với họ, chịu sự đau khổ cùng họ, tạo niềm tin và trò chuyện với họ thì mới khám phá ra cái cốt lõi của một phần nhân tính con người, một hiểm họa về mặt chính trị và quân sự vẫn còn quanh quẩn bên chúng ta từ bốn thập niên qua. Chỉ phán ý kiến về nó từ trên tháp ngà đài truyền hình New York hay các trường đại học Ivy League thì không bao giờ đủ cả. Trong một cuốn sách gây chú ý về đoàn quân lê dương Pháp, Paul Bonnecarrère đã kể lại cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đại tá đầy huyền thoại Pierre Charton và tướng Võ Nguyên Giáp sau khi Pháp thất trận tại Điện Biên Phủ (Bonnecarrère. Par le Sang Versé. Paris: 1968). Charton là tù binh trong tay cộng sản Việt Minh. Giáp đến thăm Charton nhưng cũng để hả hê. Cuộc gặp gỡ xảy ra trong một lớp học trước mặt khoảng 20 học viên để tham dự một buổi tuyên truyền chính trị. Cuộc đối thoại giữa hai nhân vật đối chọi nhau đã xảy ra như sau: Giáp: “Tôi đã đánh bại ông, thưa đại tá!” Charton: “Không, ông không đánh bại tôi, thưa đại tướng. Rừng rậm đã đánh bại chúng tôi cùng sự hỗ trợ mà các ông đã nhận được từ người dân qua các phương tiện khủng bố.”


Võ Nguyên giáp không ưa câu trả lời này và cấm các học viên không được ghi chép nó. Nhưng đó là sự thật, hay chính xác hơn: đó là một nửa của sự thật. Cái nửa kia là các nền dân chủ như Hoa Kỳ đúng là không được trang bị về chính trị và tâm lý để theo đuổi một cuộc chiến lâu dài. Sự nhận thức này, cùng với cách sử dụng các phương tiện khủng bố đã trở thành cột trụ trong chiến lược của Võ Nguyên Giáp. Hắn đã đúng và hắn đã thắng. Thậm chí nguy hiểm hơn nữa là ngày nay các chế độ toàn trị đang chú ý đến điểm này. Cho đến tận ngày hôm nay tôi vẫn còn bị ám ảnh bởi kết luận tôi bắt buộc phải rút ra từ kinh nghiệm về Việt Nam là: khi một nền văn hóa bê tha hủ hóa đã mệt mỏi về lòng hy sinh, nó sẽ có khả năng vứt bỏ tất cả. Nó đã chín mùi để bỏ rơi một dân tộc mà đáng lẽ nó phải bảo vệ. Nó còn thậm chí sẵn sàng xóa đi những mạng sống, sức khỏe về thể chất và tinh thần, nhân phẩm, trí nhớ và danh thơm của những thanh niên đã được đưa ra mặt trận. Điều này đã xảy ra trong trường hợp các cựu chiến binh Việt Nam Hoa Kỳ. Tác động của sự khiếm khuyết này đã ăn sâu trong các nền dân chủ tự do này một cách rất đáng sợ vì cuối cùng nó sẽ phá hỏng chính nghĩa và tiêu diệt một xã hội tự do. Tuy nhiên tôi không thể kết thúc câu chuyện ở đây bằng điều tăm tối này được. Là một người quan sát về lịch sử, tôi biết là lịch sử, mặc dù được khép kín trong quá khứ, vẫn luôn luôn mở rộng ra tương lai. Là một Kitô hữu tôi biết ai là Chúa của lịch sử. Chiến thắng của cộng sản dựa vào những căn bản độc ác: khủng bố, tàn sát và phản trắc. Hiển nhiên tôi không biện minh cho việc tiếp tục đổ máu nhằm chỉnh lại kết quả, cho dù có khả thi đi chăng nữa. Nhưng là một người ngưỡng mộ tính kiên cường của dân tộc Việt Nam, tôi tinh là cuối cùng họ sẽ tìm ra phương cách ôn hòa và những thủ lĩnh chân chính để họ có thể thoát khỏi những tay bạo chúa. Có thể sẽ phải mất nhiều thế hệ, nhưng điều đó sẽ phải xảy ra. Trong ý nghĩa này, tôi bây giờ chỉ muốn xếp hàng vào đoàn xích lô bên ngoài ga xe lửa Huế vào năm 1972, nơi chẳng có người khách nào quay trở lại. Chỗ của tôi ở đâu bây giờ? Tôi còn lại gì nữa ngoài niềm hy vọng? ./.


Click to View FlipBook Version