Nói vu là đặt chuyện ra mà vu cho ai để hại người ta, hay là làm cho
người ta mất danh giá. Những người nói vu là người hèn mạt, bày đặt ra
chuyện nọ trò kia để làm cho người ta mang tai mang tiếng, phải những
điều oan ức, khó lòng mà rửa sạch được.
Ta đi học, đã biết điều phải trái, thì ta chớ hề nói vu cho ai bao giờ. Ta
nên cho những điều ấy là điều hèn mạt, đáng khinh bỉ. [16]
Ngoài ra, chúng ta nên nhớ rằng:
Của-cải của người ta, không phải chỉ nói riêng về tiền bạc, ruộng
nương, nhà cửa, đồ đạc mà thôi, lại có một thứ của cải quí giá hơn nữa là
cái danh giá ở đời. Danh giá tức là danh thơm tiếng tốt của người biết tự
trọng mình, biết quí cái tư cách làm người, mà khinh bi những điều hèn
mạt đê tiện.Của cải mất đi thì còn làm ra được, chớ cái danh giá đã mất thì
khó lòng mà lấy lại được. Thánh nhân dạy rằng “Quân tử thành nhân chi
mỹ, bất thành nhân chi ác”, nghĩa là người quân tử làm thành tiếng hay
cho người, chớ không làm thành tiếng xấu cho ai bao giờ. Vậy bổn phận
mình trong xã hội là phải trọng cái danh giá của người ta, đừng có nói xấu
ai, nói vu cho ai điều gì. [17]
2. Lòng Biết Ơn Mọi Người Trong Xã Hội
Mọi người sống trong xã hội đều có tương quan nhau. Do nương nhờ
nhau mà cuộc sống của mỗi cá nhân mới an ổn. Trong gia đình thì cha mẹ,
vợ con, anh em nương tựa nhau. Ngoài xã hội, mọi người không thể sống
lẻ loi. Tách rời mọi người ra, chúng ta không có cuộc sống an toàn. Cho
nên đối với mọi người, chúng ta phải biết ơn, không được làm tổn hại. Câu
tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn,” nói lên tinh thần biết ơn, là truyền thống
đạo lý của con người Việt Nam.
Người làm ruộng có trồng trọt cấy cày, thì ta mới có thóc gạo mà ăn.
Thợ nề, thợ mộc có làm nhà, thì ta mới có nhà mà ở. Thợ dệt có dệt vải,
thợ may có may áo, thì ta mới có đồ mặc vào mình. Quyển sách ta học
cũng phải có người làm, người in. Cái đường ta đi cũng phải có người sửa,
người quét. Nói tóm lại, nhất thiết một chút gì ta cần dùng đến, cũng là có
người chịu khó làm việc mới nên. [18]
Thật vậy, trong xã hội muốn sinh tồn thì mọi người phải có bổn phận
đem sức mình giúp vào sự ích lợi chung. Bài “Giấc mộng” dạy học sinh
biết yêu mến và nhớ ơn mọi người.
Nằm mộng thấy nông phu lại bảo:
“Ra công làm kiếm gạo từ đây.
Tao thôi chẳng có nuôi mầy,
Phải lo trồng trọt cấy cày cho siêng.”
Người dệt cửi dặn mỉnh làm áo;
Chú thợ hồ lại bảo cầm bay!
Bơ vơ chẳng kẻ đoái hoài,
Tôi mang thơ thẩn đọa nầy cùng nơi.
Tôi túng thế vái trời cứu thử,
Lại thấy kia sư tử trên đàng!…
Tỉnh ra, thấy sáng, mơ màng!
Tiểu công hút gió, rộn ràng trên thang;
Nghe máy dệt rần rần tiếng chạy;
Ruộng đâu đâu cũng cấy đã xong.
Phận mình nghĩ lại thong dong,
Mới hay dưới thế ai không nhờ người.
Từ ngày rõ cuộc đời đắp đồi,
Cám thương người xã hội như nhau.
Dập dìu kẻ trước người sau,
Sức riêng một ít giúp vào lợi chung.
Nguyễn ngọc Ẩn
(100 Bài Tập đọc, Lớp Nhứt và Lớp Nhì)
Bài học “Nên giúp đỡ lẫn nhau” cho thấy hinh ảnh hai cậu bé phụ đẩy
xe giúp ông lão, là bài học nhắc nhở học sinh về tình tương thân tương ái.
Trời nắng to. Đường thì dốc. Một ông lão đẩy chiếc xe lợn. Trên
chiếc xe có có ba bốn con lợn to, chân trói, bụng phơi và mồm kêu eng-éc.
Ông lão cố đẩy cái xe, mặt đỏ bừng, mồ hôi chảy, mà xe vẫn không thấy
chuyển.
Mấy cậu bé đang chơi trên bờ đê, thấy thế, vội chạy tới, xúm lại, buộc
dây vào đầu xe mà kéo hộ.
Xe lên khỏi dốc, ông lão cám ơn các cậu và các cậu cũng lấy làm vui
lòng, vì đã giúp được việc cho người. [19]
Trong quá trình dựng nước và giữ nước, những bậc tiền nhân đã đổ
biết bao nhiêu xương máu để vun bồi và tô điểm cho mảnh giang san gấm
vóc. Họ là những vị anh hùng dân tộc. Anh hùng, không phải chỉ có những
người có chiến công hiển hách, có tài năng nổi bật làm những việc phi
thường được ghi công trong sách sử, mà còn biết bao nhiêu người, đủ mọi
tầng lớp, mọi giai cấp đã âm thầm cống hiến đời mình cho quê hương dân
tộc, không bao giờ được nhắc đến tên tuổi. Họ là:
Anh Hùng vô danh
1. Họ là những anh hùng không tên tuổi
Sống âm thầm trong bóng tối mông mênh,
Không bao giờ được hưởng ánh quang vinh,
Nhưng can đảm và tận tình giúp nước.
2. Họ là kẻ tự nghìn muôn thuở trước,
Đã phá rừng, xẻ núi, lấp đồng sâu,
Và làm cho những đất cát hoang vu
Biến thành một dãy san hà gấm vóc…
3. Họ là kẻ anh hùng không tên tuổi,
Trong loan ly như giữa lúc thanh bình,
Bền một lòng dũng cảm, chí hy sinh,
Dâng đất nước cả cuộc đời trong sạch.
4. Tuy công nghiệp không ghi trong sử sách,
Tuy bảng vang, bia đá chẳng đề tên,
Tuy mồ hoang xiêu lạc dưới trời quên,
Không ai đến khấn nguyền dâng lễ vật.
Nhưng máu họ đã len vào mach đất,
Thịt cùng xương trộn lẫn với non song,
Và anh hồn cùng với tấm tinh trung
Đã hòa hợp làm linh hồn giống Việt. [20]phụ lục)
Việt Tâm (100 Bài tập đọc Lớp Nhứt Lớp Nhì)
3. Tình Yêu Quê Hương Đất Nước
Tình thương yêu gia đình, cha mẹ anh em và người thân là tình cảm
khởi đầu cho tình yêu đồng bào, tình yêu quê hương đất nước.
“…Con sẽ cảm thấy tình yêu nước, khi con ở nước ngoài, và chợt
nghe thấy một người trong đám thợ thuyền nói tiếng nước con, theo lòng
con xúi dục, tự nhiên con đến hỏi chuyện người bạn không quen ấy. Con sẽ
cảm thấy tình yêu nước khi con nghe người ngoại quốc lăng mạ xứ sở con,
lòng tức giận sẽ làm cho con nóng mặt…” [21]
Nhằm un đúc tinh thần yêu nước cho học sinh, đề cao lòng tự hào dân
tộc, ca ngợi những chiến công oanh liệt bảo vệ tổ quốc của các bậc tiền
nhân, bài thơ sau đây nhắc nhở học sinh chăm chỉ học để sau nầy nối chí
tiền nhân [22] phụ lục)
Giờ Quốc sử
Những buổi sáng, vừng hồng le lói chiếu
Trên non sông, làng mạc, ruộng đồng quê,
Chúng tôi ngồi yên lặng, lắng tai nghe
Tiếng thầy giảng suốt trong giờ Quốc sử.
Thầy tôi bảo: “Các em nên nhớ rõ,
“Nước chúng ta là một nước vinh quang.
Bao anh hùng thưở trước của giang san,
Đã đổ máu vì lợi quyền dân tộc.
Các em phải đêm ngày chăm chỉ học,
Để sau này nối được chí tiền nhân.
Ta chắc rằng, sau một cuộc xoay vần,
Dân tộc Việt sẽ là dân hùng liệt.
Ta tin tưởng không bao giờ tiêu diệt,
Giống anh hùng trên sông núi Việt Nam.
Bên những trang lịch sử bốn ngàn năm,
Đầy chiến thắng, đầy vinh quang máu thắm.”
Đoàn Văn Cừ (Tập đọc lớp Nhất)
4. Tình Yêu Nhân Loại.
“Bầu ơi thương lấy bí cùng,
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”
Con người cùng sống trên quả địa cầu, không phân biệt màu da, chủng
tộc. Tất cả đều là nguời như nhau, sao nỡ giết hại nhau. Chuyện kể hai
người lính của hai quốc gia đối nghịch giao chiến nhau. Sau chiến trận, cả
hai đều bị thương, nằm lại trên chiến trường…[23]
Tình nhân loại
Sau một trận giao tranh ác liệt,
Giữa sa trường xác chết ngổn ngang.
Có hai chiến sĩ bị thương,
Hai người hai nước hiện đương nghịch thù.
Họ đau đớn khừ khừ rên siết,
Vận sức tàn cố lết gần nhau.
Phều phào gắng nói vài câu,
Lời tuy không hiểu, hiểu nhau nỗi lòng:
Họ hai kẻ không cùng Tổ quốc,
Nhưng đã cùng vì nước hy sinh.
Cả hai ôm ấp mối tình,
Yêu thương đất nước, gia đình, quê hương.
Đêm dần xuống, chiến trường sương phủ,
Một thương binh hơi thở yếu dần.
Trước khi nhắm mắt từ trần,
Xót thương người bạn tấm thân lạnh lùng.
Anh cởi áo đắp trùm lên bạn,
Rồi tắt hơi! thê thảm làm sao!
Cho hay khác nghĩa đồng bào,
Nhưng tình nhân loại còn cao hơn nhiều!
Đặng Duy Chiểu (Quốc văn mới)
IV. KẾT LUẬN
Dù thời gian có trôi qua, hoàn cảnh có biến đổi, nhưng giá trị đạo đức
làm người trong các trang sách quốc văn, như kính yêu cha mẹ, tình thầy
trò, bè bạn, lòng yêu quê hướng đất nước, tình yêu đồng bào và tình nhân
loại…vẫn in sâu trong ký ức của các học sinh qua bao thế hệ.
Thương yêu con người, biết quý trọng đích thực cuộc sống an bình
của con người là nét đặc sắc nhứt của nền văn hóa dân tộc Việt Nam hàm
chứa trong các sách giáo khoa môn quốc văn của nền giáo dục Miền Nam
trước 1975.
Tóm lại, trong giai đoạn trước năm 1975 nội dung các sách giáo khoa
môn quốc văn của nền giáo dục miền Nam chú trọng đến những vấn đề đạo
đức truyền thống, hướng tới triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa:
Nhân bản -Dân tộc- Khai phóng.
__________________________________
Chú thích:
[1]- Trần Văn Chánh (2012) Những bài học thuộc lòng một thuở. Tạp
chí Tia Sáng-Tạp chí Nghiên Cứu và Phát Triển, số 6 (...
http://tiasang.com.vn/. ). Sau nầy ghi là Trần Văn Chánh
[2]- Hình ảnh xưa: Sách giáo khoa trước 1975. Việt Nam Cộng Hòa
(http://namrom64.blogspot.com.au/)
[3]- Nguyễn Thanh Liêm (2006). Giáo dục ở Nam Việt Nam. Từ đầu
thập niên1970 đến 1975. Giáo dục ở miền Nam tự do trước 1975. Lê Văn
Duyệt Foundation, CA (USA), trang 22-26.
[4]- (Nguyển Văn Bon (2009). Tiếp chuyển những nét đặc sắc trong
văn hóa Việt Nam sang thế hệ trẻ tại hải ngoại. Tập san 3, Nghiên Cứu Văn
Hóa Đồng Nai Cửu Long
[5]- Hà Mai Anh: Cậu Bé miền Nam, Tâm Hồn Cao thượng. Nhà xuất
bản: Mai Đình, trang 13. Sau nầy ghi là Hà Mai Anh.
[6]- Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc, Đổ
Thận...Trọng cái tính mệnh của người ta. Luân lý giao khoa thư. Lớp Sơ
Đẳng. Nhà xuất bản: Nha Học Chánh Đông Pháp, 1941, in lần thứ ba. Nhà
xuất bản: Quê Mẹ, Paris in lại (không ghi năm), trang 53. Sau nầy ghi
Quốc Văn Giáo Khoa Tư. Luân Lý-Sơ Đẳng
[7]- Quốc Văn Giáo Khoa Tư/Luân lý/Sơ Đẳng. Công bình và nhân ái,
trang 51
[8]- Quốc Văn Giáo Khoa Tư/Luân lý/Sơ Đẳng.Ta nên thương loài vật,
trang 71
[9]- Quốc Văn Giáo Khoa Tư/Luân lý/Sơ Đẳng.Nghĩa đồng bào, trang
65
[10]- Quốc Văn Giáo Khoa Tư/Luân lý/Sơ Đẳng Bố thí, trang 62
[11]- Quốc Văn Giáo Khoa Tư/Luân lý/Sơ Đẳng. Việc thiện, trang 64
[12]- Hà Mai Anh: Kẻ khó, trang 43.
[13]- Trần văn Chánh (2012)
[14]- Quốc Văn Giáo Khoa Tư/Luân lý /Sơ Đẳng. Trọng của người,
trang 54
[15]- Quốc Văn Giáo Khoa Tư/Luân lý/Sơ Đẳng. Sự nói xấu, trang 57.
[16]- Quốc Văn Giáo Khoa Tư/Luân lý/Sơ Đẳng Sự nói vu, trang 58
[17] - Quốc Văn Giáo Khoa Tư/Luân lý/Sơ Đẳng. Trọng danh giá
người, trang 55-56.
[18]- Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc, Đổ Thận
(1935). Người ta phải làm việc. Quốc Văn Giáo Khoa Thư. Lớp Dự Bị Nha
Học Chính Đông Pháp. In lần thứ mười. Nhà xuất bản: Quê Mẹ Paris
(Pháp), in lại năm 1983 trang 9. Sau nầy ghi Quốc Văn Giáo Khoa
Thư/Lớp Dự Bị
[19]- Quốc Văn Giáo Khoa Tư/Lớp Dự Bị, trang 27.
[20]- Trích tử bài thơ Anh Hùng Vô Danh của Nguyễn Ngọc Huy có
bút hiệu Đằng Phương và Việt Tâm, Xem phần phụ lục,
[21]- Hà Mai Anh: Lòng ái quốc, trang 70.
[22]- Có ý kiến cho rằng bài thơ Giờ Quốc Sử của Đoàn Văn Cừ được
trích từ bài thơ “Bản đồ nước Việt” của cùng tác giả để đưa vào sách giáo
khoa (?). Xem phần phụ lục
[23]- Trần Văn Chánh (2012).
_____________________________________
PHỤ LỤC
Anh Hùng vô danh
Họ là những anh hùng không tên tuổi
Sống âm thầm trong bóng tối mông mênh,
Không bao giờ được hưởng ánh quang vinh,
Nhưng can đảm và tận tình giúp nước.
Họ là kẻ tự nghìn muôn thuở trước
Đã phá rừng, xẻ núi, lấp đồng sâu
Và làm cho những đất cát hoang vu
Biến thành một dãy san hà gấm vóc
Họ là kẻ không nài hiểm hóc,
Không ngại xa, hăng hái vượt trùng sơn
Để âm thầm chuẩn bị giữa cô đơn
Cuộc Nam Tiến mở giang san lớn rộng.
Họ là kẻ khi quê hương chuyển động
Dưới gót giày của những kẻ xâm lăng,
Đã xông vào khói lửa, quyết liều thân
Để bảo vệ tự do cho Tổ Quốc,
Trong chiến đấu, không nài muôn khó nhọc,
Cười hiểm nguy, bất chấp nỗi gian nan,
Người thất cơ đành thịt nát xương tan
Nhưng kẻ sống lòng son không biến chuyển.
Và đến lúc nước nhà vui thoát hiểm,
Quyết khước từ lợi lộc với vinh hoa,
Họ buông gươm quay lại chốn quê nhà
Để sống lại cuộc đời trong bóng tối.
Họ là kẻ anh hùng không tên tuổi
Trong loan ly như giữa lúc thanh bình
Bền một lòng dũng cảm, chí hy sinh
Dâng đất nước cả cuộc đời trong sạch.
Tuy công nghiệp không ghi trong sử sách,
Tuy bảng vàng bia đá chẳng đề tên,
Tuy mồ hoang xiêu lạc dưới trời quên
Không ai đến khấn nguyền dâng lễ vật.
Nhưng máu họ đã len vào mach đất,
Thịt cùng xương trộn lẫn với non sông.
Và anh hồn cùng với tấm tinh trung
Đã hòa hợp làm linh hồn giống Việt.
Nguyễn Ngọc Huy
(Đằng Phương/Việt Tâm)
Bản đồ nước Việt
Tôi sẽ giữ suốt đời trong trí nhớ
Quãng ngày xanh học tập tại quê hương
Trong căn nhà nho nhỏ dưới cây bang
Có tấm biển đề “An thôn học hiệu”
Những buổi sáng vừng hồng le lói chiếu
Trên non sông, làng mạc, ruộng đồng quê
Chúng tôi ngồi yên lặng lắng tai nghe
Tiếng thầy giảng suốt trong giờ quốc sử
Thầy tôi bảo: “Các em nên nhớ rõ
Nước chúng ta là một nước vinh quang
Bao anh hùng thủa trước của giang san
Đã đổ máu vì lợi quyền dân tộc.
Các em phải đêm ngày chăm chỉ học
Để sau nầy nối được chí tiền nhân
Ta chắc rằng sau một cuộc xoay vần
Dân nước Việt lại là dân hùng liệt
Ta tin tưởng không bao giờ tiêu diệt
Giống anh hùng trên sông núi Việt Nam
Bên những trang lịch sử bốn nghìn năm
Đầy chiến thắng vinh quang, đầy máu thắm
Ta sẽ phải suốt đời đau uất hận
Nếu Việt Nam địa giới phải chia rời,
Dân Việt Nam huyết mạch rẽ đôi nơi
Người Nam, Bắc không cùng chung cội rễ
Ta nhất định không bao giờ chịu thế
Núi sông nào cũng của nước Việt Nam!”
Tiếng thầy tôi suốt buổi học vang vang
Trên án sách, bên những hàng cửa kính
Giờ tôi tưởng như đương ngồi dự thính
Thầy tôi đương hùng biện giữa thanh niên
Đương những vì quyền lợi giống Rồng Tiên
Thề giữ vững bản đồ non nước Việt.*
Đoàn Văn Cừ
Nguyễn Văn Bon,(UWS)
Table of Contents
Giáo dục miền Nam Việt Nam 1954-1975
Nhìn lại nền giáo dục miền Nam Việt Nam 1956-1975
Mấy cảm nhận về sự khác biệt giữa giáo dục miền Nam và giáo dục miền
Bắc
Chương trình giáo dục và sách giáo khoa thời Việt Nam Cộng Hòa
Đốt sách
Giáo dục Tiểu học và Trung học ở miền Nam Việt Nam 1954-1975
Tính nhân bản trong các bài học quốc văn bậc tiểu học của nền giáo dục
Miền Nam Việt Nam trước 1975