The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.

Một người Việt trầm lặng
Jean-Claude Pomonti

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2022-11-25 21:57:25

Một người Việt trầm lặng Jean-Claude Pomonti

Một người Việt trầm lặng
Jean-Claude Pomonti

Một người Việt trầm lặng: Cuộc đời, lý
tưởng của nhà tình báo Phạm Xuân Ẩn

Kỳ 1: Tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn và những câu
chuyện sau ngày chiến thắng

18/07/2018 18:44

0 Chia sẻ lên Facebook

Ông khước từ mọi quyền lợi mà ông có quyền được hưởng. Không
có xe ôtô, không có tài xế. Ông đi lại trong thành phố bằng chiếc
Honda mini chắp vá. Thành phố với tên cũ là Sài Gòn nay đầy ứ xe
hai bánh có hay không có động cơ chiếm lĩnh các vỉa hè.
Nhìn ra xung quanh, ông Ẩn đã nhận thấy nhiều thay đổi đang xuất hiện.
Vây phủ quanh chân dung của một nhà tình báo thường là những bí ẩn với
nhiều tình tiết thêu dệt ly kỳ, có màu sắc trinh thám. Phạm Xuân Ẩn - điệp
viên tài ba hoạt động trong lòng đô thị Sài Gòn dưới vỏ bọc là một ký giả
cho tờ Time suốt 20 năm không phải là ngoại lệ.
Tác phẩm Một người Việt trầm lặng (tên gốc tiếng Pháp: Un Vietnamien
bien tranquille) của Jean-Claude Pomonti không nhằm giải thiêng hay
góp thêm lời ca ngợi, mà để dẫn dắt người đọc đi vào những điểm nhấn

quan trọng của bối cảnh và tiểu sử để làm tỏ tường hơn hai phương diện:
nhân cách và sự nghiệp phi thường của Phạm Xuân Ẩn.

Xoay quanh bức chân dung và số phận Phạm Xuân Ẩn, cuốn sách cũng
nói về những kết thúc bi đát của một số điệp viên, đồng nghiệp của ông
thuộc cả hai phía lẫn những “điệp viên hai mang” như Trần Kim Tuyến,
Cao Giao, Nguyễn Đình Tú, Nguyễn Hưng Vượng… Những kết thúc
không có hậu gần như là mẫu số chung mà những điệp viên phải đón nhận.
Tuy nhiên, chi tiết cảm động nhất trong số những câu chuyện trên là dù
khác chiến tuyến nhưng khi cuộc chiến sắp kết thúc, Phạm Xuân Ẩn đã
mở đường thoát cho Trần Kim Tuyến - mật vụ của chính quyền Sài Gòn.
Rồi đến lượt gia đình Phạm Xuân Ẩn cũng ly tán một thời gian dài. Số
phận của Phạm Xuân Ẩn những ngày tháng sau năm 1975 cũng không ít
uẩn khúc…

Được sự cho phép của nhà phát hành First News Trí Việt, báo điện tử Một
Thế Giới xin chuyển tải nội dung cuốn sách Một người Việt trầm lặng của
tác giả Jean-Claude Pomonti từ bản dịch Việt ngữ của dịch giả Nguyễn
Văn Sự đến với bạn đọc. Tiêu đề của từng kỳ do Một Thế Giới đặt.

Kỳ 1: Nỗi trăn trở

Trong giai đoạn khủng hoảng tiếp sau chiến thắng quân sự năm 1975,
Phạm Xuân Ẩn ít có thời gian để thắc mắc. Vợ và bốn con còn đang ở Mỹ
mà ông không thể hay không muốn sang đoàn tụ? Mấy năm trước, một
trong những người bạn của ông ở miền Nam Việt Nam, tướng Nguyễn
Chánh Thi, sống lưu vong ở Hoa Kỳ từ 1966 sau một cuộc đảo chính quân
sự không thành, đã viết thư cho ông. Thi cho biết các con ông đang nhiễm
thói hư tật xấu tiêm nhiễm từ xã hội Mỹ. Ẩn quyết định để vợ con lựa
chọn hoặc ở lại Mỹ hoặc trở về Việt Nam. Năm sau, vợ ông và các con

trở về. Trong thời gian đó, Ẩn và bà mẹ đã rời khách sạn Continental để
về ở ngôi nhà do chính quyền cấp cho ông. Mẹ ông đã qua đời tại đây và
ông cũng ở luôn đó cho đến nay.

Ông Phạm Xuân
Ẩn (bìa phải) cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trong dịp nhận danh hiệu
Anh hùng năm 1976 - Ảnh: Tư liệu
“Vụ việc bác sĩ Trần Kim Tuyến” mà ông Ẩn đã kịp thời đưa lên chuyến
trực thăng cuối cùng của CIA xem ra đã được chôn vùi. Về vấn đề này
ông khẳng định không bị ai chê trách gì. Ông tỏ ra dứt khoát trong chuyện
này. Ông đã không kịp hỏi cấp trên của ông để được phép giúp Tuyến ra
đi. Ông nói: “Tôi nghĩ rằng việc này chẳng quan trọng mấy. Sau giải
phóng, cơ quan an ninh đã truy lùng Trần Kim Tuyến.
Có người đã nói Phạm Xuân Ẩn đã giúp ông ta đi thoát. Người Việt Nam
độ lượng và nhân đạo. Khi chúng tôi bị xâm lược, chúng tôi sẵn sàng chiến
đấu đến hơi thở cuối cùng. Nhưng chiến tranh kết thúc rồi, chúng tôi

không bao giờ nghĩ đến chuyện trả thù, không ai đề cập vấn đề đó”. Ông
Ẩn cảm thấy lương tâm thanh thản. Ông nói ông không thể bỏ mặc một
người đã giúp đỡ, che chở ông mặc dù người đó nguyên là trùm mật vụ
của chế độ Sài Gòn. Vậy chuyện kể trên đã được chứng thực.

Trong khi chờ đợi gia đình trở về, ông cảm thấy trơ trọi. Ông kể lại: “Cùng
với một phóng viên quay phim, tôi đi Hóc Môn, nơi các tướng lĩnh quân
đội Sài Gòn đang bị giam giữ. Sau đó họ được đưa ra Bắc. Phần lớn các
bạn của tôi đều đã di tản. Những người khác đang ở trại cải tạo”. Ngược
lại, ông gặp lại những người đồng chí trong cơ quan tình báo cộng sản đã
cùng làm việc với ông mười lăm năm qua mà phần lớn thời gian trước,
ông không thể giao tiếp trực tiếp với họ.

Tôi hỏi: “Trước đây anh có nghĩ rằng những ngày sau chiến thắng lại khó
khăn nhường ấy không?”. Ông đáp: “Tôi cũng đã chuẩn bị. Vì tôi biết
những gì những người cộng sản đã làm từ 1945 đến 1975. Tôi biết rằng
sẽ vất vả lắm nhưng tôi nghĩ có thể sống được. Tuy nhiên, vì quá biết
những điều gì đã xảy ra ở miền Bắc khi cải cách ruộng đất trong những
năm 1955 - 1956, tôi không mong sẽ tái diễn những sai lầm đó về mặt
kinh tế”.

Năm 1978, ông được triệu tập ra Hà Nội để học tập chỉnh huấn tại Học
viện Chính trị của quân đội. Ông nói dí dỏm: “Ở đó tôi đã học những thuật
ngữ cộng sản bằng tiếng Việt”. Ẩn đã sang tuổi năm mươi và đó là lần
đầu tiên ông theo học một lớp chính trị của Đảng. Ông kể chuyện vui vẻ:
“Một trong số các bạn của tôi nói tôi phải giữ ý tứ. Vì xấu hổ, tôi không
quen với việc giặt giũ quần áo cùng với các đồng chí của mình”. Cách ứng
xử đó đã được cho là “tiểu tư sản”. Người “Mỹ con” hay “con trai Mỹ”

đã được khuyên rũ bỏ những ảnh hưởng tiêu cực vì phải tiếp xúc với người
nước ngoài trong bấy nhiêu năm. Hoàn cảnh xung quanh lúc ấy là như thế.

Trước đó, ông chỉ đi Hà Nội có một lần. Thời gian ở lại thủ đô ngắn ngủi
để tham dự Đại hội IV của Đảng vào năm 1976 trong đó Đảng lấy lại tên
Đảng Cộng sản. Lần này, ông ở lại Hà Nội chín tháng để học chính trị.
Khi quân đội Việt Nam vào Campuchia, người ta đề nghị ông quay về
miền Nam. Ông thận trọng trả lời: Ông thích ở lại Hà Nội để dự xong lớp
chỉnh huấn. “Một cuộc chỉnh huấn nhẹ nhàng”, ông nói.

Bước ngoặt thật sự sau năm 1975 chỉ diễn ra mười năm sau đó. Vì lý do
chiến tranh đang diễn ra ở Campuchia và trên biên giới phía Bắc, nền kinh
tế đất nước đang ở trên bờ phá sản. Sản xuất tụt, lạm phát 480%. Chỗ dựa
duy nhất là Liên bang Xô Viết đang hết hơi. Năm 1985, Gorbachev lên
cầm quyền ở Moscow và muốn cải tổ để cứu vãn tình hình. Mùa hè năm
1986, tức là trước Đại hội VI, Đảng Cộng sản cử một đoàn đại biểu cấp
cao đến Moscow, do Trường Chinh dẫn đầu vì Tổng bí thư Lê Duẩn vừa
qua đời. Điều phái đoàn mong đợi ở Kremlin chỉ là một cú “sốc” không
kém việc Trung Quốc tấn công năm 1979.

Phạm Xuân Ẩn tóm tắt tình hình lúc đó: “Chúng tôi đã mồ côi mẹ nay lại
mồ côi luôn cả bố”. Gorbachev nói với phái đoàn: Moscow không còn tài
chính để chi viện cho cuộc can thiệp quân sự của Việt Nam ở Campuchia.
Liên Xô cũng đang giảm viện trợ kinh tế. Việt Nam phải nhanh chóng tự
xoay xở một mình. Cách duy nhất để đạt tới là: Hòa giải với Trung Quốc,
rút quân khỏi Campuchia, tiến hành cải cách kinh tế đồng thời mở cửa
Việt Nam thu hút đầu tư của phương Tây. Đảng Cộng sản Việt Nam bị
tréo giò. Sự thức tỉnh là tàn nhẫn.

Nhưng Trường Chinh phản ứng một cách điềm tĩnh. Con người đã bị mất
chức Tổng bí thư vì bị cho là chịu trách nhiệm về những biểu hiện sai lầm
quá đáng trong cải cách ruộng đất những năm 1955 - 1956 và nay được
phục hồi Tổng bí thư, dù chỉ ở chức vụ tạm quyền nhưng nó chứng tỏ ông
vừa dũng cảm vừa sáng suốt. Trong một bài tự phê bình được phát trên
đài vào giữa tháng Chín, Trường Chinh nói: “Đảng Cộng sản phải thay
đổi và đổi mới phải là nhiệm vụ cấp thiết để đưa vào nghị quyết của Đại
hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng được dự kiến tổ chức vào tháng Mười
hai”. Ông nói kinh tế thời chiến phải được thay bằng kinh tế thời bình.

Ông Phạm
Xuân Ẩn tại nhà riêng ở TP.HCM năm 2005 - Ảnh: AFP
Đổi mới là khẩu hiệu lúc này. Công cuộc chuẩn bị Đại hội bị đảo lộn.
Không thể có vấn đề lên án quyền lực tuyệt đối của Đảng, phải tìm ra
những biện pháp để Đảng tồn tại được. Việc thực hành chủ trương đổi
mới châm ngòi cho cuộc đấu tranh mạnh mẽ giữa các phe phái trong nội
bộ Đảng và đã đi đến một sự thỏa hiệp không thể tránh khỏi. Khẩu hiệu
Đổi mới ít nhất có lợi là trở lại khái niệm kinh tế thị trường và mở cửa
Việt Nam ra thế giới bên ngoài, 12 năm sau chiến thắng của Cộng sản.

Đất nước bắt đầu tái hòa nhập vào cộng đồng quốc tế. Lần đầu tiên đã
nhìn thấy ánh sáng cuối đường hầm.

Ẩn hãy còn hoài nghi. Năm 1979, ông gặp lại gia đình từ Mỹ trở về tại
TP.HCM. Ông sống đạm bạc, ngay cả khi đã được phong thiếu tướng.
Ông khước từ mọi quyền lợi mà ông có quyền được hưởng. Không có xe
ôtô, không có tài xế. Ông đi lại trong thành phố bằng chiếc Honda mini
chắp vá. Thành phố với tên cũ là Sài Gòn nay đầy ứ xe hai bánh có hay
không có động cơ chiếm lĩnh các vỉa hè. Nhìn ra xung quanh, ông Ẩn đã
nhận thấy nhiều thay đổi đang xuất hiện. Ngay cả quân nhân và cảnh sát
cũng lao vào kinh doanh.

Ông Ẩn thấy đất nước đang thay da đổi thịt, vừa ra khỏi trạng thái trì trệ
bảo thủ nay lại rơi vào cảnh hỗn độn. Sài Gòn phát triển, bất kể tiến như
thế nào. Nghiện ma túy ở thanh niên trở thành vấn nạn. Giáo dục công
cộng tan rã dần. Nhà của ông còn bị giám sát một thời gian nữa và hiếm
có người nước ngoài nào được phép đến gặp ông. Mọi thứ chỉ bớt căng
thẳng sau bước ngoặt của những năm 1990.

Tôi đã phải chờ đợi lâu mới được đến thăm ông, không phải tại nhà riêng
mà nhà một người bạn chung của hai chúng tôi là ông Ngô Công Đức,
cựu thủ lĩnh dũng cảm của phe đối lập trong Nghị viện chống lại Nguyễn
Văn Thiệu. Quê gốc ở Trà Vinh, thuộc miền đồng bằng sông Cửu Long,
Đức bị Tổng thống Thiệu căm ghét. Thấy sinh mạng bị đe dọa, ông buộc
phải trốn ra nước ngoài sống lưu vong từ năm 1971.

Ông Ẩn giải thích: “Nếu không đi ngay, ông ta có thể bị sát hại”. Ngô
Công Đức đã trốn được sang Campuchia rồi từ đó sang Thái Lan. Tôi nhớ
một hôm vào một buổi sáng trời đẹp, Đức bấm chuông nhà tôi ở Bangkok.
Ngay sau đó, ông bị chính quyền Sài Gòn kết án vắng mặt ba năm khổ sai.

Tại Sài Gòn, ông là chủ tờ báo Tin Sáng thuộc phe đối lập chống Thiệu.
Sau chiến thắng của Cộng sản, ông trở về Sài Gòn.

Năm 1989, trong một chuyến ghé qua Sài Gòn, người hướng dẫn chính
thức của tôi tỏ ý ngạc nhiên thấy tôi không nhân cơ hội này đến thăm ông
Ẩn và cho biết ông có nhiều nỗi trăn trở trong lòng. Tôi hiểu đó là cách
của người hướng dẫn mách bảo cho tôi “đèn xanh đã bật”. Tôi liền gọi
điện xin gặp ông nhưng không có hồi âm. Cuối cùng, tôi đã gặp được ông
tại nhà Ngô Công Đức liền kề một lò gốm ở Thủ Đức.

Mới thoáng nhìn, tôi đang lúng túng không biết xưng hô với ông thế nào
cho tiện, “ông - tôi” hay “mày - tao” như thuở nào còn cùng làm báo với
nhau ở Sài Gòn. Nhưng vấn đề đã được giải quyết nhanh chóng. Ông chủ
động xưng hô “ông - tôi” trước. Nhìn bề ngoài, ông Ẩn không có gì thay
đổi tuy gầy hơn, lưng đã hơi còng. Nhưng cách nói dí dỏm của “tướng
Givral” thì vẫn thế. Mặc dù như ông thổ lộ, “có nhiều nỗi trăn trở đang
ngổn ngang trong lòng”

Kỳ 2: Tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn về hưu, chấm
dứt hàng chục năm tự kiểm

Phạm Xuân Ẩn phải chấp nhận những quy định ngặt nghèo như:
Phải giữ bí mật về công việc, sự nghi ngờ của tổ chức, việc tham gia
chỉnh huấn - dù ông nói là “nhẹ nhàng”... nhưng ông đã vượt qua
hết thảy. Tổn thương nhưng ông không chán nản tuyệt vọng.
Truyền thống ở miền Nam hồi đó là mỗi khi gặp nhau thế nào cũng có
mấy món nhậu đơn giản, có rượu - thường là rượu vang đỏ Bungari, để
tẩy sạch dạ dày. Ông Ẩn không uống được rượu, ăn rất ít, nhưng ông vẫn
vui vẻ nhận lời cùng ngồi với chúng tôi. Cho đến nay, tập quán mỗi khi
tụ họp với nhau lại nhậu nhẹt vẫn thường lặp lại, ngay cả khi chúng tôi đi
với gia đình ra Nha Trang - một nơi nghỉ mát có bãi biển - cùng ở bên
nhau mấy ngày.
Mặc dù quan hệ với nhau thân tình như trong một gia đình, đối với ông,
tôi vẫn giữ cảm tưởng mình là một người học trò nhỏ đứng trước một giáo

sư tầm cỡ. Trí nhớ của ông còn rất tốt, chính xác đến mức có thể nghe ông
kể chuyện hàng giờ về người này, người khác trong thế xoay vần của lịch
sử.

Không khí chính trị lúc này đang trong tình thế hoang mang, lúng túng,
mất phương hướng. Gorbachev trở thành là kẻ đào mồ chôn Liên bang Xô
Viết. Các nhà văn có tài bắt đầu kể chuyện chiến tranh nhìn từ bên dưới
và những ngày “vỡ mộng” sau chiến thắng. Những người khác thì gợi lại
những vết thương nhức nhối của các sai lầm tai hại trong cuộc cải cách
ruộng đất ở miền Bắc trong những năm 1955 -1956.

Trong những năm 1990, Hà Nội là trung tâm của công cuộc đổi mới trong
văn học, nhưng phần lớn tác phẩm đều bị gạt ra rìa. Sự xuất hiện một lớp
nhà văn mới thường là những cựu chiến binh đã tham gia hai cuộc chiến
tranh, trong đó có cả đảng viên là một đòn chắc chắn mang tính quyết định
đánh vào nền văn học chính thống được nuôi dưỡng trong chủ nghĩa hiện
thực xã hội chủ nghĩa.

Đầu thế kỷ XXI, một thế hệ mới được khẳng định đã nói lên những mối
lo lắng, dằn vặt của lớp người trẻ tuổi. Năm 2005, hai phần ba dân số Việt
Nam chưa trải qua chiến tranh, trừ cuộc xung đột ở biên giới phía Bắc.

Ông Ẩn, ngậm ngùi nói: “Nỗi buồn quá khứ xuất phát từ những tâm trạng
thất vọng, những cảm giác “vỡ mộng”. Truyền thống được phát huy nhằm
gây cho lớp trẻ một niềm tự hào dân tộc trẻ. Đồng thời Đảng Cộng sản tự
biết mình đang thoát ly cơ sở, nay muốn lắng nghe quần chúng phát biểu.
Từ đó mới có cuộc vận động cải tiến chất lượng cán bộ. Trong thực tế, đó
là phục hồi quyền tư hữu - một giấc mơ trở thành hiện thực. Nhiều cuộc
cải cách khởi động từ năm 1986 đã bắt đầu phát huy hiệu quả.

“Chính là những người lãnh đạo đã thắng cuộc chiến tranh chứ không phải
nhân dân”. Đó là câu nói của nhà văn Nguyễn Quang Thiều. Nhà thơ
Nguyễn Duy cũng nhiều lần trình bày cách nhìn tương tự trong thơ.
Nguyễn Quang Thiều viết tiếp: “Những năm chiến tranh là một thời đại
anh hùng, không có đất cho chủ nghĩa cá nhân nảy nở. Đảng viên bao giờ
cũng là người tốt. Cha tôi bảo: “Nếu con không muốn trở thành đảng viên,
người tốt, thì con là người xấu”. Ngày nay thời thế đã thay đổi. Người ta
có thể nói về thân phận cá nhân. Văn học được lưu thông”. Nước Việt
Nam đang quen dần với cuộc sống trong hòa bình.

- Ông nghĩ gì về những thay đổi này? - tôi hỏi ông Ẩn.

Với giọng hài hước, ông đáp: “Có đủ loại tư bản, tư bản đỏ, tư bản xanh...
Sài Gòn đã trở thành động lực của một cuộc chiến mới, sự tăng trưởng
kinh tế”.

- Người ta định làm như người Trung Quốc, nghĩa là tiếp nhận cả những
nhà tư bản vào hàng ngũ Đảng. Bằng cách cho phép doanh nhân kết hợp
với nhà nông và nhà trí thức, người ta biện bạch cho chủ nghĩa tư bản đỏ
- ông nói tiếp.

Khi nghĩ đến những kiến nghị nối đuôi nhau trên bàn làm việc trong khuôn
khổ chuẩn bị cho Đại hội X của Đảng Cộng sản đã thông báo là sẽ họp
vào tháng 5 hay tháng 6.2006. Một mặt, Đảng Cộng sản đang tìm một
bước đi đột phá, vì phải tính đến quan hệ với Mỹ và châu Âu, hoặc gia
nhập Tổ chức thương mại thế giới (OCM, theo tiếng Pháp). Mặt khác, nền
tảng của “chủ nghĩa tư bản đỏ” là ruộng đất - mà “người ta đã sẵn sàng
cho nó, nhân danh nhân dân” và những người miền Nam có ruộng đất bị
tịch thu năm 1975 để phân phối lại cho những đối tượng có công với Đảng.
Tất cả những cái đó đối với ông Ẩn không có gì đúng đắn hay lành mạnh.

Ông Phạm Xuân Ẩn tại nhà riêng - Ảnh tư liệu

Nước Việt Nam đang lột xác lần nữa. Mặc dù xuất phát điểm rất lạc hậu,
kinh tế Việt Nam có tốc độ tăng trưởng vào loại cao nhất ở châu Á, chỉ
đứng sau Trung Quốc. Nhất là Việt Nam có tiềm năng đặc biệt về nhân
lực. Dân số Việt Nam, năm 1975, mới khoảng năm mươi triệu người, ba
mươi năm sau, đã lên tới tám mươi hai triệu người. Gần ba chục nghìn
thanh niên trong đó có nhiều con cháu gia đình cộng sản đang học tập tại
các trường đại học tốt nhất của phương Tây. Đất nước đã hội nhập thành
công với cộng đồng quốc tế.

Ông Ẩn nói tiếp:

- Thời Sài Gòn trước giải phóng, chính trị phức tạp lắm: Có nhiều phe
cánh, đảng phái, nhiều âm mưu, thủ đoạn, nhưng bây giờ tôi tin là tình
hình còn phức tạp hơn nhiều.

Ông chỉ tin các số liệu thống kê có một nửa.

- Bao nhiêu vấn đề dồn dập xô đẩy nhau - ông nói tiếp, không giấu vẻ hoài
nghi. - Nạn tham nhũng kìm hãm phát triển đến mức nào? Làm sao tạo ra
được sức đối trọng để giảm bớt chủ nghĩa đơn nguyên chính trị đang gặm
mòn chế độ. Tình hình Việt Nam đã đủ chín muồi để đổi mới chưa?

- Hai mươi năm đổi mới về kinh tế kèm theo những điều chỉnh về ngoại
giao đang mở ra cuộc thảo luận về đổi mới chính trị, ông nghĩ thế nào về
điều này?

Ông đáp:

- Làm sao được? Cuộc vận động mở rộng dân chủ trong nội bộ Đảng vấp
phải những áp lực mạnh mẽ có lợi cho thỏa hiệp để giữ thể diện. Nếu anh
đẩy cải cách chính trị lên quá nhanh, anh sẽ gây ra mất ổn định chính trị
trong Đảng. Vấn đề chính là chống tham nhũng, nếu anh đẩy đi quá xa
trong việc dập tắt tệ nạn tham nhũng thì sẽ có nguy cơ mất ổn định cho
chế độ. Đối với những nhà cách mạng lão thành, điều quan trọng là phải
giữ được ổn định cho chế độ đồng thời vẫn phải tiến lên về kinh tế. Đó là
câu trả lời của ông Ẩn. Giới hạn cho phép thật khá mỏng manh.

Phạm Xuân Ẩn đã được Nhà nước và quân đội tặng thưởng nhiều huân
chương cao quý, nhưng đồng thời ông cũng phải chấp nhận những quy
định ngặt nghèo của chế độ như: Phải giữ bí mật về công việc đã thực
hiện, sự nghi ngờ của tổ chức, sự giám sát chặt chẽ, việc tham gia chỉnh
huấn - dù ông nói là “nhẹ nhàng”, “phải sống cách ly, biệt lập, cô đơn”.
Nhưng ông đã vượt qua hết thảy, tổn thương nhưng không chán nản tuyệt
vọng.

Tôi có cảm tưởng ông quay về với lý do đầu tiên và duy nhất của sự dấn
thân của ông. Đó là chủ nghĩa dân tộc, nói khác đi là chủ nghĩa yêu nước.

Ông đã thách thức cả chính quyền Hoa Kỳ, đã chấp nhận những rủi ro kỳ
lạ, chấp nhận những hy sinh lớn lao. Ông tỏ rõ là chiến lược gia hàng đầu,
là một trong những nhà tình báo vĩ đại một thời. Ngày nay, ông thấy như
sống lại những ngày đẹp đẽ của năm 1945, năm ông đã chọn con đường
phục vụ sự nghiệp dân tộc. Đinh Quang Lê, một nghệ sĩ cộng đồng người
Việt ở nước ngoài mới đây khi bàn về xã hội Việt Nam đã nêu lên nét nổi
trội ở Đông Nam Á là một sự thôi thúc luôn luôn phải tự hoàn thiện chính
mình để làm một điều gì đó cho cuộc sống. Phạm Xuân Ẩn cũng cần một
tia hy vọng mang lại ý nghĩa cho tất cả những việc mình đã cống hiến cho
đất nước.

Lần thứ tư và có lẽ cũng là lần cuối cùng, tháng 3.2002, ông đi Hà Nội
theo giấy triệu tập để ký các giấy tờ về hưu. Hai mươi bảy năm sau chiến
thắng, ở tuổi bảy nhăm ông mới chính thức nghỉ việc. Chỉ có một sự thay
đổi trong thực tiễn: từ nay, ông miễn không phải dự những buổi họp hàng
tuần để tự kiểm điểm. Trong suy nghĩ của ông, mọi việc đến đây đã kết
thúc. Nhưng khi trả lời câu hỏi của một nhà báo: “Tại sao chỉ đóng vai trò
‘người quan sát bình thường’ mà lại được thưởng huân chương?”, ông
đáp: “Vì tôi xứng đáng được như vậy”.

Mong cuối đời, người ta trả lại cho ông những gì còn nợ của ông.

Kỳ 3: Tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn và những câu
chuyện với Đại tướng Giáp

Một thời gian dài thử thách trong cuộc đấu tranh giành độc
lập đã kết thúc, Phạm Xuân Ẩn không mấy ham thích
những cuộc tọa đàm, hội thảo về chiến tranh hay những
cuộc họp cựu chiến binh. Ông chỉ mặc quân phục khi thấy
không thể làm khác.

Hàng chục con người được lựa chọn trong lưới thay nhau liên lạc
với Phạm Xuân Ẩn không quản nguy hiểm đến tính mạng. Họ có nhiệm
vụ truyền đạt cho ông những yêu cầu của Hà Nội, đồng thời nhận tài liệu,
phim ảnh, nhận xét mà ông đã chuẩn bị để chuyển về Trung tâm. Khi thấy
có dấu hiệu bị lộ, ông không nhận và lập tức báo cho Hà Nội. Cao nhất ở
đầu dây là Bộ Chính trị và người chủ chốt nhận báo cáo và truyền lệnh,
người cuối cùng của đường dây là tướng Giáp. Có lần, nhận được báo
cáo tình báo cực kỳ chính xác về phương thức và hình thái tác chiến của

địch đến mức ông phải reo lên sung sướng “như đang ở ngay trong Phòng
Điều hành Tác chiến của Mỹ”. Ông không thể biết người cung cấp tài liệu
là ai. Vì lý do an ninh nên không ai đặt vấn đề tìm hiểu.

Về phần mình, ông Ẩn không chút do dự hết lời ca ngợi vị tổng tư lệnh
của mình. Một hôm, ông nói với tôi: “Cuộc tiến công năm 1975 cũng như
trận vây hãm Điện Biên Phủ là sự nghiệp của tướng Giáp”. Ông còn nói
thêm: “Về trận tiến công cuối cùng của cuộc chiến, từ việc đề ra chủ
trương đến việc thực hiện hoàn toàn thuộc trách nhiệm của tướng Giáp”.

Chính ông Ẩn đã lưu ý Hà Nội từ năm 1963 về sự phá sản của “Chiến
tranh đặc biệt” của Mỹ tiến hành ở miền Nam và năm sau, ông đã tiên
đoán khả năng Mỹ đưa quân viễn chinh vào tham chiến. Chính ông, năm
1968 đã đề xướng có kết quả việc ngừng bắn rốc-két (vào Sài Gòn), ba
tháng sau cuộc tiến công Tết. Trong lúc đó, ông làm cho Hà Nội hiểu ra
tác dụng tích cực của các cuộc tiến công vào các thành phố, thị trấn miền
Nam là đã tác động sâu sắc đến tâm lý người dân Mỹ thúc đẩy họ quay
sang chống chiến tranh. Cuối cùng, đầu năm 1975, ông đã có vai trò quyết
định khi đánh giá rằng Mỹ sẽ không can thiệp ủng hộ Sài Gòn khi Cộng
sản mở cuộc tổng tiến công cuối cùng để kết thúc cuộc chiến.

Những cựu cán bộ tình báo (từ trái sang): Vũ Chính, Phạm Xuân Ẩn, Trần
Quốc Hương (Mười Hương), Trần Hiệu, Lê Hữu Thúy, Đặng Trần Đức
(Ba Quốc) - Ảnh tư liệu

Đầu năm 2004, sắp đến ngày kỷ niệm 50 năm tập đoàn cứ điểm Pháp thất
thủ tại Điện Biên Phủ, ngày 7.5.1954, tôi thấy đây là dịp thích hợp để gặp
lại cựu chiến binh đã tham gia trận đánh lịch sử mà giới sử học chính thức
trong nước coi là chiến thắng đi vào truyền thuyết của một dân tộc bảo vệ
đất nước chống ngoại xâm. Do bị cấm lưu trú, tôi phải rời Nam Việt Nam
cuối năm 1974, tức là mấy tháng trước đại thắng mùa xuân 1975 của Cộng
sản.

Sau cuộc cách mạng “Hoa cẩm chướng” ở Bồ Đào Nha, một làn sóng phi
thực dân hóa thứ hai lại sôi sục dâng lên ở châu Phi. Báo Le Monde đề
nghị tôi mở văn phòng báo ở Nairobi và tôi đã nhận lời. Trừ một cuộc

dừng chân ngắn ở miền Nam vào năm 1983, khi đó tôi không gặp được
ai, tôi chỉ có thể trở lại vào năm 1987 và tôi đã có dịp khám phá miền Bắc
Việt Nam mà trước đây không hề biết. Vào thời điểm này, thủ đô Hà Nội
là một thành phố cổ kính, hiển nhiên vẫn còn duyên, người dân chen chúc
trong các nhà chật hẹp hay lặng lẽ đi lại ngoài phố bằng xe đạp… Trong
những năm sau, thành phố này náo nhiệt và dần dần tươi vui hơn.

Tháng 2.2004, đồng bằng sông Hồng vừa trải qua đợt rét hại, ẩm ướt.
Trước đây, người Pháp dùng củi đốt sưởi, nay các lò sưởi trong các nhà
cũ đã trở nên hiếm hoi và cách duy nhất để chống rét là các máy điều hòa
hai chiều, chỉ các khách sạn và nhà giàu mới có.

Từ lâu, tôi vẫn ước mơ được phỏng vấn tướng Giáp về việc ông từng làm
giáo viên dạy lịch sử, khi mới bước chân vào nghề dạy học. Nhưng tên
tuổi của ông dường như đã ngủ yên trong các cuốn sách lịch sử và người
ta chỉ nhìn thấy ông vào các dịp lễ lớn. Trong các kỳ Đại hội, ông không
còn ngồi trong Đoàn chủ tịch mà ở hàng đầu trong phòng họp như một
bức tượng thánh sinh động trong bộ quân phục đại tướng.

Một năm sau chiến thắng 1975, ông không còn ở cương vị Tổng tư lệnh.
Bốn năm sau, ông cũng rút khỏi chức vụ Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Tại
Đại hội lần thứ V Đảng Cộng sản năm 1982, ông rút khỏi Bộ Chính trị và
không còn là ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Sáu tháng sau, ông thôi
giữ chức Phó thủ tướng – vốn là chức vụ chính thức cuối cùng của ông.

Lần đầu tiên tôi gặp ông là năm 1994, một cuộc gặp không chính thức tại
một phòng khách nhỏ của Hội nhà báo, có thêm ông Đào Tùng, Giám đốc
Thông tấn xã Việt Nam, cơ quan thông tấn chính thức của Việt Nam, cùng
dự. Tướng Giáp nói về những chuyện thường tình của chiến tranh, những
sai lầm đã mắc phải trong mười năm sau thắng lợi 1975: “Đáng lẽ chúng

tôi không bao giờ nên xóa bỏ kinh tế thị trường. Việc đó không tốn kém
gì”, tướng Giáp nói.
Sáu năm sau, nhân kỷ niệm 25 năm giải phóng Sài Gòn, tôi gặp lại ông,
cùng với một nhóm nhà báo. Ông đã đọc lời phát biểu, nhắc lại “thời điểm
hạnh phúc nhất trong một đời chiến đấu là khi từ mặt trận báo về tướng
Dương Văn Minh đã ra lệnh cho quân đội của ông ngừng bắn để tránh cho
Sài Gòn một cuộc tắm máu”. “Chúng ta đã tự do không có kẻ thù Pháp,
Mỹ, Nhật”, “30 tháng Tư là ngày thắng lợi hoàn toàn của một nước thuộc
địa chống chủ nghĩa đế quốc, một thắng lợi thần kỳ”.

Ông Phạm Ẩn và bà Thu
Nhàn - Nguồn: Tư liệu của gia đình Phạm Xuân Ẩn
Ngày hôm đó, 30.4.2000, trong phòng khách của một công thự dành cho
việc tiếp các vị khách quý, tướng Giáp thấy dậy lên trong lòng mình những
cảm xúc của một nhà sử học. Ông nói tiếp: “Trong nghìn năm Bắc thuộc,
chúng ta đã không bị đồng hóa và đầu thế kỷ X, chúng ta đã giành lại độc
lập để rồi trong một nghìn năm tiếp theo chúng ta đã chiến đấu và chiến
thắng. Bài học của chương sử cuối cùng - những cuộc chiến tranh của thế
kỷ XX - cũng như vậy. Đánh bại B.52, đó là thắng lợi của trí tuệ Việt Nam
chống lại tiền bạc và công nghệ Mỹ. Rút cục nhân tố con người là trên hết,

phải hiểu con người, hiểu lịch sử và văn hóa của họ - đó là một bài học về
nguyên nhân thất bại của Mỹ”.

Nghe xong lời phát biểu của tướng Giáp trong buổi gặp với các nhà báo
hôm đó, tôi còn chưa hết thèm được nghe ông nói nữa. Nhưng đến tháng
2.2004, cuộc trò chuyện với tướng Giáp mang tính riêng tư hơn. Hai chúng
tôi, nhà nhiếp ảnh Nicolas Cernet và tôi, được phép đến ngôi biệt thự tiện
nghi nhưng tương đối giản dị, được cấp cho ông từ năm 1955 trong khu
nhà ở tại Hà Nội.

Theo lệ thường, tướng Giáp thường tiếp các vị khách trong phòng khách
nhỏ, trên tường treo những cờ đuôi nheo, hay cờ có tua vàng đánh dấu
những chiến tích, và bên cạnh một căn phòng nhỏ - nơi làm việc của các
thư ký. Tuy nhiên hôm đó, thư ký riêng của tướng Giáp đồng ý để buổi
tiếp chuyện diễn ra thân tình hơn trong phòng khách riêng của Đại tướng,
có những tủ sách xếp đầy sách. Tướng Giáp trong bộ quân phục xuất hiện,
bước chân không được vững vàng lắm, dáng mảnh khảnh. Ông đã ở tuổi
93, nhưng mỗi khi ngồi vững trên tràng kỷ, ông luôn nhìn thẳng vào văn
bản, trí nhớ còn rất tốt. Thỉnh thoảng ông dừng lại tìm một từ chính xác
bằng tiếng Pháp là thứ tiếng ông nói thạo nhưng ít có dịp thực hành.

Trước chiến tranh thế giới thứ hai, ông đã dạy lịch sử tại Hà Nội ở trường
trung học Thăng Long, lò đào tạo các chiến sĩ chống thực dân. Học trò
của ông đặt cho ông biệt danh là “Tướng” hay “Napoléon”. Nếu tướng
Giáp học tập được ở các nhà chiến lược Việt Nam suốt chiều dài lịch sử,
đã quật những đòn thất bại nặng nề cho bọn xâm lược Trung Quốc thì ông
cũng nghiên cứu những chi tiết trong các chiến dịch của Napoléon. Tại
sao? Ông tự đặt câu hỏi và sau khi dừng lại một lát, ông reo lên:

- Việc Napoléon từ đảo Elbe trở về, thật là tuyệt vời!

Trong lúc chúng tôi chờ đợi để nghe ông bình luận về tài cầm quân của
Napoléon thì đột nhiên ông lại nhắc tới việc vua Louis XVIII cử quân đi
chặn đường, ngờ đâu quân lính đã nhất tề chạy sang phía Napoléon.
Tướng Giáp nói ngay, không chút ngập ngừng: “Đó là do uy tín cá nhân
của Napoléon”. Thoáng nghĩ về quan hệ của tướng Giáp với cán bộ và
chiến sĩ, người ta thấy rõ quan điểm của ông: chỉ huy là người gây được
uy tín tuyệt đối với ba quân!

Ông cao hứng kể tiếp, khi nghe thấy tướng Navarre, Tổng Chỉ huy Quân
đội Viễn chinh Pháp huênh hoang khẳng định trên đài phát thanh là “cuộc
tấn công của Việt Minh đang lắng xuống” thì ông ra lệnh mở cuộc tấn
công vào Điện Biên Phủ mà trước đó ông đã hoãn lại nhiều tuần lễ: “Khi
chúng tôi nổ súng tấn công ngày 13.3, tướng Navarre hoàn toàn bất ngờ”.
‘Bất ngờ’ là yếu tố then chốt trong chiến thuật của Napoléon Bonaparte”.

“Trong chiến dịch tấn công Italia, Bonaparte nói: nơi nào một con dê cái
đi lọt thì con người cũng có thể qua được, nơi nào một người đi lọt, thì
một tiểu đoàn cũng qua được” - tướng Giáp nhắc lại với vẻ khâm phục rõ
rệt. Trong vùng núi Việt Nam, nơi nào một dân công luồn qua được thì
một nghìn dân công cũng có thể làm được như thế. Nơi nào một chiếc xe
đạp đi lọt, thì đại bác cũng chuyên chở qua được! Vị tướng lĩnh Việt Nam
liên tưởng đến hai chục ngàn dân công thồ xe đạp hay dân công mang vác
những khẩu pháo tháo rời lên trận địa nhìn thẳng xuống lòng chảo Điện
Biên Phủ. Ông mỉm cười. Bằng nỗ lực phi thường và khéo léo tuyệt vời,
súng ống và các khí tài đã được đưa đến vị trí cao hơn tập đoàn cứ điểm
Pháp.

Ông yêu cầu tôi đưa một tờ giấy và cây viết. Với một nét bút quả quyết
và chính xác, ông vẽ bản đồ Việt Nam với bờ biển hình chữ S. Ông đánh

dấu vùng biển Đà Nẵng ở miền Trung Việt Nam mà ông gọi là Tourane,
cái tên do người Pháp đặt trước đây. Tháng 4.1975, trong cuộc tiến công
cuối cùng vùng biển - khu liên hiệp cảng biển - sân bay Đà Nẵng đã bị các
sư đoàn Bắc Việt vây chặt.

Tướng Giáp kể tiếp: “Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh cho tư lệnh vùng này là
tướng Ngô Quang Trưởng phải tử thủ. Tôi bèn ra lệnh cho sư đoàn 312
tiến công Đà Nẵng. Sư đoàn trưởng trả lời: ‘Kẻ địch còn khá mạnh, đồng
chí cho tôi bảy ngày’. Tôi nói: ‘Tôi dự kiến Ngô Quang Trưởng sẽ rút
chạy bằng đường biển, nó cần bao nhiêu thời gian?’. ‘Ít nhất ba ngày’ - sư
đoàn trưởng 312 trả lời. ‘Vậy tôi cho đồng chí ba ngày để lấy Đà Nẵng’.
Lệnh được truyền cho quân đội phải di chuyển ban ngày dọc theo Quốc
lộ 1. Các anh sẽ bị pháo binh hải quân địch bắn phá nhưng điều đó không
quan trọng”.

Thế là bộ đội di chuyển ngày đêm. Tướng Trưởng, một trong những sĩ
quan sừng sỏ của quân đội Sài Gòn rút chạy bằng đường biển. Đà Nẵng
bị đánh tan. Tướng Giáp nói thêm: “Chúng tôi có sẵn nhiều sư đoàn bổ
sung để mở cuộc tiến công cuối cùng vào Sài Gòn. Tôi ra lệnh ngắn gọn:
Tiến về Sài Gòn”.

Táo bạo, bất ngờ, tập trung tối đa binh lực, tài tổ chức hậu cần theo hình
ảnh Bonaparte, tướng Giáp không hề quên bất cứ điều gì.

Nghe ông nói, tôi không khỏi nghĩ về một con người, vị tướng tài danh
của thế kỷ XX sao có thể sống lâu được như thế. Năm 1940, sau khi lên
đường đi gặp Hồ Chí Minh tại Trung Quốc, người vợ thứ nhất của ông,
một chiến sĩ cách mạng, đồng chí của ông, đã bị mật thám Pháp bắt và tra
tấn tàn bạo. Bà đã phải tự sát để chấm dứt nỗi đau đớn và không phải cung
khai. Mãi nhiều năm sau, Võ Nguyên Giáp mới nhận được tin báo này.

Bản thân ông cũng đã bị bỏ tù từ năm 1930 đến 1932, tức là trước khi ông
gia nhập Đảng Cộng sản bí mật vào năm 1937.

Không khí trong phòng khách vừa dịu dàng vừa lịch sự. Dĩ nhiên, lời lẽ
của ông được ghi âm và quay phim. Thay vì nói đế quốc Pháp như cách
nói trong các bài diễn văn chính thức, tướng Giáp cáo lỗi dùng từ trung
lập hơn: “kẻ địch”. Một người giúp việc trao cho tôi một bức ảnh của ông
chụp với bà vợ thứ hai, dạy tiếng Pháp ở trường đại học. Cuối buổi tiếp
chuyện, bà mới bước ra gặp chúng tôi và nói: “Tôi đọc báo Le Monde và
tò mò muốn biết các ông suy nghĩ kiểu gì?”.

Khi tôi xin lỗi vì đã giữ ông nhà (mà giữa bạn bè với nhau chúng tôi gọi
là Bác Đại tướng) quá lâu, bà trả lời: “Điều đó lại làm ông ấy vui thích
đấy!”. Bà nói tiếp để chúng tôi yên lòng: “Tôi sẽ để ông nằm nghỉ ngơi
trong một tiếng”. Khi tôi thuật lại câu ngạn ngữ Việt Nam: “Nhà báo nói
láo ăn tiền”, ông đáp giọng hiền hòa: “Ở nước chúng tôi thì đúng như thế
nhưng ở nước ông thì chắc là không”.

Phải chăng tôi đang ở cách Sài Gòn một nghìn dặm đường (1 dặm = 1,609
km) nên cảm thấy không khí Hà Nội không thích hợp với những cuộc trò
chuyện tâm sự. Tình hình tuy có giảm đi chút ít nhưng trừ phi có ngoại lệ,
còn không người Hà Nội khi tiếp khách nước ngoài phải có quan chức
cùng tiếp. Người Hà Nội thích nói bóng gió ngay cả khi họ biết rõ người
đối thoại với họ. Thật trái ngược hẳn với người miền Nam, nói thẳng hơn,
hay thay đổi tính khí đột ngột, pha lẫn tính dễ động lòng và khoan dung.

Khi tôi yêu cầu được gặp những nạn nhân của dịch cúm gia cầm trong
một làng đồng bằng sông Hồng, Bộ Ngoại giao trước tiên cử người dẫn
tôi đến tỉnh lỵ và được Ủy ban nhân dân tỉnh tiếp, rồi Ủy ban này lại cho
người đưa tôi đến gặp Hội cựu chiến binh tỉnh phụ trách vấn đề này. Lại

chào hỏi, giới thiệu chủ khách, giải thích mục đích đến thăm, uống trà,
thêm một thuyết trình ngắn. Khi chúng tôi cùng đi với cán bộ Hội cựu
chiến binh đến một làng đang có dịch cúm gia cầm, đoàn xe chúng tôi ba
chiếc vừa đỗ ở sân Ủy ban xã thì ông chủ tịch đã đợi sẵn để đón chúng tôi.

Trở lại miền Nam, quan hệ giữa tướng Giáp và Phạm Xuân Ẩn ra sao?

Phạm Xuân Ẩn kể lại: “Trong chiến thắng 1975, tướng Giáp không thể
biết ai là người đã gửi báo cáo tình báo cho ông. Ngay cả tướng Trần Văn
Trà chỉ huy vây hãm Sài Gòn cũng không biết tên tôi. Tướng Giáp biết
được những tin tức và phân tích do một người vô danh từ tít mãi đầu dây
chuyển tiếp qua nhiều tầng, nhiều nấc, bằng bất cứ giá nào những tài liệu
tin tức đã được mã hóa rồi sau đó là giải mã để báo cáo Bộ thống soái tối
cao. Trong khi chiến tranh đang tiếp diễn thì nguyên tắc vô danh là không
thể bị vi phạm”.

Ông Ẩn nói tiếp:

- Tướng Giáp không bao giờ hỏi ai đã gửi báo cáo tình báo mà Hà Nội
đang khao khát. Nhiều năm trước đó, người ta cho tôi biết Hồ Chí Minh
đã đòi được trực tiếp đọc những báo cáo do điệp viên gửi ra. Ông Cụ nói
rằng tôi không cóp nhặt của người khác, tôi báo cáo thành thật và đã phát
hiện ra người điệp viên ấy mà không hỏi đó là ai. Có lẽ ông Cụ chỉ biết
mật danh của điệp viên là X.6, điều này cũng không chắc.

Thái độ dè dặt của Ẩn đối với cuộc tổng tiến công Mậu Thân – 1968, đặc
biệt là đề nghị không bắn rốc-két vào nội thành Sài Gòn tháng 5.1968,
liên quan đến những quyết sách mà chắc rằng tướng Giáp không phải là
người chủ động đưa ra.

Một thời gian dài thử thách trong cuộc đấu tranh giành độc lập đã kết thúc,
Phạm Xuân Ẩn không mấy ham thích những cuộc tọa đàm, hội thảo về
chiến tranh hay những cuộc họp cựu chiến binh. Ông chỉ mặc quân phục
khi thấy không thể làm khác. Từ năm 1975, ông chỉ ra Hà Nội bốn lần vì
không có sự lựa chọn nào khác. Ông vẫn đam mê nghiên cứu chiến lược
nhưng ông không đi theo phe phái nào trong Đảng. Ông cho tôi biết sau
năm 1975, ông chỉ gặp Lê Đức Thọ có hai lần. Ông Thọ đã chủ trì lễ kết
nạp ông vào Đảng đầu những năm 1950. Ông Ẩn không có tâm tính của
một cựu chiến binh.

Tôi có cảm tưởng - tự cho việc đó có vẻ kỳ lạ - hai người không thực sự
tìm cách gặp lại nhau để trao đổi cùng nhau những cảm tưởng. Lịch sử đã
sang trang, có lẽ họ không có chuyện gì quan trọng để nói với nhau chăng?
Không thể loại trừ tính tình họ không hợp nhau chăng? Sau năm 1975,
những người cộng sản gốc miền Nam vội vã trở về miền Nam sinh sống
khi tìm được lý do đầu tiên.

Ngày 30.4.2005, đằng sau cặp kính to và đen, đầu đội mũ cứng rộng vành
trông không rõ mặt, tướng Giáp đứng trên lễ đài chứng kiến diễu binh
chiến thắng lần thứ 30. Cuộc diễu binh ít mang tính chiến tranh vì lãnh
đạo cộng sản chủ trương kỷ niệm một chiến thắng nhưng vẫn hướng về
một tương lai hòa bình. Người ta không biết vị tướng già luôn sáng ngời
hào quang chiến thắng ấy nghĩ gì. Nhưng nhìn ông, tôi không thể không
nghĩ về ông Ẩn... Hôm đó, kỷ niệm ba mươi năm ngày toàn thắng, không
được khỏe, ông Ẩn nằm bẹp ở nhà...

Kỳ 4: Phạm Xuân Ẩn tiếp xúc với thế giới bên ngoài
như thế nào sau năm 1975?

Chỉ đến những năm 1990 khi Việt Nam ngày càng mở cửa
với thế giới bên ngoài, tầm vóc thật sự của nhân vật mới
được tiết lộ. Bức màn bí mật cũng chỉ hé mở dần dần vì
nhiều lý do: việc giáo dục giữ bí mật do hoàn cảnh kháng
chiến lâu dài cùng những quy định nghiêm ngặt của ngành
tình báo.

Và cuối cùng, do bản tính kín đáo, khiêm nhường, thầm lặng của đương
sự.

Năm 1976, do tên thật của Phạm Xuân Ẩn chưa được đưa ra công khai,
trong bản tuyên dương chỉ đưa tên thời chiến của ông là Trần Văn Trung,
tức Hai Trung. Một sai sót nhỏ (hay có dụng ý giữ bí mật tung tích người
chiến sĩ tình báo) nay nhớ lại người ta không khỏi cười thầm là ngay cả
khi đưa ra công khai tên thời chiến của ông trên mặt báo, người ta lại đưa
là Nguyễn Văn Trung chứ không phải là Trần Văn Trung. Sau này, ông
kể lại: “Vì tôi khai rõ nơi sinh của tôi là ở Biên Hòa nên các cấp chính
quyền ở đó đã mất nhiều công tìm xem anh hùng của họ ở địa phương là
ai, nhưng không thấy!”.

Ở nước ngoài, người ta không để ý gì đến chi tiết này. Chắc hẳn vì báo
chí phương Tây hãy còn chưa được phép đưa tin này. Cũng không ai biết
được tung tích của ông khi đăng ảnh Trần Văn Trung mặc quân phục, ra
Hà Nội dự Đại hội IV Đảng Cộng sản Việt Nam - Đại hội này thông qua
việc thống nhất đất nước và đổi tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam. Ông Ẩn giải thích: Ai tiết lộ tên thật của ông có thể coi là vi
phạm nguyên tắc giữ bí mật trong ngành tình báo. Mọi thứ còn phải đợi
thêm hai năm nữa.



Hình ảnh quen thuộc của vị tướng tình báo sau khi về hưu - Ảnh tư liệu

Chỉ đến những năm 1990 khi Việt Nam ngày càng mở cửa với thế giới
bên ngoài, tầm vóc thật sự của nhân vật mới được tiết lộ. Bức màn bí mật
cũng chỉ hé mở dần dần vì nhiều lý do: nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa
bước đầu ra khỏi vỏ ốc của mình, việc giáo dục giữ bí mật do hoàn cảnh
kháng chiến lâu dài cùng những quy định nghiêm ngặt của ngành tình báo
và cuối cùng, do bản tính kín đáo, khiêm nhường, thầm lặng của đương
sự.

Phạm Xuân Ẩn là người không bao giờ tự bộc lộ bản thân, không thích ba
hoa kể chuyện mình. Nếu ai đó trong lúc trò chuyện tranh phát biểu, ông
tự nguyện ngồi yên trong góc, không nói câu nào. Tôi nhớ trong một bữa
ăn tối ở Sài Gòn, trong những năm 1990 với các nhà kinh doanh Pháp,
ông Ẩn, mặc dù ngồi đầu bàn nhưng gần như không nói một lời.

Hay trong một dịp khác, ông để một người trong cấp ủy độc thoại thao
thao bất tuyệt về chiến tranh mà ông không xen vào nói thêm một câu nào.
Ông có một phản xạ tình báo, chắc là do áp lực của nghề nghiệp: Chỉ nắm
cái chủ yếu, không quan tâm đến những cuộc trò chuyện tầm phào. Cuối
cùng, theo quy định của nghề nghiệp, ông không thể nói tất cả những điều
ông biết hay muốn nói.

Trong số những người phương Tây đầu tiên được phép gặp ông trong
những năm 1990 có một phụ nữ Mỹ, nguyên là phóng viên chiến trường
tên là Laura Palmer, có lẽ cao tuổi nhất và chững chạc, đạo mạo nhất trong
đám nhà báo trẻ thích bông đùa, quậy phá như chúng tôi. Bà hay gọi ông
Ẩn là “Tướng Givral”, có thể hiểu là con người năng lui tới tiệm cà phê
Givral. Ông có vẻ thích thú về điều này. Ông nói với tôi: “Laura phong

cho tôi quân hàm cấp tướng từ thời đó”. Ông nói thế vì ông vừa được
phong quân hàm thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam.
Thời chiến tranh, tiệm cà phê Givral là nơi tập hợp và phát đi đủ mọi tin
đồn phong phú đến mức người ta đặt cho nó cái tên Radio Catinat (Đài
phát thanh Catinat).

Một góc tiệm cà phê Givral trên đường Tự Do (nay là Đồng Khởi, Q. 1),
nơi giới ký giả, trí thức Sài Gòn thường ngồi nghe ngóng tin tức chính trị
xã hội. Ảnh: LIFE.
Câu chuyện về ông không chỉ là câu chuyện về một điệp viên có nhiều kỳ
tích. Ông Mười Nho, một điệp viên cộng sản khác hoạt động trong vùng
Việt Cộng ở miền Nam đã tiếp nhận và chuyển tiếp những tài liệu do ông
Ẩn gửi ra từ năm 1961 đến 1964. Ông cũng phải đợi đến ba mươi năm

sau mới tiết lộ - và cũng chỉ một phần nhỏ rằng tại thủ đô Bắc Việt khi
còn chiến tranh, Bộ Chính trị và Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nói chung rất
“hài lòng” khi nhận được những báo cáo của ông Ẩn gửi ra.

Mười Nho kể lại: Thủ tướng Phạm Văn Đồng cười hể hả trong khi tướng
Giáp tuyên bố: “Chúng ta đang ở ‘trong phòng điều hành tác chiến của
quân Mỹ ’”, khi những báo cáo của ông Ẩn đến tay các nhà lãnh đạo Hà
Nội.

Khi tướng Giáp, người đã đánh thắng Pháp và Mỹ, khẳng định: “Chúng
ta đang ở trong phòng điều hành tác chiến của quân Mỹ”, thì đó không chỉ
là lời chúc mừng gửi tới một điệp viên vĩ đại. Phạm Xuân Ẩn đã có chỗ
đứng trong nhóm nhỏ người Sài Gòn gồm những nhà báo, nhà trí thức,
các chính khách, là những người tôi đặc biệt gắn bó, mặc dù tôi xa Sài
Gòn khá lâu. Mỗi người theo cách riêng của mình, mà không phải lúc nào
tôi cũng nhận ra, là những người đỡ đầu cánh nhà báo chúng tôi.

Nhưng đến năm 1978, tôi vẫn còn xa mới hiểu được nhân cách lúc đó của
ông Ẩn. Tôi phải cần thêm nhiều năm nữa mới nắm bắt được tầm vóc của
nhân vật này. Quả là câu chuyện vẫn chưa chấm dứt, ba năm sau chiến
tranh, khi mọi người được biết ông là một điệp viên, mà chỉ mới bắt đầu
với sự phát lộ này…

….

...Phạm Xuân Ẩn được tin cậy đến mức sau chiến thắng của Cộng sản năm
1975, các nhà báo nước ngoài đều lần lượt buộc phải rời khỏi Nam Việt
Nam, cơ quan báo Time do ông được giao phụ trách vẫn tiếp tục hoạt
động cho đến một năm sau mới bị nhà cầm quyền ra lệnh đóng cửa.

Năm 1989, Ẩn gặp lại Morley Safer khi ông ta trở lại Sài Gòn (nay là
thành phố Hồ Chí Minh) là đồng tác giả của chương trình Soixante
minutes (Sáu mươi phút) trên kênh truyền hình Mỹ CBS. Trong một câu
chuyện riêng tư nhưng sau đó đã được Safer công bố, ông Ẩn kể rằng:
“Cấp trên của tôi không bao giờ yêu cầu cắt xén các tin tức báo cáo về, vì
như thế trước sau cũng sẽ bị lộ. Người ta luôn luôn nhắc nhở tôi không
được làm điều gì tác hại đến công việc làm báo của mình”.

Phạm Xuân Ẩn còn có một quan niệm rõ ràng về nghề làm báo. Ông nói,
vẻ trịnh trọng: “Nhà báo giỏi là những người giữ được các bản ghi chép
của mình và phải tiếp tục tra cứu không ngừng”.

Trong phòng khách của ông đầy ắp sách báo và được xếp đặt ngăn nắp.
Khi cần tìm tài liệu, đó là tháng Hai năm 2005, ông rút ra một bản sao về
“sự bố trí lực lượng” của quân đội Nam Việt Nam đề ngày 11 tháng Mười
một năm 1974, tức là chỉ trước khi Cộng sản quyết định mở cuộc tiến
công chiến lược dẫn đến toàn thắng. Những con số đưa ra rất ấn tượng:
“Trong quân đội Nam Việt Nam có gần một triệu lính chính quy, trên một
triệu người bán quân sự trong đó trên một trăm nghìn cảnh sát và gần một
triệu tự vệ chiến đấu. Không kể trang bị gồm máy bay tiêm kích, ném bom
và hàng trăm máy bay lên thẳng”.

Tuy nhiên, từ khi Buôn Ma Thuột thất thủ đến khi Sài Gòn đầu hàng chỉ
có bảy tuần lễ! Phạm Xuân Ẩn vừa giở từng trang vừa nhắc lại: “Nixon
muốn xây dựng quân đội Sài Gòn thành đội quân mạnh thứ năm trên thế
giới”. Khi ông thu được bản tài liệu về “bố trí lực lượng” của quân đội Sài
Gòn, ông đã không nhầm: “Đội quân mạnh thứ năm thế giới” đó chỉ tồn
tại trên giấy cũng như trong đầu óc của những người lập ra nó.

Ông nói: “Trung bình hai ba tháng một lần, tôi đi báo cáo về ‘trung tâm’
đặt trong vùng Củ Chi nhưng không phải là nơi ngày nay người ta giới
thiệu cho khách du lịch xem”.

Phần lớn chỗ gặp đó là ở Hố Bò, một khu rừng chỉ cách Sài Gòn hai chục
kilômét về phía Tây Bắc. Ông thường vắng mặt vào ngày nghỉ cuối tuần,
như vậy kín đáo hơn. Tại huyện Củ Chi cách Sài Gòn chừng ba chục
kilômét một phần trồng cây cao su có một hệ thống địa đạo quanh co do
các bộ phận của Bộ Tham mưu tiền phương của Cộng sản sử dụng. Ngày
nay, chỉ còn một phần nhỏ được tu tạo lại để giới thiệu cho khách du lịch.

Khi đi báo cáo cấp trên, ông Ẩn bao giờ cũng đi tay không, trong túi trống
rỗng. Phải tính đến nguy cơ có thể bị chặn lại giữa đường, rất hiếm khi
ông đem theo tài liệu mà do các giao liên chịu trách nhiệm. Họ có kinh
nghiệm chuyển giao tài liệu hơn. Trong giới báo chí Sài Gòn, việc vắng
mặt vài ngày ít có nguy cơ bị phát hiện vì phần lớn các phóng viên ra “mặt
trận” đều đặn hoặc đi các tỉnh xa để lấy tin và tư liệu viết bài.

Phạm Xuân Ẩn đã hoạt động bí mật cho đến ngày chiến thắng vì ông có
nhiều cách đề phòng tối đa. Chính tay ông lựa chọn rất kỹ các liên lạc và
ông không lưỡng lự khi phải loại bỏ một ai đó do cấp trên dự kiến nhưng
ông thấy không hoàn toàn tin cậy. Trong số 45 thành viên trong lưới cùng
hoạt động với ông, hai mươi bảy người đã bị bắt hoặc bị sát hại. Ông tự
nhốt mình trong phòng vệ sinh nhà ông để chọn lọc, mã hóa các tài liệu
thu thập được.

Nếu bị bất ngờ, ông có một khoảng thời gian đủ để tiêu hủy nhờ có những
con chó becgiê Đức đã được ông huấn luyện và đặt chúng ngồi từ xa, cách
nhau một quãng ngắn. Chỉ một dấu hiệu nhỏ khác thường, không cất tiếng

sủa và chỉ gầm gừ nhỏ hay vẫy tai ra hiệu, là đủ để ông nhận ra có biến và
tiêu hủy ngay tài liệu vào hố vệ sinh tự hoại.

Sau 1975, khi hay tin Phạm Xuân Ẩn là tướng tình báo quân đội nhân dân
Việt Nam hoạt động trong lòng đô thị Sài Gòn, nhiều đồng nghiệp của
ông đã bất ngờ. Ảnh: Tư liệu
Khi phải đi gặp liên lạc viên trong thành phố, điều mà ông hết sức tránh,
ông phải tin chắc rằng ông và người đó không bị theo dõi và bao giờ cũng
đem theo chó becgiê. Vợ ông đi sau, cách một quãng để nhỡ ông bị địch
bắt là nó quay lại báo ngay cho vợ ông. Chỉ có vợ và mẹ ông biết ông hoạt
động bí mật. Mọi người xung quanh không ai nghi ngờ điều gì. Ông không
bao giờ giắt súng trong người, vả lại ông cũng không thạo sử dụng vũ khí
vì chưa bao giờ được theo học một khóa huấn luyện quân sự nghiêm chỉnh.

Cho đến khi nào được xác minh xong, ông cứ để cho tin đồn lan truyền
rằng ông là một nhân viên tình báo CIA.

Dù sao ông cũng rất biết Edward Lansdale trong thời gian ông làm việc ở
TRIM, sau này thăng lên cấp tướng. Lansdale được Phạm Xuân Ẩn gọi là
“kẻ làm ra các ông vua” do ông ta là chuyên gia chống du kích và đã đóng
một vai trò quyết định ở Philippines, chống cuộc nổi loạn của người Huk
do Cộng sản chỉ đạo. Sau này, nhiều người Mỹ cũng đến hỏi ý kiến Phạm
Xuân Ẩn về việc xử lý các mối quan hệ với người Việt sao cho tốt.

Chính ông đã duy trì khá lâu những phản xạ tự nhiên có được từ thời kỳ
đó. Hai chục năm sau chiến thắng năm 1975 và căn cước của ông được
công khai hóa, ông nói về Cộng sản cứ như ông không phải là người của
họ. Ông thường bắt đầu bằng “Cộng sản nghĩ rằng”, và điều đó khiến một
người bạn Việt Nam của ông đã vặn lại: “Tại sao lại nói thế? Anh không
phải là Cộng sản sao?”.

Một nhận xét mà ông thường nêu lên không chút giữ gìn: “Cộng sản hay
gọi tôi là Mỹ con, là con người Mỹ”. Ông kể lại như một câu chuyện đùa
thú vị! Lời nói hai mặt xa lạ với ông. Đơn giản ông chỉ giữ thói quen hay
nói những người cộng sản hay Đảng ở ngôi thứ ba, chứ không nói Đảng
ta, hay Cộng sản chúng ta - nhằm để tránh những lỡ lời có thể khiến ông
trong hoàn cảnh khác phải trả giá đắt.

Một buổi chiều, khi ông viết một bức thư bằng mực bí mật, con gái ông,
còn đang đi học, bất chợt bắt gặp. Ông không có thì giờ giấu trang giấy
trắng nên giả vờ như làm chuyện khác. Đứa bé gái đem chuyện đó kể với
một trong các anh của nó: “Ba viết gì mà chẳng có chữ nào hiện trên giấy”.
Thấy con nói thế, hôm sau, ông đánh lạc hướng chú ý của con bằng cách

giải thích cho nó hiểu rằng do ánh sáng ngược chiều, con đứng sấp bóng
nên không nhìn thấy chữ viết hiện trên giấy đó thôi.

Năm 1961, khi được nhận vào làm ở hãng thông tấn Anh Reuters, các cơ
quan mật vụ tiến hành kiểm tra căn cước để cấp thẻ nhà báo làm cho nước
ngoài. Muốn làm điều tốt cho Ẩn, bác sĩ Tuyến nói với họ rằng Ẩn không
làm việc cho Tuyến, nhưng khi viết vào bản khai lý lịch thì Ẩn lại viết
ngược lại, nghĩa là có nhận làm cho bác sĩ Tuyến.

Để tránh một cuộc điều tra đi sâu hơn, Ẩn yêu cầu bác sĩ Tuyến phải nói
lại và bác sĩ Tuyến buộc phải cải chính điều ông đã nói với cơ quan mật
vụ. Một lần khác, được tin người liên lạc của ông với kháng chiến bị bắt
và bị sát hại, Ẩn lo sợ thật sự.

Mật thư của Ẩn báo cáo về “trung tâm” rằng một nhân viên CIA đã lọt
vào hàng ngũ Việt Cộng. Thư đó do người liên lạc mang đi đã lọt vào tay
địch và đến tay bác sĩ Tuyến, ông này báo lại cho Ẩn. Ông đốc-tờ “nhỏ
thó” muốn biết nhân viên nào trong cơ quan mật vụ đã có thể báo cho Việt
Cộng về sự hiện diện của một điệp viên trong hàng ngũ họ.

Tuyến hỏi Ẩn: “Anh có nghĩ rằng cơ quan chúng ta đã bị Việt Cộng thâm
nhập không?”. May cho Ẩn, một nhân viên của Tuyến đã kể cho ông biết
đầu đuôi sự việc nên Ẩn có thời gian chuẩn bị lời đối đáp, bình tĩnh trả lời
Tuyến: “Không, tôi không nghĩ thế! Người Mỹ đã kiểm tra rất kỹ lý lịch
của chúng ta. Đây chẳng qua là chuyện ghen tức nội bộ để chiếm chỗ của
một đồng nghiệp được trả lương cao hơn”. Câu chuyện dừng lại ở đó.

Kỳ 5: Phạm Xuân Ẩn giải cứu ông trùm mật vụ Trần
Kim Tuyến như thế nào?

Sau này, khi biết được Ẩn là một điệp viên cộng sản, Tuyến
nói “không bao giờ nghi ngờ Phạm Xuân Ẩn” và nói thêm:
“Nếu quả như vậy thì đó là một thảm họa vì Ẩn biết tất cả
những gì tôi biết”. Ẩn vẫn giữ quan hệ với gia đình bác sĩ
Tuyến định cư tại London.

Tại London, nguyên trùm mật vụ Nam Việt Nam đã từ trần hai tuần trước
khi bình thường hóa quan hệ giữa Hà Nội và Washington.
Mối quan hệ giữa Phạm Xuân Ẩn và Trần Kim Tuyến
Năm 1959, khi trở về Việt Nam, Phạm Xuân Ẩn đã ba mươi hai tuổi. Lạ
nước, lạ cái, không còn ai quen biết, khi máy bay hạ cánh xuống đường

băng Tân Sơn Nhất, ông vô cùng lo lắng: “Liệu nhân viên an ninh có thể
chộp mình khi từ trên máy bay bước xuống?”. Nhưng không xảy ra
chuyện gì. Và suốt tháng sau ông vẫn sống yên ổn tại nhà mẹ để tìm hiểu
xem mình có đang bị giám sát, theo dõi không. Ẩn cũng không biết Đảng
có biết rằng ông đã trở về không và làm sao bắt liên lạc với các đồng chí
trong lưới còn sống hoặc đang nằm yên trong nhà tù. Ông thận trọng chờ
cho lưới chủ động trước. Trong khi chờ đợi, ông muốn tìm hiểu thêm thái
độ của chế độ Sài Gòn đối với ông ra sao nên đến thăm bác sĩ Trần Kim
Tuyến, là người mấy năm trước được CIA giúp đỡ, đã lập cơ quan tình
báo gọi là “mật vụ” của chế độ Sài Gòn.

Bác sĩ Tuyến, hồi đó được mệnh danh là ông đốc-tờ “nhỏ thó” vì tầm vóc
thấp bé, là một người tính tình vồn vã, dễ gần, cặp mắt tinh nhanh. Tôi đã
được ông Ẩn giới thiệu làm quen trước khi chiến tranh kết thúc.Tuyến là
người mạnh mẽ, theo đạo Thiên Chúa, gốc miền Bắc, tính hay tò mò để ý
đến chuyện người khác, lúc nào cũng tươi cười, đôi khi ăn nói ngọt xớt
nhưng cũng mất nhiều thiện cảm trong khi làm không ít người phải sợ hãi.
Năm 1959, mặc dù có thái độ dè dặt đối với Tổng thống Ngô Đình Diệm
và người em rất có thế lực là cố vấn Ngô Đình Nhu - lúc này đã trở nên
mất lòng dân và xa rời thực tế - nhưng bác sĩ Tuyến vẫn là trùm đặc vụ
của chế độ, rất thân cận với Tổng thống Diệm.

Ông Trần Kim Tuyến năm

1964 - Ảnh tư liệu

Năm 1957, với tư cách ấy, ông Tuyến đã giúp Phạm Xuân Ẩn hoàn thành
mọi thủ tục cần thiết để được phép rời Việt Nam đi Mỹ du học. Vậy nên
việc Ẩn khi từ Mỹ trở về theo phép lịch sự đến thăm Tuyến không thể dấy
lên những mối nghi ngờ dù nhỏ nhất. Ông Ẩn còn nhân dịp đó thăm dò
tình hình thử xem “đối phương” có ý tứ gì với mình không, dù Trần Kim
Tuyến không phải là hạng người dễ bộc lộ suy nghĩ của bản thân.

Ông đốc-tờ “nhỏ thó” đó đề nghị Ẩn làm việc cho ông ta và để che mắt
người khác, xin cho Ẩn một chỗ làm tại Việt Tấn xã - cơ quan thông tấn
chính thức của chế độ Sài Gòn - vì ông đã được đào tạo có bài bản về
nghiệp vụ báo chí ở Mỹ. Cuộc đời lắm chuyện éo le và đó thật sự là một
cơ hội hiếm có đối với ông Ẩn. Ẩn được đề nghị chọn nghề làm báo để
nắm tình hình mật, nhưng chủ động đưa ra lời đề nghị làm việc lại là chế
độ Sài Gòn chứ không phải các đồng chí cộng sản của ông - những người
đầu tiên nghĩ ra mưu kế này. Ông tự nhủ nếu Văn phòng Tổng thống bật

đèn xanh để tuyển dụng ông thì điều đó có nghĩa là ông được bình yên vô
sự, giữ kín được tung tích của mình. Thế là ông nhận lời. Vì Phủ Tổng
thống không nói gì nên Phạm Xuân Ẩn được đưa lên làm nhân viên mật
vụ cho Dinh Độc lập, tức Phủ Tổng thống ở Sài Gòn.

Ông Phạm Xuân Ẩn
(giữa) chụp ảnh cùng những người bạn Mỹ tại Thủ Đức, Sài Gòn - Ảnh
tư liệu
Được sự che chở của cấp cao, Ẩn đã đặt chân được vào giới báo chí ở Sài
Gòn. Thật là kịp thời, vì sau đó Tuyến bị thất sủng do có một mưu toan
đảo chính bất thành năm 1960. Ông Ẩn nhớ lại: “Tuyến đã được cử đi làm
Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Ai Cập nhưng Abdel Nasser - Tổng thống
Ai Cập lúc đó không chấp thuận một cựu trùm mật vụ làm Đại sứ. Bị gạt
ra rìa, Tuyến được chứng kiến sự tan rã dần dần của các lưới do mình lập
ra trước đây”.
Cuộc giải cứu Trần Kim Tuyến của tướng Phạm Xuân Ẩn

Phạm Xuân Ẩn đã trải qua những lo lắng tồi tệ nhất trước khi chính quyền
Sài Gòn hoàn toàn sụp đổ ngày 30.4.1975.

Trong khi các sư đoàn Bắc Việt nhanh chóng tràn ngập từng vùng lãnh
thổ miền Nam hãy còn nguyên vẹn, hàng vạn dân tị nạn lần lượt bị ném
ra đường cái hay ra biển. Bác sĩ Tuyến âm mưu chống lại Thiệu. Ý tưởng
của ông đốc-tờ “nhỏ thó” là lập một chính phủ liên hiệp hòng cứu vãn
những gì có thể cứu được và chấm dứt chiến tranh. Ông ta đi thăm một
trong những người cầm đầu phong trào giáo phái là Đại đức Thích Trí
Quang. Thiệu cho người theo dõi chặt chẽ Tuyến và đêm ngày 3 rạng sáng
4.4 đã quăng một mẻ lưới: mười bốn người trong gia đình Tuyến trong đó
có em của ông và các đại biểu Hạ viện đối lập, các nhà báo và một thượng
nghị sĩ đều bị bắt vô khám Chí Hòa. Riêng Tuyến, nhờ Phó thủ tướng, Bộ
trưởng Kinh tế Nguyễn Văn Hảo can thiệp nên thoát nạn. Nhưng nhà của
Tuyến bị giám sát và những ai “qua lại” đều bị tình nghi. Ẩn hoảng sợ vì
ông có quan hệ chặt chẽ với ông đốc-tờ “nhỏ thó”. Hai ngày ông không
ăn uống gì. Buổi tối ông không về nhà, nằm lỳ ở tòa soạn báo Time đặt tại
khách sạn Continental. Sau này kể lại, ông nói về Tuyến: “Ổng đã làm
mình sợ đái ra máu”.

Cuối cùng, Hoa Kỳ đành chịu chấp nhận khuynh hướng thỏa hiệp mà
chính họ cũng không tin vào kết quả. Ngày 21.4, Thiệu tuyên bố từ chức
trên đài truyền hình. Ngay sau đó, ông ta đáp máy bay đi Đài Bắc giao lại
chính quyền cho Phó tổng thống Trần Văn Hương, một ông già ốm yếu
không có chút uy quyền gì. Sài Gòn rơi vào cảnh hỗn loạn trong khi quân
đội cộng sản đang siết chặt vòng vây. Người Mỹ hấp tấp tổ chức cầu hàng
không di tản hết những nhân viên Mỹ còn lại và một số người Việt Nam
đã từng hợp tác với họ.

Trong ngày
29.4.1975, từ sân Đại sứ quán, các chuyến trực thăng CH-53 và CH-47
đã liên tục lên xuống để đưa hàng trăm sĩ quan, nhân viên Mỹ cùng gia
đình rời khỏi Sài Gòn. Ảnh: Getty

Trước khi di tản sang Mỹ, bác sĩ Tuyến nấn ná chờ đến ngày em ông và
những người dính líu vào âm mưu đảo chính được trả tự do. Một nhà ngoại
giao Anh đảm nhiệm đưa vợ con Tuyến di tản trước. Nhưng Tổng thống
Hương, bất chấp nhiều cuộc vận động, từ chối không chịu thả những
người dính líu thật sự hay coi như dính líu vào âm mưu lật đổ. Họ chỉ ra
khỏi nơi giam giữ vào ngày 28.4, tức hai ngày trước khi chấm dứt cuộc
chiến, khi Trần Văn Hương bị thúc ép phải từ chức và nhường quyền cho
Dương Văn Minh, có biệt danh là “Minh Lớn” vì thân hình cao lớn.

Lúc này đã quá muộn đối với Tuyến. Tòa đại sứ Mỹ lúc này cũng đang
bấn lên. Qua điện thoại, Tuyến nhận được câu trả lời: nhân viên CIA phụ
trách công việc di tản cũng ra đi rồi. Trong danh sách những người Đại sứ
quán phải đưa đi vào giờ chót không có tên Trần Kim Tuyến. Bác sĩ Tuyến
đã đến cổng Tòa đại sứ nhưng chật cứng người, không len vào nổi. Trên
nóc nhà, máy bay trực thăng như con thoi, hối hả bốc người di tản đưa ra

tàu chiến Mỹ neo đậu gần bờ biển nhất. Thất vọng, cựu trùm mật vụ thời
Diệm đến khách sạn Continental leo lên tầng một cầu cứu ông Ẩn đang
ngồi trong tòa soạn báo Time. Từ đây, bác sĩ Tuyến gọi điện đi khắp nơi
nhưng không ăn thua. Cuối cùng, Ẩn tự đánh xe đưa Tuyến đến Tòa đại
sứ. Trong ngày 29.4 ấy, cảnh náo loạn diễn ra trước cổng sứ quán Mỹ.
Nhiều vị bộ trưởng, tướng tá Nam Việt Nam cũng không chen vào lọt bên
trong. Ẩn và Tuyến lại quay về khách sạn.

Ông Ẩn gọi điện đến một vài mối thân cận ở Tòa đại sứ nói rõ tình hình
và đòi CIA can thiệp. Một nhà ngoại giao Mỹ gọi lại khá nhanh sau đó và
nói: CIA tổ chức chuyến đi cuối cùng, dặn ông ta đến phố Gia Long nơi
nhân viên CIA ở trong một tòa cao ốc lẫn với các cơ quan văn hóa Pháp.
Ẩn nhớ lại: “Trên nóc nhà cao ốc có một sân thượng có thể tiếp nhận trực
thăng hạ cánh trong tình trạng khẩn cấp để chở hai phó trưởng chi nhánh
CIA ở hai căn hộ bên dưới sân thượng. Nhà ngoại giao Mỹ còn cho tôi
mật khẩu để được vào nhà”.

Nhưng khi hai người đến tòa cao ốc thì lính gác là người thuộc dân tộc
Nùng, cư dân thiểu số ở miền Bắc Việt Nam, từ chối không cho hai người
vào. Ẩn và Tuyến lại đến Văn phòng chi nhánh CIA ở một phố khác thuộc
trung tâm thành phố. Tại đây, Ẩn xin gặp Trưởng chi nhánh là người rất
thân quen với ông. Lại một lần nữa, người gác cổng không cho vào vì
không tin ông.

Ông Ẩn kể tiếp: “Ngay lúc đó, vợ của người gác cổng đến. Anh chồng mở
cửa để vợ vào”. Ẩn lúc đó đứng chắn ngay lối ra vào và đã đẩy được
Tuyến vào bên trong. Thế là người khách cuối cùng đi trên chiếc trực
thăng cuối cùng của CIA - nguyên trùm mật vụ của chế độ đã có thể rời
khỏi Sài Gòn nhờ sự giúp đỡ kiên trì của một đại tá an ninh của Hà Nội.

Sau này, khi biết được Ẩn là một điệp viên cộng sản, Tuyến nói ông ta
“không bao giờ nghi ngờ Phạm Xuân Ẩn” và nói thêm: “Nếu quả như vậy
thì đó là một thảm họa vì Ẩn biết tất cả những gì tôi biết”. Ẩn vẫn giữ
quan hệ với gia đình bác sĩ Tuyến định cư tại London. Tại đây, nguyên
trùm mật vụ Nam Việt Nam đã từ trần hai tuần trước khi bình thường hóa
quan hệ giữa Hà Nội và Washington.

Kỳ 6: Thời niên thiếu của tướng tình báo Phạm Xuân
Ẩn

Tuổi thơ của Phạm Xuân Ẩn, ngay từ đầu đã khác thường.
Ông sinh tại “nhà thương điên” Biên Hòa. Như một linh
tính, ông được cha mẹ đặt tên khai sinh là Ẩn, có nghĩa là ẩn
giấu, “bí ẩn”.

Thuở nhỏ ông nghịch ngợm, chơi nhiều học ít, thường trốn học đi bắn
chim bằng súng cao su, mê chọi gà, và nhất là thích ngắm cá chọi trong
bể cá.

Xứ Đông Pháp - tên gọi của bán đảo Đông Dương thời Pháp thuộc vẫn do
toàn quyền Jean Decoux cai trị nhưng quân Nhật đã có mặt khắp nơi. Cậu
bé Phạm Xuân Ẩn cũng như những đứa trẻ khác thời đó trong các buổi
chào cờ ba sắc trước chân dung phóng to người đứng đầu chính phủ Vichy
phải cất cao giọng hát: “Thưa Thống chế! Có chúng tôi!”.

Năm 1945, ở tuổi 18, Ẩn chứng kiến những sự kiện rung chuyển thời cuộc
Đông Dương: quân đội Nhật Bản tước vũ khí các trại quân Pháp, tuyên
bố xóa bỏ chính quyền thuộc địa. Lính Pháp bị bắt làm tù binh, thường
dân Pháp bị làm nhục. Ngày 2 tháng Chín, cuộc Cách mạng tháng Tám
thành công, Hồ Chí Minh tuyên bố độc lập trước hàng vạn người ở quảng
trường Ba Đình.

Đối với một thanh niên mới lớn, thật khó có thể tưởng tượng một bầu
không khí nào đảo lộn hơn thế! Các ông chủ Pháp bị nhốt vào trại giam
hay ở nơi công cộng. Trật tự được người Pháp duy trì một cách giả tạo,
phút chốc sụp đổ tan tành. Cử chỉ hung hãn vô kỷ luật của lính Nhật Bản
chỉ gây nên sự ngờ vực của dân chúng đối với hứa hẹn trao trả độc lập.
Việc trưng thu thóc đã gây nên nạn đói ở miền Bắc. Trên ghế nhà trường,
người ta chỉ nói đến chính trị thay vì lắng nghe lời thầy giáo giảng bài.

Phạm Xuân Ẩn từng xin vào nhà thương điên Biên Hòa

Tuổi thơ của Ẩn, ngay từ đầu đã khác thường. Ông sinh tháng Chín năm
1927 tại “nhà thương điên” Biên Hòa. Vì ở cái thị trấn nhỏ bé nơi cư trú
của cha mẹ ông thời đó chỉ có mỗi một bệnh xá đặt tại cơ sở chăm sóc
người bệnh tâm thần là có phòng hộ sinh. Như một linh tính, ông được
cha mẹ đặt tên khai sinh là Ẩn, có nghĩa là ẩn giấu, “bí ẩn”. Ông ra đời ba
năm trước khi Đảng Cộng sản thành lập trong bí mật, sự kiện đánh dấu
một trong những giai đoạn quyết định trong việc thức tỉnh tinh thần dân
tộc ở Việt Nam. Khi Mặt trận Bình dân lên cầm quyền ở Pháp, Ẩn lên 9
tuổi. Thân sinh ra ông là người gốc miền Trung, là một viên chức địa
chính đã ngang dọc đi suốt Nam Bộ hay Nam Kỳ lúc đó là thuộc địa của
Pháp. Cha ông lấy vợ gốc Bắc, có dáng một nhà nho thấm nhuần đạo lý

Khổng, Mạnh truyền thống của Việt Nam. Tuy gia đình không sung túc
gì nhưng cũng cố cho con một nền giáo dục vững chắc.

Lên hai tuổi, Ẩn được gửi về cho bà nội ở cố đô Huế nuôi theo tục lệ cổ
truyền, hoặc do bà muốn đỡ gánh nặng cho con, hoặc đơn giản hơn, chỉ
muốn bà sống với cháu cho vui cửa vui nhà. Hai năm sau, không may bà
nội mất, cậu bé Ẩn quay về sống với cha mẹ ở Gia Định, ngày nay thuộc
ngoại thành Sài Gòn.

Những năm đầu đến trường, kết quả học tập không có gì khả quan. Ẩn là
đứa trẻ ngoan ngoãn, “không lưu manh” như ông tự nói về mình nhưng
nghịch ngợm, chơi nhiều học ít, thường trốn học đi bắn chim bằng súng
cao su, mê chọi gà, và nhất là thích ngắm cá chọi trong bể cá. Có hôm cha
ông bắt đổ xuống cống, ông phải nghe lời, tiếc phát khóc, chạy ra cửa
cống đón cá nhưng không thấy. Ẩn thích cả chọi bò cạp. Cha ông bắt nằm
sấp dùng roi mây đánh đòn. Chiếc roi mây mẹ ông mua ở chợ về nhưng
chọn cái nào ngắn nhất để con đỡ đau.

“Đối với cha tôi, biếng học là tội nặng nhất!”, và ông nói thêm rằng: “Đó
là một quan niệm ăn sâu từ nhiều thế hệ trong gia đình tôi cũng như nhiều
người khác”.

Đi học về, ông nội Ẩn - rất nghiêm khắc - hỏi ông lý do tại sao cho đi học.
Ẩn trả lời bâng quơ “để học toán, học đọc, học viết” liền bị cụ chỉnh ngay:
“Khổng Tử viết: ‘Tiên học lễ hậu học văn’ hiểu chưa? Có nghĩa là theo
lời dạy đó, trẻ con đi học phải học lễ là lễ phép, là phép xử thế, cách đối
xử với mọi người, kẻ trên, người dưới trước, rồi mới đến văn tức là chữ
nghĩa, giáo dục”. Ông còn dạy cho Ẩn những quy tắc: Không được gây
tiếng ồn, cúi người chắp tay chào người trên, không được ngồi hóng

chuyện người lớn, không được lục vấn, nghĩa là đặt câu hỏi, không được
xen vào công việc của người khác.

Bản chất Ẩn không phải là đứa trẻ không biết vâng lời nhưng cậu bé không
tự ngăn mình thỏa trí tò mò. Thấy mình không sửa được cái tính ấy, có
lần Ẩn đã xin với cha cho vào nhà thương điên Biên Hòa, nơi ông đã sinh
ra. Thất vọng và để cho con một bài học, ông lại cho con, lúc này đã lên
9, về Huế ở với một người con nuôi của cha ông, làm giáo học tại một nơi
có ga xe lửa, cách cố đô Huế khoảng một trăm cây số về phía Nam, trên
đường sắt nối liền Sài Gòn với Hà Nội.

Đồng quê miền Trung thuộc miền thiệt thòi nhất nước: đất bạc màu, hàng
năm mấy lần bị lụt bão tàn phá. Cha Ẩn hy vọng rằng gửi con sống ở vùng
đất nông thôn có cuộc sống khó khăn này sẽ khiến cho con hiểu được rằng
xuất thân trong một gia đình tương đối dễ chịu ở thành phố là nhờ có phúc
ấm của tổ tiên để lại, là hơn người khác nhiều lắm. Đúng vậy, cuộc sống
ở với người chú nuôi đã mở mắt cho cậu bé. Ông nhớ lại: “Thiếu dầu thắp,
dân quê ở đây phải lấy bấc nhúng vào mỡ chuột để thắp sáng. Họ phải đi
bắt ve sầu và dế để ăn”. Bản thân Ẩn phải ra ga chờ xe lửa từ trong Nam
ra dừng lại, nhảy lên tàu nhặt nhạnh những mẩu bánh mì của khách đi tàu
bỏ lại rồi nhảy xuống trước khi tàu chuyển bánh. Ông chú nuôi, một con
người chặt chẽ đã giao cho Ẩn một công việc vất vả là xay thóc.

Phạm Xuân Ẩn gia nhập Việt Minh

Thời gian sống ở nông thôn đã giúp Ẩn học được nhiều điều trong tự nhiên
khiến sau này, các bài phóng sự của ông luôn khiến các bạn đồng nghiệp
Mỹ phải ngạc nhiên. Chẳng hạn như ông biết rằng phải bắt ve sầu vào
mùa lột xác, khi chúng không bay được, biết phân biệt con đực, con cái vì
chỉ có con cái mới kêu, con đực thì không. Nếu Ẩn chỉ biết những trò giải

trí và những thiếu thốn của một đứa trẻ con nhà nghèo thì chưa đủ để cậu
tự rèn luyện mình. Tuy nhiên nhờ những năm tháng đó, tính cách của cậu
được khẳng định, đó là óc quan sát và lòng kiên nhẫn.

Do tính khí không phải là bất trị cũng không phải dễ phục tùng, Ẩn ít làm
mất lòng người khác. Ẩn thi trượt nên sau hai năm ở với chú nuôi, cậu
phải nghe lời cha mẹ trở về Gia Định để theo học các lớp học bổ túc trong
hè để theo kịp các bạn. 11 tuổi, những lúc rảnh rỗi, cậu bé thả bộ vào tận
các phố trong nội thành để khám phá Sài Gòn. Thời gian này chỉ kéo dài
ba tháng. Năm 1938, thân sinh Ẩn được đổi về Cần Thơ giữa đồng bằng
sông Cửu Long thay chân một viên chức địa chính người Pháp bị động
viên. Cả gia đình đều dọn về Cần Thơ. Ẩn phải lưu ban năm thứ ba.

Cha cậu thường lấy chuyện một người con gái con một người bạn ông học
giỏi, ngoan ngoãn cho Ẩn làm gương. Đó là Nguyễn Thị Bình, sau này
trở thành bà Bình nổi tiếng, Bộ trưởng Ngoại giao chính phủ Cách mạng
lâm thời miền Nam thành lập năm 1960, và trong những năm 1980, trở
thành Phó chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhưng Ẩn
không mảy may thay đổi tính nết. Vốn hiền lành, cậu chẳng làm điều gì
bất trị, chỉ đơn giản là không sao tu tỉnh được để làm vừa lòng cha mẹ.

Năm 1943, Ẩn đã 16 tuổi, cha gửi cậu về Rạch Giá trông coi mấy mẫu đất
mới tậu được. Lại một trải nghiệm khác, cậu thanh niên Ẩn được chứng
kiến cảnh địa chủ Nam Kỳ bóc lột nông dân. Tình hình đó làm cậu khó
chịu. Một hôm, ông đã thừa nhận với tôi: “Ngay cả ở nhà cha tôi cũng
vậy”. Chắc hẳn đó là thời kỳ đầu ông tham gia hoạt động chính trị. Năm
1945, khi người Nhật còn chiếm đóng xứ Đông Dương thuộc Pháp, bản
thân ông và phần lớn các bạn học cùng lớp với ông đều cùng lớp với ông
đều gia nhập Việt Minh.


Click to View FlipBook Version