The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.

Một người Việt trầm lặng
Jean-Claude Pomonti

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2022-11-25 21:57:25

Một người Việt trầm lặng Jean-Claude Pomonti

Một người Việt trầm lặng
Jean-Claude Pomonti

- Trong hoàn cảnh nào?

Ông đáp:

- Chuyện đó xảy ra đầu năm 1945, sau đảo chính Nhật, một người bạn học
cùng lớp với tôi tiếp xúc được với phong trào kháng chiến chống Nhật.

Ông nói thêm: “Đó không phải là một việc phải lựa chọn. Đó là điều duy
nhất phải làm. Chúng tôi là những người yêu nước. Rồi sau đó, khi người
Pháp trở lại, chẳng có gì thực sự thay đổi, chỉ có thay đổi kẻ thù. Tôi chẳng
làm gì đặc biệt dũng cảm. Tôi chỉ làm liên lạc”. Ông Ẩn đã theo một lớp
bán quân sự ngắn, không có súng vì lúc đó khẩu súng là thứ xa xỉ đối với
những người kháng chiến. Nhưng ông không theo kháng chiến lên “rừng”,
lúc đó gọi tắt là “khu”, tên rút ngắn của cụm từ “chiến khu”. Năm 1948,
21 tuổi, Ẩn vào học trường Trung học Mỹ Tho, một thành phố trên nhánh
sông Tiền Giang, để cố giật lấy mảnh bằng tú tài.

Điều gì giúp Phạm Xuân Ẩn kết hợp nghề làm báo với tình báo

Ẩn đã trở thành một chiến sĩ cách mạng. Trong lúc những sự kiện trọng
đại làm rung chuyển Việt Nam, Ẩn tiếp cận với thực tế của một đất nước
vừa ra khỏi 85 năm thuộc địa của Pháp. Ông đã trải qua cuộc sống khổ
cực của người nông dân, trong đó 80% là thành phần thất học, đã tận mắt
chứng kiến thái độ ngạo mạn của những đứa trẻ con cái thực dân Pháp và
sự bất công xã hội đối với người Việt Nam. Nhưng ông cũng biết rõ cái
“vỏ kén lớn” của gia đình Việt Nam. Mỗi khi nghĩ đến nó, ông nhắc đến
những “nghịch lý” - những điều trái ngược đã hình thành nên nhân cách
mình. Như ông nói, điều này về sau đã giúp ông kết hợp nghề làm báo với
tình báo không khó khăn lắm.

Trong khi phải sống trong hai lĩnh vực đối chọi nhau như thế, ông sẽ làm
cho công việc tiến triển dễ dàng hơn trong hai thế giới khác nhau. Ông
không thấy vất vả khi phải làm chủ cuộc rèn luyện này. Đột ngột chuyển
từ văn phòng nơi các nhà báo nước ngoài, thường trẻ tuổi, vừa ăn nói vui
đùa thả cửa vừa trao đổi tin tức và những lập luận trừu tượng, đến một
lĩnh vực hoạt động trong bóng tối mà một bước đi sai, một lời nói quá có
thể mất mạng như chơi. Nơi đây, ông phải phân tích, tổng hợp các thông
tin thu lượm được trước khi đưa ra một nhận định khái quát hoặc đề xuất
một chủ trương đối phó.

Vào đầu những năm 1970, một bạn đồng nghiệp ở báo Time của Mỹ nói
với tôi trong lúc cùng làm việc chung trong một phòng: “Người Việt Nam
chỉ cần làm cho họ bị tràn ngập trong những chiếc xe gắn máy là đủ”. Một
lần khác, trong lúc chúng tôi ngồi quanh chiếc bàn tại nhà hàng Givral,
một nhà báo Mỹ khác kéo tay Ẩn nói nhỏ: “Đừng lo, anh bạn ạ, nếu Cộng
sản thắng, chúng tôi sẽ đón anh về nhà chúng tôi ở Hoa Kỳ”. Dù dụng ý
ra sao, thì đó cũng là những câu nói xúc phạm. Nhưng Ẩn không lộ rõ sự
phản ứng của mình. Muốn giữ nguyên vị trí của mình, ông không thể làm
các bạn đồng nghiệp phật ý. Sau khi thôi học, Ẩn phải đối mặt với những
thực tế khó khăn hơn. Vào cuối năm 1949, ông về Sài Gòn nơi cha mẹ
ông trú ngụ. Nhiều thử thách đang chờ ông. Cha ông ốm nặng phải nằm
viện. Ông trở thành chỗ dựa của gia đình.

Đối với một người trẻ tuổi lại đang bị lao, nhiệm vụ ấy không phải là dễ
dàng. - Đó là thời kỳ tôi phải làm ba nghề một lúc. - Ông nói. Dậy từ bốn
giờ sáng, ông đến văn phòng Công ty dầu lửa Caltex, nơi ông làm nhân
viên kế toán từ năm giờ sáng đến một giờ trưa. Rồi ông đi dạy tiếng Pháp
cho một lớp học tư. Buổi tối ông thuê lại (một cách làm thường thấy ở
Việt Nam) một chiếc xích lô của một người làm ban ngày, để có thêm ít

tiền. Nhiều lần ông đạp xe đưa khách đến các nơi ăn chơi và sòng bạc ở
khu phố người Hoa ở Chợ Lớn. Ông ngồi đợi bên ngoài cho đến khi khách
mãn cuộc chơi lại đưa họ về nhà. Gặp lúc khách thắng bạc, ông được thù
lao kha khá, nhưng không phải lúc nào cũng gặp may như vậy. Năm 1951,
ông thôi làm ở hãng Caltex, nhận một công việc ở Sở Thuế quan Sài Gòn.
Công việc trong ngày, chính cũng như phụ, làm ông kiệt sức.

Một sự việc xảy ra chứng tỏ mối quan hệ phức tạp trong một xã hội mà
mọi người phải cố giữ cho được chỗ đứng của mình. Đó là một hôm, người
chủ xe xích lô nói với ông một cách lễ phép chứ không phải bằng giọng
ông chủ nói với người làm công, rằng ông ta không muốn cho ông thuê
xích lô chạy buổi đêm nữa. Ẩn đã giải thích cặn kẽ tại sao phải đi làm
thêm vào buổi đêm nhưng người chủ không muốn nghe thêm và lấy lại
xích lô. Sau hỏi ra mới biết là mấy hôm trước, ông đã đạp xe chở một
người bạn của gia đình ông, người này về nói lại với bố và ông này kể lại
với cha ông. Đang ốm nên ông cụ lại càng rầu lòng thêm, không ngờ rằng
con mình phải đi làm một công việc thấp hèn đến thế. Ẩn đã hy sinh để
giúp gia đình.

Biết chuyện, một giáo sư cũ của Ẩn đã đề nghị ông dạy thêm tiếng Pháp
cho một lớp học nâng cao trình độ. Ẩn vui vẻ nhận lời và đến lớp thấy học
sinh lơ đãng không chịu nghe giảng vì tuổi trung bình là 18 mà Ẩn mới
trên 20. Để làm yên lòng họ, Ẩn đề nghị sau buổi học sẽ dạy võ không lấy
tiền. Mẹo vặt đó đã thành công, ông lấy được cảm tình và sự thán phục
của học sinh.

Vào thời kỳ này, dân Sài Gòn sống không có nỗi niềm tuyệt vọng của năm
1945. Đối với người Pháp thì sự hạ nhục và thống khổ đã lên đến tột đỉnh
sau vụ Nhật đảo chính ngày 9 tháng Ba. Philippe Franchini đã sống qua

thời kỳ này đã trích dẫn một chuyện ngụ ngôn của một nhà hiền triết người
Mỹ: “Ngày xưa chúng tôi đứng trước một cái cửa rất nặng mà không ai
dám thử đẩy cửa xem sao. Không một ai dám thử vì ngay cả những người
khỏe mạnh nhất đẩy thử, trầy xước cả ngón tay mà cũng không được. Một
hôm có một người lạ đến thử đẩy và cánh cửa mở ra đột ngột. Từ đó không
ai sợ đẩy cửa và cũng không ai sợ khi đi qua nữa”. Nhưng người đó lại là
Việt Minh chứ không phải ông chủ mới ở Tokyo đã giành thắng lợi.

Sau khi đế quốc Mặt trời mọc đầu hàng Đồng minh, Hoàng đế An Nam
Bảo Đại thoái vị ngày 25 tháng Tám, tuyên bố rằng: “Thà làm thường dân
một nước độc lập còn hơn là vua một nước nô lệ”. Gần như khắp nơi đều
có rất nhiều chuyện đáng chê trách để bộc lộ lòng căm thù chứa chất từ
lâu. Ngày 2 tháng Chín năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố độc
lập tại Hà Nội. Việt Minh tổ chức một cuộc diễu hành lớn ở khu trung tâm
người Pháp ở Sài Gòn, kể cả phố Catinat. Đến buổi tối, những phần tử
quá khích có những hành động trả thù, thanh toán nhau trước khi Việt
Minh can thiệp để chấm dứt các vụ lộn xộn.

Trong tâm trí người Việt Nam sau hơn bốn năm chiếm đóng của Nhật, xứ
Đông Dương thuộc Pháp đã chấm dứt tồn tại. Nhà xã hội học Paul Mus
nhận xét: “Tâm địa dân chúng Việt Nam là hay ‘xét nét’”. Nhận xét này
đã được thừa nhận. Triều Nguyễn được lập ra từ năm 1802, mất hết uy tín
do quãng thời gian dài cộng tác với nhà cầm quyền Pháp, đã sụp đổ. Đối
với người Việt Nam, hai từ “độc lập” và “thống nhất” là không thể đem
ra thương lượng được. Thiên mệnh nay chuyển lên vai lực lượng mới -
Việt Minh - mà xã hội Pháp ở thuộc địa đã không hiểu nổi và cho là quỷ
dữ. Ngày 2 tháng Tám năm 1945, các nước Đồng Minh, mà Pháp bị gạt
ra rìa, đã thỏa thuận rằng quân Nhật ở miền Nam sẽ do người Anh giải
quyết còn ở miền Bắc thì do người Trung Quốc của phe Quốc dân đảng.

Nhưng người Pháp thông đồng với người Anh để đặt chân lên miền Nam
và tại đây, quân đội Pháp của tướng Philippe Leclerc de Hauteclocque đã
dần tái lập lại quyền lực của người Pháp trước khi tiến lên Tây nguyên và
miền Bắc.

"Ẩn vẫn còn là một Việt Minh, anh không bao giờ trở thành Việt
Cộng”

Hy vọng của người dân Việt Nam được sống trong độc lập tự do đã tắt
lịm, nhường chỗ cho thất vọng và tức giận. Nếu ván bài đã chơi thì phải
chờ đợi và đánh cho đến lúc thắng. Trong ý nghĩ của người Việt Nam, ẩn
số là thời gian phải đạt tới chứ không phải là kết quả. Chủ trương của
tướng De Gaulle ngày 24 tháng Ba năm 1945 về giải phóng Đông Dương
trong khuôn khổ liên hiệp Pháp đã không đi đến đâu. Tháng Sáu năm
1948, Pháp lại thừa nhận Việt Nam là một quốc gia liên kết dưới sự lãnh
đạo của Bảo Đại đã mất tín nhiệm, được giải thích như một mưu toan
nhằm cô lập Việt Minh đang chiến đấu chống lại quân viễn chinh Pháp.
Năm sau, quân đội của Mao Trạch Đông đã kiểm soát được toàn Trung
Hoa lục địa và thiết lập liên lạc với Việt Minh ở biên giới Việt - Trung.
Giữa hai cột mốc: ngày tuyên bố độc lập và chiến thắng 1975, Cộng sản
phải mất ba mươi năm chiến tranh mới đạt được mục đích của họ.

Đối với ông Ẩn, con đường đã vạch từ những năm 1940 là con đường
kháng chiến. Con người trẻ tuổi không thể lường hết khó khăn và độ dài
thời gian. Một hôm, ông kể với tôi: “Thực ra bằng chủ nghĩa dân tộc, tôi
trở thành cộng sản”. Nhưng ông Ẩn có thật sự trở thành cộng sản không?
Một trong những người bạn Việt Nam thân thiết của ông mới đây đã đem
lại cho tôi suy nghĩ sau: “Ẩn vẫn còn là một Việt Minh, anh không bao
giờ trở thành Việt Cộng”.

Việt Minh là một hội, một liên đoàn do Cộng sản lập ra để tập hợp rộng
rãi nhiều tổ chức theo chủ nghĩa dân tộc nhằm lật đổ nền thống trị của
Pháp. Còn Việt Cộng - rút gọn của cụm từ Cộng sản Việt Nam do chế độ
Sài Gòn dùng để chỉ mọi thế lực chống đối. Anh bạn của Ẩn cho rằng
Phạm Xuân Ẩn đã giữ tâm thức Việt Minh. Ông gắn với tinh thần năm
1945 của một người kháng chiến trước đã rồi mới tính đến tinh thần dân
tộc.

Không có gì minh họa cho suy nghĩ ấy đúng hơn lời tuyên bố của các bô
lão Gò Công, một vùng đất ở phía Nam Sài Gòn, phía Đông đồng bằng
sông Cửu Long được Paul Mus kể lại: “Nước các ông thuộc về biển
phương Tây còn nước chúng tôi ở miền biển phương Đông. Như sự khác
nhau giữa con người và con bò, chúng tôi khác các ông về ngôn ngữ, chữ
viết và phong tục. Nếu các ông cứ khăng khăng đem sắt và lửa đến với
chúng tôi thì sự lộn xộn sẽ lâu dài nhưng chúng tôi hành động theo quy
luật của Trời. Lý tưởng của chúng tôi sẽ đi đến toàn thắng. Chúng tôi sợ
giá trị của các ông, nhưng chúng tôi sợ Trời hơn là sức mạnh của các ông.
Chúng tôi thề chiến đấu mãi mãi và không mệt mỏi. Nếu chúng tôi thiếu
mọi thứ, chúng tôi sẽ lấy cành cây làm cờ, làm gậy cho binh lính. Vậy làm
sao các ông có thể sống với chúng tôi?”.

Lời tuyên bố này là vào năm 1862 khi người Pháp chiếm Nam Kỳ. “...
không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc” - Hồ Chí Minh cũng đã
kêu gọi toàn dân kháng chiến năm 1946 như vậy. Bất kể mọi sự thăng
trầm của chính sách và những lợi ích riêng biệt, việc lập lại trật tự tự nhiên
là điều được người Việt Nam hiểu rất kỹ. Cũng như người Trung Hoa các
thời đại trước, người phương Tây không có chỗ của họ ở Việt Nam. Mọi
sự thống trị bên ngoài đều ngắn ngủi bất kể quan điểm chính trị như thế

nào. Cộng sản Việt Nam có độc quyền sở hữu thông điệp ấy hay không
lại là một chuyện khác.

Chuyến thăm của vợ chồng Tổng thống Bill Clinton

Những oán giận căm thù đối với kẻ xâm lược từ bên ngoài chỉ là tạm thời
và sẽ qua đi một khi trật tự mới được tái lập. Tôi nhớ đến chuyến thăm
của vợ chồng Tổng thống Bill Clinton cùng với con gái Chelsea ở Việt
Nam vào tháng Mười năm 2000 trước khi rời Nhà Trắng. Sự kiện này
được hoan nghênh nhiệt liệt. Những đối thủ xưa kia đã bình thường hóa
quan hệ với nhau. Và Việt Nam đã làm xong việc gia nhập vào bản hòa
tấu các dân tộc. Dưới con mắt của cộng đồng quốc tế, một chương đã khép
lại mặc dù vết sẹo còn chưa kín miệng.

Nhưng công chúng Mỹ phản ứng theo một cách khác. Qua các buổi truyền
hình toàn cầu, chuyến thăm đã gây nên một sự tò mò dành cho cặp vợ
chồng nổi tiếng. Ở Sài Gòn, tôi đi lẫn trong đám đông khi đoàn xe của
Tổng thống Mỹ đến Tòa thị chính thành phố hay nói đúng hơn là trụ sở
Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Cũng như ở Hà Nội hôm trước,
mọi người dân đều có thể nhìn qua cửa kính xe ôtô bọc thép một Clinton
tươi cười và giơ tay vẫy vẫy biểu thị một cử chỉ hữu nghị. Những cô gái
trẻ thấy ông “đẹp trai hơn trên truyền hình”. Những người khác thì nhận
xét “mũi Clinton quá to”.

Trong khi bà Hillary mua sắm ở một cửa hàng có máy điều hòa ở phố
Catinat cũ cách nhà hàng Givral có hai khuỷu tay thì John Kerry đi bách
bộ bên ngoài. Không người dân tò mò nào hay người qua đường - mặc dù
đã bị cảnh sát không cho tới gần - lại không nhận ra hình bóng của một
cựu chiến binh Mỹ huân chương đầy ngực sau này trở thành thượng nghị
sĩ có cái nhìn buồn bã, là ứng cử viên không may trong cuộc đua vào Nhà

Trắng. Sự hiện diện của vợ chồng Clinton không gây nên làn sóng nào.
Việc các nhà cầm quyền giữ không để cho chuyến đi thăm của Tổng thống
Hoa Kỳ gây tiếng vang quá lớn trong dư luận chỉ được giải thích ngắn
ngủi. Công chúng Việt Nam đã sang trang từ lâu lắm rồi. Phạm Xuân Ẩn
là người đi đầu.

Kỳ 7: Những người bạn của tướng tình báo Phạm
Xuân Ẩn

Phạm Xuân Ẩn lấy trong cặp hồ sơ ra một bức ảnh rất đẹp
do Richard Avedon chụp ba mươi năm trước. Trong đó Ẩn,
Robert Shaplen và ba người Việt Nam nữa, đó là Nguyễn
Hưng Vượng, Nguyễn Đình Tú và Cao Giao. Họ vui vẻ đứng
vào đấy nhưng không gây ấn tượng gì cho người chụp.

Trong một lần tôi đến thăm, năm 2004, Phạm Xuân Ẩn lấy trong cặp hồ
sơ ra một bức ảnh chân dung rất đẹp do Richard Avedon chụp ba mươi
năm trước. Trong đó Ẩn, đôi vai hơi so, nụ cười hơi nhút nhát trên môi
như thường lệ, Robert Shaplen cao lớn hơn hẳn những người Việt Nam
khác đúng một cái đầu. Và còn có ba người Việt Nam nữa trong ảnh. Họ
vui vẻ đứng vào đấy nhưng không gây ấn tượng gì cho người chụp. Đó là
Nguyễn Hưng Vượng, Nguyễn Đình Tú và Cao Giao. Phạm Xuân Ẩn giữ
gìn cẩn thận tấm ảnh này. Trong một lần đến thăm sau, Ẩn còn lấy ra cho
tôi xem những tấm ảnh khác chụp đầu những năm 1970, cũng vẫn do
Avedon, bạn thân của Shaplen chụp.

Những tấm ảnh này rất mực sinh động, giới thiệu năm mẫu người theo
đánh giá của Radio Catinat trước khi kết thúc chiến tranh, là có khả năng
hoạt động tốt bên cạnh những tên mưu mô xảo quyệt và lừa đảo. Gạt ra
ngoài những mối bất đồng, những tính toán, các tính khí hay sự lựa chọn
khác nhau giữa người này với người kia, năm người đó giống như năm gã
thông đồng với nhau, đặt ngón tay vào lỗ mũi để chế nhạo phần còn lại
của hành tinh. Cảm nghĩ đó chắc chắn là sai, ngoại trừ với Ẩn, bởi cái giá
phải trả là phải chấp nhận rủi ro.

Tiệm cà phê Givral - Radio Catinat

Radio Catinat là biệt danh mà người ta gán cho tiệm cà phê Givral ở góc
phố Tự Do và đại lộ Lê Lợi. Hai cửa sổ phòng tôi ở tầng ba khách sạn
Continental trông ra quảng trường Nhà hát Thành phố và Givral nằm trong
tầm nhìn của tôi. Tiệm cà phê Givral đông khách, trong số này có thể kể
ra dân biểu Hạ viện, nghị sĩ Thượng viện, điệp viên, nhà báo, chỉ điểm
người Việt của cảnh sát. Nhà hát Thành phố ở bên cạnh, nơi đây các dân

biểu và nghị sĩ đến tranh luận trong Quốc hội cũng góp phần vào cơ nghiệp
của Givral.

Phạm Xuân Ẩn là một trong những trụ cột sánh vai với ba người Việt
Nam khác trong ảnh.
Người ta gặp ở đây khá nhiều sĩ quan tài tử, thầy thuốc, nhà kinh tế, nhà
buôn. Từ 1968, Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã ban bố nghị định về tổng
động viên đăng lính tất cả nam giới từ 18 đến 37 tuổi. Những ai có thể ẩn
náu trong các ban tham mưu hay các bộ trong chính phủ có thể đến đây
tạm khuây nỗi phiền muộn. Những người khác tận dụng ngày phép ngắn
ngủi để gặp lại bạn bè hoặc để nghe những tin đồn mới nhất.
Bob Shaplen (tên gọi thân mật của Robert Shaplen) cũng thỉnh thoảng
mới xuất hiện. Nhưng tất cả thường hay tụ tập với nhau tại căn phòng số

47, nơi Bob lúc nào cũng đặt thuê mỗi khi quay lại Sài Gòn, ở tầng hai
khách sạn Continental. Địa điểm tương đối kín đáo và muốn lên phòng
làm việc của tòa soạn báo Time, Phạm Xuân Ẩn chỉ việc leo lên một tầng
nữa. Các phòng trong khách sạn rất rộng rãi. Bob thích tiếp khách và bạn
bè ngay trong phòng mình vào đúng lúc khai vị. Tôi gặp lại ở đó không
những Phạm Xuân Ẩn mà còn nhiều nhân vật khác mà tên tuổi chỉ trở nên
quen thuộc với những người am hiểu tấn thảm kịch Việt Nam mới, nhưng
trải nghiệm và hành trình của họ nói lên cuộc chiến tranh này phức tạp và
có sức tàn phá như thế nào.

Bob ăn to nói lớn, thích uống whisky và ngậm điếu xì gà gộc. Bob đánh
giá cao giọng nói của báo chí Mỹ. Bob là một lão tướng trong giới nhà
báo từ thời chiến tranh châu Á và Thái Bình Dương và có một cuốn sổ tay
ghi địa chỉ khá ấn tượng. Các chuyến lưu trú ở Việt Nam của ông thường
kéo dài năm đến sáu tuần mỗi lần. Phòng làm việc của đại sứ Mỹ luôn
luôn mở cửa cho Bob. Những bài phóng sự dài lê thê của Bob đăng trên
tờ The New Yorker lúc nào cũng đa sắc màu, được biên soạn công phu,
có tiếng vang ở Washington. Bob thường xuyên ra vào Bộ Ngoại giao Mỹ,
thường được mời đến các cuộc họp của tiểu ban ngoại giao của Thượng
nghị viện để cung cấp bằng chứng.

Robert Shaplen quen biết những người cầm đầu CIA và Bộ Tham mưu
Mỹ và thường nói úp mở về điều này cho mọi người biết. Khi giải trình
tại Washington, ông ta dựa vào nguồn tài liệu khá phong phú để phân tích
và có thái độ thận trọng mỗi khi phát biểu. Nhiều lần, nhất là từ năm 1970
trở đi, tôi có cảm tưởng ông ta làm ra vẻ tin rằng Mỹ sẽ thất bại trong cuộc
chiến tranh này, trong lúc ông ta không tin chắc vào điều ấy.

Một số đồng nghiệp của ông nghi ngờ ông có âm mưu gì đây và đúng là
ông tỏ ra sẵn sàng đưa ra những lời khuyên. Một lần đi với ông ra Huế,
tôi đã sững sờ khi các quan chức Mỹ tại chiến trường tỏ thái độ rất kính
trọng ông. Bob quen biết tất cả những người phụ trách CIA ở địa phương
đến mức họ coi tôi như người phụ tá của ông ta. Ở đâu ông cũng có thái
độ ứng xử tự nhiên, thân thuộc như đang ở nhà mình hay trong lĩnh vực
mình công tác.

Cuộc hành trình đáng buồn của Cao Giao

Cao Giao cũng rất gần gũi với Ẩn mặc dù hai người rất khác nhau. Một
người cởi mở hay nói còn người kia thì kín đáo, thâm trầm. Giao làm cho
báo Newsweek có văn phòng chiếm hai phòng trên tầng hai khách sạn
Continental. Ông nhỏ con, đôi mắt tươi cười được che giấu sau cặp kính
to, râu cằm lưa thưa, ăn nói có duyên, luôn cuốn hút người nghe khiến họ
không dứt ra được. Trong câu chuyện với chúng tôi, anh hay pha trò với
những lời lẽ cay độc. Anh so sánh những người thuộc “lực lượng thứ ba”
chủ trương thỏa hiệp giữa Sài Gòn và Hà Nội là những con chuột chũi
đang bí mật đào những đường hầm không đi đến đâu cả. Anh nói đến
những “trí thức - thất nghiệp”, gọi họ là những người suy nghĩ lạc hướng,
lên giọng dạy đời, định làm mẫu mực cho người khác.

Sau này, theo dòng câu chuyện, Ẩn kể cho tôi hành trình đáng buồn của
Cao Giao mà lúc trước tôi không để ý nhiều. Trong chiến tranh Đông
Dương lần thứ nhất, anh tận tụy làm việc cho Pháp, rồi bị bắt, bị buộc tội
cung cấp tin tức cho Việt Minh. Năm 1955, sau Hiệp định Genève, anh
trốn khỏi miền Bắc vì bị Cộng sản truy lùng gắt gao. Rồi ở miền Nam thời
Diệm, anh lại bị bắt ngồi tù khám lớn Sài Gòn. Lần này, theo lời kể của

Phạm Xuân Ẩn, anh được ra tù nhờ sự can thiệp của một người bạn của
Ẩn làm việc cho bác sĩ Trần Kim Tuyến lúc này đang chơi thân với ông.

Sau khi ra tù, Cao Giao trở lại cuộc sống bình thường nhờ sự tảo tần của
bà vợ chung thủy đã có với ông bảy người con, người mà ông thường gọi
là “cái gậy của tôi”. Ông sống khá tằn tiện trong căn phòng gần chân cầu
Thị Nghè. Năm 1975, Cao Giao khước từ lời khuyên của bạn bè, không
đi di tản. Gia đình ông quê ở miền Bắc nên hy vọng chiến thắng của Cộng
sản sẽ tạo cơ hội để ông gặp lại người thân sau hơn hai chục năm xa cách.
Theo lời ông Ẩn: “Hai mươi bảy người bên nội, bên ngoại trong gia đình
anh ấy, trong đó có bố và người em đều là đảng viên cộng sản”.

Nhưng niềm vui phấn khởi quá ngắn ngủi. Không có nguồn thu nhập, gia
đình Cao Giao sống khá gieo neo. Công an của chính quyền mới e ngại
ông có quá khứ “chống đối cách mạng” lại là phần tử thân Nhật cũ. Cực
chẳng đã, Cao Giao đưa gia đình theo chân người ta “vượt biên”. Thế là
lại bị bắt. Trong những ngày thê thảm ở khám lớn Chí Hòa, từ 1979 đến
1983, ông chỉ sống với kỷ niệm quá khứ. Sức khỏe ông suy sụp trầm trọng
và chỉ được thả nhờ tổ chức Ân xá Quốc tế can thiệp. Sau đó, ông được
phép rời khỏi Việt Nam một cách hợp pháp để đoàn tụ với con cái đang
sống ở Bỉ.

Cuối cùng, đầu năm 1986, sau hai năm sống ở xứ người, không chống lại
được căn bệnh hiểm nghèo, ông vĩnh biệt gia đình, bạn bè ở tuổi 65, 67 gì
đó. Theo người ta kể lại, khi làm việc cho Hiến binh Nhật cuối thế chiến
thứ hai, Cao Giao đã ngầm hợp tác đắc lực với Việt Minh, cảnh báo cho
họ biết trước cuộc đảo chính Nhật ngày 9 tháng Ba năm 1945 lật đổ nền
thống trị của Pháp ở Đông Dương.

Nguyễn Đình Tú bị buộc tội “gián điệp của CIA”

Một người nữa rất quen thuộc với những cuộc họp của chúng tôi ở căn
phòng số 47 trên gác hai khách sạn Continental tên là Nguyễn Đình Tú,
cựu đảng viên Đảng thân Nhật và phóng viên của tờ báo tiếng Việt Chính
Luận tại Sài Gòn. Thỉnh thoảng Tú cũng viết cho tờ The New Yorker. Là
phóng viên chiến trường, ông viết những bài phóng sự về cuộc di tản của
dân chúng trong cuộc tháo chạy của quân đội Nam Việt Nam năm 1975,
nói lên nỗi thất vọng cay đắng đối với những người cầm đầu chế độ Sài
Gòn.

Anh đã có mặt ở Pleiku khi quân cộng sản tiến công và Tổng thống Thiệu
ra lệnh rút chạy đã gây nên cuộc hoảng loạn trong dân chúng. Tú đã đi
theo cuộc di tản đó ra đến bờ biển mà ông gọi là “cuộc rút chạy trong nước
mắt”. Ông đã thu xếp được với phi công lái trực thăng để gửi bài về Sài
Gòn. Lẽ ra ông có thể rời khỏi Việt Nam trước khi quân cộng sản đầu tiên
vào thành phố, nhưng không. Người ta đưa tin ông đã chết trong khám
Chí Hòa ở Sài Gòn cuối 1975.

Tuy nhiên, mười bốn năm sau, người ta gặp lại ông trong một trại “thuyền
nhân” (người vượt biển bằng thuyền) ở Hồng Kông. Lúc này ông đã 66
tuổi. Ông cho biết một tuần sau khi Sài Gòn thất thủ, ông bị buộc tội là
“gián điệp của CIA” và bị vào tù. Ông chỉ được ra khỏi trại “cải tạo” mười
ba năm sau, tức vào năm 1988 và sống lay lắt một mình trong thành phố.
Ông nói với phóng viên báo Anh The Independent tháng Mười hai năm
1989: “Tôi mất hết, bè bạn, nhà cửa, xe ôtô và tiền bạc”. Ông nói thêm:
“Vì tiếp tục bị giám sát chặt chẽ, tôi chỉ có một lối thoát là trốn đi Hồng
Kông”.

Ông kín đáo ra Bắc, xuống Hải Phòng, một cảng biển lớn ở miền Bắc rồi
thuê một chiếc tàu mong manh đi cùng với những thuyền nhân khác lén

lút đến Hồng Kông, thuộc địa cũ của người Anh. Được tin, giới nhà báo
quốc tế mở một chiến dịch vận động thành công để ông được hưởng quy
chế tỵ nạn và được nhập cư vào Mỹ.

Nguyễn Hưng Vượng, một người Trung Quốc đi theo cách mạng

Nhưng nhân vật gần gũi nhất với Phạm Xuân Ẩn hồi trước chiến tranh,
không còn nghi ngờ gì, chính là Nguyễn Hưng Vượng. Ông là nhân vật
nổi bật trong đám nhà báo bị cuốn hút vào cuộc chiến tranh Đông Dương
lần thứ hai do Mỹ tiến hành. Thỉnh thoảng, người ta thoáng gặp ông ở
sảnh lối vào khách sạn Continental như người lạc trong mộng trong khi
chờ đợi chiếc thang máy già nua và chậm chạp của khách sạn để đi lên
tầng hai đến phòng của Bob Shaplen.

Trong lúc Bob đang cao giọng thao thao bất tuyệt thì Vượng, người phụ
tá của ông ta lặng lẽ bước vào, cất giọng nhỏ nhẹ xin lỗi về sự hiện diện
của mình, người ta có cảm tưởng là anh ta không muốn ai để ý. Giữa tính
kín đáo và nổi trội có sự hỗ trợ nhau dựa trên tình bạn và kính trọng nhau
nhiều hơn là niềm tin và thèm muốn. Vượng và Bob khác biệt nhau về
tính khí như nước với lửa, thiện và ác. Thật khó mà tưởng tượng đôi bạn
thân lại trái tính nhau đến thế.

Vượng là con người rất hòa nhã. Khi cuộc trò chuyện ít hứng thú, ông rít
thuốc lá liên tục, như người nghiện thuốc phiện, đốt hết điếu này đến điếu
khác, loại thuốc lá rẻ tiền. Xấp xỉ ngũ tuần, dáng mảnh dẻ, lưng hơi còng,
mái tóc dày cứng và bắt đầu hoa râm, nước da trong trẻo, ông đã từng trải
và nếm đủ khổ đau nên rất tiết kiệm thời gian. Ông nói với tôi: “Con người
ta không thể sống mà không có ước mơ” và hình như ông đã phải trả giá
để hiểu ra điều này. Câu nói này vẫn ám ảnh tôi mỗi khi tôi nhớ lại những
người bạn Việt Nam nhỏ bé đã nuôi dưỡng cuộc sống và đang mơ ước

những gì thời ấy. Ông như vẫn đang ở đâu đây giữa những người đang
sống trên đời này.

Sau khi chiến tranh kết thúc, Phạm Xuân Ẩn, người đã quen biết Vượng
từ những năm 1950, kể cho tôi biết Vượng sinh năm 1923 ở Côn Minh,
một thành phố ở Vân Nam, phía nam Trung Quốc trong một gia đình
người Việt làm việc cho Pháp, hoạt động chính trị và là nạn nhân của
những sự đảo lộn diễn ra trên đất nước Trung Hoa thời Quốc dân đảng.
Một trong những người anh của ông là một phần tử trốt-kít, có ảnh hưởng
mạnh mẽ với ông đã bị Đệ tam Quốc tế sát hại. Một người anh khác là
một nhân viên an ninh của Pháp ở Côn Minh.

Để được an toàn và bảo vệ tương lai, gia đình quyết định cho Vượng về
Việt Nam. Mới 14 tuổi nhưng chăm ngoan nên Vượng học tiếng Việt và
tiếng Pháp rất nhanh. 19 tuổi Vượng đã đỗ tú tài phần hai rồi chuyển sang
học trường thuốc rồi Luật khoa nhưng cũng không tin tưởng gì ở hai ngành
nghề này lắm.

Tháng Tám năm 1945, Việt Nam được độc lập. Vượng đi theo Cách mạng
và làm ở Sở Kiểm duyệt báo chí tại Hà Nội. Ông nói với tôi thỉnh thoảng
Hồ Chí Minh đến Sở Kiểm duyệt, không khí lạnh lùng có khi căng thẳng
nữa. Sau đó, Vượng rời Hà Nội đi Hồng Kông, tại đây, ông gặp Lê Xuân,
một điệp viên làm việc cho Hồ Chí Minh ở Thượng Hải. Tiếp đó, Vượng
đi Thái Lan và tại đây làm quen với Phạm Xuân Giai.

Ẩn nói: “Hồi ấy, Giai làm việc cho Phòng Nhì Pháp, còn Vượng và Lê
Xuân làm việc cho CIA”. Giai là anh em họ với Ẩn. Có lẽ người ta khó
mà tóm tắt tình hình quá phức tạp như vậy. Ẩn lúc đó không ai biết là
người gần gũi với Việt Minh: còn Giai làm việc cho Phòng Nhì Pháp hay
Vượng, nhân viên cũ của Sở Kiểm duyệt Hà Nội.

Rồi Vượng trở lại Việt Nam và tìm được một việc làm trong Sở Thông tin
Mỹ (USIS) tại Hà Nội, lúc này là vùng tạm chiếm của Pháp. Năm 1952,
Vượng vào định cư tại Sài Gòn. Tại đây, Phạm Xuân Giai đã tuyển dụng
Vượng vào Nha chiến tranh tâm lý của Quân đội Quốc gia mới thành lập
do Pháp dựng nên. Bảo Đại tự xưng là Quốc trưởng nhưng lưỡng lự không
muốn lập lại chế độ quân chủ.

Giai vốn là sĩ quan của quân đội Pháp nên theo chân các sĩ quan khác
chuyển sang làm sĩ quan cho quân đội Bảo Đại. Làm việc cho Giai, Vượng
còn liên lạc với tình báo Mỹ do Edward Lansdale cầm đầu.

Lansdale là người bênh vực nhiệt tình cho kế hoạch “ấp chiến lược” nhằm
thu gom dân chúng nông thôn vào trong các làng được bảo vệ để ngăn
không cho liên hệ với Cộng sản - như tách cá ra khỏi nước. Graham
Greene đã lấy Giai làm nguyên mẫu để xây dựng nhân vật chính trong
cuốn tiểu thuyết của ông nhan đề Un Americain bien tranquille (Một
người Mỹ trầm lặng). Năm 1954, Lansdale là đại tá, với sự ủng hộ của
CIA, đã thành lập một phái bộ chính trị - quân sự đầu tiên ở Sài Gòn.

Phạm Xuân Ẩn, hạ sĩ quan quân đội Nam Việt Nam được kết nạp
Đảng

Vào lúc này, Ẩn đã móc nối lại được với cơ sở kháng chiến sau khi được
thử thách một thời gian dài. Ẩn được kết nạp bí mật vào Đảng Cộng sản
vào tháng Ba năm 1953. Bình phong chính thức của ông do ông tự xoay
xở để trở thành hạ sĩ quan trong quân đội Nam Việt Nam. Ẩn được biệt
phái vào TRIM, cơ quan ba bên Việt - Pháp - Mỹ, lúc này do Lansdale
cầm đầu. Người em họ Phạm Xuân Giai có giúp Ẩn việc này không? Ông
không nói gì về điều này. Ẩn lợi dụng cơ hội để thiết lập quan hệ vững

chắc với Lansdale, người rất có thế lực sau khi trở lại Lầu Năm Góc. Ẩn
gặp Vượng đều đều và sau đó giúp Vượng thoát hiểm nhiều lần.

Năm 1955, sau Hiệp nghị Genève, Việt Nam bị chia cắt thành hai miền,
Vượng giải ngũ. Ẩn nhớ lại: “Anh ấy hút thuốc lá nhiều, nghe nói kể cả
thuốc phiện, một thói quen nhiễm từ khi còn đi học ở trường”. Vượng đọc
rất nhiều sách. Người ta thường đến xin ông tư vấn, ông không có việc
làm và rất nghèo.

Năm 1960, Ẩn giới thiệu Vượng với Douglas Pike, một giáo sư đại học
rất có thế lực. Pike tuyển dụng Vượng làm trợ lý và Vượng bắt đầu giao
du với đám nhà báo Mỹ rất khả nghi. Ngay sau đó, Vượng còn làm trợ lý
cho một nhà nghiên cứu Mỹ mà Ẩn biết rất rõ tên là Jerry Rose, tốt nghiệp
trường Sorbonne của Pháp. Rồi Vượng trở thành cố vấn cho báo Time và
Washington Post. Ẩn giới thiệu Vượng với Robert Shaplen khi ông này
đến Việt Nam lần đầu tiên sau cuộc đảo chính lật Diệm - Nhu. Cả hai anh
em Diệm, Nhu sau đó đều bị giết.

Chục năm sau thời chiến tranh của Mỹ, Vượng ở trong ngôi nhà một tầng
hai phòng tại quận Ba ở Sài Gòn, trông ra con hẻm rất đông người đi bộ.
Lập gia đình muộn, hai vợ chồng Vượng không có con, phải nhận một
đứa bé trai làm con nuôi. Đứa con nuôi lớn lên lập gia đình, sinh con,
Vượng trở thành ông nội. Gia đình người con này sống eo hẹp tại một khu
phố đông dân. Ngoài các tẩu thuốc phiện, Vượng chỉ có một thứ xa xỉ duy
nhất là khi Bob Shaplen đến Sài Gòn: được thuê một phòng có máy điều
hòa tại một khách sạn hạng ba ở đường Hai Bà Trưng cách khách sạn
Continental không xa. Nhờ đó, Vượng quên được cảnh huyên náo của con
hẻm và có thể ẩn mình trong căn buồng yên tĩnh khi muốn, nhưng lúc cần
lại rất dễ gặp bạn bè.

Vượng không có ảo tưởng nào về kết cục của chiến tranh và anh nói thẳng
ra điều đó. Về điều này, quan điểm của anh khác biệt sâu sắc với Bob. Sau
này rất lâu, Ẩn kể với tôi rằng: một ngày đẹp trời, Ẩn lái chiếc xe Renault
4 mã lực của ông chở Vượng và Bob đến chơi nhà Đại sứ Mỹ Ellsworth
Bunker. Hai người này tranh cãi nhau kịch liệt. Vượng yêu cầu dừng xe
và xuống đi bộ. Ẩn nhớ lại lúc đó trông anh giận dữ lắm. Nhưng cuộc
tranh cãi không kéo dài. Hai người lại làm lành với nhau rất nhanh. Ẩn
còn nói Vượng cũng đã từng tranh cãi với Douglas Pike. Một thời gian
dài, sau khi Vượng mất ở Hoa Kỳ nơi anh di tản, Ẩn đã tóm tắt về người
bạn mà ông biết rõ hơn cả: “Anh ấy rất thông minh, suy nghĩ độc lập, khắc
kỷ và luôn luôn đến chậm”.

Phạm Xuân Ẩn không bao giờ quên bạn bè thời đó. Trước khi Cộng sản
giành được chiến thắng, phần lớn các bạn ông đã đi đến phương trời khác.
Những tuần lễ sau đó, ông cảm thấy trống rỗng. Trong một bữa ăn tối ở
Bangkok năm 2005, người con út của Cao Giao nói với tôi rằng sau khi
cha anh được thả từ năm 1983, chỉ có bác Ẩn gần như ngày nào cũng lại
thăm như muốn che chở cho một người bạn thân. Ẩn không bao giờ kể
cho tôi chi tiết này. Sau này, trong một lần qua Sài Gòn, gặp lại Ẩn, tôi kể
lại chuyện gặp con trai út của Cao Giao. Ông đã nở một nụ cười buồn bã:
“Trong hoàn cảnh đó, ai dám đến thăm Cao Giao mới ở tù về? Không ai
hết. Dù sao lúc đó mỗi ngày anh ấy cần một mũi tiêm. Tôi đã biến thành
y tá của anh ấy”.

Kỳ cuối: Phạm Xuân Ẩn: 'Chú bộ đội nào cũng có thể
giết tôi...'

0 Chia sẻ lên Facebook

Phạm Xuân Ẩn đã trải qua những lo lắng tồi tệ nhất trước
khi chính quyền Sài Gòn hoàn toàn sụp đổ ngày 30 tháng Tư
năm 1975. Nhưng cuối cùng sứ mệnh làm tình báo của ông
đã hoàn thành trong thanh bình cho đến những năm cuối
đời.

Tòa soạn báo Time thúc giục Phạm Xuân Ẩn cùng vợ và bốn con phải ra
đi gấp và đã dự kiến đưa hết nhân viên rời khỏi Việt Nam bằng máy bay.
Tình hình lúc bấy giờ rất khó xử: các đồng nghiệp Mỹ không thể hiểu tại
sao ông lưỡng lự trước việc ra đi, trừ khi có trường hợp bất khả kháng.

Tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn sứ mệnh hoàn thành

Sau khi hỏi ý kiến Bob Shaplen, Ẩn quyết định đề nghị cho vợ và các con
đi trước. Thế là, năm mẹ con lên đường ngày 23 tháng Tư, còn Vượng
cùng vợ và con trai ba ngày sau cũng ra đi nốt. Ông Ẩn nói ông không thể
bỏ lại bà mẹ đang ốm. Năm 1989, ông kể chuyện với Morley Safer: “Dù
tôi muốn đi thì cũng không đi được vì còn mẹ già, bà cụ không đủ sức
khỏe để đi xa”. Ông nói tiếp: “Lúc đầu, sau chiến thắng năm 1975, tôi
nghĩ là có thể tìm được ai chăm sóc mẹ già và tôi sẽ đi Pháp hay Mỹ để
đoàn tụ gia đình, nhưng họ (Đảng) đã nói rõ không để tôi ra đi được”. Một
lần khác, ông đã tuyên bố rằng ông không thể ra đi vì còn nhiều việc phải
làm sau giải phóng.

Trước khi Sài Gòn thất thủ, Phạm Xuân Ẩn có những lý do khác để lo
lắng thật sự. Thành phố cực kỳ hỗn loạn. Từng đám quân lính trút bỏ quân
phục. Những cuộc thanh toán nhau đã xảy ra. Những người cộng sản có
thể nhanh chóng nhận ra ông thực tế chỉ tính bằng đầu ngón tay. Không
thể loại trừ khả năng một người láng giềng nào đó tố cáo ông đã cộng tác
với người Mỹ. Trong trường hợp bị chính quyền mới bắt giữ, ông không
có cách nào để minh oan, chứng thực được thân phận của mình. Ông ở
trong tình trạng không có tin tức gì của kháng chiến.

Hình ảnh đời thường của ông Phạm Xuân Ẩn sau ngày thống nhất đất
nước.

Ông nói: “Chú bộ đội nào cũng có thể giết tôi và nướng cả con chó của
tôi”, ám chỉ người miền Bắc thích ăn thịt chó. Cuối cùng, ông nghe lời đề
nghị của Bob Shaplen - ông này cũng đi di tản ngày 29 tháng Tư - đưa mẹ
già về ở khách sạn Continental nương náu trong căn buồng của người bạn
Mỹ ở trước đây. Việt Cộng biết rõ khách sạn Continental là nơi đón tiếp
các nhà báo nước ngoài. Khẩu hiệu hành động của Cộng sản là không
được đụng đến khách sạn, Đại sứ quán Pháp nơi có đông Pháp kiều tị nạn
và bệnh viện Grall. Trong những ngày hỗn loạn đó, khách sạn Continental
có lẽ là một trong những nơi an toàn nhất ở Sài Gòn. “Tôi ở đó đúng một
tuần lễ”. Ông đi lại như con thoi giữa tòa soạn báo Time bỏ trống vì các
phóng viên Mỹ đã di tản hết và phòng của Bob ở tầng trên, nơi mẹ ông
đang nghỉ. Các cán bộ Việt Cộng nhanh chóng đến giám sát nhân viên
khách sạn và một phái viên mật đã bắt liên lạc với ông. Cuộc chiến tranh
kết thúc trong tình thế có vẻ không rõ ràng tại Dinh Độc Lập cách đó vài
trăm mét.

Tướng Trần Văn Trà: “Giữa chúng ta không có người thắng, người
thua"

Tướng Nguyễn Hữu Hạnh nhớ rất kỹ lúc các sĩ quan Việt Cộng tiến vào
Dinh Độc Lập. Ngày 28 tháng Tư khi tướng Dương Văn Minh được trao
quyền đứng đầu Nhà nước thì đại tá Hạnh đang ở Cần Thơ, miền đồng
bằng sông Cửu Long. Minh gọi viên cựu tham mưu trưởng riêng trước
đây về ngay Sài Gòn gặp ông, vì trụ sở Bộ Tổng Tham mưu Lực lượng
Vũ trang đã bị bỏ trống. Minh đề bạt Hạnh lên cấp thiếu tướng và giao
cho ông phụ trách Cục Tác chiến. Để về được Sài Gòn, Nguyễn Hữu Hạnh
phải đi đường vòng xuống tận Gò Công vì Quốc lộ 4 nối liền Cần Thơ và
Sài Gòn đã bị một đơn vị Việt Cộng phong tỏa.

Sáng 30 tháng Tư, tướng Hạnh đã ở trong Dinh Độc Lập. Đầu buổi sáng,
tướng Hạnh đến Đài Phát thanh Sài Gòn mang theo lệnh ngừng bắn của
Minh Lớn đã được ghi âm để phát lên đài. Tướng Hạnh kể lại: “Khi tôi
trở về Dinh Độc Lập, hai cánh cổng sắt đã đóng lại trong khi tướng Minh
đã ra lệnh mở từ sáng”. Lý do: Bình, nghị sĩ và cựu sĩ quan quân đội Sài
Gòn đã quyết định đóng lại vì sợ binh sĩ cộng hòa nổi loạn hoặc tràn vào
Dinh, chỉ đơn giản là cướp phá. Đơn vị bảo vệ Dinh tan tác vì tướng Minh
đã cho phép ai đi đâu được thì cứ đi.

Sau này, cách giải thích được lưu hành rộng rãi là quân cộng sản có lẽ đã
đóng cổng lại rồi cho xe tăng húc đổ để chụp ảnh. Ngược lại, hình như
các xe bọc thép Bắc Việt đã nhận được lệnh đến Dinh Độc Lập đầu tiên
vượt lên trước các đơn vị Quân đoàn 4 gồm nhiều người quê ở miền Nam
để biểu tượng chiến thắng không còn chút nhập nhằng. Hà Nội đã làm chủ
cả nước.

Tướng Hạnh ngồi trên tràng kỷ trong ngôi nhà giản dị của ông ở ngoại
thành Sài Gòn kể lại: “Lúc đó là 11 giờ 30, Nguyễn Văn Diệp, cựu Bộ
trưởng Kinh tế và là cộng sản bí mật đứng đợi các sĩ quan cộng sản trong
đại sảnh ở tầng trệt. Tôi lúc đó ở trên lầu một đầu cầu thang, còn tướng
Minh đang nói chuyện với mọi người xung quanh ở đầu hành lang. Tôi ra
lệnh cho một đại tá biết rõ cấu trúc bên trong Dinh, chỉ đường lên mái cho
người lính cộng sản lên treo cờ Việt Cộng rồi tôi đưa các sĩ quan đi vào
phòng khách. Tại đây, Minh Lớn và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu cùng các
thành viên khác trong chính phủ đã gặp họ!”.

Trung tá Bùi Văn Tùng, chính trị viên Trung đoàn xe tăng Bắc Việt - lúc
này đang chiếm lĩnh vị trí trong sân cỏ trước Dinh - liền soạn thảo một
văn kiện và yêu cầu tướng Minh đến đọc tại đài phát thanh. Thủ tướng

Mẫu nghe theo và đến đài phát thanh dưới sự hộ tống của Việt Cộng trong
một thành phố hỗn loạn. Khi trở về, tất cả chúng tôi chia nhau phòng của
Nguyễn Cao Kỳ, tướng không quân đã lái trực thăng bỏ trốn trước đó ít
hôm. Gia đình Minh Lớn ở phòng bên cạnh. Đến buổi tối, trung đoàn xe
tăng Bắc Việt rút khỏi Dinh và được lính Quân đoàn 4 của Cộng sản miền
Nam thay thế. Tướng Hạnh nhớ lại: “Buổi tối lính Quân đoàn 4 đã cho tôi
một bữa no nê như ăn tiệc”.

Ngày 2 tháng Năm, người phụ trách vây hãm Sài Gòn, tướng Trần Văn
Trà mới đến. Ông đã tiếp Minh Lớn và theo tướng Hạnh kể lại, ông Trà
nói với Minh Lớn: “Giữa chúng ta không có người thắng, người thua.
Chính là nhân dân Việt Nam đã đánh thắng đế quốc Mỹ”. Sau buổi trò
chuyện đó, Minh Lớn có thể trở về nhà chỉ cách Dinh có hai bước. Còn
tôi, tôi về nhà chú tôi là một cộng sản!”.

Lúc kể chuyện vào năm 2005, tướng Hạnh đã 81 tuổi và là Ủy viên Trung
ương Mặt trận Tổ quốc, một cơ quan bao trùm các tổ chức bán cộng sản.
Ông Hạnh tóm tắt câu chuyện: “Đúng là bộ đội có hô: ‘Giơ tay lên’ với
chúng tôi nhưng tuyệt nhiên không có một cử chỉ tàn nhẫn nào”. Sự thực
là ngày 29 tháng Tư, đài Sài Gòn và đài Hà Nội nhiều lần phát đi lời kêu
gọi ngừng bắn của nhà cầm quyền Hà Nội. Phản ứng của Minh Lớn là đáp
lại yêu cầu đó trong một bức thư gửi chính phủ Cách mạng lâm thời miền
Nam Việt Nam (GRP), một đại tá Việt Cộng có lẽ đã vào trước, bí mật
gặp tướng Minh tại Dinh Độc Lập. Minh nhậm chức Tổng thống chỉ để
chấm dứt cuộc chiến.

Một lính Mỹ bị bắn chết trên trực thăng, tại chiến trường Việt Nam.
Ảnh: Larry Burrous đăng trên Life số 16 - 4 - 1965

Tôi là nhân viên tình báo chiến lược chứ không phải điệp viên

Từ tòa soạn báo Time ở khách sạn Continental, Phạm Xuân Ẩn đã theo
dõi các diễn biến của sự việc mà ông không có lý do gì để tham dự. Nhiệm
vụ của ông đã hoàn thành. Ngay cả bây giờ đây ông không có nhiều thời
gian để nghĩ tới nhưng ông đã đi hết con đường dài bắt đầu từ tuổi thiếu

niên, ba chục năm về trước. Những người cộng sản không bắn vào máy
bay và trực thăng nối đuôi nhau như một guồng nước chở người Mỹ và
một số tay chân của họ di tản khỏi Sài Gòn vào giờ phút cuối cùng. Họ để
cho người Mỹ bình yên rút chạy trong lúc năm sư đoàn Bắc Việt tăng
cường sức ép tiến sâu vào vùng đông dân ở phía nam. Phạm Xuân Ẩn đã
đạt tới mục đích của ông: người nước ngoài đã mất hết mọi quyền lực.

Công việc của ông, nhất là trong mười lăm năm cuối cùng đã hoàn toàn
thắng lợi. Ba mươi năm sau, ngồi lọt thỏm trong chiếc ghế phô-tơi trong
phòng khách nhà mình, ông nói về công việc của bản thân với một giọng
đầy chiêm nghiệm: “Tôi làm việc một mình, không những thu thập tài liệu,
bí mật cũng như công khai, mà tôi còn phải phân tích chúng. Áp lực của
Hà Nội là lớn vì cấp trên muốn bảo đảm đó phải là những tài liệu xác thực.
Cung cấp cho họ chứng cứ vừa khó lại vừa nguy hiểm. Ba trăm trang tài
liệu gói gọn trong mười cuộn phim phải chụp, in tráng và làm sao gửi
được đến nơi nhận. Thực sự là chúng tôi thiếu điệp viên”. Chắc chắn ông
không phải chỉ là “mắt xích đơn giản”.

Ông làm việc một mình, không có lưới che chắn, trong một thế giới không
được cấp trên biết đến. Ông phải tự mình tổ chức một hệ thống bảo vệ,
cung cấp tin và đối thoại với ông. Ngay cả với bạn bè gần gũi nhất, ông
cũng phải hành động hết sức thận trọng, lượm lặt những nhận xét của họ,
nhờ vào sự thông minh của họ. Ông tổ chức lưới của ông như thế nào để
có thể đột nhập vào các tài liệu tuyệt mật, dù là kế hoạch tác chiến hay hỏi
cung tù binh?

Về cách thu thập tài liệu thực tế, ông không bao giờ nói đến, sợ rằng -
theo cách ông nói - có thể gây nguy hiểm cho tính mệnh người cung cấp

ngay cả đến tận bây giờ. Ông đã từ chối nhiều giao thông viên do cấp trên
đề nghị để chọn một phụ nữ can đảm mà ông khâm phục vô bờ bến.

Ngoài mẹ và người vợ ông cưới năm 1962, người nữ giao liên gan dạ ấy
là người duy nhất có thể gặp ông. Vậy là có ba người đàn bà biết rõ hoạt
động của ông kể từ đầu năm 1960, tức là sau khi ở Mỹ về. Vài cán bộ tình
báo cộng sản đã có dịp gặp ông sau đó phải trả giá bằng bao rủi ro to lớn.
Ngoài rừng Hố Bò, nơi ông thỉnh thoảng đến để trực tiếp đưa báo cáo,
nhưng họ không thể tiếp xúc trực tiếp với ông.

Ẩn buộc phải tự giam mình trong thế giới tình báo đầy bí ẩn quanh co ở
Sài Gòn, nơi có những hang ổ xen lẫn. Ông phải canh chừng những điệp
viên hai mang, những kẻ bám đuôi, những người có nhiệm vụ thử thách
hay theo dõi mình. Ông còn phải hoàn thành một công việc khó khăn hơn
cả là giải thích tài liệu đã thu thập được, phân biệt đâu là tài liệu giả đâu
là tài liệu thật, tránh những âm mưu cung cấp tin để đưa mình vào bẫy.
Chỉ gửi nguyên các tin tức đó chưa đủ mà còn phải chụp vi phim và phân
tích, bình luận trước khi giao cho liên lạc mang đi.

Ông nói với một giọng bực bội: “Hà Nội luôn đòi hỏi tôi phải cung cấp
tin tức tình báo. Tôi là nhân viên tình báo chiến lược chứ không phải là
một điệp viên chỉ làm công việc do thám. Thu lượm tài liệu không phải
quyền hạn của tôi nhưng cũng phải có ai đó làm chứ! Tôi không thể chỉ
quan tâm đến việc thu thập tin tức, đó là công việc của một thám tử nhưng
những người cộng sản không phân biệt được điệp viên khác với tình báo
chiến lược ở chỗ nào”. Ông ham mê phân tích và kết hợp với công việc
làm báo. Ông nói: “Phân tích đòi hỏi phải hiểu biết rộng tình thế. Nếu bạn
không có đủ tri thức thì làm sao đưa ra được một sự phân tích thông minh!
Phải hòa nhập với tất cả trong mỗi lĩnh vực quân sự, xã hội, tài chính và

tâm lý. Phải nhận thức sâu sắc về Mỹ. Và quan trọng là phải tìm hiểu ý đồ
rồi mới đến hành động.

Sau cuộc tiến công Tết năm 1968, những người cộng sản cũng khá thất
vọng, nhất là khi có nhiều thiệt hại về sinh mạng. Và đối với họ, thật khó
mà đánh giá tình hình”. Để tóm tắt, ông nói: “Tôi biết rằng ở Sài Gòn,
nhiều người bắt đầu bán nhà. Hà Nội không thể đo lường được ý nghĩa
của hiện tượng này. Tôi có lợi thế là biết rõ tình hình ở cả hai phe. Tôi tự
xoay xở để tiếp cận được những tài liệu cộng sản - những nghị quyết…
do CIA và CIO bắt được. Tôi đọc các báo cáo thẩm vấn những người cộng
sản bị bắt hay những tên đào ngũ đã chạy sang đầu hàng địch. Tôi đọc các
báo cáo thẩm vấn tù binh và cả những tên đang đào hầm để có chỗ đưa
pháo tháo rời vào gần đối phương”.

Một người Việt trầm lặng: Thêm một góc nhìn về
tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn

0 Chia sẻ lên Facebook

“Điệp viên hoàn hảo” hay “Điệp viên thách thức nước Mỹ”...
có lẽ chỉ là một cách ca ngợi những tài năng, phẩm giá của
Phạm Xuân Ẩn, điều cốt lõi trong ông chính là một tinh thần
yêu nước, một trí tuệ thông minh cùng với nhân cách và tinh
thần mã thượng, hành xử rất khiêm cung khiến cho chính kẻ
thù phải kính nể.

Đã có nhiều cuốn sách của giới nghiên cứu, học giả, ký giả Mỹ viết về
tướng tình báo Việt Nam Phạm Xuân Ẩn trong thời gian qua dưới nhiều
lăng kính khác nhau như với Điệp viên Z.21 - Kẻ thù tuyệt vời của nước
Mỹ của Thomas Bass hay Điệp viên hoàn hảo của Larry Berman và rất
nhiều tác phẩm báo chí khác được xuất bản trong và ngoài nước.

Thiếu
tướng Phạm Xuân Ẩn là một trong những huyền thoại của tình báo Việt
Nam - Ảnh tư liệu

Và lần này, bạn đọc có dịp tiếp cận tướng Phạm Xuân Ẩn một cách hoàn
toàn mới thông qua góc nhìn của tác giả Jean-Claude Pomonti - một nhà
báo người Pháp. Cuộc chiến đấu thầm lặng của nhà tình báo lỗi lạc Phạm
Xuân Ẩn đặt trong cục diện chiến trường miền Nam rất cần được liên hệ
trong một bối cảnh lịch sử rộng lớn hơn, đó là cuộc chiến tranh Đông
Dương.

Chính vì thế, một cái nhìn, quan điểm từ người Pháp mà ở đây chính là nhà
báo Jean-Claude Pomonti, tác giả của Một người Việt trầm lặng (tựa gốc

tiếng Pháp: Un Vietnamien bien tranquille) là một đóng góp mới, một
cách dựng tiểu sử nhà tình báo lỗi lạc Việt Nam Phạm Xuân Ẩn khá độc
đáo với những góc nhìn mới.

Tác giả Jean Claude Pomonti đã nhìn về chính sự, chiến cuộc tại miền
Nam theo một trục nhìn độc lập. Là một phóng viên thường trú của tờ Le
Monde tại Sài Gòn đầu thập niên 1970, ông đã viết nhiều bài báo ngầm
chống lại sự can thiệp của người Mỹ, rộng hơn, ông chống lại sự phi lý
của cuộc chiến đã gây nhiều tổn thất cho người dân Việt Nam. Chính vì
lập trường đó, ông đã bị trục xuất khỏi miền Nam đến hai lần.

Từ trải nghiệm thực tế đời sống báo chí, là đồng nghiệp với Phạm Xuân
Ẩn trong thời chiến, Jean-Claude Pomonti có cách kiến giải khá sắc sảo,
thấu đáo; đặt tiểu sử nhân vật trong một bối cảnh dầu sôi lửa bỏng, với
một lối dẫn dắt phi tuyến tính, đầy lôi cuốn như một tiểu thuyết trinh thám.

Với vỏ bọc là ký giả các tờ báo Mỹ như Time, New York Herald
Tribune và hãng tin Reuters… những “nước cờ” của điệp viên X6 – Phạm
Xuân Ẩn đầy mưu lược, tinh tế và ngoạn mục.

Tác giả viết: “Ẩn buộc phải tự giam mình trong thế giới tình báo đầy bí
ẩn quanh co ở Sài Gòn, nơi có những hang ổ xen lẫn. Ông phải canh chừng
những điệp viên hai mang, những kẻ bám đuôi, những người có nhiệm vụ
thử thách hay theo dõi mình. Ông còn phải hoàn thành một công việc khó
khăn hơn cả là giải thích tài liệu đã thu thập được, phân biệt đâu là tài liệu
giả đâu là tài liệu thật, tránh những âm mưu cung cấp tin để đưa mình vào
bẫy. Nhưng chính những tài liệu ông chuyển về miền Bắc đã khiến tướng
Võ Nguyên Giáp đã phải thốt lên: “Cứ như đang ở trong phòng điều hành
tác chiến của Mỹ”.

Đại tá
Phạm Xuân Ẩn nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân do
Đại tướng Võ Nguyên Giáp trao tặng tại Hà Nội tháng 12.1979 - Ảnh tư
liệu

Không giải thiêng cũng không góp thêm lời ca ngợi, những trang viết của
Jean-Claude Pomonti là một lược thuật tiểu sử khá chắt lọc, tinh gọn
nhưng nhiều tình tiết gợi mở. Cuộc đời, lý tưởng của nhà tình báo Phạm
Xuân Ẩn hiện lên phía sau những dòng chữ đầy sống động. Sự nhân ái,
thành tín với bạn bè đồng nghiệp không phân biệt chiến tuyến được đặc
tả khá chi tiết. Kể cả giai đoạn sau 1975, những quan niệm của Phạm Xuân
Ẩn được kể một cách nhẹ nhàng nhưng đầy ngụ ý.

“Thiếu tướng tình báo tài ba”, “Điệp viên hoàn hảo” hay “Điệp viên
thách thức nước Mỹ”... có lẽ chỉ là một cách ca ngợi những tài năng, phẩm
giá của Phạm Xuân Ẩn. Điều cốt lõi trong ông chính là một tinh thần yêu

nước, một trí tuệ thông minh cùng với nhân cách và tinh thần mã thượng,
hành xử rất khiêm cung khiến cho chính kẻ thù phải kính nể. Có thể nói,
ở ông là kết tinh phẩm chất của con người Việt Nam.

Tác phẩm "Một người

Việt trầm lặng" của Jean-Claude Pomonti

Một điều thú vị nữa từ cuốn sách này là đời sống Sài Gòn trong thập niên
1960-1970 được mô tả rất thú vị, có thể xem là một mảng tư liệu miền
Nam thời chiến rất quý giá.

Cuốn Một người Việt trầm lặng trước đây đã được Nhà sách Kiến Thức
và NXB Thanh Hóa ấn hành năm 2007 với tựa Một người Việt Nam thầm
lặng, bản dịch của Nguyễn Văn Sự. First News và NXB Tri thức tái bản
với tựa mới, hiệu đính, nhuận sắc và cước chú để phiên bản tiếng Việt trở
nên sống động hơn. Đây là một món quà đầy trân trọng và ý nghĩa dành
cho độc giả nhân dịp kỷ niệm sự kiện lịch sử 30.4 năm nay.

Nhà báo Jean-Claude Pomonti

Jean-Claude Pomonti từng là phóng viên thường trú của tờ Le
Monde (Pháp) ở Sài Gòn trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Chứng kiến
quá nhiều tổn thất cho người dân vô tội Việt Nam, không tán thành việc
Mỹ mở rộng và kéo dài cuộc chiến tranh phi lý, Jean-Claude Pomonti đã
có nhiều bài viết không có lợi cho phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

Nhà báo Jean-Claude Pomonti đã từng bị chính quyền Sài Gòn trục xuất
khỏi miền Nam hai lần vào các năm 1973 và 1974. Sau năm 1975, ông
nhiều lần trở lại Việt Nam và dành nhiều mối quan tâm, thiện cảm với
những chuyển biến tích cực của xã hội Việt Nam, đặc biệt thời kỳ sau đổi
mới. Ngoài cuốn Một người Việt trầm lặng, Jean-Claude Pomonti từng có
hai cuốn sách về chiến tranh Việt Nam là La Rage d'être vietnamien (1974)
và Vietnam, communiste et dragons (1994). Năm 2015, ông xuất bản
cuốn Vietnam: L'éphémère et l'insubmersible.

Tiểu Vũ


Click to View FlipBook Version