VIẾT VỀ CÁI CHẾT CỦA VNCH
DƯỚI THỜI TT. NGUYỄN VĂN THIỆU
“We betrayed you” (W.Westmoreland)
Từ ba thập niên nay, không đợi đến ngày 30 tháng tư trở lại mới có
thêm tài liệu giải mật được phổ biến từ ba phiá Mỹ, Cộng sản và
Quốc gia liên hệ đến giai đọan hấp hối của chính phủ Nguyễn Văn
Thiệu kết thúc bằng cuộc tháo chạy của Hoa kỳ năm 1975. Về cánh
quốc gia, người viết bài này may mắn gặp lại và phỏng vấn một số
nhân vật chính yếu trong cuộc như cố Tổng thống Thiệu, đại tướng
Cao Văn Viên (tác giả của The Final Collapse và Những ngày cuối
cùng của VNCH), ngọai trưởng Trần Văn Lắm trước khi ông qua đời
tại Úc, bác sĩ Nguyễn Lưu Viên, nguyên chủ tịch phái đoàn VN tại
Hội nghị La Celle Saint Cloud và ông Nguyễn Xuân Phong, cựu
Quốc vụ khanh phụ trách đàm phán tại Paris, thay thế đaị sứ Phạm
Đăng Lâm sau tháng giêng 1973. Những bài phỏng vấn vưà kể
được đưa lên internet và đăng trên báo.
Người viết cũng có dịp đọc qua và so sánh các dữ kiện trình bày
trong năm quyển hồi ký của ba nhân chứng còn sống: Pourquoi les
Etats-Unis ont-ils perdu la guerre? (nxb Godefroy De Bouillon, Paris
1996) và The VN Peace Negotiations, Saigon’s Side of the Story
(nxb Arthur J Dommen,VA, 2005) của Nguyễn Phú Đức; Hope and
Vanquished Reality (nxb Xlibris Corp., NY, 2001) của Nguyễn Xuân
Phong; Hồ sơ Mật Dinh Độc lập (viết chung với Jerrold Schecter,
nxb The C & K Promotions Inc., LA , 1986) và Khi Đồng minh tháo
chạy (nxb Hưá Chấn Minh, 2005) của Nguyễn Tiến Hưng. Gs Đức
hiện đã về hưu sau khi dạy luật năm 1975 taị ESSEC, École
Supérieure des Sciences Économiques et Commerciales, Paris, còn
1
hai ông Phong và Hưng thì định cư ở Hoa kỳ, người đầu là chuyên
viên nghiên cứu ở Trung tâm VN Center, Lubbock, Texas Tech
University, và người sau dạy tại Đại học Howard, Washington.
Phạm vi hạn hẹp của bài này không cho phép đi sâu vào chi tiết
diễn tiến của những cuộc đàm phán mật và công khai của các phái
đoàn tham nghị, đặc biệt giữa Kissinger và đại diện Bắc Việt, kéo
dài từ 25.3.1965 (là ngày Tổng thống Lyndon Johnson tuyên bố
sẳn sàng nói chuyện hoà bình với CS ) cho đến 27.1.1973 là ngày
ký Hiệp định Paris. Người viết sẽ phân tích vai trò thật sự của ba
tác giả nêu trên, các đặc điểm trong những hồi ức của họ và bối
cảnh hỗn loạn ở Miền Nam VN vào tháng tư 1975.
Chính sách tóm thu quyền bính và bố trí nhân sự của Tổng
thống Nguyễn Văn Thiệu.
Từ ngày đảo chính 1.11.1963 lật đổ Đệ nhứt Cộng hoà cho đến
1967 là năm ban hành Hiến pháp Đệ nhị Cộng hoà, Chính phủ
Quân nhân cai trị thiếu căn bản pháp lý nên Miền Nam VN biến lọan
liên tiếp. Tháng 5.1967, Hoa kỳ thúc Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia và
Ủy ban Hành pháp Trung ương tổ chức bầu cử hai ngành Hành
pháp và Lập pháp. Mười liên danh tranh chức Tổng thống và Phó
Tổng thống. Liên danh Quân đội Thiệu-Kỳ đắc cử. Trong vòng hai
năm, TT Thiệu củng cố địa vị, vô hiệu hoá Hội đồng Giám sát của
Tướng lãnh, cắt lông cắt cánh Phó Tổng thống Kỳ và ngày
1.9.1969, thay thế con gà yểu số của Kỳ là Thủ tướng Nguyễn Văn
Lộc bằng Nội các Trần Văn Hương do Thiệu kiểm soát hoàn toàn.
Năm 1971, Thiệu độc diễn và đắc cử dễ dàng nhiệm kỳ hai với
“chính sách 4 không”: không liên hiệp, không hoà giải hoà hợp với
CS, không nhượng đất và không trung lập.
Qua trung gian hai Pháp kiều Raymond Aubrac (bạn thân của Hồ
Chí Minh) và Herbert Marcovich (một khoa học gia), giáo sư
Kissinger (K) tổ chức cho Averell Harriman, đại diện Hoa kỳ, gặp
ngày 10.5.1968 ngoại trưởng Xuân Thủy, có Hà Văn Lâu dự kiến và
Lê Đức Thọ cố vấn. Khi chính thức trở nên Phụ tá an ninh cho
Nixon, K nhờ Jean Sainteny, nguyên đại diện cho Pháp taị Bắc Việt
(1945-1947), sắp xếp cho y gặp riêng ngày 4.8.1969 Xuân Thủy
taị tư thất của Sainteny, đường Rivoli, Paris. Năm 1971, cuộc
thương thuyết công khai bắt đầu. Hoa Thịnh Đốn ép Chính phủ
Sàigòn chấp nhận sự tham gia của Mặt trận Giải phóng Miền Nam,
(MTGPMN). Hoa đàm dẩm chân khá lâu vì bốn phe nghị hội: Mỹ,
VNCH. Bắc Việt và MTGPMN tranh luận về thủ tục và kèn cựa mặc
cả. Bắc Việt áp dụng chiến thuật vưà đánh vừa đàm vì biết người
khổng lồ Hoa kỳ với đôi chân đất sét thiếu kiên nhẩn và bị cánh
phản chiến trong nước khoá tay. Chiến cuộc trở nên khốc liệt với
biến cố Tết Mậu thân (1968). Ngày 2.3.1971, Việt cộng pháo kích
Sàigon, Đà nẳng, Biên Hoà và 115 chổ. Ngày 9.7.1971, để gây áp
2
lực với Bắc Việt, K qua Bắc kinh viếng Chu Ân Lai và chuẩn bị cuộc
gặp mặt đầu năm 1972 giữa Nixon và Mao Trạch Đông. CS tổng
tấn công vào lễ Phục sinh, lối năm tuần sau chuyến công du của
Nixon taị Bắc kinh. Ngày 8.5.1972, Nixon ra lệnh gài mìn Hải phòng
và dội bom Bắc Việt.
Để đối phó với tình hình bên trong và bên ngoài, Tổng thống Thiệu
cẩn thận sắp xếp một Bộ tham mưu quân chính gồm những thành
phần tin cẩn, dựa vào sự trung thành cá nhân hay huyết thống gia
đình, bất chấp dư luận dèm pha. Về quân sự, Tổng tư lệnh Quân
đội TT. Thiệu nắm hết quyền bính trong tay, Tổng tham mưu
trưởng Cao Văn Viên chỉ đóng vai trò tuân hành và thị chứng. Bộ
Quốc phòng là “hộp thơ” giữa Tổng thống và Bộ Tổng tham mưu.
Thiệu chọn trung tướng Đặng Văn Quang, cựu Tư lệnh Quân đoàn
4, làm Phụ tá an ninh. Ông bổ nhiệm vào chức Tư lệnh vùng hay sư
đoàn trưởng Nguyễn Văn Toàn, Phạm Văn Phú, Ngô Dzu, Đổ Kiến
Nhiểu, Hoàng Đức Ninh.. Với một hệ thống máy truyền tin đặt tại
Dinh Độc lập, Tổng thống liên lạc thẳng với cấp chỉ huy Quân khu
và theo dõi sít sao việc điều động các đơn vị tác chiến hầu ngăn
chận mọi mưu toan đảo chánh. Nhiều thân nhân của ông Thiệu
nắm giữ các cơ cấu chính quyền như hai anh ruột là Nguyễn Văn
Kiểu (đại sứ ở Đài loan) và Nguyễn Văn Hiếu (đại sứ taị La mã); xui
gia Nguyễn Tấn Trung (TGĐ Air VN), Ngô Xuân Tích (chủ tịch Giám
sát viện), Ngô Khắc Tỉnh (Tổng trưởng,Thông tin rồi Giáo dục và
Thanh niên), Ngô Khắc Tịnh (Tổng trưởng Tư pháp), cháu Hoàng
Đức Nhã (Bí thư đăc biệt rồi Tổng ủy Dân vận và Chiêu Hồi), em
cột chèo Nguyễn Xuân Nguyên (bí thư,), Nguyễn Khắc Bình (Tổng
giám đốc Cảnh sát kiêm đặc ủy trưởng Trung ương tình
báo)..v..v..Là đảng viên Cần lao thời Đệ nhứt Cộng hoà và Đại Việt,
TT Thiệu trọng dụng một số nhân vật chế độ củ hay đảng phái
trong Thượng viện hoặc bộ máy chính trị như các ông Nguyễn Văn
Hướng (tự Mười Hướng), Nguyễn Văn Ngải, Trần Trung Dung, Trần
Chánh Thành, Trần Văn Lắm, Lê Văn Đồng, Phạm Như Phiên, Trần
Hữu Phương.. (hai ông Lắm và Thành có lúc được bổ nhiệm Tổng
trưởng Ngoại giao). Tại Quốc hội, các phe nhóm chống Chính phủ
lần hồi bị vô hiệu hoá bằng sự chia rẻ nội bộ, đàn áp, mua chuộc,
không kể việc xâm nhập của Cộng sản. Đa số thẩm phán Tối cao
Pháp viện bị Phủ Đầu Rồng chi phối nghiêm trọng.
Vì biết khả năng của mình giới hạn, ông Thiệu – theo Ngô Khắc
Tỉnh nói với người viết – chịu khó hỏi ý kiến của nhiều chuyên viên,
phân tích kín đáo và đúc kết lại thành ý kiến riêng để lấy quyết
định cuối cùng. Với bẩm tánh đa nghi, kiên nhẩn chịu đựng, và khi
cần, chấp nhận khổ nhục kế, ông Thiệu đã gở nhiều thế bí trong
cuộc tranh quyền với Kỳ. Cuối cùng, Kỳ bị loại vì ba hoa hơn mưu
lược. “Làm chính trị, phải lì “, ông Thiệu nói.
3
Trong lúc đàm đạo thân tình, người viết có dịp hỏi đại tướng Cao
Văn Viên: “Nếu sánh hai ông Diệm và Ô. Thiệu thì người nào độc
tài hơn ?”. Suy nghĩ một phút, tướng Viên đáp: “Ông Thiệu độc tài
trong dân chủ ”, ngụ ý TT Thiệu khôn ngoan che lấp độc tài dưới võ
ngoài dân chủ. Khác với TT Diệm, ông chấp nhận sự chỉ trích khi
cần thiết. Nhờ thế, ông Thiệu tồn tại lâu hơn ông Diệm.
Dư luận thắc mắc vì sao, từ 1972, Tổng tham mưu trưởng Cao Văn
Viên buông xuôi và Thủ tướng Trần Thiện Khiêm giữ thái độ bất
động? Nghị sĩ Trần Văn Đôn ghi như sau nơi trang 430-431 của hồi
ký Việt Nam Nhân chứng (1989): “. Ông Thiệu nghĩ rằng hai tướng
Viên và Khiêm không có can đảm phiêu lưu làm đảo chánh, nhất là
không có lịnh của Mỹ…..Năm 1971, TT Thiệu nhờ tôi nói với đại
tướng Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng, về việc ông này cứ ở mãi
trong văn phòng, không chiụ đi ra ngoài. Ông Viên trả lời: Tôi đã
xin từ chức mấy lần mà ông Thiệu không chấp thuận nên tôi cứ ở
văn phòng làm việc mà thôi!”. Nơi trang 429, Đôn ghi thêm: “Tôi
hỏi ông Thiệu: Nếu Tổng thống không bằng lòng về hai ông Viên và
Khiêm thì sao không đổi người khác để làm việc hữu hiệu hơn? Ông
Thiệu đáp: Hai người này của Mỹ, nếu tôi đổi hai người này thì Mỹ
sẽ phản đối, tôi sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc lãnh đạo Miền
Nam. Cái khó khăn của tôi ai cũng nghĩ là đối đầu với Cộng sản.
Thật ra trở ngại và khó khăn cho tôi là Mỹ.”
Điều mà Ns Đôn quên nêu ra là cả hai tướng Khiêm và Viên từng
tuyên bố “không ham thích chính trị.” TT Thiệu tìm đâu ra những
nhân vật “lý tưởng hơn” để tránh sự cạnh tranh về quyền lực?
Nguyễn Phú Đức, Nguyễn Xuân Phong và Nguyễn Tiến Hưng: Ba
nhân chứng, ba giai đọan, ba trách vụ.
Như đã ghi trên, cuộc đàm phán tại Paris gồm có ba giai đọan liên
tiếp: mật đàm (từ 25.3.1965 cho đến đầu 1968), đàm phán công
khai (từ 1968 cho đến 27.1.1973 là ngày Hiệp ước hoà bình được
ký tại Paris) và giai đọan thi hành Hiệp ước, (từ 27.1.1973 cho đến
30.4.1975, kết thúc bằng sự vi phạm của Bắc Việt).
Chính phủ VNCH không liên hệ đến giai đọan mật đàm. Năm 1965
và 1966, K qua Sàigòn với tư cách chuyên gia tư vấn của Thống
đốc Nelson Rockefeller (Dân chủ) tìm hiểu vấn đề VN. Y tiếp xúc
với vài nhân vật đối lập như Trần Văn Tuyên, Phan Huy Quát và
thẩm lượng (bi quan) khả năng lãnh đạo của các tướng trẻ Jeunes
turcs. Năm 1968, Nixon đắc cử Tổng thống. K mau lẹ xoay qua cố
vấn chủ mới Cộng hòa. K say mê ánh đèn sân khấu và thích thú đi
đêm với Hànội. Từ tháng 8.1969 cho đến cuối tháng giêng 1973, K.
gặp riêng Lê Đức Thọ, Cố vấn phái đoàn Bắc việt, lối 15 lần ở
Choisy- Le -Roi hay Gif -sur –Yvette (tại tư thất khoa học gia Trần
Thanh Vân, em của linh mục Trần Thanh Giản)
4
Khi đàm phán tiến vào giai đọan công khai, TT Thiệu giao cho
Ngoai trưởng Trần Chánh Thành phụ trách. Trần Văn Lắm thay thế
Thành sau cuộc hội kiến Johnson-Thiệu ở Honululu ngày 18.7.1968.
Tại Paris, đại sứ Phạm Đăng Lâm hướng dẫn phái đoàn VNCH, gồm
có Nguyễn Xuân Phong, (Phó trưởng đoàn), Trần văn Ân, Trẩn Văn
Đổ, Nguyễn Quốc Định, Nguyễn Đắc Khê, Nguyễn Ngọc Huy,
Nguyễn Ngọc An, Nguyễn Thị Vui, và Nguyễn Triệu Đan (phát ngôn
viên). Cố vấn Kỳ và vợ gây nhiều tai tiếng taị Thủ đô Ánh sáng.
Tiến sĩ Nguyễn Phú Đức, phụ tá ngoại giao cho TT Thiệu, đóng một
vai trò kín đáo, khiêm nhường bên sau hậu trường còn Gs Nguyễn
Tiến Hưng thì chưa tham chính lúc đó.
Hiệp định Paris được thi hành ra sao? Sau ngày 27.1.1973 ký xong
Hiệp định Paris, Trần Văn Lắm trở về Thượng viện để giữ chức Chủ
tịch, nhường ghế Ngoại trưởng cho Phụ tá Nguyễn Phú Đức. Phó
thủ tướng Nguyễn Lưu Viên được chỉ định làm trưởng đoàn VNCH
taị Hội nghị La Celle Saint Cloud để chuẩn bị cuộc bầu cử tại Miền
Nam VN với chính phủ MTGPMN. Bs Viên, về sau, tiết lộ với người
viết: “Chúng tôi biết trước Hội nghị La Celle Saint Cloud không đi
đến đâu, chỉ có tác dụng câu giờ, mọi vấn đề sẽ giải quyết trên
chiến trường.” Hai ông Nguyễn Xuân Phong và Nguyễn Tiến Hưng
tham gia Nội các vắn số Nguyễn Bá Cẩn, thành lập ngày
14.4.1975, vào lúc Chính Phủ Sàigòn sập tiệm, người đầu trong
chức Quốc vụ khanh đặc trách Hòa đàm (thay thế đại sứ Phạm
Đăng Lâm) và người sau, trong chức Tổng trưởng Kế hoạch. Dưới
danh xưng này, Hưng được TT Thiệu động viên (tuyệt vọng) vào
giờ thứ 25 sang Hoa kỳ van xin cứu viện. Nhiệm vụ của bs Nguyễn
Lưu Viên và Đs Nguyễn Xuân Phong chỉ có trên giấy tờ vì Bắc Việt
từ chối nhóm họp và ào ạt xua quân thôn tính Miền Nam. bất chấp
các điều ký kết.
Vai trò đặc biệt của hai cố vấn Huỳnh Văn Trọng và Hoàng
Đức Nhã
Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu từng gây xôn xao trong quần
chúng bởi xử dụng một số nhân vật tai tiếng như Nguyễn Cao
Thăng, Vũ Ngọc Nhạ, Nguyễn Văn Ngân, Huỳnh Văn Trọng, Hoàng
Đức Nhã…Ba cố vấn của Thiêu bị điều tra, cách chức hay đưa ra
Tòa: Trọng, Nhạ (tình báo CS) và Ngân (xây dựng uy thế riêng).
Bài này chỉ đề cập đến Trọng và Nhạ vì cả hai liên hệ đến hoà đàm
Ba Lê.
A- HÙYNH VĂN TRỌNG.
5
Năm 1958, khi người viết phụ trách Bộ Nội vụ thời Đệ nhứt Cọng
hoà, Bernard Hùynh Văn Trọng (Pháp tịch và công giáo) bị Đoàn
công tác đặc biệt Miền Trung lùng bắt trong vụ mệnh danh Gián
điệp Tây ở Nhà hàng Morin, Huế. Y thoát được qua Nam Vang và tại
đây, móc nối với Ca Văn Thỉnh, trưởng đoàn đại diện thương mại
CS Bắc Việt. Trọng có bằng cử nhân luật, thông thạo Pháp – Anh
ngữ, từng làm thẩm phán ở Huế và năm 1950 giữ chức Tổng thơ ký
Chính phủ và Bộ trưởng Nội vụ trong Nội các Nguyễn Phan Long.
Sau chính biến 1963, D.V. Minh thả bừa bải tù nhân chính trị.
Trọng trở về Sàigòn và tham gia cụm tình báo chiến lược A22 do
Vũ Ngọc Nhạ phụ trách. Để sinh sống, Trọng dạy tiếng Pháp cho
nhân viên ngoại giao Mỹ và nhờ cha Trần Ngọc Nhuận giới thiệu với
TT Thiệu . Y được Thiệu tin dùng và bổ nhiệm phụ tá Tổng thống về
chính trị, ngoại giao. Đầu 1969, vợ Trọng đến Văn phòng luật sư
của người viết, đường Hàn Thuyên, nhờ biện hộ trước Tòa trong vụ
bị đuổi ra khỏi một khách sạn đường Lê Lợi Sàigòn vì thiếu tiền
thuê nhiều tháng. Trọng nói không dư dã tiền bạc tuy có chức vụ
cao.
Tháng 11.1969, vụ án Điệp báo Cố vấn TT Thiệu gây chấn động dư
luận. Trọng nhờ tác giả bài này bênh vực trước Tòa án Quân sự
vùng 3 Chiến thuật. Trọng tiết lộ với người viết rằng y và cụm
trưởng Vũ Ngọc Nhạ muốn giúp TT Thiệu tìm ra với MTGPMN một
giải pháp cho cuộc chiến, không ngờ CIA theo dõi và phá vỡ mọi
việc. Trọng còn cho biết năm 1968, để chuẫn bị hoà đàm taị Ba Lê,
TT Thiệu đã gởi Trọng cùng đi với linh mục gốc Bỉ Raymond de
Jeagher (cựu cố vấn của TT Diệm và một thành viên năng động
trong Liên Minh Á châu chống Cộng) qua Hoa kỳ vận động với Quốc
hội, báo giới và nghiệp đoàn. Chuyến công du này không gặt nhiều
kết quả vì, theo Trọng, dư luận Mỹ chán ngán chiến tranh.
Vụ án kết thúc ngày 29.11.1969. H.V. Trọng rất sợ bị tử hình.
Người viết khuyên y bình tỉnh vì bên trong sân khấu chính trị,
những dàn xếp bất ngờ có thể xảy ra, Hoa kỳ còn một số phi công
tù binh tại Hànội Hilton; hơn nửa, trong vụ này, Trọng chỉ đóng vai
trò “Lê Lai cứu chúa”. Vị Chánh thẩm cho phép các bị can nói lời
chót trước khi tuyên án. Vũ Ngọc Nhạ cường điệu tuyên bố nhóm
của y hành động vì quyền lợi quốc gia, họ tin sẽ thắng và hẹn có
ngày trở về vinh quang. Trọng lên tinh thần, ngổ ngáo lập lại trước
Toà câu nói của người viết: “Tôi chỉ đóng vai trò Lê Lai cứu Chúa,
tôi không có tội.” Các sự kiện này được kể lại trong quyển hồi ký
Ông Cố vấn do CS xuất bản năm 1984 tại VN, với nhiều khoản thêu
dệt. Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng, Lê Hữu Thúy và Nguyễn Xuân
Hoè bị chung thân khổ sai, đày đi Côn Đảo. Sau 1975, chúng được
CS giải thoát. Nhạ thăng Thiếu tướng, ngành tình báo.
6
B- HOÀNG ĐỨC NHÃ.
Tuy không phải là thành viên của phái đoàn VNCH dự hòa đàm tại
Ba Lê, Nhã là người gây bực bội nhứt cho K. trong nhiều lần chạm
trán. Trần Văn Đôn (trong hồi ức VN Nhân chứng, trang 406- 415),
Nguyễn Phú Đức (trong quyển sách The VN Peace Negotiations,
trang 400-403) và K (trong Ending the VN War, trang 310) đề cập
nhiều đến Nhã. N. P. Đức cho biết Nhã là cháu kêu ông Thiệu bằng
cậu, tốt nghiệp đại học Oklahoma, trở về VN trong Khối chuyên
viên, tiến thân rất mau trong các chức vụ liên tiếp: thông dịch viên,
Bí thư tin cẩn của Tổng thống và cuối cùng, Tổng ủy Dân vận
/Chiêu hồi, phụ trách sau Hiệp ước Ba Lê mạng lưới Thông tin Quốc
ngoại có nhiều quyền lực. Ảnh hưởng của Nhã gia tăng từ tháng
8.1972 (khi K đề nghị Thiệu từ chức hai tháng trước ngày bầu cử
với CS) và tăng cao hơn sau ngày Hiệp ước được ký cuối tháng
giêng 1973. Nhã luôn luôn có mặt trong các buổi họp riêng giữa
Thiệu và K, Haig và Bunker cũng như trong những phiên nhóm Hội
đồng An ninh Quốc gia để thông dịch vì Phó Tổng thống Nguyễn
Văn Hương, Chủ tịch Thượng viện Nguyễn Văn Huyền và Hạ viện
Nguyễn Bá Lương không rành Anh ngữ. Theo N P Đức, Nhã thiếu
kinh nghiệm và sự già giặn để thảo những công văn ngoại giao trao
đổi giữa hai chính phủ Mỹ-Việt. Nhã nuôi nhiều cao vọng chính trị
và trong những ngày tháng chót của TT Thiệu, Nhã tìm cách gài
phe cánh vào Nội các tuy họ thiếu khả năng. Điều này làm cho
chính gia quyến ông Thiệu cũng lo ngại, đặc biệt Ngô Khắc Tỉnh và
đại sứ Nguyễn Văn Kiểu (trang 403).
Trong Ending the VN War, K. viết như sau: “Nhã là cháu tâm phúc
của Thiệu, lối 30 tuổi, phụ tá báo chí, từng du học tại Hoa kỳ, tiêm
nhiểm gương thành công của các chàng trẻ lanh lợi trong phim xi-
nê, ăn bận đúng mốt Hollywood, tướng mạo hao hao giống Alan
Ladd thời thanh xuân, nói tiếng Anh trôi chảy và vẫn giữ lại từ bản
gốc Việt Nam một khả năng mưu loạn vô biên, an infinite capacity
for conspiracy…Bunker và tôi đều đồng ý rằng Nhã đã gây nhiều
rắc rối bằng cách thổi phồng mổi sự hiểu lầm” (trang 310).
K. hậm hực kể lại trong hồi ký thái độ “bất nhã” của Nhã: ngày
19.10.1973, theo lệnh của Nixon, K. qua Sàigòn trình TT Thiệu tại
Dinh Độc lập trao bản dự thảo Thỏa hiệp. Sau khi đợi 15 phút, Nhã
ra đón K. và Bunker vào, Thiệu không có một lời xã giao, thản
nhiên đọc và không phê bình bức thư riêng của Nixon do K. trao lại,
xong Thiệu mời hai vị khách bước sang phòng kế bên để gặp Hội
đồng An ninh Quốc gia. Giữa bầu không khí nặng nề, Thiệu giao
cho Nhã thông dịch mặc dù phiá VN nói được tiếng Anh. K. viết:
Nhã “bắt đầu chế diễu vai trò của mình” bằng cách chỉ tóm lược
gần phân nửa lời thuyết trình của K. Khi K. lưu ý về điểm này, Nhả
7
đáp ngáo ngổ: “I am a master of contraction, Tôi là bậc sư về khoa
cắt ngắn!”. Ngày 21 tháng 10, theo chương trình, K. và Bunker gặp
lại Hội đồng An ninh lúc 2 giờ 30 trưa. Đợi đến 3 giờ, Nhã điện
thoại để thông báo – không cho biết lý do, không xin lổi – phiên
nhóm hoãn đến 5 giờ chiều. “ Y hịch theo kiểu cách của Humphrey
Bogart mà có lẽ Nhã đã học đòi đâu đó trên màn ảnh”. 5 giờ 30,
vẫn không tin tức. Bunker bực mình gọi Dinh Độc lập, đòi nói
chuyện với Nhã, Văn phòng đáp Nhã vưà bước ra ngoài. Một giờ
sau- tức là trể gần 5 giờ theo ước hẹn – Nhã điện thoại báo tin TT
Thiệu sẽ tiếp K. và Bunker hôm sau lúc 8 giờ sáng. Bunker bắt bẻ:
“Có sự chậm trể ít nửa 24 giờ, giờ Hoa Thịnh Đốn!” Nhã gát điên
thoại. K và Bunker hỏi nhau: “Những hành vi xấc xược này phải
chăng báo hiệu một vụ chạm trán sắp đến? Về vấn đề gì? “
Hoàng Đức Nhã hiện ở Chicago. Đến nay, ông chưa kể lại đầy đủ
những kỷ niệm cá nhân. Mong được nghe thêm tiếng chuông chân
thực của một nhân chứng về giai đọan lịch sử này.
Những đặc điểm trong hồi ký của ba tác giả
1- Về Ts Nguyễn Phú Đức, hiện định cư ở Paris, tốt nghiệp
trường luật Hà Nội và Harvard, cựu Phụ tá Tổng thống về quốc
ngoại và Tổng trưởng ngoại giao VNCH sau Hiệp ước Ba Lê, K. phê
bình châm biếm: “Ông Đức là một sản phẩm mỹ lệ của hệ thống
giáo dục Pháp, chuyên định nghĩa trừu tượng, kết luận lạc đề và có
tài cãi bướng” Trong lời tựa của VN, Pourquoi les Eùtats-Unis ont
perdu la guerre xuất bản 21 năm sau ngày Sàigòn thất thủ, ông
Đức thanh minh rằng ông cần đợi thời gian lắng đọng để phân tích
thanh thản cuộc chiến VN. Quyển sách này dày 410 trang, viết
bằng tiếng Pháp, chia thành năm phần mổ xẻ chính sách Hoa kỳ tại
Đông Dương sau Đệ nhị thế chiến, sự can thiệp của Mỹ vào VN,
việc Mỹ chuẫn bị rút quân, kế hoạch Nixon và những ngày cuối của
Miền Nam. Phần chót dài 66 trang, không đi sâu vào chi tiết cuộc
hòa đàm Ba Lê. Đầu năm 2005, Ts Đức cho phát hành tại Virginia,
Hoa kỳ, quyển hồi ký thứ hai, The VN Peace Negotiations, Saigon’s
Side of the Story, nxb Dalley, dày 463 trang, gồm có ba phần: mở
đầu hòa đàm 1968-1969, những khúc quanh thương thuyết và
chiến tranh chấm dứt 1973-1975.
Cố vấn Nguyễn Phú Đức tháp tùng Tổng thống Thiệu ngày
18.7.1968 hội kiến với Lyndon Johnson tại Honululu (Mỹ hứa không
áp đặt một chính phủ liên hiệp taị Miền Nam VN) và ngày 8.6.1969
gặp Richard Nixon tại Midway (Mỹ tuyên bố rút 25,000 quân). Mỗi
lần, phái đoàn VNCH gồm có vài chuyên viên khác. Ngày
29.11.1972, Ts Đức được phái qua Hoa Thịnh Đốn trình với Nixon
quan điểm của TT Thiệu hầu tránh hòa đàm Ba Lê bế tắc. Ông
không có trách nhiệm trực tiếp thương thuyết tại bàn hội nghị. Nói
cách khác, ông là một luật gia phụ trách phần “đấm bóp thời cuộc”
8
hơn là một nhà ngoại giao chuyên nghiệp. Tuy nhiên, một số nhận
xét của ông vẫn có giá trị. Đặc biệt, thay vì dùng danh từ
vietnamization, Việt nam hóa chiến tranh, Ts Đức đề nghị chữ de-
americanization, kế hoạch giải kết vai trò chiến đấu của Hoa kỳ,
nhằm mục tiêu võ trang một quân đội quốc gia VN đủ mạnh để
giúp Mỹ rút quân tuần tự. Ngoài ra, về mối liên hệ giữa K và Nixon,
Ts Đức nhận xét rằng Nixon không tin dùng Bộ Ngoại giao, nhưng
đồng thời cũng bực bội không ít về cách tự đề cao ba hoa của K với
báo giới, tự cho mình là một “phù thủy hoà bình, a peace
magician”, đặc biệt sau chuyến công du bí mật của y qua Bắc kinh,
làm lu mờ vai trò của Nixon về mặt đối ngoại. Tại sao Nixon không
hãm bớt K? Nixon không quên K đã phản Rockefeller và Đảng Dân
chủ để giúp Nixon (Cộng hoà) thắng cử năm 1968. Bởi thế, Nixon
ngán K có thể trở cờ một lần nữa vì quyền lợi cá nhân. (trang 337-
338). Sau hết, Ts Đức lưu ý: Khác với Eisenhower từng mời thượng
khách Ngô Đình Diệm đọc diễn văn tháng năm 1957 trước lưỡng
viện Quốc hội Hoa kỳ, hai Tổng thống Johnson và Nixon đều tránh
tiếp chính thức ông Thiệâu tại thủ đô Washington, viện lẽ sợ phe
phản chiến biểu tình. Sau Hiệp định Ba Lê, Nixon miễn cưởng mời
vợ chồng TT Thiệu qua San Clemente, tiếp tại tư thất La Pacifica,
để an ủi xã giao. Nixon và Thiệu gặp nhau ba lần. Nixon đã gởi
Thiệu trên 20 mật thơ hứa hưu, hứa vượn.
2- Ông Nguyễn Xuân Phong, tốt nghiệp đaị học Oxford, nguyên
Tổng trưởng Xã hội và Chiêu hồi, thay thế đại sứ Phạm Đăng Lâm
sau 3.2.1973 trong chức vụ Trưởng đoàn VNCH tại hoà đàm Ba Lê.
Ông cho phổ biến “Hope and Vanquished Reality, Hy vọng và Khắc
phục Thực tại” năm 2001 tại New York, nhà xuất bản là Center for
A Science of Hope trực thuộc ICIS (International Center for
Integrative Studies), một tổ chức truyền giáo Thụy điển ở Hoa kỳ
đấu tranh cho nhân quyền và chuyên nghiên cứu về vai trò của Hy
Vọng trong tín ngưỡng. Ông Phong cọng tác trong Hội đồng Cố vấn
ICIS từ 1988. Quyển hồi ký Hope dày 374 trang, chia thành 11
chương kể lại việc tác giả từ Paris trở về Sàigòn năm ngày trước khi
Sàigòn sụp đổ vào tháng tư 1975, 5 năm cải tạo trong trại học tập
Cộng sản, đời sống cơ cực ở VN khi được phóng thích năm 1980,
những tang tóc liên tiếp trong gia đình và thủ tục phiền toái để
xuất ngoại. Ông Phong được phép nhập cảnh Hoa kỳ năm 2000.
Hope & Vanquished Reality là cuốn sổ tay của một nhà ngoại giao
chấm phá ghi lại những âm vang gây trên đức tin của mình bởi sự
phá sản của chế độ mà y phục vụ nhiều năm. Người đọc có cảm
tưởng tác giả muốn chứng minh Hy vọng là ngọn hải đăng dắc dẫn
ông vượt qua mọi thử thách gian nguy cá nhân, mọi cảnh tan nát
của Quê hương. Bởi thế N X Phong không đi sâu vào chi tiết của
Hòa đàm Bá Lê, không đề cập nhiều đến giai đoạn đấu khẩu gay go
giữa hai phái đoàn Bắc-Nam tại bàn hội nghị.
9
Sau khi Phạm Đăng Lâm qua Luân đôn nhận chức đại sứ tháng
giêng 1973 và bs Nguyễn Lưu Viên rời vĩnh viễn La Celle Saint
Cloud để trở về VN, ông Phong phải một mình đảm trách tại Paris
các công tác tồn đọng và tẻ nhạt: gặp báo chí, dự các cuộc thảo
luận không đi đến đâu và tiếp xúc với các phái đoàn. Nhờ sự giao
thiệp cởi mở và khả năng ngoại ngữ, ông Phong là nhân vật VNCH
thường có dịp trao đổi ý kiến ngoài bàn hội nghị với phiá Mỹ như
Harriman, Cyrus Vance, Negroponte và đặc biệt, Kissinger. Sự kiện
đáng lưu ý là chương 11 trong hồi ký “ The Longest Road: The
Communicative Hope, Con đường dài nhất: Hy vọng truyền nhiểm”,
trang 290-392, kể lại việc Phong tiếp xúc và giữ liên lạc với Nguyễn
Cơ Thạch, thứ trưởng Ngoại giao, phụ tá cho Lê Đức Thọ, vai trò
chính trong phái đoàn Bắc Việt. Chính K đã giới thiệu Phong với Thọ
và Thạch trong một đêm tiếp tân của Ngoại trưởng Pháp Maurice
Schumann, sau đó Thạch và Phong gặp nhau lại nhiều lần ngoài
phòng hội nghị, trao đổi ý kiến cởi mở và trở nên “đôi anh em đối
nghịch thành thực, true brother-enemies” tuy dị biệt về một số
quan điểm. Phong đánh giá Thạch “thông minh, hiểu biết, có văn
hoá, không quá khích và chủ trương thỏa hiệp hơn là hận thù”.
Thạch và Phong đồng ý với nhau ít nữa về một điểm: “Hatred and
bitterness have never generated anything really good in the end,
Cuối cùng Hậân thù và Đắng cay không bao giờ sinh sản điều gì tốt
thật sự .”
Sau 1980, Phong ra khỏi trại cải tạo, phải đi dạy Anh văn để sanh
sống với số lương năm chục đô hằng tháng, Thạch trở nên một
nhân vật của Chính trị Bộ, Phó Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng.
Thạch có mời Phong đến Văn phòng để hỏi ý kiến, đối xử lịch sự
như trước, Phong thẳng thắn đề nghị cần đổi mới kinh tế và bình
thường hóa ngoại giao với Mỹ. Một thời gian sau, Nguyễn Cơ Thạch
mất ghế trong Chính trị bộ và Chính phủ vì bị xem như thành phần
quá cấp tiến.
3. Ts Nguyễn Tiến Hưng cho ra mắt tại Little Saigon, Californie,
tháng tư năm nay, quyển hồi ký thứ hai “Khi Đồng Minh Tháo chạy”
(KĐMTC) vào lúc George Bush tiếp Phan Văn Khải taị Hoa Thịnh
Đốn, cộng đồng người Việt hải ngoại sôi sục chống đối. Việc giới
thiệu sách thành công về thương mại. Giòng tít lớn (và cũng là lời
nguyền rủa của K) “Sao chúng không chết phứt cho rồi” mà tác giả
khôn ngoan cho in trên bià làm cho đồng bào ta muốn biết thêm,
mua sách. Hồi ức KĐMTC dày 705 trang, chia thành bốn phần: Làm
sao thoát khỏi vùng lầy, Thân phận tiểu quốc, Khi Đồng minh tháo
chạy và Rước của nợ hay được của có. Quyển sách in lại nhiều đoạn
và tài liệu – như các bức thơ và mật điện trao đổi giữa Nixon, Ford
và Thiệu từ 1972 đến 1975, luôn cả lời nguyền rủa của Kissinger –
10
đã đăng trong Hồ sơ mật Dinh Độc lập (HSMDĐL), bản dịch ra tiếng
Việt của The Palace File xuất bản năm 1986, dày 908 trang.
Về cách bố cục nội dung, phương pháp sưu tầm, trình bày các
chứng liệu và ngay cả văn phong, HSMDĐL súc tích và có trọng
lượng hơn KĐMTC, có lẽ vì nhờ sự hợp tác khoa học của đồng tác
giả Jerrold L Schecter, nguyên chủ bút của tạp chí Time, và khả
năng chuyển dịch của Cung Thúc Tiến và Nguyễn Cao Đàm
Trong Lời Nói Đầu của KĐMTC, Ts Hưng xác nhận ông chỉ làm việc
trực tiếp với tướng Thiệu trong những ngày tháng hấp hối của chế
độ sau khi Hiệp định Ba Lê được ký. Bởi vậy các ông Cao Văn Viên,
Trần Thiện Khiêm, Trần Văn Lắm, Nguyễn Lưu Viên, Nguyễn Phú
Đức và Nguyễn Xuân Phong xác nhận với người viết không có dịp
tiếp xúc với Hưng. Ts Hưng than: “Trong cương vị điều hợp viên
viện trợ kinh tế cho VNCH, nhiều lúc tôi phải dẹp bỏ tự ái, lui tới
Quốc Hội Hoa kỳ như một người đi cầu xin” (trang 21). Khi tình
hình an ninh trở nên bi đát, quân đội cạn đạn dược / xăng nhớt,
ngân sách hết tiền trả lương cho lính và cảnh sát, ông Thiệu mới
nghĩ đến việc sai đại tá Đức trao cho Ts Hưng đầu tháng 4.1975
một hồ sơ bià đen đựng các thơ mật nói trên để ông Hưng gắp đi
lobby (?!) chính khách và báo giới Mỹ. Ngày 15.4.1975, một tuần
trước khi Thiệu từ chức (21 tháng 4), Hưng đáp máy bay Panam
qua Washington. Đây là một sứ mạng biết trước vô vọng vì quá trể.
Không còn nước để mà tát. Hoa kỳ đang xóa sổ đồng minh. VNCH
hết được coi như “tiền đồn của thế giới tự do” trấn giữ làn sóng đỏ.
Để sớm dứt điểm, Mỹ vận dụng mọi thủ đoạn: đi đêm với Bắc Việt,
dành quyền thương thuyết thế cho chính phủ Sàigòn, trấn an,
tránh né, đe dọa ký riêng, hăm cắt viện trợ, cam kết đầu môi và
bảo đảm suông. Hoa Thịnh đốn – và Ngoại trưởng Kissinger, gốc
Do Thái – dồn viện trợ vào Israel, “tiền đồn bảo vệ dầu lửa ở Trung
Đông.” Chính sách đối ngoại của Mỹ thực tế, realpolitik, không
nặng về luân lý, ý thức hệ hay lòng chung thủy. Căn cứ vào quyền
lợi mà thôi. Quyền lợi thô bạo. “Who pays, commands, Ai chi tiền
thì người đó chỉ huy” là câu châm ngôn gối đầu ở nước này.
Vì nhận thấy Quốc hội Hoa kỳ phủi sạch tay về VN, Ts Hưng quyết
tổ chức cho kỳ được một cuộc họp báo kiểu nhà nghèo ngày
30.4.1975 tại khách sạn Mayflower, đường Connecticut, Hoa Thịnh
Đốn, với 3.000 đô vay của gia đình. Ông không lấy ra được ngân
khoản 20.000 mỹ kim mà TT Thiệu hứa miệng để trang trải chi phí.
Thầy củ của Hưng là Giáo sư Warren Nutter, cựu Phụ tá Bộ trưởng
Quốc phòng thời Nixon, hết lòng ủng hộ nhưng không giúp được gì
nhiều. Ts Hưng làm công việc của một người chửa lửa không có
dụng cụ trong tay khi nhà cháy sắp tan thành tro. Trong phiên họp
báo, ông không đề cập đến những mật điện do Ford gởi cho Thiệu
và chỉ dùng vài bức thơ cam kết của Nixon để xin cứu vớt đoàn
11
người đang đổ xô ra Biển Đông. Kết quả là – cọng với áp lực của dư
luận thế giới và đặc biệt nhờ sự can thiệp mạnh của Tổng thống
Jimmy Carter – Quốc hội HK chấp nhận trợ cấp 455 triệu đô và mở
cửa đón làn sóng tị nạn VN trên con số 50.000 người dự trù lúc
đầu. Tại Sàigòn lúc đó, ba chiến xa T54 của Bắc Việt phá cổng xông
vào Dinh Độc lập, trương cờ Mặt trận Giải phóng Miền Nam. Cố TT
Thiệu cho người viết biết: sau 1975, Ts Hưng có trở về VN làm việc
trong lãnh vực tài chính. Mặt khác, nơi trang 18 của quyển hồi ký
“Câu chuyện một di dân tỵ nạn Việt” vừa xuất bản năm nay tại San
José, cựu trung tá không quân Trần Đổ Cung, trước kia từng giữ
chức Cục trưởng Tổng Cục Tiếp tế thời Nguyễn Cao Kỳ, hiện ở
Monterey, Californie, có ghi rằng năm 1988 Nguyễn Tiến Hưng từ
Hà Nôi có nhờ một người bà con của Cung là vợ của Tôn Quang
Phiệt, một cán bộ cao cấp CS, nhắn Cung “trở về giúp nước” nhưng
Cung không nhận lời.
Kết luận.
Về cái chết của Miền Nam VN, TT Thiệu tuyên bố: “Tôi có trách
nhiệm nhưng tôi không có lổi”. Mặt khác, trong hồi ký Ending the
VN War, Kissinger viết: “Nếu không có sự sụp đổ của quyền hành
pháp vì vụ Watergate, tôi tin rằng chúng ta có thể thành công”.
Một ngày sau Hiệp định Bá Lê, Phụ tá Nixon là John Ehrlichmann
hỏi VNCH tồn tại được bao lâu, K đáp: “Nếu may mắn thì họ có thể
cầm cự được một năm rưởi”. Chính phủ Sàigòn sống lâu hơn decent
interval ấy, khiến K mất kiên nhẫn, buông lời nguyền rủa thô bỉ.
Trong thất bại, thay vì trách người, ta phải tự trách mình trước,
Tiên trách kỷ, hậu trách nhân. Watergate và Quốc hội Mỹ cắt viện
trợ là hai yếu tố làm Đệ nhị Cộng hoà tan rã nhưng chủ trương bỏ
Miền Nam đã có trước cả Watergate. Cá nhân TT Thiệu gánh chiụ
trách nhiệm vì một số sai lầm tai hại:
1 – Quá tin vào sự ủng hộ của Hoa kỳ, nghĩ rằng Hoa kỳ sẽ
không bỏ rơi vì VN có nhiều dầu lửa (!). Thiệu không thông hiểu và
không đánh giá đứng đắn vai trò của Lập pháp và Truyền thông ở
xứ này, coi thường công cuộc hoạt động hành lang, lobby, và nhất
quyết bám víu vào 30 bức thơ và mật điện trao đổi với Nixon mà
ông giữ kín như bảo vật đến giờ chót theo lời cam kết riêng tư.
Thiệu không dám tiết lộ vì sợ chính quyền Mỷ “tố cáo là bội ước“
(KĐMTC, trang 258). Cuối cùng, TT Thiệu nhận thấy, nhưng quá
trể! mình bị gạt vì chủ tâm của Nixon và Kissinger là dấu không
cho Quốc hội HK biết những hứa hẹn thiếu thành thật.
2- TT Thiệu không có kế hoạch thiết thực cứu nguy Đất nước
và đã để xứ sở tùy thuộc Hoa kỳ quá sâu về chính trị, quân sự và
kinh tài. Ông áp dụng muộn màng những biện pháp hốt hoảng vào
những ngày cuối cùng như tiết lộ các bức thơ mật của Nixon, chạy
12
vay tiền của quốc vương Saudi Arabia, thế chấp 16 tấn vàng của
Quốc gia Ngân hàng, thế chấp tiềm năng dầu hỏa, xuất cảng
gạo..v..v..để mượn tiền Mỹ. Đầu năm 1975, TT Thiệu làm chính trị
như đánh bạc thử thời vận. Chơi đòn thấu cáy, ông cho rút quân
khỏi Cao Nguyên và Miền Trung trong một kế hoạch “tái phối trí”
mệnh danh “đầu bé, đít to” để trắc nghiệm lời cam kết can thiệp
của Nixon. Hoa kỳ dửng dưng trước hành vi của Bắc Việt xé bỏ thô
bạo Hiệp định Paris. Ông Thiệu hố lớn, cụt vốn lẫn lời, tàm tan rã
Quân đội. Trung tướng Ngô Quang Trưởng xác nhận với người viết
rằng không có nhu cầu gấp rút bỏ Huế và Đà Nẵng. Thay vì nêu
gương ở lại chiến đấu với đồng đội sau ngày từ chức, ông Thiệu bỏ
xứ ra đi.
3- TT. Thiệu nắm trọn trong tay vận mạng của quốc gia, coi
thường hai ngành Lập pháp và Tư pháp, quyết định một mình việc
bỏ rơi hỗn loạn Cao nguyên và Miền Trung và ngang nhiên hành
động vi hiến. Điều 39 Hiến pháp buộc các hiệp ước về hoà bình
(Hiến pháp dùng danh từ “nghị hoà”) phải được Quốc hội chuẫn
phê. TT.Thiệu phạm một sai lầm căn bản khi ông chọn không tuân
hành điều này vào tháng 10.1968 để tránh chạm trán với Johnson.
Ông mời chủ tịch Thượng viện và Hạ viện tham gia thảo luận trong
Hội đồng An ninh Quốc gia để tạo cảm tưởng Quốc hội chính thức
chấp thuận các quyết định của Hội đồng. Trên thực tế, Thiệu truất
quyền của Lập pháp kiểm soát đường lối thương thuyết của Hành
pháp. Đồng lúc, TT Thiệu vô hiệu hóa luôn khả năng của Hành
pháp (mà ông đại diện) chống lại áp lực của Johnson và Nixon, để
Hoa kỳ tự ý rút quân. Ông Thiệu có dịp tâm tình với người viết rằng
ông bị ám ảnh bởi vụ đảo chính và hạ sát TT Diệm do Mỹ sắp xếp
khi TT Diệm chống đối.
Ngày nay, ôn cố tri tân nhắc lại chuyện đau buồn đã qua, không
phải là để quy trách tiêu cực mà là để rút tỉa những bài học từ
những thiếu sót trong dĩ vãng hầu giúp cho thế hệ cầm quyền sắp
tới đừng tái phạm. Mỗi lãnh tụ đều gặp những khó khăn và khổ tâm
riêng, đặc biệt khi hoàn cảnh bắt buộc, cùng một lúc, đương đầu
với một đồng minh đanh thép như siêu cường Hoa kỳ và một kẻ thù
gian ngoan như Cộng sản. Sau buổi phỏng vấn tại Dinh Độc Lập
đầu tháng giêng 1973, trước ngày ký Hiệp định Paris, nữ ký giả Ý
Oriana Fallaci, (người đã từng phỏng vấn Kissinger, Phạm Văn
Đồng và Võ Nguyên Giáp), nhận xét: “Có ít nhiều nhân cách trong
TT Thiệu và thảm kịch của ông. Chúng ta có thật hiểu ông hay
không? Ít nửa, trong giờ phút đặc biệt này, ông không còn là con
múa rối lố bịch của người Mỹ như chúng ta tưởng..Tôi hoan hỉ tỏ
lòng thương xót và kính trọng đối với ông.” (Interview with History
, Oriana Fallaci, trang 48). Với cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu,
lời an ủi cuối cùng này một Requiescat in pace! có đủ hay không?
13
Dân tộc là sức mạnh vạn năng, vạn thắng. Lảnh tụ thất bại vì đánh
mất lòng tin và sự ủng hộ của Dân tộc. Khi lảnh tụ thất bại và gục
mặt ra đi, chỉ còn lại Dân tộc. Dân tộc trơ trọi, dân tộc cô đơn, dân
tộc đau khổ. Dân tộc gánh chịu hết mọi oan khiêng và tủi nhục.
Nhiều thế hệ trẻ vô tội phải trả một cái giá rất đắt cho sự sai lầm
của cha ông.
LÂM LỄ TRINH
THƯ TỊCH:
1 – “Điểm sách Ending the VN War của Kissinger, TT Thiệu và Hoà đàm
Paris” by Lâm Lễ Trinh 17.8.2001, trong tạp chí VN Forum , Đức quốc
2 – “Mạn đàm với Bs Nguyễn Lưu Viên, Từ Hội nghị La Celle Saint Cloud
đến những ngày VNCH hấp hối” by Lâm Lễ Trinh, 1.9.2001 trong Thời
Luận, Los Angeles.
3 – “Kissinger nhận định trong hồi ký Ending the VN War: Kinh nghiệm
VN và thế trận hiện đại” by Lâm Lễ Trinh, 9.10.2002 trong tạp chí Dân
chủ & Phát triển, Đức quốc.
4 – “Mạn đàm với cựu Ngoại trưởng Trần Văn Lắm: Bề trái trong Hoà đàm
tại Bá Lê” by Lâm Lễ Trinh, 9.8. 1999, trong tạp chí Hải Ngoại Nhân Văn,
Boston
5 – “Điểm sách: Nguyễn Thị Bình tiết lộ về Hoà đàm Bá Lê trong “Chung
một Bóng Cờ” by Lâm Lễ Trinh, 6.12. 2000, trong tạp chí Cánh Én, Đức
quốc
6 – “Our Endless War, Inside VN” (Presidio Press, CA, 1978) và VN Nhân
Chứng, nxb Xuân Thu, CA, 1989, by Trần Văn Đôn
7 – Interview with History, by Oriana Fallaci, Houghton Mifflin Co, Boston,
1976
Tháng 3.2005, Ts Đức cho phát hành taị Virginia quyển hồi ký thứ hai,
bằng Anh ngữ, dày 463 trang, với tựa “The VN Peace Negotiations,
Saigon’s side of the story, nxb Dalley, gồm có ba phần: mở đầu đàm
phán 1968-1969, những khúc quanh của cuộc thương thuyết và chiến
cuộc chấm dứt 1973-1975.
Chuyển đến: NgườiViệtGốcỚt
Ngày 11/3/4893 – Giáp Ngọ (10/4/2014)
www.vietnamvanhien.net
14
Vài nhân vật đối lập trước 1975
Vài nhân vật đối lập chính trị nổi tiếng trước 1975
Nhóm Caravelle: Nhóm Tự do Tiến bộ, còn được biết với tên gọi Nhóm
Caravelle vì nhóm họp báo ra tuyên cáo lần đầu tiên tại Khách sạn Caravelle
Sài Gòn vào năm 1960, là một nhóm gồm 18 chính khách thuộc nhiều khuynh
hướng chính trị khác nhau, chống Cộng và đối lập với chính phủ Ngô Đình Diệm.
Nhóm chỉ tồn tại trên chính trường Việt Nam Cộng hòatrong giai đoạn đầu 1960
đến hết 1963. Sau khi chính phủ Ngô Đình Diệm bịđảo chính quân sự lật đổ,
nhóm này xem như chấm dứt hoạt động, tuy nhiên, nhiều thành viên cũ của
nhóm vẫn có tác động đến chính trường Việt Nam Cộng hòa cho đến khi chính
thể này sụp đổ vào năm 1975.
Vào khoảng năm 1948, xuất hiện tập hợp một nhóm các nhân sĩ trí thức người
Việt có tinh thần quốc gia, mà hạt nhân là Trần Văn Đỗ, Nguyễn Tăng Nguyên;
sử dụng hình thức báo chí và thỉnh nguyện thư để tác động đến chính phủ Pháp,
nhằm xây dựng một giải pháp một quốc gia Việt Nam độc lập và không Cộng
sản. Nhóm có lập trường ủng hộ giải pháp Ngô Đình Diệm, một chính khách
được chính phủ Mỹ ủng hộ và khả dĩ có khả năng độc lập tương đối với chính
quyền Pháp. Do cơ quan phát ngôn chính của nhóm là 2 tờ báo Tinh Thần và
báo Hoa Lư, nên nhóm còn được gọi là nhóm Tinh Thần. Sau khi Ngô Đình Diệm
lên làm thủ tướng Quốc gia Việt Nam, nhóm Tinh Thần càng tích cực ủng họ
Ngô củng cố vị thế chính trị, lượt dẹp trừ các thế lực chống đối quân phiệt.
Nhóm này là một trong 18 thành viên đoàn thể của Ủy ban Cách mạng Quốc
gia, ủng hộ việc tổ chức Cuộc trưng cầu dân ý miền Nam Việt Nam, 1955, phế
truất Quốc trưởng Bảo Đại, đưa Thủ tướng Diệm lên làm Tổng thống đầu tiên,
xác lập chính thể Việt Nam Cộng hòa.
của
Tuy nhiên, khi chính sự đã ổn định, tổng thống Diệm đã dần trở mặt với các
thỏa hiệp ban đầu với những người đã ủng hộ ông và giúp ông giữ được ngôi vị
tổng thống. Để đảm bảo vị thế quyền lực của mình, Diệm chủ trương kềm chế
các phe phái chính trị đối lập cũng như ảnh hưởng từ phía nước ngoài như Mỹ,
Pháp. Các tướng lĩnh như Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Mai Hữu Xuân..., các
chính khách như Trần Văn Hương, Nguyễn Ngọc Thơ, Phan Khắc Sửu..., kể cả
nhiều đảng viên cao cấp của đảng Cần Lao như Trần Chánh Thành, Võ Văn
Trưng..., lần lượt đều bị xa lánh và tước bỏ ảnh hưởng. Trong nền Đệ nhất Cộng
hòa, ngoài tổng thống Diệm, quyền hành bị tập trung vào trong tay một số
người thân trong gia đình ông như Ngô Đình Nhu, Trần Lệ Xuân, Ngô Đình
Cẩn, Ngô Đình Thục; và một số ít người thân tín như Trần Kim Tuyến, Lê Quang
Tung và đảng Cần lao
Việc quyền hành nhà nước bị chi phối quá nhiều trong tay những người trong
gia đình tổng thống Diệm, cộng với sự lộng quyền của một số đảng viên Cần lao
và chính sách đàn áp của Chính phủ gây bất mãn trong quần chúng. Ngay chính
trong những người đồng chí thuở ban đầu của Diệm cũng cảm thấy bị phản bội
và chuyển dần sang thế đối lập với người mà họ đã ủng hộ. Họ liên tục công
kích chính sách độc tài chính trị của tổng thống. Mặt khác, khi những người
Cộng sản miền Nam, với sự cho phép của Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng
Lao động Việt Nam, dần xây dựng cơ sở và chuyển hướng đấu tranh từ đơn
thuần đấu tranh chính trị sang kết hợp với đấu tranh vũ trang từ cuối năm
1959, sự ổn định của chính phủ Diệm đã trở nên bị lung lay, nhất là khi nổ
ra Phong trào Đồng khởi tại Bến Tre và Trận tập kích Tua Hai tại Tây Ninh cuối
tháng 1 năm 1960. Trước hàng loạt thất bại về quân sự và chính trị của tổng
thống Diệm, các nhóm đối lập ngày càng kích động quần chúng phản đối chính
phủ Diệm. Họ buộc tội chính phủ Ngô Đình Diệm thực chất là một chính phủ độc
tài và gia đình trị, bất lực trong việc ổn định xã hội và chống Cộng.
Từ những ý kiến trao đổi với
một số trí thức đối lập, ba trí thức đối lập là các ông Trần Văn Văn, Trần Văn
Hương vàNguyễn Lưu Viên đã thảo một bản tuyên cáo kêu gọi chính quyền nên
cải tổ. Sau đó, ông Trần Văn Văn đã đi thuyết phục 15 nhân sĩ khác, thuộc
nhiều thuộc nhiều khuynh hướng chính trị, tôn giáo khác nhau, chống Cộng và
đối lập với chính phủ, quê quán ở 3 miền, cùng ký tên vào bản tuyên cáo. Ông
Trần Văn Văn đề xuất tên gọi nhóm 18 nhân sĩ là nhóm Tự Do Tiến Bộ, gọi tắt
là Cấp Tiến, để có danh nghĩa chính thức đối lập hợp hiến với chính quyền.
Để đảm bảo an
toàn khi ra tuyên cáo, nhóm đã cẩn thận mời đại diện các báo chí khách
sạn ở Chợ Lớn. Các phóng viên nước ngoài và đại diện các tòa đại sứ được báo
mời trước nhưng không cho biết trước địa điểm. Sáng ngày 26 tháng
4 năm 1960, hai ông Trần Văn Văn và Phan Khắc Sửu, mặc âu phục chỉnh tề,
bất thần đến trước cổng dinh Độc Lập, nhờ quân phòng vệ dinh chuyển bản
tuyên cáo đến tổng thống Diệm. Sau đó, các ông trở về khách sạn Caravelle và
cùng các thành viên khác tổ chức họp báo tại đây. Việt họp báo riêng tại một
Nội dung của bản tuyên cáo chỉ trích quyết liệt các sai lầm của chính quyền
về chính trị, hành chính, xã hội và quân sự, gây ra tình trạng bất mãn trong dân
chúng, suy thoái của chế độ và làm giảm tiềm lực đấu tranh chống cộng. Tuy
nhiên, ngoài việc đòi hỏi thực thi dân chủ và chấm dứt gia đình trị, những đề
nghị cải cách tương đối khiêm tốn.
Dưới đây là danh sách 18 thành viên của nhóm Caravelle ký tên trong Tuyên
cáo ngày 26 tháng 4 năm 1960 (xếp theo thứ tự ký tên).
STT Tên Năm Quê quán Tôn Đảng phái Ghi
sinh giáo chú
(tại
thời
điểm
ký
tên)
1 Trần Văn 1907 Long Xuyên Tam Đảng Phục Thạc sĩ
Văn giáo Hưng Thương
mại,
cựu Bộ
trưởng
Kinh tế
và Kế
hoạch.
Kỹ sư
Canh
Phan Khắc Mặt trận Đại Nông,
Sửu
2 1905 Cần Thơ Cao Đài đoàn kết cựu Bộ
Quốc dân trưởng
Canh
Nông.
3 Trần Văn 1902 Vĩnh Long Tam Đảng Phục Giáo
Hương giáo Hưng sư
Trung
học,
cựu Đô
trưởng
Sài
Gòn-
Chợ
Lớn.
4 Nguyễn 1919 Trà Vinh Tam Không đảng Bác sĩ
Lưu Viên giáo phái Y khoa,
cựu
Tam Cao ủy
giáo Di cư.
5 Huỳnh Kim chưa (quê quán Tam Nhóm Tinh Bác sĩ
miền Nam, giáo thần Y khoa,
Hữu rõ chưa rõ) cựu Bộ
Thiên trưởng
chúa Y tế.
giáo
6 Phan Huy 1908 Nghệ An Tam Đảng Đại Bác sĩ
Quát giáo Việt Y khoa,
cựu Bộ
Tam trưởng
giáo Quốc
phòng
Tam và
giáo Giáo
Dục.
7 Trần Văn 1901 Quảng Trị Liên đoàn cựu
Lý Công giáo Thủ
hiến
Trung
phần.
8 Nguyễn chưa (quê quán Việt Nam Bác sĩ
Tiến Hỷ rõ miền Bắc, Quốc dân Y khoa.
chưa rõ) đảng
9 Trần Văn 1903 Biên Hòa Nhóm Tinh Bác sĩ
Đỗ thần Y khoa,
cựu Bộ
trưởng
Ngoại
giao.
10 Lê Ngọc chưa Thanh Hóa Việt Nam Luật
Chấn rõ Quốc dân sư, cựu
đảng Bộ
trưởng
Quốc
phòng.
11 Lê Quang chưa (quê quán Thiên Phong trào Luật
Luật rõ miền Bắc, chúa Liên hiệp sư, cựu
chưa rõ) giáo Dân chúng Bộ
trưởng
Thông
tin.
Lương 1904 Biên Hòa Hòa Đảng Dân Kỹ sư
12 Trọng Hảo Xã công
chánh,
Tường cựu
Thứ
trưởng
Kinh tế
Quốc
gia.
Nguyễn chưa (quê quán Phật Đảng Cần Bác sĩ
13 Tăng rõ miền Trung, giáo Lao Y khoa,
chưa rõ) cựu Bộ
Nguyên trưởng
Lao
Động
và
Thanh
Niên.
14 Phạm Hữu chưa (quê quán Tam chưa rõ Bác sĩ
Chương rõ miền Bắc, giáo Y khoa,
chưa rõ) cựu Bộ
trưởng
Y tế và
Công
tác Xã
hội.
15 Trần Văn 1913 Tuyên Tam Việt Nam Luật
Tuyên Quang giáo Quốc dân sư, cựu
đảng Bộ
trưởng
Thông
tin và
Tuyên
truyền.
16 Tạ Chương chưa Quảng Ngãi Tam Không đảng cựu
giáo phái Tỉnh
Phùng rõ trưởng
Bình
Định.
17 Trần Lê (quê quán Tam Không đảng Tiến sĩ
Chất 1874 miền Bắc, giáo phái Hán
học.
chưa rõ)
(quê quán Thiên Không đảng Linh
18 Hồ Văn Vui 1917 miền Nam, chúa phái mục,
giáo Chánh
chưa rõ) xứ họ
đạo
Tha La,
Tây
Ninh
Ảnh hưởng chính trị của tuyên cáo
Thực chất, nhóm Tự do Tiến bộ không hẳn là một tổ chức chính trị độc lập mà chỉ là tập
hợp các nhân sĩ cùng đưa ra tuyên bố chính trị. Ngoài ảnh hưởng của tuyên cáo, các thành
viên của nhóm đã có những ảnh hưởng chính trị riêng của cá nhân hoặc dưới danh nghĩa
đảng phái.
Tuy vậy, ảnh hưởng của tuyên cáo làm chấn động chính trường Việt Nam Cộng
hòa bấy giờ. Dù rất ôn hòa, nhưng đây là lần đầu tiên, một nhóm chính khách
dám ra tuyên cáo chống quyền lực của tổng thống Diệm, bấy giờ đang đạt đỉnh
cao.
Luật sư Trần Văn Tuyên (1 tháng 9, 1913 - 28 tháng 10, 1976) là một
trong các lãnh tụ của Việt Nam Quốc dân Đảng, cựu dân biểu Hạ viện, sau làm
Phó thủ tướng Việt Nam Cộng hòa. Ông cũng là một trong các trưởng thuộc thế
hệ sáng lập Hướng đạo Việt Nam . Ông đã bị chính quyền Cộng hòa Miền Nam
Việt Nam bắt ngay sau khi Sài Gòn thất thủ và đã chết trong trại tù.
• Ông sinh ngày 1 Tháng Chín năm 1913 ở Tuyên Quang. *Gia nhập đoàn
thiếu niên Việt Nam Quốc dân Đảng năm 1929
• Thập niên 1940, ông tham gia phát động phong trào truyền báchữ Quốc
Ngữ và bình dân giáo dục.
• Ông tốt nghiệp Đại học Luật Hà Nội năm 1943.
• Là phụ tá cho Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam trongChính phủ
Liên hiệp năm 1946.
• Năm 1948, ông ủng hộ giải pháp Bảo Ðại làm Quốc trưởng, và làm tổng
trưởng Thông tin trong chính phủ Quốc gia Việt Nam.
• Năm 1954 là thành viên của phái đoàn Quốc gia Việt Nam đi dựHội nghị
Genève
• Tháng 6 năm 1960, ông sinh hoạt trong tổ chức Tự do Tiến bộ (nhóm
Caravelle) cùng với Phan Khắc Sửu, Trần Văn Văn, Trần Văn Hương, Phan Huy
Quát, Lê Ngọc Chấn và một số chiến hữu. Ông là đồng tác giả bản tuyên ngôn
của nhóm.
• Ông bị giam giữ 3 năm tại trại mật vụ Võ Tánh. Tháng 7 năm 1963tòa án
quân sự Sài Gòn thụ lý truy tố ông nhưng sau khi Nguyễn Tường Tam tuẫn tiết,
tòa tha bổng cho tất cả 19 bị cáo.
• Kể từ năm 1964 ông nắm chức tổng bí thư Việt Nam Quốc dân Đảng.
• Năm 1965 Trần Văn Tuyên được mời làm Phó thủ tướng Đặc trách Kế
hoạch trong chính phủ Phan Huy Quát; Phan Khắc Sửu là Quốc trưởng.
• Năm 1971 đắc cử vào Hạ nghị viện Việt Nam Cộng hòa, đại diện cho đơn
vị I Sài Gòn; ông cũng được bầu làm trưởng Khối Đối lập Dân tộc Xã hội tại
Hạ nghị viện.
• Năm 1975 sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ, ông bị bắt ngày16 tháng
5, đưa vào trại cải tạo. Ông mất trong trại giam. Tuy đã từ trần từ ngày 28
tháng 10 năm 1976 nhưng mãi đến năm 1978 thì chính quyền Cộng hòa Xã hội
Chủ nghĩa Việt Nam mới công bố cái chết của ông khi dư luận quốc tế đòi biết
tin về vị lãnh tụ Việt Nam Quốc dân Đảng.
Ni Trưởng Thích Nữ Huỳnh Liên thế danh Nguyễn Thị Trừ,
sinh năm 1923 tại làng Phú Mỹ, tỉnh Mỹ Tho (Tiền Giang ngày
nay). Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Vận đã qua đời, thân
mẫu là bà Lê Thị Thảo đã xuất gia, thọ Tỳ Kheo Ni trong Hệ
Phái Khất Sĩ, pháp danh Thiện Liên, viên tịch ngày 3 tháng 4
năm Kỷ Mão tại Bến Tre, hưởng thọ 89 tuổi. Năm 1943, khi
được 20 tuổi, Cố Ni Trưởng đã quy y Phật Đường Minh Sư, tu
học theo hạnh cư sĩ tại gia.Năm 1946, khi Đức Tôn Sư Minh
Đăng Quang, Tổ khai sơn Hệ Phái Khất Sĩ tại Việt Nam, được
các cư sĩ thỉnh về hoằng pháp tại chùa Linh Bửu, làng Phú Mỹ,
tỉnh Mỹ Tho, thì Cố Ni Trưởng đã hội đủ phước duyên, cùng 2
bạn đồng hành là Ni Sư Nhị và Ni Sư Tam được Đức Tổ Sư
chứng minh, làm lễ xuất gia vào ngày mùng 1 tháng 4 năm
Đinh Hợi (1947) tại chùa Linh Bửu, thọ ký pháp danh là Huỳnh
Liên, Bạch Liên, Thanh Liên mà Ni Trưởng là Trưởng tử Ni của
Đức Tổ Sư. Lần lược cả 3 vị đều được Đức Tổ Sư chứng minh,
truyền thọ giới pháp Y Bát Khất Sĩ, làm Tỳ Kheo Ni, nối gót Tổ
Thầy tu học, nếp sống vân du, phát triển mở mang Giáo
Pháp.Năm 1954, Đức Tổ Sư Minh Đăng Quang thọ nạn và Ni
Trưởng kế tục sự nghiệp Tổ Thầy, trực tiếp lãnh đạo hàng Ni
chúng Khất Sĩ trong phận sự Ni Trưởng Ni.Từ năm 1947 đến
năm 1948, tròn 40 năm tu học, Ni Trưởng đã léo lái Giáo Đoàn
Ni Giới Khất Sĩ cùng con thuyền Giáo Hội Tăng Già truyền thừa
Phật Pháp rộng sâu trong quần chúng nhân dân suốt hai miền
Nam Trung nước Việt.
Từ năm 1960 đến năm 1975, miền Nam bước vào thời kỳ của
khúc quanh lịch sử. Noi gương hạnh đức Bồ Tát Phổ Hiền, nối
chí các Thiền Sư Vạn Hạnh và Khuông Việt, Cố Ni Trưởng chủ
trương đem Đạo vào đời. Người đã tích cực vận động và nhiệt
tâm tham gia vào các phong trào xuống đường đấu tranh đòi
quyền sống, đấu tranh cho lý tưởng tự do, cho hòa bình, độc
lập, thống nhất đất nước và trường tồn Đạo Pháp, " đạo quân
đầu tròn " của Cố Ni Trưởng hiện diện cho đến ngày Miền Nam
được hoàn toàn giải phóng.
Sau 30 tháng 4 năm 1975, Cố Ni Trưởng lại tiếp tục góp phần
vào các phong trào xây dựng đất nước trong thời bình. Với chủ
trương tích cực nhập thế, Người đặc biệt hướng về con đường
từ thiện xã hội của giới Ni lưu vô cùng thiết thực : Các Quân y
viện, Bệnh viện, Viện mồ côi, Nhà dưỡng lão, các Trại tâm
thần, Trại phong, những gia đình cô đơn, khốn khó, những
vùng bị bão lụt, thiên tai, nơi nào cũng có bóng áo vàng của Cố
Ni Trưởng và chư Ni, Phật tử thường xuyên đến viếng thăm, ủy
lạo, nhất là vào những ngày lễ lớn, và lễ truyền thống của Phật
Giáo.Những tháng cuối cuộc đời, thân tứ đại của Cố Ni Trưởng
phải vào nằm bệnh viện. Vào lúc 16 giờ 20 phút ngày 16 tháng
4 năm 1987 (tức 19 tháng 3 năm Đinh Mão) Ni Trưởng thị tịch,
hưởng thọ 65 tuổi, hạ lạp 41 mùa mưa.
- Công đức thế pháp của Cố Ni Trưởng trong xã hội
và dân tộc như sau :
* Từ năm 1947 đến năm 1954 Trưởng tử Ni trong
hàng đệ tử của Đức Tổ Sư Minh Đăng Quang.
* Từ năm 1954 đến năm 1987 Ni Trưởng Giáo Hội Ni
Giới Khất Sĩ Việt Nam.
* Từ năm 1976 đến năm 1987 Phó Chủ Tịch Ban liên
lạc Phật Giáo yêu nước TP. HCM
* Từ năm 1980 đến năm 1981 Ủy viên Ban vận động
thống nhất Phật Giáo Việt Nam.* Từ năm 1981 đến
1987 Ủy viên kiểm soát Hội Đồng Trị Sự Trung Ương
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.* Từ năm 1960 đến năm
1975 hoặc âm thầm hoặc công khai tham gia đấu tranh
cho hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước.
* Từ năm 1975 thành viên Đoàn Đại Biểu miền Nam
Hiệp Thương Thống Nhất Tổ Quốc Việt Nam.
* Từ năm 1976 đến năm 1980 Đại Biểu Quốc Hội
Khóa VI. Nhiều nhiệm kỳ là Phó Chủ Tịch Ủy ban Mặt
Trận Tổ Quốc TP, Ủy viên ủy Ban Trung Ương Mặt Trận
Tổ Quốc Việt Nam, Phó Chủ Tịch Ủy Ban Bảo Vệ Hòa
Bình Thế Giới của TP. HCM. Nhiều lần đi dự Đại Hội Tôn
Giáo và Hòa Bình Thế Giới.
20 năm giới trẻ miền Nam Việt Nam
Nhà hát thành phố Sàigòn là nơi thao diễn của một số dân biểu đối lập hay
thành phần thứ ba quậy (chữ dùng của Hồ Ngọc Nhuận) một cách hợp pháp và
hợp hiến. Họ lại có 3 tờ báo là Đại Dân Tộc, Điện Tín và Tia Sáng hỗ trợ. Còn
nhớ sau đám cưới Thiệu–Kỳ, chính phủ hứa sẽ cho lập chính phủ dân sự, có
quốc hội và Thương Viện. Vì thế đi đến quyết định chọn ngày 11/9/1966 là ngày
bầu cử Quốc Hội. Và cho đến 1975 đã có ba kỳ bầu dân biểu Quốc Hội: 1966-
1967, 1967-1971 và 1971-1975.
Các dân biểu đối lập phần đông thuộc cánh miền Nam, còn trẻ. Dân biểu Nguyễn Hũu
Hiệp, đơn vị Di Linh mới hai mươi lăm. Một thứ blanc bec 100%. Lý Quý Chung thì già
hơn, 26 tuổi. Những người khác là Nguyễn Hữu Chung, Hỗ Ngọc Nhuận, Kiều Mộng
Thu, Dương Văn Ba, Hồ Ngọc Cứ, Ngô Công Đức.
Trong bấy nhiêu vị trên, tôi nhận thấy Dương Văn Ba, dân biểu đơn vị Bạc Liêu cùng là
quê của anh là đáng để nói nhất. Ba là người thừa thông minh, cho người khác cũng không
hết, thông minh đến chỗ thành bá đạo, dám làm những việc tầy trời, tung hoành, mánh
mung, dấu rất hay con bài tẩy không chỉ lúc anh chơi xì phé mà còn dấu cả con bài tẩy
trong cuộc đời. Chính trị nhạy bén, ăn nói ngổ ngáo như đao chém, viết báo xã luận không
thua gì ai. Sau 1975, Dương Văn Ba đi với cánh Võ Văn Kiệt và dính dáng trong vụ án
Cimexcol nổi đình đám, có người phải tự tử chết, vụ kiện đi lên đến Trung ương Đảng. Tôi
có hồ sơ vụ án. Dương Văn Ba bị bắt vào nằm 1987. Kể từ đó, sau một thời gian ở tù ngắn
hạn. Không ai nhắc tới anh nữa.
Ông Nguyễn Hữu Thái
(ảnh chụp ngày
22/4/2010).(*)
Thoạt tiên khi ông Kỳ lên lên làm Thủ tướng, ông muốn lấy lòng cánh miền Nam
nên đã nhờ kỹ sư Võ Long Triều qua trung gian Lm Nguyễn Quang Lãm, bạn học
với Võ Long Triều ở Paris. Sau đó, qua cái vòng quen biết của Võ Long Triễu cứ
thế mà nới rộng ra. Qua ông Triều mà Đại học Cần Thơ có mặt cũng như chương
trình Phát triển quận 8 thành hình. Ông Võ Long Triều đã thay mặt ông Kỳ mời
các nhân vật miền Nam sau đây đến dự một bữa tiệc như Nguyễn Văn Trườnng,
Âu Trường Thanh, Âu Ngọc Hồ, Khương Hữu Điểu, Trương Văn Thuấn, Nguyễn
Văn Bông. Sau này ông Nguyễn Văn Bông bị ám sát chết. Vậy là sau này Âu
Trường Thanh trở thành Bộ trưởng Bộ tài chánh,Trương Văn Thuấn, giao thông,
Nguyễn Văn Trường, giáo dục, Trương Thái Tôn, kinh tế. Chỉ có Nguyễn Văn
Bông từ chối làm Bộ Trưởng tại Phủ Thủ tướng. Ông Bông sau này bị ám chét
giông như trường hợp ông Trần Văn Văn vậy. Là ai thì nhiêu dư luận đồn đại
lắm.
Khối thành phần thứ ba này còn gọi là khối độc lập gồm 20 dân biểu. Muốn trở
thành Khối trong Hạ viên thì tối thiểu có 20 người. Cuối cùng nhóm này vẫn
thiếu một người. May quá, họ móc nối được với một dân biểu độc lập. Ông Giáp
Văn Thập nguyên là chủ trường dạylái xe hơi chuyên nghiệp. Mới đầu ông chỉ
nhận gia nhập khối với điều kiện ông làm trưởng khối. Thương lượng rồi ông
quyết định chịu làm Phó Trưởng khối.
Phần viết bài này dựa trên một số dữ kiện có thật trong sinh hoạt Quốc Hội thời
kỳ đó. Còn rất nhiều cựu dân biểu thời kỳ đó có thể đối chứng và nếu có điều gì
sai sót, tôi xin sửa. Nhưng nếu đúng thì xin nhận. Nhận mà đừng tức giận người
viết. Người viết chỉ muốn sự thật. Sự thật mà thôi.
Một điểm son là miền Nam ở Hạ viện đã có đối lập. Ít là như thế. Đối lập không
phải như một thứ kiểng. Bởi vì nó cũng gây nhức đầu cho Tổng Thống Thiệu và
sau này phụ tá Nguyễn Văn Ngân. Đã hẳn cũng có đối lập cuội, đi hàng hai, thò
ra thụt vào. Đã hẳn cũng có những dân biểu ôn hoà. Nhưng vào thời kỳ đó, ai
cũng có thể nghi ngờ ai. Anh không theo tôi là anh đi với nhà cầm quyền. Trong
hoàn cảnh đó, người biết điều trở thàn nạn nhân của ngộ nhận chụp mũ. Nó có
khác gì, không chỐng Cộng như mọi người cũng nhậ đủ thứ mũ?
Trong nhiệm kỳ đầu, Hạ viện có nhiều nhóm, khối. Nhóm thì ít người, khối thì từ
20 người trỏ lên.
Nhóm Xã hội mới thì có Hồ Ngọc Nhuận, Ngô Công Đức, Hồ Văn Minh và mấy
dân biểu trẻ gốc Tân Đại Việt của giáo sư Nguyễn Ngọc Huy.
Nhóm Quốc Dân Đảng, miền Trung với Phan Thiệp, Nguyễn Mậu Lê, Lê Đình
Duyên.
Nhóm Phật giáo miền Trung có bác sĩ Nguyễn Đại Bảng, Phan Xuân Huy (anh
này theo Cộng sản).
Khối Cộng Hoà thì chiếm đa số, thuộc TT Nguyễn Văn Thiệu.
Còn lại lẻ tẻ vài dân biểu đối lập.
Xem ra trò chơi dân chủ không hẳn dễ. Sang nhiệm kỳ 2 và 3, người ta đã biết
phối hợp vào chung một khối xã hội gôm có Phật giáo, đảng phái và công giáo
với Nguyễn Văn Binh. Và trách nhiệm trưởng khối này được giao cho một người
rất có uy tín là Luật sư Trần Văn Tuyên. Ông chết trong tù Cộng Sản và tôi đang
muốn viết lại cuộc đời của vị luật sư này. (32)
Cuộc bầu cử độc diễn của TT Nguyễn Văn Thiệu
Về việc này, ông phụ tá Nguyễn Văn Ngân đã có lời giải thích, vì chính ông là
tác giả bộ luật ấy. Nhưng bạn đọc thử đọc theo cái nhìn của người dân thường
không rành rẽ pháp luật xem thế nào?
TT Nguyễn Văn Thiệu muốn nắm phần chắc cuộc tuyển cử này. Dự luật được gửi
đến Hạ viện và tranh cãi mấy ngày vẫn chưa thông qua được. Thường thì luật
do phía dân cử nộp. Nhưng ở Việt Nam, rất nhiều dự án luật do TT đưa ra và đã
được Quốc hội phê chuẩn.
Nội dung dự thảo luật độc diễn nó như thế nào? Nó trù liệu ứng cử viên Tổng
Thống phải có 40 chữ ký dân biểu hay nghị sĩ hoặc 100 chữ ký của các hội đồng
tỉnh. Nghe thì dễ, nhưng trầy vẩy. Với luật này TT Thiệu đã trói tay hầu hết các
ứng cử viên. Ông Minh dốc toàn lực ra mới có đủ số 40 khít khao của luật pháp.
Đến ông Kỳ thì phải đi kiếm phiếu ở các Hội đồng tỉnh. Cũng kẹt luôn, họ đã ký
dành cho ông Thiệu rồi.
Và người ta mới thấy cái cảnh một đoàn xe có hộ tống của các nghị viên chạy
đến tối Cao Pháp Viện xin thay đổi chữ ký. Ông Kỳ được 101 chữ ký của nghị
viên, nhưng trong đó đã có 39 tên nghị viên có trong danh sách ủng hộ
Thiệu.Thay lam sao được, tay đã nhúng chàm, trót ký rồi thì ráng chịu.
Dân biểu Ngô Công Đức, không biết tại sao đã bay về Vĩnh Bình, tát cho bằng
được anh nghị viên Bác sĩ Phạm Hữu Gia. Ngô Công Đức bị bắt quả tang đánh
người. Dân biểu đối lập phá thối không bầu bán gì trước khi thả Ngô Công
Đức. Đinh Văn Đệ, điệp viên chiến lược dưới vỏ bọc là Chủ tịch Uỷ ban Quốc
phòng Hạ Viện Việt Nam Cộng Hoà
Người hùng Nguyễn Cao Kỳ ra tay nghĩa hiệp cho trực thăng đến chở các dân
biểu đối lập Đinh Văn Đệ, Phan Xuân Huy, Hồ Ngọc Nhuận, Trần Minh Nhựt và
Dương Văn Ba. Trên đường về lại Sài gòn chưa được bao lâu thì Đức bị bắt
ngay.
Ở Hạ viện thì phụ tá Ngân đang lập bộ chỉ huy tiền phương ngay trong văn
phòng Tổng Thư Ký Hạ viện là Nguyễn Văn Nhuệ. Nhuệ thay thế dân biểu Trần
Ngọc Châu đã bị TT Thiệu bắt. Ông Ngân đang ngồi gậm bánh mì thì dân biểu
Hồ Ngọc Nhuận được mời vào. Ông Ngân có nói với Hồ Ngọc Nhuận như sau:
“Toa cũng biết, tụi moa có dư túc số để thông qua dự luật, nhưng không muốn
dằng co quá mức.” Hồ Ngọc Nhuận trả lời bằng mọi giá thả Ngô Công Đức rồi
mới nói đến việc khác. Cãi qua , cãi lại rội dự luật bầu cử Tổng Thống cũng được
cũng được thông qua, vì phiếu chống của đối lập trước sau cũng chỉ là thiểu số.
Và Đức được thả. Cũng lại công của tướng Kỳ.
Nhưng điều mà cả ông Thiệu và ông Ngân không tính trước được là đến ngày
20/8/1971, ông Minh dù đủ số phiếu đã tuyên bố rút lui. Lý do là Ông Minh có
trong tay tài liệu chứng tỏ ông Thiệu đã ra chỉ thị cho các tỉnh trưởng phải làm
gì để ông được thắng cử.
Theo ông Lý Quý Chung, ông Minh đã trao tài liệu này cho ông Bunker và ông
Bunker xác nhận là tài liệu thật.
Phe ông Minh phải tìm
cách để ông Kỳ đủ điều kiện ứng cử, nếu không ông Thiệu sẽ phải ứng cử một
mình. Đến lượt ông Kỳ tuyên bố vào ngày 23/8 là không ra ứng cử. ông tuyên
bố với báo chí: “Tôi không tiếp tay cho một trò hề bẩn thỉu, càng làm cho người
dân vỡ mộng với chế độ dân chủ.
Sau này gặp lại TT Thiệu trong một dịp tiếp tân ở Hạ viện, ông Thiệu nói: “các
anh làm tôi bạc đầu”. Mà ông ấy bạc đầu thật.
Sau này, Ngô Công Đức bị đánh bại khi ứng cử vào hạ viện, anh đã phải nhờ
dân biệu Thạch Phen giúp đưa trốn sang Cam bốt, Thái Lan rôi lưu vong sang
Âu Châu. Mãi tháng 5/1975, Đức mới về lại Sài gòn. Phần Dương Văn Ba sau
này cũng bị thất cử cũng phải trốn nhui trốn nhủi trong dinh Hoa Lan của ông
Dương Văn Minh.
Sau đây, chúng ta thử tìm hiểu xem, họ đã làm được điều gì trong 9 năm đó.
Trước hết, chống Mỹ và chống chiến tranh:
Kể từ cái ngày 8/3/1965, 3500 lính Hải quân Mỹ đã đổ bộ xuống Hải cảng Đà
Nẵng và đã có rất nhiều nữ sinh Trung học Đà Nẵng choàng những vòng hoa
đón tiếp các quân nhân Mỹ. Và từ đó cho đến cuối năm, đã nâng số lính Mỹ lên
184.314. Cuối năm 1966, con số đã lên gần 400.000 người và cuối năm 1967 là
500.000 người.
Các vị dân biểu đối lập thành phần thư ba đã dựa trên điều luật nào để phản đối
sự gia tăng quân số người Mỹ?
Đã thế, tôi còn nhận ra một điều là chống mỹ mà vẫn chơi với Mỹ, vẫn thích là
bạn của những người Mỵ Trường hợp dân biểu Lý Quý Chung dành hẳn một
chương trong hồi ký của ông để nói về những người bạn Mỹ này.
Ông Lý Quý chung đưa ra nhận xét: “Có lẽ trên thế giới chưa có một thủ tướng
nào mời người tham gia nội các một cách độc đáo như thế.Nguyễn Văn Lục©
2006 DCVOnline
Nữ luật sư Ngô Bá Thành (1931 - 2004), tên thật là Phạm Thị Thanh
Vân(Ngô Bá Thành là tên người chồng quá cố của bà) nguyên là Chủ nhiệm Ủy
ban pháp luật Quốc hội các khoá 6, 7, 8 và 10, nguyên Phó Chủ tịch Hội Luật
gia Việt Nam.
Bà sinh ra tại xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, là con gái của
ôngPhạm Văn Huyến, bác sĩ thú y đầu tiên của Việt Nam. Năm 26 tuổi, bà bảo
vệ xuất sắc luận án tiến sĩ Luật tại Pháp. Sau đó, bà được đích thân Tổng thư ký
Liên Hiệp Quốc thời bấy giờ, ông Dag Hammarskjöld, mời làm việc cho ban luật
quốc tế với tư cách là nữ luật gia Việt Nam đầu tiên thông thạo ba hệ thống
pháp luật và ba ngoại ngữ Anh, Pháp và Tây Ban Nha. Tuy nhiên bà đã từ chối
để nhận một công việc khác tại Việt Nam.
Bà là Phó Chủ tịch Hội luật gia Việt Nam, Uỷ viên Đoàn chủ tịch Ủy ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nguyên Chủ nhiệm Uỷ ban pháp luật Quốc
hội, Đại biểu Quốc hội từ khóa 6 đến khóa 8 và khóa 10. Tuy nhiên trong lần
ứng cử tại thành phố Hồ Chí Minh năm 1992 vào Quốc hội khóa 9, bà đã không
được bầu. Trong trả lời phỏng vấn của đài BBC, bà đã tức giận gọi đây là sự
gian lận. Đến khóa sau, bà được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu ra ứng cử
tại Hà Nội và đã trúng cử vào Quốc hội khóa 10 (1997). Tới lần bầu cử Quốc hội
khóa 11, bà cũng ra ứng cử tại Hà Nội nhưng đã thất cử mặc dù đang là Chủ
nhiệm Ủy ban pháp luật của Quốc hội khóa 10.
Năm 1998 Uỷ ban về Phụ nữ của Viện Tiểu sử Hoa Kỳ (ABI) đã bầu bà là "Người
phụ nữ của năm 1998". Cũng năm đó Trung tâm tiểu sử quốc tế(IBC) bầu bà là
"Người phụ nữ thiên niên kỷ", đồng thời trao cho bà chức vụ Phó tổng giám đốc
Trung tâm tiểu sử quốc tế đầu tiên khu vực châu Á".
Ông Lý Chánh Trung sinh năm 1929 ở Trà Vinh, theo
đạo Công Giáo vào khoảng năm 1949, năm 1950
sang Bỉ học tại Đại Học Louvain, một đại học Công Giáo, ở cách thủ đô Brussells
khoảng 30 cây số. Lý Chánh Trung học rất thông minh, tuy nhiên vào năm 1956
khi mới lấy xong Cử Nhân Tâm Lý Học và Cử Nhân Chính Trị Học, chưa đậu Tiến
Sĩ, ông về nước.Tuy có trình độ kiến thức cao và vững vàng, tính tình hòa nhã,
nhưng bước đường sự nghiệp của Lý Chánh Trung rất lận đận. Ông có người anh
là Lý Chánh Đức, làm Giám Đốc Nha Học Liệu tại Bộ Quốc Gia Giáo Dục, đã xin
cho ông vào làm Công Cán Ủy Viên của Bộ này. Về sau, ông được bổ làm Giám
Đốc Nha Trung Học Công Lập. Ngoài ra, Lý Chánh Trung cũng được mời dạy
triết học tại các Viện Đại Học Huế và Đà Lạt. Sau năm 1975, ông là Ủy viên Ủy
Ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Phó Chủ tịch Ủy Ban Mặt Trận Tổ
quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh.Vốn là một giáo sư triết, tôn thờ Mounier
và Karl Jasper, Lý Chánh Trung luôn nhìn vấn đề chính trị Việt Nam dưới lăng
kính của một triết gia. Điều này thể hiện rất rõ qua các tác phẩm và bài báo của
ông.Tác phẩm: - Cách Mạng và Đạo Đức (1966)- Ba Năm Xáo Trộn (1967)- Tìm
Về Dân Tộc (1967)- Tìm Hiểu Nước Mỹ (1969)- Những Ngày Buồn Nôn (1972)-
Tôn Giáo và Dân Tộc (1973)
VỀ NHÂN VẬT NGUYỄN NGỌC LAN
Giáo sư Nguyễn Ngọc Lan (cựu linh mục) qua đời ngày 26 tháng
02, 2007 tại Sài Gòn. Cái chết của ông làm nổ ra cuộc tranh luận về hành
trạng cuộc đời ông: Con đường ông đi đúng hay sai?
Talawas.org ngày 11.6.2007 đăng bài của Quỳnh Thi nhan đề ‘Đôi Điều
Về Bài Viết ‘Lẽ Đương Nhiên’ Của Kiều Phong’. Trong bài này, tác giả
Quỳnh Thi nhiệt tình bênh vực cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Lan.
Trong cuộc đời nếu có thể tử tế với ai đó là một điều đáng qúy. Song nhiệt
tình bênh vực chưa đủ, còn phải bênh cho chính xác nữa mới có sức thuyết
phục. Không biết vào thời chiến tranh VN, tác giả Quỳnh Thi ở đâu, chính
kiến ra sao mà lập luận trong bài viết lại khiến cho bất cứ độc giả nào,
đứng về phía quốc gia chống lại cuộc xâm lược Miền Nam của CSBV, cũng
cảm thấy có những điểm cần phải nói lại.
Quỳnh Thi kết cho ông Sức Mấy (Đinh Từ Thức) và Kiều Phong là mạ lị, vu
khống, xỉ nhục một người đấu tranh cho đất nước vừa từ trần(tức Nguyễn
Ngọc Lan) vì đã cho rằng Nguyễn Ngọc Lan ‘đâm sau lưng chiến sĩ’. Lập
luận của Quỳnh Thi như sau: ‘NNL chống chiến tranh vô nghĩa, cốt nhục
tương tàn và chống chính quyền đầy bất công, tham nhũng. Và những việc
làm ấy của NNL được luật pháp bảo vệ vì ông sống trong một nước theo
pháp trị, công nhận quyền lập đảng đối lập, quyền tự do báo chí. Do đó
không thể nói NNL hoạt động ‘bí mật, lén lút’ hay là ‘đâm sau lưng, đâm
trộm, đâm lén, kẻ thù giấu tên, giấu mặt, tránh sự lộ diện của mình’.
Phần đầu lời phát biểu trên đây của Quỳnh Thi liên quan tới việc xác định
chính nghĩa của cuộc chiến Quốc - Cộng. Đây là một đề tài quan trọng và
to lớn đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước đề cập. Tuy hành trạng
của Gs. Nguyễn Ngọc Lan mới là chủ đích của bài viết, nhưng khi đưa ra
một số nhận xét về tạp chí Đối Diện (Nguyễn Ngọc Lan là chủ bút) dưới
đây, chúng tôi cũng sẽ nêu lên vài ý có liên quan tới chính nghĩa của cuộc
chiến Quốc - Cộng, để chỉ ra chủ trương, đường lối sai lầm và tai hại của tờ
tạp chí này.
Về phần sau lời phát biểu bênh vực Gs. Nguyễn Ngọc Lan của Quỳnh Thi,
xin khẳng định ngay: Nguyễn Ngọc Lan chẳng những là kẻ ‘đâm sau lưng,
đâm trộm, đâm lén’ bằng những việc làm lén lút mà còn là kẻ đâm thẳng
vào mặt các chiến sĩ và toàn dân miền Nam yêu tự do bằng các hoạt động
công khai để tiếp tay cho Cộng Sản chống lại VNCH của ông.
Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa 1967 công nhận các quyền tự do căn bản,
nhưng Điều 4 Hiến Pháp không chấp nhận Cộng Sản: ĐIỀU 4
1- Việt Nam Cộng Hòa chống lại chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình
thức
2- Mọi hành vi nhằm mục đích tuyên truyền hay thực hiện chủ
nghĩa cộng sản đều bị cấm chỉ.
Do đó, những công dân nào hoạt động có lợi cho CS là phạm pháp và hoạt
động làm lợi cho CS của họ cũng bị ngăn cấm.
Nguyễn Ngọc Lan dùng những quyền tự do căn bản hiến định để công khai
và hiên ngang chống chính quyền VNCH. Ông hung hăng đến nỗi đã vượt
quá mức giới hạn của một người đối lập, tới chỗ ngả sang cộng tác trực
tiếp với Cộng Sản.
Ông Châu Tâm Luân
Hoạt động công khai bằng báo chí
Ngay khi còn ở bên Pháp, Nguyễn Ngọc Lan đã bắt đầu viết lách chống
chính phủ của Tổng thống Ngô Đình Diệm về việc ông cho là chính phủ đã
đàn áp Phật giáo bằng bài báo nhan đề ‘Phật tử, người anh em của tôi,
Bouddhiste, mon prochain’ (đăng trên báo Témoignage
Chrétien,29.8.1963).
1.Từ 1964 tới 1968: Nguyễn Ngọc Lan cộng tác với các báo có khuynh
hướng cấp tiến: Hành Trình, Đất Nước.
2.Từ 1970 tới 1971: Viết cho Tin Sáng có xu hướng khuynh tả (những bài
này sau được gom thành sách Cho Cây Rừng Còn Xanh Lá, gồm 50 bài).
Tất cả các bài viết của Nguyễn Ngọc Lan cho thấy ông là một trí thức đầy
ảo tưởng. ‘Giá trị’ của những bài viết của các trí thức loại này sẽ đưa tới
hậu quả đúng như Gs. Nguyễn Văn Trung đã nhận xét: ‘Tham gia Cách
mạng là tham gia vào một quá trình tự tiêu diệt sau này’ (Tạp chí Văn Học
(HK) Số 174 tháng 10. 2000).
3. Đặc biệt là Nguyễn Ngọc Lan cùng với Lm. Chân Tín cho ra tạp chí Đối
Diện (1970), quy tụ những cây bút với các bài viết thiên Cộng rõ rệt: Bài
Học Cách Mạng Của Lênin (Đối Diện, 12.1970); Diễn Tiến Cuộc Xây
Dựng và Phát Triển Chính Sách Thực Dân Mới Của Mỹ Tại Việt
Nam (Đối Diện, 8.1971); Khái Niệm Về Chủ Nghĩa Thực Dân Mới (Đối
diện, 6.1972); Diễn Tiến và Ý Nghĩa Của Cách Mạng Tháng Tám (Đối
Diện, 8.1972); Miền Bắc Có Gì Lạ (Đối Diện, 2.1974)...
Chưa nói đến những tác giả khác đã cộng tác với Đối Diện, chỉ kể ra vài
cây viết chủ chốt:
* Chủ nhiệm Đối Diện là Lm. Chân Tín được CS gài vào chức Phó chủ tịch
của cái gọi là Ủy Ban Vận Động Cải Thiện Chế Độ Lao Tù Miền Nam Việt
Nam. Sau 30.4.75, Lm. Chân Tín ra tranh cử Quốc hội, bị Lm. Huỳnh Công
Minh đánh bại, thành ra mờ nhạt dần đến chỗ trở lại chống CS (dĩ nhiên
còn có thêm một số những nguyên do khác nữa). Trong tạp chí Văn Học số
124, trang 67, Gs. Nguyễn Văn Trung nhận xét về Lm.Chân Tín: ‘Linh mục
Chân Tín khi làm chủ nhiệm báo Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp chống Cộng rõ
rệt, nhưng khi làm tạp chí Đối Diện thay đổi lòng chuyển sang CHỐNG
CHỐNG CỘNG …Bây giờ linh mục lại chống Cộng’!
* Chủ bút Đối Diện là Nguyễn Ngọc Lan. Lm. Chân Tín và Gs.
Nguyễn Ngọc Lan như hình với bóng, luôn sát cánh nhau. Học giả Cao Thế
Dung ghi nhận: ‘Năm 1975, ông Nguyễn Ngọc Lan viết và công khai tuyên
bố: ‘Chế độ CS ở Bắc Việt là chế độ không còn mối mọt’. (Cao Thế Dung.
Công Giáo Việt Nam Trong Dòng Sinh Mệnh Dân Tộc. Dân Chúa xuất bản,
1988. Trang 240).
* Cũng trên Đối Diện, Lm.Trương Bá Cần viết bài ‘25 Năm Xây Dựng Xã
Hội Chủ Nghĩa Ở Miền Bắc’, đăng 3 kì vào năm 1971, để ca ngợi CSVN. Vì
bài này mà tạp chí Đối Diện bị truy tố, khiến cho tự nhiên tạp chí vô danh
này được nhiều người biết tới. Sau 1975, Lm. Trương Bá Cần nắm tờ Công
Giáo Và Dân Tộc . Tờ này do một linh mục thiên Cộng khác ở Pháp tên là
Nguyễn Đình Thi chuyển về VN cho nhóm Trương Bá Cần. Trên tờ Công
Giáo và Dân Tộc, Lm. Trương Bá Cần đã khoe khoang thành tích cúc cung
tận tụy ‘với Bác với Đảng’ như sau: ‘Năm 1972, trong khí thế vô cùng phấn
khởi của cuộc tiến quân anh dũng sau Trị Thiên, Tây Nguyên, Bình Long,
Phước Long đang đem cuộc chiến tới hồi kết thúc, anh Phan Khắc Từ nhất
định tổ chức lễ giỗ Bác một cách rộng rãi hơn mọi lần…Với ý định như vậy,
chúng tôi họp nhau để làm giỗ Bác, chung quanh một bàn tiệc Thánh…Ý
định của Thiên Chúa quả đã bắt đầu được thực hiện trên đất nước Việt
Nam, nhờ công lao của Hồ Chủ tịch. Nếu Hồ chủ tịch muốn vào nước Trời,
Người sẽ vào trước ai hết’. (Công Giáo Và Dân Tộc số 8, tháng 9.1975 và
số 44 tháng 5. 1976. Cao Thế Dung trích dẫn. Sđd).).
Vài nhận xét về báo Đối Diện:
Nói chung, tất cả những tội gì báo Đối Diện nêu ra để tố cáo chính quyền
VNCH (tội ác gây chiến tranh, tội ác trong chiến tranh, làm tay sai cho đế
quốc Mĩ, không bảo vệ được độc lập và toàn vẹn lãnh thổ, không đem lại
cơm no áo ấm cho đồng bào, đàn áp bắt bớ, tham nhũng, bầu cử gian lận,
vi phạm tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tôn giáo, tự
do đi lại …) thì CSBV còn vi phạm trầm trọng gấp trăm lần, nhưng Đối Diện
lờ đi, không bao giờ nói tới. Đối Diện chỉ một chiều bôi lọ, vu cáo chính
quyền VNCH với mục đích làm mất uy tín của chính quyền đối với dư luận
trong và ngoài nước, đồng thời xúi giục người dân chống chính quyền
VNCH.
Đành rằng chính quyền miền Nam còn những khiếm khuyết nhất định, xã
hội miền Nam chưa phải là toàn bích, nhưng nếu đem so sánh với chính
quyền độc tài đảng trị miền Bắc và chế độ Cộng sản vừa không tưởng vừa
dối trá, tàn ác đã kềm kẹp toàn dân miền Bắc trong đói khổ cùng cực suốt
mấy chục năm, thì người dân sẽ lựa chọn bên nào? Giữa hai sự khốn khó,
đương nhiên người ta sẽ chọn sự ít khốn khó hơn.
Nếu là một người có nhận xét khách quan và công bằng, chắc chắn phải
thấy rõ CS Hà Nội không đem lại cho dân cho nước nhiều độc lập, nhiều tự
do, nhiều hạnh phúc hơn VNCH. Sau 30/4/1975, có biết bao nhiêu người từ
miền Bắc vào Nam đã có dịp so sánh thực trạng quá chênh lệch về mọi
phương diện trong đời sống giữa hai miền đất nước. Thực trạng quá nghèo
khổ và mất đủ mọi thứ tự do của dân chúng miền Bắc, đã vạch trần bài
viết ‘25 Năm Xây Dựng XHCH ở Miền Bắc’ của Lm. Trương Bá Cần trên báo
Đối Diện chỉ là một lời nói dối, một trò lửa đảo, một mánh khoé tuyên
truyền.
Nhìn ra thế giới bên ngoài, ngày nay nhân loại được chứng kiến và có đủ
yếu tố để so sánh giữa thực trạng lầm than khốn khổ của dân chúng Bắc
Hàn với cuộc sống phát triển thịnh vượng vượt bậc của người dân Nam
Hàn. Thế giới cũng biết khi nước Đức thống nhất trở lại, Tây Đức tự do đã
phải bỏ ra hàng trăm tỉ Đô la để vực dậy nền kinh tế của Đông Đức Cộng
sản.
Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống chống ngoại xâm. Để khích động
lòng yêu nước của dân chúng và giành lấy chính nghĩa, đảng Cộng sản rêu
rao khẩu hiệu ‘Chống Mĩ cứu nước’và tìm mọi cách tuyên truyền rằng họ
phát động cuộc chiến là để bảo vệ độc lập cho nước nhà. Nhưng những gì
đã diễn ra sau cuộc chiến (dâng đất, dâng biển cho Tầu; cho Tầu thuê dài
hạn rừng đầu nguồn; cho Tầu khai thách bâu xít miền cao nguyên chiến
lược; làm ngơ để Tầu xâm lăng và chèn ép nền kinh tế nước ta…), chứng
tỏ tất cả chỉ là một trò bịp bợm khổng lồ. Rốt cuộc, sau khi người dân VN
đã phải hi sinh quá to lớn, xương chất thành núi, máu chảy thành sông, thì
đất nước tuy được thống nhất, nhưng không được độc lập thật sự, không
bảo toàn được lãnh thổ, không hề ‘sạch bóng quân thù’! Đúng như ông
Ngô Đình Nhu đã cảnh báo về tai họa này trước đây cả nửa thế kỉ: ‘ Giả sử
mà Nam Việt bị Bắc Việt thôn tính, thì sự Trung Cộng thôn tính Việt Nam
chỉ là một vấn đề thời gian’ (Tùng Phong. Chính Đề Việt Nam. Sàigòn - Việt
Nam. Trang 212).
Các hoạt động công khai khác
Ngoài những hoạt động báo chí, Nguyễn Ngọc Lan còn hăng say tham gia
vào các cuộc biểu tình chống chính phủ. Ông từng nếm lựu đạn cay, dùi cui
và từng bị đá trúng ‘dinh độc lập’! Nguyễn Ngọc Lan cũng tích cực ủng hộ
trùm sinh viên tranh đấu Huỳnh Tấn Mẫm và cùng các thành phần tranh
đấu ‘dàn chào’ gây áp lực tại các phiên tòa xét xử bọn sinh viên VC. Ông
luôn khoác áo nhà tu, coi như một thứ bùa hộ mạng, mỗi khi đi tranh đấu
với các , Huỳnh Công Minh, Trần Thế Luân…; với Ni sư Huỳnh Liên của
Phong trào Phụ Nữ Đòi Quyền Sống…; hoặc nhập bọn cùng các kí giả để đi
‘ăn mày’ (Trong đó, có nhiều kí giả là Việt Cộng hoặc thân Cộng như: Tô
Nguyệt Đình, Nam Đình, Thiếu Sơn, Trần Tlinh mục Phan Khắc Từấn
Quốc…).
linh mục
Phan Khắc Từ
Nguyễn Ngọc Lan hoạt động lén lút
Trở lên, đã thấy Nguyễn Ngọc Lan lợi dụng những quyền tự do dân chủ do
Hiến Pháp quy định để chống phá chính quyền miền Nam một cách công
khai. Chưa đủ, Nguyễn Ngọc Lan còn tham gia các ‘hoạt động bí mật, lén
lút’, và làm ‘kẻ thù giấu tên, giấu mặt…tránh sự lộ diện của mình’.
* Sau khi Báo Đối Diện bị truy tố và bị đóng cửa, Nguyễn Ngọc Lan và
Lm.Chân Tín in báo trên Thủ Đức, nhưng phịa ra là in tại Canada! In xong,
họ nhờ một nữ tu già người Tây Ban Nha dùng xe Deux Cheveaux chở báo
về Sài Gòn. Hành động này cũng là một hành động ‘lén lút’ để ‘tránh sự lộ
diện’, không phải là hành động của một nhà đối lập công khai hợp pháp.
* Đêm 30.4.1966, đi trên đường phố Đà Lạt cùng với tên đồ tể Nguyễn
Đắc Xuân, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, Trần Trọng Thức, ‘chị’ Sâm, ca sĩ Khánh
Ly, Gs. Nguyễn Ngọc Lan đã nói: ‘Bây giờ không còn con đường nào khác
là con đường của Mặt trận Giải phóng’ (Nguyễn Đắc Xuân. Thư gửi họa sĩ
Trịnh Cung. Huế, chớm Hè 2009. Damau.org).
* Như vậy, muộn nhất là từ 1966, Gs. Nguyễn Ngọc Lan đã chọn đứng hẳn
về phía Mặt trận Giải phóng, viết lách và hành động dưới sự chỉ đạo từ mật
khu. Núp dưới chiếc áo nhà tu, Nguyễn Ngọc Lan đã lập được nhiều công
trạng, cho nên Bí thư Trung ương Cục Phạm Hùng chỉ thị phải bảo vệ
Nguyễn Ngọc Lan. Cán bộ điều khiển của Nguyễn Ngọc Lan là Tạ Bá Tòng.
Đương nhiên là họ phải bí mật liên lạc với nhau. Về điểm này, Trần Bạch
Đằng xác nhận như sau:‘ Tôi nhớ, ở chiến khu, Bí thư T.Ư Cục - anh Phạm
Hùng có lần bảo tôi chú ý bảo vệ Nguyễn Ngọc Lan, nghe đâu ông đi lại
bằng một chiếc xe gắn máy cũ kỹ, rất dễ bị ám hại. Tôi truyền đạt ý trên
cho anh Tạ Bá Tòng, người trực tiếp liên hệ với Nguyễn Ngọc Lan’(Trần
Bạch Đằng. Tiễn biệt anh, anh Nguyễn Ngọc Lan. vietbao.vn).
* Sau đợt Tổng tấn công vào Thủ đô Sài Gòn Tết Mậu Thân 1968, Nguyễn
Ngọc Lan đã bí mật ra ‘bưng’ để ra mắt và nhận lệnh của Trần Bạch Đằng.
Việc này lại càng phải bí mật hơn nữa. Trong hồi kí Cuộc Đời Và Ký Ức,
trang 186, thuật lại cuộc tháo chạy khỏi Thủ đô Sài Gòn của Cộng quân
sau khi bị Quân lực VNCH đánh cho chạy té khói, Trần Bạch Đằng cho
biết: ‘Chúng tôi ngụ tại Tân Túc hai hôm và sau đó chuyển sang Nam Bến
Lức, xã Bình Chánh. Tại đây, tôi gặp linh mục Nguyễn Ngọc Lan, giáo sư
Châu Tâm Luân, Cao Hoài Hà, nhà văn Thiếu Sơn, các giáo sư Nguyễn Văn
Chì, Lê Văn Chí…’.
* Khi Nguyễn Ngọc Lan qua đời, tác giả Lữ Phương (sinh viên tranh đấu
hồi 1966,67,68) trong bài Tưởng Nhớ Một Người Anh
Em.(Diendan.org) cũng xác nhận: ‘Đúng vào những ngày hôm đó, bằng
một đầu mối khác, tôi cũng đã vào bưng như anh (tức Nguyễn Ngọc Lan),
đúng cái nơi mà anh đã vào và cũng đã phải đi “chém vè” thục mạng dưới
bom pháo dữ dội trong trận càn mà anh đã gặp. Sau đó cùng một số anh
em khác (có Châu Tâm Luân, Thiếu Sơn…) anh trở về Sài Gòn, còn tôi thì ở
lại, đội bom, nằm hầm bí mật mấy tháng, suýt chết mấy lần mới được
chuyển lên R rồi ở lại đó mãi cho đến khi chiến tranh chấm dứt. Cũng như
anh, lúc đó tôi cũng đồng ý ra bưng gặp những người cộng sản để tìm hoà
bình cho đất nước (tôi được cấu tạo như thành viên của một tổ chức có cái
tên lòng thòng là “Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hoà bình
Việt Nam, khu Sài Gòn Chợ Lớn, Gia Định”), tưởng hoà bình đã đến trong
tầm tay, nhưng rồi đã phải đợi chờ đến 7 năm sau mới có được nhưng với
một nội dung ngoài sự hình dung của anh và tôi vào những ngày Mậu Thân
năm ấy’.
* Về việc làm sao mới có thể ‘đi khu’ hay ‘đi bưng’, các đương sự phải tuân
thủ từng bước một cách hết sức nghiêm ngặt. Trường hợp Nguyễn Ngọc
Lan và đồng bọn chạy theo ‘Cách mạng’ quá vội vàng cho nên có thể đã
đốt đi một số giai đoạn. Trường hợp bình thường, để vào được tới ‘khu’, đối
tượng phải tiếp xúc ít nhất từ 2 giao liên trở lên, phải áp dụng ngụy thức,
ngụy trang, ngụy danh, bí danh, bí số, mật khẩu, đường đi thay đổi bất
ngờ để chống theo dõi. Thậm chí vào tới khu, các đối tượng đều phải bịt
mặt để tránh lộ diện, họ chỉ có thể đoán ra nhau nhờ nghe giọng nói trong
các buổi lên lớp….
Sinh viên học sinh đi ‘khu’ như vậy thì Nguyễn Ngọc Lan đi ‘khu’ chắc chắn
cũng phải theo một số những bước nghiêm ngặt ấy. Nghĩa là phải ‘giấu
mặt, giấu tên, tránh sự lộ diện’. Tức là không thể gọi được là hành động
công khai của một người hoạt động đối lập thuần túy.
Một sinh viên học sinh được chấm định đi ‘khu’ để học tập, đại khái phải
qua từng bước như sau: Được đánh giá là ‘hạt nhân quần chúng tốt’ tùy
theo thành phần gia đình và tư tưởng cá nhân có ‘tiến bộ’ không, rồi tiến
lên được kết nạp làm hội viên Hội Liên Hiệp Học Sinh Sinh Viên Giải Phóng,
lên nấc nữa là đoàn viên Đoàn Thanh Niên CS (hay Thành Đoàn), mức cuối
cùng là trở thành đối tượng kết nạp tạm thời vào Đảng và sau chót mới là
đảng viên thực thụ. Mỗi đối tượng đều phải kinh qua thử thách và lập được
những thành tích cụ thể trước khi được nâng lên một cấp.
* Nguyễn Ngọc Lan là nhân vật nổi, có nhiều thành tích, cho nên trong
‘khu’ (hay ‘bưng’) đánh giá ông rất cao. Nguyễn Ngọc Lan đã vào ‘khu’ gặp
Trần Bạch Đằng, nhưng may sao, ông chưa gia nhập đảng, nếu không,
chắc chắn đâu phải chỉ có ‘Nhóm 4 anh em chúng tôi Minh-Cần-Từ-
Bích’ (tức Huỳnh Công Minh, Trương Bá Cần, Phan Khắc Từ, Vương Đình
Bích) mà có tới ‘nhóm 5 anh em chúng tôi’ (‘Tôi đã thành khẩn nói với hai
anh Từ và Cần, là vấn đề thật của tổ chức chúng ta, không phải là Nhóm
Nghiên Cứu (thần học), mà là nhóm 4 anh em chúng tôi Minh-Cần-Từ-Bích
đã được Lãnh đạo gầy dựng và giao nhiệm vụ điều động Phong trào Công
giáo yêu nước tại thành phố này’ (Trích thư riêng của Lm. Vương Đình Bích
gửi cho Lãnh đạo Dân vận, Mặt trận và Ban Tôn giáo Tp. HCM ngày
25.12.1997. Tin Nhà số 32.Trang 18).
Qua phần trình bầy trên đây, thiển nghĩ đã tạm đủ cho thấy nhiệt tình
bênh vực Nguyễn Ngọc Lan của Quỳnh Thi chỉ có thể thuyết phục được
những độc giả trẻ tuổi hoặc là những độc giả sống ở ngoài Bắc trước 1975,
chứ không thể thuyết phục được những độc giả ở miền Nam có chút quan
tâm tới thời sự.
Đang khi quân đội VNCH nói riêng, và cả Miền Nam nói chung, hi sinh
xương máu chiến đấu chống lại cuộc xâm lăng của CSBV, để bảo vệ cho
người dân miền Nam, trong đó có Nguyễn Ngọc Lan và đồng bọn, được
hưởng những quyền tự do căn bản, thì Nguyễn Ngọc Lan lại lợi dụng những
quyền tự do Hiến định này để vừa hoạt động chống phá công khai, vừa
hoạt động lén lút bí mật, tiếp tay cho cho CSBV thôn tính miền Nam tự do.
Như thế, không phải là vừa đâm thẳng vào mặt, vừa‘đâm lén sau lưng
chiến sĩ’ thì là gì?
Nhân dịp, xét cũng cần phải nói rõ luôn vài điểm khác nữa trong bài
viết của tác giả Quỳnh Thi:
1. Nguyễn Ngọc Lan là nhà văn ‘cự phách’? Thiển nghĩ, có thể gọi Nguyễn
Ngọc Lan là nhà văn, nhưng gọi ông là nhà báo có lẽ chính xác hơn.
Nguyễn Ngọc Lan là nhà báo có tài viết bút chiến về những đề tài nóng
bỏng chứ ông không có sách vở bàn sâu rộng về vấn đề nào.Vài cuốn sách
của ông: Đường Hay Pháo Đài (1969), Cho Cây Rừng Còn Xanh Lá (1971),
Nước Ta Còn Đó (1973), Chủ Nhật Hồng Giữa Mùa Tím (1997) là tập hợp
những bút kí ngắn, những bài luận chiến hoặc là phê bình có giọng sâu
cay. Ngay cả 3 tập Hồi Ký Nguyễn Ngọc Lan(1989-1990) sau này cũng
giống như vậy.
2. ‘Bao nhiêu ngàn, bao nhiêu vạn học trò của ông…’ ? Gs.Nguyễn Ngọc
Lan là ‘cha giáo’ của một nhóm nhỏ tu sinh Dòng Chúa Cứu Thế, và một
dạo là giáo sư thỉnh giảng Triết học ở Đại học Huế. Sinh viên theo môn
Triết bao giờ cũng rất ít; hơn nữa, đại học Huế tọa lạc tại một thành phố
tương đối nhỏ. Cựu sinh viên Tuấn Nguyễn viết về lớp Triết của Gs.
Nguyễn Ngọc Lan ở đại học Huế trong bài Nhớ Cha Nguyễn Ngọc Lan như
sau: ‘Lớp học chứng chỉ Luận lý và siêu hình học đâu chỉ vỏn vẹn có 6, 7
người, và khi nào cũng đông đủ’(Dactrung.net). Như vậy thử hỏi lấy đâu ra
mà có ‘bao nhiêu ngàn, bao nhiêu vạn học trò của ông phải xếp bút
nghiên…’?
3. Quỳnh Thi cho rằng Nguyễn Ngọc Lan đã phê phán ngay cả Giáo Hội,
nhưng không vì thế mà sự nể trọng của các giám mục đối với ông bị giảm
sút, vì ông đã dám nói sự thật theo đúng Tin Mừng!
Tác giả Quỳnh Thi có quá lời chăng, có khẳng định điều mình không mấy
thẩm quyền chăng? Làm gì có chuyện các giám mục phải ‘nể trọng’
Nguyễn Ngọc Lan. Lúc đó, có thật là Nguyễn Ngọc Lan đã ‘dám nói sự thật’
không? Và thế nào là ‘nói sự thật theo đúng Tin Mừng’? Nói ‘sự thật theo
đúng Tin Mừng’đã khó, sống đúng Tin Mừng còn khó hơn? Nói mà không
làm có khi lại là giả hình, là lạm dụng tôn giáo để tranh đấu hoặc mưu đồ
chính trị đen tối.
Sự thật thì khi còn giảng dậy tại Học Viện Dòng Chúa Cứu Thế Đà Lạt, Gs.
Nguyễn Ngọc Lan và Lm. Đinh Khắc Tiệu đã cổ xúy cho nền ‘Thần học Giải
phóng’ phát xuất từ Nam Mĩ. Do vậy, một số vị giám mục tỏ ý lo ngại
khuynh hướng cấp tiến này sẽ là mầm mống gây khủng hoảng trong lòng
Giáo hội CGVN. Giám mục Đà Lạt lúc đó là Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền đã
phải cấm Lm.Nguyễn Ngọc Lan không được làm công tác mục vụ trong
phạm vi giáo phận Đà Lạt (coi như phạt ‘treo chén’).
Sau này, đôi khi Nguyễn Ngọc Lan còn nhắc lại vụ này một cách cay cú.
Chẳng hạn như ông đã viết một bài báo có nhan đề là: Một giám mục
không gậy không mũ là một thằng HÈN. Đây là thuật ‘chơi chữ’ sâu cay sở
trường của Nguyễn Ngọc Lan: Ông ta lấy tên của Giám mục HIỀN mà bỏ
chữ I (tức cây gậy) và dấu mũ trên chữ E (cái mũ) thành ra chữ HÈN !.
Sự lo ngại càng lớn khi thấy Gs.Nguyễn Ngọc Lan từ Đà Lạt trở về Sài Gòn,
vừa bằng ngòi bút vừa bằng hành động, đã tỏ ra đã hết sức hung hăng, tả
xung hữu đột trong mọi cuộc tranh đấu chống phá chính quyền VNCH, gây
xáo trộn thường xuyên ngay tại Thủ đô. Tuyệt nhiên, không ghi nhận một
vị giám mục nào hoan nghênh phe nhóm Nguyễn Ngọc Lan.
Thêm vào đó, còn nhớ một lần vào năm 1973, tôi cùng với một anh bạn
thân được hầu chuyện Đức Tổng Giám mục Nguyễn Văn Bình tại phòng
khách tòa Tổng giám mục và tôi đã hỏi tại sao Ngài không có phản ứng gì
đối với đám linh mục thiên Cộng Minh-Cần-Từ-Tín-Lan…thì Đức Tổng giám
mục trả lời ý chính như sau: Cha có quyền làm gì chứ, nhưng để yên vậy,
ít ai biết tới hơn. Nếu cha có biện pháp này nọ thì lập tức họ nổi tiếng như
cồn. Các đài phát thanh Giải phóng, đài Hà Nội, rồi bên Âu châu, Mĩ châu
sẽ thi nhau khai thác ồn ào ngay….
Xem như thế, lời khẳng định của Quỳnh Thi rằng các giám mục vẫn nể
trọng Nguyễn Ngọc Lan là không có căn cứ xác thực.
4. Tác giả Quỳnh Thi còn khẳng định: Cuối thập niên 60, đầu 70, Nguyễn
Ngọc Lan đi lại, điều phối, chỉ huy phong trào đấu tranh của các Tổng hội
sinh viên học sinh Miền Nam một cách công khai. Ông vẫn đi dậy hết
trường này tới trường khác, từ Nam ra Trung, chẳng ai dám đụng tới.
Không phải vì ông có quyền lực gì mà vì ông được dân chúng, sinh viên,
học sinh, mọi giới kính trọng, yêu mến.
Quỳnh Thi không nắm vững tình hình sinh hoạt của các phong trào sinh
viên học sinh tại Miền Nam. Nói vắn tắt:
- Từ khoảng 1963-1966, hầu hết các phong trào sinh viên tranh đấu(đặc
biệt là ở Sài Gòn) còn nằm trong tay những thành phần sinh viên quốc
gia (Lê Hữu Bôi, Nguyễn Trọng Nho, Tô Lai Chánh...).
- Từ khoảng 1966 tới cuối 1971: Các chi bộ Cộng Sản chi phối được Tổng
Hội và một số phân khoa tại Đại học Sài Gòn (thế là xuất hiện những tên
tuổi như Hồ Hữu Nhựt, Lữ Phương , Trần Triệu Luật, Nguyễn Đăng Trừng,
Huỳnh Tấn Mẫm, Trịnh Đình Ban, Tôn Thất Lập, Hà Thúc Thoan, Huỳnh
Thiện Kim Tuyến, Trần Thị Lan, Trần Thị Huệ, Cao Thị Quế Hương, Trầm
Khiêm, Dương Văn Đầy, Nguyễn Thị Yến, Phan Nguyệt Quờn, Huỳnh Quan
Thư, Hạ Đình Nguyên, Trương Quốc Khánh, Trần Long Ẩn, học sinh Lê Văn
Nuôi…
- Từ cuối 1971 cho tới 30.4.1975, các chi bộ CS và các sinh viên thân Cộng
hoàn toàn bị loại khỏi Tổng hội sinh viên Sài Gòn và các phân khoa.
Như vậy, vì Nguyễn Ngọc Lan chống chính quyền quốc gia, đương nhiên
ông không dính dánh tới các tổ chức sinh viên quốc gia khoảng thời gian
1963 tới 1966.
Đối với các tổ chức sinh viên thân Cộng, cao lắm ông chỉ dùng chút tên
tuổi của mình và chiếc áo dòng để yểm trợ cho hoạt động của những tổ
chức do các chi bộ Cộng Sản thuộc Thành Đoàn điều khiển, chứ ông không
có vị thế nào để ‘điều phối, chỉ huy’ các phong trào sinh viên học sinh thiên
Cộng này. Các chi bộ Cộng Sản ‘hoạt động trong lòng địch’ này được lãnh
đạo chặt chẽ bởi các cán bộ Cộng sản cốt cán và xuất sắc nhất (Mời đọc
thêm một bài khác của Bạch Diện Thư Sinh nhan đề: Sơ Lược Tổ Chức
Cộng Sản Trong Giới Học Sinh, Sinh Viên Sài Gòn Trước 1975 và Các Cán
Bộ Cốt Cán Của Những Tổ Chức Này).
- Sang thời kì từ cuối 1971 tới 30.4.1975, các tổ chức sinh viên học sinh
thiên Cộng hoàn toàn bị quét sạch khỏi Tổng hội SV Sài Gòn và các phân
khoa, Nguyễn Ngọc Lan lại càng không có chút ảnh hưởng nào đối với Tổng
Hội SV Sài Gòn và với Ban Đại diện của các phân khoa nay nằm trong tay
các sinh viên khuynh hướng quốc gia.
Thực tế, Nguyễn Ngọc Lan có ảnh hưởng đối với một số rất ít sinh viên
Công Giáo thân Cộng thuộc tổ chức Thanh Lao Công và Nhóm cựu học viên
Dòng Chúa Cứu Thế. Nhóm Thanh Lao Công như: Đoàn Khắc Xuyên (cựu
tu sĩ Phanxicô), Nguyễn Xuân Hàm, Nguyễn Xuân Phổ, Nguyễn Văn Hồng,
Nguyễn Văn Ngọc (1), Vũ Sĩ Hùng, Phạm Văn Phổ(Khoa học)…Nhóm cựu
học viên Dòng Chúa Cứu Thế như: Vũ Sinh Hiên(2) …Kể luôn một số nữ sinh
viên và học sinh CG thường xuyên sinh hoạt với Nguyễn Ngọc Lan, trong
đó có cô Thanh Vân là người đến năm 1976 trở thành bà xã của ông.
(1) (‘Thời gian sau này [có thể rõ ràng từ sau Biến Cố Tết Mậu Thân,
1968], Nguyễn Văn Ngọc, sinh viên CG khoa học
hoạt động nằm vùng, làm TTK/TLĐ/VN [trụ sở Trung Tâm Phục Sinh, 229
Hiền Vương, Sàigòn 3].
Sau 30/4/1975 anh làm ở Thành Đoàn Tp Sàigòn, rồi làm Phó Trưởng Ban
Tôn giáo đặc trách khối
Kitô giáo [1998-2003?] trong Ban Tôn Giáo của Chính Phủ Hà Nội’.
Theo Đỗ Hữu Nghiêm. Tập Thể Sinh Viên Công Giáo Việt Nam.
Dunglac.org).
(2) (Vũ Sinh Hiên là tác giả một bài ca tụng trại cải tạo Xuyên Mộc đăng
trong báo Đứng Dậy của Nguyễn Ngọc Lan
vào năm 1978 VS Hiên cũng là anh ruột của Vũ Đức Vượng, người gây tai
tiếng một dạo trong cộng đồng
người Việt tại miền Bắc Cali. Vượng đã nhiều lần được Cộng Sản Việt Nam
mời về Hà Nội để tưởng thưởng
chút công lao hãn mã của y), linh mục cởi áo tu Nguyễn Nghị (một vài cựu
học viên
Dòng Chúa Cứu Thế nói Nguyễn Nghị đã tuyên thệ nhập đảng Cộng Sản)
5. Quỳnh Thi nói không ai đụng tới Nguyễn Ngọc Lan thì ‘hơi bị’ đúng, bởi
vì chính quyền không nắm được bằng chứng ông đi ‘khu’. Một phần cũng
nhờ cái áo chùng thâm của ông bao bọc che chở cho ông. Vả lại cái mạnh
của chế độ tự do là ở thời bình, nhưng ngược lại, chế độ tự do trở thành rất
yếu trong thời chiến, nó bó chân bó cẳng chính quyền. CS cũng là người
VN cho nên họ dễ xâm nhập trà trộn, họ lại được huấn luyện cực kì kĩ
lưỡng để hoạt động bí mật, để hoạt động khuynh loát chính quyền; họ dám
dùng bạo lực, và mọi mánh khoé, mọi thủ đoạn. Họ sẵn sàng bắt và tiêu
diệt bất cứ ai cản trở con đường của họ hoặc ngay cả không theo họ. Trong
khi đó, chính phủ VNCH phải tôn trọng luật pháp, không đuợc bắt bớ ai nếu
không có đủ bằng cớ phạm pháp. Trường hợp bắt do tình nghi, chỉ được
tạm giam trong một thời gian ngắn để điều tra, nếu không đủ chứng cớ,
bắt buộc phải thả ra. Thêm vào đó, chính quyền VNCH còn bị bó tay bởi
các chính phủ và dư luận của các nước Âu Mĩ, nhất là Hoa Kì, cho nên mặc
dù biết có những kẻ hoạt động cho Cộng Sản mà vẫn chỉ theo dõi mà
không dám bắt giữ. Nguyễn Ngọc Lan là một trong số nhiều trí thức phản
chiến ở Miền Nam được chế độ bảo vệ để họ tha hồ chống lại chế độ thời
đó.
6. Ngày 18 tháng 6, 2007, trong một bài viết ngắn trên Talawas để trả lời
Bs.Trần Văn Tích (Bác sĩ trưởng Phủ ĐUTƯTB, hiện cư ngụ tại Đức
quốc), Quỳnh Thi vẫn nhất quyết cho rằng Nguyễn Ngọc Lan chỉ là nhà đối
lập như bao nhà đối lập khác ở miền Nam. Theo Quỳnh Thi, những chính
khách xôi thịt, những tay buôn bán vũ khí, thuốc Tây, lương thực với Việt
Cộng, những viên chức chính quyền và quân sự tham nhũng, lính ma lính
kiểng, những cấp chỉ huy bỏ lính chạy …mới là những kẻ đâm sau lưng
chiến sĩ.
Chúng tôi đồng ý ngay với Quỳnh Thi khi cho rằng những kẻ buôn bán với
Việt Cộng, tham nhũng, buôn lậu, lính ma lính kiểng, cấp chỉ huy bỏ lính
chạy…đều là những kẻ đâm sau lưng chiến sĩ. Thực sự là có nhiều loại
người đã đâm sau lưng chiến sĩ. Ở đây chỉ nói về nhân vật Nguyễn Ngọc
Lan, không mở rộng ra tới các loại người đâm sau lưng chiến sĩ khác.
Trong luật pháp có nguyên tắc: không thể thấy người khác phạm pháp thì
mình cũng được phép phạm pháp. Giết người hay lái xe vượt đèn đỏ…nếu
bị bắt, đương sự không thể nại lí do thấy kẻ khác cũng làm như vậy được.
Như phần đầu đã trình bầy, Nguyễn Ngọc Lan đã vượt quá vị trí của một
nhà hoạt động đối lập theo hiến định. Nghĩa là đã thiên Cộng rõ ràng: đã
làm ngơ trước mọi tội ác của CS, chỉ một chiều cáo giác phía VNCH mục
đích làm suy yếu chính quyền VNCH, đã hoạt động chống chính quyền vừa
công khai vừa lén lút và đã từng bí mật ra ‘khu’…Do đó, nói cho đầy đủ thì
Nguyễn Ngọc Lan vừa là kẻ đâm thẳng vào mặt chiến sĩ vừa là kẻ đâm sau
lưng chiến sĩ.
Sau 30 tháng 4 năm 1975
Nguyễn Ngọc Lan viết lách và ăn nói hết sức phóng túng. Ông đã gán ghép
các đặc ngữ Công Giáo vào những bài viết loại trở cờ, còn gọi là loại ‘ba
mươi tháng tư’ như: ‘Tin Mừng Ngày Giải Phóng’, ‘Anh em ơi hãy vui mừng,
đó là tin mừng cứu độ được gửi tới anh em’ (‘mượn’ ý tên một Hiến chế
lừng danh của Giáo Hội Công Giáo. Đó là Hiến Chế Gaudium et Spes: Vui
Mừng và Hi Vọng). Chúa nhật đầu tiên sau ngày miền Nam bị Cộng Sản
cưỡng chiếm, tức ngày 04.5.1975, Nguyễn Ngọc Lan nói trên tòa giảng nhà
thờ Dòng Chúa Cứu: ‘… 10 giờ sáng ngày 30 tháng 4 sau bao nhiêu tháng
ngày hoang mang, lo lắng, sợ hãi hay hồi hộp mong chờ. Hòa bình đã đến
trên đất nước ta, hòa bình đã đến như phải đến đã đành, nhưng đặc biệt
hòa bình lại đến mà không đi qua biển máu lửa, đổ nát tại Sàigòn như mọi
người đã phải lo ngại hay tiên đoán’.
Rồi Chúa nhật thứ hai, ngày 11.5.1975, ông lại lên tòa giảng để ca ngợi
con người Xã hội chủ nghĩa miền Bắc tốt hơn hẳn con người sống ở miền
Nam: ‘Thế thì, thưa anh chị em, giữa hai giới đồng bào kia, một bên mộc
mạc thật thà như thế, một bên quá tinh khôn và sẵn thói chụp giật, gạt
gẫm như thế, chúng ta có thể tự hỏi: Chúa đang có mặt phía nào hơn.
‘Nước Trời’ đang bắt đầu tỏ hiện từ phía nào hơn’(Nguyễn Antôn. Công
Giáo Miền Nam sau 30.4.75. Dân Chúa xuất bản. Trang112,113).
Nhớ lại hồi trước 1975, ông đã từng viết: ‘Chúa hôm nay vẫn ở ngoài
đường’, ‘Xin được chối từ Thiên đường’, ‘Chiến tranh của 500.000 lính Chúa
Kitô’, ‘Chúa sắp vác chiếu ra tòa’...
Nguyễn Ngọc Lan theo Cộng, tiếp tay cho CS xâm chiếm Miền Nam VN. Coi
như ông đã ‘kịp chuyến tầu’(Sức Mấy Đinh Từ Thức). Nhưng khi tầu cập
bến thì ông bị Cộng Sản đá văng ra, không thương tiếc. CS dùng thứ thiệt
như ‘nhóm 4 tên’ Minh-Cần-Từ-Bích cho chắc ăn (tức là các linh mục
Huỳnh Công Minh, Trương Bá Cần, Phan Khắc Từ, Vương Đình Bích), chứ
không dùng những tay ngu ngơ như ông. Sau khi ra đến số 114, tháng 12
năm 1978, CS bắt báo Đứng Dậy của ông (thối thân của Đối Diện, Đồng
Dao) phài nằm xuống không được ‘đứng dậy’, phải chết.
Thật vậy, Nguyễn Ngọc Lan ‘vinh dự’ là một trong 25 nhân vật miền Nam
được chọn tham quan Hội Nghị Hiệp Thương Thống Nhất đầu 9.1975 tại Hà
Nội. Khi về, ai cũng khôn hồn lo trả bài, còn ông cứ tưởng bở như xưa cho
nên đã dại dột nói lên cả cái tốt lẫn cái chưa tốt trong bài Hà Nội Tôi Thế
Đó (có kẻ ‘xỏ lá’ đọc lái ra là Hà Nội Tồi Thế Đó). Chẳng hạn như thuật lại
căn nhà khi ông rời Hà Nội trước 1954 nay trở lại thấy nước vôi cũ vẫn còn
y nguyên… Hậu quả là Lm. Huỳnh Công Minh được phái tới gặp ông và
nói: ‘ Thôi thì tờ Đứng Dậy đã“hoàn thành nhiệm vụ” của nó rồi, mình tính
sang chuyện khác. Lãnh dạo tính nhờ anh đứng chủ bút tờ báo Thần học
công giáo’.(NguyễnVăn Lục. Nói Về Một Người Sắp Sửa Ra Đi: Nguyễn
Ngọc Lan. Huongduongtxd.com).
Sau khi báo Đứng Dậy phải đình bản, cuộc sống của vợ chồng Nguyễn
Ngọc Lan lâm vào hoàn cảnh bi đát. Ông đã tâm sự với nhà văn Thế
Uyên: ‘Tôi bây giờ còn thua cả số phận của anh nữa. Hộ khẩu thường trú
của tôi là tòa soạn, bây giờ xin chuyển về nhà riêng, Công an nhất định
không cho. Tôi không có hộ khẩu, không có quyền mua gạo, không được
vô bệnh viện, không được di chuyển, TÔI KHÔNG CÒN HIỆN HỮU, TÔI
KHÔNG CÒN CÓ MẶT TRÊN THẾ GIAN NÀY NỮA…Tôi(Thế Uyên) an ủi
anh (NNL): Dù sao anh vẫn còn được tự do và vẫn còn có chị (tức Thanh
Vân, vợ của NNL)’ (Hồi ký của Thế Uyên. Nguyễn Văn Trung và Những
Người Công Giáo Bạn Tôi. Phụ bản Tin Nhà số 4. Paris, Hè 1991. Trang
10).
Đến đó thì ông mới vỡ lẽ ra. Thế là ông quay ra chống Cộng.
Tóm lại, chúng tôi công nhận Gs. Nguyễn Ngọc Lan có trình độ và bằng
cấp cao, đỗ tiến sĩ ở đại học Sorbonne với luận án về Thuyết tiến
hóa(Nguyễn Văn Lục. Bđd.), có tài viết bút chiến sắc bén. Giọng văn ông
đôi khi thông minh, dí dỏm, nhưng sâu cay, độc địa cho nên dễ làm cho đối
phương buồn phiền, oán hận. Tư tưởng ông cấp tiến và quá lí tưởng, đến
độ ảo tưởng. Còn lập trường chính trị của ông hồi đó thật sự là một chiều,
bất công, phe phái, thiếu khách quan, rất bất lợi cho VNCH và đương nhiên
ông trở thành kẻ có công lớn đối với Cộng sản. Ngày 28.02.2007, hai ngày
sau khi Gs. Nguyễn Ngọc Lan qua đời, Trần Bạch Đằng viết bài Tiễn Biệt
Anh, Anh Nguyễn Ngọc Lan. Trong đó, có đoạn tuyên dương công trạng
như sau: ‘Tôi nghĩ rằng nỗi buồn ấy không chỉ riêng của cá nhân tôi bởi
trong phong trào đấu tranh chống Mỹ cứu nước ở thành phố Sài Gòn anh
được biết đến như một người xung trận quả cảm, đồng hành với trí thức,
học sinh, sinh viên, phật tử và đồng bào nói chung, nếu chúng ta nhớ thái
độ của anh đối với sự hy sinh của Nhất Chi Mai, của công nhân Hãng pin
Con Ó và nổi lên cuộc chống độc diễn của Nguyễn Văn Thiệu cùng tai họa
do cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ gây trên đất nước chúng
ta’ (vietbao.vn).
Nhận xét cuộc đời Gs. Nguyễn Ngọc Lan, thấy ông có tính bất mãn kinh
niên, sống trong bất cứ môi trường nào ông cũng sẵn sàng phản kháng,
khi còn tu cũng như khi cởi áo dòng ra sống ngoài đời. Gs. Nguyễn Văn Lục
cũng đã lột tả tính khí ông vừa chính xác vừa rất dí dỏm: ‘Tôi chỉ có một
nhận xét về Nguyễn Ngọc Lan như thế này. Không ở chế độ nào mà ông
không là người đối lập. Đối lập là lý lẽ đời ông. Từ chối, phủ nhận, tranh
đấu, bất đồng ý kiến, chính là bản thân con người của một trí thức khuynh
tả. Mai mốt ông đi về nhà Cha thật là nước Thiên Đàng. Ở trên ấy chỉ có
sướng. Một ngày nào đó ông sẽ bực mình hỏi Chúa rằng: Tại sao tôi lại
sướng như thế này?’! ( Nguyễn Văn Lục. Nói Về Một Người Sắp Sửa Ra Đi:
Nguyễn Ngọc Lan. Huongduongtxd.com).
Với cá tính như vậy, cho nên khi bị CS bạc đãi, ông không chịu được, ông
ngoái cổ lại cắn vào gót chân chúng. Phản ứng như thế, đối với CS, chúng
coi như là phản ứng của một con chó dại, cần phải thủ tiêu ngay. Đúng
vậy, ngày 04 tháng 5 năm 1998, CS sai bọn ‘ưng khuyển’ kết liễu đời Gs.
Nguyễn Ngọc Lan bằng cách đạp cho ông và đàn anh của ông là Lm. Chân
Tín té xe Honda trên đường đi đám tang tay Cộng Sản gốc Miền Nam, bất
mãn và phản tỉnh là Nguyễn Văn Trấn (Bảy Trấn). Theo tờ Tin Nhà số 34,
Tháng 7, 1998, Pháp, trang 20, thì ‘Giáo sư Nguyễn gọc Lan bị bất tỉnh
ngay tại chỗ, mất nhiều máu, đưa vào bệnh viện khâu năm mũi ở đầu và
bị nứt xương vai. Chụp scanner thấy trong đầu có máu bầm….Chân Tín bị
xây xát’. (Mời đọc thêm bài: ‘Tạ ơn đời, tạ ơn Trời, tạ ơn từng bạn và tất cả
các bạn’ của Nguyễn Ngọc Lan. Tin Nhà số 35, tháng 9.1998. Trang 23).
Cuộc chiến đã lui vào dĩ vãng hơn 35 năm, nhưng những chiến sĩ đã miệt
mài chiến đấu chống Cộng Sản Bắc Việt bảo vệ Miền Nam tự do sẽ còn ôm
mối hận cay đắng mãi cho tới ngày xuôi tay nhắm mắt vì bị những kẻ ăn
cơm quốc gia thờ ma CS này đâm sau lưng.
Thực ra, trong chiến tranh Việt Nam, có nhiều trí thức giỏi chuyên môn
nhưng dường như hiểu biết về Cộng Sản rất ít, cho nên, một là đã hí hửng
‘theo đóm ăn tàn’, hai là đã để Cộng sản lợi dụng một cách quá dễ dàng.
Trong số đó có những tên tuổi quen thuộc như: Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh
Tấn Phát, Trương Như Tảng, Dương Quỳnh Hoa, Ngô Bá
Thành…Nhóm ‘Dương Văn Minh’ như Hồ Ngọc Nhuận, Dương Văn Ba,
Lý Qúy Chung, Nguyễn Hữu Chung, Ngô Công Đức…Một số giáo sư Đại
học như: Lê Văn Hảo, Châu Tâm Luân, Lý Chánh Trung, Trần Kim
Thạch ...Một số linh mục như Trần Tam Tỉnh(Canada), Nguyễn Đình
Thi (Pháp), Vũ Hồng Khanh và Nguyễn Thế Hiển (Đức)… Đâu phải chỉ
có Lm. Chân Tín và Gs. Nguyễn Ngọc Lan.
Cũng may, lúc sau này, khi phản tỉnh, Gs. Nguyễn Ngọc Lan và Lm Chân
Tín đã tìm cách nói lên sự thật.
Mùa chay 4/1990, tại nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, đường Kỳ Đồng, Lm.
Chân Tín đã giảng 3 Bài Giảng Sám Hối: Sám Hối Cá Nhân, Sám Hối Trong
Lòng Giáo Hội, Sám Hối Trong Lòng Dân Tộc.
Mở đầu bài giảng Sám Hối Cá Nhân, Lm. Chân Tín nói ngay: ‘Nói đến sám hối là tôi nghĩ đến
tôi trước nhất’. Nói thế, nhưng ông không chính thức nói lời sám hối về những hoạt động có
lợi cho Cộng Sản của ông trước đây. Ông không đủ can đảm nói lời xin lỗi nước VNCH và
đồng bào miền Nam yêu tự do. Song ông đã dán tiếp nói lên tâm tình sám hối của ông bằng
cách diễn giảng quan niệm sám hối ‘không phải đấm ngực khóc lóc…không phải chỉ có ân
hận…’, nhưng ‘sám hối là đổi mới sau khi đã ân hận’. Có lẽ ông đã kín đáo ám chỉ bây giờ lời
nói, hành động của ông đã khác trước, tức là ông đã đổi mới, chứng tỏ ông đã sám hối chăng?
Lm.Chân Tín lặp lại quan niệm sám hối này trong bài giảng Sám Hối Trong Lòng Dân
Tộc: ‘Chúng ta thấy Liên Xô và các nước Đông Âu đã ân hận, đã sám hối bằng cách đổi
mới’(viethoa.nl và Nguyễn Văn Trấn. Viết Cho Mẹ và Cho Quốc Hội. Tph. HCM. Trang 406).
Cũng vậy, Gs. Nguyễn Ngọc Lan, tuy không chính thức nhận lỗi như cha
con cụ Vũ Đình Huỳnh và Vũ Thư Hiên trong Đêm Giữa Ban Ngày, nhưng
việc viết lách của ông khác trước 180 độ, đã nói thay cho ông(3 tập Nhật
Ký Nguyễn Ngọc Lan: Nhật Ký 1988, Nhật Ký 1989-1990, Nhật Ký 1990-
1991, đều do Tin Nhà Paris xuất bản). Mặc dù gặp nhiều khó khăn, Gs.
Nguyễn Ngọc Lan còn có thể để lại tiếng nói phản tỉnh theo cách của riêng
ông, không đến nỗi như Nhất Chi Mai ‘chết mới được lên lời’ (nhan đề tập
sách nhỏ và mỏng của Nguyễn Ngọc Lan ca ngợi nữ sinh viên Nhất Chi Mai
tự thiêu cầu nguyện hòa bình).
Một khi đã phản tỉnh và lên tiếng phê phán chống lại Cộng Sản, đương
nhiên Lm. Chân Tín và Gs. Nguyễn Ngọc Lan phải chấp nhận hi sinh, phải
chấp nhận đòn thù của Cộng Sản. Vì 3 tập Nhật Ký, ngày 05.8.1990, Công
An tới khám xét nhà của Gs. Nguyễn Ngọc Lan và tuyên lệnh quản thúc
ông 3 năm tại gia. Vì 3 Bài Giảng Sám Hối, Lm. Chân Tín bị phát vãng 3
năm ra cửa Cần Giờ. Đặc biệt nghiêm trọng là việc Gs. Nguyễn Ngọc Lan
và Lm. Chân Tín bị mưu sát ngay trên đường phố Sài Gòn như đã thuật lại
trên đây.
Sự phản tỉnh của Gs. Nguyễn Ngọc Lan và Lm. Chân Tín tuy muộn màng, song vẫn hơn là
không bao giờ.
Lịch sử sẽ ghi nhận điều này.
*Bạch Diện Thư Sinh
(Bổ túc và sắp xếp lại ngày 20.12.2010)
KTS Nguyễn Hữu Thái: Sinh trưởng ở Đà Nẵng trong một gia đình cha làm
công chức, mẹ là tiểu thương, Nguyễn Hữu Thái là anh cả của 9 người em. Từ
tấm bé, Thái là niềm kì vọng của cả gia đình; được ăn học tử tế để mai sau
trưởng thành, làm gương cho các em. Năm 1958, Nguyễn Hữu Thái đỗ Tú tài tại
Trường Thiên Hựu (Huế), rồi vào Viện Đại học Sài Gòn học ngành Kiến trúc và
Luật.Theo đuổi ước nguyện trở thành một kiến trúc sư giỏi, song bầu máu nóng
của chàng thanh niên Nguyễn Hữu Thái đã thôi thúc anh cùng các sinh viên
xuống đường đấu tranh chống lại chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, đòi tự do, dân
chủ, chống phân biệt đối xử các tôn giáo... "Thực ra, lúc đó tôi cũng chưa có ý
thức gì về cách mạng, những điều đã biết thì cũng rất mơ hồ. Nhưng là thanh
niên trong cảnh đất nước tao loạn, khiến tôi không thể không tham gia tranh
đấu" - ông Nguyễn Hữu Thái kể. Ông được bầu làm Chủ tịch Tổng hội Sinh viên
Sài Gòn (nhiệm kì 1963-1964) - một chức vụ do giới sinh viên lựa chọn từ
những thủ lĩnh sinh viên các trường Đại học. Do tích cực tham gia đấu tranh,
ông 3 lần bị chế độ Sài Gòn cầm tù trong những năm 1964 đến 1974.
Vị cựu Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn bồi hồi nhớ lại những ngày sục sôi
tranh đấu: “Sau cuộc đảo chính tháng 11/1963, phái quân sự lên nắm quyền,
sinh viên tiếp tục xuống đường tranh đấu. Sang năm 1964 thì tôi bị bắt giam ở
khám Chí Hòa. Cùng phòng giam có một số cán bộ "Việt cộng"; ngay trong đêm
đầu tiên, giữa tôi và họ đã tranh luận gay gắt về phương pháp đấu tranh..."
"Những cán bộ "Việt cộng" này đa phần hoạt động ở vùng nông thôn nên chưa
hiểu lắm tình hình đô thị. Tuy vậy, càng tranh luận thì tôi càng bị họ thuyết
phục và hiểu rằng ngoài cuộc đấu tranh của sinh viên, trí thức chống chế độ Sài
Gòn, còn có cuộc đấu tranh lớn lao của những người Cộng sản... Từ đây, tôi dần
dần có thiện cảm với họ và chuyển hướng đấu tranh của mình; đặc biệt là sau
khi quân Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng, năm 1965".
Sau khi ra tù năm 1964, Nguyễn Hữu Thái là cái gai trong mắt của các cơ quan
mật vụ. Để bảo vệ an toàn cho ông, một số người có ảnh hưởng với chính quyền
đã đưa ông đến nương thân trong nhà một người Mỹ, là ông Wilson, Phó Giám
đốc điều hành Cơ quan viện trợ của Mỹ tại Nam Việt Nam (USAID). "Ông Wilson
có vai trò gần như một viên "Công sứ" của Mỹ tại Sài Gòn.
Ổng rất quý mến tôi vì thấy tôi thạo tiếng Anh. Hằng ngày, tôi còn dạy ổng
tiếng Pháp để giao tiếp với các quan chức Sài Gòn (hầu hết họ đều thạo tiếng
Pháp, nhưng ít người thạo tiếng Anh). Wilson gợi ý tôi sang Mỹ học tiến sĩ, với
học bổng toàn phần do ổng tìm giúp... Tôi đứng trước ngã ba đường: hoặc sang
Mỹ học tiến sĩ, hoặc ở lại trong nước đi theo cách mạng.
Tôi quyết tâm thoát ly ra "cứ" hoạt động, song không được toại nguyện. Sau
này, tôi được biết, cũng có ý kiến nghi ngại tôi giao tiếp nhiều với người Mỹ, cần
phải có thời gian thử thách; có ý kiến cho rằng, tôi ở lại Sài Gòn hoạt động công
khai thì có lợi hơn...” - ông Thái kể.
Rồi, Nguyễn Hữu Thái bị bắt quân dịch, trở thành giảng viên chiến tranh chính
trị trong quân đội Sài Gòn rồi lại bị bắt đi tù… Ra tù lần thứ ba, ông tiếp tục
hoạt động công khai, trở thành cây bút chủ lực của Báo Điện Tín do Dương Văn
Minh chủ trương.
Nguyễn Hữu Thái ngày càng gắn bó hơn với nhóm trí thức trẻ thân cận với
Dương Văn Minh, như Ngô Công Đức, Phan Xuân Huy, Nguyễn Văn Binh, Hồ
Ngọc Nhuận, Dương Văn Ba, Huỳnh Bá Thành...
Họ là những người được coi như "thành phần thứ ba" có xu hướng vận động
chính quyền Sài Gòn đi vào con đường hoà giải, hoà hợp dân tộc. Và đó cũng là
những tiền đề để ngày 30/4/1975, Nguyễn Hữu Thái có mặt trong Dinh Độc Lập
chứng kiến lịch sử sang trang.
Người giới thiệu tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh trên sóng phát
thanh
Nhớ lại thời khắc lịch sử tại Dinh Độc Lập, ông Nguyễn Hữu Thái xúc động kể:
Khoảng 10h sáng 30/4/1975, tôi cùng nhà báo Nguyễn Văn Hồng và Giáo sư
Huỳnh Văn Tòng lên chiếc xe Renault màu xanh của Hồng, xe này có giấy phép
đặc biệt ra vào Phủ Tổng thống. Đường phố vắng tanh.
Khi xe chạy vào cửa hông Dinh trên đường Nguyễn Du, cửa mở sẵn nên chúng
tôi chạy thẳng luôn vào thềm Dinh. Khoảng 10h30' (11h30' giờ Hà Nội), chúng
tôi thấy một đoàn xe tăng ầm ầm tiến về phía Dinh... Tôi, anh Huỳnh Văn Tòng
và một số người khác đưa anh bộ đội (Bùi Quang Thận) vào thang máy, lên cắm
cờ Mặt trận trên nóc Dinh Độc Lập.
Sau đó, chúng tôi trở xuống tầng hai của Dinh rồi cùng bộ đội đưa Tổng thống
Dương Văn Minh, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu và Tổng trưởng Thông tin Lý Quý
Chung ra đài phát thanh để tuyên bố đầu hàng. Khi tới Đài, lực lượng cách
mạng đã làm chủ đài, nhưng không ai biết vận hành máy móc. May sao, anh
em sinh viên đi tìm được kĩ thuật viên Trần Văn Bảng.
Về nội dung bản tuyên bố đầu hàng, tôi chứng kiến giữa ông Dương Văn Minh
và ông Bùi Văn Tùng có lời qua tiếng lại. Ông Minh không muốn nêu chữ Tổng
thống mà chỉ muốn dùng chữ Đại tướng, vốn quen thuộc hơn. Ông Tùng cương
quyết không chịu vì cho rằng dẫu sao thì tướng Minh cũng đã là Tổng thống
chính quyền Sài Gòn và phải tuyên bố với tư cách đó mới ra lệnh được cho cả
bên dân sự lẫn quân sự. Thu băng và thử đi thử lại mấy lần mới xong.
Ông Nguyễn Hữu Thái đứng thứ hai bên phải, tay cầm tập
giấy, chứng kiến Tổng thống chính quyền Sài Sòn Dương
Văn Minh chuẩn bị tuyên bố đầu hàng. (Ảnh do ông Nguyễn
Hữu Thái cung cấp). Ảnh Kỳ Nhân.
Người phát thanh viên chương trình phát thanh cách mạng đầu tiên trong ngày
lịch sử đó chính là ông Nguyễn Hữu Thái. Tố chất của một cựu Chủ tịch Tổng hội
Sinh viên Sài Gòn trải qua bao năm lăn lộn đấu tranh công khai, đã được dồn
nén và phát lộ đúng lúc.
Ông Thái nói trực tiếp vào micro và đài cũng phát trực tiếp. Tuy vậy, câu từ
mạch lạc, khúc chiết và lần đầu tiên Sài Gòn được gọi là Thành phố Hồ Chí
Minh... Đó thực sự là tiếng nói của cách mạng, mở đầu cho một trang sử mới
của nước Việt Nam: "Chúng tôi là những người đại diện cho Ủy ban nhân dân
cách mạng Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định. Chúng tôi là những người đầu tiên tới
Dinh Độc Lập trước 12 giờ và đã cùng anh em Quân giải phóng cắm cờ trên
Dinh Độc Lập... Đời sống bình thường đã trở lại Sài Gòn - thành phố HCM, thành
phố mà Bác Hồ đã mong đợi, nay đã được giải phóng... Xin giới thiệu lời kêu gọi
của ông Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu của chính quyền Sài Gòn về vấn đề
đầu hàng...".
Sau ngày giải phóng đến năm 1980, ông Nguyễn Hữu Thái công tác tại Thành
đoàn TP HCM. Từ 1980-1985, ông làm việc tại Viện Quy hoạch kiến trúc thành
phố. Năm năm sau, ông Thái làm cho một công ty khai thác gỗ tại Lào và đến
năm 1990 thì xuất cảnh sang Canada theo diện đoàn tụ gia đình.
Đến năm 1995, vợ chồng ông trở lại quê hương. Hiện nay, nhiều thành viên
trong gia đình ông Nguyễn Hữu Thái đã trở lại Việt Nam làm ăn, sinh sống.
Những người giết GS Nguyễn Văn Bông
bây giờ ở đâu?
Khánh Dung
Gs. Nguyễn Văn Bông, Viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chánh 1963-1971 (1929-1971)
Gần 12 giờ trưa Thứ Tư 10/11/1971, chiếc xe chở Giáo Sư Nguyễn Văn Bông vừa từ đường Trần Quốc Toản quẹo phải vào
đường Cao Thắng, chạy chậm lại để ngừng đèn đỏ ngay ngã tư trước khi quẹo trái vô đường Phan Thanh Giản.
Xe vừa ngừng, một thanh niên chạy đến gần và ném xuống gầm xe của Giáo sư Bông một chiếc cặp trong đựng mìn chống tăng
MK6 (1). Sau đó anh ta băng qua đường và nhảy lên một xe Honda 90 có người đã nổ máy chờ sẵn, xe vọt luôn vào một con
hẻm. Lựu đạn nổ, Giáo Sư Bông và người cận vệ của ông thiệt mạng.(2)
Những sát thủ Chiếc xe gắn máy biến nhanh vào một con hẻm trên đường Cao Thắng. Do đã tập luyện thuần thục trước khi ra
tay, chỉ trong vòng ba phút xe đã ra đến đầu hẻm phía bên kia và biến mất trên đường Trần Quốc Toản.
Người lái xe, và cũng là người điều khiển vụ ám sát là Vũ Quang Hùng, sinh viên năm thứ ba Đại học Khoa Học Saigon và là
thành viên của tổ trinh sát vũ trang của Ban An Ninh T4. Người ngồi sau xe honda là Lê Văn Châu, trung úy quân đội VNCH
nhưng đồng thời cũng là cơ sở của An Ninh T4. Người cung cấp sáu trái lựu đạn MK6 cho hung thủ là Nguyễn Hữu Thái, kiến
trúc sư, cựu chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn, lúc đó đang là trung úy chiến tranh tâm lý tại Sài Gòn.
Ngay sau khi vụ ám sát xảy ra, Hùng và Châu được đưa ra bưng để tránh mũi dùi điều tra của chính quyền, và họ chỉ trở về Sài
Gòn sau ngày 30 tháng 4, 1975.
Lê Văn Châu về làm việc ở Báo Tuổi Trẻ. Còn Vũ Quang Hùng được đưa về làm Chủ tịch Ủy ban Nhân dân quận 3, nhưng sau
đó không lâu Hùng nhảy sang lãnh vực báo chí.
Hùng sanh năm 1945 tại Nam Định, bắt đầu viết báo từ 1964, và cho đến nay đã kinh qua các chức vụ phó tổng biên tập báo
Công an Thành phố Hồ Chí Minh, tổng biên tập tạp chí Người Du Lịch, và biên tập viên Báo Pháp Luật
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 7/2004, Vũ Quang Hùng dưới tên nhà báo lão thành Quang Hùng xuất bản tập sách “Phóng Sự
Điều Tra” trong đó ghi lại những kinh nghiệm mà Hùng đã “đúc kết, học hỏi, thậm chí va chạm trong suốt 40 năm làm báo”.
“Chiến công” của Vũ Quang Hùng đã được chính ông ta kể lại trong một bài đăng trên tạp chí Đứng Dậy của Linh Mục Chân
Tín năm 1976. Đến tháng 4/2000, trong dịp kỷ niệm 25 năm ngày chiến thắng 30 tháng 4 nhà báo chuyên về các đề tài tình báo
Nam Thi của báo Thanh Niên cũng kể lại chuyện này, trong đó có ghi rõ vai trò trợ giúp đắc lực của Nguyễn Hữu Thái.
Biệt động thành hay sinh viên tranh đấu?
Vào thời điểm tham gia vụ ám sát Giáo sư Bông, Nguyễn Hữu Thái chỉ mới là cơ sở của An ninh T4 chứ chưa phải là thành
viên chính thức. Sau này Thái được bổ về tổ điệp báo A10 vào những năm gần 1975 khi An ninh T4 cần gây dựng thêm nhiều
cơ sở để đáp ứng với tình hình sôi động.
An ninh T4 là tổ chức phụ trách hoạt động an ninh chính trị nội thành Sài Gòn trong chiến tranh. Tất cả những lệnh ám sát trong
thời gian này đều phát ra từ người chỉ huy trực tiếp lúc ấy là Thái Doãn Mẫn, sau này là đại tá phó giám đốc công an Thành Phố
Hồ Chí Minh.
Sáng ngày 30/04/1975, sau khi nghe tin bộ đội đang vào Sài Gòn, Thái cùng với ký giả Nguyễn Vạn Hồng và giáo sư Huỳng
Văn Tòng băng xanh đỏ trên cánh tay chạy ra đường Hồng Thập Tự đón dẫn đường đoàn xe tăng đang tiến vào Dinh Độc Lập.
Tại đây, Thái là người chạy theo anh bộ đội xe tăng Bùi Quang Thận lên nóc dinh Dinh Độc Lập để cắm cờ (Thận không biết sử
dụng thang máy và đã bị ngã khi tông vào cửa kính vì chưa bao giờ nhìn thấy cửa kính). Thái cũng có công giúp thâu băng lời
đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh tại đài Phát thanh Sài Gòn. Lần này, Thái và Tòng có dịp chứng tỏ sự quan trọng
của mình khi được xưng danh tánh trước khi giới thiệu Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng.
Sau này Nguyễn Hữu Thái luôn tìm cách che giấu những hoạt động cho An ninh T4 của mình, chỉ luôn tự nhận mình thuộc
thành phần thứ ba hoặc là một thành phần của lực lượng sinh viên tranh đấu. Chính phóng viên đài BBC cũng đã bị lừa khi họ
cho rằng Thái “không phải là người ở phía bên kia, mà đã từng tham gia phong trào đấu tranh sinh viên ở Sài Gòn”.
(Embedded image moved to file: pic29182.gif)
Nguyễn Hữu Thái giới thiệu bài viết của mình về Perect Spy (Tuổi trẻ cuối tuần, tháng 9, 2007)
Nguồn: larrybermanperfectspy.com
Trong buổi phỏng vấn ngày 19/05/2005 với BBC về một cuốn sách nhỏ do
Nguyễn Hữu Thái viết, trong đó kể lại những chuyện xảy ra tại dinh Độc lập và
đài Phát thanh Sài Gòn vào ngày 30/04/1975, Thái cho phóng viên BBC biết
cuốn sách của Thái đã không được phép xuất bản tại Việt Nam vì những chuyện
Thái kể không phù hợp với những chi tiết của phiên bản chính thức về những
chuyện xảy ra trong Dinh Độc Lập sáng ngày hôm ấy.
Cái vinh quang của người chiến thắng không thể nào lại có thể chia sẻ với một
kẻ cứ ngỡ rằng sẽ có một chỗ cho thành phần thứ ba. Và quả thật là vì không
có chỗ cho một thành phần như vậy, nên Thái đành phải trở về sống bằng nghề
kiến trúc và dạy học của mình.
Ngoài ra Thái cũng trở thành nhà nghiên cứu Phật giáo. Trong kỳ hội thảo quốc
tế “Phật giáo trong thời đại mới, cơ hội và thách thức” vào tháng 7/2006 tại
Việt Nam, Nguyễn Hữu Thái, lúc này đang dạy học tại Hoa Kỳ, đã trình bày đề
tài: “Đột phá mới trong truyền bá Phật giáo ở phương Tây.”
Vụ mưu sát Giáo sư Bông năm 1968 Nhà báo Nam Thi của Thanh Niên trong
các số báo đã nêu trên cũng xác nhận hai người chịu trách nhiệm về vụ ám sát
hụt Giáo sư Bông vào tháng 8/1968 chính là luật sư Đỗ Hữu Cảnh và công nhân
Trần Văn Hoành. Vũ khí dùng trong vụ ám sát không thành này là một trái nổ
C4 nặng 4kg đựng trong một chiếc cặp học sinh. Giáo Sư Bông may mắn thoát
chết trong vụ này do vừa đi sang một phòng khác lúc mìn phát nổ.
Sau 1975 Hoành trở thành sĩ quan an ninh trong ngành công an, còn Cảnh thì
cũng như trường hợp của Thái, ông ta nổi lên như một sinh viên tranh đấu ở
Sài Gòn nhưng thật sự lại là thành viên tổ vũ trang tuyên truyền của công vận,
và sau này là thành viên tổ điệp báo A10 của An ninh T4.
Năm 2005 khi người dân Sài Gòn xôn xao về việc thanh lý những hậu quả của
vụ Epco – Minh Phụng, người dân được biết đến tên một người đứng tên làm
giám đốc cho nhiều công ty của Liên Khui Thìn. Đó là Đỗ Hữu Cảnh.
Cảnh đã đứng tên làm giám đốc công ty sản xuất – thương mại – xây dựng –
dịch vụ Hồng Long lập năm 1995, và công ty cổ phần xây dựng – kinh doanh
nhà Hồng Hà năm 2003. Con trai Cảnh là Đỗ Trường Sơn thì làm giám đốc của
ba công ty khác: công ty cổ phần Đông Dương thành lập năm 2001, công ty tin
học Công nghệ mới năm 2000, và công ty tư vấn – thiết kế – kiến trúc – xây
dựng Đông Dương năm 2002.
Tất cả 5 công ty trên toạ lạc tại toà nhà số 282 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Hầu
hết vốn tạo dựng những công ty này là của Tăng Minh Phụng và Liên Khui Thìn.
Sau khi tòa án tuyên bố tịch biên tài sản của Liên Khui Thìn và cơ quan thi
hành án đã kê biên hơn 100,000 thước đất dự án của công ty Hồng Long,
Đỗ Hữu Cảnh vẫn tiếp tục rao bán những khoảnh đất này cho hơn 500 người
mua. Việc lường gạt này đưa đến những vụ kiện tụng trong đó nhiều người
mua đã kéo đến thể hiện sự tức giận tại nhà riêng của Đỗ Hữu Cảnh ở số 166C
đường Thích Quảng Đức, phường 4, quận Phú Nhuận. Đến lúc đó nhiều người
mới bật ngửa ra khi được biết kẻ làm ăn lươn lẹo và lường gạt này lại là một
luật sư.
Tháng giêng năm nay (2007), có một văn phòng luật sư mới được phép hành
nghề tại thành phố Hồ Chí Minh. Đó là văn phòng luật sư Hồng Lạc, địa chỉ
451/2 Hai Bà Trưng, Phường 08, Quận 3,Thành Phố Hồ Chí Minh, dưới tên Luật
Sư Đỗ Hữu Cảnh.