Thân thế và gia đình Ông Dương
Văn Minh
Ông Dương Văn Minh sinh năm 1916 ở tỉnh Mỹ Thọ Cha là ông Dương Văn Huề,
khi đi học mướn lấy tên là Dương Văn Mau (tên của người bà con), làm thầy
giáo, sau làm tri phủ, rồi đốc phủ sứ (hàm)Ông Dương Văn Huề (gốc Hoa) và bà
Nguyễn Thị Kỹ có bảy người con: bốn trai, ba gáị Ông Minh là con cả. Dương
Thanh Nhựt là con trai kế, có tham gia hoạt động cách mạng từ trước Cách
mạng tháng Tám (năm 1944) và suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống
Mỹ, là Thiếu tướng Quân đội nhân dân VN. Dương Thanh Sơn, em trai thứ năm,
là Đại tá Quân đội VNCH .
Gia đình ông Minh theo đạo Phật, lễ giáo, nề nếp.
- Năm 1940, Dương Văn Minh học trường đào tạo hạ sĩ quan và sĩ quan dự bị
của Pháp. Năm 1942 vào quân đội Pháp.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Dương Văn Minh tham gia lực lượng vũ
trang cách mạng chống Pháp xâm lược. Pháp trở lại, gia đình ông Minh tản cư
về Chợ Đệm (Tân An). Lần đó, ông về thăm nhà, đơn vị rút đi, ông bị kẹt lại
chưa tìm được đơn vị thì bị Tây bắt, buộc ông trở lại làm việc cho quân đội
Pháp. Năm 1946, Dương Văn Minh là thiếu úy, đại đội phó quân đội Pháp.
Lần lượt lên đến cấp tá, rồi qua Pháp học trường võ bị, là một trong những sĩ
quan đầu tiên của quân đội “VNCH”.
Ông Minh cũng theo đạo Phật, nhân từ, sợ phải giết người. Thấy ai bị nạn thì
ra tay cứu như can thiệp cho em trai bà Bùi Thị Mè một chiến sĩ điệp báo là
thiếu tá quân đội VNCH bị tình nghi hoạt động cho “VC” được thả ra; giúp ông
Nguyễn Minh Triết cán bộ của ta bắt giam ở nhà lao Phú Lợi, được ra tù...
- Ông Minh là người rất tự trọng. Sau ngày 30.4.1975, ông được về nhà (98
đường Hồng Thập Tự, nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3) sống với tư
cách một “công dân của một nước độc lập” (2). Đời sống khó khăn, ông lại bị
bệnh tiểu đường, bị đau dạ dàỵ Có lúc lãnh đạo Thành phố (đồng chí Võ Văn
Kiệt) nhờ bà Bùi Thị Mè gợi ý khéo là đảng và chính quyền thành phố muốn hỗ
trợ ông trong cuộc sống. Nhưng ông Minh từ chối với lý do: “Các anh các chị
sống được thì tôi cũng sống được nếu chưa quen thì phải tập lại cho quen”.
Năm 1983, ông Minh được Chính phủ ta chấp thuận để ông sang Pháp trị bệnh
và thăm con. Toà Tổng Lãnh sự Pháp ở Saigon đề nghị Bộ Ngoại giao Pháp giúp
ông Minh vé máy bay và tiền gửi hành lý nhưng ông Minh từ chối, nói rằng “đã
có Chính phủ VN lo rồi”.
Khi đi, ông Minh chỉ xin mang theo một ít đồ cổ trong nhà. Sang Pháp, ông
không nhờ vả gì Chính phủ Pháp, không xin trợ cấp xã hội Pháp.
+ Quá trình binh địch vận đối với Tướng Dương Văn Minh
Công tác binh địch vận đối với tướng Dương Văn Minh bắt đầu từ năm 1959, với
nhiều lực lượng, nhiều ban ngành tham gia: Binh vận Trung Ương Cục, Tình
báo, An ninh T4 (Saigon - Gia Định), Trí vận...
1. Ban binh vận Trung Ương Cục miền Nam
Năm 1960, theo yêu cầu của Ban binh vận Xứ ủy Nam bộ (sau này là Trung
Ương Cục miền Nam) Ông Võ Văn Thời, Cục trưởng Cục địch vận Tổng Cục
Chính trị Quân đội Nhân dân VN đề nghị và được cấp trên đồng ý điều động
Trung tá Dương Thanh Nhựt (3) về Cục để giao nhiệm vụ về miền Nam vận động
Dương Văn Minh. Trung tá Nhựt được đặt bí danh là Mười Ty.
Cuối tháng 12.1960, Trung tá Mười Ty lên đường.
Tháng 8.1960, đồng chí Mười Ty móc được với gia đình, trước hết là với ông
Nguyễn Văn Di, cậu ruột; qua cậu, móc vợ là Sử Thị Hương, nhắn vợ về thăm
mẹ và tìm hiểu thái độ của anh hai Dương Văn Minh. Sau đó Mười Ty thăm em
trai là Dương Thanh Sơn, sĩ quan quân đội VNCH và em thứ tám là Dương Thu
Vân.
Thấy tình hình thuận lợi, Mười Ty hướng dẫn cán bộ mật đem ý kiến của lãnh
đạo trao đổi với Dương Văn Minh về việc đảo chính Chính phủ Ngô Đình Diệm.
Trong lúc Tướng Minh đang bực tức Ngô Đình Diệm, phủ nhận công lao của
mình (tảo thanh Bình Xuyên và các giáo phái Hoà Hảo). Tướng Minh hứa sẽ tìm
cách làm.
Ngày 01.01.1963, Trung tướng Dương Văn Minh nhân danh Chủ tịch Hội đồng
quân nhân cách mạng phát lệnh đảo chính Chính phủ TT Ngô Đình Diệm và lên
làm Quốc trưởng VNCH lần thứ nhất. Đồng chí Mười Ty nắm được ý định Tướng
Minh chuẩn bị đảo chính Diệm và có báo cáo về Ban binh vận Trung Ương Cục.
Sau cuộc đảo chính TT Ngô Đình Diệm một thời gian, đồng chí Mười Ty có vào
nhà Dương Văn Minh (98 Hồng Thập Tự, nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai),
sau đó qua nhà em là Dương Thanh Sơn ở mười ngày. Qua nhiều lần gặp và
trao đổi với Dương Văn Minh, đồng chí Mười Ty cho rằng Tướng Minh trước đây
mơ hồ về Mỹ là tên xâm lược, nay thì hết tranh cãi về điều này, nhưng vẫn còn
cho là Mỹ có giúp đỡ miền Nam. Tướng Minh hứa hủy bỏ ấp chiến lược, cho
nhân dân về nhà cũ với ruộng vườn, mồ mả ông bà.
Trong thời gian làm Quốc trưởng lần thứ nhất. Dương Văn Minh có một số hành
động tiến bộ có lợi cho cách mạng:
+ Quyết định hủy bỏ 16.000 ấp chiến lược. Đại sứ Mỹ Cabot Lodge hỏi Dương
Văn Minh vì sao làm thế? Ông trả lời, đại ý: Người VN có phong tục tập quán
riêng, không người nào muốn xa rời mảnh đất đã gắn bó đời mình và mồ mả
ông chạ Dồn dân vào ấp chiến lược là chủ trương sai, vì lẽ đó tôi giải tán ấp
chiến lược để người dân trở về quê cũ của mình.
Nhờ quyết định của Tướng Minh, Quân đội cách mạng đã giải phóng 1/3 lãnh
thổ VNCH.
+ Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Mc Namara và Tướng Harkin yêu cầu Quốc trưởng
Dương Văn Minh để cho Hoa Kỳ ném bom ra miền Bắc, không ném ồ ạt mà
ném bom nổ chậm trên đê sông Hồng. Miền Bắc sẽ bị lũ lụt mất mùa, người
dân sẽ đói... Dương Văn Minh lắc đầu từ chối.
Tháng 1.1964, Đại sứ Cabot Lodge yêu cầu Quốc trưởng Dương Văn Minh
nghiên cứu, chuẩn y và thực hiện kế hoạch 34A (hoạt động gián điệp, biệt kích
chống miền Bắc). Dương Văn Minh không trả lời.
+ Theo lời kêu gọi của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam (4) Dương Văn
Minh tỏ ý muốn thương lượng để tuyển cử tự do, thực hiện một chế độ trung
lập, lập Chính phủ liên hiệp. Nhưng Mỹ cự tuyệt hòa đàm, chống mọi xu hướng
trung lập.
- Do những chủ trương và hành động của Dương Văn Minh không theo đúng
“Bắc tiến” của Mỹ, theo chỉ thị của Tổng thống Mỹ Johnson, và gây bất mãn cho
các tướng lãnh quân đội VNCH . 30. 01.1964, Tướng Nguyễn Khánh tiến hành
chỉnh lý lên làm Chủ tịch Hội đồng quân nhân cách mạng kiêm Thủ tướng Chính
phủ Cộng Hòa VN bằng một cuộc đảo chính. Nguyễn Khánh tuyên bố: “Tôi đảo
chánh Dương Văn Minh để cứu đất nước này khỏi rơi vào tay CS”.
Mỹ thấy Dương Văn Minh có hậu thuẫn ở miền Nam, (Nhóm Phật giáo của
Thượng toạ Thích Trí Quang) nhưng khó điều khiển nên yêu cầu Chính quyền
VNCH phong Dương Văn Minh làm đại tướng và cử làm đại sứ lưu động ở Đài
Loan. Mỹ mời ông Minh qua Mỹ một thời gian rồi cho lưu vong ở Thái Lan (từ
đầu năm 1965) có sự giám sát của CIA.
Cuối năm 1967, theo chỉ đạo của đồng chí Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh, Phó Bí
thư Trung Ương Cục miền Nam) và Ban binh vận Trung Ương Cục, đồng chí
Mười Ty có chuyến qua Pháp, ở nhà em rể là Charlot để móc người em gái thứ 8
là Dương Thu Vân qua Pháp.
Có thời gian Mười Ty ở nhà Dương Minh Đức (con trai Dương Văn Minh).Được
biết, khi người em gái thứ 6 Dương Thu Hà bị ung thư chết, Dương Văn Minh
có qua Pháp dự đám tang em gái, sau đó ở lại Pháp hơi lâu, có ý chờ tin của
Mười Ty. Nhưng vì bọn CIA bảo trung tá Đẩu (sĩ quan tùy viên của Tướng
Minh) kêu ông Minh về Thái Lan, nên không ở lâu hơn được nữa.
Khi chị Dương Thu Vân qua Paris gặp Mười Ty cho hay là ông Minh không thể
qua Pháp được nữa, thì Mười Ty mới chuyển kế hoạch qua em (Dương Thu
Vân) và cháu (Dương Minh Đức) truyền đạt ý kiến của cấp trên cho Dương Văn
Minh. Sau đó Đức báo lại ý kiến của cha anh với Mười Ty như sau: “Lập Chính
phủ ba thành phần là khó lắm, cần đánh cho văng Nguyễn Văn Thiệu, Mỹ phải
rút đi là hết chiến tranh. Tôi có ra làm chính phủ ba thành phần khi bầu cử thì
ông Thọ (Luật sư Nguyễn Hữu Thọ) cũng thắng cử, tôi có thất cử cũng không
nghĩa lý gì, miễn có lợi cho đất nước là hơn”. Dương Minh Đức nói thêm: Ba
cháu không còn lực lượng, không biết làm chính trị, không giỏi bằng ông Thọ; ra
ngoài (ra khu) lúc này là không có lợi, ở trong này khi cần có lợi hơn...
Sau đó, đồng chí Mười Ty về Hà Nội, được Tổng bí thư Lê Duẩn gặp và mời
cơm (với đồng chí Võ Văn Thời). Sau khi nghe đồng chí Mười Ty báo cáo đầy
đủ chuyến đi công tác ở Pháp, TBT Lê Duẩn khen và nói: “Dương Văn Minh trả
lời như vậy là thành thật, nói như vậy là làm được, chứ hứa hết có khi không
làm được...”
Cuối năm 1970,... theo chỉ đạo của Trung Ương và Trung Ương Cục miền Nam,
Ban binh vận Trung Ương Cục tìm một người khác, để tiếp cận vận động Dương
Văn Minh. Đó là chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, cơ sở của ta trong sĩ quan là
bạn bè và thầy trò có thể tiếp cận được với Dương Văn Minh. Đồng chí Nguyễn
Tấn Thành (tức Tám Vô Tư), bác của Nguyễn Hữu Hạnh, được Ban binh vận
Trung Ương Cục giao nhiệm vụ trực tiếp nắm và bồi dưỡng cho Nguyễn Hữu
Hạnh.
Tháng 3 và 4.1975, đồng chí Tám Vô Tư thường gặp ông Nguyễn Hữu Hạnh.
Sau khi TT Nguyễn Văn Thiệu từ chức, đồng chí Tám Vô Tư gợi ý ông Hạnh nên
tiếp cận và vận động Dương Văn Minh nếu lên làm Tổng thống thì tìm cách kết
thúc cuộc chiến có lợi cho nhân dân.
Khi được tin ông Dương Văn Minh lên làm Tổng thống, ngày 28.4.1975, từ Cần
Thơ, ông Nguyễn Hữu Hạnh bằng mọi cách, vượt mọi khó khăn lên Saigon gặp
Dương Văn Minh và được ông giao làm phụ tá Tổng tham mưu trưởng, thay
Tổng tham mưu trưởng ở bên cạnh ông, sau đó là Quyền Tổng tham mưu
trưởng. Với các cương vị này, ông Hạnh đã góp phần quan trọng vào việc thực
hiện lệnh của Tổng thống Dương Văn Minh làm cho quân đội Saigon “án binh
bất động”, tan rã tại chỗ, không nổ súng và thúc đẩy Chính phủ Dương Văn
Minh sớm bàn giao chính quyền cho cách mạng.
2. Thâm nhập vào “nhóm Dương Văn Minh”
Tháng 9.1972, Ban An ninh T4 (Thành phố Saigon - Gia Định) thành lập Cụm
điệp báo mới, bí số là A10, với nhiệm vụ xây dựng lực lượng điệp báo bí mật
trong một số đối tượng, trong đó có lực lượng thứ ba, đặc biệt là “nhóm Dương
Văn Minh”... (các thành viên bộ tham mưu nhóm Dương Văn Minh, ban biên tập
bản tin nội bộ nhóm Dương Văn Minh, thư ký tòa soạn báo Điện Tín, báo Đại
dân tộc...).
Đầu năm 1975, đồng chí Trần Quốc Hương (Mười Hương), Trưởng Ban An ninh
T4, chỉ đạo A10 tìm cách thâm nhập vào lực lượng thứ ba và nhóm Dương Văn
Minh để tác động, vận động lực lượng này chống đối, cô lập, chia rẽ chính
quyền TT Nguyễn Văn Thiệu.
Thời gian này, Cụm điệp báo A10 tiếp cận, sát “nhóm Dương Văn Minh”, có lúc
họa sĩ Ớt (Huỳnh Bá Thành) ở luôn trong nhà Dương Văn Minh; tham gia viết và
in tuyên cáo “chống Chính phủ Thiệu không có Thiệu”, đòi Trần Văn Hương từ
chức (Tổng thống).
Ngày 01.3 và cuối tháng 3.1975, Chiến sĩ điệp báo Huỳnh Bá Thành (lần sau
có thêm các chiến sĩ Trần Thiếu Bảo, Huỳnh Huề...) vào căn cứ báo cáo với
đồng chí Mai Chí Thọ (Bí thư thành ủy), Trần Thanh Vân (Phó trưởng Ban An
ninh T4). Đồng chí Mai Chí Thọ chỉ đạo: “...Phải bằng mọi cách để Dương Văn
Minh thay Nguyễn Văn Thiệu, rồi giao chính quyền cho cách mạng. Đó là chủ
trương của đảng nhằm tránh đổ máu, tránh tổn thất cho nhân dân”.
3. Tác động vào Chính phủ Dương Văn Minh
Cụm điệp báo VĐ2 thuộc phòng tình báo chiến lược M22, cục tham mưu Miền
cũng có chỉ đạo vận động tác động nội các Dương Văn Minh đầu hàng thông
qua kỹ sư Tô Văn Cang trong những ngày cuối cùng của chế độ VNCH. Theo
ông Tô Văn Cang, sáng ngày 28.4.1975, ông Cang đến gặp Đại tá Nguyễn Văn
Khiêm (Sáu Trí) ở nhà ông Ba Lễ (cơ sở tình báo)hẻm đường Triệu Đà, Saigon,
để báo ý kiến của ông Nguyễn Văn Diệp (trong Chính phủ Dương Văn Minh)
muốn tìm gặp đại diện Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam để
xin ý kiến xử trí tình hình Saigon. Đồng chí Sáu Trí phân tích tình hình và
“khuyên Chính phủ Dương Văn Minh chấp nhận đầu hàng vô điều kiện”. Ý kiến
này được ông Cang phản ánh lại cho ông Diệp và sau đó ông Diệp có báo cáo
lại cho bộ ba Dương Văn Minh - Nguyễn Văn Huyền - Vũ Văn Mẫu.
4. Xây dựng lực lượng thứ ba ở đô thị
Sau hiệp định Paris (1973), Hội nghị lần thứ 21 Ban chấp hành Trung
Ương (tháng 7.1973) đề ra nhiệm vụ: “Xây dựng lực lượng thứ ba ở đô thị”;
“mở rộng hơn nữa Mặt trận dân tộc Giải phóng gồm mọi giai cấp, tôn giáo, lực
lượng hòa bình, độc lập, dân chủ ở miền Nam và Việt kiều ở nước ngoài”.
Năm 1974, theo chỉ đạo của đồng chí Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh), phó Bí thư
Trung Ương Cục miền Nam, đồng chí Quốc Hương (Mười Hương), Ủy viên
Thường vụ, Trưởng Ban An ninh T4 đã chọn một số thanh niên, sinh viên cài
vào hoạt động trong lực lượng thứ ba. Trên thực tế thì lực lượng ta đã hình
thành trước khi có hiệp định Paris qua tổ chức “Lực lượng quốc gia tiến bộ” do
luật sư Trần Ngọc Liễng và nhà tư sản dân tộc(ngành vật liệu xây dựng) Phan
Văn Mỹ thành lập tháng 6.1969 với mục tiêu là: đòi các lực lượng ngoại
nhập (Mỹ và đồng minh) phải rút khỏi miền Nam, thành lập chính phủ hòa giải
dân tộc. Sau đó, lợi dụng lúc Thiệu đi nước ngoài, luật sư Trần Ngọc Liễng lập
“Lực lượng hoà giải dân tộc”. Sau hiệp định Paris, tháng 02.1974, nhóm luật
sư Trần Ngọc Liễng lập “Tổ chức nhân dân đòi thi hành hiệp định Paris”, xác
định mình là lực lượng thứ ba, mục tiêu chính là đòi thi hành hiệp định Paris,
Mỹ rút quân, thành lập Chính phủ hoà giải dân tộc.
Luật sư Trần Ngọc Liễng
Thành viên của “nhóm Dương Văn Minh” gồm một số trí thức, dân biểu đối lập,
ký giả, tướng lĩnh [1]. Hằng tuần, nhóm họp bàn về tình hình thời sự chính
trị (lúc tình hình sôi động mỗi tuần họp hai lần). Cạnh tướng Dương Văn Minh
có Văn phòng báo chí. Lúc báo Điện tín bị đóng cửa, “nhóm Dương Văn Minh”
ra bản tin bán công khai để phát cho các tổ chức, đoàn thể, báo chí trong và
ngoài nước.
Ngô Công Đức
- Theo ông Lý Quý Chung (Hồi ký), tuần lễ đầu tháng 4.1975,
tướng Dương Văn Minh và “nhóm Dương Văn Minh” đã họp tại
Dinh Hoa Lan (nhà ông Minh) bàn và quyết định công bố ý
định thay thế TT Nguyễn Văn Thiệu để góp phần chấm dứt
chiến tranh."
5. Phối hợp phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân
Saigon
Với các khẩu hiệu “đuổi Mỹ, lật Thiệu”, đòi Nguyễn Văn Thiệu từ chức Nhóm 3
thành phần DVM, đòi thi hình hiệp định Paris, hòa bình, chấm dứt chiến tranh,
đòi dân chủ, cải thiện dân sinh... các cuộc xuống đường diễn ra liên tục, mạnh
mẽ thu hút hàng ngàn, hàng vạn người. Như cuộc xuống đường của 200 ký giả
Saigon ngày 10.10.1974, ngày “ký giả đi ăn mày” lôi cuốn gần hai vạn quần
chúng tham gia đã có tiếng vang lớn cả trong và ngoài nước. Cuộc tuần hành
ngày 20.4.1974 của hàng vạn công nhân lao động, sinh viên, học sinh, trí thức,
thương phế binh... đòi TT Nguyễn Văn Thiệu từ chức, đòi thi hành hiệp định
Paris, đòi hòa bình, cơm áo, chống sa thải, chống thuế VAT..., là cuộc đấu tranh
lớn nhất từ sau hiệp định Paris.
Sau khi TT Thiệu từ chức, Phó tổng thống Trần Văn Hương lên thay tổng thống,
tuyên bố “cương quyết tử thủ dù phải hi sinh đến nắm xương tàn”, đã bị phong
trào 3 thành phần do Tướng Minh lãnh đạo Saigon đấu tranh đòi Chính phủ
Trần Văn Hương từ chức ngay lập tức. TT Trần Văn Hương trì hoãn việc giao
quyền cho Dương Văn Minh, mãi đến ngày 26.4.1975, lưỡng viện quốc hội đã
bầu Dương Văn Minh làm Tổng thống VN Cộng hòa với 147.151 phiếu.
Theo chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh và ông Lý Quý Chung, sáng ngày
30.4.1975, tướng tình báo Pháp Vanuxem đến Phủ thủ tướng (số 7 Thống Nhất,
nay là đường Lê Duẩn) gặp Tổng thống Dương Văn Minh, gợi ý ông Minh nên
kêu gọi Tàu can thiệp để cứu miền Nam không rơi vào tay CS Bắc Việt. Ông
Minh từ chối, nói rằng: “Tôi đã từng làm tay sai cho Pháp rồi cho Mỹ, đã quá
đủ rồi. Tôi không thể tiếp tục làm tay sai cho Tàu”.
+ Tướng Dương Văn Minh với 3 ngày làm tổng thống
15 giờ chiều ngày 28.4.1975, Tướng Minh làm lễ nhậm chức Tổng thống, cử
Nguyễn Văn Huyền làm Phó tổng thống, Vũ Văn Mẫu làm Thủ tướng.
Tổng thống Dương Văn Minh cử một số Bộ trưởng và người phụ trách quân đội,
cảnh sát, trong đó có đảng viên và cơ sở của ta là: Luật sư Triệu Quốc Mạnh,
Giám đốc Nha cảnh sát đô thành, và chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá
Tổng tham mưu trưởng sau là quyền Tổng tham mưu trưởng.
Về Bộ quốc phòng, Tổng thống Dương Văn Minh chỉ định Giáo sư Bùi Tường
Huân, Giáo sư Đại học Huế (không phải tướng tá) làm Bộ trưởng.(Theo ông Lý
Quý Chung, việc Tổng thống Dương Văn Minh chỉ định ông Bùi Tường Huân làm
Bộ trưởng quốc phòng để chứng tỏ chính phủ này không muốn chiến tranh).
17 giờ ngày 28.4.1975, phi đội 5 chiếc A37 của Nguyễn Thành Trung ném bom
sân bay Tân Sơn Nhất.
Theo ông Hồ Ngọc Nhuận (Hồi ký), tối hôm đó, Tướng Minh giao cho ông
chuẩn bị chiếm đài phát thanh (đề phòng Nguyễn Cao Kỳ làm đảo chính).
Đêm 28.4, Tướng Dương Văn Minh và gia đình dời đến ở nhà một người bạn
của tướng Mai Hữu Xuân ở đường Phùng Khắc Khoan do sợ Nguyễn Cao Kỳ
ném bom dinh Hoa Lan (nhà ông Minh).
Tướng Dương Văn Minh chuẩn bị tuyên bố đầu hàng tại đài phát thanh Saigon
trưa ngày 30.4.1975
+ Ngày 29.4.1975
Tổng thống Dương Văn Minh, Phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền và Thủ tướng
Vũ Văn Mẫu bàn và ra lệnh cho Giám đốc Nha cảnh sát đô thành Triệu Quốc
Mạnh thả tù binh chính trị; gửi công văn yêu cầu Đại sứ Mỹ Martin cho cơ quan
Viện trợ quân sự Mỹ (DAO) rời khỏi VN trong vòng 24 giờ để giải quyết hòa
bình ở VN.
Đến 16 giờ chiều ngày 29.4, đã thực hiện xong việc trả tù binh chính trị(trong
đó có Huỳnh Tấn Mẫm). Chỉ huy các ban và cảnh sát 18 quận, huyện đã tan
rã (trừ bộ phận biệt phái).
Tổng thống Dương Văn Minh chỉ thị không được di chuyển quân, không được
phá cầu. Dựa vào chỉ thị trên, chiều ngày 29.4.1975, phụ tá Tổng tham mưu
trưởng Nguyễn Hữu Hạnh đã ra lệnh cho các đơn vị không được phá cầu. Đơn
vị nào muốn phá cầu phải có lệnh của Bộ Tổng tham mưu.
Sau đó, khoảng 15 giờ, phái đoàn do Luật sư Trần Ngọc Liễng cầm đầu có Linh
mục Chân Tín, Giáo sư Châu Tâm Luân vào Trại David, được đồng chí Võ Đông
Giang, Phó trưởng phái đoàn ta tiếp. Ông Liễng đã thông báo với phái đoàn
chính phủ cách mạng lâm thời về chủ trương “không chống cự” của Tổng thống
Dương Văn Minh, mà ông coi là niềm vui sướng nhất trong đời ông, vì đã thông
báo cho bên trong biết “Saigon không chống cự” vào giờ chót của cuộc chiến
tranh. Theo Luật sư Liễng, Tổng thống Dương Văn Minh đã chấp nhận đầu hàng
từ buổi trưa hôm đó (ngày 29.4.1975).
Từ chiều và tối ngày 29.4,
cũng có một số người tác động Tổng thống Dương Văn Minh hướng “Thành phố
để ngỏ”, đầu hàng. Như ông Lý Quý Chung, họa sĩ Ớt(Huỳnh Bá Thành). Thông
qua ông Phan Xuân Huy và ông Đoàn Mai, thượng tọa Thích Trí Quang nói điện
thoại trực tiếp với Tổng thống Dương Văn Minh: “còn chờ gì nữa mà không đầu
hàng”[2].
+ Ngày 30.4.1975
- 6 giờ, chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh quyền Tổng tham mưu trưởng(tướng
Vĩnh Lộc, Tổng tham mưu trưởng đã di tan) và tướng Nguyễn Hữu Có đến báo
cáo với Tổng thống Dương Văn Minh về toàn bộ tình hình quân sự. Sau đó, ông
Minh (cùng các ông Hạnh và Có) đến Phủ Thủ tướng(số 7 Thống nhất, nay là
đường Lê Duẩn).
Tổng thống Dương Văn Minh họp với Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền, Thủ
tướng Vũ Văn Mẫu và một số người trong nội các “nhóm Dương Văn Minh”, bàn
và quyết định không nổ súng và giao chính quyền cho Chính phủ Cách mạng
lâm thời Cộng Hòa miền Nam. Thủ tướng Vũ Văn Mẫu soạn bản thảo tuyên bố
này.
- 9 giờ, Tổng thống Dương Van Minh đọc vào máy ghi âm.
Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh đề nghị và được Tổng thống Dương Văn Minh đồng ý có nhật
lệnh cho quân đội. Ông Hạnh soạn thảo nhật lệnh này. Đồng thời tướng Nguyễn Hữu Hạnh gọi điện
thoại cho tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân khu 4 yêu cầu cố gắng thi hành lệnh của Tổng
thống trên đài phát thanh.
- 9 giờ 30: Đài phát thanh phát tuyên bố của Tổng thống Dương Văn Minh: “Đường lối của chúng
tôi là hòa giải và hòa hợp dân tộc”; “yêu cầu tất cả anh em chiến sĩ Cộng Hòa ngưng nổ súng, và
ở đâu thì ở đó”; “Chúng tôi chờ gặp Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam VN để
thảo luận về lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật tự, tránh sự đổ máu vô ích cho đồng bào”.
Sau đó, cả các ông Dương Văn Minh,
Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Mẫu cùng nội các đến Dinh Độc Lập để chờ bàn giao chính quyền
cho cách mạng.
Sau khi đọc tuyên bố “đầu hàng” xong, Tướng Dương Văn Minh nói với mọi người (trong Chính
phủ): “Mọi việc coi như đã xong. Bây giờ ai muốn đi hay ở thì tùy”.
- 11 giờ 30, xe tăng quân giải phóng vào Đinh Độc Lập. Xe quân giải phóng đưa ông Dương Văn
Minh và ông Vũ Văn Mẫu đến đài phát thanh để đọc tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.
Buổi trả tự do cho nhóm Dương Văn Minh tại Dinh Độc Lập tối ngày 2.5.1975
+ Kết luận
1. Tướng Dương Văn Minh là người có tinh thần dân tộc, giác ngộ cách mạng.
Từ chỗ lúc đầu còn mơ hồ về việc Mỹ xâm lược miền Nam, cho rằng Mỹ có giúp
đỡ miền Nam, dần dần tỏ thái độ chống Mỹ: chống Mỹ đưa quân viễn chinh Mỹ
và đồng minh vào miền Nam, kéo dài và mở rộng chiến tranh, muốn có hòa
bình, độc lập và thống nhất đất nước
2. Theo ông Nguyễn Hữu Hạnh và ông Lý Quý Chung, Tướng Dương Văn Minh
lên làm Tổng thống không có ý để thương thuyết với Miển Bắc vì đã thấy không
còn khả năng thương thuyết; cũng không có ý để tiếp tục chiến tranh vì lâu
nay ông Minh chủ trương hoà bình, chấm dứt chiến tranh. Điều này thể hiện rõ
ở Tổng thống Dương Văn Minh chỉ định hai cơ sở của ta (chuẩn tướng Nguyễn
Hữu Hạnh và luật sư Triệu Quốc Mạnh)nắm hai lực lượng vũ trang: quân đội
và cảnh sát; cử một người dân sự(giáo sư Bùi Tường Huân) làm Bộ trưởng Bộ
Quốc phòng; chưa đầy một ngày sau khi nhậm chức thì ngày 29.4.1975, đã ra
lệnh thả tù chính trị, đuổi phái đoàn DAO của Mỹ; không di chuyển quân, không
phá cầu v.v..
3. Trong điều kiện cuộc tổng tiến công quân sự của các binh đoàn chủ lực vào
Saigon - Gia Định đã tạo sức ép quân sự lớn; công tác vận động, binh địch vận
của nhiều lực lượng ta với Tướng Dương Văn Minh; được sự đồng tình, tác động
tích cực của những người chủ yếu trong nội các, lực lượng thứ ba và “nhóm
Dương Văn Minh”; Tổng thống Dương Văn Minh đã quyết định “không chống
cự”, tuyên bố “ngưng nổ súng và ở đâu ở đó vào 9g30 (sau đó tuyên bố “đầu
hàng vô điều kiện” vào 11g30) ngày 30.4.1975 là hành động thức thời, làm
giảm ý chí đề kháng của đại bộ phận quân đội VNCH .
Sự thật lịch sử cần tôn trọng. Đã đến lúc chúng ta cần
biết tại sao có ngày oan nghiệt, nếu chúng ta không
nói rõ, chúng ta có tội với dân tộc VN.
Trân trọng
Nguyễn Hùng Kiệt
Khái quát tình hình chính trị - Kinh tế - xã hội VNCH dưới thời ông
Thiệu:
Thật vậy những năm đầu của chế độ Nguyễn Văn Thiệu, 1967, 1968, guồng
máy tương đối còn có kỷ cương nhưng dần dần đi tới chỗ tham nhũng thối nát
tồi tệ, nó đã phá hoại kinh tế vật chất và làm suy sụp tinh thần quân dân. Tham
nhũng hối lộ có từ thời Tây nhưng dưới chế độ Nguyễn Văn Thiệu có thể nói đã
tiến tới chỗ tột cùng của thối nát. Các chế độ, chính phủ Quốc Gia từ thời Trần
Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm, Ngô Ðình Diệm, Nguyễn Cao Kỳ… cũng ít nhiều có
tham nhũng nhưng người dân còn chấp nhận được, đến Nguyễn Văn Thiệu thì
thật hết nước nói. Sau khi miền Trung thất thủ lọt vào tay Cộng quân, chúng tôi
có nghe một ông công chức than thở “chế độ Thiệu đi theo vết xe đổ của Tưởng
Giới thạch, các ông tỉnh trưởng chết gục trên đống vàng”!
Trong cuốn sách Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975 trang 56, Phạm Huấn có
nói.
“Theo dư luận, cái giá để mua chức Tỉnh trưởng qua đường giây bà Thiệu, bà
Khiêm, thường thường từ 10 đến 20 triệu”
Tệ nạn mua quan bán tước ngày càng lộ liễu, những chức vụ, công việc hái ra
tiền đều được mua bán trả giá cả sòng phẳng, ngoài ra quan chức phải nộp tiền
hụi chết cho cấp trên theo hệ thống quân giai, Quận nộp cho Tỉnh, Tỉnh nộp cho
Vùng, Vùng nộp cho Trung Ương. Nguyễn Ðức Phương nói các hình thức tham
nhũng tại miền Nam đã được nhóm nghiên cứu thuộc tổ hợp Rand xếp thành
bốn loại chính buôn lậu, hối lộ, mua quan bán tước và lính kiểng, lính
ma.. Trong phim Vietnam History by television, ông giám đốc CIA khi trả lời
phỏng vấn cho biết tham nhũng (corruption) đã phát triển quá độ tại miền Nam
VN , chỗ nào cũng có, chính phủ Mỹ biết rõ như vậy và họ đã phải che dấu
không cho báo chí biết sợ người ta làm um lên, nếu đến tai Quốc hội viện trợ sẽ
bị cắt giảm.
Tại các tỉnh, viện trợ kinh tế, xã hội, bình định phát triển.. bị đục khoét trầm
trọng, tiền viện trợ của Mỹ không được dùng vào mục tiêu kinh tế quân sự mà
vào túi bọn quan lại tham ô. Tham nhũng bắt nguồn từ lòng tham vô đáy của
con người hơn là vì thiếu thốn. Các quan chức có được căn nhà, cái xe hơi thì
cũng được rồi, so với đời sống nhân dân như thế cũng là được quáưu đãi. Nhưng
kẻ tham ô không dừng chân ở đó, được voi tròi tiên, họ tậu rừng tậu ruộng, tậu
đồn điền, mua dăm bẩy căn nhà nghỉ mát, cái ở Nha Trang, cái Ðà Lạt, Vũng
Tầu, chuyển ngân ra ngoại quốc… Tham nhũng như đã nói ở trên vừa phá hoại
kinh tế quốc gia, vừa làm suy yếu tinh thần người dân cũng như người lính
chiến. Sau đây là tham nhũng dười con mắt người ngoại quốc.
Hậu quả của tình trạng tham nhũng này đã được một sĩ quan nhận xét.
‘ Tham nhũng luôn luôn tạo ra sự bất công trong xã hội. Tại Việt Nam, một nước
đang trong thời chiến thì sự bất công trong xã hội lại càng rõ ràng hơn so với
các nước khác. Tham nhũng đã tạo ra một thiểu số nắm giữ tất cả các quyền lực
và tài nguyên, phần lớn giai cấp trung lưu và nông dân trở thành nghèo hơn và
phải chịu hy sinh.Họ mới chính là người đóng thuế cho chính phủ, hối lộ cho
cảnh sát, phải mua phân bón với giá cắt cổ để rồi phải bán gạo với giá rẻ do
chính phủ ấn định, và cũng chính họ đã cho con cái đi chiến đấu và hy sinh cho
đất nước trong khi các công chức cao cấp của chính phủ và những kẻ giầu có lại
gửi con cái ra nước ngoài.Một bác sĩ quân y đã nói với tôi rằng ông đau lòng khi
nhìn thấy những thương binh, các binh sĩ cụt chân tay nằm đầy tại quân y viện
đều thuộc giai cấp bình dân, thuộc các gia đình nông dân, các thương binh này
phải chịu đựng và hy sinh cho thiểu số tham nhũng thống trị. Chính phủ tuyên
bố tìm cách chiếm lòng dân nhưng thực tế chỉ làm lớn hơn khoảng cách giữa
giai cấp lãnh đạo và quần chúng.”
Nguyễn Ðức Phương, Chiến Tranh Việt Nam Toàn tập, trang 804, 805.
Hồi ấy trên báo chí đã có người lên án bất công xã hội tại miền Nam ngày càng
trở lên ghê tởm, trong khi binh sĩ chết như rạ ngoài mặt trận thì tại các thành
phố lớn, bọn nhà giầu mua xe hơi bóng lộn, xây nhà cao năm bẩy tầng lầu, ai
nấy mặt vênh mày vác, khinh người rẻ của. Bọn con buôn hái ra tiền nhờ chiến
tranh rồi dùng tiền cho con cái đi du học ngoại quốc trong khi những kẻ sông
pha mũi tên hòn đạn ngoài chiến trường phải chịu cảnh nghèo nàn thiếu thốn.
Thực trạng xã hội đã ảnh hưởng rất nhiều đến tinh thần người chiến sĩ, họ phải
hy sinh, chiến đấu cho một chế độ bất công thối nát.
Phạm Huấn có ý chê các Tướng lãnh Việt Nam không có sự ngay thẳng, tư cách
như các Tướng lãnh ngoại quốc. Năm 1950 De Lattre, Tướng 5 sao, Tư lệnh
Ðông Dương nhưng vẫn để cho người con một, Bernard De Lattre đóng tại đền
Non nước Ninh Bình. Mặc dù vua Bảo Ðại đề nghị đưa Bernard về làm trong văn
phòng Quốc trưởng nhưng ông Tướng vẫn để con chiến đấu tại chiến trường và
tử trận tháng 5-1951. Khi Mỹ bắt đầu ném bom Bắc Việt, Ðô đốc Sharps, tư
lệnh các lực lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương đã để con trai ông, Thiếu tá phi
công Mac Cain tham gia oanh tạc và đã bị bắn rơi.
“Trong khi đó, suốt cuộc chiến 21 năm sau cùng tại Việt Nam, chắc chắn
không thể tìm thấy con một ông tướng nào chiến đấu ngoài mặt trận”
(Phạm Huấn,Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước, trang 133)
“..con những ông Tướng khác thì cứ gần đến tuổi động viên đã bằng
cách này, cách khác, được xuất ngoại du học. Chung qui chỉ có những
sinh viên, học sinh con nhà nghèo và không thế lực, sẽ bị thi hành lệnh
Tổng động viên một cách rất kỹ lưỡng. Ngoài ra, vì không có tiền bạc để
chạy chọt, chắc chắn không bao giờ họ được phục vụ tại ‘chỗ ngon, chỗ
bở’ ở Sài Gòn hay hay các tỉnh”
Phạm Huấn, Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước, trang 134, viết theo lời
kể của Thiếu uý Phạm văn Trung, sư đoàn 18 BB.
Trần Phan Anh trong cuốn Trận Chiến Mùa Hè 1972 trang 155, 156 có nêu ra
một vụ tham nhũng hối lộ động trời của các Tướng lãnh VNCH, chẳng biết hư
thực ra sao.
“Trong khoảng thời gian từ tháng giêng đến tháng 3-1972, tình báo VNCH báo
cáo sự hiện diện của công trường 5 Bắc Việt tại căn cứ địa 712, gần thị trấn
Snoul, Cam Bốt, khoảng 30 cây số Tây Bắc Quận lỵ Lộc Ninh trên Quốc Lộ 13.
Hai công trường 7, 9 được phát hiện tại vùng đồn điền cao su Dambe và Chup
trên đất Cam Bốt, nơi đó là hai mục tiêu hành quân của Quân đoàn III thiết kế
cho Ðệ tam cá nguyệt 1971. Kế hoạch đã bị đình hoãn sau cuộc tử nạn của
Trung Tướng Ðỗ Cao trí, Tư lệnh quân đoàn III QLVNCH.
Trung Tướng Ðỗ Cao Trí đã bị thảm sát vì đã cùng Nguyễn Văn Thiệu, Ðặng Văn
Quang nhận hối lộ 30 triệu đô la do tòa Ðại sứ Nga tại Paris trao cho Quang để
thả Trung Ương Cục và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam chạy trối chết qua Cam
Bốt sau khi bị liên quân Việt Mỹ bao vây tại vùng rừng Tây Ninh vì những cánh
quân của Quân đoàn III tiến quá nhanh, cục R chậm chân kẹt lại bị CIA phát
hiện do việc họ đánh điện cầu cứu Hà Nội. MACV phối hợp Ðệ 2 Quân đoàn tiền
phương Hoa Kỳ (US II Field Forces) cùng Quân đoàn 3 VNCH được tăng cường
một lữ đoàn Dù, Liên đoàn 5, 6 Biệt động quân tung quân bao vây, Cục R chỉ
còn một trung đoàn bảo vệ, cá nằm trong rọ chờ lên thớt. Khi Liên quân Việt Mỹ
siết chặt vòng vây, Lữ đoàn Dù thọc mũi tấn công khuấy động, một liên đoàn
Biệt Ðộng Quân lãnh nhiệm vụ án ngữ biên giới Cam Bốt thì bất ngờ nhận được
lệnh Trung Tướng Ðỗ Cao Trí cho lệnh rút về chi khu Phước Thành, Tây Ninh
nghỉ dưỡng quân thì tối hôm đó bị trung đoàn bảo vệ Cục R đánh úp để che chở
cho toàn bộ Trung ương Cục chạy trối chết qua Cam Bốt về hướng đồn điền
Snoul.
Sau đó CIA tức giận nghĩ rằng Ðỗ Cao Trí là người của Cộng sản nên ra tay tiêu
diệt, những chuyện này do chính Ðặc sứ Komer (hàm Ðại sứ) kể lại, ông đặc
trách Bình định phát triển MACV.”
Khởi đầu từ 8 tháng 9 năm 1974, linh mục Trần Hữu Thanh Chủ tịch Phong
trào Nhân dân chống tham nhũng cho phổ biến bản cáo trạng số 1 tố cáo
ông Thiệu tham nhũng và yêu cầu từ chức. Tướng Thiệu bị tố tham nhũng nhiều
vụ như nhà cửa, đất đai, đầu cơ phân bón, gạo miền Trung, buôn bán bạch
phiến.. . phong trào lôi cuốn các nhóm khác như sinh viên, ký giả, chính khách..
Ðầu tháng 2 năm 1975, phong trào phổ biến cáo trạng số 2 tố cáo ông Thiệu
nhiều tội và hô hào lật đổ bằng võ lực khiến ông ta phải dùng biện pháp mạnh
cho bắt giam nhiều nhà chính khách, đảng phái.
Người dân trong nước đã quá chán ghét chính quyền thối nát, dĩ nhiên người Mỹ
phải chán nản hơn thế nữa, tiền của họ đổ vào từ bao lâu nay y như gió lùa vào
nhà trống, cựu đại sứ Bùi Diễm nói.
“Một quốc hội quá chán ngán chiến tranh và mệt mỏi vì đã yểm trợ một
đồng minh có quá nhiều khuyết điểm và thối nát”
Nhà bào Trần Văn Ân, Tướng Trưởng, Phạm Huấn, chính khách, ký giả… đều cho
rằng đất nước đã được giao phó vào tay lãnh đạo tồi. Trần Việt Ðại Hưng cũng
như nhiều nhà báo khác cho rằng Thiệu, Kỳ không phải là những nhà lãnh đạo
mà chỉ là những anh cai thầu chiến tranh, hễ có tiền thì đánh, không tiền thì
chạy. Trong tám, chín năm cầm quyền, ta không thấy chính phủ Thiệu có
một kế hoạch gì về chính trị, kinh tế cũng như quân sự mà chỉ trông chờ
vào Mỹ, ông Nguyễn Tiến Hưng cho rằng ta đã hoàn toàn lệ thuộc vào
Mỹ từ quốc phòng, ăn ở, giao thông, vận chuyển…
Ðương đầu với một kẻ thù nguy hiểm, công chức quân nhân không được
học tập về đường lối, lý tưởng chủ nghĩa quốc gia.. hoặc có chăng chỉ là
hình thức. Tổ chức hoạt động tuyên truyền của chính phủ rất yếu kém,
không lôi cuốn được sự ủng hộ của nhân dân trong khi kẻ địch thường
xuyên tuyên truyền nhồi sọ cán binh, nhân dân, bộ đội để lái họ theo
đường hướng chúng đã vạch ra. Bộ Thông tin, tuyên truyền của ta
không giáo dục, tuyên truyền cho người dân, quân nhân, công chức một
lý tưởng Quốc gia, lý tưởng Tự Do Dân chủ để quân dân ta có một tinh
thần vững mạnh mà chỉ là chính sách tự vệ, gặp VC ở đâu thì đánh đấy.
Ông Nguyễn Ðức Phương cho rằng người dân không tích cực yểm trợ cho công
cuộc chiến đấu.
“Cuộc chiến tranh quá dài đã khiến mọi người mệt mỏi, giao khoán hoàn toàn
việc bảo vệ đất nước cho quân đội. Phần lớn thanh niên không thiết tha, đôi khi
còn trốn tránh nghĩa vụ quân sự trong thời chiến. Tất cả những mục nát của
chính quyến, thờ ơ của dân chúng và sự ung thối của xã hội miền nam đã cấu
thành yếu tố tự hủy”(CTVNTT, trang 806)
Một điều không thể chối cãi được là người Quốc Gia luôn luôn chia rẽ khiến cho
CS đã thừa cơ nước đục thả câu. Ngay từ những năm 1945, 46.. các đảng phái
Quốc Gia đã chia rẽ nhau khiến cho CS lợi dụng thời cơ tuyên truyền lôi cuốn
quần chúng để rồi cướp được chính quyền. Ông Ngô Ðình Diệm chấp chánh
ngày 7-7-1954, so với các Thủ Tướng tiền nhiệm như Trần Văn Hữu, Nguyễn
Văn Tâm, Bửu Lộc… ông Diệm là người có bản lãnh cao nhất, dám chơi bạo hất
cẳng Pháp để đi theo Mỹ. Ðụng chạmvới Bảo Ðại thân Pháp, tháng 4-1955, ông
Diệm được triệu hồi sang Pháp để Quốc trưởng cất chức. Các đảng phái Quốc
gia, nhân sĩ.. đều nhiệt tình ủng hộ Thủ tướng Diệm, đả đảo và truất phế ông
vua vong bản Bảo Ðại. Năm 1956 ông Diệm Trưng Cầu dân ý lên làm Tổng
thống rồi từ từ xung đột với các đảng phái, nhân sĩ Quốc gia. Những người Quốc
gia trước đây ủng hộ ông nay quay lại chống ông. Chính phủ cũng chống đối
đàn áp những người đối lập ra mặt.
Sau ngày đảo chính 1-11-1963, miền Nam lại lâm vào tình trạng chia rẽ trầm
trọng gấp bội lần hơn trước. Các Tôn giáo, Tướng lãnh tranh giành quyền hành
biến miền Nam thành một đất nước vô chính phủ. Phật Giáo, Công giáo chia rẽ
đả kích nhau trên báo chí, rồi lại có phe chủ trương chia rẽ Bắc Nam để hòng
thủ lợi. Năm 1966 chính quyền quân nhân đã tạm ổn định được tình hình lại bị
phong trào Phật Giáo miền Trung chống đối dữ dội, phong trào đã gây tình
trạng sáo trộn nhiễu nhương khiến cho nhân tâm sao xuyến, kẻ thù thừa cơ len
lỏi phá hoại cơ cấu Quốc gia.
Cho đến gần giờ thứ hai mươi lăm, cuối
1974 và đầu 1975, những cuộc biểu tình chống chính phủ của Linh mục Trần
Hữu Thanh, đảng phái, chính khách… khiến cho các binh sĩ ngoài tiền tuyến
mất tinh thần chán nản và ảnh hưởng tai hại đến sự sống còn của đất nước.
Nguồn: http://lichsuvn.info/forum/showthread.php?t=1394
Đinh Văn Đệ sinh năm 1924 (Giáp Tý) tại xã Long Thuận - xã anh hùng, trước
thuộc huyện Tân Châu, tỉnh Châu Đốc, nay thuộc huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng
Tháp, cũng tại quê hương Long Thuận này đã sản sinh ra nhiều nhà tình báo.
Trong bộ quần áo dài màu trắng của một chức sắc đạo Cao Đài, ông Đinh Văn
Đệ năm nay đã 85 tuổi, nhưng vẫn minh mẫn tiếp anh Nguyễn Tấn Tước và tôi
với nụ cười đôn hậu dễ mến. Nhưng khi biết ý định của tôi gặp để viết về những
hoạt động của anh trong sào huyệt đầu não kẻ thù, anh lắc đầu từ chối, vì anh
bây giờ là người tu hành không muốn nhắc lại chuyện cũ, nhất là gần đây trên
mạng có kẻ đội lốt nhà báo cách mạng công kích nói xấu anh, cho anh là kẻ
phản bội chế độ Việt Nam Cộng Hoà (!).
Ông Đinh Văn Đệ
Điều đó làm anh rất phiền lòng, anh chỉ muốn được yên tâm lo chuyện đạo
(hiện nay chức danh anh trong đạo là “Đạo trưởng Thiên vương tinh”). Anh
Nguyễn Tấn Tước và tôi trao đổi với anh mục đích chuyện viết không phải đề
cao cá nhân anh, mà chính là muốn nhân dân hiểu thêm về ngành Tình báo -
những chiến sĩ trên mặt trận thầm lặng - đã chiến đấu gian khổ hi sinh thế nào
để đóng góp phần nhỏ của mình vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc trong suốt cuộc
trường chinh vừa qua.
Cuối cùng, sau khi đắn đo suy nghĩ cân nhắc, anh đồng ý kể lại chuyện hoạt
động của mình trong giai đoạn cuối cuộc chiến tranh trong vỏ bọc là “Chủ tịch
Uỷ ban Quốc phòng của Hạ Viện Việt Nam Cộng Hoà”. Tôi hỏi - trong cuộc đời
làm điệp viên chiến lược “luồn sâu, leo cao” của anh có những kỷ niệm gì làm
anh nhớ mãi? Anh trầm ngâm: - Tôi xin kể ba việc mà tôi nhớ mãi, coi đó là
những đóng góp chút ít của mình vào công cuộc giải phóng miền Nam:
1. Kế hoạch oanh kích Lộc Ninh của địch…
Sau khi ta giải phóng thị xã Phước Long ngày 6/1/1975, đồng chí Phạm Hùng
(Bí thư Trung Ương Cục) có hỏi bộ phận Tình báo miền liệu địch có tái chiếm
Phước Long hay không để ta biết trước mà đối phó. Tôi được giao nhiệm vụ trả
lời câu hỏi này.
Theo thủ tục thông thường tôi điện qua Phủ Thủ tướng mời ông Tổng trưởng
Quốc Phòng qua điều trần trước với Quốc hội để trả lời tại sao mình có binh sĩ
trong hệ thống phòng thủ mà lại để thất thủ vào tay Việt Cộng, lỗi tại ai? Nhiều
dân biểu chất vấn rất hóc búa, thậm chí chỉ trích gay gắt, khiến ông Tổng
trưởng trả lời rất vất vả. Tôi đã liệu trước tình huống này, nên sau phiên họp,
tôi đến gần ông an ủi: “Tôi thấy các anh cực quá. Thôi tôi tính thế này, từ rày
tôi sẽ giúp anh, anh nói bên tướng Cao Văn Viên (Bộ Tổng tham mưu) cấp cho
Chủ tịch Uỷ ban Quốc Phòng một cái giấy thông hành thường trực để được ra
vào bên cơ quan quốc phòng, trực tiếp hỏi Trưởng phòng hành quân để báo cáo
tình hình với Quốc hội, khỏi bắt các anh đi lại điều trần vất vả” - anh Đệ cười nói
tiếp - Ông Tổng trưởng quốc phòng chịu ngay. Thế là họ trúng kế, lại còn chịu
ơn tôi nữa.
Có giấy thông hành trong tay, tôi qua gặp trưởng phòng hành quân may lại
trúng người tôi đã quen biết cũ khi còn học ở trường võ bị Thủ Đức, nay mang
quân hàm chuẩn tướng. Tôi hỏi: - Phước Long thất thủ rồi liệu có tái chiếm lại
không? Anh ta vỗ vai tôi thân mật: “Đại ca đừng lo (hồi học ở Thủ Đức, đám học
viên hay gọi tôi là “đại ca”). Ai dại gì kéo bộ binh lấy lại cái nơi mình phòng thủ
rồi thất thủ. Tôi sẽ phục thù bằng cách khác, sẽ cho máy bay quần nát Lộc
Ninh”. Tôi báo cáo tin đó về căn cứ, lãnh đạo lại hỏi có thật chắc không? Tôi đã
trả lời là chắc, vì viên chuẩn tướng ấy còn cho tôi xem trên bản đồ hắn ghim cái
đinh mũ tại Lộc Ninh ký hiệu oanh kích rõ ràng.
Quả nhiên vài ngày sau, máy bay địch ném bom Lộc Ninh. Vì biết trước nên ta
tránh được thiệt hại, nhưng quan trọng hơn là ta yên tâm chuyển quân lên đánh
trên Tây Nguyên, sau đó là tấn công Buôn Ma Thuột… Anh nhấp một ngụm nước
rồi kể tiếp.
2. Trung Ương Cục ở đâu?
Việc thứ hai là lãnh đạo cứ muốn biết liệu địch có nắm được Trung Ương Cục ở
đâu và động thái chuyển quân của mình không. Tôi ngẫm nghĩ kỹ rồi không đi
hỏi bên Bộ Quốc Phòng mà trực tiếp khảo sát ngoài chiến trường - ta gọi là “đi
thực tế” - cho chắc ăn.
Tôi điện sang Bộ Quốc Phòng đề nghị cấp cho tôi - Chủ tịch Uỷ ban Quốc phòng
Hạ Viện - một chiếc trực thăng, cho Trung tướng Tôn Thất Đính, Chủ tịch Uỷ
ban Quốc phòng Thượng Viện một chiếc, và cho Trung tướng Trần Văn Đôn, Phó
Thủ tướng một chiếc để đi uỷ lạo binh sĩ đang tổ chức tử thủ, vì lúc này, Pleiku,
Đà Nẵng đã bị ta chiếm. Đoàn bay đến Bến Cát (Bình Dương) nơi Sư Đoàn 5
đang bố trí lực lượng phòng thủ, tôi hỏi: Địch đã biết rõ ta ở đâu, còn ta có biết
Trung Ương Cục của địch ở đâu không và có biết địch di chuyển thế nào không.
Đến Sư Đoàn 18 của tướng Lê Minh Đảo ở Xuân Lộc, tôi cũng hỏi như vậy. Họ
trả lời thế nào tôi cũng đều nhập tâm hết, lại được xem những bản đồ hành
quân của họ.
Với vốn kiến thức quân sự đã giúp tôi tổng hợp được tình hình và cung cấp
thông tin thâu nhận được ra ngoài cứ, để phân tích, vì chính tôi cũng không biết
Trung Ương Cục ở đâu và quân ta di chuyển như thế nào… Chắc chắn những
thông tin ấy rất bổ ích giúp ta bảo toàn ưu thế bí mật, chủ động và bất ngờ…
3. Xin viện trợ để Mỹ cắt viện trợ
Chuyện tham gia phái đoàn sang Mỹ không phải xin viện trợ bình thường mà
chính là xin “viện trợ khẩn cấp”. Anh giải thích - số là sau khi tan vỡ mặt trận
Tây Nguyên phải bỏ Pleiku, Đà Nẵng, tình hình quân Ngụy rất nguy kịch. Tất cả
đều trông chờ vào viện trợ Mỹ để cứu vãn. Thiệu vẫn ngoan cố không chịu từ
chức, còn ông Kỳ vẫn hung hăng thề tử thủ, đại sứ Mỹ ở Sài Gòn Martin thì hối
thúc viện trợ. Chính trường bên Mỹ rất hoang mang không biết nên tiếp tục hay
bỏ cuộc chiến. Chính trong tình thế đó, Sài Gòn quyết định cử phái đoàn Quốc
hội sang Mỹ để vận động xin viện trợ khẩn cấp để cứu nguy.
Tôi là Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng Hạ Viện, đương nhiên phải tham gia phái
đoàn. Theo chương trình, khi sang Mỹ các Nghị sĩ sẽ chia nhau làm việc và vận
động “hành lang” với các cơ quan và chính khách Mỹ. Trước khi đi, tôi suy nghĩ
mãi làm cách nào để vận động xin viện trợ mà kết quả lại để Mỹ “cắt viện trợ”.
Quả là một công việc hết sức khó, nhưng phải làm bằng được.
Khi sang Mỹ mỗi đại biểu đều có nhân viên Đại sứ quán Việt Nam Cộng Hoà bên
đó đi kèm, hớ hênh là bại lộ hay đẩy chiều hướng trái ý đồ của mình. Chính kiến
thức quân sự của tôi học của Mỹ đã giúp tôi chọn cách lấy chính sự thật đang
diễn ra trên chiến trường Việt Nam, hướng cho Mỹ thấy chính tình thế không thể
cứu vãn được là cách thuyết phục tốt nhất để Mỹ bỏ cuộc mà mình bề ngoài vẫn
tỏ ra tha thiết yêu cầu viện trợ khẩn cấp để cứu nguy.
Với cái chiêu “nói vậy mà không phải vậy”, làm cho các đại biểu trong Đoàn
thấy tôi là người tận tụy yêu cầu tha thiết nhất xin viện trợ khẩn cấp để cứu chế
độ Sài Gòn khỏi sụp đổ. Chính sự thông tin về chiến trường của tôi – qua cách
tư duy của người Mỹ - khiến họ nản chí muốn bỏ cuộc. Tôi đưa ra hình ảnh
những người lính Cộng Hòa níu càng máy bay trực thăng để trốn chạy khỏi
chiến trường thì người Mỹ hiểu ngay họ phải làm gì.
Qua các cuộc vận động hành lang rồi tiếp đến là phái đoàn được Tổng thống Mỹ
G. Ford mời đến gặp ở Nhà Trắng. Đây chính là phiên họp quan trọng nhất
quyết định sự thành bại của chuyến đi. Mỗi đại biểu đều nói – trong đó có tôi –
Tổng thống Mỹ đều lắng nghe hết, cuối cùng ông kết luận: “Thôi các vị cứ yên
tâm về đi. Tôi sẽ cử một vị tướng qua thị sát tình hình rồi sẽ quyết định sau”.
Nghe Tổng thống Mỹ nói như vậy, tôi hiểu ngay là Mỹ sẽ bỏ cuộc… và như vậy
là tôi đã hoàn thành nhiệm vụ. Ngay sau đó, một vị tướng được cử sang Sài Gòn
với rất đông các quan chức chuyên viên Mỹ tháp tùng… để rồi cắt viện trợ. Và
những gì xảy ra sau đó thì chúng ta đã biết cả rồi.
Đã gần 34 năm trôi qua sau chiến thắng lịch sử Mùa Xuân 1975, giải phóng
miền Nam, thống nhất đất nước, cũng như bao chiến sĩ Tình báo quân sự khác –
những anh hùng trong mặt trận thầm lặng – Đinh Văn Đệ trở về cuộc sống một
công dân bình thường cùng gia đình phụng sự Đạo như bao giáo sĩ Cao Đài
khác. Anh không đòi hỏi sự đãi ngộ của cấp trên đối với những thành tích mà
anh đã cống hiến bằng sức lực, trí tuệ cho ngành, cho cách mạng trong suốt
quá trình hoạt động bí mật. Anh coi đó là phần đóng góp nhỏ nhoi của mình vào
thắng lợi vĩ đại của dân tộc, làm tròn nhiệm vụ của người chiến sĩ vô danh. Anh
không được may mắn như các đồng chí Tình báo chiến lược khác như Phạm
Ngọc Thảo, Phạm Xuân Ẩn, Vũ Ngọc Nhạ và một số đồng đội khác – còn sống
hay đã hy sinh – được Đảng và Nhà nước thưởng công lao một cách trang
trọng… Trong thâm tâm anh thông cảm và chia sẻ niềm vui với họ.
Trong cuộc trường chinh kéo dài suốt ba mươi năm của dân tộc, đánh bại hai đế
quốc hùng mạnh nhất để bảo vệ nền độc lập, thống nhất tổ quốc, đã có biết bao
cán bộ chiến sĩ Tình báo hy sinh thầm lặng, thậm chí có đồng chí khi chết còn
mang tiếng là “Việt gian” mà ngành không làm sao thanh minh được, chỉ có
ngành và tổ quốc ghi nhận công lao của họ. Một lần nữa, tôi lại nhớ đến nhà
văn Lê Tri Kỷ viết trong lời tựa quyển tiểu thuyết tình báo của ông: “Kính tặng
những người chết không để lại tên, những người còn sống không muốn nêu
tên”. Nhưng những đóng góp vô giá của họ vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc thì
Tổ quốc và nhân dân ta không bao giờ quên, “uống nước nhớ nguồn” là một đạo
lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta từ xưa đến nay.Tưởng nhớ lại hình ảnh
Quê hương ta 50 năm về trước:
Dinh Độc Lập, 01-7-1961 - Các đoàn thể chúc mừng TT Diệm nhân dịp kỷ niệm 7 năm ngày đảm nhiệm chức vụ Tổng Thống.
Đại tướng Lê Văn Tỵ, Tổng Tham Mưu trưởng Quân đội VNCH
Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ
TT Diệm tiếp phái đoàn các tu sĩ Phật giáo tại Dinh Độc Lập nhân dịp kỷ niệm 7 năm cầm quyền 1955-1961.
Saigon 1961 - Le Loi Avenue
Saigon 1961