By The Observer December 24, 2016 Hồi ký tướng tá Sài Gòn xuất bản ở hải ngoại (P1) nghiencuuquocte.org/2016/12/24/hoi-ky-tuong-ta-sai-gon-xuat-ban-o-hai-ngoai-1/ Tổng hợp: Mai Nguyễn 1. Nguyễn Cao Kỳ một mình chống lại Ngô Đình Diệm? Đối với anh em ông Diệm, 1.11.1963 là ngày kết thúc giấc mơ quyền lực kéo dài 9 năm. Nhưng với nhiều người khác, mới chỉ là thời khắc phôi phai những “mộng ban đầu”. Nguyễn Cao Kỳ chẳng hạn, thừa nhận: “Đối với tôi mọi việc bắt đầu từ ngày hôm ấy”! Lẽ ra, “mọi việc bắt đầu” sớm hơn một ngày. Vì theo dự tính, đảo chính nổ ra vào 31.10.1963 nhưng tướng Dương Văn Minh quyết định hoãn lại 24 tiếng đồng hồ. Thay đổi giờ chót đó do sơ suất không báo kịp đến Nguyễn Cao Kỳ nên Kỳ vẫn “độc diễn” phần việc được giao: Ông ta tập hợp khoảng gần 200 binh lính và sĩ quan dưới quyền vào một nhà kho lớn chứa máy bay trong căn cứ không quân Tân Sơn Nhất. Theo kế hoạch, ông cầm chân họ tại lớp học tâm lý chiến mà mình chủ trì sao cho đến 1 giờ trưa để đợi tín hiệu là tiếng xe tăng tiến vào căn cứ quanh chỗ tập họp. Nhận tín hiệu, ông sẽ bất thần tuyên bố: “Đảo chính bắt đầu”, và phát lệnh hành động. Nhưng, theo một VIP, K.K (sếp quân đội) kể lại, đến 1 giờ kém 5 phút, Kỳ “lắng tai nghe vẫn không thấy động tĩnh gì hết”; 1 giờ đúng: vẫn vậy!. VIP thuật: Năm phút sau “nghe tiếng động cơ hình như tiếng chiến xa vô (như tín hiệu đã báo), Kỳ lật đật xô ghế đứng dậy, chưa kịp tuyên bố thì một trung úy chạy vô cho biết đó là tiếng của một trực thăng Mỹ đang đáp” chứ 1/16
chẳng phải xe tăng xe tiếc gì cả. May quá, Kỳ kịp ngậm miệng bước xuống, chưa hô “đảo chính” ai cả. Đợi thêm tới 1 giờ 30 trưa đó (31.10) đành giải tán, quay về gặp tướng Minh và trách: “Tại sao đình lại mà không cho biết, suýt một chút là chết hết cả đám!”. Ông Minh xin lỗi vì quên thông báo. Thật là một cái quên chết người và rất “khó quên”! Đúng 1 giờ 30 trưa hôm sau 1.11, không phải Nguyễn Cao Kỳ, mà Dương Văn Minh tuyên bố: “Đảo chính bắt đầu” và tước vũ khí các tướng tá phe Diệm. Lúc đó, Nguyễn Cao Kỳ đang…ăn trưa tại một nhà hàng Sài Gòn. Tài xế ông ta từ căn cứ phóng xe tới phanh rít trước cửa, chạy vào kêu: “Trung tá trở về căn cứ ngay. Có chuyện lạ đang xảy ra”. Lập tức, Kỳ vọt ra xe đích thân cầm lái phóng như bay về Tân Sơn Nhất. Đến cổng, Tham mưu trưởng không quân là đại tá M. chặn lại la lớn: “Trời! Có anh đây rồi! Đảo chính đã bắt đầu và chúng tôi muốn anh bắt đại tá Nguyễn Hữu Hiền!”. Đại tá Hiền là tư lệnh không quân, vốn chơi thân với Ngô Đình Nhu. Kỳ chụp một cây súng tiểu liên, lái xe thằng đến văn phòng Bộ Tư lệnh Không quân, một mình gõ cửa bước vào. Đại tá Hiền dường như đoán trước việc phải xảy đến, ông ta ngồi yên trên bàn viết, Kỳ lễ phép: “Thưa đại tá tư lệnh, đại tá đã bị bắt giữ”. Ông ta không mấy ngạc nhiên trước diễn biến bất lợi cho mình đó. Hồi ký Nguyễn Cao Kỳ viết: “Ông Hiền là một phi công xuất sắc, và trong vòng mấy tháng tôi đã có thể vận dụng ảnh hưởng của tôi để tìm cho ông ta một việc làm ở hàng không Việt Nam. Không bao lâu, ông ta 2/16
được giao cho lái một phản lực lớn, lãnh được nhiều tiền hơn hẳn số tiền mà chẳng bao giờ tôi hy vọng lãnh được với tư cách là tư lệnh không quân”. Sau khi bắt giữ đại tá Hiền, lúc gần 3 giờ chiều, cuộc tiến công tuy “ít đổ máu nhưng tốc độ là điều sống còn” đó bị chận lại vì lực lượng trung thành phòng vệ Phủ Tổng thống chống trả quyết liệt. Trần Thiện Khiêm điện khẩn bảo Nguyễn Cao Kỳ “hành động ngay”. Kỳ lệnh lấy vài chiếc máy bay và bay ngay bên trên dinh tổng thống ở cao độ thấp để gây khiếp sợ, rồi bắn một vài tên lửa xuống thành lớn của bộ phim đóng gần dinh: “Sau khi họ bắn chỉ có hai tên lửa: quân giữ thành của Diệm đầu hàng. Đối với tôi đó là một giây phút lịch sử không phải chỉ vì đã làm thay đổi được cán cân trong việc lật đổ chế độ Diệm mà lần đầu tiên, với cương vị một người không quân, tôi còn thí nghiệm được giá trị của sức mạnh không quân khi được sử dụng để yểm trợ bộ binh khi gặp khó khăn. Tôi quả quyết rằng nếu tôi không ra lệnh hai chiếc máy bay nhỏ đó cất cánh thì cuộc đảo chính đã thất bại”. (Chúng ta đã thua trận ở Việt Nam như thế nào? – Hồi ký Nguyễn Cao Kỳ) *. Mười ngày sau, bước xuống máy bay sau một chuyến đi dự lễ bên ngoài Sài Gòn, tướng Minh bảo: “Kỳ à, tôi đã quyết định bổ nhiệm anh làm tư lệnh không quân”. Sang năm 1964, Kỳ tiếp tục thăng tiến trong bối cảnh Mỹ muốn dùng “nhóm tướng trẻ” như Kỳ để mở rộng chiến tranh. Tháng 4 năm đó, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara đến Việt Nam cao hứng hô khẩu hiệu: “Việt Nam muôn năm” bằng tiếng Việt, sau đó tăng viện trợ quân sự lên 50 triệu đôla để Sài Gòn bắt thêm 50.000 thanh niên vào lính, huấn luyện và tung 7.500 cán bộ “dày xéo nông thôn”, tăng cường hải lục không quân và kho bãi hậu cần, quân tiếp vụ. Đầu năm 1965, Kỳ đã được phong tướng, làm ủy viên ngoại giao của thường vụ Hội đồng Quân lực Sài Gòn, tán thành sự kiện Mỹ đưa lực lượng thủy quân lục chiến đầu tiên tới Đà Nẵng tham chiến và ném bom miền Bắc. Sau khi đích thân lên máy bay chào từ biệt Nguyễn Khánh trong ngày Khánh ra nước ngoài, Kỳ và “nhóm tướng trẻ” nắm lấy quyền bính, loại thằng cò các “tướng già”, muốn độc quyền đứng dưới bóng tòa đại sứ Mỹ. Đến giữa năm 1965, sau một loạt các biến động, chính phủ do ông Phan Huy Quát làm thủ tướng lung lay, dẫn đến cuộc họp triệu tập vội vàng đêm 12.6 với sự có mặt của quốc trưởng Phan Khắc Sửu mà Nguyễn Cao Kỳ ghi lại qua những dòng không mấy văn vẻ, đôi chỗ giọng điệu hơi xấc: “Sửu có mặt tại phiên họp – với phần xác chứ không phải phần hồn, bởi vì không có một ai có thể bàn luận nghiêm chỉnh với ông già này về bất cứ một vấn đề gì được. Sửu luôn luôn nói lải nhải, giảng thuyết không mạch lạc về nguyên tắc thượng tôn pháp luật và cách xử sự khi làm chính trị. Rốt cuộc bất thình lình, Quát đập mạnh xuống bàn và không có một lời mở đầu nào cả, đã nói một cách cộc cằn: Tôi xin từ chức. Vì hội đồng quân lực đã chỉ định tôi làm thủ tướng, hôm nay tôi xin giao trả quyền hành thủ tướng lại cho hội đồng quân lực”. Như vậy, sau các “tướng già” bị loại, đến lượt các “chính khách già” tự phủ nhận đứng bên lề chính trường. Kỳ (và Thiệu) mau chân nhảy lên “bàn tiệc quốc gia” sau đêm đó. 3/16
Tìm Thủ tướng mới, Thiệu bảo: “Để cho thằng Kỳ làm!” Cuộc họp trên kéo dài từ 8 giờ tối đến 12 giờ rưỡi khuya tạm ngưng. Sáng hôm sau, họp tiếp tại tổng hành dinh Bộ Tư lệnh Thủy quân lục chiến để cử thủ tướng mới thay ông Quát. Có 50 thành viên cấp cao của Hội đồng Quân lực và “nội các rệu rã” ngồi hai ngày một đêm để chỉ định người vào chức vị ấy. Nguyễn Văn Thiệu bấy giờ là trung tướng được ông Kỳ đề cử. Nhưng Thiệu từ chối và đề cử “ngược lại” Kỳ. Kỳ lúc đầu đẩy đưa qua Nguyễn Chánh Thi kèm theo lời “bình loạn” công khai trước mặt Thi: – Xét cho cùng, hình như thiếu tướng là người có đủ điều kiện để lãnh đạo. Thiếu tướng có ý thích chính trị nhiều hơn hầu hết các tướng lĩnh khác và thiếu tướng khoái được nổi tiếng! Nghe xong Nguyễn Chánh Thi nổi quạu, không chỉ từ chối một lần mà đến cả chục lần đây đẩy: “Không! Không! Không!” trong suốt hai ngày “nghị sự”. Cuộc họp “nghỉ ăn trưa với bánh “xăng-quych” và uống bia với nước ngọt Hoa Kỳ và khi chúng tôi nhóm lại, tôi đã đề cử tướng Có”. Ông Kỳ kể như vậy và tiếp “Có cũng từ chối”, mệt lả, cả hội trường tạm đình phiên họp vào 10 giờ đêm, ngủ và ăn cơm tối tại chỗ. Sáng sau nữa, “bầu” tiếp chưa xong, nghỉ uống cà phê, bất ngờ Thiệu bước về phía Nguyễn Cao Kỳ nói thẳng: “Kỳ, tại sao anh không nhận làm thủ tướng?”. Rồi vào họp, theo hồi ký của ông Kỳ, Thiệu nói với giọng van nài: -Yêu cầu anh Kỳ đứng ra thành lập chính phủ!Nhưng sau lưng Kỳ, ông Thiệu kêu Kỳ bằng “thằng”, đã khoèo Nguyễn Chánh Thi ra đứng riêng (như hồi ký của Thi kể) mà thì thầm vào tai:-Để cho thằng Kỳ làm đi!Đến khi Nguyễn Cao Kỳ nhận lời làm “thủ tướng” được một tháng (bấy giờ Thiệu lên làm quốc trưởng) bèn bảo Kỳ:-Chúng ta phải tổ chức một buổi lễ liên hoan.Kỳ có hơi “ngớ người” hỏi lý do vì sao mở tiệc? Thiệu bảo: “Thì chính phủ của anh đã tồn tại được một tháng rồi!”. Câu ấy hàm ý là “cái chính phủ” của Kỳ lẽ ra phải bị ngã đổ một, hai tuần sau khi ra mắt kia chứ. Tồn tại một tháng là “kỳ tích” đáng liên hoan rồi! Mặc kệ Thiệu mỉa mai, nhân đó hàng tháng Kỳ cùng các đồng sự mở tiệc! Cuộc họp trên có thể xem là một trong các điển hình về sinh hoạt chính trị bát nháo trên sân khấu Sài Gòn tả-pí-lù thời đó. Mà “Thủ tướng” Kỳ, vốn người trong cuộc, đã phải thốt lên là “đáng buồn cười”. Không lâu sau, với sự hỗ trợ của Mỹ, thế lực phe Kỳ nhanh chóng át hẳn Thiệu từ hội nghị Honolulu. Nhưng rồi Thiệu quật lại vào cuối năm 1967 lên làm “tổng thống”, đẩy Kỳ xuống hàng “phó”. Đầu những năm 1970. Kỳ thất thế hẳn so với Thiệu, tạm lui vào vòng tay người đẹp Đặng Tuyết Mai lúc ấy đã thành vợ mình và bắt đầu sống với những hồi ức. Trong đó tiệc cưới Kỳ – Mai có tiếng nổ đôm đốp của 7.800 chai sâm – banh mở đầu những ngày “mộng dưới hoa” ? Thử giở lại hồi ký những trang đầu Kỳ chép 2. Cao Kỳ – Tuyết Mai: Một thời để yêu và một thời… đảo chính! 4/16
Trên chuyến máy bay sang Thái Lan vào năm 1964, Nguyễn Cao Kỳ bị hớp hồn bởi “một sắc đẹp cổ kính nhất” của cô tiếp viên hàng không Đặng Tuyết Mai 20 tuổi mà ông ta “chưa thấy bao giờ”. Xuống phi trường Băng-cốc, Kỳ tìm cách mời cho được Mai dùng cơm với mình chiều hôm đó và” qua sáng hôm sau biết được nàng sẽ rời Băng-cốc sớm trong chuyến bay trở về Việt Nam, tôi cảm thấy là phải đến chào từ giã nàng. Nhưng thông thường đàn ông không đường đột vào phòng ngủ đàn bà lúc 6 giờ sáng. Tuy nhiên tôi cũng đã tìm ra được cách để vào phòng nàng. Mặc xong bộ quân phục thiếu tướng không quân màu trắng có hồ bột cứng sẵn sàng để đi dự cuộc diễu hành chính thức, tôi kín đáo đứng chờ người phục dịch khách sạn mang điểm tâm lên phòng nàng và tôi dúi cho người này mấy đồng bạc (do người phục dịch “nhường” lại) đến gõ nhè nhẹ cửa phòng của Mai. Nàng đang đứng nhìn ra ngoài cửa sổ và gần như không ngó đến tôi khi nàng bảo để mâm điểm tâm xuống bàn…”. Kỳ kể về lần đầu gặp Mai như vậy. Đến tháng 9-1, khi Mai đã trở thành cô vợ sắp cưới của mình, lần đầu tiên Kỳ lái xe chở Mai đi chơi ra khỏi Sài gòn vào sáng chủ nhật ngày 13. Nơi họ muốn đến thăm là sân bay Biên Hòa và vùng phụ cận nằm cách 35 dặm phía Bắc. Trên đường, viên sĩ quan cận vệ lưu ý về số đông binh lính đang di chuyển khác thường theo hướng ngược lại họ, nhưng Kỳ không để tâm lắm vì mải trò chuyện với Mai. Tới Biên Hòa, Kỳ biết chắc cuộc chuyển quân nói trên nằm trong âm mưu đảo chính mới của viên tướng tư lệnh vùng sông Cửu Long và Dương Văn Đức. Dương Văn Đức làm đại sứ tại Séoul thời ông Diệm và đã yêu một cô gái Đức làm việc trong sứ quán Tây Đức ở Hàn Quốc hồi đó. Mặc dầu ông Diệm tỏ ý không bằng lòng nhưng Đức vẫn cưới người mình yêu và bị cách chức, đưa qua Mỹ học. 5/16
Về sau, ông Đức ở Pháp hoạt động chống Diệm, thường uống rượu say, sống túng thiếu, sau ngày 1.11.1963 được trở về Việt Nam. Nay thì ông Đức quay sang chống lại sự kềm siết của Nguyễn Khánh và đang kéo quân uy hiếp Sài Gòn, trong lúc Khánh vừa bay lên Đà Lạt, còn Kỳ đi chơi với người đẹp Tuyết Mai ở Biên Hòa. Rõ ràng Đức đang nắm ưu thế ngay giờ đầu của mưu toan lật đổ, và nếu căn cứ không quân rơi vào tay Đức, lực lượng đảo chính sẽ có thêm phương tiện để có thể hành động phiêu lưu và nguy hiểm. Do vậy Kỳ phải lập tức quay về Tân Sơn Nhất trước khi quân của Dương Văn Đức tràn đến. Không thể để Mai ở lại Biên Hòa một mình, Kỳ điện Bộ Tư Lệnh cấp tốc đưa trực thăng đến đón hai người. Cuộc du ngoạn ngắn ngủi bằng đường bộ chuyện sang chuyến bay chiến thuật song song với cuộc tiến quân đang diễn ra dưới đất. Rất nhanh, khi trực thăng đưa Kỳ và Mai đáp xuống “ngôi nhà có giàn hoa tím” của họ tại Tân Sơn Nhất, Sư đoàn bộ của tướng Dương Văn Đức với xe tăng yểm trợ đã kiểm soát gần hết Sài Gòn, kể cả Bộ Tổng tham mưu và Đài phát thanh. Qua làn sóng điện, tướng Lâm Văn Phát lên tiếng mạt sát Nguyễn Khánh thậm tệ. Từ Đà Lạt, Khánh nghe được giọng hậm hực của Phát đã tái mặt bảo Trần Văn Đôn và Trần Thiện Khiêm (lúc đó giữ chức Tổng tư lệnh quân đội, cũng đang có mặt ở cao nguyên và bỏ trống Sài Gòn): -Nếu thằng Kỳ mà theo bọn ấy, nó sẽ cho phi cơ dội bom tụi mình ở đây…Nên gia đình Khánh và Khiêm dời chỗ ở đi nơi khác và cho đặt súng phòng không ở Dinh số 2. Nhưng họ quá lo xa, vì Kỳ vốn không ưa Lâm Văn Phát, nay nghe Phát lên đài phát thanh với “nhiều lời tuyên bố mà tôi (Nguyễn Cao Kỳ) chẳng thích. Mục đích được ông ta đưa ra là nhằm phục hồi lại triết thuyết của Diệm (?)”. Không ăn cánh với Phát nhưng lại có quan hệ không căng thẳng mấy với tướng Đức, nên Kỳ gọi điện nhắn Dương Văn Đức là “nên quay trở về”. Nhưng Đức vẫn tiến quân, đưa xe tăng áp sát căn cứ không quân Tân Sơn Nhất và đến gần vị trí Bộ Tư lệnh của Kỳ chập tối ngày hôm đó. Để dễ “nhận mặt nhau”, hỏa châu được bắn sáng cả bầu trời và Kỳ đích thân ra khỏi vành đai phòng thủ gặp người chỉ huy các toán xe tăng. Giữa hai binh chủng không quân và thiết giáp trong quá khứ vẫn chưa có gì hiềm khích nhau nên việc dàn xếp để tránh đụng độ khá thuận lợi. Ra về, Kỳ nhắn nhe: “Nếu các anh cho xe tăng tiến lên một bước nữa là tôi sẽ cho ném bom”. Đêm đó, xe tăng án binh bất động. Sáng ra Kỳ điện cho Dương Văn Đức: “Đã đến lúc trung tướng nên từ bỏ ý định… Đây là lời nói sau cùng của tôi. Nếu trung tướng không rút lui, tôi sẽ ném bom, xuống bộ chỉ huy của trung tướng”. Xét nhiều yếu tố bất lợi, trong đó có sự bất hợp tác của lực lượng không quân nên Dương Văn Đức bỏ cuộc. Sau lần ấy, theo lời Kỳ, ông ta nổi bật lên như “một lãnh tụ không chính thức của nhóm sĩ quan trẻ” mà Kỳ ưa nhắc đến trong hồi ký với tên gọi “nhóm tướng trẻ”. Quà cưới: Chiếc Ford Facon lộng lẫy và bộ đồ trà chân quê 6/16
Nguyễn Cao Kỳ – Đặng Tuyết Mai thuở mặn nồng Vài tháng sau cuộc đảo chính trên, Kỳ và Mai gửi thiệp hồng đến hàng ngàn quan khách gồm toàn bộ nhân viên chính phủ, tư lệnh và chỉ huy trưởng các đơn vị hải, lục, không quân, ngoại giao đoàn, cùng nhân vật cao cấp Việt – Mỹ có thế lực tại Sài Gòn mời dự đám cưới. Khánh lúc ấy với tư cách là “sếp bự” và là bạn cố tri của Kỳ đã tặng vợ chồng Kỳ món quà lộng lẫy là chiếc xe Ford Falcon mà Khánh đang đi. Đó là chiếc xe hơi đầu tiên Kỳ được làm chủ trong đời. Trước đó Kỳ chỉ luôn lái chiếc xe jeep của quân đội cấp cho. Kỳ viết: “Hương (Trần Văn Hương), lúc bấy giờ còn là thủ tướng đã gửi đến chúng tôi một món quà mừng đám cưới sang trọng là 200.000 đồng, số tiền này đã hết sức tiện lợi cho tôi để trang trải phí tổn tiệc cưới tại nhà hàng Caravelle mà “ai ai” cũng đều được mời dự”. Theo lời kể của dân Sài Gòn và báo chí thời đó, đêm cử hành hôn lễ của Kỳ – Mai tại khách sạn Caravelle “quả là một đại dạ hội tưng bừng hiếm có giữa Sài Gòn xáo trộn, báo hiệu cái thế giá đang lên của một nhân vật gặp thời”. Kỳ và Mai, một bên là tư lệnh không quân, một bên là nữ tiếp viên hàng không xinh đẹp, họ đã thật sự “bay lên mây” theo nghĩa bóng lẫn nghĩa đen, và làm đám cưới vào độ đậm đà nhất của cuộc tình. Người Mỹ đang cần đến “ lãnh tụ nhóm tướng trẻ” để ủng hộ việc tăng 180.000 quân Mỹ ở VN năm đó. Chính khách Sài Gòn cần có chỗ dựa để khỏi lạnh gáy giữa thời buổi “đảo chính xảy ra như cơm bữa”. Nên quà cưới của hai phía Mỹ – Việt gửi đến họ khá hào phóng, đắt tiền; trừ một món quà chân quê, đó là bộ đồ trà đơn sơ nằm cứ như một dấu chấm than trêu ngươi giữa các tặng vật hào nhoáng. Kỳ có hơi chột dạ chưa dám giới thiệu với Mai chủ nhân vắng mặt của món quà đó: thiếu tướng Đỗ Mậu. 7/16
Đỗ Mậu viết:” Mùa xuân năm 1965, thiếu tướng tư lệnh không quân Nguyễn Cao Kỳ làm lễ thành hôn với người đẹp nữ tiếp viên phi hành Đặng Tuyết Mai. Đám cưới Kỳ – Mai là một trong những đám cưới linh đình nhất Việt Nam từ mấy chục năm qua, chỉ thua đám cưới ông Trần Trung Dung, cháu rể của Tổng Thống Diệm (trước kia), và dĩ nhiên phải thua đám cưới ái nữ Tổng Thống Thiệu và con trai ông Nguyễn Tấn Trung (sau này)”. Ngoài đại tiệc ở Caravelle, một đại tiệc khác dành riêng cho hai họ và bà con thân thuộc được mở tại Chợ Lớn. Lễ tơ hồng:” tân lang trong chiếc áo dạ hội màu đỏ đã tặng giai nhân chiếc nhẫn to bằng đầu ngón tay”! Đây là cuộc hôn nhân lần thứ hai của Kỳ; ông viết:” Cuộc hôn nhân đầu tiên của tôi với một phụ nữ Pháp – và chúng tôi đã có 5 đứa con với nhau – đã kết thúc bằng ly thân và tiếp đó chúng tôi đã ly dị”. Đời vợ trước của Kỳ, theo lời tướng Đỗ Mậu, không được hanh thông dư dả lắm. Hàng năm cứ vào mùng một Tết, Kỳ thường dẫn vợ con đến nhà Đỗ Mậu mừng tuổi và lạy bàn thờ gia tiên vì xem Đỗ Mậu” như người anh trưởng của gia đình Kỳ’. Đến cuộc hôn nhân với Mai, Kỳ đích thân đến nhà mời vợ chồng Đỗ Mậu dự tiệc, nhưng ông Mậu đã quá “chán chường không muốn chen lấn vào những nơi tụ họp đông đảo của hạng người trưởng giả nữa” nên không dự đại tiệc của Kỳ ở Caravelle. Có lẽ vì vậy đã dẫn đến thái độ cao ngạo đáp trả của Kỳ đối với Đỗ Mậu khi Kỳ lên làm thủ tướng vào khoảng nửa năm sau ngày cưới Mai. Chuyện như sau: Kỳ phái viên thiếu tá chánh văn phòng của mình mời Đỗ Mậu đến dinh thủ tướng, đợi hơn một tiếng đồng hồ mới tới. Tới rồi, Kỳ đi thẳng vào phòng làm việc bắt Đỗ Mậu chờ thêm một tiếng nữa rồi mới ra tiếp. Sau hai giờ chờ chực, tưởng Kỳ nói chuyện chi quan trọng lắm, ai dè chỉ buông một câu trống không: “Lâu ngày không gặp nên tôi chỉ mời thiếu tướng vào thăm thế thôi”. Đỗ Mẫu “cám ơn” rồi ra về, buồn bực vì cuộc gặp mặt lãng nhách đó. Chắc Kỳ không mời đến để “thăm” vì thâm tình, bởi nếu vậy Kỳ đã tìm đến nhà riêng tướng Mậu, người mà Kỳ từng tôn xưng là “đàn anh” trước kia.Đỗ Mậu chẳng buồn vì cách đối xử quá “hỗn” của Kỳ làm chi, mà nhớ đến “lá số tử vi” của một nhân vật “khắc tinh” của Kỳ và đang có mặt bên cạnh Kỳ là Nguyễn Văn Thiệu. Hồi ký Đỗ Mậu viết: “Thiệu có đến 4 chữ Tý: Tuổi Giáp Tý 1924, sinh vào giờ Tý (nửa đêm), tháng Tý (11 âm lịch) và cung Mệnh viên cũng nằm ở Tý”.Dựa vào “lá số” đó, trước kia Đỗ Mậu xui Thiệu “làm cách mệnh” chống lại chế độ Diệm. Thiệu hoảng sợ năn nỉ Đỗ Mậu là “ông Cụ” (tức Ngô Đình Diệm) cũng tin tử vi lắm, đừng nói với “ông cụ” về lá số quá tốt của Thiệu, sợ “cụ” nghi kỵ:-Ông cụ biết được ông sẽ chặt đầu cả hai đứa mình! 3 – Ông thầy tướng số “bí ẩn” sau lưng Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ 8/16
Nguyễn Văn Thiệu lâng lâng nghe Đỗ Mậu giải đoán về “lá số tử vi đại quý” của mình với một loạt chữ Tỵ. Đỗ Mậu dựa vào đó để “cổ vũ” Thiệu theo hướng có lợi cho cuộc vận động các sĩ quan chống Diệm. Mớm cho Thiệu phải “hành động quân sự” mới ứng hợp với bước đường thăng tiến mà “lá số” cho thấy. Nguyễn Văn Thiệu ra về, không bao lâu sau, cũng chính Đỗ Mậu, với tư cách Giám đốc Nha an ninh quân đội, gọi điện thoại bắt Thiệu phải đến trình diện mình gấp. Vội vã và lo lắng, Thiệu rời Bộ Tư lệnh Sư đoàn 5 do mình nắm giữ, về ngay Nha an ninh quân đội vài giờ sau đó. Lần này, Đỗ Mậu không mở đầu bằng những lời tiên đoán tốt đẹp như trước đây, mà dọa “bắt giam” Thiệu vì tội “âm mưu lật đổ tổng thống” Diệm! Nghe vậy Thiệu thất sắc, chưa biết phải nói năng ra sao, Ông Mậu vội trấn an ngay, bảo mình giả vờ thôi, và bàn vào chuyện…lật đổ Diệm thật! Vậy là “ông thầy bói” thành “ngài đại tá” vận động làm binh biến và trong đảo chính 1.11.1963 chính Nguyễn Văn Thiệu cầm quân trực tiếp đánh vào thành Cộng hòa và dinh Gia Long, được thăng từ đại tá lên thiếu tướng. Theo những người thân cận dinh độc lập thì phần việc tham gia đảo chính trên của ông Thiệu do tướng Dương Văn Minh giao.Thăng đến trung tướng. Thiệu chuyển sang vai “quốc trưởng” (Chủ tịch Ủy ban lãnh đạo quốc gia). Năm 1964-1965, Nguyễn Văn Thiệu cùng “nhóm tướng trẻ” đưa “ông thầy bói” Đỗ Mậu ra khỏi Sài Gòn quản thúc. Nguyễn Cao Kỳ cũng vậy, trước được Đỗ Mậu dẫn đi coi bói bởi một “ông thầy” khác để biết chuyện tương lai, sau lên làm “thủ tướng” đã góp tay đẩy ông Mậu về vườn. Chuyện như sau: Theo Đỗ Mậu, ông và Nguyễn Cao Kỳ có liên hệ “thắm thiết” như anh em, chí lí tình nghĩa đến cả chia nhau chút ruốc mắm, lọn nem, đòn chả, củ hành, dưa kiệu, nhét túi cho Kỳ đôi đồng uống bia là thường. Ngày mẹ mất, Kỳ thống thiết thưa với đàn anh: -“ Buổi 9/16
sinh tiền, mẹ tôi ngỏ ý muốn khi mất sẽ được chôn cất ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi mà tôi thì quá túng thiếu không làm sao báo hiếu được, vậy nhờ đại tá giúp đỡ đàn em”. (Đỗ Mậu). Cám cảnh Kỳ nghèo mà có hiếu, Đỗ Mậu bỏ tiền “mua biếu tặng bà cụ đám đất trong nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi”, giúp Kỳ chôn cất mẹ như ý nguyện. Kỳ dính líu tới nhóm sĩ quan nhảy dù mưu lật đổ Ngô Đình Diệm vào năm 1960; lại buôn lậu hàng hóa rẻ từ Singapore về bị quan thuế bắt; Đỗ Mậu bảo mình đều đứng ra che chở “đàn em”. Đến ngày vận động lật đổ chế độ Diệm, tuy thân thiết như vậy, Đỗ Mậu vẫn thi triển bài bản có lớp lang chu đáo. Đầu tiên, gọi Kỳ đến, mở miệng là dọa “bắt” (như với Thiệu). Nhưng sau hạ giọng mát mẻ mời “tham gia đại sự”, làm như bộ luôn tiện (thật ra có chủ ý, sắp xếp trước) lôi Kỳ đi coi bói. Theo lời Kỳ, hai người lên taxi chạy qua những phố vắng vẻ của Sài Gòn, ngừng trước một căn nhà tồi tàn: “Một cụ già đưa chúng tôi vào một gian phòng dơ dáy đầy sách vở, cuộn giấy, biểu đồ thiên văn…Đỗ Mậu đưa cho ông ta những chi tiết về ngày sinh của tôi rồi hỏi ông ta hai câu. Câu thứ nhất: “Người này (chỉ Nguyễn Cao Kỳ) có lương thiện không, có phải là một người tôi có thể tin tưởng, sẽ không bao giờ phản lại tôi hay những người khác không?” Câu trả lời của cụ già khẳng định là Kỳ không phải loại người “phản trắc”.Đoạn “mở đầu gieo quẻ” đó, Đỗ Mậu kể sinh động hơn: “Tôi (Đỗ Mậu) bèn kéo Kỳ đến nhà thầy tử vi Minh Lộc ở đường Trần Quý Cáp (nay là Võ Văn Tần, Q.3, TP.HCM) mà tôi đã sắp đặt từ trước. Sau khi gieo quẻ bấm tay, ông MinhLộc nói rằng số Canh Ngọ này (của Nguyễn Cao Kỳ) làm nghề đi mây về gió (!) tuy nhiên đến thu đông năm nay (nhằm khoảng thời gian áng chừng nổ ra cuộc đảo chính Diệm; sau ấn định vào 1.11) phải làm gì có tính cách bạo động rồi trở thành vương tướng, phú quý song toàn” (!)Câu ấy hàm ý kích động Kỳ tham gia quân đội lật đổ Ngô triều.Tử vi của ông này (Kỳ) có báo trước là một ngày nào đó ông ta sẽ đi tù không?Kỳ viết: “Một lần nữa lão thầy bó nghiền ngẫm những biểu đồ và sách vở của ông ta rồi quyết đoán: Không, suốt đời ông này sẽ không bao giờ đi tù cả”.Câu hỏi đó của Đỗ Mậu là câu trả lời “không bao giờ đi tù” của ông thầy bói nhằm trấn an Kỳ. Vì từ lời “thầy” mà suy ra, đảo chính bị “hụt”, Kỳ vẫn an toàn không bị ở tù chi cả, vì “số” là như thế (!).Đến câu hỏi này mới thật cột nhau vào thế kẹt: “Số này (của Kỳ) có phản bội tôi (Đỗ Mậu) không?”.Minh Lộc khẳng định: “Không, bởi nếu phản bội sẽ bị chết bất đắc kỳ tử”. Đỗ Mậu thưởng cho thầy tử vi một trăm đồng bạc rồi ra về: “Trước khi chia tay, Kỳ thề suốt đời giữ trọng lòng trung nghĩa đối với tôi. Sau này Kỳ phản tôi, cùng với nhóm tướng trẻ cô lập tôi ở Kon Tum, tại Nha Trang nhưng Kỳ đã không chết bất đắc kỳ tử, vả lại trong thâm tâm tôi cũng thật lòng không muốn ai phải chết bất đắc kỳ tử…”. Tuy không “bất đắc kỳ tử nhưng tiếng đồn không mấy hay ho về Kỳ (và Thiệu) tăng dần theo số quân Mỹ từng vào VN tham chiến mà đến Giáng sinh năm 1965 đã lên 184.000 (so với tháng 7.1965 chỉ mới 81.400 quân – số liệu dẫn từ Mc Namara). Giữa năm đó, thuốc phiện cũng được thả dù xuống cao nguyên Trung phần sau khi bí mật đưa lên máy bay gần Savanakhet của Lào. Một số trong đó “lọt” vào chiếc chuyên cơ của Nguyễn Cao Kỳ với sự “hợp tác” của cả Thiệu, Nguyễn Hữu Có, Vĩnh Lộc, Cao Văn Viên. 10/16
Tướng Nguyễn Hữu Có, Tổng uỷ viên Quốc phòng (Tổng trưởng Quốc phòng) và. Tư lệnh Vùng 1 Nguyễn Chánh Thi, ảnh chụp trước khi xảy ra vụ biến động miền Trung Khi chuyến bay sắp cất cánh rời Pleiku về Sài Gòn thì bị phát giác và la ầm lên bởi viên Tư lệnh Quân đoàn I vùng I chiến thuật: Nguyễn Chánh Thi! Nguyễn Hữu Có (Tổng ủy viên quốc phòng) chặn không cho Thi tới gần máy bay chở thuốc phiện. Ức khí, Thi gằn giọng: –Định bán cho ai? 4: Chuyến hàng thuốc phiện của các tướng lĩnh đứng về phía…dân nghiện! Ngay từ ngưỡng cửa của việc nắm trọn quyền lực, Nguyễn Cao Kỳ và Nguyễn Văn Thiệu đã tạm thỏa hiệp ngồi lại với nhau trên “chiếc chiếu thần” của nàng tiên nâu, để tổ chức những chuyến hàng thuốc phiện dài ngày tội lỗi… Những tướng lĩnh vừa đoạt quyền “điều khiển quốc gia” từ tay một chính phủ dân sự bất lực của các ông Phan Khắc Sửu – Phan Huy Quát vào tháng 6.1965 đang cấu kết mở rộng “con đường tơ nhện” trên không để đưa thuốc phiện về Sài Gòn qua đoạn trung chuyển từ các sân bay nằm khuất tận cao nguyên. Một vài tay có vai vế cao nhất “thượng thủ, thượng thượng thủ” trong họ, gồm “quốc trưởng” Thiệu, “thủ tướng” Kỳ, cùng Nguyễn Hữu Có và Linh Quang Viên (thiếu tướng, tổng ủy viên an ninh trong nội các chiến tranh của Kỳ) đã có mặt cùng lúc tại sân bay Pleiku vào buổi chiều có chuyến hàng thuốc phiện đó. Duyên do gì cả 4 tay nêu trên lại hội nhau ở phố núi cao? Nguyễn Chánh Thi trả lời qua hồi ký Một trời tâm sự:“Vào khoảng tháng 9.1965, Nguyễn Văn Thiệu gọi tôi, bảo phải đi Pleiku hội. Cuộc hội có Thiệu, Kỳ, Có, Viên và tôi. Đến sân bay Pleiku 11/16
lúc 9 giờ 30, tất cả lập tức đi quan sát đồn Pleime, nơi vừa xảy ra trận đánh lớn…Về lạu Pleiku, tất cả đến tư thất Vĩnh Lộc ăn một bữa cơm thật thịnh soạn. Ăn xong Thiệu mới nói: – Cuộc họp mặt hôm nay quan trọng không phải vì trận Pleime, mà vì chuyện của anh Vĩnh Lộc. Tướng Westmoreland cũng như đại sứ Lodge đều yêu cầu phải thay thế Vĩnh Lộc ở chức vụ Tư lệnh vùng II chiến thuật. Đó là do lời đề nghị của tướng Palmer, cố vấn của anh Vĩnh Lộc. Anh Vĩnh Lộc đã làm mất lòng ông Palmer sao đó. Anh Thi nghĩ sao? Tôi trả lời: – Phải để cho anh Vĩnh Lộc trình bày xem có gì nghiêm trọng không đã, tôi mới có ý kiến được. Thiệu chặn ngang: – Người Mỹ họ cằn nhằn tôi là anh Vĩnh Lộc không có “tinh thần hợp tác”. Ông Palmer kêu qua họp mà anh ấy từ chối không qua. Đã nhiều lần như thế”. Vĩnh Lộc vội vã biện bạch, Thiệu tiếp tục “truy”. Hỏi qua đáp lại kéo dài. Hãy khoan nhắc tới nội dung cà kê đó, xin tóm gọn là việc đi đến kết luận cách chức Vĩnh Lộc hôm ấy bất thành, vì mãi đến chiều còn cãi nhau. Nguyễn Hữu Có nhìn trời nhìn đất “quanh năm mùa đông” mới giục về Sài Gòn cho kịp, tạm nhưng họp, Nguyễn Chánh Thi viết:“Thường lệ đi họp mà muốn về lại Sài Gòn, thì tất cả tướng lĩnh đều được mời đi trên chiếc máy bay tốt nhất mà Nguyễn Cao Kỳ đang dùng. Lần đó quen lệ và cũng đinh ninh là mọi người sẽ đi chung một chiếc máy bay để có thêm thì giờ hàn huyên hay giải quyết những chuyện phối hợp lặt vặt, nên tôi xăm xăm đi thẳng tới chiếc máy bay của Nguyễn Cao Kỳ. Đột nhiên Nguyễn Hữu Có giơ tay ngăn tôi lại: – Anh đi chiếc máy bay của anh thì hơn. Tôi sinh nghi: Một ý nghĩ thoáng qua nhanh trong đầu: tụi này âm mưu gì đây” 12/16
Ảnh tư liệu: Tướng SG Nguyễn Chánh Thi Đúng là có “âm mưu” trong chiếc máy bay đặc biệt của Nguyễn Cao Kỳ đậu kia. Mà Kỳ khi còn mang cấp bậc đại úy thời ông Diệm, bị dư luận cho là đã dính dáng đến các chuyến bay của phi đội đặc nhiệm chở thuốc phiện. Có hơn 2.500 tiệm hút hoạt động tại Chợ Lớn từ những năm đầu 60. Dùng máy bay chở thuốc phiện về Sài Gòn không phải là điều hiếm thấy, mà có đến hàng trăm chuyến mỗi tháng. Thậm chí mỗi ngày có từ 300 đến 600 cân thuốc sống được người “cộng tác mật thiết” với Ngô Đình Nhu là Francisci dùng máy bay hai động cơ vận chuyển. Khi hai anh em ông Diệm mất, Kỳ nắm chức tư lệnh không quân, việc buôn lậu thuốc phiện mở rộng, thời điểm đó Thiệu mới “bước vào nghề”. Như trên đã nói, Nguyễn Chánh Thi nghi chiếc “chuyên cơ” của Kỳ có gì “lạ” lắm đây, nên cứ một mực bảo Có là máy bay của mình phải trở về Quân đoàn, và mình cần “đi chung với các anh”. “Nguyễn Hữu Có không ngăn được tôi, tỏ vẻ khó chịu. Tôi bước lên máy bay lẹ làng. Vừa ngồi xuống ngó chung quanh, tôi thấy mọi người đang nhìn nhau, nửa nghi ngại, nửa như bực dọc 13/16
vì sự hiện diện của tôi”. Ai chẳng biết tính tình của viên tướng vùng 1 này, ăn nói bặm trợn chẳng kể ai. Có lần ông ta giúp Thiệu tránh được đám đông biểu tình “đòi làm thịt tại chỗ”, Thiệu cho phụ tá của mình đến cảm ơn. Thi bạo miệng đùa: “ Ơn nghĩa chi! Con chó bị thất thế như tôi cũng cứu huống cho ông Thiệu. Đại khái ăn nói lua lua “ác khẩu” như vậy, thêm cái khí chất lúc nào cũng nóng nảy như bốc cháy của viên tướng vùng “hỏa tuyến”, nên người ta gọi Thi là “cục lửa to tướng mang hình dạng con người”. Mà “cục lửa” đó lại đang ngồi chình ình trước mặt họ chẳng biết phực cháy khi nào. Bực mình quá, Nguyễn Hữu Có vọt miệng nói huỵch toẹt: – Chúng tôi vừa bắt được một vụ buôn thuốc phiện lậu, tịch thâu được khá nhiều, định đem về bán lấy tiền làm quỹ đen. – “Chúng tôi” (Thiệu, Kỳ, Có, Viên) là những phù thủy có đủ đòn phép đổi chữ “buôn” (lậu) thành chữ “bắt” (hàng quốc cấm). “Bắt” rồi bán lấy tiền, cầm trên tay những đồng “sạch sẽ” được “rửa” trước mắt Thi! Nói “la ầm lên” thì không đúng hẳn, nhưng cái cách vừa cười nhạt vừa hỏi “cung” của ông Thi nghe cũng đinh tai” –Thuốc phiện bắt được bao nhiêu? Trị giá được bao nhiêu?Nguyễn Hữu Có tỉnh bơ: – Được vài trăm ký, bán được vài chục triệu. Bán xong, nếu anh muốn, tôi sẽ gửi biếu anh chút đỉnh tiêu… 5 – Bà Từ Cung muốn gả cháu gái cho tướng vùng “Hỏa tuyến” Nguyễn Chánh Thi? Thiệu và Kỳ, cả hai chẳng thích thú gì khi đang gắng gạt hết các “tướng già” như Đỗ Mậu, lại phải bận tâm với loại “tướng trẻ” ngang ngạnh như Nguyễn Chánh Thi. Chiếc máy bay như “lết đi nặng nề” và “bầu không khí bỗng trở nên nghẹt thở sau khi câu chuyện thuốc phiện bị Nguyễn Hữu Có đem nói toạc ra” theo như Thi kể. Đã thế, Thi bồi thêm mấy câu pha trò, khích bác chơi. Thiệu và Kỳ, cả hai chẳng thích thú gì khi đang gắng gạt hết các “tướng già” như Đỗ Mậu, lại phải bận tâm với loại “tướng trẻ” ngang ngạnh như Nguyễn Chánh Thi. Thi sinh tại Huế, 33 tuổi làm Tư lệnh Lữ đoàn Nhảy dù (1956) là một trong những người cầm đầu cuộc đảo chính hụt Ngô Đình Diệm hôm 11.11.1960, sau đó phải trốn sang Campuchia trong 3 năm. Khi chế độ Diệm đổ, ông ta quay về Sài Gòn thì vợ đã chung chạ với một người bạn cũ của ông. Từ đó, ông sống một mình, nuôi 4 con. Nhận chức Tư lệnh Quân đoàn I và Vùng I chiến thuật từ năm 1964-1966, đóng bản doanh tại Đà Nẵng nhưng hàng tuần Nguyễn Chánh Thi vẫn dùng trực thăng bay ra Huế. Bay ra đó vì công việc của “đại biểu chính phủ” tại Trung nguyên Trung phần mà ông ta kiêm nhiệm. Song dư luận báo giới đương thời vẫn cho vì ông nặng lòng với một cô gái Huế. Dưới tít lớn “Tướngrâu miền hỏa tuyến (Nguyễn Chánh Thi) vừa yêu cô dược sĩ, vừa…ghét ai nhứt?” một bài báo viết: lại trông đêm trông ngày chờ ông đi cưới, thế mà…”. Chuyện đó ông ta không kể trong hồi ký mà chỉ nhắc đến cô H.T.X.M nào đó trong đoạn “Chuyện trò thân mật với Đức Từ Cung thân mẫu của cựu hoàng Bảo Đại” trích sau: “Cuối tháng 11.1964 một buổi 14/16
mai thứ bảy, tôi đang ngồi uống nước trà với bà chị cả tôi ở quê lên thăm, thì vào khoảng 10 giờ sáng, một bà cụ già của Phước tộc ghé thăm. Sau mấy lời xã giao, bà cụ nói: – Đức Từ Cung sai tôi đến đây có ý mời Ôn qua nhà uống trà, luôn tiện có vài công chuyện muốn thưa với Ôn”. Theo lời hẹn, sáng hôm sau chủ nhật ông ta đến nhà bà Từ Cung lúc 10 giờ sáng. Bà Từ Cung cho người nhà bận quần áo chỉnh tề ra đón khi ông vừa bước xuống xe, mời vô nhà. Cửa vừa mở, đã thấy bà Từ Cung đứng sẵn mặc áo màu vàng lạt, đầu tóc bạc phơ, mời Nguyễn Chánh Thi ngồi trên bộ trường kỷ bằng mun đen cẩn xà cừ, uống nước trà sen. Gần 10 năm trước, ông Thi đã gặp bà khi được biệt phái đến chỉ huy Tiểu đoàn Ngự lâm quân. Nay đến thăm và nhờ nghe “một vài công chuyện muốn thưa” gì đó. Bà Từ Cung cám ơn vài việc mà ông đã làm cho hoàng tộc, rồi hạ thấp giọng: – Còn một chuyện quan trọng có tính cách gia đình mà bà muốn giúp cho Ôn vì biết Ôn có 4 đứa con dại không có người trông coi. Bà có đứa cháu gái giỏi, khôn ngoan, tên là H.T.X.M muốn cho Ôn đem về làm vợ để nuôi 4 đứa con và săn sóc Ôn khi đau ốm trở trời. Nói xong, bà cho gọi cô X.M ra chào. Dừng chập lâu, bà lại khuyên ông nên “có vợ để lo gia đình”. Nguyễn Chánh Thi lúng túng, ngạc nhiên, thưa là “có thể năm ba năm nữa, bảy tám năm nữa, cháu mới dám nghĩ đến chuyện gia thất. Hiện chừ bổn phận làm cha cũng chưa đủ, huống chi thêm vào trách nhiệm làm chồng. Xin đức Từ thông hiểu hoàn cảnh của cháu”. Bà Từ Cung mời Thi ăn bánh, đoán ông ta áy náy chuyện tuổi tác, chậm rãi nói: – Bà thật thương Ôn Thi và cháu của bà. Nó đã thưa với bà là muốn có tấm chồng gan dạ để được hy sinh với chồng, dù người chồng có hơn tuổi bao nhiêu cũng chả răng, cho nên bà có ý cho (làm vợ) Ôn đó”. Còn cô X.M ? Hồi ký kể: “Tôi thấy cô X.M với cặp mắt trong xanh cũng cất đầu lên nhìn tôi với những giọt nước mắt đang rớt xuống làm thấm chiếc áo dài xanh lạt của cô. Lòng tôi lúc ấy thật là bùi ngùi, xúc động với những giây phút bất ngờ đã xảy ra tại đây”. Nghĩ một lúc, Bà Từ Cung tiếp: – Thôi nói rứa biết rứa, khi mô nghĩ lại thì đến cho bà biết để bà liệu cho và nhớ khi mô rảnh đem mấy đứa tới thăm bà với cho vui. Kiếu Bà Từ Cung ra về, ông Thi bào tài xế riêng của mình hãy mang xe về trước, còn ông thả bộ chầm chậm dọc theo bờ sông An Cựu suy nghĩ mông lung về chuyện hôn nhân. Trong tướng tá Sài Gòn quanh ông, có người lỡ “lấn sân” qua bạn đời của kẻ khác. Bồ nhí thì không nhớ hết tên… Khi Nguyễn Văn Thiệu nắm hết quyền lực vẫn muốn lợi dụng các vụ mèo mỡ lăng nhăng của các tướng tá phe đối lập, ra lệnh cho các tờ báo do mình đỡ đầu đem ra nện tới nơi để hạ uy thế đối thủ, mặc dù chính Thiệu cũng lăng nhăng không kém. Người đương thời đồn đại nhiều vụ ăn vụng, trăng hoa, như tướng Đỗ Cao Trí lấy vợ của dược sĩ V.H.T và bắt bồ với bà chủ hãng Cosuman Film chẳng hạn. Hoặc Cao Văn Viên “mang lộn dép” của vợ một sĩ quan dưới quyền vì tối trời điện cúp… Ngoài câu chuyện liên quan đến H.T.X.M trong buổi gặp bà Từ Cung, ông Thi cho bà biết đã 15/16
bàn với phụ tá “đại biểu chính phủ” là ông Hồ Dũ Châu, lo mượn hai chiếc máy bay C.130 lên Đà Lạt để chở trở lại 40 thùng đồ cổ của Đại nội mà trước kia vợ chồng Ngô Đình Nhu đã lấy lên Đà Lạt, tính trang hoàng cho ngôi biệt thự của họ. Nguyễn Chánh Thi viết: “Thật ra, không chỉ một mình vợ chồng Nhu mà sau này, sau vụ biến động miền Trung ngày 10.3.1966, dân chúng thành phố Huế cho biết là bọn Thiệu – Kỳ, Nguyễn Ngọc Loan, Hoàng Xuân Lãm, Nguyễn Văn Toàn đã làm tiêu tán những bảo vật quý giá của hoàng tộc sau Đại nội và tại Tòa đại biểu Huế”. Trong số tướng tá mà Nguyễn Chánh Thi nêu trên có một tay “máu lạnh” truyền kiếp: Nguyễn Ngọc Loan. Loan đã nói gì với Nguyễn Chánh Thi trong một cơn say tí bỉ mà Thi mô tả là “như đứa con nít đang lên cơn sốt”?… (Còn tiếp) Nguồn: Nghiên cứu Lịch sử tổng hợp từ Một thế giới 16/16
By The Observer December 30, 2016 Hồi ký tướng tá Sài Gòn xuất bản ở hải ngoại (P2) nghiencuuquocte.org/2016/12/31/hoi-ky-tuong-ta-sai-gon-xuat-ban-o-hai-ngoai-2/ Tổng hợp: Mai Nguyễn 6 – Sinh sự vì Dương Văn Minh lên đại tướng trước Nguyễn Khánh 3 ngày! Vừa là bạn đồng sàng, vừa là phụ tá đắc lực của Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Ngọc Loan được “Thủ tướng” Kỳ tin cẩn lần lượt giao nắm các chức vụ đầy quyền sinh sát trong ngành an ninh quân đội, tình báo và cảnh sát Sài Gòn Một bữa, Loan uống say, mặt đỏ và méo, kéo tay Nguyễn Chánh Thi lôi vào một căn phòng ở Bộ Tổng tham mưu hét toáng lên: – Thôi ông ơi, ông thì chịu khó đi ra ngoại quốc một thời gian đi! Chúng nó ngại ông lắm. Nếu ông còn lẩn quẩn ở đây thì chúng nó còn khó chịu và còn làm nhiều chuyện ồn ào lắm. “Chúng nó” tức cánh Kỳ và Thiệu đang hợp tác tìm thủ đoạn đốn ngã Thi, Loan vừa lè nhè mớm cho Thi hãy “chạy ra nước ngoài”, vừa đưa cao chai bia đang cầm trong tay lên nốc, rồi chửi đổng một hồi vung vít… Chừng sáu, bảy ngày sau, Loan tìm gặp Thi lần nữa, lần này có cả Mai Đen – từng nhúng tay vào việc buôn vàng và thuốc phiện vùng biên giới Lào – Việt thời Ngô Đình Nhu – đi kèm. Không say như hôm trước, mà rất tỉnh táo, lạnh lùng “đề nghị” Thi: Ông nên chịu khó đi ra nước ngoài thì hơn, nếu ông còn ở lại Việt Nam, chỉ sợ tính mạng của ông không được bảo đảm. 1/14
Nguyễn Chánh Thi hiểu đó chẳng phải là lời đe dọa suông. Sau này, khi lưu vong, ông viết hồi ký và ngán ngẩm về các “chiến hữu” của mình thời đó như Kỳ, như Khánh. Với đầu óc quân phiệt, muốn làm “cha dân” của Khánh. Có lần qua điện đàm, Thi tỏ thái độ không đồng tình với Khánh về chuyện đó, khiến Khánh “rất khó chịu” và theo lời Thi: “ông ta bỏ điện thoại xuống một cách giận dữ”. Thi viết: “Dẫu sao sau đấy một chính quyền dân sự (!) được thành lập bởi Thủ tướng Trần Văn Hương và cụ Phan Khắc Sửu làm Quốc trưởng, Trung tướng Dương Văn Minh và trung tướng Nguyễn Khánh được thăng lên đại tướng”. Vụ thăng đại tướng của hai ông Khánh và Minh hồi ấy cũng bộc lộ những bất đồng sẵn có giữa họ vốn manh nha từ cuộc đảo chánh 1.11.1963. Ông Khánh không muốn ông Minh đưa ông Nguyễn Ngọc Thơ lên làm Thủ tướng. Ông Minh đợi đến buổi lễ gần thăng cấp cho các tướng tá có công trong đảo chánh mới quay lại bảo Khánh: – Anh không muốn cho ông Thơ làm thủ tướng chớ gì, chỉ chốc nữa đây chính ông Thơ sẽ gắn sao cho anh! Làm sao Khánh có thể khước từ được? Chuyện xảy ra tại Câu lạc bộ Bộ Tổng tham mưu Sài Gòn có đông đảo các tướng tá sĩ quan cùng biết nên Khánh bực lắm. Đến 1964, khi ông Minh làm “Quốc trưởng” và Khánh làm “Thủ tướng” rồi tự dàn cảnh phong mình lên “Chủ tịch Việt Nam Cộng hòa”, thì hai bên “đụng” nhau hoài. Một lần, vào ngày 1.7.1964, hai ông Minh và Khánh sừng sộ nhau tại Dinh số 2 Đà Lạt trước mặt các ông Trần Thiện Khiêm, Lê Văn Kim quanh “quyền” của mỗi người. Ông Khánh bắt đầu “nổ” ngay: – Tại sao anh ra Huế và Đà Nẵng, anh gắn huy chương cho ông Tôn Thất Xứng và ông Mỹ, tôi là “chủ tịch” mà anh không hỏi ý kiến tôi gì hết? Dương Văn Minh đáp: – Tôi tưởng tôi là “Quốc trưởng” thì có quyền chớ! Khánh không chịu: – Nhưng tôi là “Chủ tịch”, anh phải hỏi tôi. – Thế anh có quyền thì ấn định quyền hạn cho tôi đi. – Thì anh đề nghị quyền hạn lên tôi. Chuyện này nữa, tôi là Thủ tướng, tôi cần dùng xe cộ, tôi cũng có khách để tiếp đón, tại sao bên anh lại sử dụng gì đến một trăm hai mươi mấy chiếc xe, tôi cần anh trả lại một ít để làm cái Pool: văn phòng tôi hỏi thì ông đổng lý văn phòng anh bảo là không trả gì cả! “Quốc trưởng”, “Thủ tướng” và “Chủ tịch nước” mà đè nhau ra chì chiết những chuyện như thế thì khó nghe quá. Trần Văn Đôn cũng có mặt tại buổi “tọa đàm nội bộ’ trên kéo dài từ 8 giờ sáng đến 12 giờ trưa, có chen vào những “thắc mắc chung” của “từng người” khác và đã ghi lại mẩu “đối chọi” giữa hai ông Minh và Khánh như vậy trong hồi ký Việt Nam nhân chứng. 2/14
Vài tháng sau, cuối năm 1964, ông Khánh mới nhờ cậu ông ta là Nguyễn Lưu Viên, bấy giờ giữ chức “Tổng trưởng Nội vụ” nói với ông Trần Văn Hương đề nghị với Quốc trưởng Phan Khắc Sửu thăng Nguyễn Khánh và Dương Văn Minh lên đại tướng, nhưng trong sắc lệnh phải ghi, ông Khánh được “lên” trước ông Minh…1 ngày! Theo ông Đôn, khi sắc lệnh được trình ký lên văn phòng quốc trưởng “những sĩ quan làm việc tại đó phần nhiều là người của ông Minh. Thấy thế, biết là ông Khánh chơi “thầy” mình nên họ đề nghị Quốc trưởng trình lên Thượng hội đồng quốc gia (…). Nhận định rằng ông Minh là cựu Quốc trưởng và ở chức vụ trung tướng thâm niên hơn ông Khánh, cho nên cuối cùng họ (Thượng hội đồng quốc gia) đồng chấp thuận thăng hai ông lên đại tướng, nhưng để ông Minh “lên” trước …3 ngày!”. Thế là sinh sự . Khi nhận được điện thoại báo tin sắc lệnh trên đã được ký, ông Khánh đang dùng cơm tối với Trần Văn Đôn ở Dinh số 2, chẳng những không vui mà lộ hẳn vẻ ác cảm, bực tức đến nghẹn cơm vì cái “hội đồng quốc gia” đã làm ông vỡ một cuộc chơi. Về Sài Gòn, Khánh nhóm họ “nhóm tướng trẻ” quy cho “Thượng hội đồng quốc gia đang âm mưu giành tất cả quyền hành, lấn át quân đội!”. Lúc đó, theo hồi ký của Nguyễn Cao Kỳ, có người về hùa với Khánh la to: “Hốt chúng đi là xong!”. Thật loạn. Bề nào thì hội đồng đó vẫn gồm các thành viên cao niên, hoặc tên tuổi được chính giới Sài Gòn biết tiếng như các ông: Phan Khắc Sửu, Lê Văn Thu, Nguyễn Văn Huyền, Trần Đình Nam, Trần Văn Văn, Trần Văn Quế, Nguyễn Văn Lực, Nguyễn Văn Chữ, Hồ Văn Nhựt, Mai Thọ Truyền, Ngô Gia Hy, Lê Khắc Quyến, Tôn Thất Hanh, Lương Trọng Tường, Nguyễn Đình Lượng, Hồ Đắc Thắng, được thành lập hồi tháng 9.1964. Nguyễn Cao Kỳ mỉa mai: “Hội đồng quá già nua đến độ ở các quán rượu Sài Gòn người ta gọi đó là viện bảo tàng quốc gia”, và Kỳ cùng Khánh ra lệnh “nhóm tướng trẻ” hốt hội đồng đó thật, bắt một số đem quản thúc khiến đại sứ Mỹ M.Taylor phải ôm đầu bảo họ: “Các vị đã làm nát bét cả rồi!” Nghĩa là làm mất cái “màu mè dân chủ”, cái “chính phủ dân sự” mà Mỹ đang muốn có. Dĩ nhiên, nhiều nguyên do để Khánh “hốt” hội đồng , nhưng chắc chắn việc quyết định để Khánh lên đại tướng sau Dương Văn Minh 3 ngày có tác động tâm lý thúc đẩy Khánh hành động nhanh hơn. Vả lại, lúc ấy nghi án “5 tướng Đà Lạt” kết thúc rồi, các “tướng già” đang có mặt ở Sài Gòn . Họ quen biết những nhân vật thân cận với đại sứ Taylor, điều đó cũng đáng lo chứ? 7 – “Anh cả Trường Sơn” Vĩnh Lộc với cuộc tình trên phố núi cao 3/14
Trung tướng Vĩnh Lộc thường cho máy bay quân sự “không vận” các nữ ca sĩ lên phục vụ ở Vùng II chiến thuật Đêm 28.5.1964, đường phố Đà Lạt thấp thoáng bóng nhiều chiếc xe jeep gắn sao đỏ di chuyển về hướng dinh số 3. Có nhiều dấu hiệu rất rõ về sự hiện diện bất ngờ của khá đông các tướng tá từ Sài Gòn lên. Kết thúc nghi án năm tướng Đà Lạt “trung lập” Trần Văn Đôn lúc đó cùng em rể là trung tướng Lê Văn Kim được đưa từ Đà Nẵng về quản thúc tại nhà riêng số 16 đường Lê Thái Tổ, Đà Lạt. Khoảng mười một giờ rưỡi khuya hôm đó, an ninh quân đội đến “mời” hai ông Đôn và Kim ra xe, đưa về dinh 3. Ở đó, 4 tướng “ĐônĐính-Kim-Xuân” (và Vỹ) bị tình nghi “trung lập” được đưa ra đối chất trước hội đồng tướng lĩnh ngồi xoay quanh theo hình chữ U. Trần Văn Đôn được đưa vào phòng họp lúc …1 giờ sáng 29.5! Ông Đôn kể: “Bước vào thật là buồn rầu, bỡ ngỡ. Trước mặt tôi là các tướng tá: Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh, Đỗ Cao Trí, Phạm Xuân Chiểu, Dương Văn Đức, Lâm Văn Phát, Đỗ Mậu, Tôn Thất Xứng, Nguyễn Chánh Thi, Dương Ngọc Lắm, Trần Tử Oai, Lê Văn Nghiêm, Nguyễn Cao Kỳ (đến buổi sáng sau). Chung Tấn Cang, các đại tá: Trần Thanh Bền, Nguyễn Mộng Bích, Lê Văn Nhiêu. Tôi ngồi ở giữa, họ ngồi chung quanh…”. Sau 4 tháng bắt giữ vì bị nghi “trung lập”, đến lúc đưa ra xét hỏi chẳng thấy nhắc tới hai tiếng “trung lập” chi cả, chỉ loanh quanh mấy chuyện gì đâu kéo tận tới 6 giờ rưỡi sáng . Nguyễn Chánh Thi cứ lôi chuyện bà Ngô Đình Nhu hỏi Đôn: “Tại sao trung tướng trả các con của bà Nhu lại mà không giữ làm con tin để đòi trao đổi tiền bạc của nhà Nhu?”. Trần Văn Đôn viết là ông đã trả lời ông Thi một cách “bình tĩnh, ôn tồn” như sau: 4/14
– Sau cái chết của hai ông Diệm – Nhu dư luận trong và ngoài nước đều xúc động nên đại sứ Cabot Lodge có yêu cầu chúng tôi trả con của bà Nhu lại cho bà ta để làm dịu bớt tinh thần dân chúng Mỹ đang xúc động. Ông Đôn bảo là đã trình lên hội đồng quân nhân đảo chính trước khi các con bà Nhu lên máy bay ra nước ngoài và hội đồng chấp thuận. Sau những thẩm vấn đại loại như vậy, các tướng gác chuyện bà Nhu sang một bên và trao cho Trần Văn Đôn một danh sách dài thượt gồm tên họ các bà các cô và bảo: – Có phải đây là tên họ các nhân tình của anh? Chúng tôi nhận thấy anh thiếu tác phong. Chúng tôi nghỉ 15 phút để anh coi cho kỹ rồi trả lời. Thật lạ lùng. “Hội đồng xét hỏi” đưa ra danh sách các bà các cô xem chừng chẳng dính dáng gì tới “nghi án chính trị”? Ông Đôn đọc qua; khi trở lại phiên họp, trả lời rằng “một số tên đúng” là nhân tình của ông ta, “một số tên chưa hề quen biết”, có thể là nhân tình của ai đó đang ngồi đây? Cả phòng họp cười ồ. Tướng Đỗ Cao Trí bảo hỏi chuyện đời tư nghe “xấu hổ quá” : – Nếu ngày nào tôi ngồi vào ghế của trung tướng Đôn thì không phải là một tờ giấy như vậy mà là chở một xe GMC! Ý ông Trí bảo nếu có điều kiện như ông Đôn, danh sách tình nhân của ông ta chép trên giấy nhiều tới nỗi phải dùng xe quân sự loại lớn mới tải hết! Ngoài “Đôn-Đính-Kim-Xuân”, tướng Nguyễn Văn Vỹ cũng bị xét hỏi, và kết quả rất chung chung cho 5 người là: “Chưa dứt khoát tư tưởng”, “thiếu lãnh đạo chỉ huy”, kèm theo mục bồ bịch lung tung gọi là “thiếu tác phong”. Rồi tuyên bố…trả tự do! Ưa thì bắt. Ưa thì thả. Chuyện như đùa, xét hỏi như đùa. Đôn than: “Tôi ngủ một đêm tự do sau 4 tháng “đi nghỉ mát” ở biển và cao nguyên. Qua ngày chủ nhật 31.5, tất cả gia đình tôi đoàn tụ ở Đà Lạt sau 4 tháng đen tối nhất của đời tôi”. Vụ “nghi án” 5 tướng Đà Lạt “trung lập” khép lại hồ sơ từ đó. Đường binh nghiệp của họ cũng dần khép theo, một khung cửa hẹp mở ra để Trần Văn Đôn bước vào chính trường theo con đường khác, sau này… Bộ sưu tập “ảnh lạ cao nguyên” xẻ làm ba mảnh, vì đâu? Không chỉ ông Đôn bị lôi chuyện bồ bịch đời tư vào “chương trình nghị sự” mà nhiều tướng tá Sài Gòn khác như “anh cả Trường Sơn” Vĩnh Lộc cũng bị vướng. Gọi “anh cả Trường Sơn” vì theo làng báo thời đó, ông Lộc tuy thuộc hàng VIP. KK nhưng có máu văn nghệ, bỏ tiền thực hiện bộ phim Anh cả Trường Sơn và nhảy vào đóng phim đó luôn! Thuộc hoàng phái, từng làm việc trong văn phòng Bảo Đại, đến thời ông Diệm suốt 10 năm trong quân vụ ông chỉ lên được một cấp: trung tá chỉ huy trưởng một trung tâm huấn luyện nằm sát Sài Gòn. Chế độ Diệm đổ, thời Thiệu – Kỳ chớm lên, Vĩnh Lộc làm Tư lệnh Vùng II chiến thuật đóng tại “phố núi cao” Pleiku. Vĩnh Lộc thường sai viên sĩ quan tùy viên của mình về Sài Gòn rủ một số văn nghệ sĩ , ký giả, và dĩ nhiên vài “người đẹp hậu phương’ lên cao nguyên chơi vào cuối tuần. Qua sáng thứ hai, dùng máy bay quân sự chở họ về Sài Gòn. 5/14
Những chuyến bay “văn nghệ tiền tuyến” đó nối chặt cuộc tình “anh cả Trường Sơn” với cô ca sĩ nổi tiếng của Sài Gòn thời đó: Minh H. Ca sĩ H. là “người vợ không bao giờ cưới” của nhạc sĩ T.T.T, tác giả của các nhạc phẩm viết về chân trời tím, và tình thư của lính… Khi mối tình vụng trộm của “anh cả” và ca sĩ H. chín mọng, vừa lúc Thiệu và Kỳ hục hặc nhau nặng và Thiệu muốn hất Kỳ thẳng tay. Vì vậy khi nghe em út dèm pha rằng nhóm văn nghệ sĩ hay lên Pleiku “giao duyên” với Vĩnh Lộc là nhóm của Kỳ, cánh Thiệu nhất định không để yên cho “sinh hoạt văn nghệ” đó. Họ tìm cách chụp lén hình tướng Lộc và ca sĩ H. ăn nằm âu yếm nhau góp lại làm một “sưu tập”. Sau đó chia làm 3 phần. Một phần đưa lên mặt báo. Một phần gửi cho người vợ lớn của ông Lộc có nhà nằm trong khu đất Bộ Tổng tham mưu Sài Gòn. Phần còn lại gửi cho người chồng “chưa cưới” của ca sĩ H. là nhạc sĩ T. Riêng hai phần sau có kèm theo mấy cuốn băng ghi âm những lời thề thốt “yêu ai yêu cả một đời” của họ. Việc gì xảy ra sau đó? Theo dân làng báo thời bấy giờ, sau khi xem ảnh và nghe xong băng, vợ “anh cả Lộc” nổi cơn ghen ngút trời. Nhạc sĩ T. lận súng lên tận biệt điện Phượng Hoàng đòi bắn ca sĩ H. Chuyện còn dài nhưng xin ngừng nơi đây. Tờ Quật Cường do ông Thiệu cùng nhóm vây cánh của ông ta – phối hợp với các “diễn đàn” khác – bôi nhọ Vĩnh Lộc, triệt hạ uy tín những người bị nghi là thuộc phe Nguyễn Cao Kỳ, bằng cách moi móc chuyện phòng the làm cho phải ngượng nghịu trước “quân dân bốn vùng chiến thuật”. Bộ sưu tầm ảnh phải “xẻ làm ba mảnh” vì như thế. Cũng cần nhắc việc xích mích giữa Vĩnh Lộc với cố vấn Mỹ Palmer mà chúng tôi có nói qua trong bài viết về chuyến hàng thuốc phiện ở sân bay Pleiku. Theo Vĩnh Lộc: “Ông Palmer trịch thượng, xem thường chức vụ của tôi. Nhiều khi ông ấy hành động như là muốn sai khiến tôi thế nào cũng được. Vì muốn giữ thể diện, nên đôi khi ông ấy làm quá, tôi phải tỏ thái độ”. Nhưng Thiệu – Kỳ thì khác, họ muốn vâng lời, vâng lời và vâng lời đã! Vĩnh Lộc đã khều Nguyễn Chánh Thi ra xa Thiệu – Kỳ sau một cuộc họp tại cao nguyên và thẳng thừng mắng: “Tụi nó chó má chưa! Chỉ đi theo quan thầy thôi. Thôi thì trăm sự nhờ “ainé” cả”. Ông Thi xác nhận đó là nguyên văn lời Vĩnh Lộc. Nhưng một năm sau, trong nhóm “quan tòa” xử Nguyễn Chánh Thi ngoài Thiệu – Kỳ – Có – Viên trong chuyến máy bay chở thuốc phiện tháng 9.1965 có…Vĩnh Lộc ngồi chung, và là người đầu tiên cao giọng chỉ trích Thi! Ông Thi viết một cách cay đắng: – Bây giờ trong hàng ngũ quan tòa xử tội tôi, tôi chua chát thấy Vĩnh Lộc ngồi chung với bọn “chó má”. Giá ông ta không có thái độ gay gắt, có khi tôi vẫn tin rằng ông ta lẫn lộn với bọn “chó má” chẳng qua chỉ vì vạn bất đắc dĩ mà thôi”. Thi bị gạt vào Sài Gòn họp và bị bắt giữ bất ngờ. Những người tưởng “tướng tá anh em” đã xử ông tội gì? 8 – Chân dung tướng Mỹ M.Taylor dưới “kính loạn hoa” của Thiệu – Kỳ – Thi 6/14
Nguyên tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu Nguyễn Chánh Thi bị ghép “13 tội” mà theo ông ta tội lớn nhất không được nêu ra là “biết quá rõ những hành động tham ô, buôn lậu á phiện” của phe Kỳ và Thiệu. Tội nữa là nặng đầu óc cát cứ miền Trung – bộc lộ qua đòi hỏi phải thả, hoặc để những nhân vật người Trung cho Thi xử lý qua vụ “hốt” Thượng hội đồng quốc gia cuối năm 1964. Vụ “hốt” đó do Khánh và” nhóm tướng trẻ” của Kỳ chủ mưu. Nó là sự tiếp tục tham vọng quân đội làm “vua” manh nha ngay sau đảo chính 1.11.1963, như Thiệu đòi hỏi:”Quân đội đảo chính thì quân đội phải hưởng” (trong cuộc họp tìm người thay Nguyễn Ngọc Thơ làm thủ tướng ). Trần Thiện Khiêm trong chuyến thăm Mã Lai, người nước đó hỏi: Ở Sài Gòn đảng nào mạnh nhất, Khiêm trả lời:”Quân đội!”. Nghe kể lại, các tướng tá Sài Gòn cười ầm lên, người hả hê nhất phải là Khánh. Một tuần trước lễ Giáng sinh 1964, Khánh xuất hiện với bộ quân phục, gặp các ông Đôn – Kim – Xuân tại Đà Lạt và hậm hực nói (giọng vẫn đầy ”ấn tượng” với Dương Văn Minh): – Thượng hội đồng quốc gia là người của ông Minh, tôi quyết định vấn đề gì họ cũng bác hết. Các anh thấy tôi bận quân phục đây chắc là sẽ phải có chuyện gì! Chiều nay (19.12) tôi về Sài Gòn nhóm anh em và sẽ có quyết định: một là đảo chính, quân đội lên nắm chính quyền trở lại; hai là xúc Thượng hội đồng quốc gia. Thượng hội đồng đang soạn thảo hiến pháp để tiến tới thiết lập chính quyền dân sự, nhưng điều đó thâm tâm Khánh-Kỳ-Thiệu–Khiêm và nhóm tướng trẻ diều hâu, quân phiệt không muốn. Nguyễn Cao Kỳ xem rẻ Thượng hội đồng, bảo Quốc trưởng Phan Quốc Sửu là “ông già lải nhải”, gọi thủ tướng Trần văn Hương 61 tuổi, cựu đô trưởng Sài Gòn là “một người mang lại tai họa. Ông ta không có nghị lực, không nhìn xa thấy rộng…”. Tóm lại, Kỳ cũng đang 7/14
nôn nóng lật ngã cái “Thượng hội đồng” bị mỉa mai là “Viện bảo tàng quốc gia” đó, thì đùng một cái, như lời hứa, Khánh về Sài Gòn tụ họp “nhóm tướng trẻ” suốt 6 tiếng đồng hồ để xem có nên ra tay chưa. Kỳ kể lại, cuối cùng tất cả biểu quyết bằng cách đưa tay, kết quả là đồng ý “hốt” ngay hôm 20.12.1964 và: “Tôi còn nhớ lúc đó vào khoảng chập tối, tướng Có (sau này là thành viên trong nội các của tôi cho đến khi tôi giải nhiệm ông ta vì tham ô) nhìn vào đồng hồ tay và nói: Đã muộn rồi. Đến lúc phải lùa về gà và bò vào chuồng thôi!”. Việc “hốt”, “xúc”, hoặc “lùa” (chữ dùng của nhóm tướng tá kiêu binh, quân phiệt) được tiến hành trong đêm tối; y hệt cuộc hợp đồng tác chiến chống lại những ông già ốm yếu không một tấc sắc trong tay. Kỳ ghi nhận: “Khánh cầm đầu các lực lượng vũ trang, tôi hoàn toàn kiểm soát không quân. Những người khác kiểm soát lực lượng đặc biệt, thủy quân lục chiến, nhảy dù. Tôi cho tìm những sĩ quan cấp nhỏ, cung cấp chi tiết (danh sách, địa chỉ, nơi giam giữ), thế là họ cho quân đi bắt…” Khuya đó, một số thành viên Thượng hội đồng và hàng chục chính khách, giáo sư, lãnh tụ sinh viên mà Kỳ ghép vào “thành phần bất hảo” bị bắt giữ đưa lên Pleiku và Kontum quản thúc ngay sáng hôm sau. Trong số đó có cả thiếu tướng Đỗ Mậu, ông kể: “Khoảng 3 giờ đêm ngày 20.12.1964, đại tá Nhiêu, một cộng sự viên của Khánh và đang là Giám đốc Sở Trung ương tình báo, đi xe jeep cùng với 3 binh sĩ võ trang đến nhà riêng của tôi mời tôi đến gặp Hội đồng tướng lĩnh đang nhóm họp tại Bộ Tổng tham mưu. Tôi biết việc chẳng lành đang xảy ra nên dặn vợ con cứ yên tâm ở nhà (…), Đến 7 giờ sáng, tướng Có mời tôi lên xe và đưa ra phi trường Tân Sơn Nhất”. Ở đó, các ông Mai Ngọc Liệu, Vũ Ngọc Các, Nguyễn Văn Lực, bác sĩ Lê Khắc Quyến, luật sư Trần Thanh Hiệp…lần lượt được binh lính chở tới cầu thang máy bay để đưa đi quản thúc tại Kontum và Pleiku. Đại sứ Mỹ M.Taylor nhanh chóng biết tin và điện thoại cho Khánh, Khánh nghe xong quay qua bảo mọi người có mặt: “Đại sứ Mỹ Taylor muốn gặp tất cả chúng ta tại Đại sứ quán Mỹ ngay bây giờ. Nhưng tôi không đi (…). Trong các anh có ai đại diện tôi không?”. Không ai đi thay cả. Khánh nói: “Này Kỳ, anh là lãnh đạo của nhóm tướng trẻ, anh nên đi đi”. Thiệu và Thi đồng ý đi. Đô đốc Chung Tấn Cang cũng thế. Rốt lại: Thiệu-Thi-Kỳ-Cang đi gặp Taylor. Thái độ và lời nói của Taylor nhằm vào 4 người được mô tả là “quá sỗ sàng”. Ông ta bảo đại ý là cuộc đảo chính náo động tối hôm qua đã làm tiêu tan quá trình hình thành chính phủ dân sự đang diễn tiến, khiến Mỹ có thể cắt viện trợ. Hành động của nhóm tướng trẻ quá “loạn”. Lời nói của Taylor đầy vẻ lên lớp, không làm tắt “loạn” được. Hai bên chỏi nhau. Kỳ bảo: “Taylor vẫn cứ tiếp tục nói với chúng tôi như là những học sinh lang thang bị bắt gặp đang trộm quả trong một vườn cây ăn trái”. Ngược lại, các tướng đầy máu kiêu binh, quân phiệt, háo thắng đó lại nhìn Taylor qua một “kính loạn hoa” để thấy ông ta chẳng phải là “ngài đại sứ” đang mặc bộ thường phục trang nhã trước mặt họ mà là, như Kỳ viết, một vị tướng “không sao che đậy được phong thái quân sự…Taylor thuộc về loại người luôn luôn thuyết giảng cho người khác chứ không phải là để nói chuyện với họ”. 8/14
Ông hiện ra trong ý nghĩ họ như một người đang mặc áo hoa rằn ri của lính Mỹ với những lời như đạn réo. Thiệu ức lắm, dọa sẽ họp báo về thái độ của Taylor. Thi điên lên. Còn Khánh? Kỳ bảo sẽ không bao giờ tha thứ Khánh về việc ông ta “lẩn tránh không chịu đi dự cuộc họp đó”. Nhưng 3 ngày sau, Khánh lên Đà Lạt khoe trước Trần Văn Đôn, Linh Quang Viên, Lê Nguyên Khang: – Bây giờ tôi đã nắm ông Taylor trong tay rồi, ông ta không dám hành động gì để chống tôi nữa. Ông Taylor muốn gặp tôi thì đến văn phòng tôi ở Bộ Tổng tư lệnh – chứ tôi không đến văn phòng ông Taylor nữa đâu. Ông Đôn không lạ về lối nói của Khánh, hỏi: – Có phải anh gây với ông Taylor không? Khánh khoái lắm, cười ha hả: – Ừ, tôi đã mắng ông Taylor một mạch… Và ông Taylor đã nhịn im? 9 – Nguyễn Khánh lừa đại sứ Henry Cabot Lodge và cái chết của thiếu tá Nhung Nguyễn Khánh khoe đã thâu băng cuộc nói chuyện tay đôi với đại sứ Taylor: “Tôi nói ông (Taylor) là một tướng giỏi, tài ba ở nước ông, nhưng ở đây ông là một nhà ngoại giao dở”. “Ngoại giao dở” vì không lôi kéo được mà còn gây ra sự bất mãn của các tướng lĩnh Sài Gòn như Thiệu – Kỳ – Thi và…Khánh! Có lẽ ông Taylor đã nín nhịn, nhưng ngấm ngầm “vận động” thế nào đó để góp phần làm Khánh phải văng ra khỏi Việt Nam, lưu vong mãi đến giờ. Với đại sứ Cabot Lodge, ông Khánh “qua mặt” một lần. Frederick Flott, một người thân cận với Tòa đại sứ Mỹ, đã đưa 3 đứa con của bà Ngô Đình Nhu sang Roma hồi đảo chánh 1.11.1963, kể với Trần Văn Đôn chuyện đó. Theo Flott, hôm vụ chỉnh lý 30.1.1964 nổ ra, đại sứ Cabot Lodge cho mời Nguyễn Khánh đến lúc 5 giờ sáng, hỏi vì sao lại bắt mấy tướng Đôn-Đính-Kim-Xuân? Khánh đáp: – Không bắt sao được, chúng tôi có tài liệu là trong vài ngày nữa, các ông đó sẽ tuyên bố miền Nam trung lập! – Thế anh chắc chắn có bằng chứng không? – Sao lại không? Chúng tôi có đủ tất cả tài liệu đây nầy! Ông Khánh chỉ vào một tập hồ sơ ông ta đang ôm trong tay. – Thôi được, anh đưa tôi xem để tôi trình cho Hoa Thịnh Đốn. – Không được, vì trưa nay chúng tôi có cuộc họp báo, cần tài liệu này để trưng bằng cớ, rồi sau đó sẽ đưa lại cho ông. 9/14
Nói qua chuyện vậy thôi chứ ông Khánh không đến. Phía đại sứ Cabot Lodge –nhắn, Khánh lại hứa “sẽ”. “Rồi một hai tháng trôi qua, ông Khánh không đưa gì hết. Lúc ấy ông Lodge mới biết là bị gạt”, Đôn viết như vậy. Đó là tập “hồ sơ giả” hoặc một mớ giấy lộn “giả làm hồ sơ” mà “ngài đại sứ” không bao giờ đọc được. “Qua mặt”. Cabot Lodge, Khánh không đơn độc mà có sự che chở của cố vấn Mỹ riêng của mình là Jasper Wilson. Các hồi ký sau này của Trần Văn Đôn, Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Chánh Thi viết và xuất bản ở nước ngoài đều cho người sắm “vai chánh” trong chỉnh lý 30.1.1964 không phải Nguyễn Khánh mà là…Trần Thiện Khiêm (lúc đó làm tư lệnh quân đoàn 3). Do vậy, đại sứ Cabot Lodge lẽ ra gặp ông Khiêm thay vì Khánh mới “đúng người đúng việc”. Đêm có chỉnh lý, bắt các tướng, ông Khánh chỉ được 5 phút để suy nghĩ nhận làm hay không làm thủ tướng. Trần Văn Đôn viết: “Ông Khánh cho tôi biết sau này là ông ta nhận làm thủ tướng quá bất ngờ. Trong đêm đảo chánh (chỉnh lý 30.1.1964) Trần Thiện Khiêm yêu cầu Nguyễn Khánh nhận chức vụ Thủ tướng và Khiêm chỉ để cho Khánh 5 phút quyết định. Năm phút sau Khánh bằng lòng. Có lẽ vì vậy mà nhóm đảng Đại Việt (…) nói là họ bị gạt và đòi “đảo chánh lại”. Hồi ký Nguyễn Chánh Thi cũng viết Trần Thiện Khiêm là “vai chánh” vụ đó: “Ngoài ra, bên cạnh ông Khiêm còn có một số quân nhân thuộc đảng phái, cộng với một số sĩ quan khác bất mãn với chế độ “mới” (của ông Dương Văn Minh) vì không được trọng dụng, không được lên lon v.v…Thì ra cái thứ “cách mạng” (chỉ cuộc chỉnh lý 30.1.1964 lúc đầu được Thi ủng hộ) mà tôi đã tin tưởng, đã lăn lưng vào, nó là như thế!”. Ra nước ngoài hơn 35 năm nay, chưa thấy ông Khánh xuất bản hồi ký. Trong một cuốn sách của Vĩnh Phúc ấn hành tại Mỹ năm 1998 có in lời đáp của Nguyễn Khánh khi được hỏi quanh “cái chết của thiếu tá Nhung” (người bắn hai anh em Diệm Nhu) với các chi tiết dưới đây. Về lời đồn cho rằng Nguyễn Chánh Thi xuống nhà giam của lực lượng nhảy dù đang nhốt Nhung rồi đi lên, mặt hầm hầm, một lát sau lại xuống, lên lần nữa bảo thượng sĩ Hải: “Mầy xuống lấy dây giầy cột nó lên!”, có không? Ông Khánh trả lời không được rõ ý và nhắc lại: “Hôm đảo chánh 1.11.1963, những tư lệnh quân chủng, thủy quân lục chiến, ông Khang nầy nọ…trước khi vô ăn cơm họ để khí giới ngoài .Ăn cơm xong ông Minh mới tuyên bố có cuộc đảo chánh. Thì lúc đó thằng Nhung nó có súng. Nó đi đi lại lại, sỉ vả mấy ông đại tá, kể cả ông đại tá Cao Văn Viên. Hồi lâu lâu, nó buồn tình, nó nắm đầu một ông lên nó bắn! Phải có lịnh chứ không phải vô tình. Nó nắm ông Tung (Lê Quang Tung) ra sau hè nó bắn. Hồi nữa nó vô nó nắm em ông Tung là trung tá Triệu (Lê Quang Triệu) đem ra ngoài bắn luôn. Thành ra, mấy ông nầy bị sỉ vả mà có làm được gì đâu. Anh tưởng tượng mấy ông đại tá …bị một anh đại úy mà hồi Bình Xuyên với tôi nó còn là trung sĩ, thượng sĩ là gì đó nó sỉ vả thì họ nghĩ sao? Thành ra có nhiều “thèses” lắm. Tôi không dám quả quyết được”. Theo ông Khánh, việc Nhung chết rất đáng tiếc vì có nhiều chuyện cần để Nhung nói ra. 10/14
Ông Nguyễn Chánh Thi phủ nhận việc dư luận gán cho ông là người đá chết Nhung dưới hầm nhà giam. Ông bảo lúc bắt Nhung đưa về chỗ ông tuồng như có Cao Văn Viên ở đó nữa, ông nói với Nhung: “Anh khai thật đi. Vì cái chuyện mình nhà binh (…), thiên lôi chỉ đâu đánh đó! Có gì mà anh phải sợ. Khai thật cho tôi nghe vì tôi có biết qua về chuyện giết ông Diệm đó”. Nghe lời, thiếu tá Nhung viết bản tường trình khai hoàn toàn không biết gì về quyết định của Hội đồng quân nhân đảo chánh mà chỉ ra đi bắt hai ông Diệm – Nhu theo lệnh của Viên “chỉ huy tổng quát vụ nầy là ông thiếu tướng Thu” (?). Xe từ nhà thờ cha Tam đi một hồi gặp một đoàn mấy xe jeep chạy ngược lại, trên xe có tướng Thu (…). “Khi đó ông Thu đưa hai ngón tay (ngón trỏ và ngón giữa) của bàn tay trái…tôi (thiếu tá Nhung) rút khẩu Colt 12 bắn mỗi người 5 phát. Sau đó hăng máu bồi thêm cho ông Nhu 3 phát nữa vào ngực. Đồng thời đoàn xe thiết giáp dẹp đường chạy về Bộ Tổng tham mưu…”. Ông thiếu tướng Thu là ai? Nhung chết quá nhanh chưa kịp khai hết chi tiết, nên “tướng Thu” vẫn còn là một dấu hỏi trong hồ sơ cũ. 10 – Bữa cơm gây oán của thị trưởng Đà Nẵng đãi “người hùng” Honolulu Thủ tướng VNCH Nguyễn Cao Kỳ và tổng thống Mỹ Johnson ở “hội nghị thượng đỉnh” Honolulu, tháng 2.1966 Đầu tháng 2.1966, Tổng thống Johnson triệu tập “hội nghị thượng đỉnh” Việt – Mỹ tại Honolulu. Phía Sài Gòn chỉ được báo trước có …2 ngày! Gấp gáp quá, diễn văn của “thủ tướng” Kỳ không soạn kịp và phải phác thảo trên máy bay. Trước khi lên đường, theo yêu cầu phía Mỹ cần có mặt một tư lệnh Quân đoàn (đại diện cho 4 quân đoàn thuộc 4 vùng chiến thuật miền Nam) và Sài Gòn chọn Nguyễn Chánh Thi. Tướng Nguyễn Cao Kỳ điện khẩn ra Đà Nẵng bảo Thi chuẩn bị đi họp “thượng đỉnh”, nhưng Thi nổi 11/14
đóa, phang: “Dù chỉ hai thường dân mời nhau ăn bữa cơm, thì cũng không thể mời một cách khiếm nhã như thế được”, thành ra giờ cuối đoàn Sài Gòn vắng Nguyễn Chánh Thi. Đến nơi, phía Mỹ hiện diện khá “hùng hậu”: ngoài Tổng thống Johnson , có Bộ trưởng ngoại giao Dean Rusk, Bộ trưởng quốc phòng Mac Namara, Trợ lý quốc phòng Mc Naughton, cố vấn trưởng đối ngoại Mc George Bundy, Bộ trưởng Nông nghiệp Orville Freeman, Bộ trưởng Y tế Giáo dục và Phúc lợi John Gardner, các tướng Earle Wheelr, W.Westmoreland, Maxell Taylor, Đô đốc Grant Sharp và các đại sứ: Henry Cabot Lodge, Averell Hamman và Leonard Unger. Nguyễn Chánh Thi nhận định Thiệu, Kỳ qua họp chỉ để nhận “chỉ thị” về “Mỹ hóa” cuộc chiến Việt Nam. Còn Nguyễn Cao Kỳ viết trong hồi ký là tại hội nghị, Johnson đã “chấm dứt lắng tai nghe” diễn văn của Kỳ. Khi Kỳ dứt lời “Johnson đã vươn mình về phía tôi” và khen “Thật hay, thủ tướng đã nói giống như một người Hoa Kỳ” (!!!). Kỳ viết: “Tôi thích Johnson và ngay từ lúc đầu chúng tôi đã ý hợp tâm đầu”. Phần Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Hữu Có ngồi hai bên Kỳ, đối diện với Johnson, họ chủ yếu gật, hoặc lắc, đôi lúc tỏ đồng tình bằng cách…nhoẻn cười! Báo chí Sài Gòn thời đó “điểm tin Honolulu” viết là “Johnson cưng chiều Kỳ quá” đến nỗi trong bữa cơm trưa, Johnson dành phần lớn thời giờ đàm đạo với Kỳ, còn quốc trưởng Nguyễn Văn Thiệu phải chịu cảnh ngồi rờ râu cằm ngó trần nhà! Vào đêm cuối cùng của hội nghị, Johnson mời Kỳ- Thiệu với Westmoreland uống vài ly. Sau đó, theo Kỳ, Johnson nói nhỏ: “Mời Thủ tướng đến phòng ngủ của tôi độ vài phút…” Đóng cửa lại, Johnson nói nếu Kỳ không thấy trở ngại thì Phó Tổng thống Hubert Humphrey cùng đi với Kỳ về Việt Nam. Đây là điều khiến Kỳ ngạc nhiên vì không có mặt Humphrey tại đó. Johnson điện về Hoa Thịnh Đốn bảo Humphrey đến Honolulu ngay. – Humphrey sẽ có mặt ở đây trước khi máy bay của thủ tướng cất cánh. Humphrey và Nguyễn Cao Kỳ xuất hiện bên nhau tại cầu thang máy bay trước mắt công chúng. Đó là hình ảnh đầy “tính hợp tác Việt – Mỹ” có công năng thông báo nhanh chóng đến dư luận sự ủng hộ của chính phủ Johnson đối với “nội các chiến tranh” của Kỳ. Về Sài Gòn, Kỳ cấp tiền cho 4 vùng chiến thuật biểu tình hoan hô thành quả Honolulu. Đến 19.2 Kỳ gửi công điện cho biết sẽ ra thăm các “chiến lợi phẩm”. Thi trả lời: “Vùng 1 không có gì để triển lãm” và cũng không tổ chức hoan hô “Lulu”. Từ Sài Gòn, Nguyễn Cao Kỳ điện đàm với tư lệnh sư đoàn 1 bộ binh là Nguyễn Văn Chuân tìm người thay thế Nguyễn Chánh Thi. Nguyễn Văn Chuân đâm thọc sao đó để đại tá Nguyễn Văn Thiện bị cách chức thị trưởng Đà Nẵng trước. Thi tính sau. Đại tá Thiện cho biết như vậy tại lễ bàn giao; người nhậm chức tân thị trưởng là bác sĩ Nguyễn Văn Mẫn. Ông thị trưởng này rất bực mình với danh xưng “chính phủ của dân nghèo” do Nguyễn Cao Kỳ làm “thủ tướng”. Buổi ra mắt chính phủ này, các “bộ trưởng” tổng ủy viên ăn mặc áo ngắn tay, tỏ rõ quyết tâm làm “cách mạng”. Họ kéo lên Đà Lạt họp tại Dinh số 1, bàn bạc chương trình hành động biện minh cho sự có mặt của quân Mỹ và “đồng minh” ngày càng đông tại miền Nam. Cuối buổi 12/14
họp, ăn cơm xong, bàn ghế được dọn dẹp để các thành viên “chính phủ của dân nghèo” nhảy đầm. Nguyễn Chánh Thi thuật lại: buổi đó một số “gái gọi” được đưa đến “để hầu các tướng lãnh” (chữ Thi dùng). Thị trưởng Mẫn muốn chơi “thủ tướng” của cái chính phủ “nghèo” đó, nên hôm Kỳ ra thăm Đà Nẵng vào 1.3.1966, đã mời Kỳ một bữa cơm đạm bạc đúng nghĩa tại Tòa Thị chánh, Nguyễn Chánh Thi viết: “Ông thị trưởng là bác sĩ Nguyễn Văn Mẫn dường như cố ý cho Kỳ một bài học, nhất định đãi một bữa cơm đơn sơ, nhất định không đem rượu cho Kỳ uống (mặc dù Kỳ đòi phải có rượu uống trước khi ăn cơm). Đã thế, ông còn buông một câu làm Kỳ tím mặt: “Chúng tôi theo gương “chính phủ của dân nghèo” xin thủ tướng hiểu cho! Đợi cho Kỳ thấm thía, bác sĩ Mẫn hỏi tiếp: -Thiếu tướng ra kỳ này chắc phải có tin mừng cho chúng tôi? Cao Kỳ nói: “-Hôm nay, Hoa Kỳ vừa chấp thuận 4,8 tỷ Mỹ kim cho chiến tranh Việt Nam, và họ hứa sẽ ủng hộ tôi hết mình”. Nghe vậy, ông Thi “kê tủ đứng” vào miệng Kỳ mấy câu, như: “Tiền của ấy chỉ tăng thêm chết chóc, tăng thêm đĩ điếm, tham nhũng, rác rưởi…”. Ngồi lặng một lúc, Kỳ đốp lại: “Nếu anh (Nguyễn Chánh Thi) có ý nghĩ như thế, tôi đề nghị anh cầm đầu một phái đoàn đi ngoại quốc xem sao”. “Đi ngoại quốc” trong tình huống đó là tín hiệu bị thất sủng, sắp mất quyền: Ông Thi biết Kỳ không dọa chơi. Bữa ăn tiếp tục lạnh nhạt, buồn nản. Kỳ ngó lảng đi nơi khác, nhưng tâm ý chắc hẳn vẫn chăm chăm đến chuyện trả đũa thị trưởng Mẫn và bãi chức Thi. Chả thế mà vài tháng sau, khi cuộc đấu tranh miền Trung nổ lớn, báo chí hỏi Kỳ: – Nghe nói ông thị trưởng Đà Nẵng, bác sĩ Nguyễn Văn Mẫn là người Công giáo, nhưng lại giúp đỡ đồng bào Phật giáo miền Trung biểu tình chống Chính phủ Sài Gòn. Có thật thế không? Nguyễn Cao Kỳ trả lời đầy hằn học:“- Không cần biết. Chỉ biết rằng, một là chính phủ này sụp đổ, hai là tên thị trưởng Mẫn bị bắn chết!”. Nguồn: Nghiên cứu Lịch sử tổng hợp từ Một thế giới Hình: Trung tướng Nguyễn Khánh họp báo sau cuộc chỉnh lý ngày 30.1.1964 13/14
14/14
By The Observer January 6, 2017 Hồi ký tướng tá Sài Gòn xuất bản ở hải ngoại (P3) nghiencuuquocte.org/2017/01/07/hoi-ky-tuong-ta-sai-gon-xuat-ban-o-hai-ngoai-3/ Tổng hợp: Mai Nguyễn 11 – Nguyễn Cao Kỳ trước biến động miền Trung 1966 Đang còn đắng họng vì “bữa cơm của dân nghèo” không rượu không gái do thị trưởng Đà Nẵng bày ra khoản đãi để chửi khéo, Nguyễn Cao Kỳ lại bị thêm một vố đau khác trong chuyến thăm Huế vào ngày hôm sau 2.3.1966. Tại Huế, ông ta có buổi tiếp xúc với thân hào nhân sĩ và các đoàn thể nhân dân ở Tòa đại biểu chính phủ bên sông Hương. Không khí cuộc gặp mặt được hâm nóng bởi phát biểu “có lửa” của ông Hồng Dũ Châu: – Thưa thủ tướng “Chính phủ của dân nghèo” ra đời tại Sài Gòn đã 8 tháng nay. Suốt thời gian ấy chưa thấy làm được gì cho dân nhờ, chỉ thấy nay lệnh này mai lệnh khác trái ngược nhau, khiến chúng tôi bối rối không biết lệnh nào đúng mà thi hành. Gạo cơm tiếp tế cứ bị thiếu hụt mãi… Mặt ông Kỳ tái dần theo lời bài bác cái chính phủ quá “nghèo” do ông làm thủ tướng. Mà chính ông, khi đảm nhiệm chức vụ ấy cũng không tin mình làm tròn. Bằng chứng là 26 điểm trong chương trình hành động của “chính phủ” không thực thi được: “Tôi công nhận quá non không biết gì hết”. Ông tự xét mình một cách thảm hại với Trần Văn Đôn như thế và Đôn chép lại trong hồi ký của mình. 1/25
Rồi việc cho dựng 5 cây trụ trước chợ Bến Thành để lập “pháp trường cát” thi hành án tử hình, bị dư luận quở rằng bắn người công khai giữa chợ là vô nhân đạo nên phải dẹp. Nghĩa là nhiều chuyện đáng bị công kích, đánh đổ, nhưng thời gian đầu xem chừng vẫn sóng êm bể lặng. Nguyễn Cao Kỳ viết: “Ấy vậy mà chẳng có một âm mưu đảo chánh nào để lật đổ tôi hoặc một sự chống đối ầm ĩ nào cả. Có thể nào lại xảy ra trường hợp người không chuyên nghiệp đã thành công trong công việc mà người lành nghề đã bị thất bại chăng?”. Nay “người không lành nghề” ấy qua hội nghị Honolulu nhờ nhà chính trị “lành nghề” và “tâm đầu ý hợp” là tổng thống Johnson ra tay đạo diễn giúp nổi bật trên chính trường Sài Gòn. Nhưng đến Huế lại bị dân miền Trung chống đối, như ông Hồng Dũ Châu vạch: “Xin thưa thật với thủ tướng rằng chính phủ ông thật xứng đáng là chính phủ của dân nghèo vì sau 8 tháng ông cầm quyền, dân đã nghèo lại nghèo thêm”. Theo Nguyễn Chánh Thi, ông Kỳ không nén nổi cơn giận “quên cả cương vị thủ tướng của mình, xông ra ngắt lời ông Hồng Dũ Châu, sừng sỏ như sắp đi đánh lộn ở một tiệm nhảy đầm nào đó. – Ông là cái thớ gì mà dám nói với một vị thủ tướng chính phủ như thế? Đồ vô phép! Câm mồm! Mọi người hiện diện đều giận tím mặt. Nếu có ai hô lên một tiếng chắc Cao Kỳ không nguyên vẹn mà về lại Sài Gòn” Trước đó một ngày, ở Đà Nẵng, khi Kỳ hăm dọa Thi, trung tá Lê Ngọc Uyển (Quân vụ thị trấn) và đại tá Đàm Quang Yêu (chỉ huy trưởng biệt khu Quảng Đà) đã “gai mắt” muốn bắt giam Kỳ đột ngột chơi. Trung tá Uyển mở miệng gợi ý trước: – Cái thằng cao bồi này khó dung tha. Xin trung tướng (Thi) cho phép chúng tôi bắt nó nhốt lại, xem quan thầy nó cứu nổi nó không? Thi làm mặt nghiêm, ngăn Uyển. Nay ở Huế, Thi lại đứng ra “can gián đôi bên cho xong chuyện”. Thời điểm đó ở vị trí tư lệnh Quân đoàn I Vùng I chiến thuật, ông Thi đối diện trước cuộc đấu tranh đòi dân chủ chống Kỳ, Thiệu, Có (Kỳ lúc này đang “nổi” hơn Thiệu) của dân miền Trung. Tin tức liên quan đến việc Mỹ mở rộng chiến tranh, tướng Maxwell Taylor đề nghị tiến hành phong tỏa cảng Hải Phòng bằng mìn, Westmoreland đòi tăng mạnh tăng nhanh quân số Mỹ vào Việt Nam, đã khơi dậy ngọn lửa đấu tranh đòi hòa bình. “Phe đối phương” tập kích hàng loạt đồn bót dọc ranh giới vùng Bến Hải; súng nổ giao tranh khắp nơi từ Cam Lộ, Khe Sanh đến Mộ Đức, Đức Phổ. Xe jeep chở Thi trúng mìn trên đường đi Hội An khiến tài xế chết, một đại tá ngồi trên xe bị thương nặng. Thi may mắn thoát hiểm đâm ra nghĩ ngợi: “nhiều nguy hiểm đang chờ đợi mình”, mìn của “đối phương” gài hay của “phe ta”? Ông viết rằng tâm trạng ông những ngày tháng đó thật rối bời, vì bên ngoài quân “đối phương” đánh tơi bời, bên trong “toàn những phản bội rình rập (…) có 2/25
nhiều lúc tôi chỉ mong mình trúng quách một trái B40 cho nó…nhẹ nợ!”. Nhưng vẫn phải sống đến ngày Kỳ đạp ngã ông để dẹp đường đưa quân từ Sài Gòn ra bắn thẳng vào dân miền Trung tranh đấu. Kỳ viết: “Đến tháng 3.1966 (sau chuyến đi miền Trung xui xẻo kể trên của ông) đã xảy ra những cuộc biểu tình trong nhiều thành phố lớn, đặc biệt là ở Huế và Đà Nẵng (…). Những người Phật tử đòi tổ chức bầu cử tự do”. Điều mà ông Kỳ cho “tệ hại” và đáng lo ngại là binh sĩ của Quân đoàn I do ông Thi làm tư lệnh có thể từ chối không chịu đánh nhau với những người dân tham gia đấu tranh có vũ trang. Thậm chí báo cáo mật cho thấy dấu hiệu các chỉ huy cao cấp nhất của Quân đoàn I đang có xu hướng đứng về phía dân chúng nên nguy cơ binh biến thật sự chờn vờn trong giấc ngủ của Kỳ. Ông ta nhướng mắt về hướng Hoa Thịnh Đốn và phần nào yên tâm vì “người Hoa Kỳ ủng hộ hành động và các kế hoạch của tôi; đại sứ Lodge đã nhận thấy được là tôi không còn có cách gì khác hơn là phải củng cố chính phủ bằng biện pháp gạt ra ngoài những phần tử chống đối”. Qua hồi ký, khi kể lại giai đoạn đó, Nguyễn Cao Kỳ vẫn còn dùng những lời lẽ hậm hực, khích bác các thượng tọa lãnh đạo cuộc đấu tranh của Phật tử và khen “Tổng thống Johnson đã sáng suốt làm ra vẻ như không nghe những lời kêu gọi của họ”. Tuy vậy “họ” (những lãnh tụ đấu tranh) có lợi thế được tư lệnh các tỉnh miền Trung là Nguyễn Chánh Thi ủng hộ. Kỳ cho biết đã chăm chú theo dõi Thi từ lâu: “Hàng ngày tôi đều nhận được bằng chứng là thay vì duy trì trật tự tại vùng Huế – Đà Nẵng trong tình hình đang hết sức sôi động. Thi trái lại đã giúp đỡ cho những người Phật tử…” Kỳ không thể chịu đựng hơn nữa những hình nộm được dân chúng và thanh niên sinh viên học sinh dựng lên bêu rếu mình khắp nơi: “Tôi đã bị gán cho là bù nhìn của Mỹ và trên tường trong nhiều thành phố đã xuất hiện dòng chữ rất quen thuộc “Người Mỹ hãy cút đi!”. Hình ảnh “nhức mắt” đó xảy ra thường xuyên trên “lãnh địa” do Thi làm tư lệnh, Kỳ hạ bút: “Rõ ràng là Thi đang nuôi tham vọng muốn trở thành một lãnh chúa của thời xa xưa!”. 12 – Bị kết tội cát cứ miền Trung, cặp bài trùng “Nguyễn Cao Kỳ – Nguyễn Chánh Thi tan vỡ” 3/25
Cặp bài trùng Nguyễn Cao Kỳ – Nguyễn Chánh Thi Một dạo báo chí Sài Gòn gọi Nguyễn Cao Kỳ – Nguyễn Chánh Thi là cặp bài trùng trong “nhóm tướng trẻ”. Họ để râu, mặc quân phục, ảnh chụp xa xa trông giông giống nhau. Kẻ trước người sau lần lượt nắm hai binh chủng “anh em”: nhảy dù “anh cả đỏ” (Thi), không quân (Kỳ). Ngày ông Thi mưu đảo chính Ngô Đình Diệm vào 11.11.1960 đem lực lượng nhảy dù uy hiếp Sài Gòn, vây khốn dinh Độc Lập, chiếm Tân Sơn Nhất. Căn cứ không quân lọt phũm trong tay đại tá Thi – lúc đó Kỳ mới thiếu tá. Không may, ông Diệm – Nhu dùng kế “giả hòa”, hứa từ chức để lập chính phủ “đoàn kết quốc gia”, rồi ngầm sai quân phản công. Thi trúng kế, biết mặt trận sắp vỡ, rút khỏi các vị trí then chốt ở trung tâm “thủ đô”, chạy về căn cứ không quân gặp Kỳ, bảo: – “Kỳ, chúng tôi đã thất bại! Chúng tôi phải thoát khỏi nơi đây một cách nhanh chóng bằng không thì Diệm sẽ chém đầu chúng tôi!”. Phải có ngay một chiếc máy bay để nhóm Thi trốn sang Campuchia. Kỳ viết: “Tôi muốn giúp đỡ họ, lúc nào nhảy dù và không quân cũng rất thân thiết với nhau vì tính chất của công việc làm. Thế nhưng tôi không thể nào đích thân lái máy bay chở họ đi vì nếu làm thế, tôi sẽ không bao giờ trở lại Việt Nam được”. Làm sao đây? Kỳ cố tìm một lối thoát và sau “vài phút lưỡng lự” đã quyết định: “Tôi (Kỳ) “cho” ông ta (Thi) một chiếc DC3, thế là 15 người trong nhóm âm mưu đảo chính đã được trốn đi. Dĩ nhiên là tôi không bao giờ lấy lại được chiếc máy bay đó và Diệm đã tỏ ra nghi ngờ”. Phe Thi bắt giữ trung tướng Thái Quang Hoàng “tư lệnh biệt khu thủ đô” để làm con tin. Dinh Độc Lập lệnh hai phi cơ khu trục đuổi theo chiếc máy bay của nhóm Thi xem họ đi về 4/25
hướng nào. Đến biên giới Campuchia bắt kịp Thi, hai khu trục cơ điện về xin chỉ thị dinh Độc Lập có nên bắn hạ hay không. Lúc đó Nguyễn Khánh nghe bà Ngô Đình Nhu đứng bên cạnh la lên “Bắn rơi chiếc máy bay đó đi. Giết hết tụi nhảy dù phản nghịch!”. Khánh không đồng ý với bà Nhu, bảo bà ta với giọng bực dọc: “Tôi là tổng tư lệnh ở đây. Xin bà để tôi quyết định”. Và ông Khánh ra lệnh cho hai khu trục cơ quay về. Người ta thường nhắc đến chi tiết đó với lời khen Nguyễn Khánh bộc trực. Máy bay Thi do đại úy Phan Phụng Tiên lái xin hạ cánh xuống phi trường Pocheng Tong. Dưới đất điện hỏi: “Máy bay nước nào?”. Đáp: “Air Việt Nam”. Phía Campuchia yêu cầu cho biết chắc chắn danh tánh, xuất xứ, số hành khách và lý do hạ cánh. Không dài dòng bất tiện, dòm thấy phi đạo trống, họ quyết định không trả lời và liều lĩnh hạ cánh xuống phi trường Pocheng Tong. Đồng hồ điểm 13 giờ ngày 12.11.1960. Cơ quan an ninh cảnh sát Campuchia có mặt ngay, tịch thu súng đạn và tất cả mọi thứ, dẫn về khu trại vãng lai dành cho sĩ quan. Họ làm thủ tục tỵ nạn chính trị (3 năm) và thả trung tướng Thái Quang Hoàng quay về Sài Gòn vài ngày sau đó. Chiếc máy bay của Nguyễn Cao Kỳ đã “linh động” đưa Thi thoát đi nằm phơi mình trên đất Chùa Tháp như một gợi nhớ Sài Gòn xa xăm. Kỳ sau đó phải trả lời chất vấn của dinh Độc Lập. Ông ta đáp vì tình thế bắt buộc và bị binh lính vũ trang của Thi uy hiếp. Được thêm Đỗ Mậu che chở nên về sau việc ấy cũng êm. Đó là kỷ niệm thời trẻ của họ, năm ấy Thi mới 36 tuổi. Vào 1963, Thi về Sài Gòn. Đến 1964, họ nổi bật giữa “nhóm tướng trẻ”. Sang 1965, khi Kỳ làm “thủ tướng”, họ có khoảng cách…Đến 1966, Kỳ (và Thiệu) thực sự muốn “nhổ” cái đinh chướng mắt: Thi. Họ ra mặt cạch nhau. Báo chí đưa nhiều tin bài về sự vỡ đôi của “cặp bài trùng”. Tờ Tia Sáng chẳng hạn, đi tít lớn: “Tướng Kỳ nhất quyết hạ tướng Thi: khu trục cơ mang hỏa tiễn bay rợp trời Sài Gòn yểm trợ cho đề nghị cách chức tướng Thi của ông Kỳ!”. Việc xảy ra tháng 3.1966 theo tóm lược dưới đây: Bệnh “đau mũi” rất dễ lây trong bầu khí thanh trừng của Sài Gòn 1966 Nhóm Kỳ (và Thiệu) giăng bẫy sẵn tại Sài Gòn, ngày 9.3.1966 “đạt” giấy mời Nguyễn Chánh Thi rời miền Trung vào họp. Trước đó trùm CIA Rib Robinson đến văn phòng ông Thi nói thẳng những “ghi nhận” không lành về ông, như: tinh thần “chống Mỹ” ngày càng rõ (chống hội nghị Honolulu), làm ngơ và khuyến khích dân miền Trung bất hợp tác với “chính quyền trung ương” ở Sài Gòn để mưu cát cứ Huế, Đà Nẵng… Vì vậy Thi biết chuyến đi này được Mỹ và Sài Gòn bàn trước. Đến Bộ tổng tham mưu lúc 9 giờ 30 sáng 10.3, nhiều xe thiết giáp đậu sẵn ngoài cổng, máy bay gầm rú trên không, Thi viết: “Tôi phản ứng lại còn kịp, nhưng không muốn…”. Vào phòng họp, Nguyễn Hữu Có nã ngay: – Từ ngày anh Thiệu, anh Kỳ lên cầm quyền, ông Thi đã gây quá nhiều rắc rối. Mệnh lệnh của trung ương, ông không thi hành. Lê Nguyên Khang, Nguyễn Bảo Trị …nói hùa theo để Nguyễn Cao Kỳ đứng lên “gút”: – Tôi hết chịu nổi rồi! Nếu quý vị còn tín nhiệm tôi thì ông Thi phải ra đi. Một là ông Thi đi, hai là tôi đi. 5/25
Đi đâu? Một là “đi” khỏi chức vụ đương nhiệm. Hai là đi ra nước ngoài “chữa bệnh”. Cả “hai thứ đi” đó phải diễn ra tương tục, không gián đoạn, và phải được “hội đồng tướng lĩnh” thông qua. Nguyễn Cao Kỳ nêu ý kiến “bỏ phiếu kín”(!). Tới đó, Thi đứng dậy, bước khỏi phòng họp. Mặc kệ họ! Sáng hôm sau 11.3, Thi ra ngoài phi trường Tân Sơn Nhất định về lại Đà Nẵng. Nhưng vừa tới sân bay đã thấy Nguyễn Hữu Có, “tổng ủy viên quốc phòng”, đích thân chỉ huy một đám lính, giơ súng chặn Thi lại, buộc phải quay về Bộ tổng tham mưu. Về đó có Nguyễn Văn Thiệu chờ sẵn tại cửa phòng Cao Văn Viên, miễn cưỡng bắt tay Thi và nói: – Thôi, toa chịu khó ở lại đây vài hôm. Hình như Mỹ đã bằng lòng mời toa đi “chữa bệnh” kia mà! Ai đứng ra “mời”? Ngay ngày hôm đó, Nguyễn Ngọc Loan và Văn Văn Của mang bức thư của tướng Westmoreland đến trao Thi, nội dung: “Dear General Thi, I understand that you are interested in securing medical attention in the United States…” (Tướng Thi thân. Tôi được biết ông đang quan tâm tới việc được khám bệnh tình tại Mỹ nên tôi nghĩ ông có thể hoan hỉ đón nhận lời mời của tôi (để rời Việt Nam đến Mỹ) nhân danh Ngũ Giác Đài để được khám bệnh tổng quát và chữa trị cần thiết. Nếu đề nghị này được ông đồng ý, xin nhắn lại cho tôi được rõ và tôi sẽ dàn xếp ngay mọi việc cần thiết. Thành thật cùng ông. Ký tên: Tướng Westmoreland). Như vậy đã quá rõ, Mỹ trực tiếp “mời” đi. Trước nơi giam lỏng Nguyễn Chánh Thi ở số 9 đường Gia Long (nay là đường Lý Tự Trọng) luôn luôn có xe quân cảnh Mỹ túc trực. Ba ngày sau khi nhận thư Westmoreland, Phạm Văn Liễu (quen với Thi hồi lưu vong ở Campuchia) dẫn đại tá Sam Wilson và ông Ted Britton đến gặp Thi. Đó là ba người mà ông Thi cho “có thể đối thoại được”. Họ bảo tướng Westmoreland viết thư trên theo “yêu cầu của Nguyễn Cao Kỳ” và gợi ý ông Thi thử về miền Trung một chuyến trước khi qua Mỹ? Ngày 15.3, Kỳ đồng ý để Thi về thăm Đà Nẵng, Huế. Tình hình miền Trung lúc đó sôi bỏng, Kỳ – Thiệu tung tin “Nguyễn Chánh Thi là đầu mối của biến động” và cần phải “trừ đầu mối ấy đi”. Khoảng nửa tháng sau, khi phong trào đấu tranh dâng cao, Kỳ tuyên bố: “Huế và Đà Nẵng bị cổng sản chiếm đóng!”. Lần này với lối “chụp mũ cối” to tướng đó, Kỳ đang manh tâm chuẩn bị nổ súng thẳng vào mặt dân chúng miền Trung. Quả vậy, ngày 4.4.1966 Kỳ thử cho quân đổ bộ ra Đà Nẵng bằng máy bay nhưng đồng bào phẫn nộ chắn bít các lối vào thành phố. Nguyễn Hữu Có cấp tốc “bay ra” định bụng đàn áp bằng súng đạn, nhưng không hiểu vì đâu lại “bay vào” Sài Gòn ngay. Kỳ phải nhờ Mỹ chở quân lùi về, đóng tại Chu Lai. Viên tướng chỉ huy Nguyễn Văn Chuân chuồn mất (về Sài Gòn), Kỳ và Thiệu đưa Tôn Thất Đính ra thay, ai dè đến Huế, ông Đính tuyên bố chống Thiệu – Kỳ nảy lửa. Hồi ký Nguyễn Chánh Thi ghi lại phát biểu của Tôn Thất Đính với dân Huế nguyên văn: 6/25
– Chúng ta phải xiết chặt hàng ngũ, phải cắt cổ những thằng Việt gian bán nước, những tên thời cơ, lừa thầy phản bạn ở Sài Gòn. Chúng nó là lũ tôi tớ ngoại bang, chỉ biết lừa gạt đồng bào và nói láo với quan thầy… Nghe Tôn Thất Đính tuyên bố, ông Hồng Dũ Châu bảo nhỏ với ông Thi: “Coi bộ không ổn rồi! Thái độ ông Đính thế này thì tất Sài Gòn không tha chúng ta đâu!” Ông Đính nhận lệnh triệu về Sài Gòn để “họp”. Biết hễ về là nguy, nên ông Đính không thi hành. Nguyễn Chánh Thi viết: “Có lẽ bị ông Đính làm cho điên đầu, Sài Gòn lại tìm cách thương lượng với tôi” và nhờ đại tá Phạm Văn Liễu, trung tướng Phạm Xuân Chiểu ra miền Trung đưa thư tay của Kỳ. Thư mở đầu: “Anh Thi thân mến, sau một thời gian tĩnh dưỡng ngoài đó, tôi tin rằng sức khỏe của anh chắc được dồi dào hơn. Hôm nay, bệnh mũi của anh chắc được đỡ nhiều…”. Thi tức giận bảo viên tướng đưa thư: – Bệnh mũi? Tôi có đau mũi bao giờ đâu? Hắn tự bịa ra những chuyện kỳ quái như thế mà nghe được à? Không có “bệnh mũi” vẫn phải bệnh khác để “đi” Mỹ chữa! Thi vò nát thư, liệng xuống đất. Đồng bào miền Trung đòi bắt Chiểu làm con tin. Chiểu hốt hoảng lên máy bay chuồn về Sài Gòn. Đến nước đó, Kỳ bộc lộ toàn vẹn tính hung hãn võ biển, đưa quân tập kích vào Đà Nẵng với sự yểm trợ của máy bay và xe tăng phun lửa… 13- Cuộc họp bí mật trước giờ tập kích miền Trung Đoàn thanh niên Đà Lạt tuyên thệ quyết tử năm 1966 Như đã nói trung tướng Tôn Thất Đính – người theo đạo Phật được cử nắm trọng trách tại miền Trung với hy vọng đối thoại dễ dàng hơn cùng các lãnh tụ Phật giáo để làm dịu tình hình. Nhưng đến Huế, tướng Đình đã khuấy nóng “chảo lửa” này lên bằng những lời công kích và 7/25
hạch tội Thiệu – Kỳ – Có! Ông bỏ nhiệm sở, chống lại lệnh gọi về Sài Gòn và chạy thẳng vào Bộ tư lệnh thủy quân lục chiến Mỹ ở Đà Nẵng xin tỵ nạn chính trị. Cay cú, Kỳ và Thiệu bèn chỉ định tướng Huỳnh Văn Cao là tín đồ Công giáo ra Trung thay. Tới nơi, thấy đông đảo quân nhân và công chức ly khai hoặc lãn công chống đối nhà cầm quyền Sài Gòn. Cao bất lực bỏ doanh trại chạy luôn về Bộ tư lệnh thủy quân lục chiến Mỹ ở Đà Nẵng xin tá túc y hệt …tướng Đính! Chỉ huy trưởng của Bộ tư lệnh Mỹ nói trên là thượng tướng Lewis W.Walt, đồng thời làm cố vấn Quân đoàn I, sau này phản ứng gay gắt với Nguyễn Cao Kỳ trong những giờ đầu Kỳ triển khai cuộc tập kích đàn áp miền Trung. Ông ta không khỏi bất ngờ vì chỉ trong một thời gian ngắn mà phải đón đến hai tư lệnh “tháo chạy tán loạn”: Tôn Thất Đính và Huỳnh Văn Cao. Tiếp đó miền Trung gần như “vô chính phủ”, theo lời các cơ quan truyền thông đại chúng lúc bấy giờ gọi. Ngoài đường và trong các khu phố xuất hiện lực lượng “quyết tử” chống chế độ Sài Gòn. Đã có nhiều tín hiệu “bất an” đối với Thiệu – Kỳ trước khi xảy đến tình trạng đó, như cuộc chiến tranh của Phật tử, lực lượng thanh niên sinh viên học sinh (SVHS) yêu nước bùng nổ dữ dội tại Huế và Đà Nẵng ngày 24.3.1966. Hôm sau 25.3, tại Sài Gòn, sinh viên trường Hồng Lạc bãi khóa, xuống đường, vây đài phát thanh với sự tham gia của đông đảo thanh niên từ ngã bảy kéo về hỗ trợ. Đúng một tuần sau, vào 31.3, hơn 10.000 người mở phiên xử và đốt hình nộm của Thiệu – Kỳ ngay “pháp trường cát” do chính Kỳ dựng lên trước chợ Bến Thành. Cơn sốt chính trị rõ ràng lan rộng vào các thành phố phía Nam. Kỳ ghi nhận: “Bầu không khí căng thẳng ở Sài Gòn đã lên cao. Người ta tổ chức biểu tình hằng ngày ở Sài Gòn và Chợ Lớn (…). Khoảng 2.000 người ngồi một cách kiên nhẫn trong 3 giờ đồng hồ trước Viện hóa đạo để nghe thuyết pháp” và cổ xúy đấu tranh chẳng hạn. Riêng phía thanh niên SVHS thời đó, dựa nhiều nguồn tư liệu và mới đây nhất là cuốn Sơ thảo lịch sử phong trào học sinh – sinh viên Việt Nam và Hội Sinh viên Việt Nam 1945 – 1998 do Nhà xuất bản Thanh Niên (Hà Nội 1999) ấn hành thì: trước làn sóng đấu tranh của thanh niên và nhân dân, Thiệu phải tuyên bố tình trạng chiến tranh và ra lệnh đóng cửa các trường học vào ngày 4.4.1966. Nhưng những ngày tiếp đó, các trường đại học Y khoa, Dược khoa, Văn khoa, Khoa học vẫn thay nhau mở hội thảo chống đàn áp đồng bào miền Trung. Nguy hiểm cho Thiệu – Kỳ là phong trào bắt đầu xuất hiện công khai khẩu hiệu: US go home! (Mỹ hãy cút về nước!) ngay trước tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn trong cuộc biểu tình đông ngót 100.000 người ngày 1.5.1966. Khẩu hiệu kẻ bằng sơn trắng trên lòng đường chạy ngang trước tòa đại sứ. Cuối tháng đó, Tòa lãnh sự Mỹ ở Huế nằm trên đường Đống Đa bị SVHS Huế đốt cháy rụi. Tại sân chùa Linh Sơn (Đà Lạt) vào thượng tuần tháng 5.1966 đã mở “phiên tòa” xử Johnson và McNamara về tội tăng cường chiến tranh Việt Nam cũng như ủng hộ Thiệu – Kỳ đàn áp Phật giáo đồ và SVHS yêu nước; đốt hình nộm của “hai tội phạm chiến tranh” trên! 8/25
Xu thế chống Mỹ lan khắp Huế – Đà Nẵng – Sài Gòn – Đà Lạt…khiến Hoa Thịnh Đốn lo ngại. Ngay trước khi điều đó bùng nổ, người Mỹ đã xót ruột muốn Thiệu – Kỳ phải nhanh chóng “giải quyết vấn đề nội bộ” nếu không sẽ “xét lại” thái độ của Mỹ về đường lối hiện hành. Nguyễn Cao Kỳ điểm: “Từ mồng 9 đến 20.4, tại Nhà Trắng có 5 phiên họp được triệu tập một cách khẩn trương vì cuộc khủng hoảng ở Nam Việt Nam và tại các phiên họp này, các thành viên trong chính quyền Mỹ đã duyệt xét lại các đường lối hành động mà Hoa Kỳ còn có thể áp dụng được”. Đang bị phía Mỹ chăm chú quan sát và đang lúng túng vì “sự cố” do các tướng Thi, Đính, Cao và thị trưởng Mẫn gây ra làm vướng tay chân, Thiệu – Kỳ lại choáng váng trước tin tướng Nhuận, Tư lệnh Sư đoàn I bộ binh, công khai đi theo phong trào tranh đấu, lôi cuốn binh lính dưới quyền cầm súng gia nhập đội ngũ “quyết tử” miền Trung, khiến các cố vấn Mỹ “cảm thấy nghẹn ngào vì bất thình lình họ bị lâm vào tình trạng phải cố vấn cho những quân nhân quyết tâm muốn lật đổ chinh phủ mà người Hoa Kỳ đã cam kết ủng hộ”. Nguyễn Cao Kỳ viết tiếp: “Một sư đoàn bộ binh (của tướng Nhuận) đã thực sự liên kết với những người Phật tử. Những lực lượng thuộc đặc khu Quảng Đà (của đại tá Đàm Quang Yên) cũng vậy”. Ông ta lo ngại: “Rồi đây họ sẽ tuyên bố vùng này (miền Trung) là một vùng tự trị”. Đài phát thanh, các cơ sở của thị xã và tổng hành dinh quân đội ở Đà Nẵng bị lực lượng tranh đấu chiếm giữ. Tình trạng cũng xảy ra cùng lúc ở nơi khác như Huế. Đặc biệt là sự kết hợp giữa “lực lượng tranh đấu” với cán bộ “Việt Cộng” trong hoạt động lật đổ chế độ Sài Gòn và đòi “Mỹ cút”, như nhận định của Cyrus L.Sulzberger: “Từ hai ngả khác nhau, những người Phật tử và Cộng sản đã gặp nhau tại ngã ba đường và bây giờ họ đã cùng nhau đi chung lối”. Nguyễn Cao Kỳ dẫn lời Sulzberger gọi biến động của Huế và Đà Nẵng là bệnh ung thư cần được “giải phẫu” gấp, nếu không “sẽ sụp đổ”. Lời báo động đó và sự thèm muốn được thể hiện quyền lực “trung ương” của mình đẩy Kỳ đi nhanh đến quyết định dùng hung khí để “mổ thịt” miền Trung. Nhằm giữ bí mật, Kỳ triệu tập các chỉ huy quân sự trung thành họp lúc 3 giờ sáng ngày 14.5.1966 để phổ biến kế hoạch tập kích Đà Nẵng. Theo lời Kỳ, cuộc tập kích huy động lực lượng quân sự hỗn hợp được phác thảo âm thầm và kín đáo bởi “một mình tôi” (!). Ông ta giao quyền chỉ huy hành quân cho viên tướng Tổng tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn. Những đơn vị chỉ định tham dự tập kích bay ra Đà Nẵng trong đêm tối, lúc các lực lượng “quyết tử” đang còn ngủ. Yếu tố bất ngờ giúp mũi tiên phong của quân nhảy dù và thủy quân lục chiến lọt vào nội thành trước khi trời sáng. Người Mỹ ở các vị trí cố vấn kinh hoàng khi phát hiện một lực lượng đặc biệt của “quân đội Sài Gòn đang tấn công quân đội Đà Nẵng”. Tướng Lewis W.Walt “tỏ ra giận dữ trước cuộc tấn công trên vùng lãnh thổ mà Walt tự cho là mình chịu trách nhiệm nhưng không được biết trước”. Lúc đó, binh lính ly khai của Quân đoàn I đang hướng nòng pháo đến căn cứ không quân Đà Nẵng chực nhả đạn về phía máy bay đang đáp xuống… 14 – Nguyễn Ngọc Loan và Huỳnh Văn Cao trước cuộc đọ sức giữa bàn thờ và xe bọc thép 9/25
Nguyễn Cao Kỳ viết : “Một số binh sĩ thuộc Quân đoàn I đi theo những người Phật tử đã thực sự chĩa pháo của họ về phía căn cứ không quân Đà Nẵng khi máy bay của chúng tôi đáp xuống và đã đe dọa cho nổ súng.” Từ trên cao, máy bay phe Kỳ quần thấp nhiều vòng quanh căn cứ pháo binh của quân đội ly khai để “thả xuống một thông điệp” đanh thép, đại ý bảo rằng nếu dưới đất phát pháo, “không đoàn máy bay khu trục và ném bom” sẽ hành động trả đũa bằng cách oanh kích san bằng căn cứ. Xa xa, ngoài vòng đai sân bay, tiếng súng giao tranh nổ vang trên đường phố Đà Nẵng vọng đến tận bãi biển Honolulu, đánh thức tướng Westmoreland trong tuần nghỉ phép hiếm có. Ông được Washington báo tin tướng Kỳ vừa xua lực lượng đặc nhiệm từ Sài Gòn ra Đà Nẵng tập kích. Và lính nhảy dù, thủy quân lục chiến, có xe tăng yểm trợ đã tiến chiếm đài phát thanh, tòa thị trưởng, sở chỉ huy quân đoàn và các địa điểm then chốt. Trước diễn biến nóng bỏng đó, Westmoreland được lệnh ngưng ngay đợt nghỉ phép với gia đình trước thời hạn. Bộ trưởng Quốc phòng McNamara yêu cầu ông tức tốc về lại Sài Gòn vào ngày 20.5.1966, khi cuộc tập kích đã qua giai đoạn mở đầu. Ông ghi chép nhiều sự việc trước và sau khoảng thời gian ấy trong hồi ký xuất bản năm 1975 tại NewYork. Trong đó có các chi tiết liên quan đến xung đột giữa Nguyễn Ngọc Loan, Tổng giám đốc Cảnh sát quốc gia của chế độ Sài Gòn và Huỳnh Văn Cao, Tư lệnh Quân đoàn I, quanh quyết định tấn công chùa chiền và đạp đổ “bàn thờ Phật xuống đường”. Westmoreland viết là vào lúc Huế, Đà Nẵng lâm vào tình trạng gần như “vô chính phủ”, Huỳnh Văn Cao vẫn làm Tư lệnh Quân đoàn I về danh nghĩa . Theo Westmoreland, thâm tâm Cao không muốn nhậm chức tại vùng đất đang sôi sục ngoài Trung. Một lần Cao “chấp nhận” bay ra Huế trên chiếc trực thăng cùng phụ tá cố vấn cao cấp Arch Hamblen, Cao cố gắng thuyết phục một cách yếu ớt các sĩ quan Sư đoàn I và sinh viên học sinh Huế lại là Phật tử. Gia đình họ theo Phật giáo lâu đời, cha mẹ anh chị em và bà con họ đang tham gia đấu tranh chống Thiệu – Kỳ, đòi bầu cử dân chủ, nên lời nói của Cao còn khoảng cách rất xa mới đến được “bàn thờ Phật”. Cao và cố vấn Hamblen quay về Đà Nẵng. Westmoreland thuật : “Sắp lên máy bay thì một đám đông khoảng 100 sinh viên và lính tráng ùa tới. Chiếc trực thăng khởi động chực nhích khỏi mặt đất thì một sĩ quan Nam VN cấp bậc trung úy rút khẩu súng cỡ 45 bắn hai phát vào cánh quạt đằng đuôi máy bay. Lính Mỹ gác súng máy ở cửa máy bay, theo hiệu lệnh của cố vấn Hamblen, liền nổ súng giết viên trung úy Nam VN. Mặc dù bị hư hỏng, chiếc trực thăng vẫn được viên phi công cố lái vượt thoát lên rồi tìm cách hạ xuống bên ngoài thành phố để chuyển những người đi trên máy bay sang chiếc trực thăng hộ tống”. Cao hiện rõ lo lắng trên chuyến bay về Đà Nẵng, có lẽ tái xanh mặt vì chuyện vừa rồi, khiến Westmoreland ấn ngòi bút nhiếc: “Cao quá tồi!”. Về Đà Nẵng, Nguyễn Ngọc Loan bấy giờ được Kỳ cử ra miền Trung chỉ huy cảnh sát “chống nổi loạn” đã bất thần tự tung tự tác hạ lệnh tấn công các chùa chiền mà Loan cho rằng nằm trong tay “bọn ly khai” có vũ trang. Các đợt 10/25
tấn công rất ác liệt do không quân đảm nhiệm mà Nguyễn Chánh Thi lúc đó đang có mặt ngoài Trung ghi nhận là khó mà đếm hết một lượt số “chùa chiền và nhà cửa bị trúng bom cháy rụi!”. Quyết định Nguyễn Ngọc Loan khiến Cao ức lắm. Vì Cao là người Công giáo, sợ rằng tấn công chùa sẽ khơi dậy lời đồn “đàn áp tôn giáo”. Nên lúc đầu, Cao dè dặt, tránh né và từ chối ra lệnh tấn công đó. Thế mà Loan dám làm. Cuộc xung đột của Cao và Loan dẫn đến cãi vã tay đôi tại một địa điểm chỉ huy của Quân đoàn I. Hồi ký Westmoreland kể : “Cố vấn Hamblen “đã nhìn qua cửa sổ thấy Loan đang chống nạnh tranh luận hùng hổ với Cao trong khi các sĩ quan đi đi lại lại, một người khác đứng sau Cao đang vung một khẩu súng lục gần đầu Cao (ý chừng sắp bắn), Hamblen chạy vội lại …. Về sau Cao nhắc việc Hamblen cứu mình thoát chết”. Cao xin tỵ nạn chỗ tướng Walt, hàng ngày ẩn mặt trong văn phòng Thompson, hầu như không làm gì ngoài cầu nguyện. Ông chỉ tin Chúa lòng lành trên cao kia, còn dưới đất, Westmoreland viết: “Cao nói ông không tin người Việt Nam nào, trừ vợ ông” (!!!). Thế người Mỹ? Cao phó mặc cố vấn Hamblen thay mình mọi sự, quá là hợp lý. Westmoreland: “Cứ để Cao ẩn náu trong sở chỉ huy của Mỹ, đồng thời về danh nghĩa cứ để ông ta làm tư lệnh Quân đoàn I là có lợi vì nó cho phép Arch Hamblen thực tế nắm quyền chỉ huy Quân đoàn I” (!). Khi Cao lọt hẳn sau cánh lá chắn của sở chỉ huy Mỹ, Loan ở bên ngoài mặc tình tiếp tục đánh phá chùa chiền , đàn áp Phật tử, sinh viên học sinh, thỏa tính hung hãn. Loan là tay hiếu sát mà sau này người ta gớm mặt, khi Loan tự tay giương súng bắn vào đầu tù binh trên đường phố Sài Gòn đầu xuân Mậu Thân 1968. Còn dạo đó, theo Tiếng hát những người đi tới “Báo Thanh Niên – Báo Tuổi Trẻ – Nhà Xuất Bản Trẻ 1993): “lần đầu tiên ngày 7.6.1966, đồng bào Phật tử Huế huy động nhà nhà đưa bàn thờ xuống đường làm chướng ngại vật. Biện pháp này gây xúc động tâm lý trong nhân dân, nhưng đối với bọn Nguyễn Ngọc Loan thì không ăn thua gì. Y ra lệnh cho xe tăng …tới luôn!”. Kết quả cuộc đọ sức giữa các bàn thờ bất động với xe bọc thép, dĩ nhiên lư hương, tượng Phật phải ngã lăn lóc bên đường. Về phía Mỹ, Washington đã chỉ thị cho tướng Walt phải giữ “thái độ trung lập” đối với hai phe “nội chiến”. Nhưng thật khó giữ điềm tĩnh trong cảnh lửa bỏng và cuộc va chạm đầu tiên giữa thủy quân lục chiến Mỹ với binh lính Nam Việt Nam xảy ra đến bên bờ sông Hàn vào ngày 18.5.1966 khi khối chất nổ lớn được cài dưới chân cầu với lời đe dọa sẽ kích hỏa để diệt một toán quân Mỹ sắp ngang qua. 15 – Hai cuộc chạm trán của tướng Walt với tư lệnh hai phe “nội chiến” 11/25
Thủ tướng Nam VN Nguyễn Cao Kỳ (trái) tham dự lễ tấn phong Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao (phải) là chỉ huy quân sự mới để trấn áp nổi loạn tại Đà Nẵng, ngày 18.5.1966 Lẽ nào quân ly khai đóng bên kia cầu lại đi khiêu khích lính thủy đánh bộ Mỹ gác bên này sông Hàn? Họ không dại gì làm như thế. Để tìm hiểu nguyên do và làm dịu bớt “khối chất nổ”, tướng Walt quyết định đích thân ra giữa cầu gặp tư lệnh quân ly khai, nói “lập trường trung lập” của Mỹ và thuyết phục hãy gỡ bỏ chất nổ cài sẵn dưới chân cầu. 16 – Miền Trung: “con rắn khổng lồ” trong ác mộng của Nguyễn Cao Kỳ 12/25
Tướng Westmoreland cùng tổng thống Mỹ Lyndon Johnson trong chuyến viếng thăm Nam VN tháng 10.1966. Đón tiếp là trung tướng Nguyễn Văn Thiệu và thủ tướng VNCH Nguyễn Cao Kỳ Bầu trời yên tĩnh lại sau khi máy bay chiến đấu của phe Kỳ quay về căn cứ và tướng Walt cũng lệnh đội phản lực của mình thôi bay. Họ ngưng lườm nhau để cùng nhìn về một hướng: nơi cuộc khủng hoảng lan rộng thành đợt đấu tranh chính trị kéo dài 100 ngày, từ tháng 3 đến quá tháng 6.1966 Hơn 3 triệu 30 vạn lượt người thuộc 4 thành phố lớn và 29 thị xã của miền Nam xuống đường biểu tình, bãi khóa, bãi công, bãi thị liên tục. Theo Địa chỉ văn hóa thành phố Hồ Chí Minh (Trần Văn Giàu – Trần Bạch Đằng – Nguyễn Công Bình chủ biên) Sài Gòn có 800.000 người tham gia; toàn đợt bắt đầu từ việc phản đối Thiệu – Kỳ cách chức Nguyễn Chánh Thi, phát triển đến chỗ đòi lật đổ chế độ Sài Gòn, đòi quân Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam! Trong 33 thành phố, thị xã đứng lên; sôi sục mở đầu là Huế, Đà Nẵng. Dải đất ven biển miền Trung thành nỗi ám ảnh của Kỳ: – Theo tôi bờ biển miền Trung giống như một con rắn. Kỳ nói tiếp với Walt: “Tôi đã không muốn giết chết con rắn này, việc mà tôi có thể làm được nếu tôi tấn công Huế…” Huế, thành phố mà Westmoreland nhắc đến trong hồi ký A soldier reports (NXB Trẻ đã in một phần dưới nhan đề Tường trình của một quân nhân, trích bản dịch của Phòng khoa học Quân khu 9, không để tên người dịch. Chúng tôi sử dụng trích dẫn theo bản đó), với câu trả lời không chút do dự khi Tổng thống Johnson hỏi ông tại khách sạn Honolulu hồi đầu năm 1966 là “Nếu ông là cộng sản, sắp tới ông sẽ làm gì?”. – Chiếm Huế? Kế đó vào tháng 3.1966, lực lượng đặc biệt bị đánh bật khỏi thung lũng A Shau mở một cửa cho “đối phương” phóng tầm nhìn tiến về Huế. Khủng hoảng chính trị miền Trung ngăn cản việc xây dựng một sân bay gần Huế nhằm mục đích quân sự trong đó có việc chuyển quân, tiếp tế, bảo vệ cố đô khi bị tấn công. Ngưng xây vì “sân bay mới này đòi hỏi phải chuyển đi cả nghìn ngôi mộ. Đại sứ Lodge đã yêu cầu tôi hủy bỏ dự án này vì sợ các phần tử ly khai nắm lấy để kích động dư luận thêm nữa”. Đại sứ Lodge thấy mục tiêu của dân chúng và sinh viên học sinh trong đấu tranh không dừng lại chỗ “bênh vực tướng Thi” mà tiến xa tới khẩu hiệu “chống Mỹ” nên ông thận trọng và yêu cầu Westmoreland như trên. Westmoreland cũng biết điều đó. Ông ghi nhận chưa đầy 24 giờ sau khi tướng Thi bị cách chức, hàng ngàn thanh niên học sinh Đà Nẵng xuống đường biểu tình, đòi trả lại chức vụ cho Thi, thị trưởng Đà Nẵng đồng tình, không ngăn cản, tuy nhiên: “Điều đó (chỉ việc tướng Thi bị cách chức) không phải là nguyên nhân mà chỉ là cái cớ mà sinh viên và Phật giáo viện ra để châm ngòi nổ cho sự bất mãn của họ và tranh thủ cho sự ủng hộ đối với mục tiêu của họ là gạt bỏ chính phủ quân sự ở Sài Gòn”. 13/25
Và thành phố Huế là “nơi sinh viên đã chiếm Đài phát thanh của chính phủ, phát liên tục những lời tố cáo chính phủ. Các khẩu hiệu chống Mỹ bằng tiếng Anh nhằm khiêu khích gây những vụ xung đột với lính Mỹ xuất hiện trên các đường phố của hai thành phố (Huế và Đà Nẵng)”. Đòi Mỹ rút khỏi miền Nam là nội dung “chạm nọc” Westmoreland. Nữ sinh Nguyễn Thị Vân, 17 tuổi, học trường Bồ Đề, tự thiêu ngày 31.5.1966 tại Huế. Các cuộc đàn áp dữ dội những ngày sau đó không dập tắt hẳn ngọn lửa đấu tranh chuyền cháy về lâu dài nên Kỳ vẫn mơ “thấy rắn” mà Huế là “đầu rắn” (chữ Kỳ dùng trong hồi ký). Chắc hẳn Kỳ nhập tâm về chuyến ra Huế bị đại diện các đoàn thể nhân dân vạch tội đòi trị “cho biết tay”. Thêm tướng ba sao Phạm Xuân Chiểu do Kỳ phái ra bị sinh viên Huế “bắt sống” làm Kỳ nhức nhối. Phạm Xuân Chiểu mang lon thiếu tướng từ thời Ngô Đình Diệm. Ông được Trần Văn Đôn mời soạn thảo các kế hoạch hoạt động chính trị và văn hóa hồi “tiền đảo chánh 1.11.1963” . Từ năm 1956, ông Diệm hỏi Trần Văn Đôn: “Trong hàng ngũ tướng lãnh toàn là người Nam và người Trung. Không có người Bắc. Ông thấy thế nào?”. Lúc đó Phạm Xuân Chiểu là đại tá, người Bắc vào , ông Đôn đáp: “Tôi thấy người có khả năng nhất trong số các đại tá là ông Phạm Xuân Chiểu”. Sau ông Chiểu được phong tướng, làm tham mưu trưởng liên quân. Dầu ông Diệm không tin dùng như các tướng khác, nhưng Phạm Xuân Chiểu vẫn trụ được dưới triều Ngô qua những đợt thanh trừng lớn. Chừng đó thôi, Nguyễn Cao Kỳ đã bái huynh rồi. Khi Kỳ làm thủ tướng, xảy ra biến động ngoài Trung, phái ông Chiểu mang thư ra trao Nguyễn Chánh Thi, luôn tiện dò xem tình hình của “rắn”. Ai ngờ ra Huế chưa kịp thở, Chiểu bị đồng bào sinh viên học sinh bao vây, buộc xuống xe hơi, lên xe xích lô về “nghỉ ngơi” ở trụ sở của lực lượng sinh viên tranh đấu Huế” – bị quản thúc ở đó 3 ngày với sự canh giữ của sinh viên đấu tranh – và “sau khi được thả về Sài Gòn, bị mất chức Tổng thư ký hội đồng quân lực”. Nguyễn Cao Kỳ hẳn phải e dè với Huế sau những vụ như vậy. Huống gì, tại nơi mà Nguyễn Cao Kỳ cho là đang cố chứng minh “trái tim của phong trào tranh đấu” đã sớm tập hợp tiếng nói trí thức qua nhóm Việt Nam Việt Nam: “Mỗi cái chết đều chứa đựng một sự thật. Đã có hàng triệu người Việt Nam chết trong cuộc chiến tranh trên đất này; nên cũng có hàng triệu sự thật cần được nói”. Và sự thật làm Kỳ-Thiệu hoảng sợ là nhóm đã vạch rõ chính Mỹ và những “đồng minh” đưa quân vào Việt Nam đã gây cảnh chết chóc và miền Nam là “một xã hội bệnh hoạn lâu năm” cần được giải phẫu, cắt bỏ những khối u như chế độ của Kỳ và Thiệu. Để át những tiếng nói tương tự, Kỳ ra lệnh tiếp tục nổ súng. Ngày 20.5.1966, một số khu vực quanh Đà Nẵng tan hoang… 17 – Miền Trung với cuộc dàn trận của 2.000 quân ly khai chống Thiệu – Kỳ 14/25
Lính thủy đánh bộ Mỹ được sự yểm trợ của xe tăng trên chiến trường miền Trung 1966 Cuộc tập kích Đà Nẵng bằng lực lượng quân sự hỗn hợp được phác thảo bởi “một mình tôi” (!). Kỳ viết như vậy và nhấn mạnh: “Đây là một kế hoạch được giữ bí mật cho đến độ mà ngay cả tướng Thiệu tôi cũng không cho biết”. Đối với Mỹ, Kỳ cân nhắc có nên tiết lộ hay không và mãi đến giờ G người Mỹ vẫn chưa được thông báo gì cả. Lúc toán quân đầu tiên chạm cửa ngõ Đà Nẵng vào một đêm giữa tháng 5.1966 đại sứ Lodge không có mặt tại Việt Nam. Ông đang ở Mỹ. Đến khi nhiều vị trí then chốt mang tính chất quyết định thành bại của cuộc tiến quân lọt vào tay phe Kỳ, đại sứ Cabot Lodge mới quay lại Sài Gòn, nhằm 20.5.1966, tỏ lời hân hoan: – Tôi lấy làm vui sướng biết được thủ tướng (Kỳ) đã lấy quyết định hành quân ra miền Trung. Nếu thủ tướng không làm việc đó, có thể thủ tướng đã khiến cho tôi thất vọng. Vậy thì đại sứ Mỹ đã đặt “hy vọng” vào “thái độ cứng rắn” của Kỳ từ trước khi Kỳ “làm việc đó”. Nghĩa là ông Lodge ủng hộ giải pháp vũ lực nhằm dập tắt khủng hoảng ngoài Trung và nói ra rõ ràng để Kỳ yên tâm tiếp tục cuộc hành quân “bí mật”. Về phía Westmoreland, tư lệnh trưởng bộ chỉ huy viện trợ Mỹ tại Sài Gòn (MACV), đã “theo dõi chặt chẽ cuộc khủng hoảng” và tại sao bỗng rời Việt Nam đi nghỉ mát với gia đình tại bãi biển Honolulu chỉ một, hai ngày trước khi xảy ra cuộc tập kích? Hồi ký Westmoreland cho biết ông “đã bàn bạc thường xuyên với Thiệu” và nhiều người khác trong bộ máy cầm quyền của Sài Gòn. Tướng Walt, các cố vấn Arch Hamblen, Samuel Thomson … đều được tham khảo trực tiếp về diễn tiến của biến động ngoài Trung. Các nhân viên quân sự Mỹ được lệnh không được lai vãng vào Huế và Đà Nẵng để đề phòng bất trắc. 15/25
Westmoreland chỉ thị “cố vấn Mỹ và tất cả mọi phương tiện yểm trợ của Mỹ phải rút ra khỏi bất cứ đơn vị nào của quân đội Nam Việt Nam không còn tuân theo mệnh lệnh của chính phủ (Sài Gòn) mà lại đi giúp đỡ những người ly khai”. Ông ta gợi ý với đại sứ Lodge cần nêu rõ với tướng Kỳ sự lo ngại của Mỹ về 228 người Mỹ ở vùng Quân đoàn I đã chết ngoài mặt trận trong vòng 3 tuần lễ xảy ra xáo trộn tại nội thành: “Tôi cho môt sĩ quan tình báo báo cáo với các nhà lãnh đạo Nam VN về mối đe dọa của Việt cộng và Bắc Việt Nam đang tăng lên ở vùng Quân đoàn I đồng thời gợi ý chuyển tin này cho thị trưởng Đà Nẵng, nhà sư Thích Trí Quang, để họ dùng ảnh hưởng chấm dứt các cuộc biểu tình”. Nhưng vô hiệu, phong trào bùng nổ dây chuyền, lan đến Sài Gòn, Pleiku, Nha Trang, Đà Lạt, nguy hiểm hơn khi “một số chỉ huy quân đội Nam Việt Nam ở địa phương bắt đầu phát súng đạn cho sinh viên. Điều rắc rối hơn hết là hôm 2.4, 3.000 quân thuộc Sư đoàn I quân đội Nam Việt Nam mặc quân phục diễu hành qua các đường phố ở Huế sau đội quân nhạc của sư đoàn, hô các khẩu hiệu đòi lật đổ chính phủ”. Hai ngày sau, vào 4.4 (hơn một tuần trước cuộc tập kích), Thiệu – Kỳ đưa 3 tiểu đoàn thủy quân lục chiến ra Đà Nẵng “biểu dương lực lượng”. Giờ xuất phát, họ đã báo trước để Westmoreland biết là “quân Sài Gòn” sẽ chiếm đóng căn cứ không quân. Nhưng không dễ gì, vì lực lượng ly khai ở Đà Nẵng giương súng về phía họ, và bóng ma nội chiến treo lơ lửng trên các cỗ pháo tầm xa. Những giờ phút căng thẳng của vụ việc được tướng Westmoreland viết lại trong Tường trình của một quân nhân (A Solider report). Chúng tôi tóm lược dưới đây dựa vào bản dịch của Phòng Khoa học Quân khu 9. Chỉ huy trưởng biệt khu Quảng Đà: Đại tá Đàm Quang Yêu với 4 khẩu “Đại tá ru êm”. Trước ngày đưa quân ra Đà Nẵng bằng máy bay C-47 của Mỹ, Nguyễn Cao Kỳ họp báo tại Sài Gòn. Ông ta nói quanh co, đôi lúc trả lời các nhà báo bằng những câu không ăn khớp với điều được hỏi. Hồi ký Nguyễn Chánh Thi ghi lại chất vấn của một ký giả ngoại quốc: – Ông nói rằng Cộng sản đã chiếm Huế và Đà Nẵng, có thật thế không? Kỳ đáp dường như chỉ để “Kỳ nghe” còn các ký giả bị “tịt ngòi”: – Đó là chuyện của người Việt Nam. Đã là chuyện “nhà” vậy nói ra “ngoài phố” làm gì? Kỳ muốn “thuyết trình” về lý do tiến quân (đợt 1 vào 4.4) ra Đà Nẵng, nhưng những lời công kích của ông được thuật lại trên đài phát thanh Sài Gòn càng làm không khí miền Trung thêm oi bức. Phản ứng quyết liệt và tức khắc của phe ly khai đối với lực lượng do Kỳ mới đưa tới Đà Nẵng là tiến quân bao vây. Theo Westmoreland, “một lực lượng ly khai của quân đội Nam Việt Nam gồm khoảng 2.000 quân dưới quyền chỉ huy của đại tá Đàm Quang Yêu” di chuyển nhanh về hướng căn cứ không quân, nơi thủy quân lục chiến của Kỳ mới từ Sài Gòn ra trú đóng. Một nửa số quân của 16/25
đại tá Yêu “vượt khỏi một chiếc cầu cách Đà Nẵng mấy dặm”, một nửa khác còn nằm bên kia sông đang tiếp tục khởi động tiến theo. Chính lúc đó, tướng Walt muốn cản họ lại để hai bên đừng nổ súng vào nhau. Mặc dù trước đó Westmoreland lưu ý tướng Walt hãy giữ “thái độ trung lập”, không can thiệp vào cuộc khủng hoảng, nhưng Walt thấy cần “làm một cái gì đó” ngăn cản đổ máu sắp diễn ra trước mắt. Và đại đội thủy quân lục chiến Mỹ đã tự lật nhào một chiến xe tải ngay trên lòng cầu chặn đường tiến của quân ly khai còn lại. Họ muốn đại tá Yêu dừng chân để cùng tướng Walt bàn bạc cách gì đó nhằm dàn xếp “hòa bình” với phe Kỳ đang đóng trong sân bay. Nhưng đại tá Yêu, người từng dọa bắt nhốt Nguyễn Cao Kỳ vào quân lao Đà Nẵng, nhất quyết ra lệnh “chĩa 4 khẩu đại pháo vào căn cứ không quân”. Để ngăn chặn lại, đại tá John Chaisson đã hối hả và “cố ý cho máy bay lên thẳng của mình hạ trước mũi cỗ đại bác của đại tá Yêu, trong đó có 2 khẩu 155mm”. Chaisson là sĩ quan do tướng Walt phái đến gặp đại tá Đàm Quang Yêu, với nhiệm vụ ngăn không để quân ly khai khai hỏa. Hai người, Chaisson và Yêu, trò chuyện trong tiếng máy bay ném bom của Mỹ đang lượn trên đầu họ. Để tăng thêm độ mặn của buổi đối thoại ngoài trời, phía Chaisson “trung lập” dựng một hàng rào bảo vê “hòa bình” bằng dãy đại bác nằm đối mặt với các nòng pháo của Yêu, ngấm ngầm tỏ thái độ: “Nếu Yêu ra lệnh bắn vào sân bay, đại bác Mỹ sẽ “lên tiếng” can thiệp!”. Hàng trăm lính Mỹ bận đồ rằn ri xanh được tung tới nằm phục tại các vị trí quanh đó. Chaisson hỏi nếu đạn pháo rót thẳng vào căn cứ không quân Đà Nẵng, liệu máy bay của Mỹ đậu trên phi đạo và cả người Mỹ trong khu vực không bị “văng miểng” chứ? Chẳng ai dám đoan chắc. Chaisson nói: – Chúng tôi không muốn thấy máy bay Mỹ và sinh mạng người Mỹ bị đại bác của chính người Mỹ cấp cho người Việt Nam hủy diệt! Vì thế người Mỹ không để yên cho các cỗ đại bác đang hướng nòng về phía họ khai hỏa mà “sẽ nổ tung” dập tắt. Mặc Chaisson, đại tá Yêu không tỏ chút nhượng bộ nào và “các pháo thủ của ông bắt đầu mở hòm đạn, đặt ngòi nổ để chuẩn bị bắn”. Phía pháo binh Mỹ động đậy đáp trả. Chaisson buông lời cảnh cáo cuối cùng vọt lên máy bay dạt ra xa. 18 – Bắt hai tướng Đính và Thi sau “cuộc cờ tàn” 17/25
Tướng Tôn Thất Đính (giữa) cùng tướng Nguyễn Chánh Thi bị điều về Sài Gòn giam ở số 2 Tú Xương Chiếc trực thăng chở đại tá John Chaisson (sau là thiếu tướng giám đốc trung tâm hành quân chiến đấu thuộc Bộ tham mưu của tướng Walt ở Đà Nẵng) bốc lên cao, ra khỏi cụm pháo sắp nhoáng lửa và bay nhanh về bên kia sông. Đứng bên này đại tá Đàm Quang Yêu nghĩ nếu ông khai hỏa, máy bay Mỹ trong căn cứ không quân tất bị hư hại, quân Mỹ chết lây, chừng đó Mỹ phản ứng bằng những trận mưa pháo mà Chaisson cảnh cáo là sẽ trút xuống cùng lúc với bom hạng nặng. Nếu 2.000 quân ly khai dưới quyền ông “quyết tử” vì trận huyết chiến với lực lượng Thiệu – Kỳ – Có từ Sài Gòn đưa ra ắt họ sẵn lòng, nhưng đằng này do sự va chạm có thể tránh được với Mỹ thì hãy kiềm chế đã. Đại tá Yêu bàn với sĩ quan tùy viên của mình đình chỉ bắn phá sân bay. Cách đó không xa lắm, các pháo thủ Mỹ chưa hay biết quyết định trên của đại tá Yêu nên họ vẫn đứng yên cạnh các cỗ đại pháo chờ nã đạn đáp trả. Dưới cái nắng gay gắt giữa trưa, tình trạng căng thẳng kéo dài hầu như không thể chấm dứt được. Thần kinh mọi người đang căng thì lính thủy đánh bộ Mỹ nhìn qua ống nhòm thấy đàm pháo thủ (quân ly khai) dừng lại, không chuẩn bị bắn nữa mà tháo ngòi nổ và bỏ các quả đạn vào hòm. Cuối cùng, cơn khủng hoảng trước mắt cũng qua đi. Westmoreland, viết tiếp là sau đó mặc dầu bầu không khí ở Huế, Đà Nẵng vẫn ngấm ngầm chờ bộc phát nhưng dẫu sao cũng yên tĩnh hơn những cuộc dàn quân rầm rộ và “tôi đã lợi dụng dịp yên tĩnh này đáp máy bay sang Honolulu ngày 12.5” nghỉ mát ở bãi biển với gia đình. Nhưng ông phải trở lại Việt Nam sau đó mấy ngày, chứng kiến thảm cảnh cuộc tập kích “giải phóng Đà Nẵng” (chữ Kỳ dùng) với những đợt bắn phá, bỏ bom của không quân xuống chùa chiền, doanh trại quân ly khai, bắn thẳng vào dân chúng đấu tranh và đàn áp triệt để lực lượng thanh niên sinh viên học sinh yêu nước từ nơi ẩn náu. 18/25
Tại Sài Gòn, Đại hội sinh viên “Chống nội chiến miền Trung” tổ chức ngày 24.5.1966. Sau buổi đại hội, sinh viên tràn xuống đường, xông đến trụ sở Tổng hội sinh viên Sài Gòn (lúc bấy giờ đang do Thiệu – Kỳ khống chế đưa người vào khuynh loát) buộc Tô Lai Chính từ chức. Lực lượng sinh viên nắm quyền chi phối tổng hội từ đó. Đứng lên cùng phong trào Huế và Đà Nẵng, từ 1.6 đến 4.6, Lực lượng thanh niên sinh viên học sinh tranh thủ dân chủ bao vây và chiếm giữ Đài phát thanh Đà Lạt. Bị tấn công lấy lại, trước khi rút lui, sinh viên học sinh đã đốt cháy rụi đài phát thanh trên. Sau chiếc xe Mỹ đầu tiên bị sinh viên đốt tại Viện hóa đạo Sài Gòn vào tuần đầu tháng 5.1966, thanh niên vùng Bàn Cờ – Ngã Bảy (được xem là căn cứ địa đấu tranh) tỏa ra truy tìm xe Mỹ từ ngày 16.6.1966 và đốt cháy 10 xe, giết chết công an Kiều Công Hai, dựng chướng ngại vật, lập phòng tuyến làm chủ “khu tứ giác” Bàn Cờ suốt mấy tuần lễ. Thiệu – Kỳ phải cho loan báo trên Đài phát thanh Sài Gòn dọa sẽ kết án tử hình những ai lãnh đạo đấu tranh. Vào đoạn cuối biến động đẫm máu ngoài Trung, Huỳnh Văn Cao từ nơi ẩn náu an toàn đã ký lệnh tấn công chùa chiền, ra lời kêu gọi quân ly khai buông súng. Cầm các bản in lời kêu gọi với chữ ký của Cao, phụ tá cố vấn cao cấp Arch Hamblen và Thomson đi từ đồn bót này đến các đơn vị khác thuyết phục. Đang lúc đó, xe tăng và phi pháo của Kỳ phái tới vẫn thi nhau khạc đạn vào các ổ kháng cự. Đến ngày 23.5, Đà Nẵng tạm yên tĩnh trở lại. Khi đó, Huế đang bị phong tỏa. Các đường vận chuyển thực phẩm và hàng nhu yếu trên bộ trên biển bị Kỳ ra lệnh cắt đứt từ trước. Thay vì đổi gạo, thuốc men, dầu thắp và nhiều vật dụng thiết yếu khác, Kỳ lại gửi quân nhảy dù bất thần đến cố đô ngày 15.6, làm nốt phần việc “bình định miền Trung”. Điểm lại biến động miền Trung 1966 có 242 người vừa chết vừa bị thương, chùa chiền, nhà cửa trúng bom cháy rụi khắp nơi. Theo tài liệu của Trần Văn Đôn, “khoảng 6.000 sĩ quan, hạ sĩ quan và quân nhân đào ngũ, một số người phải chạy lên chiến khu của Việt cộng”. Hồi ký Nguyễn Chánh Thi viết não nùng: Hoàn toàn bất lực, đứng bên lề nhưng tự thấy mình có trách nhiệm phần nào, tôi lại lăn lưng ra dàn xếp (…). Tôi đi từng ổ kháng cự, năn nỉ đồng báo, năn nỉ các tổ chức chống đối, hãy mở đường cho quân Sài Gòn tiến vào, rồi muốn ra sao thì ra … Một lần nữa, nhờ táng tận lương tâm, đã thẳng tay bắn giết đồng bào mà Thiệu – Kỳ đã “thắng”. Tránh đẩy Nguyễn Chánh Thi và Tôn Thất Đính vào thế chân tường, Westmoreland đã gặp Thi ở Chu Lai và Walt gặp Đính trước ngày cuộc biến động lắng xuống. Hai tướng Mỹ hứa sẽ can thiệp “sâu” để Thiệu và Kỳ đối xử tử tế hai ông Thi và Đính. Đối với Huỳnh Văn Cao, Westmoreland mỉa mai: “Cuối cùng tướng Cao trở vào Sài Gòn sống cùng người vợ mà ông tin cậy” ngoài ra, ông không tin vào bất cứ người Việt Nam nào cả như nói ở chương trước. Huỳnh Văn Cao đã viết thư cho tôi (tướng Westmoreland) xin được trở thành dân Mỹ” (!!!). Cao vào Sài Gòn, tướng Hoàng Xuân Lãm, chỉ huy sư đoàn 23 ra Đà Nẵng thay, làm tư lệnh mới của Quân đoàn I. Tướng Lãm lệnh quân lính ra khỏi thành phố Huế và Đà Nẵng để tiếp tục “ổn định tình hình” nội thành. Dầu có sự hứa hẹn của Westmoreland và Walt, nhưng Tôn Thất Đính vẫn bị bắt đưa về Sài 19/25
Gòn. Với Nguyễn Chánh Thi, Thiệu – Kỳ có cách “mời khéo”, cũng đưa về Sài Gòn. Cả hai ông, Đính và Thi bị giam tại số 2 đường Tú Xương, tuyệt đối không được liên lạc với bên ngoài vì bị coi là “can phạm trọng tội”. Phạm Xuân Nhuận, tư lệnh sư đoàn I ly khai, cũng bị bắt đưa ra Tòa án quân sự. Ngày 14.7.1966, quân cảnh áp giải tất cả đến bộ Tổng tham mưu xử. Tại đó, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Hữu Có, Linh Quang Viên, Vĩnh Lộc và các tướng vây cánh với Thiệu – Kỳ đã ngồi sẵn trong phòng dành cho Hội đồng tướng lãnh xét xử vụ án. Linh Quang Viên đọc cáo trạng xong. Thiệu hỏi: – Tướng Thi, ông có gì trình bày không? Nguyễn Chánh Thi đáp: – Không. 19 – Diễn biến phiên tòa đặc biệt xử Nguyễn Chánh Thi và Tôn Thất Đính Nguyễn Văn Thiệu kết tội vòng vo, mục đích cuối là tước quyền và đẩy tướng Thi đi ngoại quốc cho rảnh nợ Không, không có gì để trình bày! Sau mấy lời đầy vẻ bất cần đó, Nguyễn Chánh Thi thòng một câu móc Hội đồng quân lực: “Bây giờ loại trừ được tôi, các anh đã có tất cả: an ninh quân đội, cảnh sát công an, Mỹ và đô-la của Mỹ…”. Vĩnh Lộc đứng phắt dậy, gay gắt ngắt lời Thi khi thấy bị can bắt đầu muốn đả kích “quan tòa” và e ngại Thi lôi chuyện máy bay chở thuốc phiện ở Pleiku ra xỉa xói, tố cáo, thì ê quá. Phiên xử tạm ngưng đến hai giờ chiều. Vẫn Linh Quang Viên, thiếu tướng, tổng ủy viên an ninh trong nội các chiến tranh của Kỳ, ngồi ghế “công tố viên” nổ trước: 20/25