The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.

Hồi ký tướng tá Sài Gòn xuất bản ở hải ngoại

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2023-01-29 12:59:50

Hồi ký tướng tá Sài Gòn xuất bản ở hải ngoại

Hồi ký tướng tá Sài Gòn xuất bản ở hải ngoại

– Tôi xin đề nghị: trung tướng Thi đã được thưởng xứng đáng thì ông Thi phải nhận lãnh một hình phạt tương xứng với những tội trạng do ông gây ra! Cuối lời, Viên có “vớt” xin “tỏ lượng khoan hồng dành cho trung tướng Thi một ân huệ, làm sao để giữ cho khỏi bất mãn”. Đến lượt Nguyễn Văn Thiệu, với tư cách trung tướng chủ tịch hội đồng kỷ luật quân đội Sài Gòn, nhận xét nhân thân và quá trình phạm tội, đưa ra mức trừng phạt cụ thể đối với Nguyễn Chánh Thi. Để bạn đọc thấy lối ăn nói “có ít xít ra nhiều” của ông Thiệu thời đó, chúng tôi giữ nguyên văn lời kết tội mà ông ta nhằm vào Thi, được Hoàng Đại Minh ghi lại trong loạt tài liệu đặc biệt đăng hàng chục kỳ báo trước năm 1975 tại Sài Gòn. Mở đầu: – “Nói về ông Thi trong vụ âm mưu lật đổ chính quyền thì ông Thi không có khả năng. Chính ông cũng nhìn nhận ông không có khả năng, nhưng cũng nhìn nhận ông có tâm nếu như ai lật đổ được chính phủ cho ông ta làm quốc trưởng, thủ tướng thì ông cũng làm. Vì mặc cảm tự cho ông là anh hùng cách mạng. Khi về đây (ý nói lúc ông Thi làm đảo chính hụt Ngô Đình Diệm, phải sống lưu vong 3 năm tại Nam Vang (Campuchia), và về lại Sài Gòn sau ngày 1.11.1963 – MN), hồi ông Dương Văn Minh bắt ông ra ngoài đó ông được uy tín với miền Trung. Ông ráng tạo uy tín đó đến khi nào có chuyện gì ông sử dụng cái uy tín đó. Cũng vì ông như vậy người ta lợi dụng ông. Thật sự ông cũng có tham vọng. Ông thường chỉ trích chính phủ trung ương là ông Kỳ làm không nên thân, mấy cha trong này nói cách mạng miệng chớ không làm gì hết!”. Với cương vị “quốc trưởng” và về sau là “tổng thống”, Thiệu vẫn không chữa được lối nói thiếu khúc chiết, vòng vo trước đám đông, từa tựa như trên. Một dạo dân chúng miền Nam, nhất là thanh niên sinh viên học sinh không nhịn được cười khi nghe Thiệu phát biểu trên truyền hình, đại loại như: “Tại Mỹ nó làm áp lực tôi thế này thế nọ. Đó là lịch sử”(!). Ở đây, tiếp tục hài tội Nguyễn chánh Thi, Thiệu thỉnh thoảng chen vài tiếng Tây, tiếng Mỹ vào: – “Thấy ông có khả năng ở miền Trung thôi chứ tham vọng của ông rất lớn (?). Nói về Complicite (tiếp tay) với đối phương thì rất ít, sự đồng lõa với đối phương trong vụ tranh đấu này cũng rất ít (…). Bởi vì trách nhiệm của người chef militaire (sếp quân đội) cách chức ông rồi tự nhiên ông không còn quyền hạn gì để mà bàn cãi. Nói về phản bội anh em một cách trắng trợn hay là vi phạm cái danh dự quân đội, tôi thấy cái trường hợp của ông không có cái hành động rõ rệt. Nếu như ông có chủ trương ông làm thì ông khó ngụy trang công việc của ông. Nhưng mà khi nói về cái nhân phẩm của ông đối với tướng lĩnh thì phải nhìn nhận rằng ông Thi thứ nhất là con người dễ bị sách động, dễ bị nâng lên, thổi phồng lên, dễ khiến ông làm một việc gì! Thành thử trong cái giai đoạn khó khăn của nước nhà này nếu như mai mốt, trở đi trở lại như thế này mãi đó (ý nói cuộc biến động miền Trung tái phát – MN), rủi ro có chuyện gì cho mình trong lúc mà họ (những người lãnh đạo đấu tranh chống Thiệu – Kỳ – MN) khai thác được ông Thi thì cũng là một mối lo ngại rất lớn. Do đó tôi thấy rằng làm sao cho ông Thi đừng có tiếp xúc với ai hết. Ông đừng có cái cơ hội vật chất nào (?), cái sự thuận tiện nào 21/25


để ông có thể lợi dụng ở trong lãnh thổ”. “Ở trong lãnh thổ” ý nói ở trong nước. Đừng để ông Thi “có cơ hội vật chất” có lẽ không để ông nắm thực quyền. Tóm lại ý Thiệu muốn nói: Thi phải bị cách chức và đẩy ra nước ngoài. Đúng là Thiệu, Kỳ và cả 20 tướng trong phiên tòa là những người nắm quyền cao nhất của Sài Gòn lúc bấy giờ rất sợ sự có mặt của những “chuyên viên nổi dậy” và “sẵn sàng nổi dậy” như Nguyễn Chánh Thi. Huống gì “sự có mặt” đó kèm theo lực lượng ủng hộ, làm đảo chánh được chứ? Trong các tội của Thi, Thiệu – Kỳ rất ớn “tội” nắm thực quyền. Mặc dầu bị cách chức tại Sài Gòn trước ngày biến động miền Trung, nhưng theo “tin tức riêng” của tướng Westmoreland, “trên thực tế Thi vẫn nắm chặt quyền chỉ huy sư đoàn I quân đội Nam VN” và đã “tung ra những lời tuyên bố gay gắt từ một nơi bí mật tại Huế”. Nơi bí mật mà Westmoreland đề cập tới hẳn là chùa chiền, các trụ sở đấu tranh của sinh viên học sinh hoặc doanh trại binh lính ly khai… Do vậy, Nguyễn Văn Thiệu cày lui cày tới quanh biện pháp cô lập hẳn Nguyễn Chánh Thi. Nhân danh “chủ tịch hội đồng kỷ luật” đồng thời “chủ tọa phiên tòa”, Thiệu đanh lại: – Theo tội ông Thi thì phải phạt ông, phạt tối đa và quân kỷ nhưng mà cái quan trọng là phải cô lập hẳn đừng cho ông nắm một cơ hội, đừng cho ông có một phương tiện (…). Nếu như con người ông mà có cơ hội thuận tiện, có phương tiện được thúc đẩy, hoặc được bơm lên, thì bấy giờ ông làm super man (siêu nhân) ông cũng làm. Tóm lại biện pháp của tôi là phải phạt quân kỷ tối đa. Quan trọng nhất là phải cô lập ông, đừng cho ông có cơ hội tiếp xúc để cho mình qua các giai đoạn thật là “nguy hiểm (ý muốn nói vượt qua hẳn biến động miền Trung để củng cố bộ máy cầm quyền giai đoạn đó – MN). Theo tôi bây giờ thì cái ý định của tôi đưa ra cho các anh em (Hội đồng quân lực Sài Gòn) thấy không cho ông đi ngoại quốc với tính cách cá nhân của ông thì phải cô lập ông một chỗ nào xa lánh thời cuộc, chính trị, phương tiện, đạo đức, thượng tọa v.v… Làm sao cho ông đừng tiếp xúc với quân nhân, làm sao cho ông như người đi tu vậy! Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Bảo Trị không đồng ý với Thiệu phạt ông Thi “như người đi tu vậy”, tại sao? 20 – Sát phạt và sợ bị trả thù trước giờ tuyên án tướng Thi Nghe Nguyễn Văn Thiệu vạch tội Nguyễn Chánh Thi lê thê luộm thuộm quá, tổng ủy viên thông tin trong nội các của Nguyễn Cao Kỳ là thiếu tướng Nguyễn Bảo Trị đứng dậy đỡ lời và “tém lại” cho gọn. Ông Trị gióng tiếng cảnh giác Hội đồng kỷ luật do Thiệu làm chủ tịch hãy thật công bằng, đừng dựa vào “lời khai một phía” của “thằng Hộ” nào đó mà kết tội Thi, Thiệu ngắt lời : – Thằng Hộ (?) cũng là một source d’information (nguồn thông tin)… Bây giờ anh em muốn décider (quyết định) liền hay là để mình đi lần lượt mình làm comparaison (đối chiếu) sau, hay là mình cứ đưa ra một cái gần như draft (phác thảo) trước? 22/25


Hỏi như vậy Thiệu làm rối chuyện lại và chẳng ai trả lời. Nguyễn Cao Kỳ giả bộ không nghe câu Thiệu hỏi, đẩy mũi dùi thẳng vào Thi: – Xin dùng danh từ ông Thi là cái ngòi mà cái người châm ngòi không phải ông Thi. Ông Thi chỉ là cái ngòi trước sự xáo trộn và nhất là trong cái vụ xáo trộn Thi chỉ là cái ngòi thuốc súng và cái người châm ngòi là Trí Quang và tất cả phe nhóm chính trị đứng đàng sau. Trí Quang mà Kỳ nói là “cái người châm ngòi” tức thượng tọa Thích Trí Quang – lãnh đạo Phật tử đấu tranh chống Thiệu – Kỳ tại Đà Nẵng và Huế. Kỳ viết trong hồi ký rằng sau biến động miền trung, Kỳ đã ra lệnh bắt giữ thượng tọa Thích Trí Quang và đưa vào Sài Gòn “chữa bệnh”. Kỳ tiếp: – Các quý vị còn nhớ, đại tướng Khánh hỏi rằng ông Thi ra nắm được miền Trung không, cũng đã nhiều lần tôi đã nói với ông Khánh là phải cho một số anh em ở trung ương (Sài Gòn) ra cạnh ông Thi (ở miền Trung) để mà conseiller (khuyên can bớt) ông đó. Ông Thi chưa nắm được miền Trung đâu trái lại chính miền Trung lại nắm ông Thi để làm cái paravent (bình phong) mà che cho họ núp đàng sau… Trước ngày ông bị cách chức (10.3.1964 tại Sài Gòn ) thì ông đã bị lợi dụng. Có người(?) đã tính đường xa hai ba năm về sau là nó thúc đẩy “conseiller” (chỉ vẻ) để thổi phồng lên hầu nó có một bộ mặt chính thức và ông Thi đã vô tình cũng như có một phần nào có ý mắc vào cái mưu mẹo đó (…). Ông biết rằng ông không thể nào đơn phương độc mã mà làm chuyện gì ghê gớm đâu. Thế nhưng mà ngồi ở đó (tư lệnh quân đoàn I và vùng I chiến thuật, kiêm đại biểu chính phủ tại trung nguyên Trung Phần) thằng nào tới nói “Oui” (Ừ! Được) ông cũng “Oui”, mà nói “Non” (Không!) thì ông cũng “Non”! Nói tới đó, Nguyễn Cao Kỳ hạ thấp dần cường độ khích bác để đưa đến nhận xét có lợi một cách bất ngờ cho ông Thi khiến Thiệu chưng hửng: – Ông Thi có những hành động nào tiếm quyền và dùng quân đội (ý nói trực tiếp chỉ huy quân ly khai chiến đấu chống trả cuộc tập kích của Thiệu – Kỳ – MN) trong vụ xáo trộn này không, thì không có một bằng cớ nào tỏ ra ông Thi có cái việc tiếm quyền phản loạn. (Thật ra Nguyễn Cao Kỳ biết rõ ông Thi thực chất nắm quyền điều động Sư đoàn I trong tầm tay và cổ xúy binh lính ly khai như “tin riêng” của tướng Westmoreland nhận được). Tất nhiên lúc tuyên bố thế này thế nọ cũng có, không thể nào tránh được. Thêm nữa theo như témoignage (làm chứng) của thiếu tướng Lãm thì trong những ngày cuối cùng (của cuộc biến động) ông Thi tỏ ra hiểu biết và hợp tác (kêu gọi ngưng đánh nhau – MN). Tất nhiên yếu tố chính là ông đã thấy sự tranh đấu đó không thể thắng được… Tôi đề nghị phạt trọng cấm và đi an trí. Mức hình phạt do Kỳ đề nghị làm nhiều thành viên của hội đồng kỷ luật sửng sờ vì nó… “nhẹ hều”! Chỉ trọng cấm, an trí!!! Và rồi đây có thể phục hồi vai vế của Thi trong quân đội???!!! Một luồng khí lạnh tanh thổi qua gáy các tướng lĩnh từng công khai mạt sát Thi khi ông bị cách chức. Nhất là ngay phiên xử này, nhiều cặp mắt lạnh nhạt hoặc lỡ lườm ngó Thi trước đó nay nghe Kỳ phát biểu đều phải 23/25


chột dạ. Vì sao? Vì sợ Thi trả thù nếu Thi không bị đẩy hẳn ra nước ngoài, hoặc bị bao vây cô lập một chỗ “ như người tu”. Nóng ruột tỏ thái độ không đồng ý với mức án của Kỳ quá nhẹ dành cho Thi, trung tướng tổng ủy viên quốc phòng Nguyễn Hữu Có bật dậy mổ xẻ: – Phải xét lại cho kỹ cái cá nhân con người đó (Nguyễn Chánh Thi) đối với tương lai. Nếu mà mình vì cái cảm phục cho một ngày nào ông trở lại, tôi nói thật với các anh em khó lắm chứ không phải dễ. Tôi đã thấy ông qua bữa chỉnh lý (hôm 31.1.1964, Thi ủng hộ Khánh “lật” Dương Văn Minh, bắt Đôn-Đính- Kim- Xuân- Vỹ, nhưng không lâu sau đó thất vọng vì Nguyễn Khánh tham quyền và muốn làm “cha” dân! – MN), tôi đứng ngoài cửa, cái cách ông (Thi) bắt ông Đôn (Trần Văn Đôn) cùng ông này ông kia (các tướng khác) với cử chỉ căm thù. Huống chi mà mình đem ông đem ra trước đây để xử ông, mình bắt ông, mình giam ông. Mà một ngày nào ông có cái cơ hội thuận tiện mà ông còn trong quân đội không giải ngũ, còn cái chức tước với cái chính phủ khác, ông cũng vẫn là một vị tướng, thì tôi e rằng có hại cho quân đội. Tôi không nói là cá nhân ông Thiệu, ông Kỳ, ông Có gì cả mà tôi nói quân đội thôi. Ông sẽ làm một cái représaille (báo thù) ghê gớm lắm! Không phải riêng ông Thiệu, ông Kỳ, ông Có mà cái représaille đó có thể đi lần xuống dưới nữa (…) Vì ông Thi là người hết sức “ambitieux” (“có dã tâm”), hết sức dám làm! Liều lĩnh! Liều lĩnh! Liều lĩnh! Và “ambitieux” (dã tâm) thì nguy hại vô cùng! Nguyễn Hữu Có nói một hơi đầy vẻ lo sợ, thống thiết, khẩn cầu Kỳ gấp gấp rút lại mức phạt “chẳng thấm thía gì” với Thi và tăng nó lên để bóp chặt Thi, không cho Thi cơ hội nắm lấy “cán dao” báo thù. Có sợ cũng phải, vì Có từng chĩa súng vào ngực buộc Thi không được lên máy bay về Trung và nhiều lần “đụng” khác… Chẳng lẽ Kỳ không biết tính Thi “dữ như cọp” sẵn sàng ăn miếng trả miếng đó sao? Kỳ quá rành! Nhưng vẫn đề nghị giảm nhẹ cho Thi chẳng phải Kỳ yêu mến cảm phục gì Thi mà chẳng qua vì… phía Mỹ có cảnh báo! Đại sứ Cabot Lodge gặp Kỳ trước khi mở phiên tòa quân sự đặc biệt đó và đánh tiếng: “Phải dè dặt và kín đáo kẻo dư luận báo chí bên Mỹ nó ồn ào rùm beng lên thì mang tiếng”. Kỳ đành lập lại câu nói Cabot Lodge giữa tòa khiến hội đồng kỷ luật của Thiệu ngớ người trước khuyến cáo mới! Nguồn: Nghiên cứu Lịch sử tổng hợp từ Một thế giới 24/25


25/25


By The Observer January 13, 2017 Hồi ký tướng tá Sài Gòn xuất bản ở hải ngoại (P4) nghiencuuquocte.org/2017/01/14/hoi-ky-tuong-ta-sai-gon-xuat-ban-o-hai-ngoai-4/ Tổng hợp: Mai Nguyễn 21 – Nguyễn Hữu Có và Đặng Văn Quang, hai tướng quyết liệt chống lại giải pháp “nửa chừng xuân” Đại sứ Cabot Lodge khuyến cáo Nguyễn Cao Kỳ và hội đồng kỷ luật của quân đội Sài Gòn hãy dè chừng dân chúng và báo chí Mỹ. Vì lần này đem xét xử không chỉ một mình Nguyễn Chánh Thi mà cùng lúc những 4 tướng nữa: Tôn Thất Đính, Phan Xuân Nhuận (chống đối, ly khai), Nguyễn Văn Chuân, Huỳnh Văn Cao (đào tẩu, thiếu trách nhiệm…). Nếu cả 5 tướng đều bị lột lon cách chức, đưa về vườn một lượt, sợ sẽ gây chấn động trong quân đội. Tiếng đồn về mối bất hòa dai dẳng giữa các tướng lĩnh Sài Gòn một lần nữa sẽ vang ra ngoài và thế nào báo chí Mỹ cũng xoáy vào đàm luận. Khi ấy, một số có xu hướng phản chiến trong báo giới Mỹ có thể nhân đó công kích Tổng thống Johnson đang ủng hộ một chính phủ mất đoàn kết, không đáng tin cậy như Thiệu – Kỳ và hâm nóng bầu khí chống chiến tranh Việt Nam vốn sôi bỏng cách đó hơn nửa năm vào tháng 11.1965 với 25.000 người biểu tình kéo về đài tưởng niệm Washington tố cáo Johnson leo thang chiến tranh. 1/23


Chiến tranh Việt Nam 1965-1966 đã khiến phải rút giảm các quỹ xã hội Mỹ. Ngân sách giáo dục và chương trình cung cấp sữa cho học sinh bị cắt đầu tiên. Mục sư Martin Luther King hỏi: “Chúng ta thích cuộc chiến chống nghèo khó hay chúng ta thích chiến tranh ở Việt Nam?”. Một luật gia Mỹ bảo: nền kinh tế không thể cùng lúc đưa lại cả súng và bơ! Vậy cần chọn lựa một trong hai. Nhưng Tổng thống Johnson đã cột Mỹ vào hai cuộc chiến tranh cùng một lúc: chiến tranh chống nghèo khó và chiến tranh Việt Nam. Làn sóng phản đối dâng cao tràn ra Đại lộ số 5 New York diễu hành, la ó, ném trứng, đốt thẻ quân dịch… Đó là những hình ảnh nhức đầu mà Cabot Lodge không muốn chúng tiếp tục diễn ra từ “một đám cháy” tận Việt Nam. Nên Lodge khuyên “dè dặt”, nhất là “đối với Nguyễn Chánh Thi”. Để chiều đại sứ Cabot Lodge, Nguyễn Cao Kỳ muốn phạt quân kỷ cả 5 tướng vài tháng, rồi “tính bước nữa” chả muộn. Nhưng Nguyễn Hữu Có nằng nặc đòi giải ngũ Thi lập tức, đưa về làm dân không dính gì tới quân đội nữa: – Cho nên ông (Thi) còn mang trung tướng mà không phải một người dân thì ông còn sử dụng cấp bực trung tướng, khi mình ra biện pháp này những người tay chân bộ hạ của ông, về chính trị cũng như trong quân đội, vẫn còn nuôi hy vọng là ông Thi vẫn còn là một vị trung tướng. Cho nên ở trong đó còn “réserver” (dành riêng) cho một cái “carte” (lá bài) để sau này ông sử dụng lại. Họ còn ủng hộ, còn tiếp tục liên lạc với ông Thi thì các ảnh hưởng đó gây khó khăn cho mình nữa! Theo ý kiến tôi hết sức khách quan không vì cá nhân, vì tư thù nói rằng bây giờ tôi còn cầm quyền; có quyền hạn ăn nói ở đây để buộc tội người ta, làm cho người ta sợ (sợ không thôi cũng chưa đủ) mà trên thực tế nếu mình biết ông là người “dangereux” (nguy hiểm) mà mình còn giữ cho ông lá bài, không giải ngũ ông thì “half and half ” lấy biện pháp nửa chừng xuân, thì cái hậu quả đó có nguy hại đến cho mình không? Có lợi không? Câu hỏi báo động đỏ chưa tắt, ông Có ném cái “phao dỏm” chen mấy tiếng Tây cố hữu: – Mình muốn “réserver” (dành chỗ) cho ông còn trung tướng để “sauver” (cứu) ông là người tư cách đối với anh em chúng mình, đối với miền Trung. Nếu thấy ông Thi hoàn toàn không lỗi (mà chỉ) vì chỉ bị người ta lợi dụng – (thì) tôi nói thật với anh em, tôi xin nhường chức vụ của tôi cho ông Thi để “sauver” (cứu) ông, để cho ông có một “avenir” (tương lai) đường hoàng (!!!), chớ đừng bắt bỏ tù ông (!!!). Nếu nói ông Thi là người “capable” (có khả năng) và không tội gì, một người xứng đáng, có tư cách, thì tôi sẵn sàng nhường chỗ tôi cho ông! Cái “phao dỏm” muốn “cứu” ông Thi của Nguyễn Hữu Có vừa ném ra, một trung tướng trong hội đồng quân lực đã tức tốc nhào lên phát pháo, đâm lủng tòe loe, không cho “nổi” lên một chút gió: – Xin phép anh em suy nghĩ lại cái nguy hiểm cho tương lai (….) ông Thi sẽ trả thù từng đứa (…) tôi ơn ớn chuyện đó (…). Còn cả một tràng dài bồi đắp cái “nấm mộ” tố khổ đã cao càng cao thêm, trù dập chôn Thi chết đứng giữa phiên tòa. “Ngài trung tướng” có công “bồi thêm” đòn chí tử kia là Đặng Văn Quang. Hồi ký Đỗ Mậu viết: Quang là: “người con nuôi tinh thần của bà Ấm, chị ruột tổng thống Diệm và là thân mẫu của giám mục Nguyễn Văn Thuận. Vợ Quang là em ruột cựu Bộ trưởng Bộ Nội vụ Bùi Văn Lương 2/23


thời Diệm (…). Quang cũng là người điều động hệ thống buôn thuốc phiện lậu để chia lời với Thiệu như Ngô Đình Nhu trước kia buôn thuốc phiện lậu để làm giàu mà Mac Coy đã nói rõ trong The Politics of Heroine in Southeast Asia”. Đặng Văn Quang tai tiếng vì tham nhũng thời còn làm Tư lệnh Quân đoàn 4 đóng vùng đồng bằng sông Cửu Long. Thiệu đắc cử tổng thống năm 1967 dùng Quang làm phụ tá đặc biệt về quân sự, an ninh, tình báo. Ở chức vụ sinh sát đó, Quang lấn tới kiểm soát luôn lực lượng đặc biệt để tung về Kontum, Pleiku đột kích sang những vùng thuốc phiện nằm sâu tận hạ Lào vơ vét. Đứng chân được ở miền cao, Quang quay dòm con đường thủy tiến vào lãnh thổ Campuchia, chuyển ma túy từ Phnom Penh đến Niếc Lương qua Tân Châu, Bình Thủy, về Sài Gòn bằng các giang thuyền của lực lượng hải quân – với sự thỏa hiệp của Lâm Ngươn Thanh và của đô đốc Chung Tấn Cang. Chung Tấn Cang, bạn ông Thiệu, Tư lệnh Hải quân từng được Thiệu che chở khỏi cơn bĩ cực một dạo, nên phục tùng Thiệu, nhập với Quang thành “liên minh ma quỷ”. Mỉa mai là, khi Mỹ than phiền thuốc phiện lậu “chảy” xiết vào Sài Gòn, Quang cử Chung Tấn Cang làm trưởng ban bài trừ ma túy của hải quân Sài Gòn! Đặng Văn Quang nắm trong tay nguồn lợi khổng lồ từ thuốc phiện. Trần Văn Đôn viết: “Đặng Văn Quang là người đứng sau Nguyễn Văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm và Cao Văn Viên về quyền uy, nhưng đứng hàng đầu về tham nhũng” như chúng tôi sẽ nhắc đến ở ngay sau đoạn mở đầu. 22 – Tại sao TT Marcos khuyên Nguyễn Cao Kỳ “để sẵn va-li đầu giường ngủ” và câu chuyện về “Quế tướng công”? Do khi làm Tư lệnh Sư đoàn 2 đóng trên miền núi phía Nam Đà Nẵng, tướng Toàn đã thèm thuồng và phù phép vơ không nguồn lợi từ những rừng quế đắt giá ở đó. Ông ta sai linh lấy trộm cả “núi” bán chợ đen. Quế được chở lén lút bằng xe nhà binh xuống thị trong những đêm “hành quân ma”. Việc vỡ lỡ thì Toàn đã no bụng. Nguyễn Cao Kỳ viết: “ông ta (tướng Toàn) đã tạo được một tài sản lớn nhờ đánh cắp loại cây gia vị rất quý giá này”. Theo Đỗ Mậu, tướng Toàn là người có công với Thiệu Kỳ vì “từng chỉ huy thiết giáp đàn áp Phật tử trong biến cố 1966”. Có lẽ nhờ vậy, Toàn được Kỳ làm ngơ vụ đó, nhưng dân làng báo đương thời chơi ác, phong Toàn cái danh bất hư truyền: “Quế tướng công” từ đó. Mãi sau Toàn vẫn phây phây bon tới chức Tư lệnh quân đoàn III Vùng III chiến thuật, nơi đóng quân và hoạt động của 3 sư đoàn tinh nhuệ, 7 lữ đoàn biệt kích, gần 700 xe bọc thép và hàng trăm máy bay, bao gồm cả “thủ đô” Sài Gòn trong tầm phòng thủ! Nắm trong tay lực lượng quân sự lớn, Toàn với cấp bậc trung tướng nằm trong Hội đồng An ninh quốc gia của Thiệu bên cạnh những tay tham nhũng khét tiếng như phụ tá quân sự Đặng Văn Quang, Tổng giám đốc Công an Nguyễn Khắc Bình… Nay, hắc danh “Quế tướng công” vẫn thấy nhắc đến trong các sách báo của người Việt xuất bản ở nước ngoài! 3/23


Lúc Toàn biết “ăn” quế, Kỳ mới lên làm thủ tướng, chưa mảy may kinh nghiệm việc “nước”. Ngay chuyện nhậm chức đứng đầu chính phủ là “quốc gia đại sự” mà Kỳ phải chạy về hỏi vợ có nên nhận không rồi mới làm. Nghe tưởng đùa, nhưng thật 100%. Kỳ thuật lại, hôm hội đồng tướng lĩnh chỉ định Kỳ làm “thủ tướng”, ông ta dùng dằng một hồi rồi đưa thêm điều kiện vào cuối phiên họp: “- Tôi phải xin phép vợ tôi đã! Phản ứng của vợ tôi là “cấm không cho”! Lúc ấy chúng tôi (Kỳ và Tuyết Mai) là cặp vợ chồng trẻ, chúng tôi không muốn bận bịu bởi chuyện chính trị. Tuy nhiên sau khi nghe giải thích, vợ tôi đã hiểu và đồng ý với việc tôi quyết định đứng ra thành lập chính phủ. Ngày hôm sau tôi trở lại phòng họp của hội đồng quân lực để xác nhận quyết định này!”. Việc “nước” việc “nhà” của “tướng trẻ” cứ lẫn vào nhau như quyền và lợi của họ. Mới nắm quyền, Kỳ lúng túng nhờ cố vấn Bùi Diễm lo gánh vác nhưng đâu xuể. Trần Văn Đôn viết: “Nguyễn Cao Kỳ ưa chơi đá gà, đánh mạt chược, chuyện quốc gia lơ là nên tham nhũng càng lúc càng trầm trọng. Những tên tham nhũng buôn bán gạo chợ đen, đầu cơ tích trữ, những tay thầu lớn, đều là tay chân thân tín, bà con với những người đang cầm quyền lãnh đạo lúc bấy giờ”. Càng về sau, cái thế “gia đình ta” cùng làm cùng ăn càng rõ tợn. Như Tổng trưởng Nội vụ Trần Thiện Khiêm (sau cùng là thủ tướng, 1969) đưa cả nhà vào cuộc. Em ruột Khiêm là Trần Thiện Khởi nắm quyền kiểm tra xuất nhập khẩu tại sân bay Tân Sơn Nhất với mối lợi béo bở nhờ việc che chở các đầu mối buôn lậu vàng và thuốc phiện. Người em nữa là trung tá Trần Thiện Phương làm Giám đốc Cảng Sài Gòn. Một người nắm quyền lên trời, một người vùng vẫy dưới nước, toàn ở vị trí có nhiều cơ hội làm ăn lớn. Thêm em bên vợ là tướng Trần Thanh Phong làm giám đốc tổng nha cảnh sát; em rể là Đỗ Kiến Nhiễu làm Đô trưởng Sài Gòn; thế mạnh như cọp mọc sừng! Ở những vị thế cao ngất cỡ Kỳ, chỉ ngồi “nhà” cũng “thường xuyên được các công ty nước ngoài đến thăm dò ý kiến”. Một công ty Nhật bắn tiếng nếu Kỳ đồng ý “cho phép thành lập xí nghiệp ráp xe hơi” họ sẽ biếu Kỳ “1 triệu đô-la tiền mặt và 300 chiếc xe hơi để tặng bè bạn” như chính Kỳ kể về thời mới nắm quyền thủ tướng. Với cương vị đó, tại hội nghị lãnh đạo chính phủ các nước Mỹ, Úc, Tân Tây Lan, Hàn Quốc, Thái Lan nhóm họp tại thủ đô Manila vào cuối năm 1966, Kỳ gặp Tổng thống Marcos của Philippines và Marcos kéo ông ra riêng để khuyên: – Anh nên nghĩ đến nguy cơ của một cuộc đảo chính để lo trước cho tương lai của mình! Lo cách nào? Kỳ viết: “Có lẽ tất cả các tổng thống tại các nước không ổn định đã tìm cách làm ra tiền cho riêng họ để đề phòng khi bị mất chức”. Marcos nói về mình song hàm ý mách nước để Kỳ làm theo: – Tôi luôn luôn để sẵn hai va-li bên giường ngủ của tôi. 4/23


Chỉ hai va-li? Thua “tông tông” Thiệu! Kỳ viết: “Người ta nói là Thiệu đã mang theo những 5 va-li chứa đầy đô-la” chạy ra nước ngoài cùng “tẩu tướng” Trần Thiện Khiêm vào cuối tháng 4.1975 (chưa kể vàng tấn chuyển ra Tân Sơn Nhất). Dưới Thiệu và Kỳ, các tư lệnh cùng, tỉnh trưởng, quận trưởng đều có 1.001 cách tham nhũng, vòi hối lộ. Ăn cắp thì có hệ thống “quân giai” – như cả nửa triệu tấn gạo biến mất khỏi các kho lương thực trong năm 1967. Ngoài tủ lạnh, ti vi, xe gắn máy…súng cũng được bán với giá 25 đến 30 đô-la một khẩu. Vài tay liều mạng đánh cắp lựu đạn rao bán và bị theo dõi còng tay ở chợ Qui Nhơn. Nguyễn Cao Kỳ viết: “Nếu ai muốn mua một xe bọc thép hoặc một máy bay lên thẳng thì việc đó cũng có thể dàn xếp được!”. Mặt hàng này đặc biệt hấp dẫn đối với mafia châu Á cùng những đội quân thuốc phiện ở vùng “Tam giác vàng”! Chúng được đưa ra khỏi các kho vũ khí bởi các VIP KK. Trung tướng Vĩnh Lộc hối lộ cho ai? Hồi ký Nguyễn Cao Kỳ nêu trường hợp: “Nguyên tư lệnh các lực lượng Nam VN ở đồng bằng sông Cửu Long đã lấy cắp 8.000 đài vô tuyến và 24.000 vũ khí cá nhân do Hoa Kỳ trang bị” và sớm tiêu thụ chúng sạch sành sanh. Tài liệu mật từ Tòa đại sứ Mỹ cho biết “Việt cộng” đã sở hữu phần lớn số đó! Không có điều kiện vẫy vùng, dậy sóng như các VIP KK nhưng các sĩ quan và quan chức địa phương cũng rất ấm túi nhờ các món tiền lo lót để được miễn dịch (khỏi đi lính) chẳng hạn. Việc mua quan bán chức có giá ấn định theo từng cấp, từng vùng, thậm chí từng quận. Ví dụ ở Sài Gòn, quận 5 sáng giá. Kỳ kể hồi nhóm tướng trẻ mới nổi, các người bạn lái máy bay của Kỳ nói đùa: – Này Kỳ, nếu sau này có lúc nào đó anh lên làm thù tướng và muốn tìm việc cho bạn bè cũ thì xin anh đừng băn khoăn nghĩ đến chuyện bố trí chúng tôi vào một chức bộ trưởng nào trong nội các của anh cả! Mà anh chỉ cần cho một người trong chúng tôi làm trường ty cảnh sát quận 5 là đủ!. Muốn làm quận trưởng ở đó phải hối lộ đúng chỗ 15 triệu đồng nhưng người ta yên chí chồng tiền vì sẽ thu gấp ba lần số bỏ ra chỉ sau 2 năm tại chức do nhiều nguồn thu nhập như “hợp tác” làm ăn, hiếu hỷ “vượt mức” v.v…Riêng khoản chạy chọt giấy tờ miễn dịch đưa tới hàng năm một món khá to rồi. Vì Chợ Lớn với 90% dân Hoa kiều thời đó không ai muốn bị đẩy ra chiến trường bom đạn, chết chóc nên “hầu hết những người cha trong gia đình đều cố trả những món tiền hối lộ thật lớn để cho con của họ được miễn dịch”. Giấy miễn dịch được những người có thẩm quyền cấp phát dưới sự mách nước lắm khi từ các …bà vợ của họ. Một đoạn hồi ký khá hóm hỉnh viết: “Số tiền 100.000 đồng mà các bà vợ nhận được mỗi khi họ (bảo chồng mình) giúp cho con của bè bạn được khỏi bị gọi đi lính – đã trở thành một món tiền phổ biến đến mức các bà đánh xìphé trong các canh bạc lớn mỗi lần đi tiền thêm đã hô: – Tôi tố thêm một tân binh quân dịch!”. 5/23


“Một tân binh” nghĩa là đặt thêm 100.000 đồng nữa (theo Địa chí Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, 1 đô-la Mỹ ăn 118 đồng tiền Sài Gòn vào giữa năm 1965-1966). Ngoài giấy miễn dịch, các loại giấy khác để hoàn tất thủ tục xuất ngoại, hoặc môn bài, bằng cấp…đều cần nạp lễ bằng tiền, hoặc bánh trung thu nhân hột xoàn. Dân hối lộ quan chức và các tướng tá là sự thường, tướng tá hối lộ dân có không? Có. Chắc bạn đọc còn nhớ chuyện trung tướng Vĩnh Lộc (người kết án Nguyễn Chánh Thi rất gay gắt) dan díu với ca sĩ Minh H. bị dư luận “pha đèn”. “Rét” quá, Vĩnh Lộc sai người khệ nệ ôm một bó bạc bọc giấy hoa, khiêng dàn máy Akai loại “đời mới” thời đó, thêm hai chiếc đồng hồ Seiko sáng chói khép nép đến làm lễ ra mắt một…nhà báo. Mục đích xin đừng viết về “mối tình nghệ sĩ” của ông trung tướng nữa. Nhưng trung tướng hoàng gia đã “lầm địa chỉ”. 23 – Trung tướng Nguyễn Chánh Thi bị xử 60 ngày biệt cấm tại …Mỹ! Trung tướng Nguyễn Chánh Thi (ngồi giữa) – ảnh chụp năm 1964 Người mà ông Vĩnh Lộc “tặng không” dàn máy âm thanh, đồng hồ, bạc bó là một ký giả có vai vế ở báo Quật Cường. Tờ đó do Hoàng Đức Nhã và các cán sự thông tin báo chí của ông Thiệu lập ra với sự thường xuyên hỗ trợ của Tổng Giám đốc Cảnh sát quốc gia kiêm Đặc ủy trưởng tình báo trung ương Nguyễn Khắc Bình Sự “phối hợp nghệ thuật” giữa họ đề ra ban biên tập sẵn sàng “quật” đối lập, trong đó có một số cây bút quân đội kéo từ “Cây đèn cầy” về. “Cây đèn cầy” tức vùng 1 chiến thuật. Con số “1” đính nơi áo giống hình cây đèn cầy thắp lên giữa vùng hỏa tuyến, xui lắm! Binh nhì đưa ra tác chiến ở đó dễ thành “cố binh nhất” vĩnh viễn. Đã bị đẩy trú quân vùng 1 mà được chuyển về Sài Gòn coi bằng thoát miền tử địa, khỏi ăn cháo lú. Nhưng bù lại, các cây bút hưởng “ân huệ” đó cần quên mình, viết theo chỉ thị đưa ra từ phủ đầu rồng. 6/23


Dạo đó có tin Quật Cường chuẩn bị “quật” chuyện tình vụng trộm của mình lên mặt báo, trung tướng Vĩnh Lộc lo lắm. Tuy là tờ báo hẻo lánh, ít bạn đọc so với các tờ khác trong làng báo Sài Gòn, nhưng tướng Lộc sợ các tờ khác xía vô “nổ dây chuyền” phiền phức. Cũng thời điểm đó, ký giả “có vai vế” mà tướng Lộc muốn nhờ đỡ đang bị “hạ tầng công tác” vì việc gì không rõ và em rể của nhà thơ Nguyên Sa Trần Bích Lan (người họ Trịnh) được đưa về thay thế. Không biết việc thay đổi về nhân sự trên, ông Lộc cứ truyền lễ lạc mang tới. Ký giả kia bảo mình không có quyền hạn chi. Nhưng phía ông trung tướng tưởng quà cáp còn ít cứ nài nỉ “xin nhận cho”…Việc cũng qua, trung tướng Vĩnh Lộc băng băng lên tới Tổng tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn nhưng chỉ tại chức có …1 ngày, vào 29.4.1975 theo quyết định muộn màng của đại tướng Dương Văn Minh, ông Vĩnh Lộc được các tướng tá viết hồi ký nhắc đến là sĩ quan “có học vấn cao” (Đỗ Mậu), thuộc hàng “tướng lĩnh thâm niên nhất” (Trần Văn Đôn). Còn Nguyễn Chánh Thi ghép ông với các tướng tham nhũng cạnh nhau, gọi bằng “chúng nó”. Và phiên tòa của “chúng nó” như chữ ông Thi gọi, tiếp tục cuối chiều đó bằng phát biểu của Nguyễn Cao Kỳ sau khi nghe Nguyễn Hữu Có và Đặng Văn Quang chống lại hướng xử “nửa chừng xuân”: “Tôi quên không nói rõ là cá tính của ông Thi thù hằn ghê lắm. Phải mường tượng ngày hôm nay hội đồng kỷ luật từng này người mà phạt ông 60 ngày trọng cấm, ngày nào ông ngồi ông xét xử lại, ông kể lại từng tên một này ra, không xót một tên nào! (…) Tôi xin kể anh em nghe câu chuyện: Thiếu tá Phan Phụng Tiên lái máy bay cho ông đi trốn ở Cao Miên chỉ vì sang đó (1960) nó hành động này nọ, nó chỉ trích rồi nó không chơi với ông nữa. Thì hôm đầu tiên ông về đây (1963) gặp tôi ông bảo, thằng Tiên nó đâu rồi mày. Hôm đó ông định giết nó. Tôi phải can ông mãi trong hành lang Tổng tham mưu. Tôi bảo nó là đàn em, dầu nó có tội mà nó có công lái máy bay nếu không làm sao anh trốn được. Thằng Tiên sợ quá xanh mặt về nói với tôi thôi rồi ông Thi về đây tôi chết. Vì ông đó là ông ghê gớm lắm! Ghi lại các phát biểu trên, Hoàng Đại Minh, người đưa tài liệu đặc biệt về phiên xử lên mặt báo Tia Sáng, đã nhận xét: “Dẫu sao lúc này sau những tháng rối ren đẫm máu mà (nguyên cớ) cũng tại việc ông (Kỳ) cách chức tướng Thi nên đứng ở địa vị thủ tướng chính phủ đứng đầu ngành hành pháp…ông Kỳ phải thận trọng. Lần kết tội này đối với tướng Thi nếu suôn sẻ không nói chi ngược bằng rối ren lại ầm ầm dấy lên thì chưa chắc ông còn giữ vững được ngôi vị…”. Đoán ý Nguyễn Cao Kỳ tuy có chuyển sau những lời kết tội mạnh mẽ của hai ông Có và Quang nhưng vẫn còn dè dặt, chờ đợi, thiếu tướng Vỹ tiếp thêm: – “Tôi e rằng nếu không giải ngũ ông Thi là mình tự thổi phồng ông lên…”. Tướng Lê Nguyên Khang thì: “Sở dĩ ông Thi được coi là thần tượng trong thời gian vừa rồi vì nhiều người thấy ông hò hét như vậy nể nang, riêng mình phải nhận một phần lỗi, chứ nếu mình đã đưa ông đi an trí với những biện pháp, rồi cắt đứt tất cả sợi dây liên lạc rồi thì tôi tin rằng ông không còn cái gì nữa…”. 7/23


Phiên xử lấn cấn chỗ nên “cắt đứt tất cả sợi dây liên lạc ngay” (biệt cấm) đồng lúc với giải ngũ hay hoán từng giai đoạn. Lui tới “phe ông Có” đòi “bứng gốc” bị can Nguyễn Chánh Thi khỏi đất Việt Nam quăng ra nước ngoài. Một lần cuối, ông Kỳ cố thuyết phục hãy chầm chậm chút đỉnh: – Nếu trên thực tế mình chấp nhận ông ấy phải ra khỏi quân đội, thì bây giờ (như đòi hỏi gấp gáp của tướng Có) hay hai tháng sau, cũng vậy. Vì từ giờ đến hai tháng nếu mình chấp nhận mọi hình phạt trọng cấm hay biệt cấm xong là 60 ngày thì trong 60 ngày ông không “contacter” (tiếp xúc) được với ai! Phiên xử đến hồi phải gút. Đến 17 giờ 5 phút ngày 9.7.1966 (ông Thi ghi 14.7). Hội đồng kỷ luật quân đội Sài Gòn do ông Thiệu đứng đầu tuyên án 60 ngày biệt cấm, hưu trí đối với tướng Thi. Hồi ký Nguyễn Chánh Thi viết: “Cuộc hỏi tội chấm dứt lúc nào tôi cũng không biết. Tôi bâng khuâng bước ra khỏi phòng hội Bộ Tổng tham mưu, đầu óc trống rỗng”. Ông và Tôn Thất Đính, Phan Xuân Nhuận bị áp giải về lại số 2 đường Tú Xương. Cơm tối xong, ông Đính hối hả chạy sang gặp Nguyễn Chánh Thi, bảo: – Anh có nghe radio không? Chúng nó loan báo phạt mình và đuổi ra khỏi quân đội rồ!i Ông Đính quát tháo, chửi bới Thiệu – Kỳ – Có toáng lên. Lính gác ngỡ có xô xát ôm súng chạy đến. Họ đứng nghe, im lặng “im lặng nhìn nhau rồi bỏ đi”. Mấy hôm sau, Nguyễn Hữu Có cho xe đến đón Nguyễn Chánh Thi vào nơi làm việc tại Bộ Quốc phòng. Ông Thi thuật lại buổi nói chuyện cuối cùng với ông Có tại Sài Gòn hôm đó: Gặp tôi hắn có vẻ ngài ngại, cố làm ra vui vẻ, hỏi: – Anh có được mạnh khỏe không? Tôi không trả lời. Hắn nói tiếp: Chính phủ (?-Ông Thi đánh dấu hỏi) và người Mỹ đã chịu điều kiện anh đòi hỏi, anh nghĩ sao? – Điều kiện ấy là gì? – Thì anh sẽ chịu đi ra ngoại quốc với điều kiện là thả tất cả những người phạm tội trong vụ biến động miền Trung. Tôi cố làm ra vui vẻ nói đùa với Nguyễn Hữu Có: – Té ra tôi cũng quan trọng thế hả? Bứng được tôi chắc các anh mừng lắm hỉ?… Có lặng thinh nhẫn nhịn. Tôi trêu thêm: – Hôm nay tôi cứ tưởng anh gọi đến chia tiền bán thuốc phiện, mừng quá…” 8/23


Không đợi đến “60 ngày biệt giam” mà khoảng hơn 10 ngày sau, vào ngày 20.7.1966, đại tướng Samuel Wilson, “Giám đốc cải cách điền địa” mà ông Thi biết là người của CIA đến nhà giam thúc: “đã đến lúc tôi phải đi khỏi nước càng sớm càng tốt”! 24 – Nguyễn Văn Thiệu hứa cuội với Nguyễn Chánh Thi và hạ đo ván tướng Kỳ lần đầu tiên ra sao? Đích thân vào ‘thăm” Nguyễn Chánh Thi tận nơi giam giữ, đại tướng Mỹ Samuel Wilson thông báo chính ông ta đứng ra “dàn xếp như ý muốn” của ông Thi. Nghĩa là “những anh em can dự vào biến động miền Trung sẽ được thả”. Phần tướng Thi, còn được một tuần đến 10 ngày để chuẩn bị rời khỏi Việt Nam vô thời hạn. Theo ông Thi, ông không có trương mục gửi nhà băng Thụy Sĩ hoặc các ngân hàng khác. Hội đồng quân lực Sài Gòn phải trợ giúp ông 5.000 đô la, may cho 5 bộ đồ lớn tại hiệu may Tân Tân đường Tự Do và mua “tặng” tấm vé máy bay Sài Gòn đi Hoa Thịnh Đốn không đăng ký khứ hồi. Một trời tâm sự của Nguyễn Chánh Thi viết: “Ngày 29.7.1966, tôi và hai đứa nhỏ, Nguyễn Chánh Hiển 9 tuổi và Hoàng Thị Hoàng Yến 7 tuổi được đưa ra sân bay Tân Sơn Nhất đi Mỹ”. Số ông lận đận, ngay chuyến bay biệt xứ đó cũng gặp trắc trở. Theo một tờ báo đương thời: “Tướng Thi cùng 2 trong 4 đứa con (vợ ông sống với người khác từ hồi ông bị Ngô Đình Diệm kết tội “phản nghịch” phải trốn sang Campuchia năm 1960-1963) và một hầu cận (?) rời Sài Gòn đi Hoa Thịnh Đốn nhưng một cuộc đình công của nhân viên hàng không làm họ kẹt ở Honolulu”. Cả bốn người chuyển sang chiếc phản lực cơ Air Force One đi nhờ đoạn đường còn lại. Ông Thi viết: “Chuyến lưu đày nào mà không buồn! Đi thì đi nhưng tôi không ngờ lại bị giam hãm ở nước này (Mỹ) lâu đến thế!” Bốn năm sau, vào giữa tháng 12.1970, tờ Baltimore Sun tiết lộ “phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ trong chuyến sang Mỹ đã gặp tướng Thi” nhưng cuộc gặp gỡ này đầy kịch tính và được nữ phái viên Rose Kusnher tường thuật khá sinh động: Ông Kỳ “ngồi hàng ghế đầu ở câu lạc bộ quốc gia báo chí tại Hoa Thịnh Đốn ghì lấy lưng ghế rồi quay lại ra lệnh một cách vội vàng … Liền đó, ông Đặng Đức Kh. (tuân lệnh) đi nhanh đến dãy bàn nằm đối diện diễn đàn rồi ngồi mọp xuống bên cạnh chiếc ghế của một người Việt Nam khác cũng có bộ râu như ông Kỳ là trung tướng Nguyễn Chánh Thi để chuyển lời mời tướng Thi đến ngồi với phó tổng thống Kỳ tại bàn tiệc đặt ở hàng đầu, tướng Thi đã từ chối”. Đến bữa cơm được dọn ở trụ sở trên, những người biểu tình thuộc nhiều phe nhóm hò hét bên ngoài, ông Kỳ được bảo vệ kỹ lưỡng, nhưng hẳn nhiên không thoải mái lắm bởi hàng rào an ninh chìm nổi vây quanh, trong lúc “tướng Thi tự do đi đi lại lại trong phòng tiệc đầy người, ngưng lại nói chuyện với thân hữu cũ như tướng Lewis Walt, cựu tư lệnh bộ chỉ huy thủy quân 9/23


lục chiến Mỹ tại Đà Nẵng thời miền Trung biến động. (…) Tướng Thi phà khói sau khi hít những hơi thuốc trong chiếc ống điều ngà cũ xì và thuật lại những diễn biến đưa đến việc ông bị hạ bệ”. Ông nói vào lúc đó (1966), Mỹ tung một lúc quân lính và đô la ào ào vào Nam Việt Nam. Đô la Mỹ làm mờ mắt nên không ai muốn từ bỏ quyền hành của mình đang nắm, vì “có quá nhiều cơ hội để trở nên giàu có”, ngược lại họ lanh lùng loại trừ những tiếng nói phản kháng. Thậm chí họ đành tâm nghe theo ý kiến ngấm ngầm chỉ vẽ của “đại sứ Cabot Lodge và vị phụ tá là ông Philip Habib cho phi cơ Mỹ dội bom Đà Nẵng khi dân chúng nổi dậy phản đối …”! Những lời bộc trực cứng cỏi đó chắn hẳn phải gây khó cho ông trong chuyện ông xin hồi hương về Việt Nam vào đầu năm 1972. Ông Thiệu bắn tin qua báo Sóng Thần (một tờ báo “thông thạo nhất về tin tức của phía chính quyền”) là “sự trở về của ông Thi có một vài khiếm khuyết về thủ tục, ông (Thiệu) cũng sẽ ra lệnh cho các viên chức thừa hành thông qua”. Thế là sau 6 năm sống lưu vong, sáng 23.2.1972 ông Thi về đến phi thường Tân Sơn Nhất trên chuyến phi cơ 747 của hãng PANAM. Dư luận báo chí hết sức ngạc nhiên, như Mạc Kinh viết: “Nhiều lầnông (Thi) vẫn tuyên bố chống chính sách can thiệp của Mỹ, điều làm cho Hoa Kỳ không mấy hài lòng. Mới đây ông cũng xác nhận quan điểm đó cho nên người ta đã ngạc nhiên làm sao tướng Thi lại được Hoa Kỳ chấp thuận cho trở về Việt Nam. Một vài nguồn tin còn đi xa hơn cho rằng chính Hoa Kỳ đã áp lực tổng thống Thiệu, yêu cầu ông Thiệu để cho ông Thi về với một sứ mạng đặc biệt nào đó trong tương lai” (!) Thật ra chẳng có “một sứ mạng” nào cả mà thực tế xảy ra khác hẳn với lời Nguyễn Văn Thiệu hứa. Nghĩa là thay vì đón mừng, theo Hiếu Chân thuật lại, sáng sớm hôm đó một đại đội cảnh sát dã chiến nai nịt gọn gàng, trang bị lựu đạn cay, súng M-16, ma trắc và cả lá chắn được tung đến phục sẵn quanh chỗ máy bay sắp hạ cánh. Hỗ trợ bên trong các phòng hành chánh của phi trường còn có cảnh sát áo trắng chở tới đông ngót hàng chục xe túc trực với đồ nghề cầm tay gồm máy truyền tin liên lạc, máy đánh chữ và súng lục bên hông. Tất cả đợi khi chiếc máy bay có chở tướng Thi vừa đáp xuống thì cùng một lượt hướng tầm mắt về phía cầu thang lên xuống … Ở đó, theo hãng UPI, có giám đốc cảnh sát đô thành Trang Sĩ Tấn. Trang Sĩ Tấn xuất hiện chặn tướng Thi lại, yêu cầu ông không được bước vào phòng khách của Tân Sơn Nhất và ngồi yên tại chỗ để quay trở về Mỹ trong vòng 10 phút nữa! Vào lúc đó, từ đại sảnh của phòng trà sân bay, hàng trăm thân hữu của ông Thi nhướng mắt chờ đợi ông với bữa tiệc hứa hẹn sẽ đầy đủ các chính khách quan trọng đến dự ngay trưa ấy tại Sài Gòn. Nhưng ngoài kia ông bị giữ lại. Cuối cùng, chiếc phi cơ phản lực khổng lồ gầm rú và hối hả cất cánh quay về Mỹ với người khách độc nhất là tướng Nguyễn Chánh Thi. Như vậy chuyến hồi hương về Việt Nam đó ông chỉ được nhìn khung cảnh Sài Gòn qua cửa máy bay, rồi bị buộc phải độc hành viễn xứ lập tức. Báo chí Sài Gòn lại rộ lên dư luận chỉ trích Thiệu – Kỳ xử sự với ông Thi không công bằng và đưa tin hãng PANAM chưa đồng ý về khoản bồi thường 200.000 đô la cho “sự cố” trên. 10/23


Qua vụ đó, người ta liên tưởng đến việc ông Thiệu hạ đo ván tường Kỳ thời kỳ vận động tranh cử tổng thống 1967. Lúc đầu, Nguyễn Cao Kỳ và Nguyễn Văn Thiệu đều muốn ghi danh. Song Kỳ bảo: “Nếu hai chúng tôi cùng ganh đua để tranh ghế tổng thống thì điều này có thể sẽ được người ta coi là một sự rạn nứt trong quân đội”. Để giải quyết, tướng Cao Văn Viên với tư cách “bộ trưởng bộ quốc phòng” triệu tập 48 tướng lãnh bàn cãi một ngày dài. Nhưng không tới đâu, và hai bên quay mặt choảng nhau. Màn ngoạn mục đầu tiên là Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố ứng cử tổng thống để Thiệu làm phó nhưng … 25 – Thiệu – Kỳ và cuộc chạy đua “có người lái” vào Dinh Độc Lập Thật ra không đợi đến cuộc bầu cử tổng thống năm 1967 mà ngay giai đoạn thành lập nội các chiến tranh hồi 1965 đã nảy sinh va chạm ngấm ngầm giữa “cái ngã” của hai ông Thiệu và Kỳ. “Lúc mới đầu, Thiệu và tôi (Nguyễn Cao Kỳ) đã đối xử với nhau khá hòa thuận nhưng có sự rắc rối tế nhị giữa chúng tôi. Trong địa vị quốc trưởng, Thiệu không nắm bất cứ quyền hạn gì trên thực tế. Chính tôi đã phải chịu lấy trách nhiệm về các quyết định và việc này khiến Thiệu đâm ra ghen tỵ. Tôi có thể hiểu chuyện này dễ dàng hơn nếu Thiệu đã không từ chối thành lập một chính phủ trước đó bởi vì Thiệu sợ vướng trách nhiệm. Thiệu muốn có quyền lực và danh vọng, nhưng lại không muốn nhận những công việc nặng nhọc khó khăn. Thiệu là hạng người như vậy”. Dẫu không ưa “hạng người như vậy” nhưng ông Kỳ vẫn phải chung sống một cách khổ sở chỉ vì cả hai đang cùng hợp sức quật ngã những tướng tá có máu khinh bạc như Thi. Thi đi rồi, đến lượt Nguyễn Hữu Có bị “chiếu tướng”. Do bệnh “công thần”, lại cậy mình là phó thủ tướng kiêm tổng trưởng quốc phòng, nên tướng Có hớ hênh, nhiều lời. Biết Thiệu – Kỳ để tâm. Có thổ lộ với Trần Văn Đôn muốn làm đảo chánh cho “yên bề”. Nhưng chưa kịp động thủ, cuối năm 1966 Có đi thăm Đại Hàn và Đài Loan về đến Hồng Kong bất ngờ nhận được lệnh của Thiệu – Kỳ cấm không cho trở lại Việt Nam, phải sống lưu vong dài hạn ở nước ngoài! Dòm trong nước, các “tướng già” Đôn – Đính – Kim – Xuân đã bị loại bằng nhiều cách. Như Đôn và Kim thì bị lấy cớ “25 năm ở trong quân đội” phải “hưu”. Dương Văn Minh “công du” biệt tăm, về Bangkok thì chặn lại, mãi đến 1970 mới hồi hương. Nguyễn Khánh thì khỏi nói – làm “đại sứ lưu động suốt đời”… Thế là thoáng. Nhóm “tướng trẻ” do Kỳ và Thiệu đứng đầu giờ đây nắm quyền, cả chính trị lẫn quân sự. Không còn ai đối thủ, Kỳ và Thiệu đối mặt nhau, tranh ghế tổng thống. Như nói trên, 48 tướng lĩnh thuộc hội đồng quân lực Sài Gòn họp nhằm giải quyết hai vụ ông Kỳ và Thiệu đều là người của quân đội lại đứng ra lập 2 liên danh riêng để tranh phiếu coi không được. Binh lính sẽ ủng hộ ai? Lối thoát vạch ra là yêu cầu ông Thiệu rút lui khỏi quân đội và sau đó ra ứng cử với tư cách dân thường. Nhưng ông Thiệu nêu “hai không”: – Thứ nhất, không rút khỏi quân đội, vì nếu rút khỏi đó ông sẽ mất phiếu! – Thứ hai? (nói sau). 11/23


Bàn đi cãi lại mãi không ngã ngũ, 40 tướng lĩnh nhường quyền quyết định cuối cùng cho hội nghị cấp cao nhất của họ và rút ra khỏi phòng họp chờ đợi. Thiệu và Kỳ cũng vậy, cùng ngồi ngoài hành lang xem 7 thành viên ủy ban lãnh đạo quốc gia sẽ công bố gì. Kết quả, ủy ban gạt những bất đồng để cùng đòi hỏi ông Thiệu giải ngũ trước, ra ứng cử sau. Thiệu sừng sộ: – Quý vị không thể buộc tôi rút lui khỏi quân đội. Dường như tới đó ông Thiệu làm lung lay lòng kiên nhẫn của ông Kỳ khi ông ta lặp đi lặp lại cái “không rút lui” đó. Nghệ sĩ tính nơi Kỳ nổi dậy vừa đủ để thấy “một nỗi chua chát dâng lên” và sau đó buông một câu trong hồi ký: – Thật là hèn hạ hết chỗ nói! Đoạn tiếp theo là “tự bạch” thời xâu xé vất vả: “Trước đây tôi đã thực sự không ưa thích gì hoạt động chính trị dầu cho tôi từng giữ chức thủ tướng. Nhưng tôi phải trải qua nhiều tháng với sự thách thức để giành lấy quyền hành tối cao, với những tranh chấp về chức vụ hoặc địa vị và bỗng nhiên tôi cảm thấy ghê tởm và mệt mỏi”. Rồi bằng sự buông bỏ tự tâm, ông Kỳ khiến hội đồng quân lực trố mắt bởi tuyên bố: – Nếu ông Thiệu muốn là ứng cử viên của quân đội thì hãy để ông ta làm một mình. Tôi sẽ quay về với nhiệm vụ trước đây của tôi trong không quân. Bầu khí lúc đó được ghi nhận là “yên lặng đầy kinh ngạc”, trước sự hy sinh của Kỳ. Không đợi lâu, tướng Hoàng Xuân Lãm (được Kỳ giao chức tư lệnh vùng I sau xáo trộn miền Trung) la lớn lên: – Vì ông đã hy sinh để giúp củng cố tình đoàn kết trong quân đội, vậy thì tại sao ông không thể hiện sự hy sinh ấy tới cùng! Lý do Kỳ phải “hy sinh” là ông Thiệu ứng cử một mình chưa chắc thắng nổi các đối thủ dân sự. Vậy nên ông cần đứng chung liên danh với Thiệu. Lúc đầu, nói như Trần Văn Đôn “phiên họp tiền hội nghị quyết định ông Kỳ là ứng cử viên tổng thống và ông Thiệu ứng cử viên phó tổng thống”. Tới đó Thiệu lòi ra cái “không” thứ hai: – Không làm “phó” cho Kỳ! Tiếp tục hục hặc. Mỹ nhảy vào làm “trọng tài”…bênh Thiệu: “Tối đó, Mỹ đi tìm một số tướng lãnh để bàn thảo, thuyết phục các tướng rằng Nguyễn Cao Kỳ bồng bột, bốc đồng v.v…” Bảo các tướng hãy để Thiệu đứng tên ứng cử viên tổng thống. Kỳ làm phó. Sáng ra, hội đồng quân lực chung quyết. Rốt cuộc, sau nhiều ngày lao tâm, Kỳ “hy sinh” hết điều này đến điều nọ, để cuối cùng chịu làm “ứng cử viên phó tổng thống đứng dưới ông Thiệu”. Tạo màu sắc dân chủ, Tòa đại sứ Mỹ khuyến khích hình thành một số liên danh tranh cử với Thiệu – Kỳ như các liên danh của: Phan Khắc Sửu – Phan Quang Đán, Trần Văn Hương, Mai Thọ Truyền, Hà Thúc Ký – Nguyễn Văn Dinh, Nguyễn Hòa Hiệp – Nguyễn Thế Truyền, Vũ Hồng Khanh – Nguyễn Văn Đang, Hoàng Cơ Bình – Lưu Quang Khình, Nguyễn Đình Quát – Lê Ngọc Chấn, Phạm Huy Cơ – Lý Quốc Sỉnh, Trần Văn Lý – Nguyễn Văn Đương, và có cả 12/23


liên danh đối lập của Trương Đình Dzu. Như thế, Mỹ trở thành “người cầm lái” cho cuộc chạy đua vào dinh Độc Lập, Ở nước rút, Kỳ thừa hiểu khi đứng vai ứng cử viên “phó”, vai trò “toàn quyền” của mình ở vị thế thủ tướng trong hai năm 1965 – 1967 sẽ chuyển sang tay Thiệu (với vị thế tổng thống). Điều đó được quyết định từ sân sau của tòa đại sứ Mỹ. Để chia sẻ quyền hành, không thả hết cho Thiệu, các tướng mưu lập một hội đồng giám sát hành pháp. Hai tướng Nguyễn Đức Thắng và Linh Quang Viên soạn nội quy với sự chấp nhận của Thiệu: “Sau này dầu là Tổng thống nhưng Nguyễn Văn Thiệu lại là hội viên của Hội đồng tướng lãnh (quân ủy hội) nên phải chịu sự giám sát của Nguyễn Cao Kỳ”! Liệu “một tổ chức bí mật, ngoài quy định hiến pháp” kiểu như vậy được Mỹ để cho thành cơm, thành cháo không? Nội tình chính trường Sài Gòn đang loay hoay quanh dinh Độc Lập thì ngoài kia, xa hút phía ngoại ô, những cơn sấm sét sắp về theo ngọn đông phong 1967. 26 – Những dấu hiệu “Không bình thường” trước Tết Mậu Thân 1968 Trước ngày “hy sinh”tuột xuống vị trí ứng cử viên phó tổng thống để Thiệu nổi lên, Nguyễn Cao Kỳ đã tìm gặp Trần Văn Đôn và dịu giọng: – Tôi tiếc rằng hiến pháp không cho anh ứng cử tổng thống hoặc phó tổng thống. Nếu không tôi đã mời anh ra phó tổng thống với tôi. Tôi cần một phó tổng thống người miền Nam. Hiến pháp mà ông Kỳ nhắc trên soạn thảo xong cuối năm 1966 theo đòi hỏi nóng bỏng của cuộc tranh đấu ngoài Trung. Khác hiến pháp dưới thời Ngô Đình Diệm cho phép người “có quốc tịch Việt Nam liên tục ít nhất 10 năm” quyền ghi danh ứng cử tổng thống, phó tổng thống. Hiến pháp “đệ nhị cộng hòa” soạn thảo thời Thiệu – Kỳ nắm quyền bắt buộc “có quốc tịch Việt Nam từ lúc mới sinh” nên Andre Trần Văn Đôn (sinh 1917 tại Pháp) bị loại. Tuy vậy, ông có quyền ứng cử quốc hội nên đã cùng Tôn Thất Đính và 8 người khác đứng chung một liên danh và đắc cử vào Thượng viện Sài Gòn qua cuộc bầu cử tổ chức trước đó, tháng 5.1967. Nay, tuy không ra tranh cử tổng thống, phó tổng thống được, nhưng ông Đôn đã có ghế nghị sĩ, nghĩ “đúng lúc phải ngồi lại với nhau” nên giới thiệu với Kỳ luật sư Nguyễn Văn Lộc thay mình. Kỳ đồng ý. Khi ráp với Thiệu, Kỳ nêu yêu sách sau trúng cử sẽ để Nguyễn Văn Lộc làm thủ tướng. Ông Thiệu chấp thuận. Và giữa tháng 11.1967, ông Lộc trình diện nội các với các tổng trưởng: bác sĩ Trần Văn Đỗ (ngoại giao), trung tướng Nguyễn Văn Vỹ (quốc phòng), trung tướng Linh Quang Viên (nội vụ), trung tướng Nguyễn Đức Thắng (xây dựng nông thôn), ông Trương Thái Tôn (kinh tế), ông Lưu Văn Tính (tài chính), giáo sư Tăng Kim Đồng (văn hóa giáo dục), giáo sư Phó Bá Long (lao động), bác sĩ Trần Lữ Y (y tế), ông Bửu Đôn (công chánh), ông Huỳnh Đức Bửu (tư pháp), ông Paul Nur (phát triển sắc tộc), ông Tôn Thất Trình (canh nông, điền địa), bác sĩ Nguyễn Phúc Quế (xã hội và tỵ nạn), ông Lương Thái Siêu (giao thông vận tải) và hai tổng trưởng phụ trách các lĩnh vực khác. Thứ trưởng có ông Phạm Đăng Lâm (ngoại giao), ông Trần Lưu Cung (giáo dục; đặc trách đại học và chuyên ngành), giáo sư Lê Trọng Vinh (giáo dục; đặc trách đệ nhất, đệ nhị cấp và phổ thông), luật sư Hồ Thới Sang (giáo dục; đặc 13/23


trách thanh niên học đường), giáo sư Bùi Xuân Bào (văn hóa), ông Nguyễn Chánh Lý (thương mại), ông Võ Văn Nhung (công kỹ nghệ). Giáo sư Nguyễn Văn Tường và ông Đoàn Bá Cang giữ chức bộ trưởng phủ thủ tướng. Nhìn vào danh sách trên, chính giới Sài Gòn thời ấy nhận xét nội các Nguyễn Văn Lộc bớt “mùi thuốc súng” hẳn so với nội các chiến tranh của Nguyễn Cao Kỳ. Song cơ cấu nặng “tính chất chuyên viên” đó tự thân đã chuyển động chậm, lại bị lực cản từ phía Thiệu đón đầu, nên chẳng nhích được tý nào trên đường hành pháp. Ngay từ thai nghén, Thiệu chẳng mặn mà gì, vì là nội các do người của Kỳ đưa ra (thủ tướng Lộc). Nhân cuộc tổng tiến công xuân Mậu Thân 1968 của “đối phương”, Thiệu mượn đà hất ngã luôn “phe mình”, đưa tướng Trần Thiện Khiêm thay Nguyễn Văn Lộc làm thủ tướng và lập nội các mới. Tướng tá cánh Kỳ bị bắn tan hàng. Thế cô lực kém, Kỳ không làm sao bắt Thiệu tuân theo “tổ chức bí mật” gọi là Hội đồng tướng lãnh (Quân ủy hội) do Kỳ làm chủ tịch được. Ngược lại, Thiệu sổ toẹt hội đồng ma đó, xóa lời hứa “chịu sự giám sát” trước kia, một mình tự tung tự tác. Nhiều lần “chủ tịch” Kỳ nhắc nhở, mời họp, Thiệu giả điếc không nghe. Kỳ đành đưa cái hội đồng lãng mạn đó vào…hồi ký, trách: “Ông Thiệu mánh khóe xảo quyệt giành lấy thêm nhiều quyền hành cho ông ta”. Kỳ, với danh hờ “phó tổng thống”, bị hất đứng bên lề từ đó. Thiệu lên. Việc chính quyền Thiệu gây “ấn tượng mới” là hủy bỏ lệnh cấm đốt pháo vào những ngày đầu xuân 1968. Mấy năm trước cấm hẳn. Thiệu vui, nhưng Mỹ rất lo, Westmoreland kiểm lại các diễn biến quân sự đáng để ý vào cuối năm: “Mùa thu đã trôi qua, ngày càng có nhiều dấu hiệu cho thấy (Việt cộng) đang hình thành thế thay đổi chiến thuật nào đó, mà thay đổi lớn! Điều này đã được thể hiện ở Lộc Ninh trong tháng 10 và ở Dakto trong tháng 11.1967 với tính chất khác thường. Số lượng các trận tấn công ở mức trung bình nhưng tăng đều khắp cả nước (…). Lực lượng đối phương ở khu phi quân sự tăng lên. Số xe vận tải phát hiện được dọc đường Hồ Chí Minh tăng lên khoảng 200%!”. Một dấu hỏi lớn màu đỏ được chấm đằng sau con số kia. Câu trả lời phỏng đoán của Westmoreland là việt cộng đang nỗ lực chuyển quân nhằm “đánh tràn vào”. Nhưng đánh ở đâu? Và khi nào? CIA ở Sài Gòn cố thu lượm và tập hợp các bằng chứng để củng cố thêm “về một chiến lược đánh tới”, đánh quyết liệt của “đối phương” sắp đến. Nhưng tướng Võ Nguyên Giáp từ Hà Nội tuyên bố tiến hành cuộc chiến tranh kéo dài và kêu gọi bảo toàn lực lượng. So với thực tế chiến trường, lời nói tướng Giáp đăng trên báo tháng 9.1967 khác xa. Vì qua tháng 11.1967, lữ đoàn dù bắt được tài liệu “nêu lên những nét lớn cho đợt tiến công quy mô” và rằng “Bộ chỉ huy miền Trung (của Việt cộng) kết luận là đúng lúc phải có một cuộc cách mạng (do các lực lượng quần chúng) trực tiếp hành động và đến thời cơ tổng tấn công, nổi dậy”. Phải chăng lời kêu gọi “bảo toàn lực lượng” của tướng Giáp chỉ nhằm đánh lạc hướng đối thủ? Westmoreland viết: “Sau những trận đánh mùa thu, tôi kết luận rằng (lời tướng Giáp) là một cách ngụy trang, một lối tỏ vẻ như thất vọng có tính toán”. 14/23


Với những nhận định trên, Westmoreland về Washington tháng 11.1967 để gặp tổng thống Mỹ. Người phụ tá ở Sài Gòn là tướng Abrams đã điện cho Westmoreland tài liệu bắt được gần Dakto kêu gọi “có một nỗ lực tấn công tập trung phối hợp với các đơn vị khác ở khắp chiến trường miền Nam Việt Nam!”. Westmoreland đem tài liệu đó thảo luận ngay với Lầu Năm Góc. Tuy có bàn tới, nhưng cuộc tổng tiến công vẫn bất ngờ, hết sức bất ngờ đối với Westmoreland vào Tết Mậu Thân nhằm ngày 31.1.1968. Trước đó nửa tháng, Westmoreland lúng túng: “Như tôi đã báo cáo trước Hội đồng phái bộ Mỹ ngày 15.1.1968, tôi thấy khả năng là 60 đến 40% đối phương sẽ đánh trước Tết, có thể vào ngày 25.1. Ngược lại, tướng Davidson, sĩ quan tình báo của tôi, lại thấy khả năng là 40 đến 60% đối phương sẽ vận động, chuẩn bị trong thời gian ngưng bắn và sẽ đánh sau Tết”. Nhưng cuộc tổng tiến công nổ ra không phải “trước” hoặc “sau” mà đúng vào ngày Tết! Westmoreland và Davidson đều đoán sai! Trong lúc các tướng chỉ huy cao cấp nhất của Mỹ ở Việt Nam đang điên đầu vì các dự đoán, thì ông Thiệu sắm sửa chuẩn bị về quê vợ tại Mỹ Tho ăn Tết và ông Kỳ trầm trồ về “dinh tổng thống Việt Nam rộng lớn không kém gì Nhà Trắng ở Washington!”. 27 – Vụ đánh bom Dinh Độc Lập năm 1962 và tướng Kỳ “hạ cánh không an toàn” Bà Trần Lệ Xuân tại hiện trường vụ ném bom Dinh Độc lập năm 1962 Cuối năm 1967, với “33 phần trăm số phiếu bầu” liên danh Nguyễn Văn Thiệu – Nguyễn Cao Kỳ dẫn đầu cuộc chạy đua “có người lái” vào dinh Độc Lập. 15/23


Một lần nữa, dinh Độc Lập thành nơi tập trung quyền lực cao nhất của nhà cầm quyền Sài Gòn với danh xưng mới: nền “đệ nhị cộng hòa”. Nơi đó diễn ra những cuộc họp tối quan trọng do Tổng thống Thiệu triệu tập. Ai ngờ những dự án quốc gia, những tin tức chiến lược đem ra bàn bạc tại đó được nhanh chóng thu thập, phúc trình về Hà Nội bởi cụm tình báo A.22 và bởi “cố vấn Tổng thống Thiệu”: tướng Vũ Ngọc Nhạ cài ngay trong dinh. Phía Mỹ thì tìm cách “nghe trộm”. Phương pháp của họ dựa vào kỹ thuật “cách không truyền âm” như Trần Văn Đôn kể qua hồi ký Việt Nam nhân chứng. Theo đó, vào những ngày quân đội Sài Gòn bắt đầu rơi vào tình trạng hoảng loạn trước cuộc tiến công xóa sổ của quân giải phóng, ông Đôn được phái ra nước ngoài thăm các nước phi liên kết, điện đàm với Thủ tướng Pháp Chirac và gặp đại sư Mỹ ở Hồng Kông là Robert “tham khảo” tình hình và giải pháp cho Sài Gòn. Về đến Tân Sơn Nhất ngày 5.4.1975, ông Đôn đi thẳng tới dinh Độc Lập gặp ông Thiệu trình bày những điều mà 2 ông Chirac và Robert tán đồng. Không ngờ văn phòng CIA tại Singapore “nghe rõ ràng tiếng tôi (Trần Văn Đôn) và ông Thiệu nói chuyện với nhau”. Ông Đôn biết điều đó nhờ một người bạn tên T.P.L tiết lộ sau ngày 30.4.1975 tại Mỹ. Ông L. bảo trưa đó (5.4) ông có mặt tại văn phòng CIA ở Singapore (để liên lạc với CIA ở Sài Gòn sắp xếp cho gia đình rời Việt Nam) nên tình cờ nghe được những mẩu đối thoại truyền về từ Sài Gòn. Ông Đôn viết: “Thì ra lúc dinh Độc Lập được sửa lại sau vụ ném bom năm 1962, trong mấy năm trời xây cất (đến năm 1965 hoàn tất), Mỹ đã đặt máy ghi âm để nghe tất cả những gì xảy ra trong dinh”. Vụ ném bom năm 1962 (thời Ngô Đình Diệm) mà ông Đôn nhắc tới đã phá hủy bên trên nơi làm việc của ông Ngô Đình Nhu nằm phía trái dinh Độc Lập. Đó cũng là sự kiện được nhắc đến trong nhiều hồi ký Đỗ Mậu viết: “Sáng ngày 27.2.1962, khoảng 7 giờ, tôi đang chuẩn bị đến văn phòng thì bỗng nghe tiếng nổ dữ dội, rồi một vùng khói đen nghịt cuồn cuộn từ phía dinh Độc Lập tỏa lên cao, trong lúc trên bầu trời quận một và quận nhì thành phố, 2 chiếc chiến đấu cơ đang bay lượn theo đội hình tác chiến. Không cần phải kiểm chứng tôi cũng biết được dinh Độc Lập đã bị ném bom…”. Khi Đỗ Mậu đến dinh thấy cửa ngoài đóng kín, xung quanh quân phòng vệ phủ tổng thống bố trí sẵn sàng chiến đấu. Ông Nhu không hề gì dù mục tiêu cuộc bỏ bom nhằm vào ông. Bà Nhu bị xây xát nhẹ ở mặt vì bị gạch vỡ văng trúng. Người nhà ông Diệm chạy vào trú tại căn phòng xây vững chắc nhất nằm dưới cầu thang đại sảnh “mọi người im thin thít, mặt xanh như tàu lá chuối”. Ông Diệm, gia đình ông Nhu và cả giám mục Ngô Đình Thục cũng có mặt tại đó. Đỗ Mậu (và Nguyễn Khánh) chào và quay ra, lát sau nhận tin: “Hải quân đã bắn hạ một chiếc phóng pháo cơ của không quân (vừa tấn công dinh Độc Lập) trên sông Nhà Bè, cách công xưởng hải quân chỉ độ một cây số và đã biết được viên phi công là trung úy Phạm Phú Quốc, còn chiếc máy bay thứ hai thì đã mất dạng”. 16/23


Vài giờ sau, “ông Diệm ra lệnh dời phủ tổng thống về dinh Gia Long tức khắc”và gọi ông Mậu đi theo. Ông Diệm ngồi sững sờ đến năm phút mới hỏi: – “Mậu có biết thằng Quốc không?” – “Thưa cụ, nếu nói là Phạm Phú Quốc thì y là người Quảng Nam thuộc dòng dõi cụ Phạm Phú Thứ”. Ông Diệm chau mày, Đỗ Mậu quan sát nơi bom thả, đoán hai phi công bỏ bom dinh Độc Lập chỉ muốn giết vợ chồng Ngô Đình Nhu chứ không có ý sát hại ông Diệm nên tìm cách nói xa gần nhận định trên để ông Diệm nghe… Rời dinh Gia Long, ông Mậu về Nha An ninh quân đội. Tại đó, Cục An ninh hải quân bắt trung úy Nguyễn Văn Đính (anh ruột của trung úy phi công Nguyễn Văn Cử. Cử trực tiếp ném bom dinh Độc Lập và đã bay thoát qua Campuchia) giải về điều tra, khai thác nguyên do, đầu mối “tạo loạn” và đánh cả hai người “mặt mày thâm tím, sưng vù trông rất đáng thương”. Đỗ Mậu viết: “Tôi ra lệnh ngừng ngay cuộc hỏi cung và cho dẫn Quốc, Đính về phòng giam tạm của nha. Ba hôm sau, bà mẹ của Phạm Phú Quốc từ Đà Nẵng vào xin gặp tôi để được phép thăm con” và “chính tôi đích thân dẫn bà cụ vào phòng giam thăm Quốc”. Bà cụ bình tĩnh giữ gương mặt cười thản nhiên và hỏi con: -Vì sao mặt con sưng lên như thế? Quốc trả lời: -Thưa mẹ, khi máy bay rớt xuống nước, mặt con đụng vào thân phi cơ. Chứng kiến, nghe và viết lại những cảnh, những lời đó, Giám đốc Nha An ninh quân đội Đỗ Mậu biết rằng “nét mặt bình tĩnh và nụ cười trên môi bà cụ chỉ là thái độ gượng gạo bên ngoài để che giấu lòng dạ đang héo hon của bà. Cũng như việc Quốc không nói lên sự thật đã bị tra tấn cũng chỉ là lời che giấu để mẹ được yên tâm. Tôi khâm phục mẹ Quốc (…). Tôi liền thưa với bà cụ: -Thưa bác, anh Quốc muốn giấu bác đó, chính nhân viên điều tra của tôi đã tra khảo anh ta đến nỗi mang thương tích nặng nề. Tôi xin lỗi bác… Bà Thiệu lập vườn hoa tren nóc dinh Tổng thống để… chống Nguyễn Cao Kỳ Khi Phạm Phú Quốc bị bắt, chiếc máy bay thứ hai cùng đánh bom dinh Độc Lập hôm đó do phi công Nguyễn Văn Cử lái cũng trúng đạn phòng không. Nhưng may mắn nhẹ hơn và Cử cố lái bay thoát về hướng biên giới, vào vùng trời Campuchia. Ngày đó, Nguyễn Chánh Thi cũng đang tị nạn chính trị vì đảo chính hụt chế độ Diệm và tá túc trong căn nhà thuê gần sân bay Po Cheng Tong kể lại: “Hôm 27.2.1962, ông Thi đi xuống phố thăm dò những tin tức thử xem Sài Gòn có biến động gì không. Và khi “đi vừa gần sân bay Po Cheng Tong thì chợt thấy một chiếc máy bay khu trục có cờ Việt Nam đang sửa soạn hạ cánh. Chiếc máy bay bị trúng nhiều đạn, tỏa ra một loạt khói 17/23


đen ngắt trông thật dễ sợ. Sau đó được biết thêm viên phi công là Nguyễn Văn Cử ném bom vào dinh Độc Lập và bay sang Cao Miên xin tị nạn. Ngày hôm sau tôi đến công an Miên xin phép được vào thăm Cử, đem theo một vài thứ cần dùng cho anh ta. Nguyễn Văn Cử người (tầm vóc) trung bình, rất là bình tĩnh, không một chút dao động, Anh đưa ý kiến muốn được như ý, ra ngoài cùng Nguyễn Chánh Thi, thường thường “đi ăn tại những cái quán nhỏ xíu, chúng tôi vừa ăn uống vừa bàn chuyện phiếm, trào lộng, thậm chí có lúc tiền túi sạch bách mà vẫn tui nhộn vô cùng”! Căn cứ vào các tài liệu và lời kể của người đương thời, Trần Văn Đôn viết là khi đến Campuchia máy bay Nguyễn Văn Cử bị trúng đạn hỏng hóc nhiều “chỉ còn sử dụng được một bánh xe, mất thăng bằng” nên chao đảo, rất khó hạ cánh. Ông Cử phải“bay vòng cho hết xăng” và với “sự khéo léo tuyệt cùng” đưa chiếc máy bay tật nguyền đáp xuống an toàn trong tiếng vỗ tay của nhiều người Mỹ có mặt trên sân bay Po Cheng Tong. Vụ ném bom nằm trong kế hoạc đảo chính bất khả thi do cụ Nguyễn Văn Lực, thân phụ phi công Nguyễn Văn Cử, chủ trương. Ông Đôn viết: “Vụ ném bom làm cho một người giúp việc của bà Nhu chết (…). Vài tháng sau phủ tổng thống gửi thông tư đến các nơi đề nghị yểm trợ xây cất lại dinh Độc Lập. Lần xây cất này trang bị tối tân, quy mô hơn dinh cũ nhưng cũng chính vì chuyện này mà Mỹ (…) cho người len lỏi vào đám chuyên viên để đặt đường dây truyền tin” khiến văn phòng CIA ở Sài Gòn, rồi Singapore, nghe hết những báo cáo tối mật bằng miệng cho Tổng thống Thiệu tại dinh Độc Lập suốt thời gian cầm quyền”. Bên trong dinh là vậy. Nóc dinh cũng đụng chuyện, lần này dính đến… bà Thiệu. Khi ông Thiệu làm tổng thống, ông Kỳ phó tổng thống, cả hai được quyền ở trong dinh. Riêng ông Kỳ tiếp tục ở lại nhà cũ nằm trong căn cứ không quân Tân Sơn Nhất. Vợ ông, bà Tuyết Mai, nhất định không chịu rời mái nhà xưa. Bà bảo đó là tổ ấm bén hơi từ khi hai người lấy nhau, chẳng cần dời đi đâu. Hằng ngày “tôi đi làm và trở về căn cứ không quân bằng máy bay lên thẳng thuộc quyền sử dụng của tôi”. Ông Kỳ kể tiếp, thời gian đầu mỗi sáng ông lái máy bay đáp xuống một bệ sân bay trực thăng được thiết lập trên mái nhà của dinh tổng thống và“không hề hay biết là sân bay nằm ngay bên trên phòng ngủ của Tổng thống Thiệu ở tầng thứ tư”. Ông Thiệu hay dậy muộn, rất khó chịu vì bị đánh thức bởi tiếng máy bay trực thăng đáp xuống vào mỗi sớm. Nhưng, Kỳ bảo “Thiệu không tự nêu lên vấn đề”,mà đi mượn bà vợ Nguyễn Thị Mai Anh của ông nói ra. Bà Mai Anh “nói với tôi (Kỳ) theo một kiểu nói quanh co, bà ta nói rằng bà ta đang thực hiện một vườn bông trên mái nhà để bà có thể lên hóng gió mát vào những đêm nóng nực”. Xong, bà tiếp một cách buồn rầu: – Tôi e sợ sẽ khó mà thực hiện được. Luồng gió cuồn cuộn quá sức mạnh mỗi khi chiếc trực thăng của ông đáp trên mái sẽ quạt hư hết các cây cỏ tôi trồng! Ông Kỳ: ?!!!! 28 – Nguyễn Cao Kỳ và Trần Văn Đôn thuật lại cuộc tấn công mùa xuân 1968 18/23


Bà Mai Anh ( vợ ông Thiệu) nói bóng gió về sự bất tiện của việc máy bay Kỳ làm ồn cái “vườn địa đàng” của bà mỗi sớm. Vì nó đáp ngay trên mái phòng ngủ Tổng thống Thiệu tại tầng 4 dinh Độc Lập. Rồi ra cánh quạt không kiêng nể gì của nó sẽ khiến vườn hoa non nớt mà bà sắp trồng trên đó phải tả tơi vì gió! Nghe chuyện, Kỳ làm thinh, hiểu chuyện và mấy bữa sau thôi không hạ cánh trên bệ trực thăng ở nóc dinh nữa. Ông đáp xuống bãi cỏ dưới đất, phía đại sảnh nhìn ra. Kỳ gọi “đây là trường hợp điển hình của Thiệu; dù cho tiếng ồn ào đã làm cho ông ấy thức giấc, ông đã không tự mình nêu lên” mà đùn vợ ra nói! Với Kỳ, từ “chuyện nhỏ” đó tới “chuyện lớn” ông Thiệu luôn là người đưa đẩy công việc khó khăn cho kẻ khác, bo bo lo lấy thân mình, như hồi 26.4.1975 đã chạy trước khỏi Sài Gòn và chấm dứt 9 năm cầm quyền ở dinh Độc Lập. Dinh Độc Lập (Hội trường Thống Nhất ngày nay) từng bị tiến công bất ngờ lúc 1 giờ khuya mồng một rạng ngày mồng hai Tết Mậu Thân 1968. Cụm biệt động thành thuộc đơn vị F.100 bí mật di chuyển từ hướng khu vực đường Trần Quý Cáp (tức đường Võ Văn Tần, quận 3 hiện nay) về phía trung tâm trong đêm tối. Đúng giờ nói trên, họ đột ngột xuất hiện trước cổng dinh Độc Lập phía trổ ra đường Nguyễn Du và nổ súng, bắn hạ ngay toán lính gác. Lực lượng phòng vệ phủ tổng thống sau phút đầu hoảng hốt, quay ra đánh trả. Hai bên giao tranh quyết liệt suốt đêm. Qua sáng mồng hai, quân Sài Gòn tăng cường từ các ngả vây đánh, có xe tăng yểm trợ. Hỏa lực từ trong dinh bủa ra càng mạnh. Thấy tình thế bất lợi, cụm biệt động rút vào các dãy lầu, cố thủ trên tầng cao nhà 56 đường Thủ Khoa Huân, tiếp tục chiến đấu đến khuya mồng hai Tết. Bắn hết đạn, 8 người hy sinh, đội biệt động còn lại 7 người, chuyền qua các mái nhà lân cận về khu chợ Bến Thành, nhưng họ bị bắt tại khu vực đường Gia Long cũ … Khi cuộc tiến công nổ ra, Thiệu đang ở Mỹ Tho. Westmoreland ở Sài Gòn sửng sốt dẫu đoán biết chắc chắn “có cuộc tiến công quan trọng được địch trù tính mở trong dịp Tết”, nhưng một trong những vị tướng tài ba nhất này của nước Mỹ thật sự kinh hoàng trước quy mô toàn miền, khí tiết đương đầu cảm tử trong những trận đánh rung chuyển Sài Gòn để chiếm Tòa đại sứ Mỹ chẳng hạn. Tòa đại sứ Mỹ bị đánh vỗ mặt khiến dư luận nước Mỹ rúng động, Westmoreland có mặt tại chỗ sau khi trận đánh kết thúc và lính nhảy dù Mỹ được tung xuống nóc nhà đại sứ, đã kể lại trong hồi ký: “Các nhà báo và các nhà quay phim vô tuyến truyền hình Mỹ hình như có mặt khắp mọi nơi. Nét mặt họ ánh lên nỗi buồn bực và tâm trạng không tin tưởng như thể giờ tận cùng của thế giới đã đến nơi rồi”. Vào thời điểm đó, Westmoreland muốn che giấu tâm trạng đang có, thậm chí “nói trái ngược với tin đồn: không một Việt Cộng nào vào được trong sứ quán (!). Sứ quán chỉ hư hại nhẹ (!!)”. Những lời đó thật vô ích, bị dư luận công kích, như Don Oberdorfer báo Washington Post viết: “Cuộc tấn công vào sứ quán hình như đã bác bỏ những lời dự đoán có tình chất tô hồng và những lời khoe khoang thắng lợi mà Westmoreland và những người khác đã tung ra”. Oberdorfer nói các nhà báo khó mà tin ở lỗ tai mình nữa. Westmoreland đã phải đứng trước cảnh đổ nát và nói mọi việc đao to búa lớn! Chính Westmoreland đưa nhận xét đó của 19/23


Oberdorfer vào hồi ký của mình sau này: “Thái độ của nhà báo Mỹ chắc chắn đã góp phần vào thắng lợi tâm lý mà địch đã giành được ở Mỹ”. Không chỉ Tòa đại sứ Mỹ và Dinh Độc Lập, hai cơ quan đầu não của Mỹ nhà nhà cầm quyền Sài Gòn, mà còn 7 mục tiêu nữa tại nội thành được Bộ Chỉ huy Miền chỉ thị đánh chiếm, hoặc làm tê liệt một thời gian, chờ lực lượng mũi nhọn bên ngoài vào tiếp ứng. Tất cả gồm 9 mục tiêu: 1/ Dinh Độc Lập, 2/ Đài Phát thanh, 3/ Bộ tổng tham mưu Sài Gòn, 4/ Đại sứ quán Mỹ, 5/ Sân bay Tân Sơn Nhất, 6/ Tổng nha Cảnh sát, 7/ Biệt khu thủ đô, 8/ Bộ tư lệnh Hải quân, 9/ Khám Chí Hòa. Các đội biệt động đồng loạt ra quân theo giờ quy định. Súng nổ khắp nơi, Nguyễn Cao Kỳ viết: “Khi đó ông Thiệu không có mặt ở Sài Gòn và với tư cách là phó tổng thống, tôi đã lãnh trách nhiệm đối phó với cuộc tấn công này. Vào 4 giờ sáng, chỉ huy trưởng căn cứ không quân đã báo cho tôi biết như sau: Bộ đội Cộng sản hiện đang có mặt ngay cả bên trong căn cứ. Tôi không nghĩ rằng tôi có thể ngăn chặn họ lâu hơn nữa; phó tổng thống và gia đình nên rời khỏi nơi đây”. Kỳ lại càng luýnh quýnh hơn khi được báo: “Cộng quân đã nổ súng vào cổng Phi Long của Bộ tổng tham mưu từ lúc 2 giờ khuya” (31.1.1968). Theo tài liệu của ban nghiên cứu lịch sử Đảng TP. Hồ Chí Minh, 2 cánh quân biệt động thành đánh vào Bộ Tổng tham mưu do Ba Phong, Ba Tâm và Đức chỉ huy, gồm 27 người thuộc cụm số 679. Cả hai cụm lợi dụng địa hình khu vực đường Trương Quốc Dung, chiến đấu từ khuya mồng Tết tới sáng mồng hai. Không đẩy lùi cụm 679 ra khỏi khu vực nổi, Bộ tham mưu Sài Gòn điều lực lượng thiết giáp và tăng thêm bộ binh đến đánh. Hồi ký Trần Văn Đôn viết: “Mồng một Tết, lính Việt Cộng vào đến Bộ tổng tham mưu mà không ai hay. Ở Tổng tham mưu, cổng chính trước là nơi dành cho sĩ quan ra vô. Việt Cộng đã tìm hiểu kỹ nên cho một toán vào cổng sau hô lớn: “Đảo chánh! Đảo Chánh!”. Lính gác ở Tổng tham mưu tưởng thật, để lọt vào trong”. Lọt vào trong cổng số 4 Bộ tổng tham mưu Sài Gòn lúc 7 giờ 5 phút sáng 1.2.1968 là một mũi tiến quân khác của tiểu đoàn bộ binh số 2 tức tiểu đoàn Gò – Môn (Gò Vấp – Hóc Môn) từ ngoại ô bôn tập ép sát mục tiêu từ 4 giờ sáng hôm đó. Mũi này khống chế ngay khu vực đã chiếm. Tới 9 giờ, Bộ tổng tham mưu Sài Gòn buộc phải tung tiểu đoàn 8 nhảy dù thuộc lực lượng tổng trù bị với thiết giáp xa yểm trợ mở cuộc phản công lấy lại cho được khu cổng số 4 vừa mất. Bộ binh quân giải phóng sử dụng ngay đại liên vừa tịch thu được và tựa vào thế phòng thủ từ các công sự đào sẵn, hất ngược các đợt phản kích trong ngày. Quân dù Sài Gòn không tiến lên nổi. Để chiếm ưu thế tỏa rộng tầm hỏa lực, tiểu đoàn số 2 Gò – Môn chế ngự các cao ốc đường Võ Di Nguy quét co cụm lại và bắn cháy một tăng M41 trên đường. Qua ngày hôm sau, tiểu đoàn 2 chiến đoàn B thủy quân lục chiến bổ sung từ Cai Lậy về tham chiến cũng bị quân giải phóng đánh bật. Lần này, Bộ tổng tham mưu Sài Gòn tung thêm một tiểu đoàn nhảy dù nữa, tiểu đoàn 6 thuộc lực lượng tổng trù bị vào mặt trận! Westmoreland viết: “Đáng lo ngại về mặt quân sự hơn hết là các cuộc tấn công vào Tân Sơn Nhất, khu Bộ tổng tham mưu cạnh đó …”. Mặc dù trực thăng Mỹ tuôn đạn xối xả khu vực, cuộc tấn công vẫn tiếp tục “ngoài dự kiến” như nhận xét của Westmoreland. 20/23


29 – Westmoreland và vành đai phòng thủ Sài Gòn 1968 Hồi ký Nguyễn Cao Kỳ viết: “Ngay trước khi biết được những gì đã xảy ra, chúng tôi phải chiến đấu cho mạng sống của chúng tôi trên các đường phố Sài Gòn, Huế tại khoảng 12 tỉnh khác”. Theo cuốn Lịch sử Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định kháng chiến (1945-1975) do Ban Tổng kết chiến tranh Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh chỉ đạo biên soạn (Trần Hải Phụng – Lưu Phương Thanh chủ biên). NXB TP. Hồ Chí Minh 1994, thì: “Giờ G ngày N trên toàn miền được qui định là 00 giờ đến 2 giờ ngày 31 tháng 1 năm 1968 tức đêm mồng 1 sáng mồng 2 tết theo lịch cũ. Các tư lệnh quân khu, các chỉ huy các cụm biệt động đã được phổ biến 48 giờ trước giờ G. Một việc đáng tiếc là do đổi lịch ở miền Bắc, khu 5 và Tây nguyên nổ súng trước, theo lịch cũ (có nhận được lệnh hoãn nhưng quân đã ém nên xin đánh trước. B2 nhận được lệnh hoãn, nổ súng đúng lịch mới)” (trang 479). Cuốn Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 ở Sài Gòn – Gia Địnhcủa Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Thành ủy TP. Hồ Chí Minh, NXB TP. Hồ Chí Minh 1995, viết: “Do thời gian nổ súng tấn công trên toàn miền không thông nhất (Khu 5, Tây nguyên tấn công trước) – vì lịch ta và lịch Trung Quốc không thống nhất, có khác nhau (chệch đi một ngày). Vì vậy ở Sài Gòn địch tăng cường bố phòng chặt chẽ hơn” (trang31). Từ Sài Gòn, tại Bộ Chỉ huy MACV của Mỹ, tướng Tư lệnh Westmoreland nhận tin cấp báo dồn dập điện về ngay đêm giao thừa. Westmoreland viết: “Lúc 0 giờ 35 phút sáng 30.1.1968, nghĩa là hơn nửa giờ sau khi năm con khỉ (Mậu Thân) bắt đầu, các pháo thủ của Cộng sản đã bắn 6 phát súng cối vào trung tâm huấn luyện hải quân Việt Nam tại Nha Trang (…). Một giờ sau, lúc người ta đang còn dạo lễ Tết trên đường phố Buôn Ma Thuột, đốt những tràng pháo dài, thì một loạt súng cối và rốc-kết nã vào thành phố mở màn cuộc tấn công bằng bộ binh. Cũng khoảng thời gian ấy, một tiểu đoàn địch đánh vào quận lỵ Tân Cảnh, kế cận Dakto. Nửa giờ sau, ba tiểu đoàn Việt Cộng tiến đánh thị xã Kon Tum, trong khi đó một tiểu đoàn khác tấn công thành phố Nha Trang. Chưa đầy một giờ sau đó, một cuộc tấn công trên bộ diễn ra tại Hội An, một thành phố cổ nằm ở phía Nam Đà Nẵng. Ngay tại Đà Nẵng, Việt Cộng với một đại đội bất thần đánh vào doanh trại sở chỉ huy Quân đoàn I của Việt Nam. Đến 4 giờ 10 phút sáng (mồng một Tết), hai tiểu đoàn Việt cộng tấn công vùng ngoại ô Qui Nhơn, ở đây nhờ đã có báo động trước đó hai ngày nên viên chỉhuy địa phương cấm đốt pháo, tuy nhiên quân thâm nhập vẫn nhanh chóng chiếm lĩnh đài phát thanh chính phủ tại địa phương…” Những tin tức chiến sự rối bời như trên liên tục báo về suốt đêm. Rạng sáng 31.1.1968, Westmoreland rã rời trước tin doanh trại cố vấn Bộ Chỉ huy MACV của mình tại Huế bị bao vây và “phần lớn Huế đã nằm trong tay địch, kể cả hầu hết khu vực thành nội! Lá cờ màu xanh và đỏ với ngôi sao vàng của Việt Cộng đã bay trên cột cờ thành Huế!”. 21/23


Westmoreland viết rằng đây là lần đầu tiên cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên kỳ đài cố đô trong cuộc chiến tranh. Và khắp nơi: “Quân địch đã vào Sài Gòn, Quảng Trị, Đà Nẵng, Nha Trang, Qui Nhơn, Kon Tum, Buôn Mê Thuột, Đà Lạt, Phan Thiết, Mỹ Tho, Cần Thơ, Bến Tre, … đánh vào 36 thành phố, thị xã của 44 tỉnh lỵ, 64 quận lỵ và 50 ấp…. Đó là cuộc tiến công trên một mặt trận rộng lớn!”. Có thánh mới biết trước đích xác ngày giờ nổ súng ở từng nơi. Riêng “cuộc tấn công mà người ta chờ đợi từ lâu vào Pleiku” theo ghi nhận của Westmoreland trong hồi ký đã diễn ra ngay lúc 4 giờ 40 phút sáng mồng một Tết nhằm 30.1.1968 dương lịch. Khi ấy, tư lệnh cao nguyên không có mặt tại trận địa; mãi sau này nhắc đến giờ phút nguy ngập đó Westmoreland vẫn còn cay cú. Ông viết khi hay tin Pleiku bị tấn công “tướng Vĩnh Lộc từ Sài Gòn vội vã quay về (Pleiku), hình như để lo cho biệt thự của ông hơn là cho trận đánh đang diễn ra”. Không chỉ Vĩnh Lộc, mà với hàng tướng tá Sài Gòn, kể cả Nguyễn Văn Thiệu, Westmoreland tỏ thái độ “kinh ngạc và thất vọng” vì họ có vẻ lo chuyện “ăn Tết” nhiều hơn là quan tâm đến lời cảnh báo. Trong khi ngược lại, thời điểm đó, những sĩ quan tình báo của ông nằm trong Bộ chỉ huy MACV như tướng Davidson luôn trong tâm trạng lo lắng. Khoảng 10 ngày trước Tết, Davidson đã tự ý bỏ cuộc hẹn gặp với vợ, bà Jeanne, tại Hawaii như dự định để dán mắt dán mũi vào các dấu hiệu khả nghi về cuộc lui quân của đối phương quanh Sài Gòn. Gấp tới nỗi Davidson nhờ “ nói hộ cho Jeanne biết làtôi không thể gặp bà ta. Nhờ giải thích, trong phạm vi bí mật, là tình hình trực chiến căng thẳng không cho phép tôi đến chỗ hẹn được. Xin cám ơn”. Vậy mà Thiệu và Cao Văn Viên không để tâm đúng mức đến các tin tình báo về khả năng Sài Gòn là mục tiêu quan trọng nhất của cuộc đại tấn công. Dường như, Bộ tổng tham mưu Sài Gòn quá tin vào ba tuyến vành đai ngăn chặn các lực lượng vũ trang cách mạng thâm nhập nội đô. Theo Ban tổng kết chiến tranh Thành ủy TP.HCM qua cuốn Lịch sử Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định kháng chiến 1945-1975 (do Trần Hải Phụng – Lưu Phương Thanh chủ biên) thì lực lượng bảo vệ Sài Gòn trước Tết Mậu Thân “tương đương 4 sư đoàn Mỹ, 4 sư đoàn ngụy, 8 tiểu đoàn dù và thủy quân lục chiến, 1tiểu đoàn an ninh thủ đô, 20 vạn biệt động quân, bảo an, dân vệ, cảnh sát…tại các tuyến phòng thủ Sài Gòn”. Đó là tuyến bảo vệ vòng ngoài với căn cứ Đồng Dù, cách Sài Gòn 30 km có sư đoàn bộ sư đoàn 25 “tia chớp nhiệt đới” Mỹ, thêm lữ 1 và 2 của sư đoàn này; cộng sư đoàn 25 bộ binh Sài Gòn cùng biệt động quân, bảo an. Ở hướng Bắc, sư đoàn 1 bộ binh Mỹ chốt Lai Khê; cạnh đó là sư đoàn 5 bộ binh, mấy chục tiểu đoàn biệt động quân, đại đội bảo an, dân vệ án ngữ; từ Bến Cát qua Ba Ri, Tân Quy đến Lái Thiêu, Tân Uyên. Hướng đó còn có trung đoàn 11 thiết giáp Mỹ hoạt động ở Bến Cát cách Sài Gòn 50 km. Phía Đông và Đông Bắc có lực lượng quân Nam Triều Tiên chốt ở Dĩ An, lữ đoàn dù Mỹ ở Biên Hòa, quân Úc ở Long Bình, sư đoàn 18 đóng Xuân Lộc… Hướng Nam, hải quân với sự sẵn sàng chi viện của lực lượng tổng trù bị bao gồm sư đoàn thủy quân lục chiến và lữ đoàn dù Sài Gòn. Phía Tiền Giang và Bắc sông Hậu, sư đoàn 9 Mỹ sẵn sàng tiến về Long An bảo vệ phía Nam Sài Gòn. 22/23


Vào sâu nữa có tuyến phòng thủ bên trong gần lực lượng bảo vệ trị an lãnh thổ của Biệt khu thủ đô, cảnh sát dã chiến và biệt động quân. Phải kể thêm sư đoàn không quân số 7 Mỹ ở Tần Sơn Nhất và lực lượng đồn trú tại các yếu khu quân sự như trại Đống Đa, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung, Tô Hiến Thành… Các tuyến phòng thủ trên không ngăn chặn được sự thâm nhập của quân giải phóng như Westmoreland nêu trong hồi ký: “Khi thâm nhập, lính của Việt Cộng dùng căn cước giả giống dân thường không thểphát hiện được trong đám người đông đúc đi chơi Tết”. Trong lúc đó, biệt động nội thành “mở những cuộc tấn công cảm tử vào các mục tiêu như đài phát thanh, các khu doanh trại, các công sở của chính phủ, (…) hoặc ngôi nhà mới đồ sộ 6 tầng ở đườngThốngNhất – Sài Gòn: sứ quán Mỹ!”. Westmoreland viết gì về trận đánh đại sứ quán đó? (Còn tiếp) Nguồn: Nghiên cứu Lịch sử tổng hợp từ Một thế giới Hình: Tướng Nguyễn Hữu Có và nhiều tướng khác sợ nếu không lột lon tướng Thi sẽ bị trả thù.. 23/23


By The Observer January 20, 2017 Hồi ký tướng tá Sài Gòn xuất bản ở hải ngoại (P5) nghiencuuquocte.org/2017/01/21/hoi-ky-tuong-ta-sai-gon-xuat-ban-o-hai-ngoai-5/ Tổng hợp: Mai Nguyễn 30 – Tướng 4 sao kể lại hồi ức trận đánh Đại sứ quán Mỹ tết Mậu Thân 1968 Westmoreland viết: “Các cuộc tấn công mà chúng tôi đã dự kiến và một số cuộc mà chúng tôi không dự kiến đã xảy ra, kể cả cuộc tấn công của quân đặc công vào sứ quán Mỹ”. Nghe súng nổ, một lính Mỹ trực chiến chụp điện thoại phát tín hiệu cấp cứu, bị bắn gục trên bàn. Ngoài đường, một xe tuần tra của quân cảnh Mỹ bắt được tín hiệu đó lúc 3 giờ 5 phút và phóng đến trước mũi súng giương đón. Hai quân cảnh Mỹ vừa xuống xe đã bị bắn gục. Theo lời Westmoreland, đó là chuyên viên bậc 4 tên E.Mc Bust và thượng sĩ quân cảnh Johnny B. Thomas thuộc “đội tuần tiễu đi xe jeep”. Giờ ấy, Westmoreland kể lại là ông vừa trải qua trọn ngày mồng một Tết bận rộn vì “tôi phải đến gặp hoặc điện thoại cho từng tư lệnh cao cấp của Mỹ ở Việt Nam để thảo luận về khả năng xảy ra các cuộc tấn công rộng khắp trước mắt, rồi về nhà rất muộn và rất mệt mỏi”. Ông muốn chợp mắt vài giờ nhưng cuộc tấn công bất ngờ vào Đại sứ quán Mỹ đã dựng ông dậy. Sĩ quan phụ tá Charles Sampson đánh thức ông vì cú điện thoại réo gấp về sở chỉ huy: “Tôi mặc quần áo và đứng canhcạnh máy điện thoại nhà. Cuộc tấn công vào sứ quán thật đáng tiếc…”. Cũng còn hên là đêm đó Đại sứ Bunker không có mặt tại sứ quán – ông đang ở một cơ quan 1/23


Mỹ trên đường Pasteur. Một số lính Mỹ trong tòa đại sứ bị bắt làm tù binh tại trận. Khi lực lượng tiếp viện thuộc tiểu đoàn 716 quân cảnh Mỹ nổ súng quanh đó, các tù binh này vội chạy lên lầu, bị biệt động Sài Gòn lùa hết vào một phòng, khóa cửa giam lại. Trên bầu trời tòa Đại sứ, trực thăng chở lính Mỹ sư đoàn nhảy dù 101 do tướng Frederic Weyand điều tới trong đêm tối đang quần quanh muốn đổ quân xuống nóc. Nhưng chiếc thứ nhất vừa sà thấp định đáp bị hỏa lực của đội biệt động bắn lên, phải dạt ra. Trời sáng dần. Tất cả các hướng đường dẫn đến tòa Đại sứ đều bị phong tỏa, bốn mặt bị lính Mỹ bao vây. 7 giờ, cuộc chiến đấu không cân sức tiếp tục diễn ra và một số biệt động đã hy sinh. 7 giờ 20 phút, hãng tin Mỹ AP đưa tin nhanh do ký giả Peter Arnett từ Sài Gòn điện về New York: “Việt Cộng đã chiếm lĩnh bên trong tòa Đại sứ” gây choáng váng cho Lầu Năm Góc và dư luận Mỹ. Sau đó, tờ Tin hàng ngày Washington loan: “Cảnh sát quân sự Mỹ đã phải đổ bộ bằng máy bay lên thẳng xuống nóc nhà sứ quán ở Sàỉ Gòn trong khói đạn để giành lại ngôi nhà được coi là “chống du kích” nhưng lại bị cộng sản chiếm trong hơn 6 giờ liền. Chỉ riêng cảnh tượng đó cũng đủ để buộc chính phủ Johnson dẹp bỏ những nhận định lạc quan của mình…”. Sau hơn 6 giờ đánh chiếm và bị vây tứ phía, hứng chịu những đợt ném lựu đạn từng chùm từ tầng cao xuống và bị tấn công bởi lực lượng tiếp viện đáp trên nóc tòa Đại sứ bằng trực thăng, tất cả biệt động đội 11 bắn đến viên đạn cuối cùng…. Trừ Ba Đen bị thương nặng và bị bắt, 15 chiến sĩ còn lại đều hy sinh tại chỗ. Westmoreland kể: “Ngay khi tôi biết quân dù đã đổ vào, tôi lái xe đến sứ quán. Lúc đó là 8 giờ 30 phút sáng. Cũng giống như bất cứ chiến trường nào, khu sứ quán thật là hỗn độn, xác người Mỹ và người Việt Nam vẫn nằm ngổn ngang. Nhưng không giống như hầu hết các chiến trường khác, các nhà báo và các nhà quay phim vô tuyến truyền hình Mỹ dường như có mặt khắp trong ngoài mọi nơi…”. Sự xuất hiện năng nổ của các nhà báo và các phóng viên chiến trường – trong tòa Đại sứ làm Westmoreland thêm rối ruột, ông cho rằng họ đã bày tỏ “sự cảm phục quá đáng” đối với các cảm tử quân của Việt Cộng qua các bản tin và các bài thời luận: “Họ đã gửi những cuốn phim vô tuyến truyền hình chưa được kiểm tra bằng máy bay tới Tokyo để nhờ vệ tinh chuyển về Mỹtrong khi các sự kiện chưa được khẳng định. Chet Huntley thuộc hãng vô tuyến truyền hình NBC trong mục tin buổi chiều, nói rằng Việt Cộng đã vào bên trong sứ quán, còn quân bảo vệ thì bị đẩy ra ngoài”. Westmoreland rất bực mình về nội dung tương tự mà báo chí đã đưa; ông viết tiếp:“Liệu lời nói của một quân nhân chịu trách nhiệm toàn bộ về mặt quân sự trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam và đã đích thân đến Đại sứ quán có đáng tin hơn những lời đồnđại không?”. Nhưng đồn đại điều gì? Một số mẩu tin và bình luận mà Westmoreỉand gọi là “đồn đại” được trích dịch và in sau phần phụ lục cuốn Biệt động Sài Gòn (NXB Trẻ tái bản 1999) của đại tá Nguyên Đức Hùng (Tư Chu) nguyên Phó Tư lệnh – tham mưu trưởng Quân khu Sài Gòn – Gia Định kiêm chỉ huy trưởng lực lượng biệt động Sài Gòn – Gia Định trong kháng chiến chống Mỹ. Trong bài này, 2/23


chúng tôi có sử dụng tư liệu do đại tá Hùng ghi lại về diễn tiến các trận đánh của biệt động Sài Gòn Tết Mậu Thân 1968. Các trận đánh diễn ra trong lúc một số tư lệnh quân đội và viên chức cao cấp của Sài Gòn vắng mặt, về với gia đình. Hồi ký Trần Văn Đôn kể: “Lúc đó, tôi là thượng nghị sĩ,đang ở ĐàLạt với gia đình và với thượng nghị Tôn Thất Đính. Nhà tôigần vùng ngoại ô vắng vẻ nên tôi đưa gia đình vào Trường Đại học quân sự…Mồng hai Tết ông Thiệu dùng trực thăng về Sài Gòn. Ông Cao Văn Viên về Tổng Tham mưu lo việc phản công, quân sĩ trở lại hàng ngũ”. Riêng Nguyễn Cao Kỳ thay Thiệu trực chiến đã kêu ca: “Lúc cuộc tổng tấn công Tết vừa mới xảy ra, chúng tôi đã không tài nào tranh thủ được sự giúp đỡ ngay tức thì của phía Hoa Kỳ. Trước kia, bất cứ lúc nào xảy ra một trận đánh phía Hoa Kỳ cũng phản ứng với tốc độ rất nhanh, nhưng trong vụ Tết họ đã có thái độ “chờ xem” rất lạ lùng”.Phía Mỹ, sau trận bị đánh đau vào Đại sứ quán, hãng Reuters vào mồng 4 Tết 2.2.2968 đã bình luận: “Cuộc chiến tranh không thể thắng của Mỹ nay đã bị xem là cuộc chiến tranh có thể thua… ” và báo chí Mỹ mô tả không khí thủ đô Washington ảm đạm. Tổng thống Johnson vừa đau tim, vừa đau đầu, sự sửng sốt vì cuộc tổng tiến công ngày đầu ngấm dần thành nỗi rã rời, tê buốt. Cuộc chiến vẫn tiếp diễn, ngoài Trung …. 31 – Huế xuân 1968 Trả lời phỏng vấn của Howard Tuckner thuộc hãng vô tuyến truyền hình ABC nhằm ngày “ông Táo về trời” 23 tháng Chạp, Westmoreland phản đối dữ dội những nhân vật hàng đầu chủ trương ngừng ném bom toàn bộ miền Bắc Việt Nam như hai thượng sĩ Fulbright và Robert Kennedy. Lý do gần nhất mà Westmoreland nêu ra là: “Càng sát ngày Tết, tôi càng lo lắng nhiều hơn trước việc địch tăng cường binh lực ở phía Bắc khu phi quân sự” nằm bên kia sông Bến Hải. Bên này sông, phía Nam, theo Westmoreland là nơi tiếp nhận sự tăng cường binh lực đổ vào hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị để mở chiến trận mới dịp Tết. Ngay thời điểm có cuộc phỏng vấn trên, Westmoreland nóng lòng điện cho tướng E.Weeler vào 22.1.1968 nói: “Địch có thể phát động một cuộc tấn công bằng nhiều tiểu đoàn vào Huế và đánh cả thị xã Quảng Trị”, vì vậy “nếu Mỹ ngừng ném bom nói chung thì vẫn phải tiếp tục ném bom ngay xuống phía Bắc khu phi quân sự là nơi đối phương đang tập trung quân” để ngăn chặn… Trước thái độ quyết liệt trên, đại sứ Bunker yêu cầu Washington chấp thuận những đề nghị từ “thực tế chiến trường” của Westmoreland luôn cả việc “hủy bỏ hoàn toàn lệnh ngưng bắn trong dịp Tết tại hai tỉnh phía Bắc là Quảng Trị và Thừa Thiên”. Washington chuẩn y. Như vậy, Bộ Tư lệnh quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam vẫn đặt hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế trong tình trạng chiến đấu và các cuộc ném bom của Mỹ ở vùng phi quân sự sát liền với hai tỉnh trên vẫn tiếp tục trong những ngày Tết. Nhưng hai biện pháp đó không 3/23


sứt mẻ gì đến toàn bộ kế hoạch của chiến dịch khu Trị Thiên (mà trọng điểm là thành phố Huế) xuân Mậu Thân 1968 được giữ hoàn toàn bí mật cho đến lúc đó. Kỷ luật bảo mật ngay từ phòng họp, tất cả ghi chép, ghi lời phát biểu phải để lại: – Không đuợc mang theo một mảnh giấy, chỉ được ghi nhớ bằng bộ óc mà thôi. Ngay cuộc họp đầu tiên tại Động Chuối, chánh văn phòng Khu ủy Hoàng Phương Thảo thu tất cả sổ tay bỏ vào hòm sắt khóa kỹ, Bí thư Thành ủy Huế bấy giờ là Lê Minh được chỉ định làm chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy chiến dịch toàn khu Trị – Thiên kể: – Để bảo mật, các đơn vị tập dượt các mục tiêu ỏ Huế đều không chọn người địa phương ra, chỉ lấy người quê xa tới để họ không biết là mục tiêu gì, ở đâu; tuyệt nhiên không ai biết được rằng sắp “đánh Huế”. Tuy vậy, dần dần qua bài bản, có thể đoán chừng trong đầu, nhưng vẫn không biết là đánh ai, đánh cụ thể vào đâu, đánh lúc nào. Tình báo Mỹ có thể nghe ngóng động tĩnh, dự đoán có cuộc tấn công, nhưng chi tiết quân sự thì chịu bí. Những tin tức có tính cách “dự báo thời tiết” chung chung lắm khi về đến Washington và biến mất trong núi hồ sơ lưu trữ; như Westmoreland nêu: “Mặc dầu tôi đã báo cáo với Washington ngày 22.1.1968 (10 ngày trước khi cuộc tiến công mở màn) là dự kiến sẽ có nhiều tiểu đoàn Việt Cộng đánh vào Huế. Tôi được biết sau đó, vì lý do gì đấy (?), thông báo này không đến được với nhóm cố vấn của MACV đóng ở một doanh trại nhỏ tại Huế”. Trong lúc đó, Bộ chỉ huy chiến dịch với chính ủy Lê Chưởng, Phó tư lệnh Nam Long, tham mưu trưởng Đặng Kính… rà soát lại kế hoạch ra quân. Mặt trận thành phố Huế chia làm hai cánh. Cánh Nam do Thân Trọng Một làm chỉ huy trưởng. Ông Thân Trọng Một là vị chỉ huy nhiều huyền thoại trong trận đánh khách sạn Hương Giang cách đó hơn một năm, có người căng thẳng hỏi “địch dàv đặc như thế vô đánh được đã khó mà đánh xong lại không có đường rút ra làm thế nào?”. Ông Một bảo: – Rút ra à? Như con chí trên đầu, thấy đó còn chưa bắt được, huống chi cả thành phố, làng mạc, đuờng sá như vậy, làm sao bảo không ra được. Đi cả đoàn thì không được, nhưng đi từng người làm sao bắt? Chỉ huy trưởng Lê Minh nhắc chuyện đó, cho biết:“Trung tâm chỉ huy lúc đó chỉ cách Huế 5 km mà địch không hề biết”. Khi mọi việc chuẩn bị hoàn tất, mặt trận xin thêm trung ương chuẩn bị 1 sư đoàn bộ binh, 500 tấn đạn, 1.000 tấn gạo dự bị. Giờ G ấn định lúc 2 giờ 30 ngày 31.1.1968 tức rạng sáng mồng 2 Tết Mậu Thân. Lịch chung cho toàn quân về Huế là ăn Tết ngày 30, sáng mồng 1 Tết: ngủ nhưng không ai ngủ được. Chiều mồng 1 Tết: thông báo chính thức tiến đánh “giải phóng Huế!”. Mọi người vỗ tay, reo hò. Ông Lê Minh ghi lại những giờ phút ra quân đó: “7 giờ tối ngày mồng 1 Tết Mậu Thân, bắt đầu rời cửa rừng, quân đi lặng lẽ trong đêm tối, mưa lâm râm, sương mù đầy trời… Bộ chỉ huy chiến dịch đã lập một bộ phận tiền tiêu do anh Đặng Kính trực trên đỉnh núi Kim Phụng, nhìn thấy cả Phú Bài và Tử Hạ (…). Anh Kính báo về cứ 5 phút một: yên tĩnh!”. 4/23


Lúc đó, Bộ chỉ huy Sư đoàn 1 của Ngô Quang Trưởng vẫn chưa hay biết đích xác giờ G đã tới. Ông ta thấy Huế im lìm suốt ngày mồng 1 Tết như Westmoreland viết: “Trongngày đầu của năm mới âm lịch (30.1.1968), đã có những dấu hiệu rõ ràng của tình báo cung cấp cho thấy địch đang chuyển quân về Huế, nhưng tin đó trước hết phải được chuyển tới Bộ Chỉ huy lực lượng lính thủy đánh bộ III ở Đà Nẵng để phân tích. Sau đó mới chuyển cho nhóm cố vấn của Mỹ ở Huế, thì thời gian có ích đã qua mất rồi. Tuy nhiên, sự báo động cũng được đưa ra vào phút cuối cùng. Các cuộc tấn công trước đó của địch ở các nơi khác (như Đà Nẵng, Nha Trang, Buôn Mê Thuột, Tân Cảnh, Kon Tum, Quy Nhơn, Pleiku vào đêm giao thừa) cộng với những tin tức lẻ tẻ khác, đã khiến cho người chịu trách nhiệm bảo vệ Huế – tướng Ngô Quang Trưởng, tư lệnh Sư đoàn 1 của Nam Việt Nam – thấy rằng “có chuyện gì đó” xảy ra. Phần lớn quân của Trưởng đã ra ngoài thành phố nhưng bộ chỉ huy sư đoàn của ông vẫn ở Thành Nội. Trưởng đã báo động lệnh cho toàn bộ nhân viên của sư đoàn ông phải ở lại đêm tại sở chỉ huy. Những việc đề phòng đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc chiến đấu sắp diễn ra (vào sáng sớm mồng 2 Tết) và đảm bảo cho quân Nam Việt Nam giữ được một bộ phận của Thành Nội nhưng những việc đó không có giá trị gì nhiều đối với cuộc tấn công mở màn của địch. Địch đã vào Huế ban đêm”. Đêm đó, 1 giờ sáng mồng 2, Trung đoàn 6 báo chiếm lĩnh trận địa đầu tiên, cánh Nam báo chiếm lĩnh 2 mục tiêu ưu tiên. Ông Lê Minh kể: “Đến 2 giờ 35 phút: tất cả đều nổ súng đồng loạt vang trời, đêm sáng rực lên như pháo hoa, đẹp vô cùng. Anh Quang điện về Bộ chỉ huy chúng tôi: “Chúc mừng thành công” (…). 6 giờ sáng: điện báo chiến thắng khắp nơi, 11 giờ sáng mồng 2, từ trên đỉnh Kim Phụng, có thể thấy lá cờ Mặt trận Giải phóng bay trên đỉnh kỳ đài Huế. Tất cả những ai đang ở cánh rừng phía Tây đều hướng về phía Huế reo hò. Đó là giây phút đẹp nhất của đợt tiến công. Tiếp đến là cuộc chiến đấu dài ngày ác liệt, giao tranh trên từng góc phố … 32: Paris và cuộc chiến trên tấm thảm xanh 5/23


Trưởng đoàn Xuân Thủy tại cuộc hòa đàm Paris năm 1968 Theo các tác giả cuốn “Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ – Kissinger tại Paris” thì 13.5.1968 là ngày đàm phán đầu tiên “chính thức bắt đầu cuộc chiến mới Việt Nam và Hoa Kỳ: Cuộc chiến tranh quanh tấm thảm xanh”. Với sự chứng kiến của hàng nghìn nhà báo, nhà hoạt động điện ảnh, nhiếp ảnh… đổ về Hội trường Kléber. Đông hơn bất kỳ hội nghị quốc tế nào từ nhiều năm trước đó… Sau trận chiến Tết Mậu Thân 1968, theo con số do Westmoreland nêu trong hồi ký, có ngót 600.000 người tỵ nạn mới tràn vào các đô thị và vùng ngoại ô Nam Việt Nam. Đây quả là “đội quân” không kèn không trống, không vũ khí nhưng đã khiến nhà cầm quyền Sài Gòn phải một phen vất vả vì nếu không nhanh chóng giải quyết đời sống cơm áo gạo tiền, bố trí chỗ ở, triển khai kiểm tra, lập sổ gia đình, nghĩa là “làm sống lại công tác bình định” mà cứ “bỏ mặc người tỵ nạn thì hậu quả nghiêm trọng tất yếu phải xảy ra”. Westmoreland viết là Việt Cộng đẩy “cuộc bình định nông thôn” về sát nách các thành phố và thị xã; những người mang trọng trách trong “chính phủ từ tổng thống Thiệu đến các bộ trưởng đều tỏ ra choáng váng”. Ông Thiệu và các bộ trưởng dưới quyền được khuyến cáo đừng để những “sư đoàn” người tỵ nạn trở thành nhân tố của một cuộc khủng hoảng mới bao vây các thành thị miền Nam. Để tháo gỡ, Westmoreland thành lập lực lượng đặc biệt, giao tướng George Foraythe chỉ huy “cộng tác chặt chẽ với người Việt Nam” nhằm triển khai tức thời công tác bình định. Tướng Foraythe lập một văn phòng riêng ngay trong dinh Độc Lập với sự đồng ý của Thiệu và giám sát kế hoạch của Bob Komer. Westmoreland đã “bố trí sẵn sàng công binh Mỹ cho phép họ sử dụng rộng rãi các kho vật liệu lấy tôn lợp nhà, xi măng sắt thép. Tướng Cao Văn Viên 6/23


cũng làm như vậy và đưa công binh quân đội Nam VN tham gia”. Cạnh bóng mát của các dãy nhà trung tâm tỵ nạn được vội vã dựng lên là các lô-cốt, tháp canh và kẽm gai bọc quanh. Một đợt thanh lọc quy mô hẳn nhiên mở ngay dưới những mái tôn còn mới. Các thành phần dân tỵ nạn được theo dõi, phân loại bởi những cơ quan an ninh tình báo Việt – Mỹ. Tại sao Westmoreland lại “chăm sóc đặc biệt” đến phần việc này? Có lẽ ngoài lý do không để vấn đề người tỵ nạn trở thành “nhân tố của cuộc khủng hoảng mới”; Westmoreland còn nhắm đến việc ổn định nhanh chóng hậu phương để “giáng” một đòn quân sự đầy tham vọng sau Tết 1968 nếu tổng thống Johnson cho phép. Ông ta lập luận một cách không tưởng: “Nếu tổng thống Johnson thay đổi chiến lược và lợi dụng thế suy yếu của địch (sau Tết Mậu Thân) cho phép tôi tiến hành các cuộc hành quân mà chúng tôi đã trù tính hai năm trước đánh sang Lào, Campuchia và phía Bắc khu phi quân sự (bên kia bờ Bắc sông Bến Hải), song song với việc ném bom và thả mìn cảng Hải Phòng thì chắc chắn Bắc VN sẽ bị đập tan (!). Nhưng tình hình đã không diễn ra như vậy ”. Ngược với ý đồ của tướng Westmoreland, ngày 31.3.1968, tổng thống Johnson tuyên bố ngừng ném bom hạn chế ở miền Bắc VN từ vĩ tuyến 20 trở ra (đến ngày 1.11.1968 mới tuyên bố ngừng ném bom hoàn toàn và không điều kiện). Bốn ngày sau, 3.4, Hà Nội đáp ứng – thông báo: “Vỉệt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ cử đại biểu của mình tiến hành cuộc nói chuyện tay đôi với Mỹ”. Địa điểm họp được Mỹ và Việt Nam bàn định gần một tháng. Nguyễn Cao Kỳ viết: “Định mệnh đã an bài… Người Mỹ đề nghị (địa điểm họp tay đôi với Bắc VN) tại Genève, Jakarta, New Delhi, Rangoon, hoặc Vientiane nhưng tất cả những nơi đó đều bị Bắc VN bác bỏ. Cuối cùng ngày 13 tháng 5, Mỹ chấp nhận đề nghị của Hà Nội chọn thủ đô Paris (Pháp) làm nơi hội họp và đã cử ông Averell Harriman và Cyrus Vance (nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ, sau này là Bộ trưởng Ngoại giao của Tổng thống Jimmy Carter) làm đại diện trong cuộc đàm phán. Bắc VN đã chỉ định ông Xuân Thủy (làm trưởng đoàn)”. Đàm phán diễn ra tại Trung tâm các hội nghị quốc tế nằm trên đại lộ Kléber. Theo các tác giả cuốn “Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ – Kissinger tại Paris” thì 13.5.1968 là ngày đàm phán đầu tiên đã “chính thức bắt đầu cuộc chiến tranh mới giữa Việt Nam và Hoa Kỳ: Cuộc chiến tranh quanh tấm thảm xanh” với sự chứng kiến của hàng nghìn nhà báo, nhà hoạt động điện ảnh, nhiếp ảnh đổ về Hội trường Kléber đông hơn bất kỳ hội nghị quốc tế nào từ nhiều năm trước đó. Họ đã tường thuật, đưa tin nhanh chóng và nói đến cái bắt tay “lịch sử” giữa hai ông Xuân Thủy và Harriman trước giờ đàm phán. Nguyễn Cao Kỳ (và Thiệu) không thích thú gì với các bản tin truyền đi từ đại lộ Kléber: “Chúng tôi đã chẳng hề muốn cùng ngồi vào bàn hội nghị với những người Cộng sản và chứng tôi lại càng không có ý định cùng ngồi với Mặt trận Dân tộc Giải phóng vì làm như vậy chẳng khác gì là công nhận họ. Tuy nhiên, Tổng thống Johnson đã vội vã gây sức ép với chúng tôi để hành động theo, ông và ứng cử viên đảng Dân chủ dự tranh ghế tổng thống là Humphrey mong muốn là cuộc đàm phán về hòa bình phải đạt được kết quả vì các cử tri Mỹ đang tỏ ra càng ngày càng chán ngán trận chiến tranh đang tiếp diễn ở nơi xa xôi này”. 7/23


Các cơ quan truyền thông vẫn phát đi các tin tức và bình luận mà Nguyễn Cao Kỳ và cả Westmoreland đều nhức nhối vì họ “chẳng hề muốn” nghe. Nhấn mạnh qua hồi ký của mình, Westmoreland nhiều lần tỏ ý không ưa giới báo chí. Ông ta “kết án” báo chí góp phần tuyên truyền cho Việt Cộng trong Tết Mậu Thân 1968, tác động đến dư luận Mỹ và ngay cả… Tổng thống Johnson trong quyết định ngừng ném bom tiến đến cuộc thương lượng tay đôi đó. Ông gọi thái độ của Johnson là “bỏ cuộc”: “Báo chí và vô tuyến truyền hình đã tạo ra một vầng hào quang không phải thắng lợi mà là thất bại kết hợp với những phần tử chống chiến tranh to mồm nên đã ảnh hưởng sâu sắc đến các quan chức nhát gan ở Washington. Nó giống như hai võ sĩ quyền Anh trên võ đài, một võ sĩ đã đẩy võ sĩ kia tới đích, sắp hạ “nốc ao” thì anh võ sĩ rõ ràng sắp thắng này (!) bỗng nhiên bỏ cuộc…”. Và người “nốc ao” trước mắt chưa phải Johnson mà là Westmoreland! Ông ta bị ngưng chức. Tướng Abrams sang thay... 33: “Chính là Huế” khiến tướng Westmoreland nổi giận Tướng Westmoreland Tướng Westmoreland để tâm rà soát tìm xem điểm “tập trung chiến lược” của cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân nằm ở đâu? Rốt cuộc “chính là Huế”! Hàng ngày, thậm chí từng giờ, các hãng tin quốc tế dồn dập loan đi loan lại sự kiện “mất Huế”. Westmoreland đã nóng mặt và nổi giận thực sự. Ông ta ném quân Mỹ ồ ạt “tái chiếm” và nổ súng từ ngày thứ 7 của đợt tổng tiến công.. 8/23


Trở lại sự kiện Huế, từng làm tư lệnh không quân, Nguyễn Cao Kỳ thấy rõ mặt trái của thế mạnh không lực. Nó tạo nên tâm lý ỷ lại và phụ thuộc của bộ binh vào không quân: “nhớ lầnlực lượng hỗn hợp Việt Mỹ đang tiến quân thì bất ngờ gặp chống cự của địch. Phản ứng tức khắc của cấp chỉ huy Mỹ là ngưng tiến quân và đòi phải gọi không quân đến dội bom lên đầu đối phương. Chúng tôi phải điều động những máy bay đã được chỉđịnh đánh phá nơi khác đến tấn công mà về sau mới biết là chỉ có 6, 7 Việt Cộng chống giữ. Ấy thế mà đã phải dùng tới hai chuyến bay Fantom (con ma), mỗi chuyến mang 6 quả bom. Và theo người ta nói với tôi thì mỗi quả giá 6.000 đô-la. Kết quả cuộc tấn công ấy, có cả súng đại liên yểm trợ, đã chẳng có bằng cớ nào cho thấy giết được lấy một Việt Cộng”. Điều tai hại là bom Mỹ bỏ trượt mục tiêu quân sự, gây đổ nát nhà cửa, trường học, công trình dân sự. Huế Tết Mậu Thân 1968 không tránh được tai họa đó và hồi ký Westmoreland tìm cách bào chữa: “Lúc trận đánh bắt đầu, quân Việt Nam (Sài Gòn) và lính thủy đánh bộ (Mỹ) chiến đấu không dùng xe tăng, pháo binh và không quân yểm trợ vì muốn bảo vệ thành phố giàu di sản quý báu này nhưng vì địch bám giữ một cách dai dẳng nên cứ theo cách đó thì mất quá nhiều sinh mạng người Mỹ và binh lính Nam Việt Nam. Tổng thống Thiệu bèn cho phép dùng bất kỳ phương tiện nào cần thiết để lấy thành phố Huế. Sự tàn phá không tránh khỏi đã xảy ra!…”. Vậy là máy bay chiến lược B.52 cũng được trưng dụng. Trước ngày có lệnh oanh kích áp đảo, quân giải phóng đã tiến đánh hai mục tiêu ưu tiên dưới đất là E7 và Mang Cá. E7 tức lực lượng thiết giáp đóng ở Tam Thai gồm xe tăng M41, MI 13 lội nước, pháo tự hành… Cuối cùng E7 bị đánh lật ngay ngày đầu của cuộc tổng tiến công. Đến ngày thứ ba, trừ cơ sở chỉ huy của tướng Ngô Quang Trưởng đóng tại Mang Cá, toàn bộ căn cứ quân sự còn lại và 36 cơ quan cấp tỉnh, cấp miền (Trung phần) tại Huế rơi vào tay Quân giải phóng. Bấy giờ, mặt trận Khu 5 và cao nguyên lắng bớt nên Westmoreland để tâm rà soát tìm xem điểm “tập trung chiến lược” của cuộc tổng tiến công Tết toàn miền nằm ở đâu. Rốt cuộc “chính là Huế!”. Ngày ngày, thậm chí từng giờ, các hãng tin quốc tế dồn dập loan đi loan lại sự kiện “mất Huế”. Westmoreland nóng mặt và nổi giận thực sự. Ông ta ném quân Mỹ ồ ạt “tái chiếm” và nổ súng từ ngày thứ 7 của đợt tổng tiến công. Mở đầu với lực lượng kỵ binh bay và thủy quân lục chiến điều từ Chu Lai, Bình Định thẳng qua Phú Bài – Phú Lộc đánh chiếm đường 1. Pháo hạm ngoài khơi quay mũi súng vào bờ nhả đạn yểm trợ để bộ binh đổ bộ qua cửa Thuận An tiến đánh Huế. Nhưng không nhích được mấy: “Sau 4 ngày giao tranh, quân đồng minh (Mỹ) chỉ tiến được 180m. Giờ phút này lính thủy đánh bộ không thể di dịch được… Lá cờ của Việt Cộng vẫn bay ngạo nghễ trên cổng chính phía Nam thành phố Huế”. (UPI, 12 giờ trưa 10.2.1968). Cùng ngày, hãng AFP đưa tin: “Trong các trận đánh hàng nghìn quân nhân đã bị giết. Quân đội Hoa Kỳ và quân chính phủ (Sài Gòn) phải chôn những người chết của họ bất kỳ nơi nào và lúc nào có thể được. Còn lính dù Việt Nam thì chôn xác ngay trên trận địa”. Về phía Quân giải phóng, theo chỉ huy trưởng Lê Minh, để giữ ngọn cờ bay trên kỳ đài, đánh lùi các đợt phản kích, trong tuần đầu “thương vong trong nội thành đã lên tới ba trăm”. Nan giải nhất là đạn. Mở kho vũ khí thì tại chỗ súng đầy ắp nhưng đạn rất thiếu. 9/23


Đến ngày thứ 10, “Mỹ đã bắc một cầu nổi qua sông Hương để thay thế cầu Tràng Tiền và Bạch Hổ đã bị ta đánh sập”. Tối đó, tướng Trần Văn Quang xuất trận. Theo đoạn hồi ký “Huế- Xuân 68* của Lê Minh, nhân đêm tối Quân giải phóng “tập trung cường tập bằng cả bộc phá, súng cối; gom nhặt hết lực lượng quyết đánh vỡ Mang Cá. Nhưng địch đã đủ thì giờ tổ chức Mang Cá thành một ổ đề kháng lớn do chính Ngô Quang Trưởng chỉ huy. Ta đánh từ 9 đến 12 giờ đêm, thương vong nhiều nhưng trận đánh không mang hiệu quả, nhưng ta cứ ở tại chỗ đó”. Như đã nói, nguồn đạn bị hụt hẫng sau 10 ngày giao chiến. Lệnh tất cả các đơn vị đánh Mỹ phải tiết kiệm đạn tối đa. Chốt chặt cửa An Hòa và Chánh Tây để thông đường liên lạc với hậu cứ; dồn nỗ lực tiếp tục vây Mang Cá. Bộ chỉ huy chiến dịch điện về bộ Tổng: Chúng tôi hết đạn, chỉ làm kế hoạch được từng buổi – Ký tên: Bảy – Tín – Minh (tức tướng Trần Văn Quang, chính ủy Lê Chưởng và chỉ huy trưởng chiến dịch toàn khu Trị Thiên – đương nhiệm Bí thư Thành ủy Huế lúc ấy: Lê Minh). Khoảng 5 tiếng đồng hồ sau, Hà Nội trả lời mặt trận Huế:“Cấp trên sẽ chi viện đủ cho các anh hoàn thành nhiệm vụ”. Ký tên: Văn – Dũng – Thảo (tức Võ Nguyên Giáp – Văn Tiến Dũng – Song Hào). Tiếp đó là bức điện chi tiết hơn do tướng Văn Tiến Dũng ký báo tin trung ương sẽ tiếp viện các trung đoàn bộ binh trợ chiến cùng các loại đạn dược khí tài từ đường 559 xuống Huế. Thời điểm đó, một trung đoàn bộ binh từ phía Bắc vượt vào tới Quảng Điền và đụng đầu ngay Sư đoàn 3 thủy quân lục chiến Mỹ trên sông Bồ… 34 – Tấn công Mậu Thân hay ‘thế trận Trân Châu Cảng’ Trong hồi ký của mình, Nguyễn Cao Kỳ đã viết về trận Mậu Thân: “Số thương vong lên rất cao: khoảng 4.000 quân Mỹ bị chết cùng 5.000 quân Nam Việt Nam. Tổn thất lớn nhất vẫn là niềm tự hào và uy tín nước Mỹ bị sa sút. Đối với người Mỹ, vụ tấn công Tết đã gây nỗi kinh hoàng của một vụ Trân Châu Cảng khác. Và lần đầu tiên người Mỹ đã nhận ra rằng họ sẽ không thể nào thắng…” Ông Mai Văn Bộ viết trong hồi ký “Tấn công ngoại giao và tiếp xúc bí mật” là vào tất niên 1967 tuy chưa biết sẽ bị đánh lúc nào và ở đâu, Westmoreland vội vã hủy bỏ kế hoạch phản công chiến lược lần thứ 3. Bước sang ngày thứ 15, chịu sự phản kích dữ dội của 4 sư đoàn tinh nhuệ gồm 3 sư đoàn Mỹ, 3 lữ đoàn Sài Gòn, chưa kể sư đoàn 1, cuộc chiến đấu giữ Huế kéo dài hơn một tuần tiếp đó với tương quan lực lượng không ngang sức. Quân giải phóng thiếu đạn, thiếu viện binh, bị bom, pháo cấp tập, đã rút ra khỏi thành phố sau 26 ngày đêm làm chủ – tính đến 26.2.1968. Westmoreland ghi nhận: “Khi kéo được lá cờ của Việt Cộngxuống (khỏikỳ đài Huế) thì phần lớn Thành nội vàkhu nhà ở phía Nam sông Hương đều bị hư hại (…) Huế tượng trưng rõ nhất cho cảnh tàn phá của cuộc chiến đấu trên đường phố”. 10/23


Đến đây chúng ta hãy tạm lùi lại một chút vào thời điểm “sát nút” cuộc tổng tiến công toàn miền: tháng 12.1967 – mà đại sứ Mai Văn Bộ, thành viên phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris, gọi là “một thời điểm cực kỳ quan trọng”. Bởi những ngày đó diễn ra cuộc chạy đua quyết liệt giữa Mỹ và Việt Nam trên đường mòn Hồ Chí Minh trong cuộc đọ sức “ngăn chặn” và “chống ngăn chặn”. Mặc dầu các phương tiện thám không hiện đại nhất thời đó của Mỹ soi tìm động tĩnh trên từng cây số “các phương tiện vận chuyển cơ giới, các sư đoàn chủ lực, các đơn vị xe tăng, pháo binh, công binh, thông tin… như trăm sông ngàn suối, cuồn cuộn đổ về một hướng mà Mỹ bằng bất cứ giá nào cũng không ngăn chặn nổi”. Ông Mai Văn Bộ viết trong hồi ký “Tấn công ngoại giao và tiếp xúc bí mật” là vào tất niên 1967 tuy chưa biết sẽ bị đánh lúc nào và ở đâu, Westmoreland vội vã hủy bỏ kế hoạch phản công chiến lược lần thứ 3 dự định vào mùa khô năm ấy để rảnh tay dồn sức cho việc đối phó với cơn lốc vận tải đang cuốn mù trời Nam: “Không quân Mỹ không ngừng thả chất độc hóa học hủydiệt từng cánh rừng dọc các tuyến đường, rải những “cây nhiệt đới” (máy thu và phát tiếng động, phát sóng cho máy bay đến ném bom) để dò xe, dò đường và đã ném khoảng 6 vạn trái bom đủ loại dọc các tuyến đường Trường Sơn. Mac Namaracho khởi công xây dựng một hàng rào điện tử ở ngay vùng giới tuyến. Nhưng Mỹ không làm sao ngăn chặn được dòng người và xe cộ mà mật độ mỗi ngày một tăng lên trên các tuyến đường ở cả phía Đông và Tây Trường Sơn, kéo dài đến tận vùng Châu Thành tỉnh Sông Bé của miền Nam. Trên thực tế chiến tranh ngăn chặn của Mỹ đã thất bại”. Ngay lúc “không ngăn chặn” nổi đó, quá trình đếm ngược đến giờ G. ngày N. của trận tập kích chiến lược xuân 1968 đã bắt đầu! Đoạn “hồi ký tất niên” của ông Mai Văn Bộ ghi: “nhân buổi tiệc cuối năm vào ngày x chiêu đãi đoànđại biểu Đảng và Chính phủ Mông cổ, Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh tuyên bố: “Sau khi Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọihành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam DânchủCộng hòa, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ nói chuyện với Mỹ về những vấn đề có liên quan”. Nhưng Mỹ đòi “chấm dứt ném bom có điều kiện” và Tổng thống Johnson tìm cách xoa dịu dư luận chống chiến tranh ở Mỹ bằng đủ lời hứa, bảo “đang chờ đợi một loại trả lời nào đó của Hà Nội”. Câu trả lời nổ ra bất ngờ vào giây phút kết thúc quá trình đếm ngược đến giờ G. và ngày N. khiến Tổng thống Johnson la lên: “44 đô thị và 24 căn cứ quân sự của Mỹ bị tấn công”. Hồi ký Mai Văn Bộ “tổng luận” rằng tuy cuộc tập kích chiến lược Tết Mậu Thân không đạt “tất cả các mục tiêu đề ra” nhưng đã gây nên “một chấn động chính trị và tâm lý lớn lao” trên thế giới và trong nội bộ nước Mỹ và qua cuộc tấn công quy mô, toàn diện này, theo cách nói của Dean Rusk và Mac Namara, Mỹ đã “ý thức được rằng họ chẳng những khôngthắng được Việt Nam mà còn có thể thua to. Do đó Mỹ không còn cách thoát thân nào tốt hơn xuống thang chiến tranh và đề nghị đàm phán”. Điều đó cũng dội lại trong hồi ký Nguyễn Cao Kỳ: 11/23


“Sau năm, sáu ngày giao tranh vẫn còn khoảng 1.000 quân cộng sản chiến đấu trong thành phố Sài Gòn. Trong lúc tại Huế mãi đến 10.3.1968 mới giải phóng hoàn toàn thành phố này. Số thương vong lên rất cao: khoảng 4.000 quân Mỹ bị chết cùng 5.000 quân Nam Việt Nam. Mặc dù sự việc trên thê thảm thế nào đi nữa, những tổn thất lớn lao nhất vẫn là niềm tự hào vàuy tín nước Mỹ bị sa sút. Đối với người Mỹ,vụ tấn công Tết đã gây nên tất cả những nỗi kinh hoàng của một vụ Trân Châu cảng khác và lần đầu tiên người Mỹ đã nhận ra rằng họ sẽ không thể nào thắng nổi trận chiến tranh. Đã có một sự tan vỡ đến mất hết niềm tin”. Điều tiếp đó làm Nguyễn Cao Kỳ và cả Nguyễn Văn Thiệu chua xót là trận tổng tiến công Tết Mậu Thân, Mỹ đã mặc kệ thái độ hiếu chiến của Westmoreland, Kỳ và Thiệu, để xuống nước đàm phán. Kỳ chua chát: “Chúng tôi đã phải đứng ngoài trong những bước đi giữaMỹ và Bắc Việt Nam’’. Riêng ông Kỳ thêm một vố đau vào chiều 2.6.1968. Chiều đó, lúc Sài Gòn còn đang nổ súng giao tranh Mậu Thân đợt 2, một số tướng tá thân cận, vây cánh của Kỳ tụ họp tại sở chỉ huy nằm trong khu vực Chợ Lớn. Bất thần một chiếc trực thăng Mỹ nhằm ngay ngôi nhà đặt sở chỉ huy đó nhào đến, bắn rốc-kết xối xả, giết chết một loạt người của Kỳ, như trung tá Nguyễn Văn Luân, Giám đốc Cảnh sát đô thành, trung tá Phó Quốc Chụ, giám đốc Cảng Sài Gòn, trung tá Đào Bá Phức, chỉ huy trưởng trung đoàn 5 biệt kích thuộc Quân đoàn thủ đô, thiếu tá Lê Ngọc Trụ, giám đốc Cảnh sát quận 5, thiếu tá Nguyễn Bảo Thúy, phụ tá đặc biệt Đô trưởng Sài Gòn. Tháng trước đó, tướng Nguyễn Ngọc Loan, tay chân thân cận ruột của Kỳ, nắm an ninh quân đội, nha tình báo và kiêm luôn tổng nha cảnh sát, bị bắn què giò trên đường phố Sài Gòn. Nay trong vụ máy bay Mỹ dội rốc-kết bí ẩn này em rể Loan là trung tá Văn Văn Của, làm Đô trưởng Sài Gòn bị bắn gãy tay mặt phải thôi chức. Rất nhanh chóng, Thiệu thay đại tá Trần Văn Hai làm giám đốc Tổng nha Cảnh sát vằ lần lượt 8 trong số 10 giám đốc cảnh sát các quận bị thay bằng người của Thiệu. Việc “trong nhà” đã yên tâm thêm, Nguyễn Văn Thiệu tỏ vẻ “cứng” với Mỹ. Ông ta nhất định không chấp nhận ngưng ném bom miền Bắc vô điều kiện. Mỹ chiều theo? Không đời nào. Đêm 30.10.1968, đoàn Mỹ gồm Harriman, C. Vance, Habib kéo đến nơi ở của đoàn Việt Nam tại nhà số 11 phố Darthé, vùng Choisy le Roi. Hai bên họp từ 1 giờ 35 đến 2 giờ rưỡi khuya. Harriman đọc lời tuyên bố trước Bộ trưởng Xuân Thủy: “Tôiđược phép tuyên bố với ngài rằng tổng thống (Johnson) sắp sửa ra những mệnh lệnh vào buổi tối ngày 31.10, vào 7 giờ hoặc 8 giờ, giờ Washington… để chấmdứt mọi cuộc oanh tạc bằng không quân, hải quân và pháo binh và mọi hành động khác liên quan đến việc dùng vũ lực chống toàn bộ lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa…”. Vậy là từ trận chiến Tết Mậu Thân, một nền hòa bình bắt đầu ló dần sau khói súng. 35 – ‘Bồ câu trắng’ hay những cuộc tiếp xúc bí mật được ‘bật mí’ 12/23


Bà Nguyễn Thị Bình tại Hòa đàm Paris Đàm phán với cuộc “so gươm” hai trưởng đoàn Xuân Thủy và Harriman đúng một tháng từ phiên mở đầu từ 13/5 đến 12/6/1968. Tạm ngừng khi nhà ngoại giao W.Jordan có nhã ý mời ông Nguyễn Thành Lê, người phát ngôn của đoàn VN đi “ăn cơm”. Thế là món “bồ câu trắng” được bí mật ghi vào thực đơn hội đàm. Để 14 ngày sau, cuộc nói chuyện lặng lẽ khai thông ở nơi khác bên ngoài hội trường Kléber… Khi tướng Abrams (phụ tá của Westmoreland) được chỉ định thay Westmoreland làm tư lệnh lực lượng Mỹ ở Việt Nam, thì đàm phán ở phố Kléber vẫn đang tiếp tục với cuộc “so gươm” của hai trưởng đoàn: Xuân Thủy và Harriman. Xuân Thủy tố cáo “Mỹ xâm lược Việt Nam”, còn Harriman lặp đi lặp lại những lời lẽ đổ lỗi “miền Bắc xâm lượcmiền Nam”. Hai ngón võ đó được hai bên thi triển đúng một tháng từ phiên họp mở đầu vào ngày 13.5.1968 đến 12.6.1968 rồi tạm ngừng khi nhà ngoại giao năng động W.Jordan (đang là người phát ngôn của phái đoàn Mỹ) có nhã ý mời ông Nguyễn Thành Lê (người phát ngôn của đoàn Việt Nam) đi “ăn cơm”. Ông Nguyễn Thành Lê nhận lời. Thế là món “bồ câu trắng” được ghi vào thực đơn hội đàm để 14 ngày sau, cuộc nói chuyện lặng lẽ khai thông ở một nơi khác nằm bên ngoài hội trường Kléber. Đó là căn nhà riêng của đoàn Việt Nam ở Vitry-sur-Seine. Phó trưởng đoàn Mỹ Cyrus Vance cùng chuyên gia kỳ cựu về vấn đề Việt Nam Philippe Habib đến đấy vào giữa khuya 26.6.1968. Vào giờ đó, Phó đoàn Việt Nam là đại sứ Hà Văn Lâu cùng ông Nguyễn Minh Vỹ thức đợi và tiếp đón hai đại diện của đoàn Mỹ. Phó đoàn Vance rút trong túi ra tờ giấy đánh máy sẵn và đọc: “Hoa Kỳ sẽ chấm dứt các cuộc ném bom trên toàn miền Bắc vào một ngày sẽ được thông báo cho phía Việt Nam biết trước. Trước ngày đó, hai bên sẽ thỏa thuận về “hoàn cảnh” (circonstances) sẽ được thực hiện sau khi chấm dứt ném bom…”. 13/23


Vance nói thêm nội dung bàn đến quanh chữ“hoàn cảnh” nêu trên bao gồm chấm dứt việc bắn pháo và tấn công bằng bộ binh vào quân Mỹ và quân đồng minh qua khu phi quân sự… Kết quả thảo luận về “hoàn cảnh” sẽ được hai bên giữ bí mật, không công bố. Các tác giả cuốn “Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ – Kissinger tại Paris” đã thuật lại điều đáng chú ý về cuộc trao đổi trên là “mặc dầu Hà Văn Lâu lên án mạnh mẽ việc Mỹ xâm lược, Vance không trả lời mà chỉ tập trung vào vấn đề chấm dứt ném bom miền Bắc”. Đó là cuộc trao đổi hậu trường đầu tiên thoát hẳn sự theo dõi tò mò của các ống kính thâu hình và kéo dài hai giờ đồng hồ đến quá nửa đêm về sáng. Từ một nơi rất xa, tận Hà Nội, Bộ Chính trị theo dõi và có chỉ thị cho đoàn Việt Nam trước đó hãy “vừa nói chuyện công khai (tại hội trường Kléber) vừa nói chuyện hậu trường (như nhà riêng của đoàn ở Vitry- sur-Seine trên)”. Và: “Nói chuyện hậu trường khác với nói chuyện bí mật của Mỹ”.Vậy Mỹ đã nói chuyện bí mật như thế nào? Ở đâu? Xin tạm lùi lại khoảng thời gian trước đó với sự xuất hiện của Kissinger tại miền Nam qua cuốn hồi ký Việt Nam nhân chứng của Trần Văn Đôn: “Cũng như phần đông các giáo sư Mỹ đến Sài Gòn (1965), Kissinger được Tòa đại sứ Hoa Kỳ cung cấp danh sách những nhân vật thuộc ngành, nghề mà họ muốn tiếp xúc để biết những vấn đề cần thiết. Kissinger đến gặp các ông Phan Huy Quát, Trần Văn Tuyên, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ. Lúc đó Kissinger chỉ là một giáosư, dù là của Đại học Harvard (song chưa có chức vụ quan trọng trong chính phủ Mỹ) nên có lẽ hai ông Thiệu – Kỳ tiếp đón thiếu niềm nở. Kissinger phật ý. Thời gian đó nhằm sau cuộc chỉnh lý, tôi sống ở Đà Lạt(…). Sau chuyến qua Sài Gòn đầu tiên đó, trở về Mỹ Kissinger đưa ra kết luận: “Miền Nam không thể tồn tại được”. Năm 1966, Kissinger đến Sài Gòn lần thứ hai, liên kết với Tòa Bạch Ốc nghiên cứu tình hình Việt Nam và báo cáo lần này: “Các tướng trẻ chưa đủ khả năng lãnh đạo miền Nam trong chiến tranh”. Đến năm 1967, lúc Johnson đang làm Tổng thống Hoa Kỳ, Kissinger có quen với một người Pháp, người này tên là Raymond Aubrac cùng đi Hà Nội với một người thân là Herbert Marcovich…”. Thật ra, hai người đó là “hai sứ giả” được Mỹ bí mật cử đi Hà Nội tiếp xúc… Vị thứ nhất: Raymond Aubrac được Kissinger cất công tìm kiếm là người quen biết với Bác Hồ trong thời gian họp hội nghị Fontainebleau. Theo đại sứ Mai Văn Bộ “có lúc Hồ Chủ tịch đã ngụ tại nhà Aubrac và một cháu gái, con của ông, là con đỡ đầu của Hồ Chủ tịch”. Cho nên ông Aubrac có đầy đủ lý do để tin rằng ông sẽ “được tiếp một cách ân cần và trọng thị”. Vị thứ hai mà Trần Văn Đôn nêu tên là giáo sư Herbert Marcovich thuộc viện Pasteur Paris, Tổng thư ký của Tổ chức chống chiến tranh hạt nhân Pugwash. Đứng chân ở hai nơi: Viện Pasteur và tổ chức Pugwash nên Marcovich được che đậy bằng “sứ mạng công khai” khi đến Hà Nội là: liên hệ với viện Pasteur Viễn Đông, “làm việc” với Viện Vệ sinh phòng bệnh và vi trùng học tại Hà Nội… Cần đến những “lý do” trên vì Mỹ muốn che mắt dư luận, giữ bí mật chuyến đi, tránh bị cho là đã nhượng bộ Hà Nội. Ông Marcovich cùng Cao ủy năng lượng Pháp và hai giáo sư đại học Harvard họp ròng rã 3 ngày 16, 17 và 18.6.1967 tại Paris để thảo luận về chuyến đi cùng 14/23


những điều cần làm để “đánh lạc hướng các nhà quan sát quốc tế và báo chí thế giới” với sự chủ trì của Kissinger “nhân danh Tổng thống Mỹ” vì Trần Văn Đôn viết Kissinger được Johnson giao phó việc dàn xếp chiến tranh Việt Nam cho sớm kết thúc”. Một đoạn hồi ký của Kissinger (được trích dẫn bởi đại sứ Mai Văn Bộ) xác nhận: “Từ tháng 7 đến tháng 10.1967, chính phủ Johnson yêu cầu tôi làm trung gian trong một cố gắng để đàm phán tiến triển. Tôi nhờ chuyển thông điệp qua hai nhà trí thức Pháp mà tôi quen biết: một người trong đó có quan hệ với Chủ tịch Hồ Chí Minh vào những năm 1940 và đã qiúp chỗ ở khi đến Paris, đàm phán với người Pháp. Tôi được phép gợi ý những bạn của tôi đi Hà Nội nhằm đề nghị những điều kiệnđể Mỹ tạm ngừng ném bom, coi đó là việc dọn đường cho hội đàm…” Hai sứ giả rời Paris ngày 18.7.1967 để lên đường đi Hà Nội với tư cách những nhà khoa học. Họ gặp ai? Diễn tiến những ngày tiếp đó được Kissinger yêu cầu hai sứ giả hoàn toàn giữ kín và xếp vào loại “tuyệt mật”. Nhưng dường như lời đồn đại “đã có đàm phán bí mật” đang đánh động Sài Gòn?… 36 – ‘Cái bàn kỳ quái’ hay đàm phán ‘hai phía’ và ‘bốn bên’ Đàm phán “bốn bên” – cách gọi của đoàn VN, hoặc “hai phía” – cách gọi của Mỹ, sẽ diễn ra trên bàn tròn, bàn vuông hoặc bàn hình thoi là đề tài cãi nhau mất… 2 tháng cuối năm 1968. Đoàn VN đề nghị chọn bàn hình vuông, bốn đoàn ngồi bốn cạnh mới thể hiện tính độc lập, bình đẳng. Phía Mỹ muốn làm rõ khái niệm “hai phía” nên đưa ý kiến chọn bàn hình chữ nhật để Mỹ và chính quyền Sài Gòn ngồi một bên, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc giải phóng ngồi một bên. Không bên nào chịu bên nào… Trong chuyến đi 10 ngày đến Hà Nội, ông Aubrac được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp – và cùng Marcovich, được Thủ tướng Phạm Vãn Đồng tiếp. Về lại Pháp, trong nhiều buổi “tiếp xúc bí mật” khác với đại sứ Mai Văn Bộ tại Paris, có lần giáo sư Marcovich trăn trở: “Sứ mạng của tôi là đạt được sự gặp gỡ giữa những người đại diện có thẩm quyền của hai chính phủ, trước hoặc sau việc chấm dứt ném bom. Sau đó hai bên có điều gì để nói với nhau và việc gì sẽ xảy ra, tất cả những cái đó sẽ không liên quan đến tôi nữa. Cho nên chúng tôi gọi đó là một “mục tiêu hạn chế”. Thế mà đến nay, “mục tiêu hạn chế” đó vẫn chưa đạt được”. Đại sứ Mai Vãn Bộ mời giáo sư uống chén trà mong ông dịu cơn xúc động và lựa dịp mời cả Aubrac đến, ngỏ lời “xin cảm ơn hai ông. Có những cái ta làm, kết quả thấy được ngay. Nhưng cũng có cái ta làm, phải chờ một thời gian mới thấy được kết quả. Phải thế không, ông Marcovich?”. Marcovich đáp: “Vâng! Lập trường của hai bên đã rõ ràng nhưng chưa có điểm hội tụ. Chắc là còn phải chờ”. 15/23


“Phải chờ” Mỹ thay đổi trò hai mặt: vừa “tiếp xúc bí mật”, vừa “công khai ném bom”cầu Long Biên, trục giao thông Hà Nội – Lạng Sơn, đường xe lửa Hải Phòng… nhằm tìm kiếm thương lượng trên thế mạnh. Nhưng Mỹ hoài công vì không thấy đối phương xuống thang “tấn công ngoại giao” mấy tý. Đến tháng 5.1968, như đề cập ở các phần trước, Mỹ đình chỉ ném bom hạn chế miền Bắc, họp tay đôi với Hà Nội tại phố Kléber (Paris), rồi tiến đến ngừng ném bom hoàn toàn và không điều kiện vào 31.10, thì việc họp “bốn bên” (có thêm đại diện Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và đại diện chính quyền Sài Gòn dự) được rục rịch chuẩn bị. Ban đầu Nguyễn Văn Thiệu vẫn giữ thái độ “đóng băng”, hục hặc, không theo quyết định của Tổng thống Johnson. Không chịu ký vào thông cáo chung với Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc, tiếp đó lại trì hoãn chưa chịu cử đoàn Sài Gòn dự “phiên họp mở rộng” bốn bên, vì, như Nguyễn Cao Kỳ viết: “Chúng tôi kịch liệt phản đối việc tiến hành đàm phán ở Paris”.Nhưng được bao lâu? “Mỗi tuần qua đi chúng tôi càng cảm thấy không thể tiếp tục chống đối vô hạn định. Ngoài nỗi mệt mỏi của chính tôi ra (Nguyễn Cao Kỳ), càng ngày người Mỹ càng lộ rõ quyết tâm chấm dứt cuộc chiến. Vì vậy, cuối năm 1968 tôi đến Paris, cầm đầu phái đoàn miền Nam Việt Nam – chính quyền Sài Gòn – tham dự đàm phán hòa bình”. Đàm phán “bốn bên” – cách gọi của đoàn Việt Nam, hoặc “hai phía” – cách gọi của Mỹ, sẽ diễn ra trên bàn tròn, bàn vuông hoặc bàn hình thoi là đề tài cãi nhau mất… 2 tháng cuối năm 1968. Đoàn Việt Nam đề nghị chọn bàn hình vuông, bốn đoàn ngồi bốn cạnh mới thể hiện tính độc lập, bình đẳng, vai trò và vị trí của mỗi bên. Phía Mỹ muốn làm rõ khái niệm “hai phía” của họ nên đưa ý kiến chọn bàn hình chữ nhật để Mỹ và chính quyền Sài Gòn ngồi một bên, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc giải phóng ngồi một bên. Không bên nào chịu bên nào, Nguyễn Cao Kỳ kêu lên: “Ôi, cái bàn ấy. Đó là cái bàn kỳ quái. Nhưng đối với chúng tôi nó là điều quan trọng cơ bản, tiên quyết. Hình thù của nó phải làm sao để chúng tôi có thể thảo luận mà vẫn – thể hiện lập trường – không công nhận Mặt trận Dân tộc giải phóng. Vì thế chúng tôi khăng khăng đòi được thể hiện từng ly từng tí…”. 37 – Kissinger: “Đường lên mặt trăng ít trở ngại hơn đường chúng ta đi!” Hội nghị bốn bên mở tại Paris, André Trần Văn Đôn được Thiệu “nhờ” đến đó để theo dõi diễn tiến và liên lạc với một số chính khách ngoại quốc quen biết. Ông Đôn viết: “Em tôi là Robert Trần Văn Đôn phụ trách báo chí trong phái đoàn miền Nam Việt Nam (tức đoàn chính quyền Sài Gòn do ông Phạm Đăng Lâm làm trưởng đoàn), cho tôi biết phái đoàn miền Bắc và Mặt trận Giải phóng miền Nam đã đem những câu tôi chỉ trích chính quyền Nguyễn Văn Thiệu khi trước ra khai thác có lợi cho họ. Vì vậy nên tôi không chỉ trích, phê bình, chống đối (Thiệu) nữa”. 16/23


Xem ra cái cớ “không chỉ trích phê bình, chống đối” Thiệu của ông Đôn trong giai đoạn đó chưa thật thuyết phục. Song bầu khí ngoại giao được ghi lại khá hóm hỉnh ở nhiều nút thời sự qua hồi ký. Như lúc Kissinger thông báo cho Sài Gòn biết Mỹ đã thỏa thuận“để Bắc Việt sẽ gửi vào miền Nam 10.000 cán bộ lo việc hành chính” thì Thiệu hết hồn. Đến lượt “bí thư đặc biệt của tổng thống Thiệu” là Hoàng Đức Nhã đòi Kissinger giải thích “những điểm mập mờ mà Chính phủ Việt Nam Cộng hòa (Sài Gòn) cần biết thật rõ hơn” trong các điều khoản dự thảo ngầm giữa Mỹ với “phía bên kia”. Thật rùng rợn đối với Thiệu và Nhã khi hay tin – hàng vạn cán bộ Cộng sản sẽ công khai ngồi vào bàn giấy giữa Sài Gòn với sự tồn tại “ba phía của Việt Nam” trong đó có “Việt Cộng”! Hoàng Đức Nhã, người em con chú họ của ông Thiệu, nói “như vậy là đầu hàng” và đến nước đó chẳng đè nén gì nữa, đã tỏ bất bình với Kissinger trong chuyến Kissinger đến dinh Độc Lập với tướng Abrams, tướng Frederick Weyand, đô đốc Taylor, cố vấn chính trị phái đoàn Mỹ tại Hội nghị Paris là Philip Habib và đại sứ Bunker. Nhã vốn bị nhiều người trong chính quyền Thiệu không ưa. Vì như tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng từng làm “phụ tá đặc biệt cho tổng thống Thiệu” thì tuy được đào tạo khá “chính quy” tại Đại học Mỹ, cao lớn, đẹp trai, có duyên, có tài nhưng “đối với các chính trị gia và các nhà ngoại giao Mỹ, Nhã còn thiếu kinh nghiệm, ngạo mạn và thường lạm dụng quyền hạn của mình. Họ cho rằng Nhã lên được vị trí này (bổ nhiệm làm thư ký riêng cho Thiệu lúc chưa đầy 30 tuổi) là nhờ có họ hàng với Thiệu và sự xấc xược của Nhã, một lối xử sự học được ở người Mỹ, đã bị chỉ trích nặng nề. Nhã lái một chiếc Mustang mui xếp và sau đó là chiếc Mercedes kín mui chạy khắp đường phố Sài Gòn thời kỳ chiến tranh, một biểu hiện khoe khoang hợm hĩnh, chứng tỏ ta có đặc quyền”. Theo tiến sĩ Hưng, Nhã không thèm xem lại ý kiến của mình có được Mỹ ủng hộ không, cũng không nghe theo các cấp trên trong hội đồng nội các, tệ hơn nữa cho ý kiến của họ là “ngu xuẩn”. Hồi ký Trần Văn Đôn viết: “Riêng Kissinger bực mình hơn bị một thanh niên trẻ tuổi như Hoàng Đức Nhã bác bỏ một công trình (các dự thảođiều khoản của hiệp định Paris) mà ông đã công lao nhọc mới thực hiện được lại còn cho rằng công trình đó có nhiều điểm sai lầm”. Ông Đôn nhận xét: “Sở dĩ Kissinger thích Lê Đức Thọ là vì ông Thọ luôn khôn khéo, lúc nào cũng vui vẻ…Trái lại ở Sài Gòn lúc ban đầu Kissinger đến với tư cách một giáo sư đi tìm hiểu sự việc (trước những năm họp hội nghị Paris) nên không ai tiếp đón niềm nở. Những lần sau (trong thời gian họp hội nghị Paris) ông đến để đặt áp lực với chính quyền miền Nam nên không khí không được thân thiện. Những lần dùng cơm với chính quyền VN (Sài Gòn) đều nằm trong phạm vi dinh Độc Lập với những người hầu bàn già cả, trong bầu không khí khách sáo khô khan. Trong khi đó Lê Đức Thọ và Xuân Thủy mời Kissinger dùng cơm ở những ngôi nhà nhỏ ở ngoại ô Ba Lê có sân cỏ, có vườn hoa nhỏ nhắn thanh lịch với các nữ tiếp viên trẻ trung vui vẻ, không khí thân mật ấm cúng”. 17/23


Cần nhắc lại, ông Đôn là “quan sát viên đặc biệt” của Thiệu tại Paris, phóng tầm mắt đến cả chi tiết những “nữ tiếp viên trẻ trung vui vẻ” trong vườn người, hợp với tiếng đồn đào hoa về ông. Ông cũng ghi nhận, đại diện đoàn Mỹ Cabot Lodge và Bộ trưởng Xuân Thủy “gặp nhau đến lần thứ 11” sau ngày khai mạc, hội nghị bốn bên, nhưng vẫn “đối chọi” chứ chưa đối thoại có thực chất. Mãi hơn 6 tháng, vào giữa 1969, theo ông Đôn, từ sau hậu trường chính trị, Kissinger xuất hiện qua đường dây liên lạc của “một người Pháp thân cận với các viên chức cao cấp trong chính quyền Hà Nội gần 30 năm trời là Jean Sainteny” để gặp riêng Xuân Thủy. Vợ chồng Jean Sainteny đã thu xếp cho hai người gặp nhau tại tư gia số 204 đường Rivoli ở Paris. Kissinger từ Luân Đôn bí mật đến Paris. Khoảng đó, tháng 7.1969, thế giới hồi hộp hướng về đường bay của con tàu vũ trụ Apollo 11 và qua màn ảnh truyền hình theo dõi sự kiện con người thứ nhất của quả đất là phi hành gia Neil Amstrong đặt bước chân đầu tiên lên bề mặt mặt trăng. Khi quay về mặt đất, Amstrong đổ bộ xuống vùng biển thuộc khu vực Nam Thái Bình Dương và Tổng thống Mỹ Nixon đã tới đó đón ông. Luôn tiện Nixon thăm một loạt nước như Pakistan, Indonesia, Ấn Độ, Romania, Anh Quốc và ông Kissinger nhân dịp ấy từ Luân Đôn qua Pháp gặp Xuân Thủy vào một buổi chiều đầu tháng 8.1969 tại địa chỉ nói trên. Theo tài liệu các ông Lưu Văn Lợi và Nguyễn Anh Vũ, cùng đi với Kissinger có Anthony Lake, người phụ tá thân cận, và tướng Vernon Walters – tùy viên quân sự Mỹ. Bộ trưởng Xuân Thủy đến cùng Mai Văn Bộ và Nguyễn Đình Phương. Tại cuộc gặp đầu tiên này, Xuân Thủy đã đặt câu hỏi với Kissinger: Tại sao Mỹ đưa quân đến Việt Nam nhanh mà khi rút quân lại nhỏ giọt “rút 25.000 so với 54 vạn quân Mỹ hiện có (1969)” không nghĩa lý gì! Hai bên tranh luận… Kissinger nhấn mạnh “Việc tôi tham gia là bí mật!” và có gì mới sẽ thông báo riêng cho nhau. Về sau trong cuộc hẹn khác, Kissinger có đưa ra một số tài liệu công khai về việc Mỹ phóng tàu vũ trụ Apollo lên mặt trăng. Hôm đó, Kissinger đến trễ, Xuân Thủy cười bảo: – Dù có lên được mặt trăng cũng có khi đi chậm. Một lát, Kissinger: – Con đường lên mặt trăng ít trở ngại hơn con đường chúng ta đi. Đúng, bởi cuộc đánh cắt đẫm máu đường mòn Hồ Chí Minh đoạn Hạ Lào lúc đó đã chất cao thêm xác chết trên đường đến Paris. 38 – Trận đánh mưu cắt đường mòn Hồ Chí Minh Ba năm sau Tết 1968, Thiệu lại cho phép đốt pháo vào dịp Nguyên đán 1971. Cũng như lần trước, Thiệu muốn tỏ “bản lĩnh”, làm ra vẻ tình hình miền Nam yên ắng lắm. Và rồi, lần này, xui xẻo lại đến với quân đội Sài Gòn sau những loạt pháo đầu năm. Mặt trận không nổ ra tại thành phố mà chuyển lên vùng rừng núi hạ Lào. Tiếng dội của nó vẫn có sức rung chuyển đến tận tòa Bạch Ốc báo hiệu sự phá sản hoàn toàn chủ trương “Việt Nam hóa chiến tranh” của Nixon tiến hành từ 2 năm trước. Bấy giờ theo hồi ký của Nguyễn 18/23


Cao Kỳ, quân Sài Gòn đã thêm 400.000 người sau lệnh tổng động viên 18 đến 38 tuổi (1968- 1969), nâng tổng số quân lên 1.000.000 người (cuối năm 1970) và trong vòng trên dưới 3 năm Mỹ chuyển giao Sài Gòn 1.000.000 vũ khí, 46.000 quân xa, 1.100 máy bay gồm cả trực thăng… Sau quá trình “chuyển giao” trên, Mỹ và Sài Gòn muốn chứng tỏ sự “trưởng thành của quân đội Việt Nam Cộng hòa” đã mở cuộc hành quân quy mô do binh lính Sài Gòn đảm nhiệm “nhằm đánh cắt đường mòn Hồ Chí Minh và tiêu diệt đất thánh cộng sản ở Lào”! Mỹ cay cú đường vận chuyển chiến lược thường gọi “đường mòn Hồ Chí Minh” mà chỉ riêng sát thời điểm mở cuộc hành quân trên có đến 40.000 tấn hàng chảy vào Nam trong năm 1970. So với hoàn cảnh thời đó, con số ấy có ý nghĩa lớn, nó gấp 10 lần năm 1969! Trước ngày hành quân, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Melvin Laird đã có chuyến đi điều tra mật về tình hình miền Nam Việt Nam. Ông báo cáo kết quả tại cuộc họp do Tổng thống Nixon triệu tập, với sự có mặt của Kissinger, Rogers, Alexander Haig, Đô đốc Thomas H.Moorer, Chủ tịch Hội đồng tham mưu liên quân Mỹ, và Helms, Giám đốc CIA. Liền đó Nixon cho phép đưa “kế hoạch hành quân tuyệt vời trên giấy” (như Kissinger gọi) vào thực tế chiến trường. Hồi ký Nixon giải thích để tránh dư luận Mỹ chỉ trích và để tỏ sự “thành công” của Việt Nam hóa chiến tranh nên Mỹ không đóng vai trò chủ lực trong cuộc tấn công; Mỹ chỉ đạo nhưng “đứng đằng sau” yểm trợ bằng pháo đài bay B.52, các máy bay chiến đấu khác, đảm nhiệm chuyển vận, rót trọng pháo và ngay cả tên cuộc hành quân vẫn là Việt Nam: Lam Sơn 719! Để lót đuờng “xuất hành” cho quân Sài Gòn, từ mồng 3 Tết Tân Hợi, nhằm 30.1.1971, lực lượng Mỹ ở phía Nam sông Bến Hải lặng lẽ triển khai, tạo một bàn đạp vững chắc phóng sang Lào. Suốt 7 ngày sau đó những vị trí chiến thuật then chốt ở Quảng Trị nhanh chóng được chiếm lĩnh để ba cánh quân Sài Gòn gồm bộ binh, lính nhảy dù và thiết giáp sẵn sàng vượt biên giới. Thiệu, với danh nghĩa tổng thống kiêm tổng tư lệnh quân đội Sài Gòn, xuất hiện nói chuyện với số đông quân thiện chiến đội nón sắt đang sắp hàng ngoài trời trước giờ ra trận. Ông đã tung vào cuộc 2 sư đoàn tinh nhuệ nhất của “quân lực Việt Nam Cộng hòa” trong đó có sư đoàn thủy quân lục chiến. Họ đã bỏ sau lưng dư hương ngày Tết và dấn thân vào tử địa sau lệnh xuất phát ngày 8.2.1971 tiến về Tchépone qua đường 9 Nam Lào. Một chảo lửa đang chực cháy chờ họ. Theo thuật lại của cố vấn tổng thống Thiệu, “tướng Võ Nguyên Giáp huy động lực lượng (…) gồm cả thiết giáp được trang bị xe tăng Liên Xô” đón đánh. Ngày tiến quân đầu tiên trận địa không đến nỗi kinh hoàng như 4 ngày tiếp đó, hễ “bất kỳ nơi nào quân lính Nam Việt Nam tấn công đều thấy quân đội Bắc Việt dường như đã có ở đó và sẵn sàng đợi họ”. Mới non một tuần, con số thương vong của quân Sài Gòn lên đến 3.000. Càng hoảng hốt, mục tiêu Tchépone càng xa tầm súng. Từ Mỹ, Lầu Năm Góc điện hỏi tới tấp đại sứ Bunker và bộ chỉ huy lực lượng Mỹ ở Sài Gòn. Thiệu sốt ruột lệnh tướng Hoàng Xuân Lãm bằng mọi giá “chiếm lấy Tchépone nhưng không cần cố giữ lấy nó”. Miễn sao tin tức loan 19/23


đi “chiếm Tchépone” thôi, còn ngay sau đấy rút liền cũng được.Nhưng ngót nửa tháng tiến đánh, đội quân tinh nhuệ nhất vẫn mắc kẹt trên đường, số tử thương tăng lên từng ngày, việc tải xác chết khỏi mặt trận không làm xuể và “ma sự” bắt đầu ám ảnh mạnh đến tinh thần binh lính. Qua ngày thứ 15, thời hạn chiếm Tchépone như dự định “tuyệt vời trên giấy” vụt qua. Cựu tư lệnh Mỹ ở Sài Gòn, tướng Westmoreland được Kissinger tham vấn ngay về tình hình chiến trận khi đó, đã nhận định ít nhất phải có 4 sư đoàn Mỹ mới tiến chiếm và giữ được Tchépone, chứ 2 sư đoàn Sài Gòn dù là “tinh nhuệ nhất” vẫn chịu chết. Điều đó thấy rõ vào ngày thứ 25 của cuộc hành quân lúc đại binh Sài Gòn bị đánh tan nát trong các đợt đổ quân liều lĩnh gần Tchépone, để rồi: “Chiến dịch kết thúc sau 44 ngày. Con số thương vong cao: 8.000 người, là một yếu tố làm suy nhược ý chí chiến đấu của Nam Việt Nam”. Số liệu và nhận xét trên được ghi lại bởi “cố vấn đặc biệt của Tổng thống Thiệu” qua cuốnTừ tòa Bạch Ôc đến dinh Độc Lập (Nguyên tác: The Palace File – TS Nguyễn Tiến Hưng – Jerrold Schecter, nhiều người dịch, NXB Trẻ). Cuốn sách viết là đối với Thiệu sự thiếu hụt số trực thăng Mỹ cần thiết cho trận đánh ảnh hưởng đến cuộc hành quân: “Ba ngày sau khi bắt đầu chiến dịch số phi công trực thăng Mỹ bị thương vong quá nhiều (…). Các phi công rất miễn cưỡng trong việc tiếp tục tải xác chết đúng lúc và đúng cách. Chính điều ấy gây chướng ngại cho binh lính Nam Việt Nam. Chúng tôi không làm cách nào để chở khỏi trận địa số binh sĩ tử thương hoặc bị thương, khiến ảnh hưởng không những đến tinh thần chiến đấu mà còn kềm hãm tiến trình chung của chiến dịch (…). Niềm tin đầu năm mới tiêu tan vì số thương binh của chiến dịch Lam Sơn đã lấp đầy các giường bệnh ”. Chứng kiến cảnh trực thăng tải thương bay như chuồn chuồn sa mưa từ Lào về, dân miền Trung thời đó có câu ca truyền khẩu: Ai Lao đi dễ khó về Khi đi áo giáp, khi về áo quan Ai Lao đi dễ khó sang Khi đi áo giáp, áo quan khi về! Đường mòn Hồ Chí Minh vẫn thông xe. Chiến trường xa nhất của Nam bộ nhận được 4.000 tấn hàng năm 1971, tăng gấp đôi trước ngày có “cuộc chơi” Lam Sơn 719 vơi cái giá mà Sài Gòn phải trả cho hư không hơn 8.000 mạng sống. Nguyễn Cao Kỳ kêu: “Làm sao có thể khác được?” 39 – Một ngày cùng Tuyết Mai hạ cánh “Làm sao có thể khác được” vì, theo Nguyễn Cao Kỳ, đem một đội quân quen “lệ thuộc phần lớn vào quân đội khác (Mỹ) về chỉ huy, vũ khí và ngay cả chiến lược” để nhào nặn thành “mới” và tách ra độc lập tác chiến như kiểu chiến dịch Lam Sơn 719 rất khó mà địch nổi đối 20/23


phương.”. Về mức sống cũng vậy, sự chung đụng lâu ngày với lính Mỹ tạo thói quen mong ngóng một số sinh hoạt ưu đãi không thể có được khi vắng mặt “người bạn” Mỹ bên cạnh, dẫn đến tâm lý so sánh, bứt rứt, thiếu hụt nơi lính Sài Gòn. Kỳ phân tích: “Khi chủ trương Việt Nam hóa chiến tranh chớm tiến hành, chúng tôi phải hướng dẫn lại cách suy nghĩ của những người lính đã từng sát cánh chiến đấu bên các bạn đồng minh nước ngoài có mức sinh hoạt quá cách biệt. Sự khác biệt đó đẻ ra vô số chuyện không mấy hay ho mà giờ đây chúng tôi phải “thừa hưởng”. Không ai lại đi trách người lính Mỹ ăn ngon, mua thả cửa các loại hàng hóa miễn thuế ở cửa hàng quân đội dành cho họ. Nhưng khi một đơn vị lính Nam Việt Nam hành quân sát bên một đơn vị lính Mỹ thì điều chắc chắn xảy ra là người Mỹ với tính hào phóng vốn có đem phân phát kem và thuốc lá không giới hạn cho các bạn đồng minh. Kết quả là mỗi đơn vị Việt Nam đều muốn tận lực hoạt động sát bên các đơn vị Mỹ và khi các đơn vị Việt Nam đột nhiên phải hoạt động độc lập thì họ cảm thấy thiếu nhớ những đồ xa xỉ của Mỹ”. Đó chỉ mới lướt qua chung chung, sâu vào chi tiết ông Kỳ nêu trong hồi ký: “Một lần tôi đã chứng kiến cảnh lính Mỹ tắm vòi nước gương sen tại một tiền đồn nằm chơ vơ giữa rừng rậm. Ít nhất trong vòng 20 dặm quanh đó không thể đặt buồng tắm bằng vòi nước gương sen nhưng với phương tiện sẵn có, Mỹ làm được chẳng khó nhọc mấy. Thoạt đầu, cả trăm lính Mỹ cởi hết quần áo đứng quây thành một nhóm dưới đất. Trên không, một chiếc máy bay lên thẳng lượn tới và phun nước xuống người họ. Tiếp đó, một chiếc máy bay lên thẳng thứ hai tới phun xà-phòng nước (để họ xoa người, kỳ gội) rồi chừng 5 phút sau khi tất cả kỳ cọ xong đâu đó thì chiếc máy bay thứ nhất quay trở lại phun nước lần nữa cho sạch”. Đến cái ăn cũng được chăm sóc ngon lành hơn lính Việt một trời. Ngoài các loại thịt heo ba lát, thịt bằm, thịt xay hoặc nấu đậu với kỹ nghệ đóng hộp tân tiến, lính Mỹ còn có thể nếm các món tươi xào nấu tại chỗ như Kỳ thuật lại trong một chuyến cùng Tuyết Mai hạ cánh xuống một tiền đồn hẻo lánh: “Lần khác, vợ tôi và tôi thăm một đồn sát biên giới Lào. Đó là căn cứ pháo binh Mỹ đóng tít tận đỉnh núi đá để yểm trợ cho lực lượng đồn trú phía bên dưới. Khi tôi vừa nhảy ra khỏi chiếc máy bay lên thẳng để bắt tay viên quan chỉ huy thì đã ngửi thấy mùi xào nấu thơm phức. Ở bất cứ nơi nào, dù xa xôi hẻo lánh cách mấy, vẫn có một người đầu bếp Mỹ mặc tạp dề trắng, đội mũ trắng, nấu nướng những miếng thịt bò chất từng đống, thơm ngon và đều đặn cứ như bữa ăn ở các nhà phú hộ. Tất nhiên người Mỹ có quyền dùng máy bay lên thẳng để tiếp tế thịt bò tươi cho lính của họ, song hai quân đội Việt và Mỹ nằm sát bên nhau mà lại sống trong hai thế giới cách biệt nhau quá là điều đáng nói”. Còn khi họ cùng phối hợp chiến đấu thì “điều đáng nói” là lính Sài Gòn phải thích nghi với chiến thuật Mỹ. Mà bộ binh Mỹ cứ vừa tiến tới vừa ngửa mặt trông trời, chờ sự yểm trợ của không quân như “một phản xạ tự nhiên”. Do đó, so với đối phương (Việt Cộng), họ giảm tự tin 21/23


khi chưa nghe thấy tiếng gầm rú của máy bay trên không trung nơi lâm trận. Kỳ nêu rõ sự lệ thuộc vào không quân, vào phi pháo Mỹ đã “‘đưa các tướng lãnh của chúng tôi đến những thói quen xấu”. Vì không quân chỉ có thể phụ giúp thôi, chỉ đóng vai trò yểm trợ, chính lực lượng bộ binh “mới là người tiến chiếm đất đai” làm chủ trận địa. Kỳ viết: “Về sau người Mỹ thường chỉ tríchkịch liệt bộ binh Việt Nam (quân Sài Gòn) không chịu tiếnđánh nếu không có không quân yểm trợ. Nhưng họ có biếtđâu rằng chính cách sử dụng lãng phí không quân của họ đãdạy cho binh sĩ chúng tôi ỷ lại vào sự yểm trợ đó”. Có ngày phải tiến hành đến 5.000 phi xuất yểm trợ cho bộ binh Nam Việt Nam, một con số không nhỏ đối với “một nước nghèo”, trong lúc như Kỳ bảo ‘‘không quân Mỹ với ngân sách lớn nên họ chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện đó” cứ phung phí vung vãi bom đạn. Các phụ tùng cũng thế. Khi Mỹ rút, linh kiện máy móc theo chủ trương ‘‘Việt Nam hóa” trút vào “chất cao như núi”, tha hồ sử dụng. Kỳ kể: “Tôi còn nhớ mãi một anh chuyên viên Mỹ mang lon trung sĩ có hơi cố chấp nhưng tốt bụng, một bữa bước vào trong nhà để máy bay đã há hốc mồm khi thấy thợ máy bay Việt Nam đang dùng dao díp cạo một cái bu-ji cho sạch. Anh ta la lên nửa đùa nửa thật: Trời đất ơi! nếu ai cũng làm như anh thì còn gì là nền kinh tế nước Mỹ (người ta sản xuất đồ mới để bán cho ai?). Thôi, quăng nó quách đi, anh! Chúng tôi có cả triệu cái bu-ji mới ngoài kia kìa!”. Những điều trông thấy trong căn cứ không quân và qua các chuyến hạ cánh cùng vợ là Tuyết Mai xuống thăm nhiều tiền đồn đã bổ sung thêm một số chi tiết về “nỗi đau” Việt Nam hóa trong hồi ký của Kỳ. Song đáng nhớ nhất sau chiến dịch Lam Sơn 719, đốỉ với Kỳ, có lẽ là chiến dịch vận động tranh cử tổng thống của Thiệu vào giữa năm 1971, vì nó đẩy đường bay của Kỳ chệch khỏi quỹ đạo của chính trường Sài Gòn từ đó. Cuộc bầu cử diễn ra vào tháng 10, nhưng từ lâu, Thiệu đã làm đủ điều ngăn cản các đối thủ, trong đó có tướng Dương Văn Minh. Ông ta nặn ra đạo luật mới với nhiều điểm lạ đời, mà Kỳ nhắc: “Người muốn ứng cử phải đại diện cho một đảng lớn (tôi- Nguyễn Cao Kỳ – không phải là đảng viên của một đảng nào), hoặc phải được 40 nghị sĩ, dân biểu giới thiệu và bảo đảm. Nhưng Thiệu đã kiểm soát tất cả…”. Đoạn chót của “cuộc đấu” là Thiệu tranh cử “một mình với nhau”; độc diễn! Nguyễn Cao Kỳ hạ bút: – Thế là, sau hai năm làm thủ tướng(1965-1967) và bốn năm làm phó tổng thống (1967- 1971), tôi “ngồi chơi xơi nước”. Tôi vẫn giữ quân hàm thiếu tướng không quân, vẫn ở căn nhà trong căn cứ không quân… Ông đi đi, về về đồn điền riêng ở Khánh Dương bằng máy bay lên thẳng của mình và tự lái lấy, dĩ nhiên, nhiều chuyến có cả Tuyết Mai ngồi bên. Họ còn có chỗ để “hạ cánh” an toàn! (Còn tiếp) Nguồn: Nghiên cứu Lịch sử tổng hợp từ Một thế giới Hình: Ông Nguyễn Cao Kỳ và bà Tuyết Mai, ảnh chụp năm 1967 22/23


Click to View FlipBook Version