VƯƠNG HỒNG SỂN 551
Ta mượn chữ mi lôn của Cơ của Nguyễn Tạo dịch Hỗn Thủy
Me, đổi ra Mỹ Lồng, tuyệt diệu. Giang, đều sai.
Mi: (không kể mi: vermicelle Nếu gọi chữ, nên gọi theo T.V.
chinoise, mi sur: macaroni Ký là Thủy Hiệp Giang.
chinois, hai chữ này, nước nào Sông Nước Xoáy, c.g. Ngã ba nước
biết ăn mì, đều gọi một cách như Xoáy : đd, Hồi Luân Thủy Giang
nhau, ta cũng thế. (TVK).
Mi: 1) appelatif des femmes Ở địa phận thôn Tân Long.
du peuple: danh từ để gọi phụ Phía tây có rạch nhỏ thông với
nữ bình dân. Thủ Ô, về hướng bắc 33 dặm
đến Sa Đéc, 71 dặm qua ngả tắt
Mi krâmom: fille nubile: trinh Cường Oai (tục danh là Tắt Lai
nữ. Xưa có một tiểu thuyết nhan Vung), đến Cường Oai ra hậu
là nàng Chăn Cà Mum hay tả sự Giang. Về ngả hướng tây 18 dặm
tích nàng này, đã làm vang dội qua ngả tắt Cường Oai chuyển
một thuở, đăng trong sách thuốc giòng qua rạch nhỏ, trải qua Thủ
cho không của hiệu Nhị Thiên Ô đến ngã ba giáp nước, về giọt
Đường, (Nguyễn Chánh Sắt ở Tân nước hướng bắc 6 dặm đến sông
Châu soạn). Cái Tàu Thượng (Hội An Giang)
chảy ra Tiền Giang. Về giọt nước
2) Chef, patron, để chỉ người hướng tây 71 dặm, đến Hậu
đầu dọc, như mi véat: sãi cả chủ Giang. Ngọn nước quanh lộn giao
chùa; mi srok: chef de village, hội Tiền Giang và Hậu Giang.
ông xã, người cầm đầu ở làng, mẹ Năm đinh vị (1787) buổi trung
sốc. Tạm gọi lôn là tên tộc, không hưng, chúa Nguyễn đến ngự nơi
dịch được. đây, đóng đồn để hiệu lịnh binh
Sông Mỹ Tho: đd., tên con sông ở sĩ các nơi, thật là một nơi đất
trước mặt tỉnh lỵ Mỹ Tho (Pháp có hình thắng vậy. (NKLTĐDC,
đặt tòa tham biện tại đây), bắt tr. 79).
nguồn từ sông Cửu Long, từ Nam
Vang chảy xuống, chia làm hai Trong bản dịch GĐTTC, tập
nhánh lớn là Hậu Giang chảy 1, tr.84, Nguyễn Tạo không rành
ngang Cần Thơ và Tiền giang tiếng địa phương và cứ coi theo
chảy ngang Mỹ Tho thì gọi là sông sách dịch ra, nên Cái Tắt Lai
Mỹ Tho vậy. Vung, ông dịch : Cái Dắt Lai
Phong, không ai hiểu là gì.
Tên Hán là Tho Giang, ít ai Sông Nước Xoáy : đd., tên sông NV;
dùng, duy một người lựa hiệu và chữ gọi “Hồi Luân Thủy Giang”
đổi chữ Tho ra chữ Thu, vì ông (T.V.K., PCGBC). Ngày nay có
sanh tại đây: ông Thu Giang. người dịch Hồi Oa Giang.
Sông Nước Lộn : đd., chữ là Thủy
Hiệp Giang (Theo Trương Vĩnh Cơ Me : prêk tứk vil (di cảo
Ký) tên một con sông ở Biên Hòa. T.V.K trong Le Cisbassac).
Sách dịch của Thượng Tân (tứk : nước ; vil : chóng mặt,
Thị gọi Đảo Thủy Giang và sách xây bồ bồ).
552 TVTNMN
Trong bản dịch GĐTTC, tr. 85 Ly, đến sông Bồn rồi ra sông lớn
tập 1, có nói năm Đinh vị (1787), Hậu Giang”.
Nguyễn Ánh có dừng chơn trú ẩn
chốn Nước xoáy nầy. Một ông viết Ba Miễu Giồng
Sao, ông nọ viết Giồng Miếu Ba
Aubaret tr.242, viết : Sao, ông nào sai ông nào trúng?
- Le ruisseau Hoi Lun, Sông Nha Mân: đd., Nha Mân
vulgairement nommé Nước Xoay Giang (T.V.K).
(Hồi Luân).
- la rivière Thu Ô là sông Sao y nguyên văn Aubaret, tr.
Thủ Ô; 240, để tiện đối chiếu:
- le ruisseau Cương Oai Kinh,
vulgairement apppelé Cai Tac Lai “Le Nha Vo s’amorce sur la
Phong là Kinh Cường Oai, tục rive sud du fleuve antérieur; il
danh là Cái Tắt Lai Phong; coule à l’ouest de la citadelle, à la
- Ki Can et le Tong Diung: distance de 35 lis et est large de
chưa biết dịch ra sao. 29 tams et profond de 13 pieds. Le
Sông Nha Mân: đd., tên sông NV, cours de cet arroyo s’infléchit du
chảy ngang Cái Tàu Hạ (Sa Đéc). sud vers l’ouest; il parcourt alors
chữ gọi Nha Mân Giang (TVK) une distance de 175 lis, pendant
Cơ Me: prêk okna mẵn (di cảo laquelle il donne naissance aux
TVK tr. Le Cisbassac). petits arroyos Tam Miêu, Tiêu
(Nha Mân, có tiếng là có gái Chang, Tra Chiêt, Chư Ba et Cam
nhan sắc, vì xứ sông trong nước Phu li; il parvient alors au Phon
ngọt, ngày xưa còn là đất đất Giang, qui sort de cours de fleuve
Miên, tuyển con mái cho vua postérieur.
thường chọn gái Nha Mân).
Ở về hướng nam của Tiền De nombreux Annamites ont
Giang, cách hướng đông tỉnh lỵ nouvellement cultivé ces lieux et
180 dặm, chuyển qua hướng nam y ont semé des champs et planté
175 dặm trải qua Ba Miễu (Tam des jardins.
Miếu), Giồng Sao, Trà Két (Kiết),
Đồ Bà, Cam Phù Ly, các rạch nhỏ O. Aubaret viết:
đến sông Bồn hay Bùn, chảy ra Nha Vo thay vì Nha Mân
giòng lớn Hậu Giang(NKLTĐDC, Tam Miêu - - Ba Miễu
tr.77). Tra Chiêt - - Trà Két (Kiết)
Câu nầy trong bản dịch theo Thượng Tân Thị
Nguyễn Tạo (GĐTTC, tập 1 tr. 83) Tiêu Chang
viết: “Ở bờ phía nam Tiền Giang, Chư Ba - - Đồ Bà (T.T.T. và
cách phía tây trấn 35 dặm, rộng Ng.Tạo)
29 tầm, sâu 13 th. Theo phía nam Phon Giang - - sông Bồn (Ng.
chuyển lên phía tây 175 dặm, Tạo)
qua các ngòi nhỏ Giồng Miếu Ba Cam Phu Li - - Cam Phù Ly
Sao, Trà Cát, Đồ Bà, Cam Phù (T.T.T và Ng.T).
Sông Phước Trạnh (viết theo
Nguyễn Tạo, GĐTTC, tập 1, tr.
78) trong quyển NKLTĐDC do
T.T.T. dịch, không nói về sông nầy,
VƯƠNG HỒNG SỂN 553
còn Aubaret, 234 lại viết arroyo thiếu cái chấm nách ở chữ mộc
Phươc Tanh, vulgairement appelé và đọc cạy. Vậy đây là cái bát và
Cai Sai. Tôi không dám chấm cái cạy. (L.T.X. ĐNVT 12).
dấu, sợ sai lầm thêm tai hại. Sông Quang Hóa: đd.,
Theo Aubaret thì rạch Phước Le Quang Hóa est situé sur
Tanh nầy ở về đông cách 5 dặm le cours supérieur du Tuan An et
Mỹ Lồng, bề ngang ba tầm, sâu độ dans l’ouest de la citadelle, à la
hai tầm, trổ ra cửa Ba Lai. distance de 160 lis et demi. Un
Sông Quang Hóa: đd., Quang Hóa poste de surveillance est établi
Giang (PCGBCTVK). sur la rive nord du fleuve (Quang
Hoa). Ce lieu est habité par des
Ở về ngọn thượng lưu sông Annamites, des Chinois et des
Thuận An, cách hướng tây tỉnh Cambodgiens, dont les maisons
lỵ 160 dặm (Pháp đặt nơi đây sont mêlées et qui tous vivent
làm tòa tham biện Trảng Bàng). de leur industrie; là aussi est
Thủ sở về hướng bắc sông có tuần une fortification habitée par le
tỵ. Ngọn thượng lưu 24 dặm, đến collecteur d’impôts.
vàm Khê Lăng, lại 91 dặm đến
đồn Quang Phong, trên hướng Cette fortification sert
tây ngọn nước chia làm hai ngả: également pour surveiller la
hướng bắc gọi là ngọn cùn 100 frontière.
dặm, tục danh là Ngã Bát, hướng
tây ngọn cùng 150 dặm, tục danh Le Quang Hoa après un
Ngã Cạy. (NKLTĐDC, t44). cours de 24 lis et demi, parvient
Sông Quang Hóa (xem à l’amorce du Khé Lang, et 91
ĐNNTCLTNV, tập thượng, tr. lis et demi plus loin il arrive au
64, Ng. Tạo dịch): “Sông Quang poste de Quang Phong; c’est là
Hóa... chi bắc tục gọi là Cái qu’est réellement la séparation
bát... chi tây tục gọi là Cái gậy...” du royaume du Cambodge
(tr.64). avec l’empire d’Annam. C’est
par ce poste que passent les
Nếu không thấy chữ Hán hay envoyés cambodgiens quand
nghe đọc riêng từng chữ thì người ils apportent le tribut. Les
ta lầm tưởng đây là “cái bát” (cái deux bords de cette rivière sont
chén) và “cây gậy). extrêmement boisés, et malgré
cela on les a nouvellement mis
Trong Nam, đi thuyền ban en culture. Le cours supérieur
đêm, hễ thấy đàn ghe phía trước de Quang Hoa, qui se dirige
đi ngược lại thì hai bên hô to bảo vers l’ouest, se divise en deux
nhau “Bát” (lách mũi qua hữu) branches: la branche du nord,
hoặc “cạy” (kéo mũi qua tả) cho vulgairement appelée Cái Bát,
hai ghe khỏi đụng nhau. se perd, après un cours de plus
de 100 lis au nord, dans la forêt
Chữ nầy không phải tả mộc du Quang Hoa; la branche de
hữu kị, đọc ra gậy, mà là tả thủ l’ouest, vulgairement nommée
(xóc) hữu kị, khác chữ trên vì
554 TVTNMN
Cái Cạy, se perd dans les terres de ce fort se voient encore de nos
après un cours de plus de 150 lis jours.
à l’ouest; elle se rend également
dans la forêt du Quang Hoa, qui Le Tra Giang est situé dans
occupe tout ce vaste espace de le sud-est de la citadelle à la
terrain. (Aubaret p.192). distance de 125 lis.
1) rạch Gò Công et rạch lá. Après un cours de 3 lis et
(xem thẻ Sông Tra). demi au nord-ouest, il parvient à
l’ambranchement (aux trois bras)
2) Le Sông Trà, d’après cette de Khong Thuoc Nguyen (1). A
description, serait aussi le Rạch partir de ce point de bifurcation,
Lá. Ces deux appellations sont et après un cours de 34 lis à
très usitées. l’ouest, l’un des bras se rend au
marché de Gò Công.
Khong Thuoc Nguyen Khổng
Tước Nguyên. Le Sông Tra (2) ayant
parcouru une nouvelle distance
Diưa Diep: sông Giả Điệp de 8 lis, arrive aux trois bras
(NKLTĐDC, Dịch sơ cho gọn. - de Diưa-Diep. A partir de cet
Tra Giang hay Sông Tra đổ vào embranchement, et après un
sông Hưng Hòa. Trên bờ phía bắc cours de 4 lis et demi encore
còn một đồn nay còn thấy dạng dans le sud, l’arroyo se rend au
xây từ năm Mậu Thân (1788). marché de Diưa Diep; il parcourt
Chảy tới giồng Khổng Tước (Gò une nouvelle distance de 14
Công) sông chia ba nhánh, đó lis et parvient aux trois bras
là Sông Tra, Rạch Gò Công và de Thuoc Lang et de Ca Hon,
Rạch Lá. avec lesquels il mêle ses eaux.
(Aubaret, p.205).
Muốn khỏi lầm lộn, đề nghị Sông Sa Đéc: đd., tên sông NV;
gọi: chữ gọi Sa Đéc Giang (TV Ký) và
đừng gọi theo ai là Sa Giang vì dễ
Sông Tra nầy là Sông Tra lầm với Sa Hà trên Phước Long,
Rạch Lá (đủ bốn chữ), chừa danh Biên Hòa.
từ Sông Tra hay Tra Giang để
gọi Sông Tra kia (xem Sông Tra Cơ Me: Tonlé phsar dèk (di cảo
khác nữa). T.V.K trong Le Cisbassac).
Sông rạch lá: đd., Tra Giang.
(Tonlé sông; phsar: chợ; dèk:
Le Tra Giang ou Song Tra, sắt. Chợ bán sắt.
s’amorce sur la rive ouest et dans Sa Hà: đd., trên sông Phước Long,
le cours inférieur du Hưng Hoa. ngày xưa nơi bãi cát có bắc một
Son amorce est large de 57 tams cầu gỗ nối liền hai bờ sông. Năm
et profond de 31 pieds. Đinh Mão (1748) đời Thế Tôn
(Lê Hiển Tôn) có tên Lý Văn
Sur la rive septentrionnale Quang, gốc người Phước Kiến,
de l’amorce fut construit un fort đến đây, tụ tập trên ba trăm đồ
dans une position bien fortifiée,
l’an Mậu Thân (1788) durant le
règne de Gia Long. Les vestiges
VƯƠNG HỒNG SỂN 555
đảng, xưng Đại Phố Vương, cử Les habitants sont riches et heureux.
tên Hà Cự làm chủ tướng, lựa Le fort de Dong Khau Dao (2) est
hai tả hữu phó tướng rồi dậy
giặc đánh chiếm thành Biên Hòa, situé dans le sud. Les boutiques
sát hại khâm sai là Nguyễn Cư du marché sont extrêmement
Can và đốt chiếc cầu nầy, sau nombreuses et serrées l’une
không ai tu bổ lại (Đầu phía contre l’autre; les barques
nam chỗ nầy sau có cái bến đò abondent en ce lieu. C’est, de
đưa qua chợ Bình Tiên, khi Tây toute la province, la partie la plus
Sơn vào chiếm, đóng đồn ở đây, habitée, la plus peuplée.
nên nay còn lại danh “Chợ Đồn” A gauche de Sa Dec est le lieu dit
(Aubaret, tr. 158, Thượng Tân Tien Pho, qui dépend du territoire
Thị, NKLTĐDC, tr.22). du village de Tan Qui Dong; c’est
Sông Sa Đéc: đd., Sa Đéc Giang (Sao un endroit aussi paisible et aussi
y nguyên văn Aubaret tr. 241 để bien abrité que l’intérieur de la
cho thấy sự quan trọng của tỉnh bouche (abritée par les lèvres)...
lỵ nầy trong thế kỷ XIX đã qua): Là on ne trouve pas de vase, elle
“La rivière de Sa Dec s’amorce sur est remplacée par de beau sable
la rive sud du fleuve antérieur et blanc; là le vent est doux et
est large de 42 tams et profonde agréable.
de 28 pieds; elle coule à l’ouest Les bateliers ne manquent jamais
de la citadelle, à la distance de d’aller mouiller dans cet excellemt
56 lis et demi, A la distance de port, où le cri fatigant de la
4 lis (après l’amorce), et sur la grenouille n’est jamais entendu.
rive sud (de Sa Dec), s’amorce C’est, à cause de tant de qualités
l’arroyo Cai Son, large de 9 tams que ce lieu est nommé Tien, c’est-
et profond de 10 pieds. Sur cet à-dire Génie.
arroyo est un pont qui conduit A droite de Sa Dec est l’ilot de Phong
au marché de Sa Đec. Après un Nga, qui l’enveloppe à la manière
cours de 7 lis et demi dans le d’une fortification. Ce territoire
sud-ouest, le Cai Son parvient de Sa Dec est, en somme, bien
au Nhị Nương, qui se divise fermé, bien entouré, solide et d’un
en deux branches. Le peuple a accès difficile (pour des ennemis
construit sur l’eau, en ce point qui voudraient l’attaquer). La
de bifurcation, un grand nombre rivière de Sa Dec, après un cours
de demeures qui laissent aux de 33 lis au suduest, parvient au
barques un étroit et difficile Du Cao, qui s’amorce sur sa rive
passage. ouest. Elle rencontre aussi le Nhi
L’eau de la rivière de Sa Dec est pure, nương, qui s’amorce sur sa rive
limpide et douce; les bords en sont est, et plus bas, le Sa Nhơn, ce
couverts de nombreuses cultures dernier arroyo s’amorce sur sa
et de beaux jardins. rive ouest.
TỰ VỊ TIẾNG NÓI MIỀN NAM
VƯƠNG HỒNG SỂN
Chịu trách nhiệm xuất bản:
LÊ HOÀNG
Biên tập:
QUÁCH THU NGUYỆT
Vẽ bìa:
Sửa bản in:
HÀ YÊN
nhà xuất bản TRẺ
161B, Lý Chính Thắng - Quận 3 - Thành phố Hồ Chí Minh