The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.

Tự Vị Tiếng Nói Miền Nam
Vương Hồng Sển

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2022-10-03 19:25:08

Tự Vị Tiếng Nói Miền Nam Vương Hồng Sển

Tự Vị Tiếng Nói Miền Nam
Vương Hồng Sển

VƯƠNG HỒNG SỂN 501

Tôi lặp lại: kiều nhơn quán độ, sanh xuất
- Rạch Chanh: Đăng Giang: tiêu chu lai”, hoặc kiểu “Ngư Gia
prêk kroc; arroyo de la Poste: độ hoàng gia, Âm Tinh ngộ đế
kinh bà Bèo (bàu bèo). Theo tinh” để làm kỷ niệm, tích này lối
Alinot, Đăng Giang đào năm năm 1787 và bộ chén lối đời Thiệu
1840 (đời Minh Mạng) dài 24km Trị (1840-1847). (theo Aubaret,
(Alinot t.13) bản 1915. tr.208 của Paul Alinot xuất bản
- Kinh Vũng Gù: Bảo Định tại Sài Gòn năm 1916, tr.13, thì
Hà: cumnik prêk cak: arroyo de Đăng Giang (Rạch Chanh), Pháp
la poste: kinh bà Bèo (Bàu Bèo). đặt tên là Arroyo de la Poste, con
Từ khi tôi đọc quyển kinh này lối năm 1902 bị cỏ choán
“momographie de la province de sình lấp, và ghe thuyền bỏ không
Mỹ Tho”, in năm 1902, tôi rõ lại dùng nữa).
tên rạch Bàu Bèo, có đến ba chỗ Rạch Chanh: đd., Đăng Giang
cùng mang tên này: (Aubaret, tr.208, Alinot, t.13
1) Rạch Bà Bèo (cumnik prêk arroyo de la Poste).
cak (cak là cũ) (arroyo de la poste)
tức Bảo Định Hà là một cái kinh Le nouveau canal de Dang
bàu bèo; (cơme prêk cak là kinh Giang est dans le nord-ouest de la
cũ); citadelle. C’était autrefois le petit
2) Rạch Chanh (Đăng Giang): arroyo de Dang Giang.
(prêk kroc) arroyo de la Poste lại
là một kinh Bàu Bèo thứ hai; A l’est de cet arroyo était situé
(Cơ Me prêk kroc đúng là Rạch le commencement du rach Ba Lai,
Chanh); et à l’ouest s’étendait un terrain
3) Đầu Tân An, kinh Vũng Gù tout recouvert de boue. Le cours
lại là một kinh Bàu Bèo thứ ba, vì de l’arroyo, qui n’avait pas moins
đầu tiên, những kinh thiên nhiên de 57 lis et demi, était embarrassé
này, bèo mọc chật, choán đầy, par une grande quantité de
phải vét phải khai ghe thuyền hautes herbes. Vers le sud du
mới qua lại được. Đọc trại thành territoire où coulait cet arroyo
kinh Bà Bèo cả ba, nay xin cải existaient beaucoup de tertres
chính. un peu élevés (go ou giong); là se
Rạch Chanh: đd., tên con rạch chữ trouvaient des champs cultivés et
gọi Đăng Giang (Ngày xưa chúa des jardins. Vers le nord, c’étaient
Nguyễn Ánh bị Tây Sơn rượt, de profondes forêts sillonnées
túng quá cỡi lưng trâu lội ngang d’un grand nombre de cours
qua khúc rạch này vẫn đầy cá d’eau; ces forêts s’étendaient à 5
sấu, nhưng may thoát khỏi bị sấu ou 600 lis. C’est là que campèrent
nuốt, đến đời mấy vua sau, đặt ra les Dong Son, dont le quartier
truyền thuyết “nhờ sấu đưa qua général était à Ba Giong, dans
sông dữ” và đặt lò sứ Trung Hoa une position extrêmement forte.
chế ra bộ chén trà vẽ tích “Bình Ils pouvaient à leur gré se mouvoir
dans le sud ou dans le nord;
toujours protégés par le terrain

502 TVTNMN

lui même, ils étaient semblables bất trắc đã hạ thủ giết mất Đỗ
à un tigre au plus profond des Thanh Nhơn trước, và Đăng
bois ou bien au dragon au milieu Giang dưới sông có sấu dữ, trên
de l’océan. L’homme ne pouvait bờ là rừng bụi liên miên, một sào
parvenir jusqu’à eux: aussi les huyệt kiên cố không khác Lương
Tây Sơn échouèrent-ils quand ils Sơn Bạc trong truyện Thủy Hử,
voulurent les combattre dans ce bỗng bị khai thông trở nên hiền
lieu inextricable. lành như các con sông khác,
kế đến sau này cỏ lấn lác mọc,
L’an at-ti (1785), le mandarin Đăng Giang ngày một cạn lần để
Tây Son nommé Trân profita de đến những năm 1902 “không có
deux arroyos rapprochés pour en ghe thuyền qua lại”, thật là phế
faire un canal navigable en les hưng sự thế rất là nhanh chóng
réunissant cela lui permit d’aller vậy (xem thẻ Rạch Chanh khác,
attaquer les Dong Sơn. tích Nguyễn Ánh cỡi sấu sang
sông dữ).
Ce canal est aujourd’hui très Rạch Châu Phê: đd., thuộc Mỹ
fréquenté. (Aubaret, tr.208). Tho NV.
Nhưng trong monographie 1902,
tr.19 lại có câu: “L’arroyo de la (Xưa Vân Trường Hầu Nguyễn
Poste est une voie aujourd’hui Cửu Vân xin khẩn ruộng, vua phê
délaissée et en partie envahie par chữ son ban cho nên đặt tên như
les herbes. vậy. (L.T.X. ĐNVT 13).

Lời bàn. - Đọc sử ai cũng đọc Le Châu Phê s’amorce sur la
được, hiểu sử là một việc khác. rive nord de la rivière Bảo Định;
Đọc nhiều mà không phân biệt, il est situé dans le sud-ouest de
chỉ thêm rối trí. Chánh Sử để lại la citadelle, à la distance de 97
cũng không giúp ích để hiểu sự lis et demi.
thật, vì tốt khoe xấu che, mỗi lần
đọc tới đoạn chúa Nguyễn Ánh, Cet arroyo coule sur un
bị Tây Sơn rượt nà, khi cấp bách territoire qui appartenait jadis
nguy khốn nhứt, hễ chạy tới Lật au Cambodge.
Giang (sông Bến Lức) hay Đăng
Giang (rạch Chanh), này thì biến Le prince cambodgien Iêm,
mất y như có tà thuật hay thần revenant de Gia Đinh chez lui, fut
linh độ mạng, nay rõ lại vì Đăng élevé sur le trône du Cambodge;
Giang là căn cứ địa của Đông Sơn mais il ne tarda pas à entrer en
(Đỗ Thanh Nhơn) hổ cứ vùng Ba hostilités avec son frère rebelle,
Giông, binh Tây Sơn kéo đến đây nommé Thâm, qui, vaincu, fut
là rút về vì dư biết đó là cấm địa, obligé de s’enfuir avec son autre
hễ vô là chết. Nhưng năm Ất Tị frère Tan dans le royaume de
(1785) vùng dữ này bị Tây Sơn Siam, où ils de mandèrent des
đào thông định bắt con cọp chúa secours en hommes. Iêm, de son
Đông Sơn, ngờ đâu chúa Nguyễn côté, revint à Gia Đinh implorer
vì ghê sợ tài lực và vì sợ có việc l’assistance de l’empereur
d’Annam Hiển Tôn. Cela se

VƯƠNG HỒNG SỂN 503

passait l’an Ất Dậu, 15è année Rạch Chiết: đd., ở NV, chữ gọi Tắt
de Hiển Tôn (1706). Alors le Cam Đồng Nhiên (PCGBCTVK) tên
Man (envoyé royal Khâm Mạng). một con rạch nối sông Đồng Nai
Nguyễn Phước Vân marcha à la qua sông Sài Gòn.
tête d’une armée de terre et de
mer à la rencontre des soldats Rạch Choại: đd., tên rạch NV vùng
siamois, qu’il défit. Biên Hòa; Trạch Đằng Giang
(theo Trương Vĩnh Ký) (Choại là
Le roi Iêm alla régner à La một loại mây dùng bện sáo, bện
Bit, où le replaça ce général Vân, đăng; đọt choại là rau ngon. Cơ
qui s’occupa dès lors de faire Me: Tonlé prêk kompong khnẫn.
labourer et cultiver le territoire (theo di cảo Trương Vĩnh Ký trong
de Vũng Ngù tant par le peuple Le Cisbassac của L.Malleret).
que par l’armée. Ce général en (Tr. Nam Kỳ Lục Tỉnh, Thượng
chef s’en retourna dans la suite Tân Thị viết “Rạch Chại” và dịch
à la capitale pour présenter “Mao Đằng Giang” là không
ses hommages à l’empereur, đúng). (Trong Gia Định Thành
qui nomma son fils ainé Triem thống chí, Nguyễn Tạo viết “rạch
gouverneur de la province de Tói” (lòi tói, đòi tói, xiềng tỏa, dây
Bien Hoa. xích để cột trói, là sai hẳn).
Aubaret, p.165: Rach Choai:
L’an At Vi, 25 è année de Hiển Mau Thang (Mao Đằng Giang).
Tôn (1716), l’empereur accorda Van Trun (ile aux moustiques).
par un rescrit impérial une des Cù Lao Văn Manh (có nhiều
meilleures parties de cette terre muỗi và ong).
cultivée au général Vân, en Khnẵn, viết theo tự điển
récompense de ses services. Ces J.B.Bernard khnănh, khnănh
champs prirent alors le nom maha rosey = cheveux de Vénus
de Châu Phê (rescrit à l’encre (herbe), trong mấy chữ này có
rouge), et l’arroyo qui le traverse “rosey” là dây mây, choại là một
fut nommé par le peuple Rạch loại dây mây, vậy không nghi ngờ
Châu Phê. gì nữa, “rạch choại” là do tiếng Cơ
Me dịch ra làm vậy.
C’est maintenant le territoire
du canton de Binh Cach, ou se Rạch Cóc: đd., tên để y bên Hán
trouvent les trois villages de Binh tự của cửa Rạch Cóc (Xem Cửa
Quê, de Binh Trung et de Bình Rạch Cóc).
Thuyen (aujourd’hui Phu Tanh).
Rạch Duồng Kée (sic Alinot): đd.,
Le successeur de Hiển Tôn, tên một rạch chảy ra Nam Hải nơi
conservèrent cette propriété à la gần chót mũi Cà Mau.
famille du général Nguyen Phuc
Van (Aubaret, p.189). Rạch, đầm Gò Vắp: đd., tên rạch
và đầm th. Gia Định, chữ gọi Lão
(xem thêm kinh bàu bèo). Đống Giang.
Rạch Châu Phê: khúc rạch chảy Cơ Me: Prêk kompong kakoh
klei (theo di cảo Trương Vĩnh
ngang sở ruộng Châu Phê (xem
chữ ấy).

504 TVTNMN

Ký, L.Malleret chép lại trong Le Ngán cho giọt nước khéo vô
Cisbassac). tình

(Trong Nam Kỳ Lục Tỉnh địa Sống thề chưa vẹn duyên
dư chí Duy Minh Thị, bản dịch kim cải
của Thượng Tân Thị, viết sai là
“đầm gò Bôi (Vui) “thay vì Gò Thác nguyện cùng theo chốn
Vắp, và viết lầm “sông Lão Đuôn” thủy tinh
(thay vì “Lão Đống”, (tr.37), vậy
xin đính chính). Ai hỏi hồn thiêng như có biết
Tiếng đời lượn sóng nỗi linh
(khi in sách, tưởng nên nhập đinh
làm một). (trích Nam Kỳ lục tỉnh địa dư
Rạch Đôi Ma: đd., tên sông ở về chí bản Đại Việt Sài Gòn tr.40)
ngọn hạ lưu bờ hướng Bắc của (Rạch Đội Ma cùng với Sông
Thuận An Đại Giang tức ngọn Đôi Ma là một; sở dĩ làm hai thẻ
sông Bến Lức, chữ gọi Song Ma là muốn có đủ tài liệu vừa tiếng
Giang hay Tình Trinh Giang đã Việt vừa bằng Pháp văn của
làm đề tài cho hai bài thi này: Aubaret).
Rạch Gầm: đd., tên rạch vùng Mỹ
1) Bài làm năm 1906 của chủ Tho; tên chữ gọi Sầm Giang.
nhơn hiệu Nhơn ái đường (ng. Cơ Me: prêk khlà trằm (di cảo
Tàu ở Mỹ Tho). T.V.Ký trong Le Cisbassac).
(prêk: sông, rạch; khlà: cọp,
Vực hẳm cây cao chiếm một hổ, trằm? (cọp gầm?)
tòa, (Nơi này ngày xưa chúa
Nguyễn Huệ cả thắng binh
Sống không lẻ cặp chết đôi ma Xiêm đến viện trợ cho phe chúa
Hồn hoa đem gởi chòm mây Nguyễn).
bạc Ở về hướng bắc hạ lưu sông
Phách quế nương theo bóng Trước, cách hướng tây tỉnh lị 28
nguyệt tà. dặm. Trong bờ hướng tây có chợ,
Con nước chảy ròng rồi kế lớn, do hướng đông bắc vô bảy dặm,
Tấm lòng có bậu lại cùng qua ở bờ hướng đông có chợ Thụng
Căn duyên ai khiến xui cho (có lẽ là Chợ Bưng chăng?). Lại 2
đấy dặm đến ngã ba giáp nước. Ngã
Tiếng để ngàn thu cũng cũng hướng tây 17 dặm hiệp với rạch
là. Rau răm chảy ra sông Trước. Ngã
2) Bài nhì của Thượng Tân hướng bắc 4 dặm đến ngọn cùng
Thị năm 1907 khi đi đò ngang giồng Lữ có chợ Thuộc Nhiêu.
đây: (theo NKLTĐDC, tr.53).
Trải qua Rạch Kiến ác chinh Thụng: đùn lại, dụng dịu,
chinh, không thẳng không sát (HTC).
Nghe nói Đôi Ma bát lạnh Bưng: đất thấp nổi nước tư
mình niên, đất thấp đầy những cỏ rác
Thảm nỗi con nhà sanh bất (ĐNQATVHTC).
hiếu

VƯƠNG HỒNG SỂN 505

Rạch Gầm: đd., Sầm Giang (bản Rạch Đông: đd., tên rạch thuộc
tiếng Pháp: t.Biên Hòa cũ; chữ gọi Đông
Le Sam Giang, vulgairement Giang (PCGBCTVK).
Rach Gam, s’amorce sur la Sông ở về hướng Bắc ngọn
rive nord du cours inférieur thượng lưu sông Phước, chảy
du fleuve antérieur; situé à 28 ngược lên đầu nguồn thì gặp suối
lis et demi dans l’ouest de la sâu có thác đá, ghe thuyền không
citadelle, il forme la limite à lưu thông được, rừng rú hoang vu,
l’est et à l’ouest des deux huyens tiếp liền với đất ác man (mọi dữ)
de Kien Hưng et de Kien Dang. (hai chữ này của ông Ng.T.)
Sur la rive occidentale est un Aùc Man, Aubaret tr.163 dịch:
petit marché. Après un cours de sauvages barbares.
7 lis et demi dans le nord ouest,
l’arroyo parvient au marché de Rạch Giá: đd., tên cũ của tỉnh Kiên
Thưng, placé sur la rive sud: là se Giang.
trouvent beaucoup de maisons et Giá, một loại với cây tràm,
de boutiques. Après un nouveau bông trắng, ong rút mật làm ra
cours de 2 lis et demi, on arrive sáp thật trắng, xưa nạp ra Huế
aux trois bras. Le bras de l’ouest gọi “thuế bạch lạp, phong ngạn”.
coule pendant 17 lis et demi, pour Người Miên gọi tỉnh này srok
se mêler aux eaux du Lu Ma, et se kramoun sa (kramoun: sáp, sa,
jette ainsi dans le cours inférieur so: trắng.
du fleuve antérieur. Le bras du Kiên Giang: Rạch Giá, trước
nord, dont le cours est de 24 lis, thuộc Hà Tiên đời đàng cựu, do
parvient au Lu Giang et se perd công Mạc Cửu khai phá từ đất
dans les terres. Thủy Chân Lạp đào tạo từ năm
Là se trouve le marché de Giáp Dần (1734) truyền lại con là
Thuc Nhieu; les environs en sont Mạc Thiên Tích mở mang thêm
cultivés et couverts de beaux từ năm Ất Mão (1734); lúc mông
jardins. Les habitants, tous trần chúa Nguyễn Ánh thường
agriculteurs, cultivent le riz et le tạm trú nơi đây, và đêm 16-6-
murier (Aubaret, p.209). 1863, ông Nguyễn Trung Trực
Chợ Thưng tr. Aubaret, thì kéo quân nghĩa dông từ đảo Phú
Chợ Thụng (T.T.T.) và Chợ Xuân Quốc qua đánh úp đồn trại của
(N.T.) Pháp, giết bọn theo binh lang sa
Lu Ma của Aubaret là sông và giải tán nhóm làng xã do Pháp
hay rạch Rau Răm của hai dịch đặt, chống giữ được trót một tuần
giả Việt. lễ, sau rút về Phú Quốc...
Marché de Thuc Nhieu là chợ Năm 1956, Rạch Giá đổi gọi
Thuộc Nhiêu. tỉnh Kiên Giang.
(xem thẻ Rạch Gầm có 2 chữ Đầu năm 1957, gộp thêm
Thụng và Bưng). Hà Tiên và Phú Quốc, tỉnh lỵ là
Vĩnh Thanh Vân. Bài vị Nguyễn
Trung Trực được thờ trong đình

506 TVTNMN

làng này, mà chủ tỉnh sở tại thông Các địa danh kê trong bản
qua không nói gì, vì do một bác sĩ Pháp văn Aubaret, tr.240:
Pháp tên Le Nestour sắp đặt, chủ
tỉnh giả ngơ không biết. Tương Can Thư là Thượng
Cần Thơ
Cửa Rạch Già (dấu huyền):
đd cũ, ổ kháng chiến lúc Tây Can Thư là Cần Thơ
mới qua, gần Bến Chùa, Dương Sơn Chiết
Phước, tỉnh Gò Công. Một sách Du Khê là khe dầu (Du Khê)
Pháp kể chuyện lối năm 1864 có bản dịch Nguyễn Tạo GĐTTC.
hai anh em bị binh Pháp bắt đi 1, tr.83.
chỉ chỗ trú hứa chỉ trúng sẽ tha Bao Hôt là Bàu Hốt (theo
chết, nhưng hai người ấy đi đến Nguyễn Tạo). Còn nghe gọi Bù
chiều đưa Pháp lạc lối, Pháp hành Hút, Bù Ót (và là tiếng Miên
hình nhưng tiếc người anh hùng. khó nói).
Nhiều sách báo sau này đều hiểu Chép lại đây bản dịch Nguyễn
lầm với Rạch Giá, chớ việc này Tạo (GĐTTC, tập 1, tr.83) để so
xảy ra trong trận đánh Gò Công. sánh với bản dịch Pháp văn của
Aubaret, tr.240, xem thẻ ấy):
Cửa Rạch Giá: đd., tên cửa biển “Sông Thượng Cần Thơ. Miệng
thuộc Hà Tiên cũ (PCGBCTVK). sông ở bờ phía nam Tiền Giang,
cách phía tây trấn 53 dặm rưỡi;
Già (dấu huyền), đừng lộn rộng 37 tầm, sâu 12 thước;
với Rạch Giá. Qua Hán Tự để y chuyển phía đông qua phía
(TVK). nam 27 dặm thì dòng sông lần
Rạch Giồng Bầu: đd., tên rạch NV, hẹp, đến núi chia làm ngã ba:
chữ gọi “Trúc Giồng Bầu” (theo ngả phía tây đến thượng khẩu
T.V.Ký, P.C.G.B.C). ngòi sâu rồi ra Bàu Hốt, thông
với Hậu Giang; ngả phía nam
Cơ Me: prêk phnô khlôk (di đến Du Khê (Khe dầu) rồi ra
cảo T.V.Ký) Trà Mang cũng thông với Hậu
Giang. Sông nầy đối ngạn với
khlôk, c.v. khlouk là trái bầu đường sông ở trấn Cần Thơ, trên
(gourde calebasse). đường sông nầy tre cây 2 bên bờ
ngả ra sát nhau, ghe thuyền khó
( Tr o n g P. C . G . B . C . T. V. K . đi; ruộng vườn còn thưa trống,
ghi: thuộc vùng Sài Gòn, tr.41) vì người ta mới đến lập nghiệp.
(province de Sai Gon). (Ngày nay Cần Thơ vẻ vang
Rạch Gò Công: đd., tên rạch NV, chữ phồn thịnh vào bực nhứt ở các
“Khổng Tước Nguyên” (T.V.Ký). tỉnh miền sông Hậu, có lúc xưng
Bassac, rồi nay là Tây Đô v.v...,
Cơ Me: Prêk Kompong Kakòh chớ nửa thế kỷ trước, Cần Thơ
(di cảo Trương Vĩnh Ký). vẫn lèo hèo lắm, một bằng chứng
còn lại là các dãy phố cũ trong
(theo lexique Pannetier, con châu thành không có phố nào
công, Miên c. gọi Kâ Ngok).
Rạch Gỗ Đền: đd., tên sông ở
vùng An Giang, tên Hán là
Thượng Cần Thơ Giang (theo
PCGBCTVK), hai địa danh nầy
chưa nghe và cần dò lại.

VƯƠNG HỒNG SỂN 507

trên hai tầng; trừ các khu tân Công) gặp lần lần ngã ba sông
tạo từ bến bạc mới và trên các Gia Diệp, kế đến ngã ba sông
đại lộ nhờ lấp xẻo nhỏ làm ra Thuộc Lang. Ky Hôn hiệp làm
đường khang trang mới rộng còn một dòng (NKLTĐDC. tr.41)
lại đường và phố trung tâm đều
nhỏ bé thấp hẹp, sự cũng dễ hiểu Dịch từ chữ - prêk: sông, rạch.
vì châu thành tùy theo sự thạnh kompong: vũng (prêk là sông,
vượng của cuộc kinh tài doanh prêk kompong là sông trổ ra vàm,
thương mà phát triển, cũng như lớn hơn prêk).
nhờ các xe đò xe du lịch chạy Slơk là lá cây. Vậy Rạch Lá:
thường mà phát tài, đến khi xe prêk kompong slơk là đúng. Duy
thôi chạy, cuộc buôn bán ngưng có hai sông đều sông Tra, nên đề
trệ, thì thành phố và cuộc sinh nghị: nên nói:
động của nhơn dân cũng tiêu sập Sông Tra, khi gọi con sông lẻ
luôn, cho hay chợ búa, thành thị, loi, chữ là Tra Giang; Sông Tra/
đều có tuổi thọ và mạng sống y Rạch Lá hay Tra Giang/Rạch Lá
như con người). khi gọi con sông có Rạch Lá nối
Rạch Khe Răng: đd., tên rạch thuộc dài (gọi đủ bốn tiếng Sông Tra/
vùng Sài Gòn (theo PCGBCTVK) Rạch Lá hay Rạch Lá/Tra Giang,
tên chữ là Khê Lăng Giang. cho khỏi lộn.
(xem Sông Tra khác).
TTT và N.T. đều dịch Khê Rạch Nước Lộn: đd., tên rạch th.
Lăng. Biên Hòa: Thủy Hiệp Giang.
Cơ Me: Tonlé prêk kompong
Ở bờ phía bắc sông Quang tưk san.
Hóa, cách phía tây trấn 185 dặm (theo di cảo Trương Vĩnh Ký
rưỡi. Từ cửa sông ngược dòng theo chép lại trong
sông nhỏ lên phía bắc 61 dặm Le Cisbassac của L.Malleret)
đến Thủ sở Thuận Thành. Nguồn (Thượng Tân Thị dịch “Nước
sông phát từ núi Bà Đen (Tây lộn” là Đảo Thủy, còn theo
Ninh). (GĐTTC, tập 1, N.T. dịch). Trương Vĩnh Ký, là “Thủy Hiệp
Rạch Lá: đd., tên rạch NV, chữ gọi Giang”, đáng tin hơn, vì cổ hơn,
Tra Giang. vả lại là người bản xứ nên phải
biết rành hơn.
Cơ Me: Prêk Kompong Slơk (Nguyễn Tạo dịch Hỗn Thủy
(theo di cảo Trương Vĩnh Ký). Giang cũng sai).
(slơk, c.v. sanlèk, slék là lá cây, Sông Nước Lộn trổ ra vàm
dịch “lá”, vừa đúng nghĩa vừa sông lớn Mô Xoài, ngọn tây lưu
đúng theo âm đọc, âm nói). thì hiệp với sông Đồng Nai,
trải qua sông Đồng Môn rồi
(theo Aubaret sông Tra ở ra vàm sông lớn Phước Long.
ngang Rạch Lá). (NKLTĐDCTTT, tr.26).

Nhưng chính sông Tra còn có
tục danh là Rạch Lá (Tra Giang)
chảy ra sông Hưng Hòa, rồi đến
ngã ba sông Hưng Hòa, rồi đến
ngã ba Khổng Tước Nguyên (Gò

508 TVTNMN

Rạch Ông Hổ: đd., tên vùng thuộc Phô Giang là Phổ Giang
t. Mỹ Tho NV, nơi có chôn tổ tiên Cục Rang: Rau ráng.
của Tả Quân Lê Văn Duyệt. Nói Ô lư thì không biết là cây
gì. Dịch ra ô rô thì té ra thứ cây
Rạch Ong Lớn: đd, th. Biên Hòa; cỏ chạ, tầm thường quá. Xưa Bá
chữ gọi Đại Phong Giang. Di Thúc Tề không ăn thóc nhà
Cơ Me: Tonlé Kompong Châu để hái rau “vi” đỡ dạ. Nay
khmum thom (theo di cảo Trương biết rau vi là rau ráng, đọt non
Vĩnh Ký y trong Le Cisbassac của ăn được, cây già dùng làm chổi
L.Malleret chép). quét mương thì nghe tội nghiệp
cho hai ông quá.
Rạch Ong Nhỏ: đd, rạch chảy từ Về Rạch Ong Lớn: tonlé
Rạch Ong Nhỏ vô Chợ Lớn, tên kompong khmum, thom và rạch
chữ là “An Thông Hà” (theo ong nhỏ: tonlé kompong khmum
Trương Vĩnh Ký). tauch, (ong không có dấu mũ),
Le Dai Phong coule à l’est rõ ràng dịch từ Cơ Me ra: tonlé
du Binh Diuong et dans le sud kompong: rạch mà vũng, khmum
de la citadelle, à la distance là con ong. Thom: lớn, tauch: nhỏ.
de 6 lis. Le cours de cet arroyo Rạch Sốc Suông: đd., Miên ngữ
est très sinueux; ses bords sont của một con rạch của Rạch Giá,
couverts de saules aquatiques, tên chữ gọi “Khe Song”. (Lịch sử
appelés vulgairement cây bần. khẩn hoang Miền Nam của Sơn
Parvenus au lieu nommé Ô Lư Nam, tr.68).
Thuy Vi (vulgairement rau ran), Rạch Thiên: (thiên là dời, đổi): đd.,
c’est-à-dire après un cours de 4 tên rạch ở về hạt Quang Hóa
lis et demi dans l’est, l’arroyo se (ĐNQATVHTC).
divise en deux branches. Celle de Rạch Thốt Nốt: đd., chữ gọi Thất
droite coule au sud pendant 4 lis Sơn Đà (PCGBCTVK).
et demi et se mêle alors avec les - cũng là chỗ thâu thủy lợi lối
eaux du Tiêu Phong; la branche 1875 của Long Xuyên, vùng Thất
de gauche coule au nord-est Sơn Bảy Núi, trên Hậu Giang,
pendant 1 li et demi et parvient khúc rạch Thốt Nốt.
alors au Pho Giang. Après un Rạch Thủy Vọt: xem ngã Thủy Vọt.
nouveau cours de 5 lis et demi elle Rạch Trà Hôn, c.g. Cà Hôn: đd.,
se jette au nord dans le Thuy Vi, rạch ở NV, Kỳ Hôn Giang (T.V.Ký)
vulgairement nommé Cuc Rang Cơ Me: prêk oknà han (di
et de là va mêler ses eaux avec cảo T.V.Ký trong Le Cisbassac).
le grand fleuve de Phuoc Binh. (oknha: quan lớn, han: tên của
(Aubaret, p.185). vị quan ấy?)
Ô Lư Thủy Vi (vulgairement (xem sông Kỳ Hôn).
Rau ran), Nguyễn Tạo dịch: ô lô Rạch Trà Ngoa (giáp mối đường Trà
thủy vi Thượng Tân Thị cắt nghĩa Ôn đi Vĩnh Long);
rành hơn và đó là “ô rô rau ráng
(Thủy Vi).

VƯƠNG HỒNG SỂN 509

1) Vắt San Cava Càs, ở làng Ở về ngọn hạ lưu của Hậu
Hựu Thành, tổng Thạnh Trị, tỉnh Giang cách hướng nam tỉnh
Cần Thơ chùa Miên nầy ở trên lỵ 57 dặm. Khi Pháp mới qua,
rạch Trà Ngoa (Le Cisbassac, hành binh bằng đường thủy, họ
tr.44). dự định đặt tòa tham biện tại
Trà Ôn, sau họ dời về Cần Thơ
(Càs, đọc chak là xưa, cổ, cũ). như hiện nay vì sự giao thông
Trong một miễu ông Tà, gặp một bỏ đường nước và chọn đường lộ
tượng Phật Quan Âm Lokecvara, trên đất liền. Vàm sông về hướng
nhưng tượng nầy tạc chưa xong đông 26 dặm trải qua ngã ba giáp
(cao 0m54, không kể khúc chơn, nước La Bích và qua hai con sông
cốt để cắm trong bệ đá). nhỏ Trà Côn và Sa Cô đến ngã ba
sông Kiên Thắng, về ngả hướng
2) Vat Svày (chùa Xoài, xoài đông 85 dặm đến sông Mân Thít
viết theo Phạn tự là Svày). - Chùa hội với sông lớn Long Hồ. Về ngả
nầy cách Trà Ôn độ 2km, nơi làng hướng tây 36 dặm vào trong tỉnh
Mỹ Trung, tổng Bình Lễ, gần thành. Người Thổ và dân ta ở
sông Bassac, nơi đây có một trụ chung lộn nhau hòa nhã an cư
đá vuông chạm, bốn mặt 22 hàng lạc nghiệp.
chữ Miên cổ, nhưng ba mặt lu mờ
không đọc được, chỉ còn vài hàng Rạch Trà Ôn, bờ phía bắc lên
nơi mặt nọ, và theo chữ đọc được, sông Cần Thơ thì thuộc huyện
và truy ra thì đó là một trụ trong Vĩnh Bình, bờ phía tây là tổng
số trụ cắm ranh của những dưỡng Vĩnh Tường, bờ phía đông là tổng
đường do vua Miên Jayavarman Bình Chánh có đồn Oai Viễn và
VII tạo lập, trong nước, có cả thảy đồn điền do lính Miên đồn trú và
là 102 dưỡng đường hay nhà bố khai thác.
thí thuốc men của thời kỳ ấy.
Những chữ viết theo Aubaret,
(Le Cisbassac, tr.45) tr.254:
Rạch Trường Tiền: đd., tục truyền
Tra Ôn
chúa Nguyễn Ánh ngày trước có Cân Thai
chạy xuống Sốc Trăng, trú tại Cù Vinh Binh
Lao Dung, làng An Thạnh Nhứt canton de Vinh Truong
ngày nay, gần ngọn rạch ngang canton de Binh Chanh
đầu cù lao nầy. Chúa có cho lập nơi le fort cambodgien d’Oai Vien,
đây một lò đúc tiền, thỉnh thoảng occupé par des Don Dien marché
dân chài ở đây có chài được thứ de La Bit
tiền kẽm trong rạch ấy, nên dân les arroyos Tra Ngon, Sa Co,
đặt tên là rạch Trường Tiền. Kien Tang, Vo Tiet, Long Ho
Rạch Vắp: đd., tên rạch thuộc t.
Đáng chú ý là cả vùng đều Biên Hòa cũ, chữ gọi Kiên Giang
nước mặn, chỉ trừ nơi đó có một (theo PCGBCTVK).
rạch nước ngọt mà thôi. Xin đừng lộn với Đầm Vắp Gò
Vấp, ở Gia Định. Con sông nầy là
(V.H.N.S. 7-1956, số: 13).
Rạch hay sông Trà Ôn: đd., tên

sông NV: Trà Ôn Giang.

510 TVTNMN

khúc ngọn thượng lưu của sông ư? Thiệt là phí của trời. Tra các
Phước, chảy ngang rừng già có tự điển, La hout không thấy nói
khe nước cạn, xen giữa có một Sách khảo về thảo mộc Pételot
chằm khi mưa lụt thì chảy thông cũng câm luôn. Ông bà ta khi
đến dòng dưới gọi Cái Cát rồi chảy dịch tới chữ la hout, cũng giữ âm
qua Ngã Ba Bàng Giang để rút ra không cần nghĩa, và khi tới vùng
sông lớn hơn là sông Thủy Vọt mà nầy điều tra, kẻ gọi Xoài Hột,
cả hai dịch giả sau nầy đều viết người nói Xoài Mút, nghe thét
sai, người Thủy Bột, người Băng nhớ tới bịnh hột xoài thêm ngán.
Bột (xem Thủy Vọt). Một chữ “xoài” ông bà ta dùng
Rạch Vũng Thăng: đd., Vũng khắp chỗ: Gò Xoài, Giồng Xoài,
Thăng Đà (PCGBCTVK). Xoài Hột, Xoài Mút, Cây Quéo,
Xoài Chrụm, Xoài Cả Nả, Tài
- nơi thâu thuế thủy lợi trên Sum, Đại Tâm, còn gì nữa, thưa
Hậu Giang vùng Châu Đốc còn “Vườn Xoài” chỗ Nguyễn An
vào năm 1875. (Bến thâu thuế Ninh diễn thuyết năm xưa, đường
thủy lợi (pêcherie) trong Nam, Lanzarotte nay là đường Đoàn
HVTĐĐDA gọi “thủy trường”. Công Bửu, và còn nữa còn vườn
Rạch Xoài Mút: đd., rạch th. Mỹ xoài gọi của bà lớn mà không đáng
Tho, NV; Tị Thập Giang (T.V.Ký). gọi gì là lớn, đó là vườn xoài hay
nghĩa địa của Đỗ Hữu Phương,
Cơ Me: prêk svày la huot (di nhưng nay đã bán lần hồi dân cư
cảo T.V.Ký tr. Le Cisbasac (hai cất nhà đông nghẹt, còn một lõm
tiếng Xoài Mút âm theo hai chữ trơ vơ với vài ngôi mộ lạnh lùng,
“la huot” lấy theo giọng nói và ít ai thăm viếng (trên đường Phan
không cần hiểu nghĩa). Thanh Giản vô Chợ Lớn).
Rắn hổ: poh hô ết sờ nghe (theo
Xoài cà lăm, hôi, mút, quéo Trầm Xừ, Thài Sum)
là loại xoài rừng, thơm tho mà
không ngon vì thịt ít xơ nhiều, (cần xem lại)
nhưng tên đều dùng làm địa Rắn hổ đất: poh hô ết cầm bốt (theo
danh:
Trầm Xừ, Tài Sum).
Cây Quéo ở Gia Định, Gò (cần xem lại).
Xoài, Xoài Cả Nả v.v...
Rắn hổ mây: poh hô ết cành nêm
Dịch từ chữ: prêk: sông, rạch. (theo Trầm Xừ, Tài Sum).
Svày: xoài La hout: một giống cũng gọi rắn cạp nia.
xoài có xơ nhiều hơn có thịt, tuy
không ngon, nhưng mút vào Rắn cạp nong: một loài rắn hổ khác.
miệng (ăn theo trẻ con, ngậm vào (cần xem lại trước khi dùng).
miệng cho thấm ướt rồi mút trơ
mút trất khi ấy mới thấy sự thú Rắn mần ri cóc: poh skua (theo
vị “ăn trái xoày nầy”). Ngày nay Trầm Xừ, Tài Sum)
văn minh, một trái xoài ăn nửa bỏ (chờ xem xét lại).
nửa, cắt bên nầy cắt bên kia, bỏ
không mút hột, như vậy là sang Rắn hổ ngựa: snan ừ sonn (theo
Trầm Xừ, Tài Sum).

VƯƠNG HỒNG SỂN 511

Đồn rằng: “Trong nhà là rắn kê sát bờ cỏ, rề rề cái rổ ấy, bỗng
rồng, ra ngoài đồng là hổ ngựa. không một con cá lóc to tổ nái
Tuy rằng vậy, nhưng theo tôi, hoặc ngủ mê hay đang theo mái
hai thứ vẫn khác nhau, vả chăng bỗng giựt mình lọt trọn vào rổ và
rắn rồng không độc, cắn vô lại, hôm ấy tôi là tay mơ lại trúng
còn rắn hổ ngựa thì dữ có tiếng, độc đắc và bắt được con cá mà
làm sao giống nhau được? Duy cả chú lẫn bác hôm ấy đều thèm
loài rắn, mùa nước lụt, biết chun thuồng, xin hỏi: rề rề này phải do
vô nhà vô mùng màn chăn mền, rê, cũng đồng nghĩa rinh đồ nặng
nằm chung với người và lúc ấy ít hay chăng. Nên nhớ có lưới rê là
khi nó cắn trừ khi chọc nó, có lẽ thứ lưới dài, và rê... lại là một địa
vì vậy mà gọi như câu đồn trên danh, tên chỗ thuộc về hạt Phước
đây chăng? Tuy, làng Phước Hải là làng đánh
cá lớn nhứt nhì của Bà Rịa).
(chờ xem xét lại). Rinh Tê: tiếng mới, có từ năm tản
Rắn mái gầm, rắn mái giầm: poh cư 1945, khi mệt nhọc và hết
tiền, trở về, không nói hồi cư lại
à-khlang (theo Trầm Xừ, Tài nói rentrer (của Pháp lại nói theo
Sum) giọng Việt).
Ruộng châu phê: sở ruộng do Vân
(chờ xét lại). Trường hầu Nguyễn Cửu Vân
Râu quặp như chàng họ Thúc: khai khẩn nơi bên sông cù Úc,
gần Vũng Gù (Tân An), sau con
sợ vợ như Thúc Sinh, nhân vật là Nguyễn Cửu Triêm xin ăn biệt
trong Kiều. sở ruộng, vua dùng viết son phê
Rề: trợ từ, nặng nề, chậm chạp: nằm chuẩn, nên gọi làm vậy.
rề rà đã mấy bữa nay. Rừng Quang Hóa: đd., (Quang Hóa
Lâm).
Rề rề, rề rà, cà rề: dây dưa
không dứt: đau rề rề hoài; rề rề “La forêt de Quang Hoa,
như cá trê chui ống (th.ng); - đi située à la limite ouest de la
cà rề: đi gần gần mà không đi sát, province de Gia Dinh, contient
đi ngay vào chỗ ấy. Thả rề rề chốc un grand nombre d’élévations
lát cũng tới. de terrain (gò) et est partout
couverte d’arbres, dont beaucoup
(Tôi viết ra đây để hỏi người sont de haute futaie; le ciel y est
chuyên môn: en plusieurs endroits entièrement
caché par l’abondance de la
- Theo Đ.N.Q.A.T.V.H.T.C., rề végétation. Les essences
là bưng xách (đồ nặng), làm như forestières sont employées à la
dời đẩy rề đi: dời đi, rinh đi). construction des navires et des
Rề qua rề lại: dời qua dời lại, rê barques: aussi des charpentiers
qua rê lại. habitent-ils en ces lieux pour
Đau rề rề: đau uốp uốp, đau mê mê, choisir les arbres et les abattre.
không dứt cơn bịnh.

(Ngoài ra có nghĩa này làm
tôi thêm thắc mắc: lúc nhỏ theo
chú bác đi bắt cá ngoài đồng, khi
đi hớt cá thia thia ngoài ruộng,
tôi chưa thạo nghề, 2 tay cầm rổ,

512 TVTNMN

Il y a également des personnes oiseaux de toute espèce. Il s’y
qui ont pour industrie de faire fait commerce des défenses,
du charbon et de recueillir l’huile des cornes, des plumes, et en
donnée par l’échauffement des général des dépouilles de tous
arbres résineux (cây diau, etc.) ces animaux. Leur chair et leur
On y trouve les deux espèces de peau y sont séchées, et tout cela
rotin dites mai-sat et mai nươc. donne lieu à de nombreuses
transactions.
On chasse dans cette forêt
le rhinocéros, l’éléphant, le cerf, (Aubaret, p. 193).
l’axis, le chevreuil, le cheval diau: đọc dầu.
et le buffle sauvage, ainsi que mai sat, mai nuoc: đọc mây
beaucoup d’autres animaux et sắt, mây nước.

VƯƠNG HỒNG SỂN 513

S

Sa Châu: đd., tên Hán của cù lao Cát theo Miên Phsar Dèk (phsar: chợ,
(xem chữ ấy). dèk: sắt, chợ bán sắt), vị trí đóng
ngay đường thủy thông thương
Sa Đéc: đd., th. NV., chữ gọi Sa Sài Gòn lên Nam Vang, nên thịnh
Đéc Giang. hành một lúc, và từ ngày sự lưu
Cơ Me: srok phsàr dèk (di cảo thông ấy đổi lại bằng xe đò và xe ô
TVK trong Le Cisbassac). tô, thì thành phố Sa Đéc bớt sum
phsàr: chợ; dèk: sắt; chợ lớn mậu, nhứt là từ khi bến tàu ở Chợ
bán sắt thời Miên. Cồn sụp lở xuống sông.

Sa đề: tiếng trong Nam, (xin đừng Nguyên xưa kia, Sa Đéc là
lầm và viết “xa đề”). Sa đề, ngựa đất Chân Lạp, do vua Miên là
sa đề là ngựa chạy xa đường, quá Néac Tôn lấy đem dâng lên chúa
mệt mỏi, khiến chơn này chạm Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765);
vào chơn kia, y như ta mệt thường chúa Nguyễn đặt làm Đông khẩu
khi đi hay vướng mắt cá, thì gọi đạo của dinh Long Hồ; qua năm
ngựa sa đề. Tân Mão (1831), vua Minh Mạng
đặt Sa Đéc thuộc An Giang.
Sa Đéc Giang: đd., xem sông Sa Đéc.
(Không nên gọi tắt sông Sa Vào thời Pháp, Sa Đéc được
đứng riêng làm một tỉnh; đến
Đéc là Sa Giang, vì e lộn với Sa năm 1956 thời Ngô Đình Diệm,
Hà trên Phước Long (Biên Hòa). Sa Đéc bị cắt làm đôi, phần hữu
Sa Đéc: đd., tên cũ của một trong hai ngạn sông Tiền thì nhập vào
mươi tỉnh xưa của NV thời Pháp
thuộc, mang số mã tự số 6, gọi

514 TVTNMN

tỉnh Vĩnh Long; còn phần tả La montagne Sa Truc,
ngạn thì nhập với quận Hồng vulgairement appelée Nui Mai
Ngự làm ra tỉnh mới gọi tỉnh (le mont des rotins) (Aubaret,
Kiến Phong; qua năm 1967, p.153). Mai đọc “mây”, nhưng ta
phần hữu ngạn tách khỏi Vĩnh gọi núi Nứa.
Long trở về giữ tên cũ là Sa Đéc, Sác, rừng sác: dt., loại cây đẹt, mọc
nhưng đã thu hẹp nhiều, c.g. Sa theo ven biển nước mặn, rễ có chà
Giang (nhưng đừng lộn tên này chôm nhiều để kềm cho cát bùn
với Sa Giang là Rạch Cát ở gần không trôi, lâu ngày dẽ đặt và đất
Tân Long là rạch Chợ Đệm). đặc lại thành đất liền: đước, vẹt
Sau năm 1975 tỉnh Sa Đéc cũ dà, bần, là cây rừng sác.
nhập với tỉnh Kiến Phong một
phần tỉnh Kiến Tường gọi là tỉnh Cọp rừng sác: cọp nhỏ con, ở
Đồng Tháp. rừng sác, chuyên môn bắt cá cua,
Sa Hà c.g. Sa Giang: đd., tên Hán của còng, và thú nhỏ để sống, và ít
Rạch Cát (xem Rạch Cát). dữ hơn cọp rừng già hay cọp núi.
Sà Rong: dt., vật che thân từ bụng Saigon (sic Malleret): đd chữ Pháp
đến chân, tới mắt cá, không có để gọi Sài-gòn.
ống, nguyên của người Cơ Me
vận (vận chăn) và người Pháp Pháp cũng viết Sai-gon
gọi theo: sarong; chăn: t.d., mặc Cơ Me: Prei nokor (di cảo TVK
sà rong kiểu Nam Vang. (Cũng trong Le Cisbassac).
gọi “sampot” là tiếng Cơ Me khác Sài-gòn: đd.
đồng nghĩa với sà rong, nhưng Chú thích định nghĩa hai chữ
theo tôi, sampot sang hơn sà rong “Sài-gòn” theo Aubaret tr.194,
nghe bình dân hơn). dựa theo tác giả bộ Gia Định
Sa Tân: đd., trạm Sa Tân (trong thành thống chí là ông Trịnh
Aubaret tr.155 viết “tram de Sa Hoài Đức:
Tam, thue truong...” là một chỗ 1) Le nom de Sai-gon
giao mối và một thác nước của s’applique spécialement à la
sông Phước Long (Đồng Nai) ville chinoise, que les Chinois
chạm với sông Bé, ghe, thuyền appellent Tai Ngon ou Tingan. Ce
qua lại không được vì là giáp nước que nous nommons Sai-gon est
và nhơn dịp ấy dùng làm chỗ đậu désigné par les Annamites sous
thuyền người Kinh đổi chác với l’appellation de Ben Nghe. C’est
người Mọi người Thổ và gọi đó là uniquement parce que le peuple
thuế trường. Nước sông chỗ này nous entend dire Sai-gon qu’il le
trong và ngọt, không thua nước répète avec nous afin de se faire
“montagne d’Or (Kim Sơn) “và “la comprendre (Aubaret, tr.194).
blancheur des cigognes de Balan” Dịch. - Danh từ “Sài-gòn” vốn
(bạch hạc Ba Lan). là riêng biệt để gọi cái thành phố
Sa Trúc Sơn: đd., tên Hán của núi của người Tàu ở, mà chính người
Nứa (xem chữ ấy). Tàu ấy gọi là Tai Ngon (Tây Cống)
hay Tingan (Đề Ngạn). Còn cái
mà Tây chúng ta gọi là Sài-gòn,

VƯƠNG HỒNG SỂN 515

thì người An Nam họ gọi là Ben Tại đây có một linga, cao 0m465,
Nghe (Bến Nghé). Chẳng qua dân số MBB, 2802).
chúng An Nam nghe chúng ta gọi
Sài-gòn, rồi họ cũng gọi theo cho 2) Làng Tân Tập, tổng Phước
ta mau hiểu họ thôi. Đình Hạ (Chợ Lớn) có 1 linga viện
Sài-gòn (khu Nam): (cổ tích, di tích bảo tàng nài được (MBB, 2938),
xưa): linga nầy bằng vân thạch màu
đen (marbre) cao 0m38 nhiều nhà
Khu Nam Sài-gòn đất vẫn còn chuyên môn thấy thảy đều trầm
thấp hơn đất vùng Vàm Cỏ Đông. trồ khen. Chủ cũ của linga là một
tay mua bán đồ nửa sạc lạc son
1) Một gò (butte néolithique) (brocanteur) khai rằng gặp linga
thuộc tân thạch khí trời đại khá nầy trên bờ một con rạch nhỏ gần
đặc biệt là gò ở trên một con rạch Soi Rạp.
nhỏ, gọi là Rạch Núi, con rạch
này trổ ra Rạch Cát hay rạch Cần 3) Tại xóm Cầu Bang Kiệt,
Giộc, cách 2 km theo đường chim ở cùng làng, nơi nhà ông Bảy
bay thì tới Soi Rạp, nơi gọi Núi Hoạch, thấy có mộ bề đá tròn
Đất, thuộc xóm Rạch Núi, làng (0m815x0m815x0m40) có chạm.
Đông Thành, tổng Phước Điền Hỏi, chu khai gặp tại gần một
Hạ (Chợ Lớn) (trong địa bộ cuộc srah đã lấp bồi cạn rồi. (Le
đất nầy là của ông Nguyễn Văn Cisbassac, tr.104).
Thi đã mất Nổng đo 120 thước, bề
dài từ bắc qua nam và 50 thước 4) Khi đi lên về hướng bắc, tại
bề ngang từ đông sang tây. Trên Cần Giộc nơi gọi Rạch Cây Tràm,
nổng có chùa Linh Sơn tự hay là đường về Gò Đen theo ngả Rạch
Chùa Núi. Nổng nầy còn có tên Đập và Cầu thì gặp một đá cổ
nữa là Thô Sơn, ngày xưa ắt là hình thù khác lạ hơn những đá đã
chốn ăn ở của Cơ Me nhiều đời từng gặp. Đá nầy gọi Yaksa Cần
rồi mới sang qua tay Việt. Ngày Giộc (MBB4438, dài 0m195, cao
4-1-1938 viên phó chủ tỉnh Chợ 0m15), vì ông Révertégat, thanh
Lớn, tên là Fraisse báo cáo, nên tra trường tiểu học đã mua của
ông Malleret, rồi cô Madeleine một chùa nọ, viện bảo tàng nài
Colani, rồi Paul Lévy, đều có đến lại không được nên đã nhờ ông
khai quật, đào sâu đến hai thước Balich, giám đốc trường mỹ thuật
và gặp rất nhiều mảnh sành, Biên Hòa đúc y lại bằng ciment,
chứng tỏ có lẽ nơi đây ngày xưa như vậy cái ở musée Sài-gòn là đồ
là lò làm đồ gốm đồ sành (MBB, ký kiểu (giả tạo). (Le Cisbassac
số 2766) và cũng gặp một mớ lưỡi tr.104-105).
tầm sét cổ thạch (MBB, 2910-1 Sài-gòn cổ tích, di tích (giữa
và 2767, 2800-2801-2802, 2839, khoảng sông Bé và sông Sài-gòn):
2868, 2869, 2910). Theo lời dân cố
cựu ở đây trước kia có người gặp Có vùng đất đỏ Hớn Quán,
lưỡi búa bằng đồng, nhưng ô. Paul Lộc Ninh nơi đây là vòng đai
Lévy có rán đào mà không gặp. Sài-gòn, và xuống phía nam có
“vùng đất xám”, gộp chung lại
gọi vùng chung quanh đô thị Sài-

516 TVTNMN

gòn, ngoài ra vào năm 1924, ông tập 1 mớ đá lưỡi tầm sét bán lại
Joyeux, thanh tra các trường Mỹ viện bảo tàng, tiếc thay các món
Thuật Nam Kỳ có mách cho ông nầy đã để chung với di thạch
Malleret biết rằng có khá nhiều Samron Sen và đá Gò Rùa (cù
di tích và cổ vật tiền Cơ Me ở lao Phố, Biên Hòa), nay khó phân
Thủ Dầu Một, trong số chúng tôi biệt và tách rời ra để nghiên cứu.
(Malleret) có đem về cho viện bảo
tàng Sài-gòn, 1 pesani gọi chày đá 2) chùa An Phước ở góc rạch
trước thấy ở Ngọc Anh, nay lưu Cây Trôm gặp đường Sài Gòn / Mỹ
tại viện Sài-gòn. Tho, làng Mỹ Yên, t. Long Hưng
Trung (Chợ Lớn) có hai món đá cổ:
2) Khi đào đất xây cất trường
nông nghiệp Ông Yệm ở Bến Cát 3) tại chùa Hưng Phước (chùa
(Thủ Dầu Một), có đào đất gặp Gò Đen), làng Phước Lợi, t. Long
một tượng đá 4 tay, nay là số Hưng Hạ, có 2 đầu Phật đá năm
MBB, 2257 viện Sài-gòn. 1938, có người lấy mất, còn lại 3
đầu sau gom lại nơi chùa Thiền
3) Chính tại Thủ Dầu Một, Phước Tự làng Long Hòa t. Lộc
ô. Joyeux có sưu tập và giao Thành Thượng, quận Cần Đước;
nạp vào bộ môn của hội khảo
cổ Hoa Ấn (société des Etudes 4) tại 1 hầm cát gọi Bàu ông
Indochinoises, Sài-gòn) một chày Bun, làng Bình Hưng Đông (Chợ
đá cổ về sau hội ký thác cho viện Lớn), chủ hầm là ô. Loesch có giao
bảo tàng dưới danh hiệu “pesani cho ô. Parmentier: 1 món bằng đá
Ngọc Anh” đã nói nơi đoạn trên gởi lên viện Nam Vang và 2 cái lục
đây; và cũng chính ông nầy đã lạc đồng cổ nay ở viện bảo tàng
giao cùng một lượt, một trống Sài Gòn (không số);
đồng duy nhứt tìm thấy ở Nam
và đã đăng bộ ký thác tại viện 5) chùa Long Quan Tự, làng
bảo tàng Louis Finot cũ ở Hà Nội Tân Thới Thượng, t. Bình Thạnh
(Inventaire no17.659) và theo thơ Hạ (Gia Định), ở gần chợ Bà
báo cáo của chủ tỉnh Thủ Dầu Điểm (cao 0m66), có một đá cổ
Một tên là Balencie thì vật nầy gọi mukhalinga, nay còn chăng?
tìm gặp tại làng Phú Trung, tổng
Bình Phú). (Le Cisbassac, tr.114). 6) chùa Văn Đức, ở Gò Vấp,
Sài Gòn, Chợ Lớn (ngoại ô) (cổ làng Hanh Thông Xã, có 1 đầu
tích di tích chung quanh vùng ngựa bằng đá màu đỏ hồng, đã
nầy) - 401 xin được đem về viện bảo tàng Sài
Gòn đăng số MBB, 2999);
1) Sài Gòn - Chợ Lớn hiệp lại,
nay số dân ngụ là 1.700.000 người 7) chùa Giác Quan, làng Bình
(1963) đã có di tích cổ, chứng tỏ Hòa (Gia Định) có tặng viện Sài
là năm 1878, khi đào mống xây Gòn 1 sư tử đá cổ mỹ thuật chàm,
thành đường ở ngang Bưu điện, số đăng bộ MBB, 3029);
đã gặp thạch khí, đồ gốm xưa và
xương cốt cũ. Ông Loesch có sưu 8) chùa gò ở Phú Lâm, nơi gọi
chùa Cây mai hay Phụng Sơn tự,
có di tích Miên Cổ, ô. Amonier
từng gặp ở đây lưỡi tầm sét và đá
cổ Samron Sen.

VƯƠNG HỒNG SỂN 517

9) 1 bờ đất di tích đồn lũy 15) góc vườn bách thảo, xóm
cổ, trùng hiệp với chiến lũy Việt Thị Nghè, vườn dâu nuôi tằm, có
chống Pháp năm 1861 nơi nay gọi gặp dưới sình sâu 1 hũ Cơ Me cổ
Chí Hòa, từ đó chạy tới đồn Cây men xanh lá cây sậm, cao 0m32,
Mai trên máy bay nay nhìn thấy ghi số MBB, 3001). (Le Cisbassac,
khá rõ ràng; tr. 110 đến 113).

10) cũng tại trung tâm vùng Sài Gòn nay là một phần của
nói trên, ô. Nguyễn Văn Hương T.P. Hồ Chí Minh (gồm Sài Gòn,
đã gặp và dâng về viện Sài Gòn Chợ Lớn và Gia Định).
1 phật đá Visnu, ghi vào bộ số Sài Mạt : đd., thuộc vùng Hà Tiên,
MMB, 2905); bề cao 0m63). Cơ Me gọi Cheal méas.

11) Ven biển nơi gọi Đồng Chéal là giỏ đựng đồ ăn
Tập Trận, chỗ người Hoa Kiều (panier à mettre les provisions
chôn tạm xác thân nhơn trước Méas là vàng, kim (or), theo tự
khi lấy cốt gởi về Trung Quốc điển J.B. Bernard.
nay đã rõ chắc đó là đồn lũy do
ông Nguyễn Đức Đàm xây năm Cũng viết Xoài Mạt, Sai Mat
1772 để chống với Miên. Nay (Cheal Méas).
trên máy bay nhìn thấy chằng
chịt nhiều đường khó phân biệt Đó là điển “giỏ đựng thức ăn
đâu là cổ đâu là đường do bọn bằng vàng”. Một điển khác, viết
quân lính Nhựt làm khi chiếm Sva Méas. Sva là con khỉ. Méas là
đóng ở đây lối 1944-45; và đâu vàng. Con khỉ bằng vàng.
là cổ tích thành Prei Nokor của
Cao Miên để lại; Điển xưa theo lời truyền
miệng, nên thường sai lạc ; vì
12) tại nhà ô. Trần Văn Huỳnh vậy muốn chắc, phải sưu tầm
ở đường Rạch Lò Gốm (Chợ Lớn có và không ngại tốn tiền mua
2 món cổ vì sơn thếp nên để đó) sách. Và nhiều khi tiền tốn mà
không gặp sách hay, và sách vẫn
13) quan trọng là ở góc đường lao đao, nay hốt mai đốt. Nước
Pétrus Ký và đường Galliéni của người, một lời nói, một điển
(Trần Hưng Đạo) nơi đất trống, tích, chắc như rựa chém đất. Vả
năm 1940 ô. Malleret đào gặp 1 lại chữ của họ đa âm, muốn sửa
tượng đồng nhỏ hình nhơn bưng đổi, không phải dễ. Duy nước ta,
thếp đèn (ghi số MBB, 3009) và 4 chữ và lời, vốn đọc âm, lệch lạc
viên đá (ghi số MBB, 3006) (3005, đổi đi đổi lại rất dễ, cũng thú
3008) đá nầy nay còn thấy ở hành lắm đấy mà lắm khi bực mình.
lang viện bảo tàng Sài Gòn, trước Thêm lại người mình tự tôn tự
cửa musée. đại, nào mấy nghe ai. Lại nữa
Phật nhà không thiêng, sức lực
14) góc đường d’Espagne và văn Nguyễn Du còn bị sửa, và
đường Pellerin cũ, tại Sài Gòn có nội cuốn Lục Vân Tiên, ngoài kia
đào nền xây nhà cao ốc và gặp 1 xuất bản dư trên mấy chục câu,
lưỡi tầm sét đá đem về viện ghi không có trong bản trong nầy,
sổ số MBB, 2976); mà bản trong nầy cũng không

518 TVTNMN

phải là nguyên văn của ông Đồ ngáy, vụt nói vụt cười, thấy gì
Chiểu, vì ông mù lòa, nào để lại cũng vui...: tỷ dụ : rượu vừa sần
bút tích gì. sần.

Xét ra, theo bản đồ in năm Còn một danh từ mới : rượu
1863 đính theo Bản dịch GĐTTC vừa sần quần, theo tôi do tiếng Cơ
sử gia Pháp Aubaret cũng viết Me “sraveng” là say rượu. Nguyên
Swai Remiet để gọi một vùng đất văn do : phất sạ sần quần, do câu
Miên ngang thành Ou Don theo “phất sạ sà quân” là câu giễu chơi,
tôi Swai Remiet, Sva Méas, và nhại tiếng Cơ Me, có nghĩa rượu
Cheal Méas, có lẽ là cùng một địa gần say : phất: uống, phất tức
danh, ta đổi và âm ra Sài Mạt? : uống nước, phất sra, sạ : rượu
Sang Ke: đd., tên làng Miên ở đường trắng sraveng : say; sraveng hơi
đi Đại Ngãi, sau dịch là Trường : đã say rồi.
Kế rồi cũng gọi Văn Cơ (Tàu gọi
Sần Ke) (cần xem lại). Ta lại có “uống say quần” là
cùng say, hết thảy đều say, và
Làng Trường Kế có kẹo ngon trong cơn say, nào biết ai mượn
và lúa gạo nhiều, thuộc tỉnh Sốc của ai ? Và ai là người nói trước
Trăng cũ, người Miên, người Tàu sần quân, say quần ?
ở chung lộn đông, lai sanh người Sấu (chữ gọi ngạc ngư) : dt., loại
có hai dòng máu, và tiếng khinh bò sát, lớn con, ở dưới nước và
bỉ nên khai trừ là “đầu gà đít vịt”, lên bờ đều được ; miệng rộng và
và tiếng nhã để gọi theo xưa là dài, răng rất bén, không có lưỡi,
“con cháu khách”, thanh hơn nữa cổ cứng đơ không ngoái cổ ra sau
là người minh hương. được (trên một điện cổ bên Pháp
Sao (gỗ): dt. danh mộc ở N.V. Hopea đã chạm sấu ngoái cổ). Sách Bác
odorata (Dipterocarpées). Mật độ Học không biết năm in vì sách
(densité) : 0,75. mất bìa, tác giả Huỳnh Tịnh Của
ghi đại khái như sau : ‘Có thứ sấu
Giỏi chịu đựng không sợ mối mun (da đen) và sấu hoa cà (da có
mọt nhưng sợ hà khoét. Dùng đốm) là giống ăn thịt người, quen
nhiều việc, làm nhà đóng bàn ở sông sâu và ở biển, Miền Nam
ghế, ghe thuyền và làm đà xe hỏa. nước Việt xưa rất nhiều sấu, sau
Sần sần: tr. t. 1) sần : có u nần ngoài nhờ tàu chạy, tiếng máy dội ầm
da : nổi sần. ầm sấu rút lui và bị người giết,
nay gần tiệt giống. Có nhiều con
sần sượng : không dẻo : khoai lớn hơn chiếc xuồng, thân dài cả
sần ; khi mắc cỡ, da sần chai, ít chục thước Tây. Sấu kinh niên,
nước : cam sần, quýt sần. gọi sấu mũi đỏ, vì càng già, trước
mũi u lên một cục đỏ đỏ nổi trên
sần mặt : sượng, xấu hổ, mặt nước, cái chóp ấy gọi thầu
không biết ăn nói làm sao; lậu (xem chữ ấy). Da đầu, da lưng
dày và cứng, đạn súng thường
sần sùi : da mặt nổi có về, nổi bắn không phủng, phải lựa da
u nần, có lác;

2) khi rượu uống vài hớp, vừa
hửng mặt, chí cũng hừng, máu
lưu thông hơn trước, sanh ngứa

VƯƠNG HỒNG SỂN 519

nách, da bụng thì giáo mác đâm chết, và thịt sấu nơi đuôi vẫn
lủng và đạn bắn thấu. Sấu mạnh ngon hơn các chỗ khác. Ngày xưa
nhờ cái đuôi, và thường núp bờ dùng mật sấu trị bịnh đau mắt,
núp bụi, chờ sa cơ mà bắt mồi. gan sấu cũng trị mắt và trẻ con
Khi gắp được mồi lớn thì cặp bị mờ quáng vì chứng cam tích
hỏng giơ trên mặt nước, lội kiếm nhiệt, được ăn thịt sấu thì mau
cháng cây gác mồi lên, dùng đuôi khỏi. Loại kỳ đà, cùng một giống
quất thật mềm rồi mới nuốt (gọi với sấu nhưng nhỏ con hơn. Các
sấu giỡn mồi) vì sấu không lưỡi sách Trung Hoa xưa thuật rằng
nên không nuốt mồi dưới nước đời Đường ông Hàn Dũ ếm sấu
được. Nanh sấu rất đẹp, xưa đày về Việt Nam, người Tàu
dùng làm cán dao ăn trầu. Sấu kiêng không bao giờ ăn thịt sấu,
già (sấu đã chạm mồi rồi) thì thịt sách Pháp dịch lại sách Đức của
tanh, người gớm không ăn, có ông A.E. Brehm thuật đời Đạo
giống nhỏ con, khi gội “sấu cá” Quang thứ 16 (năm 1836) có ngạc
(vì chuyên ăn cá) hoặc gọi “sấu ngư hiện trên sông ở Giang Nam,
bưng” vì chuyên ở bưng nước, làm dân kinh hoàng, và sách Đức
thịt như thịt gà, người ăn quen thuật rằng bên Mỹ Châu vẫn có
vẫn thích. Sấu đẻ trứng trên bãi, con alligator cùng một loại với
nhờ sức nắng sấu con nở nhưng ngạc ngư Á châu, nào phải vì bị
giống dữ, vẫn bị các loại khác moi ông Hàn Dũ đày lưu ?
bùn ăn trứng sấu bớt và sanh Sấu (gỗ) cây ở N.V. Sandoracum
nở không nhiều. Trước đây, trên indicum (Méliacées)
Nam Vang có nghề bắt sấu bưng,
ban đêm đốt đuốc dùng cây đập Mật độ densité : 0,80.
mặt nước làm ồn lên, sấu sợ bò Dùng làm guốc, nhẹ, mềm, có
lên bãi, người dạn cứ chận nó lấy mùi long não nhẹ, sợ mối. Dùng
tay nhận cặp mắt sấu thì nó nằm chạm vài món đồ thờ.
cho người khác lật ngược cặp giò Săng mã (gỗ) ở N.V. Carralia lucida
trước (gọi trói sấu), rồi xỏ như (Rhizophoracées).
vây vào đòn tre, khi bắt được Mật độ (densité) : 0,75.
một dọc dài thì dùng nọc bén Gỗ hạng ba, dùng làm nhạc
chính cạnh dùi, sấu đau sẽ lấn khí. Sợ mối mọt, phải sơn dầu và
tới trước, lần hồi tới bến thì trói dùng làm bàn ghế rẻ tiền.
hai bên bờ ghe, thả dưới nước, Săng trắng : dt., tên cây ở N.V.
chèo ghe bán dọc đường từ Nam Lophopetalum duperreanum
Vang xuống Cần Thơ (nay còn (colastracées).
chỗ gọi “rạch đầu sấu) hoặc bán Mật độ (densité) D. 0,58.
vùng Sài Gòn. Sấu sống rất dai, Gỗ thuộc hạng ba, thớ mềm và
lúc xưa không biết tôn trọng luật nhẹ, màu xám, có vân khá đẹp,
nhân đạo, người mua lựa khúc dùng đóng thùng bộng, đinh đóng
nào thì cắt ngay chỗ đó bán, khi không xé nứt, dùng làm guốc,
cắt đến tim ngừng, sấu mới thật làm quẹt và để đóng thùng đựng
đường, trà, tiêu và thuốc lá v.v...

520 TVTNMN

Ở tỉnh Cần Thơ có một làng (Suối Đồng Heo, sông Đồng
gọi là làng Săng Trắng thuộc Môn, chợ Đồng Môn, khi thôi
huyện Ô Môn không biết nơi đây đổi sốc và người Thượng đã khai
xưa có loại cây nầy không ? hóa xong, thì các nơi lịch sử ấy
shamou, cũng viết samou : dt. do lui về dĩ vãng, kẻ đến sau, nay
tiếng Trung Hoa San mộc dịch ra mắt quen với đèn điện, ô tô, nào
(xem chữ “ngọc am (gỗ)”. biết cảnh đỉa trâu con vắt, muỗi
Ska chẹn : vảy ngược, tên con rắn mòng, rừng già, măng le, và “rừng
chúa, rắn nầy vảy ngược, khi nó tre trúc” (forêt de bambous buổi
cắn, thì không có thuốc trị, vì nọc khai hoang tranh sống với voi
nó rất độc, làm cho máu đặc liền, hăng cọp dữ). Chơ khmau, đơm
thuốc không dẫn kịp. (Lời Trầm chơ khmau (gốc cây đen), hai chữ:
Xừ Tài Sum). Vảy đây gọi ska, “Đồng Môn” trại trại nghe như
nhưng Pannetier viết sraka. chẹn “đơm khmau” vậy.
(chưa đúng chánh tả, cần xem lại).
Đồng Môn trước đây thuộc
(Chờ xem xét lại). huyện Long Thành (Biên Hòa).
Slâ (slo) : faire cuir, assaisonner.
GĐTTC, tập 1, tr. 27 nói đến
Slâ sămlâ, faire des ragouts, sông Đồng Môn, cầu Quán Thủ,
des sauces. Slâ trey, faire cuire sông và cầu Thanh Thủy, suối
du poisson, bouillabaisse. Song Tòng, sông Trảo Trảo v.v...
(dictionnaire cambodgien - suối Song Tòng dịch suối Kẻ
français J.B Bernard). Đôi, cầu Quán Thủ, Aubaret tr.
Slâ : nấu canh. Ta lấy chữ slâ sămlâ, 166 dịch le pont de Quan Thu
biến ra canh sum lo, là món canh (câu quan thuộc sông Trảo Trảo,
đặc biệt của Cơ Me : cá nấu với Aubaret viết l’arroyo Trao Qua
rau, nêm bằng mắm prâhok, ta Qui.
gọi mắm bò hóc.
Sampot : dt., xem sà rong. Tonlé prêk kompong chơ
Sốc Vồ : đd., tên một làng ở Sốc khmau :
Trăng trên đường đi Bố Thảo.
Thổ gọi srok Pô, Pô là cây lâm vồ chơ là cây, gỗ.
(cần xem lại). khmau : màu đen
Sơn Trư : đd., baie du sanglier (chữ Tonlé prêk kompong chơ
trong Aubaret, tr. 154) thuộc khmau : vàm sông cây đen, có
vùng Vũng Tàu “Ô Cắp”. lẽ là mun. (không dính líu gì với
Sông Đồng Môn : đd., tên sông Đồng Môn cả ?). Và xưa cổ nhơn
thuộc Biên Hòa ; Đồng Môn khi phiên âm lại chọn : Đồng
Giang. từa tựa tiếng đơm và môn giống
giống tiếng khmau của Thổ, ngày
Cơ Me : Tonlé prêk kompong nay nhà từ ngữ thông thái nào
chơ khmau. cố kéo qua dịch, giả tỷ : Đồng
Môn là đồng có môn ngứa mọc
(theo di cảo Trương Vĩnh Ký nhiều, thì quả là phản ý của cổ
chép lại trong Le Cisbassac của nhơn rồi. S.
L.Malleret).

VƯƠNG HỒNG SỂN 521

Sông Man Thít : đd., tên sông ở NV; Trong bản dịch GĐTTC, tập
cũng viết Mân Thít, tên Hán là 1, tr.81, ông Nguyễn Tạo dịch
Mân thít Giang (PCGBCTVK). sai 3 chỗ:
Cơ Me : prek tà trăn (di
cảo T.V.K trong Le Cisbassac). Ông viết Cái Dăm, ... nên sửa
Trong ĐNNTCLTNV, tập 1, lại Cái Nhum;
tr.37, Nguyễn Tạo dịch và viết
: “... thờ Lâm Dao quận công Ông viết Song Tòng, tục danh
Chu Văn Tiếp... tại chiến dịch Cây Đôi, nên sửa Kẻ Đôi;
ở Sông Bân Xế, ông kiệt trung
tử tiết ...”. Trong Đồng Nai văn Ông viết Cần Dài Thượng nên
tập số 12 tr.87, Lê Thọ Xuân cải sửa Cần Thay Thượng.
chính: “Chu Văn Tiếp “phải” là
Lâm Thao quận công. Lâm Thao (xem canal Nicolai, tên Pháp
là tên phủ, nay thuộc tỉnh Phú của con kinh nối rạch Mân Thít).
Thọ (1), chỗ lên Đền Hùng, chỗ Sông Mỏ Cày: đd., tên sông NV: Đầu
mà sông Nhi chảy ngang Ngã Tiểu Giang. (PCGBCTVK)
ba Hạc (Bạch Hạc/Việt Trì) gặp
sông Lô; tại đây Lô Giang mang Cơ Me: prêk tramằk (di cảo
tên là Thao Giang, và ai cũng TV.Ký trong Le Cisbassac)
nhớ: “Hùng Vương đô ở Châu
Phong; ấy nơi Bạch Hạc hợp Mỏ Cày, chữ Hán là Lê Đầu:
dòng Thao Giang...”, chớ không tức “lê” cái cày; đầu phần trên
phải là Lâm Dao; và có người còn hết (Lê Thọ Xuân). Nguyên một
đọc ra Lâm Dào quận công. Lại nhánh của sông Hàm Luông
thêm Châu Văn Tiếp tử trận tại chảy đến làng Đa Phước Hội, một
sông Mân Thít chớ không phải nhánh khác chảy qua kinh Thom,
Bân Xế. một nhánh nữa là rạch Cầu Ông
Sông Mân Thít ở về hướng Bồng, và một nhánh nữa chảy
tây ngọn hạ lưu sông lớn Long vào kinh ông huyện. Chỗ giáp hai
Hồ cách hướng nam tỉnh lỵ 55 nhánh sau tạo thành hình miếng
dặm; ở vàm sông về hướng tây đất y như cái mỏm cày. Còn con
đi vô 34 dặm đến ngã Cái Nhum. rạch của sông Hàm Luông chảy
Về ngả hướng bắc 12 dặm ra sông sang đây cũng gọi rạch Mỏ Cày.
Song Tòng (tục danh là kẻ Đôi), (Tài liệu do trưởng ty điền địa
đối ngang với sông Cần Thay Kiến Hòa thuật cho ông Nguyễn
Thượng. Về ngả hướng tây 50 Duy Oanh đăng trong địa dư trí
dặm đến ngã ba sông Kiên Thắng Bến Tre x.b. năm 1971, tr.227).
(sông Ba Kè). (NKLTĐDC, tr.65).
Nguyên văn Aubaret tr.236:
“L’An Vĩnh, après un cours de
15 lis et demi, parvient au petit
arroyo de Lê Dầu, vulgairement
nommé Mỏ Cày (qui s’amorce sur
sa rive ouest. Ce Le Dau est large
de 4 tams et profond d’un. Les

(1) Tỉnh Thái Bình mới đặt ra từ 1890; phủ Kiến Xương trước kia thuộc tỉnh Nam Định, cũng như tỉnh
Phú Thọ thì mới có sau này, trước kia là tỉnh Hưng Hóa

522 TVTNMN

habitations sont nombreuses sur không mọc được bên Pháp, bên
ses bords. Il coule à une distance Tàu, là xứ lạnh. Pháp mượn,
de 4 lis du Thanh Thuy, lequel se Tàu mượn, duy ta có tiếng “xoài”,
jette à la mer, dans le sud, par la giàu đến!
bouche de Ban Côn”.
Sông Mô Xoài: đd., tên sông th. Biên Nói luôn không sợ lạc đề, sách
Hòa; Hương Phước Giang. V.N.C.T.T.V. của Lê Ngọc Trụ
dạy rằng: trái măng cụt (mượn
Cơ Me: Tonlé svày kòmprã. âm tiếng Mã Lai mangoustan,
(theo di cảo Trương Vĩnh Ký chữ này tôi muốn hỏi: có phải do
về tên cơ me, chép theo trong Le mangue d’Hindoustan, nói ríu
Cisbassac của L.Malleret). lại không. Anh Trụ, cẩn thận đã
(các sách dịch Môi Xúy. Mồi quen, ắt không cho rằng được,
Xuy, Mỏ Xảy, đều không đúng nhưng tôi thì tôi cho liền.
tên gọi theo người bản xứ phương Sài Mạt Sơn: đd., tên Hán của núi
Nam. Sông Xoài, tên chữ là Sài Mạt (xem chữ ấy).
“Mông Giang” là đúng, vì người Sầm Giang: đd., tên Hán của Rạch
Trung Hoa gọi trái xoài theo Pháp Gầm (xem Rạch Gầm).
là “mangue”, viết “Mông Cổ”. Câu Sân Chim: đd., cũ đời đàng cựu,
hát bội làm chứng, giễu: “Củi kêu thuộc xứ Rạch Giá, N.V.
sài, xoài kêu Mông Cổ”.
Dịch: Tonlé, tonli: sông, như Nay chim đã bay mất dạng, vì
Tonlé Sap, ta dịch ra Biên Hồ, rừng ẩn náo đã nhường chỗ cho
đúng từ chữ là sông nước ngọt. ruộng trồng lúa, thêm người mình
Svày là trái xoài, kòmprã: không ác độc quá, biết ăn mà không biết
có trong tự điển J.B.Bernard. dưỡng, khi xưa bắt chim nhổ lấy
Ông Lê Ngọc Trụ, khi duyệt lông bán sang Tàu làm quạt (quạt
thẻ này, viết: “Trái xoài, tiếng lông), còn thịt, ăn không hết, đùa
Tàu là mông quả (quả là trái); ra sông biển, cũng không biết
ghi “mông cổ” chỉ gần đúng âm. phơi khô ăn về sau hoặc làm phân
Tôi xin được giữ y tiếng “mông bón, thật là hủy hoại, khiến nay
cổ” vì xét ra gần với “mangue” của con cháu ăn độn cũng vừa.
Pháp ngữ, hơn là mông quả. Vả
lại, như đã kể nơi trước, đây là lời Đời Minh Mạng đến đời
thốt ra nơi miệng của hề hát bội, Tự Đức, thu thuế phong ngạn
nên được phép pha phách, cho (phong: ong; ngạn: bờ sông) là
thêm vui câu chuyện (Hề cũng tiếng gọi chung thuế đánh: sáp,
có người hay chữ lắm, nhưng mật ong và lông chim.
luôn luôn phải giả đò dốt mới
phô trương tài nghề sâu kín của Khi đọc Abrégé de l’Histoire
mình được). d’Annam của A.Schreiner, in
Bàn rộng thêm, xoài là trái năm 1906 thấy nói Sân Chim
xứ nhiệt đới, có lẽ gốc ở Ấn Độ, ngày trước tọa lạc vùng Cạnh
(không biết họ gọi là gì?), xoài Đền (Rạch Giá), giữa hai làng
Đông Thới và Vân Khánh Đông.
Nên tìm đọc trong bộ Pháp văn
Excursions et Reconnaissances in

VƯƠNG HỒNG SỂN 523

năm 1885-86, tái bản 1895, mới hô, hổ phách, và các loại đá ngọc
biết cách ăn ong và lấy lông chim khác đếm đủ bảy thứ: “giữa
ra thế nào. Sau đó chim còn rán giường thất bảo ngồi trên một
về làm ổ sanh con vài vùng nữa, bà (Kiều).
đều gọi Sân Chim ở rừng Rạch
Giá và gồm nhiều loại: thằng bè, Giường thất bảo đối với màn
già đãy đến diệc cò v.v... Và xưa thủy tinh: màn có treo ngọc thủy
nữa có chim lớn thật lớn nay mất tinh (cristal de roche) cho thêm
giống cũng tại mình. xuê.
Sập: t. Bắc, thứ giường chân liền, Sầu đâu: dt., do tiếng Cơ Me sdau,
chung quanh có diềm, thường dok hiên.
hiểu là thứ giường quí: sập ngự,
sập chân quì. Bắc gọi xoan trắng, xoan,
xuyên luyện; Tàu gọi xuyên
Trong Nam gọi: bộ ván chân luyện tử.
quì. Bắc và Trung gọi: phản ngựa
(kê phản), thì trong Nam gọi bộ Noms vulgaires - Lilas du
ván ngựa. Japon, Lilas des Indes, Laurier
grec, Faux sycomore (theo
Sập (nôm) như “Sàng” (Hán) A.Pételot) (originaire de la Chine
người trong Nam vì dốt chữ, nên et probablement des Indes, il est
coi rẻ xem thường, trong khi répandu aujourd’hui dans toutes
Trung và Bắc rất quí trọng: sập les contrées chaudes du monde
ngự (giường vua nằm); quí phi et même dans le Sud de l’Europe
sàng. comme arbre d’ornement. Il est
cultivé partout dans l’Union
Giường ngọc chiếu ngà: cả indochinoise et bien connu pour
hai đều có: giường ngọc là giường son bois résistant à l’attaque des
mặt nằm làm bằng đá vân thạch, insectes, dont on fait des colones
bạch thạch để nguyên miếng hay de cases et des étais de mine.
nhiều miếng ráp lại; còn chiếu (Pételot tr.179).
ngà là loại chiếu nằm làm bằng Sầu Đâu: thứ cây đất giồng, vỏ rễ
ngà phân sả ra thành sợi mỏng và đều đắng, người ta dùng mà trị
dài như thẻ tre rồi đan lát thành sán lãi; than nó dùng làm thuốc
chiếu như chiếu tre thường thấy súng. (ĐNQATVHTC).
nơi tiệm hút thuốc phiện ngày Sầu Đâu: dt. (thực): loại cây 4,5m,
xưa. Nếu nói “giường ngà chiếu da xù xì, lá hình tim xanh lợt,
ngọc” thì nên hiểu giường có con mọc đối, hoa nhỏ, trái trổ chùm
tiện bằng ngà (xưa ngà dễ kiếm) khi chín màu đen, vỏ cây, lá và
và chiếu ngọc là làm bằng đá trái đều có vị đắng, tánh lạnh,
trắng đá có vân đẹp đã nói ở trên. có độc (sách thuốc gọi khổ luyện
(VNTĐLVĐ).
Ngày xưa tả quân Lê Văn
Duyệt có một chiếc chiếu ngà, do Theo Pételot, sầu đâu có chất
nước Xiêm tấn cống. độc, nhưng nhiều nước vùng Đông
Nam Á lại kể như vị thuốc trị sán
Giường thất bảo: giường có lãi, và trị ghẻ ngoài da. Trên Nam
bảy món quí, như cẩn bằng san

524 TVTNMN

Vang, dùng lá non trộn với khô cá bản dịch Aubaret có ghi rõ đủ ba
linh, làm ra một món gỏi đặc biệt, địa trấn này.
người nào quen ăn, vẫn nhớ, và Song Ma Giang: đd., tên chữ của
có lẽ cây sdau có trước trên Nam rạch Đôi Ma, cũng gọi Tình Trình
Vang vậy. Giang (xem rạch Đôi Ma).
Sĩ Nhiếp (187-226): nhd., người Song Tòng giang: đd., tên Hán của
đất Quảng Tín, quận Thượng sông Kẻ Đôi (xem chữ ấy).
Ngô, tổ tiên vì tránh nạn Vương Sốc Sách: đd., (ĐNNTCLTVN, tập
Mãng nên dời qua Giao Chỉ bộ, 1, nơi tr.108, dịch giả Nguyễn Tạo
đến Sĩ Nhiếp đã được bảy đời, viết “Súc sách” và chua nơi dưới
cha là Sĩ Tứ làm thái thú quận trang: “Súc là chỗ nước tụ, sách
Nhật Nam, cho ông về nước học là bện tre hay cây lại dừng ở dưới
tại kinh sư, đỗ hiếu liêm và được sông làm như đìa nuôi cá v.v...
bổ Thượng Thơ Lang. Không bao
lâu bị cách; kế hay tin cha mất, L.T.X (ĐNVT 14) cải chính:
phải về Giao Chỉ hộ tang; rồi đỗ “Đây là “sốc sách” tác là trại sốc
mậu tài được bổ làm thái thú của người Cao Miên (như danh từ
quận Giao Chỉ. Năm Quí Mùi “Sốc Sãi” ở Bến Tre, Sốc Trăng,
(203), vua Hiến Đế nhà Hán (đời tức Ba Xuyên...).
Tam Quốc) cải Giao Chỉ bộ lại Sốc Trăng: đd., NV, tên tỉnh hạt;
làm Giao Châu do lời biểu tấu Nguyệt Giang tỉnh (PCGBC
của ông. Nhờ tài cai trị ông làm TVK).
cho Giao Châu được yên ổn trong
khi các nơi khác đều bị loạn lạc, Cơ Me: Păm prêk sròk khlẵn
ông chăm dạy dỗ dân, nâng cao (di cảo TVK trong Le Cisbassac).
văn học, ban bố phép tắc, mở
mang trường ốc, dân tình mến (Péam: vàm; prêk: sông; sròk:
đức gọi ông là Sĩ Vương; triều sốc; khlẵn (khléang): kho bạc.
đình nhà Hán phong ông làm Nguyên đời vua Cơ Me, có đặt
chức An Viễn tướng quân Long một kho chứa bạc nơi đây. Đến
Đô đình hầu. Ông triều cống đời Minh Mạng, đổi tên chữ gọi
nhà Đông Ngô, tự chủ trong 40 Nguyệt Giang Tỉnh, ép chữ “sốc”
năm, mất năm 116. (VNTĐLVĐ biến ra chữ “sông” và khéang ra
và L.N.T.). “trăng” rồi ra “nguyệt”.
Soi Rạp: đd., tên cửa biển NV. (xem
cửa Lôi Rạp). Trong sách Baurac (La
Soai Remiet, cũng viết Swai Remiet: Cochichine et ses habitants)
đd., một địa danh xưa của xứ Cam tr. 362 thuật lại rằng trào đàng
Bốt, vị trí ở trên Lovea Em, đối cựu, cho đến lối năm 1858, vàm
diện ra hình tam giác với hai Đại Ngãi (cũng gọi Vàm Tấn, Cơ
thành kia là Oudong và Pnom Me gọi Péam Senn), thuộc tỉnh
Penh, nhưng đứng cách giang Sóc Trăng, là một bến nước quan
trên địa đồ năm 1863 kèm theo trọng tiếp đủ các thuyền đi biển
đủ hạng, từ Trung Quốc, Tân Gia
Ba, Xiêm La, Cam Bốt v.v... tụ
tập rất là náo nhiệt để trao đổi
mua chác lúa gạo, tơ lụa, hàng

VƯƠNG HỒNG SỂN 525

vải cá mắm, mắm muối, đồ gốm, Hùm), chảy qua Đông Bắc nửa
chén bát, sừng trâu, ngà voi, lông dặm thì đến vàm sông Thiết
chim, sáp, mật ong v.v. Trường (Trường sắt) tục danh
Sôn: đt, do tiếng Pháp “solde” là rạch Lò Thổi, rồi chảy 4 dặm
(masculin), hàng cũ, thặng dư, nữa thì nhập với rạch Lá Buôn
nay bán giá hạ để mong lấy vốn (Bối Diệp Giang).
lại. Bán sôn; mua sôn. Bán và
mua hàng ối, hàng rẻ tiền. (xem Dịch từ chữ Tonlé prêk
lạc son). kompong: sông, vàm sông.
Sông An Bình (tục danh là Cái Bè):
đd., An Bình Giang (PCGBCTVK). Tàtàv: không có trong Tự điển
Bernard. Có tétéa: perdrix, chim
Ở cách hướng tây tỉnh lỵ Mỹ đa đa.
Tho 67 dặm. Hướng tây vàm sông Sông An Thới: đd., tục danh là
trở lên 30 dặm đến vàm sông Cái Vàm Lai.
Nứa, lại 20 dặm đến vàm sông
Cái Thia, 20 dặm đến vàm sông 1) Bản dịch Thượng Tân Thị
nhỏ Cổ Lịch. Lại trải qua Cái (NKLTĐDC, tr.86): “Sông An
Can để đến địa phận sông Cần Thái (tục danh là Vàm Lai) ở về
Lố. Từ vàm sông hướng bắc đi vô ngọn bộ hạ lưu Sông Sau. Về bờ
chia ra hai ngả: ngả hướng đông hướng xưa có đồn Thủ Ngữ đông,
thông ngọn Ba Rài, ngả hướng dân ta và dân Thổ ở lẫn lộn với
tây thông qua Cái Nứa, Cái Thia, nhau".
Cái Cối, đến Cần Lố; sông tuy hẹp
nhỏ và cạn, nhưng ghe nhỏ lách 2) Bản dịch Nguyễn Tạo
đi được, nên cũng là con đường (GĐTTC, tập 1, tr.94): “Sông An
tắt cho ghe xuồng đi ngõ này để Thới”.
tránh sóng gió dữ của sông Trước.
(NKLTĐDC, tr.52). Tục danh Phiếm Lai ở An Thới
trung thôn, thuộc bờ phía đông
(xem thêm thẻ tiếng Pháp về hạ lưu Hậu Giang: rộng 12 tầm,
Cái Bè). sâu 3 tầm, có sở Thủ ngự ở đấy,
Sông An Hòa: đd, tên sông NV; An người Kinh và người Cao Miên ở
Hòa Giang. xen nhau.

Cơ Me: Tonlé prêk kompong 3) Bản Pháp văn Aubaret,
tàtàv (theo Di cảo Trương Vĩnh tr.256: “L’An Thai, vulgairement
Ký trong Le Cisbassac của appelé Vam Lai, s’amorce sur
L.Malleret). la rive est du cours inférieur du
fleuve postérieur; il est large
Sông An Hòa, nơi ngoài vàm de 12 tams et profond de 3.
thì gọi là Đồng Tranh (N.T viết Un poste de douane est placé
Đồng Chân là lầm), chảy qua sur ses bords, qui sont habités
bắc nửa dặm thì đến chợ làng également par des Annamites et
An Hòa, ngày trước làm bến des Cambodgiens.
cây gỗ, nên còn tục danh là Bến Sông An Thông: đd., An Thông Hà.
Gỗ (quê hương của Phan Văn
Theo ông Trương Vĩnh Ký thì
khúc sông từ rạch Ong Nhỏ vô
Chợ Lớn là An Thông Hà.

526 TVTNMN

Theo Nguyễn Tạo và Thượng l’ancienne rivière. Ce canal
Tân Thị, thì sông An Thông cũng commencait au pont de Ti Thong
gọi sông Sài Gòn, sông cũ bắt từ et se dirigeait vers l’arroyo Ma
cầu Thị Thông và từ sông Sài Gòn Truong (Ruot ngua), lequel fut
chạy đến sông Lào, thì quanh creusé sur une longueur de
co hẹp nhỏ thường hay khô cạn. 2.129 tams et un pied, ce qui
Năm Kỷ Mão (1819) Gia Long thứ équivaut à la distance de 9 lis et
18, vua sai Gia Định thành phó demi (2) la largeur du nouveau
tổng trấn thị trung tả thống chế canal fut portée à 15 tams, et
Lý Chánh Hầu Huỳnh Công Lý sa profondeur à 9 pieds. Il fut
mở bỏ đường cũ, khởi đào kinh établi aux deux bords du canal
mới từ cầu Thị Thông đến sông une berge large de 8 tams. Ces
Ruột Ngựa (Mã trường giang) berges communiquaient avec la
khởi đào 23 tháng giêng đến 23 route royale, large elle-même
tháng tư là xong việc, vua ban de 6 tams.
tên là An Thông Hà. Bên hữu bờ
sông, có một cái giếng, nước rất Ce travail fut commencé le
tốt, đó là giếng Hàng Xáo, xưa 23è jour du ler mois, et il fut
rất có danh. terminé le 23è jour du 4è mois.

Aubaret, tr.185, viết như L’empereur d’Annam lui
vầy: “La rivière d’An Thong, donna le nom d’An Thong Ha.
vulgairement appelée rivière de Ce canal est large et profond
Sai Gon (1) est située dans le et d’un accès facile; aussi est-il
sud-ouest de la citadelle. C’était constamment rempli de barques
un ancien, lit de rivière qui qui attendent les marées pour en
s’étendait du pont de Ti Thong profiter; nuit et jour on y entend
et se dirigeait sur Sai Gon pour le chant des rameurs. Cette
aboutir au Lao Giang. réunion de barques de toutes
sortes donne lieu à de très grands
Le cours de cette rivière était profits. (Aubaret, p.185).
sinueux, très étroit et parsemé
de bancs qui en rendaient l’accès 1) Il ne faut pas confondre
difficile. cette rivière avec ce que ses
Européens nomment quelquefois
L’an Ki Mao, 18è année la rivière de Sai Gon et qui n’est
de Gia Long (1820), l’envoyé autre que le Tan Binh. 2) Cela
royal de Gia Dinh, gouverneur fit abandonner 997 tams de
général, Huinh Cung Li, et l’ancienne rivière.
l’inspecteur en chef de Gia Dinh Sông Ba Kè: đd., Kiên Thắng Giang
réunirent 11.460 ouvriers, qu’ils th. Vĩnh Long (Bản Aubaret để
divisèrent en trois brigades, đối chiếu, tr.23).
auxquelles ils attribuèrent une
solde et une ration. Ces ouvriers Le Khien Thang,
furent employés à ouvrir un vulgairement nommé Ba Cai,
nouveau canal à la place de doit son nom au poste de Khien

VƯƠNG HỒNG SỂN 527

Thang. Il est large de 12 tams Dựa bãi leo heo đèn xóm lưới,
et profond de 6 et coule dans le Ngay giòng lững đững bóng
sud-ouest de la citadelle, à une thuyền câu
distance de 30 lis. Thân này đây khách mười
năm trọn,
Ce arroyo ne tarde pas à se Biết lấy chi chi gởi mối sầu.
diviser en deux branches. Sông Ba Láng: đd., tên sông chữ gọi
Nê Trạch (PCGBCTVK).
La branche de l’est, après un (có lẽ là một vùng hà lãng nên
cours de 85 lis et demi, parvient gọi trạch chưa phải là sông).
au Vo Tiet. thuộc về tỉnh An Giang
(PCGBCTVK).
La branche de l’ouest, après Sông Ba Lai bắc: đd, tên sông NV,
un cours de 26 lis et demi, se chữ gọi Ba Lai Bắc Giang (TVK).
jette dans le Tra On. Des champs Cơ Me: prêk kompong snày
et des jardins nouvellement ê choeung (do tôi dựng lại, lấy
plantés se voient sur ses rives; chữ kompong snày có sẵn, thêm
mais la navigation en barque y ê choeung là hướng bắc).
est tellement empêchée par la (xem sông Ba Rài bắc), (và
végétation, qu’il faut en ce lieu xem chữ “Ba Rài”).
user de la voie de terre. Sông Ba Lai nam: đd, tên sông NV,
chữ gọi Ba Lai Nam Giang (TVK).
O. Aubaret viết Khien Thang Cơ Me: prêk kompong snày
thay vì Kiên Thắng; thbaung. (do tôi dựng lại lấy
chữ kompong snày có sẵn, thêm
Ba Cai thay vì Ba Kè; thbaung là hướng nam. Chữ snày,
Tra On thay vì Trà Ôn. không dịch được.
Sông Ba Kè: đd., tên sông NV. Ở (nên xem thêm Ba Rài).
Vĩnh Long: Kiên Thắng Giang Sông Ba Rài bắc: đd, tên 1 sông
(PCGBCTVK). ở NV.
Cơ Me: prêk nẵk yãy kè (Di Ở về ngọn hạ lưu sông Hiệp
cảo T V K trong Le Cisbassac). Đức cách hướng tây tỉnh lỵ 60
yãy là mụ, bà; nẵk yãy là đức dặm, vàm sông chạy vào hướng
bà; kè: tên tọâc. tây đông 33 dặm là đến chợ
Ba Kè (N.T. viết Ba Cầy Thanh Sơn (tục danh là chợ Cai
(GĐTTC, tập 1, tr.81). Lậy), lại 64 dặm tới vàm kinh
Sông chia làm ba ngả: hướng mới rạch Chanh (Đăng Giang), ra
về đông đến sông Mân Thít, sông lớn Hưng Hòa, đi về hướng
hướng về tây đến sông Trà Ôn, tây có thể hiệp với sông An Bình.
(NKLTĐD C, tr. 66) - T.T.T. có thơ (NKLTĐDC, tr.52).
làm năm 1910. (Về hai chữ “Ba Rài”, theo
Gần tối ra chơi đứng giữa cầu, tôi đó là tiếng Miên “barai”, tức
Chim bay cá liệng biết về đâu. những hồ chứa nước ngọt của
Ngược xuôi nước chảy chia
ba ngả,
Lui tới mây tuôn dạng một
màu.

528 TVTNMN

người Miên đào hoặc để dùng Ba Tri cá trại: đd xưa của Ba
chứa nước để chan sớt vào ruộng Tri (trước khoảng Nguyễn Ánh
những lúc trời ít mưa, hoặc đào lánh Tây Sơn đến vùng này).
chung quanh chùa lớn, hay đền (L.T.X).
đài, như ở Angkor, y như hào
sâu chung quanh thành ở Huế, Sông ở về hướng tây ngọn
của ta. hạ lưu sông Ba Lai cách hướng
đông tỉnh lỵ Vĩnh Long cũ 112
Từ chữ “Ba Rài”, ta Việt hóa dặm, giòng hướng tây chuyển
để đặt tên cho sông Ba Lai đó, vì qua hướng nam 9 dặm đến ngã
sông nầy ngày một cạn và thông ba sông có chợ Giồng Trôm, về
thương bất tiện thì đối với Miên ngã hướng đông 45 dặm ra sông
nó là “barai” chứ gì. Châu Bình, tục danh Ba Tri rơm,
hướng nam xuống cửa biển Ba
(xem thêm Ba Rài). Lai. Về ngả hướng nam 45 dặm
Sông Ba Rài bắc: đd., (bản tiếng ra sông Mỹ An xuống cửa biển
Ba Lai. (NKLTĐDC, tr.65). (Đoạn
Pháp, theo Aubaret, tr. 210): này T.T.T. nói sông Châu Bình
Le Ba Rai bac (Ba Rai ou Ba tục danh là Ba Tri chàm (sic), tôi
chữa lại Ba Tri rơm, cho đúng
Lai du nord) s’amorce sur le cours theo Trương Vĩnh Ký. (Nguyễn
inférieur du fleuve antérieur; il Tạo viết Ba Ti chàm sai rất xa
est situé à 60 lis et demi dans cũng xin đính chính luôn).
l’ouest de la citadelle. Son amorce
est large et profonde. Nguyên văn Aubaret tr.236
để đối chiếu: “Le Chau Thai,
Sur la rive occidentale est vulgairement appelé Ba Tri ca,
placé un marché populeux. s’amorce dans le cours inférieur
Les habitants de ce territoire et à l’ouest du Ba Lai; il est
s’occupent beaucoup large de 4 tams et profond de
d’agriculture. 2, et coule à l’est de la citadelle
(Vinh Long), à la distance de
Il s’est livré de nombreuses 112 lis et demi.. Son cours se
batailles en ce lieu du temps de dirige d’abord à l’ouest, et puis
la guerre des Tay Son. La terre s’infléchit vers le sud. À la
était alors inculte et abandonnée; distance de 9 lis et demi, il se
mais, depuis la paix, les habitants divise en deux branches; à la
y sont revenus. (Aubaret, p.210). bifurcation se trouve le marché
de Dong Tram”.
(xem thêm “Ba Rài”).
Sông Ba Tri cá: đd, tên sông nhỏ Dong tram: Giồng trôm
Dịch nghĩa từ chữ - Prêk bàti
NV; Bến Tre Châu Thới Giang phsar trei.
(PCGBCTVK). Prêk: sông, rạch Bàti: xem bên
Ba Tri rơm.
Cơ Me: prêk bàti phsàr trei Phsàr: chợ Trei: con cá.
(Di cảo T V K tr. Le Cisbassac).

(phsar: chợ, trei: cá).
Ba Tri cá: đd, th. Bến Tre cũ,
(L.T.X.).
tên của rạch Châu Thới chảy
ra sông Ba Lai (L.T.X.)

VƯƠNG HỒNG SỂN 529

Prêk bàti phsàr trei: sông hay Ba Tri rơm: đd th. Bến Tre cũ;
rạch Ba Tri có chợ bán cá tôm. tên của rạch Châu Bình, rạch này
chảy ra sông Ba Lai (L.T.X.).
(xem thêm hai thẻ: Ba Tri ớt,
Ba Tri rơm). Nguyên văn Aubaret tr.236 để
Sông Ba Tri ớt: đd., tên sông đối chiếu: “La branche orientale,
NV Bến Tre; Vĩnh Đức Giang dite Dong Ki, après un cours de
(PCGBCTVK). 45 lis, sort de l’arroyo Chau Binh,
vulgairement appelé Ba Tri Lang.
Cơ Me: prêk bàti camkà motés Ce Chau Binh est large de 4 tams
(Di cảo TVK tr. Le Cisbassac). et profond de 2. Il se jette plus
bas à la mer dans le sud et par
(prêk: sông rạch; bàti: ?; la bouche de Ba Lai”.
camkà, chamkar: vườn; motés,
m-tés: ớt). Ba Tri lang (Aubaret) Ba Tri
rơm.
Ở về hướng đông cuối giòng
sông Hàm Luông cách hướng đông La branche sud, dite Nam Ki,
tỉnh lỵ Vĩnh Long xưa 165 dặm. rejoint, après un cours de 45 lis,
le Mi An. Cet arroyo de Mi An est
Nguyên văn Aubaret tr.236: large de 5 tams et profond de 3;
“Le Vinh Duc, vulgairement il se jette à la mer par la bouche
nommé Ba Tri trach, s’amorce de Ba Lai. Les deux bords du Mi
à l’est et vers la fin du cours du An sont très boisés; la population
Ham Long, il est large de 8 tams y est rare”.
et profond de 2, et coule à l’est
de la citadelle (Vinh Long), à la Giải nghĩa chữ “Bàti barei,
distance de 165 lis et demi. Cet ta dịch ra Ba Tri rơm. Tôi đã
arroyo se perd dans les terres. cắt nghĩa nơi một thẻ khác, Ba
Les bords en sont très peuplés et Tri do ta nói giòn tiếng Miên
les habitants y sont habiles dans baissey (lá lót vật cúng kiếng),
la navigation”. ban đầu nói “Ba si” rồi “Ba se”,
rồi muốn giòn, biến ra “Ba Tri”,
Ba Tri ớt, ông Aubaret viết Ba còn barei, cũng viết baray, ba rài
Tri trach? là ao chứa nước để tiếp dẫn qua
ruộng thiếu nước.
Dịch nghĩa từ chữ:- Prêk bàti
chamca motéa. Đến như đặt tên là Ba Tri
cá, Ba Tri ớt, Ba Tri rơm là tùy
Prêk: sông, rạch Bàti: xem nơi sản xuất để phân biệt, xét ra
qua thẻ Ba Tri rơm chúng ta không nên câu nệ, bắt
buộc từ chữ Cơ Me nào biến ra địa
Camkà: chamca, chamcar: danh Việt nào vân vân, và cũng
vườn trồng rau motéa: trái ớt. không nên hiểu là truy nguyên
nguồn gốc làm vầy là đưa lưng
Prêk bàti chamca motéa: theo cho Miên đột Miên đánh,
sông hay rạch có vườn trồng ớt: việc sưu tầm vả chăng không
Ba Tri ớt. dính dấp gì tới chánh trị cả, bấy
Sông Ba Tri rơm: đd, tên sông nhỏ
NV Bến Tre; Châu Bình Giang
(PCGBCTVK).

Cơ Me: prêk bàti barei (Di cảo
T V K trong Le Cisbassac).

530 TVTNMN

lâu nào có đưa lưng mà họ vẫn Đoạn này, vì không thạo danh
đánh rồi. từ trong Nam, nên đều dịch sai:

(xem thêm thẻ Ba Tri cá và Địa danh đúng N.T. T.T.T.
Ba Tri ớt). tên Hán.
Sông Ba Thắc: đd., Sông Sau, sông
Bassac (gọi theo Pháp, cũng là sông Bố thảo Búa thảo Phủ
theo Cơ Me (đúng ra họ nói prêk đầu giang
bà sàk), sông Hậu: Hậu Giang.
sông Ba Rinh S.Ba Dinh S.Ba
Ở về hướng nam ngọn hạ lưu Dinh
của Hậu Giang. Cù lao Giung
(Huỳnh Dung Châu, cũng gọi sông Tầm Vu (Sămpôu Tầm
Hổ Châu) đứng về hướng đông Vu Tầm Vu Nhu Gia giang
nam 36 dặm, đến cửa biển Ba
Thắc, ở vàm sông đi về hướng thléai (ghe lủng) sông Nhu
tây 60 dặm, đến Tàu Trường, 66 giang
dặm đến ngã ba sông Nguyệt,
tức Nguyệt Giang là tên Hán vàm Cá Quanh Sài Quang
của Sóc Trăng, và ở đó đi về ngả Cái Quang
hướng bắc 23 dặm đến sông Bố
Thảo (Phủ đầu giang). Về hướng Cái Cau Cái Cao
tây bắc đi ngược lên nguồn 165 Trà Nho (Chụi nhôa) Trà Nô
dặm trải qua Ba Rinh, Tầm Vu, Trà No vàm Trà Nho
Cái Côn, Cái cau, Cái Quanh rồi Cái chàm Cái tràm Cái tràm
đến cửa Kiên Giang, tục danh Nàng Rền Nàng Giên
là Cửa Lớn. Từ sông Sốc Trăng Aubaret viết: Ba Tac, đồn
(Nguyệt giang) đi về ngả hướng Tran Di Cao, Cu lao Ho Chau
tây 8 dặm đến chợ Bãi Xàu (Mỹ (Cu lao Diung) Tau Truong,
Xuyên) 25 dặm đến ngả ba Lộ Ngoat Giang, Soc Tran, Bua Tao,
kinh (Lộ là con cò), tục danh Ba Dinh, Tam Vu, Cai Tao, Cai
sông Cổ Cò. Về ngả hướng nam Diang, Sai Quang, Kien Giang
17 dặm ra cửa biển Mỹ Thanh. (Cua Lon) Lo Kinh (Co Co), Mi
Ruộng phơi muối đỏ ở trong cửa Tanh, Nê Trach, Tra No, Cai Lam,
biển, (muối đỏ vì bãi biển ở đây Long Xuyen dao.
nhiều bùn, không sạch và có cát Sông Bát Chiên: đd. (thẻ tiếng
trắng như bãi Ô Cấp). Về ngả Pháp, theo Aubaret, tr.214):
hướng tây 231 dặm trải qua Trà Le Bat Kien est situé sur le
Nho, Cái Chàm, đến Long Xuyên cours supérieur du Hưng Hòa; il
(Cà Mau gọi theo xưa). Từ ngả forme la limite de la province de
ba Bố Thảo xuống ngả ba Cổ Mi Tho. Sur sa rive occidentale se
Cò, chặng giữa có con kinh mới trouve le poste de Tuyen Oai đạo.
thông với ngọn thượng lưu vàm A partir de ce poste, et après 37
sông Trà Nho, là kinh Nàng Rền, lis dans le sud, on rencontre celui
(NKLTĐDC, tr.85). de Phong Ca Men; c’est le cours
inférieur du Bat Kien, qui finit
aux frontières.
Des Annamites, des Chinois
et des Cambodgiens demeurent à
un demi li du poste; ils se livrent

VƯƠNG HỒNG SỂN 531

tous au commerce. Là est placée biết dùng danh từ “vàm” để gọi
une perception de l’impôt, qui cửa sông).
consiste à prélever le dixième des
produits de toutes sortes. Đọc đoạn Pháp văn trên, định
chỗ này là vùng Đồng Tháp chạy
Après un cours de 110 lis, đến Nam Vang, trải qua các chỗ
l’arroyo parvient au poste de canh tuần biên cảnh, vừa xét
Thong Binh; et enfin, après buôn lậu và cũng làm buôn lậu,
une nouvelle distance de 74 ngày nay còn tên Tuyên Oai đạo
lis, on rencontre le Vam Diưa, đồn Oai Viễn; đồn Thủ Chiến Sai,
qui ter mine et limite le cours Thông Bình, Phong Ca Miên, v.v
supérieur du Bat Kien. L’eau khiêu gợi Câu Nam, Hồng Ngự.
de cet arroyo est bonne à boire, Sông Bát Chiên: đd., tên một con
mais boueuse et trouble. Il fait sông ở NV, ở về ngọn thượng lưu
un grand nombre de détours sông Vàm Cỏ Tây, hướng nam
et contient beaucoup d’herbes. trở xuống 37 dặm thuộc Mỹ Tho
Les bords en sont très boisés; thì đến Thủ Phong Kha (một chỗ
on y voit une grande quantité ở của Miên mà N.T. dịch Phong
de villages cambodgiens. Kha Miên (GĐTTC, 1, tr.57) đây
C’est un pays extrêmement là đầu ranh ngọn hạ lưu, còn
vaseux, et qui, à l’époque des hướng bắc trở lên 101 dặm thì đến
pluies, est entièrement inondé Thủ Thông Bình lại 74 dặm thì
et couvert d’eau, à tel point đến Vàm Gia (dừa) là đầu ranh
que l’on y navigue en barques. ngọn thượng lưu (theo NKLTĐDC
Cela est très commode pour les TTT, tr.51).
contrebandiers, qui du rach Bat Sông Bát Đông: đd., tên một con
Kien vont dans le Vam Diưa, de sông ở NV, ở về ngọn thượng lưu
la à Câu Nam, et enfin à Nam sông Vàm Cỏ Tây, hướng nam trở
Van, route qui fait passer en xuống 17 dặm thì đến vàm rạch
dehors des postes de douane. Chanh (Đăng Giang), lại 14 dặm
đến sông Bao Định, hướng bắc
Les chefs des deux postes de trở lên 118 dặm thì gặp sông Bát
Phong Ca Men et de Thong Binh Chiên. (theo NKLTĐDC, tr.51).
sont spécialement chargés de la
surveillance et de la recherche Le Bát Đông s’amorce sur la
de ces contrebandiers. Ils doivent rive occidentale du Hưng Hòa;
également garder les frontières son embouchure est large de 9
(Aubaret, p.214). tams. On y trouve 7 pieds d’eau à
mer haute et 2 pieds à mer basse.
Bat Kien là sông Bát Chiên. A un demi li après l’embouchure
Phong Ca Men, sách Nguyễn existe une petite auberge.
Tạo dịch Phong Kha Miên
(GĐTTC, 1, tr.65) Le pays qu’il traverse est
Vam Diưa là Vàm Gia (cây très peu peuplé; les habitants
dừa) (T.T.T.);, ô. Ng.T. viết sông y sont activement occupés à la
Phiếm Da (sic) (vì ông không fabrication du charbon de bois.

532 TVTNMN

Après un cours de 17 lis au sud, Trong Aubaret tr.163 có: hai
on parvient à l’embouchure du làng cơ me Vo Tam, Vo Viên (nên
Dăng Giang (rạch Chanh) après đọc Dỏ Tam, Dỏ Viên (Dỏ là trại
un nouveau cours de 14 lis et thủ) và Tam Linh nên đọc Tấn
demi, l’arroyo atteint son amorce Linh.
sur le Bảo Định Hà.
Tun: không gặp trong tự điển
Après un cours de 118 lis dans sẵn có, nên xin chừa người đi
le nord, le Bat Đong arrive au sau dịch.
poste de Phong Cament, et le Bát
Đông devient le Bát Kiên. Gặp chữ Tung, sát tung:
pélican (tự điển Miên - Pháp
Đọc đoạn này và để ý mới J.B.Bernard). chim thằng bè.
thấy một con sông mà chỗ tên
Bát Đông, chỗ tên Bát Kiên, và Nếu biết Sông Bé còn có chim
nên hiểu rộng rạch Chanh là nối thằng bè ở, hoặc lúc trước có
dài của Bảo Định Hà, và như nhiều, thì tạm dịch cơ me lấy điển
vậy, mang tên Vũng Gù chung này đặt tên sông, còn tại sao ta
cũng được. gọi “bé” mà sông vẫn lớn to, thì
Sông Bé: đd., tên sông NV; Tiểu tôi xin chịu.
Giang. (đừng lầm với tỉnh Sông Sông Bến Lức: đd., th.v Sài Gòn Gia
Bé ngày nay). Định, tên chữ là Lật Giang theo
Lê Thọ Xuân. (1)
Cơ Me: Tonlé prêk kompong
tun. Cơ Me: Tonlé roluh (di cảo
Trương Vĩnh Ký).
(theo di cảo Trương Vĩnh Ký
chép lại trong Trong bản dịch ĐNNTC,
Lục tỉnh NV, Ô.Nguyễn Tạo viết
Le Cisbassac của L.Malleret). Phiếu Giang (thượng Á hạ Thị)
Không hiểu vì sao người xưa là sai. Chính là Lật Giang th. Á
lại đặt là “Bé” và dịch là “Tiểu” hạ mộc) Lật là cây lật, Pháp gọi
chớ sông to lớn và bắt nguồn từ châtaignier, ngoài Bắc gọi cây dẻ.
thôn. Mọi nơi gọi Dỏ Tam và Dỏ
Viên (Dỏ là trại thủ, trại sách Bến Lứt, sách vở thường viết
trên miền Thượng), và đất này “lức”, càng khó biết (Lê Thọ Xuân,
có lẽ là khu rừng mới khai thác Đồng Nai Văn tập số 12).
Tấn Linh mà trong GĐTTC tập
thượng, dịch Tham Linh, Vo Tam, Bến Lức: đd., tên một quận th.
Vo Sa khiến không hiểu là chỗ t. Long An, xưa là ổ kháng Pháp
nào, ngày nay muốn điều tra cũng của Nguyễn Trung Trực.
không sao được, vì rừng Tấn Linh
đã biến ra đất trồng cao su không Roluh: không có trong tự điển
còn dấu vết. Miên Pháp J.B.Bernard.

Lại có: Roliek, rosey roliek:
petite espèce de bambou épineux
à noeuds très rapprochés: loại

(1) Trong quyển Petit cours de géographie de la Basse Cochinchine, ông Trương Vĩnh Ký dịch: “sông
Bến Lức” là “Thuận An Đại Giang”).

VƯƠNG HỒNG SỂN 533

trúc gai mắt nhặt. Rosey là loại demili, et profond de 5 tams; l’eau
mây, dây mây. est limpide pendant l’hiver et le
printemps, mais alors elle est
Roluos: Dòm rolous: arbre saumâtre; tandis que pendant
épineux qui pousse très vite? l’été et l’automme, elle est douce
mais boueuse.
Rau lứt: nom d’une plante aux
feuilles comestibles (Génibrel). A partir de l’amorce de Tan
Long, le Tuan An court dans le
Lứt: thứ cây nhỏ, lá nhỏ, hay nord-ouest pendant une distance
mọc theo bờ nước, mé biển, rễ de 93 lis et demi et parvient au
nó là sài hồ, (Huỳnh Tịnh Của) poste de Quang Hoa. C’est là
Ngó vô dám lứt ngũ sắc còn có son cours, supérieur; son cours
con ong vàng, anh coi đi coi lại, inférieur, toujours à partir de
duyên nàng còn nguyên (c.d) l’amorce du Tan Long, se dirige
VNTĐLVĐ. dans le sud-est, pendant 42 lis et
parvient au Xá Hương. (Aubaret,
Mấy chữ này đều viết với “t”. p.187).
Rõ lại cổ nhơn mượn âm roluh
của Miên, làm ra địa danh Bến Dịch. - Thuận An Giang, tục
Lức, vả lại độ trước chánh tả viết danh là Sông Bến Lức, chảy trên
lôi thôi không biết lấy gì làm địa phận huyện Thuận An (nay
chuẩn. Bàn sơ về sử, chỗ này gọi là phủ Tân An) cách 67 dặm về
Lật Giang, mỗi lần chúa Nguyễn hướng tây nam tỉnh lỵ. Rộng nửa
Ánh lâm nguy, bị Tây Sơn rượt nà, dặm sâu 5 tầm, nước trong vào
hễ chạy đến Lật Giang (Bến Lức) đông và xuân, mặn lờ lợ; qua hè
hoặc Đăng Giang (Rạch Chanh) là và thu, nước ngọt nhưng đục vì
thoát nạn, như biến đi đâu mất, có bùn.
chẳng qua vùng này lúc đó sầm
uất, vốn là sào huyệt của đạo binh Từ chỗ giáp mối với sông Tân
Đông Sơn (Đô Thanh Nhơn và Võ Long thì sông Thuận An chảy về
Tánh) hổ chiếm ở đó, cho nên hễ tây bắc 93 dặm ngoài là tới đồn
Tây sơn rượt đến đó là lui về, vì Quang Hoá, trên thượng du, còn
biết nếu vô theo thì vô phương về hạ du, từ Tân Long trở về đông
trở về. Phải khảo hết các sách về nam cách 42 dặm là tới sông Xá
vùng Tầm vu Vũng Gù mới biết Hương.
được bao nhiêu ấy. Còn roluh hiện Sông Bến Nghé: đd., tên sông NV;
chưa dịch được ổn. Tân Bình Giang.
Sông Bến Lức: đd., Thuận An
Giang; cũng gọi Lật Giang (theo Cơ Me: Tonlé bãn kón krabei
L.T.X) (theo di cảo Trương Vĩnh Ký
chép lại trong Le Cisbassac của
Le Tuan An, vulgairement L.Malleret).
appelé Song Ben Luc, coule sur
le territoire du huyen de Tuan Vùng Bến Nghé: trọn vùng
An (Tan An). Il est situé dans Sài Gòn Gia Định, hoặc hiểu rộng
le sud ouest de la citadelle, à la hơn, tức trọn miền Nam VN đối
distance de 67 lis; il est large d’un với toàn quốc.

534 TVTNMN

Tonlé như Kompong: vàm, dont celle du nord pénètre dans
bến. Bãn: được. Kón krabei: trâu l’amorce supérieure du Can
nghé. Tonlé bãn kón krabei: vàm Thơ, pour se jeter dans le fleuve
xí được trâu nghé. antérieur.

Có thuyết lại cho rằng Bến Le petit fort de Tran Giang
Nghé, Cơ Me gọi kompong speu est placé en face de l’amorce du
hoặc kompong krapoeu, và Can Thư.
krăpoeu là con sấu (ngạc như), Sông Bồn (hay Bùn) : đd., Ở về bờ
nguyên xưa kia vàm này có cá hướng đông của Hậu Giang.
sấu lớn rất nhiều, canh khuya
tiếng sấu gầm gừ nghe hệt như Về hướng đông bắc đi vô 3
tiếng trâu rống, nhơn thuyết ấy dặm đến sông Đông Thành, tục
ta đổi lại thay vì tiếng sấu đêm danh là sông hay rạch Cái Chàm,
khuya thì đó là tiếng trâu mẹ tìm rồi ra sông lớn, 7 dặm nữa thông
con, và tin rằng khúc sông do bầy với sông Nha Mân ở sông Tiền.
trâu ruồng kiếm con hóa ra vàm (NKLTĐDC, tr.85).
sông lớn. Sông Bồn hay sông Bùn, không biết
ở đâu, may nhờ sách nhỏ của nhà
Dịch sát nghĩa tonlé bãn kón tiền bối. T.V.Ký, mới biết đó là
krâybey. sông Cái Vồn th. Cần Thơ. NV.

Tonlé: sông bản, ban: được, có; Aubaret tr. 254 viết : “Le
kón, côn: con; krâbey: trâu, ráp đủ phôn Giang s’amorce sur la rive
lại là Tonlé bãn kón krâbey: sông orientale du fleuve postérieur;
chỗ bắt được trâu nghé. large de 32 tams et profond de 5,
il coule dans le sud de la citadelle
Ta gọi tắt Bến Nghé, như vậy (Vinh Long), à la distance de 72
là lấy điểm của Cơ Me, (đã dịch lis et demi.
rồi nơi trước).
Après un parcours de 3 lis
cũng viết kompong kon krabey et demi au nord est, il parvient
(cũng trâu nghé). au Dong Thanh, vulgairement
Sông Bò Ót: đd., tên sông chữõ gọi appelé Cai Lam, lequel se jette
Bàu Ót Giang ở Hậu Giang NV. dans le grand fleuve. Après un
(PCGBCTVK), nay thuộc tỉnh nouveau parcours de 171 lis, le
Cần Thơ. Phôn Giang pénètre dans le Nha
Mon, et va ainsi rejoindre le
Ở về bờ hướng đông của Hậu fleuve antérieur.
Giang. Hướng đông một dặm đến
ngã ba. Về ngả hướng bắc một Chữ viết trong Aubaret:
dạêm ra vàm mươn Sấu (?) (sic) Phôn Giang nên đọc là Bồn
(NKLTĐDC, tr.84) GĐTTC, tập Giang
1, tr.92, viết Bàu Hốt. Cai Lam nên đọc là Cái Chàm
(theo Nguyễn Tạo)
Aubaret, tr.253 viết: “Le Bao Nha Mon nên đọc là Nha Mân
Hot, qui s’amorce sur la rive est (Đọc theo các sách, không biết
du fleuve postérieur ... parvient Phồn Giang, Sông Bồn ở chỗ nào,
à Sơn Kiêt, et se subdivise à son
tour en deux nouvelles branches,

VƯƠNG HỒNG SỂN 535

chán quá, nhưng khi đọc Trương Tục danh Cái Dầu Thượng
Vĩnh Ký, biết đó là rạch Cái Vồn, ở bờ phía tây sông Hàm Long,
thì mới thấy thú vị của sự đọc cách phía đông trấn 38 dặm rưỡi.
sách. Nhưng hình đồng của nhà Sông rộng 3 tầm, sâu 2 tầm, chỗ
tiền bối này, nguyên do tiền bá cùng nguyên có ruộng vườn dân
tánh Nam Kỳ góp trong cuộc lạc cư. Dọc theo sông lớn xuống phía
quyên để nhắc đời công lao người nam 4 dặm rưỡi đến sông Cái Dầu
học rộng này, nay còn đâu? Và Trung, sông này rộng 3 tầm, sâu
người đi sau có quyền gì hủy hoại 2 tầm; chảy 5 dặm rưỡi đến sông
lòng bái phục chơn thành của Cái Dầu Hạ, khúc sông này rộng
nhóm người đi trước? Nếu nay 3 tầm sâu 2 tầm, nơi cùng nguyên
ta bày gương này, thì đừng trách cũng đều có ruộng vườn dân cư
đám đàn em sau này không đồng lập nghiệp”. (chép y nguyên văn
ý kiến với chúng ta). và giữ y chánh tả).
Sông Cái Bè Cạn: đd., xem sông
Tân Đông. Tiếp theo đây là nguyên văn
Sông Cái Chàm: đd., tên sông ở bản của Aubaret, tr.235 để đối
NV, chữ gọi Đông Thành Giang chiếu.
(PCGBCTVK)
Sông Cái Dầu Thượng: đd, tên “Le Tương Tam, vulgairement
sông NV; Thượng Thẩm Giang nommé Cai Dau Tương, s’amorce
(PCGBCTVK) sur la rive occidentale du Ham
Long; il est situé à une distance
Cơ Me: prêk chơtal khpos (di de 38 lis et demi dans l’est de la
cảo T.V.Ký tr. Le Cisbassac) citadelle (Vĩnh Long).

chơtal là cây dầu; khpos là Son cours est large de 3 tams
cao, thượng et profond de 2. Cet arroyo va
se perdre dans les terres. Sur
NKLTĐDC, tr. 64, Thương ses bords sont des rizières, des
Tân Thị dịch: “Sông Thượng jardins et des habitations”.
Thầm, tục danh Cái Dầu Thượng,
ở về bờ hướng tây sông Hàm Từ Tương Tam để qua Thượng
Luông. Cách hướng đông tỉnh lỵ Thầm đã xa rồi, và qua Cái Dầu
Vĩnh Long cũ 38 dặm. Nơi hướng Thượng thì ví bằng không cánh
nam sông lớn xuống 4 dặm tới mà nói chuyện bay lên cung
sông Cái Dầu Trung lại 5 dặm đến trăng hay lên Hỏa tinh hoặc Kim
sông Cái Dầu Hạ, rồi do vàm sông Tinh. Đến đoạn dưới, Trung Tam
này mà vào ngọn cùng”. và Hạ Tam và hiểu là Cái Dầu
Trung và Cái Dầu Hạ, thì càng
Xin đừng bỏ dấu ẩu Thượng khó hiểu hơn nữa. Nguyên văn
Thầm ra Thương Thầm mà khốn. Aubaret: tr.235: “Après avoir
Và tiếp theo đây tôi chép lại y suivi le cours du Ham Long
nguyên văn bản dịch Nguyễn Tạo au sud pendant 4 lis et demi,
(GĐTTC, 1, tr.79 và để độc giả l’arroyo parvient au Trung Tam
tự nghiệm tự bình phẩm: “Sông (tam du milieu). Ce Trung Tam
Thượng Thậm

536 TVTNMN

est large de 3 tams et profond Le Binh Phung, vulgairement
de 2. Après un cours de 5 lis et nommé Cai mui tương phiên
demi, il parvient au Ha Tam (tam (auprès du village de Binh
inférieur) qui est large de 3 tam Phung), s’amorce au dessus du
et profond de 2. cours de Long Ho et à l’ouest de
Sông Cái Lá: đd., Hiệp Đức Giang. cette rivière.
(Định Tường).
Cet arroyo est large de 6
Ở về hướng bắc sông Trước, tams et profond de 3; il est situé
ngọn hạ lưu sông An Bình, cách à l’est de la citadelle (Vinh Long)
hướng tây 62 dặm, dân ở trong et à une distance de 7 lis et
làng có nhiều người chuyên nghề demi. Après un cours de 23 lis, il
dệt sô sa danh “tiếng (NKL- rencontre le Ki Thuy. Ce Ki Thuy
TĐDC, tr.52). se divise en deux branches: le Ki
Thuy du sud ouest, qui, après un
Le Hiệp Đức vulgairement li et demi de cours, parvient au Bo
appelé rạch Cái Lá, est situé sur Kinh, lequel sort du Long Ho et
le territoire des deux villages va plus bas dans le sud se jeter à
de Tân Hiệp et de Tân Đức; il la mer par la bouche du Co Khien;
s’amorce sur la rive nord du le Ki Thuy du sud est qui, après
fleuve antérieur, à 32 lis et demi un cours d’un li et demi, sort du
dans l’ouest de la citadelle. Les Binh Phung et qui plus bas, dans
habitants de ses rives possèdent le sud, se jette à la mer par la
et cultivent des champs et bouche de Ngao Châu.
des jardins. Il y a également
beaucoup de métiers à tisser la Co khien là Cổ Chiên
soie; on y fabrique des étoffes à Ki thuy là gì, tôi không biết
larges et à petites fleurs (sô sa et dịch.
lang tra). Ces étoffes sont bien Sông Cái Muối: đd., Bình Phụng
réussies, pour les fleurs surtout, Giang (PCGBCTVK).
qui leur donnent beaucoup de Cơ Me: prêk ambel (di cảo
réputation; cependant leur tissu T.V.K. trong Le Cisbassac).
et leur dessin n’atteignent pas la Vàm sông Cái Muối: GĐTTC,
perfection des étoffes de Chine. tập 1, tr.78, dịch giả viết “Thượng
(Aubaret, p.210). khẩu sông này tục danh Cái moi
Sông Cái Muối: đd., Bình Phụng Thượng Phiếm (sic) dịch như vậy
Giang là đầu độc thế gian, tỏ ra dốt địa
dư tột bực, chữ vàm không biết,
(Bản Pháp văn của Aubaret, gọi Vàm Cái moi Thượng Phiếm
tr.234, để thấy câu “Cái moi là cái gì? May có sách Trương
thượng phiếm của Nguyễn Tạo Vĩnh Ký dò theo mới hiểu được,
(GĐTTC, tập 1, tr.78), một trăm nhưng sách hay và tượng đồng
năm trước, năm 1863, sách của người có thực tài còn đâu và
Aubaret đã viết “Cai mui tương ai trồng cây cho mình ăn trái?
phiên”).

VƯƠNG HỒNG SỂN 537

Thượng Tân Thị dịch nghe Tiền Giang chảy qua hướng tây ra
được hơn: “Sông Bình Phụng, tục sông Trà Ôn nhập với Hậu Giang.
danh là Cái Muối, vàm ở hướng (NKLTĐDC, tr.77).
tây sông lớn Long Hồ, trở xuống Sông Cái Tàu Thượng: đd., tên
thì đến ngả giáp nước. Ngã tây sông NV, Hội An Giang (T.V.K.).
nam thì đến Kinh Bố, tục gọi
mương Bà Bố chảy ra sông lớn, Cơ Me: pãm prêk sampou lơ
đổ xuống hướng nam là cửa Cổ (di cảo T.V.K trong Le Cisbassac)
Chiên, ngả hướng đông nam là (sampou là hải thuyền; lơ là trên,
vàm dưới hướng nam sông Bình thượng).
Phụng đổ xuống cửa biển Ngao
Châu. - một thị trấn thuộc làng Hội
An, tg An Thạch Thượng, th. Sa
Dịch giả cảm hứng có bài thơ Đéc cũ NV.
này (NKLTĐDC, tr.63) xin chép Sông Cần Thay đd., tên sông NV,
lại dấu tích. Cần Thay Giang (PCGBCTVK).

Muối thì mặn chát lẽ nào Cơ Me: Đã viết Cần Thay:
không? ở Vĩnh Long banlie ansày
(Cisbassac) (Tr.196).
Mà muối đây là một cái sông.
Sóng bổ vòi lên màu trắng Rồi viết: Banlec ansày (di
trắng cảo TVK trong Le Cisbassac).
Trời soi mặt xuống dạng hồng (Tr.193)
hồng.
Bần đơm cao nghệu không (Cơ Me gọi rùa là “andoek” và
ngăn gió, rùa lớn con là “kănthéay” (trên
Cát nổi vun chùn để đón dông. đây viết “ansày”), khiến nhớ bài
Ngó lại trong vàm xa thẳm thơ trong Chuyện đời xưa của
thẳm Trương Vĩnh Ký (bản in Qui Nhơn
Người ta nhà cửa cũng đông 1914, tr.70):
đông.
Sông Cái Tàu Hạ: đd., Tân Hội Hớn vương ăn ớt mặt đỏ gay!
Giang. Bên kia Thái Tư đứng khoanh
Gọi theo tên Hán là sông Tân tay.
Hội. Ở về bờ hướng nam sông Thằng mọi râu ria cầm cái
Tiền, cách hướng đông tỉnh lỵ mác,
An Giang 190 dặm; về hướng Ngoài này cò quắm đạp cầy
đông nam chảy xuống ngã ba Cái thay.
Ngang. Về ngả hướng bắc thông (Hỗn như vậy là tột bực,
với sông Long Hồ, chuyển qua nhưng làm giàu cho tiếng nói
hướng nam 60 dặm, đến ngã ba được hiểu không phải cầy thay,
sông Ba Kè (Kiên Thắng Giang). và nên sửa “cần thay” tức con
Hướng đông chảy ra sông Vũng rùa to. Hạc là “cò quắm”, qui là
Liêm (An Phú Giang), rồi Láng cần thay? Tiếng Miên tiếng ta lẫn
Thé, và cùng với các giòng nước ở lộn từ lâu).
Cần Thay, trứng ngon, nên
vua Miên trên Nam Vang xưa

538 TVTNMN

có lệ cấm dân không được dùng Sông Châu Đốc: đd., tên sông NV;
và phải hiến vua làm món ngự Châu Đốc Giang (TVK, PCGBC).
thiện. Cơ Me: Tonlé mắt eruk (di cảo
T.V.K trong Le Cisbassac). Chruk:
NKLTĐDC, tr.63, Thượng con heo. (Nay người cơ me khi
Tân Thị viết: “Sông Cần Thay nói tiếng Việt, có khi còn gọi “tôi
Thượng ở về bờ hướng đông sông ở xứ miệng heo” thay vì nói tôi ở
lớn Long Hồ, theo sông lớn hướng Châu Đốc).
nam đi xuống ra cửa biển Cổ Châu Đốc: đd., thời Pháp
Chiên; ở vàm sông đi về đông thì thuộc, mang số mã tự 2.
gặp giáp nước, hướng bắc thông Cơ Me: srôk méat chruk (sốc
với sông Phú Sơn tục danh Cái miệng heo).
Ớt. Cách 25 dặm thì đến chợ Năm 1956. Châu Đốc sáp
Bình Định, tục danh là Chợ Cần nhập với Long Xuyên, gọi tên
Thay rồi đổi lại như bây giờ gọi chung là t. An Giang; 1964 lại
Chợ Lách, 4 dặm nữa ra vàm Cần tách ra lấy tên Châu Đốc như
Thay và chảy xuống cửa Ngao trước từ 1975, trở lại mang tên
Châu cũng gọi Bãi Ngao. tỉnh An Giang.
Xét theo sử, trước khi thuộc
GĐTTC, tập 1, Nguyễn Tạo Thủy Chân Lạp, gọi chung từ
dịch sai nhiều chỗ: (trương 79): các xứ Vĩnh Long, Sa Đéc, lên
Sông Cần Thay Thượng, dịch sai đến Châu Đốc, đều là đất Tầm
ra Cần Dài Thượng. Phong Long (kompong luông) do
vua Cơ Me Néak Tôn dâng lên
Chợ Cần Thay, dịch sai ra Chợ chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-
Cần Đài 1765). Những địa danh Long Úc,
Tầm Bào có lẽ là vùng này. Qua
Trong bản dịch Thượng Tân triều nhà Nguyễn, lập Châu Đốc
Thị kể trên, ông viết “Cần Thai”, đạo, thuộc Long Hồ dinh.
tôi tự sửa lại Cần Thay cho đúng
chánh tả. Sông Châu Đốc: đd., ở về hướng tây
Sông Chàng Hảng: đd., tên sông ngọn thượng lưu của Hậu Giang.
thuộc t. Biên Hòa NV. chữ gọi Lan Châu Giang về ở hướng đông
Vu Giang. Sông Sau, về bờ hướng nam Sông
Châu Đốc, ấy là tỉnh lỵ An Giang.
Sông này ở về hạ lưu sông Hướng bắc 25 dặm, về hướng tây
Phước, nguyên hai sông Đông sông, có sông Phong Cần Thăng,
Giang và Tây Giang vị cù lao 10 dặm có sông Cam La Ngư, lại
Cái Tắt chia hai, đến chỗ này hai 3 dặm về hướng đông sông có tắt
sông nhập lại và ông bà đàng cựu Lăng Lý, tục danh là Tắt Trút,
đặt cái tên ngộ nghĩnh này, sông 10 dặm là sông Lư Khu Ngư (?)
Chàng Hảng, bất chấp thanh hay (sic). Ngoài vàm Châu Đốc dưới
tục. Trong Aubaret thấy nói tên hướng nam sông Sau 6 dặm đến
chữ là Lan Vu, còn trong sách ông hướng đông sông Trà Lồng. Bờ
N.T. dịch lại viết là Lan Ô, tôi
không đủ chữ Hán để phân biệt
ai sai ai viết đúng.

VƯƠNG HỒNG SỂN 539

Châu Giang có kinh mới thông Me “Méat (miệng) chruk (heo)
với Tiền Giang, tục danh là kinh là địa danh Miên của Châu Đốc,
Cái Vừng, qua mùa nước nổi ghe chính người Miên thỉnh thoảng
đi rất là cận tiện. (NKLTĐDC, còn dùng để gọi Châu Đốc. Méat
tr.82). chruk, nghe Mật luật.
Sông Châu Đốc: đd., Châu Đốc
Trong GĐTTC, tập 1, có nói Giang.
kênh Lăng Lý (tục danh là Dắt
Nục). (tr.88) Ông nào dịch đúng? Sao y bản Pháp văn Aubaret
tr.247: “La rivière de Châu Đốc
Sao y nguyên văn bản dịch s’amorce dans la partie ouest
Nguyễn Tạo (GĐTTC, tập I, tr. du cours supérieur du fleuve
88-89): postérieur. Elle est large de
70 tams et profonde de 9, et
“Sông Châu Đốc. - Ở phía tây coule à l’ouest de la citadelle
thượng lưu Hậu Giang, rộng 70 de Vinh Long, à la distance
tầm, sâu 9 tầm, cách phía tây de 327 lis. Le poste de Châu
trấn 327 dặm. Thủ sở Châu Giang Giang est situé sur la rive
ở bờ phía đông Hậu Giang, đồn orientale du fleuve postérieur,
Châu Đốc ở bờ phía tây Châu Đốc, et la citadelle de Châu Đốc sur
thủ sở phủ Mật Luật (?) Cao Miên la rive ouest de la rivière qui
ở bờ phía đông sông Châu Đốc, porte le même nom.
ấy là địa đầu quan ải trấn Vĩnh
Thanh và nước Cao Miên. Cách Le poste cambodgien du phu
phía bắc 25 dặm về phía tây sông de Mat Luat est sur la rive
nầy, có sông Phong Cần Thăng orientale de la rivière de Châu
(đi về phía tây qua đường mòn Đốc; c’est là ce qui marque la
cũ của Cao Miên đến náo khẩu limite nord entre la province de
Ca Âm, tiết mưa thuyền đi được, Vinh Thanh et le royaume du
còn mùa nắng thì khô cạn, và bùn Cambodge.
lầy): cách 10 dặm cũng về phía
tây sông nầy có sông Cam La Ngư Qua tr.248, tiếp theo như
chảy vào cùng nguồn, cách 3 dặm vầy: “A la distance de 10 lis plus
về phía đông sông này có kinh loin dans la rivière de Châu Đốc,
Lăng Lý (tục danh Dắt Nục, lúc có et sur la rive ouest, se trouve
nước lụt đi thông qua sông Bình l’arroyo Cam La Ngư, qui va
Thiện rồi ra Hậu Giang); cách 10 se perdre dans les terres. 3 lis
dặm là sông Lò Khù, đi đến đây plus loin, et sur la rive orientale
thì chằm ao chảy tán loạn ra bốn de la rivière (Chau Đoc), on
phía. Ngoài miệng sông Châu Đốc rencontre l’arroyo Lan Li Kinh,
theo dòng lớn Hậu Giang chảy vulgairement appelé Tac Truc,
vào nam, rộng 300 tầm, khi nước qui n’est praticable qu’à la saison
lên sâu 10 tầm, cách 6 dặm rưỡi des pluies. Cet arroyo, après
đến sông Tham Lung. être parvenu dans le Binh Thien
Dang, se jette dans le fleuve
1) phủ Mật luật Cao Miên: postérieur.
đây là (theo tôi) âm hai tiếng Cơ

540 TVTNMN

A la distance de 10 lis plus đây thấy đất tốt cây cối xanh tươi
loin se trouve l’arroyo de Lo Go bèn đốc sức cho dân quân khai
Ngư qui se divise en plusieurs hoang biến thành ruộng tốt rồi
petites branches allant toutes se tâu lên vua, vua phê chữ son cho
perdre dans les terres. ông làm chủ vĩnh viễn, nên đặt
là ruộng châu phê và khúc sông,
L’embouchure de la rivière de kinh hay rạch đó cũng mang tên
Châu Đôc sur le fleuve postérieur, Châu Phê, gọi thét rồi cũng dùng
avec lequel cette rivière va mêler để gọi vùng Cù Úc, hỏi ra tức là
ses eaux, est large de 300 tams et Vũng Gù, là kompong ku của Thổ.
profonde de 10. La marée se fait
sentir jusqu’en ce lieu, mais c’est (xem thêm kinh Bàu Bèo).
là sa limite. Cắt nghĩa thêm. - Đoạn chót
trên nầy, dường như tối nghĩa
A une distance de 6 lis et demi, và lúng túng, ý tôi muốn nhấn
on parvient au Tam Long. Cet mạnh danh từ “ruộng châu phê”,
arroyo placé sur la rive orientale “rạch châu phê”, nay thường lầm
de la rivière de Châu Đôc, est lộn, nguyên đó là miếng ruộng
large de 6 tams et profond de 10 do vua ban bằng chữ son “châu
pieds; il se perd dans l’intérieur phê”, sau đó trọn vùng có con
des terres. (Xem thêm chữ “Sông rạch chạy ngang cũng đều gọi
Châu Đốc khác”): chung “rạch châu phê” cho gọn,
nhưng gọn đâu không thấy chỉ
Aubaret viết: Le poste thấy lộn xộn, đó là vùng gần Bảo
cambodgien du phu de Mat luat Định Hà, khúc đầu sông Vũng
là phủ Mật luật trong GĐTTC, Gù, ngang Vàm Cỏ Tây, và Tân
tập 1, tr.88, bản dịch Ng. Tạo). An xưa cũng gọi Vũng Gù mới
là báo hại thêm cho kẻ hậu sanh
Phong Can Tan là Phong Cần ham hiểu tìm sử cũ.
Thăng Sông Cửu Long từ nhập vào địa
phận đất Nam kỳ lục tỉnh, trở nên
Cam La Ngư là Cam La Ngư. hiền lành, từng đem cá tôm từ đất
Tắc Trút theo T.T.T. Nam Vang vào nuôi dân trong
Nam dẫu mùa nước lớn cũng lớn
Lan Li Kinh là kinh Lăng Lý có chừng mực, thỉnh thoảng năm
(tục danh Dắt nục (sic) Ng.Tạo. ba năm mới có một mùa ngập lụt
Binh Thien Dang là sông Bình mà cũng lụt vừa vừa, từng dâng
Thiện (Ng.Tạo) phù sa lên ruộng cho ruộng thêm
mầu mỡ, và những khi ấy thì cá
Lo Go Ngư là sông Lò Khù tôm trôi lên không biết cơ man
(sic) Nguyễn Tạo, GĐTTC, tập nào mà ước lượng, không như
1, tr.89) sông Hồng ngoài Bắc phải có bờ
cao ngăn giữ, mỗi khi đê vỡ thì
(xem chữ Sông Châu Đốc, có chết hại súc vật sanh linh, hư hại
bản dịch Nguyễn Tạo)
Sông Châu Phê: đd., Châu Phê
Giang. (c.g. rạch Châu Phê).

Ở về bờ hướng bắc sông Bảo
Định (Vũng Gù). Xưa còn là đất
Cao Miên, nhơn Vân Trường Hầu
(Nguyễn Phước Vân) đi ngang

VƯƠNG HỒNG SỂN 541

nhà cửa, mà đê càng kiên cố thì Ký nằm ngăn ở giữa, trên cù lao
bao nhiêu cá tôm đều đưa hết ra và bờ sông thì rừng tre dày rậm
biển, không lợi ích cho dân Bắc và đầm đìa huyên thiên, người
chút nào. Kinh và người Thổ nhà ở xen lộn
nhau, đồng khai khẩn lộc thiên
Đất Nam Vang có Biển Hồ làm nhiên, bắt cá tươi hoặc làm mắm
túi chứa nước thặng dư, đất Nam muối phơi khô đủ sanh nhai.
Kỳ có đến những hai túi như vậy (NKLTĐDC, tr.83).
là Đồng Tháp Mười và đồng Cà
Mau, mỗi năm mùa nước đổ thì P.C.G.B.C.T.V.K. viết Cái
bao nhiêu nước dư dồn về hai túi Đầm, chữ là Đầm Giang province
nầy, qua mùa nước rút thì hai túi d’Angiang - GĐTTC, tập 1, tr.90
nhả nước ra chan hòa từ miếng viết:
ruộng nhỏ, làm cho con cá cứ đời
đời luân chuyển, từ Biển Hồ trôi Sông Đầm, thay vì Sông Đàm.
xuống Nam kỳ, sanh sanh đẻ đẻ Cần Trang Giang, thay vì
trong khi ấy làm sinh thực nuôi Chông Cần Trang.
sống cả con dân Nam Việt để đến Bà Ký (bài của T.T.T. viết Bà
mùa lội ngược trở lại Biển Hồ để Nhủng (?) (sic), tôi đã sửa theo
chờ dịp tiện trôi xuống nữa, rõ N.T. là Bà Ký).
là lộc trời xanh để, và đất Nam Aubaret, tr.250 viết: Dam
Việt rõ là Phật địa, hoặc nói cách Giang, Diu Giang, Ba Dé, Dong
khác, là cõi thiên đàng ở trên địa Can Tran iles Can Tran, Ba
cầu nầy. Nhung.
Sông Dã Ổi: đd, (không biết dịch ra Sông Đất Sét: đd, tên sông NV, vùng
Hán tự là gì). Cái Tàu Thượng, Sa Đéc. Chữ gọi
Mỹ An Giang (TVK, PCGBC).
Ở Đông bắc huyện Long Cơ Me: Păm prêk dei kraham
Khánh, thông với sông Phù (di cảo TVK tr. Le Cisbassac).
My ở Bình Thuận, có nhiều đá (dei: đất; kraham, krâhâm:
dựng, ghe thuyền không đi được. đúng ra là màu đỏ sậm).
(ĐNNTC, tập 1, bản dịch N.T.). (Trong Việt Nam Sử lược T T
Sông Đàm: đd., ở về bờ hướng đông K, tác giả vì không biết nên dịch
của Hậu Giang thuộc An Giang. ông tướng tên Cao La Hâm, đúng
Phía trên hướng đông thông ra là ông tướng áo đỏ (xem thêm
với sông Ưu Đàm thuộc về Tiền Trảng Bàng, kraham cũng viết
Giang. Ngược qua hướng bắc, krâlahâm).
giòng nước chia làm hai ngả: Sông Đất Sét: đd., tên sông vùng Cái
9 dặm trải qua sông Dầu (Du Tàu Thượng, Sa Đéc, chảy ngang
Giang), 3 dặm trải qua sông Bà làng Mỹ An Hưng ngày nay, chữ
Đê, 4 dặm trải qua sông Chông gọi Mỹ An Giang (PCGBCTVK).
Cần Trang, nơi đây chảy hiệp làm Sông Đôi Ma: đd., c.g. Rạch Đôi Ma.;
một. Khúc sông này sở dĩ chia chữ, khi gọi Song Ma Giang, khi
ra hai ngả là vì giữa sông lớn có gọi Tình Trinh Giang.
mọc hai cù lao Cần Trang và Bà

542 TVTNMN

Cơ Me: Tonlé tul samnàp (theo pouvait les voir errer sous le
di cảo Trương Vĩnh Ký). forme de phénix.
Sông Đôi Ma, còn một tên nữa là:
Cependant ces ombres
Rạch Đôi Ma: đd., Song Ma n’étaient nuisibles à personne.
Giang, c.g. Tình Trinh Giang. Or les parents des deux fiancés
étant morts dans la misère, on
Chép nguyên văn Aubaret ne put donner la sépulture aux
tr.198 để thấy người Tây dịch jeunes amants. De beaux arbres
rất kỹ: poussèrent auprès du lieu où
l’on avait placé leurs cercueils,
“Le Song Ma (Đoi Ma), nommé et le souvenir de cette jeune
encore Tinh Trinh, s’amorce sur fille devenant très populaire,
la rive nord du cours inférieur les barques s’arrêtaient auprès;
du Tuan An; il est situé dans le chacun allait avec tristesse
sud de la citadelle, à la distance visiter son cercueil.
de 90 lis.
C’est à cause de cela que ce
Le peuple raconte qu’il y lieu se nomme Đoi Ma (les deux
avait autrefois une fille riche ombres).
nommée Pham Ti, âgée de seize
ans, qui désirait se marier avec Lors de l’époque des Tay Son,
un jeune écolier qu’elle aimait, ces rebelles, apprenant que c’était
mais ne voulait point se donner là un lieu habité par des esprits,
à lui autrement que dans le le détruisirent à coups de canon;
mariage. ils brulèrent les cercueils et
ruinèrent les environs (Aubaret,
L’écolier quoique très pauvre, p.188).
osa néan moins envoyer une
personne auprès de la jeune fille (Rạch Đôi Ma cùng với sông
pour la demander en mariage. Đôi Ma là một; sở dĩ làm hai thẻ
là muốn có đủ tài liệu vừa tiếng
La jeune fille accepta cette Việt vừa bằng Pháp văn của
demande avec plaisir, mais elle Aubaret. (khi in sách, tưởng nên
mourut bientôt subitement. Ses nhập làm một).
parents, qui la chérissaient, ne Sông Đồng Cháy: đd., c.g. sông
pouvant se décider à enterrer son Bình Đồng ở Biên Hòa gần sông
corps, firent construire derrière Thủy Vọt.
leur jardin une maison où ils Sông Đồng Nai: đd., tên sông thuộc
déposèrent son cercueil. Le jeune Biên Hòa (Phước Long Giang).
écolier mourut bientôt également
et son corps fut placé à côté de Cơ Me: Tonlé prêk smau cèk
celui de la jeune fille; leurs deux (theo di cảo Trương Vĩnh Ký
âmes furent ainsi réunies en ce chép lại trong Le Cisbassac của
lieu, habité par leurs ombres. L. Malleret).
Ces ombres rouges et vertes Đồng Nai: đd., cuộc đất mênh
apparaissaient pendant la nuit, mông ở Biên Hòa, thường hiểu
tandis que durant le jour on

VƯƠNG HỒNG SỂN 543

chung là đất Nam kỳ, tên chữ là hướng đông Tiền Giang đổ xuống
Lộc Dã. Tỷ dụ: Ai về Gia Định, cửaBa Lai, một ngả chảy về nam
Đồng Nai thì về (câu hát xưa). đến cửa biển Ngao Châu, sông
lúc xưa có nhiều sấu lớn. Tuy vậy
Đồng Nai, trong sách Hán cũ, nước trong và ngọt, bờ phía đông
Trung Hoa âm là Nông Nại. là huyện giới Tân An, bờ phía tây
là huyện giới Vĩnh Bình.
Aubaret viết Don-nai
(GDTCTHĐ, tr.140) và các sách Aubaret, tr.232, cũng viết
Pháp cũng viết theo như vậy. Ham Long, cho biết rằng sông có
nhiều cá rất to con, nhứt là sấu,
Tonlé prêk smau cèk: thường hiện lên mặt nước quấy
Ngày nay viết khác hơn xưa. nhiễu dân làm nghệ hạ bạc.
Chữ cèk, đời ông Trương Vĩnh Ký,
nay ghi lại ra sao, vì không biết Sông này cách Vĩnh Long 83
rành nên không thể dịch. dặm, bề ngang 5 dặm rưỡi, bề
Chak, uòm chak: espèce de sâu 49 tằm.
palmier d’eau. Slèk chak: feuilles Sông Hội An: đd., tục danh là Cái
de ce palmier qui servent à Tàu Thượng: Hội An Giang.
couvrir les maisons: cây dừa nước,
lá dùng lợp nhà. Ở bờ phía nam của Tiền
chèk, dòm chèk: cây chuối. Giang. Cách hướng tây đạo Đông
chèk: partager: phân chia. khẩu 60 dặm miệng vàm đối với
Không nói gì tới Đồng Nai. cù lao Tòng Sơn, Ngưu Châu
Sông Hàm Luông: đd., tên sông NV (ông N.T. dịch cù lao Ngọ) Dinh
vẫn là một nhánh của sông Cửu Châu làm tinh vệ (ngôi sao giữ
Long chảy ngang Bến Tre đổ ra gìn) nay bờ hướng tây vàm sông
Nam Hải tên Hán: Hàm Luông nổi cát đã gần lấp mất. Về hướng
Giang (PCGBCTVK) (x.kompong nam 55 dặm đến ngả ba sông,
luông). về ngả hướng nam 24 dặm đến
Cơ Me: Tonlé prêk kompong sông Cường Oai chảy ra Hậu
luon (di cảo TVK tr. Le Cisbassac) Giang. Về ngọn hướng bắc 70 dặm
(Theo L.T.X. trong Đồng Nai đến Sa Đéc chảy ra Tiền Giang.
văn tập, việc ông Nguyễn Tạo (NKLTĐDC, tr.80).
dịch Hàm Luông là Hàm Rồng là
không thể được vì sẽ lầm với địa Sao y nguyên văn bản
danh Hàm Rồng ở Thanh Hóa). Aubarer, tr.243 để tiện so sánh:
(Chẳng những viết sông Hàm “La branche de l’ouest du (Hồi
Long (GĐTTC, tập 1, tr.77) N.T. Luân), après un cours de 18
còn viết Súc Sĩ Hạ, thay vì Sốc lis, se rend au Cuong Oai kinh,
Sãi Hạ, vậy xin đính chính luôn. s’infléchit alors et suit le cours
Sốc Sãi là sốc của lục sãi thầy sãi de l’arroyo Luu Thuy, traverse
Miên ở). le Thu Ô et se rend à un nouvel
Sông Hàm Luông ở cách embranchement composé de
hướng đông tỉnh lỵ 83 dặm, chia deux bras: le bras du nord, après
làm hai ngả, một ngả chảy về un parcours de 6 lis, parvient à
l’arroyo Hội An qui sort du fleuve

544 TVTNMN

antérieur; le bras de l’ouest, après sông núi thì phải trưng địa đồ
un cours de plus de 71 lis, atteint chớ nói suông không được, và
le Cuong Oai, qui sort du fleuve người chúng ta có tật học thuộc
postérieur. lòng bất chấp địa đồ nên ngày
nay kinh rạch sông đều cùng
Ces cours d’eau reviennent một chữ giang thiệt là tai hại.
sur eux-mêmes et mettent ainsi Khi tra tầm một địa danh nào
les deux grands fleuves antérieur phải chịu khó xem đủ các chữ
et postérieur en communication. họa may mới gặp mới hiểu (xem
thêm kinh bàu bèo).
L’an dinh vi, au milieu du Sông Hương Phước: đd., tên của
règne de Gia Long, cet empereur Hương Phước Giang, khi gọi theo
fit construire en ce lieu un fort như vầy thì vô sự, đến khi viết ra
pour y établir une garnison. Il tên nôm thì khi viết vầy khi viết
ordonna également de construire khác, nào Mỏ Xảy, Mỗi Xui, v.v.
des routes militaires qui thiệt là rắc rối điên đầu, chừng
aboutissaient à l’ouvrage placé nào mới thống nhứt và viết thiệt
au centre, et dont la position thọ là Mô Xoài là tên kỳ cựu phát
inattaquable était comme la tích của đất cổ Biên Hòa?
marque de la conquête de ce pays.
Sông Hưng Hòa: đd., tên Hán của Le Huong Phuoc est la même
Sông Vũng Gù, nối khúc gọi sông chose que le Moi Xui; c’est un
Bảo Định (Bảo Định Hà) để chảy arroyo qui coule sur le territoire
ra cửa Soi Rạp. Nếu ngược dòng des deux villages Long Huong et
trở lên thì gặp sông Bát Đông Phuoc Le, et sur les bords duquel
rồi kế sông Bát Chiên. (theo est placé un tram.
NKLTĐDC, tr.50).
Cet arroyo, dans son cours
Cắt nghĩa như trên là dịch supérieur, coule au nord; après
trong sách ra nhưng rồng rắn quoi, il s’infléchit vers l’ouest et
lộn xộn, nghe không thông thêm se dirige vers le rach Chau Phe et
nhức đầu. Phải hiểu một chữ puis vers le rach Giao Cau. Après
“Vũng Gù” dùng không biết bao avoir traversé le rach Tham
nhiêu chỗ, khi thì là một con Thuyen, cet arroyo parvient
kinh, Kinh Vũng Gù, nối Tân An au Mong Giang, vulgairement
qua Chợ cũ Mỹ Tho, khi thì là appelé song soai.
một con sông, Hán gọi Hưng Hòa
Giang, và đừng nhớ tới Vũng Gù Ce song soai n’a pas de source:
nữa và lật địa đồ ra xem, nó đích il est long de 15 lis; après un cours
thị là sông Vàm Cỏ Tây chính de plus de 4 lis au sud, il forme
cống. Pháp gọi Vaico Occidental l’amorce du Huong Phuoc sur le
chảy từ Tân An tới Miếu Ông. grand fleuve. Beaucoup d’autres
(Nhánh kia của Vàm Cỏ, tức Vàm arroyos mêlent également leurs
Cỏ Đông Vaico Oriental, thì chảy eaux au lieu de cette amorce ou
ngang Bến Lức mà cũng chảy tới embouchure. (Aubaret, p.172).
Miếu Ông và Bần Quì. Phàm về

VƯƠNG HỒNG SỂN 545

Sông Kẻ Đôi: đd, tên sông NV.: Song prêk: sông
Tòng Giang (PCGBCTVK). pona: tiếng tâng để gọi đường
Cơ Me: prêk ponã ku (di cảo quan.
TVK trong le Cisbassac). ku: đôi, một cặp.
Suối Tòng (tục danh suối? Sông Tòng Giang: prêk pona ku
(Tr.27 bản dịch N.T. GĐTTC, (cân xứng, đồng đều, nhưng
1,27) đúng là song tòng giang dịch không rõ ta đặt trước họ dịch
hai chữ Kẻ Đôi (suối). theo, hay họ nói trước, ta dịch
Nguyên văn Aubaret để lại y theo).
đối chiếu (tr.237): “Le Vo tiêt Cai nhum: Cái nhum.
s’amorce sur le fleuve antérieur Sông Kỳ Hôn: đd.,
et sur le cours inférieur, ainsi Ở về bờ phía đông sông Mỹ
que sur la rive ouest du Long Tho chảy qua chợ Kỳ Hôn rồi qua
Ho. Il coule au sud de la citadelle Lương Phú, gặp sông Thuộc Lãng
(Vinh Long) à la distance de 55 và sông Tra hiệp làm một dòng.
lis et demi. Sur sur sa rive nord Các dịch giả dịch và viết lộn
est établi le poste de Tan Thang. xộn:
On y voit aussi un marché très Lương Phú, khi gọi Phú
populeux. Ce lieu dépend du Lương, khi khác gọi Lương Quán.
huyen de Vinh Binh. Bến Tranh, viết Đò Tranh
Cet arroyo, à son amorce, est (sic)
large de 7 tams et profond de 5. Hóc Đồng viết Húc động (sic)
Après un cours de 34 lis et demi, (mấy chữ nầy L.T.X. thấy và
il parvient au Cai Nham, et là, xin cải chính)
il se divise en deux branches. cũng gọi Rạch Trà Hôn, rạch
La branche du nord, après un Cà Hôn, Miên gọi prêk oknà han
parcours de 12 lis et demi, se (xem những chữ ấy).
jette dans la rivière Song Tôn, Sông Khê Lăng: đd., (Khê Răng
vulgairement nommé Cai Đoi; Giang).
on la nomme aussi Thai Dien, “Le Khe Lang s’amorce sur
à cause des deux villages Tan la rive nord du Quang Hoa; il
Dien et Dinh Thai, placés sur est situé à l’ouest de la citadelle,
ses bords. Cette rivière coule à la distance de 185 lis et demi.
parallèlement au Can thai Tuong; A partir de son embouchure,
elle est large, à son amorce, de cette petite rivière se dirige vers
6 tams et profond de 5 et est le nord et parvient, après une
éloignée de la citadelle (Vinh distance de 61 lis, au poste de
Long de 45 lí au nord. Tuan Thanh. La source du Khe
La branche de l’ouest parvient, Lang est située dans la montagne
cours de 50 lis, à l’arroyo Khien de Ba Din.
Thang (aux trois bras)”. Les habitants de la montagne
Prêk pona ku: danh từ Miên emploient très utilement le
theo sát danh từ Việt: cours de cette rivière, soit pour

546 TVTNMN

l’exploitation du bois, soit pour phtú: (viết y như chữ trên):
tout autre but. (Aubaret, p.193). espèce de gingembre: một loại
gừng ngải.
Tuan Thanh: đọc Thuận
Thành Tạm lựa chữ phtú là cây ngải,
còn chữ la nha chưa rõ điển.
Ba Din: đọc Bà Đen. Sông Lai Vung: đd., tên sông thuộc
Sông La Nha: đd, tên sông NV; La Sa Đéc cũ, chữ gọi Cường Oai
Giang (PCGBCTVK).
Nha Giang.
Cơ Me: Tonlé prêk kompong Ở về bờ hướng đông của Hậu
Giang, theo ngọn hướng đông 71
phtu. dặm đến Kinh Thủy vào Nước
(theo di cảo Trương Vĩnh Ký Xoáy thông với sông Sa Đéc rồi
chảy ra Tiền Giang. (NKLTĐDC,
chép lại trong Le Cisbassac của tr.84).
L.Malleret).
Aubaret, tr.253, viết: “Le
(La Nha, có sách c.v. La Ngà). Cuong Hoai vulgairement appelé
Theo di cảo T.V.K. thì sông Lai Vum.
gọi La Nha. Trong bản dịch N.T. Sông Lấp Vò: đd., Cường Thành
thì gọi sông La Ngà? Sông nầy ở Giang (PCGBCTVK); th. An
phía Bắc thượng lưu sông Phước, Giang cũ.
phát nguyên từ núi Phố Chiêm
tỉnh Bình Thuận, theo ông N.T. Ở về bờ hướng đông của Hậu
GĐTTC tập 1 tr.25 viết: “Sông Giang, chảy ra sông lớn. Cách
“La Ngà ... từ núi Phố Chiêm nửa dặm về bờ hướng nam đến
chảy ra phía Bắc gọi là sông Dã đồn cũ Cường Thành, 50 dặm
Dương rồi quanh theo núi Cấp đến ngã ba sông. Về ngả hướng
Cấp (nơi đây nước sông chảy bắc thông với sông Cái Bí, sông
xiết (sic) vào đá tiếng kêu cấp Trường Tiền và đổ ra sông lớn.
cấp nên tục danh là núi sông Về ngả hướng đông 70 dặm đến
Bẻm?) chảy qua đông, hiệp lưu ngã ba giáp nước. Về ngả hướng
với nguồn Bàn Thạch ở trấn Phú bắc thông với sông Hội An, chảy
Yên”. Những danh từ N.T. dùng ra Tiền Giang. Về ngả hướng đông
cần xem xét lại. trải qua sông Thủ Ô, Nước Xoáy,
Dịch từ chữ - Tonlé prêk ra sông Sa Đéc rồi hiệp với Tiền
hompong phtu: Giang. (NKLTĐDC, tr.84).
Mấy chữ tonlé prêk kompong,
ta đều biết là để ám chỉ sông, Aubaret tr.252 viết: “Le Cương
vũng. Thanh vulgairement nommé Lap
Phtu: chưa thấy trong tự điển. Vo... Sông Thủ Ô, ông viết le Tu Ô.
Cuốn J.B.Bernard có chữ: Sông Láng Thế: đd., tên sông NV.
phtú: craquer, pétiller, faire Láng Thé Giang (PCGBCTVK)
explosion, éclater (bois, pierre,
feu): nói về cây, đá, lửa, nổ, có Cơ Me: Tonlé kanlen sè (di cảo
tiếng kêu. TVK trong Le Cisbassac).

Ở về hướng tây sông lớn Long
Hồ cách hướng nam tỉnh lỵ Vĩnh

VƯƠNG HỒNG SỂN 547

Long 85 dặm, phía trước vàm có Long Hồ nay là tên làng ở
cù lao nhỏ, cây cối mọc lẫn lộn, Vĩnh Long, tổng Bình An, sát
về hướng tây 20 dặm đến sông châu thành.
nhỏ Cần Chông thông qua giòng
sông lớn Hậu Giang, nhưng hẹp Xét ra sông Long Hồ quanh co
nhỏ cạn, thuyền ghe khó đi vì uốn lộn chảy quanh trấn thành
đây là cái láng chưa phải là sông Vĩnh Long rồi nhập với Tiền
rạch. (Láng là một vùng nước lai Giang, ngả phía đông gặp hai đồn
láng có cây cỏ mọc, xem ra mênh Kiên Thắng và Ba Kè, ngả phía
mông, ghe cạn đáy và nhẹ mới hữu đến sông Trà Ôn hiệp lưu
lách đi được). với Hậu Giang, ngả phía tả đến
đồn Tân Thắng trên sông Mân
Trong GĐTTC, tập 1, Nguyễn Thít rồi hiệp lưu cùng Tiền Giang
Tạo viết Sông Lãng Đế, không ai chảy ra biển.
hiểu đó là gì, nếu chưa biết Nam
Kỳ có sông Láng Thé. Ba Kè, trong GĐTTC, tập 1,
Nguyễn Tạo viết “Ba kỳ” (sic).
Aubaret, tr.238 viết: (tr.76).
Lang Dè thay vì Láng Thé.
Kanlen sè: không có trong tự Prêk: sông
điển J.B.Bernard. Lại có: Oknã: tiếng tâng để gọi đường
Kânlâng, săt kânlâng: quan, như tiếng ngài của ta.
bupreste, insecte. Sè: sêh: ngựa. Decô: không có trong tự điển
Tonlé kânlâng sè: sông có Miên Pháp J.B.Bernard, lại có:
nhiều bọ chét cắn ngựa? Ta âm Déchéă: force, puissance,
Láng Thé. vertu, thường dùng để dịch tiếng
Sông Long Hồ: đd., tên sông NV, nhà Phật: đại lực, đại đức, v.v.
chữ gọi Long Hồ Giang. (T.V.Ký). Nguyên câu, thì không biết
Cơ Me: Tonlé prêk oknà decô dịch, vì sợ sai.
(di cảo T.V.Ký) (tr.193 Malleret Sông Long Hồ: đd., Long Hồ Giang.
qua tr.197, lại viết Long Hồ: Lon (Bản Pháp văn theo Aubaret.
hòr, thuyết nào đúng?) tr.229).
Long Hồ Dinh: đd., một trong La rivière de Long Ho a
12 dinh, giang san chúa Nguyễn un cours très sinueux; elle est
ở Đàng Trong, đối với giang san large, ses eaux sont limpides
chúa Trịnh ở Đàng ngoài, và do et douces pendant les quatre
Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát saisons de l’année. De nombreux
đặt ra năm giáp tý (1744). Một ýlots, tantôt éloignés, tantôt
đoạn sử lại nói Long Hồ Dinh, do rapprochés, tantôt élevés, tantôt
Nguyễn Cư Trinh lập và do vua d’un sol très bas, sont dans les
Miên là Néac Tôn dâng đất Tầm environs de cette rivière. Des
Bào thuộc đất Thủy Chân Lạp villages et des bourgs sont partout
cho chúa Nguyễn vào năm đinh établis sur ces ýlots, et il arrive
sửu (1757). souvent que ces demeures sont
cachées à la vue, comme si elles
étaient masquées par quelque

548 TVTNMN

forêt. Des bassins naturels, plus Sông Lớn: đd., tên của Tiền Giang,
larges et plus profonds que le lit khúc chảy ngang Mỹ Tho, chữ
ordinaire de cette rivière, lui ont gọi Mỹ Tho Giang (PCGBCTVK
fait donner le nom qu’elle porte, in năm 1875).
Long Ho (lac du dragon). Après
avoir fait le tour de la citadelle, Sông Lũng Kỳ: đd., ở về hướng tây
le Long Ho se dirige vers le tỉnh lỵ, núi xanh làm bình phong
nord, où il se mêle aux eaux du nước bạc xen màu biếc. Buổi ban
Tiền Giang (fleuve antérieur). Il sơ ông Mạc Cửu đến đây khai thác
forme autour de la citadelle de đất hoang biến thành một giang
Vĩnh Long comme un vaste fossé san cẩm tú, chiêu tập nhơn dân
naturel Sa largeur est de 49 tams tới làm nên cơ nghiệp lớn, ngày
et sa profondeur de 11. trước có một văn nhân Trung
Quốc tặng ba chữ “Hà Tiên Quốc”
Cette rivière va en diminuant khiến có câu “hồ lô nhi tiếu”, nay
et se dirigeant vers le sud-est; lật địa đồ xưa của Aubaret để
elle finit, dans cette direction, lại, thấy vẽ địa phận Hà Tiên
par manquer d’eau et se perdre. ăn tới mé biển Bạc Liêu và đất
Sông Long Phụng: đd., thuộc tỉnh Ba Xuyên (Sóc Trăng), bỗng giựt
An Giang, tên chữ Long Phụng mình không nên cười ai (cười
Giang ở bờ phía nam của Tiền người tháng trước, tháng sau
Giang, cách phía tây đạo Đông cười mình). (NKLTĐDC, tr.100
Khẩu hơn hai dặm; rộng 10 thước, và tài liệu riêng). (Nên xem thêm
sâu 7 thước, khi nước lớn, đi tắt GĐTTC, tập 1, tr.114).
qua rạch Dầu (Du Câu), giáp đến (xem chữ “hồ lô nhi tiếu”).
sông Sa Đéc, hai bên bờ ruộng Chuyện cũ nhắc lại, tương
vườn rất là sầm uất. (GĐTTC, truyền rằng năm Ất vị (1715)
tập 1 tr.85) niên hiệu Vĩnh Thạnh nhà Lê,
nhằm đời Dũ Tông (1705-1729),
Rạch Dầu (Du Câu), Aubaret tức trong Nam đời chúa Nguyễn,
viết Diu Câu (GĐTC, tr.243). Hiếu Minh Vương, có giặc Cao
Sông Long Xuyên: đd., xem Thoại Miên vào đánh cướp Hà Tiên,
Hà. Mạc Cửu lui binh về Lũng Kỳ.
Sông Lợi: đd., Lai Giang. Đêm ấy Mạc phu nhơn Bùi Thị
sanh Mạc Tông (Mạc Thiên
Ở đông bắc huyện Phước Tích), nghe nói giữa sông chỗ
Khánh (Biên Hòa cũ), đầu nguồn thuyền đậu, hào quang chiếu
từ xã Bửu Chánh, chảy xuống Thệ rực; thấy có một hình nhơn bằng
Khê và chảy về đông đến sông vàng 7 thước, sáng ngày truyền
Xích Ram. Có nhiều thác đá, ghe quân sĩ đưa lên bờ, nhưng cả
thuyền không qua lại được. (Thệ ngàn quân mà chẳng đưa đi
Khê là khe để thề, vì dân ở đây có được tới đâu, sau phải để tượng
tục lệ có điều gì không biện minh bên bờ sông rồi xây chùa phụng
được thì đưa nhau đến đầu khe tự tại chỗ.
mà thề và thường có linh ứng).

VƯƠNG HỒNG SỂN 549

Mạc Thiên Tích sau này làm Cambodge, Neac Ong Tham, alla
nên công nghiệp lớn, chức phong demander des soldats à Siam
tổng binh trấn ngự Hà Tiên, tuy pour reconquérir son royaume.
không phải chức lớn, nhưng ông Le général siamois marcha sur
tài kiêm văn võ, mười bài Hà Hà Tiên et défit Mạc Cửu, qui fut
Tiên thập cảnh, đủ làm tao đàn obligé de s’enfuir à Long Ki.
nguyên soái để tiếng nhắc đời,
võ lực đủ làm trọng tài xử trí với Le roi Neac Ong Tham entra
vua Cao Miên để đem lại cho chúa alors à Hà Tiên, qu’il livra au
Nguyễn một vùng giang san “từ pillage. Au 4è mois, pendant
Péam đến Srè Ambel”, mở địa đồ l’été, l’armée de Mạc Cửu rentra
ngày nay Aubaret in năm 1863, à Hà Tiên. C’est parce qu’aucun
địa phận tỉnh Hà Tiên rộng lớn préparatif n’était fait dans la
ăn từ ranh giới Cao Miên, từ rạch citadelle que les Siamois avaient
Giang Thành chạy tới tận mũi pu ainsi s’en emparer et que
Cà Mau, ăn qua Vàm Tấn (Péam Mạc Cửu, s’était vu contraint de
Senn) và Ba Thắc (Sóc Trăng), vả fuir avec son armée. Les femme
lại sở dĩ tùng phục chúa Nguyễn de Mạc Cửu, nommée Lâm (née
ngoài Huế là để làm thế thần xỉ, à Đồng Môn, province de Biên
kỳ trung hiện ngang một trấn xa Hòa), était enceinte; et, pendant
xăm, cầm mạng sống trăm dân và la 7è nuit du 3è mois, elle mit
làm cho dân được cảnh vỗ bụng âu au monde le petit Tôn. Pendant
ca, bờ cõi so sánh lớn hơn Thụy Sĩ, cette nuit, étant dans sa barque,
lớn hơn Monaco, há chẳng xưng au milieu de la rivière Long Ki
“Hà Tiên Quốc” được sao? comme elle regardait autour d’elle
Sông Lũng Kỳ: đd., ở Hà Tiên. Bản à la clarté des étoiles, elle aperçut
Pháp văn của Aubaret, tr.281: un poussah (idole de la Chine)
en or, long de 7 pieds. Cette idole
“La rivière Long Ki, située resplendissait au fond de l’eau, où
dans l’ouest de la citadelle, est elle était couchée. Le lendemain,
abritée par une longue montagne. on voulut faire repêcher l’idole;
Lorsque Mac Cưu vint, dans mais mille soldats des plus forts
le principe, s’installer comme ne purent la porter qu’à une très
mandarin du Cambodge, il trouva petite distance. On bâtit alors
ce lieu désert; mais il ne tarda une pagode sur le bord du fleuve,
pas à prendre des dispositions pour l’y placer.
telles qu’il s’y éleva un marché
autour duquel vinrent se grouper Un mois après, Mạc Cửu,
des Annamites, des Chinois, des étant rentré à Hà Tiên avec
Cambodgiens et des Malais. son fils, s’occupa d’élever des
fortifications solides pour
L’an ât vi, 25è année de défendre la citadelle, qu’il mit
Hiên Tôn (1715) (1), au 2è entièrement en état. Il établit
mois du printemps, le roi du aussi différents postes sur les
ports et rivières.

550 TVTNMN

Cependant le petit Tôn, étant mất lọt xuống sông lớn không còn
encore fort jeune, donnait chaque thấy nữa, và đất phù sa ấy thường
jour les preuves d’une intelligence đi bồi chỗ khác, và dân trong Nam
extraordinaire; il lui suffisait de có câu: “Đất bồi thì ở, đất lở thì
prendre un livre pour le lire et le đi”, có ý nói đất đang bồi là quí
comprendre. Cette intelligence địa, đất đang lở là đất suy sụp,
lui fut évidemment accordée par không nên ở nữa.
l’intercession du poussah.
Làng Mỹ An Hưng đất gò có
Les annales du Cambodge nhiều màu mỡ, đúng với danh là
disent que, l’an ki sửu (1709), le “đất sét” thổ nghi là bí ngô bắp
roi cambodgien Thâm remonta khoai đậu thuốc lá, ruộng vườn
sur le trône et qu’il y tyrannisa đều tốt, cam quít ngọt có tiếng.
grandement le peuple. Mais Sông Mỹ Lồng: đd., tên sông NV;
les habitants de Ba di sac lao Mỹ Lồng Giang (PCGBCTVK).
ne voulant pas se soumettre
à son autorité, se réunirent Cơ Me: prêk mi lôn (di cảo
au commandant de Rach Tra TVK trong Le Cisbassac).
xiti et retournèrent se mettre
sous l’obéissance du frère ainé Ở về hướng đông sông Hàm
de Thâm, nommé Yêm. De son Luông, vào trong sông đi về hướng
côté le grand mandarin Con đông ba dặm, bờ hướng bắc thì
But se retira dans les forêts. gặp Chợ Bến Tre (Trúc Tân Thị),
Les Cambodgiens en grand còn chợ ở bờ hướng nam là chợ
nombre se réfugièrent du côté Mỹ Lồng. Đi về đông năm dặm là
de Gia Đinh. vàm sông Phước Thành, tên nôm
là Cái Sẻ, hướng nam thì chảy
1) Dynastie des Lê; Diu Tôn, xuống cửa biển Ba Lai. Vùng này
llè année; dynastie des Tsing, buôn bán tụ hội đông, vườn cau
Khang Hi 54è année (1715). cây đứng rậm rạp, quả lớn nên có
Sông Mỹ An: đd., tục danh khác là danh là cau Mỹ Lồng.
Đất Sét; Mỹ An Giang.
GĐTTC, tập 1, tr.78, viết
Ở làng nay gọi là Mỹ An Mỹ Lung thay vì Mỹ Lồng và
Hưng, có lẽ sáp nhập với một viết Phước Trạnh thay vì Phước
làng có chữ “Hưng” nên nay tên Thạnh là dốt tiếng nói trong
gọi làm vậy, còn tục danh Đất Sét Nam. (Tuy chữ viết Mỹ Long,
vẫn còn y. nhưng phải đọc Mỹ Lồng mới
đúng giọng người bản xứ).
Sông ở về bờ phía nam của
Tiền Giang. Ngay vàm có đất cát Theo Aubaret, tr.234, sông
của một cù lao tên gọi Tiền Phù cách Vĩnh Long về hướng đông
(Nổi Trước) án hộ. Cách hướng 130 dặm rưỡi, bề ngang 18 tằm
tây đạo Đông Khẩu 56 dặm. Về và sâu 11 thước “pieds”.
hướng nam đi nữa thì vào ngọn
cùng. Nay cù lao Tiền Phù đã lở Dịch từ chữ. - Srok Mi lôn:
xứ của nàng tên Lôn. (Cũng như
Srok Mi Sa là xứ của nàng có nước
da thật trắng (sa là trắng).


Click to View FlipBook Version