The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.

Thuyền Nhân Ấn Tích Lịch Sử
Dương Thành Lợi

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2022-10-09 00:59:34

Thuyền Nhân Ấn Tích Lịch Sử Dương Thành Lợi

Thuyền Nhân Ấn Tích Lịch Sử
Dương Thành Lợi

thuyền nhân:

ấn tích lịch sử

dương thành lợi

Tác giả nguyên là thuyền nhân, 14 tuổi, đang diễn
tả cho nhân viên cứu vớt về kinh nghiệm ghe tị nạn
bị hải tặc tấn công ở vịnh Thái Lan. Ðịnh cư tại Gia

Nã Ðại vào đầu năm 1980, trong khi hoàn tất cao
học thương mại và pháp luật, DTL thành lập Tổng
Hội Sinh Viên Việt Nam tỉnh bang Ontario và tổ chức
nhiều sinh họat cho giới trẻ như trại hè và các
chương trình cứu trợ tị nạn như Boat People S.O.S.
Day. Sau thời gian làm việc cho chính quyền liên
bang, tỉng bang và hai đại doanh nghiệp trong nhiều
trách vụ từ Chuyên Gia Dự Phóng Kinh Tế và Kế
Hoặch Tài Chánh đến Biện Lý Bộ Tư Pháp, DT từ
nhiệm đê trở thành luật sư biện hộ. Vài tài liệu

nghiên cứu của DTL đã được xuất bản như
International Trade and Developing Nations, Triết Lý
Quốc Trị Ðông Phương, Triết Lý Quốc Trị Tây
Phương.

Mục Lục

I Nguyên Nhân Ly Hương
Chính Sách Trục Xuất Nhân Dân của Hà Nội
Nguyên Nhân Ly Hương của Thuyền Nhân
II Hải Trình Thảm Khốc
Khó Khăn Sơ Khởi
Ghe Kém An Toàn, Tài Công
Thiếu Kinh Nghiệm
và Hoạn Nạn trên Biển Cả
Thảm Trạng Nhân Tạo: Hải Tặc
Dã Man
Thảm Kịch Hải Tặc Bắt Cóc
và Nô Lệ Hóa Thuyền Nhân
Ðời Sống Trong Trại Tị Nạn
Ðồng Bào Tị Nạn Miền Bắc
Bộ Nhân Việt Nam

III Phản Ứng của Thế Giới
Phản Ứng Ban Ðầu của Cộng Ðồng Quốc Tế
Kế Hoạch Buôn Dân của Hà Nội
Các Kiện Hàng Người Khổng Lồ
Hậu Quả Di Hại
của Kế Hoạch Buôn Lậu Lương Dân
Hội Nghị Quốc Tế về Tị Nạn Ðông Dương I
Phong Trào Quốc Tế
Cứu Trợ Thuyền Nhân Vĩ Ðại
Những Hình Ảnh Khó Quên

IV Tấn Thối Lưỡng Nan
Ðịnh Nghĩa Phức Tạp về Tư Cách Tị Nạn
Du Trình của Các Nạn Nhân Bị Trù Ém
Hội Nghị Quốc Tế về Tị Nạn Ðông Dương II
Diễn Tiến Chương Trình
Hành Ðộng Toàn Diện
i. Thanh Lọc Bất Công
ii. Thảm Cảnh Cưỡng Bách Hồi Hương
iii. Nỗi Lo Sợ của Các Nạn Nhân
Phản Ứng của Cộng Ðồng Việt Nam
Hải Ngoại
V Hội Nhập Hiển Vinh
Thử Thách Khó Khăn
Thành Tựu Khả Kính

Cá Nhân Thành Ðạt
Cộng Ðồng Thăng Tiến
VI Viễn Ảnh Minh Thịnh
Văn Kiện
Tài Liệu Tham Khảo

'Người Việt tị nạn không có ý định làm lịch sử nhưng du trình kinh hoàng, khác vọng tự do không
mòn mỏi, nỗ lực phấn đấu vượt qua vô vàn thử thách khó khăn và sự thành công hiển vinh của

khối đồng bào hải ngoại đã ghi khắc nhiều ấn tích sâu đậm trên lịch sử nhân loại.'

Du Trình Lịch Sử Thăng Trầm
và Hy Vọng của Người Việt Hải Ngoại

Nguyện vọng của một khối người - đặc biệt là một khối người đã trải qua nhiều thăng
trầm như cộng đồng Việt Nam hải ngoại - được thể hiện qua du trình lịch sử và thực
trạng của khối người đó. Tài liệu Thuyền N hân : Ấn Tích Lịch Sử là một cố gắng nhỏ
gần hai thập niên chủ ý tìm hiểu nguyện vọng của người Việt tị nạn qua nỗ lực thâu trữ
phân tích các dữ kiện và chính sách quốc tế liên quan đến du trình lịch sử của thuyền
nhân Việt Nam cũng như nghiên cứu sinh hoạt cộng đồng hải ngoại, thử thách khó khăn
và sự thành công khả kính của khối người tị nạn, đặc biệt là thế hệ trẻ, suốt một phần
tư thế kỷ vừa qua. Thuyền N hân : Ấn Tích Lịch Sử phản ảnh tâm nguyện khảo cứu toàn
diện dấu vết lịch sử và các thử thách hiện tại của đồng bào tị nạn cũng như giải quyết
mối lo âu của người viết là hải trình kinh hoàng của người Việt tự do có thể bị khối dữ
kiện khổng lồ của tân thế kỷ dìm chết vào ký ức cá nhân.

5000 năm lịch sử Việt Nam chưa từng chứng kiến thảm cảnh chính quyền xua đuổi nhân
dân ra khỏi biên thùy quốc gia cho đến khi chủ nghĩa cộng sản khống chế hoàn toàn đất
nước. Tổ tiên khai thiên lập quốc có lẽ không tưởng tượng nổi là dân tộc Việt Nam phải
đương đầu với một cơ chế bất nhân như nhà nước Mác-xít nhẫn tâm tống xuất công
dân ra khỏi đất nước chỉ vì nhu cầu phục vụ một chính thuyết ngoại lai. Du trình tị nạn
của ng ười Việt hải ngoại là: (i) một thảm trạng đến từ sự phản kháng chính sách đàn
áp ý thức hệ và chủ trương tống xuất buôn lậu lương dân của nhà nước cộng sản, một
chủ trương chưa bao giờ xảy ra suốt chiều dài lịch sử Việt Nam; (ii) một hải trình kinh
hoàng khiến nhiều chính quyền và quan sát viên quốc tế phải sử dụng danh từ hỏa lò
sát nhân Châu Á (Asian holocaust) để mô tả tương tự kinh nghiệm hãi hùng của dân tộc
Do Thái vào thời Ðệ Nhị Thế Chiến; (iii) một chặng đường vượt biển khủng khiếp bắt
buộc cả hai thế giới cộng sản và tự do phải nhóm họp để cùng giải quyết cơn khủng
hoảng nhân đạo này tại hai hội nghị tị nạn vĩ đại nhất nhì lịch sử nhân loại; (iv) một hậu
quả bất khả lường đến từ sách lược sai lầm lớn nhất của đảng Cộng Sản Việt Nam từ

ngày khai sinh đảng vì đã lưu đày một lực lượng người Việt tự do đáng kể* ra hải ngoại
để sau đó họ hồi phục và đối kháng hữu hiệu với các kế hoạch áp bức của chế độ Hà
Nội; và (v) một bước ngoặc lịch sử của dân tộc Việt Nam qua sự hình thành cộng đồng
tị nạn hải ngoại với một lực lượng nhân tố trên 2 triệu người linh mẫn được trang bị
nhiều khả năng chuyên môn quý báu cùng một tiềm năng thu nhập không dưới 30 tỷ
Mỹ kim hàng năm đang phát triển ảnh hưởng toàn thế giới và trợ lực cho trào lưu dân
chủ hoá đất nước.

Ðức Khổng Tử giảng huấn là nếu thành phần lãnh đạo quốc gia có tà ý, ban hành chính
sách hà khắc, không biết thương dân thì đất nước tất loạn. Dân chúng sẽ xa lìa quốc gia
nếu điều kiện cho phép để chạy trốn sách lược quốc trị hà khắc. Sách Lễ Ký ở phiên Ðàn
Cung Hạ ll có ghi là khi thầy trò Khổng Tử đi ngang qua núi Thái Sơn thì gặp một phụ
nữ đang khóc lóc thảm thiết bên mộ con. Họ đến hỏi lý do tại sao bà ta khóc thì được
cho biết là bà khóc cho con, chồng và nhạc phụ đã bị cọp núi Thái Sơn bắt ăn thịt.
Khổng Tử bèn hỏi tại sao gia đình không dọn đi nơi khác thì được bà thố lộ là gia đình
của bà phải trốn về nơi rừng thiêng nước độc để mưu sinh bởi vì: 'Ở đây không có hà
chính' (hà chính: sách lược quốc trị hà khắc). Khổng Tử bèn quay sang học trò và dạy:
'Hà chính mãnh ư hổ giã' (sách lược quốc trị hà khắc còn ghê gớm hơn cọp). Minh ý xa
xưa của Khổng Tử có lẽ không quá sai với thực trạng của dân tộc Việt Nam hơn hai
ngàn năm sau.

Cuộc vạn hải lý tầm tự do đầy những tấn bi kịch thê thảm cũng như nhiều thành tựu
vinh quang của thuyền nhân đã trở thành huyền thoại lịch sử. Ðịnh giá tự do mà khối
người Việt tị nạn tại hải ngoại phải trả trong một phần tư thế kỷ vừa qua quá đắt đỏ.
Người viết hy vọng là qua tài liệu nghiên cứu Thuyền N hân : Ấn Tích Lịch Sử, người
Việt tị nạn tại hải ngoại có thể nhận diện quá khứ lịch sử của chính bản thân hay thân
nhân trong gia đình cũng như ôn lại một chặng đường lịch sử gian nan đáng ghi nhớ
song song có thể truyền đạt lại cho thế hệ con cháu các kinh nghiệm quý báu.

Trước đây một số sách báo đã được viết về thuyền nhân nhưng thường nhập khối tị nạn
Việt Nam với các biệt điểm đặc thù vào khối tị nạn Ðông Dương bao gồm cả người Lào
và Cam Bốt cho nên không thể phân tích một cách chi tiết về hải trình đầy gian truân
thảm khốc cũng như các thành công hiển vinh của thuyền nhân Việt Nam; song song,
các tài liệu này thường chỉ chú trọng vào giai đoạn 1978-81 hoặc chỉ bàn về một khía
cạnh mang tính cách nhất thời như chính sách trại cấm, chương trình cưỡng bách hồi
hương cho nên không thể đưa ra một tầm nhìn bao quát về du trình lịch sử của thuyền
nhân Việt Nam.

Thuyền Nhân: Ấn Tích Lịch Sử thu thập văn kiện, thẩm định và phân tích toàn diện
trường niên thăng trầm nhưng đầy hy vọng của người Việt tị nạn. Tuy tài liệu Thuyền
Nhân: Ấn Tích Lịch Sử cố gắng trình bày tất cả dữ kiện liên quan đến du trình thuyền
nhân, nhưng tập hồ sơ nghiên cứu này không phải và không thể là một bộ sử hoàn bị
bởi vì cuốn sách nhỏ này khó có thể trình bày một cách chi tiết kho tàng sử liệu khổng
lồ về thuyền nhân trải dài toàn cầu và tình hình hiện tại không cho phép một học giả
cẩn trọng có thể tự do thâu thập dữ kiện tại quốc nội cũng như phỏng vấn các nạn nhân
vượt biên thất bại bị kẹt lại ở Việt Nam, và nếu thiếu lời khai của những nhân chứng
sống này thì bộ sử liệu khó có thể bạch hóa nỗi trầm luân của họ cũng như khổ cảnh
của những đồng bào bị Hà Nội xử tử hay đàn áp vì ý định vượt biên tầm tự do mà

không qua mạng lưới buôn lậu lương dân của đảng Cộng Sản Việt Nam.

Nguyên bản của tài liệu nghiên cứu này được phóng tác bằng Anh ngữ dựa trên các văn
kiện do người viết thâu trữ hơn một thập niên vừa qua từ khi đọc bài '50 Vietnamese
boat people killed by pirates, UN aide says' trên báo Boston Globe vào ngày 26-12-1985
trong thời gian nghỉ Tết với thân phụ ở Boston, Hoa Kỳ. Tuy vậy, tác trương Việt ngữ
không phải là bản dịch rập khuôn của tài liệu Anh ngữ bởi vì được người viết cân nhắc
thêm vào nhiều dữ kiện thực tế khác mà chỉ người Việt với kinh nghiệm đặc thù có thể
thấu hiểu mặc dầu cơ quan truyền thông quốc tế không hề đề cập hay bàn luận đến.

Thuyền Nhân: Ấn Tích Lịch Sử không thể hoàn tất kịp thời hạn nếu không có sự giúp đỡ
quý báu của nhiều bằng hữu trên toàn thế giới. Người viết xin trân trọng tri ân Ký giả
Bern McDougall ở Úc Ðại Lợi, anh Nguyễn Ngọc Liêm của Hội Thanh Niên Việt Nam Tị
Nạn ở Ba Lê, bà Anne Frank - giám đốc Văn Khố Ðông Nam Á (Southeast Asian
Archives) của University of California at Irvine, nhân viên Liên Hiệp Quốc ở Thụy Sĩ, đặc
biệt là cô Anneliese Hollmann, cô Anne Kellner và Ertan Corlulu, cô Hồ H. Thanh Nguyên
ở Ottawa, cô Nicole Nga Nguyễn - cựu chủ tịch Project Ngọc, và các bạn cũ - đặc biệt là
các bằng hữu từng sinh hoạt trong phong trào thanh niên sinh viên ở Bắc Mỹ và Âu
Châu vốn đã chia xẻ nhiều gánh nặng cũng như kinh nghiệm quý báu với người viết.
Hàng cuối của đoạn này xin được dùng để sơ tạc sự đóng góp khả ái của Lý Ngọc Liễu
Anh, người bạn song hành đã trợ giúp tư ý phê bình khách quan, sáng kiến đặc sắc
cũng như những nụ cười thông cảm khi người viết dành quá nhiều thời giờ khan hiếm
của gia đình cho tài liệu nghiên cứu này bởi vì mỗi trang sách đòi hỏi ít nhất từ ba đến
năm tiếng đồng hồ đầu tư vào việc thu thập văn kiện, tham khảo, đối chiếu, thẩm định
và thực hiện.

Người Việt tị nạn không có ý định làm lịch sử nhưng du trình kinh hoàng, khác vọng tự
do không mòn mỏi, nỗ lực phấn đấu vượt qua vô vàn thử thách khó khăn và sự thành
công hiển vinh của khối đồng bào hải ngoại đã ghi khắc nhiều ấn tích sâu đậm trên lịch
sử nhân loại. Trong tương lai, cộng đồng người Việt hải ngoại có lẽ vẫn phải tiếp tục
phấn đấu để theo kịp sự tiến triển của xã hội và hoàn thành sứ mệnh trợ lực dân tộc
vốn đang gặp nguy cơ bị lịch sử bỏ rơi vì đã đi ngược lại với trào lưu phát triển của nhân
loại trong vòng một phần tư thế kỷ vừa qua.

'Có lẽ trời muốn trao cho gánh nặng,
bắt trải qua bách chiết thiên ma,
cho nên ta cố gắng gan bền,
chấp hết cả nhất sinh thập tử.'
(Nguyễn Trãi, Bình Ngô Ðại Cáo.)

Trong tân thiên niên, lịch sử chắc chắn sẽ tiếp tục ghi khắc thêm nhiều ấn tích tuyệt mỹ
của khối người tị nạn Việt Nam tại hải ngoại - những người đã dám bất kể cái chết để ra
đi trốn thoát sự đàn áp của cộng sản nhằm tìm kiếm tự do dân chủ. Nhiều nạn nhân bất
hạnh đã bị cướp của, cưỡng hiếp, bắt cóc, giết chóc và chết mất xác trên biển Ðông;
những người khác may mắn hơn đến được bến bờ tự do để xây dựng tương lai thịnh
vượng trong xã hội tự do bình đẳng do công lý quản thống. Thảm kịch tị nạn Việt
Nam chỉ có thể chấm dứt nơi đâu tự do dân chủ minh trị.

Soạn giả cẩn chí.

Nguyên nhân chính đưa đến cuộc Vạn Hải Lý Tầm Tự Do mang tầm vóc lịch sử của nhân dân
Việt Nam là chính sách công an trị của Hà Nội dã man tiêu diệt sự tự do cũng như tất cả các

phương tiện sinh kế và lý tưởng phi cộng sản.

I
Nguyên Nhân Ly Hương
'Thà chết ngoài biển còn hơn sống với cộng sản.'

Câu nói mà nhiều đồng bào ở Việt Nam thường thì thầm với nhau sau năm 1975.
Huyền thoại lịch sử minh định dân tộc Việt Nam là con cháu của Hùng Hiền Vương Lạc
Long Quân và Hoàng Hậu Âu Cơ vốn thai sinh được 100 vương tử. 'Sau khi chia 15 bộ
cho 15 con trai đầu lòng để giữ quyền trị dân ở các trọng trấn, vua Hùng Hiền Vương
một hôm nói với Âu Cơ rằng: Ta vốn là con cháu thủy thần, nàng thuộc nòi tiên, nước
lửa khắc nhau không thể kết hợp lâu dài được. Vậy xin chia tay để giữ lấy dòng giống.
Nàng nên đem 50 con lên núi, ta đem con xuống bể.'[1] Quốc Mẫu Âu Cơ theo ý ngài và
hướng dẫn 50 hoàng tử lên khai khẩn vùng rừng núi nước Việt. Hùng Hiền Vương đưa
50 hoàng tử còn lại di chuyển về hướng biển Ðông để dựng vương nghiệp Văn Lang
nhằm 'giữ lấy dòng giống;' và nền tảng lịch sử thượng cổ của Việt Nam thay đổi hoàn
toàn từ ân điển khai tạo đó. Năm ngàn năm sau, để tránh cơn hồng nạn ý thức hệ ngoại
lai, gần một triệu người Việt vượt biển Ðông thành công và sau đó định cư khắp nơi trên
thế giới; nền tảng lịch sử hiện đại của Việt Nam chuyển hóa hoàn toàn từ minh điểm
khai phóng đó.
Thuyền nhân [2] là người Việt tị nạn (i) trốn chạy sự đàn áp và chính sách tiêu diệt lối
sống cũng như tư tưởng phi-cộng-sản của chính quyền Hà Nội, và (ii) bất kể cái chết đã
dùng thuyền, bè, ghe, tàu, xuồng, phao, v.v., để vượt biên sau ngày 30-4-1975. Từ khi
chính quyền cộng sản Hà Nội áp đặt guồng máy kiểm soát trên toàn miền Nam, trong
khoảng 2 triệu người Việt cố gắng vượt thoát khỏi gộng kềm công an trị, gần 800.000
thuyền nhân đến được bến bờ tự do. Trong thành phần thất bại có một số người 'đi
chui' đã bị lừa và cuối cùng bị giam cầm, xử phạt, v.v., một số khác bị công an khu vực
hay biên phòng bắn chết trong lúc cố gắng trốn bố ráp, và rất nhiều người bị hải tặc
cướp của, hãm hiếp, giết hại, hoặc bị gió to sóng lớn của biển Ðông Hải hay vịnh Thái
Lan chôn vùi dưới lòng bể.
Vấn đề tị nạn không phải là một vấn đề mới mẻ đối với dân tộc Việt Nam, một dân tộc
đối đầu triền miên với sự tàn nhẫn của chiến tranh - đặc biệt là chiến tranh ý thức hệ.
Trước khi chính quyền Sài Gòn đầu hàng vào tháng 4-1975 trong sự bàng hoàng của
nhiều người, Việt Nam có khoảng 10 triệu nạn nhân chiến tranh nhưng không ai 'vượt

biên' hay trốn chạy khỏi nước. Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống quy hương cho
nên không ưa thích thảm cảnh xa xứ với bất cứ lý do nào.

'Con người có Tổ, có Tông,
Cái cây có cội, con sông có nguồn.'

'Nhà quê có họ, có hàng
Có làng, có xóm, nhỡ nhàng có nhau.'
Quê cha xứ tổ là biểu tượng cội nguồn của gia tộc, là nơi mà mồ mả cha ông an định và
cần được chăm sóc thường xuyên. Những người phải xa nhà vì nghề nghiệp hay các lý
do khác là kẻ bất hạnh và kém may mắn; vì thế cho nên việc ly hương là việc chẳng

đặng đừng mà không ai mong muốn. Ngay trong giai đoạn thuộc Pháp, việc đi phu vào
Nam hay sang Nam Vang để kiếm sống bị đánh giá như một đại nạn trong đời; và nhiều
sách báo cũng như ca dao từng than thở về nỗi khổ cực xa nhà này. 'Nam Vang lên dễ
khó về; Trai theo bạn biển, gái về tào kê.'

Làn sóng tị nạn Việt Nam trước năm 1975 chỉ xoay quanh trong biên thùy quốc gia bởi
vì người dân lúc đó còn có một khoảng trời tự do trong vòng đai bảo vệ của chính
quyền Sài Gòn để tạm cư chờ ngày trở về nguyên quán sau khi quân đội cộng sản rút

lui hoặc bị đánh bật khỏi vùng chiếm đóng. Sự sụp đổ bất ngờ của chính thể miền Nam
vào tháng 4-1975 dẫn đến các thay đổi cơ bản trong xã hội kể cả hướng đi của làn sóng
tị nạn Việt Nam. Bán đảo Ðông Dương không còn vùng đất tự do nào cho những người
tị nạn cộng sản; và vì vậy cho nên họ không có sự lựa chọn nào ngoài định hướng vượt

biên.
Sau khi khống chế toàn miền Nam, guồng máy công an trị của Hà Nội thẳng tay tiêu
diệt mọi vết tích và mầm móng tự do. Tất cả các thành phần phi cộng sản bị nghi kỵ và

đối xử như kẻ thù; hàng triệu người từ thành phần trí thức, thương nhân, dân tộc thiểu
số, quân nhân cán chính Việt Nam Cộng Hòa và gia đình của họ, v.v., trở thành tù nhân
triền kiếp của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Hàng trăm ngàn người bị

khép vào 'thành phần phản động' và bị giam cầm trong các trại tù khổng lồ được mệnh
danh là trại cải tạo. Nền kinh tế thị trường của miền Nam bị xáo trộn, giới hạn rồi tiêu
hủy bởi những vụ đánh tư sản, các trạm công an truy xét cấm giao dịch và một số chiến
dịch đổi tiền, v.v., nhằm hợp pháp hóa vai trò của đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN)

trong âm mưu cưỡng chiếm tài sản nhân dân. Chủ trương đảng trị của Hà Nội dựa trên
lý lịch ba đời hệ thống hóa sự kỳ thị của chính quyền đối với nhân dân, đặc biệt là gia
đình 'ngụy quân, ngụy quyền,' 'tư sản mại bản,' 'tư sản dân tộc,' hay 'trí thức tiểu tư

sản;' song song, tất cả những ai không dính dáng hay liên hệ đến vòng đai đảng quyền
đều bị xem là thành phần không đáng tin cậy và bị kỳ thị trực tiếp hay gián tiếp. Ðối với
những ai không còn chịu đựng nổi sự đàn áp của guồng máy công an trị để phải đi đến
sự chọn lựa giữa đời sống nô lệ ý thức hệ và nỗ lực tìm tự do trong cái chết, họ quyết

định vượt biên hay ly hương để trốn khỏi 'thiên đường cộng sản' mặc dầu phải đánh đổi
cả mạng sống.
Bị bắt buộc xa quê nhà là niềm bất hạnh, nhưng bị đàn áp xua đuổi ra khỏi quốc gia là

một thảm trạng khó có thể tưởng tượng nổi. Có nhiều động lực phức tạp liên quan đến
các lãnh vực quốc trị từ kinh tế, chính trị đến xã hội, tôn giáo đã đóng góp vào quyết
định vượt biên, nhưng nguyên nhân chính đưa đến cuộc ly hương khổng lồ của người
Việt trong một phần tư cuối của thế kỷ 20 là sự đàn áp và chính sách tiêu diệt sự tự do,

lối sống cũng như tư tưởng phi-cộng-sản của chính quyền Hà Nội. Sự nhất quyết ra đi
của thuyền nhân bất chấp cái chết chứng minh tinh thần phản kháng không chỉ chính
sách chủ nghĩa xã hội mà còn luôn cả sự dã man của guồng máy bạo lực mà Hà Nội xử

dụng để kềm chế nhân dân Việt Nam.
Chính sách trục xuất nhân dân ra khỏi quốc gia của Hà Nội

Sau ngày 30-4-1975, khi đối diện các kết quả thê thảm do chính sách ý thức hệ của Hà
Nội đem đến, một vài nhân vật ngoại quốc thiên tả lý luận hời hợt rằng mặc dầu không
có tự do nhưng người Việt được vui sống hòa bình trong một quốc gia thống nhất sau
năm 1975. Sự thật hoàn toàn trái ngược với lập luận phiến diện đó bởi vì Cộng Hòa Xã
Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là một nhà tù khủng khiếp - nơi mà thành tựu duy nhất của Hà
Nội là sự tàn phá tài nguyên quốc gia và di sản tác hại của chủ trương tiêu diệt tự do, tư
tưởng cũng như lối sống phi-cộng-sản. Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hoàn toàn
không có cảnh 'vui sống hòa bình' bởi vì người dân luôn luôn sợ hải quá khứ, lo âu cho
tương lai và nghi kỵ mọi người chung quanh. Nhân dân Việt Nam thực sự là nạn nhân
của chế độ cộng sản vốn không cho họ hưởng bất cứ quyền tự do gì ngoại trừ quyền
quy phục và hy sinh cho các cuộc viễn chinh ý thức hệ. Tất cả các quyền tự do khác
như tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do hội họp bất bạo động, v.v., đều bị Hà Nội
tước đoạt. Những ý tưởng chính trị phi-cộng-sản bị cấm đoán, và bất cứ ai lên tiếng kêu
gọi tự do dân chủ hóa guồng máy quốc trị sẽ bị tống giam trong các nhà tù cải tạo
khổng lồ.
Nhà ngoại giao Úc Bruce Grant và một nhóm ký giả đã kết luận sau khi nghiên cứu về
du trình lịch sử của thuyền nhân vào cuối năm 1979:[3] 'Trong nhóm người Việt Nam,
nguyên nhân ly hương vì duyên cớ chính trị rất rõ ràng .. Tuổi của người tị nạn từ miền
Nam .. đa số dưới 35. Có rất nhiều phụ nữ và trẻ em. Một số thanh niên bảo rằng họ ly
hương để tránh khỏi bị bắt đi bộ đội. Một số người bảo rằng họ là nạn nhân của sự đàn
áp và áp bức chính trị; những người khác bảo rằng họ sợ sự ngược đãi tương tự. Sự sợ
hãi những gì có thể xảy ra là một động lực mạnh đôi khi dẫn đến một vài hoàn cảnh
quái dị.. Cảm giác xa cách với tân chính quyền cộng sản và cảm giác liên hệ gần gũi với
chính quyền cũ xảy ra rất thường, và nhiều lần bị lẫn lộn với động lực kinh tế: niềm tin
là đời sống của họ và con cháu rất ảm đạm. Sự sợ hãi phải 'đi cải tạo' hay phải 'đi kinh
tế mới' cũng rất minh bạch.'[4] Trong một bản tường trình vào tháng 3-1979, văn
phòng Phối Trí Viên Tác Vụ Tị Nạn Hoa Kỳ xác định rằng[5] 'đại đa số (thuyền nhân)
đến bây giờ ra đi không phải do liên hệ trực tiếp với Hoa Kỳ, nhưng bởi vì họ muốn trốn
chạy khỏi sự tàn phá của chiến tranh triền miên cũng như sự đàn áp và ngược đãi đến
từ nỗ lực thay đổi xã hội..' của tân chính quyền cộng sản.[6]
Dĩ nhiên là để bào chữa cho chính sách áp chế ý thức hệ tàn nhẫn, Hà Nội phải miệt thị
thuyền nhân là những kẻ phản động không chịu đựng nổi các khó khăn kinh tế. Thay vì
chấp nhận trách nhiệm bảo vệ và phát triển sự phúc lợi và công quyền của nhân dân,
chính quyền cộng sản lại chọn lựa phương pháp phỉ báng thuyền nhân để ngụy biện cho
guồng máy công an trị. Vào năm 1979 trong lúc trào lưu vượt biên lên cao nhất, bản tin
Anh ngữ Vietnam Courier của Hà Nội trình làng một bài viết có đoạn hạ nhục khối người
Việt tị nạn hải ngoại như sau:[7]
'Ðại đa số rời Việt Nam vì lý do kinh tế, không thể chịu đựng sự thiếu thốn và thất bại
trong việc tìm kiếm một nghề nghiệp thích hợp..
Một số là cựu tội phạm chiến tranh, hay là thành viên của hệ thống phản cách mạng
cảm thấy sắp bị phát hiện. Về trường hợp của thành phần trí thức, một vài nguyên nhân
tồn tại hỗn hợp tùy mức độ. (Nhưng) Tất cả đều phải đối đầu với sự giảm sút tiêu
chuẩn đời sống đáng kể.. Sự khó khăn (mà họ) cảm nhận để thích hợp với các giới hạn
của một xã hội cách mạng.'[8]

Hà Nội còn vu khống là một số đồng bào ra đi vì sự khuyến khích của 'các động lực đế
quốc và phản cách mạng' ở Bắc Kinh và Hoa Thịnh Ðốn.[9] Một thời Hà Nội từng tố cáo
là Bắc Kinh đem bỏ 100.000 công dân Trung Hoa trong hải phận Việt Nam để họ giả
làm người tị nạn. Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch quả quyết rằng: 'Nhiều
thuyền nhân tại các nước thuộc ASEAN sự thật đến từ Ðại Lục. Khoảng hơn 100.000. Họ
(Bắc Kinh) rất khôn ngoan. Chúng tôi đã chận bắt một số tàu từ Ðại Lục di chuyển về
hướng Ðông Nam Á.. nhiều người không nhận ra được việc này bởi vì người Hoa từ Ðại
Lục giống như (những người Hoa) từ Việt Nam.'[10] Trong một lá thư gởi cho 'bằng hữu
Tây phương,' giới trí thức của Hà Nội đã phỉ báng các thuyền nhân trốn khỏi chế độ xã

hội chủ nghĩa; lá thư đó vô ý làm lộ ra sự thật là 'sự lạm quyền, lỗi lầm, vụng về thỉnh
thoảng' xảy ra nhưng ngụy biện là các tệ nạn như vậy là 'những thay đổi cần thiết.'
Mặc dầu bề ngoài thì chính quyền CHXHCNVN cố gắng núp sau các lý luận mang ác ý
phỉ báng kể trên nhưng trong những cuộc họp mặt riêng với các phái đoàn quốc tế,

quan chức Hà Nội hé lộ một chính sách thực tế hoàn toàn có tính cách chiến lược để đối
đầu với nhân dân miền Nam: chính sách tống xuất khoảng hai đến ba triệu dân ra khỏi
biên thùy quốc gia để đảng Cộng Sản có thể dễ dàng thực hiện các chương trình ý thức

hệ nhằm Mát-xít hóa toàn quốc.
Vào tháng 12-1978, một nhà ngoại giao của Hà Nội thố lộ là đồng bào miền Nam đã
quen thuộc với đời sống tự do chính trị và kinh tế; và sau năm 1975, chính quyền cộng
sản không thể thay đổi đường lối suy tư của họ và vì vậy cho nên mong là họ bỏ nước

ra đi để tân chính phủ có thể bình định tình hình chính trị tại miền Nam.[11] Vào tháng
6-1979, Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch phát biểu là đa số dân tị nạn 'vốn
người ở miền Nam, đặc biệt ra đi từ thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn). Vào năm 1975,
chúng tôi (đảng Cộng Sản Việt Nam) ngăn cấm không cho họ ra đi. Chúng tôi bị phương
Tây chỉ trích. Chúng tôi đã nghĩ lại. Chúng tôi quyết định cho họ quyền tự do ra đi. Bây
giờ (phương Tây) lại nói là chúng tôi xuất cảng dân tị nạn...'[12]
Trong hội nghị quốc tế về tị nạn Ðông Dương vào tháng 7-1979, Thứ Trưởng Ngoại
Giao Phan Hiền đã cho phái đoàn Thụy Ðiển biết dự đoán của Hà Nội là khoảng 3 triệu
người có thể phải rời khỏi guồng máy xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vào tháng 8-1979,
trong cuộc phỏng vấn với ký giả của United Press International, Bộ Trưởng Ngoại Giao

Nguyễn Cơ Thạch phỏng định số người phải ra đi 'tùy theo tình hình chính trị' tương tự
như lượng định của Phan Hiền.[13] Cũng vào tháng đó trong buổi nói chuyện với Daniel
K. Akaka, một thành viên thuộc phái đoàn Hạ Viện Hoa Kỳ do Dân Biểu Benjamin

Rosenthal dẫn đầu viếng thăm Hà Nội 2 ngày, Nguyễn Cơ Thạch cho biết là khoảng 2
triệu người Việt có thể phải gia nhập làn sóng vượt biên. Trước thực trạng là khoảng
1.6 đến 2 triệu người đã cố gắng vượt thoát sự đàn áp của cộng sản, khoảng
800.000 thuyền nhân đến được bến bờ tự do, từ 80.000 đến 200.000 nạn

nhân mất mạng trên đường vượt biên, và hơn 1 triệu thân nhân được khối
người tị nạn hải ngoại bảo lãnh cùng số đồng bào ra đi theo diện ODP, chính
sách trục xuất khoảng 2 đến 3 triệu người Việt bao gồm nhiều thành phần ra

khỏi nước của Hà Nội hình như đã đạt được. [14]
Bộ Trưởng Ngoại Giao Phi Luật Tân là Carlos Romulo đã so sánh chính sách trục xuất
nhân dân của đảng Cộng Sản Việt Nam tương tự như chính sách cô lập hóa và hoả thiêu
dân Do Thái của Ðức Quốc Xã.[15] Bộ Trưởng Ngoại Giao Tân Gia Ba Sinnathamby
Rajaratnam phát biểu rằng kế hoạch buôn người bất nhân của Hà Nội là 'phương pháp
của một thằng nghèo sử dụng biển cả thay vì tù ga (để giết người).'[16] Nếu sự ra đi
của thuyền nhân chỉ vì 'lý do kinh tế' như Hà Nội miệt thị, bất cứ ai cũng có thể kết luận
một cách an toàn là những người tị nạn sau khi định cư sẽ chỉ chú trọng đến vấn đề

sinh kế và nhanh chóng quên đi tình hình chính trị tại Việt Nam. Tuy nhiên, thực tế hoàn
toàn trái ngược với lối suy đoán dựa theo lập luận của Hà Nội bởi vì thuyền nhân (i)

tiếp tục trình bày với cộng đồng thế giới nỗi ưu tư của họ đối với tệ nạn vi
phạm nhân quyền ở Việt Nam, và (ii) trung thành bảo vệ cũng như thường
xuyên minh dương lá cờ vàng trong các cuộc hội họp như một biểu tượng cho
khát vọng tự do của họ.[17]

Bên ngoài vòng đai kiểm soát của chính quyền cộng sản Việt Nam không có một nơi nào
là đất lành cho các phái đoàn của Hà Nội hoạt động. Cộng đồng thuyền nhân tích cực tổ
chức nhiều cuộc biểu tình triền miên để lên án chính sách áp chế của đảng CSVN. Ðiển

hình là khi 65 quốc gia nhóm họp tại Geneva vào ngày 20-7-1979 để tìm một giải pháp
cho đại nạn thuyền nhân, cộng đồng tị nạn Việt Nam đã tạo được một tiếng vang trong
cuộc biểu dương chính nghĩa quốc gia khiến phái đoàn Hà Nội do Thứ Trưởng Ngoại
Giao Phan Hiền dẫn đầu trở nên lúng túng. Một biểu ngữ do hai thanh niên Việt Nam

dương cao bằng tiếng Pháp xác định 'TOUT LE PEUPLE VIETNAMIEN CONTRE LA
CLIQUE DE HANOI' (Toàn thể nhân dân Việt Nam chống lại bè lũ Hà Nội). Phái đoàn
cộng sản tức tối phải yêu cầu cảnh sát địa phương năn nỉ những người tị nạn đang biểu

tình đừng trưng biểu ngữ đó lên và đe dọa là sẽ không tham dự hội nghị quốc tế nếu
phải đi vào hội trường khi tấm biểu ngữ này được dương cao trước hàng trăm ống kính
quốc tế. Mười bảy năm sau, một vụ phản đối tương tự cũng đã xảy ra ở Gia Nã Ðại khi
cộng đồng tị nạn Việt Nam dựng tượng 'Bà mẹ và đứa con tị nạn' tại thủ đô Ottawa vào

ngày 22-8-1996 để 'tưởng niệm những đồng bào đã mất mạng trên đường đi tìm tự do.'
Sứ quán Hà Nội yêu cầu chính quyền bản xứ ra lệnh cấm cản việc dựng tượng và đe
dọa là nó sẽ tạo ra ảnh hưởng xấu cho quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia, nhưng

Ottawa từ chối bởi vì là Gia Nã Ðại là một đất nước dân chủ cho nên quyền tự do ngôn
luận của công dân phải được bảo vệ tuyệt đối.
Trên toàn thế giới, bất cứ nơi nào lá cờ vàng tự do hiện hữu,[18] tất cả các hoạt động

thiên Hà Nội đều bị giới hạn hay phản đối. Một trường hợp điển hình liên quan đến sự
thành công của cộng đồng tị nạn Việt Nam trong nỗ lực kêu gọi sự quan tâm của thế
giới đối với âm mưu của Hà Nội dự định hành quyết hai vị lãnh tụ Phật giáo quan trọng
là Thượng Tọa Tuệ Sĩ và Thượng Tọa Trí Siêu bởi vì quan điểm phi Mác-xít của họ.

Chính quyền cộng sản Việt Nam phải chịu thua sự phản đối đồng loạt của cộng đồng
quốc tế và giảm bản án của hai thầy từ tử hình xuống tù chung thân để rồi cuối cùng
phóng thích hai thầy vào năm 1998.

Trong một trường hợp cụ thể khác, vào giữa tháng 1-1999, một tiểu thương gia tên
Trần Văn Trường treo cờ cộng sản và hình Hồ Chí Minh trong tiệm thuê phim Hitek của
hắn tại khu Little Saigon ở Quận Cam, California. Theo tài liệu do một cộng sự viên của
Trường - ông Hoàng Ngọc Sơn - cung cấp, ông chủ Hitek được lãnh sự quán của Hà Nội

ở San Franscio hứa cho nửa triệu Mỹ kim để làm việc này.[19] Khi cộng đồng Việt Nam
yêu cầu hắn tháo gỡ các biểu tượng phỉ bán chính nghĩa quốc gia, Trần Văn Trường vốn
từng tự xưng là thượng đế không những từ chối mà còn thách thức phản ứng của cộng

đồng. Chủ trương khiêu khích thiên Hà Nội của Trường dẫn đến các cuộc biểu tình hàng
ngày trong khu vực tiệm thuê phim của hắn. Chiến dịch xuống đường chống Trần Văn
Trường treo cờ cộng sản và hình Hồ đôi khi thu hút sự hưởng ứng của vài chục ngàn
đồng bào tị nạn với một đặc điểm là thành phần thanh niên chiếm tỷ lệ rất cao trong

đoàn người biểu tình. Bất cứ ai quan sát phản ứng của cộng đồng tị nạn Việt Nam đối
với hiện tượng Trần Văn Trường thiên Hà Nội đều phải ngạc nhiên khi thấy cứ 4 đồng
bào tại khu Little Saigon thì có một người đã xin nghỉ làm hay gác việc nhà để trực tiếp

tham dự cuộc biểu tình, và những người không thể tham dự hay ở xa đã gọi vào các đài

truyền thông Việt ngữ để bày tỏ quan điểm quốc gia cũng như phản đối hành động thân
cộng của chủ tiệm HiTek.[20]

Vào ngày 26-1-1999, Bộ Ngoại Giao Hà Nội đã chỉ trích nỗ lực dập tắt hiện tượng Trần
Văn Trường thiên cộng sản của cộng đồng người Việt hải ngoại. Hà Nội tự dưng lại quan
tâm đến vấn đề nhân quyền khi lên án hành động của cộng đồng tị nạn Việt Nam như
'một sự vi phạm nhân quyền thô bạo':[21]
'Phản ứng hung bạo của những kẻ cực đoan đối với Trần Văn Trường là một sự vi phạm
nhân quyền thô bạo.. Các phản ứng vi phạm nhân quyền của người Việt hải ngoại tuyệt
đối không mang lại lợi ích gì cho tiến trình phát triển quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.
Hành vi này cần phải được tố cáo và bác bỏ bởi hai nước và cộng đồng thế giới.'
Hai ngày trước đó, sứ quán Hà Nội tại Hoa Thịnh Ðốn ra thông cáo 'quan tâm sâu sắc
và cực lực phản đối những hành động bạo lực chống lại ông Trần Văn Trường và đòi
rằng, quyền bày tỏ lòng tin cũng như cuộc sống của ông Trần Văn Trường phải được
bảo vệ'[22] bởi luật pháp Hoa Kỳ. Bản thông báo đó cố ý tránh đề cập đến một sự thật
khó chối bỏ: chính quyền cộng sản Việt Nam là một trong những chính thể vi phạm
nhân quyền hàng đầu trên thế giới, và Hà Nội thẳng tay đàn áp bất cứ ai dám dương

cao ngọn cờ vàng tự do để sử dụng quyền tự do ngôn luận tại Việt Nam. Vào năm 1992,
một thanh niên tên Phạm Văn Quang đã hiên ngang trưng lá cờ vàng tại Sài Gòn trước
nhiều ống kính quốc tế để kêu gọi thế giới lưu tâm đến chính sách áp chế của Hà Nội;
anh đã bị công an bắt tại chỗ, đánh đập tàn nhẫn và sau đó bị kết án 15 năm tù bởi vì

anh dám xử dụng quyền tự do ngôn luận trong một guồng máy chính trị không tôn
trọng nhân quyền.
Song song với các cuộc biểu tình triền miên, cộng đồng thuyền nhân cũng rất tích cực

trong nỗ lực chuyển về Việt Nam tin tức chính xác về sự sụp đổ của các chế độ Mát-xít
Ðông Âu. Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã và đang đầu tư vào sự ngu dốt cũng như lý
tưởng huyền hoặc nhằm có thể tiếp tục nắm giữ vai trò độc quyền chính trị, nhưng sự

hiểu biết cũng như ý thức thực tiễn sẽ khai phóng dân tộc và đem lại những thay đổi
căn bản cho quốc gia. Dựa trên quan niệm chiến lược này, cộng đồng tị nạn hải ngoại
đã tiến hành chiến dịch chuyển tin về Việt Nam qua hệ thống bưu chính cũng như điện
thư; hàng chục ngàn mẫu tin về cao trào tự do dân chủ trên toàn thế giới đã được gởi

đến các địa chỉ cá nhân cũng như công sở của chính quyền Hà Nội nhằm công khai hóa
nhiều sự thật vốn bị chế độ bưng bít vì nhu cầu độc tồn. Hệ thống mạng lưới điện toán
hoàn vũ Internet cũng được cộng đồng thuyền nhân khai thác triệt để nhằm minh danh

nguyên nhân ly hương của khối người tị nạn Việt Nam cũng như tích cực tranh đấu cho
nhân quyền của đồng bào tại quê hương. Nỗ lực tích cực của thuyền nhân nhằm lên án
các vi phạm nhân quyền của Hà Nội và sự thành công rực rỡ của họ tại các quốc gia
dân chủ sau này phản ảnh khát vọng tự do của họ vốn là nguyên nhân chính dẫn đến

cuộc vạn hải lý tầm tự do vĩ đại của người Việt trong phần tư cuối của thế kỷ 20.
Thuyền nhân (i) tiếp tục trình bày với cộng đồng thế giới nỗi ưu tư của họ đối với tệ nạn

vi phạm nhân quyền ở Việt Nam, và (ii) trung thành bảo vệ cũng như thường xuyên

minh dương lá cờ vàng trong các cuộc hội họp như một biểu tượng cho khát vọng tự do
của họ.

Cuộc biểu tình chống treo cờ CSVN và ảnh HCM ở Nam California thu hút trên 50.000 đồng bào.
(Ảnh: DTL)

Nguyên Nhân Ly Hương của Thuyền Nhân Việt Nam

Thuyền nhân âm thầm lên ghe ra khơi trong đêm tối mịt mù như tương lai của họ để
trốn khỏi vòng đai kiểm soát ý thức hệ tàn bạo đến từ chính sách đàn áp xã hội, kinh tế
và chính trị của đảng Cộng Sản Việt Nam. Nguyên nhân chính đưa đến cuộc Vạn
Hải Lý Tầm Tự Do[23] mang tầm vóc lịch sử của nhân dân Việt Nam là chính
sách công an trị của Hà Nội dã man tiêu diệt sự tự do cũng như tất cả các
phương tiện sinh kế và lý tưởng phi cộng sản.[24] Trào lưu vượt biên hàng loạt
toàn quốc vì bị đàn áp hay lo sợ bất an[25] phản ảnh ý muốn phủ nhận không chỉ
chính sách đàn áp ý thức hệ của Hà Nội mà còn luôn cả phương pháp cực đoan tàn
nhẫn do đảng CSVN sử dụng để đối phó nhân dân Việt Nam.
Ðịnh nghĩa 'người tị nạn' được xác định qua hai văn kiện Công Ước liên quan đến Tư
Cách Tị Nạn năm 1951 (1951 UN Convention relating to the Status of Refugees) và Hiệp
Ðịnh Thư liên quan đến Tư Cách Tị Nạn năm 1967 (1967 UN Protocol relating to the
Status of Refugees) như sau:
Người tị nạn '.. mang mối lo sợ có căn cứ là sẽ bị đàn áp vì lý do chủng tộc, tôn giáo,
quốc tịch, tư cách thành viên trong một tổ chức xã hội cá biệt hay vì tư ý chính trị, đang
ở ngoài quốc gia nguyên quán và không thể hoặc, vì mối lo sợ kể trên, không muốn
chấp nhận sự bảo vệ của quốc gia đó, hay là một người, không có quốc tịch và đang ở
ngoài đất nước định cư lúc trước, không thể hoặc, vì mối lo sợ kể trên, không muốn trở
về đó..'[26]
Ðịnh nghĩa này đưa ra bốn yếu tố cần phải thẩm định về tư cách tị nạn của người thỉnh
cầu sự bảo vệ của cộng đồng quốc tế: (1) người thỉnh cầu phải ở ngoài biên thùy quốc
gia nguyên quán, và (2) không thể hoặc không muốn trở về cũng như không thể hoặc
không chấp nhận sự bảo vệ của chính quyền nguyên quán (3) bởi vì mối lo sợ bị đàn áp
có căn cứ, và (4) sự đàn áp đó dựa trên 'lý do chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, tư cách
thành viên trong một tổ chức xã hội cá biệt hay vì tư ý chính trị.' Vì vậy nguyên nhân ly
hương tầm an có thể vì 'lý do chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, tư cách thành viên trong

một tổ chức xã hội cá biệt hay vì tư ý chính trị' cho nên không phải thuyền nhân vượt
biên nào cũng phải là dân tị nạn chính trị như nhiều quan sát viên hiểu lầm. Ðồng bào

trốn thoát khỏi chế độ công an trị có thể là vì sách lược ý thức hệ hay chính trị của Hà
Nội đàn áp dã man các sinh hoạt tôn giáo hay lý tưởng phi cộng sản của họ, ngược đãi
họ vì chủ trương kỳ thị lý lịch quá khứ hay chủng tộc, v.v.[27]
Một số thuyền nhân thường trả lời rằng 'Ðời sống khổ quá' khi được người ngoại quốc
hỏi về lý do rời khỏi CHXHCNVN. Người đặt câu hỏi có thể hiểu lầm rằng câu trả lời chỉ
chứa đựng yếu tố kinh tế nhưng thực chất là bao gồm nhiều khía cạnh rất phức tạp đến
từ hậu quả tác hại của chính sách đàn áp tôn giáo, chèn ép và quấy nhiễu kinh tế,

khống chế ý thức hệ, cô lập hóa và ngược đãi nạn nhân thiên tự do, v.v., của chế độ
độc tài chuyên chế Hà Nội. 'Ðời sống khổ quá' bởi vì đảng Cộng Sản Việt Nam
tích cực kỳ thị và tìm đủ mọi cách để tiêu diệt các thành phần xã hội có tư
tưởng và đường lối sinh hoạt tự do phi Mác-xít dựa trên căn bản 'tôn giáo

(Phật tử, Giáo dân, v.v.), chủng tộc (Hoa kiều, dân thiểu số, v.v.), quốc tịch,
tư cách thành viên trong một tổ chức xã hội cá biệt (trí thức, thương nhân,
v.v.) hay tư ý chính trị (gia đình ngụy quân và ngụy quyền, thành phần tranh

đấu cho tự do dân chủ, v.v.).'[28] Chính Bộ Trưởng Ngoại Giao của Hà Nội là
Nguyễn Cơ Thạch còn phải xác nhận bản chất chính trị của cuộc Vạn Hải Lý
Tầm Tự Do của thuyền nhân trong buổi nói chuyện với ký giả thuộc tổ chức
United Press International vào tháng 8-1989; Nguyễn Cơ Thạch tiết lộ là, theo dự

đoán của Hà Nội, khoảng 3 triệu người Việt Nam có thể trốn chạy khỏi CHXHCNVN 'tùy
theo tình hình chính trị' ('depending on the political situation.')[29]
Một trong các lãnh vực minh định nguyên nhân ly hương của thuyền nhân rõ ràng nhất

là lãnh vực văn hóa của cộng đồng người Việt hải ngoại. Trước khi cuộc Vạn Hải Lý Tầm
Tự Do vĩ đại xảy ra, văn chương hải ngoại có xu hướng xoay quanh các chủ đề hoài
hương và mặc cảm tủi hổ trong tự do. Quá khứ trở nên quan trọng, và đời sống tị nạn

bị đồng hóa với chuỗi ngày lưu đày tràn đầy niềm hối hận và lo lắng cho thân nhân còn
bị kẹt lại sau bức tường sắt cộng sản. Sự hiện diện của thuyền nhân tại đệ tam quốc gia
thay đổi hoàn toàn nền tảng văn chương hải ngoại. Thực tại và tương lai bắt đầu trở
thành định hướng sáng tác cho nhiều tác giả. Hậu quả di hại của chính sách cộng sản

hóa tàn nhẫn tại Việt Nam được trình bày với các kinh nghiệm thực tế sống động. Văn
chương hải ngoại chuyển hướng để đưa ra viễn ảnh lạc quan về tương lai thịnh vượng
trong một xã hội tự do bình đẳng do công lý minh trị song song với niềm cảm kích sâu

xa đối với lòng nhân đạo của nhân dân đệ tam quốc gia. Văn chương phản kháng chịu
ảnh hưởng của thuyền nhân được bảo bọc bởi viễn ảnh lạc quan về tương lai đã thay
thế văn chương tủi hận của quá khứ để hoàn thành trọng trách minh bạch hóa thực
trạng thảm khốc tại CHXHCNVN cũng như cảm tạ xã hội mới đã cung cấp cho người Việt

tị nạn nơi nương thân an toàn và tự do.
Chính nỗ lực quyết tâm vạch trần chánh sách đàn áp ý thức hệ cộng sản của cộng đồng
tị nạn Việt Nam hải ngoại đã giúp thay đổi quan điểm của nhiều thành phần phản chiến

trước đây. Ðiển hình là vào tháng 5-1979, Joan Baez và 83 bằng hữu đã cho phổ biến
'Open letter to the Socialist Republic of Vietnam' (Minh thư cho Cộng Hòa Xã Hội Chủ
Nghĩa Việt Nam) để lên án chủ trương tiêu diệt quyền làm người của chính quyền Hà
Nội: 'Hàng ngàn người Việt Nam trong đó có nhiều người chỉ vì phổ biến tiếng nói lương
tâm, đã bị bắt, giam cầm và tra tấn trong tù cũng như các trại cải tạo.. Chính quyền của
các ông tạo ra một ác mộng đau khổ che lấp sự phát triển đã đạt được trong nhiều lãnh
vực của xã hội Việt Nam.'[30]

Lịch sử nhân loại chắc chắn sẽ tiếp tục ghi nhận thêm nhiều ấn tích tuyệt mỹ của thuyền
nhân Việt Nam - những người đã dám bất kể cái chết để ra đi trốn chạy sự đàn áp của
cộng sản nhằm tìm kiếm tự do dân chủ. Nhiều nạn nhân bất hạnh đã bị cướp của,
cưỡng hiếp, bắt cóc, giết chóc và chết mất xác trên biển Ðông; những người khác may
mắn hơn đến được bến bờ tự do của đệ tam quốc gia. Thảm kịch tị nạn Việt Nam chỉ có
thể chấm dứt nơi đâu tự do và dân chủ minh trị.
_________________

1 Phạm Văn Sơn, Việt-Sử Tân Biên: Thượng cổ và Trung cổ, Quyển 1, Saigon 1954,
t.85-88.
2. Danh từ 'thuyền nhân' được dịch từ danh từ Anh ngữ 'the boat people' vốn xuất hiện
tiên trên tờ báo New York Times bởi ngòi bút của ký giả Henry Kammtrong các bài
tường thuật về người Việt Nam tị nạn cộng sản sau năm 1975. Mặc dầu thế giới cũng có
nhiều thành phần tị nạn dùng ghe, thuyền, v.v., để vượt biển tìm tự do và họ cũng từng
được gọi là 'the boat people,' nhưng dần dần danh từ 'the boat people' trở thành đặc
ngữ dành riêng cho dân Việt Nam tị nạn cộng sản trong một phần tư cuối thế kỷ 20 bởi
vì du trình đầy thử thách của họ đã ghi khắc lại nhiều ấn tích vĩ đại đầy màu sắc huyền
thoại trong lịch sử nhân loại.

3. Bruce Grant, The Boat People: An Age Investigation, Penguin Books, Middlesex,
England 1979, at p.99.
4. ‘Among the Vietnamese, a strong political motivation to leave their homeland was
often clear.. Age of the boat refugees from the south ranged widely, but most were
under thirty-five. There were many women and children. Some young men said they left
to avoid conscription. Some people said they were victims of politically inspired
harassment and persecution; others said they feared such treatment. Fear of what
might happen was a potent factor, sometimes taking grotesque forms.. A feeling of
alienation from the new communist administration and identity with the old regime was
common, often mixed with an economic motivation: a conviction that their livelihood
was bleak for themselves and for their children. Fear of ‘re-education’ or of being sent to
a ‘new economic zone’ were also pervasive.’
5. ‘World Refugee Assessment 1979,’ Office of the U.S. Coordinator for Refugee Affairs,
14 March 1979.
6. 6. (The) ‘overwhelming majority (of the boat people) arriving now are leaving not
because of past direct ties with the United States, but because they wish to escape the
ravages of continuing armed conflict as well as persecution and maltreatment stemming
from the general restructuring of society..’ (imposed by the new communist regime).
7. Cũng chính khối người Việt tị nạn bị đàn áp và phỉ bán này đã thành công vượt bực
tại hải ngoại cho nên sau đó chính quyền Hà Nội lại ve vảng kêu gọi họ trở về giúp đảng
tái xây dựng đất nước.
8. ‘The great majority have left Vietnam for economic reasons, unable to bear the
privations and having failed to find occupations to their liking..
Some are former war criminals, or are members of counter-revolutionary networks who
feel they are about to be discovered.
In the case of the intellectuals, there are various factors which combine in varying
degrees. All having experienced a serious drop in their standard of living.. The difficulty
(they) feel to adapt (themselves) to the constraints of a revolutionary society.’

9. Liên Sô đã nhanh chóng xướng họa với Hà Nội trong nổ lực bôi bẩn nguyên nhân ly
hương của thuyền nhân Việt Nam. Ðài Moscow từng mô tả thuyền nhân như 'thành

phần phản động suy bại và tội đồ' ('subversive degenerates and criminals').
10. ‘Many of the boat people in ASEAN countries were actually from China. More than
100,000. They (Beijing) are very clever. We have arrested some of ships from China
going to Southeast Asia.. many people do not realize this because the Chinese from

China are the same as from Vietnam.’
11. Document No. 2-22 entitled ‘Vietnam’s Refugee Machine,’ Department of State,
Washington, D.C. (July 20, 1979). Chính sách bình định tình hình chính trị của đảng

CSVN còn bao gồm kế hoạch thuyên chuyển 10 triệu nhân dân miền Bắc vào Nam nhằm
phân tán tư tưởng thiên tự do của 25 triệu đồng bào từng sống trong chế độ Việt Nam
Cộng Hòa. Song song, Hà Nội còn đuổi 1.4 triệu dân miền Nam về quê hay đi kinh tế
mới trong năm 1976; 700.000 dân cựu thủ đô miền Nam, trong đó có rất nhiều gia đình

'ngụy quân, ngụy quyền,' đã phải từ giã Sài Gòn để ra đi.
12. Most refugees ‘are from the south, from Ho Chi Minh City in particular. In 1975, we
forbade them to go out. We were criticized by the west. We thought it over. We decided

to give them the freedom to go. Now (the west) say we are exporting refugees. So now
we say that they must ask to go. And we will allow them to go (under the ODP).’
Asiaweek, 15June1979.
13. UPI report. Quoted in Barry Wain’s ‘The Refused: The Agony of the Indochina

Refugees,’ Simon and Schuster, New York, 1981, at p.231.
14. Ðảng Cộng Sản Cuba nhanh chóng cóp nhặt và áp dụng chính sách tống xuất lương
dân ra khỏi quốc gia của Hà Nội. Vào tháng 5-1980, Castro mở hải cảng Mariel để tống

xuất 'thành phần phản động' ra khỏi nước; trong vòng 72 giờ, 125.000 người vội vã từ
bỏ thiên đàn cộng sản. Ðảng Cộng Sản Cuba đã không quên cho 25.000 tội nhân hình
sự trà trộn vào số người này với hy vọng chúng có thể gây thêm tội ác trên đất Mỹ

nhằm phá nát cộng đồng tị nạn ở Miami, Florida.
15. ‘Another form of inhumanity, equal in scope and similarly heinous’ to the holocaust.'
16. ‘A poor man’s alternative to the gas chambers is the open sea.’
17. Một cuộc thăm dò dư luận của cơ quan Institute for Asian Studies vào năm 1988 về

những động cơ khiến dân tị nạn Việt Nam phải rời bỏ quê hương ('Motives for Migration
from Homeland') cho thấy 55% đồng bào ra đi vì hoàn cảnh chính trị ('Political
situation'), 2% vì sợ bị giết hại ('Afraid of being killed'), 6% vì nạn đói ('Famine'), 20%

vì muốn định cư ở phương Tây ('Resettlement in West'), và 17% vì các lý do khác. Cited
in Jeremy Hein, From Vietnam, Laos, and Cambodia: A Refugee Experience in the United
States, Twayne Publishers, New York 1995, at p.37.
18. Vào tháng 11-1998, 23 năm sau khi Sài Gòn bị quân chính quy Hà Nội chiếm, cộng

đồng người Việt hải ngoại đã tổ chức nhiều cuộc diễn hành lớn khắp nơi trên thế giởi để
kỷ niệm 50 năm ngày khai sinh lá quốc kỳ Việt Nam tự do.
19. Ông Hoàng Ngọc Sơn vốn là một cộng sự viên của Trần Trường đã tiết lộ bí mật này

trong tài liệu dài 22 trang được công bố với báo giới trong đó có tờ Los Angeles Times
và sở cảnh sát thành phố Westminter.
20. Người viết có mặt tại hiện trường trong những ngày cao điểm để tham gia chiến
dịch 'Hạ cờ địch, Dựng cờ quốc gia.' Sự quyết tâm của tất cả đồng bào trong nỗ lực dập

tắt hiện tượng thiên Hà Nội cũng như sự đoàn kết hợp nhất của hai tổ chức người Việt
tại Nam California đã góp phần rất lớn trong việc vinh danh chính nghĩa quốc gia của
cộng đồng tị nạn Việt Nam.

21. Báo Nhân Dân, 27-1-1999.

22. Báo Nhân Dân, 25-1-1999.
23. Vượt hàng ngàn cây số đường biển đi tìm tự do.

24. Chính sách của Hà Nội cũng đã đưa đến tình trạng ly hương của dân tộc Lào và Cam
Bốt.
25. Nhân dân Việt Nam luôn luôn cảm thấy bất an và lo sợ đủ điều trong xã hội công an
trị của Hà Nội. Chính đảng Cộng Sản cũng nhận thức được sự kiện này cho nên đang cố

gắng tạo cảm giác an toàn cho Việt kiều để thu hút họ trở về viếng thăm gia đình nhằm
giúp cho Hà Nội thâu thêm ngoại tệ; khi nào không khí an toàn cá nhân này bị suy sút
thì số lượng người 'thăm quê hương' cũng giảm đi. Tình trạng phản ứng hỗ tương này

giúp minh xác lý do ra đi của thuyền nhân Việt Nam: đa số ly hương do bị Hà Nội trực
tiếp hay gián tiếp đàn áp bằng thể xác hay tinh thần đến mức không thể tồn tại trong
niềm lo sợ bất an triền miên.
Vì nỗi niềm nhớ nhà và nhu cầu trợ giúp thân nhân, một thiểu số chấp nhận viếng thăm

quê hương tạm thời với điều kiện là chính quyền phải bảo đảm sẽ không đàn áp họ như
đã làm trong quá khứ, nhưng họ không bao giờ tính chuyện hồi hương vĩnh viễn. Và đa
số đồng bào hải ngoại chỉ chịu trở về sinh sống tại Việt Nam trong điều kiện duy nhất là

sự an ninh và tự do của họ cũng như gia đình không bị chính quyền xâm phạm, tức là
Việt Nam phải được tự do và dân chủ hóa.
26. A refugee is anyone who ‘.. owing to a well-founded fear of being persecuted for
reasons of race, religion, nationality, membership of a particular social group or political

opinion, is outside the country of his nationality and is unable or, owing to such fear, is
unwilling to avail himself to the protection of that country, or who, not having a
nationality and being outside the country of his former habitual residence is unable or,

owing to such fear, is unwilling to return to it..’ UNHCR, Collection of International
Instruments Concerning Refugees (1979), p.10 & p.40, Article 1A(2) of the 1951 UN
Convention relating to the Status of Refugees, as amended by Article 1(2) of the 1967

UN Protocol relating to the Status of Refugees.
27. Do đó cộng đồng người Việt hải ngoại bao gồm không những thành phần tị nạn
chính trị mà còn cả dân tị nạn vì lý do tôn giáo, vì lý do chủng tộc, vì lý do thuộc thành
phần mà đảng CSVN chủ trương tiêu diệt như giáo dân, phật tử, thương gia hay trí

thức. Ðiển hình là tại miền Bắc trước năm 1975, đảng CSVN triệt để đàn áp bất cứ gia
đình nào có thân nhân vượt tuyến vào Nam (tương tự như chính sách đối với gia đình
'ngụy quân, ngụy quyền' miền Nam được thực hiện sau năm 1975); trừ một vài trường

hợp bị lợi dụng cho mục đích tuyên truyền, con cháu của các gia đình này không bao
giờ được phép vào đại học hay gia nhập đảng cũng như đừng bao giờ mong được thăng
tiến trong công sở. Dựa vào công pháp quốc tế, các đồng bào này chắc chắn phải được
hưởng quy chế tị nạn mặc dầu họ không phải là thành phần hoạt động chính trị. (Người

viết đã biện minh thành công cho nhiều trường hợp tương tự liên quan đến lãnh tụ tôn
giáo, thành phần bị kỳ thị lý lịch [con ngụy quân] hay bọn 'phản cách mạng' [cán bộ
đào tẩu], v.v., trước Hội Ðồng Thẩm Xét Tị Nạn Gia Nã Ðại).

28. 'Người tị nạn' là người '.. mang mối lo sợ có căn cứ là sẽ bị đàn áp vì lý do chủng
tộc, tôn giáo, quốc tịch, tư cách thành viên trong một tổ chức xã hội cá biệt hay tư ý
chính trị..' (1951 UN Convention relating to the Status of Refugees, 1967 UN Protocol
relating to the Status of Refugees).

29. UPI report, Supra.
30. ‘Thousands of innocent Vietnamese, many whose only crimes are those of
conscience, are being arrested, detained and tortured in prisons and re-education

camps.. Your government has created a painful nightmare that overshadows significant
progress achieved in many areas of Vietnam society.’

The reality of the Vietnamese boat people’s journey is full of tragic experiences, endless natural
calamities and brutal man-made obstacles. (Photo: B. McDougall)

II
Hải Trình ThảmKhốc
'Có lẽ trời muốn trao cho gánh nặng,
Bắt trải qua bách-chiết thiên-ma.'

Nguyễn Trãi (1418)

Hình ảnh một chiếc thuyền nhỏ chở đầy người tị nạn bất kể cái chết ra đi tìm tự do
đang lênh đênh trên mặt biển mêng mông vô tận tạo ra nhiều ấn tượng khó diễn tả từ
can đảm phi thường đến lãng mạn huyền ảo. Cuộc hải trình của thuyền nhân Việt Nam
thực sự là một cuộc phiêu lưu mạo hiểm đậm mầu sắc siêu tưởng và đầy thiên tai kinh
hãi cũng như thảm trạng nhân tạo. Mặc dầu không biết tương lai mịt mù sẽ đưa họ về
đâu, thuyền nhân nhất quyết vượt khỏi vòng đai kiểm soát của chính quyền cộng sản
Hà Nội bất kể các thử thách tàn khốc của biển cả. Phải chọn lựa giữa tự do và nô lệ ý
thức hệ, thuyền nhân chỉ còn một cách để từ bỏ thiên đường cộng sản: vượt biên ra đi
tìm tự do bất kể các hiểm nguy mất mạng.
Quyền tự do đi lại của nhân dân Việt Nam bị luật di trú và hình sự của Hà Nội thủ tiêu
cho nên họ phải bí mật tổ chức 'đi chui' tìm tự do bất kể các hiểm họa trên cạn cũng
như ngoài bể cả. Khi chính quyền Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ vào ngày 30-4-1975,
khoảng 130.000 người Việt may mắn thoát đi trước khi quân đội Bắc Việt tiến chiếm Sài
Gòn. Trong số đó, ngoại trừ 25.000 người được trực tiếp đưa thẳng đến các các khu
tạm trú của Hoa Kỳ và một số quốc gia tự do, đa số được di tản đến các tàu đang chờ
đợi đón tiếp tị nạn Việt Nam trước ngày 1-5-1975; một dữ kiện đáng ghi nhận là hơn
30.000 đồng bào đã dùng ghe, thuyền, bè và ngay cả tàu Hải Quân để ra đi.(1) Trong
những ngày sau đó, khoảng 3.000 người đã đến Tân Gia Ba bằng thuyền, 700 người
đến Pusan trên hai chiếc tàu Nam Hàn, và 3.743 đồng bào khác được tàu Clara Maersk

của Ðan Mạch cứu và đưa đến Hồng Kông. Trong khi một nhóm tị nạn bằng ghe khác
gồm 823 người được hai tàu Ðài Loan vớt, khoảng 30.000 người Việt đã đến vịnh Subic
của Phi Luật Tân trên 26 chiến hạm Hải Quân miền Nam.(2) Sự ra đi của người Việt tị
nạn tiếp tục trong nhiều năm sau đó khi đảng Cộng Sản Việt Nam sử dụng bạo lực để
trả thù và Mát-xít hóa miền Nam.
Tài liệu của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc (CUTNLHQ) cho biết khoảng 378 người đã
đến được bến bờ tự do từ tháng 5 đến tháng 12-1975; và số lượng đó tăng lên đến
5.569 người vào năm 1976 và 17.126 người vào năm 1977. Số thuyền nhân ra đi tiếp
tục gia tăng đến 87.164 người vào năm 1978 và đạt cao điểm 201.189 người vào năm
1979. Giai đoạn 12 tháng từ giữa năm 1978 đến tháng 7-1979 cũng là thời điểm của
chiến dịch buôn lậu lương dân của Hà Nội. Khi bị cả thế giới cực lực lên án, Hà Nội đình
chỉ chiến dịch vượt biên 'bán chính thức' này vào tháng 7-1979 - một vài ngày trước hội
nghị quốc tế về Tị Nạn Ðông Dương I. Sau mốc thời gian đó, nỗ lực vượt thoát của
thuyền nhân vẫn không chấm dứt bất kể hiểm họa mất mạng vì dông tố hay hải tặc.
Ðến cuối thế kỷ 20, khoảng 1.6 đến 2 triệu đồng bào đã cố gắng trốn khỏi CHXHCN Việt
Nam,(3) và trên ba phần tư triệu người hay 1% dân số Việt Nam vượt biên thành công
và được tái định cư tại nhiều quốc gia khắp năm châu.(4) Chúng ta cũng đừng bao giờ
quên là ít nhất 10% đến 20% tổng số người ra đi hay khoảng 80.000 đến 200.000 nạn
nhân đã bỏ mình tại biển Ðông trên đường tìm tự do.(5)

Khó Khăn Sơ Khởi
Trước khi đặt chân lên ghe, thuyền nhân phải bí mật liên lạc với nhau để sắp xếp cuộc
vượt biên. Người có trách nhiệm tổ chức chuyến đi phải bí mật tậu cũng như tân trang
ghe, mua máy mới, giấy tờ giả để che mắt công an, và các dụng cụ đi biển như hải bàn,
bản đồ, v.v. Ai ở Sài Gòn vào cuối thập niên 1970 đều biết hải bàn cũng như giấy tờ lậu
là các món đồ chợ đen đắt giá lúc đó. Song song, việc tìm kiếm thuyền trưởng cho các
ghe vượt biên cũng không phải dễ bởi vì đa số sĩ quan hải quân của miền Nam còn nằm
trong trại cải tạo; một số nào đó trốn tránh cải tạo thì cũng không dám công khai lộ
diện để người ngoài nhận biết, và một số ít ra tù cải tạo lại được thương gia Tàu Chợ
Lớn mua chuộc vào mạng lưới buôn lậu lương dân của Hà Nội (xin xem Chương III).(6)
Ngay cả khi vấn đề nhân sự cũng như trang bị tiếp liệu cho chuyến đi được giải quyết
thỏa đáng, thuyền nhân còn phải kiếm bãi biển an toàn để đưa người xuống ghe;
thuyền nhân càng sống xa cửa biển bao nhiêu, vấn đề này càng khó khăn bấy nhiêu.
Nhiều vụ vượt biên 'bể' khi bãi bị lộ, và người ra đi phải bỏ tất cả để chạy trốn sự lùng
bắt của công an. Trong trường hợp của ông Nguyễn Tấn Chung hiện đang ở Toronto,
ông phải nhảy rào và vượt qua bãi xương rồng bằng chân không khi cuộc vượt biên của
nhóm ông bị lộ; sau này ông Chung phải dùng dao nhỏ để cắt da lấy hàng trăm mũi gai
xương rồng ra khỏi lòng hai bàn chân. Trong một trường hợp khác, anh Nguyễn Ðịnh
Lâm đã bị công an bắn chết tại Bến Tre vào ngày 4-4-1979 vì 'vượt biên trái phép.'
Ðể bảo đảm sự an toàn của người xuống ghe, ban tổ chức thường mua bãi (hối lộ công
an địa phương) hay sắp xếp để đưa người ra đi theo từng nhóm nhỏ. Khi tổ chức cuộc
vượt biên trên ghe số 27 đến trại Songkhla vào ngày 12-2-1980, ông Nguyễn Tấn Phúc
nguyên là lính người nhái đã cho người xuống bốn ghe nhỏ tại làng Phong Mỹ, Cao Lãnh
vào ngày 25-1-1980. Sau đó bốn chiếc ghe di chuyển nhiều ngày trên các con kênh lớn
để đến cửa biển Rạch Sõi; tại đây ông dùng giấy tờ giả dân đi lấy cũi để qua khỏi trạm
kiểm soát của công an biên phòng và đưa ghe ra biển. Sau nhiều lần bị cướp Thái Lan
bóc lột và hành hạ dã man, 27 người trên ghe của ông Phúc đã được Tàu Akuna(7) của

một tổ chức gọi là Food For The Hungry International cứu vớt trước khi bị sóng biển dìm
chết.

Vấn đề tổ chức vượt biên không phải dễ cho nên ít ai ngạc nhiên khi thấy nhiều người
đã bị bắt giam. Nhiều người khác bị mất cả gia tài vì bị lừa bởi các tổ chức vượt biên giả
cũng như công an vốn thường nhận tiền hối lộ nhưng dễ phản phúc đối với dân vượt
biên để trấn lột thêm vàng. Vào tháng 5-1987, Tàu Cap Anamur với sự tài trợ của tổ

chức Komitee Cap Anamur và hội Y Sĩ Thế Giới cũng như cộng đồng Việt Nam hải ngoại
đã kịp thời cứu vớt một ghe vượt biên đang bị tàu công an biên phòng rượt bắt. Một
thuyền nhân bị công an bắn chết và 170 người may mắn còn lại đã được đưa vào trại tị

nạn Palawan ở Phi Luật Tân.
Trong trường hợp của ông Phan Văn Thiệu, ghe của ông rời Cà Mau trong đêm 17-1-
1979 đã bị công an bắn ba lần nhưng may mắn không ai bị trúng đạn. Sau khi bị hải tặc
Thái Lan cướp vài lần, ghe của ông Thiệu cuối cùng đến được Kora Bahru, Mã Lai, vào

ngày 22-4-1979. Trong vụ khác xảy ra vào ngày 7-5-1983, một ghe rời khỏi cầu chữ Y
an toàn sau khi đón người dưới sự che chở của công an phường 13, quận 5. Nhưng khi
vào khúc sông thuộc phường 14, nhóm công an địa phương không được chia tiền hối lộ

đã xả đạn bắn vào ghe bất kể tiếng kêu la thảm thiết của nạn nhân. Trên 100 người
trong đó có rất nhiều trẻ em và phụ nữ mất mạng; và vài ngày sau đó bọn công an còn
bắt gia đình nạn nhân phải đóng tiền phí tổn mới được nhận tử thi về chôn cất. Vụ giết
người tập thể tại cầu chữ Y này không phải vụ duy nhất, nhiều ghe khác rời Cát Lái, Cà

Mau, Cần Thơ, Bà Rịa, Bến Tre, Long Xuyên, v.v., đã bị công an bắn giết khi chúng
không nhận được đủ phần hối lộ hay có lệnh phải cấm đoán người tị nạn ra đi, đặc biệt
là sau khi Hà Nội cam kết với cộng đồng quốc tế là sẽ ngăn chận cơn sóng vượt biên

vào tháng 7-1979 tại Geneva. Chỉ riêng tại Cát Lái, gần 400 nạn nhân trên tàu Thành
Xương đã bị công an hại chết trong ngày 22-7-1978. Một trong số người còn sống sót là
ông Vương Vũ Văn hiện đang định cư ở New Jersey cho biết là Hà Nội đã nhận ít nhất là

$1 triệu Mỹ-kim để cấp giấy phép rời bến cho tàu Thành Xương nhưng không biết tại
sao lại trở cờ vào giờ chót và giết hại nhiều nạn nhân vô tội. Việc giết hại người vượt
biên còn xảy ra tại các vùng đảo xa xôi như Trường Sa; theo tin từ chính phủ Phi Luật
Tân vào tháng 6-1979 thì bộ đội Hà Nội đóng đô tại các quần đảo này đã xã súng bắn

vào một ghe tị nạn từ Nha Trang khiến 23 người bị mất mạng, 62 nạn nhân khác chết
đuối và chỉ có 8 thuyền nhân may mắn sống sót.
Ðối với những người vượt biên không có tiền để ra đi theo chương trình chính thức hay

bán chính thức của chính quyền cộng sản thì khi bị bắt họ dễ trở thành nạn nhân của
các ông vua công an địa phương bởi vì vào những năm đầu Hà Nội không có một chế
độ hình phạt rõ ràng đối với dân vượt biên mặc dầu luôn luôn chủ trương 'kiểm sát' tất
cả các thành phần có lý tưởng tự do hay xua đuổi họ ra khỏi nước.(8) Thông thường

những người vượt biên bị công an bắt lại có thể bị kêu án từ vài năm tù cho đến tử hình
tùy theo tiền hối lộ nhiều hay ít cũng như gốc hay 'ô dù' tham ô có ảnh hưởng mạnh
hay yếu.

Ðài Hà Nội thỉnh thoảng thông báo tên tuổi của các nạn nhân bị chính quyền cộng sản
chọn lựa làm chiến lợi phẩm để tế công luận thế giới vốn đang lên án chính sách đàn áp
ý thức hệ và chủ trương tống xuất 'thành phần phản động' của đảng CSVN. Vào ngày
28-10-1981, Nguyễn Toại Chí bị nêu tên và tống tù chung thân trong khi các cộng sự

viên tổ chức vượt biên của ông bị kêu án từ 18 tháng cho đến 25 năm. Trước đó vào
ngày 9-9-1981, tòa Long An phạt Võ Văn Lung, Võ Văn Mậu và Châu Tá Nhành án tù lên
đến 25 năm sau khi vụ ra đi của họ bị bể.

Tử hình là án trạng nặng nhất đối với dân vượt biên và thường được chính quyền cộng
sản dành cho thành phần 'ngụy quân, ngụy quyền' nhằm một mặt để che giấu chính

sách xua đuổi nhân dân của đảng và mặt khác để chứng minh với cộng đồng quốc tế là
Hà Nội thẳng tay trừng trị thuyền nhân Việt Nam hầu giữ lời hứa ngăn cản làn sóng
vượt biên tại hội nghị quốc tế về tị nạn Ðông Dương I. 'Ngụy quân' Trần Minh Châu là
một trong những nạn nhân đầu tiên bị Hà Nội dùng làm vật tế cộng đồng thế giới sau

hội nghị quốc tế I vào tháng 7-1979; ông đã bị kết án tử hình vào ngày 6-8-1979 vì tội
tổ chức vượt biên không qua đường dây chính thức hay bán chính thức của Hà Nội, tức
là vượt biên không có giấy phép nhà nước.

Một loại hình phạt nặng khác được chính quyền cộng sản sử dụng đối với người tị nạn là
tịch thâu toàn bộ tài sản của họ. Bất cứ khi nào công an khu vực nghi ngờ một gia đình
đã ra đi vượt biên, nhà cửa cũng như tài sản của họ sẽ bị niêm phong và sau đó bị
'trưng dụng.' Dân vượt biên khó đòi lại gia sản bởi vì Hà Nội xem họ là tội nhân mặc dầu

chính sách của đảng Cộng Sản là tống xuất các thành phần có tư tưởng và lối sống tự
do ra khỏi nước.
Ngay cả khi dân vượt biên đã lên ghe và nổ máy ra khơi, họ cũng chưa an tâm bởi vì

ghe còn có thể bị tàu công an biên phòng chặn bắt và dẫn độ về lại Việt Nam. Vào
tháng 5-1988, tàu Mary Kingstown đã kịp thời cứu một ghe tị nạn chỉ vài phút trước khi
ghe bị tàu Công An Ðặc Khu Vũng Tàu Côn Ðảo đuổi bắt kịp. Sau khi 81 thuyền nhân
được đưa qua tàu Mary Kingstown, nhóm công an biên phòng đã nhảy sang ghe tị nạn

để vơ vét và sau đó hoan hỉ kéo chiếc ghe không người trở lại Việt Nam như một chiến
lợi phẩm. Trong nhiều trường hợp, thuyền nhân bị tàu biên phòng chặn lại có thể nộp
mãi lộ thường là vàng lượng cho công an để được tiếp tục cuộc hải trình; trong những

trường hợp khác, công an biên phòng vẫn cứ bắt giữ dân vượt biên sau khi đã vơ vét tài
vật của họ. Ngoài ra còn có nhiều vụ tàu Liên Sô đang công hành ngoài biển Ðông đã
chặn bắt ghe tị nạn và dẫn độ về cho chính quyền cộng sản Việt Nam; giới lãnh đạo Hà

Nội mù quáng không nhận ra được là hành động này của Mạc Tư Khoa trực tiếp vi phạm
trầm trọng công pháp quốc tế cũng như gián tiếp công khai khinh thường khả năng bảo
vệ chủ quyền quốc gia của Hà Nội.
Ðối với những thuyền nhân may mắn vượt khỏi vòng đai kiểm soát của công an biên

phòng Việt Nam, hải trình của họ vẫn còn phải đối đầu với vô vàn tai ương thiên nhiên
của biển cả cũng như hoạn nạn nhân tạo đến từ hải tặc dã man và chính sách bài tị nạn
tàn nhẫn. Số lượng thuyền nhân đã mất mạng trên biển cả khó có thể được ước đoán

chính xác. Như đã bàn ở phần trên, ít nhất 10% đến 20% tổng số người ra đi hay
khoảng 80.000 đến 200.000 nạn nhân đã bỏ mình tại biển Ðông trên đường tìm tự do;
một vài tư liệu của cộng đồng thuyền nhân thẩm định là số người tị nạn Việt Nam chết
vì tai ương thiên nhiên hay bị hải tặc giết phải là vài trăm ngàn lên đến cả triệu nạn

nhân. Những linh hồn vô danh này không những bị các biến chuyển thời sự hiện tại
quên lãng mà còn bị các thế lực chính trị đen tối trong quá khứ bôi nhọ là thành phần di
dân kinh tế đê tiện mặc dầu chính quyền Hà Nội cũng như chính khách quốc tế tự biết

việc đánh đổi mạng sống vì miếng ăn đối với dân tộc Việt Nam là chuyện hoang đường
phi lý, và đa số những người ra đi là dân khá giả trong xã hội cho nên không có vấn đề
vì thiếu miếng cơm manh áo cho nên họ phải vượt biên. Chương Hải Trình Thảm Khốc
này có thêm phần phụ trương phác họa lại vài trang trong sổ tay của một cậu bé viết

vào đầu năm 1980 tại trại tị nạn Songkhla ở Thái Lan với hy vọng sẽ soi sáng đoạn
đường kinh hoàng của thuyền nhân Việt Nam cũng như khát vọng không phai mòn của
những người tị nạn may mắn sống sót đến được bờ bến tự do.

Số lượng thuyền nhân đến được các quốc gia tự do
Thống kê của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc

First Asylum 1975-76 1977 1978 1979
Country 516 2,736 7,906 68,748

Hong Kong 244 679 2,582 47,651
373 833 712 1,155
Indonesia 161 98 150
Japan 0
Korea 25 945 3,363
0 5,820 63,125 53,998
Macau 1,160 1,153 2,582 7,851
Malaysia 713 318 1,848 5,561
Philippines 131
Singapore 4,636 6,401 11,987
2,699 765 965 725
Thailand 111
Others

First Asylum 1980 1981 1982 1983
Country 6,788 8,470 7,836 3,651
6,721 9,021 7,535 5,600
Hong Kong
Indonesia 1,270 1,026 1,037 799
20 168 65 20
Japan 448 59 0
Korea 2,270
Macau 23,113 14,857 10,935
18,265 8,352 3,288 1,759
Malaysia 4,932 5,367 2,745 1,575
Philippines 9,285
Singapore 18,402 6,076 3,534
21,649 71 7 46
Thailand 172
Others

First Asylum 1984 1985 1986 1987
2,230 1,112 2,059 3,395
Country 7,331 6,139 2,596 1,758
Hong Kong
Indonesia 503 435 330 144
45 186 131 21
Japan 0 3
Korea 9,035 0 8 8,030
Macau 7,398 7,402
Malaysia 1,870 2,677
896 2,602 2,046 858
Philippines 2,807 891 739 11,195
Singapore 3,310 3,886
Thailand 44 25
42 254
Others

First Asylum 1988 1989 1990 1991
Country
18,449 34,503 6,595 20,206
Hong Kong 1,876 6,701 13,835 1,397
Indonesia 219 706 366
336
Japan 90 193 0
0
Korea

Macau 6 0 0 0
Malaysia 13,312 16,718 1,326 0

Philippines 3,826 6,678 1,108 252
Singapore 698 1,392 147 6
Thailand 7,086 4,373 9,054
202
Others 0 0 0 0

First Asylum 1992 1993 1994 1995-99
Country
9 101 359 164
Hong Kong 18 23 1 0
Indonesia 17 638 63
0 0 109 0
Japan 0
Korea 0 0 0
1 0 1 0
Macau 0 1 0 0
Malaysia 32
Philippines 0 0 0
10 14 0 0
Singapore 0 0 0 0
Thailand 0
Others

Lưu Ý: Thống kê của CUTNLHQ không bao gồm những thuyền nhân đã mất mạng trên
đường vượt biên (td: Vào ngày 14-11-1979, báo People's Journal ở Phi Luật Tân tường
thuật là dân săn bắn địa phương tìm thấy 60 xác người cùng vật dụng cá nhân và một
chiếc ghe tương tự như ghe tị nạn Việt Nam tại một khu rừng hẻo lánh cách thủ đô
Manila khoảng 75 dặm về phía Nam.) hay được cứu trên biển bởi các thương thuyền và
sau đó được chấp nhận cho định cư mà không phải trải qua thời gian chờ đợi ở trại tị
nạn cũng như một số nhỏ dân vượt biên từ năm 1996 (td: Vào ngày 21-6-1999, sau hai
tuần lênh đênh trên biển 11 thanh thiếu niên Việt Nam gồm 7 gái và 4 trai tuổi từ 14
đến 18 tuổi đã đến được bờ biển Iba ở phía Bắc Phi Luật Tân trên một chiếc ghe dài 17
thước.)

_________________

Chú thích:

1 Nhiều đồng bào vô tội đã hy sinh oan uổng trong đợt tản cư vào mùa Xuân 1975. Vài
vụ tử thương được chứng kiến và ghi lại rải rác trong một số sách và bài viết, nhưng
hiện nay chưa có tài liệu nào nghiên cứu để thẩm tính số nạn nhân đã mất mạng trong
giai đoạn đó.
2 Ða số các tài liệu xác định là số dân tị nạn Việt Nam ra đi trong mùa Xuân 1975 là
khoảng 130.000 người, và con số này được báo chí Việt ngữ cũng như ngoại ngữ lập lại
nhiều lần (điển hình là sách Calculated Kindness: Refugees and America's Half-Open

Door 1945-Present của Gil Loescher và John A. Scanlan), nhưng một số tài liệu của
phòng Southeast Asian Archive thuộc Ðại Học California tại Irvine cho thấy số đồng bào

Việt Nam ra đi trong giai đoạn này chỉ khoảng 125.000 người trong tổng số 130.000
người ra đi từ Ðông Dương trong giai đoạn đó (điển hình là tài liệu Documenting the
Southeast Asian Refugee Experience của Anne Frank). Tuy nhiên, một dữ kiện mà chúng
ta biết chính xác là chỉ có một nửa số người này ra đi với sự trợ giúp của chính quyền

Hoa Kỳ. Một nửa kia hay 65.000 người đã phải tự kiếm cách ra đi; và đa số sử dụng
ghe, tàu bè và thương thuyền cũng như các chiến hạm để vượt thoát. Họ có lẽ là những
thuyền nhân Việt Nam đầu tiên tị nạn cộng sản.

3 'When Saigon fell to North Vietnamese forces in 1975, more than 1.6 million South
Vietnamese fled their country.' ASIAAccess/countries/vietnam (January 1999).
4 Cho đến cuối thế kỷ 20, thống kê chính thức của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc cho
biết là 796.310 thuyền nhân và 42.918 bộ nhân đã may mắn đến được trại tị nạn kể từ

tháng 5-1975. Các con số này không bao gồm những người được cứu trên biển và đi
định cư thẳng mà không qua hệ thống trại tị nạn.
5 Nhiều tính toán đã xác nhận số lượng đồng bào mất mạng có thể lên đến 40%-70%

tổng số dân vượt biên. Vào tháng 6-1978, Thứ Trưởng Ngoại Giao đặc trách Ðông Nam
Châu Á và Thái Bình Dương của Hoa Kỳ là Richard Holbroke đã tuyên bố: người tị nạn
'ra đi trên những chiếc ghe mỏng manh với ít tiếp liệu, và sự tính toán cho thấy chỉ một
nửa là đến được bờ bên kia' (refugees 'set out in rickety boats with few supplies, and

estimates are that only half make to another port.') Giữa tháng 4 và 7-1979, dựa vào tin
tình báo và các cuộc phỏng vấn với dân tị nạn, Bộ Trưởng Di Trú Úc là Michael
MacKellar đã kết luận: 'Chúng ta thấy số lượng mất mạng khoảng từ 100.000 đến

200.000 trong vòng bốn năm vừa qua.' ('We are looking at a death rate of between
100,000 and 200,000 in the last four years.')
6 Nhiều cựu sĩ quan hải quân miền Nam đã được thương gia Hoa kiều đưa ngay vào

Chợ Lớn để nằm chờ ngày ghe được Hà Nội cho phép ra đi.
7 Khi được vớt lên boong, chính những thuyền nhân như ông Nguyễn Tấn Phúc đã nghi
là tàu Akuna không phải là tàu cứu người tị nạn bình thường. Vào năm 1990 khi tham
dự một cuộc biểu tình tại thành phố Lepzig, Ðông Ðức, người viết gặp một vị tị nạn

trung niên và được cho biết tàu Akuna này từng được sử dụng để đưa người về Việt
Nam hoạt động chính trị.
8 Hà Nội chỉ đặt ra chế độ hình phạt rõ ràng đối với dân vượt biên sau này trong bộ luật

hình sự (xin xem Chương 3 về vấn đề cưỡng bách hồi hương).

Ghe Kém An Toàn, Tài Công Thiếu Kinh Nghiệm và Hoạn Nạn Trên Biển Cả

Ðể đến được một quốc gia tự do nằm ngoài bán đảo Ðông Dương, thuyền nhân phải
vượt qua biển Ðông Hải hay vịnh Thái Lan vốn không phải là vùng bể an toàn cho
những tay đi biển tài tử hay bất đắc dĩ như đa số dân tị nạn Việt Nam. Khí hậu đại
dương tại hai khu này tương đối khắc nghiệt với nhiều cơn giông bão cuộn gió lên đến
trên hàng trăm cây số một giờ và có thể đánh đắm tất cả tàu bè mỏng manh trên mặt
bể. Trong mùa hạ từ tháng 4 đến tháng 9, gió từ xích đạo thổi vào Việt Nam theo
hướng Tây Nam và đe dọa toàn bộ vịnh Thái Lan với các cơn giông tố đi liền với mưa
rào bất thường trên biển. Từ tháng 10 trở đi, gió Ðông Bắc thổi mạnh vào vịnh Bắc
phần và vì bị rặng núi Trường Sơn chặn lại cho nên gây ra nhiều cơn mưa ở vùng Quảng
Trị-Thừa Thiên cũng như bão tố tại Ðông Hải có sức gió lên đến 160 km/giờ; bão tố trên
biển lại thường kèm theo mưa mùa dữ dội có khả năng đánh chìm các ghe thuyền tị nạn
không may mắn bị kẹt giữa đường di chuyển của trung tâm bão có tốc độ từ 20 km đến
40 km/giờ.(9)
Tai ương thiên nhiên chờ đón thuyền nhân Việt Nam không chỉ dừng lại với khí hậu khắc
nghiệt mà còn tạo ra những chướng ngại vật ngầm dưới mặt nước khiến nhiều đồng
bào tị nạn mất mạng. Các đảo và cồn san hô nằm dọc theo phía Tây và Tây Nam của
Phi Luật Tân trở thành một hàng rào nguy hiểm trải dài nhiều cây số cản trở hải trình
tầm tự do của dân Việt Nam. Nhiều ghe đâm vào cồn san hô bị hư hại không sửa chữa
được khiến thuyền nhân phải bỏ ghe mà lội lên bờ; và trong khi chờ đợi cứu vớt, họ
phải cố gắng tìm cách bắt cá và nghêu sò để sống nhưng đa số không tồn tại được lâu
vì thiếu nước uống. Vào tháng 9-1978, 50 đồng bào tị nạn trong đó có cô Trần H. Huệ
bị kẹt trên một hòn đảo san hô khoảng 5 tháng với kết cục thê thảm là, ngoại trừ cô
Huệ, các nạn nhân khác đã mất mạng vì đói khát.
Trong nhiều trường hợp vượt biên, thuyền nhân ra biển trên những chiếc ghe không an
toàn lại thiếu chuẩn bị kỹ lưỡng và do tài công ít kinh nghiệm hải hành lèo láy(10) bất
kể các hiểm nguy của đại dương. Hải cụ của dân vượt biên thường là một bản đồ của
khu vực Ðông Nam Á và một địa bàn - hải bàn là một dụng cụ đắt tiền trên thị trường
chợ đen và người tìm mua dễ bị công an chìm theo dõi. Bản đồ địa dư của khu vực luôn
luôn chứa đựng nhiều sai biệt với hải đồ cũng như không ghi rõ các chướng ngại vật
ngầm trên biển; và địa bàn thường trở nên thiếu chính xác khi ghe bắt đầu ra khỏi cửa
biển. Dĩ nhiên là đa số ghe vượt biên không bao giờ trang bị phao cấp cứu cho nên, khi
ghe bị đắm, toàn bộ thuyền nhân chết đuối nếu không được cứu vớt kịp thời.
Ða số thuyền tị nạn không những thiếu hải cụ mà còn là những chiếc ghe không an
toàn cho nên thường bị phá sau khi hoàn thành trọng trách đưa người vượt biển. Rất
nhiều ghe thuộc loại đầu tà được chế tạo cho mục đích di chuyển trên sông ngòi nhưng
lại được thuyền nhân đưa ra biển để đối đầu với tử thần bể cả. Một số ghe khác rất nhỏ
- khoảng 3 thước bề ngang và 10 thước bề dài - được sử dụng đi đánh cá hay lấy cũi
trong những vùng biển gần bờ cũng được thuyền nhân dùng để chuyên chở một số
lượng lớn người tị nạn vượt đại dương tìm tự do. Trong vài trường hợp hy hữu, ngay cả
xuồng chèo bằng tay cũng được một số gia đình miền biển lèo láy đến được các trại tị
nạn.
Một thực trạng thường xảy ra trong hải trình thảm khốc của thuyền nhân Việt Nam là sự
chuyên chở quá trọng lượng của các ghe tị nạn; và vì ghe không bao giờ có đủ chỗ cho
tất cả mọi người cho nên đàn ông thường phải ngồi trên nóc thuyền hay bất cứ nơi nào
họ có thể kiếm được, và đàn bà cũng như trẻ em thường ngồi co cẳng dưới hầm ghe.
Bệnh say sóng đưa đến ói mửa cùng mùi dầu xanh cộng với tiếng la khóc và mùi nước

tiểu của trẻ thơ trong cái khung cảnh lờ mờ của hầm tàu tạo ra một không khí thểu nảo
chỉ có trong các nhà quàn xác.
Các chiếc ghe mỏng manh của thuyền nhân Việt Nam từng được gán cho danh hiệu
'những cái hòm nổi'(11) ra đại dương với lượng thực phẩm và nước ngọt dự trữ rất giới
hạn. Nước ngọt dĩ nhiên không bao giờ đủ cho tất cả mọi người trên ghe, và thực phẩm
(thường là gạo và mì khô) chỉ đủ nếu ghe không gặp hoạn nạn trên biển. Một khi thực
phẩm và nước ngọt dự trữ không còn, thuyền nhân chỉ hy vọng thấy được đất liền hay
dàn khoang ngoại quốc(12) hoặc được cứu vớt kịp thời. Trong trường hợp của ông Phan
Văn Thiệu đến Kora Bahru ngày 22-4-1979, gia đình của ông bị hải quân Mã Lai bắt
xuống ghe lại vào ngày 11-5 và sau đó ghe bị kéo ngược ra hải phận quốc tế. Trong
năm ngày lênh đênh vô định trên biển, họ phải uống nước tiểu để tránh cơn khát sau
khi hết nước ngọt. Trẻ em bắt đầu chết dần, và số còn lại cùng người lớn trên ghe có
thể chết hết nếu họ không được tàu Sibonga cứu kịp thời. Thuyền trưởng Healey Martin
đã diễn tả lại thảm cảnh tuyệt vọng trên ghe của ông Phan Văn Thiện như sau.(13)

'Phụ nữ và trẻ em trên chiếc ghe với bề dài 20 thước và bề ngang 3 thước kêu gào được
giúp đỡ; không khí trên ghe, vốn được chia ra thành 2 tầng để tận dụng hết trọng lượng
của nó, thật khủng khiếp.. Tình trạng bệnh tật, thiếu thực phẩm và nước ngọt kéo dài
cộng với điều kiện ghê tởm mà họ phải chung đụng rác rến cũng như nước tiểu đã làm
suy nhược và đẩy họ vào tình trạng sức khỏe rất yếu kém. Nếu chỉ cho họ trữ thực thì
chẳng khác nào bỏ nhiều người cho tử thần.'(14)

Ðối với một số thuyền nhân, tình trạng thiếu dầu máy cũng là một trong nhiều khó khăn
nan giải; trước sau gì trữ lượng dầu dùng chạy máy cũng phải cạn nếu ghe không đến
được bờ bến tự do đúng theo dự tính của tài công lúc khởi hành. Lênh đênh trên mặt
đại dương mịt mù không lối thoát tương tự như đang chờ đợi tử thần đến với sự tàn
phá của sóng gió thiên nhiên. Một vấn nạn khác liên quan trực tiếp đến máy ghe vốn
thường là máy cũ được tân trang vài tuần trước ngày ra khơi cho nên dễ bị trục trặc bất
thình lình trên biển. Sự kiện ghe bị 'trời trồng' phải dậm chân tại chỗ vì máy hư không
sửa được và thuyền nhân chỉ còn cách chắp nối bao vải để làm buồm hầu tiếp tục
chuyến hải trình không phải là hiếm; và nếu không đến được đất liền an toàn trong một
thời gian ngắn thì người tị nạn khó tồn tại lâu dài trên ghe. Chiếc thuyền dài 7 thước
của anh Phan Công Trang, 18 tuổi, rời Ba Xuyên vào ngày 12-4-1983 và được dự tính là
sẽ đến Thái Lan hay Mã Lai trong vòng đôi ba ngày. Gần hai tuần trên biển, ghe của
anh Phan cũng chưa đến được bờ tự do. Tất cả thực phẩm, nước ngọt cũng như dầu
máy đều hết sạch. Vào ngày thứ 13, chiếc ghe bị sóng đánh tan thành những mảng lớn.
Anh Phan may mắn bám vào được một thùng nhựa rỗng và trôi lênh đênh khoảng hai
ngày trước khi được một tàu thương mại của Na Uy cứu đưa về Manila, Phi Luật Tân.
Anh Phan Công Trang may mắn đã không phải ăn thịt người vì lý do sinh tồn. Vào tháng
4-1982, 11 người vượt biên từ Nha Trang bị lạc hướng phải trôi dạt trên biển gần hai
tháng. Tình trạng thiếu thực phẩm và nước ngọt khiến 6 người mất mạng. Số người còn
lại trên ghe phải ăn thịt đồng loại để sống cho đến khi được tàu biên phòng Hồng Kông
cứu vào tháng 6-1982. Chuyến vượt biên của ông Trần T. Bá còn khủng khiếp hơn nữa.
Trong một lá thư viết cho thân nhân, ông Trần cho hay là ghe của ông rời bến Bạch
Ðằng vào ngày 1-10-1978 với 178 người. Bốn ngày sau chiếc ghe đâm vào một cồn san
hô không ra được;(15) và một tuần sau đó, tất cả trữ thực trên ghe cạn hết. Em của
ông Trần tên Thành chết vào ngày 3-11. Trước khi được tàu Ðài Loan cứu khỏi cồn san

hô vào ngày 18-11, một số người trên cồn đã phải ăn thịt đồng loại; ông Trần xác quyết
là ông đã không phạm vào những hành động tuyệt vọng đó nhờ vào ý chí của ông.(16)

Ghe tị nạn bị sóng dập gần bờ biển Mã Lai.
(Ảnh: UNHCR's K. Gaugler)

Thực trạng hãi hùng đến từ tai ương thiên nhiên, chướng ngại vật ngầm của biển cả,
trữ thực giới hạn và trở ngại máy móc đã dẫn đến nhiều kết cục thương tâm cho thuyền
nhân Việt Nam. Các hậu quả thê thảm này là những di sản tác hại ít nhiều do thiên
nhiên chi phối cho nên khó tránh được, nhưng một yếu tố tổ chức quan trọng khác
đáng lẽ phải được chú ý kỹ lưỡng vì ảnh hưởng trực tiếp đến sinh mệnh thuyền nhân lại
thường ít được lưu tâm đúng mức đó là kỹ năng hàng hải của tài công. Nhiều người
được giao trách nhiệm lèo láy ghe tị nạn vượt đại dương chưa hề đặt chân lên thuyền ra
khơi, và dĩ nhiên là họ không bao giờ có kinh nghiệm làm tài công trong quá khứ. Nhu
cầu bí mật kiếm tài công giỏi của nhóm tổ chức vượt biên và nhu cầu ra đi tàn ẩn trong
một số cá nhân thiếu khả năng tài chánh đôi lúc gặp nhau ở những điểm khó hiểu. Sự
sợ hãi cơ chế đàn áp cộng sản đã khiến nhiều người tự xưng từng là sĩ quan hải quân
Việt Nam Cộng Hòa với hy vọng sẽ được - và một số người đã được - móc nối vào các

tổ chức vượt biên; họ sẵn sàng nhận lãnh trách nhiệm tài công mặc dầu biết là mình có
ít, hoặc chưa từng có, kinh nghiệm hàng hải. Hành động thiếu thành thật này đặt sinh
mệnh của thuyền nhân trên ghe vào vị trí nguy hiểm cận tử không cần thiết, nhưng
cũng may mắn là sự kiện tài công 'dỏm' xảy ra tương đối ít.

_______________________________

Chú thích:

9 Bảo tố từ Ðông Hải thổi vào Việt Nam đã gây ra nhiều thiệt hại trầm trọng trong quá
khứ. Vào năm 1904, hai nhịp cầu Trường Tiền đã bị gió cuốn mất; và vào năm 1955,
250 cây cột điện ở Hà Nội bị bão đánh gẫy.
10 Ngoại trừ một số ít sĩ quan hải quân Việt Nam Cộng Hòa và tài công chuyên nghiệp
được huấn luyện kỹ lưỡng, đa số các tay lái ghe khác không biết cả những kỹ thuật hay
ám hiệu liên lạc quốc tế căn bản nhất cần thiết cho một cuộc hải hành liên quốc gia, và
dĩ nhiên là khả năng ngoại ngữ của họ rất yếu kém.
11 Danh từ 'những cái hòm nổi' ('floating coffins') được Bộ Trưởng Ngoại Giao Singapore
là Rajaratnam sử dụng tại Hội Nghị Bộ Trưởng Ngoại Giao ASEAN vào tháng 6-1979 để
mô tả tình trạng bi thảm của các ghe thuyền tị nạn Việt Nam.
12 Các trục dầu khoang ngoài biển của các công ty như Exxon ở phía nam Thái Lan hay
đông bắc Mã Lai đã giúp đỡ rất nhiều ghe tị nạn và cứu giúp hàng ngàn thuyền nhân lạc
trên biển.
13 Quoted in Bruce Grant, The Boat People: An Age Investigation, Penguin Books,
Middlesex, England 1979, at p. 68.
14 'Women and children on the twenty metres long by three metres wide boat were
screaming for help; the smell on the boat, which was tier-decked for maximum capacity,
was terrible. The weather had been fresh south-westerly for the previous four-eight
hours. Prolonged sickness, lack of food and water and the horrible way the people were
crowded together in their own dirt and urine had reduced them to a very weak physical
condition. Merely to give them stores would have been to condemn a large number of
people to death.'
15 Các đảo san hô, đặc biệt là trong hải phận Phi Luật Tân, đã trở thành những chướng
ngại vật giết người cho ghe tị nạn Việt Nam. Trong trường hợp của Trần H. Huệ, ghe
của cô rời Cần Thơ vào tháng 9-1978 với 50 thuyền nhân. Ghe của cô đã bị mắc cạn
trên một đảo san hô gần Palawan. Sau 5 tháng bị kẹt trên đảo, thực phẩm cạn lại không
có nước ngọt, 49 thuyền nhân qua đời và cô Huệ là người duy nhất may mắn được cứu
sống.
16 Vào ngày 14-11-1979, báo People's Journal ở Phi Luật Tân tường thuật là dân săn
bắn địa phương tìm thấy 60 xác người cùng vật dụng cá nhân và một chiếc ghe tương
tự như ghe tị nạn Việt Nam tại một khu rừng hẻo lánh cách thủ đô Manila khoảng 75
dặm về phía Nam.

Chỉ khoảng 3 thập niên trước những phụ nữ này đã phải bỏ nước ra đi vì chế độ CSVN
kỳ thị đàn áp. Họ bị hải tặc bắt cóc và đày đọa trên đảo Khra: These Vietnamese women

had hidden from the pirates in caves on Khra Island for fear of being raped. They had been
forced to stand in knee deep sea water for days, during which sea crabs ate away much of the

flesh of their feet and legs.

Thảm Trạng Nhân Tạo: Hải Tặc Dã Man

Một trong các kinh nghiệm khủng khiếp suốt hải trình kinh hoàng của thuyền nhân Việt
Nam là thảm trạng hải tặc. Tình trạng lộng hành của hải khấu trong vùng Ðông Hải hay
vịnh Thái Lan không mới lạ bởi vì ngay từ thế kỷ 16, các nhà thám hiểm Anh quốc từng
báo cáo về hoạt động của chúng từ vận chuyển hàng lậu, thuốc phiện đến cướp bóc
thương thuyền. Tuy nhiên, tệ nạn hải tặc trong vùng Ðông Nam Á chỉ bắt đầu được
cộng đồng quốc tế lưu ý sau khi thảm trạng thuyền nhân Việt Nam được giới truyền
thông toàn thế giới tường thuật vào cuối thập niên 1970.
Một số thống kê xác định là số lượng ghe tị nạn bị hải khấu tấn công lên đến 70%-80%,
nghĩa là cứ 5 ghe vượt biên thì 4 chiếc đã bị cướp. Một vài con số về tệ nạn hải tặc được
Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc lưu giữ từ năm 1980 tuy thiếu chính xác (những nạn
nhân bị hải tặc giết không còn sống để được 'thống kê') nhưng cũng có thể phác họa
một hình ảnh khủng khiếp về sự tàn ác của hải tặc đối với thuyền nhân; chỉ trong vòng
3 năm từ 1980 đến 1983, 2.283 phụ nữ bị hãm hiếp, 592 vụ bắt cóc và 1.376 nạn nhân
bị hải tặc giết.(17) Như đã phân tích ở phần trên, thống kê về tệ nạn hải khấu khó có
thể bao gồm tất cả các sự kiện cướp bóc trên biển mà người tị nạn Việt Nam là nạn
nhân bởi vì có ghe xấu số đã bị hải tặc giết sạch trong mục đích phi tang chứng tích cho
nên không còn người sống sót để tường thuật lại số phận bi thảm của họ.
Ða số hải khấu là dân đánh cá Thái Lan và Mã Lai mang ý nghĩ là thuyền nhân Việt Nam
đem theo nhiều vàng cũng như tài vật đắt giá. Bọn cướp biển dùng dao búa và thỉnh
thoảng cả súng để tấn công người tị nạn không vũ khí trong tay. Chúng thường đi từng
nhóm hai hoặc ba thuyền lớn để bảo đảm sự thành công của vụ cướp ghe hoặc để giảm
thiểu xác suất thất bại nếu gặp sự chống đối của thuyền nhân.

Ghe tị nạn bị hải tặc Thái tấn công.

Sự phản kháng của người tị nạn Việt Nam ít khi xảy ra bởi vì thuyền nhân thường không
mang theo vũ khí, và đa số suy nghĩ là tài vật không quan trọng bằng mạng sống cho
nên họ sẵn sàng mất số quý kim đem theo để bảo toàn bản thân. Mặc dầu việc thu mua
súng đạn ở Việt Nam không khó lắm nhưng phần đông người vượt biên tránh mang
theo vũ khí để không bị công an khép tội 'phản động' trong trường hợp chuyến đi bị
'bể.' Song song, thuyền nhân ít khi chống đối hải tặc do quan niệm quý kim là tài vật
tạm thời có thể kiếm lại sau này nếu còn sống trong khi đó mạng sống mang tính cách
trường cữu nếu mất đi thì mất tất cả. Tuy vậy, hải trình lịch sử của thuyền nhân vẫn có
nhiều vụ phản kháng cá nhân rất hào hùng nhưng gặp thất bại và dẫn đến cái chết của
một số dân tị nạn. Trong vài trường hợp khác, nhiều ghe tị nạn đã biết sử dụng sức
mạnh thanh niên, trái sáng và thỉnh thoảng cả súng trường, lựu đạn để đe dọa hải tặc
khiến chúng phải rút lui.
Trong một vụ phản kháng nổi tiếng toàn thế giới, 19 thuyền nhân bao gồm Bác sĩ
Dương Chi Lăng, Trần Xuân Vinh, Lê Quang Phương, Hứa Thiện Hùng, Âu Diêu, Khuất
Há Chảy, Ðoàn Văn Khuyên, Trịnh Duy Phước, Hồ Minh Tâm, Châu Chí Cường, Huỳnh
Công Danh, Nguyễn Anh Lợi, Trần Khắc Ðức, Huỳnh Quốc Tuấn, Quan Chí Cường,
Huỳnh Trưng Thuần, Trần Chánh Thành, Lê Văn Uyên và Dương Hán Minh đã đánh
chiếm luôn thuyền hải tặc Thái Lan sau khi chúng tấn công họ, hãm hiếp phụ nữ rồi
đâm chìm ghe tị nạn. Câu chuyện không dừng ở đó mà còn dẫn đến các khúc quanh trớ
trêu khi các nạn nhân thông báo cho cảnh sát Thái Lan về hành động cướp bóc dã man
của bọn hải tặc trên thuyền Lakha 12, họ đã bị bắt và khép vào tội sát nhân. Nhiều cơ
quan quốc tế lên tiếng phản đối việc cầm tù họ, đặc biệt là từ giới truyền thông Pháp,
Hội Tương Trợ Tị Nạn Á Châu và tổ chức Y Sĩ Phi Biên Giới. Sau một năm trời vận động,
Bangkok chấp thuận phóng thích nhóm người tị nạn anh hùng này vào tháng 12-1981.
Một thuyền nhân trong nhóm, ông Lê Văn Uyên, sắp mất mạng vì bệnh đau ruột nếu
ông không được thả đúng lúc và đưa vào bệnh viện để điều trị ngay lập tức.
Sự dã man của hải tặc thật khó tưởng tượng, và hành động tàn bạo của chúng đối với
thuyền nhân Việt Nam ít khi nghe đến trong suốt thế kỷ 20. Bọn cướp biển tìm đủ mọi
cách để tước đoạt vàng bạc của người tị nạn; chúng xét họ nhiều lần để tìm kiếm các
vật tùy thân có giá trị. Bọn hải tặc sẵn sàng chặt đứt ngón tay của nạn nhân để lấy
nhẫn hay nhổ răng bọc vàng để lấy quý kim.(18) Bất cứ sự chống đối nào của nạn nhân

cũng đem đến cái chết của họ; sự kiện bọn cướp biển cắt cổ hay đập đầu nạn nhân rồi
quăng thây xuống biển xảy ra rất thường xuyên. Tàn nhẫn hơn nữa là một số hải tặc

hung bạo sẵn sàng giết sạch mọi người trên ghe để phi tang; chúng dùng thuyền lớn để
đâm vào ghe tị nạn mỏng manh nhằm dìm chết tất cả các nạn nhân.
Một bản tường trình của CUTNLHQ có ghi lại vụ cướp biển đã xảy ra vào tháng 12-1985
khiến 50 thuyền nhân bị mất mạng trong tay hải tặc Mã Lai: '80 thuyền nhân đa số từ

khu vực thành phố HCM trốn khỏi nước cộng sản vào ngày 12-12 với hy vọng sẽ đến Mã
Lai. Sau bốn ngày trên biển, họ bị một thuyền đánh cá chặn lại và vui vẻ hứa giúp đưa
họ đến Mã Lai. Hai người đàn ông, một phụ nữ và ba trẻ em được mời sang thuyền

đánh cá sau đó chúng kéo chiếc ghe Việt Nam theo. Năm giờ sau một thuyền đánh cá
thứ hai đến chở khoảng 20 hải tặc mang súng dao và cây sắt nhảy sang ghe Việt Nam
và bắt đầu xét thuyền nhân để cướp vàng và quý vật. Tất cả đàn ông trên 17 tuổi bị
ném xuống biển, ngay cả hai thanh niên được mời sang thuyền đánh cá trước đó. Ða số

đã bị chết đuối bởi vì họ không thể bơi. Các phụ nữ bị hãm hiếp. Sau khi bọn hải tặc bỏ
đi, một người đàn ông còn sống nhờ bám vào một thùng dầu leo trở lại ghe với 28 phụ
nữ và trẻ em rồi giúp họ giăng cánh buồm.'(19)

Hải tặc thường hoạt động trong vòng đai 18 ngàn dặm vuông bao quanh tỉnh Songkhla
nằm phía nam Thái Lan. Bangkok chỉ có hai tàu biên phòng tuần hành khu vực này cho
nên đoạn biển rộng lớn này trở thành một vùng phi pháp. Trong tháng 9-1981, tàu Cap
Anamur đã ngăn cản kịp thời một vụ cướp ghe tị nạn của 5 thuyền hải tặc Thái Lan.

Chiếc ghe Việt Nam chở 95 người rời Cà Mau được khoảng 100 cây số thì bị hỏng máy.
Sau khi lênh đênh 2 ngày trên biển, ghe tị nạn bị bọn Thái khấu tấn công; chúng bắt 33
trẻ em và 22 phụ nữ sang thuyền đánh cá rồi kéo ghe tị nạn về một hướng vô định. Bọn

hải tặc đang lục xét các nạn nhận để tước đoạt quý kim thì tàu Cap Anamur xuất hiện
và giải thoát ghe tị nạn. Chính quyền địa phương đã được thông báo về vụ cướp này
nhưng không có chuyện gì xảy ra đối với bọn hải khấu.

Vào ngày 30-4-1981, ủy ban Chống Hải Tặc ra đời ở Geneva bao gồm nhiều tổ chức
nhân đạo phi chính phủ như Terres des Hommes, Médecins Sans Frontierès, Médecins
du Monde, Écoles Sans Frontierès, Protection de l'Enfant Réfugié, Sentinelles, Bateau Ile
de Lumière, v.v. Sau năm tháng làm việc, ủy ban gởi một con tàu ra khơi để ngăn chận

hải khấu và cứu vớt thuyền nhân Việt Nam.
Trong phạm vi công quyền, chủ trương của Kuala Lumpur và Bangkok là ngăn chận làn
sóng thuyền nhân hơn là các hành động tàn bạo của hải tặc; vì vậy cho nên nhiều quan

sát viên đã nghi ngờ là Mã Lai và Thái Lan có chính sách sử dụng bọn cướp biển như
một vũ khí bán chính thức để xua đuổi người tị nạn khỏi vùng duyên hải. Nhằm bảo vệ
thuyền nhân Việt Nam, CUTNLHQ đã cung cấp cho Thái Lan một tàu biên phòng (mua
giá $160 ngàn Mỹ kim từ Tân Gia Ba) vào tháng 5-1980 và khuyến khích Bangkok nên

tích cực kiểm soát vùng biển phía Nam. Vào năm 1981, Thái Lan được Hoa Kỳ viện trợ
$2 triệu Mỹ-kim để tiến hành chương trình chống hải tặc; số tiền này được sử dụng để
mua 2 máy bay thám thính và sửa 1 tàu tuần hành. Vào khoảng tháng 6, Thái Lan đe

dọa là sẽ ngưng hẳn chương trình này khi yêu cầu xin thêm $1.3 triệu Mỹ-kim bị cắt
xuống còn $600 ngàn Mỹ-kim; sau đó, Bangkok miễn cưỡng chấp nhận một ngân khoản
$3.6 triệu Mỹ-kim hàng năm do CUTNLHQ đề nghị với sự đóng góp của 12 quốc gia
nhằm tiếp tục chương trình chống hải tặc.

Với nguồn tài trợ mới, đội đặc nhiệm bài trừ hải tặc được tổ chức và trang bị 3 tàu tuần
hành, 3 ghe tị nạn 'giả mồi' và 2 máy bay thám thính. Mặc dầu trên lý thuyết, tổ đặc
nhiệm chống cướp biển của Bangkok hiện diện như một thực thể có khả năng tiến hành

nhiều chiến vụ quan trọng; trong thực tế, tổ chức đó hình như chỉ hoạt động hời hợt.

Một trường hợp thương tâm đã xảy ra đối với một ghe tị nạn vào tháng 11-1982. Trong
khi thuyền nhân trên chiếc ghe xấu số đang bị 4 thuyền đánh cá Thái Lan chận cướp,

một máy bay thám thính xuất hiện và xua đuổi đám hải tặc. Nhưng sau đó chiếc máy
bay biến mất thay vì bảo vệ nhóm thuyền nhân cho đến khi họ được cứu vớt; khi không
còn ai ngăn cản chúng, bọn cướp biển trở lại hiện trường để tiếp tục hành hạ nhóm nạn
nhân Việt Nam và bắt đi 12 phụ nữ.

Thái Lan từ chối không chấp nhận bất cứ sự giúp đỡ trực tiếp nào của các quốc gia khác
trong chiến dịch bài trừ tệ nạn hải tặc. Bangkok viện cớ là hải quân Hoàng Gia Thái có
khả năng giải quyết hải nạn này nếu được tài trợ dồi dào - càng nhiều tiền càng tốt! Hồ

sơ lưu trữ liên quan đến lãnh vực này cho thấy là, trong khi đang thực hiện chiến dịch
chống hải khấu, chính quyền Thái tiếp tục hăm dọa đóng cửa tất cả các trại tị nạn để
ngăn cản làn sóng thuyền nhân. Bangkok tuyên bố là sẽ đối xử với dân tị nạn Việt Nam
đến Thái Lan sau ngày 15-8-1981 như những kẻ nhập cảnh bất hợp pháp và sẽ đóng

cửa các trại tạm trú vào năm 1982. Công dân Thái bị cấm không được giúp đỡ thuyền
nhân trong tình trạng hiểm nghèo trên biển, và họ bị hăm dọa với các hình phạt chế tài
nếu vi phạm. Chính sách ngăn ngừa làn sóng tị nạn Việt Nam của Bangkok khiến các

quan sát viên khách quan không ngạc nhiên khi thấy tệ nạn hải khấu gia tăng vượt bực
sau mỗi thông báo chống thuyền nhân của chính quyền Thái.
Trong 5 năm đầu của chiến dịch bài trừ hải tặc, đội đặc nhiệm Thái Lan chỉ bắt được 30
tên cướp biển. Với sự giúp đỡ của nhóm bài trừ hải khấu Hoa Kỳ và các cố vấn của

CUTNLHQ, đội đặc nhiệm Thái Lan hoạt động hiệu quả hơn vào năm 1986 và bắt thêm
được 50 tên cướp biển; 21 trong số 50 tên phạm nhân bị kết án từ 3 năm tù đến tử
hình.(20) Thống kê chính thức cho thấy số lượng thuyền nhân bị cướp giảm từ 70%-

80% trong năm 1980 xuống còn 44% trong năm 1986 và 30% trong năm 1987.
Mặc dầu tệ nạn hải tặc tấn công thuyền nhân Việt Nam vẫn tiếp tục cho đến giữa thập
niên 1990, nhưng vào năm 1988 đội đặc nhiệm bài trừ hải khấu hình như không còn

hoạt động tích cực bởi vì chính quyền Thái dồn nỗ lực thực hiện chính sách đẩy lui, thay
vì ngăn chận, làn sóng tị nạn Việt Nam. Nỗ lực thám tính 52 hòn đảo ngoài khơi - một
số đảo này từng được hải tặc dùng để giam giữ thuyền nhân - bị cắt giảm. Nỗ lực chống
hải tặc của CUTNLHQ và Hoa Kỳ cũng giảm thiểu vì hình như các chính quyền và tổ

chức quốc tế không còn quan tâm đến việc bảo vệ thuyền nhân Việt Nam. Một nhân
viên cứu trợ đã cho đại diện Ủy Ban Luật Sư Vị Nhân Quyền có văn phòng tại Hoa Kỳ
biết.21) 'Thật là buồn cười khi bàn về chuyện bài trừ hải tặc khi chính quyền Thái đang

làm tất cả những gì họ có thể làm được để ngăn chận ghe tị nạn đến (đất Thái).
Chương trình bài trừ hải khấu hoạt động một cách lượm thượm, ở phía Ðông và Nam.
Và nỗ lực quốc tế thám thính dọc miền duyên hải và các đảo hoàn toàn không có.'(22)
Vào năm 1988, hải quân Thái Lan tiếp tục nhận nhiều triệu Mỹ-kim để bảo vệ thuyền

nhân nhưng, theo một số báo cáo, đã được Bangkok sử dụng trong chính sách đẩy lui
làn sóng tị nạn Việt Nam.(23) Vào ngày 27-6-1988, tàu biên phòng Thái đã kéo 3 ghe tị
nạn với 61 người trên đó ra hải phận quốc tế; sau đó bọn lính trên tàu xả đạn bắn vào

ghe. Hai thanh niên may mắn sống sót nhưng lại bị bắt giam rồi chuyển giao cho Hà Nội
sau đó trong chiến dịch cưỡng bách hồi hương. Trong một vụ khác, chính hải quân
Hoàng Gia Thái đã đưa các thuyền nhân xấu số vào nanh vuốt cướp biển. Vào ngày 11-
5-1988, 79 người tị nạn sống sót đến được Mã Lai cho hay là họ bị hải quân Thái bỏ lên

ghe và kéo ra biển. Các tàu đánh cá Thái đã chờ đợi sẵn và, sau khi tàu biên phòng
khuất bóng, ập vào cướp cũng như hãm hiếp phụ nữ trên ghe.

Ủy Ban Luật Sư Vị Nhân Quyền đã điều tra chương trình bài trừ hải tặc của Thái Lan vào
năm 1988 và sau đó đưa ra các ý kiến xây dựng sau đây với hy vọng có thể giải quyết
một số tệ nạn được thành viên Ủy Ban bạch hóa.(24)
'a) Chính quyền Thái nên cho nhân viên chống cướp biển và bảo vệ (tị nạn) của
CUTNLHQ và Hoa Kỳ phỏng vấn người tị nạn ngay lập tức sau khi họ đặt chân lên đất
Thái hay các hòn đảo và chia xẻ tin tức liên quan đến hải khấu. Việc gặp gỡ người tị nạn
sớm có thể giúp cho nỗ lực truy tố hải tặc được dễ dàng hơn.
b) Nhân viên tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ nên thường xuyên thám thính miền duyên hải Thái Lan,
và hệ thống hóa mạng lưới thâu thập tin tức. Việc thám sát các hòn đảo ngoài khơi nên
được tiến hành và nhân viên bổn xứ với khả năng đa ngôn ngữ nên được sử dụng..'(25)
Bởi vì chính quyền Thái Lan do dự trong nỗ lực kiểm soát vùng duyên hải nhưng lại tích
cực thực hiện chính sách cưỡng bức hồi hương, sự tàn bạo của hải tặc trong các vụ
cướp bóc giết hại thuyền nhân Việt Nam gia tăng với một tốc độ khủng khiếp. Bọn hải
khấu dã man đã không nương tay đối với thuyền nhân và sẵn sàng giết sạch các nạn
nhân trên ghe nhằm phi tang tất cả chứng tích. Số lượng ghe tị nạn bị cướp may mắn
sống sót gia tăng trong khi số lượng cướp biển bị bắt lại rất ít; tuy vậy, một sự kiện
đáng ghi nhớ là trong đám phạm nhân bị giam cầm có một số lính hải quân Thái
Lan(26) - vốn mang trọng trách giữ gìn an ninh biên phòng - đã bị các thuyền nhân tố
cáo với chứng cớ hùng hồ là những tên hải tặc mặc quân phục hoàng gia.

______________________

Chú thích:

17 Theo bài nói chuyện của Michel Moussalli, Giám Ðốc Bảo Vệ Cuộc của Cao Ủy Tị Nạn
Liên Hiệp Quốc, tại Ðại Hội các Tổ Chức Thương Hải (Assembly of Maritime
Organizations) ở Luân Ðôn vào ngày 8-11-1983.
18 Chồng của bà Lương B. Châu bị hải tặc Thái chặt ngón tay để lấy chiếc nhẫn vàng và
sau đó giết chết vào tháng 10-1978. Sau khi cướp sạch quý kim, bọn hải tặc đã hãm
hiếp phụ nữ rồi dùng thuyền của chúng để đâm vào mạng ghe. May mắn là các người tị
nạn còn sống sót đã giữ cho ghe số KG-0729 tiếp tục nổi, và cuối cùng họ dạt được đến
đảo Bidong, Mã Lai.
19 'The 80 Vietnamese, mostly from Ho Chi Minh City region, fled their communist
country Dec. 12 (1985) in the hope of reaching Malaysia. After sailing for four days, they
were stopped by a fishing boat with an apparently friendly crew who offered to help
them get to Malaysia. Two men, one woman and three children were invited to come on
board the fishing boat which then took the Vietnamese craft in tow. Five hours later a
second fishing boat arrived which about 20 pirates armed with knives and iron bars,
boarded the Vietnamese boat and began searching the people for gold and valuables. All
men above the age of 17 were thrown into the water, even the two who had been
invited aboard the 'friendly' ship. Most of them drowned because they could not swim.
The women were raped. After the pirates left, a man who had managed to keep floating
by holding on to a jerycan joined the 28 women and children aboard and helped them
to put up a sail again.' '50 Vietnamese boat people killed by pirates, UN aide says,'
Boston Globe, December 26, 1985.
20 Một hải tặc tên Mesa Sukchan bị tòa tỉnh Songkhla kết án tử hình vào năm 1986 về
tội cướp biển, cưỡng hiếp và giết thuyền nhân Việt Nam. Ba cộng tác viên của hắn bị

kết án tù từ 15 đến 22 năm. Theo 'Court gives death sentence for piracy,' Bangkok
World, 13 December 1986.

21 Refuge Denied, Lawyers Committee for Human Rights, 1989, New York, at p.85.
22 'It is ludicrous to talk about anti-piracy when the Thai government is doing all it can
to prevent boats from coming. Anti-piracy is in shambles, in the east and the south. And
international coverage of the coast and the islands is non-existent.'

23 '50 Boat People Apprehended,' Bangkok Post, February 28, 1988.
24 Refuge Denied, Supra, at pp.6-7.
25 'a) The Thai government should grant full access to the UNHCR and U.S. Embassy

anti-piracy and protection officers to interview refugees immediately upon arrival in
Thailand or the islands and coordinate and share information on piracy. Immediate
access will facilitate the prosecution of offenders.
b) U.S. Embassy personnel should on a regular basis monitor Thailand's border and

coastlines, and develop a system of reliable information contacts. Routine searches of
the islands should be conducted and indigenous employees with multi-lingual capabilities
need to be used..'

26 Vào tháng 5-1978, một ghe tị nạn gồm 30 thuyền nhân Việt Nam đã bị tàu tuần cảnh
Thái Lan chận cướp. Bọn lính Thái tước đoạt vàng, hảm hiếp phụ nữ rồi bắn vào ghe ra
lệnh cho thuyền nhân phải rời hải phận Thái. Sau đó không lâu, ghe trôi dạt đến
Songkhla, và đồng bào trên ghe đã tố cáo hành động cướp của hiếp người này nhưng

chính quyền Bangkok tỏ vẻ không tích cực điều tra vụ án. Trong một vụ khác, 6 cảnh
sát Thái đã bị bắt vào ngày 17-6-1979 về tội tấn công cướp của, hiếm dâm thuyền nhân
gần làng Nakhon Si Thammarat nhưng sau đó chúng được phóng thích vì 'thiếu bằng

chứng.'

Thảm Kịch Hải Tặc Bắt Cóc Nô Lệ Hóa Thuyền Nhân

Thiệt hại vật chất không có nghĩa gì khi so sánh với bi kịch mất người thân trên biển cả
mà nhiều gia đình thuyền nhân phải chịu đựng trong đau khổ. Hải tặc không chỉ trấn lột
quý kim mà còn hãm hiếp và bắt cóc phụ nữ cũng như thanh nữ Việt Nam. Con bị
cưỡng dâm trước mặt cha mẹ; vợ bị xâm phạm tiết hạnh trước mặt chồng; nhưng cơn
ác mộng khủng khiếp nhất cho bậc cha mẹ hay khổ phu xảy ra khi con hay vợ bị hải
khấu bắt đi mất tích. Từ giây phút đó trở đi, những người sống sót bị tủi nhục cả đời bởi
vì mặc cảm không thể bảo vệ được người thân. Họ luôn tự hỏi tại sao họ đã nhẫn tâm
đem vợ con ra biển để đối đầu với các hiểm nghèo của bể cả và nhận lãnh một kết cuộc
thật thê thảm. Họ cảm thấy hối hận cả đời còn lại bởi vì họ còn sống mà số phận hẩm
hiu của vợ con kém may mắn thì không biết ra sao.
Chỉ trong 6 tháng đầu của năm 1981, 701 vụ hải tặc tấn công ghe tị nạn đã xảy ra và
145 thanh nữ Việt Nam đã bị cướp biển bắt đi. Một cô gái may mắn sống sót sau cơn ác
mộng kinh hoàng là Nguyễn Phương Thúy, 15 tuổi. Cô Thúy và em cô, Trân, cùng 66
người khác vượt biên vào ngày 19-5-1981 trên một chiếc ghe dài khoảng 10 mét. Hai
ngày sau, họ bị hải tặc Thái Lan tấn công dã man. Sau khi trấn lột sạch vàng và quý kim
của nạn nhân, chúng bắt Thúy và một cô gái đi theo rồi dùng tàu đánh cá đâm chìm
chiếc ghe tị nạn mỏng manh; tất cả các nạn nhân còn trên ghe kể cả bé Trâm đều bị
chết đuối. Trong suốt 3 tháng rưỡi sau đó, Thúy và cô gái bị bắt chung đã trở thành nô
lệ tình dục của bọn hải tặc. Họ bị hãm hiếp mỗi ngày và bị mua đi bán lại giữa các tàu
đánh cá ít nhất là 14 lần. Tàu đánh cá thứ 15 đã tống khứ họ xuống một bãi hoang và
sau đó họ bị lính Thái giam giữ vì tội nhập cảnh bất hợp pháp. Trong tù, Thúy gặp một
cô gái khác tên Nguyễn T. Lan, 25 tuổi, cũng từng bị hải tặc cầm tù như nô lệ tình dục
trên một hòn đảo ngoài khơi nhiều ngày. Sau khi được phép nhập trại tị nạn Songkhla,
Thúy đã viết thư về cho mẹ và các cô để khẩn cầu họ đừng bao giờ vượt biên bằng ghe
bởi vì kinh nghiệm bản thân của cô quá hãi hùng. Một sự kiện hơi trớ trêu là chính
quyền Thái Lan - trên lý thuyết đang tiến hành chiến dịch bài trừ hải tặc - qua ban quản
trị trại đã cấm không cho cô Thúy kể lại kinh nghiệm đau thương của cô cho các ký giả
ngoại quốc.
Danh sách của nạn nhân bị hải tặc bắt cóc rất dài và khó có thể được hoàn tất đầy đủ
bởi vì nhiều gia đình đã bị cướp biển giết sạch nhằm phi tang bằng cớ tội lỗi cho nên
lịch sử mất đi chứng nhân. Ðinh Ngọc Lệ Thủy, sinh ngày 22-2-1967, bị hải khấu Thái
bắt ngày 8-12-1986 trước mặt thân mẫu; mẹ cô hiện đang sống tại thành phố Garden
Grove, California. Dư Tuyết Mỹ, sinh ngày 20-1-1962, đã bị bắt cóc ngày 13-1-1982.
Nguyễn Thị Diễm, sinh ngày 25-12-1966, bị cướp biển cưỡng ép lên tàu đánh cá của
chúng và đưa đi mất tích vào ngày 16-2-1984. Phạm Thị Khuê Lương, sinh ngày 1-1-
1967, và Phạm Thị Yến Ly, sinh ngày 26-10-1968, rời Rạch Giá ngày 24-5-1988 và sau
đó bị hải tặc Thái bắt cóc ngày 27-5-1988. Trong trường hợp của Tăng Bích Hằng, gia
đình cô hứa thưởng $10 ngàn Mỹ-kim cho bất cứ ai có thể cung cấp tin tức về hiện
trạng của cô.
Chúng ta không thể biết được bao nhiêu phụ nữ và thanh nữ Việt Nam đã bị hải tặc bắt
cóc, nhưng chúng ta có thể chắc chắn là số lượng nạn nhân bị cướp đi thật khủng
khiếp. Trong số nạn nhân bị mất tích trên đường tìm tự do có Tăng Bích Hằng, Nguyễn
Thị Thu Nguyệt, Phạm Ngọc Bích Thủy, Võ Thị Cẩm Nhung, Nguyễn Thị Mỹ Dung, Phạm
Thị Ngọc Bích, Phạm Thị Ngọc Hạnh, Nguyễn Thị Ngọc Anh, Diệp Mỹ Linh, Nguyễn Thị
Hiền, Hoàng Thị Kim Chi and Hoàng Thị Kim Dung, Quách Lê Nương, Lê Thị Kim Hồng,

Huỳnh Kim Phụng, Ðinh Thị Như, Nguyễn Thị Ðắc Tâm, Nhữ Thị Thiên Kim, Vũ Thị
Thanh Thảo, Nguyễn Thanh Thủy, Ðặng Thị Quỳnh Hoa, Ðặng Thị Quỳnh Như, Tiến
Xuân Mai, Nguyễn Thị Cẩm Hồng, Bửu Nghị Liêu, Ðỗ Hoàng Dung, Vũ Xuân Phụng,
Nguyễn Diễm Hương, Võ Thị Tuyết, Bảo Trân, Tạ Thị Kim Hoàn, Trần Mỹ Hằng, Lệ
Nguyễn Trúc Mai, Phạm Thị Sương Liễu, Phạm Thị Trúc Ly, Phạm Thị Ngọc Luyện, Châu
Yến Linh, Trần Bích Thủy, Trần Thị Mỹ, Ngô Thị Liễu, Tống Mỹ Hạnh, Nguyễn Thị Kiều
Dung, Nguyễn Thị Kiều Phương, v.v.
Ða số các nạn nhân bị hải tặc giết sau một thời gian bị giam cầm như nô lệ tình dục
nhằm tiêu hủy tất cả các chứng cớ tội lỗi. Trong một số trường hợp, vài phụ nữ đã bị
bán vào các động mãi dâm Thái Lan. Cô Nguyễn Thị Trương bị hải tặc Thái bắt cóc,
hảm hiếp và cuối cùng tống xuất vào đường dây mãi dâm ở phía Nam Thái Lan. Vào
tháng 9-1979, cô Trương trở thành nô lệ tình dục của Heavenly Pleasure Massage Club
và bị bắt buộc phục vụ du khách Tân Gia Ba, Nhật Bản tại các khách sạn như Rado
Hotel hay Seiko Hotel.(27)

Rất nhiều ghe tị nạn đã không đến được bờ tự do. Ít nhất là từ 80.000 đến 200.000 thuyền nhân

đã mất mạng trên biển.

Trong một trường hợp khác, cô Nguyễn Ánh Tuyết cùng chị là Nguyễn Thị Nam rời Nha
Trang vào ngày 8-12-1979. Khi ghe bị hết dầu máy phải lênh đênh trên biển nhiều
ngày, tình trạng thiếu nước ngọt dẫn đến cái chết của 12 trẻ em. Vào ngày 21-12-1979,
họ bị hai tàu đánh cá Thái Lan tấn công. Cô Nguyễn Thị Nam bị đám cướp đập đầu và
quăng thây xuống biển. Sau khi tước đoạt hết tài vật và quý kim, bọn hải khấu kéo
chiếc ghe tị nạn đến giam lỏng tại đảo Khra và bắt đi ba cô gái xấu số trong đó có
Nguyễn Ánh Tuyết. Một trong ba cô gái có tên là Lan đã bị giữ trên tàu thứ nhất và số
mạng của cô ấy đến hôm này vẫn không ai biết ra sao. Nguyễn Ánh Tuyết, 17 tuổi, và
Công Huyền Tôn Nữ Mỹ Kiều, 17 tuổi, đã bị hải khấu trên tàu thứ hai giam giữ trong
một khách sạn ở Songkhla. Khi một tên hải tặc định hãm hiếp cô, Nguyễn Ánh Tuyết cự
tuyệt và khóc la lớn. May mắn cho Tuyết là tiếng khóc thét của cô thu hút được sự chú
ý của du khách ngoại quốc trú ngụ cùng khách sạn, và họ đã can thiệp kịp thời để giải
thoát cô. Qua lời khai của hai cô Tuyết và Kiều, cảnh sát Thái bắt được bọn cướp biển
sau đó. Trong khi lấy khẩu cung, bọn hải tặc thú thật với cảnh sát là chúng dự định bán
hai cô vào một ổ mãi dâm ở Songkhla.

Các thuyền nhân khác còn sống sót trên ghe của cô Nguyễn Ánh Tuyết bị giam giữ như
nô lệ trên một hòn đảo hoang không người sinh sống ở phía đông nam Thái Lan có tên
là đảo Khra (Koh Khra hay Freckle Island) cách vùng Phak Phanang khoảng 43 miles
hay 69 cây số. Khra là một địa ngục trần gian cho những thuyền nhân bị hải tặc tấn
công rồi dẫn độ về đó để giam cầm sau khi phá hỏng ghe của họ. Các người tị nạn thiếu
may mắn đó không còn cách nào trốn khỏi hòn đảo nô lệ; họ bị cô lập hoàn toàn và dần
dần lệ thuộc vào bọn cướp biển để có thực phẩm và nước uống.
Khi một ghe tị nạn Việt Nam bị kéo về đảo Khra, hình như tất cả hải khấu trong vùng
đều biết về sự hiện diện của nhóm thuyền nhân bất hạnh do tin của tàu bắt cóc truyền
đi qua làn sóng vô tuyến. Các ngày sau đó, một vài tàu đánh cá ghé qua đảo để hành
hạ nhóm người vượt biên Việt Nam xấu số; bọn cướp biển đánh đập thanh niên và hãm
hiếp phụ nữ kể cả trẻ em - có những bé gái chỉ mới 11 hay 12 tuổi. Thanh nữ Việt Nam
trên đảo cố gắng ẩn núp trong các bụi rậm hay hang hốc mỗi khi hình dáng khủng khiếp
của tàu đánh cá Thái xuất hiện trên chân trời. Những hành động ghê tởm tàn ác của
bọn cướp biển đã khiến họ khiếp đảm cho nên họ phải trốn tránh trước khi chúng đặt
chân lên đảo. Nhiều cô gái núp trong các hang ổ ngặp đầy nước mặn; chân của họ bị
cua biển cắn nát nhưng họ phải cắn răng chịu đựng vì khiếp sợ sự hung bạo gướm guốc
của hải tặc. Mỗi khi bọn cướp biển lên đảo, chúng trở thành những con thú săn người.
Chúng lục soát hang hốc, bụi rậm và tra tấn những người tị nạn lộ diện một cách tàn
nhẫn để tìm dấu tích của các cô gái. Vòng tròn khủng bố tái diễn và các thuyền nhân
bất hạnh lại phải chịu đựng những hành động tàn ác của bọn hải tặc mỗi khi chúng đặt
chân lên đảo.
May mắn cho một số người tị nạn bị giam giữ trên Khra là đoàn cứu trợ nạn nhân hải
tặc của CUTNLHQ thỉnh thoảng thám thính vùng đảo hoang phía đông nam Thái Lan
sau khi phác giác bi kịch thuyền nhân bị hải tặc giam cầm và nô lệ hóa. Các nạn nhân
được đưa vào trại tị nạn Songkhla để điều trị; nhiều cô gái phải được thuyên chuyển
đến bệnh viện Thái ngay lập tức bởi vì chỉ có dụng cụ y khoa tân tiến và thuốc men đầy
đủ mới có thể cứu sống được họ. Một số thiếu nữ phát bịnh tâm thần do kinh nghiệm
kinh hoàng mà họ đã trải qua trên các hoang đảo; dù cố gắng hết sức, họ vẫn không
thể quên đi được những hình ảnh hãi hùng trong cơ ác mộng ghê tởm vừa xảy ra.(28)
Vào năm 1980, một thống kê nhỏ do nhóm thuyền nhân trong trại Songkhla thực hiện
đưa ra những con số đau lòng sau đây:(29)

1980 Tháng 5 Tháng 6
Ghe nhập trại 41 36
Ghe bị hải tặc cướp 36 (88%) 35 (97%)
Ghe bị dẫn độ đến Koh Khra 5 (12%) 1 (3%)
Số phụ nữ nhập trại 384 440
Số phụ nữ mới nhập trại bị hải tặc hãm hiếp 92 (24%) 55 (13%)
Nạn nhân bị giết hay mất tích trên biển
(có chứng nhân/người biết đến) 70 3

Ðịa ngục trần gian Khra được ghi lại tương đối tỉ mỉ với nhiều chi tiết thương tâm.(30)
Trong trường hợp của bà Nguyễn Thị Thưởng, gia đình bà rời Việt Nam trên chiếc ghe
số SS0640 IA vào ngày 1-12-1979. Ghe của bà đã bị hải tặc chận cướp, và sau đó toàn
thể 107 người tị nạn bị đẫn độ về đảo Khra. Khi còn cách bãi biển một đoạn xa, tất cả
thanh niên Việt Nam bị đạp xuống nước khiến 7 người bị chết đuối vì không lội nổi vào

bờ. Suốt 8 ngày bị giam giữ như nô lệ trên Khra, phụ nữ bị hãm hiếp và đàn ông bị
đánh đập tàn nhẫn. Trong ngày thứ 3, một chiếc tàu mang số POLICE#513 đến đậu

cách bãi biển vài chục thước nhưng không có phản ứng gì khi nghe lời kêu gào cầu cứu
khẩn thiết của nhóm thuyền nhân bất hạnh. Bọn hải tặc trở lại vào những ngày sau đó
và vòng tròn khủng bố lại tái diễn. Ðến ngày thứ 8, các nạn nhân được tàu CUTNLHQ
phát hiện và đưa về trại tị nạn Songkhla.

Với nguồn tài trợ dồi dào của cộng đồng thế giới và sự giúp đỡ của CUTNLHQ, Bangkok
đã cho dựng một trạm thám thính ngay trên đảo Khra vào năm 1981 để cứu trợ nạn
nhân hải tặc. Chỉ trong vòng 12 tháng, 1.250 thuyền nhân đã được giải thoát khỏi địa

ngục Khra; 160 nạn nhân vô tội đã mất mạng trong khi chờ đợi được giúp đỡ. Một bản
tường trình của CUTNLHQ thuật lại bi kịch kinh hoàng trên đảo như sau:
'Một phụ nữ bị phỏng rất nặng khi bọn hải tặc đốt phía đồi nơi cô ta đang lẫn tránh để
bắt cô ta phải ra. Một cô khác trốn nhiều ngày trong một hang có nước lên tận eo bụng
cho đến khi cua biển cắn nát gần hết da thịt chân của cô. Một bé gái đã qua đời sau khi
bị (bọn hải tặc liên tục) hãm hiếp và được chôn với một tấm bia tạm bợ ở bìa rừng thưa
thớt.'(31)
Ðảo Khra không phải chỉ là một địa ngục duy nhất cho thuyền nhân Việt Nam. Tình hình
trong trại tạm trú Kuku trên đảo Jemaja của Nam Dương là một cơn ác mộng hãi hùng
khác cho người tị nạn. Tại Kuku, thuyền nhân bị giam giữ trong những lều quân đội
trước khi được thanh lọc và cho phép di chuyển đến các trung tâm khác như trại tị nạn

Palau Galang. Lợi dụng tình trạng bấp bênh của người tị nạn, về đêm lính Nam Dương
thường xuyên bắt cóc và hãm hiếp phụ nữ Việt Nam trong giai đoạn 1989-1990.(32)
Theo lời kể của cô Nguyễn Thị Thủy - một thiếu nữ từng bị giam giữ trong trại Kuku

hiện đang sống ở Toronto, Canada - các nạn nhân và gia đình của họ không dám chống
đối vì lo sợ cho tính mạng. Bi kịch ghê tởm này chỉ bị phanh phui sau khi chú của một
cô gái bị lính Nam Dương đánh chết vì dám chống đối lại chúng để bảo vệ cháu mình;

cái chết thương tâm của thuyền nhân can đảm này đưa đến nhiều phản ứng bất lợi cho
Jakarta trên chính trường quốc tế khiến chính quyền Nam Dương phải điều tra và ra
lệnh truy tố các hành động đê tiện của đám lính canh gác Kuku.(33)
Khra và Jemaja chắc chắn không phải là hoang đảo duy nhất có thuyền nhân bị hải tặc

giam cầm, giết chóc cũng như đối xử thấp kém hơn nô lệ. Bao nhiêu hoang đảo khác
nữa trong vùng vịnh Thái Lan đã trở thành địa ngục cho người tị nạn Việt Nam? Các
chính quyền địa phương hoàn toàn không lưu tâm đến nỗ lực lâu dài cứu giúp thuyền

nhân bị đày đọa tại các hoang đảo mặc dầu thỉnh thoảng toán đặc nhiệm bài trừ hải tặc
Thái Lan có ghé 52 hoang đảo mà họ tình nghi là có đồng bào tị nạn Việt Nam bị cướp
biển giam giữ (nhưng bao nhiêu tàu tuần tra như tàu số POLICE#513 kể trên có đến và
đã nghe tiếng vang lạy của nạn nhân nhưng không chịu giúp mà cũng không thông báo

cho CUTNLHQ). Chính sách của các chính quyền địa phương chú trọng vào nỗ lực ngăn
cản làn sóng tị nạn Việt Nam hơn là nỗ lực bài trừ hải khấu; và vì vậy cho nên, một số
quan sát viên quốc tế suy luận rằng tàu hải tặc và các thành phần tội ác có thể đã được

chính quyền địa phương bao che để trở thành những con tốt ngăn cản thuyền nhân đến
được bến bờ tự do.
___________________

Chú thích:

27 Bangkok Post, 9 September 1979.
28 Bệnh tâm thần không chỉ ảnh hưởng thuyền nhân trên đảo Khra mà còn cả những
nạn nhân đã trải qua một cuộc hải trình kinh hoàng. Ðiển hình là vào cuối năm 1979 tại
đảo Bidong của Mã Lai, khoảng 28 thuyền nhân mang bệnh tâm thần trầm trọng nhưng
trại không có điều kiện để giúp đỡ họ (đa số là phụ nữ từng bị hải tặc hãm hiếp).
29 Ibid., at p.56.
30 Một vài vụ được ghi lại trong tài liệu Pirates on the Gulf of Siam, 2nd Edi., của Nhat
Tien, Duong Phuc, Vu Thanh Thuy, Boat People S.O.S. Committee, San Diego 1981.
31 'One woman was severely burned when the pirates set fire to the hillside where she
was hiding in an attempt to flush her out. Another cowed for days in a cave, waist-deep
in water, until crabs had torn the skin and much of the flesh away from her legs. A
young girl who died after being gang raped is buried under a simple slab at the edge of
a clearing.' Quoted in Barry Wain, The Refused: The Agony of the Indochina Refugees,
supra, at p. 71.
32 Một trại tị nạn khác kinh hoàng không kém trại Kuku là trại NW82 của Thái Lan vốn
giam giữ bộ nhân Việt Nam.
33 Phỏng vấn cô Nguyễn Thị Thủy vào ngày 30-11-1998 tại Lloyd Duong Attorneys
Atrium ở Toronto, Gia Nã Ðại. Cô Thủy được Ottawa bảo trợ cho định cư vì lý do nhân
đạo vào ngày 20-10-1992; quyết định này là phản ảnh hậu quả nghiêm trọng của vụ
Kuku. Cô Thủy còn cho biết là giá để cho một thuyền nhân được đậu thanh lọc tại Nam
Dương là $2.000 Mỹ kim, và họ được thông báo về hối phí này trước khi hồ sơ xin tị nạn
của họ được xét hầu có thể kịp thời chạy tiền lo lót.

Ðời Sống trong Trại Tị Nạn

Giai đoạn chuyển tiếp của đa số thuyền nhân Việt Nam từ những ngày lênh đênh trên
biển cả đến cuộc sống mới không kém phần bấp bênh tại đệ tam quốc gia được đóng
khung trong vòng đai trại tị nạn. Sự tài trợ của cộng đồng quốc tế đã giúp gầy dựng lên
nhiều trại tạm cư cho dân tị nạn Việt Nam tại các quốc gia Ðông Nam Á từ Nam Dương,
Phi Luật Tân đến Mã Lai, Thái Lan. Khi hội nghị quốc tế đầu tiên về tị nạn Ðông Dương
được tổ chức vào tháng 7-1979, khoảng 200.000 thuyền nhân đang tạm trú tại nhiều
quốc gia trong khi chờ đợi cơ hội tái định cư:

Brunei 20 Nam Hàn 42

Nhật 531 Tân Gia Ba 1.098

Macau 3.256 Phi Luật Tân 5.540

Thái Lan 9.112 Nam Dương 46.189

Mã Lai 66.222 Hồng Kông 66.419

Cấu trúc của các trại tị nạn khác nhau rất nhiều từ lều chỏng hay chòi cây trên những
hoang đảo đến nhà tiền chế, lồng thiết, ba-rắc (barracks) trong những khu đất bị rào
kẽm gai nội bất xuất, ngoại bất nhập.(34) Trại tị nạn Songkhla ở Thái Lan đã được
Bangkok tổ chức một cách vội vã trong khu Mueng vào tháng 6-1976;(35) nhưng sau đó
vì không đủ khả năng để tiếp thu hàng ngàn thuyền nhân cho nên vào tháng 12-1978,
một trại mới được dựng lên gần đó trên một bờ biển cách xa thành phố Songkhla. Vào
tháng 2-1980, trại có 32 ba-rắc dùng làm nơi trú ẩn cho khoảng 6.000 thuyền nhân.
Toàn khu vực trại bị rào kẽm gai và do một đội lính Thái kiểm soát. Songkhla có vài
giếng bơm tay để cung cấp nước ngọt cho toàn trại, và đa số dân tị nạn phải tắm rửa
ngoài biển (một vài nhà tắm riêng cho phụ nữ cũng được dựng lên phía sau các ba-rắc).
Trại nằm trên bãi biển trống rỗng cho nên không có rừng thưa cung cấp cũi đốt như ở
các trại khác; và vì vậy khi lượng than khiêm tốn do CUTNLHQ (thường được dân trong
trại gọi tắc là Cao Ủy) cung cấp hàng tháng hết, dân tị nạn phải mua cũi cũng như các
vật dụng cần thiết từ thương nhân Thái có liên hệ gia tộc hay quyền lợi với đám lính
kiểm soát ở khu chợ phía trước cổng trại. Nếu bị mất hết tài sản vào tay bọn cướp biển
lại không có thân nhân ở ngoại quốc giúp đỡ, thuyền nhân kém may mắn không còn
quý kim phải sống bám vào lòng từ thiện của những người chung quanh.
Vào năm 1979 - thời điểm cao độ nhất của phong trào vượt biên - ngoại trừ Hồng Kông
thuộc Anh quốc vốn tự tài trợ cho chương trình tị nạn với sự giúp đỡ giới hạn của Cao
Ủy,(36) CUTNLHQ chi mỗi ngày từ $0,25 Mỹ-kim cho một thuyền nhân ở Thái Lan đến
$1 Mỹ-kim cho mỗi người tị nạn Việt Nam ở Mã Lai.(37) Tàu tiếp liệu không phải lúc nào
cũng có thể đến nơi tạm cư của thuyền nhân một cách dễ dàng; điển hình là CUTNLHQ
phải mất từ 24 đến 36 giờ hải vận mới có thể tiếp tế cho dân tị nạn trên đảo Bintan của
Nam Dương và thực tế này đưa đến kết quả thê thảm là vài chục người trong đó có
nhiều trẻ em cũng như phụ nữ đã mất mạng trong khi chờ đợi tiếp liệu.
Một trong các trại tị nạn nổi tiếng mà hầu hết thuyền nhân đều biết là Pulau Bidong
(đảo Bidong) hay Cù Lao Bi Ðát có chu vi khoảng 1 cây số vuông. Vào tháng 7-1978,
121 người Việt Nam đầu tiên được đưa đến hòn đảo hoang dã không người ở này của
Nam Dương. Sáu tuần lễ sau, thêm 600 người tị nạn khác được chuyển đến đảo nhưng
chính quyền Jakarta và CUTNLHQ vẫn chưa tiến hành bất cứ chương trình nào nhằm

giúp đỡ phương tiện sinh tồn căn bản cho họ như phòng vệ sinh công cộng hay nơi dự
trữ tiếp liệu. Dân số tị nạn tại Bidong tăng lên 9.000 trong tháng sau đó và vọt lên đến

29.000 người vào cuối năm đó. Số thuyền nhân tại trại Cù Lao Bi Ðát sau này đã từng
lên đến trên 54.000 người, và thuyền nhân vẫn tồn tại một cách kỳ diệu trong hoàn
cảnh sống vô cùng khắc nghiệt. Sự tự do mới tìm lại được đã tạo cơ hội cho họ sử dụng
trí óc sáng tạo để chinh phục thiên nhiên nhằm thích ứng với đời sống khó khăn trên

đảo.
Ðể tồn tại trong điều kiện sinh hoạt khắc nghiệt từ nhiều tháng đến nhiều năm, ngoài
hy vọng về một tương lai tốt đẹp hơn, thuyền nhân còn phải trở thành những con người

sáng tạo để tìm cách sống thuận tiện trong lúc thiếu tất cả các phương tiện căn bản
nhất. Ðể tìm cũi nấu ăn cũng như cất chòi, dân tị nạn ở Bidong đã 'lên núi' (thực chất ra
chỉ là ngọn đồi cao khoảng 300 thước) đốn cây và mang về trại. Các căn chòi tạm trú
với bề dài khoảng 3 thước và bề ngang khoảng 2 thước được dựng lên khắp nơi; nhiều

căn còn có cả điện soi sáng nhờ vào bình ắc-qui (điện) xe hơi.(38) Ðể bổ khuyết cho
lượng nước ngọt 8-lít-mỗi-người do CUTNLHQ cung cấp cách nhật,(39) thuyền nhân đã
đào hàng trăm giếng nhỏ hầu lấy thêm nước sử dụng; tuy vậy, vào mùa khô thì chỉ vài

giếng là có nước.
Tiêu chuẩn khẩu phần ba ngày của mỗi thuyền nhân do CUTNLHQ trợ cấp bao gồm 900
grams gạo, 2 gói đường, 1 gói muối, 3 hộp cá mòi, 3 hộp đậu, 3 hộp gà, và 3 gói trà
hay cà phê (dĩ nhiên là tiêu chuẩn này đôi khi bị thâm thủng chút ít vì công nhân vô bọc

sai lạc hay nhà thầu ăn gian). Cứ mỗi đệ nhị cá nguyệt, nếu điều kiện cho phép, dân tị
nạn được cấp thêm rau tươi. Trẻ em dưới 3 tuổi còn được cho thêm sửa bột và bánh
bít-qui (biscuits hay bánh sửa khô). Ðể bổ trợ cho khẩu phần của CUTNLHQ, một số

thuyền nhân mua thêm hàng hóa từ thương thuyền Mã Lai đậu ngoài khơi và bán lại
kiếm lời bất kể sự cấm đoán của lính Mã; những cá nhân liều lĩnh vì đồng tiền này có
thể bị đánh đập tàn nhẫn và giam giữ nhiều ngày sau đó nếu bị bắt mà không có 'địa'

để hối lộ xứng đáng cho đám lính Nam Dương quản trị Bidong. Những gia đình mang
theo được quý kim hay được thân nhân tài trợ có thể mua hàng hóa 'buôn lậu' tại khu
chợ trời bên trong khu vực trại. Ðủ loại đồ vật được bày bán từ kem đánh răng, quần
áo, thuốc lá đến đường, bột, nước ngọt và bánh trái. Ngay cả xa xí phẩm như dầu

thơm, đồng hồ, đèn pin cũng có mặt tại chợ trời. Dĩ nhiên là các dụng cụng cần thiết
như búa, cưa, đinh, ốc và dây kẽm cũng không thể thiếu bởi vì dân tị nạn tại Bidong có
nhu cầu đốn cây chụm bếp và dựng chòi tạm cư.

Ðể đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tâm linh, thuyền nhân dựng lên một ngôi chùa và một
nhà thờ trên ngọn Ðồi Tôn Giáo nơi có một nghĩa địa nhỏ bảo bọc vài chục nấm mồ tị
nạn. Có lẽ không ai từng trải qua một giai đoạn sống trên Cù Lau Bi Ðát đầy dừa quên
được vị thuyền nhân qua đời đầu tiên trên đảo vốn là một cụ già kém may mắn bị dừa

rụng trúng đầu. Vào khoảng cuối năm 1979, 78 dân vượt biên đã gởi xác trên Bidong;
nhưng dân số tị nạn trên đảo cũng tăng lên với sự chào đời của 371 trẻ em.(40) Một sự
thật thương tâm trên Bidong là sự hiện diện của ít nhất 28 nạn nhân hải tặc mắc bệnh

tâm thần trầm trọng vì đã trải qua quá nhiều kinh nghiệm kinh hoàng, nhưng trại không
có phương tiện thích hợp nhằm giúp đỡ họ. Tình cảnh sống của thuyền nhân trên
Bidong đôi lúc thật khổ sở, và có lẽ vì vậy cho nên dân vượt biên mới gọi Pulau Bidong
là Cù Lau Bi Ðát hay Hải đảo buồn lâu bi đát.

Giai đoạn chuyển tiếp của đa số thuyền nhân Việt Nam trong vòng đai trại tạm cư tại
Ðông Nam Á trải qua rất nhiều chuỗi ngày vui buồn. Trại tị nạn cung cấp một môi
trường sinh động cho tình bằng hữu phát triển bềnh vững kéo dài nhiều năm sau này,

cho tình yêu nảy nở đưa đến tổ ấm gia đình, cho tinh thần chia xẻ giúp đỡ lẫn nhau

bùng phát giữa những con người hình như đã mất tất cả, cho niềm tin vào sức mạnh
tâm linh được bảo tồn và phát huy mạnh mẽ sau những ngày tháng lênh đênh trên biển

cả trực diện với tử thần và hải tặc, cho sức sáng tạo của khối óc con người có cơ hội
cạnh tranh trong việc gầy dựng đời sống mới từ việc bếp núc đến các tính toán thương
mãi, v.v.
Niềm tin vào trời phật tái sinh mãnh liệt trong tâm hồn của nhiều thuyền nhân, đặc biệt

là những nạn nhân đã từng trải qua một hải trình khủng khiếp. Hầu hết tất cả các trại tị
nạn đều có một ngôi chùa, một nhà thờ kitô giáo và một giáo đường tin lành do cựu và
tân đạo hữu dựng lên. Các buổi lễ hàng tuần đều đầy người tham dự, và các tín đồ đến

trễ phải đứng bên ngoài để nghe lời minh giảng của vị lãnh tụ tinh thần. Ngoài việc tổ
chức lễ tế thường xuyên, các cơ sở tôn giáo cũng trở thành trung tâm bảo bọc các
chương trình đạo học, lớp Việt ngữ, Anh văn hoặc Pháp văn, song song với các sinh
hoạt xã hội hay thiện nguyện.

Sinh hoạt xã hội - bất kể là có liên quan đến tôn giáo hay không - giúp cho cộng đồng
thuyền nhân trở nên gần gũi với nhau hơn trên mảnh đất xứ người xa lạ. Tình bằng hữu
nảy nở, phát triển và bền vững cho đến nhiều niên kỷ sau này. Một số cặp tình nhân đã

xe duyên và, nếu may mắn sinh hạ trước khi đi định cư, thỉnh thoảng họ đặt tên con
theo địa danh của trại như Songkhla Nguyễn để đánh dấu một kỷ niệm quan trọng
trong đời. Nhiều hội đoàn xã hội hay ái hữu được thành lập hoặc tái sinh nhằm tạo cơ
hội cho các thành viên trao đổi cũng như giúp đỡ lẫn nhau. Vào đầu niên kỷ 1980, vài

trại tị nạn ở Thái Lan còn có cả một tổ chức bí mật chuyên tuyển người về Việt Nam để
trực tiếp tranh đấu cho tự do dân chủ.
Sự sa sút của quốc gia khai thiết tinh thần tương trợ cao thượng nhất từ những con

người bình thường nhất đúng như thành ngữ 'quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách.'
Tinh thần chia xẻ bùng phát giữa thuyền nhân với nhau cũng như giữa thuyền nhân và
đồng bào hải ngoại. Trong khi chờ đợi cơ hội định cư, hàng ngàn dân tị nạn tham gia

các công tác thiện nguyện trong trại từ dịch vụ thông dịch, phát hành bản tin, chương
trình văn nghệ đến dịch vụ bảo vệ an ninh, vệ sinh toàn trại, chương trình giúp đỡ các
thuyền nhân mới nhập trại và trẻ em vô gia đình. Nhu cầu xã hội của quý vị cao niên và
thanh niên cũng được các thiện nguyện viên chú ý đến; song song với sinh hoạt tôn

giáo, các lớp học ngoại ngữ và phong tục Tây phương được thực hiện hầu giúp cho quý
ông bà cụ một số kiến thức căn bản về cuộc sống mới sắp đến. Ðối với việc giúp đỡ
thanh thiếu niên, ngoài những sinh hoạt hướng đạo hay tôn giáo như ca đoàn hoặc gia

đình phật tử, các buổi sinh hoạt ngoài trời và trò chơi thể thao như túc cầu hay bóng
chuyền được tổ chức thường xuyên để đưa sức sống năng động của tuổi trẻ hướng về
các mục đích lành mạnh.
Tại các quốc gia định cư, cộng đồng tị nạn hải ngoại cũng không quên những thuyền

nhân Việt Nam còn kẹt lại trong các trại tạm cư ở Ðông Nam Á. Song song với nỗ lực lạc
quyên cứu trợ, họ thu thập và gởi sách báo đến các trại tị nạn để cập nhập hóa thuyền
nhân về biến chuyển quốc tế cũng như tin tức cộng đồng. Họ cũng tổ chức vài chuyến

viếng thăm các trung tâm tị nạn ở Ðông Nam Á nhằm giúp đỡ và khuyến khích thuyền
nhân tiếp tục giữ vững hy vọng vào một viễn ảnh tương lai tốt đẹp hơn. Trong niên kỷ
1990 khi chương trình thanh lọc được thực hiện một cách bất công với sự đồng tình của
CUTNLHQ, cộng đồng Việt Nam hải ngoại đã tài trợ cho nhiều thiện nguyện viên trở về

giúp đỡ đồng bào tị nạn, đặc biệt về phương diện luật pháp. Ðể xây dựng một cơ sở
bảo bọc cho đồng bào bị rớt thanh lọc tại Phi Luật Tân, cộng đồng Việt Nam hải ngoại
đã đóng góp khoảng $2 triệu Mỹ-kim cho chương trình Làng Việt Nam do Giáo Hội Phi

đề xướng.

Hàng quán trong trại tị nạn Galang, Nam Dương.
(Ảnh: Lý Khánh Vân)

Dân Việt ưa thích các món ăn truyền thống như chả giò và phở cũng như các món ăn
nhẹ như xôi chè; vì vậy cho nên không mấy ai ngạc nhiên khi thấy nhiều quán ăn cũng
như tiệm cà phê mọc ra khắp các trung tâm tị nạn trong vòng một vài tháng sau khi
khánh thành trại. Mặc dầu không cảm thấy ngạc nhiên nhưng bất cứ ai cũng phải kính
phục sự đảm đang của phụ nữ Việt Nam với khả năng linh động vĩ đại của họ trong việc
nấu nướng các món ăn truyền thống. Họ không những chỉ sáng tạo ra vật dụng bếp núc
để chế biến thực phẩm Việt mà còn phát minh ra phương pháp cải hóa đồ gia vị địa
phương để tạo ra hương vị thuần túy Việt. Trong một khoảng thời gian rất ngắn qua tài
đảm đang của phụ nữ Việt Nam, các món ăn truyền thống như chả giò và phở cũng như
các món ăn nhẹ như xôi chè đã xuất hiện tại hầu hết các trại tị nạn Ðông Nam Á.
Giai đoạn chuyển tiếp của thuyền nhân Việt Nam trong vòng đai trại tị nạn tuy có nhiều
kỷ niệm vui nhưng cũng chứa đựng một số giây phút kinh hoàng do các hành động hối
lộ và khủng bố của chính quyền sở tại song song với tệ nạn bắt cóc thanh nữ của bọn
côn đồ địa phương. Ðám lính nhận lãnh trách nhiệm kiểm soát cũng như bảo vệ người tị
nạn Việt Nam thường xuyên lục soát và tịch thâu đồ đạt của đồng bào trong trại; bất cứ
ai chống lại chúng đều có thể bị đánh đập và giam cầm trong các chuồng khỉ. Ðiển hình
là vào năm 1979, khoảng 1.400 đồng bào tại trại tạm cư Letung trên đảo Jemaja đã bị
cảnh sát Nam Dương ép phải đóng $50 Mỹ-kim mỗi người thì mới có thể được
CUTNLHQ lập hồ sơ tị nạn mặc dầu việc này hoàn toàn miễn phí.
Tệ nạn lính canh và côn đồ địa phương bắt cóc cũng như hãm hiếp phụ nữ đang sống
trong các trại tị nạn không phải là một việc hiếm khi xảy ra. Như đã tường trình trong
các phần trên, lính Nam Dương thường xuyên bắt cóc hảm hiếp thanh nữ Việt Nam ở
trại Kuku trong những năm 1989 và 1990. Trong một vụ khác, cô Mỹ Linh đã bị cảnh sát
Thái cưỡng dâm khi nhóm của cô bị nhốt trong một trại lính vào tháng 3-1988; sau ba
ngày bị hành hạ, đám cảnh sát Thái đẩy các nạn nhân lên một chiếc ghe bị lủng và kéo
ra hải phận quốc tế. Các nạn nhân này may mắn đến được đảo Kut và sau đó được đại
diện CUTNLHQ đưa về đảo Rang Yai vào ngày 12-3-1988 để nhập chung với khoảng
500 đồng bào tại đó. Trong một vụ khác, cô Nguyễn Diễm Chi bị lính Thái nhốt 23 ngày

vào tháng 4-1988 để điều tra về bọn côn đồ đã cưỡng hiếp cô trước đó; trong khoảng
thời gian bị giam giữ, cô đã bị bọn lính hãm hiếp nhiều lần.
Trong một vụ khác xảy ra vào ngày 18-3-1980 tại trại Songkhla, đám du đảng Thái
đánh bể đầu một thanh niên tị nạn để bắt cóc cô bạn gái của anh. Sau đó chúng lôi cô
về hướng đồn lính Thái ở phía sau trại. Một nhóm thuyền nhân đang ngủ trên 'đại lộ
Bình Minh' dọc bờ biển nghe tiếng kêu cứu của cô đã nhanh chân rượt theo đám du
đảng. Họ bất chấp lệnh cấm không được ra khỏi vòng đai trại sau 10 giờ đêm để đuổi
theo kịp đám côn đồ và cuối cùng đã giải thoát cô gái kịp thời. Sau khi bọn du đảng mất
mồi, lính Thái từ đồn ào ra; nhưng thay vì rượt bắt đám du đảng (lúc đó vẫn còn ẩn
hiện phía sau đồn), tên đồn trưởng Thái lại mắng nhiếc người tị nạn về hành động dám
ra khỏi vòng đai trại sau 10 giờ tối.(41)
Mặc dầu phải đối đầu với các kinh nghiệm tủi nhục như trên, hình như đa số thuyền
nhân đều đồng ý rằng giai đoạn chuyển tiếp trong trại tị nạn là một trong những
khoảng thời gian đáng nhớ nhất suốt cuộc đời của họ. Sau khi trải qua các thử thách
khó khăn tại đệ tam quốc gia, có nhiều người còn khẳng định giai đoạn chuyển tiếp đó
là một trong các khoảng 'thời gian lắng đọng' tương đối dễ chịu. (42)

____________

Chú thích:

34 Trại tị nạn của Singapore trên đường Hawkins có lẽ là trại tốt nhất nhưng chỉ có
đồng bào tị nạn nào đã được chấp nhận định cư mới có thể xin vào trại. Vào năm 1979,
Hồng Kông cho thuyền nhân tự do đi làm để kiếm sống; nhưng chương trình này chấm
dứt khi Hồng Kông đưa ra chính sách trại cấm để cầm tù tất cả đồng bào mới đến vào
tháng 7-1982.
35 Trước tháng 6-1976, thuyền nhân được đưa vào trại Sikhiu ở Nakhon Ratchasima.
Vào tháng 6-1976, hai trại tị nạn mới được Bangkok thành lập ở Songkhla (cho các
thuyền nhân cập bờ phía Nam Thái Lan) và Laem Sing (cho các thuyền nhân đến bờ
biển phía đông). Trại Laem Sing (hay Lâm Sỉnh) và nhiều trại tị nạn khác ở
Aranyaprathet, Buriram, Fak Tha, Kap Cherng cũng như Mairut đã bị đóng cửa vào cuối
năm 1981.
36 Hồng Kông đã chi $14 triệu Mỹ kim cho chương trình tị nạn trong năm 1979. Vào
ngày 16-8-1979, Cao Ủy giảm tiền ăn của thuyền nhân ở Hồng Kông xuống còn HK$4
mỗi ngày.
37 Nhiều hơn cả lợi tức trung bình của dân địa phương.
38 Vào gìai đoạn cao điểm khi thuyền nhân ồ ạt đổ lên Bidong, người ta đã chuyển tay
nhau các căn chòi nhỏ hẹp này với giá vài trăm Mỹ kim mặc dầu nội quy của trại ngăn
cấm chuyện mua bán này. Trong các năm sau này, các dãy nhà dài có tên là 'long
houses' đã được dựng lên để cung cấp chỗ ở tạm thời cho đồng bào tị nạn.
39 Vào mùa khô, cung lượng nước ngọt hàng ngày cho mỗi đầu người bị giảm xuống
còn 2 lít.
40 Vào Tết Dương Lịch năm 1981, Pulau Bidong đã chào đón em bé ra đời thứ 1.000
trong trại. Lúc đó trại đã có 7 trường dạy ngoại ngữ với 145 lớp học cho người lớn và trẻ
em.
41 Người viết là một cậu bé trong nhóm dân tị nạn rượt theo bọn du đảng Thái để cứu
cô gái trong đêm đó.

42 Trại tị nạn Việt Nam cuối cùng là the Pillar Point Vietnamese Refugee Centre ở Hồng
Kông đã đóng cửa vào tháng 5-2000. Khoảng 1.400 người ở đây không được đi định cư

bởi vì trở ngại tư cách pháp nhân (bị nghi là công dân Trung cộng giả làm thuyền nhân
Việt Nam) và do các hành vi phạm pháp trong quá khứ. Ða số các người này đã được
chính quyền Hồng Kông cấp quyền thường trú.

Ðồng Bào Tị Nạn Miền Bắc

Từ cuộc di tản khổng lồ vào Nam năm 1954 cho đến năm 1975, thỉnh thoảng một số
đồng bào miền Bắc vượt thoát được gông cùm kềm kẹp của chính quyền cộng sản Hà
Nội để xin tị nạn tại miền Nam. Sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn vào tháng 4-1975
đánh dấu một bước ngoặt mới trong trào lưu tị nạn cộng sản tại miền Bắc: bán đảo
Ðông Dương không còn một mảnh đất an toàn cho người Việt tìm tự do ẩn náo.(43) Sự
can đảm phiêu lưu của dân tị nạn miền Nam trên những chiếc thuyền mỏng manh trên
biển Ðông mở ra một hướng đi mới cho đồng bào miền Bắc mang hoài vọng tự do; họ
nhanh chóng thay đổi hướng vượt tuyến để chuẩn bị băng bể đến Hồng Kông hay
Macao.(44)
Hải trình của đồng bào miền Bắc tương đối dễ dàng và ít tốt kém hơn khi so sánh với
chi phí và các khó khăn nhân tạo cũng như thiên nhiên mà nỗ lực vượt biên ở miền Nam
phải đương đầu.(45) Phương pháp tổ chức giữa hai miền có nhiều khác biệt lớn lao bởi
vì, sau một thời gian dài bị chính quyền xã hội chủ nghĩa đàn áp và tước đoạt gia sản,
đa số ghe thuyền miền Bắc không còn máy móc hay hải cụ đi biển; và vì vậy, đồng bào
miền Bắc chỉ có cách là vượt tuyến qua Trung quốc rồi tìm cách sang Hồng Kông hay tổ
chức ra đi trên những chiếc ghe cũ và nhờ vào sức gió thổi cánh buồm đến vùng đất tự
do. Hải trình của đồng bào miền Bắc kéo dài khoảng 6 đến 8 tuần lễ và thường luôn
luôn đi dọc theo bờ biển Trung quốc để đến Hồng Kông hau Macao; đây là những
chuyến đi 'nhảy đảo' (island-hoping) bởi vì dân tị nạn trên ghe lúc nào cũng thấy được
bờ và có thể cập bờ (thuộc lãnh thổ Trung quốc) bất cứ lúc nào để tránh giông tố hay
mua thêm thực phẩm, dầu máy hoặc để sửa chữa ghe. Vào những năm đầu của niên kỷ
1980, Bắc Kinh xung đột với Hà Nội cho nên có chính sách dễ dãi cho thuyền nhân; và
nhờ vậy, đồng bào miền Bắc có thể cập bờ một cách tự do trên đường đến Hồng Kông
hay Macao.(46)

Ðồng bào miền Bắc thường dùng thuyền buồm để ra đi xin tị nạn.
(Project Ngọc)

Vào năm 1982, chính quyền thuộc địa Anh ở Hồng Kông, nơi mà đa số đồng bào miền
Bắc xin tị nạn, đưa ra chính sách trại cấm. Sau ngày 2-7-1982, tất cả thuyền nhân đến
Hồng Kông được yêu cầu đọc bản thông cáo của chính quyền như sau:

'Toàn thể cựu thường dân của Việt Nam xin vào Hồng Kông từ ngày 2-7-1982 sẽ bị giam
giữ trong những trung tâm đặc biệt.
Nếu quý vị không rời khỏi Hồng Kông ngay bây giờ, quý vị sẽ bị dẫn độ về một trại cấm
và giam giữ vĩnh viễn trong đó. Quý vị sẽ không được cho phép rời trại cấm trong suốt
thời gian ở tại Hồng Kông. Cơ hội để được định cư rất khó xảy ra. Quý vị được tự do rời
khỏi Hồng Kông ngay bây giờ, và nếu quý vị quyết định tiếp tục lên đường, quý vị sẽ
được giúp đỡ.'(47)

Các 'trung tâm đặc biệt' của Hồng Kông là những khu tạm cư 3 giường chồng với độ cao
và rộng khoảng 2.6mx2mx1m được ngăn bằng khăn, màn vải hay ván. Bên trong hàng
rào kẽm gai của trại cấm, phương tiện sinh sống như nhà bếp hay phòng vệ sinh rất giới
hạn so với số lượng đồng bào bị giam cầm. Thỉnh thoảng người tị nạn cũng được mướn
làm một vài việc vặt với mức lương bóc lột; một ngày làm việc của họ được trả không
quá $0,40 Mỹ-kim.
Vào năm 1990, một thành viên của Cơ Quan Hành Pháp và Lập Pháp Hồng Hông (the
Executive and Legislative Councils of Hong Kong) đưa ra nhận định là.(48) '.. nhiều
người đến Hồng Kông xin tị nạn không trốn chạy sự đàn áp cho nên không phải là dân tị
nạn theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc. Phần đông là người Việt thay vì là người Hoa.
Càng nhiều người đến từ miền Bắc Việt Nam và không có liên hệ gì với chính quyền
miền Nam hay sự hiện diện của Hoa Kỳ trước đây. Họ chỉ là những thành phần tị nạn
kinh tế tìm kiếm một cuộc sống khá hơn.. vào năm 1988, số lượng người đến (Hồng
Kông) gia tăng đáng kể. Hơn 70% đến từ miền Bắc Việt Nam và quá 98% là dân Việt
Nam.'(49) Nhận định này phản ảnh chính sách của chính quyền thuộc địa Anh ở Hồng
Kông vốn xác quyết đồng bào miền Bắc toàn là dân tị nạn giả dối để tước đoạt quyền tị
nạn cộng sản của họ.(50)
Trường hợp của ông Nguyễn Mạnh Hùng, một thuyền nhân từ miền Bắc, phủ nhận chủ
trương 'quơ đủa cả nắm' hời hợt này một cách dễ dàng. Lời khai của ông Hùng về sự
đàn áp của chế độ cộng sản đã bị cho là thiếu xác thực và không đáng tin cho nên đơn
xin được hưởng quy chế tị nạn của ông bị từ chối. Ông Hùng đã từng vào tù ra khám
nhiều năm tại miền Bắc bởi vì chính quyền Hà Nội gép ông vào thành phần phản động
do các tư tưởng thiên tự do của ông. Mặc dầu ông Hùng đã kể rõ ràng và rất chi tiết về
những hành động dã man mà guồng máy cộng sản thi hành để áp chế ông cùng gia
đình, đơn tị nạn của ông bị bác chỉ vì ông là một người Việt Nam đến từ miền Bắc. Với
sự giúp đỡ của một số luật sư thiện nguyện, ông Hùng đã kháng cáo lên Tối Cao Pháp
Ðình Hồng Kông để chứng minh tệ nạn bất công cũng như kỳ thị chủng tộc của chính
sách thanh lọc tị nạn Việt Nam; nhưng trước khi tòa xử vụ kháng án, chính quyền địa
phương đã khôn khéo can thiệp và cấp cho ông Hùng quy chế tị nạn nhằm tránh một vụ
xì-căng-đang lớn.
Trường hợp của ông Nguyễn Mạnh Hùng chứng minh hùng hồ là nhiều đơn xin tị nạn
của đồng bào miền Bắc có thể bị bác bỏ một cách bất công mặc dầu họ có lý do tị nạn
chánh đáng. Daniel Wolf, một luật sư Hoa Kỳ từng trợ giúp thuyền nhân Việt Nam tại
Hồng Kông, có đưa ra ý kiến sau đây mà người viết chia xẻ một phần do kinh nghiệm
thực tế thụ lý các hồ sơ kháng cáo tị nạn tại Ðông Nam Á:

'Có sự trùng hợp chóa mắt giữa các hồ sơ tị nạn bị từ chối. Ðiển hình là
nếu một người tin vào các lời ghi chép trong chồng hồ sơ thì hầu như mọi
người xin tị nạn, bất kể sự khả tín của lời khai về sự đàn áp, đều nói rằng
ông hay bà ta đã rời Việt nam để tìm một đời sống tốt hơn ở nước ngoài,
và từ chối trở về bởi vì sợ bị trừng phạt vì lý do ra đi bất hợp pháp. Và

khi được hỏi là họ có gì để nói thêm hay không, thì hầu như trong tất cả
các trường hợp, người đứng đơn đều trả lời là 'không.'

...

Dựa theo thống kê của tôi qua hơn một trăm vụ cũng như các cuộc đàm
thoại với những nhân viên làm việc trong lãnh vực này, sự thẩm định một
cách bảo thủ của tôi cho thấy là khoảng 40% đến 60% người Việt trong
trại cấm Hồng Kông, kể cả 30% đến 50% dân miền Bắc, đã rời bỏ Việt
Nam để trốn chạy sự đàn áp và là người tị nạn theo đúng nghĩa của Công
Ước 1951 và Hiệp Ðịnh Thư 1967 liên quan đến Tư Cách Tị Nạn.'(51)

Trường hợp của đồng bào miền Bắc cho thấy tệ nạn kỳ thị chủng tộc có thể tàn phá
lòng nhân đạo của con người và đặt dân tị nạn thực sự trong tình trạng nguy hiểm khi
bị từ chối và cưỡng bách hồi hương.(52) Tiến trình thanh lọc tị nạn tuyệt đối không thể
được xây dựng trên chính sách kỳ thị chủng tộc hời hợt bởi vì như vậy có thể tiêu hủy
tất cả các cơ hội quý báu để minh định thành phần tị nạn thật sự cũng như tạo lỗ hổng
cho những kẻ ra đi chỉ vì miếng cơm manh áo lợi dụng chính sách phân biệt tị nạn dựa
trên màu da hay chủng tộc để được hưởng quy chế tị nạn một cách bất công.

________________

Chú thích:

43 Cam Bốt và Lào cũng rơi vào vòng đai kiểm soát của Cộng Sản.
44 Vào tháng 6-1979, một số nhân viên cảnh sát Macao bị tố cáo là đã cộng tác với Hà
Nội trong kế hoạch buôn lậu hàng vận nhân.
45 Ðồng bào miền Bắc chỉ phải tốn khoảng từ $600 đến $700 Mỹ kim mỗi người để tổ
chức ra đi trong khi đó thuyền nhân miền Nam phải chi từ $1.500 đến $5.000 Mỹ kim
mỗi người. Ðộc giả cần lưu ý là số tiền $600 đến $700 Mỹ kim rất lớn đối với đồng bào
miền Bắc vì lương hàng tháng của họ khoảng từ $25 đến $45 Mỹ kim mỗi người hay chỉ
bằng một nữa lương của dân miền Nam.
46 Dĩ nhiên là cán bộ cộng sản Trung quốc cũng thường xuyên cho dân Tàu giả dạng
thuyền nhân đi nhờ ghe Việt Nam để được hưởng quy chế tị nạn, và đồng bào miền Bắc
khó mà có thể từ chối lời đề nghị của các 'mạnh thường quân.' Thực tế này không qua
mắt nổi các giới chức có thẩm quyền; và một số ghe đã bị giam lâu ngày để điều tra bởi
vì chính quyền Hồng Kông nghi người trên ghe là dân Tàu giả dạng thuyền nhân Việt
Nam.
47 'All former residents of Vietnam seeking to enter Hong Kong since 2 July 1982 are
detained in special centres. If you do not leave Hong Kong now, you will be taken to a
closed centre and detained there indefinitely. You will not be permitted to leave
detention during the time you remain in Hong Kong. It is extremely unlikely that any
opportunity for resettlement will be forthcoming. You are free to leave Hong Kong now,
and if you choose to continue your journey, you will be given assistance to do so.'
48 Rita Fan, Hong Kong and the Vietnamese Boat People: A Hong Kong Perspective,
International Journal of Refugee Law, Special Issue, September 1990, Oxford University
Press, p. 144, at p.149.
49 '.. many asylum-seekers arriving in Hong Kong were not fleeing persecution and
hence were not refugees by the United Nations definition. Many were ethnic Vietnamese

rather than ethnic Chinese. Increasingly, they were from North Vietnam and had no
association with the old southern regime or the US presence. They were simply

economic migrants in search of a better lifeẨ in 1988, the numbers arriving (in Hong
Kong) began to raise sharply. Over 70% were from North Vietnam and over 98% were
ethnic Vietnamese.'
50 Nhận định hời hợt này không phản ảnh chính xác các dữ kiện lịch sử và góp phần

khơi lên ngọn lửa kỳ thị chủng tộc không cần thiết bởi vì cố tình hay vô ý quên đi là
chính các kiện hàng Hoa kiều khổng lồ vào hai năm 1978 và 1979 do Hà Nội và đám
gian thương quốc tế xuất cảng đã tạo ra cơn khủng hoảng dây chuyền tại Ðông Nam Á;

chính những hàng-hải nhân Hoa kiều ra đi với sự giúp đỡ của đảng Cộng Sản Việt Nam -
chứ không phải thuyền nhân Việt Nam trên những chiếc ghe mỏng manh - đã bị Cao Ủy
Tị Nạn Liên Hiệp Quốc và các chính quyền lân bang đánh giá là thành phần 'di dân kinh
tế' hay 'di dân bất hợp pháp.' Trên phương diện pháp lý, không chính quyền nào có thể

hay sẵn sàng cấp quy chế tị nạn cho các hàng-hải nhân Hoa kiều bởi vì họ ra đi trong sự
bảo bọc của mạng lưới công an Hà Nội và qua đường dây tổ chức của đám thương cẩu
Tàu ngoại quốc, tức là họ không thể bị nhà nước CHXHCN Việt Nam đàn áp theo định

nghĩa tị nạn. Tuy vậy, cuối cùng họ vẫn được chính quyền lân bang đối xử thật nhân
đạo nhờ thảm trạng kinh hãi trên biển cả của thuyền nhân Việt Nam đã đánh thức lương
tâm nhân loại và làm chấn động lòng bác ái của các cộng đồng nhân dân thế giới.
Nhận định phiến diện kể trên bộc lộ chủ trương đánh rớt thuyền nhân, thay vì cẩn thận

thẩm định hồ sơ tị nạn, cũng như sự cố tình phớt lờ qua các nguyên tắc giám định và
bảo vệ dân tị nạn. Bất cứ ai hiểu sơ về luật pháp hay chính trị đều biết rằng người xin tị
nạn không nhất thiết phải bám vào nguyên nhân chính trị và có thể sử dụng nhiều lý do

khác điển hình như tôn giáo hay tư cách thành viên trong một tổ chức xã hội cá biệt.
Công pháp quốc tế không có điều kiện pháp lý nào đòi hỏi đồng bào miền Bắc phải 'có
liên hệ gì với chính quyền miền Nam hay sự hiện diện của Hoa Kỳ trước đây' mới được

xin tị nạn, và vì vậy cho nên họ có thể vẫn được bảo vệ như dân tị nạn bởi vì Hà Nội tích
cực kỳ thị và tìm đủ mọi cách để tiêu diệt các thành phần xã hội có tư tưởng và đường
lối sinh hoạt tự do phi Mác-xít trên căn bản tôn giáo (Phật tử, Giáo dân, v.v.), tư cách
thành viên trong một tổ chức xã hội cá biệt (trí thức, thương nhân, v.v.) hay tư ý chính

trị.
51 'There are also glaring similarities among the files of those who have been denied
refugee status. For example, if one is to believe what is recorded in the files, nearly

every asylum-seeker, regardless of the strength of the persecution claim, stated that he
or she left Vietnam for 'a better living overseas,' and refused to return because of fear of
'being punished for illegal departures.' Moreover, when asked if they had any further
points they wished to make, in nearly every case applicants are alleged to have

answered 'nil.'
Based on my survey of more than a hundred cases and my discussions with those
working in the field, my conservative estimate is that 40 to 60 per cent Vietnamese in

Hong Kong's detention centres, including 30 to 50 per cent of northerners, have fled
persecution in Vietnam and are refugees under the 1951 Convention and 1967 Protocol
relating to the Status of Refugees.' Daniel Wolf, A Subtle Form of Inhumanity: Screening
of the Boat People in Hong Kong, International Journal of Refugee Law, Special Issue,

September 1990, Oxford University Press, p. 161, at p.166-167.
52 Trong cuộc phỏng vấn với người viết tại Lloyd Duong Attorneys Atrium, một cựu Ðại
Úy công an CSVN cho biết cộng đồng thuyền nhân miền Bắc có một số công an, bộ đội

Hà Nội trà trộn vào để quấy phá cho nên mới có cảnh một vào nhóm thanh niên vô ý


Click to View FlipBook Version