thức đã tổ chức ăn mừng ngày 30-4-1975 trong khi cầu mong Hồng Kông cho hưởng
quyền tị nạn chính trị. Nhiều vụ xung đột giữa một số thanh niên miền Bắc và đồng bào
tị nạn miền Nam đã xảy ra trong ngày Quốc Hận 30-4 như ở trại Kaitak North vào năm
1982 đưa đến cảnh tàn sát lẫn nhau.
Phụ Trương
(I) Ðồng bào tị nạn miền Bắc lợi dụng cơ hội xuất cảnh ra nước ngoài để trốn
thoát.
(II) Bộ Nhân Việt Nam
(I) Ðồng bào tị nạn miền Bắc lợi dụng cơ hội xuất cảnh ra nước ngoài để trốn
thoát.
Ðồng bào tị nạn miền Bắc không chỉ vượt biển để đến Hồng Kông hay Macao, nhiều
người đã biết lợi dụng cơ hội xuất cảnh ra nước ngoài để trốn thoát khỏi gông cùm kềm
kẹp cộng sản. Trong một vụ đào tẩu lớn vào tháng 7-1996, 18 thành viên của phái đoàn
thương mại Hà Nội tham dự đại hội Klondike Days với chủ đề 'Discover Vietnam
Exhibition' (Triễn Lảm Khám Phá Việt Nam) tại thành phố Edmonton ở Alberta, Gia Nã
Ðại, đã trốn thoát xin tị nạn. Cộng đồng người Việt Toronto yêu cầu người viết làm luật
sư biện minh cho cô Mai Thị Thu Thủy, một trong 18 người đào thoát, trước Hội Ðồng
Thẩm Ðịnh Tị Nạn Canada. Vào tháng 11-1997, cô Mai đã được cấp quy chế tị nạn. Thư
của cô Mai Thị Thu Thủy và một đồng bào miền Bắc khác - Kiến Trúc Sư Nguyễn Ngọc
Ðính - vốn trực tiếp đến Gia Nã Ðại để xin tị nạn được đăng vào vài trang tiếp theo đây.
(II)
Bộ Nhân Việt Nam
Song song với 796.310 đồng bào đã rời Việt Nam bằng thuyền, 42.918 người khác đã
thực hiện thành công các chuyến đi bộ vượt tuyến qua Lào hay Cam Bốt để tìm tự do tại
Thái Lan.(53) Cuộc vượt tuyến của bộ nhân Việt Nam cũng khủng khiếp không kém hải
trình thảm khốc của thuyền nhân. Trong suốt đoạn đường băng rừng vượt núi, họ phải
trải qua các chướng ngại vật hiểm nghèo của rừng thiên nước độc cũng như các bãi mìn
dày dặc; nhiều người đã bị các đoàn loạn quân Cam Bốt bắt giữ, tra tấn, cưỡng hiếp và
giết hại. Vào tháng 6-1981, một cậu bé Việt Nam bị thương nặng đã cố gắng lết đến
một trại tạm cư nằm trên đất Thái. Cậu là người duy nhất may mắn sống sót; 11 bộ
nhân khác trong đoàn đã bị bộ đội Khờ me đỏ giết sạch. Trường hợp của ông Trần Văn
Phước là một thí dụ điển hình khác. Vào tháng 2-1982 trên đường vượt tuyến đến Thái
Lan, ông đã bị lính giải phóng Khmer Serei bắt giữ. Chúng dùng búa để đập đầu ông
nhiều lần nhưng ông may mắn không chết.
Khi bộ nhân Việt Nam đặt chân đến Thái Lan, thay vì được chính quyền địa phương
thông báo cho Cao Ủy Tị Nạn LHQ ngay lập tức, họ lại bị cầm tù trong những trại dọc
biên giới trong một khoảng thời gian dài trước khi hồ sơ tị nạn của họ được duyệt xét.
Vào ngày 20-3-1980, Bangkok thay đổi chính sách và ngăn cấm không cho bộ nhân Việt
Nam được hưởng quy chế tị nạn vì sợ làn sóng bộ nhân gia tăng. Chính phủ Thái viện
cớ Cam Bốt là đệ nhị quốc gia mà người tị nạn Việt Nam đến trước vì vậy cho nên họ
phải xin tị nạn ở đó, có nghĩa là bên ngoài biên thùy Thái Lan. Chính sách này dẫn đến
tình trạng giam cầm bộ nhân trong những trại biên giới nằm trên phần đất Cam Bốt
trong vòng đai kiểm soát của quân Khờ me Serei hay thành phần an ninh trại hung dữ
có biệt hiệu Para (Paramilitary). Các địa danh như Camp Non Chan, Non Samet (hay
Camp 007), Non Makmun (hay Camp 204) gợi lại vô số ấn tượng kinh hoàng cho rất
nhiều bộ nhân Việt Nam. Trong các trại tạm cư này, đời sống của đồng bào tị nạn Việt
Nam còn tệ hơn cả thú vật. Thực phẩm và nước ngọt được cung cấp rất giới hạn; trong
khi đó thì tình hình an ninh trại hoàn toàn là số không, và mỗi lần bộ đội Hà Nội tấn
công hay pháo kích thì dân tị nạn Việt Nam bị bọn Para lùa ra làm bia đỡ đạn.
Về đêm, bộ nhân trở thành những mục tiêu tấn công của đủ thành phần từ bộ đội Khờ
me đỏ, quân Khờ me Serei đến đám an ninh Para cùng lực lượng biên phòng Thái.
Chúng đi từng đoàn lục soát bắt phụ nữ Việt Nam để hãm hiếp, và sẳn sàng thủ tiêu bất
cứ ai dám chống cự. Một số gia đình tị nạn còn giữ được quý kim phải mua chỗ ngủ
trong chòi của dân Cam Bốt để trốn tránh đám quỷ dữ này. Vào ban ngày thì thanh niên
tị nạn bị bắt đi đào chiến hào và dĩ nhiên là họ không được trả một đồng nào cho công
việc này. Mạng sống của bộ nhân rất rẻ rúng trong các trại tạm cư, và họ chỉ tồn tại với
hy vọng mỏng manh là Bangkok sẽ duyệt xét hồ sơ tị nạn và thuyên chuyển họ về các
trung tâm tị nạn như trại Tây Bắc 9 (Northwest 9).(54) Trại Tây Bắc 9 được Thái Lan tổ
chức vào đầu năm 1980 như một tiền đồn chống lại các cuộc càn quét biên giới của
quân đội Hà Nội. Trại này bắt đầu nhận tị nạn Việt Nam vào ngày 18-4-1980 với sự giúp
đỡ của Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế. Bộ nhân phải tạm trú tại trại Tây Bắc 9 từ vài tháng
cho đến nhiều năm trước khi được thuyên chuyển đến Trung Tâm Panat Nikhom để
được hưởng quy chế tị nạn.
Trong lá thư sau đây, ông Trần Văn Phước vốn là một cựu quân nhân Việt Nam Cộng
Hòa diễn tả lại kinh nghiệm tủi nhục của ông cũng như các bộ nhân khác ở Thái Lan:
'Tôi là một cựu quân nhân QLVNCH tên là Trần Văn Phước thuộc SÐ 18
BB.. Tôi vượt biên đường bộ vào tháng 5/82 khi đến biên giới Thái Lan và
Kampuchia, tôi rất mừng là mình đã trốn thoát khỏi địa ngục CSVN.
Nhưng cái mừng của tôi chưa kịp thốt ra khỏi cửa miệng thì ôi thôi thật là
chua chát, chua chát đến nổi tôi không thể ngờ rằng vào thế kỷ thứ 20
này lại có những con người dã man hơn loài thú rừng xanh, thú của rừng
xanh là những con vật không nói chi nhưng mà họ là loài người mà lương
tâm của họ không có... đó là bọn Mên được mệnh danh là 'Kampuchia
dân chủ kháng chiến quân Khờ Me.' Chúng bắt chúng tôi trói lại và xách
búa đem tôi ra đập đầu, lúc đó tôi tưởng rằng mình đã chết nhưng cuối
cùng chúng thấy nghĩa khí của người VN chết mà không hề van xin nên
chúng đã ngưng tay. Cuối cùng chúng nhốt tôi lại.. chung với người tù
Mên của chúng.. Bọn tù Mên đánh tôi và sỉ nhục dân tộc VN.
Chúng cầm tù tôi đến ngày thứ 7 thì chuyển đến nhà tù mới. Ở đây tôi
được gặp một số ít người VN. Như gia đình chị Nguyễn Thị Bê tất cả là 4
người, 2 đứa con gái và 1 đứa con trai nhỏ. Ôi có cảnh nào khổ hơn làm
thân gái sống với những con người Mên lòng lang dạ thú! Chúng hành hạ
đàn bà con gái có thể nói là mang thai với chúng, rất là dã man chưa
từng thấy: hết đứa này rồi đứa khác vùi dập thân xác. Tôi nhìn thấy cảnh
tượng đó mà đau lòng chỉ vì hai chữ tự do mà tất cả người Việt ly hương
phải trả giá rất đắt, phải tủi nhục và phải căm hờn những quân khốn
kiếp..
Ðối với thanh niên chúng tôi, chúng bắt đi lao động rất hãi hùng: 5 giờ
sáng đến 12 trưa mới cho nghỉ, chúng cho chúng tôi ăn toàn là cháo với
muối, xong phải tiếp tục làm nữa đến 6 giờ chiều mới được nghỉ. Nhưng
điều mà chúng tôi lo lắng là chúng muốn thủ tiêu chúng tôi giờ nào cũng
được.
Chúng tôi ở đó một thời gian thì có Hồng Thập Tự Quốc Tế (ICRC) đến
thăm và cho chúng tôi gạo, cá hộp, mỗi tuần đến thăm chỉ một lần. Khi
ICRC về thì bọn Mên lấy hết tất cả thực phẩm nên chúng tôi vẫn chịu đói
như thường, chỉ ăn toàn là cháo nên không đủ no.. Khi đồng bào đến, thì
vàng, quần áo, giầy dép đều bị chúng lấy tất cả. Ðã lấy còn đánh đập dã
man và bóc lột sức người tận xương tủy..
Khi chúng tôi được chuyển vào trại tị nạn chánh thức là trại NW82 ngày
14/7/82 tôi nghĩ rằng mình đến trại 82 là thoát nạn. Nhưng không ngờ
hãi hùng vẫn còn đè nén mọi người. Trại nằm cách biên giới Thái-
Kampuchia một cây số, trại này có tất cả 30 tent (lều) toàn là tent dã
chiến của quân đội.. Ðàn bà con gái ở đây vẫn bị bọn lính Thái Lan hãm
hiếp rất là dã man. Nếu ai chống cự là chúng thủ tiêu liền.
Ở đó có một người lính Thái tên John, những người VN gọi nó là cọp. Nó
rất dữ, đánh người VN rất dã man.. Tôi xin kể những trận đòn mà tên
cọp đánh người VN: Như vụ Liên Thị Kim Tụng, cô ta mua bánh bò nên bị
tên cọp bắt được và nó đổ bánh bò xuống đất và bắt cô phải ăn, nếu
không ăn thì chúng đánh nên bắt buộc chị phải ăn. Và vụ thứ hai là anh
Thạch Can mua 2 bọc kẹo, chúng bắt được, đánh anh và bắt anh phải ăn
kẹo không lột giấy cho hết 2 bọc. Vụ thứ ba là anh Hồng mua một gói
thuốc Samit, tên cọp bắt được và bảo anh xé ra để vào một cái thao và
đổ nước vào uống và ăn thuốc. Vụ thứ 4 là anh Sơn Hương mua một con
lươn chúng bắt được, bắt anh phải ăn sống, nếu không thì chúng đánh,
nên bắt buộc anh phải ăn..
Tên cọp bữa nào cao hứng muốn đánh người tị nạn thì nó đi một vòng
coi lều nào có chỉ một cọng rác là nó kêu mỗi người 2 roi, đánh như thế
có khi tới 200 hoặc 300 người..
Cảnh đánh đập ở trại NW82 hôm nào cũng diễn ra. Còn tệ nạn nữa là
chúng bắt đàn bà con gái hãm hiếp hàng đêm.
Thư từ đến thì chúng kiểm duyệt, cắt ra xem có money order thì lấy tất
cả, tiền mặt cũng vậy.. Chúng làm những vụ kiểm kê y hệt như cộng sản
vậy, chúng lấy tất cả gần 10 lượng vàng và 600 dollars. Có một anh bị lấy
2 lượng rưỡi lên xin lại chút ít thì bị tên đại úy trưởng trại bắt đem nhốt
chuồng cọp 6 ngày và còn hăm dọa nếu mà còn đến xin nữa thì chúng sẽ
đuổi ra khỏi trại..
Ở trại tị nạn NW82 tất cả có 1800 người nhưng người Việt Nam thuần túy
chỉ có 300, còn 1300 toàn là Kampuchia, 200 chà và...'
Trong tập thể bộ nhân Việt Nam bị cầm tù dọc biên giới Thái Lan có nhiều thanh niên
vốn là bộ đội nằm trong guồng máy quân sự của Hà Nội tại Cam Bốt. Một số anh em
từng đào tẩu khỏi quân đội Hà Nội và một số là tù binh của Khờ me đỏ may mắn sống
sót và sau đó được dùng để đổi gạo với Hồng Thập Tự Quốc Tế. Ða số các thanh niên
này không muốn quay về với guồng máy đàn áp của Hà Nội cho nên xin tị nạn nhưng
họ lại bị Bangkok đối xử như tù binh.
Vào cuối năm 1981, 400 thanh niên Việt Nam đào ngũ từ Cam Bốt đã bị giam cầm trong
trại Sikhiu ở Nakhon Ratchasima. Tập thể này có 26 bộ đội từ miền Bắc, và số còn lại là
thanh niên miền Nam. Họ phải đợi một thời gian rất dài (ít nhất là sau 2 năm 'nghỉ mát'
do Bangkok quy định vào tháng 7-1981) thì mới được hy vọng được cấp quy chế tị nạn;
nhưng chặng đường định cư của họ sau đó còn dài đăng đẳng bởi vì quá khứ liên hệ với
bộ máy chiến tranh của Hà Nội.
Trong khi chờ đợi được hưởng quy chế tị nạn, những thanh niên này bị bỏ tù như bọn
tội nhân hình sự mặc dầu họ chỉ có tội duy nhất là không trốn được sự bố ráp 'nghĩa vụ
quân sự' của Hà Nội. Ða số thanh niên Việt Nam không ai muốn trở thành bộ đội cộng
sản và hình như không ai dại dột muốn đi Cam Bốt để trở thành những tên cướp ngày
dễ mất mạng.(55) Họ đã dám hy sinh tất cả để đào tẩu hoặc từ chối không trở về phục
vụ guồng máy xâm lược của Hà Nội với mục đích duy nhất là có được một đời sống tự
do không bị ý thức hệ kềm kẹp. Họ thực ra chỉ là những nạn nhân của hoàn cảnh như
nhiều đồng bào tị nạn Việt Nam khác.
Số Lượng Bộ Nhân đến được vùng đất tự do
Thống kê của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc
Lưu Ý: Thống kê của CUTNLHQ không bao gồm hàng ngàn bộ nhân đã bị thảo
khấu giết hại hay mất mạng vì đạp phải mìn trên đường vượt biên.
1975-76 1977 1978 1979 1980
6.985 802 2.617 4.262 4.942
1981 1982 1983 1984 1985
4.133 162 1.789 91 1.921
1986 1987 1988 1989 1990
2.126 1.473 2.560 2.387 887
1991 1992 1993 1994 1995-99
1.270 2.292 2.219 0 0
________________
Chú thích:
53 Khoảng 265.000 đồng bào tị nạn, đa số là người Việt gốc Hoa, đã vượt biên giới để
về Trung Hoa Dân Quốc từ năm 1978 khi Bắc Kinh và Hà Nội chửi bới nhau rồi đi đến vụ
đụng độ vũ lực vào ngày 17-2-1979. Họ được khuyến khích ra đi bởi cả Bắc Kinh lẫn Hà
Nội, vốn từng là hai nước anh em 'môi hở răng lạnh' (tĩnh từ của Hà Nội). Bắc Kinh đóng
kịch lo lắng cho tình cảnh của họ bằng cách lên án chính sách kinh tế ý thức hệ (mà
Trung Quốc từng triệt để thực hiện để tiêu diệt thành phần tư sản) và chào mừng họ
hồi hương. Trong khi đó Hà Nội lại tạo mọi điều kiện cho họ ra đi bằng cách ra lệnh cho
các chốt kiểm soát kéo dài đến biên giới Việt-Trung không gây khó khăn cho họ (ai ở
Việt Nam trong giai đoạn này đều biết rằng nếu muốn di chuyển phải có giấy phép công
an, và vì vậy tình trạng thả lỏng người Việt gốc Hoa tự do đi lại này là một chiến lược có
tính toán của Hà Nội). Nhưng khi số người vượt biên giới qua Trung quốc gia tăng ồ ạt,
Bắc Kinh hết dám chào mừng họ hồi hương và vội vã đóng cửa khẩu; Bắc Kinh bắt đầu
đặt điều kiện là những người muốn di cư sang Trung Hoa Dân Quốc phải có giấy phép
xuất cảnh của Việt Nam và hồ sơ nhập cảnh do tòa Ðại Sứ Bắc Kinh tại Hà Nội cấp. Nạn
nhân thật sự của trò chơi chính trị này là hàng ngàn người Việt gốc Hoa; họ đã mất gia
sản mà còn phải ngủ bờ ngủ bụi tại vùng rừng núi biên giới sau khi cửa khẩu đóng.
54 Trại Northwest 9 bị cháy vào tháng 7-1981. Vào năm 1982, trại Northwest 82 được
dựng lên với các dải lều lính không xa chỗ củ của trại Northwest 9 để cung cấp nơi ăn ở
cho bộ nhân Việt Nam.
55 Trong thời gian chiếm đóng Cam Bốt, bộ đội Hà Nội với đồng lương chết đói thường
xuyên cướp bóc hàng hóa của dân Miên. Mỗi ngày vài ba anh bộ đội trẻ được giao
nhiệm vụ đi 'xin xỏ' thức ăn ngoài chợ. Họ họp thành nhóm 3, 4 người cầm súng ra chợ
và thấy bất cứ vật gì cần thiết là lập tức tịch thâu bỏ vào ba lô trong khi mở miệng nói
câu Khờ me: 'Mẹ cho con cái này.' Dưới gọng súng của họ, không người dân Miên nào
dám mở miệng chống đối.
III
Phản Ứng của Thế GiớI
'Một vấn nạn nhân đạo mang tầm vóc lịch sử.'
Thông cáo đặc biệt về Tị Nạn Ðông Dương tại Hội Nghị Thượng Ðỉnh Tokyo.
‘A humanitarian problem of historical proportions.’
‘Special statement of the Tokyo Summit on Indochinese refugees’ by Britain, Canada, France,
Italy, Japan,
United States and West Germany. June 1979
Nhiều lãnh tụ tôn giáo và xã hội như Mother Theresa
đã lên tiếng kêu gọi thế giới cứu trợ thuyền nhân Việt Nam.
Hải trình kinh hoàng của thuyền nhân Việt Nam đã đánh thức lương tâm và lòng trắc ẩn
của nhân loại. Trong những năm đầu của làn sóng tị nạn, một chiến dịch cứu trợ thuyền
nhân vĩ đại hiếm có trong lịch sử đã được thực hiện bởi nhiều đoàn thể quốc tế cũng
như cộng đồng nhân dân tại nhiều quốc gia trên toàn thế giới. Bên lề sự trợ giúp tích
cực này, thảm trạng thuyền nhân cũng làm lộ ra được một khía cạnh xấu xa nhất của
đường lối chính trị thiên quyền (power politics) vốn được các cường quốc sử dụng để
trốn tránh trách nhiệm quốc tế. Trong khi cộng đồng nhân dân toàn thế giới hết lòng
giúp đỡ thuyền nhân vì lòng nhân đạo chung của con người, chính sách của các trung
tâm quốc quyền đối với làn sóng tị nạn Việt Nam không được minh bạch và luôn luôn
phản ảnh sự cấu xé lẫn nhau vì quyền lợi riêng tư.
Nhà tù khổng lồ hay 'Vietnamese gulag' (1) và chính sách diệt chủng (2) của Hà Nội đã
khiến hàng triệu người Việt tìm đường vượt biên. Trong 8 tháng sau khi Sài Gòn thất
thủ, 378 thuyền nhân đã trốn thoát thành công. Vào năm 1976, số thuyền nhân ra đi
thành công tăng lên 5.569; và vào tháng 7 của năm đó, lần đầu tiên Cao Ủy Tị Nạn Liên
Hiệp Quốc kêu gọi cộng đồng thế giới giúp đỡ tị nạn Việt Nam. Một năm sau, số lượng
thuyền nhân vọt lên 17.126, và tiếp tục tăng đến 87.164 vào năm 1978 và đạt cực điểm
201.189 vào năm 1979. Vào tháng 10-1979, Chủ bút của The Age Michael Davie quả
quyết: '.. thuyền nhân không phải là một làn sóng tuyệt vọng khác của thành phần mất
đất sống mà là những nạn nhân và là dấu hiệu báo trước một tình trạng mất an ninh
sâu rộng trong vùng.'(3)
Phản ứng Ban Ðầu
của Cộng Ðồng Quốc Tế
Mặc dầu nhu cầu cứu trợ thuyền nhân trở nên khẩn cấp, phản ứng của đa số các chính
phủ trên thế giới trước 1979 (4) có vẽ lãnh đạm bởi vì thiếu sự lãnh đạo của Hoa Kỳ vốn
thường thấy trong các vụ khủng hoảng lớn. Báo The Wall Street Journal mô tả tình
trạng này như 'một vụ ô nhục trong dinh thự của những người lịch sự' ('a scandal in the
house of decent men'). Chính sách thờ ơ của Hoa Kỳ phản ảnh mặc cảm Việt Nam hay
chủ trương 'no more Vietnam' (không còn Việt Nam nữa) sau ngày 30-4-1975. Hoa
Thịnh Ðốn chọn một chính sách phản ứng tùy nhu cầu mà không có một chiến lược rõ
ràng để đối đầu với cuộc khủng hoảng tị nạn Ðông Dương. Bộ Trưởng Tư Pháp Hoa Kỳ
sử dụng đặc quyền parole (ân xá) vốn dành riêng cho các trường hợp khẩn cấp để định
cư thuyền nhân. Tuy nhiên khi số lượng dân tị nạn gia tăng ngoài dự đoán, tân chính
quyền Carter cần phải tiếp tục sử dụng đặc quyền ân xá mặc dầu trước đó cựu chính
quyền Ford đã hứa với Quốc Hội là lần sử dụng đặc quyền này vào tháng 5-1976 để
thâu nhận dân tị nạn Lào là lần chót. Tuy vậy, số lượng ân xá mới bao gồm 7.000 người
Việt và 8.000 người Lào vừa được thông qua vào tháng 8-1977 đã không thể đối đầu
với trào lưu tị nạn đang gia tăng; và vì vậy, vào ngày 25-1-1978, đặc quyền ân xá lại
được tái sử dụng để thâu nhận thêm dân tị nạn Ðông Dương.
Tuy tình trạng khủng hoảng tị nạn ở Ðông Nam Á ngày càng khẩn trương hơn, Hoa Kỳ
đã không có một chính sách rõ ràng để đối đầu với vấn nạn vĩ đại này. Thiếu sự lãnh
đạo của Hoa Thịnh Ðốn, các chính quyền khác cũng trở nên lãnh đạm đối với cuộc
khủng hoảng tị nạn Ðông Dương. Hoa Kỳ muốn quốc tế hóa thảm trạng thuyền nhân để
lôi kéo các quốc gia khác vào cứu giúp cũng như định cư tị nạn Ðông Dương; tuy nhiên
vì tòa Bạch -c tỏ vẻ thờ ơ và thiếu nhiệt tâm trong việc đón nhận thuyền nhân, những
chính quyền khác cũng phản ứng tương tự. Các chính phủ Tây phương đã không vội vã
nhảy vào trợ giúp một vấn nạn mà giới lãnh đạo Âu Châu suy luận là vấn nạn của Hoa
Kỳ do hậu quả tác hại của chính sách phản bội đồng minh Nam Việt Nam đưa đến. Vì
vậy cho đến đầu năm 1978, hiếm có quốc gia nào trên thế giới thâu nhận dân tị nạn
Ðông Dương; và số thuyền nhân kẹt tại các trại tị nạn trở thành vấn nạn thặng dư cho
các quốc gia tạm cư vốn luôn luôn đòi hỏi 'mỗi người tị nạn đều phải được định cư trong
một khoảng thời gian hữu lý' ('every single refugee would be resettled within a
reasonable time.') (5) Phản ứng lãnh đạm của chính giới ngoại quốc trong những năm
đầu của làn sóng tị nạn dẫn đến hậu quả bất lợi kể cả quyết định của các quốc gia Ðông
Nam Á dứt khoát không cho thuyền nhân cập biên tạm cư và kéo dài thời gian tạm lưu
trước khi được định cư của đồng bào tị nạn đang hiện diện ở trại để tạo ra một tình
trạng chán nản với hy vọng sẽ gây được áp lực giảm thiểu số người vượt biên. (6)
Toàn thế giới cộng sản ngoại trừ Trung quốc cực lực tố cáo là các quốc gia tự do đã tạo
ra yếu tố 'lôi kéo' (pull factor) người Việt ra đi. Trước khi sụp đổ vào năm 1991, chính
quyền Sô Viết lý luận rằng thảm cảnh thuyền nhân chính là tình trạng kế tục của cuộc
chiến Việt Nam. Bắc Kinh và Hoa Thịnh Ðốn bị lên án là đã tạo ra làn sóng tị nạn bởi vì
không chịu chấp nhận thực trạng của 'một nước Việt Nam mới.' Trung quốc bị nguyền
rủa bởi vì đã cung cấp cho người Việt gốc Hoa những tin tức thất thiệt, và Hoa Kỳ bị nêu
đích danh là đã lợi dụng tình trạng này để bôi bẩn thanh danh của CHXHCN Việt Nam
trên chính trường quốc tế. Trong nhãn quan của Mạc Tư Khoa, Bắc Kinh đã cố gắng mô
tả làn sóng tị nạn như một hậu quả của chính sách kỳ thị của Hà Nội để cản trở nỗ lực
xây dựng đất nước của đảng Cộng Sản Việt Nam; trong khi đó, Hoa Thịnh Ðốn lại đưa
chiến hạm đến Ðông Nam Á trên lý thuyết để cứu giúp thuyền nhân nhưng thực tế là để
khuyến khích thêm nhiều người vượt biên nhằm tạo ra không khí xáo trộn mất an ninh
trong vùng hầu bảo vệ ảnh hưởng chiến lược của Hoa Kỳ. Chính quyền Liên Sô quan
niệm rằng phương pháp duy nhất để giải quyết thảm trạng thuyền nhân là Bắc Kinh và
Hoa Thịnh Ðốn phải chấm dứt cuộc chiến 'tuyên truyền' và các yếu tố 'lôi kéo' người
Việt ra đi.
Hoa Kỳ bác bỏ quan điểm của Liên Sô và xác định sự vi phạm nhân quyền trầm trọng
của Hà Nội chính là lý do khiến hàng triệu người phải tìm đường vượt biên. Tại hội nghị
quốc tế về tị nạn Ðông Dương kỳ I vào ngày 21-7-1979, Phó Tổng Thống Walter
Mondale quả quyết: '(CHXHCN Việt Nam) đã không chịu bảo đảm nhân quyền của dân.
Các chính sách tàn nhẫn và vô trách nhiệm đã khiến vô vàn công dân phải bỏ tất cả
những gì họ trân trọng, liều mạng, và tẩu thoát vào một thế giới xa lạ.' (7) Trong khi đó
thì Trung quốc lý luận rằng 'chính sách xâm lược và gây chiến' của Hà Nội đã tạo ra làn
sóng tị nạn. Vào ngày 16-6-1979, một phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao Trung Hoa
Cộng Sản tuyên bố: 'Cuối cùng như phân tích, vấn đề tị nạn Ðông Dương xảy ra chỉ vì
chính quyền Việt Nam tiến hành chính sách xâm lược và gây chiến... Chính sách này phá
hoại nền kinh tế và bần cùng hóa người dân. Kết quả là môt số lượng lớn người ở Việt
Nam phải trốn khỏi đất nước.' (8)
Trong khi các cường quốc và chính quyền liên hệ bận rộn bình luận về nguyên nhân tạo
ra thảm trạng tị nạn Ðông Dương và tố cáo lẫn nhau vì bất lực không thể đưa ra được
một phương pháp giải quyết cụ thể, các nỗ lực hữu hiệu để cứu trợ thuyền nhân gặp
hiểm nguy trên biển Ðông cũng không được thực hiện. Vào năm 1979, nhà ngoại giao
Bruce Grant mô tả tình trạng tai ương này như sau: (9)
'Câu chuyện thuyền nhân phơi bày bộ mặt nguyên thủy của đường lối chính trị thiên
quyền (power politics). Trong khi những người thiện ý tràn đầy hy vọng khi bàn luận về
viễn ảnh của 'một trật tự mới' hay 'một di sản chung của nhân loại' trong phần tư cuối
của thế kỷ 20, thuyền nhân đã làm lộ ra một khía cạnh khác - sự tàn nhẫn của cường
quốc, sự hung bạo của các tiểu quốc, lòng tham lam quá độ và thành kiến của con
người. Ðôi lúc khi kể chuyện về thuyền nhân, hình như toàn thể bán đảo Ðông Dương
đã trở thành khối xoáy thu hút tất cả sự tồi tệ của nhân loại...
... Khả năng quẹt nước cá sấu của các quốc gia dân chủ tân tiến đối với vấn đề thuyền
nhân, trong khi không làm gì để giải quyết nguồn gốc của làn sóng ra đi, thật đáng lưu
tâm. Thuyền nhân thật sự khiến chúng ta phải tự xét về bản thân cũng như thực trạng
của thế giới của chúng ta.' (10)
Không giống như chủ trương lãnh đạm của giới chánh khách vốn bị ảnh hưởng bởi các
tính toán chính trị, những người dân bình thường cùng các tổ chức phi chính phủ trên
toàn thế giới đã sốt sắng và nhiệt tâm vận động cứu giúp cũng như bảo trợ thuyền
nhân Việt Nam. Vào khoảng năm 1977, tàu Roland của Nghị Hội Tôn Giáo và Hòa Bình
(World Conference on Religion and Peace [WCRP]) đã ra biển Ðông để cứu trợ người tị
nạn. Mặc dầu nỗ lực này từng bị Cao Ủy Tị Nạn LHQ phê bình là 'lòng bác ái đặt sai chỗ'
(misguided philanthropy), tàu Roland đã vớt được khoảng 300 đồng bào trên biển. (11)
Tổ chức WCRP không phải là tổ chức tôn giáo duy nhất đã tài trợ cho tàu ra khơi cứu
giúp thuyền nhân. Một tổ chức khác là World Vision International có trụ sở ở California
từng gởi tàu Seasweep về Ðông Nam Á; vào tháng 7-1979, tàu Seasweep đã vớt được
nhiều thuyền nhân bị hải quân Mã Lai bắt bỏ lên ghe và kéo ngược ra biển.
Tại Âu Châu, Triết gia Jean-Paul Sartre kêu gọi chính quyền Pháp giúp đỡ dân tị nạn
Việt Nam: 'Một số họ không luôn thuộc phe ta, nhưng lúc này chúng ta không nên lưu
tâm đến quan điểm chính trị của họ, mà là (nên lưu tâm đến) việc cứu mạng họ. Ðây là
một vấn đề luân lý, một câu chất vấn luân lý giữa con người.'(12) Thảm trạng thuyền
nhân đem nhiều nhà đối lập lâu năm gần lại với nhau hơn và giúp hòa giải một
số tư kiến khác biệt của họ. Vào ngày 20-6-1979, Jean-Paul Sartre vui vẻ bắt tay nhà
đối lập chính trị lâu năm của ông, Văn sĩ Raymond Aron. Nỗ lực trợ giúp thuyền nhân
Việt Nam của Jean-Paul Sartre được nhiều trí thức Pháp ủng hộ, và đáng lưu ý là nhà
phản chiến tiếng tăm André Glucksmann. Sau này Glucksmann đã viết trong sách The
Discourse of War: 'Người tị nạn Việt Nam là hậu quả của hai hệ luận xung đột thiên
chiến - cả hai đều từ Hegel - luận đề cộng sản và luận đề chống cộng sản. Cả hai đều
dẫn đến một hệ quả như nhau.'(13)
Hội Y Sĩ Thế Giới (Médecins du Monde) của Pháp đã gởi tàu Ðảo Ánh Sáng (Ile de
Lumière) đến vịnh Thái Lan để cứu vớt thuyền nhân cũng như trợ giúp y tế cho các trại
tị nạn. Công tác của Ile de Lumière được tiếp tục với tàu Alcune II vào năm 1981, tàu
Le Goela năm 1982, tàu Jean Charcot năm 1985, và tàu Rose Schiaffino năm 1987. Ba
Lê ra lệnh cho một vài chiến hạm bảo vệ cho các chiến dịch cứu trợ thuyền nhân của
hội Y Sĩ Quốc Tế khi cần thiết.
Phản ứng theo sức ép của dư luận, Ý Ðại Lợi biệt phái hai chiến hạm và một tàu tiếp tế
đến biển Ðông vào giữa năm 1979 để cứu vớt và thâu nhận khoảng 1.000 thuyền nhân.
Tại Tây Ðức, Ủy Ban Một Chiếc Tàu cho Việt Nam (Ein Schiff fuer Vietnam) (14) được
thành lập vào tháng 7-1979 và gởi tàu Cap Anamur của nhà hảo tâm Hans Voss đi trợ
giúp dân tị nạn Việt Nam trên các hải đảo Anambas của Nam Dương. Nhân dân Ðức
đóng góp hơn 21 triệu Ðức Mã cho các chương trình nhân đạo của tàu Cap Anamur tại
Ðông Nam Á. Vào năm 1987, Ein Schiff fuer Vietnam vốn đã cải danh thành Komitee
Cap Anamur cộng tác với hội Y Sĩ Thế Giới của Pháp và tài trợ cho tàu Ile de Lumière II
- Cap Anamur III tiếp tục công tác thiện nguyện giúp đỡ thuyền nhân; cộng đồng Việt
Nam đã đóng góp rất nhiều cho chiến dịch này qua tổ chức Boat People S.O.S.
Vào năm 1988, hội Y Sĩ Thế Giới và Boat People S.O.S. biệt phái tàu Mary Kingston đến
vịnh Thái Lan để cứu vớt thuyền nhân. Trải qua nhiều năm dài, cộng đồng Việt Nam tại
hải ngoại đã không ngừng nghỉ trong nỗ lực thâu thập tài vật cũng như sự ủng hộ của
chính khách địa phương để giúp đỡ đồng bào tị nạn. Vô số sinh hoạt đã được các đoàn
thể thanh niên, sinh viên, học sinh và các hội đoàn từ Bắc Mỹ đến Âu Châu và Úc Châu
tổ chức để vận động tài chánh cũng như chữ ký cho các bản thỉnh nguyện thư yêu cầu
chính quyền địa phương tiếp tục cứu trợ thuyền nhân Việt Nam ở Ðông Nam Á.
Tại Bắc Mỹ, thảm trạng thuyền nhân đã tạo ra nhiều chia rẽ trong mạng lưới phản chiến
trước đây. Không giống như giới trí thức Pháp, thành phần cánh tả có vai vế trong xã
hội Hoa Kỳ như Noam Chomsky và Frances Fitzgerald đã cố ý im hơi lặng tiếng về vấn
đề tị nạn Việt Nam. Như Triết gia Pháp André Glucksmann diễn tả: 'Hôm nay chính
quyền cộng sản nhận chìm trẻ em. Hôm qua chúng ta phản đối. Hôm nay chúng ta im
lặng,' (15) ngoại trừ ca sĩ Joan Baez và 83 nhà hoạt động vì hòa bình khác, đa số thành
phần trí thức phản chiến đã lãnh đạm đối với thảm trạng thuyền nhân cũng như tệ nạn
vi phạm nhân quyền trầm trọng của Hà Nội.
Vào tháng 5-1979, Joan Baez và 83 bằng hữu cho phổ biến 'Open letter to the Socialist
Republic of Vietnam' ('Minh thư cho Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam) để vạch trần
chính sách tiêu diệt quyền làm người của Hà Nội: 'Hàng ngàn người Việt Nam trong đó
có nhiều người chỉ vì phổ biến tiếng nói lương tâm, đã bị bắt, giam cầm và tra tấn trong
tù cũng như các trại cải tạo.. Chính quyền của các ông tạo ra một ác mộng đau khổ che
lấp sự phát triển đã đạt được trong nhiều lãnh vực của xã hội Việt Nam.' (16) Một bộ
phận phản chiến thiên tả khác đã vội vã lên tiếng công kích nhóm Joan Baez và ngụy
biện cho tội ác của cộng sản Hà Nội. William Kunstler chụp mũ Joan Baez là 'tình báo
CIA' ('CIA agent'); trong khi đó, Jane Fonda cho phổ biến thư phê bình Baez: 'Lời thuyết
phục như vậy chỉ đưa bà vào hàng ngủ của các thành phần hẹp hòi và tiêu cực của đất
nước chúng ta vốn tiếp tục tin rằng chủ nghĩa cộng sản tệ hại hơn cái chết.' (17)
Trong các năm đầu của làn sóng tị nạn Việt Nam, một tổ chức đã tích cực đánh thức
lương tâm nhân dân Hoa Kỳ về thảm trạng thuyền nhân là Ủy Ban Cứu Trợ Quốc Tế
(International Rescue Committee hay IRC). Ðối diện với chính sách lãnh đạm của Hoa
Thịnh Ðốn, IRC dưới sự lãnh đạo của Chủ Tịch Leo Cherne đã bảo trợ Ủy Ban Công Dân
Ðặc Trách Tị Nạn Ðông Dương (Citizens Commission on Indochinese Refugees) vào cuối
năm 1977 để vận động chính quyền cũng như Quốc Hội Hoa Kỳ giúp đỡ và định cư dân
tị nạn tại Ðông Nam Á.
Sau chuyến công tác tìm hiểu sự thật ở Ðông Nam Á vào đầu năm 1978, Ủy Ban Công
Dân Ðặc Trách Tị Nạn Ðông Dương vốn bao gồm nhiều thành viên nổi tiếng trong các
lãnh vực tôn giáo, xã hội và kinh tế đã lên tiếng kêu gọi chính quyền Hoa Kỳ thâu nhận
thêm thuyền nhân; song song, họ cũng đã thành công trong nỗ lực tiết giảm mối lo sợ
về phản ứng bất lợi của dư luận. Hải trình thảm khốc của thuyền nhân Việt Nam bắt đầu
được giới truyền thông quốc tế chú ý, và các chương trình tường thuật đã giúp đánh
thức lương tâm cũng như lòng trắc ẩn của nhân loại. Trong khi báo Times của Luân Ðôn
đề cập về sự kiện hàng ngàn dân tị nạn vô danh đã mất mạng trên biển vằo đầu năm
1978, báo New York Times tuyên bố là 'Nhiệm Vụ Việt Nam của Chúng Ta Chưa Hoàn
Tất' (Our Vietnam Duty Is Not Over') và ủng hộ các đề nghị của Ủy Ban Công Dân Ðặc
Trách Tị Nạn Ðông Dương.
Các lãnh tụ dân sự gốc Châu Phi cũng đã bày tỏ sự quan tâm của họ đối với thảm trạng
thuyền nhân. Vào ngày 19-3-1978, 89 lãnh tụ thuộc các tổ chức quan trọng như
National Urban League, the National Association for the Advancement of Colored People,
v.v., đã cho phổ biến trên báo The New York Times lời kêu gọi tòa Bạch -c cũng như Hạ
Nghị Viện thâu nhận 'anh chị em Á Châu của chúng ta tại các trại tị nạn' ('our Asian
brothers and sisters in the refugee camps.')
Dưới áp lực của các nỗ lực vận động này, tòa Bạch -c quyết định duyệt xét toàn bộ
chính sách di trú. Vào tháng 3-1978, chính phủ Carter đề nghị tu chính luật Di Trú và
Công Dân (Immigration and Nationality Act) để nhận thêm 50.000 người tị nạn mỗi năm
với ý định sẽ dùng 50% số lượng đó nhằm định cư dân tị nạn Ðông Dương. (Vì trở ngại
tài chánh, phải đợi đến tháng 6-1978 thì số lượng 25.000 dân tị nạn Ðông Dương hưởng
quy chế ân xá này mới được chấp thuận.)
Hàng trăm ngàn thuyền nhân cũng đã được nhiều tổ chức thiện nguyện cũng như các
nhà hảo tâm khác cứu trợ trong đó có cộng đồng người Việt hải ngoại, đoàn thể và ân
nhân ngoại quốc. Một trong các thiện nguyện viên đã tích cực lo cho dân tị nạn Việt
Nam là nhà tu hành tên Joe Devlin, một người đã tận tụy giúp đỡ thuyền nhân ở
Songkhla Refugee Camp và các trại khác kể cả trại bộ nhân trong nhiều năm dài. Một nỗ
lực đáng ghi nhớ của vị linh mục khả kính này là sự hình thành nhà dưỡng dục các trẻ
em không thân nhân tại trại tị nạn Songkhla. (18) Nhà văn Nhật Tiến đã từng ca ngợi
tấm lòng hy sinh cao cả của Linh mục Devlin vì ông 'chia xẻ sự phiền não, đau khổ, sự
khốn cùng của một dân tộc đã trải qua sự sụp đổ đột ngột và tàn bạo của miền Nam tự
do.' (19) Nhà tu hành Joe Devlin là một trong vô vàn các nhà hảo tâm đã bỏ thời gian
cũng như tài lực để giúp đỡ thuyền nhân, và dân tộc Việt Nam luôn luôn trân trọng ghi
nhận sự tận tụy bác ái của họ.
Phụ Chú:
1 Danh từ này do báo Le Monde của Pháp đặt rạ Tờ báo này từng ủng hộ triệt để nỗ lực
cưỡng chiếm miền Nam của đảng Cộng Sản Việt Nam.
2 Chính sách tống xuất dân Việt Nam của Hà Nội đã được nhiều lãnh tụ trên thế giới
như Ngoại Trưởng Phi Luật Tân là Carlos Romulo gọi là chính sách sát nhân tương tự
như chủ trương hoả thiêu dân Do Thái của Hitler (Carlos Romulo characterized it as
'another form of inhumanity, equal in scope and similarly heinous' to the holocaust) tại
Hội Nghị Ngoại Trưởng ASEAN vào tháng 2-1979. Ngoại Trưởng Singapore là
Sinnathamby Rajaratnam đã tuyên bố rằng chính sách của Hà Nội là 'phương tiện (sát
nhân) của một thằng nghèo dùng biển cả thay vì hỏa ló ('a poor man's alternative to the
gas chambers is the open sea').
3 '.. The boat people are not merely another desperate swarm of 'displaced persons,'
but the victims and indicators of a profound regional instabilitý Bruce Grant, The Boat
People: An Age Investigation, Penguin Books, Melbourne 1979.
4 Trước khi chiến dịch buôn dân tàn nhẫn có kế hoạch do đảng Cộng Sản Việt Nam trực
tiếp chỉ đạo bị thế giới vạch trần.
5 Theo Phó Thủ Tướng Mã Lai Mahathir Mohamad.
6 Lý Quang Diệu lúc còn làm Thủ Tướng của Singapore đã dùng thuyết 'lôi kéó để lý
luận rằng chính sách giúp đỡ thuyền nhân Việt Nam là một chính sách tàn nhẫn bởi vì
làm như vậy sẽ khuyến khích hay lôi kéo thêm nhiều người ra đị Ông ta vô tình hay cố ý
quên rằng còn một động cơ 'xua đuổí thuyền nhân Việt Nam vượt biên: chính sách ý
thức hệ cộng sản đặt trên nền tảng bạo lực dã man của Hà Nộị Bất cứ giải pháp nào
muốn giải quyết bài toán tị nạn Việt Nam một cách có hiệu quả cần phải quan tâm đến
cả hai yếu tố 'lôi kéó và 'xua đuổí
7 '(Socialist Vietnam) is failing to ensure the human rights of its peoplẹ Its callous and
irresponsible policies are compelling countless citizens to forsake everything they
treasure, to risk their lives, and to flee into the unknown.'
8 'In the final analysis, the problem of Indochinese refugees has risen solely as a result
of the fact that the Vietnamese government is pursuing a policy of aggression and war...
they press-ganged their young people into serving as cannon-folder and bled the people
whitẹ This has ruined the economy and made the people destitutẹ Consequently, large
numbers of Vietnamese inhabitants have had to flee the countrý
9 Bruce Grant, The Boat People: An 'Agé Investigation, Penguin Books, Miđlesex,
England 1979, at pp.195-197.
10 'The story of the boat people exposes power politics in its most primitive form. While
men and women of goodwill hopefully discuss the prospect in the last quarter of the
twentieth century of a 'new world order' or a 'common heritage of mankind,' the boat
people have revealed another side - the ruthless of major powers, the brutality of
nation-states, the avarice and prejudice of peoplẹ At times, when telling the story of the
boat people, it seemed that Indochina had become the vortex of all that is wrong with
mankind... The ability of governments of the industrialized democracies to weep
crocodile tears over the boat people, while doing little about the root causes of the
exodus, has been notablẹ The boat people have indeed made us all look again at
ourselves and at the state of our world.'
11 Mã Lai không cho tàu chuyển thuyền nhân xuống trại tị nạn cho đến khi có quốc gia
bảo đảm là họ sẽ được định cư sớm.
12 'Some of them have not always been on our side, but for the moment we are not
interested in their politics, but in saving their lives. It's a moral issue, a question of
morality between human beings.'
13 'The Vietnamese refugees are the fall-out of two lines of warlike discourse - Both
stem from Hegel - the communist thesis and the anti-communist thesis. They come to
the same thing in the end.'
14 Trong vòng chín năm từ năm 1979 đến năm 1988 qua năm chiếc tàu từ Cap Anamur
I đến Cap Anamur V, hơn 13,000 thuyền nhân đã được chiến dịch nhân đạo Cap
Anamur cứu vớt.
15 'Today the communist authorities drown other babies. Yesterday we protested.
Today we are silent.'
16 'Thousands of innocent Vietnamese, many whose only crimes are those of
conscience, are being arrested, detained and tortured in prisons and re-education
camps.. Your government has created a painful nightmare that overshadows significant
progress achieved in many areas of Vietnam societý
17 'Such rhetoric only aligns you with the narrow and negative elements in our country
who continue to believe that communism is worse than death.'
18 Nhat Tien, Duong Phuc, Vu Thanh Thuy, Pirates on the Gulf of Siam, 2nd Edị, Boat
People S.ỌS., San Diego 1981, at p. 93.
19 Father Joe Devlin 'shares in the grief, the pains, the distress of a people who
experienced the suđen and violent fall of the entire free Vietnam of the South.'
Một kiện hàng người do đảng CSVN xuất cảng.
Kế Hoạch Buôn Dân
của Hà Nội
Chính sách của đảng Cộng Sản Việt Nam sau 1975, như đã bàn trong Chương I về
nguyên nhân ly hương của thuyền nhân, là trục xuất khoảng 2 đến 3 triệu người Việt
bao gồm nhiều thành phần ra khỏi nước để tân chính phủ có thể bình định tình hình
chính trị tại miền Nam. Vào tháng 7-1979 tại Hội Nghị Quốc Tế về Tị Nạn Ðông Dương I
ở Geneva, Thứ Trưởng Ngoại Giao Phan Hiền của Hà Nội tiết lộ cho phái đoàn Thụy
Ðiển biết là khoảng 3 triệu đồng bào miền Nam vốn đã quen thuộc với đời sống tự do
chính trị và kinh tế có thể phải rời khỏi guồng máy xã hội chủ nghĩa; lượng định này đã
được Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch tái xác nhận trong cuộc phỏng vấn với ký
giả thuộc United Press International (số người phải ra đi 'tùy theo tình hình chính trị' có
thể lên đến 3 triệu )[20] và trong buổi nói chuyện với Daniel K. Akaka, một thành viên
trong phái đoàn Hạ Viện Hoa Kỳ do Nghị Sĩ Benjamin Rosenthal dẫn đầu viếng thăm Hà
Nội hai ngày vào tháng 8-1979.
Trong khi tiến hành chính sách bất nhân kể trên, ngoài chiến thuật giảm bớt nỗ lực kiểm
soát hải phận quốc gia và tung tin thất thiệt để khuyến khích các thành phần 'phản cách
mạng' ra đi (điển hình là tin đồn 'ra tới hải phận quốc tế là gặp tàu Mỹ vớt' bởi vì Ðệ
Thất Hạm Ðội của Hoa Kỳ tích cực giám sát biển Ðông nhằm cứu giúp thuyền nhân
trong khi trên thực tế chiến hạm Mỹ thường xuyên trốn tránh ghe tị nạn vì Hoa Thịnh
Ðốn lúc đó rất thờ ơ đối với vấn đề tị nạn Ðông Dương do chủ trương 'No More Viet
Nam' [21] sau năm 1975, v.v.), đảng Cộng Sản cũng bắt đầu nhận thức được là chế độ
có thể gom góp được nhiều 'của chìm' của thành phần trung lưu và thượng lưu Việt
Nam bằng cách tổ chức và bảo đảm những đường dây vượt biên an toàn cho họ. Bị chói
mắt bởi số lượng tài sản khổng lồ của đồng bào miền Nam sau hai đợt đánh tư sản, giới
lãnh đạo Hà Nội vội vã ra lệnh cho công an Bộ Nội Vụ bắt liên lạc với đám gian thương
quốc tế để sắp xếp đưa ra biển các kiện hàng người Việt lẫn Hoa kiều hầu có thể vơ vét
thêm nhiều 'của chìm.'
Kế hoạch mại dân của Hà Nội dành ưu tiên cho người Việt gốc Hoa; [22] và dân Việt
chính gốc phải trả giá đắt hơn nếu muốn tham gia đường dây vượt biên an toàn. Kế
hoạch buôn người được thực hiện trong giai đoạn nhiều chính quyền lân bang trở nên
cởi mở hơn trong chính sách đối xử với dân tị nạn Việt Nam. Vào khoảng tháng 3-1978,
các quốc gia Ðông Nam Á như Mã Lai, Thái Lan, v.v., công khai tuyên bố là vì lý do
nhân đạo cho nên sẵn sàng chấp nhận cho những người ra đi tìm tự do được tạm trú
trong khi chờ đợi cơ hội định cư tại đệ tam quốc gia; một trong các yếu tố đưa đến chủ
trương cởi mở này là sự phẩn nộ của cộng đồng nhân dân thế giới đối với thảm trạng
hải tặc hành hạ và sát hại thuyền nhân.
Hai năm 1978 và 1979 đã mục kích không những tội ác tàn bạo của hải tặc đối với dân
tị nạn mà còn cả chiến dịch buôn dân Việt và Hoa kiều độc nhất vô nhị do đảng Cộng
Sản Việt Nam trực tiếp chỉ đạo.[23] Vào tháng 6-1979, Bộ Trưởng Ngoại Giao của
Singapore là Sinnathamby Rajaratnam đã tố cáo Hà Nội sử dụng lá bài 'người Việt gốc
Hoa' bởi vì CHXHCNVN 'biết là hầu như tất cả các quốc gia thuộc ASEAN có những khó
khăn tế nhị đối với cộng đồng thiểu số Hoa kiều địa phương. Số lượng tị nạn Hoa kiều
khổng lồ xâm nhập vào các quốc gia này chỉ có thể phóng đại các kích động chủng tộc
và, nếu cung lượng này tiếp tục tuôn trào lâu dài, sẽ đưa đến chiến tranh chủng tộc vốn
có thể tàn phá các xã hội này nhanh chóng và hiệu quả hơn bất cứ đội quân Việt Nam
xâm lược nào. Trong khoảng khắc sự thịnh vượng, ổn định và đoàn kết của ASEAN sẽ
tiêu tan vào lớp khí mỏng và điều kiện sống sẽ xuống cấp ngang hàng các tiêu chuẩn
đang hiện hữu tại Ðông Dương ngày nay.'[24]
Công an chìm thuộc Bộ Nội Vụ đóng đô tại Hà Nội đã tích cực tổ chức các kiện hàng đầy
người toàn quốc để đưa ra biển trong hai năm 1978 và 1979. Chúng sử dụng một số
thường dân làm cò mồi để bắt mối với Hoa kiều cũng như người Việt chính gốc giàu có
cho chiến dịch buôn bán lương dân đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Người Việt tham gia
chương trình buôn dân của Hà Nội bị đòi hỏi trả giá cao hơn Hoa kiều (có thể lên đến
50% cao hơn giá bình thường) mới đi được bởi vì phải qua nhiều cửa ngỏ hơn cũng như
phải làm hồ sơ giả danh gia đình gốc Tàu. Một số trung tâm buôn người quan trọng của
đảng Cộng Sản Việt Nam nằm ở Long Thành, Ðà Nẵng, Hải Phòng, Rạch Giá, Trà Vinh
và Vĩnh Long. Vào thời điểm bận rộn nhất của chiến dịch buôn dân, công an Hà Nội đã
thẳng tay đàn áp và ngăn chận các nỗ lực vượt biên 'chui' để bảo vệ ngai vị độc tài của
đảng trong việc thâu thập vàng cũng như quý kim từ những người có ý định ra đi.[25]
Trước khi đảng Cộng Sản Việt Nam hợp tác với mạng lưới Hoa kiều bất lương ở nước
ngoài để 'buôn lậu khổ cảnh con người' ('traffic in human misery')[26] vào giữa năm
1978, hầu hết thuyền nhân đến được bờ bến tự do đều có thể xin tị nạn tạm thời trong
khi chờ đợi được định cư tại một quốc gia thứ ba mà ít gặp sự chống đối của các cộng
đồng địa phương.[27] Nhiều dân làng tại các quốc gia láng diềng đã vui vẻ giúp đỡ ghe
tị nạn Việt Nam; họ cung cấp thực phẩm cũng như hướng dẫn thuyền nhân cách liên lạc
với chính quyền địa phương để xin được đưa đến các trại tị nạn. Sự niềm nở này biến
mất khi Hà Nội tiến hành kế hoạch buôn dân để thâu vàng và quý kim. Lá bài hàng-vận
nhân (ship people) của đảng Cộng Sản Việt Nam xuất hiện vào giữa năm 1978 khiến
thảm trạng thuyền nhân thêm phức tạp.
Hậu quả tác hại của hiện tượng hàng-vận nhân do Hà Nội sáng tạo là phản ứng chống
đối để tự vệ của các cộng đồng nhân dân và chính quyền lân bang; họ bắt đầu đối xử
với thuyền nhân bằng thái độ thù nghịch. Dân tị nạn đến từ Việt Nam [28] - trong đó có
khoảng 1/4 là người Việt gốc Hoa - không còn được niềm nở trợ giúp như trước bởi vì
người địa phương bắt đầu lo sợ ảnh hưởng của làn sóng Hoa kiều vốn đã hoặc đang
kiểm soát các động cơ kinh tế tại đất nước họ. Thảm trạng thuyền nhân trở nên thê
thảm hơn tại một vài vùng, đặc biệt là ở Mã Lai, khi người tị nạn bị dân địa phương ném
đá cũng như dùng cây đánh đập tàn nhẫn. Tuy vậy thay vì giảm đi, làn sóng thuyền
nhân lại vẫn tiếp tục gia tăng bất kể cái chết trên biển cả, sự tàn bạo của hải tặc cũng
như chính sách ngược đãi của các quốc gia láng diềng. Trong bài chúc tết năm 1979,
Thủ Tướng Lý Quang Diệu của Singapore đã yêu cầu các lãnh tụ trên thế giới nên tích
cực phản đối chính sách trục xuất lương dân bất nhân của Hà Nội:
'Ðợt sóng thuyền nhân và hàng-vận nhân gần đây là kết quả của các hành động tính
toán lạnh lùng, dựa trên vàng, và nhiều năm sau khi nhiệt độ chiến tranh đã nguội. Một
điềm xấu sẽ xảy ra nếu lãnh tụ thế giới cũng như giới lãnh đạo cầm bút không phổ biến
sự tức giận của họ đối với phương pháp xua đuổi gay gắc thành phần công dân vô thừa
nhận, nhiều nạn nhân nữa sẽ bị tống xuất trên các thuyền hay tàu đầy ắp.'[29]
Phụ Chú:
20 UPI report. Quoted in Barry Wain's 'The Refused: The Agony of the Indochina
Refugees,' Simon and Schuster, New York, 1981, at p.231.
21 Tổng Thống Carter chỉ ra lệnh cho Ðệ Thất Hạm Ðội Hoa Kỳ tìm kiếm và cứu vớt
thuyền nhân đang gặp hoạn nạn trên biển sau hội nghị quốc tế về tị nạn Ðông Dương I
vào tháng 7-1979 trong nỗ lực quốc tế hóa cuộc khủng hoảng tị nạn Ðông Dương nhằm
lôi kéo các quốc gia khác tham gia vào chương trình cứu trợ tị nạn tại Ðông Nam Ạ
Trong khoảng thời gian 4 năm từ tháng 5-1975 cho đến tháng 8-1979, hải quân Hoa Kỳ
tại Ðông Nam Á tránh né công tác nhân đạo nàỵ
22 Chủ trương ưu tiên cho Hoa kiều này phản ảnh một phần sự xung đột chính trị giữa
Hà Nội và Bắc Kinh vào thời điểm đọ Dĩ nhiên là Hà Nội cũng lo ngại về một đội quân
thứ năm trong cộng đồng người Việt gốc Hoa, nhưng mối lợi 'của chìm' khổng lồ chính
là lý do đã đưa đến kế hoạch buôn lậu lương dân bất nhân của đảng Cộng Sản Việt
Nam. Suốt hai năm 1978 và 1979, chương trình 'hiến của để đí của Hà Nội được tổ chức
âm thầm nhưng quy mô và tỏa rộng toàn quốc.
23 Tưởng cũng cần ghi lại ở đây là chính sách buôn người của Hà Nội khi phổ biến
xuống địa phương đã không được thực hiện thuần nhất. Hầu như đa số các thuyền
được Bộ Nội Vụ cấp giấy phép cho ra khơi đều phải chở nhiều người hơn số lượng cho
phép bởi vì các ông vua con địa phương muốn 'ăn vá thêm. Một vài đảng viên cao cấp
như Tỉnh Ủy đã mang cả bao bố vàng lá để vượt biên cùng gia đình sau các đợt ăn chận
trung ương nàỵ
24 The communists in Hanoi 'picked on' Chinese Vietnamese 'because they know that
almost all ASEAN countries have delicate problems with their Chinese minorities. The
massive unloading of Chinese refugees onto these countries can only exacerbate racial
sensitivities and, if the flow is sustained long enough, lead to racial warfare which could
tear these societies apart quicker and far more effectively than any invading Vietnamese
armỵ In no time ASEAN prosperity, stability and cohesion would vanish into thin air and
conditions of life would soon be on par with those now prevailing in Indochiná
25 Theo lời khoe của Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch với phái đoàn Hạ Viện
Hoa Kỳ do Nghị Sĩ Benjamin Rosenthal dẫn đầu viếng thăm CHXHCN Việt Nam vào
tháng 8-1979 thì chỉ trong vòng 7 tháng đầu năm 1979 (vốn là cao điểm của chiến dịch
buôn người) Hà Nội đã truy tố ít nhất là 4.000 vụ vượt biên trái phép, tức là khoảng vài
chục ngàn 'dân đi chuí đã bị cầm tù nếu chúng ta chỉ khiêm tốn phỏng tính là đa số các
vụ vượt biên bí mật do đồng bào tự tổ chức khó kéo theo quá vài chục ngườị
26 Câu nói này do Ðệ Nhất Thư Ký của Hồng Kông là Sir Jack Cater phát biểu ('those
who traffic in human miserý).
27 Trước chiến dịch buôn dân của Hà Nội vào giữa năm 1978, Mã Lai và Thái Lan thỉnh
thoảng xua đuổi ghe tị nạn ra hải phận quốc tế, nhưng luôn luôn cho thuyền nhân Việt
Nam cập bến nếu ghe của họ gặp trục trặc; và đa số ghe tị nạn rất mỏng manh và củ kỷ
cho nên thường bi hư hại sau vài ngày trên biển. Chính sách tạm cư này phản ảnh lònh
nhân đạo của nhân dân địa phương bởi vì vào giai đoạn niên kỷ 1970, không một quốc
gia Ðông Nam Á nào ký kết vào Công Ước liên quan đến Tư Cách Tị Nạn năm 1951
(1951 UN Convention relating to the Status of Refugees) và Hiệp Ðịnh Thư liên quan
đến Tư Cách Tị Nạn năm 1967 (1967 UN Protocol relating to the Status of Refugees).
(Chính phủ Phi Luật Tân đồng ý ký vào hai văn kiện này vào tháng 7-1981, và nhờ vậy
chính sách sau này của Manila đối với thuyền nhân Việt Nam tương đối đỡ khắc nghiệt
hơn.)
28 Bruce B. Dunning, Vietnamese in America: The Adaptation of the 1975-1979 Arrivals,
in Refugees As Immigrants, Edị by David W. Haines, Rowman & Littlefield Publishers,
Inc., New Jersey 1989, at p.60. Furthermore, most Sino-Vietnamese or ship people left
in larger crafts and old foreign-registered ships operated by overseas Chinese racketeers
under contract with Hanoi between miđ1978 and late 1979.
29 'The latest exodus of 'boat peoplé and 'ship peoplé is the result of acts of cold
calculation, measured in gold, and long after the heat of battle has cooled. What is
ominous is that unless world leaders and leader-writers register their outrage at this
cynical disposal of unwanted citizens, many more victims will be sent off on packed
boats or ships.'
Vào tháng 12-1978, tàu Huey Fong cập bến Hồng Kông
với một kiện hàng gồm 3.318 người do đảng CSVN xuất cảng.
(Hong Kong Government Information Services)
Các Kiện Hàng Người
Khổng Lồ Rỉ Sét
Kiện hàng người khổng lồ đầu tiên của Hà Nội được sắp xếp đưa ra biển vào mùa Thu
năm 1978.[30] Thương nhân Singapore tên Tay Kheng Hong, 51 tuổi, là một trong vài
nhân vật chủ yếu cộng tác với Hà Nội trong cuộc buôn dân lần đó cũng như trong một
vài đợt sau này. Sau ngày Sài Gòn thất thủ, Tay Kheng Hong bị kẹt lại ở Việt Nam và chỉ
được công an cấp giấy phép cho trở về quê quán vào tháng 4-1978, có lẽ với nhiệm vụ
chuẩn bị cho kế hoạch buôn dân của Hà Nội. Vào tháng 6 năm đó, Tay Kheng Hong bắt
đầu làm việc với cộng tác viên tên Tăng Tạ Sơn vốn còn đang ở thành phố Hồ Chí Minh
(tên mới của Sài Gòn) và công an Bộ Nội Vụ để tổ chức kiện hàng người đầu tiên bao
gồm đa số Hoa kiều cùng dân Việt giàu có.
Vào ngày 24-8-1978, chiếc tàu cũ tên Southern Cross được bao thuê từ Singapore để đi
Bangkok chuyên chở một kiện hàng muối. Sau khi rời khỏi hải phận Singapore, tàu
Southern Cross chuyển hướng về thành phố Hồ Chí Minh và đã được chính quyền cộng
sản tại đây đón tiếp nồng hậu. Thay vì nhận một kiện hàng muối, tàu Southern Cross
thâu thập 1.250 hành khách; và để được phép ra đi, mỗi hàng-vận nhân phải trả từ 6
đến 8 lượng vàng cho Hà Nội và từ 1 đến 2 lượng vàng cho nhóm tổ chức.[31] Tàu
buôn người Southern Cross sau đó rời Việt Nam với lá cờ cỏ sao vàng treo lủng lẳng
phía trước mũi và được ca nô phi tiêu của hải quan hướng dẫn ra hải phận quốc tế.
Trước khi ra biển, thuyền trưởng Southern Cross đã đánh điện kêu gọi được giúp đỡ bởi
vì tàu vừa mới vớt được hàng trăm thuyền nhân ngoài hải phận quốc tế. Kuala Lumpur
nghi ngờ thiện chí của lời khẩn cầu này cho nên cấm tàu Southern Cross vào hải cảng
Mã Lai. Singapore cũng phản ứng tương tự cho nên cuối cùng tàu Southern Cross phải
bỏ kiện hàng người xuống hoang đảo Pengibu của Nam Dương vào ngày 21-9-1978.
Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc đã can thiệp và vận động với Jakarta để cho các hàng-
vận nhân này được tạm trú tại vùng đảo Bintan phía Nam Singapore trong khi chờ đợi
cơ hội định cư.
Sự thành công của tàu Southern Cross khiến giới lãnh đạo Hà Nội hồ hởi và tiếp tục làm
việc với Tay Kheng Hong để tổ chức thêm một đợt buôn người khác vài tuần sau đó.
Vào ngày 15-10-1978, tàu Golden Hill vốn đã phục vụ trên 30 năm được tậu với giá
125.000 Mỹ-kim ở Singapore để đưa về Hồng Kông phá bỏ hầu lấy sắt phế thải. Tàu
Golden Hill sau đó được đổi tên thành Hai Hong và vừa rời Singapore lại chuyển hướng
về Vũng Tàu để đón một kiện hàng khoảng 1.200 người. Lần này gian thương Tay
Kheng Hong đã bị đảng Cộng Sản Việt Nam lường gạt; tàu Hai Hong bị bắt buộc phải
nhận thêm 1.300 hàng-vận nhân miễn phí. Tay Kheng Hong không có cách chọn lựa
nào khác hơn là cay đắng chấp thuận yêu cầu tối hậu của Hà Nội bởi vì nếu không thì
tàu Hai Hong khó có thể rời khỏi hải phận Việt Nam, và mối lợi đầu cơ của hắn sẽ tiêu
tan.
Vào ngày 24-10-1978, chiếc tàu phế thải Hai Hong chở một kiện hàng người bao gồm
2.449 hàng-vận nhân kể cả gia đình của Tăng Tạ Sơn, cộng tác viên đắc lực của Tay
Kheng Hong tại thành phố Hồ Chí Minh. Bão Rita vốn đang tàn phá biển Nam Hải lúc đó
đã khiến tàu Hai Hong phải đổi hướng đi Hồng Kông để tiến về Nam Dương. Jakarta e
ngại một kiện hàng người khổng lồ khác của Hà Nội sẽ bị trút xuống lãnh địa Nam
Dương cho nên ra lệnh cho tàu Hai Hong phải rời hải phận quốc gia. Tàu Hai Hong trực
chỉ Mã Lai nhưng vẫn không được phép đổ người. Sau đó thủy thủ đoàn dự định rời hải
cảng Klang để đi Singapore nhưng tình trạng củ kỹ bệ rạc khiến tàu không rời khỏi hải
phận Mã Lai nổi.
Trong suốt giai đoạn này, kết quả điều tra tàu Southern Cross, Hai Hong và một số tàu
khác của các chính phủ quan tâm từ Kuala Lumpur, Jakarta đến Canberra, Washington
cho biết đảng Cộng Sản Việt Nam đang tổ chức buôn lậu lương dân để kiếm vàng và
quý kim; và kế hoạch buôn người tàn nhẫn này đe dọa đẩy toàn chương trình cứu trợ
và định cư thuyền nhân vào tình trạng hiểm nghèo. Trong quá khứ, thuyền nhân là
những người tị nạn đi tìm tự do trên những chiếc ghe nhỏ và họ đã được nhân dân và
chính quyền láng diềng đón tiếp, giúp đỡ cũng như cho tạm trú trong khi chờ đợi được
đi định cư. Trong chiến dịch buôn người của Hà Nội trên các chiếc tàu khổng lồ như
Southern Cross và Hai Hong, vấn đề tư cách tị nạn bắt đầu được bàn luận và phân tích
kỷ lưỡng hơn bởi các nhân vật chịu trách nhiệm về chính sách quốc gia, kể cả nhân viên
Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc. Làm sao mà các hàng-vận nhân có thể được xem là dân
tị nạn chính thống khi họ rời Việt Nam một cách đường đường chính chính với sự giúp
đỡ và che chở của chính quyền Hà Nội? Tiêu chuẩn 'bị đàn áp' (persecuted) vốn là tiêu
chuẩn duy nhất để được cấp quy chế tị nạn theo công pháp quốc tế khó mà có thể áp
dụng cho nhóm hàng-vận nhân từng được công an Bộ Nội Vụ tiếp đón, bảo vệ và đưa
lên các chiếc tàu khổng lồ như Southern Cross và Hai Hong để ra đi một cách an toàn.
Chính phủ Úc lên tiếng là các chuyến buôn người của Hà Nội trên những chiếc tàu sắt to
lớn phải thất bại bởi vì nếu không thì khó có thể ngăn chận bàn tay mại dân bất nhân
của đảng Cộng Sản Việt Nam.[32] Bộ Trưởng Di Trú và Nhân Chủng Michael MacKellar
tuyên bố: 'Chúng ta hiện có nhiều dấu hiệu đầu tiên là những cá nhân không có lương
tâm đang gắng sức kiếm lời từ tình trạng tị nạn Ðông Dương hiện nay.. Úc đã đóng vai
trò quan trọng trong việc thâu nhận nhiều ngàn dân tị nạn chân thật, nhưng tôi muốn
báo trước rõ ràng là chúng tôi sẽ không chấp nhận các vụ liên quan đến âm mưu đen
tối nhằm trốn tránh khó khăn.' [33] Nam Dương, Mã Lai và các quốc gia Ðông Nam Á
khác đồng chia xẻ quan điểm của Úc về kế hoạch buôn dân của Hà Nội.
Trong các ngày đầu của vấn nạn Hai Hong, Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc dự định phân
loại hàng-vận nhân trên chiếc tàu phế thải này là dân nhập biên bất hợp pháp. Tuy
nhiên khi sức khỏe của các nạn nhân này xuống dốc trầm trọng vì điều kiện sinh sống
bất lợi trên con tàu rỉ sét, lòng nhân đạo và sự xúc động nhất thời đã thay thế lý trí và
khiến Cao Ủy Tị Nạn LHQ phải ra thông báo công nhận hàng-vận nhân trên tàu Hai
Hong là dân tị nạn.
Vấn nạn Hai Hong chấm dứt vào tháng 11-1978 nhưng kế hoạch buôn dân của Hà Nội
vẫn tiếp tục bởi vì đảng Cộng Sản Việt Nam không thể bỏ qua một mối lợi khổng lồ thâu
thập được từ khổ cảnh thuyền nhân, đặc biệt là khi cộng đồng quốc tế chưa có phản
ứng hiệu quả. Ða số các kiện hàng người của Hà Nội chứa khoảng vài trăm lương dân
trở lại, nhưng cũng có khoảng nửa chục kiện hàng chứa hàng ngàn người được công an
Bộ Nội Vụ phê chuẩn cho ra khơi trên những chiếc tàu rỉ sét và đã làm chấn động các
chính quyền lân bang. Vào tháng 12-1978, tàu Huey Fong cập cảng Hồng Kông với một
kiện hàng gồm 3.318 người.[34] Ba ngày sau, tàu Tung An chở 2.318 hàng-vận nhân
đến Phi Luật Tân.[35] Hai tháng sau đó, Hồng Kông phải đối đầu với 2.651 hành khách
của Hà Nội đi trên tàu Skyluck vốn trước đó đã bỏ 600 người tại vùng đảo Palawan của
Phi Luật Tân.[36] Vào ngày 26-5-1979, tàu Sen On cũng được biết đến dưới danh hiệu
Kina Maru rồi Seng Cheong đã ủi vào đảo Lantau của Hồng Kông với 1.433 hàng-vận
nhân.
Sự liên kết giữa đảng Cộng Sản Việt Nam và bè lũ gian thương quốc tế để buôn lậu
lương dân chỉ chấm dứt khi cộng đồng thế giới cực lực phản đối kế hoạch buôn người
tàn nhẫn này, và đám thương cẩu ở nước ngoài bị chính quyền địa phương đe dọa bắt
phải chấm dứt công việc hợp tác mại dân với Hà Nội hoặc bị giam cầm và truy tố hình
sự cũng như chế tài. Hsu Wen-hsin, thuyền trưởng của tàu Huey Fong, 6 phụ tá của hắn
và 4 thương gia liên hệ đã bị Hồng Kông đưa ra tòa về tội buôn lậu sau khi tàu được
cho cập bến vào ngày 19-1-1979;[37]Hsu và các phụ tá cũng như một thương nhân đã
bị kết án hơn 50 năm tù sau đó. Ðối với nhóm tổ chức tàu Skyluck, chính quyền Hồng
Kông truy tố Thuyền trưởng Hsiao Hung-ping và 4 phụ tá về tội gian mưu vào tháng 2-
1979. Thủy thủ đoàn của tàu Sen On cũng phải chịu một số phận tương tự; 4 người
trong ban tổ chức đã bị kết án về tội giúp đỡ ngoại dân nhập cư trái phép. Tại Phi Luật
Tân, chủ tàu Tung An đã bị phạt về tội vi phạm luật di trú. Trong khi đó, Mã Lai dùng
luật An Ninh Quốc Nội năm 1960 để bắt giữ mà không cần phải truy tố Serigar, thuyền
trưởng tàu Hai Hong, và đầu đàn nhóm tổ chức là Tay Kheng Hong và Lee Sam.
Singapore bỏ tù Allan Ross và Chong Chai Kok bởi vì vai trò của họ trong vụ tàu
Southern Cross và Hai Hong. Chính quyền Singapore cũng hủy bỏ giấp phép hành nghề
của Thuyền trưởng Sven Olof vì Olof đã tích cực nhúng tay vào vụ tàu Southern Cross.
Các quốc gia quan tâm đã nhanh chóng chia xẻ tin tức tình báo liên quan đến bè lủ gian
thương có liên hệ với Hà Nội để tiêu diệt dự tính buôn người trong trứng nước.[38] Tất
cả các chủ tàu cũng như thương cẩu trù định làm ăn với đảng Cộng Sản Việt Nam
thường xuyên được cơ quan an ninh địa phương thăm hỏi cũng như khuyến cáo về hậu
quả nghiêm trọng của vấn đề. Singapore đã đập tan một mạng lưới quốc tế chuẩn bị
làm ăn với Hà Nội bao gồm 4 thương nhân địa phương, 2 công dân Ðài Loan và một
thương nhân Nam Dương gốc Hoa; nhóm người này dự định dùng tàu Tonan Maru để
thâu nhận một kiện hàng người với 'sự đồng lõa của giới cầm quyền Việt Nam'
('complicity of Vietnamese authorities').
Một dự tính buôn người khác xảy ra vào tháng 2-1979 liên quan đến tàu Lucky Dragon
bị phá hỏng bởi vì Hồng Kông đã kịp thời phân phối tin tình báo cho nhiều chính quyền
lân bang một cách hiệu quả. Báo South China Morning Post từng tường thuật lời của
John Slimming, Giám Ðốc Nha Thông Tin Hồng Kông: 'Có nhiều lý do để nghi là chiếc
tàu này có thể đang chuẩn bị vào hải phận Việt Nam để thâu nhận hành khách trả cước
phí.'[39]
Vụ tàu Sea View chứa đựng nhiều tình tiết lý thú hơn bởi vì khi Hồng Kông - lúc đó còn
là thuộc địa Anh - nhận được tin tình báo cho hay là tàu này đang thả neo dừng lại cách
sông Sài Gòn khoảng 16 hải lý vào tháng 6-1979, Luân Ðôn lập tức triệu Lê Kỳ Giai, đại
diện sứ quán Hà Nội, lên Bộ Ngoại Giao để phản đối hành động buôn người tàn nhẫn
này. Giai phủ nhận vai trò của đảng Cộng Sản Việt Nam trong vấn đề mại dân, nhưng
lời lên án chính thức này của chính quyền Anh đã có hiệu quả ngay lập tức. Vào ngày
13-7-1979, tàu Sea View phải rời hải phận Việt Nam mà không nhận được kiện hàng
người của Hà Nội.
Nhờ vào sự hợp tác nhanh chóng và hiệu quả của các chính quyền quan tâm cho nên
đảng Cộng Sản Việt Nam đã thất bại trong âm mưu tầm lợi lâu dài trên sự tủi nhục của
nhân dân. Song song với nỗ lực tích cực truy tố cũng như chế tài bè lũ gian thương bốc
vác các kiện hàng người của đảng Cộng Sản Việt Nam, cộng đồng thế giới đã thành
công trong việc sử dụng áp lực ngoại giao để ngăn chận kế hoạch buôn lậu lương dân
của Hà Nội.
Hàng-vận nhân chui rúc trên những chiếc tàu rỉ sét
do bọn thương cẩu quốc tế và đảng CSVN tổ chức lèo lái.
Phụ Chú:
30 Tin tình báo cung cấp hình của một nhân vật bí mật gọi là ông Lý ('Mr. Leé) được Hà
Nội sử dụng để liên lạc với đám thương cẩu qu ốc tế nhằm tổ chức các kiện hàng ngườị
Ông Lý nói được tiếng Việt, tiếng Quan Thoại, Phúc Kiến và một ít tiếng Quảng Ðông.
31 Một lượng vàng cân nặng khoảng 1.21 ounces. Vào giai đoạn 1979 và 1980, giá vàng
vọt từ $275 Mỹ-kim/ounce lên đến $850 Mỹ-kim/ouncẹ
32 Tại Úc, một nhóm hổn tạp gồm có phe tả, phe bảo thủ cực hữu và thành phần kỳ thị
chủng tộc đã chống lại việc định cư thuyền nhân. Họ miệt thị dân tị nạn Việt Nam là
phần tử lười biếng và tổ chức họp báo để phản đối chính sách nhân đạo của chính phụ
Nhưng chỉ một niên kỷ sau đó, chính những thuyền nhân này đã tạo được nhiều tiếng
vang hiển vinh cũng như ảnh hưởng mạnh mẽ chánh trường Úc. Ghe tị nạn đầu tiên cập
bến Úc là chiếc KG 4435 do anh Lâm Bình, 25 tuổi, điều khiển rời Kiên Giang với 4 thanh
niên khác.
33 'We now have the first indications that unscrupulous people are attempting to
profiteer in the present Indochinese refugee situation.. Australia has played a major part
in accepting many thousands of genuine refugees, but I give strong warning that we
shall not accept cases involving subterfugé
34 Cảnh sát Hồng Kông tìm được 3.273 lượng vàng trị giá HK $6,5 triệu trên tàu Huey
Fong. Ðảng CSVN đã nhận tiền mãi lộ trị giá ít nhất từ 4 đến 5 lần số lượng vàng này
hay khoảng 12.000 đến 15.000 lượng vàng trước khi cho phép tàu Huey Fong rời hải
cảng Việt Nam.
35 Theo lời khai của một nhân chứng Việt Nam trước tòa Phi Luật Tân thì ít nhất là 240
người đã mất mạng trong khi chen lấn nhau lên tàu Tung An vào tháng 11-1978.
36 Sau khi rời Việt Nam vào ngày 24-1-1979, tàu Skyluck đã chuyển vàng sang tàu
United Faith ngoài hải phận quốc tế trước khi nhập cảng Hồng Kông vào ngày 7-2-1979.
Số lượng vàng này đã được tàu United Faith âm thầm chuyển vào thị trường buôn lậu
của Hồng Kông.
37 Chính quyền Hồng Kông tu chính Luật Thương Hải (the Merchant Shipping Bill), Luật
Di Trú (the Immigration Bill) và một số luật khác để tăng hình phạt tù (lên đến 4 năm)
và tài chế (từ $40.000 lên đến $1 triệu) để đối đầu với thành phần thương cẩu cộng tác
với Hà Nội để chuyên chở các kiện hàng ngườị Bọn buôn người được Hồng Kông đánh
giá nguy hiểm không kém đám buôn lậu thuốc phiện.
38 Vào tháng 2-1979, Hồng Kông tổ chức nhóm đặc nhiệm về tàu tị nạn Refugee Ship
Unit hoạt động bí mật dưới sự chủ huy của Tim Frawley để theo dõi hành vi của công an
Bộ Nội Vụ Việt Nam và đám thương cẩu Hoa kiều ngoại quốc nhằm ngăn chận các kiện
hàng người của Hà Nộị
39 'There are reasons to suspect that this ship may be planning a rendezvous in
Vietnamese waters to pick up fare-paying passengers.' South China Morning Post, 2
March 1979.
Hậu Quả Di Hại của Kế Hoạch Buôn Lậu Lương dân
Chiến lược buôn lậu lương dân của Hà Nội đã gây ra nhiều ảnh hưởng tác hại cho
chương trình cứu trợ và định cư thuyền nhân bắt đầu với sự phản đối của các chính
quyền quan tâm rồi dự định 'bắn khi trông thấy' (shoot on sight) của Mã Lai đối với dân
tị nạn Việt Nam vào tháng 6-1979.[40] Vào những năm đầu của làn sóng thuyền nhân,
như đã trình bày trong các phần trước, chính quyền Kuala Lumpur đối xử tương đối
nhân đạo với người Việt vượt biên tìm tự do. Dân Mã Lai cũng tận tình giúp đỡ thuyền
nhân bằng cách cung cấp thực phẩm và nơi tạm trú trong khi chờ đợi quyết định của cơ
quan hữu trách địa phương.
Trước khi Hà Nội tiến hành kế hoạch mại dân vào giữa năm 1978, chính quyền Mã Lai ít
khi xua đuổi thuyền nhân; và ngay cả khi ghe tị nạn còn tốt được hướng dẫn đến quốc
gia khác, các người trên ghe thường được tiếp tế thêm gạo, nước ngọt cũng như nhu
yếu liệu và dầu máy cần thiết. Vào tháng 3-1978, Bộ Trưởng Nội Vụ Tan Sri Ghazali
tường trình trước Quốc Hội rằng chính phủ Mã Lai tiếp tục đón nhận thuyền nhân vì lý
do nhân đạo mặc dầu không công nhận tư cách tị nạn của họ. Theo ông ta thì chỉ có
những người trốn tránh một cuộc chiến đang diễn ra mới có thể được xem là dân tị
nạn;[41] và CHXHCN Việt Nam lúc đó không còn chiến tranh. Nhờ vào chính sách nhân
đạo của Mã Lai mà hàng chục ngàn thuyền nhân đã được cho phép tạm trú trong khi
chờ đợi cơ hội định cư tại đệ tam quốc gia.
Vào cuối năm 1978 khi trực diện với kế hoạch buôn lậu lương dân của Hà Nội, chính
quyền Kuala Lumpur lập tức thay đổi chính sách vì lo ngại phải đối đầu với một cuộc đổ
bộ của Hoa kiều do đảng Cộng Sản Việt Nam bảo trợ. Kiện hàng người Việt gốc Hoa do
tàu Hai Hong đưa đến hải phận Mã Lai vào tháng 11-1978 đã khiến nhiều lãnh tụ chính
trị lo âu. Tại Quốc Hội, các ý kiến chỉ trích chủ trương nhân đạo của chính quyền - đặc
biệt là từ đảng đối lập Partai Islam - bùng nổ mạnh vì có thêm yếu tố mới. Thay vì lo đối
đầu với số lượng ghe mỏng manh của thuyền nhân Việt Nam cập bờ Mã Lai một cách rời
rạc, giới lãnh đạo quốc gia bắt đầu lo lắng trước cuộc đổ bộ của Hoa kiều trên những
chiếc tàu khổng lồ do Hà Nội và đám gian thương quốc tế tổ chức.
Chính quyền Kuala Lumpur cuối cùng đã đi đến quyết định ngăn cấm tất cả ghe thuyền
từ Việt Nam cập bến và ra lệnh cho lực lượng biên phòng kéo dân tị nạn ra hải phận
quốc tế. Chính sách xua đuổi này đã khiến nhiều thuyền nhân áp dụng phương pháp
đục lủng ghe rồi lội vào bờ với hy vọng đặt chính quyền Mã Lai trong cảnh 'chẳng đặng
đừng' phải chấp nhận cho họ được tạm lưu. Chiến thuật 'nhảy bãi' liều lĩnh của những
thuyền nhân tuyệt vọng đã dẫn đến nhiều cái chết đầy thương tâm của trẻ em, phụ nữ
và quý cụ cao niên yếu sức cũng như thanh niên không biết bơi. Vào các tháng đầu khi
chính sách mới được thi hành, vài ngàn 'dân nhảy bãi' (beach people) đã được cho phép
lưu trú trong khi chờ đợi cơ hội tái định cư. Tuy nhiên trong các tháng sau đó, Kuala
Lumpur đe dọa chấm dứt chương trình tạm lưu dân tị nạn Việt Nam và sẽ tiến hành việc
tống khứ 76.000 thuyền nhân hiện đang trú ngụ trên đất Mã Lai.
Vào ngày 15-1-1979, Thủ Tướng Hussein Onn tuyên bố là Mã Lai chấm dứt chính sách
nhân đạo và lập tức thực hiện chính sách be bờ để ngăn chận làn sóng thuyền nhân.
Vào tháng 2 năm đó, ông ta phát biểu: 'Chúng tôi đã thông báo cho Liên Hiệp Quốc và
các quốc gia khác về vấn đề này bởi vì chúng tôi không còn đủ chỗ trong các trại trên
đảo của chúng tôi.. vì thế chúng tôi phải xua đuổi họ đi nơi khác nếu họ muốn cập
bờ.'[42] Giữa tháng 2 và tháng 6-1979, khoảng 50% hay hơn 5.000 dân nhảy bãi Việt
Nam đã bị lính Mã Lai dùng súng ép lên ghe và kéo ra hải phận quốc tế.
Một lực lượng đặc biệt, the VII (Vietnamese Illegal Immigrants), được Kuala Lumpur tổ
chức để tìm cách ngăn cản ghe tị nạn xâm nhập hải phận quốc gia cũng như giải quyết
số thuyền nhân đang còn kẹt tại các trại tạm lưu. Dân đánh cá Mã Lai được yêu cầu sơn
một vòng tròn có chữ P chính giữa trên mui tàu để phân biệt với ghe của thuyền nhân.
Vào ngày 31-3-1979, tàu tuần tiểu Rrenchong kéo ghe tị nạn MH-3012 ra hải phận quốc
tế. Vận tốc nhanh của tàu tuần tiểu đã làm ghe tị nạn lật và dẫn đến cái chết của 115
nạn nhân vô tội. Một bản điều tra của Liên Hiệp Quốc tường trình: 'Ghe Việt Nam ở
trong một tình trạng tệ hại, máy bơm nước bị hư và máy ghe không chạy. Nước ngọt
không có (trên ghe).. một em bé được sinh trên ghe trong lúc đó.. Sĩ quan hải quân (Mã
Lai) từng lên ghe đều biết tất cả các dữ kiện này.'
Trong khoảng thời gian ba tháng từ tháng 3 đến tháng 5-1979, Kuala Lumpur
đã dùng bạo lực để xua đuổi hơn 26.000 thuyền nhân trên 186 ghe.[43] Vào
tháng 6-1979, Bộ Trưởng Nội Vụ Tan Sri Ghazali Shafie tuyên bố rằng khoảng 40.000
thuyền nhân trên 267 ghe tị nạn đã bị Mã Lai tống xuất ra hải phận quốc tế và cho biết
là Kuala Lumpur thành lập 100 điểm kiểm soát trên biển cũng như bổ xung thêm tàu
chiến và biệt phái 2.000 quân vào nổ lực ngăn chặn làn sóng tị nạn Việt nam. May mắn
cho các thuyền nhân bất hạnh bị Mã Lai xua đuổi là Nam Dương vẫn tiếp tục cho ghe
của họ cập bờ, nếu không thì nhân loại phải chứng kiến một cuộc sát nhân tập thể rùng
rợn trên biển.
Dân Mã Lai cũng đã góp phần trong nỗ lực ngăn cản làn sóng thuyền nhân khi Kuala
Lumpur thay đổi chính sách. Ðiển hình là tại Kuala Trengganu vào ngày 22-11-1978,
dân địa phương cực đoan đã đẩy một ghe tị nạn ra khỏi bờ khiến ghe bị lật và gần 200
thuyền nhân trong đó có nhiều phụ nữ và trẻ em bị chết đuối. Mã Lai không phải chỉ là
quốc gia duy nhất tiến hành chính sách ngăn chận làn sóng tị nạn; Thái Lan, Nam
Dương và Singapore đã dàn lực lượng hải quân để đề phòng tàu chở các kiện hàng
người Hoa của Hà Nội xâm nhập hải phận quốc gia, và dĩ nhiên là ghe tị nạn Việt Nam
cũng bị xua đuổi khi đến gần hải giới của các nước này.
Sự hiện diện của Hoa kiều trên các tàu sắt do Hà Nội bảo trợ bị dư luận tại nhiều quốc
gia Ðông Nam Á lên án, nhưng hiếm nơi nào có tinh thần bài Hoa rõ ràng cũng như
mạnh mẽ bằng ở Nam Dương. Cũng như Mã Lai, chính sách đối xử với thuyền nhân của
Jakarta từ năm 1975 đến 1978 tương đối ôn hòa và bao dung. Dân tị nạn Việt Nam
được phép cập bờ và lưu lại tại các trại tạm trú trong khi chờ đợi cơ hội định cư.
Nhưng khi Hà Nội hợp tác với lũ gian thương quốc tế để thực hiện kế hoạch buôn lậu
lương dân, chủ trương bao dung của Jakarta thay đổi hoàn toàn bởi vì chính quyền Nam
Dương rất nhạy cảm về lá bài Hoa kiều. Lịch sử của quốc gia này từng ghi lại một cuộc
đảo chánh bất thành do Trung cộng khuyến khích vào năm 1965; và hàng chục ngàn
Hoa kiều địa phương đã mất mạng trong cuộc xung đột đẩm máu đó. Trong năm 1978,
phản ứng phẫn nộ của Bắc Kinh đối với chính sách bài thương của Hà Nội vốn ảnh
hưởng nhiều người Việt gốc Hoa đã khiến cho giới lãnh đạo Jakarta trở nên lo lắng;
trong nhãn quan của họ, phản ứng của Trung cộng là một trái bom nổ chậm có thể đưa
đến việc dàn quân can thiệp vào nội bộ các quốc gia lân bang nơi có nhiều Hoa kiều
sinh sống.
Vào tháng 6-1979, chính sách của Nam Dương đối với thuyền nhân Việt Nam bất đầu
cứng rắn hơn. Bộ Trưởng Quốc Phòng Mohammed Jusuf phát biểu: 'Chúng tôi không
cho phép thêm người tị nạn nào đổ bộ lên đất nước chúng tôi.'[44] Chiến dịch Lightning
Bolt được tiến hành nhằm ngăn cản các kiện hàng Hoa kiều của Hà Nội cũng như ghe tị
nạn Việt Nam xâm nhập hải phận quốc gia. Tuy vậy, mặc dầu giới lãnh đạo Jakarta đưa
ra nhiều tuyên bố cứng rắn trên diễn đàn quốc tế, nhưng trong thực tế họ vẫn tiếp tục
bảo bọc thuyền nhân Việt Nam và cho phép ghe tị nạn bị các quốc gia khác xua đuổi
cập bờ; chính nhờ vào chính sách mềm dẻo và nhân đạo này mà hàng chục ngàn người
Việt đã không bị mất mạng sau khi ghe của họ bị tàu hải quân lân bang kéo ra biển.
Vào thời điểm 1975 tại Thái Lan, chính quyền Bangkok quyết định không chấp nhận cho
bất cứ người tị nạn nào nhập biên. Dân tìm tự do đến từ Việt Nam cũng như Cam Bốt
được cơ quan sở tại giúp đỡ sơ sài rồi tống xuất ra khỏi biên thùy nếu không có quốc
gia nào cho họ định cư. Bộ Nội Vụ Thái cho tổ chức Trung Tâm Hành Ðộng cho Người
Mất Ðất Sống (Operations Centre for Displaced Persons) để theo dõi tình hình phát triển
của làn sóng tị nạn Ðông Dương nhằm đưa ra kế hoạch đối phó kịp thời.
Vào tháng 3-1978, Thủ Tướng Kriangsak công bố một chính sách mới đối với dân tị nạn
Ðông Dương. Vì lý do nhân đạo, Bangkok bắt đầu chấp nhận cho những người ra đi tìm
tự do được tạm trú trong khi chờ đợi cơ hội định cư tại đệ tam quốc gia. Nhưng chỉ
trong vòng vài tháng sau đó, khi đối diện với các kiện hàng người của Hà Nội, Bangkok
lập tức đình chỉ chánh sách nhân đạo. Chính quyền Thái Lan lên tiếng hăm dọa là sẽ
đóng cửa các trại tị nạn và tống khứ toàn bộ thuyền nhân đang tạm cư ra khỏi biên
thùy quốc gia.
Ðể châm thêm dầu vào ngọn lửa đang thiêu đốt lòng nhân đạo đối với dân tị nạn, Phó
Tổng Thư Ký Cục An Ninh Quốc Gia Prasong Soonsiri tuyên bố rằng 10% thuyền nhân là
tình báo của Hà Nội mặc dầu không đưa ra được bất cứ bằng chứng cụ thể nào.[45]
Vào tháng 10-1978, Thủ Tướng Kriangsak phát biểu trên báo Bangkok Post: 'Nếu ghe
nào cần sửa chửa thì có thể được phép, nhưng ghe cũng như dân tị nạn phải rời ngay
sau khi việc sửa chửa hoàn tất,'[46] và không ghe tị nạn nào được phép cập bờ.[47]
Lực lượng hải quân Thái bắt đầu hợp tác với lực lượng hải quân Mã Lai để tổ chức các
cuộc hành quân song phương nhằm ngăn chận làn sóng thuyền nhân xâm nhập hải
phận quốc gia.
Phi Luật Tân cũng bắt đầu cứng rắn hơn đối với dân tị nạn khi phải đối đầu với kế hoạch
buôn lậu lương dân của Hà Nội. Thuyền nhân chỉ được phép cập bến nếu có quốc gia
bảo đảm cho họ được định cư. Bộ Trưởng Ngoại Giao Carlos Romulo nhấn mạnh:
'Chúng tôi không muốn (nhận) thêm dân tị nạn. Tình hình mỗi lúc mỗi tệ hại hơn.'[48]
Vào tháng 4-1979, Manila chính thức chấm dứt chính sách nhân đạo đối với thuyền
nhân Việt Nam.
Vào giai đoạn 1975, chính quyền Tân Gia Ba chấp nhận cho 200 dân tị nạn Việt Nam
được định cư; nhưng khi đối đầu với làn sóng thuyền nhân, chính quyền sở tại áp dụng
sách lược bế quan tỏa cảng. Thủ Tướng Lý Quang Diệu tuyên bố một cách lạnh lùng
rằng: 'Con tim của quý vị phải chai đá, nếu không thì quý vị sẽ mất máu đến chết;'[49]
vì vậy cho nên không ghe tị nạn nào có thể vào được hải phận Singapore. Chính sách
mới của Tân Gia Ba không cho phép thuyền nhân cập bờ ngoại trừ họ được tàu ngoại
quốc cứu vớt và được quốc gia thứ ba bảo đảm việc tái định cư cũng như CUTNLHQ
phải tài trợ chi phí sinh hoạt của họ trong thời gian họ cư trú ở Tân Gia Ba. Vào đầu
tháng 10-1979, thêm một điều kiện khó khăn nữa được chính quyền Singapore ban
hành là tổng số dân tị nạn Việt Nam tạm lưu trong quốc gia không thể hơn 1.000 người
và họ phải ra đi định cư trong vòng 90 ngày; nếu thời hạn định cư thuyền nhân bị vi
phạm, các chính quyền đã hứa bảo đảm cho họ sẽ bị chế tài nặng nề.[50] Chính sách
này đã bị Cao Ủy Tị Nạn LHQ cũng như nhiều quốc gia Tây phương phản đối vì từ lâu
công pháp quốc tế công nhận và đề cao trách nhiệm cứu giúp nạn nhân trên biển;[51]
trách nhiệm cao thượng này cũng liên quan đến nguyên tắc bất khả hồi (non-
refoulement) được Công Ước liên quan đến Tư Cách Tị Nạn năm 1951 (1951 UN
Convention relating to the Status of Refugees) xác định:
'Không quốc gia nào (đã ký kết Công Ước) được trục xuất hay hồi hương dưới mọi hình
thức một người tị nạn về biên cương nơi mà mạng sống hay sự tự do của người đó có
thể bị đe dọa bởi vì lý do nhân chủng, tôn giáo, sắc tộc, tư cách thành viên trong một tổ
chức xã hội hay quan điểm chính trị.' (Ðiều 33)[52]
Chính sách của Tân Gia Ba vì vậy vô hình chung đã trừng phạt những thuyền trưởng có
lương tâm sẵn sàng cứu trợ thuyền nhân đang đối chọi với tử thần một cách tuyệt vọng
trên biển. Thương thuyền ngoại quốc bắt đầu tránh né ghe tị nạn bởi vì thủy thủ đoàn
lo ngại phải chọn lựa giữa việc cứu người cấp bách và cái giá đắt đỏ mà họ sẽ trả cho
hành động trắc ẩn này; theo tin tức của giới hàng hải tại Singapore vào giữa năm 1979,
một số thương nhân đã ra lệnh cho thuyền trưởng của họ không được trợ giúp thuyền
nhân Việt Nam bởi vì hải trình có thể bị đình trệ và cái giá phải trả cho việc nhập biên
dân tị nạn trở nên quá tốn kém.[53] Lực lượng hải quân của Tân Gia Ba cũng được lệnh
phải ngăn chận không cho ghe tị nạn vào hải phận quốc gia bằng mọi cách. Vào tháng
2-1979, ghe Việt Nam số SB-001 đã bị tàu hải quân Singapore chận lại và xua đuổi về
hướng Mã Lai; hai thuyền nhân đã mất mạng trong vụ này khi chiếc ghe tị nạn mong
manh va chạm tàu sắt của hải quân.
Vào ngày 17-2-1979, Bộ Trưởng Ngoại Giao Sinnathamby Rajaratnam minh bạch hóa
chính sách của Tân Gia Ba đối với thảm trạng thuyền nhân như sau:
'Làn sóng thuyền nhân đặt thế giới phi cộng sản, kể cả các quốc gia ASEAN, vào một
tình trạng luân lý khó xử. Chúng ta có thể phản ứng vì lý do nhân đạo và luân lý để
chấp nhận và định cư những người tuyệt vọng này. Nhưng làm như vậy thì chúng ta
không những chỉ khuyến khích những kẻ có trách nhiệm (đảng Cộng Sản Việt Nam) xua
đuổi thêm nhiều dân tị nạn ra đi mà còn vô hình chung chứng minh là chính sách vô
nhân đạo lại đem đến phần lời hậu hỉ. Vả lại không chỉ vậy, các quốc gia có chính sách
nhân đạo còn phải bao thầu hàng loạt vấn nạn chính trị, xã hội và kinh tế khó kham nổi
tất nhiên xuất hiện bởi vì sự thâu nhận bất thình lình hàng trăm ngàn ngoại nhân.'[54]
Sự hợp tác giữa đảng Cộng Sản Việt Nam và mạng lưới Hoa kiều bất lương ở nước ngoài
để 'buôn lậu khổ cảnh con người' khiến các chính quyền lân bang bắt đầu đối xử với
thuyền nhân bằng thái độ thù nghịch. Thái độ cởi mở trong chính sách của các quốc gia
lân cận vốn từng chấp nhận cho dân tị Việt Nam tạm cư đã biến mất và được thay thế
bằng chủ trương cứng rắn hơn và đôi khi rất bất nhân. Thảm trạng của thuyền nhân
trên biển cũng như tại đất liền đã khiến Cao Ủy Tị Nạn LHQ - dưới áp lực của Hoa Kỳ và
các quốc gia ASEAN - tổ chức Cuộc Họp Tham Khảo giữa các Chính Quyền Quan Tâm
đến Dân Tị Nạn và Người Mất Ðất Sống ở Ðông Nam Á (Consultative Meeting with
Interested Governments on Refugees and Displaced Persons in Southeast Asia) vào hai
ngày 11 và 12-12-1978 tại Geneva, Thụy Sĩ. Ba mươi tám quốc gia đã cử phái đoàn đại
diện đến tham dự, nhưng Cuộc Họp Tham Khảo này không đem đến được một kết quả
cụ thể nào.
Ðại diện CUTNLHQ Dale DeHaan phân tích vấn đề là: 'không thể có giải pháp nhân đạo
hay lâu dài nếu các chính quyền không chịu thi hành chính sách cho (dân tị nạn) tạm
lưu dựa theo các nguyên tắc nhân đạo được quốc tế công nhận.. (và) sự tạm cư tùy
thuộc vào những hứa hẹn tái định cư (dân tị nạn) tại đệ tam quốc gia cũng như khả
năng tránh được vấn nạn thặng dư (residual problems) trong vùng.' [55] Bất kể nhận
định này, Cuộc Họp Tham Khảo không đưa ra được một phương pháp nào khả dĩ có thể
giải quyết cơn khủng hoảng tị nạn Ðông Dương. Trong khi đại diện của Hà Nội là Võ
Văn Sung tiếp tục khăn khăn phủ nhận vai trò tích cực của đảng Cộng Sản Việt Nam
trong chiến dịch buôn lậu lương dân, một vài đệ tam quốc gia đóng góp thêm được $12
triệu Mỹ-kim cho các hoạt động nhân đạo của CUTNLHQ và hứa nhận thêm 5.000 dân tị
nạn Ðông Dương; theo phái đoàn Mã Lai, các đóng góp ít ỏi này chỉ là 'một giọt nước
nhỏ vào đại dương' (a drop in the ocean).
Ðối diện với sự thất bại của cơ chế Cao Ủy Tị Nạn trong Cuộc Họp Tham Khảo vào tháng
12-1978 cũng như chứng kiến thảm trạng thuyền nhân ngày một tồi tệ hơn, Liên Hiệp
Quốc quyết định tổ chức một hội nghị quốc tế vào tháng 7-1979 với hy vọng có thể giải
quyết cơn khủng hoảng tị nạn Ðông Dương. Tổng Thư Ký LHQ Kurt Waldheim khẩn cầu
tất cả các quốc gia, ngoại trừ Lào và Cam Bốt,[56] cử phái đoàn bộ trưởng đến tham dự
hội nghị quốc tế này với văn phong nghiêm trọng như sau:
'Mặc dầu nhiều nơi khác trên thế giới hiện cũng đang đối đầu với vấn đề tị nạn khó
khăn, tầm vóc nguy cấp của cuộc khủng hoảng tại Ðông Nam Á đòi hỏi sự lưu tâm đặc
biệt ngay lập tức.'[57]
Phụ Chú:
40 Vào ngày 16-6-1979, báo chí tường thuật là Phó Thủ Tướng Mahathir bin Mohamad
của Mã Lai đã tuyên bố rằng chính phủ có thể ban hành luật 'bắn khi trông thấý ('shoot-
on-sight') để ngăn chận làn sóng thuyền nhân Việt Nam.
41 Bất cứ ai biết sơ về công pháp quốc tế cũng có thể thấy định nghĩa về 'người tị nạn'
của Bộ Trưởng Nội Vụ Tan Sri Ghazali rất nông cạn. Xin tham khảo phần Ðịnh Nghĩa
Phức Tạp về Tư Cách Tị Nạn trong Chương IV.
42 'We have already given notice to the United Nations and other countries on this as
we do not have any more space on our island camps.. so we will chase them away if
they try to land.' 'Government to step up sea patrols to prevent refugee influx,' FBIS
APA 25, 5 February 1979, at p.2 (from Hong Kong, Agence France-Presse, 5 February
1979).
43 Tháng 3-979: 5.088 đồng bào trên 29 ghe; Tháng 4-1979: 7.412 đồng bào trên 71
ghe; Tháng 5-1979: 13.462 đồng bào trên 86 ghẹ
44 'We are not going to allow any more refugee to land in our countrý
45 Bangkok có mưu đồ nhập luôn của những Việt kiều ở Thái lâu năm trong bài toán
thuyền nhân để tống xuất họ ra khỏi nước bởi vì Thái Lan luôn luôn nghi ngờ lòng trung
thành của ho
46 'If any boat needs repairs this will be permitted, but it will have to leave with the
refugees as soon as repairs are completed..'
47 Cuối cùng Thái Lan đưa ra chính sách giới hạn số lượng thuyền nhân được ra đi định
cư và gây nhiều khó khăn cho họ nhằm làm nản lòng dân vượt biên.
48 'We don't want anymore refugees. The situation is getting worse every timé Minster
opposed to more Vietnamese refugees. FBIS APA 069, 9 April 1979, at p.P1 (from Hong
Kong, Agence France-Presse, 6 April 1979).
49 'You’ve got to grow callouses on your heart or you just bleed to death.'
50 Song song, bất cứ thương thuyền nào cứu vớt thuyền nhân mà chưa tìm được quốc
gia nhận họ đều bị đòi hỏi phải đóng tiền thế chân cho mỗi đầu người tị nạn là $10.000
đô-la Singapore (khoảng $4.665 Mỹ kim lúc đó) trước khi được phép nhập cảng.
51 The 1910 Brussels International Assistance and Salvage at Sea Convention, the 1958
Convention on the High Seas, and the 1960 London International Convention for the
Safety of Life at Seạ See also J. Pagash, 'The Dilemma of the Sea Refugee: Rescue
Without Refuge,' 18 Harvard Int'l L.J. 577.
52 'No Contracting State shall expel or return (refouler) a refugee in any manner
whatsoever to the frontiers of territories where his life or freedom would be threatened
on account of his race, religion, nationality, membership of a particular social group or
political opinion.' (Art. 33)
53 Tàu bè của Nhật thường từ chối không chịu giúp thuyền nhân đang gặp nguy hiểm
trên biển bởi vì Tokyo không chịu cho đồng bào tị nạn định cư trong các năm đầu của
làn sóng vượt biên. Các quốc gia tạm lưu khác thường đòi hỏi những thương thuyền đã
vớt dân tị nạn phải tìm được chỗ định cư cho họ trước khi chịu nhận họ vào trại tị nạn.
54 'The flow of boat people poses the non-communist world, including the ASEAN
countries, with a moral dilemmạ We could respond on humanitarian and moral grounds
by accepting and resettling these desperate peoplẹ But by doing so we would not only
be encouraging those responsible to force even more refugees to flee but also
unwittingly demonstrate that a policy of inhumanity does pay dividends. Not only that,
but those countries which give way to their humanitarian instincts would sađle
themselves with unmanageable political, social and economic problems that the suđen
absorption of hundreds of thousands of alien peoples must inevitably bring in its waké
55 'There can be no humane or durable solutions unless governments grant at least
temporary asylum in accordance with internationally accepted humanitarian principles..
(and) temporary asylum depended on commitments for resettlement in third countries
and the avoidance of residual problems in the areá 'Consultative Meeting with Interested
Governments on Refugees and Displaced Persons in Southeast Asiá Summing-Up by
UNHCR (UNHCR Deputy High Commissioner Dale DeHaan), Paragraph 5(i).
56 Chính phủ Lào và Cam Bốt đã không được Liên Hiệp Quốc mời tham dự hội nghị này
mặc dầu vấn đề tị nạn Ðông Dương liên quan trực tiếp đến hai quốc gia nàỵ Lý do đơn
giản là Liên Hiệp Quốc không muốn làm phật lòng hai thế lực đàng sau là Bắc Kinh (ủng
hộ Khờ Me Ðỏ) và Hà Nội (ủng hộ Lào cộng) bởi vì hội nghị này chắc chắn sẽ thất bại
nếu không có sự hiện diện của Trung Quốc và CHXHCN Việt Nam. Sự kiện này cho thấy
vai trò con chốt của chính phủ Lào và Cam Bốt trên bàn cờ tị nạn Ðông Dương mặc dầu
đề tài thảo luận liên quan trực tiếp đến quốc sự của cả hai nước.
57 'Although there are very many serious refugee problems in other parts of the world,
the alarming proportions of the crisis in Southeast Asia require immediate and special
attention.'
Hội Nghị Quốc Tế
Về Tị Nạn Ðông Dương I
Du trình thảm khốc của thuyền nhân Việt Nam đã gợi lại nhiều kinh nghiệm cai đắng
của dân tị nạn Do Thái trong thời Ðệ Nhị Thế Chiến; và giới truyền thông quốc tế bắt
đầu tường thuật về hải trình kinh hoàng của dân tị nạn vốn đã trở thành nạn nhân của
hỏa lò sát nhân Châu Á (Asian holocaust) trong nhãn quan của các phân tích viên ngoại
quốc. Nhiều tổ chức nhân đạo trên thế giới lên tiếng kêu gọi các lãnh tụ chính trị phải
lập tức hành động để cứu vớt và định cư thuyền nhân nhằm tránh tạo điều kiện cho
một hỏa lò sát nhân tái diễn.
Trong khi Hồng Y Cooke của New York đại diện 100 triệu tín hữu Kitô và DoThái yêu cầu
Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc giúp đỡ dân tị nạn Việt Nam, Chủ Tịch Commission on the
Holocaust là Elie Wiesel bày tỏ sự bất bình khi '.. thấy người (tị nạn) lênh đênh trên biển
mà không quốc gia nào chịu chào đón họ cập bờ. Chúng tôi cảm thấy kinh khiếp vì quy
lượng (người được nhận định cư) gạt bỏ phụ nữ và trẻ em khi biết rằng chính sách này
có thể trở thành bản án tử hình.'[58] Nhiều lãnh tụ chính trị Hoa Kỳ như Thượng Nghị Sĩ
Dole, Boschwiz, Hayakawa, và Dân Biểu McCloskey đã lên tiếng bày tỏ sự quan tâm của
họ đối với thái độ lãnh đạm của Hoa Thịnh Ðốn về thảm trạng thuyền nhân. Dân Biểu
Stephen Solarz đã kêu gọi chính phủ Hoa Kỳ thâu nhận thêm nhiều thuyền nhân như
sau:
'Vấn đề có lẽ hoàn mỹ hơn nếu chính quyền (XHCN) Việt Nam không phải là chính
quyền của Việt Nam và có loại chính sách tạo điều kiện cho những người này ở lại,
nhưng sự việc là như vậy, và chúng ta phải giải quyết các hệ quả hiện hữu. Vào niên kỷ
1930 có người có thể lên tiếng là Ðức Quốc Xã nên thay đổi chính sách để thích hợp với
nhu cầu của người Do Thái ở Ðức để họ khỏi phải ra đi, nhưng tình hình thực tế cho
thấy Ðức Quốc Xã đã không thay đổi chính sách, và câu hỏi chánh đáng duy nhất (là)..
chúng ta có nên mở cửa chào đón những người cố gắng trốn đi trong tuyệt vọng (hay
không).'[59]
Dưới sức ép của dư luận, tòa Bạch Ốc dần dần nhận thức được nhu cầu đóng vai trò
tiên phong trong nỗ lực giải quyết cơn khủng hoảng tị nạn Ðông Dương. Hoa Thịnh Ðốn
ý thức được là uy danh lãnh đạo có cái giá của nó: ngoại trừ chính quyền Hoa Kỳ đóng
vai trò tích cực và năng động trong chương trình cứu trợ và định cư thuyền nhân, Hoa
Thịnh Ðốn không thể sử dụng ảnh hưởng quốc gia để kêu gọi sự cộng tác của các chính
quyền khác nhằm giải quyết cơn khủng hoảng tị nạn Ðông Dương và những vấn nạn
nhân đạo khác trong tương lai. Chính quyền Carter bắt đầu lưu ý đến chính sách trừng
phạt Hà Nội về tệ nạn vi phạm nhân quyền[60] và tích cực vận động sự hợp tác của
cộng đồng thế giới để giải quyết thảm kịch tị nạn tại Ðông Nam Á.
Trong mùa Xuân 1979, vì lo sợ chủ trương phản ứng tiêu cực sẽ tạo điều kiện cho một
hoả lò sát nhân khác xảy ra trên biển, Hoa Kỳ chính thức hóa vai trò lãnh đạo của Hoa
Thịnh Ðốn trong nỗ lực cứu trợ thuyền nhân Việt Nam. Trong lời cảnh giác Quốc Hội
Hoa Kỳ về nguy cơ 'một núi lửa sắp bùng nổ' ('the volcano is about to blow') ở Ðông
Nam Á, Chủ Tịch Ủy Ban Cứu Trợ Quốc Tế Leo Cherne đã trình bày nhu cầu cần thiết về
vai trò lãnh đạo của Hoa Thịnh Ðốn trong nỗ lực giải quyết cơn khủng hoảng nhân đạo
này như sau:
'Bất kể sự cố gắng của chúng ta và một vài quốc gia khác - đáng để là Pháp, Úc, và Gia
Nã Ðại - phản ứng của thế giới thiếu sót một cách đáng buồn. Cần thiết ở đây, và là chủ
điểm của vấn đề.. rõ ràng là sự lãnh đạo. Tổng Thống và Quốc Hội cần phải xác định
quyết tâm của quốc gia nhằm giải quyết cơn khủng hoảng nhân sinh hiện tại và kêu gọi
cả thế giới làm việc với chúng ta.. Chúng tôi chắc chắn sẽ vận động hết sức cho một
phản ứng có ý nghĩa của Hoa Kỳ đối với cơn khủng hoảng này. Quốc gia này đã từng
làm trong quá khứ, và không có lý do gì mà chúng ta không thể hành động ngay bây
giờ.'[61]
Nhằm gầy dựng sự ủng hộ của thế giới cho nỗ lực cứu trợ thuyền nhân Việt Nam, Tổng
Thống Carter tuyên bố kế hoạch gia tăng gấp đôi số lượng tị nạn Ðông Dương được Hoa
Kỳ thâu nhận lên 14.000 người mỗi tháng. Ðể đáp lại lời yêu cầu của T.T. Carter tại Hội
Nghị Thượng Ðỉnh Kinh Tế ở Tokyo, Nhật Bản đồng ý chịu trách nhiệm tài trợ toàn bộ
ngân sách của CUTNLHQ trong tài khoảng 1979 cũng như chi phí điều hành các trại tị
nạn Ðông Nam Á.
Chính sách bất nhân của Hà Nội đối với thuyền nhân khiến tổ chức Bảy Cường Quốc Kỹ
Nghệ gồm Anh, Ðức, Hoa Kỳ, Gia Nã Ðại, Nhật, Pháp và Ý đã phải ra thông cáo đặc
biệt[62] trong Hội Nghị Thượng Ðỉnh tại Tokyo vào tháng 6-1979 nhằm xác định cơn
khủng hoảng tị nạn Ðông Dương là 'một vấn nạn nhân đạo mang tầm vóc lịch sử' (a
humanitarian problem of historical proportions) và hứa là sẽ gia tăng sự đóng góp tùy
theo khả năng quốc gia cho quỹ cứu trợ và định cư dân tị nạn. Tại Hội Nghị Ngoại
Trưởng ASEAN vào tháng 2-1979, trong khi Ngoại Trưởng Carlos Romulo của Phi Luật
Tân so sánh chính sách trục xuất nhân dân của đảng Cộng Sản Việt Nam giống như
chính sách cô lập hóa và hoả thiêu dân Do Thái của Ðức Quốc Xã,[63] Ngoại Trưởng
Sinnathamby Rajaratnam của Tân Gia Ba phát biểu rằng kế hoạch buôn người bất nhân
của Hà Nội là 'phương pháp của một thằng nghèo sử dụng biển cả thay vì tù ga (để giết
người).'[64]
Vào ngày 20-7-1979, sáu mươi lăm quốc gia kể cả CHXHCN Việt Nam tham dự một hội
nghị quốc tế vĩ đại tại Geneva dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc để tìm kiếm một giải
pháp cho cơn khủng hoảng tị nạn Ðông Dương. Trong nhãn quan của Bộ Trưởng Di Trú
và Nhân Chủng Úc Ðại Lợi là Michael MacKellar, các chính quyền 'một lần nữa được yêu
cầu thẩm định một trong các thảm kịch bất nhân nhưng không cần thiết trong lịch trình
đau thương của nhân loại.'[65] Các đại diện quốc gia tại hội nghị quốc tế này đã xác
định tầm quan trọng của khổ cảnh tị nạn Ðông Dương như sau:
'Rất nhiều vấn đề bị đặt trong tình trạng hiểm nghèo: các quy tắc luật pháp cũng như
phương hướng hành dụng, tương lai của vô số thường dân và giá trị cao thượng của
nhân mạng, sự quả quyết và khả năng phản ứng đồng loạt cũng như cương quyết của
cộng đồng quốc tế..'[66]
Kết quả thất bại của Hội Nghị Evian vào năm 1933 vì các quốc gia không giải quyết
được bài toán tái định cư dân tị nạn Do Thái - vốn đã bị Hitler giết hại sau đó - vẫn còn
ám ảnh trí nhớ của nhiều thành viên tham dự hội nghị đầu tiên về tị nạn Ðông Dương
vào năm 1979. Cộng đồng thế giới hy vọng có thể sử dụng cơ hội gặp gỡ này để kêu
gọi thêm sự giúp đỡ tái định cư thuyền nhân và tạo áp lực để Hà Nội chấm dứt kế
hoạch buôn dân cũng như tôn trọng nhân quyền, kể cả quyền tự do di cư vốn được
Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền bảo đảm.
Một điểm son bên lề hội nghị này là buổi biểu tình khổng lồ của cộng đồng người Việt tị
nạn tại hải ngoại đã làm cho phái đoàn Hà Nội do Thứ Trưởng Ngoại Giao Phan Hiền trở
nên lúng túng. Một tấm biển khổng lồ bằng tiếng Pháp đã được trương lên để minh định
'TOUT LE PEUPLE VIETNAMIEN CONTRE LA CLIQUE DE HANOI' (Toàn thể nhân dân Việt
Nam chống lại bè lũ Hà Nội). Phái đoàn cộng sản phải yêu cầu cảnh sát địa phương năn
nỉ những người tị nạn đang biểu tình đừng trưng biểu ngữ đó lên trước hàng trăm ống
kính quốc tế và hăm he là sẽ không tham dự hội nghị này.[67]
Cuộc Họp về Dân Tị Nạn và Người Mất Ðất Sống ở Ðông Nam Á (the Meeting on
Refugees and Displaced Persons in South East Asia) - hội nghị lớn nhất trong lịch sử
nhân loại về vấn đề tị nạn[68] với sự hiện diện của 65 phái đoàn đại diện nhiều quốc gia
cùng quan sát viên của nhiều chính phủ, cơ quan quan tâm song song với các tổ chức
phi chính phủ - lật tẩy chính sách vô nhân đạo của Hà Nội đối với thuyền nhân Việt
Nam. Hội nghị quốc tế này đã thành công tương đối giới hạn trong nỗ lực tạo áp lực
khiến Hà Nội phải đình chỉ kế hoạch buôn lậu lương dân cũng như giảm thiểu các trở
ngại di trú nhằm tạo điều kiện cho công dân Việt Nam được đoàn tụ với gia đình và thân
nhân tại hải ngoại. Trong buổi họp báo sau khi hội nghị kết thúc, Tổng Thư Ký LHQ Kurt
Waldheim tuyên bố:
'Chính quyền CHXHCN Việt Nam đã cho phép tôi thông báo cho quý vị biết là trong một
khoảng thời gian hữu lý họ sẽ cố gắng ngăn chận các cuộc ly hương bất hợp pháp.
Trong khi đó chính quyền Việt Nam sẽ hợp tác với Cao Ủy Tị Nạn LHQ để phát triển
chương trình 7 điểm được trù hoạch nhằm đưa các vụ ly hương vào các đường hướng
an toàn và trật tự.'[69]
Như đã bàn trước đây, Hà Nội luôn luôn phủ nhận vai trò của đảng Cộng Sản Việt Nam
trong kế hoạch xuất cảng các kiện hàng người để cưỡng chiếm tài vật và quý kim. Vài
tháng trước hội nghị quốc tế kỳ I về tị nạn Ðông Dương, chính quyền Hà Nội đã cố gắng
tạo sắc thái trong sạch cho đảng Cộng Sản Việt Nam nhằm xa lánh vụ 'buôn lậu khổ
cảnh con người;' một thí dụ điển hình của nỗ lực tuyệt vọng này liên quan đến tàu hàng
hải Nikitas F của Hy Lạp. Thủy thủ đoàn Nikitas F đã bị truy tố về tội giúp người Việt
vượt biên sau khi tàu đưa 11.400 tấn lúa mì đến cảng Sài Gòn vào ngày 26-5-1979. Họ
bị kết án về tội giấu 69 người Việt dự định ly hương trái phép trên tàu và sau đó bị phạt
trên $10.000 Mỹ kim. Thuyền trưởng Samothrakitis Komniwos đã khai với cơ quan an
ninh Hồng Kông là chính thủy thủ đoàn của ông đã phát hiện ra 69 người trốn trong
phòng hải cụ và nhờ công an Việt Nam giúp đỡ để yêu cầu họ rời khỏi tàu, nhưng trớ
trêu thay là các thủy thủ lại bị truy tố và chế tài ngay sau đó. Thật ra đây chỉ là một cố
gắng tuyệt vọng của Hà Nội nhằm che mắt thế giới bởi vì nếu tàu Nikitas F đến Việt
Nam để buôn người thì không có lý do gì mà chỉ nhận vỏn vẹn có 69 hành khách; và
một điểm khác không kém phần quan trọng là tàu Nikitas F đã được phép rời cảng Sài
Gòn mặc dầu thuyền trưởng và các thủy thủ bị kết tội đã từ chối không chịu trả cho
chính quyền Hà Nội một cắc nào trong khối tiền phạt hơn $10.000 Mỹ kim.
Sau hội nghị quốc tế kỳ I về tị nạn Ðông Dương, để chứng tỏ quyết tâm tôn trọng giao
ước với cộng đồng quốc tế, Hà Nội ra lệnh xử bắn một số dân vượt biên bị bắt lại, trong
đó có cựu quân nhân miền Nam tên Trần Minh Châu bị hành quyết vào ngày 6-8-1979
về tội tổ chức đánh cắp tàu đánh cá quốc doanh để vượt biên. Án lệnh tử hình nặng nề
này chỉ nhằm phô trương hợm hỉnh trò hề che mắt thế giới, và ông Trần Minh Châu
không may mắn đã trở thành một trong nhiều nạn nhân tế thần của đảng Cộng Sản Việt
Nam trong khi các bộ óc đằng sau kế hoạch buôn người vĩ đại lần đầu tiên trong lịch sử
dân tộc vẫn tiếp tục thăng quan tiến chức. Ðể khoe khoang với cộng đồng quốc tế về nỗ
lực 'cố gắng ngăn chận các cuộc ly hương bất hợp pháp,' Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn
Cơ Thạch phóng đại với phái đoàn Hạ Viện Hoa Kỳ do Nghị Sĩ Benjamin Rosenthal dẫn
đầu viếng thăm CHXHCN Việt Nam vào tháng 8-1979 là Hà Nội đã truy tố ít nhất 4.000
vụ vượt biên trái phép (nghĩa là do dân tự ý tổ chức 'đi chui' một cách bí mật) trong
vòng 7 tháng đầu năm 1979 (thời điểm cao độ của chiến dịch buôn dân của đảng
CSVN); tức là theo Nguyễn Cơ Thạch, khoảng vài chục ngàn 'dân đi chui' đã bị cầm tù
nếu chúng ta chỉ khiêm tốn phỏng tính là đa số các vụ vượt biên bí mật do đồng bào tự
tổ chức khó kéo theo quá vài chục người.
Vào khoảng tháng 8-1979, Hà Nội tạm thời đình chỉ kế hoạch buôn dân do đảng Cộng
Sản Việt Nam trực tiếp điều khiển; và số lượng người ra đi theo diện 'bán chính thức'
tiết giảm rõ rệt. Trong số 201.189 thuyền nhân ly hương vào năm 1979, 160.000 người
đi trước hội nghị quốc tế kỳ I về tị nạn Ðông Dương; từ tháng 8 đến tháng 12-1979,
tổng số dân vượt biên thành công giảm 75% xuống còn khoảng 41.000 người. Một nhân
viên đặc trách tị nạn tại Mã Lai đã phát biểu trong năm 1980: 'Hiện tại chúng tôi lại thấy
các cuộc vượt biên bí mật như đã xảy ra trước đây từ năm 1975.' [70] Vào thời điểm
này, ký giả Barry Wain cũng nhận xét rằng: 'Nỗ lực phỏng vấn sâu rộng cho thấy là
các chuyến mới đến là dân vượt biên thật sự. Họ đa số là người Việt đến từ
miền Nam..' [71] Tại Hồng Kông, 98% thuyền nhân đến sau năm 1979 là người Việt,
thay vì Hoa kiều.
Lời kêu gọi trật tự hóa và an toàn hóa sự ra đi của dân tị nạn Việt Nam do Bộ Trưởng
Ngoại Giao Thụy Ðiển Hans Blix đưa ra đã được cộng đồng thế giới hoan nghinh,[72] và
Hà Nội hứa là sẽ thực hiện các điều khoản của 'Thỏa Hiệp Thư' (Memorandum of
Understanding) đã ký kết với CUTNLHQ vào ngày 30-5-1979. Thỏa Hiệp Thư 30-5-1979
kêu gọi sự giúp đỡ của Cao Ủy Tị Nạn LHQ trong việc tiến hành chính sách di dân mới
của Hà Nội được công bố vào ngày 12-1-1979 và hợp thức hóa bởi một nghị quyết của
Bộ Chính Trị vào ngày 14-3-1979. Công dân Việt Nam bắt đầu được phép xin di cư ra
nước ngoài theo diện tầm nghiệp hay đoàn tụ gia đình. Chương Trình Ra Ði Trật Tự
(Orderly Departure Program hay ODP) ra đời với mục tiêu - trên lý thuyết - tạo cơ hội
cho dân tị nạn Việt Nam ly hương an toàn và ngăn chận âm mưu buôn người của đảng
Cộng Sản Việt Nam nhằm tầm lợi lâu dài trên sự tủi nhục của đồng bào.[73]
Mặc dầu trên lý thuyết, Chương Trình Ra Ði Trật Tự đưa ra một số mục tiêu cao cả khả
trọng, nhưng khi chương trình ODP được áp dụng trong thực tế đã tạo ra nhiều khó
khăn nan giải cho thành phần tị nạn thực sự bởi vì chỉ có những người được Hà Nội
chấp thuận mới 'hội đủ tiêu chuẩn' rời khỏi Việt Nam, tức là quyết định cuối cùng về
giấy phép xuất cảnh nằm trong tay đảng Cộng Sản Việt Nam cho nên chính sách tầm lợi
trên sự tủi nhục của nhân dân vẫn tiếp tục đem thêm lợi nhuận về cho đảng.[74] Bộ
Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch từng phát biểu là đa số dân tị nạn 'vốn người ở
miền Nam, đặc biệt ra đi từ thành phố Hồ Chí Minh. Vào năm 1975, chúng tôi (đảng
Cộng Sản Việt Nam) ngăn cấm không cho họ ra đi. Chúng tôi bị phương Tây chỉ trích.
Chúng tôi đã nghĩ lại. Chúng tôi quyết định cho họ quyền tự do ra đi. Bây giờ (phương
Tây) lại nói là chúng tôi xuất cảng dân tị nạn. Vì vậy bây giờ họ phải xin đi. Và chúng tôi
sẽ cho phép họ đi.'[75] Dĩ nhiên là dân tị nạn thật sự không nên nộp đơn xin phép di cư
bởi vì bất cứ ai bộc lộ lý do xin xuất cảnh vì nhu cầu tị nạn cộng sản sẽ bị công an đàn
áp hoặc còng tay đưa thẳng vào trại cải tạo. Song song, các quốc gia đón nhận di dân
Việt Nam dĩ nhiên trước hết phải lưu tâm đến nhu cầu đoàn tụ gia đình của công dân và
thường trú nhân của họ hơn là thành phần khác, kể cả dân tị nạn thật sự.
Một vấn đề pháp lý khác cũng quan trọng không kém đó là tư cách của những
người ra đi theo đường dây ODP: họ là thành phần di cư hay dân tị nạn? Cộng
đồng quốc tế cần lưu ý đến việc bảo vệ dân tị nạn thật sự, nhưng bao nhiêu
người tị nạn thật sự có thể xuất cảnh theo chương trình ODP vốn dần dần
biến dạng thành một chương trình bảo lãnh thân nhân di cư hay xuất cảnh
tầm nghiệp?
Kinh nghiệm thăng trầm của Hoa Kỳ đối với chương trình ODP là một thí dụ điển hình về
các khó khăn cụ thể trong thực tế vì đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn tiếp tục âm mưu tầm
lợi lâu dài trên tiến trình di cư của nhân dân. Trong những ngày đầu của chương trình
Ra Ði Trật Tự, Hà Nội giao cho Hoa Thịnh Ðốn hai danh sách bao gồm khoảng 30.000
người được công an Bộ Nội Vụ phê chuẩn cho xuất cảnh nhưng ngoài tên họ, hai hồ sơ
này không cung cấp một chi tiết nhỏ nào về gia tịch hay quá khứ của những cá nhân
này. Dĩ nhiên là Hoa Thịnh Ðốn phải từ chối không nhận những người có tên trong hai
danh sách đó; một nhân viên di trú Hoa Kỳ còn châm biếm thêm là 30.000 tên được liệt
kê trong đó tương tự như bản danh mục 'Who's Who in Chợ Lớn.' Trong năm 1979, Hoa
Thịnh Ðốn thông báo cho Hà Nội biết danh tính của 5.000 người được chấp thuận cho di
cư sang Hoa Kỳ, nhưng chỉ có 228 người được Bộ Nội Vụ cấp visa xuất cảnh để ra đi.
Khi bị hỏi tại sao chính quyền Hà Nội quá chậm trễ trong việc thực hiện chương trình
ODP, Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch đã đổ thừa cho sự trì trệ của bộ máy thư
lại CHXHCN Việt Nam.[76]
Trong trường hợp liên quan đến Gia Nã Ðại, Hà Nội đòi hỏi Ottawa phải thâu nhận một
di dân Việt Nam do đảng CSVN đề nghị để đánh đổi một visa xuất cảnh mà Bộ Nội Vụ
cung cấp cho mỗi người được phép ra đi theo diện đoàn tụ gia đình. Song song với yêu
cầu này là lời hăm dọa của Hà Nội qua Giám Ðốc Ngoại Giao Vụ Vũ Khoan vốn đã công
khai tuyên bố rằng nếu đề nghị này không được chấp thuận thì đảng CSVN sẳn sàng
xuất cảng thêm nhiều kiện hàng người sang các quốc gia lân bang. Như đã bàn ở phần
trên, chương trình ODP mở thêm một cơ hội mới cho đảng Cộng Sản Việt Nam tầm lợi
trên sự tủi nhục của nhân dân, và cuộc buôn lậu lương dân của Hà Nội vẫn được tiếp
tục dưới một bình phong mới được chính cộng đồng quốc tế hoạch định và hoan
nghinh.
Vào tháng 1-1981, Hà Nội tự ý đình chỉ chương trình ODP. Bảy tháng sau đó, chương
trình này được hồi sinh sau khi một số thỏa ước mới được ký kết giữa Hà Nội và các
quốc gia liên hệ.[77] Chương trình Ra Ði Trật Tự thật sự thất bại vì không đưa ra được
một giải pháp hữu hiệu và lâu dài cho cơn khủng hoảng tị nạn Việt Nam mà cộng đồng
quốc tế đã hy vọng cũng như không tạo được ảnh hưởng đối với phong trào vượt biên
bí mật do chính nhân dân tự tổ chức bởi vì những người tị nạn này không bao giờ có thể
thoát khỏi gộng kềm đàn áp của đảng CSVN qua ngã ODP. Trong khi đó chương trình
Ra Ði Trật Tự lại tạo ra nhiều cơ hội cho đảng Cộng Sản Việt Nam thâu thêm vàng và
tiền hối lộ trong việc buôn bán visa xuất cảnh. Một hệ thống giấy tờ phức tạp và một
mạng lưới 'cò giấy tờ' đi cửa sau đã được tổ chức để bòn rút tài vật của những gia đình
được bảo lãnh di cư. Tất cả những người chuẩn bị ra đi theo chương trình ODP lập tức
bị đuổi việc và phải sống bám vào nguồn tài trợ của thân nhân ở nước ngoài; và sinh
viên tốt nghiệp đại học bị yêu cầu phải hoàn trả chi phí đào tạo cho đảng CSVN trước
khi được cấp visa xuất cảnh.
Theo lời kể của bà Thu Vân ở Montreal, Gia Nã Ðại, gia đình của bà bao gồm 7 người bị
bắt phải đóng $5.000 Mỹ kim cho Bộ Nội Vụ lúc nộp đơn xin di cư sang Canada trong
khi lợi tức hàng năm của mỗi người Việt Nam thấp hơn $200 Mỹ kim; ba năm sau, họ
còn phải đóng thêm $3.000 Mỹ kim nữa cho bộ hồ sơ mới trước khi được cấp giấy phép
ly hương. Gia đình của ông Bành Quý ở New York đã trả giá cao hơn nữa; gia đình 8
người của ông phải đóng $25.000 Mỹ kim cho Bộ Nội Vụ để được đi theo diện ODP. Ðây
chỉ là hai trường hợp điển hình của tệ nạn hối lộ trắng trợn nhưng rất phổ thông liên
quan đến chương trình Ra Ði Trật Tự ở CHXHCN Việt Nam; tuy vậy miễn là tệ nạn này
nằm bên trong biên thùy Việt Nam và không ảnh hưởng đến quốc gia lân bang thì các
chính quyền ngoại quốc vốn đã sẳn thiếu thốn lòng nhân đạo không cần quan tâm.
Một trong các mục tiêu của chương trình Ra Ði Trật Tự là bài trừ kế hoạch buôn người
của Hà Nội, nhưng trên thực tế thì chương trình ODP chỉ giảm bớt chứ không hoàn toàn
thủ tiêu được âm mưu đen tối của đảng Cộng Sản Việt Nam nhằm tầm lợi lâu dài trên
sự tủi nhục của thuyền nhân. Sau hội nghị quốc tế về tị nạn Ðông Dương năm 1979, kế
hoạch buôn lậu lương dân đã được Hà Nội tiếp tục âm thầm thực hiện ít nhất là trong
vòng một con giáp nữa. Ðiển hình là vào tháng 11-1987, một tàu Hải Quân Cộng Sản
Việt Nam đã tháp tùng một ghe vượt biên từ Cà Mau ra Rạch Giá để lấy người ở Phụng
Hiệp và sau đó ra khơi. Hai công an và bốn sĩ quan hải quân cao cấp trực tiếp hiện diện
trên ghe vượt biên để bảo đảm sự an toàn của chuyến đi; sau khi ghe ra đến hải phận
quốc tế, nhóm công an và sĩ quan cộng sản chuyển qua tàu hải quân tháp tùng để trở
về Việt Nam. Mỗi người trong số 182 hành khách trên ghe trả từ 4 đến 5 cây vàng để
tham gia chuyến đi do hải quân và công an Hà Nội tổ chức; và sau 2 ngày và 3 đêm
vượt biển, họ đã đến được Mã Lai an toàn.[78]
Chương trình Ra Ði Trật Tự vốn được 65 phái đoàn quốc gia tham dự hội nghị quốc tế
về tị nạn Ðông Dương năm 1979 tán thành không những đã thất bại trong mục tiêu tạo
cơ hội cho dân tị nạn Việt Nam ra đi trong vòng an toàn và ngăn chận kế hoạch buôn
lậu lương dân của Hà Nội mà còn vi phạm trầm trọng điều khoản 13 của Bản Tuyên
Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền ('mọi người có quyền rời khỏi bất cứ quốc gia nào, kể cả đất
nước của mình, và quyền trở về nguyên quán')[79] bởi vì chương trình ODP chính thức
cho phép đảng Cộng Sản Việt Nam toàn quyền kiểm soát 'quyền rời khỏi' đất nước của
nhân dân. Các tiến triển liên quan đến thảm trạng thuyền nhân sau này cho thấy là
những người Việt tị nạn thật sự phải chịu nhiều gian truân hơn trong khi chương trình
ODP và một số thỏa ước quốc tế không đủ khả năng để bảo vệ họ một cách hữu hiệu.
Kết quả quan trọng nhất của hội nghị quốc tế về tị nạn Ðông Dương I có lẽ là sự thành
công khả quan của hội nghị trong nỗ lực đánh thức lương tâm nhân loại về thảm trạng
thuyền nhân cũng như du trình kinh hãi của các nhóm tị nạn khác. Thảm trạng thuyền
nhân chính thức được quốc tế hóa và thu hút được sự lưu tâm của nhiều chính quyền
cũng như lòng trắc ẩn của đa số cộng đồng các dân tộc trên toàn thế giới. Một số kết
quả cụ thể khác của hội nghị có thể được liệt kê như sau:
● Số lượng định cư tại đệ tam quốc gia tăng lên 260.000 người từ 125.000 người trước
đó.
● Nguồn tài trợ cho ngân quỹ tị nạn Ðông Dương tăng lên đến $190 triệu Mỹ kim.
● Các quốc gia thỏa thuận là sẽ hợp tác trong nỗ lực cứu giúp thuyền nhân bị hoạn nạn
trên biển.
● Một ngân quỹ $25 triệu Mỹ kim được trù hoạch để tái định cư dân tị nạn Ðông Dương
tại các quốc gia đang phát triển.
● Phi Luật Tân tình nguyện cung cấp địa điểm cho một trung tâm tiến hành thủ tục tái
định cư cho khoảng 50.000 dân tị nạn. (Vào tháng 12-1980, trung tâm chuyển tiếp
Galang Regional Processing Center đã mở cửa, song song với trại tị nạn Galang, ở Nam
Dương để đón nhận thuyền nhân từ Tân Gia Ba và Thái Lan.)
● Hà Nội vô hình chung xác nhận vai trò chủ chốt của đảng Cộng Sản Việt Nam trong kế
hoạch buôn lậu lương dân và đồng ý chấm dứt việc xuất cảng hàng-vận nhân cũng như
chấp thuận cho công dân Việt Nam được ra đi an toàn trong khuôn khổ ODP.
Ðối diện thực trạng mới với các điều kiện thuận tiện và sự bùng nổ của phong trào bảo
trợ thuyền nhân Việt Nam trên toàn thế giới, các quốc gia lân bang bắt đầu thi hành các
điều kiện cam kết tại hội nghị quốc tế về tị nạn Ðông Dương I ('Within the framework of
the over-all solutions envisaged, Governments of the port of call must allow the
disembarkation of all those rescued.') Mã Lai chấm dứt chính sách xua đuổi ghe tị nạn
và tiếp tục cho thuyền nhân được cập bợ Thái Lan cũng bãi bỏ chính sách ngăn chận
dân tị nạn Việt Nam nhập cự Chương trình cứu trợ thuyền nhân trên biển được hồi sanh
trong luồng sinh khí mới năng động và hăng hái hơn với sự tham dự sốt sắng của nhiều
tàu do các tổ chức phi chính phủ tài trợ lẫn các chiến thuyền của Ðệ Thất Hạm Ðội Hoa
Kỵ
Mặc dầu sau hội nghị quốc tế về tị nạn Ðông Dương năm 1979 thế giới chứng kiến được
một giai đoạn cứu trợ thuyền nhân tương đối hoàn mỹ, kết luận khách quan dựa trên sự
phân tích tổng quát cho thấy hội nghị lịch sử này đã hoàn toàn thất bại trong nỗ lực tìm
kiếm một giải pháp lâu dài cho cơn khủng hoảng tị nạn Ðông Dương. Nguyên nhân
chính gây ra thảm trạng thuyền nhân không được giải quyết thỏa đáng, và chính quyền
Hà Nội đã không bị áp lực ngoại giao khuyến dụ để tôn trọng sự tự do của nhân dân
cũng như tất cả các phương tiện sinh kế và lý tưởng phi cộng sản. Vì vậy cho nên làn
sóng thuyền nhân vẫn tiếp tục thêm gần 20 năm nữa và luôn luôn đặt các chính quyền
lân bang trong tình trạng báo động, đặc biệt khi số lượng dân tị nạn Ðông Dương được
nhận định cư tại đệ tam quốc gia sa sút trầm trọng trong những năm sau nàỵ
Phụ Chú:
58 Chair of the Commission on the Holocaust Elie Wiesel expressed outrage '.. at the
sight of people set adrift with no country willing to welcome them ashorẹ We are
horrified at the imposition of quotas which exclude women and children in the full
knowledge that such a policy of exclusion can be a sentence of death.' New York Times,
25 June 1979.
59 'It would be nice if the government of (Socialist) Vietnam were not the government
of Vietnam and it had the kinds of policies which enabled these people to remain, but it
is what it is, and we have got to deal with the subsequent realities. In the 1930's
somebody might have said that Nazi Germany should change its policies to
accommodate the needs of the Jewish people in Germany so that they would not want
to leave, but the reality of the situation was that the Nazis were not about to change
their policy, and the only real question (is).. whether we were going to open our doors
to the people who were desperate to get out.' Indochinese Refugees, House Committee
on Foreign Affairs, Subcommittee on Asian and Pacific Affairs, 22 May 1979.
60 Thị Trường Chung Châu Âu đã quyết định đinh chỉ tài trợ kinh tế cho Hà Nội và sử
dụng nguồn tài chánh đó vào việc cứu trợ thuyền nhân. Vào ngày 5-9-1979, Quốc Hội
Hoa Kỳ thông qua dự luật ngăn cấm tất cả các nguồn tài trợ cho CHXHCN Việt Nam và
chấp thuận thêm ngân khoản $207 triệu Mỹ kim nhằm giúp đỡ dân tị nạn Ðông Dương.
61 'Despite our efforts and those of a few other countries - notably France, Australia,
and Canada - the world's response is grievously inadequatẹ What is needed, and this
clearly comes to the nub of the problem.. is clearly leadership.. The President and the
Congress must clearly enunciate a national commitment to resolve this present human
crisis and call on the rest of the free world to work with us.. We certainly will press as
hard as we can for a meaningful American response to that crisis. This nation has done
it in the past, there is no reason why we cannot do it now.' Indochinese Refugees,
House Committee on Foreign Affairs, Subcommittee on Asian and Pacific Affairs, 22 May
1979.
62 'Special statement of the Tokyo Summit on Indochinese refugees.'
63 'Another form of inhumanity, equal in scope and similarly heinous' to the holocaust.'
64 'A poor man's alternative to the gas chambers is the open seá
65 'We are again called to consider one of the most inhuman and unnecessary tragedies
in the calendar of human suffering.'
66 'Much is at stake: fundamental principles of law and of conduct, the future of
countless people and the sanctity of human life, the will and capacity of the international
community to respond in union and in full measuré
67 Một vụ phản đối tương tự cũng đã xảy ra ở Gia Nã Ðại khi cộng đồng tị nạn Việt Nam
dựng tượng 'Bà mẹ và đứa con tị nạn' tại thủ đô Ottawa vào ngày 22-8-1996 để 'tưởng
niệm những đồng bào đã mất mạng trên đường đi tìm tự dó Sứ quán Hà Nội yêu cầu
chính quyền bản xứ ra lệnh cấm cản việc dựng tượng và đe dọa là sự việc sẽ tạo ảnh
hưởng xấu cho quan hệ giữa hai quốc gia, nhưng Ottawa từ chối bởi vì là Canada là một
đất nước dân chủ cho nên quyền tự do ngôn luận của công dân phải được bảo vệ tuyệt
đốị
68 Hội nghị cũng đánh dấu lần đầu tiên chính quyền Liên Sô và chính quyền các nước
cộng sản Ðông Âu tham dự một cuộc thảo luận quốc tế về vấn đề tị nạn.
69 'As a result of my consultations, the government of Socialist Republic of Vietnam has
authorized me to inform you that for a reasonable period of time it will make every
effort to stop illegal departures. In the meantime, the government of Vietnam will
cooperate with the UNHCR in expanding the present seven-point program designed to
bring departures into orderly and safe channels.'
70'All wére seeing at present is the same sort of clandestine departure that has been
going on since 1975.'
71 'Intensive interviewing confirmed that the new arrivals were genuine escapees. They
were overwhelmingly ethnic Vietnamese from the southern part of the countrý The
Refused: The Agony of the Indochina Refugees, Barry Wain, Supra, at p. 227.
72 'The present dangerous and inhuman exodus should be substituted by orderly
departures. We appeal to the government of Vietnam to pursue this line of action..'
73 Một trong vài chương trình Ra Ði Trật Tự còn hoạt động cho đến năm 1999 là
chương trình của Hoa Thịnh Ðốn. Văn phòng ODP của Hoa Kỳ trên đường Pasteur ở Sài
Gòn, bây giờ là thành phố HCM, chỉ chính thức đóng cửa vào ngày 30-9-1999. Chương
trình Ra Ði Trật Tự của Hoa Kỳ chú trọng vào các hồ sơ đoàn tụ gia đình, định cư con lai
(the 1988 Amerasian Homecoming Act) và một số cựu tù nhân cộng sản (the
Humanitarian Operation có lẽ là một trong vài chương trình hiếm có đã cứu trợ được
một số đồng bào tị nạn đáng kể). Ngoại trừ trong vài trường hợp đặc biệt, đa số những
đồng bào quốc nội muốn xin tị nạn với lý do chánh đáng vẫn bị bỏ rơi vì không có cơ hội
gặp phái đoàn Hoa Kỳ.
74 Vai trò chủ động tầm lợi của Hà Nội trong chương trình ODP được thể hiện rõ ràng
qua sự bất lực của các chính quyền nước ngoài trong tiến trình duyệt xét thủ tục định
cư cho người Việt ở quốc nộị Tòa Ðại Sứ Gia Nã Ðại ở Thái Lan có sẵn cả mẫu thư trả lời
cho thân nhân đứng đơn bảo lãnh ở Gia Nã Ðại với một đoạn văn tiêu cực như sau:
'Tình trạng hồ sơ: (1) Chưa được chính quyền Việt Nam cho phỏng vấn.. Tòa Ðại Sứ Gia
Nã Ðại không thể liên lạc với đương sự cho đến khi tên của đương sự có trong danh
sách phỏng vấn của Việt Nam.' ('The status of the case is: (x) 1. Not yet presented by
the Vietnamese authorities for interview.. The Canadian Embassy has no access to any
applicant until his name appears on the Vietnamese interview list.')
75 Most refugees 'are from the south, from Ho Chi Minh City in particular. In 1975, we
forbade them to go out. We were criticized by the west. We thought it over. We decided
to give them the freedom to gọ Now (the west) say we are exporting refugees. So now
we say that they must ask to gọ And we will allow them to gó Asiaweek, 15 June 1979.
76 'Minutes of Discussion with Nguyen Co Thach, Secretary of State for Foreign affairs,
Office of the Premier, and Members of Congressional Delegation, Hanoi, August 9,
1979,' as recorded in US Congress, House Committee on Foreign Affairs, 'The
Indochinese Refugee Situation,' August 1979, Report of a Study Mission of the US House
of Representatives, 2-11 August 1979, 96th Congress, 1st session, 16 September 1979,
at pp.63-78.
77 Trong 5 năm đầu, chương trình ODP đưa ra danh sách khoảng 1 triệu người cần
được thẩm vấn nhưng chính quyền Hà Nội đã phản ứng rất chậm chạp trong việc tiến
hành các hồ sơ nàỵ Sự định cư của đồng bào chỉ bắt đầu gia tăng từ năm 1981 với số
người ra đi là 9.815. Vào tháng 1-1986, Hà Nội tự động đình chỉ chương trình ra đi
trong vòng trật tự rồi lại cho hồi sinh một tháng sau đọ
78 Phỏng vấn anh Nguyễn Dung tại Lloyd Duong Attorneys Atrium vào ngày 20-4-1999.
Anh Nguyễn được Canada nhận cho định cư vào năm 1989.
79 'Everyone has the right to leave any country, including his own, and to return to his
country’
Cao Trào Quốc Tế
Cứu Trợ Thuyền Nhân
Vai trò chủ chốt của đảng Cộng Sản Việt Nam trong kế hoạch xuất cảng các kiện hàng
người đã thu hút sự phản đối của thế giới, nhưng chính thảm trạng giết hại thuyền nhân
của hải tặc song song với chính sách ngược đãi dân tị nạn của các chính quyền lân bang
nhằm đối đầu với âm mưu tầm lợi của Hà Nội trên sự tủi nhục của dân tộc đã đánh thức
lương tâm của nhân loại. Nỗ lực xua đuổi ghe tị nạn bằng bạo lực súng đạn của các
quốc gia láng diềng cùng nhiều cuộc tấn công thuyền nhân đẩm máu của hải tặc dã
man là những hành động tàn nhẫn vô tiền khoáng hậu, và đã khiến nhiều cộng đồng
nhân dân trên toàn thế giới động lòng trắc ẩn. Kết quả là sự hình thành của một phong
trào cứu giúp tị nạn vĩ đại nhất nhì trong lịch sử nhân loại do chính các công dân bình
thường nhất bảo trợ.
Những thuyền nhân may mắn vượt thoát đến được bờ bến tự do ngay sau hội nghị quốc
tế về tị nạn Ðông Dương I đã được đón tiếp tương đối niềm nở do ảnh hưởng bao trùm
của phong trào quốc tế cứu giúp dân tị nạn đầy năng động và nhiệt tâm này. Cho đến
cuối thế kỷ 20, trong số 796.310 thuyền nhân và 42.928 bộ nhân vượt biên thành công,
trên 720.000 người đã được tái định cư khắp nơi trên toàn thế giới từ Á Châu, Phi Châu,
Úc Châu cho đến Mỹ Châu, Âu Châu và kể cả Trung Ðông. Sáu quốc gia đón nhận phần
lớn dân tị nạn Việt Nam là Anh, Ðức, Gia Nã Ðại, Hoa Kỳ, Pháp và Úc.
Tại Úc quốc, mặc dầu nhóm thiên tả cùng thành phần bảo thủ chống đối việc thâu nhận
thuyền nhân, 104.048 dân tị nạn Việt Nam đã được đón tiếp và cấp quy chế thường trú
nhân. Trong những ngày đầu khi đặt chân lên quê hương mới, những người tị nạn tạm
lưu tại các trung tâm di trú trước khi được đưa đi định cư ở các tỉnh khác. Thuyền nhân
hội nhập rất nhanh vào môi trường sống mới, và đa số đã sẳn sàng chấp nhận làm tất
cả các công việc nhỏ mọn để tìm cách sinh kế bất kể khả năng cũng như thành tựu của
họ trong quá khứ. Chỉ trong vòng một con giáp, cộng đồng tị nạn Việt Nam tại Úc đã
gầy dựng được thế đứng vững chãi trong xã hội mới và tạo được ảnh hưởng quan trọng
trên thương trường cũng như chính trường.
Tại Tân Tây Lan, dư luận hoàn toàn ủng hộ chương trình cứu giúp thuyền nhân. Tổ
chức nhà thờ cũng như các hội bảo trợ đã đóng một vai trò quan trọng trong việc vận
động chính quyền cũng như quyên góp tài chánh để định cư dân tị nạn Việt Nam. Trong
số ân nhân bác ái, hai anh em Hugo và Bill Manson đã tích cực đóng góp rất nhiều trong
nỗ lực phổ biến thảm trạng thuyền nhân trong cộng đồng nhân dân Tân Tây Lan. Cặp
ký giả truyền hình Hugo và Bill Manson đã gởi thư thỉnh nguyện đến 230 cơ quan chính
quyền địa phương để yêu cầu họ giúp bảo trợ cho 3.200 thuyền nhân hay 1 thuyền
nhân cho mỗi 1.000 công dân. Hơn một nửa cơ quan chính quyền địa phương trả lời, và
trong số đó 80% chấp nhận đề nghị đầy thử thách này. Kết quả cuối cùng đã vượt quá
dự tính ban đầu; khoảng 4.371 thuyền nhân được đón tiếp đến định cư tại Tân Tây Lan
trong những tháng sau đó.
Tại Pháp quốc nơi 18.468 dân vượt biên Việt Nam chọn làm quê hương mới, cộng đồng
nhân dân địa phương đã hăng hái cứu trợ thuyền nhân. Trong những ngày đầu khi mới
đặt chân lên đất Pháp, dân tị nạn được tạm lưu tại một trong ba trung tâm của tổ chức
France Terre d'Asile. Họ được khám sức khỏe và phỏng vấn nhằm thẩm định nhu cầu
định cư. Những người có sẳn thân nhân tại Pháp có thể tự tầm nghiệp và tìm kiếm nơi
lưu trú riêng với sự giúp đỡ của gia đình. Những cá nhân khác được chuyển dần dần về
các trung tâm tỉnh để học thêm Pháp ngữ cũng như phong tục địa phương trước khi
trực tiếp gia nhập vào xã hội mới. Mặc dầu dân Pháp có thành kiến nặng nề với người di
dân, đặc biệt là các nhóm đến từ châu Phi, họ đã tỏ vẻ rất sốt sắng trong chương trình
bảo trợ thuyền nhân. Ðề nghị trợ giúp dân tị nạn Việt Nam từ khắp các tỉnh thành trên
toàn cõi Pháp quốc gia tăng ở mức độ bình phương; nhiều gia đình người Pháp đã xin
đón nhận thuyền nhân và bảo bọc họ trong khi họ chờ đợi sự giúp đỡ của cơ quan chính
quyền địa phương.
Tại Anh quốc nơi 17.677 thuyền nhân định cư, chính sách cứng rắn ban đầu của Luân
Ðôn thay đổi sau khi Bộ Trưởng Ngoại Giao Carrington viếng thăm các trại tị nạn ở Hồng
Kông và Ðông Nam Á. Trong khi giới truyền thông tích cực kêu gọi chính quyền thâu
nhận dân tị nạn Ðông Dương, dư luận Anh đã nhiệt lòng ủng hộ chương trình định cư
thuyền nhân. Một nhân viên của Ủy Ban Cứu Trợ Tị Nạn (Council for Aid to Refugees)
tên Jeanne Townsend nhận xét rằng dân Anh dễ dàng chấp nhận thuyền nhân bởi vì:
'Họ (thuyền nhân) thân thiện với dân Anh. Họ không khó hiểu như các nhóm Á châu
khác mà dư luận biết và họ không có những điều cấm kỵ tôn giáo và xã hội như dân Ấn
Ðộ và nhiều người châu Phi. Họ thích nhậu nhẹt, thích tiệc tùng và là một dân tộc thích
xã giao. Dân tộc Anh ưa thích bất cứ ai dám cỡi ngựa hay lèo láy tàu buồm và họ nể
phục sự can đảm của dân tộc Việt Nam. Phản ứng (tại Anh) là một nỗi xúc động. Người
Việt chứng tỏ họ là những người làm vườn đáng kể, (họ) mua cây cỏ ở bất cứ nơi nào
họ định cư, và sự kiện này khiến dân Anh thích họ. Tôi không cho họ là những thiên
thần. Họ có những vấn đề của họ: kỳ vọng của họ khá cao.'[81]
Thụy Ðiển có lẽ là một trong các quốc gia có một chương trình định cư thuyền nhân
hoàn mỹ nhất. Vào ngày 5-12-1978, Vua Carl XVI Gustaf phát biểu là ông mong muốn
giúp đỡ dân tị nạn Việt Nam mặc dầu ông không có thực quyền trong khuôn khổ hiến
pháp quốc gia. Khi tình trạng sinh tồn của thuyền nhân xuống dốc thê thảm tại Ðông
Nam Á, chính quyền Thụy Ðiển cảm thấy có trách nhiệm phải đóng góp vào nỗ lực
chung của cộng đồng thế giới nhằm cứu trợ dân tị nạn Ðông Dương mặc dầu Stockholm
rất thân thiện với Hà Nội; kết quả là 5.589 thuyền nhân đã được giúp đỡ định cư tại
Thụy Ðiển trong các tháng sau đó. Trong khi những người tị nạn lớn tuổi được học hỏi
ngôn ngữ địa phương cũng như nghề nghiệp mới, trẻ em Việt Nam được trực tiếp gia
nhập hệ thống giáo dục quốc gia - một trong những hệ thống giáo dục tốt nhất trên thế
giới. Song song qua các đường dây ngoại giao, Stockholm cũng đã yêu cầu Hà Nội chấm
dứt kế hoạch buôn lậu lương dân.
Tại Hoa Kỳ, tòa Bạch -c quyết định ngày 31-10-1975 là ngày cuối cùng cho dân tị nạn
Ðông Dương tại các quốc gia Ðông Nam Á được thuyên chuyển vào hệ thống định cư
của Hoa Thịnh Ðốn, và giai đoạn đầu của chương trình định cư tị nạn chính thức chấm
dứt vào ngày 31-12-1975. Vào ngày 5-5-1976, chương trình Expanded Parole (Lưu Xá)
được khai sinh để thâu nhận thêm 11.000 dân tị nạn Cam Bốt, Lào và Việt Nam đang
còn kẹt tại một số trại tạm trú. Chương trình này - vốn là sản phẩm của chính sách phản
ứng tùy nhu cầu thiếu chủ trương rõ ràng đối với cuộc khủng hoảng tị nạn Ðông Dương
- được tiếp tục cho đến năm 1980 khi Luật Tị Nạn được phê chuẩn và thi hành nhằm
quy định số lượng dân tị nạn được thâu nhận vào Hoa Kỳ hàng năm.[82] Luật Tị Nạn
1980 tổ chức Phòng Ðịnh Cư Tị Nạn (Office of Refugee Resettlement) trong Bộ Dịch Vụ
Sức Khỏe và Nhân Phục (Department of Health and Human Services) với nhiệm vụ giúp
đỡ dân tị nạn mới đặt chân đến Hoa Kỳ.
Sau hội nghị quốc tế về tị nạn Ðông Dương I, Tổng Thống Carter ra lệnh cho Ðệ Thất
Hạm Ðội Hoa Kỳ tìm kiếm và cứu vớt thuyền nhân đang gặp hoạn nạn trên biển.[83]
Quốc Hội Hoa Kỳ biểu quyết vào ngày 5-9-1979 để cắt đứt toàn bộ viện trợ trực tiếp hay
gián tiếp cho CHXHCN Việt Nam và tăng thêm $207 triệu Mỹ-kim cho ngân quỹ cứu trợ
dân tị nạn tại Ðông Nam Á. Trong những ngày tháng đầu của chương trình định cư
thuyền nhân, một số nhân viên chính phủ lo ngại là sự hiện diện của dân tị nạn có thể
tạo ảnh hưởng xấu cho thị trường nhân dụng địa phương. May mắn là dư luận Hoa Kỳ
vào đầu niên kỷ 1980 đã hăng hái ủng hộ chương trình thâu nhận thuyền nhân bởi vì
(1) hải trình kinh hoàng của dân tị nạn Việt Nam được hệ thống truyền hình phổ biến
thẳng vào phòng khách của mỗi gia đình Hoa Kỳ với các hình ảnh sống thực cho nên đã
đánh thức lòng trắc ẩn của nhiều người, và (2) tinh thần làm việc tích cực của đại đa số
thuyền nhân cũng như thành quả học tập khả quan của lớp trẻ đã giúp tạo được nhiều
ấn tượng tốt đẹp đối với cộng đồng nhân dân địa phương. Trên bình diện tổng quát, đa
số thuyền nhân mới đến Hoa Kỳ đã tận tụy làm việc để xây dựng cuộc sống vững chắc
trong xã hội mới khiến ngay cả Liên Ðoàn Lao Ðộng Hoa Kỳ (American Federation of
Labor - Congress of Industrial Organizations [AFL-CIO]) phải lên tiếng ủng hộ nỗ lực
định cư dân tị nạn Ðông Dương và phủ nhận huyền thoại 'dân tị nạn cướp đoạt việc làm
của người địa phương' như sau:
'Không có một tổ chức nào lo lắng về vấn nạn thất nghiệp hơn tổ chức AFL-CIO. Nhưng
vấn nạn đó khó có thể bị ảnh hưởng bởi số người Ðông Dương mà chúng ta đề cập đến
- khoảng 25.000 người mỗi năm - hay ngay cả 50.000 dân tị nạn chính trị mà chính phủ
dự trù thâu nhận hàng năm. Trong mọi trường hợp, những người tị nạn này không
giành giựt việc làm của công nhân thép, công nhân kim loại, thợ buôn hàng, nhân viên
chính phủ, thợ ống nước, thợ trải thảm, nông dân và các công nhân khác. Hành động
miêu tả những người tị nạn chính trị này - những người giống như tổ tiên di cư của
chúng ta trước đây chấp nhận các việc làm mà không ai trong xã hội muốn đụng vào -
như một mối đe dọa cho thị trường việc làm, tương tự như tình trạng giao thương quốc
tế bất bình đẳng, mức tiền lời quá cao và chính sách kinh tế sai lạc, chỉ là một trò khỉ
khôi hài.'[84]
Những công dân Hoa Kỳ bình thường và các tổ chức bất vụ lợi đã đóng một vai trò quan
trọng trong chương trình bảo trợ thuyền nhân. Một số tổ chức có những đóng góp to
lớn đáng kể là the U.S. Catholic Conference, Lutheran Immigration and Resettlement
Service, Church World Services, International Rescue Committee, United Hebrew
Immigration and Assistance Service, và the American Council of National Services. Qua
cơ chế bao quát Hội Ðồng Các Tổ Chức Thiện Nguyện Hoa Kỳ (the American Council of
Voluntary Agencies), những cơ quan này đã giúp đỡ các thuyền nhân mới đến về nhiều
mặt từ gia cư, thực phẩm cho đến việc huấn ngữ, giới thiệu về phong tục cũng như đời
sống mới, v.v. Chính phủ Hoa Kỳ đã đóng góp vào ngân quỹ của các cơ quan này $500
Mỹ kim cho mỗi thuyền nhân mà họ bảo trợ.
Song song với nỗ lực của các tổ chức trên, nhân dân Hoa Kỳ và dân tị nạn Việt Nam mới
định cư cũng hoạt động tích cực trong chương trình bảo trợ thuyền nhân. Phong trào
bảo lãnh người tị nạn bộc pháp mạnh trên toàn cõi quốc gia, đặc biệt là từ cộng đồng
dân Ðông Dương mới định cư. Thống kê cho biết là trong những năm đầu của làn sóng
vượt biên, 46% tổng số thuyền nhân đến Hoa Kỳ nhờ vào sự bảo trợ của gia đình hay
bạn bè Việt Nam. Vào cuối thế kỷ 20, 388.238 thuyền nhân và 22.568 bộ nhân đã được
thâu nhận vào Hoa Kỳ, và họ đã thành công trong nỗ lực xây dựng một cộng đồng kinh
tế và chính trị tương đối vững chãi.
Tại Gia Nã Ðại - nơi ẩn náo của những người không nhà (a haven for the homeless) -
cộng đồng nhân dân địa phương đã sốt sắng ủng hộ chương trình định cư dân tị nạn
Việt Nam. Nhiều tổ chức tôn giáo cũng như tư nhân đã tích cực vận động cho việc tài
trợ và thâu nhận thuyền nhân.[85] Khi chính phủ Gia Nã Ðại đưa ra mục tiêu thâu nhận
8.000 người trong năm 1979 và hy vọng là các tổ chức tư nhân có thể bảo lãnh thêm
4.000, các tổ chức nhân dân khắp nơi đã đi xa hơn và thách thức Ottawa thâu nhận
thêm 2 người tị nạn cho mỗi đầu người mà họ có thể bảo trợ thêm trên mức 4.000.
Chính phủ Gia Nã Ðại đã phản ứng bằng cách nâng tổng số người tị nạn được thâu
nhận vào Canada từ 12.000 lên mức 21.000 người và hứa là sẽ nhận thêm 1 người tị
nạn cho mỗi đầu người mà các tổ chức tư nhân có thể bảo trợ thêm trên mức 4.000.
Ban đầu ai cũng nghĩ là phải tốn ít nhất 18 tháng mới có thể tổ chức được mạng lưới
dân sự song song với các phương tiện sẳn có của chính phủ để nhận lãnh 21.000 dân tị
nạn Ðông Dương, nhưng chỉ trong vòng 4 tháng sau là mạng lưới bảo lãnh tị nạn của
nhân dân cùng cơ chế di trú của chính quyền đã bảo trợ quá mức 21.000 người. Phản
ứng phi thường này của nhân dân Gia Nã Ðại đối với thảm trạng thuyền nhân khiến
Ottawa quyết định tăng số lượng người tị nạn được thâu nhận vào Canada lên đến mức
50.000 người; cuối cùng gần 100.000 thuyền nhân và bộ nhân Việt Nam đã được tái
định cư tại Gia Nã Ðại trong chương trình bảo trợ tị nạn Ðông Dương.
Kinh nghiệm của Gia Nã Ðại là một kinh nghiệm kỳ diệu hiếm có khi cả hai khối chính
quyền và nhân dân cùng hy sinh không tính toán lợi hại và đã bắt tay làm việc với nhau
một cách hiệu quả vì lý do nhân đạo cao thượng nhằm trợ giúp dân tị nạn Ðông Dương.
Nỗ lực đặc biệt phi thường của Gia Nã Ðại trong phong trào quốc tế cứu trợ thuyền
nhân đã được Bảo Tàng Viện Văn Minh nổi tiếng tại Ottawa ca ngợi qua cuộc triển lãm
đặc sắc bắt đầu từ tháng 10-1998 mang chủ đề Vietnamese Canadians: Boat People No
Longer (Dân Gia Nã Ðại gốc Việt: Một Thời Thuyền Nhân). Cuộc triển lãm này được tổ
chức để đánh dấu kỷ niệm 50 năm ngày ký kết Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và
tôn vinh tinh thần bác ái của nhân dân Gia Nã Ðại cũng như sự đóng góp quý giá của
thuyền nhân vào xã hội mới. Song song với phim ảnh tị nạn, một mô hình tàu tị nạn khá
lớn đã được đóng theo ký ức của thuyền nhân để trình bày hải trình khó khăn của
thuyền nhân từ lúc vượt biên cho đến ngày đặt chân lên Gia Nã Ðại. Trong ngày khai
mạc cuộc triển lãm với sự chứng kiến của Toàn Quyền Roméo LeBlanc, đại diện Anh
Hoàng,[86] nhiều đồng bào hiện diện đã rớm lệ khi nhìn lại được một số hình ảnh về
quá khứ thuyền nhân đầy thăng trầm của họ.
Phụ Chú:
80 Tại Pháp, chỉ 1/3 dân tị nạn Việt Nam biết nói chút ít tiếng Pháp.
81 'They have endeared themselves to the British peoplẹ They are not nearly as
inscrutable as Asians are believed to be and they do not have the same religious and
social taboos as Indians and many Africans. They like a drink, love parties and are an
outgoing peoplẹ The English are dotty about anyone who rides a horse or sails a boat
and they have admired the courage of the Vietnamese peoplẹ It has been an emotional
reaction. The Vietnamese are proving to be remarkable gardeners, buying plants and
trees wherever they settle, and this endears them to the British peoplẹ I don't say they
are angels. They have their problems: their expectations are rather high.'
82 Một nửa số lượng 50.000 người tị nạn được nhập cư hàng năm này được dành cho
dân tị nạn Ðông Dương trong các năm đầu của làn sóng thuyền nhân.
83 Không như tin đồn thất thiệt ở CHXHCN Việt Nam, chính sách của Hoa Thịnh Ðốn
trước tháng 7-1979 là tuyệt đối không gởi tàu đi cứu vớt thuyền nhân Việt Nam. Trong
lúc thực hiện các tác vụ, chiến hạm Hoa Kỳ trong vùng chỉ được phép giúp đỡ ghe tị nạn
nằm trong tình trạng nguy cấp.
84 'No organization is more concerned about the problem of unemployment than the
AFL-CIỌ But that problem will hardly be affected by the number of Indochinese we are
talking about - an estimated 25,000 a year - or even by the 50,000 political refugees the
Administration proposes to admit annuallỵ In any case, these refugees do not take jobs
away from steelworkers, metal workers, retail clerks, public employees, plumbers,
carpenters, farm workers or any others. To portray these political refugees - who like
our immigrant ancestors take jobs no one else in our society seems to want - as a threat
to our jobs, in the same class with unfair international trade, excessive interest rates
and misguided government economic policy, is a travestý
85 Một trong các nỗ lực nhân đạo vĩ đại của nhân dân Gia Nã Ðại đáng kể là chương
trình bảo trợ thuyền nhân phi chính phủ mang tên Operation Lifeline được khai sinh ở
Toronto và bắt đầu hoạt động từ ngày 24-6-1979. Chỉ trong vòng hai tuần lễ sau
khoảng 60 chi nhánh Operation Lifeline đã hiện diện khắp nơi và tích cực vận động tài
lực cũng như nhân lực nhằm bảo trợ dân tị nạn Ðông Dương.
86 Gia Nã Ðại nằm trong Khối Thịnh Vượng Anh và vẫn tiếp tục tôn Anh Hoàng như nhà
lãnh đạo quốc gia.
Unforgettable Images
Những Hình Ảnh Khó Quên
Facing death on a small craft shaken by the rough sea
after enduring several brutal pirates’ attacks,
these boat people were desperately praying for help.
(Photo: B. McDougall)
Help often never arrived or came terribly late. (Left: UNHCR’s K. Gaugler 1978)
Many unfortunate boat people - like Ms. Lý Thị Ngọc Du from
a wealthy Vietnamese family in Saigon - died without any trace at sea.
(Right: Lý Khánh Vân)
Sometimes help arrived – in this case, via an Italian ship
UNHCR: A. Ranzoni
Among those rescued at sea were young children
and women. (Photos: B. McDougall)
Those boat people, who reached safety, would be taken
to refugee shelters such as Galang Processing Center in Indonesia
(above: photo by UNHCR’s R. Burrows 1984)
or Pulau Bidong Camp in Malaysia (below: photoby UNHCR’s N. van Praag 1983).
Songkhla Refugee Camp, Thailand: In 1977, some boat people
had to remain on their crafts due to shortage of shelter. (Photo: UNHCR’s D. Janmieson)