The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.
Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2023-04-24 13:42:58

Đặc San Đại Hội XVI OCS

Đặc San Đại Hội XVI OCS

100 - Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 loại vũ khí nào. Rồi hai người đồng ý sẽ liên lạc với nhau sau đó về kế hoạch diệt trừ Dracula. Marco kiếu từ lui ra. *** Mặc dù đề tài ma cà rồng không hề được đề cập trong văn chương Cơ Đốc Giáo, cũng như vấn đề quỉ ám hoặc phương thức trục hồn tà ma không hề được giáo huấn trong hàng ngủ lãnh đạo, nhưng sau lưng, hoặc bằng cách kín đáo, bao giờ cũng có những người tin và nghiên cứu về hai vấn đề này. Trong số đó có hắn. Những sách cổ mà hắn từng đọc qua có nói tới phương cách tiêu trừ loài ma cà rồng. Theo kinh nghiệm thì những phương pháp này không hữu hiệu mấy. Có lẽ Marlene cũng đã từng áp dụng những phương thức đó trong lần hạ thủ vừa rồi. Nếu Dracula mới vừa hồi sinh, thì cách diệt trừ sắp tới phải tàn khốc hơn và hữu hiệu hơn. Hắn có cảm tưởng Marlene chưa chia xẻ những bí mật về vũ khí mà nàng sắp áp dụng. Và điều đó cũng không đáng trách. Với những ý nghĩ miên man đó, hắn trở về chỗ trọ. Đồng hồ chỉ mười một giờ đêm. Hắn đã bỏ qua bữa ăn tối. Hắn thay đồ ngủ rồi tự rót cho mình một ly rượu đỏ. Hắn ngồi xuống ghế bành bằng da cổ kính đối diện chiếc bàn tròn bằng gổ tec đỏ thẫm. Trên bàn là ngọn nến trắng cháy được nửa phần. Hắn nhâm nhi rượu đỏ ôn lại những biến cố gần đây. Khuôn mặt đẹp quyến rũ của Violeta hiện về trong tâm tưởng của hắn. Tuy nét mặt nàng có già giặn hơn xưa, thế nhưng nét đẹp ngây thơ của người con gái quê vẫn còn phảng phất đâu đó. Cơ thể nàng vẫn đẫy đà nẩy nở với những đường cong tuyệt mỹ và đồi núi phì nhiêu gợi lòng trần tục. Hắn tự rót thêm một ly rượu đỏ thứ hai. Khi hắn vừa đặt chò rượu xuống bàn thì hắn cảm thấy có mùi nước hoa quen thuộc. Hắn ngẩn lên nhìn thì thấy Violeta đang đứng sừng sửng trước mắt hắn trong chiếc áo ngủ mong manh màu tím nhạt. Tóc nàng màu nâu đỏ, xoã dài chấm vai. Bên dưới làn áo mỏng là thân hình đẹp quyến rũ như tượng thần Vệ Nữ. Đôi nhũ hoa nâu sậm lồ lộ dưới làn áo ngủ. Hắn có thể mường tượng từng đường nét còn lại của cơ thể người đàn bà.Trong khi hắn chưa biết phải đối phó ra sao thì Violeta đã chậm rãi mở dây cột cổ áo rồi để chiếc áo ngủ rơi tuột xuống sàn thảm. Marco đờ đẫn đứng lên và cũng tự cởi bỏ chiếc áo ngủ của mình rồi bước tới ôm chầm lấy thân thể ấm áp của Violeta. Những gì xảy ra sau đó trở nên hoang mang mơ hồ như trong mộng du. Tình yêu nhục thể trở về chiếm cứ cơ thể của hai người. Hắn để mặc cơn dục vọng dâng lên như cơn lụt tràn bờ. Hơi thở hắn quyện vào hơi thở hổn hển của người đàn bà cho đến khi cả hai đạt đến tột đĩnh đam mê. Trong giây phút, hắn quên đi tất cả những giáo điều hắn từng học hỏi bao năm nay và phó mặc thể xác và tâm hồn rơi vào cơn lốc xoáy của tình yêu. Cuộc làm tình kéo dài không biết đến bao lâu. Hắn chỉ biết khi hắn tỉnh lại thì thân xác hắn rã rời trên sàn thảm. Ngọn nến trên bàn chắc đã tắt ngỏm cho nên xung quanh hắn chỉ còn một thứ bóng tối tù mù. Violeta thì đã vắng biệt tăm hơi. Có còn chăng chỉ có mùi nước hoa Ý nhè nhẹ thoang thoảng đâu đây. Hắn lòm còm ngồi dậy đi tìm que diêm để đốt thêm ngọn nến mới. Khi ánh sáng của ngọn nến bao trùm căn phòng thì hắn để ý trên bàn viết của hắn có một phong bì màu trắng ngà khổ bằng khổ trang giấy viết bình thường. Hắn vội mở phong bì ra. Bên trong, hắn tìm thấy sợi dây chuyền vàng với thập tự giá bằng vàng mà hắn tưởng đã mất và một mảnh giấy nhỏ viết tay. Nhìn kỹ thì là con số và tên đường, có vẻ là một địa chỉ nào đó: 6667 Chemin de la Côte-Sainte-Catherine Dưới đó là mấy hàng viết vội vã bằng chữ Latin, mực xanh: Đây là lần gặp gỡ sau cùng giữa hai ta. Anh đừng cố tìm kiếm em vô ích, là vì em sẽ trở về quê cũ và sẽ xa rời thế giới của loài Undead. Anh bảo trọng lấy thân. Hắn để ý lần này, sau cuộc làm tình, hắn không bị nàng cắn cổ và hút máu. o LỜI TÁC GIẢ: Để theo dõi tiếp câu chuyện, mời độc giả đón đọc Biển Khơi. Câu chuyện này là một sản phẩm của trí tưởng tượng. Mọi sự trùng hợp về tên nhân vật, địa danh hoặc tất cả mọi diễn biến có vẻ liên quan đến tôn giáo hoặc tín ngưỡng đều là sự ngẫu nhiên ngoài ý muốn của người viết.


Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 - 101 GEORGIA Từ DAHLONEGA thác ngàn Đến huyền thoại MOON RIVER Phan Thái Yên Hotlanta vẫn chờ mưa. Nhóm bạn cà phê Starbuck chúng tôi trốn nắng, bỏ chỗ ngoài trời vào trong quán mát lạnh ngồi tán chuyện xuân thu, kinh bang tế thế cho đỡ vã thân già. Chuyện trò lan man hồi lâu, chúng tôi từ một lúc nào đó quay qua đề tài khám phá Northeast Georgia. Ý nghĩ giúp bạn bè, bạn đọc biết thêm Georgia đôi chút, nhất là giúp xóa được phần nào cái định kiến (nếu có) Georgia là một phần của Africa khiến câu chuyện càng thêm hào hứng. Đề nghị đi bộ “thám hiểm” 15 km đường mòn vùng chân núi khởi đầu của dãi thiên lý AppalachianTrail dài gần 3,500 km bị bỏ rơi không thương tiếc. Ai muốn lội bộ hàng chục cây số dưới cái nắng cháy da 95, 96 độ F đây? Thôi thì khoanh một vùng nhỏ hơn vậy! Welcome to Dahlonega! Vùng phố cổ cách Lawrenceville-phố-mình chừng trăm cây số. Dahlonega ngày nay là địa điểm du lịch với nhiều vườn nho nấu rượu, xưa là vùng đất tìm vàng với hơn 30 thác ngàn ầm ào nước đổ. Trong phút giây tôi nhắm mắt mơ màng… du tử, rượu, vàng, kỷ nữ ướt thân ngà bên suối… Life is good! “Chướng ngại” cuối cùng rồi cũng qua. Chúng tôi “vờ” ánh mắt ém nhân tài của các nội tướng phu nhân, vất vả chất thùng thức ăn chườm đá lạnh đủ cho… 3 ngày quí bà đã sửa soạn tươm tất. Có lẽ họ còn ám ảnh bởi cái lệnh của ủy ban quân quản thành phố hơn 40 năm trước thông báo sĩ quan Ngụy bới thức ăn đủ 10 ngày trình diện học tập. 10 ngày trở thành 3 năm, 4 năm, 7 năm, 10 năm… Sau chừng giờ rưởi lái xe và một lần ghé “chùa” McDonald nửa đường để xả bầu tâm sự, chúng tôi vào tới downtown. Dahlonega là vùng tìm vàng đầu tiên của thời American Gold Rush cũ, một trong những phố cổ có giá trị lịch sử nhất ở Mỹ. Dãy phố xưa tồn tại bền bỉ, thăng trầm theo dọc dài 175 năm lịch sử của vùng rừng núi Chattahoochee National Forest. Mái tháp chuông trên tòa nhà chính của trường Đại học North Georga vàng óng lên dưới ánh mặt trời. Không như Visitors Center tấp nập du khách ra vào thăm viếng, tòa nhà Gold Museum bên kia đường nằm im lìm trầm tư


102 - Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 về những ngày Gold Rush cũ. Chúng tôi được hướng dẫn cặn kẽ về những dòng thác trong vòng 25 miles quanh vùng Dahlonega có thể đến gần bằng xe hơi và các vườn nho cho du khách nếm rượu. Chỉ còn vài tuần nữa là lễ hội Wine Tasting Festival hàng năm sẽ diễn ra nên chúng tôi quyết định không ghé thăm các vườn nho trong lần viếng thăm này. Một trong năm vườn nho nổi tiếng trong khu vực có cái tên “Three Sisters Vineyards & Winery” rất mời gọi khiến tôi không khỏi suy nghĩ “linh tinh”... Mấy bà “Diệt Tuyệt Sư Thái” này có lẽ đã rờ-tai ba bốn chục năm trước rồi (?) Trong số 11 thác ở khu vực Dahlonega, hôm nay chúng tôi chọn viếng thăm thác Dicks Creek Falls và Amicalola Falls. Dicks Creek Falls cách Visitors Center 24km về phía Bắc. Thác cấu thành do sự hội nhập của hai con lạch sâu chảy từ Dicks Creek trong vùng Chattahoochee National Forest. Đây là nơi tắm lội và câu cá nổi tiếng cho cư dân trong vùng. Chúng tôi nghỉ ăn trưa ở cuối thác. Thức ăn ngon, chân trần ngâm trong nước mát rượi, thác reo, trời xanh, lá xanh, mắt vơ vẩn nhìn quanh... thấy đời lên hương! Con đường gần 30 cây số về hướng Tây từ phố Dahlonega đến thác Amicalola Falls đồi dốc uốn lượn quanh co đẹp như tranh vẽ. Xe luồn lách qua ngàn xanh trùng điệp mà tôi lại không ngớt mường tượng lúc lá Thu trở màu quan san đỏ vàng thẫm tím chân trời. Xe chạy qua một ngã ba đường có đống đá lù lù đắp ngọn trông lạ mắt. Chúng tôi dừng xe. Thì ra trong lòng đá vẫn sống một truyền thoại từ bộ lạc người da đỏ của vùng núi non này về phần số truân chuyên của nàng công chúa Cherokee. Thì ra cho dù Đông Tây, kim cổ, “rằng hồng nhan tự thuở xưa, cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu”. Tương truyền rằng công chúa Trahlyta của bộ lạc Cherokee trong vùng rừng núi nay thuộc North Georgia nhờ uống nước từ nguồn suối thanh xuân nên mãi giữ được nhan sắc tươi trẻ, chim sa cá lặn nổi tiếng khắp vùng. Chàng chiến binh kiêu dũng Wahsega theo đuổi Trahlyta nhưng bị nàng cự tuyệt. Căm tức vì mối hận tình, chàng dũng sĩ đã bắt cóc nàng công chúa, giam giữ nàng xa khỏi vùng non núi quê nhà. Không được uống nước từ dòng suối thanh xuân, nàng công chúa yếu dần, trở bệnh rồi chết. Thân xác nàng được mang về chôn cất nơi thác ngàn quê hương như lời trăn trối.


Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 - 103 Người da đỏ và cả người da trắng sau này dần dà có tục lệ mang đá đắp lên mộ nàng mỗi lần ngang qua. Ngày nay, nguồn suối thanh xuân của nàng công chúa Cherokee chính là Porter Springs,và Cedar Mountain, miền quê hương sơn dã nơi ấp ủ nấm mộ ngàn thu mang tên Stonepile Gap. Rời Stonepile Gap không khỏi vướng chút nặng lòng, chúng tôi tiếp tục chuyến đi về ngọn thác chính muốn viếng thăm hôm nay. Amicalola Falls cao 729 feet là thác cao nhất Mỹ tính từ phía đông của dòng Mississippi.Trả 5 dollars cho chỗ đậu xe, chúng tôi vào thăm Visitors Center để được hướng dẫn các lối đi đến thác. Tuy có thể lái xe đến gần chân thác hay tận bãi đậu xe trên đỉnh, chúng tôi đã lần theo lối mòn gần cây số rồi leo mấy trăm bậc thang dựng dọc theo luồng nước để “chinh phục” ngọn thác này. Có người nói tổng cộng có tới 604 bậc thang, nhưng tụi này mệt quá khỏi đếm luôn. Hi vọng quý bạn có được vài phút vui thăm viếng miền cao nguyên Northeast Atlanta nơi chúng tôi chọn làm “backyard” cho ngôi nhà về vườn của mình. Tôi chợt nhớ tới câu nói ví von “sân sau nhà tao dài tới 150 miles” của bạn OC Nguyễn Nhàn. 150 miles!? Cha này quá lời chăng!? Như vậy là bao gồm cả vùng Cherokee Casino (North Carolina) với ngọn thác Dry Falls nổi tiếng. Viếng thác này, chúng ta có thể đi bên trong thác mà không bị ướt, hèn chi tên của nó là “thác khô”.


104 - Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 Đại hội Hải Quân OCS kỳ thứ 16 tại Atlanta năm 2018 là một chương trình sinh hoạt họp mặt phong phú dài tới 5 ngày để đón tiếp gia đình Hải quân OCS chúng ta. Ngoài 4 ngày sinh hoạt như các kỳ trước, họp mặt lần này còn thêm một ngày thăm viếng phố cổ nổi tiếng Savannah. Sa…van…nah… âm hao tiếng hát ngọt ngào, bàng bạc ánh trăng chiếu long lanh qua ngàn thông nội cỏ của miền đất Gone With The Wind với đồn điền Tara nhạt nhòa màu bông trắng mang đầy định mệnh của một thời Nam Bắc phân tranh. Giai điệu êm ái của bài hát cũ làm trái tim ta rung động tưởng nhớ tới Georgia… Melodies bring memories That linger in my heart Make me think of Georgia… Just an old sweet song keeps Georgia on my mind. Georgia, Georgia, a song of you Comes as sweet and clear as moonlight through the pines… (Georgia On My Mind, music by Hoagy Carmichael and lyrics by Stuart Gorrell) Còn một bài hát khác, Moon River, Sông Trăng, nghe mà tưởng như mộng mị từ đàng sau một quá khứ… Lần đầu tiên tôi nghe Andy Williams hát Moon River từ đĩa nhựa 33 vòng tại một tiệm hớt tóc của gia đình thằng bạn cùng lớp ở Đà Nẵng. Tiệm thuộc loại sang có “uốn, ép, sấy, nhuộm” và nhạc ngoại quốc mở lớn suốt ngày. Khoảnh sân sau của tiệm ngó qua sân vận động là nơi chúng tôi đàn đúm mỗi chiều sau tan trường. Sau này tôi đã “sắm” cho mình cái máy hát chạy đĩa từ một tiệm bán đồ cũ và vẫn nghe Andy Williams, Frank Sinatra, Carpenters… từ đó. Sau gần 60 năm, Moon River đã trở thành dòng sông huyền thoại qua nhiều thêu dệt, tương truyền, và những nhận định “ngoan cố”. Năm 1961, trong phim Breakfast at Tiffany’s có đoạn Audrey Hepburn với chiếc đàn guitar hát Moon River lúc ngồi trên lan-can bên ngoài một căn gác cao ở New York đã đoạt được giải Oscar. Tương truyền cho hay Audrey phải “làm mình, làm mẩy” kiểu “over my dead body” với đạo diễn, khúc phim đó mới khỏi bị cắt. Một năm sau, Andy Williams hát Moon River trong một “hit album” bán hơn một triệu đĩa. The “Moon River man” cũng đã dùng tên bài hát cho thương hiệu của mình gồm một hí viện và nhà hàng ăn ở Missouri, “Moon River Grill”. Có lẽ phải nhờ OC Minh và chị Liên ở St. Louis, Missouri, kiểm chứng tin này . Ngoài các nhà làm phim ở Nhật, Đại Hàn đã đưa Moon River vào phim, các tay “hề” thượng hạng như Chevy Chase hay Joan Rivers cũng chẳng bỏ qua cơ hội để nhào nặn Moon River vào “show” của họ. Nhiều nhận định, cãi chầy cãi cối để giành Moon River về cho tiểu bang của mình. Vin vào câu “My huckleberry friend, Moon River, and me” có lý luận cho rằng dòng sông này phải thuộc về tiểu bang Mississipi. Có người thì khăng khăng chỉ có Hudson River mới “wider than a mile” và “crossing” qua được nhờ Bear Mountain Bridge nên bắt buộc Moon River phải thuộc về tiểu bang New York. Sự thật là Johny Mercer, người viết lời cho Moon River, đã lớn lên ở Savannah, Georgia. Nhớ lại kỷ niệm đẹp


Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 - 105 buổi thiếu thời với bạn bè vô tư nơi vùng sông nước Savannah, Mercer lúc đầu đã đặt tựa cho bài hát là Blue River, nhưng đề tựa đó đã được dùng nên Moon River được “chấm tử vi”. Năm 1993, vùng cửa sông gần nơi Johny Mercer sống thuở hoa niên được đặt tên lại là “Moon River”. Moon river, wider than a mile I’m crossing you in style some day Oh, dream maker, you heart breaker Wherever you’re goin’, I’m goin’ your way Two drifters, off to see the world There’s such a lot of world to see We’re after the same rainbow’s end, waitin’ ‘round the bend My huckleberry friend, Moon river, and me (Moon River, Henry Mancini and Johnny Mercer) Moon River tuy chỉ là tựa đề hư cấu của một ca khúc rồi “chết tên” cho một vùng sông nước ở Savannah thế nhưng hình ảnh mong manh của Audrey Hepburn ôm đàn hát một mình, giọng ca Andy Williams trầm ấm trong tiếng quay rè rè nho nhỏ của đĩa hát vào những chiều, những tối thoải mái biếng lười đã khiến tôi mơ màng muốn tìm tới một dòng sông nào đó, chơi vơi bàng bạc ánh trăng. Đòi lại được “công đạo” cho Savannah, tôi hân hoan chống xuồng (?) từ giã Sông Trăng tìm đường về phố cổ Savannah lòng khơi vơi như có “tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng, nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc tới đào nguyên”… - Sẵn sàng cả rồi, tài xế phụ ra xe đi là vừa. Tiếng hối thúc của Nguyễn trọng Quýnh làm tôi giật mình tỉnh giấc mơ ngày. Vợ chồng tôi đến sớm chờ anh chị Minh (NT11) để cùng đi thăm Savannah. Ngồi trên “Vọng nguyệt đài” sân thượng nhà anh chị Quýnh uống cà phê mãi ngắm nhìn bầy vịt trời bơi lội trên hồ, tôi thơ thẩn mơ màng lúc nào không hay. Hơn 150 năm trước, thời Chiến Tranh Nam-Bắc (Civil War 1861-1865), ông tướng tàn bạo Sherman của Bắc quân đã thân chinh Chiến trường Atlanta. Trong vòng 6 tháng, ông thống lĩnh 62,000 chiến binh Union dọn sạch hơn 300 dặm từ Chattanooga đến Savannah. Tháng 9 năm 1864 Bắc quân để lại đống tro tàn Atlanta sau lưng, bắt đầu cuộc “Trường chinh ra Biển” (March to the Sea). Ba tháng sau, ngày 22 tháng 12, 1864 tướng Sherman viết thư cho tổng thống Lincoln “...I beg to present to you as a Christmas Gift, the City of Savannah with 150 heavy guns and plenty of ammunition and also about 25,000 bails of cotton...”. Ngày nay, từ nhà Tạ Hội (gần Chattanooga, Liên đội C) đi thăm Nguyễn Quang Toan (OCS9) ở Savannah chỉ tốn 5 giờ xe. Nếu từ nhà Quýnh (Atlanta) mà đi chỉ cần lái xe chưa tới 4 giờ. Xe ngang qua nhà Phong (NT20) ở Macon là đã gần nửa đường. Nơi đây có một bảo tàng viện của Không quân rất lớn, Musem of Aviation – Robins Air Force Base, trưng bày nhiều loại máy bay kể cả B52, Stealth Jet Fighter, Airforce One… Sau khi “bắt tay” với anh chị Mạc văn Vĩnh (OCS5), anh chị Vạn (NT19) chúng tôi chạy thẳng đến Tybee Island, khoảng 20 phút lái xe về phía Đông của Savannah. Anh chị Nguyễn quang Toan đã chờ chúng tôi để cùng nhau đến ăn trưa tại nhà hàng nổi tiếng ở đảo, The Crab Shack. Chúng tôi “take time” thưởng thức các món hải sản của nhà hàng. Hai giờ chiều cả nhóm mới rề rà thăm vài nơi nổi tiếng trên đảo, hải đăng, bãi biển cát trắng South Beach, cầu tàu và nhà mát… Tiếc là Fort Pulaski (National Monument) đang đóng cửa để chỉnh trang. Buổi tối, sau khi vào khách sạn tẩy trần một ngày dài lội cát và nắng, chúng tôi được anh chị Toan mời đến nhà ăn tối, bia bọt, cognac… đến nửa đêm mới chếnh choáng ra về, ráng ngủ vài giờ để có sức thăm phố cổ Savannah ngày hôm sau.


106 - Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018


Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 - 107 Lịch sử Savannah chính thức bắt đầu năm 1733. Vào tháng Hai, James Oglethorpe và 120 hành khách của chiếc tàu “Anne” đặt chân lên đất liền ở vùng sông Savannah River. Vùng đất này trở thành thuộc địa (cuối cùng) thứ 13. “Georgia” là tên đặt theo tên hoàng đế Anh quốc (King George II). Savannah là thành phố đầu tiên của Georgia. Thời kỳ trước Nội chiến, Savannah được ca tụng là thành phố đẹp và hiền hòa nhất America. Thành phố nổi tiếng với dân tình lịch sự, hòa nhã và những cây sồi đại thụ được trang điểm bởi hằng hà loài rêu Tây Ban Nha sống gởi đong đưa. Trong thời kỳ Nội chiến, Savannah bị phong tỏa, kinh tế kiệt quệ. Đồn lũy Fort Pulaski vô cùng kiên cố bị thất thủ vào tay quân đội miền Bắc năm 1862. Vào cuối năm 1864, ở chặng cuối của cuộc “Trường chinh ra Biển”, Savannah nhờ nét đẹp quyến rũ của mình đã thoát khỏi cảnh bị thiêu rụi như Atlanta trước đó hay Columbia, South Carolina chẳng bao lâu sau. Ngày nay, cư dân Savannah thật chẳng chút cường điệu khi tự hào phố nhà là một trong mười thành phố đẹp nhất ở Mỹ (USA Weekend Magazine). Khu di tích lịch sử (Historic District) của Savannah với cảnh quang 22 quảng trường, công viên là trái tim và biểu tượng yêu quý nhất của thành phố. Cấu trúc riêng biệt mà hài hòa của viện bảo tàng, nhà thờ, lâu các, tượng đài, nghĩa trang… xanh mát bóng sồi đại thụ, tầm gởi màn rêu lơ lửng đong đưa theo gió. Hàng cọ phương phi sống già theo những con đường đá cuội, mộc lan rực rỡ điểm tô lối dọc đường ngang của mỗi quảng trường được hàng triệu người du khách hâm mộ mỗi năm. Ở quảng trường Chippewa Square vẫn còn chiếc băng ghế (trong phim) nơi Forrest Gum ngồi. Emmet Park ở mạn Bắc của khu Historic District có đài tưởng niệm Vietnam Memorial bằng đá hoa cương ghi nhớ 106 chiến binh quanh vùng Savannah và Chatham County đã hy sinh tại chiến trường Việt Nam.


108 - Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 Rời Emmet Park bước lần theo lối đá hoa cương cong dần xuống con đường dọc theo bờ sông Savannah River. Sông rộng, nên thơ mà hùng vĩ với cầu treo bắt qua sông và những con tàu khổng lồ chất đầy hàng hóa từ biển theo nhau tiến vào cảng. Bên kia sông có chiếc tàu U.S Coast Guard trắng đẹp như một chiếc du thuyền.


Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 - 109 Dọc theo bờ sông là phố cổ với nhiều tiệm bán đồ kỷ niệm, tàu điện màu sơn khác nhau đưa du khách thăm viếng thành phố với các tuyến đường đã định sẳn. Chúng ta có thể mua vé có giá trị trọn ngày, muốn lên xuống lúc nào tùy ý. Từ khu mua sắm dọc bờ sông chúng ta đã nhìn thấy vòm tháp màu vàng kim của Tòa thị sảnh. Nếu còn “gân” thì thử leo vài chục tam cấp đá cuội để được nhìn tòa nhà này rõ hơn. Đi thêm một quảng ngắn nữa là nhà hàng ăn “Paula Deen”, bà này nổi tiếng một thời trên Public TV với các show về nấu ăn. Tham mưu trưởng của Toan và Ái dẫn đầu nhóm định vào ăn trưa ở đó, nhưng lại lưởng lự vì quảng cáo hấp dẫn của “Georgia Queen” River Cruise. Quyết định để dành “Dinner Cruise” trên Georgia Queen cho dịp họp mặt 2018, chúng tôi đã vào quán buffet Sakura gần nhà anh chị Toan. Rất mong gặp tất cả quý anh chị vào dịp Họp mặt kỳ 16 của Gia đình Hải Quân Trần Hưng Đạo OCS tại Atlanta 2018 và cùng nhau đi thăm Savannah. o


110 - Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 Đã yêu em từ thủa nào Không biết ta đã yêu em Từ đêm gió lọt qua rèm Hay từ lúc trăng vừa ló Bên kia vắng vẻ màn đêm? Không biết ta đã nhớ em Từng đêm khó ngủ dõi tìm Từ khi trăng còn là nguyệt Từ lúc rã rời thâu đêm Không biết hẹn em bao lâu Từ khi trăng chếch bên lầu Từ lúc đợi chờ hốc hác Giữa đêm tầm tã mưa Ngâu Trong suốt cuộc đời hỗn mang Lang thang cuối nẻo Địa Đàng Tìm em cuối trời vô thỉ Đợi em tự thủa Hồng Hoang Heo hút cuối trời thi ca Tương lai dĩ vãng mịt mờ Hoang mang bước chân hiện tại Tìm em theo những vần thơ Đã yêu em từ thủa nào Mà sao tình vẫn chiêm bao Mà sao hồn còn mộng mị Chơi vơi giữa khoảng trời sao? Đêm ta nằm nhớ mông lung Đêm sao dài dẳng vô cùng Ta nghe tình mình chới với Dáng em xa cách muôn trùng! Tìm em cuối nẻo trời mơ Tìm em bến cũ ơ thờ Yêu em cuối trời mộng mị Chờ em đã dứt đường tơ Không biết bây giờ em đâu Mình ta trời nước một màu Chờ em cuối trời vô vọng Nhớ em tầm tã mưa Ngâu Đâu đó côn trùng khóc than Báo hiệu đêm đã vừa tàn Mà sao hồn ta trống vắng Ta đã yêu em thủa nào? Nghe như tình đã ra khơi Cơn yêu nào bão biển Đam mê nào chơi vơi Cuộc tình ta chới với Theo con nước mù khơi Tóc nào rợp mưa Ngâu Vai nào sữa mịn màu Môi nào thơm tuổi ngạc Tay nào với thương đau? Ta vuốt bờ vai em Khi gió đêm ngập thềm Khi hồn ta chới với Giữa khung trời nửa đêm! Nụ hôn nào giữa khuya Khi đam mê tràn trề Khi hồn ta u tối Khi nỗi buồn lê thê Trang thơ Huỳnh Kim Khanh


Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 - 111 Ta ôm hồn cô đơn Ta ru em dỗi hờn Bàn tay ta hoang dại Ao ước tròn nụ hôn Nghe như tình đã ra khơi Nghe như niềm đau ngút trời Nghe như tình ta vỡ lỡ Nghe như tinh cầu rụng rơi Đêm nay ta nằm nhớ em Đêm nay ta nghe tình mềm Đêm nay tình ta khắc khoải Đêm nay tình chết thâu đêm! Ta ôm chặt bờ mông em Ta nghe tình ta dõi tìm Lang thang bên bờ vựa thẳm Tìm em khắc khoải trời đêm Có phải em là ca dao Hay em giòng suối ngọt ngào Hay em cuộc tình quên lãng Ta mơ em giấc chiêm bao? Nghe như tình đã ra khơi Nghe như tình đã nghẹn lời Nghe như hồn vừa chới với Giữa khoảng tinh cầu chơi vơi! Dường như là tình yêu Đường Gia Long mưa vừa tạnh Dáng em đi sao quá não nùng Giờ tan học hai ta cùng bước Hai đứa ta một nẻo về chung Từ trong lớp ta đà để ý Mắt em to, môi nét thật đầy Em nũng nịu, ngây thơ trong trắng Tóc đen nâu, gò má hây hây Đường Gia Long, hàng me cao vút Em với ta cùng bước chung đường Mưa đã tạnh, cây còn đọng nước Em đi về nhỏ nhắn ta thương Có phải đây là tình yêu? Theo em về những buổi chiều Phố xá bao người tấp nập Sao ta lòng thấy cô liêu? Em tóc demi garçon Môi em vừa nét ửng hồng Mắt em to và đen láy Tình yêu em có hay không? Đêm ta nằm mơ dáng em Đêm ta thao thức giấc mềm Đêm ta nhớ em mòn mỏi Đêm ôm mối tình lặng câm Có phải đây là tình yêu Hay ta tưởng tượng hơi nhiều Hay ta cứ hoài mộng mỵ Mà tưởng rằng mình đang yêu? Tình yêu sao quá khổ đau Dù chưa rõ lúc bắt đầu Dù biết tim mình ngây dại Đêm về tưởng nhớ đâu đâu? Có phải ta đã yêu em Khi mưa tầm tã bêm thềm Theo bước em về lối nhỏ Mà nghe thổn thức trong tim?


112 - Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 Tuần tới mới gặp lại em Năm ngày chờ đợi âm thầm Năm đêm cô đơn mòn mỏi Chờ đợi giây phút gặp em Lang thang trên đường Gia Long Mà nghe thương nhớ ngập lòng Không biết phương trời nào đó Em thấu nỗi lòng ta không? Lạc lối Đào Nguyên Có phải đêm nay đúng độ rằm Mà sao trăng đẹp vẻ mười lăm Em xem kìa một dòng sông trắng Trôi mãi không về biệt bóng tăm Ta nắm tay em bước xuống thuyền Đêm nay mình sẽ tới Đào Nguyên Em nên mặc áo không màu sắc Ta muốn nhìn em đẹp tự nhiên Hai bên mạn thuyền sóng vỗ Ánh trăng lắp loáng mù khơi Cồn đảo mịt mù xa tắp Mây trôi biền biệt phương trời Ta ngắm làn tóc em bay Mắt em u ẩn tràn đầy Môi em trễ tràng đầy đặn Mái tóc rợp vùng trời mây Giữa khoảng mênh mông trời nước Mình ta đối diện với em Mình chắc hẹn từ kiếp trước Nên chi đâu phải kiếm tìm Vũ trụ mơ hồ phút nửa đêm Ta nghe máu nóng dội về tim Ta nghe da thịt bừng cơn sốt Hồn chết rụng rời trong mắt em! Lãng đãng hồn ta giữa đất trời Lâng lâng tiềm thức nẻo mù khơi Bàn tay ta lượn vùng cung cấm Thân thể ta bồng bềnh biển khơi Ta muốn yêu em suốt đêm nay Yêu em rời rã giấc mê này Yêu em quên cả bao thời khắc Tình chết âm thầm trong mắt cay Làn da em trắng nõn Như màu sữa mù sương Ánh mắt em huyền thoại Môi em ngọt lạ thường! Giữa khoảng mông mênh trời nước Hai đứa mình yêu nhau Giữa khoảng cuộc đời ô trược Hai ta dệt giấc mộng đầu Con thuyền nhỏ chòng chềnh Sóng vỗ đều chong chanh Hai trái tim hòa nhịp Nghe tình sao mong manh! Thuyền trôi trôi mãi dưới màu trăng Mình sẽ cùng nhau đến điện Hằng Lưu Nguyễn ngày xưa tìm biệt động Đêm nay hai đứa đến lầu trăng


Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 - 113 Bồng đảo xa vời dưới ánh trăng Cồn xa bãi vắng sóng trùng trùng Thuyền ta nhỏ bé như tàu lá Không biết đỗ bờ có được chăng? Sóng vỗ mạn thuyền cứ nhấp nhô Biển xa mù mịt cõi trời mơ Mắt em cô dọng niềm u ẩn Làn tóc em bay rợp mấy bờ Tình bỗng lên ngôi đẹp ngút ngàn Hồn ta phiêu lãng cõi miên man Yêu em như hẹn từ muôn kiếp Chới với đêm tàn, bóng nguyệt tan! Rồi cuối cùng ta đến Đào Nguyên Đêm sâu vô tận ảo huyền Ta dìu em bước lên cồn đảo Trăng xế lặng lờ hương duyên Ta bước gập ghềnh theo lối xưa Dáng em mờ ảo dưới sương mờ Dìu em trên khoảng đường nguy hiểm Hy vọng theo đường Lưu Nguyễn xưa Rồi đó đường đi chợt tắt ngang Hai ta đứng đó lòng hoang mang Đâu đây tiếng suối còn văng vẳng Có lẽ hai ta đã muộn màng Lưu Nguyễn ngày xưa đã đến đây Đã yêu tiên nữ rợp trời mây Đã quên đi cuộc đời ô trọc Đã sống đời phiêu lãng tràn đầy Rồi bỗng một ngày nhớ thế gian Hai chàng đành trở lại dương gian Bỏ hang động cũ, người yêu cũ Bỏ lại đồi xưa trải ngút ngàn Dấu cũ đường xưa giờ đã phai Đường lên dốc núi cứ chạy dài Hai ta đứng đó hai người lạ Động vắng âm thầm chẳng thấy ai! Đêm vẫn vô tình lặng lẽ Suối vang róc rách đâu đây Trăng chếch bên gành núi lẻ Đâu đây sương xuống ngập đầy Động xưa bây giờ hoang vắng Tiên nữ nào thấy nơi đâu Đêm xuống chập chùng buốt giá Hai ta đành phài quay đầu Đường trở về thuyền vẫn nhấp nhô Ta đi mà ngỡ mình đang mơ Sương đêm vẫn phủ mờ cùng khắp Nẻo vắng âm thâm hai đứa ta Rồi hai ta từ giã Đào Nguyên Nghe sóng hoang mang vỗ mạn thuyền Trăng giãi biển xa chừng vô tận Đêm nay mình giã biệt Đào Nguyên…


114 - Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 Tháng sáu năm 1973 tôi từ giã Bộ tư lệnh Vùng I Duyên hải lên đường trình diện đơn vị mới, Tuần duyên hạm Song Tử HQ 614. Cũng trong dịp thuyên chuyển này, tôi được đại tá Nguyễn hữu Xuân, Tư lệnh phó kiêm Tham mưu trưởng cho tôi được nghỉ phép để về thăm gia đình ở Nha Trang. Tôi ở Vùng I hai năm đã nhiều lần tiếp xúc với ông, quả thật đại tá Xuân là một cấp chỉ huy khó khăn trên tất cả mọi phương diện, tôi chưa bao giờ thấy ông cười. Hôm nay thật là ngạc nhiên khi tôi vào trình diện, ông vui vẽ cười nói và chấp thuận cho tôi đi phép thật dễ dàng, khác xa với lần trình diện khi mới ra trường, sau khi chào xong là ổng xổ ra một tràng dài với mái tóc hơi dài của tôi. Thời gian bốn mươi sáu năm chưa đủ để làm tan đi những kỷ niệm buồn vui của những ngày đầu tiên bước chân vào đời lính . Sáu ngày phép, bỏ qua hai ngày đường, tôi chỉ còn lại bốn ngày, thời gian không còn được bao nhiêu, phương tiện nhanh nhất trong ý nghĩ của tôi là xe đò, sáng lên xe, chiều tối tới nơi. Tình hình chiến sự lúc này cũng tạm yên, tôi có chút an tâm để xử dụng phương tiện này. Đây là lần đầu tiên tôi đi xe đò với một chặng đường xa như thế này, xe qua khúc đường Bồng Sơn, Tam Quan, nhìn cảnh vật hai bên tôi có thể hình dung được những cuộc chiến tàn khốc đã xảy ra ở nơi đây. Những rừng dừa chạy dài dọc theo hai bên đương chỉ còn lại thân cây trơ trụi, bom đạn đã cày nát nơi đây. Mọi chuyện đều bình an, tám giờ tối tôi về đến Nha Trang bắt đầu cho những ngày nghỉ phép. Những ngày nghỉ phép qua thật nhanh, thời gian không đủ để trang trải cho những cảm tình thiếu vắng trong bấy lâu nay, tôi lại phải ra đi với lời hứa hẹn khi có phép sẽ về thăm. Phương tiện lần này cũng vẫn là xe đò, đoạn đường Nha Trang - Sài Gòn ngắn và tương đối an toàn hơn. Ba giờ chiều cùng ngày, tôi về đến Sài Gòn, đã hai năm chưa có dịp về lại nơi đây. Thời gian hai năm chưa đủ để khép lại những trang kỷ niệm của tôi và Sài Gòn, hôm nay lại dào dạt trở về để thấy lòng buồn man mác, bạn bè giờ đây mỗi người mỗi nơi. Tôi tìm đến người cháu ở đường Hồng thâp Tự, không mấy khó khăn tôi đã tìm ra địa chỉ, ở lại đây một đêm, ngày mai vào trình diện Bộ tư lệnh Hạm đội (BTL/HD). Hôm sau tôi vào BTL/HD, nơi đây cho biết HQ 614 đang công tác ở Vùng III Duyên hải, nơi nghỉ bến là Cát Lở. Một lần nửa tôi lại phải tìm phương tiện để đến nơi đây, may mắn cho tôi khi đến nơi thì HQ 614 đang nghỉ bến. Tôi trình diện Hạm trưởng Hải quân Thiếu tá Nguyễn văn Tùng và được giới thiệu các sĩ quan khác, trung úy Lê ngọc Đảnh, trung úy Vỏ văn Trung. Tôi bắt đầu làm quen với đời sống trên chiến hạm, đây là loại chiến hạm nhỏ nên không có nhiều nguyên tắc như các tàu lớn, vì vậy nên tôi không thấy có nhiều trở ngại trong sự thay đổi này. Nghỉ bến hai ngày, HQ 614 lại đi công tác bốn ngày. Ngày qua ngày tôi lại làm quen với những công tác ở trên tàu nhiều hơn. Trong cuộc sống như thế này, sự liên hệ với mọi người sẽ phát triển nhanh hơn và tôi càng hiểu được mọi người nhiều hơn. Trung úy Lê ngọc Đảnh là hạm phó, bản tánh hiền lành, ít nói, nhiều khi chỉ thấy anh nhếch miệng cười, trung úy Vỏ văn Trung là người vui tánh và dễ thân thiện, anh cũng có thói quen uống cà phê và nhậu nhẹt giống như tôi. Ngày thứ hai, khi tôi về chiến hạm, anh đã rủ tôi đi Vũng Tàu đến một quán giải khát ở Bãi Sau vừa uống bia vừa ngắm thiên hạ tắm biển. Đây cũng là lần đầu tiên tôi đến Vũng Tàu. Sau hai ngày nghỉ bến, HQ 614 lại tiếp tục ra khơi, vùng trách nhiệm của chiến hạm là kiểm soát tàu bè qua lại từ Vũng Tàu đến mũi Kỳ Vân. Vào mùa này biển thật êm, hàng ngày tôi đã chứng kiến từng đàn cá heo đùa giỡn với nhau và rượt theo con tàu. HQ 614 công tác hai chuyến nữa cho Vùng III Duyên hải rồi được lệnh về Sài Gòn để chuẩn bị đi Căn cứ Yểm trợ Tiếp vận Đà Nẵng (CCYTTV/DN) để đại kỳ. Về đến Sài Gòn, tôi không có bà con thân thuộc gì ở đây, ngày giờ rảnh rỗi tôi thường lang thang dạo phố, tối đến lại về tàu để ngủ . Trong thời gian ở Sài Gòn một sĩ quan nữa được thuyên Tuần duyên hạm Song Tử Lê Đình Quang


Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 - 115 chuyển xuống tàu, trung úy Nguyễn hữu Minh, anh này cũng có đặc điểm giống anh Trung và tôi là thích nhậu nhẹt. Từ đó ba chúng tôi thường đi chơi với nhau cho dù ở Sài Gòn hay vùng công tác. Nghỉ bến ở Sài Gòn được một tuần, chiến hạm rời Sài Gòn đi Đà Nẵng, hạm phó Đảnh đang nghỉ phép. Trên đường đi hạm trưởng đã cho tàu vào hải cảng Qui Nhơn để nghỉ. Anh Minh vốn là người ở thành phố này đã hỏi hạm trưởng Tùng chiến hạm sẽ ở đây bao lâu, Hạm trưởng trả lời là đến sáng mai. Minh đã xin phép để về với gia đình và trở lại sáng mai. Tôi lên bờ đi lòng vòng, ăn tối xong tôi trở lại tàu, Hạm trưởng và Trung đi nhậu ở một quán nào đó. Mười hai giờ đêm, tôi đang lim dim thì nghe còi nhiệm sở vận chuyển, tôi lấy làm lạ, lên đài chỉ huy thì thấy Hạm trưởng đang cho tàu chuẩn bị tách bến. Tôi rất ngạc nhiên vì mới chiều nay ông có nói sẽ ở lại qua đêm, thế mà bây giờ lại chuẩn bị hải hành. HQ 614 rời cầu tàu, khoảng năm phút sau Hạm trưởng quay qua nói một điều gì đó, tôi nghe không được rõ, rồi ông và Trung đi xuống phòng ngủ. Còn lại một mình với vài nhân viên trên đài chỉ huy, bên ngoài trời tối đen, tôi vừa nhìn vào hải đồ, vừa cố nhớ lại hạm trưởng đã nói gì với tôi. Tính đến đêm nay, tôi có được mười ngày hải hành trên con tàu này, kinh nghiệm chưa được bao nhiêu, đêm nay phải ứng phó với hoàn cảnh này, tôi thấy lo nhưng cũng cố gắng để hoàn thành công tác. Giờ khắc nặng nề, chậm chạp trôi qua, nhưng thật may mắn mọi sự đều diễn ra tốt đẹp. Bốn giờ sáng, tôi xuống phòng ngủ đánh thức Trung nhưng anh vẫn còn say li bì. Tôi trở lại đài chỉ huy và tiếp tục đi ca. Đêm nay biển êm, từ ngày xuống tàu tới giờ tôi chưa bao giờ gặp qua sóng to, gió lớn. Chiến hạm vẫn lầm lũi đi trong đêm tối, lúc này tôi cảm thấy tự tin nhiều hơn. Trời bắt đầu lờ mờ sáng, tôi nhìn mặt biển với những đợt sóng lăn tăn, rít một hơi thuốc lá thật mạnh rồi phà ra, tôi thấy một cảm giác thật thoải mái ở trong lòng. Tám giờ sáng, tôi cho nhân viên xuống đánh thức Trung dậy. Sau mấy phút bàn giao cho Trung, tôi vội vã xuống phòng ngủ sau hai ca hải hành dài. Đang ngủ chập chờn, bỗng nhiên tôi nghe có nhiều tiếng nói ở sân trước, tự hỏi không biết lúc này là mấy giờ. Tôi lên sân trước mới biết tàu đang neo. Tôi đang phân vân không hiểu tại sao lại neo ở đây thì đã thấy Hạm trưởng và Trung rời tàu xuống một ghe đánh cá chạy vào bờ. Ông không có một chỉ thị nào cho tôi. Tôi thầm nghĩ là ông vào Duyên đoàn 16 ở Huế, có một thời ông đã làm chỉ huy trưởng đơn vị này. Trên chiến hạm có một số quân nhân đi quá giang đến Đà Nẵng, nhìn qua tôi thấy một sự bất mãn hiện ra trên gương mặt của những người này nhưng tôi không biết phải giải thích với họ như thế nào. Lúc này gió đã mạnh hơn, con tàu cũng theo đó mà lắc mạnh đủ mọi chiều vì đang neo. Giờ nấu ăn nhân viên nhà bếp phải khó khăn lắm mới nấu xong bữa cơm. Trưa ngày hôm sau, Hạm trưởng và Trung trở lại tàu, HQ 614 lại tiếp tục cuộc hải trình. Cuối cùng thì chiến hạm cũng đã đến CCYTTV/ĐN để đại kỳ. Tôi trở lại Đà Nẵng sau hơn một tháng xa cách, lần trở lại này mang một ý nghĩa khác nên tôi thấy thoải mái hơn. Ba ngày sau khi đến CCYTTV/ĐN, HQ 614 được đưa lên ụ và công tác sửa chữa bắt đầu. Những ngày ở Căn cứ Yểm trợ Đà Nẵng thật là buồn chán, chúng tôi có quá nhiều thời gian nhàn rỗi không biết phải làm gì. Phố Sơn Trà bên kia đường lúc nào cũng tấp nập người qua lại, đa số là quân nhân Hải quân. Mỗi buổi chiều, cơm nước xong nếu thấy hứng thú thì tà tà qua Sơn Trà, ở đây lúc nào cũng vui, có đầy đủ mọi thứ gian hàng, từ ăn nhậu cho đến giải trí. Sau vài lần đến đây, chúng tôi đã khá quen thuộc với nơi này. Một đêm ở quán nhậu, có Hạm trưởng, trung úy Minh, trung úy Trung và tôi. Sau khi uống xong một chai 33, chủ quán đem ra một dĩa thịt, tôi không biết là thịt gì, thấy mọi người ăn, tôi cũng gắp một miếng cho vào miệng.


116 - Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 Một giây đồng hồ sau tôi nhận ra có gì khác trong miếng thịt, tôi nuốt vội vào và uống một hớp bia. Sau đó hỏi lại, anh Trung mới cho tôi biết đó là thịt cầy. Đây là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng tôi đã ăn loại thịt này. Những quán nhậu ở đây về đêm thật đông khách, phần đông là quân nhân, mỗi chiều tối họ ra đây để tìm vui hầu quên đi nỗi buồn nhớ gia đình vợ con. Công tác sửa chữa vẫn còn đang tiếp tục, cũng trong khoảng thời gian này, Hải quân Đại úy Nguyễn hữu Thiện đã được thuyên chuyển về để thay thế Hải quân Thiếu tá Nguyễn văn Tùng trong chức vụ hạm trưởng. Đại úy Thiện là người cởi mở và vui tánh vì vậy chúng tôi cũng cảm thấy thoải mái như thời hạm trưởng Tùng. Một thời gian sau đó, chiến hạm lại có thêm một sĩ quan mới ra trường là thiếu úy Tạ xuân Khoa khóa 24 Hải quân Nha Trang. Anh Khoa đến thật là đúng lúc, nhờ có anh tôi đã có dịp để bàn giao lại chức vụ sĩ quan ẩm thực, một công việc mà tôi không thích một tí nào . Chiến hạm vẫn tiếp tục công tác sửa chữa, đại úy Thiện ngoài chuyện dễ dãi với nhân viên, ông còn rất chịu chơi và liều. Theo chỉ thị của BTL/HD mỗi tuần Hạm trưởng phải báo cáo tình trạng sửa chữa HQ 614 cho chỉ huy trưởng Hải đội I. Vì không có mặt thường xuyên ở Đà Nẵng để theo dõi, nên mỗi tuần vào ngày thứ Tư tôi phải qua bưu điện Đà Nẵng báo cáo tình trạng sửa chữa để ông ở nhà gọi điện thoai báo cáo cho Bộ tư lệnh Hạm đội. Mọi việc rồi cũng ổn thỏa, HQ 614 đã hoàn tất đại kỳ và lên đường trở về Sài Gòn. Một lần nữa tôi lại giã từ Đà Nẵng. Tôi ở Vùng I hai năm, đã trải qua chuỗi thời gian khó khăn của những ngày mới về đây, những giây phút căng thẳng trong các chuyến bay không tuần, những giây phút thoải mái với bạn bè. Người ta thường nói Vùng I là vùng khô cằn sỏi đá, nơi mà một số người cho rằng đây là vùng lưu đày, thật ra tôi nhận thấy mọi việc không như sự cảm thấy của mọi người, tốt hay xấu cũng có thể là do cá nhân mình tạo nên. Với tôi, Hội An, Đà Nẵng, Huế vẫn có nhiều cái hay đẹp để chúng ta lưu luyến và đây cũng là những kỷ niệm mà tôi khó có thể quên được trong cuộc đời quân ngũ của mình. Về đến Sài Gòn, trung úy Lê ngọc Đảnh nhận được lệnh thuyên chuyển về BTL/HQ. HQ 614 nhận được lệnh công tác Vùng IV duyên hải. Chuyến đi đại kỳ ở Đà Nẵng cho tôi có dịp đi qua vùng III , vùng II , vùng I, vùng IV vẫn còn là nơi xa lạ và nhiều thích thú đối với tôi. Về đến An Thới chiến hạm nghỉ một ngày để mua thêm thực phẩm, tiếp tế dầu và chuyến công tác đầu tiên được chỉ định là vùng biển từ sông Ông Đốc đến cửa Rạch Giá. Chiến hạm thường xuyên tuần tiểu trong vùng trách nhiệm, chận xét các ghe đánh cá qua lại. Và cứ thế, bốn ngày công tác, hai ngày nghỉ bến, tôi ngày càng học hỏi được nhiều thêm. Vùng biển An Thới tương đối trù phú, ngư dân ở đây có một đời sống tốt đẹp hơn những vùng khác. Biển ở đây có nhiều tôm cá và nhiều đảo như: hòn Khoai, hòn Chuối, hòn Poulo Dama, hòn Sơn Rái, hòn Tre, hòn Thơm, hòn Đá Bạc và xa nhất là hòn Thổ Châu. Nơi chiến hạm nghỉ bến, An Thới đã trở thành quen thuộc đối với tôi. Ở đây phương tiện giải trí không có gì ngoài bi da, cà phê và nhậu nhẹt. Những ngày nghỉ bến, hạm trưởng Thiện, anh Minh , anh Trung và tôi thường đến quán cà phê kế bên quán Bò Vàng để uống cà phê rồi đánh bi da. Mỗi lần đánh bi da đều kèm theo một chầu nhậu, tôi đánh dở nên về phe với Minh, Hạm trưởng và Trung một phe. Minh đánh rất giỏi, nhờ vậy mà phe chúng tôi được nhậu miễn phí dài dài. Cà phê, bi da, ăn nhậu, An Thới chỉ có thế. Dù muốn dù không chúng ta cũng phải chấp nhận một hiện thực là ở tại nơi đây chỉ có chừng đó mà thôi và với chừng đó thôi cũng đủ để cho chúng tôi lương tháng nào xào tháng nấy. Thật ra hầu hết chúng tôi đều hết tiền trước ngày lãnh lương. Hết thời gian nghỉ bến, tàu lại ra khơi, vùng biển ở đây càng trở nên quen thuộc hơn, đặc biệt ngư dân ở đây thật dễ thương, chân thật, sự kiện này được nhận thấy trong những lần xét ghe hay ghé lên đảo. Bốn ngày trên biển, con tàu chạy qua chạy lại trong vùng được chỉ định và công tác khám xét ghe thuyền tái diễn nhiều lần trong ngày. Có lúc tôi thấy biển thật đẹp, và cũng có lúc thấy thật là chán. Đây cũng là lúc mà những điếu thuốc lá được đốt liên miên để mong tìm được một cảm giác khác lạ đến với bản thân của mình, để thấy được vui hơn, yêu đời hơn. Trong một chuyến công tác cho Vùng IV duyên hải, lúc đó trời đã nhá nhem tối, tôi đang đi ca và chiến hạm đang tiến về vùng biển giửa hòn Sơn Rái và cửa Rạch Giá, tôi bỗng phát hiện một vật gì nổi lên ở trước mũi tàu. Tôi ra lệnh nhân viên khẩn cấp bẻ tay lái về bên trái rồi vòng qua phải, dùng ống dòm quan sát, thì ra đây là một xác người. Tôi cho tàu chạy một vòng trở lại thì phát hiện thêm nhiều xác chết khác. Tôi nhớ lại hai ngày trước có một ghe đánh cá đã hỏi tôi có thấy những xác chết nổi lên hay không, họ cho tôi biết là mấy hôm trước một ghe đò chạy từ hòn Sơn Rái về Rạch Giá đã bị


Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 - 117 chìm,16 người trên ghe đều chết hết. Lúc này trời đã tối, tôi báo cáo sự kiện trên cho Trung tâm Kiểm soát Duyên hải vùng IV rồi trở về vùng công tác. Sáng hôm sau trở lại vùng phát hiện tử thi tối qua, những xác chết vẫn còn đó. Tôi gọi ghe đánh cá ở gần và bảo họ tìm cách đưa những xác chết vào bờ, một lúc sau họ trở lại cho biết những xác chết đã thối rửa không di chuyển được, tôi không biết làm gì hơn đành phải báo cáo về Trung tâm Kiểm soát Duyên hải Vùng IV, nhờ họ thông báo cho cảnh sát Rạch Giá. Một ngày thật buồn với những sự kiện đã xảy ra. Nhìn những thây người trôi lềnh bềnh trên sóng nước, tôi không thể ngăn được xúc động nghĩ tới những người đã từ giã cõi đời ra đi trong niềm tuyệt vọng sau những giây phút phấn đấu cùng biển cả. Sau sự kiện này, tôi và nhân viên trên chiến hạm không ai dám ăn tôm, cá cả tuần lễ. Những chuyến công tác ở Vùng IV, tôi đã có dịp thăm viếng hòn Thổ Châu. Tàu qua khỏi hòn Thơm, trực chỉ hướng 210 là sẽ đến. Tôi đã công tác vùng biển này hai lần, nơi đây thật là an nhàn, ngoài vòng kiểm soát của đài kiểm báo và các phi vụ không tuần. Đảo Thổ Châu chỉ có mấy mươi nóc nhà sống với nghề biển, có một hậu trạm của Duyên đoàn 42 chỉ với một sĩ quan và mấy nhân viên truyền tin. Bờ biển ở đây thật đẹp, hình như cái móng ngựa, bải cát trắng phau và nước thật trong, ngay nơi tàu thả neo chúng ta có thể thấy cát. Chúng tôi đã có dịp lên thăm đảo, anh Đặng hữu Thành, quê ở Rạch Giá là xã phó đã đưa chúng tôi đi quanh một vòng trên đảo để thấu hiểu cuộc sống của người dân. Anh nhắc vanh vách tên những chiến hạm đã từng đến đây. Đặc biệt nhất ở trên đảo này có lẽ là quán cà phê Suối Ngự, ở ngay cạnh con suối chảy từ trên núi xuống. Ở một nơi xa xôi như thế này, cái tên đã làm cho ta thấy một cái gì thơ mộng hơn. Hòn đảo này quả thật cách biệt với cuộc sống bên ngoài, mỗi tháng chỉ có một chuyến đò về Rạch Giá để mua nhu yếu phẩm. Sống ở đâu thì quen ở đó, người dân ở đây cũng vậy, ngày qua ngày họ phải chấp nhận những thiếu thốn có thể xảy ra, lâu rồi cũng quen đi. Thổ Châu với đất rộng người thưa, chung quanh là vùng biển dồi dào về hải sản, nó đã trở thành vùng đất hứa để chánh phủ miền nam Việt Nam đưa những nạn nhân chiến tranh từ các nơi về đây để định cư tái lập cuộc sống mới. HQ 614 liên tục đi công tác cho Vùng IV và Vùng V Duyên hải, sau mỗi chuyến công tác tàu về Sài Gòn nghỉ bến, sửa chữa, rồi lại công tác cho một trong hai vùng kể trên. Một lần tàu được lịnh khởi hành đi Vùng IV Duyên hải vào ngày 30 Tết, chúng tôi ai cũng bất mãn với lệnh công tác này. Đại úy Nguyễn hữu Thiện, hạm trưởng cứ kéo dài thời gian sửa chữa, đến ngày mồng bốn Tết mới khởi hành đi công tác, thế là chúng tôi hưởng được những ngày Tết thật vui ở Sài Gòn. Trong chuyến công tác này, đại úy Lâm khả Thanh được đổi về chiến hạm thay thế đại úy Thiện tại An Thới. Tôi được chỉ định xuống HQ 230 vừa đến từ Sài Gòn để mời đại úy Thanh lên HQ 614. Tối đó, chúng tôi mở tiệc ở quán Bò Vàng để tiễn đưa đại úy Thiện và chào đón đại úy Thanh. Cũng như hai hạm trưởng Tùng và Thiện, hạm trưởng Thanh là người dễ dàng, vui tánh, là một cấp chỉ huy lúc nào cũng đặt trách nhiệm lên hàng đầu và vui hơn khi được biết ông cũng là tay nhậu thuộc vào hàng cao thủ. Sau hơn mười tám tháng trôi dạt theo con tàu HQ 614, xuôi ngược khắp vùng biển An Thới, thời gian quá đủ để tôi và tất cả mọi người cùng chia xẻ buồn vui giữa người với biển. Có thể nói đây là khoảng thời gian tôi cảm thấy thoải mái nhất trong những năm ở Hải quân. Tháng 12 năm 1974 trong lúc đang công tác tại Vùng IV Duyên hải, tôi nhận được công điện thuyên chuyển về Vùng II, về nơi “ưu tiên 3” như tôi đã ghi trong đơn xin thuyên chuyển. Lúc này những người bạn cũ đã lần lượt ra đi, anh Trung thuyên chuyển về BTL/V2/DH phòng CTCT, anh Minh cũng có lệnh theo học một khóa gì đó. Tàu khởi hành về Sài Gòn, chuyến hải hành sau cùng trên tuần duyên hạm Song Tử, tôi cảm thấy một cái gì luyến tiếc không nói ra được. Tàu cập bến, tối hôm đó tôi và Minh đến một tiệm ăn ở Thị Nghè, uống vài chai bia tâm sự cùng nhau lần chót để ngày hôm sau chia tay, đường ai nấy đi. Sáng ngày 24 tháng 12 năm 1974, sau khi bắt tay Minh và những người thân quen trên tàu, tôi chào từ giã hạm trưởng Lâm khả Thanh. Vị hạm trưởng tôi kính nể nhất trong suốt thời gian phục vụ trên Tuần duyên hạm Song Tử, HQ 614. o


118 - Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 Haiku Vài lời phi lộ: Những câu thơ được mạo muội “phỏng dich” từ những Haiku, có lẽ, nó không đúng như ý nghĩa sâu xa của các tác giả của những Haiku nầy. 1. In this world we walk on the roof of hell, gazing at flowers. - Kobayashi Issa (1763–1827) Hãy nhìn say đắm cành hoa Cho dù trong cõi ta bà đảo điên 2. We humans --- squirming around among the blossoming flowers - Issa Nhân sinh từ vô thủy Quằn quại giữa muôn hoa 3. We flowers --- bleeding petals for the smiling humans - VHT Hoa Từ Bi rỉ máu tươi Để quần sinh có nụ cười trên môi 4. In a dewdrop world singing at dewdrops… summer cicada - Issa Trót sinh trong đám sương mù Thu vui sương sớm, Hạ về tiếng ve 5. Biting into a bitter weed alone I bear my feelings - Masaoka Shiki (1867-1902) Bờ môi cắn mối ưu phiền Riêng ta một cõi, nổi niềm riêng mang 6. Ah, summer grasses! all that remains of the warriors dreams. - Matsuo Bashō (1644–1694) Cỏ thơm Hạ chí úa tàn Mộng chàng tráng sĩ kê vàng dư hương 7. An old pond – floating upside down a cicada’s shell - Shiki Lãng du một chú ve sầu Tử quy, thoát xác, bồng bềnh bến xưa Trang thơ NGUYỄN PHƯỚC


Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 - 119 8. Lend me your arms, fast as thunderbolts, for a pillow on my journey - Hendrik Doeff (1764–1837) Cho tôi mượn vội tay ngà Để tôi gối mộng dặm tràng nhân gian 9. Old pond . . . a frog leaps in water’s sound - Bashō Ao khuya khua ánh trăng vàng Nhái say men rượu, ngỡ ngàng vớt trăng 10. Spring frost dancing in the air a shimmer of heat - Shiki Tiết Xuân sương đọng lưng trời Lung linh giọt nắng sáng ngời mắt em Giấu Nắng O về giấu nắng trong thơ Thu tàn, Đông đến làm thơ hâm tình Hoàng Thành, không ánh bình minh Huế thiêm thiếp ngủ, Huế chìm trong mưa Hương nồng sưởi ấm vần thơ Còn thừa chút nắng, O hơ má đào Đèn khuya Mộng mị…trăng sao Đông qua Xuân lại Cội đào trổ bông Nụ Hồng Thoảng Hương Nón nghiêng, O mỉm nụ cười Như làn gió nhẹ mát tươi hạ nồng Môi thơm Ươn ướt nụ hồng Chỉ chơm chớm nở bềnh bồng… thoảng hương Gót son khuất bóng bên đường Man man trầm tích dấu hài Hoàng Cung Mày ngài Tôn Nữ gấm nhung Tan trường chiều tím vấn vương nụ hồng Mai tê áo rộng sang sông Bên ni, in dấu cánh hồng, trầm tư… Thế thôi, ngần ấy…vô thường Duyên thừa lãng đãng, mộng trường còn vương


120 - Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 Tàu Phú Quốc chạy suốt đêm, cứ rỉ rả rì rà cho tới 6 giờ sáng hôm sau, mới tới bến An Thới. An Thới nằm ở cực nam của đảo Phú Quốc, là một xã trù phú và an bình, so với các xã nằm trong đất liền. An Thới có những hãng nước mắm nổi tiếng, những hàng công-mỹ-nghệ tuyệt đẹp sản xuất từ vảy đồi mồi. Ngược lại, nó cũng có các cơ ngơi dành cho chiến tranh. Như trại tù, trại lính... Trong đó có hải đội 4 duyên phòng, một đơn vị mới, tôi đang tìm đến, trình diện. Hải đội nằm sát bờ biển, ngó ra mũi Ông Đội sừng sững ngoài khơi. Mũi này cũng được các tàu ghe phương xa dùng làm điểm chuẩn để nhận diện Phú Quốc. Bãi biển, cát ngà ngà. Là bãi tắm lý tưởng cho lính, buổi chiều, muốn trầm mình xuống sâu, gột rửa ưu phiền. Về đây, tôi thật sự rời xa những chiếc giang đĩnh bụi đời, một thời cùng tôi tung hoành trong binh lửa. Rời xa đám lính tráng thân yêu, tuy ngang tàng, nhưng luôn sống chết có nhau. Rời xa dòng sông, cánh rừng - dù chúng luôn lảng vảng bóng dáng tử thần, nhưng trĩu nặng nghĩa tình đất nước. Và nhất là rời xa Duyến, một người bạn thơ, bạn rượu và cũng là bạn giang hồ, đồng hành đi khắp thế gian. Bù lại, An Thới đẹp như một bài thơ. Quanh năm không một tiếng súng. Du khách muốn lên rừng, có rừng. Muốn xuống biển, có biển. Dù lên rừng hay xuống biển, thiên nhiên nơi nào cũng có vẻ mơ màng, người ta có cảm giác như đang lạc vào cõi thiên thai. Hải đội 4 có tất cả 26 PCF, hoạt động tuần duyên vùng: Phú Quốc, Rạch Giá và Hà Tiên. PCF là chữ viết tắt của Patrol Craft Fast, tiếng Việt gọi là Duyên Tốc Đỉnh. Loại tàu này đóng tại xưởng đóng tàu Seawart Seacraft, thành phố Berwick, tiểu bang Louisiana, và được đưa qua Việt Nam sử dụng cho chiến trường miền Nam từ năm 1965. Vì thế, về đây, bắt buộc tôi phải leo lên một chiếc PCF, tiếp tục ngao du khắp chốn giang hồ. Kỳ này, ngao du biển. Trên sóng nước mênh mông, chắc chắn lý thú và thơ mộng hơn sông nhiều. Thật vậy, vịnh Thái Lan rất lộng lẫy. Biển trong xanh. Ban đêm, tàu quẫy sóng, nước tung lên, lóng lánh những khối lân tinh diệu kỳ. Nếu phía nam Phú Quốc thịnh vượng, an bình bấy nhiêu, thì phía bắc lại hoang vu, nguy hiểm bấy nhiêu. Bắc đảo giáp ranh với Căm Bốt. Nơi đó có rặng núi Chao và mũi Kwala hiểm trở. Bên trong là rừng và đá núi bạt ngàn. Quân đội chúng ta không có khả năng để kiểm soát vùng này, nên nó là nơi trú đóng an toàn của đối phương. Tàu địch từ miền Bắc, thường chở vũ khí xâm nhập vào đây. Hoặc tàu đánh cá của Căm Bốt, Thái Lan, lén đánh cá nơi vùng biển này. An Thới cũng có những quán cà phê đèn màu, ban đêm nhộn nhịp lính tráng. Một nhà hàng nổi tiếng với các thức ăn ngon, thực khách tha hồ nhậu nhẹt tới khuya. Trên con đường đến Hải đội, có một ngã ba, sát vệ đường là cái quán ba cô, bán bún giò heo. Buổi sáng, mấy ông sĩ quan Hải đội thường kéo nhau đến đây, điểm tâm. Gọi là quán ba cô, vì quán có ba cô gái phục vụ thực khách. Chẳng biết bún có ngon hay không? Nhưng chắc chắn với nhan sắc của ba cô, tô bún đã tăng thêm hương vị đặc biệt của nó. Gần Hải đội nhất, có câu lạc bộ của ông Thiếu tá Hải quân. Câu lạc bộ luôn vắng khách, vì lính tráng muốn tìm kiếm những chốn vui chơi khác, có không khí tự do hơn. Họ không muốn những giờ phút nghỉ ngơi, lại bị ràng buộc vào khuôn khổ quân đội. Để câu khách trở lại, ông Thiếu tá lật đật mang cô cháu sinh viên từ Sài Gòn ra đây đứng quán, trong ba tháng hè. Nhưng tiếc thay, cô gái không biết cách chinh phục khách, nên quán vẫn ế nhệ. Chỉ có tôi, thường lui tới nơi này, kêu một ly cà phê, nghe dòng nhạc Trịnh ray rứt, RA ĐẢO GIỠN MÂY Phạm Hồng Ân


Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 - 121 rồi thả hồn phiêu du theo khói thuốc. Đôi lúc, tôi ngó cô gái, ngó mái tóc dài thướt tha để nhớ về Tuyết, hồi tưởng quán Xuân Mai ngày nào, thuở còn dẫn chiến đĩnh tung hoành trên những khúc sông Mỹ Tho. Về Rạch Giá hoạt động, tôi bắt đầu nghe lại tiếng súng, tưởng chừng đã lãng quên khi bước chân vào thiên đường Phú Quốc. Rạch Giá chói chang bên kia, với thành phố bề thế, thênh thang dinh thự. Nhưng Hòn Đất lại âm u bên này, với rừng rậm bạt ngàn, lồng lộng tử thần. PCF 3806 đã vùi chôn tên tuổi tại đây. Nửa đêm, giặc giả dạng ngư dân tiến sát vào tàu, rồi bất thần tấn công, chặt đầu từng thủy thủ. Chúng lôi PCF vào hòn Đất, lột sạch vũ khí và máy móc. Cuối cùng, thả tàu nổi trôi theo sóng biển bập bềnh. Đọc lịch sử, từ ngàn xưa cho đến nay, chưa có cuộc chiến nào kỳ quái như cuộc chiến này. Cuộc chiến mà giữa dân và địch, chúng tôi không phân biệt được. Thủ đoạn của địch là trà trộn vào dân, hoặc đẩy dân làm bia đỡ đạn. Và chính điều này, tay súng chúng tôi luôn nao núng, trong bất cứ những trận tấn công. Hòn Tre là một đảo nhỏ, nằm phía tây Rạch Giá. Từ bờ biển Rạch Giá, nếu trời trong lồng lộng, du khách có thể nhìn thấy mập mờ từ xa, hình dáng một con rùa khổng lồ nổi trên mặt biển. Con rùa đó chính là hòn Tre, một hòn đảo biên cương mà hải quân chúng ta đã tận dụng đặt căn cứ trên đó. Thời gian công tác ở Rạch Giá, duyên tốc đĩnh thường về đó nghỉ ngơi và lấy nhiên liệu. Dân ở hòn không đông, vì địa thế phức tạp với những cánh rừng chiếm vị trí khá lớn. Tuy vậy, hòn cũng có những giai nhân làm rung động biết bao trái tim các chàng lãng tử hải quân. Một số đã lập gia thất với nhau. Một số quyết chọn nơi này làm quê hương vĩnh viễn. Còn lại hai cô giáo dạy trường sơ cấp. Cô nào cũng đều trẻ, đẹp, dễ thương và rất hiếu khách, nhưng chưa thấy ông nào gõ cửa trái tim. Vùng công tác lý thú nhất, với tôi, là vùng biển Hà Tiên. Chiến tranh có một thời tấn công Hà Tiên. Làm tiêu điều những thắng cảnh. Làm hoang tàn các di tích đẹp trong thành phố. Nhưng chẳng bao lâu, Hà Tiên lại hồi sinh, nhộn nhịp buôn bán, như binh lửa chưa từng quét qua thị trấn này. Lật lại lịch sử, ngày xưa Hà Tiên là một vùng đất hoang sơ, vắng vẻ của Cao Miên. Giữa thế kỷ 17, nhà Minh bị tiêu diệt ở Trung Hoa, tướng Mạc Cửu mới dẫn gia đình, binh lính và hàng trăm sĩ phu xuống tàu, theo biển, di cư về nam, rồi đổ bộ lên đây. Từ đó, Mạc Cửu đã cùng con là Mạc Thiên Tứ chỉ huy binh sĩ khai phá vùng đất hoang sơ này, chỉ trong vòng 50 năm, Hà Tiên đã trở thành một thương cảng náo nhiệt. Sau đó, Mạc Cửu quy phục chúa Nguyễn, chân thành đem phần đất sầm uất Hà Tiên dâng vua. Từ đấy, bờ cõi Việt Nam được mở rộng qua tây và xuống nam. Ngoài chuyện lịch sử, vùng đất này còn là một vùng đất thơ, sản sinh biết bao thi sĩ tiếng tăm. Như HÀ TIÊN THẬP VỊNH, là đề tài xướng họa của các thi nhân trong tao đàn Chiêu Anh Các, dưới thời Mạc Thiên Tứ lãnh đạo. Và sau này, có nhóm thơ “Hà Tiên tứ tuyệt” gồm 4 thi sĩ: Đông Hồ, Mộng Tuyết, Lư Khê, Trúc Hà. Muốn nghỉ bến Hà Tiên, từ biển, PCF phải tìm cửa để chạy vào. Cửa này, được gọi là mũi pháo đài. Đường vào cửa chỉ có một con lạch nhỏ, nhưng sâu và hẹp. Hai bên lạch toàn bãi lầy, cát cạn. Nước biển quanh năm phủ mênh mông, cho nên tàu lạ vào cửa dễ bị mắc cạn. Vì thế, người ta đặt một ngọn đèn xanh ở mũi pháo đài, và một ngọn đèn xanh trên ngọn tháp cao trong thị trấn Hà Tiên. Từ ngoài khơi, muốn vào cửa an toàn, thuyền trưởng phải hướng mũi tàu chạy sao cho 2 ngọn đèn chập lại thành một. Nếu không, tàu rướn bãi, thuyền trưởng chỉ có nước kêu Trời, rồi ngồi chờ nước thật lớn, mới mong thoát ra được. Nhờ ngao du trên vịnh Thái Lan, tôi mới biết thêm nhiều hòn, nhiều thắng cảnh đẹp trên đất nước mình. Gần Hà Tiên nhất, có hòn phụ tử, với hình ảnh hai cha con quấn quýt, như không muốn rời nhau. Ngó phía trái là hòn Một, xa hơn nữa là hòn đồi mồi. Ngày xưa, trên hòn này có một trại nuôi đồi mồi rất lớn, du khách có dịp về Hà Tiên, đều ra đây, ghé thăm. Xa hơn nữa, có quần đảo Bà Lụa. Ở đây, đảo lớn nhất và đông cư dân nhất là hòn Heo. PCF thường dừng chân nơi này, sau chuyến hải hành mệt nhọc. Cách thêm vài hải lý nữa, về phía nam, có hòn Nghệ hùng vĩ giữa trời biển. Hòn cao như ông khổng lồ, vì thế khi chấm tọa độ, chúng tôi thường lấy điểm này làm điểm chuẩn. Trong chuyến công tác ra hòn Đốc, chúng tôi chở phái đoàn giáo viên đến thăm một trường học trên hòn. Vùng biển hòn Đốc đầy đá ngầm. Tàu không thể vào sát bờ được, đành neo ngoài khơi, nhờ ghe dân trong hòn, ra rước phái đoàn. Ghe dân vừa chở phái đoàn đi được 2/3 đường, bỗng dưng giông gió nổi lên, nhồi chiếc ghe xoáy tròn, rồi hất tung phái đoàn văng xuống biển. Từ tàu, chúng tôi hoảng hốt trước cảnh tượng đó, tất cả lật đật mặc áo phao, phóng nhanh về hướng chiếc ghe, vội vã cứu người. Thế rồi, giữa cơn giông tố phũ phàng, chúng tôi cố gắng mỗi người ôm lấy một cô, vật lộn với


122 - Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 sóng gió, dìu nạn nhân vào bờ. Từ đó, cô giáo được tôi cứu, cứ dính vào tôi như một chất keo, khó gỡ. Mỗi lần tàu về bến, từ xa, tôi đã thấy bóng dáng cô giáo đứng như tượng đá, trước cổng ty Quan Thuế. Dù nắng chói chang, hay mưa tầm tã, nàng vẫn vậy, vẫn đợi, vẫn chờ, cho đến lúc gặp nhau, mới mãn nguyện. Có cảm động cách mấy, tôi vẫn không dám buông thả tình cảm, vì còn Tuyết - đang héo hắt chờ tôi ở quê nhà. Nhưng ngược lại, cô giáo quyết tâm, tuân theo mệnh lệnh từ trái tim nàng. - Ngày đó, không có anh, chắc chắn hôm nay, mồ Hạnh xanh cỏ rồi. Anh đã hồi sinh, cứu em sống lại từ cõi chết, thì tấm thân này, coi như thuộc về anh. Anh hiểu không? Dưới ánh đèn đường mong manh ánh sáng, tôi thấy đôi mắt Hạnh mơ màng, đắm đuối nhìn tôi một cách lãng mạn. Khách sạn Hà Tiên kề bên. Chỉ cần một cái gật đầu, thoáng chốc, tôi và Hạnh sẽ nằm ôm nhau trong chăn êm nệm ấm. Nhưng, tôi vẫn cương quyết. - Chẳng lẽ cứu người, hay làm một việc nhân đạo thì tấm thân người đó thuộc về ân nhân sao? Em đừng hoang tưởng, đừng suy nghĩ một cách kỳ cục. Tình yêu không phải vậy, không phải để trả nợ. Nó ở vị thế khác. Nó bắt đầu từ DUYÊN, em biết không? - Vậy chúng mình không bắt đầu từ DUYÊN sao? Theo anh, nó bắt đầu từ cái gì? Tôi đuối lý. Tôi chịu thua trước cường độ tình cảm mãnh liệt đến điên cuồng của Hạnh. Tôi như con rùa bất lực, chỉ còn biết rúc đầu vào mai, nằm chịu sức tấn công vũ bão của đối phương. Ngày qua ngày, Hạnh vẫn cố gắng theo tôi như một thám tử siêng năng. Và tôi vẫn tiếp tục trốn chạy nàng, như kẻ tử tội cố đào thoát khỏi ngục tù, trốn chạy cái bản án tử hình đang siết dần vào cổ. Cho tới hôm, tôi nhận được một tấm giấy học trò, từ tay cậu bé bán báo ở cầu tàu. Tấm giấy được xếp làm tư, khi mở ra, mới biết đó là những dòng chữ của Hạnh. Anh Ân, Ngày mai, em qua An Thới chơi. Em rất mong anh có mặt nơi đó, với em, để cùng nhau du ngoạn. Em sẽ chờ, cố gắng chờ anh hai ngày nữa. Nếu kỳ này, không gặp anh, chắc chắn từ đây về sau, anh sẽ hối tiếc khôn cùng. Ở An Thới, có biết bao người tình nguyện đưa em đi chơi, nhưng vì anh, em vẫn còn lưỡng lự. Vậy một lần cuối, em xin nhắc lại, nếu anh từ chối lời mời gọi của em, đừng bao giờ nói lời hối tiếc với nhau. Yêu anh vô cùng Hạnh Tôi cầm lá thư Hạnh, lắc lư mãi trong hai ngón tay. Lòng canh cánh phân vân, không biết có nên trở về An Thới, hay xé lá thư tan tành, coi như không có chuyện gì. Nhưng, tấm thân kiều diễm của Hạnh cứ gợi cảm trong đầu, cùng với lời nguyền hối tiếc, như một thách đố khiêu khích? Người ta không thể chối từ mãi, khi món ngon vật lạ cứ dâng lên trước mặt? Tuy vậy, hình ảnh Tuyết vẫn lồng lộn hiện đến, vẫn là tình yêu thương tuyệt vời, có sức mạnh ngàn cân xô ngã tấm thân kia. Cuối cùng, tôi vò nát tấm giấy, quăng xuống lòng sông. Rồi dửng dưng bước xuống tàu, quay đầu ra biển. Mất Hạnh, không còn ai đợi tôi trên bến, sau chuyến hải hành. Tôi cảm thấy bơ vơ, lẻ loi trên mỗi con đường. Kể từ đây, có ai dám can đảm bỏ công đuổi theo một ảo ảnh? Có ai chịu cố gắng ấp ủ hơi hướm của những cuộc trốn chạy ươn hèn? Có ai tìm được sinh khí ở cái quán cà phê, thiếu Hạnh. Khi khói thuốc bay lên. Khi dòng nhạc cuộn tròn. Mong manh tình khúc. Rồi, tôi cũng quên đi, chẳng hối tiếc làm chi về lối đi của con sáo xổ lồng. Sáo sang sông. Sáo vút bay. Điều tất nhiên từ một qui luật. Tôi phải trở về với Tuyết, với con sáo trong lòng tay. Con sáo đang làm tổ. Đang chờ bàn tay tôi lót tình trên đó. Hôm qua, tôi vừa nhận được điện tín từ Mỹ Tho, báo cho biết, Tuyết đã về đây, chờ ngày khai hoa nở nhụy. Mới đây, khi nghỉ phép thường niên, tôi đã dặn Tuyết. Nếu sinh trai, em đặt con, Phạm Duyên Cương. Nếu gái, bé sẽ tên Phạm Hồng Tâm Giao. Nghe xong, Tuyết mơ màng, ngó tôi, Tâm Giao thì em hiểu, còn Duyên Cương, nghĩa gì vậy anh? Tôi cú nhẹ vào đầu Tuyết một cái, Duyên là duyên tình, Cương là biên cương. Có phải đôi ta gặp nhau giữa cuộc chiến


Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 - 123 không? Anh muốn như vậy, để khi gọi con, tức khắc chúng mình liên tưởng đến một kỷ niệm lớn trong đời. Ngày nhận điện tín, mừng quá, tôi kéo thằng lính ra quán nhậu. Vui, tôi uống một hơi tới giọt rượu cuối cùng. Tôi say li bì. Tôi quậy lung tung. Trong cơn chập choạng, tôi thấy tôi ngó lên núi Tô Châu cười ha hả. Chưa đã, tôi ngước mặt lên trời cao, chụp chai rượu uống ừng ực. Rồi hứng chí, cất giọng thét lên lanh lảnh giữa đêm đen. Tau sắp làm cha, tau sắp làm cha. Ha ha... Chẳng còn bao lâu nữa, tôi sẽ về An Thới, nhận giấy thuyên chuyển ra hạm đội. HQ231. Một trợ chiến hạm anh hùng, có một thời chiến đấu với quân thù tới viên đạn cuối cùng. Hết sông. Tới đảo. Hết đảo. Ra biển. Tôi mãi lưu lạc như vậy. Không biết chừng nào mới dừng chân, yên vui với cuộc sống. Đêm nay, Hà Tiên thật buồn. Có lẽ, vì là đêm cuối cùng, tôi còn lại, ở đây. Đêm nay, trăng vắt ngang Hòn Đốc. Cái ra đa khổng lồ của đài kiểm báo lung linh, ngất ngưởng trên đồi cao. Phía dưới là ngôi trường Hạnh dạy. Gần nữa, ngoài biển, là nơi Hạnh rơi xuống, là nơi tôi nhào tới, ôm nàng, lôi vào bờ. Rồi Hạnh rượt đuổi tôi. Rồi tôi trốn chạy Hạnh. Tiếc thay, những ngày tháng Hà Tiên, tôi mãi trốn chạy, trốn chạy như thế. Tôi quên mất Hà Tiên có vóc dáng thơ, có cội nguồn tình. Tôi chưa một lần đến lầu thơ, ngôi biệt thự của thầy Đông Hồ, thăm cái ổ tình sáng giá của nàng thơ Mộng Tuyết - đôi thi sĩ tài hoa đã để lại cho đời những áng thơ tuyệt tác. Cũng như chưa từng đến viếng lăng Mạc Cửu, thắp cho dòng họ Mạc một nén nhang, tưởng tiếc các tiền nhân đã có công mở nước, dựng nước. Lần lữa ở Phú Quốc, cũng tới lúc chia tay hòn đảo này. Ngày cuối, tôi ghé câu lạc bộ uống cà phê, nghe Trịnh Công Sơn qua tiếng hát Khánh Ly. Chưa bao giờ tiếng hát dồn dập, phấn khích tôi như lúc này. Chưa bao giờ ngôn ngữ nhạc réo gọi tâm thức tôi như bây giờ. Và chưa bao giờ cô sinh viên trầm lặng sầu mộng này, liếc tôi cười cười, vui vẻ như hôm nay. Tôi đốt thuốc liên tục, và nhắp từng hớp cà phê, kéo dài thời gian hạnh phúc. Tuyết đã sinh con trai. Mẹ tròn con vuông. Thằng con trai giống hệt tôi, đang ọ ọe tìm cha. Nhưng tôi phải ngồi đây, chờ đây, chờ cầm trong tay lệnh thuyên chuyển ra đơn vị mới. Nếu không, tôi đã bay về Mỹ Tho từ khuya, bồng thằng con lên, nhìn thật kỹ mặt nó, coi giống mình bao nhiêu? Giống Tuyết bao nhiêu? Rồi đến lúc, cô sinh viên mở miệng. - Nghe nói, anh sắp về Sài Gòn, phải hông? - Vâng. Có chuyện gì không cô? Cô sinh viên vào trong, lục lạo một lát, mới cầm ra một lá thư. - Anh về Sài Gòn, dán cho em con tem. Rồi gởi dùm em thư này. Tôi nhận thư. Nhưng kịp phát giác, phong bì chưa dán kín. Vội, trao thư lại cho cô gái. - Này, phong thư chưa dán. Bộ không sợ người ta đọc trộm sao? Cô sinh viên ngó tôi đắm đuối. - Về Sài Gòn, anh dán tem, dán thư dùm em luôn. Thư, em gởi cho bạn. Chẳng có gì. Em còn mong anh đọc, để hiểu em thêm. Tôi chưng hửng, ngẩn ngơ, muốn buông rơi lá thư. Cô bé muốn gì mà mong tôi đọc để hiểu “em” thêm? Lúc này, tôi mới ngẩng đầu lên, quan sát cô bé. Nhìn kỹ, nàng đẹp thật. Một vẻ đẹp kín đáo, e ấp trong lớp vỏ tiểu thư phong thái ngày xưa. Vẻ đẹp như vẻ đẹp của chiếc bình cổ quý báu được nhân thế trang trọng trưng bày, và gìn giữ nơi góc của một viện bảo tàng. Thoáng chốc, tôi lưỡng lự, và bối rối vài giây. Nhưng cuối cùng, cũng lẹ làng, cất bước. Trong khi cô sinh viên lẽo đẽo chạy theo. - Tháng sau, em về Sài Gòn. Anh nhớ ghi lại địa chỉ trên phong bì. Rảnh rỗi, ghé thăm em nha! o


124 - Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 Đến chiều thì nước biển trước mặt đổi màu, ghe từ vùng biển xanh trong vào vùng biển vàng đục. Trong bờ đi ra thì vàng trước, xanh sau, ngoài khơi đi vào thì ngược lại, xanh trước vàng sau, chứng tỏ điểm tới không xa. Chạy một lát là... đánh hơi được bờ... smell the land... nhờ thấy... rác... mà là rác bờ chớ không phải rác biển do tàu lớn quăng xuống như lon hộp, thùng carton không. Còn đây là lá chuối, bẹ chuối, lá cây, vỏ dừa, giấy báo, cành cây, rể cây. Nhìn thấy rác mà mừng rở như thấy được vàng, có cả thùng phuy không trôi trên biển nữa. Khách trong khoang trên phòng lái, giành nhau thò đầu ra xem. Tin mừng thấy rác loan truyền xuống hầm, ghe như có sinh khí mới, hồ hởi phấn khởi, vui như mở hội Trăng Rằm! Tôi lấy ống nhòm nhìn về hướng ghe đi tới thấy ánh đèn chớp tắt, không hiểu là hải đăng hay ánh đèn ghe câu nào đó ẩn hiện lên xuống nhấp nhô theo sóng nên cảm thấy nó chớp tắt hay do trí tưởng tượng quá mạnh trong đầu khiến thấy được... tia sáng le lói ở cuối nẻo đường hầm! Đưa ống nhòm cho Quân xem có phải là ảnh ảo? Quân nhìn cũng không thấy gì vì sóng biển nhấp nhô. Dù gì đi nữa sáng mai là tới bến bờ tự do, đúng lịch trình... năm ngày, thêm đêm nay nữa là năm đêm... như dự định, đẹp như mơ! Niềm vui không phải của riêng hai thằng mà là khắp ghe ngoại trừ... sau lái! Trời đen kịt thì Dũng Tài Công lên báo tôi: - Anh Việt ơi, sau lái họ thấy có ánh đèn tàu, nói em lên nói với anh lái về hướng đó. Tôi trả lời liền, sáng mai là tới nơi rồi, còn lái bậy bạ trên biển đêm làm gì nguy hiểm. Với nó đâu nằm trên hướng ghe mình đi đâu mà tới làm gì. Ra sau nói với họ như vậy. Dũng lên báo cáo tiếp: - Anh Việt ơi, tình hình bây giờ em thấy còn căng hơn mấy đêm trước. Họ ra tối hậu thư bằng mọi giá phải đến mục tiêu đó, nói anh phải giữ lời hứa. Tôi nói bến bờ, phương tiện trong tay mình, sao mình không tự lái đến đó, phi lý, chưa hẳn là nó tới trước mình. Hai ngày nay mình đâu gặp tàu lớn nào, chứng tỏ mình không trên trục hải phận quốc tế bây giờ trong vùng biển nước đục vàng phù sa cận duyên thì làm sao có tàu lớn được. Nhưng anh Ba đã xuất hiện ở ngoài cửa phòng lái và người của anh hổ trợ phía sau, biểu dương lực lượng, lấy thịt đè người. Anh không nói nhưng đám đệ tử anh lên tiếng: - Cứ tiến về phía đó, nó không vớt thì bỏ đi, mất mát gì, với lại mình có quyền lựa chọn, không thích thì cũng TỬ CHIẾN HẢI TẶC THÁI LAN (trích từ BIỂN ÂN NHÂN) HOÀNG QUỐC VIỆT Đọc hồi ký “Biển Ân Nhân” của Hoàng Quốc Việt (mời đọc trọn tập: http://bienkhoi.com/so-78/bien-an-nhan.pdf) có lẽ chúng ta đều đồng ý hành trình tìm Tự Do của anh nên được xếp vào hàng đầu của những chuyến vượt biển mà sự cam go, gian nan, thử thách, và bi kịch của bất hạnh đã tột cùng vượt xa sự chịu đựng của con người. Bắt đầu tập hồi ký, anh viết “Chỉ còn Biển mới đưa tôi đến bến bờ Tự Do, Tự Tại, giúp tôi đạt được khát vọng: Chúng tôi muốn làm người, chúng tôi muốn sống kiếp sống con người, tôi là mình, làm người di cư đợt hai, Thuyền nhân, Boat People, vượt biên, lìa xa Tổ Quốc, lưu lạc phương trời xa lạ... Âu, Mỹ, Úc... nghìn trùng xa cách! Chớ không như người di cư đợt một, từ Bắc vô Nam... Chúng tôi muốn sống... cách một đại dương! Đường nào cũng đều biển cả! Bởi thế nhân cách hóa biển, xem biển là người ơn... Biển Ân nhân... là vậy!” Tàu vượt biển là chiếc ghe bầu quá tải, khẳm nặng thuyền nhân mà đa số là phụ nữ trẻ em. Là tài công, Hoàng Quốc Việt phải đối đầu với sóng gió, lèo lái con thuyền đi cho đúng phương hướng và biết bao sự xung đột, bè phái, ganh tị giữa các phe nhóm trên tàu. Trong khuôn khổ giới hạn của một tờ Đặc San, chúng tôi hân hạnh giới thiệu phần trích đoạn đầy bi kịch của chuyến tàu định mệnh: Tử Chiến Hải Tặc Thái Lan… xảy ra sau 5 ngày, 5 đêm của cuộc hải trình đầy sóng gió, tai ương, đầy dẫy “thù trong, giặc ngoài”…


Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 - 125 bỏ đi, nó làm gì mình. Bữa hôm đó họp thế nào, bây giờ phải tuân theo như vậy, đừng nhiều lời. Nếu tôi đang có cây súng chỉ huy như xưa, thì đây là lúc tôi hành xử... Master Under God... đúng đắn nhất, sẽ nói với họ: Vì sinh mạng của biết bao nhiêu người vô tội trên ghe... tôi sẽ bắn nát óc bất kỳ ai bắt tôi làm chuyện đó liền! Tại một điều giản dị là... không cách nào nói phải trái với đám vô minh này và áo mặc sao qua khỏi đầu, người lần đầu tiên mới ra biển vài ngày đòi chỉ huy sai khiến người có trên hai năm hải vụ trong HQVNCH, kinh nghiệm biển cả cùng mình mới uất ức. Hành động của họ không khác gì hành động của bọn không tặc đưa con tàu vào cỏi chết. Những người đó chắc sợ biển nên mới hành động ngu xuẩn như vậy! Nhưng... Thời gặp thế thế thời phải thế... tôi phải tuân theo hội nghị Cầu Tiêu, tiêu tùng, tiêu tán đường, tiêu tan hy vọng mới có được cách đây vài giờ từ tháng 04 năm 75 đến lúc đó là tháng 11 năm 79, không phải của riêng tôi mà của mọi người trên ghe. Đứng qua một bên để anh Ba điều động chỉ huy, trái sáng lận bụng... Trợ Duyên Lời Cốt Nói... tìm tàu vớt ngoài khơi! Khôn ba năm dại một giờ... là đây! Trái ngược với tôi, đem hiểu biết Hàng Hải học hỏi Quân Trường cùng kinh nghiệm lẫn trải nghiệm Hải Hồ biển khơi ra cho chuyến đi sinh tử cuối cùng của đời lính biển mắc cạn, Tùy Duyên Thuận Pháp, xuôi sóng, xuôi gió, tin vào chính mình lèo lái ghe bầu đến nơi! Anh Ba chỉ Quân lái về hướng đó. Tôi nhìn theo thấy mấy chấm sáng chớ không phải một. Một hồi lâu sau anh mới nói: - Nó đó, tiến tới đó. Tôi nhìn lên cột cao thấy hai đèn Đỏ Trắng, đỏ trên, trắng dưới nhớ ngay hai câu thơ vần điệu đàng hoàng, tập tài liệu Lưu Hiền Sĩ OCS 5, cho tôi lúc gặp ở Cần Thơ, tờ rời của OCS, giờ cờ đèn, tôi nghĩ không biết nhớ đúng không, môn học CC (Casualty Control) Red over red, Captain is dead tôi đã nói ở trên. Red over White, fishing at night. Là cái đang trước mắt tôi, tôi nói liền với anh Ba: - Đó là tàu đánh cá. Nhưng có bao giờ anh chịu nghe tôi đâu, anh chỉ nghe lời (Đồng) Cốt nói, rút trái sáng ra bắn lên trời, sáng rực một khúc biển. Y chang, không sai sách vở, một ghe đánh cá hiện ra trước mặt, nhân viên đang bận rộn làm việc, người kéo lưới, người gở cá. Khi ghe cặp vô thì tôi là người đầu tiên nhảy qua và vô cabin gặp Hoàng Quốc Việt (thứ 3 từ phải)


126 - Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 Thuyền Trưởng ốm cao, da ngâm đen, trạc tuổi tôi, chớ không bệ vệ như TT trước, phòng lái nhỏ hơn nhưng cũng có radar, đang hoạt động. Tôi hỏi: - What ‘s your nationality. Hắn trả lời: - Malaysia. - We’re going to Malaysia too. Nói tới đó là tôi chém vè rút về ghe mình, gặp anh Ba ngắn gọn nói: - Không êm rồi, - anh nói liền: Vậy mình rút, rồi gọi người mình bên ghe đó đang đứng nói chuyện với họ bằng tiếng Hoa ở hai dây cột mũi và lái, tháo ra và về ghe mình đi gấp. Bây giờ anh mới sáng mắt ra, làm vậy là... Tạo Duyên Nghịch Pháp... đi tìm tàu vớt ngoài khơi để thực hiện lời Cốt nói là trái với lẽ thường, không khác gì xe mình có thể chạy về nhà nhưng không chịu chạy mà chận xe dọc đường lớn hơn quá giang về, nó ngừng lại chở đi không phải để cứu mà để... cướp... là đây! Tôi nhảy vô phòng lái, tắt đèn hải hành và ra lệnh không được bật bất cứ đèn nào kể cả hút thuốc để... chạy trốn, lấy hướng 220, đâm thẳng vào Mã Lai, cho máy tiến full. Nhưng biết chắc không thoát khỏi nanh vuốt nó vì thằng tài công chỉ cần liếc qua cái mắt thần radar là mình... chạy trời không khỏi nắng! Quả thật không sai, đang xả tốc độ tối đa thì bất thình lình một khối đen xuất hiện, lướt như bay sát mũi ghe, đánh một vòng chận đầu thị uy. Mới thấy đó trước mắt quay đầu theo đã ra sau lái. Sóng cuồn cuộn phải ngưng máy ngay và lo tránh sóng, lái mũi ghe bầu chỉa thẳng vào sóng góc 90 độ, chém mấy con sóng dử mới thoát quỷ đạo sóng của ghe săn mình. Còn mạnh bạo hơn sóng PCF lạng qua chận lại xét ghe đánh cá Vũng Tàu hay Kiên Giang đánh cá xa ở mũi Cà Mau. Nó tiến lại gần nói bằng tiếng Hoa nếu mình vô đó sẽ bị Hải Quân Mã Lai bắn, vì lòng nhân đạo nó sẽ kéo mình đi Singapore và đề nghị hai người mình qua đó. Hai người qua đó là Bình, là người tôi huấn luyện lái ghe đêm đầu tiên khi ngã gục vì kiệt sức, người thứ hai là Trần hữu Đức, cựu Thiếu Uý Thám Báo TQLC, xưa cũng dân Pétrus Ký, sau tôi vài lớp, rồi cột dây kéo đi chiếc trước chiếc sau. Tôi theo dõi la bàn, thấy không phải hướng 230 độ là biết nó dở trò như chiếc trước liền. Anh Ba lại xuất hiện nơi cửa phòng lái, tôi sôi máu nhưng vẫn im lặng, anh lên tiếng: - Anh chịu để nó kéo đi như vậy à? - Không cho nó kéo thì làm gì? - Tôi hỏi lại. - Chặt dây! - Anh nói chuyện giởn chơi, đùa giởn với tử thần, chuộc giởn với mèo. Bỏ chạy trước nó trên nửa tiếng trong lúc nó bận kéo lưới gở cá mà có thoát nó đâu! Với lại nếu mình làm được chuyện đó, thì hai con tin mình bên đó tính sao, chính thân nhân họ sẽ thanh toán người nào chủ trương chuyện này. Tôi nói cho anh biết, mình trong tay nó như khi xưa ghe đánh cá trong tay PCF tụi tui, chạy như bay trên biển vậy. - Vậy bây giờ anh tính làm gì? - Tùy cơ ứng biến, - rồi nổi tam bành lục tặc: - Anh đi chỗ khác cho khuất mắt tôi. Ai, ai, ai gây ra cảnh này, ai bắt phòng lái tụi tui chạy tới nạp mạng nó, ai bắn trái sáng lên để... lạy ông tôi ở bụi này... ai, ai, ai gây nên nông nỗi này, giết chết niềm tin và hy vọng của tất cả mọi người. Tôi phản đối không chịu chạy tới đó thì người của anh hùng hổ đứng sau lưng anh đến phòng lái làm áp lực. Chính anh, chính anh chớ không ai khác, - tôi tức tối nói như muốn khóc: - Anh đi chỗ khác ngay cho tôi, đừng đứng lải nhải những lời ngu xuẩn, quấy rầy tôi nữa, để tôi làm việc. Hiện giờ tôi đang theo dõi hướng đi của nó theo la bàn để biết nó kéo mình đi đâu. Anh cho tôi hai chữ bình an, đừng đứng đó nói bậy làm khủng hoảng tinh thần hành khách. Anh là thằng thọc gậy bánh xe của chuyến đi này. Nói tới đó anh mới bỏ đi để lại sự im lặng sấm sét cho phòng lái! Bây giờ chỉ Tuỳ Cơ Ứng Biến chớ không phải Tùy Duyên Thuận Pháp như những ngày qua! Sáng mai mới biết chuyện gì sẽ xảy ra, hiện tại chỉ còn... hồn ai nấy giữ! Tâm bất an làm sao trấn an người khác được! Mặt trời vừa lên, hai con tin mình bên đó tươi cười ra sau lái nói bây giờ bên đó chuẩn bị để chuyển người qua bên này sau đó sẽ chở hết đi Singapore. Có lẽ họ là hai người hạnh phúc nhất đêm qua. Tối được bồi dưởng cháo cá tươi mới bắt từ biển lên, ngon ngọt tuyệt vời, nhất là đầu óc thảnh thơi cứ tưởng là nó đang chạy tới Singapore, tận hưởng giây phút thần tiên trên biển, có một giấc ngủ ngon lành từ lúc ra khơi tới giờ. Sáng còn khoe điểm tâm có cả cà phê sửa đá như trong bờ mới đã, coi như là mình hên lắm mới được biệt phái qua đó đâu biết rằng bên này coi họ là Con Tin như tôi đã làm trong chuyến cướp trước. Biển động mạnh, hai ghe trong thế cặp kè nhau, không còn chiếc trước chiếc sau mà thằng


Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 - 127 Thuyền Trưởng không giảm tốc độ. Hai con cá theo sóng nhồi đập vào nhau, trứng chọi đá, chỉ vài phút sau ghe bầu hư hại nặng. Khách hốt hoảng tranh nhau qua ghe lớn. Một bà đầu tóc bạc phơ, đứng nơi cửa phòng lái tâm tình với tôi: - Cậu Việt, đây là lần đầu tiên tôi thấy biển, tôi đi một mình, ở bên ghe bể nát như thế này rồi cũng chết, cậu làm ơn, làm phước giúp tôi qua bên đó, tôi sợ lắm, một mình tôi, tôi biết tôi không thể nào dám làm như những người khác được. Nhìn hai ghe ngã nghiêng đập vào nhau, nhấp nhô, lúc cao lúc thấp tôi nói với bà: - Bác thấy đó, người ta chỉ nhẩy qua ghe đó khi ghe mình nhô lên cao, chỉ giây phút ngắn ngủi ấy thôi. Bà gật đầu, sợ hãi, nước mắt rưng rưng: tôi biết tôi làm một mình không được, nhờ cậu giúp dùm, tôi mang ơn cậu nhiều lắm. - Được rồi, bác ra đây, hai tay vịn chắc vào đây, là cây dài trên mũi ghe để giữ hàng hoá không lăn xuống sông, khi nào ghe mình nhô cao thì hai bác cháu mình nhảy qua bên đó. Khi cháu hô buông, là bác phải buông liền, lúc đó cháu sẽ ôm bác nhảy qua bên đó, trên đống lưới nên té không đau đâu. Bà gật đầu. - Nhưng bác phải biết một điều tối quan trọng sinh tử này: khi nghe buông thì bắt buộc phải buông liền, chớ bác vẫn nắm chặt thì hai người chết hết, không rơi xuống biển thì cũng là trái độn giữa hai ghe, nát thây. Bác biết chưa và bác nhớ kỷ chưa? Bà gật đầu, Tôi dặn dò lần nữa rồi mới ra tay hành động. - Nhớ đó nghe... Buông... mà... Bám... là chết hết, là trái độn giữa hai ghe. Tôi nín thở nhìn hai thành ghe nhấp nhô, tập trung tư tưởng hô cho đúng lúc, nó xuống mà Buông cũng chết, phải đúng lúc... Lên... mới hét: Buông... rồi ôm bà... nhảy... mở mắt ra thấy ôm bà già trên đống lưới mừng hết lớn! Trở lại ghe chưa hoàn hồn thì một cô gái trẻ thỏ thẻ: - Anh ơi... ôm em với, em sợ lắm, em cũng mới thấy biển đầu tiên trong đời. Con nhạn lẻ loi này không đi một mình, nhưng hồn ai nầy giữ, thấy hai ghe theo sóng biển đập vào nhau hải quá, không dám ra ngoài, chỉ thập thò ở cửa nên những người thân qua bên đó hết rồi. Tôi dặn dò kỷ lưỡng nghe buông đừng bám thì em trấn an tôi: em đã thấy và biết phải làm gì rồi. Nói vậy nhưng tôi cũng dặn dò lại và cũng nín thở chờ... Lên... mấy lần mới la... Buông! Mở mắt ra thấy ôm người đẹp nằm trên đống lưới muốn... ôm luôn... chớ không muốn ôm việc nữa. Nhưng còn nặng nợ hải hồ nên buông không được, đành đứng lên nhảy về ghe mình. Đó là hai cái ôm sinh tử, nhớ đời, một già một trẻ. Già trẻ, xấu đẹp gì cũng phải ôm hết mình, trong Tỉnh Thức, trong Chánh Niệm, Thất Niệm là nát thây liền. Trở về sợ nhất hoá tam, chỉ mong đừng ai dụ dổ kêu ôm nữa! Thấy người qua ghe quá nhiều một thằng Thái Lan đến bên thành ghe đưa tay ra hiệu đừng qua nữa, nhưng nó đi rồi là tôi lại đốc thúc người mình qua ghe nó càng nhanh càng tốt, càng nhiều càng hay. Thằng Thái Lan thấy vậy, đứng bên ghe nó lấy tay chỉ về phòng lái nói: - Tai củn, tai củn, - tôi nghe như vậy. Dũng Tài Công phiên dịch lại với tôi: - Anh Việt ơi, nó nói Tài Công, Tài Công là nó kêu anh qua ghe nó đó! Nghe vậy, tôi qua ghe nó, vừa nhảy qua là bị nó nắm ngay ngực áo và cho ăn cú đấm ngay bụng, chưa chịu buông ra, kéo mạnh lên nữa, mở mắt ra thấy con dao sáng loáng dơ cao vội vàng nhắm mắt lại, phản ứng tự nhiên hai tay chấp ngay ngực theo thế búp sen, không dám nhìn, mở mắt ra thấy mình rơi xuống sàn, thân thể toàn vẹn, mới bắt đầu biết sợ, biết run! Tụi nó hiện nguyên hình Hải Tặc chớ không còn giả đò nhân nghĩa nữa. Theo những người qua trước kể lại, kể cả hai con tin, nó lừa đàn ông con trai tạm thời xuống hầm lấy lý do sợ tụi Singapore thấy không cho vô, để trên này cướp bóc đàn bà. Chắc qua kinh nghiệm đàn bà có nhiều chỗ kín đáo dễ dấu nử trang vàng bạc quý gía hơn đàn ông. Ở dưới đó lâu quá, ngộp mới nghĩ cách giả vờ cho người bị xỉu bèn đưa lên để thở, nói bằng tiếng Hoa, rồi tất cả leo lên. Chính mắt tôi thấy, nó chĩa dao bắt một người đàn bà ngồi cách tôi một thước, mở quần ra xét, xui xẻo thay một túi nhỏ hiện ra, nó lấy dao cắt thì vàng trong đó, kéo mải mới hết. Thì ra dây lưng quần của chị là sợi dây chuyền dài và dầy, phải nói là một sợi mini lòi tói vàng mới đúng và phải trên chục lượng hay nhiều hơn nữa, vì lần đầu tiên trong đời tôi mới sắm chiếc nhẩn vàng hai chỉ, mà thấy độ dầy của một khoanh dây chuyền dầy hơn chiếc nhẩn của tôi. Lâm nguy mới nhớ lời Mẹ dặn: lúc ở Cần Thơ, má tôi nhớ con quá bèn lặn lội ra đó thăm tôi. Tôi nghiệp bà


128 - Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 già nghèo quá không có gì cho con, trước khi chia tay có đưa tôi một bảo vật và nói: Má không có gì quý cho con nhưng Má có lá bùa này, thỉnh ở Chùa Hai Cô, khi nào lâm nguy thì con lấy ra bỏ vào miệng nhai nuốt, rồi niệm: Nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Độ nạn Quan Thế Âm Bồ Tát là tai qua nạn khỏi liền. Bây giờ là đúng lúc lâm nguy sinh tử rồi còn gì nữa. Tôi bèn lần lá bùa hộ mệnh dấu ở gấu áo ra bỏ vô miệng nuốt. Vừa đúng lúc thằng Thái Lan phát hiện, tưởng tôi tẩu tán tài sản quý vào bụng, tiến tới chĩa dao bảo há miệng ra. Cũng may nhờ khô cổ họng không còn một miếng nước miếng nào để thấm ướt lá bùa cho nó mềm rồi mới nuốt được, nếu không là đứt cổ với lá bùa hộ mệnh này rồi. nó móc ra còn khô ran, lá bùa màu vàng thiệt, nhưng là giấy màu vàng. Thằng con tức tối quăng lá bùa vô mặt tôi. Nhờ hết nước miếng, chớ tay dính nước miếng năm ngày năm đêm không xúc miệng, chắc phải rửa năm ngày năm đêm mới hết hôi. Anh Ba nghe lời Cốt mà bây giờ cả ghe chịu cảnh này, tôi suýt rước họa vào thân vì bùa hộ mệnh... cũng giống nhau thôi! Đối diện với biển cả hùng vĩ, con người cảm thấy mình quá nhỏ bé, quá yếu đuối nên mong Thần Biển cứu độ không lạ gì, cầu... Trời êm Bể lặng mới yên tấm lòng... là thế! Mẹ bảo uống, cứ uống để tai qua nạn khỏi, như uống tình thương của Mẹ mình, lúc đó thấy Mẹ mình kế bên, có chết cũng thấy Mẹ bên mình, gần mình! Mà không ăn dao là bùa... linh rồi... còn muốn gì nữa! Không hiểu thằng Thuyền Trưởng Thái này tính gì, nghĩ gì mà giữa biển động mạnh như thế này vẫn chạy nhanh, làm hai ghe đụng nhau dữ dội, ghe bầu của tôi tơi bời hoa lá. Trong đầu của tôi nghĩ là sau đó nó sẽ chạy tới một hải đão hoang vắng nào đó rồi thả chúng tôi lên đó để mưu sinh thoát hiểm mới làm như vậy, còn nếu muốn trả chúng tôi về chiếc ghe bầu của mình thì phải dưỡng nó, nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa chớ đâu cho hai con cá không cân xứng nhau đá nhau không ngơi trầy vi tróc vẩy thảm hại như thế này, ai dám trở lại, nhất là trên hai phần ba người của chúng tôi bên ghe nó. Chắc nhìn bề ngoài nhỏ bé nó không ngờ chở đông như vậy, ghe nó gấp mấy lần ghe tôi mà chỉ bẩy người, ghe tôi cho chứa gấp mười ghe nó là bẩy chục người nhưng thật sự là trên 150 mạng mới là khủng khiếp, ngoài sự tưởng tượng của tôi, đừng nói chi nó, trong bờ chủ chỉ nói trên năm chục người. Bởi vậy nó ngưng không cho người qua nữa là vậy vì người qua như bất tận. Lúc đó chúng vẫn còn cướp bóc. Nhìn lưởi dao sáng loáng, lấp lóe như gương dưới ánh mặt trời, rồi ngước đầu lên trời cao mà ca: Chúa đã bỏ loài người. /Phật đã bỏ loài người... thật rồi hay sao? Sao để lũ quỷ sống lộng hành giữa thanh thiên bạch nhật, trời cao biển rộng như thế này không cần bóng tối đồng loã tội ác! Và đây cũng là những gì thật sự... như nó là... lúc ấy, bây giờ nhớ viết lại chớ không phải... hư cấu! nhạc Trịnh Công Sơn tôi đã nói nhiều lần trong những hồi ký trước, mỗi bài nó có một câu diễn tả đúng tâm trạng mình hơn bao giờ hết. Bài... này em có nhớ... và hai câu mở đầu... Chúa đã bỏ loài người, Phật đã bỏ loài người... hát phê nhất là lúc đó, lúc thằng hải tặc Thái Lan quát tháo, la hét, quơ dao dài nhọn, sắc bén, bằng thép sáng như gương lấp lánh dưới ánh mặt trời. Vừa nghêu ngao xong, nhìn xuống thì cái chĩa ba xúc cá, mũi cũng sáng loáng, lấp lánh như gương chĩa ngay ngực tôi là tôi biết... Chúa đã bỏ loài người, Phật đã bỏ loài người... thật rồi!!! ngơ ngác không biết nó muốn gì, tôi vẫn ngồi, ngước đầu lên thì chĩa ba nâng lên ra dấu đứng lên, tôi đứng lên rồi đứng đó, biết nó muốn làm gì nhưng không chủ động làm trước, làm như ngây thơ không biết gì. Cây chĩa ba chĩa tôi tới thành ghe và chĩa mạnh vào người, hất đầu - ra hiệu trở về ghe cũ. Đến lúc đó tôi mới chịu đi và tin đó là sự thật! Hắn biết tôi là Tài Công, đầu đàn nên tống về trước để cho người khác làm theo, những người ngồi gần tôi hốt hoảng la khóc và dồn về phía ngược lại. Tôi về ghe mình thấy trái cam dưới hầm, khát quá nhảy xuống cầm trái cam lên, đưa lên miệng cắn mút như con nhện hút con mồi bị mắc trên lưới tơ. Một lúc sau là thành trái cam khô nước. Quăng đi thì ngạc nhiên thấy hầm trước, không có đèn mà sáng trưng, nhìn kỷ lại thì con sỏ mũi ghe bị bung ra. Chiếc ghe bầu thành tầu... há mồm!!! Khiếp quá, vậy mà người mình vẫn bị ép buộc từ ghe nó qua. Tôi chạy lên, nói với thanh niên đứng ngoài: - Qua nữa là chìm, tháo dây ra là nó hết cho qua được, nhanh lên! Ghe tách ra, nghiêng qua một bên, há mồm thấy rõ làm mấy người bên kia khiếp đãm hơn, trở về là chết! Tôi vội tháo dây quăng bớt một phuy dầu bên phía nghiêng cho nhẹ được chút nào hay chút nấy rồi lái ghe chạy xa ghe Thái. Xong quành đầu lại tiến về nó từ phía sau, bên phải của ghe Thái, không biết nói hữu gì như trên chiến hạm mình gọi là Hữu Hạm hay Tả Hạm. Anh Ba đang đứng bên phía đó. Hai ghe chạy xong xong nhau, kỳ


Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 - 129 phùng địch thủ, cách nhau hơi xa, châu chấu đá xe. Chạy một hồi thì Minh Khào tới phòng lái nói: - Ông ơi bên kia rủ chơi. Tôi bật miệng liền: - Chỉ có chơi mới sống, nói với họ như vậy. Bên này đồng tình ủng hộ, đồng thanh dơ tay lên la lớn: - Chơi, chơi, chơi. Bên kia thấy anh Ba gật đầu, nhưng chưa ai tỏ thái độ, vì tay không. Thu Hà, một khách nữ ngồi ở trên gần phòng lái hỏi: - Chơi là gì vậy các anh, tôi nói liền: - Chơi là đánh lại tụi nó, - nghe tới đó là oà lên khóc liền: - Đánh hả các anh, rồi có anh sẽ chết. Trời ơi sao khổ vậy, sao ghê vậy các anh ơi, mình đi để tìm sự sống sao lại chết! Tôi ra lệnh lấy đồ chơi phân phối cho mọi người, ưu tiên dao cho bên đó, riêng tôi được cái tuộc nơ vít vặn đinh ốc lận bụng. Minh Khào cầm búa Thạch Sanh đứng ngay cửa phòng lái hét: - Chơi, chơi, chơi, - coi như lời tuyên chiến với thằng Thuyền Trưởng Thái Lan. Cũng đằng đằng sát khí, sẳn sàng liều mạng tử chiến với tụi nó, yểm trợ tinh thần bên kia, bên này khai chiến nhưng bên kia hành động! Ghe bầu bị thương, nghiêng hẳn qua một bên nhưng tôi ráng lạng vô cho gần ghe Thái để thẩy đồ chơi qua cho phe ta. Chưa thẩy được cái gì thì thằng Thuyền Trưỡng đánh hơi, cảm nhận được nguy cơ liền nhấn ga bỏ chạy thật xa, trong chốc lát nó chỉ còn một chấm nhỏ. Chỉ còn Quân đeo ống nhòm là thấy mà thôi, tường thuật chuyện gì xảy ra: - Nó ngừng rồi, hình như mình khai chiến rồi, đúng rồi, bùng nổ rồi. Tôi nhìn về hướng đó thì thấy mấy chấm đen dưới biển. Tôi biết phải làm chuyện gì rồi, không còn nghe báo cáo nữa, chạy một chút thì thấy trong chấm đen có những vũng máu đỏ theo sau trên biển, biết chắc vết máu đỏ sau lưng là phe mình, còn những cái không có máu là tụi nó. Tất cả đều lội trôi theo sóng nên đều đi về một hướng ghe tôi đang tiến tới, khi đến gần tất cả những chấm đen thì chỉ có người có máu sau lưng mới lội về hướng ghe, còn tất cả những cái đầu đen khác lội nhanh qua ghe không đếm là bao nhiêu vì lo cứu người mình bị thương dưới biển. Tới gần hơn tôi la lên: - Thằng Tỷ, thằng Tỷ, nó bị thương, quăng nắp hầm cho nó ôm, - nắp hầm quăng xuống, Tỷ bơi đến bám, ghe còn cách vài thước thì Tỷ đưa một tay lên cao vẩy chào... vĩnh biệt... và trôi tuột khỏi miếng váng chìm vào lòng đại dương mang theo luôn dòng máu đỏ. Tôi ôm người đứng kế bên... khóc... tự nhiên như trẻ lên ba, người kia cũng khóc nức nở như tôi, nhìn lại là anh của Tỷ, người tôi nắm cổ đòi chặt đầu, người tôi đòi quăng xuống biển! Khi lái ghe đến gần ghe Thái thì mình đã làm chủ được tình hình, Bình đang trong phòng lái, ôm vô lăng. Hai ghe cách nhau không xa, có thể nói nhau nghe được. Một người báo cáo: - Ghe Thái không ngừng được, dù để cần ga ở giữa, point mort, cũng chạy tới và lái không được, chắc có lẽ tụi nó phá hệ thống lái rồi! Tôi tính lái ghe bầu cặp vào ghe Thái, nhưng hai chiếc cùng di chuyển khi gần nhau thì chiếc ghe bầu nhỏ hơn lại nghiêng về một bên bị ghe Thái húc vào, hai bên đụng nhau mạnh và ghe bầu văng ra, người đứng trước mũi ghe bầu để quăng dây qua suýt chút nữa bị làm trái độn, nguy hiểm vô cùng, thử thêm vài lần nữa, cặp bên phải hay bên trái, bên nghiêng cao, bên nghiêng thấp cũng không được. Tôi đổi qua cách thứ hai táo bạo và nguy hiễm hơn là: Hai ghe chạy song song nhau, người bên ghe Thái đứng trước mũi quăng dây xuống biển, người từ ghe bầu chúi xuống biển chụp dây, bên kia phải kéo lên ngay, chậm là tắp vô lườn, nát thây với chân vịt của cả hai ghe, coi như đứng giữa hai lằn đạn, hạ thủ bất hoàn, nhảy xuống mà chụp hụt là kể như nát thây, lội trái hay phải đều lội vô chân vịt cả. Và người duy nhất phải làm chuyện này là tôi, không ai khác, dù có người dư sức làm chuyện này tình nguyện làm Lê Lai cứu chúa cũng không được vì phải là người biết lái tàu thành thạo, rành nghề. Mà hệ thống lái thật sự bị phá thì rành nghề cách mấy cũng như không nhưng dù sao đi nữa tôi phải là người thực hiện chuyện... mình nghĩ mình làm! Đó chỉ là dám nghĩ, mới phân nửa, còn phải... dám làm nữa... mới trọn vẹn! Đứng bên ghe này, tôi nói với qua ghe đó kế hoạch của mình và bảo bên đó thực tập thẩy dây trước. Cái thứ nhất, ngắn quá, không được. Cái thứ hai, dài quá, cũng không được luôn, cái thứ ba, được đó. Rồi dặn dò kỷ người ném dây ráng giữ như vậy và quan trọng nhất là khi tôi chúi chụp được dây là phải kéo lên liền, nếu không nó tắp vào lườn là nát thây. Xong dặn dò hai tay lái ghe ráng giữ khoảng cách như vầy. Vẫn


130 - Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 chưa yên tâm, dặn thêm người quăng dây khi thấy tôi chưa chúi thì kéo lên ngay chớ không nó cuốn vào chân vịt cũng chết. Nhớ kỹ chừng nào cá cắn câu mới dựt sợi dây dài, cá người khác cá biển ở chỗ là phải cắn câu mới sống, hụt là tới số, tàn đời. Dặn dò đủ mọi thứ trên đời như vậy chỉ là... vòng ngoài. Còn chuẩn bị... vòng trong... lòng mình nữa, Có đủ bản lãnh làm chuyện này không? Phải tự tin, không tự tin là tự sát! Không phải cho riêng mình mà cho tất cả mọi người hai ghe. Cái nhẩy sanh tử, đủ cả vị kỷ lẫn vị tha, mình vì mọi người. Nhưng khi nhìn ra sau lái thấy sóng cuồn cuộn của chân vịt hai ghe là lạnh giò. Rồi nghĩ bây giờ mà đồng bọn nó xuất hiện là chết chùm, chết chém, chết chìm cả lủ nên lại lấy lại tinh thần. Không nghĩ gì thêm, trở lại chính mình, nhớ lời Mẹ dặn, không nghĩ gì khác chỉ: Nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Độ nạn Quan Thế Âm Bồ Tát liên tục. Người hai bên ghe đứng xem đứng tim, tôi nghĩ họ cũng đang cầu nguyện cho tôi cũng như cho chính họ vậy, bao trái tim như một là đây! Thẩy lần thứ nhất, tôi đứng yên, kéo lên. Lần thứ hai, tôi cũng chưa dám động chân, lại kéo lên. Hạ thủ bất huờn, nhất chín nhì bù, chụp hụp nát thây, mấy thứ đó làm tinh thần tôi nao núng, chưa đạt được... nhất tâm bất loạn... những tạp niệm sợ chết làm tôi phân tâm. Bây giờ ngưng niệm, mắt tập trung vào tay người thẩy, khi dây quăng là chúi liền như khi ôm bà già và ôm cô gái trẻ, canh lên, hô buông rồi ôm nhảy, giản dị thế thôi. Thẩy lần thứ ba, dây xuống nước là tôi chúi chụp liền, trong chớp nhoáng là tắp vô lườn ghe và được kéo tới thành ghe. Người hai ghe vỗ tay như phe mình tung lưới địch. Tôi chạy ngay vô phòng lái, sát khí còn sặc mùi, máu đỏ chưa khô, anh Ba bất tỉnh nhân sự, đang nằm trên băng dài bên phải gần cửa, miệng há hốc, bong bóng máu nơi ngực phập phòng vỡ ra theo từng hơi thở thoi thóp. Nhưng tôi bấn loạn tinh thần không phải cảnh chết chóc đó mà khi ôm vô lăng quay thấy nó nhẹ bỏng, quay bao nhiêu vòng không cảm thấy gì, mũi ghe vẫn trơ trơ, không rẻ trái, không quay phải, chứng tỏ không ăn lái. Lời của người báo cáo ban đầu tụi nó phá hoại hệ thống lái ám ảnh trong đầu, nếu đúng vậy là tàn đời ngõ... rộng! Miệng liên tục nam Mô Đại Từ Đại Bi... không phải để xin Bồ Tát cứu độ, mà để bớt sợ, bớt run, đứng vửng đôi chân, đối diện sự thật phủ phàng, khắc nghiệt này mà thôi. Còn chuyện hoá giải nó hoàn toàn mù tịt như người mù mò lối đi mà thiếu cây gậy dò đường Đẩy cần ga cho nó chạy nhanh, thì nó lồng lộng như thuyền không lái, ngả nghiêng theo sóng như tay mơ lái tàu, như cỡi ngựa hoang, bò rừng. Nó lái mình chớ không phải mình lái nó. Đành kéo lại point mort cho nó rề rề như trước tránh nó đảo điên lủi sóng hoang dại trước những làn sóng dữ. Thuyền không lái như gái không chồng. Tôi không biết gái không chồng thế nào, nhưng lúc đó hiểu thuyền không lái hơn bao giờ hết. Như lái xe lửa trên đường... lộ! Đã vậy máy truyền tin bật lên tối đa, tuy không hiểu gì nhưng cảm thấy như đang trong phòng hành quân lúc đụng trận, tranh nhau nói, gọi nhau liên tục không ngơi. Cái combine, ống liên hợp để gọi nhau dính đầy máu chứng tỏ thằng Thuyền Trưởng đã lên máy báo động lâm nguy, cầu cứu tiếp viện cho tổng đài của chúng. Tôi chỉ muốn độn thổ, chui xuống lỗ nẻ trốn tránh cảnh này, khủng hoảng tột độ, từ trong ra ngoài, mặc dù trong đầu không lúc nào ngưng nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Độ nạn Quan Thế Âm Bồ Tát nhưng không tài nào trốn tránh được sợ hãi... Vô Úy! Tôi ra lệnh: tắt máy truyền tin đi, nghe làm gì, chỉ làm bấn lọan tinh thần. Để chạy rề rề như từ lúc chiếm nó tới giờ chỉ lình bình không đi tới đâu nên tôi mò tiếp, nhấn ga, rồi quay bánh lái, có lúc cảm thấy nó ăn lái. nhưng lúc đó vô lăng nặng vô cùng, đem hết sức lực bình sinh giữ nó ở vị thế đó cũng không kèm nổi đành buông ra cho nó quay ào ào như chong chóng. Ghe lại ngã nghiêng như thuyền không lái, lạng qua lại tự do trên biển. Tim tôi như vỡ tan! Khi nó rề rề trở lại, lại nhấn ga, quay bánh lái chờ nó ăn lái thì hô hào Bình và người chung quanh vô ghì phụ hai bên. Bên kéo, bên đẩy, tôi ở giữa, lấy hai tay gồng giữ bên nặng, nhưng chịu không nổi đành buông. Bánh lái quay ào ào không thấy mấy cần quay nước mía luôn. Ghe lại như ngưạ hoang, bò rừng, lồng lộng. Khách ngồi đầy sàn tàu phía trước ôm đầu, ôm ngực, sầu khổ. Mũi ghe lủi sóng, đâm nhào vào sóng, nước biển bay bắn tung toé lên cao rơi xuống như mưa. Đầu óc quay cuồng theo sóng gió đại dương, nước trời bao la trước mặt. Đợi ghe bình thường trở lại, thử thêm cú nữa, tuyển lựa trai tráng khoẻ trẻ hai bên, phụ thêm cây dài thọc gậy bánh xe nước mía. Nhấn ga, cảm thấy vô lăng ăn lái là tôi báo động liền. Bên kéo, bên đẩy, tìm thế thọc gậy bánh xe nước mía, còn tôi ở giữa đứng tấn, chân chùng xuống thấp để có thế hơn. Ra sức ghì, ôm lái cố giữ nó đứng yên, nguyên thân người muốn quay theo bánh lái,


Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 - 131 đầu gục vào nó như quỳ lạy van xin. Khi ngước lên lấy hơi để thêm sức thì bất ngờ thấy... hai sợi dây thòng lọng lơ lửng trên trần... mắt sáng lên liền! Như bật được công tắt thắp sáng căn phòng, như thấy được phép lạ, như thấy được cứu độ của Bồ Tát Quan Thế Âm, như Archimedes hét lớn lên: tìm thấy rồi, tìm thấy rồi, chân lý của nước trào ra khi ngâm mình trong bồn tắm... ngộ liền!!! Vội vàng đứng lên làm một chuyện nhẹ và mỏng là đưa tay lấy một dây thòng lọng móc vào một tay cầm bánh xe nước mía là xong, hoá giải khổ nạn sinh tử... thuyền không lái... khoẻ re như bò kéo xe! Giải tán nhiệm sở vận chuyển ngay tức khắc. Tất cả thở phào nhẹ nhõm, tan hàng tự thắng, mừng như chết đi sống lại! Lấy tay nhấn cần ga, con tàu lướt sóng như ý mình, như cao bồi khuất phục được bò rừng, chế ngự được ngựa hoang, dễ dàng như cỡi ngựa, cỡi bò... nhà! Bây giờ muốn đi hướng nào chỉ từ từ chuyển dây thòng lọng, quay bánh xe nước mía đến khi lấy được hướng trên la bàn mình muốn đi thì thôi. Khách phía dưới cũng lên tinh thần. Lẽ ra Bình phải biết chuyện này trước tôi. Con tin, nằm vùng, nội tuyến một đêm trên ghe địch, chỉ cần tinh ý liếc sơ vô phòng lái là biết liền. Vì hai sợi dây này giúp Thuyền Trưởng ngồi lái mà không cần ôm vô lăng thường xuyên như những ghe tầu bình thường, nó như hệ thống lái tự động trên xe hay máy bay vậy. Khi bị làm con tin trong vụ cướp đầu tiên, tôi ngồi xa la bàn, nhưng liếc mắt đưa tình lên mặt la bàn địa mấy chữ N, S, E, W trên đó khi thằng TT nhìn chỗ khác là biết nó không chở mình đến Songkhla liền. Nhưng nói vậy cũng oan cho Bình vì Bình đâu phải là một HQ Trung Úy của HQVNCH, có mấy năm Hải Vụ, kinh nghiệm biển khơi cùng mình nên mới có mắt thịt tinh thông như mắt thần vậy. Bốc thơm lính biển một phút cho lên tinh thần chớ đời nào dám tự cao tự đại ngủ quên trên chiến thắng. Đây chỉ là trái tung lưới đầu tiên chớ không phải chiến thắng cuối cùng, mãn trận đấu, trọng tài thổi còi tan cuộc. Và đây là một chiến thắng hi hửu, chó ngáp phải ruồi vì thằng Thuyền Trưởng quá tham và quá ngu si so với thằng TT trước. Thường là chúng đi chung thành nhóm ít lắm phải hai hay ba chiếc với nhau. Như chuyến cướp trước, một chiếc cướp thì tôi thấy mấy chiếc khác quanh đó trong tầm mắt. Chuyến này trong đêm tôi thấy tới mấy chấm sáng chớ không phải một, chứng tỏ cũng có vài chiếc khác đánh cá kế bên. Vì muốn một mình một chợ, không muốn chia chác với ai nên nó kéo ghe bầu từ đêm tới sáng. Theo dõi la bàn tôi thấy hướng 090 độ, nghĩa là ra khơi, thật xa với lúc ban đầu, về hướng Đông. Đã vậy còn tính sai lầm, ghe bầu nhỏ con mà cái bụng chửa của nó quá lớn, đẻ trên trăm chớ không phải mấy chục. Người như bất tận, đẻ hoài không hết, ngồi đầy sàn trước mà bụng nó vẫn còn người. Chưa hết, cái ngu nhất là cho hai con cá đá nhau ngoài biển động làm ghe bầu bể nát thành tầu há mồm thì làm sao lướt sóng nữa được. Bắt họ về ghe cũ là đưa họ vào chỗ chết, dồn họ vào bước đường cùng, tức nước vỡ bờ. nên khi thấy tôi bị tống về ghe cũ và tôi tháo dây tách ra không cho nó đẩy người vào chỗ chết nữa thì chuyện vùng lên sống chết với chúng là chuyện đương nhiên. Lúc đó chúng kêu cầu cứu đồng bọn đến tiếp cứu thì quá muộn màng. Chớ nó chờ sáng và cướp tại chỗ như ghe trước thì đâu ai dám vùng lên, vùng lên là tự sát tập thể, ai dám làm! Và cũng chính nhờ lòng tham mà trước mũi loại trừ một thằng Thái Lan ra khỏi vòng chiến mà không tốn hao một mạng người nào, theo chiến thuật hi sinh, một đổi một tối thiểu của tay không chống lại dao. Theo lời kể của Đức, cựu Thiếu Úy Thám Báo TQLC, sau khi biết ác ý của bọn cướp là sẽ đuổi tất cả về ghe cũ, và thấy tàu há mồm nghiêng về một bên, hư hại nặng như cá bông lau bị lựu đạn hơi MK 3, ngửa bụng nổi trên mặt nước, miệng há hốc ngáp ngáp chờ chết thì dứt khoát tư tưởng không trở về. Còn chuyện ra tay hành động phải chờ cơ hội. Trong khi đàn bà con gái quanh đó kêu gào: - Các anh ơi, về ghe đó là chết hết, các anh phải làm cái gì đi chớ, rồi chúng nó sẽ tống mình xuống biển, chẳng lẽ các anh khoanh tay chịu chết như thế này à. Đức đáp lời liền: - Vậy đàn bà, con gái, con nít giả vờ sợ chết ra khóc la quỳ lạy, bu bám, cầm chân thằng qủy sống này, đánh lạc hướng nó để đàn ông con trai chúng tôi chờ chỗ sơ hở mới ra tay. Chớ nó to con, khoẻ mạnh hơn tụi tui mà lại có dao nữa, đứng lên là bị ăn dao liền, chết uổng mạng. Thử làm như vậy, các chị dương Đông, tụi tui mới họa may kích Tây được... Thì... Trời xui đất khiến... khiến thằng Thái Lan lại phát hiện một vòng ngoc quý trên tay của một bà lớn tuổi, nghe nói vòng ngọc này trị gía trên mười cây vàng. Đó chính là bà già tôi ôm nhảy qua từ ghe bầu sang ghe Thái trên đống lưới. Vòng ngọc này thoát cặp mắt của tụi cướp trước và mới đây nhờ tay áo dài che phủ. Vậy mà giờ đây nó lòi ra lọt vào mắt tham của thằng cướp


132 - Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 biển này mới là mầu nhiệm, ngoài sự mơ ước của tất cả những người quanh đó. Thấy vòng ngọc là nó chĩa dao quát tháo bà già tháo ra đưa cho nó. May mắn thay bà già tháo hoài nhưng không ra bèn sợ hải đưa nguyên cánh tay về hướng nó cho nó tháo dùm. Một tay cầm dao, tay kia kéo, dằn co mãi mà vòng ngọc không chịu đổi chủ. Chạm tay vào ngọc, biết ngọc quý, thằng con từ Tham nhẩy qua Si mê luôn, chỉ thấy vòng ngọc chớ không thấy gì khác. Bèn cắm dao xuống lưới để rảnh hai tay kéo vòng ngọc cho có thế hơn. Một dịp bằng vàng, cơ hội tuyệt vời đã đến. Trong lúc chổng mông lo kéo vòng ngọc khỏi tay chủ nó thì Đức từ xa lao tới lấy vai húc vào mông nó làm nó chúi nhủi về phía trước, dao sẳn dưới lưới rút ra nhào tới... dao mày đâm lưng mày... không ngơi. Bà con chung quanh, đàn ông, đàn bà, con gái, con nít, mỗi người một tay có gì chơi nấy, tại chỗ thì có cây đan lưới đầu nhọn, còn tay không thì nắm tóc, ôm chân, béo tai, cào cấu, ngắc véo, bóp dái hay tệ lắm cũng la hét cướp tinh thần nó! Thằng con mất dao như cua mất càng, bị đánh hội đồng, đưa lưng ra chịu, bò lê ra thành ghe tránh đòn và bị hất xuống biển mà không đánh đấm được cú nào nào trả đũa lại. Riêng Đức đâm say mê đến nổi tay mình cảm thấy đau khi đâm nó. Nhìn lại chỉ thấy cán dao còn lưởi dao cong vòng cuốn theo tay và cắt tay mình. Cái thớt quá cứng, dao đâm mạnh còn cong vòng, chứng tỏ nó khoẻ mạnh, cường tráng cỡ nào. Tưởng hết, nào dè thằng cướp đó lại xuất hiện nơi mũi, leo lên từ dây neo. Sẳn đứng nơi cột cao có sợi dây dài thòng xuống, là dây cần trục kéo cá lên xuống hầm. Đức nắm dây lấy trớn và đu như Tarzan bay tới búng đôi chân ngay ngực làm nó văng lại xuống biển. Lần này nhìn theo thấy chìm luôn mới an tâm là nó... sẽ không sống lại! Tuyệt vời, loại được một địch thủ lợi hại như thế mà tốn vài giọt máu đứt tay của Thiếu Úy Thám Báo TQLC thì quá rẻ, chắc cũng nhờ phép mầu của Vòng ngọc Lên Nước. Trận chiến coi như khai hoả từ đây, lan tràn khắp ghe thật khí thế. Mặt trận ở mũi nhờ phép mầu vòng ngọc, và ưu thế bất ngờ, ra tay trước nên thắng lợi nhanh chóng ngoài sức tưởng tượng. Mặt trận ở giữa, gần phòng lái, khó khăn và nguy hiểm hơn nhiều, địch đã ngưng cướp đi vào thế thủ, tập trung bên cánh phải, nương tựa, hổ tương nhau ven thành ghe chớ không dám đứng ở giữa, tứ bề thọ địch, khó phòng thủ, không sợ bị tấn công sau lưng. Có lợi thế một người xông tới tấn công không phải ăn một dao mà mấy dao cùng một lúc. Nhưng không vì vậy mà mặt trận này kéo dài lâu được, bị diệt nhanh chóng ngay trong đợt tấn công đầu. Đó là đòn tấn công cũng có yếu tố bất ngờ, địch không nghĩ tới khi tập trung lực lượng ven thành ghe, nhưng rất bi thảm, ai chứng kiến cũng đều tan nát lòng, khâm phục. Không tuyển lựa, không chỉ định, họ tự nguyện, không nói với ai, chỉ nghĩ trong đầu, đến lúc hành xong mới biết. Âm thầm một mình nhào tới với hết sức lực bình sinh sáng suốt chớ không cuồng tín, mù quáng, cho nó đâm bao nhiêu lát không cần biết nhưng ôm chặt lấy nó và nhào xuống biển. Hi sinh vì đại nghĩa, cái chết thật bi hùng, anh dũng! Tự sát để cứu người! ngay trong đợt đầu đã loại khỏi vòng chiến hai thằng hải tặc ác ôn côn đồ. Tỷ là một trong hai thanh niên đó, nó lội giỏi, bị thương nặng mà cũng lội gần đến ghe bầu mới đưa tay chào vĩnh biệt. Còn thanh niên vô danh kia, trái ngược lại với Tỷ, không biết bơi cũng tự nguyện xung phong vô đội Kamikaze, nhưng cũng làm tròn nhiệm vụ một cách tuyệt vời, lao xuống biển với thằng Thái Lan ôm chặt trong vòng tay như phi cơ Thần Phong đâm vào đài chỉ huy của chiến hạm địch. Những lát dao của những thằng Thái vào lưng anh đều thừa thải, vì một khi ôm chặt thằng quỷ sống đó nhảy được xuống biển là anh biết chắc một trăm phần trăm là mình chết chìm rồi, khỏi cần đâm cho tốn công... tạo nghiệp! Anh Ba không trong đội tự sát Kamikaze nhưng nhờ hai phi vụ Thần Phong bất ngờ yểm trợ, anh đã anh dũng chỉ huy đàn em đánh sáp lá cà và hất hai thằng còn lại xuống biển nhưng xui xẻo thay bị thằng Thuyền Trưởng trong phòng lái chạy ra đâm một lát dao sau lưng thấu qua trước ngực, ngã gục trên ghe trước khi mình toàn thắng. Sơn đen, một thanh niên nhiệt huyết kể lại cho tôi: - Thằng Thuyền Trưởng là thằng cuối cùng ở lại trên ghe, nó biết đời tàn của nó rồi mà không tự xử nhảy xuống biển bơi như các đệ tử mình. Nó chính là thủ phạm gây ra thảm họa này. Bị tấn công, nó bỏ chạy leo lên mui ghe, tay chỉ một hướng nào đó rồi hét lớn: - Singapore, Singapore, Singapore! - ngụ ý tao sẽ chở chúng mày đến Singapore như đã nói đêm qua! nhưng rất cả những người tập trung dưới sàn trước không ai bảo ai đưa tay chỉ về hướng nó đồng thanh hét lớn: - Giết nó, giết nó, giết nó! Ai cũng thấy chính nó trong phòng lái xông ra đâm sau lưng anh Ba. Sơn nói:


Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 - 133 - Lúc đó em thấy một trái cầu bằng nilon, rời ra không dính vào lưới, là trái cột vào dây bìa của lưới để thấy khi thả lưới xuống biển, nó cứng nhưng vẫn nổi trên biển. Em cầm lên và gom hết sức chọi về hướng nó cầu may. Chó ngáp phải ruồi trái banh đó lại trúng màng tang nó, làm nó rơi xuống sàn. Khỏi nói một trận đòn dồn hết căm thù về nó, trong chốc lát bất động. Một người xốc áo khiêng nó trên vai và quăng xuống biển. Vậy mà một lát sau nó lội về ghe và bám vào thành tàu. Cây sắt đập nát bàn tay này, buông ra thì bàn tay kia bám tiếp, đập nát luôn mới chịu buông, thế mà xuống biển lại lội bám tiếp. Sau cùng chĩa ba xúc cá, chĩa vào mặt thằng con mới chịu từ giã cỏi đời. Sự sống quý là thế, nó cố bám đến khi không còn bám được nữa mới chịu buông. Thế mà nó coi mạng sống của trên một trăm năm mươi người chúng tôi như cỏ rác, chưa kể đồng bọn nó. Tôi là người cũng có ít lòng Nhân, thấy con chó bị giết dã man cũng đau lòng, thế mà nghe kể cái chết thảm thương của thằng Thuyền Trưởng, tôi chỉ thấy nhân Quả chớ không có nhân Đạo! Vô phòng lái thấy hình của nó chụp chung với vợ đẹp con xinh rất là hạnh phúc, tâm tôi dửng dưng... gieo nhân nào, gặt quả nấy... thế thôi! Lúc mới qua, cách đây trên hai chục năm, anh chị Lê Quang Trúc có ghé London thăm gia đình tôi, đi cùng với một gia đình người bạn, em của một OC nào đó, tôi không nhớ tên, bằng xe nhà từ Germany qua. Tối đến bên bàn nhậu bia Đức, người bạn đi cùng có tâm sự giống Hitler: - Đôi lúc thấy giết người cũng là một nhu cầu thiết yếu. Liền bị chị Trúc có nhiều lòng bác ái hỏi cho ra lẽ... làm sao giết người mà lại là một nhu cầu như thế, không hiểu nổi và không thông cảm nổi? Người kia không trả lời được cụ thể nhưng vẫn cho lập trường mình không sai. Hai bên qua lại không tới đâu tôi mới kể câu chuyện vượt biên của tôi ngoài biển khơi lúc nghêu ngao... này em có nhớ: Chúa đã bỏ loài người, Phật đã bỏ loài người... rồi kể lại cái ao ước, thèm khát lúc ấy: Có khẩu Rouleau thì tuyệt vời, sẽ lên đạn đứng lên chĩa thẳng về hướng thằng hải tặc Thái đang quơ dao hò hét dưới ánh mặt trời, khôn hồn nhảy xuống biển thì không bóp cò. Không phải vì thương tình mà vì sợ hao đạn, để dành để bắn thằng khác. Chần chờ không chịu nhảy xuống biển là bóp cò liền, cứ thế cho đến khi không còn thằng nào trên ghe mới thôi. Hay ít lắm có võ nghệ cao cường như Lý Tiểu Long đánh côn nhị khúc, đập vỡ sọ những thằng vô nhân, giết nó như giết thú dữ, rắn độc. Lúc đó mình mới thấy cái cần thiết của giết người, chỉ là trừ gian diệt bạo giúp đời thế thôi. Thêm chuyện vui bên lề chiến thắng này nữa thấy cũng ngồ ngộ hay hay là... chuyện ghe Thái đổi ngôi khác Sài Gòn đổi chủ ở chỗ là... Sài Gòn chỉ thay Thế Quyền, còn Thần Quyền vẫn như cũ! Còn ghe Thái thì thay toàn bộ, Thuyền Trưởng Việt nơi bánh lái, thì Phật Việt phải ở trên bàn thờ cao, không chấp nhận Phật Thái trên đó. Bởi vậy Phật tượng Thái trông thật đẹp, quý giá, từ bi, uy nghi, xứng đáng an vị trên đó cho trang nghiêm bàn thờ lại bị hạ bệ và quăng xuống biển, thay thế bằng Phật vải Việt bèo nhèo, nhăn nhúm. Phật gỗ Thái còn sợ, nói gì Hải Tặc Thái, sợ cùng mình cũng phải! Chỉ khi nào không còn ở trên ghe Thái Lan này nữa thì cái sợ đó mới tan biến! Xem phim Trân Châu Cảng của Nhật quay, tài tử Nhật đóng, khi các Sĩ Quan trẻ của đội Thần Phong bay về ca khúc khải hoàn ôm nhau mừng rở trên sàn đáp của Hàng Không Mẩu Hạm thì mấy Đô Đốc nhật già nua lại nhìn nhau buồn ưu tư. Họ có cái nhìn xâu xa hơn, đất nước sẽ phải trả một gía thật đắc cho chiến thắng này. Không sai, sau đó dân Nhật nhận hai trái bom nguyên tử xuống Hiroshima và nagasaki. Tôi cũng có tâm trạng đó trong lúc này. Đứng trong phòng lái ghe Thái rộng rãi tiện nghi hơn nhiều so với ghe bầu nhưng tâm thần bất an hơn lúc nào hết, như sống trong dầu sôi lửa bỏng, như cầm một trái lựu đạn rút chốt mà không có chỗ nào quăng. Rời cái ghe Thái này mới thấy được sự sống cũng như quăng được trái lựu đạn rút chốt trên tay vậy. Ở lúc nào, khổ lúc đó, ở ngày nào, khổ ngày đó mà thôi. Chiếm được ghe Thái mới thoát chết chìm, còn lấy nó để tìm sự sống thì châm hơn trên ghe bầu nhiều. Con đường máu và nước mắt đang chờ trước mặt và chỉ mới bắt đầu mà thôi. Đây là chiến thắng đầu tiên sau chiến bại 30/04/75 tan nát đời... Thủy Thủ và Biển Cả! nhưng chỉ là chiến thắng nửa vời, chưa trọn vẹn nên vui trong lòng chưa nổi như mấy Đô Đốc nhật già là vậy! Công trình năm ngày năm đêm trên ghe bầu trốn chạy Việt Cộng tan theo mây khói khi sắp gần đến nơi, như dã tràng xe cát biển đông, nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì. Bây giờ cốt Khỉ lại hoàn cốt Không. Bắt đầu lại từ đầu, đi vào một phiêu lưu mới, một cuộc trốn chạy mới!


134 - Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 Làm...fugitive... kẻ đào tẩu trên biển chớ không phải trên bộ! Kẻ thù kỳ này nguy hiểm hơn nhiều vì với Việt Cộng thì còn có thể... Hàng Sống Chống Chết... còn kẻ thù mới này thì ngược lại... Hàng Chết Chống Sống... khắc nghiệt, tắm máu là bắt buộc khi gặp lại chúng. Nhưng đó là chuyện về sau, bây giờ phải trở về sát na hiện tại ngổn ngang gò đống kéo lên như một trái núi này. Chuyện trước mắt là phải chạy đến ghe bầu để bốc người còn lại bên đó. Ghe Thái không ngừng lại được, không khó khăn gì. Tôi dặn người bên mình đứng trước mũi sẳn sàng sợi dây, tôi sẽ lái ghe Thái từ sau tới, khi sát bên thì quăng qua ghe bầu, người bên đó chụp và cột là xong. Hoàn tất việc chuyển người giữa hai ghe, Quân vừa từ ghe bầu qua hớt ha hớt hải chạy vào phòng lái nói với tôi như muốn khóc: - Tụi nó tính thanh toán tao! Trong phòng lái tôi thấy một người tay cầm dao nhào tới nguyên con như bay trên sàn, toàn thân nằm ngang, đôi chân duỗi thẳng hổng mặt đất, lưởi dao như mũi tên đi trước lao về một người. Không ngờ người ấy là Quân và người bay đó chính là người tôi đòi quăng xuống biển và nắm cổ đòi chặt đầu, một tay anh chị ngoài đời, một lính thứ dữ đào ngủ, tay xâm... Sát Cộng! Tất cả những vụ đánh lộn thanh toán đều có tay này dính vào. Thấy bạn mà nghĩ tới mình, Quân chỉ là người thừa hành của tôi mà cũng dính ân oán giang hồ nói gì tôi. Khi ra lệnh quăng tụi nó xuống biển, không phải quăng một người, mà là hai người. Chặt đầu nó, không phải chặt một, mà là chặt hai. Đụng chạm không phải hai người mà là hai nhóm. Bởi vậy nắm cổ đòi chặt đầu người này mà vợ người kia nhào lên phòng lái đòi ăn thua đủ. Chưa nói một mình đương đầu với nhiều mình trong hội nghị Cầu Tiêu... tiêu tan hy vọng, tự sát! Ngay từ khi mới ra cửa biển đã gây thù chuốc oán với biết bao người. Không phải sợ, nhưng muốn yên tâm đối phó với việc khủng khiếp hơn nữa tôi mới kêu Triệu Minh và Bình giải quyết vụ này. Tôi nói với họ: - Quân là bạn lính cũng là cánh tay trái của tôi trong chuyến đi này, đụng tới nó là phải bước qua xác chết của tôi. Máu đổ chưa khô còn nằm đây và còn đổ nữa chưa hết đâu. Các anh nói với người của anh phải chấm dứt ngay chuyện này. Ân oán giang hồ bây giờ dẹp qua một bên, chờ tới đảo hay lên bờ tính sau, tụi tui không sợ đâu, chơi cỡ nào cũng chơi được nhưng không phải lúc này. Bây giờ phải để dành máu để đối phó với kẻ thù độc ác nhất trên biển khơi này, còn nguy hiểm hơn sóng gió đại dương nữa. Việc làm vừa qua là không thể nào chấp nhận được, nó không phải vì đại nghĩa mà vì tư thù. Chúng tôi còn nhiều việc phải làm nhưng chuyện hoà giải nội bộ này tối quan trọng, là sự sống còn của cả ghe, hai anh lo dàn xếp dùm tôi để tôi lo chuyện khác. Triệu Minh và Bình hứa với tôi sẽ không có chuyện này xảy ra nữa và nói tôi yên tâm làm việc khác đi. Chỉ Quân, truyền lại kinh nghiệm lái ghe Thái xong, tôi đem hải đồ ra sân giữa tính chuyện... đi đâu? Lần này cũng bày đặt đem chuyện... Dân Chủ... trong bờ ra khơi làm việc chớ không thèm... Magister Posdium, Master Under God nữa. Chọn và mời những người có vẻ sốt sắng với vận mệnh ghe. Nói với họ: Nhiều người góp ý vẫn hay hơn một người. Họ cũng nhiệt tình tham gia. Tôi trải hải đồ của Thái Lan ngồi giữa phân tích. Họ đứng ngồi chung quanh chú ý nghe: - Bây giờ là mình không đi được Thái Lan, Mã Lai và Singapore được rồi vì tụi nó khắp nơi. Đi Hồng Kông thì khỏi lo gặp Thái nhưng quá xa. Vừa phân tích tới đây thì một người lớn tuổi nói với tôi: - Đây là chuyện chuyên môn của anh, tôi không biết gì, và không phải là chuyện để bàn cãi, tôi xin rút lui để anh rảnh tay làm việc, những người khác tôi không có ý kiến. Nói xong, ông bỏ đi. Nhưng khi ông đi rồi thì những người khác cũng đồng tình rút lui có trật tự, để mình tôi trầm ngâm với cái hải đồ. Người lớn tuổi đó nói không biết gì nhưng tôi thấy ông ta sáng suốt vô cùng, biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe... mới là biết thật sự! Bây giờ trở đi chắc không còn ai thọc gậy bánh xe nữa đâu, Master Under God trở lại! Trong tíc tắc tôi quyết định đi Indonesia liền. Cái hải đồ của nó chỉ có một phần rất nhỏ là Indonesia và tôi thấy có quẹt một dấu nhân bằng viết chì trên đó, chắc có lẽ nó cũng... tới đây! Đo độ thì hướng 150 độ. Vào phòng lái tính trực chỉ hướng 150 độ thì trên mui có người nói lớn: - Thấy một chấm đen ở chân trời xa. Tôi nói với Quân nói với người thấy đó ra ngay trước mũi chỉ tay về hướng chấm đen đó làm... look out... dợt... Man Overboard! Nhiều người phản đối: - Bây giờ, bất kỳ chấm đen nào còn thấy trên biển chỉ là Hải Tặc Thái Lan mà thôi, người của mình không cách gì tồn tại lâu như thế. Coi chừng mất thời gian tính.


Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 - 135 - Nhưng tôi vẫn để ngoài tai, nghĩ trong đầu không nói ra, lái tới nơi, nếu là Thái Lan muốn giết thì chạy tới và quay bánh lái qua một bên cho chân vịt chém nó là xong. Không giết thì bỏ đi nó cũng chết, còn lỡ là người mình thì sao? Chỉ tốn thêm vài phút có khi cứu một người... nên hành xử quyền... Master Under God... xem sao? Ở OCS, hôm thực tập Man Overboard thì thời tiết quá xấu, mưa bão nên hủy bỏ, cancel. Thay vào đó cho coi phim. Man Overboard là cái phao quăng xuống biển, tôi chỉ còn nhớ điều quan trọng nhất khi nghe Man Overboard là cho người ra đứng trước mũi làm lookout. Bây giờ mới thấy điều ấy quan trọng thiệt, trong phòng lái tôi chỉ lái theo dấu chỉ tay cho đến khi chấm đen hiện trong tầm mắt thì người trên ghe reo mừng la lớn: - Dũng Tài Công, Dũng Tài Công, người của mình, không phải Thái Lan! Lên tinh thần, nhìn lên cột cao xem gió thổi sợi dây trên đó bay về phía nào để biết hướng sóng gió rồi kéo cần ga ở chỗ thẳng đứng, point mort, cho ghe ngừng dưới sóng, dưới gió, cách người dưới biển hai con sóng. Thằng con chỉ còn ráng bơi hai con sóng là tới Thiên Đường Dưới Đất chớ không phải Thiên Đường Trên Trời! Lội cả tiếng đồng hồ dưới biển không sao vừa được kéo lên ghe thoát chết chìm thì chết giấc ngay lập tức như đóng kịch giả vờ ngất xỉu! Mầu nhiệm là thế, bất khả tư nghì, không thể nghĩ bàn là đây! Khiêng vô phòng lái mê man bất tỉnh mấy tiếng đồng hồ sau mới thức dậy... kể xưa kia coi... hồ bơi An Đông Chợ Lớn nên mới tồn tại trên biển lâu như thế! Phải nói miễn chầu Long Vương của Dũng Tài Công ngoài biển mầu nhiệm hơn miễn chầu Hà Bá của người đàn bà bước hụt chân giữa hai ghe trong sông một bực vì ngoài biển đòi hỏi hai H... vừa Hay là lội giỏi và vừa Hên là có người phát hiện. Còn người trong sông chỉ cần một H là Hên... rơi đúng vào vòng tay tôi là đủ rồi! Rất tiếc sau đó tôi không hỏi vì sao lại rơi xuống biển, và rơi lúc nào! Ghe chính thức lên đường từ đây, tốc độ không thua gì PCF, đầm và êm hơn, lướt sóng hết sẩy. Khá lâu sau thì người ngồi canh người bị thương la lớn: - Anh Ba chết rồi! Anh ra đi, lìa đời, có hai thằng con trai nhỏ, trên dưới mười tuổi bên cạnh. Nghĩa tử nghĩa tận, đang lái nhưng tôi cũng quay về hướng anh nằm chào tay, theo lối nhà binh. Bao nhiêu bất hoà với anh đều tan biến hết. Xem anh là một anh hùng, ân nhân của chúng tôi. Cái chết của anh là sự sống của chúng tôi, chưa bao giờ tôi thấy cái chết vị tha, cao cả... mình vì mọi người... hiển hiện, thấy ngay trước mắt như một vật thể có thể sờ mó được chớ không phải chữ nghĩa bóng bẩy văn chương trên tờ điếu văn. Anh và hai người trẻ tuổi anh hùng kia chết để chúng tôi sống, không thể nào chối cải được. Và không bao giờ chúng tôi quên ơn được! Sau đó phải mang xác anh bỏ vào hầm nước đá! Gần như từ lúc lên ghe bầu ra đi tới giờ lúc nào tôi cũng sống với sát na hiện tại... đứng tim, điên đầu! Qua rồi quên liền, như đợt sóng bỏ lại sau lái, có lớp sóng khác tiếp theo và sóng sau độc hơn sóng trước nên không bao giờ có chuyện nghĩ suy sóng trước trôi về đâu. Chuyện anh Ba chìm trong quên lãng ngay tức khắc. Những cái mới sống động nối tiếp nhau liên tục xoá tan những biến cố khủng khiếp vừa xảy ra! Mới, mới và mới, đối phó mệt nghỉ luôn với cái mới không lúc nào ngừng! Chạy tìm Tự Do trần ai thiệt, nữ thần Tự Do đâu không thấy chỉ thấy chạy trốn... Thần Chết mà thôi! Hết Thần Chết Việt Cộng đến Thần Chết Thái Lan chưa nói Thần Chết Bão Tố! Thần nào cũng ghê gớm cả, không... Hàng Sống Chống Chết... cũng... Hàng Chết Chống Sống... tránh vỏ dưa, gặp vỏ dừa, đường nào cũng máu và nước mắt cả! Đến tối thì anh Diễm, cựu SQ Truyền Tin và Cường, thợ điện tử cũng mò và bật được radar, báo tôi biết, tôi coi thì thấy đường tin không nằm đúng chỗ và nói hai anh chỉnh cho nó nằm trên đường 000 độ là hướng của mũi tàu. Sát na mới... đứng tim... lại đến với tôi! Thế là tôi lại có một... suốt đêm không ngủ bên cái... mắt thần... mới có! Nhìn vào radar thấy một echo rất nhỏ ở xa. Rồi nó thu ngắn cách biệt và lớn dần. Ra ngoài nhìn về phía sau bằng mắt thịt chỉ thấy khối đen khổng lồ, màn đêm đen kịt, không thấy gì. Vô nhìn lại mắt thần thì khoảng cách càng gần và echo càng to hơn nữa. Chạy một thời gian dài thấy khoảng cách không tăng không giảm chứng tỏ nó đang bám theo mình. Tăng tốc độ bỏ nó một đoạn dài thì một lúc sau nó thu ngắn cách biệt lại. Muốn chắc ăn trắc nghiệm một lần nữa đổi hướng 0 độ đi lên hướng Bắc và tăng tốc độ. Chỉ một lát sau là nó lại bám theo. Biết chắc là nó rồi chớ không ai khác bèn trở lại hướng 150 độ và giảm tốc độ tối đa chạy rề rề cho nó qua mặt. Thằng con buộc lòng phải lộ diện chạy song song, bên phòng lái này thấy được đèn điện tử máy truyền tin và


136 - Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 radar phòng lái bên kia và hình thù của nó... quá quen thuộc. Tôi trấn an mấy người chung quanh: - Hai thằng ngang cơ nhau, đụng nhau là chết hết, nó không dám lạng trước mũi ép dừng lại cho mình tránh sóng như ghe bầu. Với mình lợi thế này nữa là mình đang tiến về Indonesia, xâm nhập hải phận một nước bất hợp pháp sẽ bị Hải Quân nước đó chận bắt, đó là điều mơ ước của mình. Nhưng đó chỉ là những điều hiểu biết trên lý thuyết, còn trên thực tế thế nào đến nơi mới rõ! Thấy đảo trước mặt, không phải một đảo mà là quần đảo Nam Dương mới đúng, vậy mà thằng con vẫn bám sau lưng không sợ Hải Quân Indonesia chận bắt, tịch thu ghe mới lạ, mỗi nước một khác, suy Ta ra người cũng sai! Ở đây không có chuyện... Việt Vị... như bị ghe Việt Cộng đuổi ở ngoài cửa Vũng Tàu! Cùng lúc đó có những echo khác trước mũi, tôi liền lái theo lối chận đầu, hi vọng nó sẽ dừng lại vớt mình. Nhưng khi còn khá xa là nó hụ còi Hù Hù hay Ù Ù nghe văng vẵng rất nhỏ và đổi hướng khác, tăng tốc độ, chỉ trong thời gian ngắn là echo đó cách xa mình liền. Hết echo này đến echo khác, cứ thế lọt vào mê hồn trận rượt đuổi tàu buôn trong mắt thần. Rất tiếc anh Ba không còn nữa, nếu không anh sẽ thấy những lời tôi nói với anh không sai, dễ dầu gì nó dừng lại cứu mình khi mình có khả năng chạy chận đầu nó! Làm như các tàu sắt này liên lac vô tuyến báo nhau biết, tôi thấy những echo đều chuyển hướng từ xa, nhìn hình thù của nó trên mặt radar là biết liền. Ngày đã tới nhưng không thấy mặt trời lên, mây dầy đặc, trời mù mờ không phân biệt được sáng sớm tinh mơ hay chiều tối, bình minh hoàng hôn lẫn lộn! Có lúc bằng mắt thịt cũng thấy chạy qua một chiếc ca nô màu trắng đang thả neo. Từ bỏ chuyện chạy tới tàu buôn nhờ cứu vớt, nhắm một đảo to nhất, gần nhất lủi vào, chỉ còn cách vài trăm mét thì ghe chết máy! Quăng neo xong chưa kịp tìm hiểu vì sao ghe lại chết máy, dưới hầm máy chỉ biết bấm nút đề cho máy khởi động lại. Thật sự thì ghe không có thợ máy, chỉ những người nhiệt huyết tự động vô hầm máy làm việc mà thôi. Đề mãi một hồi chỉ nghe cạch, cạch, mô tơ kéo máy không quay nổi vì hết bình... thì... ghe lạ xuất hiện, chạy vòng vòng quanh ghe, chữ viết bên hông trước mũi có hình thù như những con lăng quăng. Nhìn cờ trên ghe nó không biết là nước nào nhưng một người trên ghe mình nói có giữ một lá cờ của ghe mình chiếm đoạt được. Bèn đem ra nặn như nặn... bài cào! Hồi họp nín thở như làm cái đánh bài, chỉ mong nó khác! Từng màu nói ra theo thứ tự đều giống màu cờ phất phới trên cột cao ghe bên kia bèn kết luận hai ghe một nước. Chạy trời không khỏi nắng, trăm phần trăm ghe trước mặt là ghe Thái Lan! Mãi mê lo chuyện chận đầu tàu buôn cầu cứu xin vớt, quên hẳn đi chuyện echo chạy bám mình trong đêm. Tới khi vừa chết máy là nó xuất hiện liền! Không cần tuyên chiến cũng chiến liền! Bên này tự động hụ còi miệng hô hào huy động tất cả ra nhiệm sở tác chiến! Khổ thiệt, mới đụng độ nẩy lửa đổ máu hôm qua, chưa kịp dưỡng quân thì hôm nay ra quân đánh tiếp! Dế thật sự ê càng, chỉ còn gáy nồ! nhưng sẳn sàng tapi cuộc đời, đánh chơi chết thiệt, đàn bà con gái thì... giặc đến nhà đàn bà phải đánh... la hét, yểm trợ... đàn ông con trai tử chiến trong tinh thần... Hàng Chết Chống Sống! nhìn những thằng Thái Lan vạm vỡ, xâm mình, thằng đứng mũi lúc nào cũng sẵn sàng sợi dây nơi tay là tôi biết tính quăng qua kéo đi, liền báo động cho người trước mũi tuyệt đối không cho nó thẩy qua trụ cột dây và huy động người lấy chai không vô hầm máy châm đầy dầu, lấy vải làm tim, đốt làm bom lửa, ghe nó lại gần thì quăng qua. Người thì tập trung bên thành ghe, đàn ông thanh niên dao búa, vật nhọn trên tay, giơ cao sẵn sàng tử chiến, đàn bà con gái la hét yểm trợ tinh thần, truyền khí thế cho nhau. Thấy một anh sợ hải quá, ôm con nhỏ dựa lưng vào thành ghe khóc rống lên, nước mắt dàn dụa tôi đến bên hét theo: - Trời ơi, giờ phút này mà anh ngồi ôm con khóc như vậy là tự sát, là chết sớm, có khóc cũng ráng đứng lên đưa tay khóc để nâng tinh thần người khác, để tụi nó sợ tinh thần tử chiến muôn người như một của mình. Chỉ có đánh mới sống được, anh biết không, giao con cho vợ, đứng lên, không vũ khí cầm tay thì đưa nắm tay lên cũng được, la hét như những người khác khi ghe nó lại gần, góp gió thành bão! Ghe Thái không vừa gì, chạy vòng vòng, có lúc sát mũi, thằng trước mũi vẫn lăm le sợi dây. Đòn độc của chúng không phải nhảy qua đánh sáp lá cà mà quăng giây qua kéo đi. Vậy mà cũng có chai bom lửa quăng qua được ghe nó, tụi nó lượm lên quăng xuống biển. Cứ thế mà cầm cự, không cho tụi nó đến gần, ồn ào một khúc biển, át cả tiếng sóng rì rào chung quanh. Mỗi lần ghe nó đến gần thì tiếng hò hét, gào thét, tiếng dế gáy nồ lại lớn hơn, bên công bên thủ, bất phân thắng bại.


Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 - 137 Đang đánh bỗng nhiên cơn ngủ ào tới, không cách gì gượng nổi, đứng nữa sẽ tự động rớt như đêm khởi hành, mất khí thế. Đầu đàn mà như thế, lọt vào mắt địch không nên. Nghiệm lại không phải suốt đêm không ngủ mà trên một ngày không ngơi. Chịu không nổi, đang hăng say hò hét, chạy tới lui chỉ huy đánh nhau, tôi nói với Quân: - Mày điều động chỉ huy dùm tao, tao buồn ngủ quá, tao phải ngủ, - Nói xong là nằm xuống ngủ tại chỗ liền. Tai văng vẳng nghe: - Tài công đâu, tài công đâu. Bà già tôi ôm nhảy, ngồi kế bên trả lời dùm: - Tài công ngủ rồi. Anh ấy ngủ rồi. Cho anh ấy ngủ một chút! Tôi có thể chống lại Thái Lan nhưng không chống lại được... cơn ngủ! Lúc đó nếu bại trận, bị tàn sát, tắm máu chắc có lẽ tôi là thằng sung sướng nhất, vì chết mà không biết sợ hãi là gì! Khi thức dậy thì đêm xuống, tĩnh lặng, mọi người chìm vào giấc ngủ lúc nào không hay, trận chiến ngưng lúc nào không biết. Hướng mắt về phía lái, nhìn những ánh đèn pha đằng xa, di động, di chuyển hình như theo một trật tự nào đó với nhau. Chiếc có đèn pha thật sáng, thật cao, quét những làn ánh sáng dài trong đêm, hướng dẫn cho những làn ánh sáng đèn pha nhỏ hơn tiến tới, chớp tắt liên tục, hết chiếc này đến chiếc khác làm sáng rực, sôi động một góc biển... mà suy diễn một mình trong đầu... chiếc cao to là Soái Đĩnh đang điều động những Chiến Đỉnh khác vào đội hình hàng dọc, để sáng mai ra lệnh: tất cả bên phải quay là biến thành đội hình hàng ngang chĩa mũi thẳng tiến về hướng mình thì... tắm máu là cái chắc! Đến gần một nhóm thanh niên tụ tập khá đông sau lái nghe lén họ bàn đề với nhau: - Chắc chiếc hồi chiều gọi viện binh tụi nó đến rồi, chiếc có ánh sáng mạnh và sáng hơn hết là chiếc chỉ huy, những chiếc kia nhỏ hơn, đèn pha yếu hơn là dưới quyền, tụi nó đang tập họp để đến sáng tấn công tụi mình. Mà sao tụi nó kéo đến đông thiệt, nãy giờ mà thằng chỉ huy vẫn chớp tắt đèn pha nhận thêm quân. Chắc điệu này thì mình... chết hết! Họ nghĩ và bàn với nhau không khác gì những gì tôi đang nghĩ một mình trong đầu. Trí tưởng tượng và nhận định hai bên như nhau... thấy vậy sẽ vậy... có khác là tôi xài chữ Hải Quân Soái Đỉnh, Chiến Đỉnh, còn họ xài chữ Bộ Binh Chỉ Huy, Dưới Quyền nhưng kết cuộc sau cùng đều bi thảm như nhau. Tôi thì... tắm máu, họ thì... chết hết! Vậy mà tâm hồn tôi vẫn bình thản chai đá dù biết mai này không khá! Vì chỉ còn một đường binh là Chống Sống mà thôi, và tôi chỉ cần góp xương máu như những người khác chớ không đòi hỏi trách nhiệm chuyên môn tài cán tài công gì cả! Không nao núng, khủng hoảng, bấn loạn tinh thần, sợ hãi tột độ như khi mới bước vào phòng lái ghe Thái, ôm bánh lái thấy nó quay ào ào như chong chóng, chóng luôn cả mặt. Một mình ôm một trọng trách quá nặng, không lèo lái được con tàu là chết hết, bao gánh nặng đổ dồn vào một người, bao nhiêu cặp mắt khổ đau trông ngóng vào tôi, nên sợ hãi tăng lên tối đa là vậy! Còn mai này sanh tử chia đều cho tất cả mọi người, mình chỉ góp máu vào là làm tròn nhiệm vụ, người ta sao mình vậy, khoẻ re như bò kéo xe! Và tôi cũng tính đường rút lui nếu bị tràn ngập, không bị ăn dao như anh Ba, không chống cự nổi thì phải biết khôn nhảy xuống biển. Chắc chắn là không áo phao rồi, nên tôi cũng nghĩ trước trong đầu hai ống quần dài là cái phao để ôm nổi được phút nào hay phút đó trên biển nếu không bị chân vịt tụi nó chém nát thây. Không phải anh hùng bất khuất gì mà sợ một cái chết đau đớn chầm chậm, từ từ, tra tấn trả thù vì tội làm Tài Củn, phát âm đúng theo một thằng Thái Lan gọi tôi qua ghe nó! Đường nào cũng chết cả, chọn cái chết nhẹ nhàng, bớt đớn đau vẫn sướng hơn. Nghĩ vậy không biết có được vậy hay không, mặt trời lên sẽ biết! Đó là tôi đã chuẩn bị tinh thần từ A tới Z cho cuộc đời mình sáng mai! Một chuyến đi tìm Tự Do biến thành một chuyến đi tìm Cái Chết bớt đớn đau! Không phải chỉ riêng tôi bi quan nghĩ vậy mà những thanh niên sau lái cũng nghĩ thế! Mới đó đã qua ngày thứ bảy, năm ngày năm đêm trên ghe bầu, hai ngày trên ghe Thái. Đây là lần đầu tiên đầu óc rảnh rang lo nghĩ vu vơ đến những sát na chưa tới, không sống với những sát na hiện tại như sáu ngày trước. Nhàn cư vi bất thiện là vậy! nhìn vào bờ cũng thấy ánh đèn xe di chuyển trong đó, nghe văng vẵng tiếng máy nổ đều đều của một nhà máy hoạt động ban đêm, sự sống trong đó. Nếu ghe chỉ chạy thêm vài phút và nếu không chạy chận đầu tầu lớn để thực hiện lời Cốt nói chắc giờ này đã ở trên đó rồi! Thiên đàng cận kề, trong tầm tay mà với không tới, đã vậy sáng mai này sẽ rơi vào lại địa ngục mới đau! Trái ngược với lúc chưa đi, thiên đường là biển, địa ngục là bờ, phải ra biển mới thấy Tự Do! Bây giờ đi rồi, sắp đến nơi thì trái ngược lại, thiên


138 - Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 đường là bờ, địa ngục là biển, phải lên bờ mới thấy Sự Sống! Cái nào cũng quý cả, muốn có nó phải trả bằng cái chết! Định mệnh gì quá khắc nghiệt, đường nào cũng từ chết đến bị thương! Hôm qua mình... biển người... diệt nó! Ngày mai nó... biển ghe... giết mình! Kiến ăn cá, cá ăn kiến, vay trả, trả vay, vòng đời quanh quẩn! Có chơi, có chịu, đừng than đừng khóc diệt nhau người hởi! Thấy vậy, không phải vậy và thấy vậy phải vậy, đảo điên đầu tôi! Ghe Thái Lan chỉ lén bỏ lưới ngoài xa là bị chiến hạm PGM phối hợp với chiến đỉnh PCF của Hải Quân VNCH rượt bắt đem về năm Căn về tội xâm nhập bất hợp pháp hải phận láng giềng. Thấy vậy phải vậy, với nước mình! Hôm qua tới giờ tôi cố tình xâm nhập hải phận Indonesia mong Hải Quân nó chận bắt để hoá giải những hiểm nguy hiện tại. Vậy mà thả neo sát đảo lại chẳng thấy an ninh trên đảo ra hỏi thăm anh vừa từ đâu đến, làm sai tất cả dự tính trong đầu! Thấy vậy, không phải vậy, với xứ người...mới chết, làm như Indonesia không có Hải Quân! Viết đến đây nghiệm lại Indonesia đâu có tỵ nạn Việt nam. Chạy trốn Cộng Sản Việt nam nếu chạy về hướng nam thì chạy tới South East Asia, Đông nam Á, Thái Lan, Mã Lai, Singapore là được rồi, ngu gì chạy tới Indonesia làm chi cho xa xôi trắc trở, thêm cả trên năm trăm hải lý nữa chớ đâu phải ít. Còn xa hơn khoảng cách từ Việt nam đến Mã Lai, chỉ có Tài Công khùng mới làm chuyện đó. Chắc chỉ có chuyến đi của tôi là chuyến duy nhất phiêu bạc tới Nam Dương vì chạy thêm một tỵ nạn nữa là tỵ nạn Hải Tặc Thái Lan! Mặt trời vừa lên là tôi đeo ống nhòm nơi cổ leo lên mui nhắm về hướng điều quân tối qua. Nó bắt đầu động quân, ghe nổ máy, chân vịt quạt nước, khói trắng phun lên cao nhưng không phải tất cả bên phải quay chuyển sang đội hình hàng ngang tiến quân về phía tôi như tôi và những người khác tưởng tượng tối qua mà là đằng sau quay, vẫn giữ đội hình hàng dọc đi ngược lại hướng về những đảo gần đó. Thì ra đó là những ghe câu, ghe lưới, ban đêm lũ lượt ra giăng câu, thả lưới, bắt cá, đánh cá, rọi đèn để tránh đụng nhau, đến sáng thì rủ nhau vô như lúc tôi nằm ở Bến Đá Vũng Tàu, những ghe nhỏ tối ra, sáng vô như vậy! Thế là tất cả đều bé cái lầm trong... thấy vậy, không phải vậy! Vậy mà cũng mừng hết lớn như thoát được bản án tử hình, thở phào nhẹ nhõm, thoát chết trong tâm tưởng. Có người nói thật lòng mình: vậy mà mình cứ tưởng những ánh đèn pha đó là viện binh tụi nó kéo đến trong đêm để sáng nay đánh trả thù mình. o oOo Sau trận tử chiến chẳng đặng đừng “hàng chết, chống sống” với hải tặc Thái Lan để tranh sống, Hoàng Quốc Việt trong Biển Ân Nhân lại tiếp tục những ngày lênh đênh, chống chỏi với đói khát. Và cuối cùng khi đỉnh bi kịch không còn thể nào đắp cao hơn, triết lý “tiền hung hậu kiết” lại một lần xoay vần thấu đáo cho những con người đã sống tận với lẽ chết của mình. 150 con người trên chiếc ghe bầu ra đi vào chiều tối ngày 7/11/1979 gần Bắc Mỹ Thuận, trên sông Tiền giang đã được chiếc tàu dầu khổng lồ Entalina trên đường từ Singapore đến Darwin Australia vớt vào buổi sáng ngày 29/11/1979, lúc 9:15’ (Vĩ độ 0055S, Kinh độ 10737E). Trong đoạn kết của Biển Ân Nhân, Hoàng Quốc Việt viết: “Tôi có một cuộc đời mới sau đó. Cuộc đời nơi xứ lạ quê người không biết nơi đâu là nhà, quê cha đất tổ, quê mẹ quê hương, như Quán Bên Đường! Khi mới tới cứ tưởng bở ... Bờ nào trôi dạt đến, bến đó là quê hương! Ở lâu rồi mới biết... Bờ nào trôi dạt đến, bến đó mãi mãi là quê người chớ không phải quê ta! Bởi vậy, đến bây giờ nghe ca... Tôi yêu quê tôi yêu mãi bây giờ còn yêu... vẫn còn thấy hay và vẫn thầm mơ được... về quê ăn Tết! Tôi xin mượn câu kết của bài ca Quán Bên Đường, là câu tôi đắc ý nhất để kết thúc câu chuyện dài vượt biên ra khơi mênh mông gió mưa sóng ta không sờn này của mình:” Trước khi từ giã, hỏi nhau buồn hay là vui, thì cứ hỏi ngay... cuộc đời!” Sau đây là một số hình ảnh của thuyền nhân trên chiếc tàu Kiên Giang KG0054 do thủy thủ tàu Entalina chụp.


Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 - 139


140 - Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018


Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 - 141


142 - Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 Thưa các bạn, Vào những năm cuối nửa đời trước của chúng ta, hoàn cảnh lịch sử, gia đình và có khi là chút mộng hải hồ buổi thanh xuân đã níu kéo chúng ta về với nhau trên cùng một một dòng sông, góc biển. Buổi đó, đã có những bạn vắn số sớm “ngọa sa trường” bên bờ kinh, dòng sông xa lạ, bỏ lại gia đình bè bạn với niềm đau “cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”. Rồi cơ đồ vận nước đổi thay, sau nhiều năm lưu lạc, chúng ta - những cánh chim lưu xứ - đã dần dà tìm gặp lại nhau, vẫn thắm tình OC bầu bạn ngày xưa. Và rồi lẽ tử… sinh… Giữa cõi phù sinh sống gởi thác về, dẫu biết có ai sống mãi bao giờ, thế nhưng mỗi lần hay tin một cánh chim chao rụng, một bạn sớm lụy hình hóa thân cát bụi, chúng ta những người còn ở lại vẫn canh cánh lòng đau. Hôm nay trong cảnh trùng phùng bầu bạn, chúng ta hãy để một phút lòng lắng đọng, thắp nén nhang nhớ bạn nơi cửu tuyền cách biệt, hớp miếng rượu cay mà “nhớ buổi Hồ trường”… Sau đây là danh tánh các bạn đã qua đời: Tên Khoá Mai Công An Trần Tinh An Nguyễn Văn Mười B Nguyễn Văn Ba Lê Văn Bá Võ Văn Bé Phùng Bá Bình Lâm Bính Cang Bạch Văn Cao Nguyễn Văn Cầu Lê Á Châu Cao Văn Chiểu Lê Đức Công Nguyễn Cư Nguyễn Đức Cường 5 11 2 5 9 8 3 9 6 11 7 1 12 4 5 Đoàn Hữu Đảm Võ Quốc Dân Nguyễn Huy Đản Lê Đình Đăng Nguyễn Công Danh Phạm Ngọc Danh Lê Thế Di Ngô Khải Di Nguyễn Văn Điềm Trần Ngọc Diệp Lê Định Nguyễn Quốc Định Phạm Ngọc Đông Mã Đức Nguyễn Văn Dũng 3 8 4 10 3 9 1 5 8 1 7 3 9 11 11


Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 - 143 Trần Anh Dũng Trần Minh Dũng Cao Thế Đường Phạm Văn Duyên Nguyễn Hữu Hạnh Đinh Thế Hiển Tạ Quang Hiển Nguyễn Văn Hiệp Trương Minh Hiệp Nguyễn Văn Hiếu Trương Thế Hòa Trần Văn Học Thạch Hữu Hồng Vạn Đại Hồng Nguyễn Gia Huấn Phan Đình Huệ Đinh Vĩnh Hùng Hà Văn Hùng Vũ Mạnh Hùng Vũ Sơn Hùng Nguyễn Đức Ích Ngô Văn Khẩn Tăng Hoàng Khanh Trịnh Duy Kiểm Nguyễn Tuấn Kiệt Tạ Kỳ Trần Văn Lai Hồ Văn Lạng Hoàng Lê Nguyễn Trọng Lộc Nguyễn Lợi Hoàng Phi Long Trần Văn Luận Nguyễn Tấn Lực Trần Hữu Lương Phan Xuân Trung Lưu Trần Hải Mank Đặng Văn Minh Dương Ánh Minh 9 8 3 11 11 8 12 6 6 4 9 7 2 6 5 3 1 6 1 6 3 5 7 12 8 8 1 1 12 1 8 1 4 12 11 2 11 7 3 Thái Ngọc Mỹ Ngô Đại Nam Hoàng Ngạc Lê Thành Ngọc Phạm Thái Nguyên Nguyễn Thượng Nhơn Đoàn Khắc Ninh Thân Văn Phan Huỳnh Văn Phát Dương Quốc Phục Lê Bá Phước Huỳnh Minh Quang Phạm Thế Quang Trần Văn Quang Trần Thanh Quế Nguyễn Văn Quỳnh Nguyễn Văn Rạnh Lê Sang Quách Cẩm Sang Trần Văn Sáu Nguyễn Văn Sĩ Nguyễn Văn Sửu Phạm Kim Tài Bùi Văn Thanh Dương Kỳ Thanh Nguyễn Quốc Thành Trần Thi Nguyễn Khắc Thịnh Nguyễn Trọng Thực Phạm Văn Thương Huỳnh Đình Thường Phạm Văn Tiến Huỳnh Đức Trung Bùi Văn Tứ Ngô Quang Tụng Vũ Đình Tước Trần Vinh Nguyễn Thái Xuyên 4 10 2 1 3 12 6 2 3 2 7 10 2 9 5 5 8 3 11 5 11 10 10 1 6 2 10 7 11 5 8 12 1 2 5 9 11 1 Các bạn đã trở về cõi nghìn thu, nhưng kỷ niệm vui buồn và thân tình bằng hữu vẫn lắng đọng mãi trong tâm khảm tất cả chúng ta. Một lần nữa chúng tôi xin chân thành chia sẻ nỗi buồn mất mát này đến thân nhân, gia đình. BTC / ĐH / OCS XVI


144 - Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 GIỚI THIỆU SÁCH MỚI VĂN NGHỆ BIỂN KHƠI trân trọng giới thiệu đến bạn đọc tuyển tập văn MƯA TRÊN PHỐ SNOQUALMIE của PHAN THÁI YÊN sẽ xuất bản vào tháng Chín, năm 2018 dịp Đại Hội OCS XVI tại Atlanta. Sách dày 270 trang Văn Nghệ Biển Khơi phát hành Ấn phí $15 Liên lạc tác giả: Phone: 651-319-3539 Email: [email protected] Phan Thái Yên, Mưa về từng trận vô chung… Hắt hiu về lại tiếng lời Mưa ruồng tuổi dại nhịp khơi vô thường (VHT) Có phải tôi là đất, hấp thụ tinh mật từ cây cối, từ đất trời, và tôi đang chờ một làn nước, một giọt mưa? Có phải tôi là quê, là nhà, khao khát đợi mùa? Khi những cơn giông chưa thành mưa và sấm động âm ỉ điện áp, tôi cũng như vạn vật căng phồng trong tư thế sẵn sàng bung vỡ. Tôi bồn chồn nóng. Mặt đất tôi lung linh khiến tà áo em bay bổng. Em thành thinh không lửng lơ diệu kỳ trong bước. Em là ion mang điện tích âm. Tôi dương cực thèm khát bảo hòa. Và trời đổ xuống, ôi lạ lùng… Mưa! Mưa cho tôi bốc hơi, người đời gọi là hơi đất. Thi sĩ gọi tôi là hương mưa. Thật sự tôi là mùi hương gợi khêu khứu giác, vực dậy mộng đầu, cho ký ức tràn về để người sống lại một thời đã qua nhưng không thể mất trong hồn. Mưa thâm căn thấm lần hồi / kìa em giữa mộng lậm bồi hồi tôi / mưa thiên thu ghé em ngồi / nghe từ vạt gió hạc rời nửa đêm… Và như thế, tuyển tập Phan Thái Yên, Mưa Trên Phố Snoqualmie, sũng lòng người đọc với những trận mưa không thôi, tràn đầy kỷ niệm và ẩn dụ. Này nhé, hương mưa về quyện ngay từ truyện ngắn đầu sách, cơn mưa như nỗi đau dai dẳng, “Chọn lựa nào cũng để lại mối đau như cơn mưa rớt hoài không tạnh trong lòng.” (Về với cơn mưa) Mưa làm nền trong mọi diễn biến của hầu hết truyện ngắn trong tuyển tập. Có lẽ Yên sinh trưởng và gần gụi với Huế, xứ sở của mưa. Mưa thâm căn khú đế, dầm dề mái rạ, rả rích chiều hôm, từng trộ, từng trộ khiến hồn Huế co ro trầm mặc, để khi xa Huế, chỉ cần nghe một giọt rơi là hồn Huế vỡ òa. “Mưa nguồn lê thê đêm tù, mở trừng trừng giấc mộng héo hon, dột nát mái hồn người bơ phờ đất trích.” (Người


Đại Hội OCS 16 - Atlanta, GA 2018 - 145 tù chăn bò ở Gia Trung) Truyện ngắn Mưa Trên Phố Snoqualmie là tâm điểm của mưa. Mưa quay quắt nhớ, từ những ngày xuân xanh ướt đẫm, “Ngày tháng níu nhau theo từng cơn mưa chờ xuân trên đôi tay trần lóng lánh măng tơ, Ngâu bước vô tuổi dậy thì như sen ngó hây hây…” đến mưa lê thê như phận lưu vong buồn não, “thấp thoáng nhân ảnh giữa ngàn mưa trắng lịm chẳng ngơi. Mệ ngó lại đời mình…” Mưa làm nhân chứng cho bội phản ở một đoạn đời trong lịch sử, “Một đêm cuối tháng Mười, đất trời sũng trong mưa dầm, ánh đuốc trên tay thằng học trò bạc tình với chữ nghĩa, chập chờn những sợi mưa chém nghiêng qua khuôn mặt lầm lì. ” Và khôn nguôi nhớ Huế, “Mưa ở đây cũng xanh như lá vườn cây thành Nội ” hoặc “Trong tiếng mưa rơi gõ nhịp bồi hồi kỷ niệm, Mệ ngồi nhớ mùi bông ngâu trước sân nhà ở Phá Tam Giang, ở bãi biển Thanh Bình.” Từ tuyển tập đầu tay Mùa Trăng Ướt qua đến truyện dài Căn Nhà Sau Cửa Biển và bây giờ Mưa Trên Phố Snoqualmie, Phan Thái Yên dẫn người đọc đi chung một hành trình, nghe như chuyện của Yên mà sao xao xuyến từng mối tự trầm ở lòng độc giả. Từ đoạn đường chiến binh khi quyền quyết định là dấu hỏi của thân phận trong Mùa Trăng Ướt đến bóng dáng Mẹ Việt Nam qua bối cảnh miền Nam sau 1975 và sự bội phản của lịch sử đối với dân tộc ở Căn Nhà Sau Cửa Biển, một lần nữa Yên lại gây ngạc nhiên thích thú với 17 truyện ngắn trong tuyển tập này. Mười bảy trận mưa khôn hàn biệt dị, khi dữ dội trút tràn tuyệt mù xâm thấm, khi dịu dàng bay ngang gõ cửa hắt hiu, lại đôi khi đào sâu hiển thị biển dâu cho lưu xứ thành khúc hát đoạn trường. Ta bắt gặp chính ta trong từng câu chuyện của Yên, một căn cước tỵ nạn không thể nhầm lẫn qua văn tài sắc bén, điêu luyện làm bật dậy những ray rức khôn cùng. Ta ở đây cõi tạm, hồn lay lất nhớ chốn cũ qua màn mưa. Ở đây hiên đứng trú dầm, thấm liên lỉ ướt ngụt trầm ở ta. Ôi những trận mưa không dứt rót tràn trên ước vọng sau cùng về một nơi có tên gọi là Quê. Và Nhà. “Giòng mưa trắng lịm trên Phá còn bay mãi qua năm tháng về rơi trên phố suối Snoqualmie. Còn cơn mưa ước vọng của Mệ được về nằm chết bên chồng thì có ai hay?” (Mưa Trên Phố Snoqualmie) Đọc xong tuyển tập, tôi nghe mình lậm hạt, dầm chan trí tưởng. Cám ơn Yên đã đem đến những cơn mưa chưa bao giờ tạnh. Mưa về từng trận vô chung, gió mùa qua, thổi mông lung ràt nhà. Có phải mưa nghe gần, xa? Hay em bước vô lượng òa mưa tôi…? Như câu thơ Shakespeare, For the rain it raineth every day...? Vũ Hoàng Thư Tháng 6, 2018 SÁCH ĐÃ XUẤT BẢN CÙNG TÁC GIẢ 2012 2016


HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN HỊCH TƯỚNG SĨ ... Ta ñaây, ngaøy thì queân aên, ñeâm thì queân nguû, ruoät ñau nhö caét, nöôùc maét ñaàm ñìa, chæ caêm töùc raèng chöa ñöôïc xaû thòt loät da cuûa quaân giaëc, daãu thaân naøy phôi ngoaøi noäi coû, xaùc naøy goùi trong da ngöïa, thì cuõng ñaønh loøng...


Click to View FlipBook Version