The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.

Bút Ký: Người nhái Lê Đình An: cận vệ Tổng Thống Thiệu
Lê Đình An

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2022-11-21 19:04:16

Bút Ký: Người nhái Lê Đình An: cận vệ Tổng Thống Thiệu

Bút Ký: Người nhái Lê Đình An: cận vệ Tổng Thống Thiệu
Lê Đình An

Người nhái Lê Đình An: cận vệ Tổng Thống Thiệu

Lê Đình An 2004 Irving Texas USA
Con gái của một nhân vật nổi tiếng lên tiếng tìm Cha. Chú ây là cận vệ của TT. Nguyễn Văn Thiệu.

https://www.youtube.com/watch?v=fGk-fUlyx20

Lê Đình An- Người Nhái, Uớc Vọng Của Tôi

Posted on September 8, 2012 by chungtoimuontudo

Hoàng Lan Chi giới thiệu:
Lan Chi đã giới thiệu một bài viết của tác giả Lê Đình An về Phong
Trào Thể Dục và Thẩm Mỹ của Sài Gòn ngày trước. Qua đó sẽ giúp quý
vị gợi nhớ về một Sài Gòn muôn năm cũ. Qua đó sẽ giúp những thế hệ
gạch nối còn quan tâm đến cội nguồn sẽ có dịp khám phá thêm về những
“xây dựng, thành tựu” của Việt Nam Cộng Hòa. Họ sẽ có dịp để so sánh
một Việt Nam ngày trước và một Việt Nam bây giờ.
Hôm nay Hoàng Lan Chi xin được giới thiệu tiếp bài viết ” Người Nhái,
Ước Mơ Của Tôi” cũng của Lê Đình An.
Qua đó, tôi mong rằng những người trẻ hôm nay sẽ để tâm hồn mình
lắng đọng lại mà suy nghĩ. Đã có bao nhiêu thanh niên VN thời ấy, sinh
ra trong hoàn cảnh nghèo khó mà vẫn không hư hỏng? Họ vẫn cố gắng
vươn lên? Họ vẫn nồng nàn yêu tổ quốc quê hương? Họ đã rèn luyện
thân thể khỏe mạnh vì ý thức rằng chỉ có Khỏe để phục vụ giống nòi.
Nhờ Sức Khỏe ấy, họ đã vượt qua tuần lễ địa ngục của Khóa Huấn
Luyện để trở thành Người Nhái, một bộ phận đóng góp hữu hiệu trong
quân đội VNCH cho cuộc chiến bảo vệ quê hương chống sự xâm lăng
của cộng sản.

Vào năm 1950, khi tôi vừa được 10 tuổi, tôi thấy một hình vẽ trong tạp
chí ngoại-quốc: hình vẽ một tổ Người Ếch (vì lúc đó chưa có Người

Nhái ) lặn xuống biển và đang đặt chất nổ để phá hủy trái Thủy Lôi.
Hình ảnh trầm hùng đó đã in sâu vào ký-ức của tôi mãi mãi….
Hoàn cảnh gia đình của tôi từ nhỏ lúc tôi vừa 8 tuổi đã mất cha. Vì thời
buổi chiến tranh, người anh của tôi cũng như bao nhiêu thanh niên cùng
lứa tuổi đã vào bưng biền kháng chiến chống Pháp từ năm 1945, cho đến
năm 1948. Một đêm bão bùng mưa gió đã phủ xuống gia đình tôi. Đêm
đó có vài người mặc đồ đen đến gõ cửa nhà tôi và bắt Ba của tôi đem đi.
Và mãi mãi ba tôi không còn trở về nữa. Má của tôi đi tìm kiếm thăm
hỏi tin tức của ba tôi. Sau mấy tháng trời, má của tôi mới biết được tin
ba và anh của tôi đã bị bọn Cộng Sản đem đi thủ tiêu với lý do ba và anh
tôi là tín đồ đạo Cao Đài.

Gia đình tôi còn lại 4 anh em. Người Anh lớn đã có gia đình rồi nên ở
riêng. Nhà của cà phê tôi ở tại làng Xuân Hiệp chỉ cách quận lỵ Thủ Đức
khoảng 3 cây số, nơi đây có dòng suối Xuân Trường uốn mình chảy
ngang qua ngôi đình làng và xuyên qua quốc lộ 1 xuôi về hạ nguồn
ngang qua trước nhà của đại văn hào Nguyễn văn Vĩnh. Lúc đó vùng
này đã trở thành vùng mất an-ninh, má của tôi đành phải rời xa đất đai,
đem 3 anh em tôi ra chợ Thủ Đức để lo buôn bán tảo tần kiếm sống
nhưng vẫn không đủ ăn. Người anh kế tôi mới có 12 tuổi, may mắn được
người quen giới thiệu vào giúp việc cho một quán cà phê. Ông chủ quán
cà phê thấy anh tôi siêng năng chịu khó làm việc nên tôi cũng được ông
chủ cho vào làm luôn trong tiệm của ông. Hai anh em tôi cố gắng đi làm
để giúp cho đứa em nhỏ có đủ phương tiện học hành (Sau này em tôi Lê
Đình Thành, tốt nghiệp kỹ sư trường Kỹ Thuật Phú Thọ và là giáo sư
trường Kỹ Thuật Cao Thắng), còn tôi và anh tôi thì chỉ đi học tư trong
những giờ thích hợp.
******

Lúc thơ ấu tôi rất ngưỡng mộ các vị danh tướng trong lịch sửViệt Nam
như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Văn Duyệt, v.v. như kim chỉ
nam cho cuộc đời. Do đó tôi rất mong muốn được học võ nghệ, và cũng
mong sau này có dịp đóng góp được phần nào cho quê hương như câu
Quốc Gia hưng vong, thất phu hữu trách.

Tôi nhập môn
Võ LâmTân Khánh

Qua sự giới thiệu của ông Ngoại tôi với vị võ sư Nguyễn Văn Đại là Cậu
bà con bên ngoại nên tôi và người anh kế của tôi được võ sư nhận làm
đệ tử sau buổi lễ bái sư.
Vì hoàn cảnh khó khăn của thời điểm 1950 Quân đội Pháp bị kháng
chiến quân Việt Minh tấn công khắp nơi. Chúng ra lệnh cấm không cho
dân chúng tập võ. Võ sư phải lén dạy võ cho thanh niên trong làng chia
ra nhiều nơi nhiều nhóm. Vì vậy hai anh em chúng tôi chỉ học võ trong
những đêm có trăng còn những đêm trăng mọc trễ thì đốt đèn dầu. Trung
bình học được khoảng 15 ngày trong một tháng.
Anh tôi Lê Đình Trị sanh năm 1937 lớn hơn tôi 3 tuổi, hai anh em tôi
đều rất say mê võ thuật, về sức khỏe mặc dầu là tôi nhỏ tuổi hơn nhưng
không chênh lệch bao nhiêu so với anh tôi.
Những đêm học võ, chúng tôi cỡi xe đạp chở nhau từ nhà ở tại chợ Thủ
Đức vào làng Bình Phú nơi nhà Thầy khoảng 3 cây số đường làng và
học võ từ 6 giờ chiều cho đến 11 giờ đêm chúng tôi mới chở nhau về
bằng xe đạp.

Phương pháp huấn luyện là 2 giờ đầu học tập đường thảo (Bài quyền)
giờ còn lại là tập song đấu, mỗi đầu giờ được nghỉ giải lao khoảng 10
phút.

Với bản tánh say mê và háo thắng của tôi trong lúc tập song đấu đã
thường làm cho anh tôi bị trúng đòn hơi nặng, có lúc thầy tôi phải cho
ngưng đấu để anh tôi uống giấm pha đường cho đỡ đau.

Một cuộc khảo sát bất ngờ của thầy.
Sau hai tuần trăng (2 tháng) chúng tôi mới học vỡ lòng bài quyền Đồng
Nhi. Hôm nay chúng tôi vừa vào đến nhà thầy, ông gọi 2 anh em tôi đến
gần và nói:

“Hôm nay 2 đứa bây theo Cậu đến chỗ này.”

Rồi ông dẫn anh em tôi đi theo bờ ruộng mía quanh co khoảng 1 cây số
thì đến một căn nhà bỏ hoang giữa ruộng mía. Khi bước vào trong căn
nhà, tôi nhìn thấy tranh tối tranh sáng khoảng hai ba chục người ngồi
xung quanh một ngọn đèn dầu. Khi thấy ba thầy trò tôi vào tất cả đều
đứng lên cúi đầu chào vị võ sư, ông ra dấu cho tất cả ngồi xuống rồi ông
chậm rãi giới thiệu anh em tôi là học trò nhỏ nhứt mới nhập môn với tất
cả mọi người và cũng giới thiệu tên của những sư huynh của chúng tôi.
Lúc đó tôi hồi hộp quá nên không còn nhớ rõ tên các người đó chỉ nhớ
có một tên người trưởng tràng là Nguyễn Văn Hương 18 tuổi, vì tôi
được nghe thầy thường khen anh Hương là giỏi nhứt trong tất cả các võ
sinh của ông, trong thâm tâm anh em tôi đều ái mộ nên nhớ rất rõ và
cũng rất mong có ngày được gặp anh Hương.

Với dáng điệu trầm hùng võ sư Đại ra lệnh:

“Hương bước ra!”

Anh Hương lên tiếng “dạ” rồi bước ra giữa khoảng trống.

Võ sư Đại ra lệnh tiếp:

“An bước ra!”

Tôi giựt mình vì bất ngờ. Hơi chần chờ, Võ sư Đại nhắc lại:

“An bước ra!”.

Tôi “dạ” rồi bước ra sân, Võ sư ra lệnh:

“Hai đứa song đấu!”

Tiếng lệnh song đấu đó đã làm cho tôi chới với. Trời! Thật sự tôi học
Đường Thảo còn chưa nhuần nhã thì làm sao mà dám song đấu với một
sư huynh, trưởng tràng của môn phái? Tôi lo lắng vô cùng nhưng cũng
đành phải tuân lời thầy.

Tôi và anh Hương cùng bái tổ rồi bỏ bộ thủ thế thì tôi đã bị lọt vào thế
hạ phong rồi.

Ghi chú: Môn võ thuật Tân Khánh khi học tập đều được huấn luyện
quyền cước và chiến thuật cùng lúc, thí dụ như khi bước ra sân đấu ta
phải chiếm vị trí thượng phong dồn địch thủ vào thế hạ phong. Có nghĩa
là vào sân đấu phải chiếm vị trí trên gió địch thủ ở vị trí dưới gió, khi
giao đấu địch sẽ bị bất lợi vì bụi bặm bay vào mắt mũi của mình.
Ban ngày có ánh sáng mặt trời thì Thượng phong ánh sáng mặt trời ở
phía sau lưng của ta còn địch thủ ở thế Hạ phong bị ánh sáng mặt trời
chói thẳng vào mắt không thấy đường.
Ban đêm cũng giống như ban ngày Thượng phong là ánh sáng ở phía
sau lưng ta và địch Hạ phong sẽ bị chói mắt.
Tôi hoang mang vì bị ánh sáng ngọn đèn dầu chói vào mắt, những bóng
người bao vây chung quanh ẩn hiện lẫn với bóng anh Hương, sau khi
đảo bộ anh Hương phóng thẳng quả đấm vào mặt tôi một tiếng “bốp”.
Cùng lúc với tiếng “bịch” vang lên, má bên phải của tôi đã lãnh cú đấm
như sấm sét, mắt tôi hoa lên như có nhiều đốm lửa tung tóe. Tôi bị sức
dội thối lui mấy bước. Và ngược lại bóng anh Hương theo tiếng “bịch”,
cũng văng ra xa khoảng 2 thước té ngồi xuống đất.

Võ sư Đại ra lệnh tiếp tục đấu. Trong lúc đó tôi chưa kịp hoàn hồn, anh
Hương đã vào thế, tôi cũng đảo bộ theo.

Anh Hương chuyển đổi phương vị từ trái qua phải và bất thần như cơn
gió lốc tung một quả đấm vào má trái của tôi, tôi cũng không tránh né
kịp nên lại lãnh thêm một quả thôi sơn. Nhưng lạ lùng là anh Hương lại
cũng nhận một cú đá do phản ứng tự nhiên của tôi văng ra té ngồi xuống
đất một lần nữa.

Võ sư Đại mỉm cười gật đầu mấy cái ra chiều thỏa thích, ông cho ngưng
trận đấu và bảo tất cả võ sinh thu dọn rồi giải tán. Võ sư dẫn anh em tôi
về nhà nhưng ông không nói lời nào cả, đêm đó anh em tôi được ông
cho nghỉ tập để về sớm.

Trên đường về nhà, tôi đưa tay xoa nhẹ trên hai gò má nơi mà anh
Hương đã tặng 2 quả đấm còn sưng vù. Anh em tôi hỏi nhau và lấy làm
lạ về những việc đã xảy ra vừa rồi, vì anh em tôi thật tình chưa học được
căn bản về võ thuật chút nào cả vì mới nhập môn và còn quá nhỏ, tôi thì
mới có 10 tuổi còn anh Trị anh của tôi cũng mới có 13 tuổi. Câu hỏi tại
sao cứ quanh quẩn trong đầu tôi.

Thứ 1: Tại sao đêm nay ông võ sư lại tập họp tất cả võ sinh khắp nơi về
mà không thấy các anh đó tập võ hoặc song đấu với nhau.

Thứ 2: Tại sao lại chỉ định anh Hương, trưởng tràng nổi tiếng giỏi nhứt
trong hàng đệ tử song đấu với tôi là đệ tử nhỏ nhứt và mới nhập môn. Và
chỉ đấu một trận duy nhứt ?

Với tinh thần tôn sư trọng đạo anh em tôi không dám hỏi gì cả nếu ông
thầy không muốn nói ra.

Suốt năm đầu chúng tôi được học về quyền cước, anh em chúng tôi rất
cố gắng tập luyện bộ pháp di hành, nhanh, mạnh và phản ứng nhập tâm
qua cách luyện tập với tám trái bưởi treo chung quanh.

Hai năm sau, chuyên tập về Côn (Roi) và Siêu Đao. Đến giai đoạn này
anh em tôi phải đi về quê tìm mua cây Tầm Vông (đực) đặc ruột vừa tầm
tay để đem về luyện tập khoảng 20 đến 30 mươi cây cho mỗi năm.

Phương pháp luyện tập để cho bàn tay chịu đựng được sức đàn hồi. Tập
chịu đựng sức dội ngược của ngọn roi giáng thẳng đầu roi cấn xuống
đất, lúc đầu mới tập bàn tay chịu không nồi bị bung sút ra, bàn tay bị tê
thốn đôi khi bị tét da chảy máu dầm dề. Tập chịu đựng với va chạm
mạnh của ngọn roi mà bàn tay vẫn giữ được ngọn roi, lần hồi không còn
bị sút văng ra như lúc mới tập nữa. Chúng tôi lần lần nhuần nhuyễn hơn
lanh lẹ hơn, và luyện tập chiêu thức Tám lượng chống ngàn cân để đỡ
ngọn roi của địch, v.v..

Rồi về sau những ngọn roi bị đập cấn gãy càng lúc càng nhiều với những
lúc tập luyện song đấu roi, tiếp theo là tập ngọn roi đâm với những trái
vú sữa non hư rụng, anh em tôi gom lại và đem rải trên sân để thực tập
ngọn roi đâm cho chính xác, chúng tôi cố gắng mong sẽ tiến đến đỉnh
cao của võ thuật là tinh thần hợp nhứt vì ý tưởng phát sinh ra hành động.

Thời gian 3 năm lần lượt trôi qua, anh em tôi đã học xong một bộ võ
thuật gồm có Quyền, Cước, Đoản, Trường Côn và Siêu Đao. Trong thời
gian 3 năm, thỉnh thoảng anh Hương trưởng tràng cũng có đến giúp thầy
để chỉ dẫn thêm cho anh em tôi.

Nhưng có một ngày anh Hương đi chợ Thủ Đức gặp tôi cũng đang đi
chợ. Anh Hương và tôi rất vui mừng anh Hương cùng tôi kéo nhau vào
tiệm nước uống cà phê, sau khi thăm hỏi vài câu, anh Hương nói:

“Có một việc mà từ lâu tôi muốn hỏi chú nhưng không có dịp”

Tôi hỏi: “Anh muốn hỏi việc gì vậy?”

Hương nghiêm mặt: “Xin chú cho tôi biết cái đêm đầu tiên tôi và chú
gặp nhau trong ngôi nhà hoang trong ruộng mía đó, tôi và chú đã đấu với
nhau”.

Hương ngưng lại trầm ngâm như hồi tưởng hình dung lại trận đấu rồi
tiếp: “Cho tới bây giờ tôi vẫn chưa biết khi tôi tấn công chú lúc đó chú
đã dùng chiêu thế gì phản lại mà tôi không thể đỡ được vậy ?”

Tôi nhìn anh Hương trả lời: “Tôi xin nói thật với anh, lúc song đấu với
anh thì tôi mới nhập môn mới có 2 tuần trăng (2 tháng) tôi chưa biết
cũng như chưa hiểu gì về võ nghệ cả, thật sự là tôi chưa thuộc lòng
đường thảo nữa đó anh.”

Anh Hương ngạc nhiên trợn tròn đôi mắt: “Chú nói sao? Chú nói thiệt
chứ?”

Tôi gật nhẹ đầu và nói: “Đêm đó khi nghe thầy kêu tên tôi ra đấu với
anh, tôi bấn loạn vì tôi được biết anh là trưởng tràng, là người giỏi nhứt
trong hàng đệ tử của thầy. Anh cũng đã thấy tôi không tránh né gì được
hết nên đã bị anh đánh trúng mặt hai lần…”

Anh Hương ngắt lời tôi với vẻ ẩn ức: “Nhưng tôi bị chú phản lại một cú
đá. chẳng những là một mà lại tới hai lần. Thật tôi không thể nào tưởng
tượng nổi…”

Tôi nói: “Thật tôi cũng không hiểu lúc đó tôi phản ứng ra làm sao đó
anh. Tôi xin anh cũng đừng để tâm mà buồn tôi.”

Anh Hương giật mình vì biết anh nóng nảy đã gay gắt với tôi, anh xin lỗi
tôi rồi yên lặng suy nghĩ. Bỗng anh mỉm cười như tỉnh ngộ anh ôm vai
tôi rồi nói: “Chú An à! Tụi mình thì không biết nhưng thầy mình biết và
có lẽ trận đấu đó là để thầy xác định nhận xét của thầy về khả năng của
chú đó!”

Anh Hương cười rồi tiếp: “Xin chúc mừng cho chú!”

Lúc đó tôi mới chợt nghĩ ra lời nói của anh trưởng tràng về việc làm của
thầy trong đêm đấu võ!

Anh Hương đã vào quân ngũ và kể từ đó chúng tôi không còn gặp lại
nữa vì “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi ?”.

Trong suốt thời gian 3 năm học võ, chúng tôi được võ sư Đại dạy phần
lý thuyết trong những giờ nghỉ giải lao về chiến thuật, chiến lược, địa
hình và giải thích phân thế các đòn trong Đường Thảo Quyền, Cước,
Côn và Siêu Đao một cách khéo léo tiềm ẩn qua các mẫu chuyện, qua
các trận trao đổi võ thuật của chính ông và thầy của ông với các bậc võ
sư danh tiếng thời bấy giờ ở khắp nơi từ các tỉnh miền Đông cho đến sáu
tỉnh miền Tây Hậu Giang. Nhưng vì lúc đó tôi còn nhỏ quá nên không
thấu hiểu được ẩn ý của ông Cậu tôi (mãi cho đến khi tôi được huấn
luyện thêm về môn Thái Cực Đạo của Đại Hàn Tae Kwon Do tại võ
đường khối Cận Vệ phủ Tổng Thống tôi mới hiểu được thâm ý của ông
thầy.)

Những điểm đặc biệt riêng của môn phái Tân Khánh Bà Trà như
sau:
• Chỉ sử dụng duy nhứt một thế “ĐINH” tấn. Khi sử dụng sẽ biến đổi
“Lặn, Mọc” tùy theo tiến hay thối.

• Môn Côn (Roi) và Siêu đao đều dùng thế đỡ “Tám lượng chống ngàn
cân”.

• Thế tấn công “Cương mãnh” xuyên tâm mục tiêu (không bị hạn chế
trong thế tấn)

• Ngọn Côn là căn bản chính của binh khí (18 môn binh khí). Có lẽ vì bị
cấm học võ và dùng binh khí bằng sắt cho nên các võ sư ngày xưa đã tập
trung vào ngọn roi và quyền cước để dễ qua mắt bọn điềm chỉ ?

• Tùy theo khả năng thiên phú, người học võ Tân Khánh có thể biến tất
cả những vật có trong tay đều trở thành binh khí.

*****

Mộng ước trở thành Người Nhái
Hoàn cảnh khó khăn mồ côi cha và nghèo khổ của gia đình, lúc đó tôi thì
còn quá nhỏ mà lại tứ cố vô thân chẳng có ai hướng dẫn và giúp đỡ, tôi
phải tự mình tìm cách để vươn lên. Sau khi đã học võ thuật, mộng ước
sau này được trở thành Người Nhái của tôi cứ lớn lần theo năm tháng.
Cho đến năm 1956. Tôi suy nghĩ nếu muốn hoàn thành tâm nguyện thì
phải tự tạo điều kiện cho mình, vì Người Nhái là phải biết bơi lội thật
giỏi, phải có sức khỏe dẻo dai và phải chiu đựng nhiều thử thách gian
khổ và nhứt là phải kiên nhẫn trì chí, v.v.. Tôi quyết định theo đường
hướng của mình vạch ra. Tôi xin vào hội đoàn Bơi Lội Thanh Long tại
Chi Thanh Niên Quận Thủ Đức. Nhưng tôi bị từ chối vì tôi không có
người giới thiệu, mặc dầu có người biết tôi! Chỉ một bước đầu mà đã có
khó khăn. Nhưng tôi đã tự nói với mình dầu cho trở ngại cỡ nào tôi cũng
phải tự tạo điều kiện để đạt cho được mục đích.

Tôi đến hồ bơi Cộng Hòa gặp ông chủ hồ bơi để đóng tiền hàng tháng và
xin ông vui lòng giúp đỡ cho tôi được vào hồ bơi lội lúc 5 giờ sáng, vì
hồ bơi đến 8 giờ sáng mới mở cửa. Ông chủ hồ bơi thấy tôi ham thích
bơi lội nên cũng đồng ý. Tôi bắt đầu tự đặt chương trình tập luyện thử
xem mình có thể vượt qua được hay không ?

Bắt đầu:
Ngày Thứ Hai = Bơi 100 thước môn Ếch
Thứ Ba = Bơi 200
Thứ Tư = Bơi 400
Thứ Năm = Bơi 800
Thứ Sáu = Bơi 1600
Thứ Bảy = Bơi 3200

Tôi rất vui mừng vì mình đã cố gắng vượt qua được, tôi tiếp tục giữ
3200 thước làm chuẩn như là phần khởi động cho mỗi ngày tập và tập
thêm phần tập bơi tay riêng, bơi chân riêng. Cái khó khăn nhứt là tôi
không biết mình tập dượt nó có tiến triển gì không, bởi vì tôi không có ai
giúp bấm giờ. Thôi thì đành chịu vậy! Tôi tập dượt được khoảng 6 tháng
thì đến ngày lễ Song Thất năm 1957. Chi Thanh Niên Quận tổ chức
tranh giải Vô Địch Bơi Lội Toàn Quận. Tôi đến ghi tên Độc Lập vì tôi
không phải là Hội viên của các hội đoàn Bơi Lội. Đến ngày tranh giải
gồm có các hội đoàn Bơi Lội Thanh Long, Hội Bơi Lội trường La San,
v.v.. Các lực sĩ của các Hội được săn sóc viên thoa dầu nóng cho ấm.
Huấn luyện viên dặn dò. Thôi thì đủ thứ. Còn tôi thì đứng gần đó để chờ
một mình vì tôi chẳng có ai ủng hộ hay cổ võ cho tôi cả.

Bắt đầu tranh các môn như bơi Tự Do, bơi Ngửa và đến phiên tôi bơi
Ếch 100 thước. Tôi đã thắng các lực sĩ của các hội đoàn qua vòng loại và
vòng chung kết, khoảng cách gần nửa mặt hồ giữa tiếng hoan hô cổ võ
của các khán giả đi xem. Các Trưởng Đoàn của các Hội Bơi Lội ngạc
nhiên. Sau khi kêu tên tôi nhận lãnh giải Vô Địch Toàn Quận, các anh
Trưởng Đoàn có đến nói chuyện và mời tôi gia nhập Hội, tôi từ chối vì
thấy vào hội đoàn phải đi họp hành theo điều lệ nội quy, mà tôi không có
giờ để nghỉ ngơi vì còn

phải đi làm.

Đơn độc dự tranh giải Vô Địch Bơi Lội toàn quốc Việt Nam
Tôi tiếp tục thao dượt dự tính sẽ tranh giải cao hơn cấp Quận là cấp Tỉnh
vì đã có thông cáo trên các báo chí, Bộ Thanh Niên Thể Thao sẽ tổ chức

Giải Vô Địch Bơi Lội toàn quốc vào dịp lễ Quốc Khánh 26-10-1957.
Các lực sĩ phải có thành tích là phải thắng liên tục từ cấp Tỉnh hay cấp
đô thành Sài Gòn, rồi tranh giải cấp Khu (gồm 5 tỉnh) và sau cùng là cấp
toàn quốc. Tôi hơi lo lắng vì biết các lực sĩ của các Hội Bơi Lội của đô
thành và Gia Định là giỏi nhứt trong toàn quốc. Nhưng vì muốn thực
hiện mộng ước của mình để sau này có đủ khả năng theo học Người
Nhái nên tôi đi ghi tên tại Ty Thanh Niên đô thành. Lúc ghi tên không
phải hội viên của các Hội Bơi Lội, ông thư ký đã gạn hỏi tôi mấy lần vì
ông ta lấy làm lạ có lẽ ông nghĩ: Ở đâu lại có thằng nhỏ lạ này không
biết khả năng tới đâu mà dám ra tranh giải với các lực sĩ nổi tiếng của đô
thành? Nhưng ông cũng cho tôi ghi tên độc lập.

Đáng lẽ tôi phải ghi tên ở Ty Thanh Niên Gia Định nhưng vì tôi không
biết Ty Thanh Niên Gia Định ở đâu, mà chỉ biết có Ty Thanh Niên đô
thành ở đường Hiền Vương (vì tôi là một chú nhỏ nhà quê mà!).

Tôi càng cố sức tập dượt nhiều hơn vì biết mình sẽ gặp nhiều khó khăn
hơn với các lực sĩ có kỹ thuật và thành tích cao, có huấn luyện viên
nhiều kinh nghiệm chỉ dẫn. Nhưng với lòng hăng say quyết thắng tôi
muốn được trực diện tranh tài.

Đến ngày tranh, tôi phải thức dậy lúc 5 giờ sáng, điểm tâm một chén
cơm nguội sơ sài rồi ra chợ Thủ Đức đón xe đò đi xuống bến xe An
Đông Chợ Lớn, gần Hồ Bơi đô thành, tôi thay đồ bơi lội xong đi lên
thành hồ bơi. Xung quanh hồ đã đông khán giả và quan khách. Tôi nhìn
mặt hồ bơi mà lo lắng vì là lần đầu tiên tôi mới tới đây. Hồ bơi này khác
với hồ bơi mà tôi thường tập dượt, vách thành chỗ trở đầu rất cao, tôi
chưa biết khi trở đầu phải làm thế nào? Loa phóng thanh của ban giám
khảo lần lượt kêu tên các lực sĩ tranh tài từng bộ môn và ban giám khảo
tuyên bố sẽ áp dụng luật thi của Quốc Tế. Riêng về môn tranh bơi Ếch,
các lực sĩ khi lội đến bờ hồ, 2 tay phải chạm thành hồ, nếu người nào chỉ
chạm thành hồ 1 tay sẽ bị loại vì không đúng luật. Khi chạm thành hồ rồi
thì phải xoay người lại đầu phải thẳng hướng đàng trước rồi mới lội đi,
và cấm không được nhào ngửa lại khi tay chạm thành hồ. Chỉ được bơi

một đạp chân và một quạt tay dưới mặt nước mà thôi, nếu lực sĩ nào vi
phạm sẽ bị loại.

Ngày hôm nay chỉ tranh vòng loại vì lực sĩ quá đông. Mỗi lần lội là 8
người, ban giám khảo chỉ chọn 2 người về nhứt và nhì được vào tranh
chung kết trong tuần lễ sau. Tôi suy tính, vì chưa biết hết luật lệ và hồ
bơi lạ nên tôi quyết định sẽ cố gắng lội về hạng nhì trong vòng loại này
để được tuyển vào tranh chung kết mới quan trọng. Ban giám khảo cũng
là các huấn luyện viên của các Hội Bơi lội, nên khi đến môn Ếch, ban
giám khảo thấy chỉ có tên tôi là độc lập nên họ sắp lực sĩ giỏi lội vòng
đầu với tôi để họ xem khả năng của tôi.

Vì tôi đã có chủ ý nên chỉ lội thật đúng luật và về nhì, thua lực sĩ về nhứt
tới nửa mặt hồ. Tôi xem toán lực sĩ lội vòng sau và tôi đã biết cách trở
mình. Tôi được tuyển vào vòng chung kết của giải Vô Địch đô thành
trong cuối tuần lễ tới. Tôi trở về hồ bơi lo tập lại cách trở mình cho
nhuần nhã để chuẩn bị tranh vòng chung kết. Ngày tranh vòng chung
kết, các đấu thủ của tôi họ không còn để ý đến tôi nữa, vì họ thấy tôi
thua đến nửa mặt hồ quá xa trong vòng loại, nên nói năng rất vui vẻ.

Tiếng còi hiệu của trọng tài vừa ré lên, tôi phóng mình xuống nước bơi
thật nhanh vì tôi đã tập nhuần nhã cách trở mình khi đến bờ hồ. Đấu thủ
đã thắng tôi trong vòng loại bất ngờ khi tôi bơi vượt qua mặt, anh ta cố
hết sức theo tôi đến mặt hồ thứ 3 thì anh đã đuối sức. Tôi đã về nhứt ở
mặt hồ thứ 4, bỏ anh về nhì khoảng cách gần nửa mặt hồ…. Với niềm
vui cảm xúc khi đoạt giải Vô Địch cấp đô thành, nhưng đường đi vẫn
còn nhiều chông gai vất vả với 2 chặng tranh tài càng lúc càng khó khăn.
Tôi còn phải tiến lên, còn phải cố gắng thật nhiều mới mong đạt thành.

Cái trở ngại mà tôi gặp phải là đơn độc một mình, không ai chỉ bảo,
hoặc bấm giờ khi tập luyện. Tôi không biết được kỷ lục của mình hàng
ngày có tiến triển gì không? Ngoài giờ tập dượt ra, tôi còn phải lo nghỉ
ngơi để đủ sức làm việc suốt đêm nơi quán cà phê (vì tôi muốn có giờ để
tập dượt nên xin đổi việc làm về đêm.) Nhiều khi tôi tự mỉm cười một
mình, vì các lực sĩ khác họ có đủ phương tiện cơm áo bạc tiền nên mọi

thứ cần thiết họ đều có, họ tranh giải Vô Địch để hãnh diện với bạn bè
v.v. Còn tôi nghèo nàn, mọi thứ đều không. Tôi chỉ có một ý chí kiên
cường và sự chịu đựng gian khổ. Các lực sĩ khác, họ tập luyện có một thì
tôi phải tập luyện cực khổ mấy lần hơn. Nhưng đó lại là ý muốn của tôi
tự tìm cách để thắng mình. Lúc nào tôi cũng tự an ủi lấy mình “nếu ta
chịu đựng được thì mới mong có ngày hoàn thành lý tưởng của mình mà
đã nhiều tháng nhiều năm mong đợi…”

Cách hai tuần lễ sau là ngày tranh Vô Địch cấp Khu tại hồ bơi Chi Lăng
Gia Định gồm có 5 tỉnh miền Đông. Các tay vô địch của các Tỉnh sẽ về
đây tranh tài. Các lực sĩ của đô thành cho tôi biết tôi sẽ tranh với lực sĩ
Nguyễn Phú Đức, vô địch tỉnh Gia Định, thành tích rất cao, kỷ lục vô
địch 100 thước Ếch là 1 phút 27 giây. Còn tôi thành tích vô địch đô
thành là 1 phút 32 giây. Tôi biết sẽ gặp những địch thủ rất khó thắng nổi,
nên tôi phải tập luyện nhiều giờ hơn. Và qua 2 tuần lễ khổ công luyện
tập, tôi cảm thấy có tiến bộ nhưng cũng không dám chắc.

Đến ngày đi tranh, tôi đến hồ bơi Chi Lăng cũng là lần đầu tiên tôi biết
hồ bơi này. Thấy hồ bơi này lại khác với các hồ bơi đô thành, hai đầu hồ
bơi để trở mình lại có một khoảng trống, vách hồ bơi sát với mặt nước,
tôi không biết phải chạm tay bằng cách nào cho đúng? Tôi nghỉ là phải
áp dụng lại chiến thuật cũ, là phải chịu thua vòng loại trước, chỉ cần
được chọn vào vòng chung kết, để tôi xem lại cách trở mình của các lực
sĩ khác và rút kinh nghiệm. Tôi nghi ngờ ở nơi đây ban giám khảo cũng
sẽ cho tôi bơi tranh với anh Nguyễn Phú Đức vì tôi là lực sĩ độc lập, và
ban giám khảo sẽ sắp đặt cho tôi và anh Nguyễn Phú Đức tranh vòng
loại đầu để họ có dịp xác định khả năng của tôi. Nếu tôi có thể thắng
Nguyễn Phú Đức trong vòng loại thì họ sẽ chỉ bảo cho Nguyễn Phú Đức
biết những ưu và khuyết điểm của tôi để Nguyễn Phú Đức có thể khai
thác mà thắng tôi….
Đến giờ tranh, quả thật như tôi đoán, anh Nguyễn Phú Đức và tôi được
sắp xếp gần nhau để tranh vòng loại đầu. Kết quả là Nguyễn Phú Đức
thắng tôi khoảng nửa mặt hồ trong vòng loại, tôi xem vòng loại kế các
đấu thủ bơi tranh, và tôi đã nắm vững cách chạm tay vào mặt hồ rồi!
Ban giám khảo tuyên bố kết quả cuộc thi vòng loại xong, các lực sĩ ra về

tuần sau sẽ tranh chung kết giải Vô Địch cấp Khu. Trên đường về, tôi
nghĩ cách phải tập như thế nào để có thể đoạt giải. Nguyễn Phú Đức anh
được sự huấn luyện theo phương pháp và kỹ thuật bơi lội mới nhanh hơn
và ít mất sức hơn, còn lối bơi của tôi đã quá lỗi thời rồi, vì tôi không có
khả năng và phương tiện để học hỏi, chỉ bắt chước theo cách lội của các
phim ảnh đã quá xưa. Nhưng bây giờ không có thời giờ để mình sửa đổi
kịp nữa! Thôi thì đành cố đem hết sức mình để tranh lần này vậy.

Đến ngày tranh vô địch vòng chung kết cấp Khu, tôi đến hồ Chi Lăng
với chiếc khăn tắm, đã thấy ban tổ chức trưng bày trên bàn các chiếc
Cúp Vô địch cấp Khu, chiếu sáng chói lấp lánh dưới ánh sáng của mặt
trời. Anh Nguyễn Phú Đức đang khoe với các bạn của anh: Chiếc cúp
này một chút nữa tao sẽ lãnh! Khi anh quay đầu lại thấy tôi đang đứng
chấp tay sau lưng. Anh hơi ngượng cúi đầu chào tôi, tôi cũng cúi đầu
chào lại, tôi thầm nghĩ anh Nguyễn Phú Đức nói như vậy cũng đúng, vì
anh đã thắng tôi trong vòng loại gần nửa mặt hồ rồi nên không còn e dè
gì nữa!

Lần lượt các môn bơi đã tranh, bây giờ đến môn 100 thước Ếch giữa tôi
và anh Đức là gay cấn, vì là hai tay vô địch của 2 vùng nổi tiếng trong
toàn quốc là Sài Gòn và Gia Định. Tất cả các ông trong ban giám khảo
đều đứng dậy để cổ võ cho anh Nguyễn Phú Đức. Lượt tranh này có 4 vô

địch của vòng loại, tôi và Đức được sắp sát đường dây để dễ dàng theo
dõi.
Sau tiếng còi hiệu, tôi và Đức phóng mình xuống nước, Đức bơi theo lối
mới một đạp chân dưới nước, một quạt tay khi nổi lên như Kình Ngư
vượt sóng ào ạt, còn tôi thì bơi theo kiểu xưa, chân và tay cùng quạt một
lúc phải chờ cho bớt trớn lướt mới ngóc đầu lên thở nên nhìn giống như
chiếc tàu lặn, không động sóng… anh Đức và tôi đều đem hết sức ra
tranh, vì Đức ỷ y nên khi tôi bơi vượt qua Đức, Đức vội vã rượt theo tôi
thì đã muộn rồi. Khi về đến điểm cuối, tôi cũng chỉ hơn anh Đức một cái
vói tay mà thôi.

Đức và tôi đều lả người, ngâm mình dưới nước để lấy lại sức. Nhưng khi
ban giám khảo tuyên bố kết quả lại là Nguyễn Phú Đức về nhứt còn Lê
Đình An về nhì? Bỗng có tiếng phản đối Ban Trọng Tài và Giám Khảo
là thiên vị, tiếng la ó của khán giả vang lên: “Anh bên này thắng! Anh
bên này thắng!” khán giả chỉ tay vào tôi. Lúc đó có mấy anh mặc quân
phục đi đến bàn của ban giám khảo phân trần và yêu cầu ban giám khảo
phải chấm điểm cho công bằng. Sau vài phút bàn thảo, ban giám khảo
tuyên bố xin lỗi khán giả vì có sự lầm lẫn của đồng hồ bấm giờ, và xin
tuyên bố lại Lê Đình An về nhứt với số giờ 1 phút 21 giây 5/10 sao.
Nguyễn Phú Đức về nhì với số giờ 1 phút 22 giây….

Sau khi lãnh giải Vô Địch bơi lội với chiếc cúp danh dự, tôi nhìn về phía
khán giả cúi đầu chào với ánh mắt biết ơn các anh quân nhân đã giúp tôi
có được danh dự này, khi tôi đi ra ngoài các anh quân nhân bước đến vỗ
vai tôi và khen ngợi. Tôi ngỏ lời cám ơn các anh. Khi ra về lòng tôi cảm
thấy hơi buồn. Các ông giám khảo đã vì tình riêng mà làm mất lẽ công
bằng. Có lẽ các ông biết tôi đi dự tranh mà không có Trưởng Đoàn đại
diện và cũng không có bạn bè hay người thân nào theo giúp đỡ nên mới
xử thiên vị ép tôi như vậy!

Chỉ còn một bước nữa là đến tột đỉnh danh dự của ngành bơi lội là vô
địch toàn quốc mà tất cả các lực sĩ đấu thủ đều ao ước. Với một tháng
tập dượt thêm mới đến ngày tranh, tôi cảm thấy phấn chấn mặc dầu rất
khổ cực.

Hôm nay là buổi tranh tài của các vô địch khắp nước từ Bến Hải đến Cà
Mau về đây để dự thi. Bắt đầu ban trọng tài và giám khảo giới thiệu
thành phần quan khách và các mạnh thường quân bảo trợ giải thưởng
cho cuộc tranh Vô Địch Bơi Lội toàn quốc đến tham dự. Lần này ban tổ
chức tuyên bố lực sĩ các môn bơi phải tranh vòng loại và vòng chung kết
cùng một ngày, vì lý do lực sĩ ở các nơi về quá đông, cho nên Ban Tổ
chức không thể cung ứng nơi ăn chốn ở đầy đủ, nên phải tổ chức rút
ngắn thời gian lại! Tôi suy tính khi tranh vòng loại tôi phải về nhì như 2
lần trước để dưỡng sức cho vòng chung kết. Sự việc đã xảy ra đúng như
dự tính của tôi, sau khi qua vòng loại và thắng vòng chung kết bộ môn
lội Ếch 100 thước, với thành tích là 1 phút 16 giây.

clip image009

clip image011

Buổi lễ phát giải thưởng Vô Địch Bơi Lội toàn quốc 1957, do Ông Bộ
Trưởng Thanh Niên Thể Thao Trần Chánh Thành chủ tọa tại sân
Vận Động Phan Đình Phùng. Các Lực sĩ Vô Địch gồm có các anh
Phan Hữu Dõng, Nguyễn Văn Phân, Trương Kế Nhơn, Dương Văn
An và tôi Lê Đình An
oOo

Tham gia Phong-Trào Lực sĩ Thẩm Mỹ và Cử Tạ Việt Nam

Sau khi tôi đã chiếm giải vô địch bơi lội toàn quốc Việt Nam, tôi thực
hành dự tính kế tiếp là phải tập cho có sức mạnh bằng cách tham gia
Phong Trào Thể Dục Thẩm Mỹ và Cử Tạ Việt Nam do Giáo sư Nguyễn
Thành Nhơn sáng lập. Giáo sư Nguyễn Thành Nhơn là anh ruột và cũng
là huấn luyện viên của lực sĩ Nguyễn Công Án khi còn du học tai Pháp.
Lực sĩ Nguyễn Công Án đã từng chiếm giải Lực sĩ Đẹp Nhất Thế Giới
vào năm 1954 và 1956. Tôi bắt đầu tập tạ năm 1958. Mỗi ngày tôi phải
đạp xe đường dài khoảng 14 cây số từ Thủ Đức xuống phòng tập Trung
Ương tại số 203 đường Võ Tánh Phú Nhuận, để được Giáo-sư Nguyễn
Thành Nhơn huấn luyện phương pháp tập tạ. Sau 2 năm tập tạ, tôi tốt
nghiệp khóa huấn luyện viên Thể Dục Thẩm Mỹ, phụ trách Huấn Luyện
phòng tập tại Trung Ương Phong Trào Thể Dục Thẫm Mỹ, buổi sáng từ
8 giờ sáng đến 12 giờ trưa….

Buổi Thi Lực sĩ Đẹp (Thẩm Mỹ) 1961 tại Ty Thanh Niên Đô Thành.
Góc đường Hai Bà Trưng và Hồng Thập Tự, Sài Gòn. Là lần cuối cùng.
Vì sau đó Bà Cố vấn Ngô Đình Nhu đã cấm vì cho là “Công xúc tu sĩ”.
oOo
Tôi tham dự khóa Huấn Luyện Săn Bắn Cá Dưới Biển Việt Nam do
Giáo sư Nguyễn Thành Nhơn huấn luyện và tham gia tranh giải Săn Bắn
cá năm 1960 (sau này khi vào Hải Quân, tôi tranh giải săn bắn cá cho
Đoàn Hải Quân, đã chiếm ba giải vô địch 1961, 62 và 1965).

Giáo Sư Nguyễn Thành Nhơn Chủ Tịch Tổng Cuộc Săn Bắn Dưới Biển
VN và Đội Hải Quân đoạt giải Vô Địch.1961- 1962 và 1965.
oOo

Nhìn lại đoạn đường mà tôi đã cố gắng, kiên nhẫn vượt qua không biết
bao nhiêu là trở ngại, tôi nghĩ đã có nhiều hy vọng để đạt được điều mơ
ước của mình!

Năm 1961, lại xảy ra một việc rất khó lựa chọn là vì tôi đã đến tuổi động
viên. Tôi rất mong muốn tình nguyện vào binh chủng Hải Quân, nhưng
vào Khóa Sĩ Quan thì tôi không đủ điều kiện về bằng cấp. Vì hoàn cảnh
của gia đình, nên việc học của tôi không liên tục, tôi chỉ học được tới Đệ
Tứ Trung Học mà thôi.

Hai người bạn thân là Nguyễn Văn Định-, thư ký của phòng tập Trung
Ương và Đỗ Cao Luận em ruột của Đại Tướng Đỗ Cao Trí, hai anh rủ
tôi cùng ghi tên nhập khóa 14 Sĩ Quan Bảo An, vì điều kiện chỉ cần
Chứng Chỉ Đệ Tứ Trung Học. Tôi suy tính mãi hơn một tháng đã qua,
hai bạn tôi đã nộp đơn rồi mà tôi vẫn chưa quyết định. Vì giấc mộng trở
thành Người Nhái tôi đã ôm ấp, và tôi đã cố công tạo dựng cho mình
những thành tích như đã nêu phần trên, bây giờ mà đổi hướng đi vào
binh chủng khác. Thì tôi không đành lòng. Cuối cùng tôi quyết định đi
theo con đường mà mình đã chọn từ hồi còn thơ ấu là tình nguyện đầu
quân vào quân chủng Hải Quân khóa Tân Binh Thủy Thủ để sau này hy
vọng được tuyển chọn về học khóa Người Nhái.

Tôi ghi tên tình nguyện đầu quân nơi phòng Tuyển Mộ tại đường Thi
Sách ngày 4-10-1961 khóa 26 Thủy Thủ Chuyên Nghiệp.
BTL/HQ/Phòng Quân Huấn (PQH) gởi khóa sinh Tân Binh lên
TTHL/Quang Trung để học căn bản quân sự. Sau khi mãn khóa căn bản
quân sự, BTL/HQ/PQH gởi chúng tôi xuống các chiến hạm để thực tập
về hải nghiệp.

Thực tập hải nghiệp trên chiến hạm HQ 225 “Nõ Thần”
Sau đó chúng tôi được đưa ra TTHL/HQ/Nha Trang nhập khóa chuyên
nghiệp. Sau 4 tháng huấn luyện, tôi mãn khóa với bằng chuyên nghiệp
Vận Chuyển. Khóa 26 được tàu đưa về tạm trú tại Trại Bạch Đằng 2 để
chờ lệnh thuyên chuyển ra đơn vị. Vài ngày sau tôi nhận lệnh thuyên
chuyển về Bộ Chỉ Huy Hải Trấn, Liên Đội Người Nhái.

Tôi rất vui mừng vì đó là kết quả của bao nhiêu năm trải qua biết bao là
khó khăn vất vả, để tự tạo cho mình có được một quá trình đạt thành ước
mơ từ khi tôi còn nhỏ mà BTL/HQ/Phòng Nhân Viên đã nhìn thấy qua
hồ sơ cá nhân của tôi, và mặc dầu đây chỉ là bước đầu.

Nhưng có một việc mà tôi không biết và cũng không ngờ là từ hồi nhỏ,
khi tôi thấy được tấm hình một tổ Người Nhái trên tờ báo Pháp vào năm
1950, đã làm cho tôi say mê… mãi cho đến bây giờ Quân Chủng Hải
Quân vẫn chưa có Quyết Định thành lập đơn vị Người Nhái.
Vì theo tài liệu thành lập Hải Quân VNCH. Nếu tính thời gian năm 1950
lúc đó thì còn Hải Quân của Pháp, mãi cho đến ngày 20 tháng 8 năm
1955 Thủ-Tướng Ngô-Ðình-Diệm mới ban hành Nghị-Định thành-lập
Hải-Quân VNCH.
Tôi trình diện Trung Úy Lâm Nhựt Ninh, Liên Đội Trưởng LĐNN.
Trung Úy Ninh cho biết hiện đang huấn luyện 2 khóa Biệt Hải tại Đà
Nẵng, còn LĐNN thì còn đang chờ Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH chấp
thuận cho thành lập. Trung Úy Ninh giao việc bí thư LĐNN cho tôi tạm
giữ. Vài ngày sau Trung Úy Ninh đem một số trợ huấn cụ ra Đà Nẵng để
tiếp tục huấn luyện khóa 2 Biệt Hải.

Năm 1963, sau khi huấn luyện khóa 2 Biệt Hải xong, toàn ban huấn
luyện trở về Sài Gòn.

Trong thời gian này tôi đã nhận được văn thư của BTTM/QLVNCH,
chấp thuận cho Bộ Tư Lệnh Hải Quân thành lập LĐNN, tôi trình cho
Trung Úy tất cả các văn thư tôi đã nhận. Trung Úy LĐT duyệt lại hết
văn thư và giao lại cho tôi và bảo tôi xem lại Bản Điều Lệ và Nội Quy
thành lập LĐNN để biết và lưu vào hồ sơ.

Sau khi tôi xem xong tôi cảm thấy có một vài điểm không được công
bằng cho Người Nhái.

(Trong điều lệ ghi: …
– Sau khi đậu Khóa Người Nhái, hàng năm, mỗi 6 tháng định kỳ đều
phải khám sức khỏe và trắc nghiệm lại thể năng. Nếu nhân viên không
còn đủ tiêu chuẩn NN thì sẽ trả về Hải Quân….
– Nhân viên NN thi hành công tác nếu chẳng may hi sinh, mất tích hay
bị thương tật thì hồ sơ sẽ đưa trả về Ban Xã Hội Hải Quân giải quyết
như các quân nhân HQ mà không được hưởng đặc ân chi cã….
Tôi nghĩ những điểm này không công bằng vì NN đã hi sinh mạng sống
trong những công tác hiểm nghèo mà khi bị thương tật hay mất tích v.v.
gia đình của NN không được hưởng sự đền bù xứng đáng, không khác gì
vắt chanh bỏ vỏ.)
Hôm sau tôi đem những điểm trong Bản Điều Lệ và Nội Quy ra bàn thảo
với Trung Úy Lâm Nhựt Ninh. Trung Úy nói những điểm này là do Bộ
TTM đã sửa lại. Tôi đề nghị Trung Úy làm văn thư trình lên BTL/ HQ
can thiệp với Bộ TTM để giúp cho quân nhân Người Nhái khỏi bị thiệt
thòi, vì những điểm đó bạc đãi nhân viên Người Nhái…. Trung Úy Liên
Đội Trưởng lắc đầu và cho tôi biết rất khó khăn lâu nay bây giờ mới
được Bộ TTM chấp thuận cho thành lập đơn vị Người Nhái, bây giờ
mình không thể xin gì được nữa. Tôi đành làm thinh mà lòng buồn vời
vợi….

Sau khi được chấp thuận cho thành lập LĐNN, Bộ TLHQ chỉ thị Trung
Úy LĐT mở khóa 1 huấn luyện Người Nhái tại TTHL/HQ Nha Trang.

Tất cả Ban HLNN lo chuẩn bị trợ huấn cụ. Còn tôi thì quyết định không
xin ghi tên nhập học, lại làm đơn xin trở về Hải Quân, vì tôi thất vọng
bởi các điều khoản ghi trong Nội Quy. Trung Úy LĐT không chịu ký
cho tôi về Hải Quân mà khuyên tôi, nếu tôi không muốn học thì cứ ở lại
đây để giúp cho Ban HL, vì Trung Úy LĐT biết tôi hiểu biết nhiều về kỹ
thuật Người Nhái. Sau khi suy nghĩ tôi đồng ý làm bí thư cho đơn vị phụ
giúp cho ban huấn luyện khóa 1 NN tại Trung Tâm Huấn Luyện Hải
Quân Nha Trang.

Sau khi mãn khóa huấn luyện, tất cả di chuyển về Sàigòn. Vài tháng sau,
Bộ Tư Lệnh Hải Quân thi hành chỉ thị của Bộ TTM. Trung Úy Liên Đội
Trưởng và đa số NN khóa 1 tình nguyện tăng phái cho Sở Phòng vệ
Duyên Hải, và di chuyển ra Đà Nẵng.

Trung úy Lâm Nhựt Ninh bàn giao chức vụ Liên Đội Trưởng lại cho
HQ. Trung Úy Phan Tấn Hưng. Vài tuần sau BTL/HQ phổ biến văn thư
đến tất cả các đơn vị Hải Quân để tuyển mộ quân nhân Hải Quân tình
nguyện theo học khóa 2 Người Nhái. Ban huấn luyện NN lo sắp đặt
chương trình và lãnh trợ huấn cụ.

Trung úy Phan Tấn Hưng sau khi nhận bàn giao chức vụ Liên Đội
Trưởng, xem lại hồ sơ nhân viên phục vụ tại Đơn vị NN, Tr/Úy Hưng
gọi tôi vào văn phòng và hỏi lý do tại sao tôi đủ điều kiện học khóa NN
mà lại không học ? Tôi trình bày vì có vài điều khoản trong Nội Quy và
Điều Lệ không công bằng cho NN nên tôi không muốn học. Sau khi tôi
chỉ các điều khoản đó, Tr/Úy Hưng nói để Tr/Úy xem lại. Vài ngày sau
gọi tôi vào văn phòng Tr/Úy Hưng cho tôi biết là đồng ý với tôi vì các
điều khoản đó thiệt thòi và bất công cho NN. Tr/Úy Hưng khuyên tôi
nên học khóa 2 NN và hứa sẽ làm văn thư xin điều chỉnh lại cho đơn vị
sau khi mãn khóa. Sau khi suy nghĩ tôi ghi tên theo học khóa 2 NN.

Khóa sinh tình nguyện theo học NN từ các đơn vị HQ lần lượt về trình
diện và được đưa đi khám sức khỏe, và phải qua phần trắc nghiệm thể
năng rất gay go mệt nhọc trong vòng 1 tuần lễ để thử sức chịu đựng của
khóa sinh.

Trắc nghiệm bơi lội: Thứ hai, bơi 200 thước tính giờ; đến thứ ngày thứ
bảy, phải bơi được 1,000 thước, tính giờ.

Trắc nghiệm chạy bộ: Thứ hai, chạy 1 giờ; đến ngày thứ bảy, khoá sinh
phải chạy được 4 giờ liên tục, vượt qua các chướng ngại vật, vượt đường
cát, chạy nhanh, đường quanh co v.v..

Tất cả khoá sinh về trình diện hơn 400 người, sau 2 tuần lễ trắc nghiệm
chỉ còn lại là 120 người. Tất cả khoá sinh và Ban HL di chuyển ra
TTHL/HQ Nha Trang vào mùa Đông năm 1964, để nhập khóa. Tất cả
khoá sinh chúng tôi đều hồi hộp lẫn lo âu. Chương trình HL rất nặng
nhọc cực khổ, đòi hỏi khoá sinh phải dẻo dai chịu đựng, không được bỏ
bất cứ 1 giờ học nào, nếu khoá sinh nào bỏ học vì lý do bệnh thì sẽ bị trừ
điểm, và cũng là lý do duy nhứt dành cho khoá sinh. Ngoài lý do bệnh
khoá sinh nghỉ sẽ bị loại khỏi khóa và được đưa trả về đơn vị gốc.

KHÓA HUẤN LUYỆN NN BẮT ĐẦU.
Ngày đầu tiên sau phần thể dục, Thượng sĩ 1 Đào Ngọc Kỳ, Trưởng ban
HL giới thiệu chương trình khóa học. Và bắt đầu vào chương trình qua
các môn, thực tập bơi bằng chân nhái với ống thở băng ngang qua biển,
chèo xuồng cao su Zodiac, chạy bộ đường trường, đường cát, đường sỏi
đá và đường núi. Thực tập đột kích, phục kích và phản phục kích, thực
tập xử dụng chất nổ phá hoại v.v.. Khóa sinh được HL trong 4 tuần lễ
đầu cho đủ sức để bước vào tuần lễ Địa Ngục. “Tuần lễ Địa Ngục”..Chỉ
nghe qua chúng tôi cũng đã hình dung được sự kham khổ khó nhọc vô
cùng. nhưng chúng tôi vừa được trang bị với câu Những gì người khác
không làm được, Người Nhái phải làm được.

Thể dục “Người Nhái”
Tuần lễ Địa Ngục của Người Nhái.
Tất cả các nơi trong khu vực trại của khoá sinh đều được căng những
tấm biểu ngữ màu đen tang tóc với những dòng chữ rất “ân cần” như
Mời các bạn khoá sinh vào thăm tuần lễ Địa Ngục. Nào là Quỷ Môn
Quan đang chờ các bạn. Và Các bạn hãy tranh đấu với bản thân để vượt
qua khổ ải này thì mới lột xác trở thành Người Nhái. Tấm thực đơn nơi
phòng ăn cũng được đổi món hàng ngày với các món ăn toàn là họ hàng
của Người Nhái như: Ếch chiên bơ, Nhái xào lăn, Cóc Tía nấu canh
chua, Nòng-nọc lăn bột chiên v.v..

Khóa sinh thầm bảo nhau phải hết sức cố gắng nếu vấp ngã thì coi như
mộng ước tan thành mây khói.

Khai mạc: 5 giờ sáng còi tập họp. Trưởng Ban Huấn Luyện giới thiệu
chương trình trong tuần lễ này tất cả khoá sinh đều phải thi đua tranh
thắng với tình đồng đội, mỗi xuồng cao-su là một đội. Điều lệ tranh đua,

nếu xuồng nào về áp chót và chót thì phải tự động vào thế nhận phạt. Và
các bạn được ngủ 7 giờ trong một tuần bắt đầu từ 12 giờ đêm sau buổi
ăn khuya, các bạn sẽ được huấn luyện viên hướng dẫn.
Thể dục NN là căn bản cho sức khỏe hàng ngày đều phải tập luyện, tiếp
theo là khoá sinh tranh môn Trò Chơi Thuyền Trên Bãi Cát. Nghe thì
hấp dẫn nhưng không phải vậy. Tất cả các Đội đều đội trên đầu chiếc
xuồng cao su đã sẵn sàng trên lằn mức. Sau tiếng còi của HLV các đội
tranh nhau vượt chướng ngại vật trên đường đua để về trước nên đã
đụng nhau té lăn trên bãi cát nóng. Cố gắng giành nhau về trước, nhưng
vẫn có 2 xuồng về sau. và được HLV cho vào thế 20 cái hít đất với chiếc
xuồng cao su trên lưng nặng khoảng 200 ký. Và cứ tiếp tục hết tranh đua
môn này thì lại tiếp theo môn khác. Quần quật cho đến giờ ăn trưa, khoá
sinh có 15 phút để ăn và nghỉ. Chúng tôi phải ăn thật nhanh để còn lo vệ
sinh cá nhân và nằm dưỡng sức không dám nói chuyện với nhau vì sợ
hết giờ. Sau đó lại tiếp tục tranh đua các môn khác do HLV chỉ dẫn.

Tuần lễ này lại gặp phải thời tiết mưa bão liên miên (bão Lucy kéo dài
suốt tuần lễ Địa Ngục.) Khi bóng đêm chìm xuống, người dân xóm
Chutt thỉnh thoảng lại thấy qua những lằn sét chớp lên trong cơn mưa,
ẩn hiện một đoàn người như bóng ma, âm thầm lặng lẽ miệt mài trong
bóng đêm chịu đựng gian khổ. Có đêm phải chèo xuồng vượt sóng dưới
cơn thịnh nộ của biển cả. Ngọn sóng cao từ 3 dến 4 thước sầm sập ập
vào những chiếc xuồng đầy nước. Có chiếc lạc tay chèo lái bị sóng đánh
bay lên bãi cát. Các khoá sinh cố đẩy xuồng vượt sóng ra khơi thật
không phải là chuyện dễ dàng. Có chiếc đang vượt ra lại bị sóng đánh lật
ngược chiếc xuồng, một khoá sinh không may bị xuồng đè lên bị trật cả
khớp xương sống, HLV chở vào nhà thương nên đành bỏ cuộc.

Cũng tuần lễ Địa Ngục này tôi bị trợt chân trong khi vượt đường núi, té
xuống gành đá, tôi chống tay trên san hô ngón tay cái bị tét một đường
dài, đau nhức vô cùng vì trong san-hô có chất nhớt tiết ra rất độc, tôi
phải cố chịu đựng ôm ngón tay càng lúc càng sưng lên, tôi chịu đựng
trong 3 giờ vượt núi mới được nghỉ và tự lo săn sóc cho mình vì đây là
tuần lễ Địa ngục mà (cho đến bây giờ ngón tay cái của tôi vẫn còn vết

thẹo xẻ đôi vòng tròn hoa thị, sau khi lành lại đã biến thành 2 vòng hoa
thị.)
Ban đêm thì cũng tranh đua tìm phương hướng, phục kích, đột kích,
phản phục kích. Đến 12 đêm, khoá sinh được ăn cháo và bắt đầu ngủ,
khoảng 15 phút sau HLV thổi còi ra lịnh: khoá sinh tập họp, quân phục
quần đùi áo trận, giày bên phải boot, bên trái là dép, 2 phút sau tập họp.
HLV chờ sẵn ngoài sân đón các khoá sinh ra trễ và 20 hít đất vào thế.
Đoàn người khập khễnh chạy ra bãi biển trong mưa gió và ngâm mình
dưới nước biển lạnh căm căm. Vài phút sau,chạy lên bờ hú gió kêu mưa
vang trong trong bầu trời mùa đông lạnh lẽo. Nhận thấy khoá sinh đã
đuối sức, HLV dẫn chạy về trại cho ngủ tiếp. Và cứ như vậy khoá sinh
ngủ được 15 phút lại được đánh thức với lịnh của HLV mà thi hành.
Suốt đêm cộng lại ngủ được 1 giờ mà thôi. Vì quá sức chịu đựng nên có
một số khoá sinh đã tự động xin bỏ cuộc.

Các môn huấn luyện trong tuần lễ Địa Ngục như sau đây:
• Thực tập chất nổ trên bờ, chất nổ dưới nước.
• Phá hoại trên bờ, phá hoại dưới nước.
• Đột kích, phục kích, phản phục kích.
• Phòng thủ trên bờ, phòng thủ dưới nước.
• Giết lính gác, bắt tù binh, giải thoát tù binh.
• Thu thập tin tức tình báo tác chiến.
• Bơi trên mặt nước, lặn dưới mặt nước ban ngày và ban đêm.
• Đội xuồng vượt chướng ngại vật.
• Chèo xuồng vượt sóng, ban ngày và ban đêm.
• Chạy bộ vượt đèo, vượt núi, chạy bộ đường cát, sình lầy ngày và đêm.
• Thả và vớt bằng xuồng cao su.
• Thám sát trên bờ, thám sát dưới nước.
• Lặn sâu, lặn xa, lặn có bình hơi và không có bình hơi.

Mỗi ngày đều bắt đầu bằng một giờ thể dục Người Nhái và tiếp theo là
chạy bộ 30 cây số đường trường, rồi lội 4 hải lý (1 hải lý là 1,852 thước)
1,852 th x 4 hl =7,408 thước. Tất cả vệ sinh thường thức đều hủy bỏ hết,
vừa ăn xong là tiếp theo giờ cận chiến trên bãi cát nóng, gồm các thế võ

Việt Nam, Judo, Jiu Jitsu, Karate, Aikido và Teakwondo…. Tập luyện
những thế võ giết địch không gây tiếng động.

Liên tục như vậy cho đến ngày thứ sáu, chúng tôi đã trải qua khổ
nhục:
• 2 lần bơi từ bãi TTHL/HQ qua Hòn Lớn và trở về điểm Cầu Đá
(khoảng cách 7,450 thước một lần).
• 2 lần đi dây Tử Thần bên TTHL/Biệt Động Quân.
• 2 lần chèo xuồng cao su quanh Hòn Lớn v.v..

Tất cả khoá sinh chúng tôi đều mệt mỏi dật dờ. Có anh đã ngủ gục trong
lúc chèo xuồng vì đuối sức. Nhưng mọi sự việc rồi cũng trôi qua.

Hôm nay là ngày cuối cùng của tuần lễ Địa Ngục, khoá sinh chúng tôi
lên tinh thần vì chỉ còn buổi hành xác 4 giờ chạy bộ là chúng tôi được
“mở ngục”. Đúng 5 giờ sáng, tập thể dục xong, khoá sinh ăn điểm tâm
và bắt đầu chạy từ TTHL/HQ dọc theo bãi biển vòng qua thành phố Nha
Trang rồi chạy về Cầu Đá, vòng qua núi Lớn xuống Đồng Bò và trở về
TTHL/HQ đúng 12 giờ trưa là chấm dứt.

Một khoá sinh gặp rủi ro khi đang chạy, anh bị sụp lỗ trên đường làm
anh bị trật gân chân, đau quá nhưng cũng cố lê lết về đến trại thì đã quá
giờ ấn định nên bị loại, anh ôm đầu tuôn rơi nước mắt.

***

Chấm dứt tuần lễ Địa Ngục, tất cả khoá sinh đều vui mừng nhưng không
còn sức để reo hò mà tất cả đều nằm lăn ra ngủ vùi. Sau tuần lễ này cân
đo lại mỗi khoá sinh đều sụt mất từ 4 cho đến 5 ký lô. Và nhân số khoá
sinh đã rơi rụng từ đầu khóa là 120 người, đến sau tuần lễ Địa Ngục chỉ
còn lại khoảng 40 người….
Bắt đầu khoá sinh học qua phần chuyên môn cao cấp tiếp theo như:
• Lặn sâu với bình hơi thở
• Thực tập đo nước lập Thủy Đạo
• Cập nhật hải đồ qua các phương pháp Bình Hành và Tác Chiến

• Thực tập chất nổ TNT, C4 v.v.. các phương pháp và công thức khác
nhau và các cách phá hoại để chận đường tiến quân, tạo chướng ngại vật
để cản trở đường di quân của đich bao nhiêu phần trăm v.v.
• Thực tập Hải bàn và địa bàn của Bộ binh.
• Huấn luyện cận chiến võ thuật chiến đấu dưới nước v.v..

Thực tập Đột Kích. Ngày và đêm

Nhảy Trực Thăng không dù.
Hôm nay là ngày đầu tiên thực tập nhảy không có dù từ trực thăng
xuống biển từ ngoài khơi bơi vào bờ để phá hoại.

Thời tiết biển động cấp 3, cấp 4, sóng cao và gió thổi mạnh. 8 giờ sáng,
2 chiếc trực thăng của TTHL/KQ đáp xuống bãi biển trước TTHL/HQ.
Chúng tôi đã sẵn sàng, một chiếc chở 6 khoá sinh bay lên trước để thử
tốc độ gió.

Khoá sinh Hồ Văn Khếnh được chỉ định nhảy trước vì anh đã được huấn
luyện trong khóa Biệt Hải tại Đà Nẵng rồi. Trực thăng bay lượn một
vòng rồi hạ thấp xuống lần còn cách mặt nước khoảng 20 thước, anh
Khếnh đã đứng trước cửa hông của trực thăng sẵn sàng chờ khi hạ thấp
còn chừng 10 thước thì đúng độ nhảy. Theo quy luật 30-30 nghĩa là trực
thăng bay cách mặt nước 30 feet với tốc độ 30 Knots (30 Miles/giờ hay
là 30 dặm/giờ), bỗng chiếc trực thăng bị hụt gió nên giật mạnh về một
bên, anh Khếnh bất ngờ bị văng ra khỏi trực thăng vì mất thăng bằng

chới với rớt xuống biển chìm luôn, khoá sinh chúng tôi vội nhào xuống
biển tìm vớt, nhưng vì biển động mạnh đã cuốn xác anh ra xa.

Tạm ngưng chương trình huấn luyện, chúng tôi lo tìm kiếm xác anh
Khếnh. Qua đến ngày thứ ba, toán ca nô đã vớt được xác của anh trôi
qua gần tới Hòn Bãi Miếu. Khi khám nghiệm thi thể, bên hông anh bị
gãy hết mấy xương sườn vì bị đập xuống mặt nước. Tang lễ tiễn đưa anh
Khếnh ra nghĩa trang Khánh Hòa.

Ngày hôm sau chúng tôi bắt đầu thực tập nhảy trực thăng trở lại. Tiếng
trực thăng bay vòng qua xóm Chutt làm kinh động người dân họ chạy ra
xem chúng tôi đang thực tập. Họ lo sợ xôn xao bàn tán vì thấy tai nạn
vừa xảy ra mà sao chúng tôi còn dám tập ? Nhưng cuộc thực tập của
chúng tôi ngày hôm đó đã thành công.

Lần lượt các môn học và thi mãn khóa. Tôi đậu Thủ khoa của khóa 2NN.
Khóa sinh chúng tôi thở phào nhẹ nhỏm. Điểm lại khóa sinh đậu bằng
chỉ còn lại 33 người (gồm 2 SQ và 31 HSQ/ĐV.) Thật là gian nan!
Ngày lễ mãn khóa được ấn định vào tháng 1/65. Khóa sinh được nghỉ
ngơi một tuần trước khi làm lễ mãn khóa. Trung úy Hưng giao cho tôi
trách nhiệm vẽ Phù Hiệu cho đơn vị.

Tôi nghĩ tới bức hình vẽ một tổ Người Nhái và trái Thủy lôi, đã làm cho
tôi say mê và đã giúp tôi đạt được ước vọng trở thành Người Nhái như
ngày hôm nay. Tôi vẽ hình trái Thủy Lôi đó vào giữa phù hiệu và màu
đen của trái Thủy Lôi tượng trưng cho sự nguy hiểm, và cũng có ý nghĩa
để tang cho tất cả Người Nhái anh dũng hy sinh vì Tổ Quốc.

BUỔI LỄ MÃN KHÓA 2 NGƯỜI NHÁI tại TTHL/HQ/NT
Hôm nay 16-1-1965, là ngày trọng đại của khóa sinh chúng tôi. 5 giờ
sáng anh em đã có mặt nơi diễn trường, cùng lo xếp đặt vật liệu, dụng cụ
biểu diễn. Nơi khán đài các toán Sinh viên sĩ quan Hải Quân lo chuẩn bị
dàn chào danh dự, và kiểm soát các hàng ghế của quan khách. Đúng giờ
khai mạc, Đại Tướng Nguyễn Khánh Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt
Nam Cộng Hòa đến, Tư Lệnh Hải Quân Đề Đốc Chung Tấn Cang cùng
với Hải Quân Trung Tá Nguyễn Đức Vân Chỉ Huy Trưởng TTHL/HQ,
ra tiếp đón quan khách.

Bắt đầu làm lễ, khóa sinh Thủ khoa bước ra khỏi hàng quân tiến lên giữa
hàng quay mặt về hướng khóa sinh, dõng dạc hô to: Khóa sinh. Quỳ.
Dưới hàng quân Khóa sinh hô to đáp lại: Xuống và tất cả khóa sinh đồng
quỳ xuống, Thủ khoa xoay người lại, hướng về phía quan khách rồi quỳ
xuống, đưa tay thẳng về trước, đọc lời tuyên thệ Trung thành với Tổ
Quốc, từng câu một, và khóa sinh cùng lập lại. Khi dứt lời tuyên thệ,
Thủ khoa đứng lên và bước tới 3 bước, đứng nghiêm chào.

Đại Tướng Nguyễn Khánh bước đến trước Thủ khoa trao bằng Danh Dự
rồi trở về khán đài. Thủ khoa xoay trở lại trước hàng quân, dõng dạc hô
to Người Nhái… Đứng. Khóa sinh hô to đáp lại: Lên. Và kể từ
giờ phút đó Khóa sinh đã trở thành Người Nhái.
Cuộc biểu diễn những kỹ thuật đặc biệt của Người Nhái
Bắt đầu các cuộc biểu diễn các môn như: Cận chiến, đột kích, phục kích,
đổ quân từ ngoài khơi lội vào bờ phá các chướng ngại vật, phá hủy các
công sự phòng thủ. Rồi bơi ra khơi so hàng dưới nước rồi tàu chạy đến
kéo vớt lên với kỹ thuật đặc biệt của NN.

Phương pháp thả vớt của NN…

Ảnh của US. Navy Seals.

Tổ NN đổ quân bằng trực thăng để Người Nhái lặn đến mục tiêu phá
hủy tàu ngoài khơi, do tôi và NN Nguyễn Đức Nguyên biểu diễn. Sau
khi lặn đến đặt chất nổ dưới lườn ghe (tượng trương cho chiếc tàu), tổ
của tôi lặn thẳng vào bờ biển và chạy đến trước khán đài. Đứng nghiêm
chào thì là đúng giờ khai hỏa, chất nổ C4 đặt dưới lườn ghe phát nổ và
chiếc ghe tan tành theo cột nước khổng lồ tung lên không trung.

clip image035

clip image037

Ảnh từ trái qua: Đại Tướng Nguyễn Khánh, Tổng Tư Lệnh QL/VNCH.
Ảnh giữa: Quan Khách chụp ảnh lưu niệm. Khóa 2 NN
Ảnh Phải: Phó Đề Đốc Chung Tấn Cang, Tư Lệnh Hải Quân.
Sau buổi biểu diễn mãn khóa, Người Nhái chúng tôi được lệnh phải biểu
diễn thêm một lần nữa tại Vũng Tàu theo chỉ thị của Đại Tướng để cho
Hội Đồng Quân Lực và Nội Các Chánh Phủ xem, vì Đại Tướng cho biết
rất thích cuộc biểu diễn của Người Nhái vừa rồi !
***
Riêng về phần tôi, những mơ ước ngày còn thơ ấu, nay đã trở thành sự
thật. Sự thành công mà tôi đã phải trả một giá thật đắt, thật gian nan nếu
tôi không đủ nghị lực, kiên nhẫn thì chắc không có được như ngày hôm

nay. Và sự thành công này cũng đầy hiểm nguy trùng trùng điệp điệp
cho đời tôi đang mở ra trước mắt vì nhiệm vụ Người Nhái là phải thi
hành công tác đặc biệt trong nhiều lãnh vực v.v.. Với lòng tự tin Người
Nhái chúng tôi qua câu “Những gì người khác không làm được, Người
Nhái phải làm được” để tự khuyên mình cố gắng nhiều hơn để hoàn
thành mọi công tác do cấp trên
giao phó.

HUẤN LUYỆN VIÊN NGƯỜI NHÁI
Năm 1965, Sau khi mãn khóa 2 NN, Liên Đội Người Nhái di chuyển ra
căn cứ Hải Quân Cát Lở Vũng Tàu. Vào cuối năm BTL/HQ gởi văn thư
cho LĐNN mở khóa huấn luyện cho một toán LLĐB gồm 5 người gốc
Miên ở Hậu Giang để thi hành công tác bí mật ở Nam Vang.

Huấn luyện viên gồm có: Nguyễn Đức Nguyên (Trâu cổ) Nguyễn Văn
Cang (Cang Mão) Huỳnh Ngọc Sâm (Sâm khùng) Nguyễn Văn Đạt (Đạt
gồ) và tôi (An trâu nước).
Các khóa sinh ưu tú của LLĐB đã được tuyển chọn gởi đến. Nhưng sau
hơn một tuần huấn luyện các khóa sinh LLĐB đã gởi thư xin đơn vị cho
bỏ khóa học vì không theo nổi. Nhưng vì nhu cầu cần thiết của công tác
nên BTL/LLĐB gởi công điện cho BTL/HQ yêu cầu giảm bớt phần
huấn luyện chỉ cần học 1/3 chương trình huấn luyện mà thôi.

Sau khi mãn khóa, toán LLĐB trở về đơn vị. Và khoảng một năm sau
báo chí loan tin chánh phủ Nam Vang kiện VNCH lên tới Liên Hiệp
Quốc lý do là đã huấn luyện Biệt Kkích đưa qua phá hoại Cam Bốt.

Nhân đây tôi xin lược qua nhiệm vụ huấn luyện viên NN là phải tập
luyện cho các khóa sinh nếm mùi khổ nhọc, nhẫn nại để đi đến thành
công Vì Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu để sau này
tung ra công tác tại các toán trên 4 Vùng Chiến Thuật, khắp 5 vùng
Duyên Hải.

Nhưng khi nói đến huấn luyện viên Người Nhái thì phải biết các anh có
sức chịu đựng hơn người vì các anh này là thành phần ưu tú trong các

khóa học cũng như công tác và cũng từng trải qua các trận chiến. Ngoài
chương trình huấn luyện chính, các anh còn đem kinh nghiệm của bản
thân để giúp cho các khóa sinh hiểu biết thêm.

Khi huấn luyện nếu các khóa sinh thi hành không đúng lệnh thì huấn
luyện viên cũng tự động VÀO THẾ 20 đến 50 cái hít đất với khóa sinh,
nhiều khi cùng lúc phạt hết khóa sinh này lại đến khóa sinh khác, khi
cộng lại người huấn luyện viên hít đất đến cả ngàn cái trong buổi huấn
luyện. Các môn huấn luyện khác HLV luôn luôn hướng dẫn và cùng thi
hành với khóa sinh chớ không phải chỉ tay năm ngón, Vì thế nên các
khóa sinh trong khi thụ huấn đều gọi các huấn luyện viên là HUNG
THẦN. Còn các HLV khi vào khóa thì cũng giống như đang học thêm
một khóa NN.

Mục đích sử dụng hình phạt trong lúc huấn luyện chính yếu là:
1. Phải TỰ GIÁC khi mình lầm lỗi, phải tự động phạt mình để tự mình
sửa chữa lỗi lầm, phải cẩn trọng trong mọi công việc, vì khi đi công tác
mà lầm lỗi chỉ một lần thôi thì đã về bên kia thế giới rồi (không có lần
thứ hai) như ngành Phá hoại dưới nước UDT, tháo gỡ chất nổ EOD,
v.v..)

2. Phạt hít đất hay những hình phạt khác đều có tánh cách là tạo thêm
sức khỏe, sự chịu đựng dẻo dai và nhẫn nhục cho khóa sinh, nhưng huấn
luyện viên vẫn phải đi đầu! Nếu đem so sánh với các quân trường khác
thì chúng ta sẽ thấy khác biệt, vì các quân trường đều áp dụng hình phạt
kỹ luật, huấn luyện viên hoặc huynh trưởng chỉ ra lệnh cho khóa sinh
hay sinh viên thi hành mà thôi, mục đích chính là tạo cho khóa sinh, sinh
viên sĩ quan sợ kỷ luật mà tuân hành (vì người viết bài đã tốt nghiệp
khóa 5/70 SQĐB Quân Trường Bộ Binh Thủ Đức).

Được trui rèn trong lò “Luyện thép” của Người Nhái (Vietnam Navy
SEALS) nên khi đi công tác hành quân, Người Nhái cảm thấy những
khó khăn gặp phải đều không bằng trong lúc thụ huấn cho nên họ rất tự
tin, và dĩ nhiên nếu NN có can trường xông pha oanh liệt nơi chiến
trường thì chúng ta phải hiểu rằng huấn luyện viên của Người Nhái còn
cao hơn họ một bậc!

NN Lê Đình An

Người Cận Vệ của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu
vượt ngục tù CSVN - NN Lê Đình An

Posted by KiwiTeTua July 26, 2019 3231

• font size
• Print

Người Cận Vệ của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu vượt ngục tù
CSVN

Lê Đình An

---oo0oo---

Đây là đoạn hồi ký của tôi trong những ngày Cộng Sản chiếm miền
Nam, và 2 lần vượt ngục tù cải tạo trong 3 năm sống với chế độ Cộng

Sản. Hồi ký nầy tôi viết tại trại tỵ nạn Mã Lai, Tiểu bang Kelantan, Tỉnh
Kotabaru.

Lê Đình An
Mùa Thu, năm 1978

******

Dĩ vãng hiện lên đầu óc tôi như cơn ác mộng bi thương buồn thảm!

... Ngày 21-4-75, tôi được báo cho biết có cuộc họp báo nơi phòng Khánh
Tiết (trong Dinh Độc Lập). Nội dung cuộc họp báo tôi chưa được biết, đó
cũng là việc làm bảo mật thường ngày của khối Cận Vệ chúng tôi.... Cuộc
họp báo lúc 19 giờ đêm 21-4-75.

Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức,
bàn giao chức vụ lại cho Phó Tổng Thống Trần Văn Hương làm Tổng
Thống theo Hiến Pháp do Lưỡng Viện Quốc Hội chỉ định.

Trong lúc chiến sự gay go nguy hiểm, Cộng quân đã chiếm toàn miền
Trung và đang bao vây Tỉnh Long Khánh. Tin Tổng Thống Thiệu từ
chức đã làm cho toàn thể Quân Lực đang chiến đấu với Cộng quân trên
khắp các mặt trận bị giao động hoang mang mất hẳn tinh thần.

Đến chiều ngày 28-4-75. Tổng Thống Trần Văn Hương họp báo giao
quyền Tổng Thống lại cho Đại Tướng Dương Văn Minh theo yêu cầu
của Lưỡng Viện Quốc Hội VNCH.

Ngày 29-4-75. Tổng Thống Dương Văn Minh ra lệnh trục xuất người
Mỹ phải rời khỏi Việt Nam trong vòng 24 giờ.

Cảnh tao loạn đã diễn ra khắp nơi trong đô thành, trong khi các phái bộ
Hoa Kỳ cấp tốc rời khỏi VN do cuộc không vận khổng lồ từ các căn cứ
ở Thái Lan, Phi Luật Tân và Hàng Không Mẫu Hạm Đệ Thất Hạm Đội
chờ sẵn ngoài khơi. Trong lúc đó người dân VN cũng được không vận ra
đi với các gia đình nhân viên làm việc cho Mỹ, cũng trong số đó có cả
quân nhân, công chức cùng thoát đi.

Tình hình chiến sự càng lúc càng thêm nguy ngập, Cộng quân đã cắt hẳn
các con đường vào thành phố và đang tập trung quân để bao vây đô
thành….

Về phần tôi, sau khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, 2 ngày sau
tôi được lệnh hộ tống đưa Tổng Thống phu nhân lên phi trường để đi
Đài Loan.

Anh em Cận Vệ chúng tôi vẫn túc trực ứng chiến 24/24 tại Dinh Độc
Lập.

Tôi được biết Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu sau khi từ chức vẫn còn ở
lại trong Dinh Độc Lập cho đến đêm 25-4-75. Phái bộ Hoa kỳ vào Dinh
rước đi cùng lúc với thành phần Nội Các chánh phủ của Ông.

Khối Cận Vệ lúc bấy giờ do Trung Tá Võ Trung Thứ điều hành, và tất
cả Cận Vệ Viên từ Sĩ Quan, hạ Sĩ Quan và Binh sĩ vẫn còn túc trực., vì
nhiệm vụ của khối Cận Vệ là bảo vệ vị nguyên thủ quốc gia . Khi Tổng
Thống Nguyễn Văn Thiệu ra đi, chúng tôi lại có nhiệm vụ bảo vệ vị
nguyên thủ đương nhiệm Tổng Thống Trần Văn Hương và rồi đến Tổng
Thống Dương Văn Minh…

Đối với Ông Trần Văn Hương thì tôi là một trong số những Người Nhái
có nhiệm vụ bảo vệ cho Ông từ khi đang giữ chức vụ Thủ Tướng, Đại
Tướng Nguyễn Khánh giải nhiệm Ông Trần Văn Hương vào năm 1965.

Cộng Sản đã lên 7 bản án tử hình, BTL/HQ chỉ thị cho toán Người Nhái
bảo vệ an ninh cho Ông.
Ông cụ mỗi đêm thường gọi tôi đến bên Ông ngồi chung trên chiếc võng
đong đưa trong tiền đình của ngôi nhà Santa Maria tại Vũng Tàu..

Ông kể cho tôi nghe những mẩu chuyện trong đời Ông từ thời kháng
chiến chống Pháp trong bưng biền và cho đến lúc Ông ra làm Đô
Trưởng đô thành Sài Gòn Chợ Lớn, rồi đến chức vụ Thủ Tướng cho đến
lúc bị giải nhiệm…Ông thân thiết và thường khuyên bảo tôi như con
cháu trong nhà.

Được vài tháng sau tôi và một số NN trở về BTL/HQ để nhận công tác
đo nước lập thủy đạo, cập nhật hải đồ các bãi đổ bộ cho toàn miền Nam,
từ Bến Hải đến Đảo Phú Quốc suốt mấy tháng trường.. Mải đến năm
1971, Ông Trần Văn Hương ứng cử Phó Tổng Thống chung liên danh
với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Khối Cận Vệ Phủ Tổng Thống đề
cử tôi làm Sĩ Quan trưởng toán Cận Vệ để bảo vệ cho Ông trong suốt
thời gian Ông cụ đi vận động tranh cử cho đến khi đắc cử.

Sau lễ Đăng Quang nhậm chức Phó Tổng Thống, toán Cận Vệ chúng tôi
trở về nhiệm sở khối Cận Vệ Phủ Tổng Thống, Ông cụ gọi tôi vào và
ngỏ ý muốn tôi ở lại làm việc cho Ông, tôi cám ơn Ông cụ và từ chối..Vì
nhiệm vụ của toán Cận Vệ chúng tôi là bảo vệ cho Ông cụ và cùng lúc
huấn luyện cho toán Vệ Sĩ của Phủ Phó Tổng Thống về các phương
pháp bảo vệ an ninh cho yếu nhân do Đại Úy Cương (cháu ruột của Ông
cụ) làm Trưởng Toán.

Vì có những liên hệ như trên nên khi Phó Tổng Thống Trần Văn Hương
đảm nhiệm chức vụ Tổng Thống VNCH do Tổng Thống Nguyễn Văn
Thiệu bàn giao, tôi lại nhận trách nhiệm Sĩ Quan Cận Vệ cho Ông cụ.

Đến ngày 28-4-75.Đại Tướng Dương Văn Minh nhận chức vụ Tổng

Thống VNCH do Lưỡng Viện Quốc Hội yêu cầu Tổng Thống Trần Văn
Hương bàn giao..

Đại Úy Trần Bá Huệ (cháu ruột của Tổng Thống Dương Văn Minh) giữ
chức vụ Trưởng Phòng Cận Vệ, lại giao cho tôi và Chuẩn Úy Trang Đức
cận sát để bảo vệ cho TT Dương Văn Minh. Đại Úy Huệ biết rõ và tin
tưởng khả năng võ thuật và tác xạ của tôi vì Đại Úy Huệ phục vụ bên Võ
Phòng Phủ Tổng Thống lúc trước, nên Đại Úy Huệ thường thao dượt
luyện võ với tôi. cũng vì vậy mà tôi phải túc trực 24/24 .

Tối đêm 29-4-75. Cộng quân pháo kích vào đô thành khắp nơi, tôi và
Thiếu Tá Trần Cchí Đức Trưởng Toán 4 Cận Vệ, đang phân phối điểm
gác tại tư dinh số 3 đường Trần Qquý Cáp, Đại Úy Huệ giao cho tôi tấm
vải trắng để xé ra đeo trên cánh tay trái để làm ám hiệu, tôi nghi ngờ hỏi
Đại Úy Huệ: Tại sao lại dùng vải màu trắng làm ám hiệu ? Đại Úy Huệ
không trả lời. Thiếu Tá Trần Chí Đức Trưởng Toán 4 liền lên xe Jeep bỏ
đi mất.

Một lúc sau thấy không an toàn vì pháo kích nên Tổng Thống Minh và
Nội Các chánh phủ cùng gia đình vào dinh Độc Lập nghỉ đêm..

Trung Tá Võ Trung Thứ họp Sĩ Quan chúng tôi lại và rưng rưng nước
mắt : Có lệnh cấp trên, các Anh Em hãy nghe tôi..Hãy nghĩ đến gia đình
các anh .. mà theo lệnh cấp trên. Buông súng xuống!Tất cả nhục nhã nầy
tôi xin gánh chịu..các anh đừng nên chống lại nữa vô ích…

Trung Tá Thứ còn nói nhiều nữa…Nhưng tôi không còn nghe gì được
nữa cả..uất hận tuôn trào.. Tôi cảm thấy chơi vơi..nhục nhã ..đau đớn ê
chề.. Tôi nghĩ nếu chúng tôi thật sự chống trả thì dầu cho Cộng quân có
bao vây dinh Độc Lập bằng chiến xa, pháo binh hay tấn công bằng phi
cơ, thì chúng tôi cũng có thể giữ được ít nhứt là nửa tháng…Chúng tôi
căm tức nhưng biết mình cũng không xoay sở được gì..!

Sau khi suy tính cùng các anh em Cận Vệ, tôi và một số anh em cùng lên
xe Jeep chạy đến Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ với hy vọng được rời khỏi Việt
Nam trong những chuyến trực thăng di tản cuối cùng, chớ không thể bó
tay đầu hàng Cộng Sản được..

Nhưng chúng tôi không thoát được định mạng đã an bài, vì khi đến Tòa
Đại Sứ Mỹ nhìn thấy dân chúng đang chờ đợi ngoài vòng rào đông quá,
không thể nào trực thăng chở đi hết được vì đúng 12 giờ đêm 29-4-75 là
hết thời hạn di tản. Chúng tôi chờ mãi đến 5 giờ sáng ngày 30-4-75…

Thất vọng và chán nản quá.. chúng tôi đành quay trở về dinh Độc
Lập ..Đầu óc tôi cứ quay cuồng câu Nước Mất, Nhà Tan.

6 giờ sáng ngày 30-4-75.Chúng tôi hộ tống Tổng Thống Dương Văn
Minh qua dinh Thủ Tướng để họp Nội Các. Cộng quân bắt đầu pháo
kích mạnh hơn vào thành phố, dân chúng chạy loạn khắp nơi… 9 giờ
sáng, 2 chiếc trực thăng dành riêng cho Tổng Thống cất cánh rời khỏi
dinh Độc Lập do các Sĩ Quan phi công bỏ đi đúng như dự tính, nhưng vì
tôi không có mặt nên đành lỡ chuyến..Dự đinh của chúng tôi sẽ đi khuya
đêm 29-4-75, nhưng sợ cất cánh ban đêm sẽ bị bắn vì có lịnh giới
nghiêm, nên phải đợi đến sáng.

Trung Tá Lân- Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn An Ninh Danh Dự, Thiếu Tá
Hậu- Trưởng Khối An Ninh Phủ Thủ Tướng và tôi cùng bàn thảo nên
thoát đi bằng cách nào, nhưng vẫn vô kế, vì đường về miền Đông và
miền Tây đều bị cô lập..Chúng tôi nhìn nhau mà lòng buồn man mác..

Tiếng súng vẫn nổ vang rền trên các đường phố, máy truyền tin bên
cạnh chúng tôi vẫn vang lên lời báo cáo khắp nơi về..Cộng quân đang
giao chiến tại Gò Vấp..Ngã Tư Bảy Hiền đã thấy bóng Việt Cộng…Cầu
Nhị Thiên Đường đang đánh…Tiểu Đoàn Dù đang đụng độ dọc theo các

chốt đóng trên xa lộ..v.v.....

10 giờ 30, chúng tôi hộ tống TT Minh về dinh Độc Lập, trên tay chúng
tôi khẩu súng đã trở thành vô dụng, vì không được nổ súng trong mọi
trường hợp…Anh em chúng tôi đưa mắt nhìn nhau mà không nói được
lời nào…Rồi việc phải đến đã đến..Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên
bố đầu hàng vô điều kiện, đúng như sự nghi ngờ về ám hiệu màu trắng
tôi đã nêu trên..

Đầu hàng.. Đầu hàng à… Trời ơi!! Chúng tôi phải chịu nhục nhã như
vầy sao?? Tổ Quốc quấn khăn tang, mây che phủ đầu trên thành phố
thân yêu…Hàng vạn nhà ra tro ra khói bốc cao trời..

Bài ca “Vuốt Mặt” như vang lên đâu đây…Làm cho tôi tê tái..giọng ca
uất hờn..như tiếng nấc nghẹn ngào của Quê hương… VIỆT NAM ƠI!!
VIỆT NAM ƠI!!

Thật không còn gì đau đớn cho bằng việc tôi nhìn thấy cảnh mất nước
do một số người ham tranh giành ngôi vị..để rồi giờ đây đứng cúi đầu
rước quân thù trên thềm dinh Độc Lập..nơi mà cả thế giới nhìn vào trên
bốn ngàn năm lịch sử oai hùng của dân tộc..

******

Bắt đầu các tên Việt Cộng nằm vùng tiềm phục trong các cơ quan lộ mặt
trong dinh Độc Lập thì do tên thợ điện đứng ra tiếp thu rồi giao lại cho
đơn vị bộ đội Hương Giang chiếm giữ.

Sau 5 ngày bị quản thúc tại dinh Độc Lập, chúng tôi được thả về để chờ
lịnh tập trung cải tạo…Lòng tôi tan nát không còn nghĩ suy gì được nữa
cả..Tôi lang thang trên đường phố hết ngày nầy sang ngày khác. Từ thuở
nhỏ cho đến bây giờ tôi chưa bao giờ rơi nước mắt vì bị thương tích của

thể xác, nhưng sao bây giờ nước mắt tôi cứ tuôn ra không sao cầm lại
được..!

Đến ngày chúng gọi tất cả Sĩ Quan đi trình diện học tập cải tạo mà tôi
vẫn chưa nghĩ ra được cách nào để hoạt động chống lại bọn Cộng Sản vì
thời gian phải trình diện quá ngắn và còn quá rối loạn, nên đành phải đi
trình diện học tập, mong nếu chúng giữ lời hứa là Sĩ Quan cấp Úy chỉ đi
học tập cải tạo 10 ngày, sau đó mới có cơ hội hoạt động được.

Ngày 28-6-75 là thời hạn cuối cùng, tôi đến trình diện tại trường Sơn Hà
(Dakao). Đến 2 giờ sáng ngày 29-6-75, chúng điểm danh và đưa chúng
tôi lên xe Molotova bỏ mui bố phủ kín lại trong khi di chuyển. Khoảng 4
giờ sáng đến nơi, có người biết nơi đây là Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn 5
Công Binh (Thành Ông Năm) căn cứ nầy còn nguyên vẹn. Khoảng 9 giờ
sáng bọn chúng ra lịnh chúng tôi đi thâu dọn tất cả đạn dược rơi rải khắp
nơi trong trại để giao lại cho chúng. Riêng tôi vẫn nghi ngờ bọn chúng
không thật sự giữ lời hứa, nên tôi lén đem giấu 5 trái lựu đạn M 26 nơi
đốóng cát trước dãy trại của tôi ở.

Bắt đầu bọn chúng tổ chức chia chúng tôi ra từng khu vực, mỗi khu
khoảng 150 người, mỗi đội gồm 5 hoặc 6 tổ, mỗi tổ 12 người. Tổ chức
nhà bếp, nhà cầu và đào giếng nước. Tôi càng nghi ngờ hơn về chánh
sách của bọn chúng, vì nếu chỉ đi học tập trong vòng 10 ngày thì bọn
chúng bắt chúng tôi phải làm tiện nghi có tánh cách dài hạn để làm chi?

Đến ngày thứ 3, chúng bắt đầu thâu tiền cơm 10 ngày, bọn chúng cho
chúng tôi uống thuốc ngừa sốt rét ?, trong 5 ngày và phải uống trước mặt
của chúng nó, tôi không tin vì nghi ngờ nên chỉ ngậm trong miệng đem
ra ngoài bỏ đi.

Lần lựa ngày nầy sang ngày khác, đã đến 10 ngày rồi mà bọn chúng
không nói năng chi cả, có người hỏi thì chúng trả lời các anh chưa học

tập bài nào cả nên chưa về được. Rồi một tháng trôi qua chúng vẫn im
lìm..

BẮT ĐẦU NGHIÊN CỨU VÀ TỔ CHỨC VƯỢT TRẠI
Lợi dụng ban ngày còn đi qua lại các trại khác được, tôi qua khu trại kế
bên để tìm người đồng tâm ý để sắp đặt kế hoạch từ trong trại nầy thoát
ra rồi phải làm thế nào v.v.. Khoảng 2 tuần sau, tôi đãtổ chức được 2 tổ,
mỗi tổ là 2 người, tổ 1 tên Nam và Dũng, Nam là cháu của Giám Đốc
Quan Thuế phi cảng Tân Sơn Nhứt, còn Dũng thì có nhà thuốc Tây ở
đường Bùi Viện Quận Nhì Sài Gòn, gia đình của 2 anh có ghe tàu sẵn,
đang chờ 2 anh ra để vượt biên.

Tổ 2 Hoàng Trinh, Sĩ Quan Đại Đội Biệt kích Dù đã từng nhảy xuống
Hạ Lào, và Nguyễn Hoành, Đại Đội Trưởng Biệt Động Quân. Anh
Hoành biết được 2 thứ tiếng Thượng phổ thông. Dự tính tổ 2 khi ra khỏi
trại sẽ vượt biên giới qua Thái Lan để tìm đường giây kháng chiến trở về
giải phóng đất nước…Trong 2 tổ, tôi thích tổ 2 hơn vì đồng quan điểm
là chúng tôi phải làm gì cho quê hương đất nước chớ không thể khoanh
tay.. Nhưng vẫn phải chờ cơ hội, vì các anh đều còn hy vọng là được
bọn CS thả về rồi mới xoay xở về sau.

Tháng thứ 2 đã trôi qua, bọn chúng bắt đầu cho học tập 10 bài chánh trị
trong tháng thứ 3. Nội dung các bài có tánh cách phỉ báng chế độ
VNCH, và ngụ ý tất cả người dân miền Nam đều có tội với cách mạng
của bọn chúng qua nhiều hình thức khác nhau… Tháng thứ 4, sau khi
học xong 10 bài, bọn chúng bắt tất cả phải khai tội đối với cách mạng,
và dụ dỗ phải khai cho thật, chúng sẽ khoan hồng. v.v.

Tôi rất nóng lòng vì biết bọn chúng chẳng bao giờ thả tôi ra. Tôi giấu
nhẹm không khai thành tích diệt Cộng Sản khi còn ở đơn vị Người Nhái
đã từng tiêu diệt VC trong những lần phục kích và đột kích vào mật khu
của chúng trong vùng Rừng Sát Nhà Bè, trong suốt mấy tháng hành

quân phối hợp cùng với Seal Team Hoa Kỳ .. Nhưng tôi vẫn lo không
biết là hồ sơ trong đơn vị còn nguyên hay đã được tiêu hủy trước khi
chúng vào..

Tôi tổ chức một người bạn ngày trước làm việc tại BTL/HQ/P4. ở gần
phòng tắm của bọn cán bộ để lấy tin tức tình hình ở ngoài như thế nào,
sau mấy tuần tôi được biết ở ngoài đã có biểu tình đòi chồng con đang đi
học tập, và có đụng độ ở Đèo Cheo Reo và Đèo An Khê, Ban Mê Thuột
có pháo kích do phần tử ly khai của Quân Đội VNCH thực hiện..

Những tin nầy càng làm cho tôi tin chắc các Sĩ Quan sẽ khó mà được
chúng thả về. Tôi đem tin nầy bàn với tổ 1, Nam và Dũng đều không
dám vượt rào, tôi đành phải nói xuôi theo là cùng chờ đợi..Tôi bàn với tổ
2 , Hoành và Trinh hơi ngần ngại, nhưng tôi khích động nên 2 anh đồng
ý vượt rào, kế hoạch từ trong ra ngoài thì bên của ai nấy lo, và hẹn điểm
gặp nhau ngoài vòng rào là bãi tha ma cách vòng rào phía Đông chừng
700 thước.

Tôi đem những điều đã nghiên cứu như sau cho Hoành và Trinh biết:
- Hệ thống phòng thủ: Cô lập từng khu; an ninh mật báo từng tổ(vì thế
mà tôi không tổ chức vượt rào trong đội của tôi); giới hạn đi lại qua con
đường nhựa; ban đêm có lính gác đôi lưu động có đèn rọi sáng cả con
đường nhựa; bờ đê cao 2 thước; 6 lớp Consertina;4 lớp rào kẽm gai, rào
đứng, xiêng, ngang và hào chống chiến xa sâu 4 thước, rộng 5 thước; 2
giờ đổi gác 1 lần;ở ngoài vòng rào khoảng 2 giờ có toán tuần tiễu (đoán
theo tiếng chó sủa).

Khi thoát ra đến điểm hẹn ngoài vòng rào nơi bãi tha ma, nếu quá 2
tiếng đồng hồ không gặp nhau thì tự tìm về Sài Gòn, qua ngày sau sẽ
gặp nhau tại điểm hẹn ở xa lộ Biên Hòa, trễ nhứt là ngày thứ 3 sau khi ra
được phải gặp nhau để bàn tính thêm kế hoạch vượt biên giới…Bây giờ
chúng tôi chỉ còn chờ cơ hội và thời tiết thuận tiện.

Đời sống của các Sĩ Quan VNCH trong các trại giam cầm mà bọn CS
gọi danh từ thật hoa mỹ là “Học tập cải tạo” thực ra chỉ để trả thù tập thể
Quân Đội VNCH, giết lần mòn vì đói thiếu dinh dưỡng, bịnh tật vì
không có thuốc men. Trong tổ của tôi có anh bạn Trần Văn Hồ bị bịnh
tiêu chảy suốt 1 tuần lễ mà phòng Y Tế không cho một giọt thuốc nào
cả, đến tuần lễ thứ 2 thì bịnh biến chuyển qua kiết lỵ, anh em cùng tổ lo
cho nhau chớ phòng Y Tế không ngó ngàng gì đến.. Ăn uống quá thiếu
dinh dưỡng, chỉ trong vòng 2 tháng mà trại đã có khoảng 40% bị liệt bại.

Tôi nghi ngờ là bị chúng đầu độc bằng thuốc mà bọn chúng đã cho uống
khi mới vào trại, từ khi uống thuốc vào, khoảng chừng 2 tháng rưởi sau,
đang đứng mà té lúc nào chẳng hay.
Trong suốt gần 4 tháng mà chúng tôi chỉ ăn được mỗi tháng một lần thịt
heo, mỗi người được khoảng 8 gram thịt, mỡ lẩn da . Tôi nghĩ may là
trại nầy còn được mấy con heo do trại gia binh quân đội VNCH bỏ lại,
nên bây giờ chúng tôi mới được ăn thừa của bọn chúng bỏ ra cho.. Thèm

thịt, thiếu mỡ, không đường, nên chúng tôi bắt tất cả con gì ăn được mà
ăn như chim chóc, rắn rết,chuột, ếch, cóc nhái, ảnh ương .v.v.

Còn về tinh thần anh em Sĩ Quan thì lụn bại thê thảm, tất cả đều bi quan
về cuộc chiến thảm bại vừa qua, ý nghĩ của họ mong mỏi được CS
khoan hồng mà thả họ về với gia và đình phục hồi đời sống cũ …Cũng
trong trại tôi có gặp 2 người bạn ở trại kế bên , một anh lúc trước chỉ huy
toán phòng không dinh Độc Lập, thuộc Toán 4, khi chiếc phản lực cơ do
tên phản nghịch Nguyễn Thành Trung, mang bom dội vào dinh Độc
Lập, anh đã kịp thời bắn chận nên lần thứ 2 bom thả đãlệch ra ngoài vì
không còn chính xác , và anh Trưởng Toán gác dinh Độc Lập. Tôi đem
ý định vượt rào thì anh nào cũng không dám thực hành mà cũng chỉ
mong được thả về đoàn tụ với gia đình…

Thời cơ đã đến do việc chúng nó phát động phải tích cực lao động nặng.
Tôi suy đoán là chúng nó sắp chuyển chúng tôi đến trại khác xa xôi và
làm việc nặng nhọc hơn. Tôi bàn tính với Hoành và Trinh nếu để chúng
đưa đi trại khác thì chúng ta không thể biết được tình hình nơi đó, nếu
muốn vượt trại chúng ta sẽ gặp nhiều khó khăn hơn, tôi đề nghị vượt trại
vào ngày 16-9 âm lịch là ngày 21-10-75. Hoành và Trinh hỏi tôi tại sao
lại chọn ngày trăng tròn mà ra ? Tôi trả lời :
“Mình chọn ngày đó là vì yếu tố bất ngờ, bọn chúng nghĩ chúng ta
không dám ra trong những đêm có trăng sáng, chúng sẽ chểnh mảng
hơn, và kế hoạch tôi là sẽ vượt ra lúc 8 giờ tối, sau 7.30 giờ điểm danh
thì bọn chúng thay vọng gác mà đi tuần dưới đất, và trước 9 giờ giới
nghiêm, và giờ đó trăng chưa mọc. Còn thoát ra thì 2 anh nghiên cứu
như thế nào thì hãy cố gắng vượt ra, còn tôi thì đã có cách riêng. Chúng
ta phải đi riêng rẽ, chúng nó khó phát giác hơn. “

Tôi khích động tinh thần :
“Chúng ta toàn là tay thiện chiến, Biệt Động Quân, Biệt Kích Dù và
Người Nhái, chúng ta phải chứng tỏ cho chúng nó biết khả năng của
chúng ta”.

Tôi tiếp:


Click to View FlipBook Version