Động Thiên Đường. Do dòng nước của sông ngầm ở động này chảy xiết nên các nhà thám hiểm Anh không thể thám hiểm hết động này. Họ đã ước lượng chiều dài của hang bằng cách sử dụng đèn nháy. Đoàn thám hiểm đã báo cáo chính quyền tỉnh Quảng Bình về phát hiện này nhưng cho rằng chưa thể khai thác du lịch ngay. Họ sẽ quay lại khám phá hang này vào năm 2011. Kỳ vĩ hang động Sơn Đoòng. Hang Sơn Đoòng nằm trong quần thể hang động Phong Nha-Kẻ Bàng. Nó là một phần của hệ thống ngầm nối với hơn 150 động khác ở Việt Nam và gần biến giới Lào. Ngày 22/4/2009, khi công bố về hang động lớn nhất thế giới này, Hiệp hội Hang động Hoàng gia Anh cho biết hang có chiều rộng 200m, cao hơn 150m, dài ít nhất 6,5km. Hang có thể còn dài hơn nữa, tuy nhiên do điều kiện kỹ thuật, các nhà thám hiểm thuộc Hiệp hội Hang động Hoàng gia Anh đã không thể đi hết chiều dài của hang để kết luận hang dài bao nhiêu. Với kích thước này, hang Sơn Đoòng đã vượt qua hang Deer ở Vườn quốc gia Gunung Mulu của Malaysia (với chiều cao 100m, rộng 90m, dài 2 km) để chiếm vị trí hang động tự nhiên lớn nhất thế giới. Hang động này do Hồ Khanh, người dân địa phương tìm ra và hướng dẫn đoàn thám hiểm Hiệp hội Hang động Hoàng gia Anh tìm tới, và chính ông cũng đã đặt tên cho hang động này. Trong lần khám phá lại gần đây nhất, các nhà khoa học xác nhận: Sơn Đoòng dài ít nhất 8,5 km, cao 200m, có nơi có thể lên đến 250 m. “Trong vòm hang cao 200m, quang cảnh cực kỳ tráng lệ. Với những hình ảnh về vườn địa đàng trong lòng hang, bức tường thạch nhũ khổng lồ hay bộ sưu tập “ngọc trai” hàng vạn năm tuổi, người xem đã phải sửng sốt với sự kì vĩ đến khó tin của hang Hang Sơn Đoòng nằm trong quần thể hang động Phong Nha-Kẻ Bàng. Nó là một phần của hệ thống ngầm nối với hơn 150 động khác ở Việt Nam và gần biến giới Lào. Ngày 22/4/2009, khi công bố về hang động lớn nhất thế giới này, Hiệp hội Hang động Hoàng gia Anh cho biết hang có chiều rộng 200m, cao hơn 150m, dài ít nhất 6,5km. Hang có thể còn dài hơn nữa, tuy nhiên do điều kiện kỹ thuật, các nhà thám hiểm thuộc Hiệp hội Hang động Hoàng gia Anh đã không thể đi hết chiều dài của hang để kết luận hang dài bao nhiêu. 199
Với kích thước này, hang Sơn Đoòng đã vượt qua hang Deer ở Vườn quốc gia Gunung Mulu của Malaysia (với chiều cao 100m, rộng 90m, dài 2 km) để chiếm vị trí hang động tự nhiên lớn nhất thế giới. Hang động này do Hồ Khanh, người dân địa phương tìm ra và hướng dẫn đoàn thám hiểm Hiệp hội Hang động Hoàng gia Anh tìm tới, và chính ông cũng đã đặt tên cho hang động này. Trong lần khám phá lại gần đây nhất, các nhà khoa học xác nhận: Sơn Đoòng dài ít nhất 8,5 km, cao 200m, có nơi có thể lên đến 250 m. “Trong vòm hang cao 200m, quang cảnh cực kỳ tráng lệ. Với những hình ảnh về vườn địa đàng trong lòng hang, bức tường thạch nhũ khổng lồ hay bộ sưu tập “ngọc trai” hàng vạn năm tuổi, người xem đã phải sửng sốt với sự kì vĩ đến khó tin của hang Sơn Đoòng. Cách duy nhất để vào hệ thống hang động là đu dây từ từ vách cao khoảng 70m. Dòng “thác” ánh sáng dội từ trên bề mặt xuống, để lộ những cột thạch nhũ dẹt và nhẵn thín, với nhiều hình thù lạ mắt. 200
Một chiếc cột khổng lồ trong số 20 hang mới được phát hiện vào năm 2009 tại Việt Nam Mùa khô, từ tháng 11-4, là khoảng thời gian an toàn để khám phá những ao nước nông. Nhưng vào mùa mưa, dòng song ngầm dâng lên, nhấn chìm mọi lối đi. Đoạn hang có bề rộng khoảng 92m, với vòm rộng gần 244m này trong Sơn Đoòng có thể chứa được cả một tòa nhà cao 40 tầng ở New York, Mỹ 201
Một đoạn mái của hang Sơn Đoòng bị sập nhiều năm trước đã tạo điều kiện cho ánh sáng ùa vào, cây cối xum xuê phát triển, tạo nên một cánh rừng kỳ vĩ giữa lòng hang. Các nhà thám hiểm đặt tên cho nơi đây là Vườn địa đàng. Đoàn thám hiểm thâm nhập một hang được sông Rào Thương tạo ra. Vào mùa khô, sông thu hẹp thành những ao nhỏ, nhưng vào mùa mưa, nước có thể dâng cao hàng chục mét. Khoảng không gian thu hẹp. Các nhà thám hiểm đứng bên dưới mái hang đầy vỏ sò tích tụ sau nhiều năm ngập nước. 202
Những dải thạch nhũ được ví như thác nước hóa đá, có màu xanh của rêu và tảo. Lối vào hang Sơn Đoòng: “Mặc dù đây là những hang động vô cùng lớn, nhưng chúng gần như vô hình cho đến khi bạn ở ngay trước chúng”, một nhà thám hiểm nhận xét. Các thợ săn đã phát hiện ra chúng khi thấy gió hắt lên từ những cửa hang dưới lòng đất Nơi nào có nắng gió chiếu vào là nơi đó có màu xanh của sự sống sinh sôi trong hang Sơn Đoòng, một thế giới hoàn toàn khác với sự trần trụi, tối đen như mực thường thấy ở hầu hết các hang động khác 203
Qua hàng vạn năm, tinh thể canxi đã bao bọc những hạt cát nhỏ để tạo thành những “viên ngọc trai” quý hiếm. “Bộ sưu tập ngọc trai” vô giá này nằm gần Vườn địa đàng trong hang Sơn Đoòng Còn đây là những rẻ xương sườn - tác phẩm điêu khắc hoàn mỹ của thiên nhiên trong Sơn Đoòng Giống như tòa lâu đài trên một khu đồi nhỏ, tác phẩm đá này rực sáng dưới bầu trời trong hang Sơn Đoòng 204
Thách thức lớn nhất đối với đoàn thám hiểm là tìm cách vượt qua bức vách được mệnh danh là Vạn lý trường thành Việt Nam. Đây là một vách nhũ đá khổng lồ cao khoảng 70m nhô ra ở độ sâu hơn 6km dưới lòng hang Sơn Đoòng Thác nước trong hang Sơn Đoòng được phát hiện qua một “miệng hố tử thần” 205
TAM CỐC- BÍCH ĐỘNG TAM CỐC- BÍCH ĐỘNG , còn được gọi là "Vịnh Hạ Long trên cạn" hay "Nam thiên đệ nhị động" là 1 trong 21 khu du lịch trọng điểm quốc gia Việt Nam. Toàn khu vực bao gồm hệ thống các hang động và các di tích lịch sử nằm trên địa phận xã Ninh Hải huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình. TAM CỐC Tam Cốc, có nghĩa là "ba hang", gồm hang Cả, hang Hai và hang Ba. Cả ba hang đều được tạo thành bởi dòng sông Ngô Đồng đâm xuyên qua núi. Hàng nghìn hòn núi đá vôi nằm dọc sông tạo nên phong cảnh rất hùng vỹ. Muốn thăm Tam Cốc, phải đi thuyền từ bến trung tâm, theo dòng sông Ngô Đồng uốn lượn qua các vách núi, hang xuyên thuỷ, cánh đồng lúa. 206
Hang Cả dài 127 m, xuyên qua một quả núi lớn, cửa hang rộng trên 20 m Hang Hai, cách hang Cả gần 1 km, dài 60 m, trần hang có nhiều nhũ đá rủ xuống rất kỳ lạ Hang Ba, gần hang Hai, dài 50 m, trần hang như một vòm đá, thấp hơn so với hai hang kia Muốn thăm Tam Cốc, du khách xuống thuyền từ bến trung tâm. Thuyền đưa du khách trên dòng sông Ngô Đồng uốn lượn qua các vách núi, hang xuyên thuỷ. Thời gian đi và trở lại khoảng 2 giờ. Những cây thiên tuế đã từng sống hàng ngàn năm trên núi cao như đang thi gan cùng tuế nguyệt. Vua Trần Thái Tông đã dựng một am nhỏ trên vạt đất cao gần hang Cả làm nơi tu hành. Nơi đây vẫn còn di tích một khu đất rộng khoảng hơn một sào, cao hơn mặt ruộng tới trên 1m, nước lên cũng không bị ngập, được gọi là Vườn Am. Hang Cả trong Tam Cốc tuy đẹp nhưng khuất nẻo. 207
Hang Hai cách hang Cả gần 1km, dài 60m, trần hang có nhiều nhũ đá với hình thù kỳ ảo, từ trần hang rủ xuống lô nhô óng ánh như châu ngọc. Hang Ba gần hang Hai, dài 50m, trần hang như một vòm đá. So với hang Cả và hang Hai thì đây là hang mát nhất vì nó thấp nhất, trần hang có ít nhũ đá rủ, chủ yếu là những vòm đá nhân tạo. Thuyền ra khỏi hang, bạn có thể phóng tầm mắt nhìn ra xung quanh, một phong cảnh núi non trùng điệp như bao lấy cả một vùng đất bao la. BÍCH ĐỘNG Bích Động, có nghĩa là "động xanh", là tên do tể tướng Nguyễn Nghiễm, thân phụ của đại thi hào Nguyễn Du đặt cho động năm 1773. Bích Động được mệnh danh là "Nam thiên đệ nhị động" tức động đẹp thứ nhì trời Nam (sau động Hương Tích). Phía trước động là dòng sông Hoàng Long uốn lượn bên sườn núi, bên kia sông là cánh đồng lúa. 208
Cấu tạo địa chất cho thấy cách đây hàng trăm triệu năm, nơi này là vùng biển. Trải qua thời gian dài, đất lấn biển hình thành nên địa thế như ngày nay. Sóng biển bào mòn núi, đã tạo ra hình dáng các hang động thiên nhiên kỳ thú, có thể thấy rõ dấu vết xâm thực của nước biển trên các dãy núi đá vôi. Bích Động, có nghĩa là "động xanh", tên do tể tướng Nguyễn Nghiễm, thân phụ của đại thi hào Nguyễn Du đặt cho động năm 1773. Chùa Hạ - chùa Bích Động Chùa Bích Động là một ngôi chùa cổ mang đậm phong cách Á Đông, cách động Tam Cốc 2 km. Chùa được dựng từ đầu đời nhà Hậu Lê. Trong chùa có quả chuông lớn đúc từ thời vua Lê Thái Tổ, mộ tháp các vị hòa thượng có công xây dựng chùa. Thời Lê Hiển Tông (1740- 1786) chùa được trùng tu mở rộng thêm, bao gồm Chùa Hạ, Chùa Trung, Chùa Thượng, trải ra trên ba tầng núi. 209
Vườn Quốc gia Cúc Phương Vườn Quốc gia Cúc Phương (hay rừng Cúc Phương) là một khu bảo tồn thiên nhiên, khu rừng đặc dụng nằm trên địa phận ranh giới 3 khu vực Tây Bắc, châu thổ sông Hồng và Bắc Trung Bộ thuộc ba tỉnh: Ninh Bình, Hòa Bình, Thanh Hóa. Vườn quốc gia này có hệ động thực vật phong phú đa dạng mang đặc trưng rừng mưa nhiệt đới. Nhiều loài động thực vật có nguy cơ tuyệt chủng cao được phát hiện và bảo tồn tại đây. Đây cũng là vườn quốc gia đầu tiên tại Việt Nam. Các hang động tiền sử 1.Động Người Xưa và Cây Đăng cổ thụ Động Người Xưa là di tích cư trú và mộ táng của người tiền sử – một di sản quý của Cúc Phương. Từ đường ô tô dừng đỗ ta chỉ đi bộ khoảng 300 mét là đến nhưng cũng phải leo dăm chục bậc đá dốc ngược mới tới được cửa động. Còn Cây Đăng cổ thụ là cây có hình thái đẹp, cao tới 45 mét, đường kính 5 mét, cỡ 8 người ôm. Từ cổng vườn theo đường ô tô vào trung tâm, qua Động Người Xưa chừng 2 ki-lô-mét sẽ gặp Cây Đăng cổ thụ ở phía bên trái đường. Dưới gốc Đăng, ai ai cũng trở nên thật nhỏ bé. 210
2. Hang Con Moong. Hang Con Moong nằm gần sông suối, khu vực có hệ động vật, thực vật phong phú, đa dạng vì vậy đã được người cổ chọn làm nơi cư trú lâu dài. Tuy Vườn quốc gia Cúc Phương phần lớn thuộc tỉnh Ninh Bình nhưng hang Con Moong lại thuộc xã Thành Yên, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá. Hang rộng và dài, có 2 cửa thông nhau, có địa tầng văn hoá khá dầy, có cấu tạo rất phức tạp, có sự đan xen kế tiếp nhau của đất sét, vỏ nhuyễn thể và các vệt tro than. Hang Con Moong Nơi đây cũng sẽ là nơi thật lý thú cho những du khách thích xem chim với hơn 300 loài chim cư trú, có nhiều loài đặc sắc của Việt Nam và Đông Dương. Vườn có nhiều loài chim quý hiếm chẳng hạn như gà lôi trắng, chim gõ kiến đầu đỏ, chim phượng hoàng đất, đuôi cụt bụng vằn,… Thế giới động vật ở Cúc Phương rất đa dạng và phong phú với hơn 89 loài thú, 110 loài bò sát và lưỡng cư, 65 loài cá, gần 2000 dạng côn trùng. Tha hồ mà bạn khám phá, chiêm ngưỡng nhiều loài thú quý hiếm như báo lửa, gấu ngựa, báo gấm, sóc bụng đỏ, … 211
3.Cây Chò Xanh ngàn năm và Động Sơn Cung Cây có hình thái đẹp cũng cao chừng 45 mét và có chu vi khoảng hai chục người ôm. Từ trung tâm vườn theo đường mòn đi chừng 3 ki-lômét là gặp Chò ngàn năm, đúng là một kỳ quan của tạo hóa. Cũng trên tuyến này trước khi gặp cây chò chỉ ngàn năm không xa bên tay phải có con đường lên núi, lên Động Sơn Cung, động có nhiều nhũ đá đẹp lung linh của Cúc Phương. 4. Cây Sấu cổ thụ và bản Mường Tuyến đường đến điểm du lịch này khá mạo hiểm, dành cho ai mạnh mẽ vì nó là tuyến đi bộ xuyên rừng ngủ bản. Từ trung tâm Vườn đi bộ về phía Tây, vượt qua con đường bê tông dài chừng 3 km là tới Cây 212
Sấu cổ thụ. Cây cao tới 45 mét, đường kính 1,50 mét. Cây có hình thái đẹp, du khách không khỏi sững sờ trước hệ thống bạnh vè cao và chạy dài như một bức tường thành. Từ Cây Sấu cổ thụ đi tiếp theo con đường mòn nhỏ chừng 13 ki-lô-mét xuyên rừng là ta tới được bản Mường. Bản Mường nằm bên dòng sông Bưởi thơ mộng với nhiều bản sắc văn hóa truyền thống, những căn nhà sàn thấp lợp lá gồi hoặc cỏ gianh, những khung cửi dệt thổ cẩm sắc màu sặc sỡ. 5. Trung tâm cứu hộ thú linh trưởng Cúc Phương Không chỉ là lơi bảo tồn và nghiên cứu khoa học, Trung tâm cứu hộ thú linh trưởng Cúc Phương còn là nơi những người yêu thích thiên nhiên có thể quan sát các hoạt động, vẻ độc đáo của từng loài linh trưởng và thu thập các kiến thức bổ ích. Trung tâm cứu hộ thú linh trưởng Cúc Phương hiện nuôi dưỡng gần 160 cá thể của 15 loài linh trưởng quý hiếm của Việt Nam như vọc đầu trắng Cát Bà, voọc mông trắng, voọc chà vá, voọc ngũ sắc, vượn… 213
6. Hồ Yên Quang – động Phò Mã. Từ cổng Vườn đi ngược trở ra đường Nho quan khoảng 7 km, đến cầu Tri phương rẽ về phía tây 30m là đến Hồ Yên quang. Từ hồ 3 leo qua Quèn lá rồi đi vào một thung đất tương đối bằng phẳng, rộng khoảng 100 ha đó là Thung lá. Vượt qua Thung lá, leo tới chân dẫy núi đã vôi là du khách tới Động Phò mã giáng. Thăm động chúng ta không khỏi ngỡ ngàng đến mức ngây ngất bởi một công trình kiến trúc kỳ diệu của tạo hoá. Ngay phía ngoài cửa động có một nhũ đá giống hệt hình hài của một vị quan Phò mã, cũng mũ tai chuồn, cũng cân đai, áo thụng, cũng dáng dấp của một hoàng thân quốc thích đang ngồi trơ trơ giữa đất trời dãi dầu với vòng quay vĩnh cửu của thời gian. Bên trong động có nhiều buồng, mỗi buồng lại có cấu tạo lộng lẫy bởi hệ thống nhũ đá, uy nghi như những cung đình. Các vấn đề về bảo tồn. Khi thành lập, khu vực Cúc Phương có khoảng 5.000 người sống trong vùng lõi, hiện vẫn còn khoảng 2.000 người sống dọc theo bờ sông Bưởi bên trong vườn. Khoảng trên 50.000 dân sống ở vùng đệm của vườn, phần lớn sống phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên bên trong vườn. Lâm sản bị khai thác mạnh nhất là gỗ và củi. Việc thu hoạch ốc, nấm, măng làm thức ăn cũng như việc đi lấy thân chuối làm thức ăn gia súc diễn ra thường xuyên. Hoạt động săn bắn và bán động vật hoang đã làm suy giảm nghiêm trọng số lượng các loài thú, chim 214
và bò sát trong vườn. Một số loài thú lớn như hổ, vượn đen má trắng đã tuyệt chủng ở Cúc Phương do sức ép từ các hoạt động săn bắn và diện tích của vườn là quá nhỏ không đáp ứng được yêu cầu bảo tồn các loài này. Về khai thác du lịch, một lượng lớn du khách đến Cúc Phương cũng tạo khó khăn với việc quản lý. Hoạt động của vườn lại quá tập trung vào việc phát triển du lịch cũng làm giảm hiệu quả của công tác bảo tồn đa dạng sinh học. Việc xây dựng các hồ nhân tạo trong vườn cũng dẫn đến một số khoảnh rừng bị phát quang và làm thay đổi chế độ thủy văn của vùng Hiệp hội động vật học Frankfurt cùng Bộ Lâm nghiệp Việt Nam đã thành lập Trung tâm Cứu hộ Linh trưởng nguy cấp (EPRC) ở Cúc Phương năm 1993 nhằm nuôi nhốt, gây giống và nghiên cứu đối với các loài vượn, cu li và voọc của Việt Nam. EPRC nhận linh trưởng từ các cơ quan nhà nước tịch thu từ những đối tượng buôn bán trái phép động vật hoang dã để chữa trị và chăm sóc tại Trung tâm. Cúc Phương cũng là nơi triển khai Chương trình Bảo tồn thú ăn thịt và Tê tê (CPCP) và Chương trình bảo tồn rùa. Tính đến năm 2004 trại nuôi cầy vằn đã có 28 cá thể, trong số đó 20 con đã ra đời trong trại. Sáu cặp cầy vằn đã được gửi đi Anh để tạo quần thể gây giống và sáu cặp nữa sẽ được gửi sang Mỹ với cùng một dụng ý. Dự án bảo tồn Cúc Phương (CPCP) đã được Tổ chức Bảo tồn Động Thực vật hoang dã Quốc tế thực hiện từ năm 1996 đến năm 2002. Phối hợp với các tổ chức hữu quan tại Việt Nam, FFI chương trình Việt Nam đã thực hiện dự án do World Bank và GEF tài trợ có tên gọi là "Dự án bảo tồn cảnh quan núi đá vôi Pù Luông-Cúc Phương" đã thực hiện trong giai đoạn 2002-2005 nhằm bảo vệ vùng núi đá vôi cũng như các loài hoang dã sống thông qua việc thành lập một khu bảo vệ mới, tăng cường năng lực cho các đơn vị liên quan. Dự án còn tăng cường hiện trạng bảo tồn các loài voọc mông trắng và kêu gọi, xây dựng sự ủng hộ từ cộng đồng trong công tác bảo tồn vùng núi đá vôi. 215
BÀI ĐỌC THÊM. Văn Miếu và Quốc Tử Giám. là quần thể di tích đa dạng và phong phú hàng đầu của Hoàng thành Thăng long Hà Nội. Văn Miếu và Trường Đại học đầu tiên Quốc Tử Giám. Văn Miếu - Quốc Tử Giám, nằm ở phía Nam kinh thành Thăng Long (thời nhà Lý), là tổ hợp gồm hai di tích: - Văn Miếu thờ Khổng Tử, các bậc hiền triết Nho giáo và Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An - người thầy tiêu biểu đạo cao, đức trọng của nền giáo dục Việt Nam; - Quốc Tử Giám - Trường Đại học đầu tiên của Việt Nam. Văn Miếu - Quốc Tử Giám đã được Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng Di tích Lịch sử Văn hóa ngày 28/4/1962. Lịch sử Văn Miếu - Quốc Tử Giám. - Văn Miếu được xây dựng từ năm 1070 dưới thời Vua Lý Thánh Tông (1054-1072), có tạc tượng Chu Công, Khổng Tử cùng tứ phối là Nhan Tử, Tăng Tử, Tư Tử, Mạnh Tử và hình vẽ các hiền nho để thờ cúng, bốn mùa tế lễ. 216
- Năm 1076, Vua Lý Nhân Tông cho xây nhà Quốc Tử Giám kề sau Văn Miếu. Khi mới xây dựng, trường chỉ dành riêng cho con vua và con các bậc đại quyền quý (nên gọi tên là Quốc Tử). - Từ năm 1253, Vua Trần Thái Tông cho đổi Quốc Tử Giám thành Quốc Học Viện, và thu nhận cả con cái thường dân có học lực xuất sắc. Quốc Học Giám được nâng đến mức Đại học, và đặt tên là Thái Học Viện. - Đời vua Trần Minh Tông, Chu Văn An được cử làm quan Quốc Tử Giám Tư nghiệp (Hiệu trưởng) và thầy dạy trực tiếp của các hoàng tử. Đến năm 1370 Chu Văn An qua đời được Vua Trần Nghệ Tông cho thờ ở Văn Miếu bên cạnh Khổng Tử. - Sang thời Hậu Lê, Nho giáo rất thịnh hành. Vào năm 1484, Vua Lê Thánh Tông cho dựng bia Tiến sĩ của những người đỗ Tiến sĩ từ khóa thi năm 1442 trở đi. Nay chỉ còn lại 82 tấm bia tiến sĩ. Sau tìm thêm 1 bia, là 83 bia. - Đến đầu thời Nguyễn, năm 1802, Gia Long bãi bỏ trường Quốc Tử Giám ở Hà Nội, đổi nhà Thái Học làm nhà Khải Thánh để thờ cha mẹ Khổng Tử và xây dựng Khuê Văn Các ở trước Văn Miếu, để các nhà Nho bình thơ.. - Đầu năm 1947, giặc Pháp nã đạn đại bác làm đổ sập căn nhà, chỉ còn cái nền với hai cột đá và 4 nghiên đá. - Ngày 13/7/1999, thành phố Hà Nội khởi công xây dựng công trình nhà Thái Học trong khu Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Khu nhà Thái Học rộng 1.530 m2 trên nền đất cũ của Quốc Tử Giám sau Văn Miếu, với tổng kinh phí khoảng 20 tỷ đồng. Đến ngày 8/10/2000, công trình nhà Thái Học được khánh thành giai đoạn 1. Kiến trúc nhà Thái Học mô phỏng kiến trúc dân tộc gồm nhà tả vu, hữu vu, tiền đường, hậu đường, nhà để chuông, trống và các công trình phụ trợ, sử dụng vật liệu truyền thống hài hoà với Tòan bộ tổng thể di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám. - Ngày 11/3/2003, thành phố Hà Nội đã khởi công đúc tượng đồng 4 danh nhân văn hóa là: Vua Lý Thánh Tông, Vua Lý Nhân Tông, Vua Lê Thánh Tông và Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An để thờ tự 217
trong nhà Thái Học là những người có công sáng lập Văn Miếu-Quốc Tử Giám và phát triển nền giáo dục Việt Nam. Quần thể kiến trúc Văn Miếu - Quốc Tử Giám Kiến trúc Văn Miếu - Quốc Tử Giám Quần thể kiến trúc Văn Miếu - Quốc Tử Giám được bố cục đăng đối từng khu, từng lớp theo trục Bắc Nam, mô phỏng tổng thể quy hoạch khu Văn Miếu thờ Khổng Tử. Tuy nhiên, quy mô và kiến trúc ở đây đơn giản hơn. Bốn mặt đều là phố, cổng chính phía Nam là phố Quốc Tử Giám, phía Bắc là phố Nguyễn Thái Học, phía Tây là phố Tôn Đức Thắng, phía Đông là phố Văn Miếu. Quần thể kiến trúc này nằm trên diện thích rộng 54.331 m2 . Cổng chính Văn Miếu xây kiểu Tam quan, trên có 3 chữ "Văn Miếu Môn" kiểu chữ Hán cổ xưa. Văn Miếu có tường bao quanh xây bằng gạch. Bên trong cũng có những bức tường ngăn ra làm 5 khu, mỗi khu vực đều có tường ngăn cách và cổng qua lại nhau. Từ ngoài vào trong có các cổng lần lượt là: cổng Văn Miếu, Đại Trung, Khuê Văn Các, Đại Thành và cổng Thái Học. 218
Cổng chính vào Văn Miếu Khu thứ nhất bắt đầu với cổng chính đến cổng Đại Trung. Phía trước Văn Miếu môn là tứ trụ (nghi môn) và hai tấm bia Hạ mã hai bên đó là mốc ranh giới chiều ngang phía trước mặt cổng. Xưa kia dù công hầu hay khanh tướng, dù võng lọng hay ngựa xe hễ đi qua Văn Miếu đều phải xuống đi bộ ít nhất từ tấm bia Hạ mã bên này sang tới tấm bia Hạ mã bên kia mới lại được lên xe lên ngựa. Thế đủ biết Văn Miếu có vị trí tôn nghiêm tới chừng nào. Tứ trụ được xây bằng gạch, hai trụ giữa xây cao hơn trên có hình 2 con nghê chầu vào. Quan niệm tâm linh cho rằng đây là vật linh thiêng có khả năng nhận ra kẻ ác hay người thiện. Hai trụ ngoài đắp nổi 4 con chim phượng xoè cánh chắp đuôi vào nhau. Tứ trụ có đôi câu đối chữ Hán: Đông, tây, nam, bắc do tư đạo Công, khanh, phu sĩ, xuất thử đồ Tạm dịch là: Đông, tây, nam, bắc cùng đạo này (đạo Nho) Công, khanh, phu sĩ xuất thân từ đường này Đại trung môn Từ cổng chính Văn Miếu môn, vào không gian thứ nhất gọi là khu Nhập đạo, theo đường thẳng tới cổng thứ hai là Đại Trung môn. Ngang hàng với Đại Trung môn bên trái có Thành Đức môn, bên phải có Đạt Tài môn. 219
Theo văn bản của ông Đỗ Văn Ninh trước đây hai cổng tả môn và hữu môn ở phía trước và bằng Đại Trung môn, Thánh Đức môn và Đại tài môn ở phía sau. Hiện nay hai bên là không gian cây xanh và thảm cỏ Bức tường ngang nối ba cửa vươn dài ra hai bên tới tận tường vây dọc bên ngoài. Hai bên tả hữu của cả khu Văn Miếu, cùng với tường ngang nơi Văn Miếu môn tạo thành một khu hình gần vuông có tường vây khép kín ra vào bằng Văn Miếu môn. Trong khu vực này trồng cây bóng mát gần kín mặt bằng. Hai chiếc hồ chữ nhật nằm dài sát theo chiều dọc bên ngoài. Cảnh này gây nên cảm giác tĩnh mịch, thanh nhã của nơi "văn vật sở đô". Cửa Đại Trung môn làm kiểu 3 gian, xây trên nền gạch cao, có mái lợp ngói mũi hài, có hai hàng cột hiên trước và sau, ở giữa là hàng cột chống nóc. Gian giữa cổng treo một tấm biển nhỏ đề 3 chữ sơn then Đại Trung môn. Khu thứ hai: Nổi bật với Khuê Văn Các- một công trình kiến trúc độc đáo được xây dựng năm 1805 (triều Nguyễn), gồm 2 tầng, 8 mái, tầng dưới là bốn trụ gạch, tầng trên là kiến trúc gỗ, bốn mặt đều có cửa sổ tròn với những con tiện tỏa ra bốn phía tượng trưng cho hình ảnh sao Khuê tỏa sáng. Hai bên (phải và trái) Khuê Văn là hai cổng Bí Văn và Súc Văn. Khuê Văn Các thường là nơi tổ chức bình văn thơ hay của các danh nhaân kieät taùc nhö Truyeän Kieàu Nguyeãn Du, Chinh phuï ngaâm cuûa Ñoaøn Thò Ñieåm, thi ca cuûa Tuù Xöông, Nguyeãn Khuyeán, Cao Baù Quaùt, Nguyeãn Coâng Tröù, baø Huyeän Thanh Quan, baø Hoà Xuaân Höông v.v. Khuê Văn Các Khuê Văn các là công trình kiến trúc tuy không đồ sộ song tỷ lệ hài hòa và đẹp mắt. Kiến trúc gồm 4 trụ gạch vuông (85cm x 85cm) bên dưới đỡ tầng gác phía trên, có những kết cấu gỗ rất đẹp. 220
Tầng trên có 4 cửa hình tròn, hàng lan can con tiện và con sơn đỡ mái bằng gỗ đơn giản, mộc mạc. Mái ngói chồng hai lớp tạo thành công trình 8 mái, gờ mái và mặt mái phẳng. Gác là một lầu vuông tám mái, bốn bên tường gác là cửa sổ tròn hình mặt trời tỏa tia sáng. Hai bên phải trái Khuê Văn các là Bi Văn Môn và Súc Văn Môn dẫn vào hai khu nhà bia Tiến sĩ, đặc biệt lại được chọn dựng giữa những cây cổ thụ xanh tốt, cạnh Hồ Thiên Quang Tinh. đầy nước trong in bóng gác. Khuê Văn các ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám đã được công nhận là biểu tượng của thành phố Hà Nội. Khu thứ ba là tới Ðại Thành Môn, ở giữa khu này có một hồ vuông gọi là Thiên Quang Tỉnh (giếng trời trong sáng) có tường bao quanh. Hai bên hồ là hai khu nhà bia, tức nơi lưu giữ 83 bia tiến sĩ dựng từ năm 1484 - 1780, ghi tên, quê quán của các vị tiến sĩ của 83 khoa thi. Ðại Thành Môn . Hồ Thiên Quang Tinh 221
Khu nhà bia. Những cụ rùa đá “đeo bia” hàng trăm năm Tại đây, nếu chú tâm đọc ta có thể tìm thấy tên một số nhà chính trị, vǎn học, sử học nổi tiếng như Ngô Sĩ Liên, Ngô Thì Nhậm, Lê Quí Đôn, nhà toán học Lương Thế Vinh, ông tổ nghề in Lương Như Hộc… Ðây chính là những di vật quý nhất của khu di tích. Những văn bia này được viết bằng chữ Hán với cách viết khác nhau khiến cho mỗi tấm bia như một bức tranh chữ, một tác phẩm thư pháp. Mỗi dòng chữ trên 82 tấm bia đá là nguồn sử liệu vô cùng quý giá giúp chúng ta nghiên cứu về con người và sự nghiệp của nhiều danh nhân đất Việt như Nguyễn Trãi, Ngô Sĩ Liên, Nguyễn Quý Đức, Đặng Đình Tướng... Hơn nữa, trong số 1304 tiến sĩ được khắc tên trên 82 bia đá thì có 225 vị từng đi sứ Trung Quốc như tiến sĩ Nguyễn Như Đổ, tiến sĩ Lê Quý Đôn… Điều này đã thể hiện giá trị độc đáo và khẳng định ý nghĩa quốc tế của bia tiến sĩ Văn Miếu - Quốc Tử Giám. 222
Khu thứ tư, Bước qua cửa Đại Thành là tới Bái đường Văn Miếu. Đó là một cái sân rộng, lát gạch bát. Khu này gồm hai công trình lớn bố cục song song và nối tiếp nhau. Nơi đây là nơi thờ những vị tổ đạo Nho. Tòa nhà ngoài là Bái đường, có chức năng hành lễ trong những kỳ tế tự xuân thu. Chỉ gian chính giữa có hương án thờ còn các gian khác đều bỏ trống. Tại đây treo khá nhiều hoành phi câu đối. Tòa nhà trong Thượng điện. Gian chính giữa có cái khám và ngai lớn để trên một bệ xây, trong có bài vị Chí thánh tiên sư Khổng Tử. Cách 2 gian 2 bên tới những gian khác cũng có bệ xây và cũng có khám, trong khám có ngai và bài vị. Bên trái có 2 ngai thờ Tăng Tử và Mạnh Tử; bên phải có 2 ngai thờ Nhan Tử và Tử Tư. Bốn vị được thờ trên đây tức là Tứ phối được quy định thờ từ ngày mới xây dựng Văn Miếu. Ngoài bài vị ra cả 4 vị đều có tượng gỗ sơn thiếp rất uy nghi.Hai gian đầu hồi cũng có 2 khám lớn xếp chầu vào gian giữa, thờ Thập Triết gồm những vị: Mẫu tử, Nhiễm tử, Đoan mộc tử, Trang Tử, Bốc tử, Hữu tử, Tề tử, Ngân tử, Suyền Tôn tử, Chu tử. Khu Bái đường Văn Miều Khu thứ năm: Là Trường Quốc Tử Giám cũ (nay là nhà Thái học). ở sau khu Bái đường Văn Miếu. Tại đây, những triều đại coi "hiền tài là nguyên khí của quốc gia" đã tuyển chọn nhiều người tài giỏi, đỗ đạt cao, bổ sung vào các chức thị độc, thị giảng, hữu tư giảng, tả tư giảng, thiếu phó, thiếu bảo để chǎm lo việc giảng dạy, giải đáp, vừa giúp vua nâng cao tri thức mọi mặt. Nhiều "người thầy một đời, muôn đời" như Bùi Quốc Khải, Nguyễn Trù, Chu Vǎn An... đã từng vang tiếng giảng ở Quốc Tử Giám. 223
Đền Khải Thánh. Nhà Thái học .Đầu thế kỷ XIX, khi nhà Nguyễn dời trường này vào Huế thì nơi đây chuyển làm đền Khải Thánh, nơi thờ cha mẹ Khổng Tử. Nǎm 1946-1947 giặc Pháp đã đốt trụi khu này. Năm 2000, công trình nhà Thái học được hoàn thành để chào mừng kỷ niệm 990 năm Thăng Long - Hà Nội. Đây là nơi tôn vinh truyền thống văn hóa giáo dục của dân tộc, đặt tượng tưởng niệm ba vua Lý Thành Tông, Lý Nhân Tông, Lê Thánh Tông và Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An. Khu Thái Học \ 224
Sự tích Hồ Gươm. Giặc Minh đô hộ nước ta, chúng gây ra nhiều bạo ngược, Lê Lợi dựng cờ tụ nghĩa tại Lam Sơn nhưng ban đầu yếu thế, lực mỏng nên thường bị thua. Đức Long Quân quyết định cho nghĩa quân mượn thanh gươm thần để giết giặc. Một người đánh cá tên là Lê Thận ba lần kéo lưới đều gặp một thanh sắt, nhìn kỹ hóa ra một lưỡi gươm. Sau đó ít lâu, Lê Lợi bị giặc đuổi, chạy vào rừng bắt được chuôi gươm nạm ngọc trên cây đa, đem tra vào lưỡi gươm ở nhà Lê Thận thì vừa như in, mới biết đó là gươm thần. Từ khi có gươm thần, nghĩa quân đánh đâu thắng đấy, cuối cùng đánh tan quân xâm lược. Một năm sau khi thắng giặc, Lê Lợi đi thuyền chơi hồ Tả Vọng : Long Quân sai Rùa Vàng lên đòi lại gươm thần. Từ đó, hồ Tả Vọng được đổi tên thành hồ Hoàn Kiếm. Ho guom Hanoi. Sự tích chùa một cột Hà Nội . Tục truyền vào năm 1049, một hôm vua Lý Thái Tôn nằm mộng thấy Phật Bà Quan Âm hiện ra, đưa nhà vua đến một tòa sen rạng ngời ánh sáng. Sau khi tỉnh dậy, vua thuật lại giấc chiêm bao cho triều thần nghe. Vị sư đã hướng dẩn nhà vua trên đường tu đạo hạnh, là thiền tăng Thuyền Lão đã bàn cùng vua dựng nên một ngôi chùa để nhớ ơn Đức Phật Bà Quan Âm. Đó là chùa Diên Hựu. Chùa đã được dựng lên theo hình hoa sen, đặt trên một cái cột lớn độc nhất. Chùa được đặt giữa một cái ao trồng toàn hoa sen đào, ở gần kinh đô nhà Lý. Đây là một kiến trúc đặt biệt, 225
có một không hai trên thế giới, xây theo mỹ thuật Đại La thời Nhà Lý, tục gọi là Chùa Một Cột. Ngày nay, chùa vẫn còn hiện hữu ở đất cố đô Thăng Long, ghi nhớ cuộc gặp gỡ chiêm bao kỳ ảo giữa vua Lý Thái Tôn mộ đạo với Phật Bà Quan Âm. Chùa một cột Hanoi. Theo truyền thuyết khác, khi ấy vua Lý Thái Tôn tuổi đã cao mà chưa có con trai, thường đến cầu tự ở các chùa. Một đêm nằm chiêm bao thay đức phật Quan Âm, hiện trên đài hoa sen trong một cái hồ vuông ở phía tây thành, tay bế một đức con trai đưa cho nhà vua. Sau đó nhà vua quả sinh được con trai. Nhà vua liền sai lập chùa Một Cột để thờ Quan Âm. Khi chùa làm xong, nhà vua triệu tập hàng trăm ngàn tăng ni đứng chầu chung quanh, tụng kinh suốt bảy ngày bảy đêm. Và lập thêm một ngôi chùa lớn ở ngay bên cạnh để thờ chư phật, gọi là chùa Diên Hựu. 226
LỊCH SỬ CỐ ĐÔ HUẾ. Hoàng Thạch I. Đôi dòng lịch sử khai sinh kinh đô Huế Kinh đô Huế. Sự phát triển theo chiều dài Nam tiến của Việt Nam bắt nguồn từ các dữ kiện lịch sử sau đây: 1.1- Vua Trần Nhân Tông đổi Công chúa Huyền Trân lấy hai châu của Chiêm Thành Việt Nam sử lược có ghi: “năm Tân Sửu (1301) Thượng Hoàng đi sang Chiêm Thành xem phong cảnh, có ước gả Huyền Trân Công Chúa cho vua Chiêm là Chế Mân. Được ít lâu, Chế Mân cho người đưa vàng bạc và các sản vật sang cống và xin cưới. Triều thần có nhiều người không thuận. Chế Mân lại xin dâng châu Ô và châu Rí để làm lễ cưới, bấy giờ Anh Tông mới quyết ý thuận gả. Đến tháng sáu năm Bính Ngọ (1306) cho công chúa về Chiêm Thành. Sang năm sau vua Anh Tông thu nhận hai châu Ô và Rí, đổi tên thành Thuận châu và Hóa châu, rồi sai quan là Đoàn Nhữ Hài vào kinh lý và đặt quan cai trị.” Buồn cho mối tình Huyền Trân công chúa, người Việt có câu ca dao: Tiếc thay cây quế giữa rừng, Để cho thằng Mán thằng Mường nó leo! 1.2- Nguyễn Hoàng khai sinh vương quyền miền Nam. Nguyễn Hoàng là con thứ ba của Nguyễn Kim (bị tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đầu độc giết chết năm 1545). Sau khi người anh là Nguyễn Uông bị anh rể Trịnh Kiểm loại trừ, vì nghi ngờ có thể cướp 227
quyền lực của mình, Nguyễn Hoàng quá lo sợ cho thân phận, bèn nhờ người đến hỏi Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm làm cách nào để thoát nạn. Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ nói: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” (một dẫy Hoành sơn có thể bao dung cho vạn đời). Nghe vậy, Nguyễn Hoàng mới nói với chị là Ngọc Bảo xin Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ tiền đồn phía Nam là Thuận Hóa, nơi thường bị người Chàm quấy phá. Năm 1558, Nguyễn Hoàng và gia đình cùng một số binh sĩ quê Thanh Hóa, Nghệ An đi vào miền Nam. Cùng thời điểm này đất Quảng Nam đã có Tổng binh Nguyễn Bá Quýnh. Năm 1570, Trịnh Kiểm triệu Nguyễn Bá Quýnh về Bắc. Từ đó Nguyễn Hoàng làm chủ phương Nam với lệ mỗi năm phải nộp 400 cân bạc và 500 tấm lụa. Từ năm 1572-1627 Nguyễn Hoàng đã thành công trong việc xây dựng và phát triển 3 tỉnh Quảng Bình, Thuận Hóa và Quảng Nam, trở thành lực lượng đối khác với họ Trịnh tại miền Bắc và sông Gianh là biên giới của hai quyền lực Trịnh-Nguyễn. 1.3 – Nguyễn Hoàng và chùa Thiên Mụ. Một trong những ngôi chùa cổ kính nhất đất Thừa Thiên- Huế (và cũng là của nước ta) là chùa Thiên Mụ. Hoàng đế Thiệu Trị (1841- 1847) xếp chùa Thiên Mụ đứng thứ 14 trong số 20 cảnh đẹp kinh thành Huế thuở xưa, đồng thời viết bài thất ngôn bát cú, đề là Thiên Mụ chung thanh (Tiếng chuông chùa Thiên Mụ) với những xúc cảm vừa chân thành, vừa mãnh liệt. Và, ca dao ta cũng có câu: Bao giờ cạn nước Đồng Nai Nát chùa Thiên Mụ mới sai tấc lòng. Nhưng vì sao lại gọi là chùa Thiên Mụ và chùa Thiên Mụ được xây từ lúc nào? Sách Đại Nam thực lục (Tiền biên, quyển 1) cho biết: “Bấy giờ, Chúa (chỉ Nguyễn Hoàng) đi dạo xem hình thế núi sông, thấy trên cánh đồng của xã Hà Khê thuộc huyện Hương Trà (nay là ngoại ô thành phố Huế), giữa khu đất bằng phẳng nổi lên một gò cao, trông tựa như hình đầu rồng đang ngoái nhìn lại, phía trước thì có sông lớn (chỉ sông Hương), phía sau thì có hồ rộng, cảnh trí rất đẹp đẽ. (Chúa) nhân đó mới hỏi chuyện người địa phương, ai cũng nói gò đất đấy rất thiêng. Tục truyền: Xưa, 228
đang đêm bỗng có người nhìn thấy một bà già mặc áo đỏ, quần xanh, ngồi trên đỉnh gò và nói: - Sẽ có vị chân chúa đến đây xây chùa để tụ khí thiêng, giữ long mạch. Nói rồi bà già ấy biến mất. Bấy giờ, nhân đấy mới gọi gò đất kia là gò Thiên Mụ. Chúa cũng cho là gò đất đấy có linh khí, bèn cho cất chùa, gọi là chùa Thiên Mụ”. II-Tại sao lại gọi là Huế? Như trên Hóa châu hay Thuận Hóa là đất được vua Chiêm dâng cho nhà Trần trong cuộc tình duyên vương giả mà Huyền Trân Công Chúa là nạn nhân. Chữ Hóa châu dần dà được người ta rút gọn gọi là Hóa, rồi biến thành Huế . Cuộc hành trình vào Nam của Nguyễn Hoàng, giòng họ và binh lính không chỉ làm cho cuộc sống thay đổi mà cả đến phong tục tập quán của người miền Bắc di dân cũng đổi thay. Tiếng nguyên thủy của người miền Bắc khi sống trên mảnh đất miền Trung bị pha trộn với tiếng nói của người miền núi Trường Sơn, hấp thụ tiếng “ri, mô, tê, răng, rứa” của người Chiêm Thành, dần dà tạo nên một thứ tiếng nói với giọng đặc biệt Huế. Học giả Thái Văn Kiểm cho rằng chữ Huế có thể chứng minh qua các dữ kiện ngôn ngữ và tự điển sau đây: 1-Trên bản đồ “Carte du Tonkin et de l’ Annam của Alexandre de Rhodes”, in năm 1653, có ghi “Province de Thoanoa”. Thoanoa tức là Thuận Hóa. Trong vài hồi ký của ông đã thấy ghi chữ Huế. 2-Trên bản đồ “An Nam Đại Quốc Họa Đo” kèm theo quyển Tự Vị “Dictionarii Latino – nnamitici” (tome II) của L. Taberd ấn hành năm 1838 tại Serampore (Ấn Độ), chúng ta thấy ghi: Phủ Thừa Thiên Quảng Đức – Huế? Đó là lần đầu tiên, ta thấy tên Huế xuất hiện trong tự điển. 229
III-Kinh Thành Huế. Kinh thành Huế được xây dựng gần 30 năm (từ 1803 đến 1832), là một dãy thành lũy cao 6,60m, dày 21m, chu vi gần 9.000m. Trên mặt thành ngày xưa có tới 24 pháo đài. Bên ngoài, dọc theo bờ thành có hào sâu bảo vệ. Kinh thành liên lạc với bên ngoài qua 8 cửa trổ theo 8 hướng: Chính Đông, Chính Tây, Chính Nam, Chính Bắc, Tây Bắc, Tây Nam, Đông Bắc, Đông Nam. Ngoài ra hai bên Kỳ Đài còn có hai cửa Thể Nhơn, Quảng Đức và hai cửa bằng đường thủy ở hai đầu sông Ngự Hà là Đông Thành Thủy Quan và Tây Thành Thủy Quan. Phía Hoàng Thành ở góc đông bắc có một thành nhỏ, thời Gia Long gọi là Thái Bình, đến thời Minh Mạng đổi thành Trấn Bình Đài có chu vi gần 1km, bên ngoài có hào rộng ăn thông với hào của Hoàng Thành. 230
Ở trong lòng Kinh thành, là Hoàng thành và Tử cấm thành được gọi chung là Đại Nội. Hoàng Thành được xây dựng để bảo vệ các cơ quan lễ nghi và chính trị quan trọng nhất của triều đình và các điện thờ. Tử Cấm thành bảo vệ nơi làm việc, ăn ở và sinh hoạt hàng ngày của nhà vua và gia đình… Hoàng thành có mặt bằng theo hình gần vuông, mặt trước và mặt sau dài 622m, mặt trái và phải 604m, được xây dựng từ 1804-1833,. Xung quanh thành xây bằng gạch (cao 4,16m, dày 1,04m), bên ngoài có hệ thống hộ thành hào, gọi là Kim Thủy Hồ, để bảo vệ thành. Mỗi mặt trổ một cửa để ra vào: Ngọ Môn (trước), Hòa Bình (sau), Hiển Nhơn (trái), Chương Đức (phải). Cửa chính của Ngọ Môn chỉ dành cho vua đi mà thôi. Các khu vực bên trong Hoàng thành. • Khu vực phòng vệ: gồm vòng thành bao quanh bên ngoài, cổng thành, các hồ (hào), cầu và đài quan sát. • Khu vực cử hành đại lễ, gồm các công trình: o Ngọ Môn, cửa chính của Hoàng Thành - nơi tổ chức lễ Duyệt Binh, lễ Truyền Lô (đọc tên các Tiến sĩ tân khoa), lễ Ban Sóc (ban lịch năm mới). o Điện Thái Hòa - nơi cử hành các cuộc lễ Đại Triều một tháng 2 lần (vào ngày 1 và 15 Âm lịch ), lễ Đăng Quang, lễ Vạn Thọ, lễ Quốc Khánh... Điện Thái Hoà và khu vực bên trong Ngọ Môn 231
* Khu vực các miếu thờ: được bố trí ở phía trước, hai bên trục dọc của Hoàng Thành theo thứ tự từ trong ra gồm: o Triệu Tổ Miếu ở bên trái thờ Nguyễn Kim. o Thái Tổ Miếu thờ các vị chúa Nguyễn. o Hưng Tổ Miếu ở bên phải Nguyễn Phúc Luân. o Thế Tổ Miếu thờ các vị vua nhà Nguyễn. Hưng Tổ Miếu Thế tổ miếu. * Khu vực dành cho bà nội và mẹ vua (phía sau, bên phải), gồm hệ thống cung Trường Sanh (dành cho các Thái hoàng Thái hậu) và cung Diên Thọ (dành cho các Hoàng Thái hậu). * Khu vực dành cho các hoàng tử học tập, giải trí như vườn Cơ Hạ, điện Khâm văn... (phía sau, bên trái). Ngoài ra còn có kho tàng (Phủ Nội Vụ) và các xưởng chế tạo đồ dùng cho hoàng gia (phía trước vườn Cơ Hạ) Khu vực Tử Cấm Thành . * Khu vực Tử Cấm Thành nằm trên cùng một trục Bắc-Nam với Hoàng Thành và Kinh Thành, gồm một vòng tường thành bao quanh khu vực các cung điện như : o Tả Vu và hữu Vu.(nơi các quan văn và các quan võ chuẩn bị nghi thức thiết triều) o Điện Cần Chánh (nơi vua tổ chức lễ Thường triều). o Điện Càn Thành (chỗ ở của vua), o Cung Khôn Thái (chỗ ở của Hoàng Quý phi), o Lầu Kiến Trung (từng là nơi ở của vua Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương), 232
Nhà đọc sách và các công trình khác phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của nhà vua và gia đình như Thái Bình Lâu (nơi vua đọc sách), Thượng Thiện Đường (nơi phục vụ ăn uống), Duyệt Thị Đường (nhà hát hoàng cung)... Tả Vu và hữu Vu. Điện Cần Chánh Các di tích trong Kinh thành. 1 Kỳ Đài . 2 Trường Quốc Tử Giám 3. Văn Miều. 4 Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế. 5.Hồ Tịnh Tâm. 6. Tàng Thư lâu. 9. Phu văn lâu. 1.Kỳ đài. Kỳ đài còn gọi là Cột Cờ, nằm chính giữa mặt nam của kinh thành Huế thuộc phạm vi pháo đài Nam Chánh cũng là nơi treo cờ của triều đình. Kỳ Đài được xây dựng năm Gia Long thứ 6 (1807) ở vị trí chính giữa trên mặt nam của Kinh thành, gồm ba tầng đài cao 233
khoảng 17,5m. Cột cờ nguyên xưa làm bằng gỗ, cao gần 30m. Năm 1947, cột cờ bị pháo bắn gãy, sau đó năm 1948, cột cờ mới được xây dựng bằng bê-tông cốt sắt với tổng chiều cao 37m như hiện nay . 2.Trường Quốc Tử Giám. Quốc Tử Giám là trường đại học tại Kinh đô Huế do vua Gia Long xây dựng vào tháng 8 năm 1803. Vị trí trước đây của Trường Quốc Tử Giám tại địa phận An Ninh Thượng, huyện Hương Trà, cách Kinh thành Huế chừng 5km về phía tây (nay thuộc địa phận làng An Bình, giáp với làng Long Hồ Hạ, huyện Hương Trà). Trường nằm bên cạnh Văn Miếu, mặt hướng ra sông Hương. Đây được xem là trường quốc học đầu tiên được xây dựng dưới triều Nguyễn. Đến năm 1908, thời vua Duy Tân, Quốc Tử Giám được dời vào bên trong Kinh thành, bên ngoài, phía Đông Nam Hoàng thành (tức vị trí hiện nay). 3. Văn Miếu. Trước đây, các chúa Nguyễn đã xây dựng Văn Miếu tại thủ phủ rồi đã thay đổi vị trí qua ba địa điểm khác nhau: làng Triều Sơn, làng Lương 234
Quán, làng Long Hồ. Năm 1808, dưới triều vua Gia Long, Văn Miếu Huế được xây dựng ở địa điểm hiện nay. Văn Miếu Huế nằm trêm một quả đồi thấp, mặt nhìn ra sông Hương mộng mơ, sau là làng mạc và điệp trùng đồi núi, phân nhánh của Trường Sơn làm thế tựa lưng, xung quanh bao bọc tường thành, mỗi chiều dài khoảng 160m. Toàn bộ công trình gồm 50 hạng mục lớn nhỏ, bao gồm Văn Miếu, điện thờ chính Đức Khổng Tử và Tứ Phối, Thập Nhị triết. Đông vu và Tây vu thờ thập nhị Hiền và các tiên nhỏ. Văn Miếu Huế chính là lưu giữ những minh chứng về sự nghiệp giáo dục của cả nước. Ngày nay, Văn Miếu Huế đã trở thành một điểm đến tham quan của rất đông du khách trong và ngoài nước, đặc biệt là các bạn trẻ với mong muốn được lưu danh bảng vàng như những danh sĩ đã được khắc tên tại các bia Tiến sĩ ở Văn Miếu. 4. Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế. Bảo tàng Mỹ thuật cung đình Huế trước đây và hiện nay là Điện Long An. Điện được xây dựng vào năm 1845, trong cung Bảo Định, phường Tây Lộc (Huế), thời vua Thiệu Trị , làm nơi nghỉ của vua sau khi tiến hành lễ Tịch điền (cày ruộng) mỗi đầu xuân. Đây cũng là nơi vua Thiệu Trị thường hay lui tới, nghỉ ngơi, đọc sách, làm thơ, ngâm vịnh. Hiện bảo tàng trưng bày hơn 300 hiện vật bằng vàng, sành, sứ, pháp lam Huế, ngự y và ngự dụng, trang phục của hoàng thất nhà Nguyễn. Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế giúp người tham quan một cái nhìn tổng thể về cuộc sống cung đình Huế. 235
5. Hồ Tịnh Tâm. Hồ Tịnh Tâm là một di tích cảnh quan được kiến tạo dưới triều Nguyễn. Trước đây, hồ nguyên là vết tích của đoạn sông Kim Long chảy qua Huế. Đầu thời Gia Long, triều đình cho cải tạo một số đoạn sông và khơi dòng theo hướng khác để tạo thành Ngự Hà và hồ Ký Tế. Hai bãi nổi trong hồ này được dùng làm nơi xây dựng kho chứa thuốc súng và diêm tiêu. Năm Minh Mạng thứ 3 (1822), triều Nguyễn đã huy động tới 8000 binh lính tham gia vào việc cải tạo hồ. Năm 1838, vua Minh Mạng cho di dời hai kho sang phía đông, tái thiết nơi này thành chốn tiêu dao, giải trí và gọi là hồ Tịnh Tâm. Dưới thời vua Thiệu Trị đây được xem là một trong 20 cảnh đẹp đất Thần Kinh. 6.Tàng thư lâu. Tàng thư lâu là được xây dựng năm 1825 trên hồ Học Hải trong kinh thành Huế, dùng làm nơi lưu các công văn cũ của cơ quan và lục bộ triều đình nhà Nguyễn. Đây có thể coi là một Tàng Kinh Các của Việt Nam dưới triều Nguyễn lưu trữ các tài liệu văn bản quý hiếm liên quan đến sinh hoạt của triều đình và biến đổi của đất nước. Chỉ riêng 236
số địa bạ thời Gia Long và Minh Mạng lưu trữ ở đây đã lên đến 12.000 tập. Có thể nói Tàng thư lâu rất quan trọng trong việc chứa các tài liệu và địa bạ, giấy tờ quan trọng lúc bấy giờ. 9. Phu văn lâu. Phu Văn Lâu là một tòa nhà tương đối nhỏ, nhưng có giá trị cao về các mặt văn hóa, lịch sử… Nó nằm ngày trước mặt kinh thành, gần bờ sông Hương. Phu Văn Lâu là tòa nhà lầu dùng để niêm yết các chiếu chỉ của nhà vua, các sắc lệnh của triều đình, các văn bản mang tính quốc gia mà nhà nước quân chủ cần ban bố, thông báo cho mọi người được biết. Hình ảnh Phu Văn Lâu đã đi vào lịch sử qua câu hò mái nhì man mác của cụ Ưng Bình Thúc Gia nhắc lại chuyện vua Duy Tân ra ngồi giả câu cá để bàn việc khởi binh chống Pháp ngày nào: Chiều chiều trước bến Văn lâu, Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm. Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông? Thuyền ai thấp thoáng bên sông, Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non! 237
CÁC LĂNG TẨM HUẾ. Cách đây gần 80 năm, một người phương tây là Eberhard đã viết : “Huế là một trung tâm du lịch hấp dẫn, nơi có Kinh thành, Hoàng thành và lăng tẩm, có sức cuốn hút sự chú ý đặc biệt của du khách và các nhà mỹ thuật. Chỉ riêng lăng tẩm của các nhà vua Nguyễn không thôi cũng đủ giá trị đối với cuộc du lịch rồi, theo ý chung, lăng tẩm Huế đẹp hơn lăng tẩm của các nhà vua Minh ở Trung Quốc” “Vẻ đẹp Huế chẳng nơi nào có được/ Nét dịu dàng pha lẫn trầm tư”. Đúng là hiếm một nơi nào lại có vẻ đẹp trữ tình như xứ Huế – một thành phố có hai di sản thế giới – với những thành quách, cung điện, lăng tẩm, đền đài, chùa miếu cổ kính kết hợp hài hòa với không gian cảnh quan sông núi thơ mộng và phong tục tập quán, vốn văn hóa truyền thống của người dân đất cố đô. Triều Nguyễn có đến 13 vua, nhưng hiện ở Huế chỉ có 7 khu lăng tẩm cho 9 vị vua. Đó là các lăng: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khánh, Dục Đức, Khải Định. Một điều đặc biệt là hầu hết các lăng tẩm được xây khi các vị vua đang còn trên ngai vàng. Có thể thấy, mỗi lăng là một công trình kiến trúc thể hiện tiêu biểu cho tính cách của mỗi ông vua có lăng. Nhưng có lẽ, khu lăng tiêu biểu nhất là lăng: Gia Long , Minh Mạng, Tự Đức và lKhải Định. Vẻ đẹp u tịch của thiên nhiên hòa với nét uy nghi của đồi núi, kiến trúc trong lăng khiến con người cảm thấy nhỏ bé, chơi vơi. Lăng vua Gia Long Lăng Gia Long 238
Lăng Gia Long - còn gọi là Thiên Thọ Lăng(千壽陵), Lăng Gia Long thực ra là một quần thể nhiều lăng tẩm trong hoàng quyến. Toàn bộ khu lăng này là một quần sơn với 42 đồi, núi lớn nhỏ, trong đó có Đại Thiên Thọ là ngọn núi lớn nhất được chọn làm tiền án của lăng và là tên gọi của cả quần sơn này. Lăng gồm những lăng sau: • Lăng Quang Hưng của bà Thái Tông Hiếu Triết Hoàng hậu, vợ thứ hai của Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (1620-1687). • Lăng Vĩnh Mậu của bà Anh Tông Hiếu Nghĩa Hoàng hậu, vợ Chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Trăn (1650-1725). • Lăng Trường Phong của Túc Tông Hiếu Ninh Hoàng đế Nguyễn Phúc Chú (1697-1738). • Lăng Thoại Thánh của bà Hưng Tổ Hiếu Khương Hoàng hậu (1738-1811), vợ thứ hai của Nguyễn Phúc Côn (Luân) và là thân mẫu của vua Gia Long. • Lăng Hoàng Cô của Thái Trưởng Công chúa Long Thành, chị ruột vua Gia Long. • Lăng Thiên Thọ của vua Gia Long và vợ ông. • Lăng Thiên Thọ Hữu của bà Thuận Thiên Cao Hoàng hậu, vợ thứ hai của vua Gia Long, mẹ vua Minh Mạng. Lăng Gia Long là một bức tranh trác tuyệt về sự phối trí giữa thiên nhiên và kiến trúc, trong đó, thiên nhiên là yếu tố chính tạo nên nét hùng vĩ của cảnh quan. Đến thăm lăng, du khách được thả mình trong một không gian tĩnh lặng nhưng đầy chất thơ để suy ngẫm về những thành bại của cuộc đời mình cũng như vinh nhục của vị vua đầu tiên của triều Nguyễn. Dù hết sức cố gắng của trung tâm bảo tàng di tích cố đô Huế nhưng xem ra di tích không mấy thu hút khách tham qua, một phần do điều kiện xa xôi, một phần giá trị về mặt kiến trúc còn thua kém các lăng Minh Mạng, lăng Tự Đức và Lăng Khải Định nên thật sự chưa thu hút du khách. 239
Lăng Minh Mạng – Kiệt tác của kiến trúc Việt Lăng Minh Mạng Đứng ở hữu ngạn sông Hương phía dưới chợ Tuần chúng ta trông qua ngả ba Bằng Lãng sẽ thấy khu lăng nằm thanh thản nổi rõ giữa núi đồi, trời mây, sông nước thật ngoạn mục. Sự an bài trước cảnh “sơn hồi thủy tụ” này tạo cho khu lăng rất đổi tự nhiên. Dòng sông Hương trong xanh như một dải lụa làm bức diềm phía trên. Núi Kim Phụng cân phân làm cái gối dệt phía sau. Rừng thông chỗ đậm, chỗ thưa, làm các công trình kiến trúc bên trong thấp thoáng như ẩn mà như hiện dưới các tàn lá xanh tạo nên sự hài hòa, ăn ý giữa con người và thiên nhiên.Đây là lăng vua Nguyễn thứ hai, sau lăng Gia Long và cũng là lăng hoàn chỉnh mang trọn dấu ấn của chế độ quân chủ tập quyền Việt Nam ở điểm cao của nó. Lăng Minh Mạng còn gọi là Hiếu lăng , nằm trên núi Cẩm Khê, gần ngã ba Bằng Lãng là nơi hội lưu của hai dòng Hữu Trạch và Tả Trạch hợp thành sông Hương, cách cố đô Huế 12 km. Lăng Minh Mạng được xem là công trình kiến trúc có vẻ đẹp thâm nghiêm với bố cục hoàn chỉnh nhất vừa uy nghiêm, vừa rực rỡ về kiến trúc, vừa hài hòa với thiên nhiên lại vừa sâu sắc bởi giá trị tư tưởng nhất trong các lăng tẩm ở Huế, được xây dựng từ năm 1840 đến năm 1843 đã được công nhận là di tích cấp quốc gia và di sản thế giới. Lăng Minh Mạng là một tổng thể kiến trúc quy mô gồm 40 công trình lớn nhỏ, bao gồm cung điện, đền miếu và đài tạ… được bố trí trên một trục dọc theo đường Thần đạo dài 700m từ Đại Hồng môn ở ngoài cùng tới chân tường của la thành sau mộ vua. Hình thế của lăng tựa dáng một người đang nằm nghỉ trong tư thế đầu gối lên núi Kim 240
Phụng, chân duỗi ra ngã ba sông trước mặt, hai nửa hồ Trừng Minh như đôi cánh tay buông xuôi tự nhiên. Nhìn toàn bộ bố cục kiến trúc của lăng Minh Mạng do xây dựng trên cơ sở tư tưởng chịu ảnh hưởng sâu sắc của đạo Nho nên mới đầu cảm thấy khó coi bởi công thức theo một khuôn phép đơn điệu của nó. Nhưng do nghệ thuật tạo dáng trong đó có những nét giản đơn có ích của các nhà kiến trúc dân tộc và nghệ nhân ở Huế thế kỷ XIX đã tạo nên phong cách kiến trúc Huế những nét độc đáo riêng. Lăng Minh Mạng thâm nghiêm thăm thẳm mà cao sáng, chặt chẽ mà sinh động hài hòa. Đó là một trong những “kiệt tác về thơ kiến trúc đô thị”. Lăng Minh Mạng là một tổng thể kiến trúc hòa hợp giữa một không gian bao la của thiên nhiên, trời mây, hoa cỏ. Đây là nơi “đi về của linh hồn tiên đế, là dấu chấm vuông kết thúc một thế giới hữu hạn…” (Wiki) và có lẽ cũng là nơi gìn giữ những giá trí văn hóa và kiến trúc của một triều đại. Một công trình tuyệt đẹp về bố cục lẫn kiến trúc, rất đáng để chiêm ngưỡng! Các kiến trúc sư bậc thầy ngày nay cũng phải khâm phục trước nghệ thuật tạo hình tuyệt dịệu của lăng này ! Lăng Tự Đức – Bức tranh sơn thủy hữu tình Lăng Tự Đức Một trong những công trình không thể không nhắc đến khi viếng thăm Huế là lăng vua Tự Đức với kiến trúc độc đáo, đa dạng, phong cảnh sơn thủy hữu tình và là một trong những lăng tẩm đẹp nhất của vua chúa triều Nguyễn. Lăng Tự Đức nằm trong một thung lũng, cách trung tâm TP.Huế 5km – được xây dựng trong thời gian từ 1864 – 1867 với kiến trúc cầu kỳ, 241
uốn lượn, phong cảnh sơn thủy hữu tình đúng như tính cách của một ông vua thi sĩ. Tự Đức – hoàng đế thứ tư của triều Nguyễn – đã xây lăng mộ cho mình ngay khi còn sống. Đây có thể coi là hành cung thứ hai của Vua Tự Đức Sinh thời, Tự Đức là một thi sĩ, làm vua trong bối cảnh loạn lạc, thù trong giặc ngoại nên muốn sớm xây lăng làm chốn tiêu sầu, quên cuộc đời khắc nghiệt, éo le của mình. Toàn cảnh lăng tựa một công viên rộng lớn hòa mình với thiên nhiên sơn thủy hữu tình, được ví như một bài thơ lớn của nhà vua thi sĩ. Toàn cảnh lăng Tự Đức như một công viên rộng lớn. Ở đó quanh năm có suối chảy, thông reo, muôn chim ca hát. Yếu tố được tôn trọng triệt để trong lăng Tự Đức là sự hài hòa của đường nét. Không có những con đường thẳng tắp, đầy góc cạnh như các kiến trúc khác, thay vào đó là con đường lát gạch Bát Tràng bắt đầu từ cửa Vụ Khiêm đi qua trước Khiêm Cung Môn rồi uốn lượn quanh co ở phía trước lăng mộ và đột ngột khuất vào những hàng cây sứ đại thụ ở gần lăng Hoàng hậu Lệ Thiên Anh. Sự sáng tạo của con người hài hòa với cảnh quan tự nhiên tạo nên một khung cảnh thơ mộng, diễm lệ. Trong cái quyến rũ của mây nước, hương hoa đó, người ta như quên đi rằng đó là lăng tẩm của một người quá cố mà ngỡ là thiên đường của cỏ cây, của thi ca và mộng tưởng… Đặc biệt tấm bia đá Thánh đức thần công nằm ngay sau Bái Đình trong lăng Tự Đức được xây dựng vào năm 1875, làm bằng đá hoa cương nguyên khối lấy từ tỉnh Thanh Hóa vào (đá Thanh), chiều cao toàn thân là 407cm; rộng 259cm. trọng lượng ước tính khoảng 22 tấn. Tấm bia này đã được Trung tâm Sách kỷ lục VN xác lập kỷ lục là bia đá cao và nặng nhất VN vào năm 2008. Tấm bia hội đủ các nét đặc trưng của phong cách bia ký thời Nguyễn, bia hình chữ nhật, trán bia hình chiếc khánh, 4 góc có 4 tai bia, đặt trên bệ bia cao 100cm, rộng 309cm và dày 162,5cm. Bệ bia cũng là một phiến đá Thanh nguyên khối, chạm trổ công phu. Mặt ngoài bệ bia chạm nổi và chạm lộng các đồ án rồng mây, mặt hổ phù và hồi văn chữ S gấp khúc. Bia khắc cả hai mặt, mặt trước khắc theo thể chữ khải, mặt sau khắc theo thể chữ hành, trong đó có bài Khiêm cung ký do Vua Tự Đức sáng tác.Tấm bia được coi là bảo vật quốc gia và được đặt trong nhà bia (Bi đình) – vốn là công trình kiến trúc bằng gạch to cao, mái được đỡ bởi 4 cột gạch to có đường kính 125cm, chu vi chân cột 205cm. Bốn phía có 4 tầng cấp thuận tiện để khách tham quan đến xem. 242
Lăng Tự Đức lộng lẫy – Dấu ấn giao thời Giữa kiến trúc lăng và thiên nhiên có sự gần gũi, bổ trợ. Ðường nét kiến trúc thật phóng khoáng, hài hòa cùng thiên nhiên có sẵn, hoặc cải tạo lại cho phù hợp với nghệ thuật kiến trúc phong cảnh. Chính vì thế, Lăng Tự Đức thật sự là một bài thơ tuyệt tác, một bức tranh sơn thủy hữu tình.Ông vua thi sĩ đã nằm xuống giữa một không gian của thơ và nhạc, của sự yên bình trong tổng thể kiến trúc trác tuyệt về nghệ thuật xây dựng lăng tẩm thời Nguyễn. Người đời sau mỗi khi đứng trước khung cảnh thơ mộng này, ai cũng nghĩ đến một câu thơ đề tặng “ngôi nhà vĩnh Cửu của vua Tự Đức vo71isu75 tâm đắc. “Tứ bề núi phủ mây phong, Mảnh trăng thiên cổ, bóng tùng Vạn Niên”. Lăng Khải Định. biểu tượng đỉnh cao của nghệ thuật. Lăng Khải Định. 243
Trong số các lăng triều Nguyễn, lăng Khải Định hay còn gọi Ứng Lăng là công trình duy nhất có lối kiến trúc pha trộn giữa Đông và Tây. Đây là nơi yên nghỉ của vua Khải Định, vị hoàng đế thứ 12 của triều Nguyễn. Tuy có kích thước khiêm tốn hơn so với lăng của các vua tiền nhiệm nhưng lăng được xây dựng tỉ mỉ, kỳ công nên tốn nhiều thời gian cũng như kinh phí hơn các lăng khác (từ năm 1920 – 1930). Sử sách ghi lại để có kinh phí xây dựng lăng, vua Khải Định đã xin chính phủ bảo hộ cho phép ông tăng thuế điền 30% trên cả nước và lấy số tiền đó để làm lăng. Lăng Khải Định thuộc xã Thủy Bằng (Hương Thủy, Thừa Thiên – Huế) nằm cách thành phố Huế 10 km. Để ghé thăm nơi này, bạn có thể đi bằng đường bộ hoặc đi thuyền trên sông Hương. Ban đầu bạn sẽ không khỏi choáng ngợp khi đứng trước một công trình mà tổng thể của nó là một khối nổi hình chữ nhật vươn cao tới 127 bậc, bạn sẽ có cảm giác như mình đang đứng ở những công trình thành quách châu Âu mà đã được xem trong các chương trình du lịch trên truyền hình. Khác với kiến trúc truyền thống thời Nguyễn, sự pha trộn của nhiều trường phái kiến trúc như Ấn Độ giáo, Phật giáo, Roman, Gothique… đã để lại dấu ấn trên những công trình của lăng. Toàn bộ nội thất trong cung đều được trang trí bởi những phù điêu ghép bằng sành sứ và thủy tinh. Những bộ tranh tứ quý, bát bửu, ngũ phúc, bộ khay trà, vương miện… kể cả những vật dụng rất hiện đại như đồng hồ báo thức, vợt tennis, đèn dầu hỏa… cũng được trang trí tại đây. Đặc biệt, lăng Khải Định nổi tiếng với 3 bức bích họa “cửu long ẩn vân” tuyệt đẹp được trang trí trên trần của 3 gian nhà giữa trong cung Thiên Định. Ba tấm phù điêu này được trang trí trên trần của 3 gian nhà giữa trong cung Thiên Định. Theo đánh giá của những nhà chuyên môn thì lăng Khải Định thực sự là biểu tượng đỉnh cao của nghệ thuật tạo hình sành sứ và thủy tinh. Đứng từ trên lăng ,du khách có thể phóng tầm mắt ra xa để nhìn phong cảnh núi đồi bao phủ. Bên trên là khỏang không mênh mông vô tận của vòm trời trong xanh cao vút. Ngắm nhìn lăng tẩm uy nghi sừng sững trong không gian vắng lặng u tịch, chỉ có tiếng kêu thoảng vang đâu đó, ta cảm nhận được không khí trang nghiêm kiêu sa mà trầm mặc,u tịch của nơi chốn an nghĩ muôn đời của những bậc đế vương. 244
Vào thăm lăng tẩm Huế, người ta có cảm giác như đi chơi ở công viên mỹ lệ giữa chốn núi rừng bao la, ở đó có thể nghe thấy được chim hót, hoa nở, suối chảy, thông reo. Ngoài những hình tượng cụ thể mà mọi người thưởng thức được bằng trực giác, còn có những cái trừu tượng và siêu nhân cần phải vận dụng đến tư duy mới có thể nhận thức và cảm thụ. Đó là tư tưởng xuất phát từ nhân sinh quan của một thời kì lịch sử. Đi tham quan, nghiên cứu lăng tẩm Huế, không nên chỉ chú vào các công trình kiến trúc gần gủi trước mắt trong phạm vi vòng la thành diện tích hơn chục ha. mà phải phóng tâmg mắt ra xa cả chuc km để thấy hết các thực thể địa lý thiên nhiên gắn liền với nó và thưởng thức được vẻ hoành tráng của cả tổng thể rộng hàng trăm, hàng nghìn ha mà lăng tẩm có anh hưởng vè măt nghệ thuật 245
Sự hình thành miền Nam Việt Nam. Võ Thanh Liêm I. Vương quốc cổ Phù-Nam . Vùng đất trù phú Nam Bộ của Việt nam ngày nay từ khu vực Ðồng Nai đến Hà Tiên xưa thuộc Vương Quốc Phù Nam. Phù Nam là tên phiên âm tiếng Hán của từ Phnom có nghĩa là núi. Theo sách Lĩnh Nam Trích Quái thì người Tàu thời xưa gọi tên nước này là ‘Diệu Nghiêm’. Vương quốc Phù Nam là vương quốc đầu tiên hình thành tại Ðông Nam châu Á, tồn tại từ đầu thế kỷ thứ 1 đến thế kỷ thứ 6 sau Công nguyên. Chúng ta có thể khẳng định rằng xã hội văn minh đã hiện hữu tại vùng đất này rất lâu trước khi vương quốc được thành lập. Lịch sử bắt đầu từ khoảng năm thứ nhứt sau Công nguyên khi tại châu Âu, Ðại Ðế Claudius ra sức chinh phục đất Anh Cát Lợi và tại Trung Hoa là nhà Tây Hán. Theo truyền thuyết thì ngày xưa có một vị giáo sĩ anh hùng (Brahman) người Ấn Độ tên là Kaundinya được thần linh chỉ đường xuống thuyền xuôi về hướng đông. Sau một cuộc hành trình đầy gian truân, thuyền của Kaundinya đến được đất liền của đồng bằng sông Cửu Long. Bỗng từ đất liền xuất hiện một mỹ nhân trên chiếc thuyền nan bơi ra chặn thuyền của Kaundinya lại. Mỹ nữ này là Nữ Chúa Soma, con gái của vua Rắn Hổ mười đầu. Trận thư hùng diễn ra giữa anh hùng và giai nhân. Nhờ phép thuật thần thông nên Kaundinya thắng trận. Nữ chúa Soma cầu hòa. Sau đó không lâu hai người yêu rồi cưới nhau sinh ra một người con trai. Người con trai này trở thành vị vua đầu tiên của Vương quốc PhùNam lấy hiệu là Kampu. Kinh đô trù phú của vương quốc được xây dựng tại thành Vyadhapura. Hầu hết những dữ kiện liên quan đến vương quốc cổ nhất Ðông Nam Á này đều đến từ sử liệu Trung Hoa và di vật khai quật được ở Óc-Eo. Chính vì thế tên các vương triều thường là do phiên âm ra tiếng Hán. Vào năm 245 sau Công nguyên nhà Hán Trung Hoa sai sứ giả là K’ang T’ai đi kinh lý vương quốc Phù Nam. Ông đã mô tả là vương quốc này đã biết cách luyện kim, kinh đô Vyadhapura có xây thành bằng gạch kiên cố chung quanh, có hệ thống kinh đào để thuyền bè có thể đi xuyên qua lãnh thổ. K’ang T’ai cũng nói rằng vương quốc Phù Nam có thư viện với nhiều sách vở chữ Phạn, có luật lệ, hệ thống thâu thuế và nông nghiệp, thương mãi 246
đều phát triển. Thường thì người Hoa có tục lệ khinh khi những dân tộc không phải là Hán tộc. K’ang T’ai đã kết luận rằng người Phù Nam là một dân tộc man di, nước da đen đúa xấu xí, tóc quăn và đa số ở truồng, đi chân không. Ông sứ giả có than phiền điều này với quốc vương Phù Nam là vua Hun Fan Huang. Nhà vua sau đó ra lệnh cho tất cả thần dân của Ngài về sau phải quấn vải vào phần dưới thân thể, tiền thân của chiếc sà-rong mà người Thái, Miên và Mã Lai thường mặc ngày nay. Những lời kể lại của thương nhân các nơi khác lại tỏ ra thán phục nền văn minh và sự hùng cường của Phù Nam. Họ kể rằng giới quí tộc Phù Nam ăn mặc diêm dúa, ở cung điện nguy nga bật nhất và nước Phù Nam có rất nhiều đồ châu bảo vàng bạc quí giá. Vương quốc sử dụng chữ Phạn cổ Sanscrit của Ấn Ðộ trong công việc hành chánh và thương mãi. Trong vòng 300 năm sau ngày lập quốc, Phù Nam đã có một hạm đội chiến thuyền và quân lực hùng mạnh. Vương quốc Phù Nam đã chinh phục được hầu như toàn thể những khu dân cư của vùng Mã Lai -Thái lan - Miên và nam Miến Ðiện để kiểm soát đường hàng hải của các thương thuyền giữa Trung Hoa và Ấn Ðộ. Hào quang cường thịnh và cách tổ chức hành chánh của Phù Nam đã làm gương mẫu cho những nền văn minh sau này như là tiểu vương quốc Sri Vijaya (Palembang), Sailendra ở Java Indonesia, và Malacca góp phần truyền bá văn minh Ấn Ðộ đến những thành phố, bộ lạc phiên thuộc dưới quyền kiểm soát của Phù Nam. Óc-Eo ngày xưa là một thương cảng trù phú có nhiều thương thuyền ghé lại. Vào thời điểm này thương gia đến Óc-Eo tấp nập từ đông sang tây: Ðế quốc La Mã qua Ấn Ðộ và Trung Hoa. Người ta đã tìm được những đồng tiền cổ của La Mã tại đây. Con của Hun Fan Huang là Fan-Shih-Man lên nối ngôi khoảng đầu thế kỷ thứ 3. Tiếp theo là các vua Hun Tien và Hun Phan Fan cha truyền con nối. Vua Hun Phan Fan là một vị minh quân trị vì từ cuối thế kỷ thứ 3 qua thế kỷ thứ 4. Ông nới rộng lãnh thổ, làm hùng mạnh quốc gia và thọ 90 tuổi, không rõ năm nào. Con của vua Hun Phan Fan là Hun Phan Phan không thích làm vua nên bỏ đi tu, nhường ngôi cho một viên tướng là Seray Mara sử Tàu gọi là Fan Che Man. Vua Fan Che Man nới rộng lãnh thổ Phù Nam ra gấp đôi diện tích cũ. Ông đã băng hà vào khoảng năm 204-210. Sau cái chết của vua Fan Che Man triều đình Phù Nam rơi vào cảnh rối loạn liên tiếp. Người cháu của vua là Fan Chan giết chết thái tử con của vua trước để chiếm ngôi. Hai mươi năm sau một người con của vua Fan Che Man là Asachi lại giết được Fan Chan để lấy lại ngai 247
vàng. Sau đó không lâu Asachi lại bị tướng Siun giết để lên làm vua. Hoàn cảnh nào đưa vua Chandana lên ngôi vương không được sử liệu Trung Hoa nhắc đến. Có những chổ trống trong lịch sử những nước lân bang mà có lẽ vì trùng họp với những biến động chính trị tại triều đình Trung Quốc nên sử gia Trung Hoa đã không thể điều nghiên ghi chép. Năm 357 Phù Nam dưới triều vua Chandana sang cầu phong Trung Hoa và xin triều cống. Một điều đáng nói là mặc dù những dân tộc tại Ðông Nam châu Á bị ảnh hưởng sâu đậm của văn minh Ấn Ðộ, nhưng người Ấn Ðộ và lịch sử Ấn Ðộ hoàn toàn không quan tâm đến thế giới phía đông này cho đến mãi thế kỷ 20 chính phủ và nhân dân Ấn Ðộ mới tìm hiểu thêm về một vùng văn minh Ấn Ðộ đã có mặt tại đây từ lâu. Lịch sử Ấn Ðộ không đếm xỉa gì đến vùng Ðông Nam châu Á có ảnh hưởng văn hóa Ấn trong quá khứ. Ngược lại người Trung Hoa từ hơn 2000 năm nay luôn xem vùng biển phương nam thuộc ảnh hưởng của Thiên triều. Họ cho sứ giả đi điều tra và ghi chép cẩn thận những điều mắt thấy tai nghe. Từ lúc ban đầu ấy các nước đông nam Á đều đã có liên hệ ngoại giao với Trung Hoa qua hình thức cống sứ và xin phong. Trong thâm tâm tầng lớp lãnh đạo Trung Hoa, Thiên triều có thẩm quyền và nhiệm vụ can thiệp tại vùng nam châu Á nếu cần. Lịch sử đã chứng minh điều đó và gần đây nhất là Trung quốc đã đánh vào miền Bắc Việt nam năm 1979 vì bất đồng về chủ quyền và ảnh hưởng tại vương quốc Kampuchia. Nhưng cũng nhờ thế mà ta có những sử liệu quí giá từ thời thượng cổ để tìm hiểu lịch sử của những quốc gia phương nam của Trung Quốc trong đó có Việt Nam ngày nay và Phù Nam xưa. Những thần dân của Phù Nam xưa thuộc giống người thổ da đen Khmer, Môn-Khmer, Miến, và dân đa đảo Malay-indônêsiên. Ngôn ngữ sử dụng thuộc hệ Ấn độ pha trộn với nhiều sắc thái, thổ ngữ địa phương. Người nước Phù Nam theo đạo Bà La Môn và Phật giáo. Vương quốc Phù Nam đạt đến sự cực thịnh dưới triều vua Kaundinya Jajavarman (478-514). Vua Rudravaman (514-539) có sai sứ sang Trung Hoa triều cống và cho biết Ngài có một lọn tóc xá lợi của Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni. Trong thời gian này các vị cao tăng Phật giáo người Phù Nam đã dịch cuốn Phật Kinh Vimutti Magga sang chữ Hán. Ngày nay cuốn kinh này chỉ tồn tại bằng chữ Hán vì bản chánh chữ Phạn đã bị thất lạc. Thế rồi sau đó vương quốc Phù Nam bị suy 248