vốn “tẻ nhạt” nay bỗng trở thành cơn sốt khi nhóm ngành này xuất hiện một đợt tăng giá khủng khiếp, cổ phiếu dẫn dắt của nhóm ngành này vào lúc đó là Dryships, Inc. (DRYS), tăng gần như dốc đứng trong gần hết năm 2007 (Hình 6.22). Khi thị trường chung đạt đỉnh vào tháng 10 năm 2007, các cổ phiếu ngành vận tải, một trong những nhóm ngành “được yêu thích” trong thị trường tăng giá này cũng đạt đỉnh theo. DRYS, và những người anh em của nó cùng nhau sụp đổ, rớt hơn 50% từ đỉnh như chúng ta có thể thấy trên đồ thị tuần của DRYS. Tuy nhiên, vào tháng 01 năm 2008, cổ phiếu đã tìm thấy đáy. Sau khi kiểm định đáy một lần nữa trên đồ thị tuần, nó cất cánh tăng liền 8 tuần để hình thành phần bên phải POD. Thật thú vị, DRYS có kiểu tăng cao trào tại đỉnh đợt tăng giá bên phải POD, và đây là hành động giá tạo đỉnh tiềm năng mà ta phải quan sát khi cổ phiếu tiến lên bên phải POD. Nó cho chúng ta manh mối hữu ích để tin tuông hơn mà tiến hành bán khống khi nhìn thấy cú đảo chiều giảm điểm với khối lượng lớn đầu tiên ở đỉnh bên phải POD.
Hình 6.22: Đồ thị tuần Dryships, Inc. (DRYS), 2007 - 2008. Dữ liệu cung cấp bởi eSignal, bản quyền 2010. Khi quan sát trên đồ thị tuần, tín hiệu bán khống của DRYS trông giống y mẫu hình thất bại POD xuất hiện ở Reading RailRoad vào năm 1907- Vì vấn đề bản quyền, tôi không được phép để đồ thị của Reading RailRoad ở đây, nhưng thật thú vị khi nhận thấy mẫu hình giống hệt nhau hoạt động như nhau ở hai cổ phiếu, dù chúng cách nhau những 100 năm. Giống như O’Neil và các vị tiền bối trước đó từng nói, thị trường chứng khoán đơn giản là nơi bản chất con người được bộc lộ, chừng nào tâm lý con người vẫn không thay đổi, bất kể ó phía mua hay phía bán, chừng đó các mẫu hình sẽ tiếp tục lặp lại trong hiện tại và tương lai sau này. Sau đợt tăng giá rất nhanh ở bên phải POD, DRYS nhanh chóng hạ nhiệt khi đảo chiều giảm với khối lượng rất lớn, phá thủng MA 10 tuần (MA 50 ngày) và MA 40 tuần (MA 200 ngày). Sau đó, giá bị chặn dưới hai đường trung bình động này trong 11 tuần tiếp theo, trước khi cắm đầu hoàn toàn khi thị trường chung giảm mạnh vào tháng 09 năm 2008 (xem lại Hình 6.15). Như bạn có thể thấy trong Hình 6.23, DRYS trông rất giống với ARBA và SCHW trên đồ thị ngày, khi có phiên đảo chiều giảm điểm với khối lượng lơn tại đỉnh bên phải POD, phá thủng MA 20 ngày lần một, trước khi hồi phục kéo lên đường MA 20 ngày hai lần với khối lượng cạn kiệt (là hai phiên VooDoo ở ngay đường này như ta có thể thấy trên đồ thị ngày). Lần hồi phục thứ hai về đường MA 20 ngày bị thất bại khi khối lượng giảm -40% so với thanh khoản bình quân cho thấy thiếu lực cầu cổ phiếu ở điểm này, vì thế sang ngày hôm sau, giá tạo khoảng trống giảm đi kèm với khối lượng tăng. Một khi cổ phiếu xuyên thủng MA 50 ngày và MA 200 ngày, các đường trung bình động này trở thành điểm tham khảo để tiến hành bán khống, như ở đây, cổ phiếu có hai lần hồi phục kéo trở lại đường MA 200 ngày, trước khi quay đầu giảm điểm một lần nữa vào đầu tháng 07 năm 2008. Một trong những hành động giá cảnh báo rủi ro cho việc bán khống theo mẫu hình POD là những nhịp tăng điên cuồng đặc trưng ở cả đỉnh bên phải và đỉnh bên trái của mẫu hình POD. Đầu tiên, đợt tăng giá rất nhanh ở đỉnh bên trái xuất phát từ một nhịp tăng bình thương nhưng vô cùng mạnh mẽ của cổ phiếu nhờ thị trường chung đang trong pha tăng. Điều
này thường gặp ở cổ phiếu được đánh giá là một trong những cổ phiếu dẫn dắt nóng trong thị trường tăng giá. Đợt tăng giá thứ hai ở bên phải mẫu hình POD xảy ra quá nhanh, đến nỗi không hề có thời gian để tạo ra cú rũ bỏ nhà đầu tư yếu và đưa thêm nhiều nhà đầu tư mạnh vào cổ phiếu, vì thế cú tăng sốc này kém bền vững. Cú táng giá của DRYS ổ bên phải mẫu hình POD quá mất kiểm soát đến độ nó tạo nên kiểu tăng giá cao trào, với giá tăng sốc trong 5-6 ngày lên đỉnh trước khi đảo chiều giảm. Cổ phiếu nên được bán không ở lần đảo chiều giảm điểm từ đỉnh với khối lượng lớn đầu tiên trên đồ thị ngày. Nhưng một khi nó đã phá thủng đường MA 20 ngày, thì đường MA 20 ngày trở thành công cụ theo dõi bán khống khi cổ phiếu hồi phục kéo trở lại đường trung bình động này với khối lượng thấp, nhất là có dấu hiệu khối lượng VooDoo ngay tại MA 20 ngày như trong ví dụ của DRYS. Hình 6.23: Đồ thị ngày Dryships, Inc. (DRYS), 2008. Dữ liệu cung cấp bởi eSignal, bản quyền 2010.
Một ví dụ khác về tín hiệu bán khống theo mẫu hình POD là ở Apple, Inc. (AAPL) vào cuối năm 2007 cho đến tháng 09 năm 2008, thời điểm này là lúc APPL tạo đỉnh POD với mẫu hình LSFB vào cuối năm 2007, như ta có thể thấy trên đồ thị tuần (Hình 6.24). Trong suốt giai đoạn AAPL thiết lập đỉnh POD, “các cổ phiếu lớn” khác của thị trường bò tót kết thúc vào cuối năm 2007 như Baidu, Inc. (BIDU) và First Solar (FSLR) cũng thiết lập đỉnh mẫu hình POD, gần trùng với thời điểm lập đỉnh của AAPL. Chúng tôi sẽ để bạn đọc khám phá những cổ phiếu này và chỉ tập trung vào phân tích AAPL. Sau sự thất bại của nền giá cuối vào cuối năm 2007 đến đầu năm 2008, giá cổ phiếu AAPL mất gần như một nửa giá trị trong 6 tuần giảm mạnh. Cuối cùng, nó tạo đáy sau 12 tuần giảm và quay trở lại tăng giá, leo lên mức 200 trong 8 tuần ngắn ngủi. Diễn biến này hình thành nên toàn bộ mẫu hình POD trong khoảng thời gian 20 tuần. AAPL là “cổ phiếu lớn” được ưa thích trong thị trường tăng giá trước đó, vì thế nó mất nhiều thời gian nảy lên nảy xuống giữa MA 50 ngày và kháng cự tại mức giá 180 trong quá trình đi lên, MA 200 ngày trong quá trình đi xuống, trước khi hết gượng nổi và cắm đầu cùng với thị trường chung vào tháng 09 năm 2008.
Hình 6.24: Đồ thị tuần của Apple, Inc. (AAPU, 2007 - 2008. Dữ liệu cung cấp bởi eSignal, bản quyền 2010. Chúng ta sẽ chia hành động giá/khối lượng của AAPL trong giai đoạn 2007 - 2008 trên đồ thị tuần (Hình 6.24) thành hai đồ thị ngày để quan sát chi tiết hơn AAPL đã giảm từ đỉnh trái và đỉnh phải của POD như thế nào. Hình 6.25 thể hiện sự giảm giá từ nền giá cuối dạng mẫu hình chiếc cốc-tay cầm mà AAPL hình thành vào cuối năm 2007, ở đây cổ phiếu tiếp tục tăng giá sau khi thị trường chung đã đạt đỉnh vào cuối tháng 10 năm 2007. Phải đến cuối tháng 12, cổ phiếu mới tạo đỉnh. Lưu ý rằng một khi AAPL xuyên thủng cả MA 20 ngày và MA50 ngày, nó có 6 ngày bật tăng theo hình cái nêm hướng lên với khối lượng thấp về sát MA 50 ngày. Việc giá hồi phục về MA 50 ngày là điểm bán khống tối ưu, và cho ta vị thế bán khống để hưởng lợi từ nhịp giá giảm nhanh và mạnh kéo dài đến tháng 02 năm 2008. Điều thú vị cần lưu ý là ngày xảy ra điểm phá vỡ của AAPL có dấu hiệu VooDoo khi khối lượng giảm -56% so với thanh khoản bình quân. Đây là dấu hiệu rõ ràng cho thấy việc thiếu lực cầu đối với cổ phiếu AAPL khi nó thiết lập đỉnh cao mới và thất bại trong việc duy trì mức giá 200, vùng giá được công chúng mua vào nhiều.
Hình 6.25: Đồ thị ngày Apple, Inc. (AAPL), 2007 - 2008. Dữ liệu cung cấp bởi eSignal, bản quyền 2010. AAPL tăng đến mức giá 200 khiến tôi nhớ là bình luận của Jesse Livermore đối với cổ phiếu mà ông từng mua vào năm 1907 là Anaconda Copper. Ông nói: “Đây là lý thuyết giao dịch cũ của tôi khi cổ phiếu lần đầu tiên vượt ngưỡng 100 hoặc 200 hoặc 300 thì giá sẽ không dừng lại mà còn tăng cao hơn, vì thế nếu bạn mua ngay khi giá vượt qua đường này, chắc chắn sẽ có lợi nhuận.” Khi Anaconda Cooper rõ ràng vượt qua mức giá 300 lần đầu tiên vào năm 1907, Livermore quan sát hành động giá của cổ phiếu này, “tôi tính toán rằng khi nó vượt 300, và giữ được đà đi lên, có thể nó sẽ chạm 340”. Tuy nhiên, Anaconda không có hành động để giữ mức giá này và Livermore lưu ý: “Anaconda mở cửa tại 298 và tăng lên 302 % nhưng ngày lập túc bắt đầu suy yếu. Tôi bắt đầu có suy nghĩ rằng, nếu Anaconda đã giảm trở lại về giá 301 thì nó bắt đầu yếu đi. Trong một đợt tăng giá thực sự, giá nên tăng đến 310 mà không hề dừng lại. Nếu nó đã thất bại, có nghĩa suy tính ban đầu của tôi là sai, và việc duy nhất mà một nhà đầu tư thành công nên làm là phải chấm dứt sai lầm của mình.” (Edwin Lefevre, Hồi Ký về Thiên Tài Chứng Khoán, nhà xuất bản John Wiley & Sons, 2004).
Một ví dụ hiện đại ngày nay tương tự như Anaconda Coppper là AAPL. Cổ phiếu này rõ ràng không vượt qua được mức giá 200 vào cuối tháng 12 năm 2007 và hành động giá đang cho thấy yếu đi, khả năng đạt đỉnh và bắt đầu rót giá nhanh. Sau khi AAPL đã chạm đáy vào tháng 02 năm 2008, nó bắt đầu đảo chiều tăng giá vào tháng 03, và tăng nhanh trong 8 tuần tiến về đỉnh bên phải của mẫu hình POD (xem Hình 6.26). Lưu ý khi AAPL đạt đỉnh, khối lượng tăng giá thấp hơn mức thanh khoản bình quân, trong khi hai phiên giảm mạnh lại có khối lượng cao hơn mức thanh khoản bình quân, cổ phiếu này đã quay lại gần đỉnh cũ và tạo mẫu hình hai đỉnh quanh giá 190, với khối lượng thấp hơn -36% so với thanh khoản bình quân ở đỉnh thứ hai. Khi AAPL bắt đầu rơi từ đỉnh bên phải mẫu hình POD, nó cố gắng trụ lại trong vài tuần trước khi hoàn toàn sụp đổ trùng với thời điểm thị trường chung giảm mạnh vào tháng 09 năm 2008. Hình 6.26: Đồ thị ngày Apple, Inc (AAPL), 2008. Dữ liệu cung cấp bởi eSignal, bản quyền 2010.
Đợt hồi phục cuối cùng mà AAPL ghi nhận là lúc cổ phiếu đẩy giá trở lại vùng kháng cự tại 180, đây là nơi lý tưởng để đặt điểm bán khống. Cũng lưu ý có một cái nêm nhỏ (nghĩa là những ngày tăng giá với khối lượng thấp) với khối lượng giảm -45% so với thanh khoản bình quân, tức dấu hiệu khối lượng VooDoo. Ngay sau đó, cổ phiếu bắt đầu giảm điểm và xuyên thủng tất cả đường trung bình động chỉ trong vài ngày khi thị trường chung bắt đầu có đợt giảm mạnh vào tháng 09. Điều quan trọng cần lưu ý là điểm bán khống xảy ra trong giai đoạn thị trường chung đi ngang, bắt đầu vào cuối tháng 06 và tiếp tục cho đến khi giá cắm đầu nhanh và mạnh vào tháng 09. Trong hầu hết các trường hợp, những đợt tăng giá với khối lượng thấp đến tại hoặc cao hơn đôi chút so với một đường trung bình động quan trọng hoặc một vùng hỗ trợ hợp lý, chẳng hạn như mức giá 180 trên đồ thị ngày của AAPL, là điểm rất đẹp để thực hiện bán khống AAPL vào năm 2008. Một số mẫu hình POD mang đến lợi nhuận rất nhanh có thể xuất hiện ở những cổ phiếu IPO “nóng” như cổ phiếu năng lượng mặt trời năm 2007 - 2008. Các cổ phiếu IPO nóng bắt đầu tăng vọt khi chủ đề đầu tư nào đó lọt vào mắt xanh của cộng đồng đầu tư, tương tự như dòng cổ phiếu Internet vào những năm 1999 - 2000 hoặc cổ phiếu năng lượng mặt trời vào năm 2007 - 2008. Thông thường, các cổ phiếu IPO nóng đã tăng thẳng đứng có thói quen xấu là cũng giảm thẳng đứng, đặc biệt nếu mọi hào hứng về chủ đề đầu tư đã đi đến hồi kết, giống như Trina Solar (TSL) vào năm 2007 (Hình 6.27). TSL có cú tăng lớn từ ngày IPO đầu tiên vào cuối năm 200Ổ, nhưng sau đó nó đã có vài lần thất bại tạo điểm phá vỡ từ mẫu hình POD ngay sau IPO, cụ thể là giá tăng thẳng đứng lúc IPO, sau đó giảm thẳng đứng, lại tiếp tục có một cú tăng thẳng đứng khác, tiêu biểu cho những nhịp tăng vọt mang tính đầu cơ kém bền vững.
Hình 6.27: Đồ thị tuần của Trina Solar Ltd. (TSU, 2007. Dữ liệu cung cấp bởi eSignal, bản quyền 2010. Đồ thị tuần của TSL trong Hình 6.27 thực ra bao gồm hai mẫu hình POD ngắn, rất hiếm gọi là “POD đôi”. Cả hai đều là mẫu hình ngắn với thời gian hình thành lần lượt là 8 tuần và 12 tuần, và đỉnh phải của cả hai POD này đều có cú giảm điểm với khối lượng lớn trên đồ thị tuần. Nếu tách thành hai đồ thị ngày cho mỗi mẫu hình POD (như Hình 6.28 và 6.29), chúng ta sẽ thấy rõ cơ chế rất giống nhau đã từng xuất hiện ở các ví dụ trước đây về mẫu hình POD như ARBA, SCHW và AAPL. Mẫu hình POD đầu tiên mà TSL hình thành được thể hiện trong Hình 6.28, và một lần nữa chúng ta lại thấy cú đảo chiều giảm điểm với khối lượng lớn ngay bên phải đỉnh mẫu hình POD, đánh dấu sự kết thúc đợt tăng giá sốc của cổ phiếu này. Sau đó là chuỗi các phiên tăng mạnh bất thình lình lên giá 32 và bắt đầu cho thấy đây là vùng kháng cự mạnh. Các lần hồi phục thứ ba và thứ tư lên quanh vùng kháng cự 32 (tạo bởi MA 20 ngày), khối lượng bắt đầu giảm dần, và cổ phiếu có thể được bán khống ở đây. Giá giảm rất nhanh từ điểm này.
Hình 6.28: Đồ thị ngày của Trina Solar Ltd. (TSL), 2008. Dữ liệu cung cấp bởi eSignal, bản quyền 2010. Cú giảm mạnh từ bên phải mẫu hình POD mà TSL hình thành trong Hình 6.28 dẫn tới cú hồi phục nhanh và mạnh khác, nhưng trong trường hợp này giá tạm dùng để thiết lập tay cầm trong suốt tháng 10 năm 2008 (Hình 6.29). Khi nó cố gắng tạo điểm phá vỡ, một cú đảo chiều giảm mạnh với khối lượng lớn ở bên phải mẫu hình POD xuất hiện khiến cổ phiếu này lao dốc thẳng đứng xuyên thủng MA 20 ngày, MA 50 ngày và cả MA 200 ngày, chỉ vỏn vẹn trong 3 ngày ngắn ngủi, cổ phiếu sau đó hồi phục yếu ót trở lại MA 50 ngày, trước khi giảm trở lại và tạo các khoảng trống giảm giá thấp hơn. Bạn có thể nhìn thấy tại sao việc chốt lợi nhuận khi các vị thế bán khống đã giảm giá kéo dài là rất quan trọng khi xử lý hoạt động bán khống. Sau khoảng trống giảm giá nhanh vào giữa tháng 11, TSL hồi phục trở lại MA 50 ngày và MA 200 ngày trước khi xuất hiện dấu hiệu ngày VooDoo
khối lượng thấp tại đỉnh của đợt hồi phục vào cuối tháng 12 năm 2007 và sau đó quay đầu giảm điểm. Hình 6.29: Đồ thị ngày của Trina Solar Ltd. (TSL), 2008. Dữ liệu cung cấp bởi eSignal, bản quyền 2010. Một ví dụ khác về các mẫu hình POD xuất hiện sau IPO trong cơn cuồng cổ phiếu năng lượng mặt trời vào cuối năm 2007 là Yingli Green Energy (YGE) và LDK Solar Ltd. (LDK), bạn đọc có thể tự mình nghiên cứu. Mẫu hình bán khống POD và các mẫu hình đạt đỉnh khác có thể đem lại lợi nhuận rất hấp dẫn, đặc biệt nếu người bán khống có thể xác định đúng phía bên phải của mẫu hình POD, và chờ đợi cho đến khi có ngày đảo chiều giảm khối lượng lớn đầu tiên để bán không ngay đúng lúc cổ phiếu vừa mới rời đỉnh. Bạn có thể nhanh chóng có được mức lợi nhuận lớn, giống như các ví dụ mà chúng tôi vừa minh họa, nhưng một khi cổ phiếu đã
giảm mạnh từ bên phải của các mẫu hình này, có nhiều điểm để tiếp tục bán khống nữa nếu ta “cắm chốt” theo nó trong quá trình bán khống. BÁN KHỐNG CỔ PHIẾU TĂNG NHƯ TÊN LỬA Một phương pháp bán khống có xác xuất cao mà chúng tôi đã phát hiện, tuy không hên quan đến các đặc điểm bán khống thông thường mà chúng tôi tìm kiếm ở vai đầu vai, sự thất bại của nền giá cuối cùng (LSFB) và mẫu hình POD, là mẫu hình chúng tôi gọi với cái tên Exploding Rocket Stocks (Các cổ Phiếu Tăng Như Tên Lửa). Các cổ phiếu tăng như tên lửa được định nghĩa là các cổ phiếu “nóng” tăng giá ít nhất 4.5 lần từ điểm phóng có khối lượng cao, thường xảy ra ở các điểm phá vỡ từ các vùng củng cố với khối lượng gấp hai lần thanh khoản bình quân. Mức tăng giá 4.5 lần nói chung xảy ra trong bốn tuần hoặc ít hơn khi các cổ phiếu này tăng vọt như kiểu “tên lửa hạt nhân”. Nhưng sau khi ròi khỏi bệ phóng, tên lửa hạt nhân cuối cùng sẽ nổ tung, và lịch sử cho thấy các cổ phiếu tăng như tên lửa cũng hoạt động tương tự, thường chỉ vài tuần sau khi phóng. Do đó, ta sẽ gặt hái cơ hội để kiếm được lợi nhuận nếu bán khống đúng thời điểm. Các cổ phiếu tăng như tên lửa được bán khống ngay sau đợt tăng giá cao trào với khối lượng lớn, khi cổ phiếu quay đầu phá thủng đáy thấp nhất của bất cứ ngày nào, vì thường đây là tín hiệu đầu tiên của đỉnh cao trào. Mặc dù đây là kỹ thuật đầy rủi ro và biến động nhưng tiềm năng lợi nhuận khi thắng rất hấp dẫn. 95.7% tín hiệu bán khống các cổ phiếu tăng như tên lửa đều mang lại lợi nhuận, và 84.2% các tín hiệu bán khống cổ phiếu tăng như tên lửa giảm ít nhất 50% so với đỉnh giá tuyệt đối của “đợt tăng tên lửa.” Hiểu được điều này, bạn sẽ có lợi thế bổ sung thêm vị thế cho các lần bán khống khi cổ phiếu tiếp tục giảm, có khi là đến -50% từ đỉnh. Rủi ro là 4.3% các cổ phiếu này không hoạt động và sẽ chạm vào lệnh dừng lỗ, mà chúng ta đặt ở đỉnh cao nhất của mẫu hình. Do đó, bạn sẽ biết chính xác phần trăm rủi ro trước khi đặt lệnh, từ đó bạn bắt buộc phải tính toán quy mô vị thế hợp lý. Mức dừng lỗ của bạn có thể khá rộng ở lần bán khống đầu tiên, vì xác suất 15.8% cổ phiếu sẽ chống lại bạn bằng cách tăng 17% trước khi giảm trở lại để mang đến lợi nhuận. Mặc dù ta khó lòng giữ lệnh bán khống với mức phần trám táng giá này, nhưng hãy nhớ rằng có đến 95.7% các tín hiệu bán không là có lợi nhuận, trong đó 84.2% các lệnh có mức lãi lớn. Điều này sẽ giúp bạn có thêm sự tự tin để bán khống.
Thời điểm an toàn nhất để cover vị thế là khi cổ phiếu đã giảm 50% so với mức đỉnh, vì hầu hết cổ phiếu đều giảm ít nhất 50% từ đỉnh trước khi bật lên rất mạnh. Để thu được lợi nhuận tiềm năng cao hơn, bạn có thể cover một nửa vị thế của mình và chờ xem cổ phiếu hành động ra sao trước khi cover nửa còn lại. Tương tự, đối với các cổ phiếu đã tăng giá ít nhất 6.5 lần từ điểm phóng, thì 65 trong số 66 các cổ phiếu tăng như tên lửa mà chúng tôi đã nghiên cứu đều giảm ít nhất 50% từ đỉnh. Nếu tính cả những ví dụ từ đỉnh cao trào vào tháng 03 năm 2000, thì tổng cộng có 73 trong số 77 cổ phiếu tăng như tên lửa sẽ giảm ít nhất 50% từ đỉnh của chúng. Lưu ý, năm 2009 là năm có hiện tượng thiên nga đen, hầu hết các cổ phiếu rẻ như trà đá đều tăng giá ít nhất 4.5 lần trong khoảng thời gian hơn bốn tuần, vì thế chúng không đáp ứng điều kiện của cổ phiếu tăng như tên lửa cho tín hiệu bán khống. Nên nhớ, chúng ta đang tìm kiếm những đợt tăng vùn vụt như “tên lửa hạt nhân.” Do đó, các cổ phiếu đáp ứng tiêu chí phải liên tục tăng thiết lập đỉnh ít nhất 4.5 lần trong thời gian bốn tuần hoặc ít hơn. Những loại cổ phiếu tăng sốc như vậy là khá hiếm, do đó thương chỉ có một vài cổ phiếu trong một năm. Nhưng khi bạn tìm được loại cổ phiếu này, tiềm năng lợi nhuận/rủi ro là cực kỳ hấp dẫn. Tuy nhiên, việc vay mượn cổ phiếu từ nhà môi giới ở những cổ phiếu thưởng nhỏ và thanh khoản kém thế này, không phải điều dễ dàng, và chúng tôi nhận thấy ta cũng chỉ có thể mượn được một nửa số cổ phiếu cho thấy chúng mang đặc điểm cổ phiếu tăng như tên lửa và cho tín hiệu bán khống. Khi tín hiệu đã đạt chuẩn và có thể vay cổ phiếu để bán khống, chúng tôi thấy những tình huống này giống như “tiền trên trời rơi xuống”. Hãy quan sát ví dụ về tín hiệu bán khống cổ phiếu tăng như tên lửa là Interdigital, Inc. (IDCC) trong giai đoạn 1999 - 2000 (Hình 6.30). Trong những tình huống cực kỳ bất thường, sau khi đã táng giá ít nhất 4.5 lần từ điểm phóng trong thời gian chưa tới bốn tuần, cổ phiếu có thể đi ngang, thắt chặt theo một cách kiến tạo để tích lũy, đây là đặc điểm mà ban đầu chúng ta cần tìm trong một “điểm phóng” tốt cho cổ phiếu. Lưu ý nếu cổ phiếu đi ngang như thế trong hơn hai tuần, giống như IDCC từ cuối tháng 11 năm 1999 đến đầu tháng 12, thì điểm phóng được tính lại. Do đó, sau vùng củng cố vào tháng 11 - tháng 12 trong thời gian hơn hai tuần, điểm phóng của
IDCC được tính lại là 10.94 (là đỉnh của vùng củng cố trước đó mà IDCC đã đi ngang), thay vì 5.44. Một khi cổ phiếu đạt đỉnh, sử dụng đáy ngày giảm điểm mạnh đầu tiên từ đỉnh là điểm kích hoạt lệnh bán khống. Trong ví dụ của IDCC, lệnh bán khống có thể được kích hoạt vào ngày giảm thứ hai từ đỉnh, khi nó phá thủng đáy thấp nhất của ngày giảm mạnh đầu tiên từ đỉnh. Hãy nhớ với tín hiệu bán khống những cổ phiếu tăng như tên lửa, chúng ta tìm kiếm đợt bật tăng mạnh mẽ, và đợt bật tăng này có thể xuất hiện ở các cổ phiếu có thị giá thấp. Vì thế, mặc dù giá của cổ phiếu vẫn còn cách rất xa mức giá mà chúng tôi thậm chí sẽ cân nhắc mua, lịch sử cho thấy những cổ phiếu này cho tín hiệu bán khống tuyệt vời, và những cổ phiếu này thu hút một lượng lớn cổ phiếu lớn từ điểm phóng, nên việc vay mượn cổ phiếu để bán khống là điều khả thi.
Hình 6.30: Đồ thị ngày của Interdigital, Inc. CIDCC), 1999 - 2000. Tín hiệu bán khống ở cổ phiếu “tăng như tên lửa”. Dữ liệu cung cấp bởi eSignal, bản quyền 2010. Bảng 6.1: Ví dụ tín hiệu bán khống từ 1998 đến 2004 Ví dụ Ngày của điểm phóng Giá tại điểm phóng Đỉnh Lãi (X lần) Ngày bán khốngGiá bán khống IDCC 12/10/1999 10.94 82 7.5 01/03/2000 62.9 OXGN 05/20/2003 2.3 19.4 8.4 06/11/2003 11 25 SIEB 02/01/1999 12.31 70.63 5.7 02/05/1999 42.69 MACE 04/05/2004 2.11 14.8 7.0 04/14/2004 9.61 IDSA 02/06/2004 2.38 23.75 10.0 03/03/2004 19.7
UBID 12/18/1998 36.94 189 5.1 12/24/1998 147.9 Ví dụ Điểm cover do thất bại % tối đa chống lại(*) % thực tế chống lại(**) Giảm > 50% từ đỉnh? Lợi nhuận thực tế sau khi cổ phiếu giảm 50% từ đỉnh Số ngày để cổ phiếu giảm 50% từ đỉnh IDCC 82.1 30.52% 25.60% y 34.8% 7 OXGN 19.5 73.33% 14.60% y 13.8% 7 SIEB 70.73 65.68% 0.00% y 17.3% <1 MACE 14 9 55.05% 0.00% y 23.0% <1 IDSA 23.85 21.07% 9% y 39.7% 54 UBID 189.1 27.86% 8.40% y 36.1% 12 [*] Đây là phần trăm tăng giá lớn nhất từ điểm bạn bán khống (khi nó chống lại bạn), tức đỉnh cao nhất của mẫu hình. [*] % tăng giá thực tế từ điểm bán khống (khi nó chống lại bạn), nên nó sẽ ít hơn so với % tăng giá lớn nhất. Do đó trong thực tế, rủi ro của tín hiệu bán khống là có thể quản trị được, đặc biệt khi bạn hiểu rằng, xác suất cao cổ phiếu sẽ giảm 50% từ đỉnh. Bảng 6.1 cho thấy thống kê của sáu tín hiệu bán khống cổ phiếu tăng như tên lửa mà chúng tôi quan sát được trong khoảng thời gian 1998 đến 2004, bao gồm cả ví dụ về IDCC thảo luận ở trên. Mặc dù mức lãi kiếm được là rất lớn trong thời gian ngắn, và xác suất thắng cũng cao, nhưng hãy nhớ rằng bạn phải có một không gian lớn cho lệnh dừng lỗ, lớn hơn khoảng mà bạn thường chấp nhận, vì thế bạn cần phải tính toán quy mô vị thế hợp lý để bạn không bị cháy tài khoản. KẾT LUẬN Như chúng ta đã thấy trong nhiều ví dụ ở chương này, bán khống có thể mang đến nguồn lợi nhuận nhanh chóng trong thị trường con gấu. Tuy nhiên, bản thân việc chơi ở phía bán khống trong thị trường con gấu hàm chứa nhiều rủi ro hơn so với chơi ở phía mua trong thị trường tăng giá, vì thị trường con gấu thường có những cú đảo ngược rất nhanh ngay trong xu hướng giảm, điều này khiến cho những người bán khống muộn bị thua lỗ. Định thời điểm hợp lý để bán khống, chờ đợi thời cơ chín muồi khi đợt
giảm của cổ phiếu trùng với sự giảm mạnh của thị trường chung, hai điều này thậm chí còn quan trọng hơn cả khi mua cổ phiếu ở thị trường bò tót. Các nhà đầu tư ít kinh nghiệm bán khống nên bắt đầu với vị thế nhỏ, chẳng hạn như giới hạn tối đa 5-10% giá trị toàn danh mục. Khi bắt đầu có kinh nghiệm hằng cân nhắc xem có nên thực hiện các vị thế lớn hơn hay không. Hãy khôn ngoan ngay lúc bắt đầu!
CHƯƠNG 7 Mô hình xu hướng thị trường của Tiến sĩ K
Có thể đặc trưng của phong cách O’Neil là không sử dụng mô hình xu hướng thị trường, nhất là một chương trình hệ thống báo tín hiệu mua và bán hữu hiệu cho các chỉ số thị trường. Mặc dù mô hình xu hướng thị trường dường như có vẻ giống “mô hình định thời điểm thị trường” nhưng chúng tôi không gán thuật ngữ này cho nó, vì cụm từ này không mô tả đầy đủ phương pháp chúng tôi áp dụng với mô hình này. Ngược với mô hình định thời điểm, mô hình xu hướng thị trường nên được dùng như một công cụ quan trọng để hiểu khi nào bạn đang ở trong thị trường tăng giá, thuận lợi cho vị thế mua, hoặc đang ở trong thị trường giá xuống, phù hợp cho vị thế bán khống. Trong chương này, chúng ta sẽ thảo luận về nhùng tinh chỉnh mà chúng tôi đã thực hiện trên các khái niệm cơ bản của O’Neil về ngày bùng nổ theo đà và số ngày phân phối để tạo ra nền tảng tinh gọn về mô hình xu hướng thị trường, và hy vọng nó làm rõ một số nhầm lẫn xoay quanh hành động giá/khối lượng đặc trưng của thị trường chung ở các vùng đảo chiều xu hướng. Bạn đọc nếu có những thắc mắc cần giải đáp có thể liên hệ với Tiến sĩ Chris Kacher tại [email protected], hoặc có thể tham khảo website:www.virtueofselfishinvesting.com. ĐỊNH THỜI ĐIỂM THỊ TRƯỜNG Một hệ thống định thời điểm phải có nền tảng từ một logic bên trong hợp lý, từ đó, hệ thống mới được xây dựng dựa trên logic bên trong này. Điều này đòi hỏi phải có nhiều năm thực chiến trên thị trường. Như thế mới tránh được tình huống hộp đen do hiện tượng quá khớp gây ra, tức dữ liệu khớp khi dự báo quá khứ nhưng ít có giá trị dự báo trong tương lai. Đáng tiếc là rất nhiều hệ thống định thời điểm thị trường yêu cầu trả phí trên Internet lại thiếu yếu tố logic bên trong nhưng lại ba hoa khoác lác về tỷ suất sinh lợi lý thuyết vì chúng quá khớp với dữ liệu lịch sử. Những hệ thống như vậy dự đoán quá khứ thì giỏi nhưng lại thất bại khi dự đoán tương lai với dữ liệu thực. Đây là lý do tại sao người ta hoài nghi khi những từ như “mô hình định thời điểm thị trường” hoặc “định thời điểm thị trường” được nhắc đến. Song đa số mô hình định thời điểm vô tác dụng không có nghĩa tất cả đều không hoạt động. Chúng tôi khuyến khích bạn đọc cuốn sách Bull, Bears, and Millionaires (Dearborn Financial Publishing, 1997), trong đó tác giả Robert Keppel cùng Mike Dever thảo
luận về những sai lầm chí mạng khi thiết kế mẫu hình và hiện tượng quá khớp. Tôi đã thực hành định thời điểm thị trường theo dữ liệu thực từ năm 1991, năm đầu tiên tôi thu được hiệu suất cao hơn hẳn so với chỉ số thị trường chứng khoán Mỹ. Mô hình của tôi là sự chuẩn hóa thống kê về hành động giá/khối lượng của chỉ số NASDAQ Composite và S&P 500. Tôi đã phát triển một bộ quy tắc dẫn dắt mô hình và nó trở thành kim chỉ nam cho hoạt động giao dịch của tôi trong suốt nhiều năm qua. Mô hình này chính là yếu tố' lớn tạo nên thành tích dài hạn của tôi (được kiểm toán bởi một trong bốn công ty kiểm toán lớn là KPMG), cũng như quyết định mức độ hiện diện trên thị trường của tôi ở vị thế mua hoặc bán khống. Mô hình giúp tôi đứng đúng vị thế trên thị trường, bởi nó rất thành công trong việc bắt xu hướng trung hạn ở giai đoạn mới bắt đâu. Nó chưa bao giờ lỡ bất kỳ đợt giảm mạnh nào của thị trường, bao gồm cú rơi thẳng đứng không ai ngờ vào tháng 10 năm 1997, và luôn đưa tôi lên tàu từ thời điểm thị trường tăng giá lớn mới bắt đầu, thậm chí cả năm 2009, một năm đầy thử thách, khi đó nó đưa tín hiệu mua vào ngày 12 tháng 03 năm 2009. Tuy vậy, các giai đoạn thị trường biến động hỗn loạn khó lường, đi ngang là yếu điểm của mô hình này. Drawdown trong tài khoản của tồi phần lớn xuất phát từ hành vi bất thường này của thị trường. May sao, những giai đoạn như vậy rất hiếm. Tình cờ là mô hình của tôi lấy cảm hứng từ chữ “M” trong CANSLIM của William O’Neil. Hiện tại đã có ấn bản thứ tư của cuốn sách kinh điển Làm Giàu Từ Chứng Khoán (How To Make Money in Stock, McGraw-Hill, 2009) trong đó thảo luận chi tiết CANSLIM, và tôi đề nghị bạn đọc cuốn sách này, ngay cả khi bạn đã đọc các ấn bản trước đó. Mô hình CANSLIM lọc ra các cổ phiếu có đặc điểm của cổ phiếu chiến thắng trước khi có sóng tăng giá mạnh, và chư “M” chính là phần định thời điểm thị trường của CANSLIM. Suốt nhiều năm qua, có nhiều tranh cãi về các yếu tố tạo ngày phân phối và ngày bùng nổ theo đà chuẩn xác. Đừng nói đâu xa, trong những năm quản lý danh mục đầu tư cho Bill O’Neil, chúng tôi để ý ngay cả trong nội bộ các nhà quản lý danh mục xuất sắc giao dịch trên vốn đầu tư của O’Neil cũng còn tranh cãi kịch liệt. Khi Bill và tôi thực hiện hội thảo đầu tư, chúng tôi thường được yêu cầu làm rõ hơn nữa cách nhận diện ngày phân phối và ngày bùng nổ theo đả từ những độc giả biết đến hai khái niệm này qua cuốn Làm Giàu Tù Chứng khoán.
Một phần tranh cãi đến từ nhiều cách hiểu khác nhau về hành động giá/khối lượng, bao gồm hình dạng của thanh giá, giá đóng cửa như thế nào so với ngày trước, ngày bùng nổ theo đà xuất hiện vào ngày nào, và chỉ số NASDAQ Composite hoặc S&P 500 nên giảm bao nhiêu trước khi bắt đầu đếm ngày Bùng Nổ Theo Đà, cùng hàng loạt vấn đề khác. Ngoài ra, một phần tranh cãi lại xuất phá từ việc thiếu quy tắc chính xác. Ví dụ, một số người có thể đánh giá ngày 28 tháng 08 năm 2009 không phải ngày phân phối vì chỉ số thị trường không giảm ít nhất -0.2%. Điều này tạo ra tranh cãi vì nó không xét đến hình dạng thanh giá, vì thật ra ngày hôm ấy tạo đuôi giá trên rất dài (ND: đuôi nằm ở phía trên, nghĩa là giá tăng mạnh đầu phiên nhưng lại bị chốt lãi mạnh và giá đóng cửa nằm gần mức đáy thấp nhất ngày). Nếu chỉ số tạo đuôi trên dài cùng với khối lượng lớn, thì thậm chí ngay cả khi NASDAQ Composite đóng cửa giữ giá ngang bằng, đây vẫn là ngày phân phối vì trong phiên, chỉ số cố gắng tăng giá cao hơn nhưng cuối cùng lại thất bại và đóng cửa ở đáy thấp nhất ngày. Vì thế, hình dạng thanh giá định nghĩa ngày hôm ấy là ngày phân phối, các nỗ lực tăng giá trong ngày đã gặp phải áp lực bán mạnh. Yêu cầu chỉ số giảm ít nhất -0.2% của O’Neil trước khi được xem là ngày phân phối mà không tính đến hình dạng thanh giá và giá đóng cửa là không hợp lý. Một nguyên nhân tranh cãi khác đến từ thuật toán giao dịch tần suất cao bởi chúng có thể tạo ra sự tăng vọt của khối lượng ở phía giảm trong những lần thị trường điều chỉnh hoặc kéo ngược, dẫn tới tín hiệu bán sai lầm. Lọc bỏ kiểu khối lượng giao dịch này sẽ làm giảm tín hiệu bán lỗi. Mặc dù điều này có thể cải thiện kết quả đôi chút, điều quan trọng cần lưu ý là ngay cả những hệ thống định thời điểm thị trường đã loại bỏ khối lượng giao dịch tần suất cao cũng chẳng cho được tín hiệu bán lợi nhuận trong năm 2009 vì xu hướng chung của năm đó là tăng giá. Tương tự, các tín hiệu mua trong hệ thống định thời điểm thị trường phần lớn cũng chẳng kiếm được lợi nhuận trong năm 2008 vì đây là năm thị trường giảm giá. Nghĩa là, một hệ thống định thời điểm thị trường tốt mang lại lợi nhuận cao ở tín hiệu đúng trong khi lỗ nhỏ ở tín hiệu sai. Do đó, trong những giai đoạn thử thách, các tín hiệu đúng của hệ thống định thời điểm thị trường nên có lãi lớn và bù các khoản lỗ nhỏ từ tín hiệu sai. Khi xét toàn bộ chu kỳ, thường từ 3 - 5 năm, một hệ thống định thời điểm thị trường xuất sắc nên thu được kết quả cao hơn rõ rệt so với chỉ số thị trường.
Các Ngày Phân Phối Ngày phân phối có thể được hiểu là ngày giao dịch có nhiều lực bán hơn lực mua, dựa trên bằng chứng là khối lượng giao dịch tăng lên cùng với hành động giá tiêu cực, là ngày giảm giá hoặc là ngày mà chỉ số thể hiện tín hiệu đảo chiều giảm/hoặc chao đảo mạnh. Nếu có đủ số ngày phân phối (thường là 5), trong một khoảng thời gian ngắn chừng 20 ngày giao dịch hoặc ít hơn, thì tín hiệu bán xuất hiện. Khối lượng phải cao hơn khối lượng của ngày trước đó để được xem là một ngày phân phối, nhưng giá đóng cửa không nhất thiết phải thấp hơn giá đóng cửa của ngày hôm trước. Ví dụ, nếu cổ phiếu có đuôi trên dài, giá đóng cửa cao hơn chưa tới 0.1% so với ngày hôm trước và nằm ở phần 25% phía dưới của khung giá ngày, đi kèm khối lượng cao hơn thì đây vẫn được gọi là ngày phân phối. Một ví dụ của kiểu ngày phân phối này được minh họa trong Hình 7-1. Hình 7.1: Chỉ số NASDAQ Composite. Cái đuôi dài phía trên và giá đóng cửa ở gần đáy thấp nhất ngày, đi kèm với khối lượng lớn hơn ngày hôm trước là ngày phân phối. Dữ liệu cung cấp bởi eSignal, bản quyền 2010. Tương tự, nếu một cổ phiếu có nỗ lực tăng giá không đáng kể đi kèm khối lượng cao đột biến vào một ngày nào đó, thì đây cũng được xem là
ngày phân phối dưới dạng “ngày xoay hàng” (churning), tình huống trong đó có nhiều lực bán hơn so với lực mua, bất kể lực bán được che đậy bằng việc giá đóng cửa ngày hôm ấy vẫn cao hơn đôi chút so với giá đóng cửa ngày hôm trước. Tuy nhiên, hãy đảm bảo khối lượng lớn không phải do ngày đáo hạn hợp đồng quyền chọn hoặc tái cơ cấu chỉ số như ở ngày 18 tháng 09 năm 2009 (Hình 7.2). Nếu khối lượng của ngày hôm ấy lớn nhưng lại không bị ảnh hưởng bởi đáo hạn quyền chọn hằng tháng hoặc tái cơ cấu chỉ số định kỳ, chắc chắn ta sẽ xem đây là ngày phân phối. Tuy nhiên, vào ngày này, khối lượng lớn có thể bị ảnh hưởng bởi đáo hạn quyền chọn nên chúng ta phải cân nhắc lại, bởi vì thị trường đóng cửa giá xanh. Nếu thị trường đóng cửa giảm với biên độ trong ngày dài cho thấy biến động mạnh, thì ta phải xem khối lượng có thể bị lệch lạc do đáo hạn đúng theo tính chất của nó, tức một ngày giá giảm kèm khối lượng lớn chính là ngày phân phối. Trong trường họp phiên xoay hàng với biên độ dao động trong ngày rất hẹp như Hình 7-2, yếu tố phân phối không rõ ràng; vì thế ta không nhất thiết phải xem đây là một ngày tiêu cực. Tất nhiên, việc xác định hoặc phủ nhận của hành động giá trong vài ngày tiếp theo sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về hành động giá đã diễn ra vào ngày đáo hạn hợp đồng quyền chọn, như ví dụ trong Hình 7-2. CHÚ THÍCH Churning là các tay chơi lớn liên tục mua bán cổ phiếu giữa các tài khoản của mình (xoay hàng) để tạo thanh khoản nhằm thu hút các nhà giao dịch nhỏ lẻ, thiếu thận trọng nhảy vào mua, sau đó các tay chơi lớn sẽ “xà hàng”. Trong ngôn ngữ bình dân của các nhà giao dịch thường hay nói với nhau thì đó là “quay tay”. Tuy nhiên, để giữ văn phong lịch sự, chúng tôi sử dụng từ “xoay hàng”.
Hình 7.2: Đồ thị ngày của chỉ số NASDAQ, ngày 08 tháng 03 năm 2008. Dữ liệu cung cấp bởi eSignal, bản quyền 2010. Bạn cũng có thể gặp phải tình huống ngày hôm đó giá giảm với khối lượng cao hơn ngày hôm trước nhưng không phải ngày phân phối vì đóng cửa ở nửa trên của khung giá ngày, và giảm chưa tới -0.1% như Hình 7-3 minh họa. Vào ngày 08 tháng 03, chỉ số NASDAQ Composite đóng cửa giảm với khối lượng cao hơn ngày hôm trước, nhưng vì nó chỉ giảm -0.04% và vẫn đóng cửa ở nửa trên khung giá ngày nên không gọi là ngày phân phối. Trong một số trường hợp, có thể xem hành động giá này là tích cực. Thật ra loại ngày giảm có khung giá rộng và đóng cửa ở nửa trên khung giá này không phải ngày phân phối. Chúng tôi cũng xem ngày có khung giá rất hẹp, hoặc chặt và chỉ số đóng cửa giảm chưa tới -0.1% không phải là ngày phân phối. Chúng tôi nhận thấy mức giảm yêu cầu tối thiểu -0.1% đáng tin cậy hơn mức -0.2%. Nên nhớ, chúng tôi không cố gắng tranh cãi ở đây mà đơn giản đây là kết quả thu được từ thống kê.
Hình 7.3: Đồ thị ngày của chỉ số NASDAQ Composite, ngày 08 tháng 03 năm 2006. Chỉ số thị trường đóng cửa giảm chưa tới -0.1% (chính xác là -0.04%) với “cái đuôi dài" ở phía dưới nên không phải là ngày phân phôi. Dữ liệu cung cấp bởi eSignal, bản quyền 2010. Một điểm quan trọng trong thảo luận về ngày phân phối là chúng tôi chỉ sử dụng chỉ số NASDAQ Composite để đếm ngày phân phối. Điều này là vì trong vài năm qua, chúng tôi nhận thấy các tín hiệu giả ở S&P 500 đang dần tăng lên, mặc dù chỉ số này thường có mức táng giá nhỏ hơn trong thị trường tăng giá và các khoản lỗ nhỏ hơn trong thị trường giảm giá khi so với chỉ số NASDAQ Composite, nó vẫn hàm chứa độ nhiễu nhiều hơn, do đó có nhiều nguy cơ tạo ra tín hiệu sai. Cũng lý do này, chúng tôi sẽ không sử dụng chỉ số Dow Jones, bởi chỉ số chỉ có 30 cổ phiếu vốn hóa lớn, hay nói cách khác, độ hẹp của nó không đủ đại diện cho tính dẫn dắt ở bất cứ thị trường tăng giá nào. NGÀY BÙNG NỔ THEO ĐÀ
Ngày bùng nổ theo đà (Follow-Through Day - FTD) là tín hiệu mua thường xuất hiện sau ngày thứ tư của Đợt Nỗ Lực Hồi Phục. Trước đây, O’Neil định nghĩa ngày bùng nổ theo đà là ngày mà trong các chỉ số thị trường có mức tăng tối thiểu từ 1% trở lên với khối lượng cao hơn ngày hôm trước, thường xuất hiện ở ngày thứ tư đến ngày thứ bảy của đợt nỗ lực hồi phục từ một đáy. Đợt nỗ lực hồi phục được định nghĩa sau khi chỉ số NASDAQ Composite hoặc S&P 500 đã trải qua một đợt điều chỉnh. Ta đếm ngày trong đợt nỗ lực hồi phục từ ngày đầu tiên chỉ số đóng cửa cao hơn sau khi tạo đáy mới, nhưng cũng có thể bắt đầu từ ngày mà chỉ số đóng cửa tạo đáy mới nhưng giá đóng cửa nằm ở nửa trên của khung giá ngày, cho thấy có lực cầu hỗ trợ từ đáy. Ví dụ, giá đóng cửa nằm ở nửa trên khung giá ngày với khối lượng lớn vào ngày 08 tháng 10 năm 1998 (Hình 7-4), lý ra có thể xem đây là ngày phân phối lớn vì thực ra chỉ số đã giảm hơn 0.1% với khối lượng lớn, nhưng ngày này lại được tính là ngày đầu tiên của đợt nỗ lực hồi phục. Khi chỉ số thị trường đóng cửa ở giữa khung giá ngày với khối lượng rất cao, ta luôn xem đó là hành động tích lũy chứ không phải phân phối. Trong một số trường hợp vô cùng hiếm hoi, ngày bùng nổ theo đà có thể xuất hiện ở ngày thứ ba của đợt nỗ lực hồi phục nhưng cả ba ngày này đều phải tăng giá với khối lượng tăng dần, chẳng hạn như 15 tháng 01 đến 17 tháng 01 năm 1999 ở chỉ số NASDAQ Composite, hoặc ba tuần trước đó nên có hành động giá tương đối chặt giống như các tuần tăng giá dẫn đến ngày bùng nổ theo đà vào ngày 05 tháng 01 năm 1987.
Hình 7.4: Đồ thị ngày của chỉ số NASDAQ Composite, ngày 08 tháng 10 năm 1998. Chỉ số đóng cửa ở nửa trên của khung giá ngày với khối lượng lớn cho thấy có hành động hỗ trợ mạnh mẽ nên được xem là ngày 1 của đạt nõ lực hồi phục. Dữ liệu cung cấp bởi eSignal, bản quyền 2010. MỨC TĂNG TỐI THIỂU ĐỂ ĐƯỢC XEM LÀ NGÀY BÙNG NỔ THEO ĐÀ Mức táng giá tối thiểu nghĩa là mức tăng phần trăm tối thiểu ở chỉ số NASDAQ Composite hoặc S&P 500, thường xuất hiện ở ngày thứ tư đến ngày thứ bảy của đợt nỗ lực hồi phục (mặc dù đây không phải điều kiện bắt buộc tuyệt đối) để gọi là ngày bùng nổ theo đà. Mức tăng này hiếm khi thay đổi đối với chỉ số NASDAQ Composite và S&P 500, nhưng nhiều lần, O’Neil đã điều chỉnh mức tăng tối thiểu này lên 1.7% hoặc 2% dựa trên độ biến động mà ông nhận thấy ở các chỉ số chung. Khi các chỉ số cho thấy độ biến động có sự thay đổi đáng kể suốt nhiều tuần, O’Neil sửa lại (cộng hoặc trừ) ít nhiều mức tăng tối thiểu này để cân chỉnh với độ biến động tăng lên hoặc giảm xuống. Theo quan điểm của chúng tôi, việc điều chỉnh mức tăng tối thiểu do mức độ biến động của chỉ số là hợp lý. Các nghiên cứu thống kê về độ biến động thị trường cùng với ngày bùng nổ theo đà trong quá khứ cho thấy mức tăng tối ưu vẫn duy trì ở 1% cho cả hai chỉ số từ năm 1974 đến 1999, nhưng sau đó tăng lên 1.7% trong giai đoạn từ tháng 01 năm 1998 đến tháng 12 năm 2002, do dễ thấy độ biến động đã tăng mạnh trong những tháng trước tháng 01 năm 1998. Độ biến động vẫn duy trì ở mức cao trong suốt thời gian dài, mãi đến năm 2003, mức tăng tối thiểu mới được điều chỉnh về 1.4%. Điều quan trọng cần lưu ý là không phải lúc nào mức tăng tối thiểu cũng giống nhau ở cả hai chỉ số. Vào tháng 01 năm 2004, mức tăng tối thiểu là 1.1% đối với chỉ số S&P 500 vì chỉ số này cho thấy tín hiệu độ biến động giảm hẳn, trong khi mức tăng tối thiểu đối với chỉ số NASDAQ Composite vẫn duy trì ở mức 1.4%. Vào năm 2008, khi độ biến động thị trường tăng vọt một lần nữa, mức tăng tối thiểu tăng lên 2.1% đối với chỉ số NASDAQ Composite và 2% đối với chỉ số S&P 500. Tại thời điểm tôi viết cuốn sách này vào đầu năm 2010, mức tăng tối thiểu đối với NASDAQ Composte và S&P 500 để được xem là ngày bùng nổ theo đà là 1.5% cho cả hai chỉ số. Do đó, hãy nhớ rằng mức tăng tối thiểu có thể được điều chỉnh
nếu độ biến động thị trường thay đổi trong tương lai. Hiện tại, chúng tôi định nghĩa chỉ số NASDAQ Composite và S&P 500 phải tăng tôi thiểu 1.5% với khối lượng cao hơn ngày hôm trước, thường xuất hiện ở ngày thứ tư đến ngày thứ bảy của đợt nỗ lực hồi phục là ngày bùng nổ theo đà. Fail-Safe (Bộ an toàn tự động) Bất cứ mô hình nào cũng có tín hiệu lỗi, vì thế fail-safe nên được tính đến vào trong mô hình để tối thiểu hóa drawdown. Điều này giải thích tại sao mức drawdown lớn nhất trong toàn bộ quá trình vận hành hơn 35 năm của mô hình chỉ là -15.7%, trong khi tỷ suất sinh lợi trung bình hàng năm của mô hình trong giai đoạn từ tháng 07 năm 1974 đến tháng 12 năm 2009 là +33.1%. Giao Dịch Hệ Thông so với Giao Dịch Tùy Nghi Tỷ suất sinh lợi trung bình hàng năm của mô hình khi chạy trên dư liệu quá khứ (back-test) từ tháng 07 năm 1974 đến tháng 12 năm 2009 là +33.1% với mức drawdown tối đa là -15.7%. Tỷ suất sinh lợi lý thuyết này đạt được bằng cách thực hiện 100% tín hiệu mua ở chỉ số NASDAQ Composite, và thực hiện 100% tín hiệu bán khống ở chỉ số NASDAQ, hoặc hoàn toàn nắm giữ tiền mặt khi mô hình cho thấy nên đứng ngoài thị trường. Tín hiệu giao dịch đơn thuần là thuộc về hệ thống, vì thế chưa tính đến chiến lược xác định quy mô vị thế giao dịch. Quỹ ETF của NASDAQ 100 Index (viết tắt QQQQ) là một đại diện tuyệt vòi cho chỉ số NASDAQ Composite, nhưng QQQQ không tồn tại trước năm 1999 không có QQQQ, do đó để nhất quán, chúng tôi tiếp tục sử dụng chỉ số NASDAQ Composite làm danh mục chuẩn (benchmark) để tính toán hiệu quả của mô hình dựa trên các tín hiệu hệ thống. CHÚ THÍCH Fail-Safe: là một thuật ngữ trong kỹ thuật, fail-safe là một tính năng thiết kế mà trong trường hợp có một hỏng hóc nào đó, thì nó sẽ phản ứng theo cách không gây ra thiệt hại hoặc hạn chế tối thiểu thiệt hợi cho các thiết bị khác, cho môi trường hoặc con người. Điều này là vì nó được thiết kế để tự động
thay vào khi có hỏng hóc. Ví dụ, trong xe có Fail-Safe là bộ phận tự động kéo gas về tư thế giảm khi bị nhiễu sóng hoặc pin yếu. Điều này giảm thiểu thiệt hại cho xe (và người trong xe) khi xe chạy với tốc độ nhanh (Tạm dịch: Bộ an toàn tự động). Phần giao dịch tùy nghi của mô hình này cho phép quyết định can thiệp của con người khi có bằng chứng cho thấy cần bỏ qua tín hiệu hệ thông. Tùy theo công cụ ETF được sử dụng, ta cũng phải linh động thay đổi. Các quỹ ETF có đòn bẩy gấp 2 hoặc gấp 3 lần cần phải có sự điều chỉnh về mức độ đòn bẩy khi sử dụng các quỹ ETF này. Những quyết định tùy nghi này dựa trên sức mạnh tín hiệu, ví dụ một tín hiệu mua mạnh có thể khiến chúng tôi mua một ETF chỉ số có đòn bẩy gấp 3 lần, chẳng hạn như SPXU. CÁC VÍ DỤ ĐỒ THỊ Những đồ thị sau đây là tín hiệu mua bán thực tế mô hình của chúng tôi tạo ra kèm bình luận bổ sung. Chúng tôi cũng thảo luận về những năm tháng thử thách nhất trong sự nghiệp của mình, 2008 - 2009, để bạn có thể thấy cách mô hình hoạt động trong giai đoạn thị trường khó khăn. Chúng tôi cũng kiểm tra các giai đoạn khó khản khác như Đại Khủng Hoảng 1929 -1930 để minh họa cách mô hình hoạt động dựa trên cùng bộ quy tắc trong một thời đại hoàn toàn khác. Những đồ thị này có thể giúp bạn có cái nhìn rõ ràng hơn về các loại ngày bùng nổ theo đà (FTD) và ngày phân phối (distribution day - DD) có thể xảy ra. Bạn đọc nếu có thắc mắc khác xin vui lòng liên hệ Tiến Sĩ Chris Kacher tại [email protected] hoặc có thể tham khảo website www.virtueofselfishinvesting.com. Một vài lưu ý về các đồ thị: • Các tick màu đen thể hiện các ngày phân phối (trừ khi các tick đen có dòng chữ chú thích “Not DD” tức “Không phải ngày phân phối). “B” có nghĩa là tín hiệu mua, “S” là tín hiệu bán, và “N” là cân bằng (hay vô hiệu hóa) tín hiệu trước đó. • Tín hiệu mua bị vô hiệu trong ngày giao dịch mà NASDAQ Composite
nằm dưới các mức sau: (1) NASDAQ Composite nằm dưới đáy của ngày có tín hiệu mua hoặc (2) trong trường hợp khoảng trống tăng giá, NASDAQ Composite thấp hơn giá đóng cửa của ngày liền trước ngày cho tín hiệu mua theo khoảng trống tăng giá. Tất nhiên, nếu có tín hiệu bán thì tín hiệu mua cũng bị vô hiệu hóa. Nếu NASDAQ Composite chạm đỉnh cao mới trong ngày trong ít nhất 5 ngày giao dịch kể từ tín hiệu mua, sau đó đảo chiều giảm, thì tín hiệu mua bị vô hiệu hóa một khi giá đóng cửa của ngày có tín hiệu mua bị phá thủng bởi các ngày tiếp theo. • Tín hiệu bán bị vô hiệu hóa trong ngày giao dịch khi đỉnh cao nhất của ngày chờ tín hiệu bán bị vượt qua, hoặc nếu có một tín hiệu mua xảy ra sau đó. • Một khi đạt đến một số ngày phân phối trong một khoảng thời gian nhất định, thường là 5 ngày phân phối trong 20 ngày, thì mô hình chuyển sang trạng thái “Đang chờ tín hiệu bán”. Một khi đáy của ngày chờ tín hiệu bán bị phá thủng, mô hình cho tín hiệu bán. • Sau tín hiệu mua, có thể thị trường đã tích tụ một số ngày phân phối trước ngày có tín hiệu mua. Do đó, một ngày chờ tín hiệu bán mới có thể xuất hiện nêu thị trường có thêm ngày phân phối nữa trong khung thời gian 20 ngày. Để giảm số lượng tín hiệu bán lỗi, mô hình không chuyển sang ngày chờ tín hiệu bán vào ngày phân phối đầu tiên sau tín hiệu mua, trừ khi ngày phân phối này phá thủng đáy của ngày có tín hiệu mua. Phân tích mô hình xác định xu hướng thị trường - nửa đầu năm 2009 Chúng ta có thể theo dõi những giải thích về các tín hiệu của mô hình đối với hành động giá chỉ số thị trường chung trong Hình 7.5 cho giai đoạn nửa đầu năm 2009 như sau: 1. Ngày 12 tháng 03: Đây là ngày 3 của đợt nỗi lực hồi phục xuất hiện ở chỉ số NASDAQ Composite (là trường hợp hiếm hoi mà ngày Bùng Nổ Theo Đà xuất hiện sớm). Tuy nhiên, đây là ngày 5 của đợt nỗ lực hồi phục đôi với chỉ số S&P 500 và cũng được xác định là ngày Bùng Nổ Theo Đà.
Mức tăng giá tối thiểu 2% đối với S&P 500 hoặc 2.1% đôi với NASDAQ Composite được đáp ứng. 2. Ngày 22 tháng 04: Theo định nghĩa, ngày phân phối dưới dạng ngày “xoay hàng” (churning day) là ngày giá không tăng nhiều với khối lượng cao bất thường. Nhưng ở đây khối lượng không đủ lớn để được xem là ngày xoay hàng, tức không phải là ngày phân phối. 3. Ngày 30 tháng 04: Không phải ngày phân phối vì giá đóng cửa cao hơn 0.1% so với giá đóng cửa ngày hôm trước, và đuôi giá trên cũng không đủ dài. 4. Ngày 6 tháng 05: Đây không phải là ngày xoay hàng mặc dù khối lượng cao và giá ít thay đổi, do đó không phải là ngày phân phối. Điều này là vì đuôi dưới đủ dài.
Hình 7.5: Đồ thị ngày của chỉ số NASDAQ Composite, 2009. Dữ liệu cung cấp bởi eSignal, bản quyền 2010. Phân Tích Mô Hình xác Định Xu Hướng Thị Trường - Nửa Sau Năm 2009
Trong Hình 7.6, mô hình này giải thích các tín hiệu xuất hiện vào nửa sau năm 2009 như sau: 1. Ngày 26 tháng 06: Đây không phải là ngày xoay hàng mặc dù giá ít thay đổi trong khi khối lượng lớn. Khối lượng cao vì chỉ số Russell được tính toán lại, khiến mọi người mua và bán các cổ phiếu được bổ sung hoặc loại bỏ khỏi chỉ số Russell, do đó tạo nên sự táng vọt giả tạo ở tổng khối lượng. 2. Ngày 28 tháng 08: Ngày phân phối vì chỉ số đóng cửa chỉ tăng ít hơn 0.1% so với giá đóng cửa ngày hôm trước và nằm ở phần tư thấp nhất của khung giá ngày, tức tạo ra “đuôi trên dài”. 3. Ngày 16 tháng 09: Chỉ số S&P 500 tăng +1.53% trong khi chỉ số NASDAQ Composite chỉ tăng +1.45%. Do đó, mức tăng tối thiểu yêu cầu +1.5% cho ngày bùng nổ theo đà được đáp ứng bởi ít nhất một trong hai chỉ số. 4. Ngày 18 tháng 09: Theo định nghĩa, ngày xoay hàng là cũng là một dạng ngày phân phối khi giá ít thay đổi với khối lượng cao bất thường. Ngày xoay hàng có khuynh hướng tạo ra khung giá trong ngày rộng. Nhưng thực tế ở đây không phải là ngày xoay hàng vì khối lượng cao giả tạo do ngày đáo hạn hợp đồng quyền chọn, tức không phải ngày phân phối. 5. Ngày 06 tháng 10: Không đếm lại đợt nỗ lực hồi phục vì chỉ số NASDAQ Composite điều chỉnh chưa tới 6%, do đó chỉ số vẫn đang ở trong đợt nỗ lực phục hồi ban đầu và được xem là ngày bùng nổ theo đà. Đây là ví dụ cho tình huống bất thường mà ngày bùng nổ theo đà xuất hiện sau ngày thứ bảy của đợt nỗ lực hồi phục.
Hình 7.6: Đồ thị ngày của chỉ số NASDAQ, năm 2009. Dữ liệu cung cấp bởi eSignal, bản quyền 2010. Bình Luận về Năm 2009 Ngay cả William O’Neil cũng thừa nhận 2009 là năm thử thách nhất trong sự nghiệp hơn nửa thế kỷ của mình! Đó là năm thị trường tăng bởi các cổ phiếu rác bật mạnh từ đáy (junk off the bottom, viết tắt JOB), trong khi
những cái tên chất lượng lại tiếp tục lình xình. Nhiều chỉ báo kỹ thuật đã hoạt động tốt những năm trước không còn hiệu quả trong năm 2009, vì năm 2009 là năm diễn ra các hoạt động chi phối thị trường “tiền như trò cười” của Fed, bởi khi đó, Fed phối hợp cùng các ngân hàng trung ương trên toàn cầu bơm một lượng thanh khoản lớn vào hệ thống tài chính và giữ lãi suất gần bằng 0. Năm 2009, mỗi lần trông có vẻ thị trường sắp điều chỉnh thì nó lại bình ổn và quay trở lại thiết lập đỉnh mới. Có thể gọi đó là một xu hướng táng với các bẫy giá rộng, có độ biến động cao. Thậm chí một website định thời điểm thị trường nổi tiếng là Decision Moose của William Dirlam, vốn có thành tích dự báo tốt, đã viết như sau vào ngày 15 tháng 01 năm 2010 trong bản tin tuần: “Nhìn lại, năm 2009 quả là năm tệ nhất trong sự nghiệp của tôi khi hiệu quả dụ báo của Moose chỉ là +7% trong khi chỉ số S&P 500 lại tăng tới 26%. Trong số 4 thị trường cơ sở hậu cuộc sụp đổ năm 2008, hai thị trường (T-Bond và vàng) đều sụt giảm. Một thị trường chiến thắng là EEP và thị trường ILF thì đi ngang hơi giảm nhẹ tí xíu. Điều này cho thấy sự can thiệp của chính phủ có thể bóp méo hoạt động bình thường của thị trường như thế nào bằng cách bẻ cong xu hướng và gây ra những biến động giá đột ngột (spike) trên thị trường trái phiếu và sự sụp đổ của thị trường vàng. Nó cũng khiến cho hành động giá trở nên cực kỳ biến động làm cho các hệ thống giao dịch theo sau xu hướng trung hạn gần như mắt tác dụng trong ngắn hạn (www.decisionmoose.com/uploads/2010.01.15/pdf)”. Bảng 7.1 cho thấy các quỹ theo sau xu hướng có thành tích tốt nhất của những nhà quản lý danh mục xuất sắc nhất được tán dương trong cuốn sách Phù Thủy Thị Trường Tài Chính (Market Wizards) của Jack Schwager, và trong cuốn sách Giao Dịch Theo Sau Xu Hướng (Trend Following) của Michael Covel, và các nhà đầu thành công của nhóm Turtles. Nhóm Turtles được đào tạo bởi phù thủy Richard Dennis và William Eckhardt, hai con người lèo lái chương trình huấn luyện để chứng minh các nhà đầu tư cá nhân với những đặc điểm tâm lý thích hợp có thể được chỉ dạy để giao dịch thành công. Trong quá trình này, nhiều cá nhân được huấn luyện đã trở thành những nhà đầu tư xuất sắc. Như bạn có thể thấy trong bảng, không ít nhà đầu tư đã gặp phải khó khăn trong năm 2009 bất chấp thành công dài hạn trước đây của họ.
William O’Neil từng nói với chúng tôi rằng, thị trường táng giá mới luôn lấp ló phía trước. Thời cơ vàng luôn sẽ luôn mở ra một lần nữa. Chỉ có điều bạn phải kiên nhẫn và đừng rời mắt khỏi thị trường. Thực tế, quỹ Market Direction Test Fund (Quỹ Kiểm Định Xu Hướng Thị Trường) mà chúng tôi bắt đầu giao dịch bằng tiền thực vào ngày 01 tháng 06 năm 2009 đã kết thúc năm với mức lãi gần 30% sau phí, và nó đã tăng gần 53.8% sau phí vào thời điểm 31 tháng 05 năm 2010. Mặc dù có nhiều tín hiệu lỗi trong năm 2009 nhưng mô hình Xác Định Xu hướng Thị Trường của Tiến Sĩ K vẫn có lợi nhuận rất lớn khi tín hiệu chính xác, thừa sức bù các khoản lỗ nhỏ do tín hiệu lỗi. Đầy chính là Fail-Safe (Bộ An Toàn Tự Động) trong mô hình như tôi thảo luận ở trên. Các tín hiệu có lợi nhuận cao đầu tiên trong mô hình xác định xu hướng thị trường vào năm 2009 là ở thị trường vàng. Vàng đã có điểm phá vỡ hoàn hảo vào ngày 02 tháng 09 năm 2009 (Hình 7.7). Điểm phá vỡ này có mức giá tương đương với điểm pocket pivot sớm và điểm phá vỡ truyền thống trên thị trường vàng vào tháng 09 năm 2007, ngay trước khi vàng có sóng tăng giá cực lớn. Bảng 7.1: Thành tích của các phù thủy giao dịch theo sau xu hướng vào năm 2009. Tên quỹ Quy mô tải sản được quản lý Thành tích năm 2009 (%) Abraham Trading N/A -5.56% Aspect Capital 5473 Triệu -9.11% Chesapeake Capital N/A +0.41% Clarke Capital $1.046 Triệu -29 78% Drury Capital $18 Triệu +9.05% Dunn Capital $151 Triệu -0.58% Eckhardt Trading $220 Triệu -4.80%
EMC Capital $445 Triệu -14.29% Hawksbill Capital $212 Triệu -15.32% Hyman Beck & Co. $51 Triệu +3.96% JWH & Co. $462 Triệu -17.28% Man AHL Diversified $18 Triệu -16.40% Millburn Ridgefield $1,414 Triệu -8.66% M Rabar Market Res. $1.137 Triệu +6.93% Saxon Investment $222 Triệu +10.37% Superfund $11 Triệu -24.46% Transtrend N/A -11.28% Winton Capital $4.768 Triệu -4.63% Source: Jez Liberty, www.automated-trading-system.com/. Tín hiệu có lợi nhuận cao đầu tiên trong mô hình xác định xu hướng thị trường vào năm 2009 là ở thị trường vàng. Vàng có điểm phá vô hoàn hảo vào ngày 02 tháng 09 năm 2009 (Hình 7-7)- Điểm phá vỡ này có mức giá tương đương với điểm pocket pivot sớm và điểm phá vỡ truyền thống trên thị trường vàng vào tháng 09 năm 2007, ngay trước khi vàng có sóng tăng giá cực lớn. Bằng cách sử dụng phần đánh giá sức mạnh tín hiệu và bôi cảnh xuất hiện tín hiệu để đưa ra các quyết định tùy nghi xem nên chọn công cụ ETF nào, chúng tôi thực hiện các vị thế có đòn bẩy cao ở thị trường vàng và công cụ liên quan đến vàng, chẳng hạn như Market Vectors Gold Miners Index ETF (GDX) và GLD. Mô hình cũng hoạt động tốt vào tháng 07 khi thực hiện vị thế mua đối với chỉ số NASDAQ Composite và S&P 500 bằng hai quỹ ETF có đòn bẩy cao là: NASDAQ 100 Index ETF (QLD) với đòn
bẩy gấp đôi, và S&P 500 Index ETF (UPRO) với đòn bẩy gấp ba. Do đó, trong suốt giai đoạn từ ngày 01 tháng 06 năm 2009 đến 31 tháng 12 năm 2009, mô hình hoạt động rất tốt dù chỉ có vài lần tín hiệu đúng, và khoản lãi tạo ra hoàn toàn dư bù các khoản lỗ nhỏ xảy ra khá thường xuyên. Vì mỗi tín hiệu lỗi dẫn đến khoản lỗ tương đối nhỏ khi nó chạm phải mức dừng lỗ, do đó quỹ Market Diretion Model Fund cũng có tỷ suất sinh lợi sau phí lên tới +30% trong giai đoạn từ ngày 01 tháng 06 năm 2009 đến 31 tháng 12 năm 2009.1 tháng 6 năm 2009 đến 31 tháng 12 năm 2009, mô hình hoạt động rất tốt dù chỉ có vài lần tín hiệu đúng, và khoản lãi tạo ra hoàn toàn dư bù các khoản lỗ nhỏ xảy ra khá thường xuyên. Vì mỗi tín hiệu lỗi dẫn đến các khoản lỗ tương đối nhỏ khi nó chạm phải mức dừng lỗ, do đó quỹ Market Diretion Model Fund cũng có tỷ suất sinh lợi sau phí lên tới +30% trong giai đoạn từ ngày 01 tháng 06 năm 2009 đến 31 tháng 12 năm 2009. Hình 7.7: Đồ thị ngày của SPDR Gold Trust ETF (GLD), năm 2009. Vàng có điểm phá vỡ vào đầu tháng 09 năm 2009 tạo ra một tín hiệu mua rõ ràng trước khi giá tăng vọt. Dữ liệu cung cấp bởi eSignal, bản quyền 2010. Chú ý trong phần Hỏi Đáp nằm ở cuối chương này, chúng tôi có một số thảo luận về hiệu quả hoạt động trên lý thuyết của mô hình trong năm
2009 bằng cách thực hiện 100% tín hiệu mua hoặc thực hiện 100% tín hiệu bán khống quỹ Dirextion Technology Bull ETF (TYH) với đòn bẩy gấp 3 lần thuần túy trên các tín hiệu mua, bán hoặc cân bằng (vô hiệu hóa) từ hệ thống. Trong suốt giai đoạn kiểm định từ ngày 12 tháng 03 năm 2009 (ngày bùng nổ theo đà) cho đến ngày 24 tháng 08 năm 2009 (ngày chúng tôi chốt số liệu tính toán), tỷ suất sinh lợi là +90% trong khi mức drawdown là -18.4% (Hình 7-12). Phân Tích Mô Hình xác Định Xu Hướng Thị Trường - Nửa Đầu Năm 2008 Các tín hiệu trong nửa đầu năm 2008 được thể hiện trong Hình 7.8. Ý nghĩa từng con số trong hình như sau: 1. Ngày 02 tháng 01: Tín hiệu mua bị vô hiệu hóa trong ngày khi chỉ số NASDAQ Composite phá thủng giá đóng cửa của ngày 20 tháng 12 năm 2007, là ngày trước ngày có khoảng trống tăng giá vào 21 tháng 12 năm 2007 (xem “Một Vài Lưu Ý Về Các Đồ Thị” tại phần bắt đầu của Các Ví Dụ Đồ Thị). Vì ngày này là ngày phân phối thứ 5 trong khoảng thời gian 20 ngày, mô hình sẽ đưa ra tín hiệu chờ bán. Ngày tiếp theo là ngày 03 tháng 01, mô hình đưa ra tín hiệu bán khi chỉ số NASDAQ Composte phá thủng đáy của ngày chờ tín hiệu bán. 2. Ngày 14 tháng 05. Ngày phân phối vì chỉ số đóng cửa với mức tăng ít hơn 0.1% so với giá đóng cửa của ngày trước đó và nằm ở phần tư thấp nhất của khung giá ngày.
Hình 7.8: Đồ thị ngày của chỉ số NASDAQ Composite, năm 2008. Dữ liệu cung cấp bởi eSignal, bản quyền 2010. Phân Tích Mô Hình xác Định Xu Hướng Thị Trường - Nửa Sau Năm 2008 Hình 7-9 minh họa các tín hiệu xuất hiện trong nửa sau năm 2008 với các giải thích về hành động giá nhu sau: 1. Ngày 16 tháng 05: Là ngày phân phối vì giá đóng cửa giảm -0.19%, nhiều hơn mức yêu cầu tối thiểu -0.1%.
2. Ngày 12 tháng 06: Không phải là ngày phân phối vì hai lý do: (1) Giá đóng cửa nằm ở phần cao nhất của khung giá ngày và (2) nó tăng hơn 0.1%. Tuy nhiên, ngày hôm nay trở thành tín hiệu bán khi giá thấp nhất của ngày chờ tín hiệu bán bị phá thủng. 3. Ngày 25 tháng 09: Không phải là ngày bùng nổ theo đà vì cả chỉ số NASDAQ Composite và S&P 500 đều không đáp ứng mức yêu cầu tối thiểu là 1.5%. 4. Ngày 10 tháng 10: Tín hiệu bán bị vô hiệu hóa vào ngày bất thường này khi khối lượng ở mức cao kỷ lục và giá đóng cửa nằm ở nửa trên của khung giá ngày.
Hình 7.9: Đồ thị ngày của chỉ số NASDAQ Composite, năm 2008. Dữ liệu cung cấp bởi eSignal, bản quyền 2010. Phân Tích Mô Hình xác Định Xu Hướng Thị Trường: Bối Cảnh Đại Khủng Hoảng 1929-1930 Hình 7-10 cho thấy các tín hiệu đối với chỉ số Dow Jones Industrials vào năm 1929 -1930 với các giải thích về hành động giá nhu sau: 1. Ngày 25 tháng 09 năm 1929: Không phải ngày phân phối vì khung giá ngày tạo đuôi dưới dài và chỉ số đóng cửa giảm ít hơn -0.1%.
2. Ngày 15 tháng 10 năm 1929: Đây là ngày “chờ tín hiệu bán” mặc dù nó là ngày phân phối đầu tiên sau ngày có tín hiệu mua. Điều này là vì chỉ số đã phá thủng đáy thấp nhất của ngày có tín hiệu mua (xem thêm ở đoạn mở đầu “Một Vài Lưu Ý Về Các Đồ Thị” ở phần Các Ví Dụ Đồ Thị). 3. Ngày 16 tháng 01 năm 1930: Mô hình không chuyển sang ngày “chờ tín hiệu bán” vì nó là ngày phân phối đầu tiên sau ngày có tín hiệu mua (xem “Một Vài Lưu Ý về Đồ Thị” ở đầu phần Ví Dụ Đồ Thị). 4. Ngày 11 tháng 04 năm 1930: Đây là ngày xoay hàng vì giá không tăng nhiều với khối lượng cao, do đó là một dạng ngày phân phối. Hình 7.10: Đồ thị ngày của chỉ số Dow Jones Average Index, 1929 - 1930. Dữ liệu cung cấp bởi eSignal, bản quyền 2010. Ă Ắ Í Ô Ì
ĂN CẮP BÍ MẬT MÔ HÌNH Ngay cả trong trường hợp một số người sử dụng kỹ thuật đảo ngược(* ) (reverse engineer) và áp dụng rộng rãi mô hình định thời điểm thị trường, điều này không ảnh hưởng khả năng dự báo của mô hình. CHÚ THÍCH (*) Kỹ nghệ đảo ngược (hay công nghệ đảo ngược, kỹ thuật đảo ngược) (tiếng Anh: reverse engineering) là quá trình tìm ra các nguyên lý kỹ thuật của một phần mềm ứng dụng hay thiết bị cơ khí qua việc phân tích cấu trúc, chức nâng và hoạt động của nó. Trong quá trình này, người ta thường phải tháo dỡ đối tượng (ví dụ một thiết bị cơ khí, một thành phân điện tử, một phần mềm) thành từng phần và phân tích chi tiết hoạt động của nó, thường là với mục đích xây dựng một thiết bị hoặc phần mềm mới hoạt động giống hệt nhưng không sao chép bất cứ thứ gì từ đối tượng nguyên bản. Thậm chí khi nhiều người sử dụng tín hiệu của mô hình để mua và bán, nó cũng không ảnh hưởng đáng kể vì hiện nay có vô vàn quỹ ETF thanh khoản cao, và mô hình của chúng tôi chỉ là một hạt cát giữa đại dương ý tưởng mà thôi. Mô hình này không phải hộp đen do đó người lập trình sẽ khó lòng, thậm chí là không thể, lập trình nó vào máy tính. Các quy tắc được sử dụng phụ thuộc vào chất lượng của hành động giá/khối lượng trước đó của chỉ số NASDAQ Composite và S&P 500. Do vậy, mặc dù có sẵn quy tắc cô định và cụ thể cho mô hình hệ thống, quy tắc vẫn còn phụ thuộc vào đặc điểm chất lượng của hành động giá (ND: là phần đưa ra quyết định tùy nghi). Việc đánh giá chất lượng của hành động giá lại tùy thuộc vào kinh nghiệm hơn 20 năm của chúng tôi trong phân tích đồ thị từ năm 1989. Có lẽ “chất lượng hành động giá” sẽ được giải thích rõ nhất qua một so sánh như sau. Trong những năm tháng làm việc cùng William O’Neil, tồi nhận ra ít ai sánh kịp khả năng tuyệt vời trong việc đánh giá chất lượng nền giá của ông. Tôi cho rằng điều này là nhờ nhiều thập kỷ kinh nghiệm phân tích các đồ thị giá mà ông tích lũy. Ví dụ, nền giá cực tốt (great base), nền giá tốt (good base), nền giá hơi lỗi (marginal base) và vô vàn các cấp độ nền giá ở giữa khác nhau rất vi tế, thành ra lập trình để máy tính “nhìn
thấy” những khác biệt này là điều vô cùng khó khăn, gần như bất khả thi. Tất nhiên, ta có thể lập trình máy tính để lọc ra những đồ thị thỏa mãn một số đặc điểm nhất định, nhưng các đồ thị này cần trải qua quá trình đánh giá chi tiết của con người. Nhưng khi đó, các quy tắc lọc cổ phiếu được xây dựng hợp lý đã giảm bớt kha khá lượng công việc phải làm. HỎI ĐÁP VỀ MÔ HÌNH ĐỊNH THỜI ĐIỂM Theo thời gian, tôi nhận ra cách giảng dạy hữu ích nhất là phương pháp của nhà triết học Socrates, nghĩa là liên tục hỏi đáp. Sau đây là những câu hỏi phổ biến nhất mà tôi nhận được qua nhiều năm về Mô Hình Xác Định Xu Hướng Thị Trường của Tiến Sĩ K. Nếu bạn có câu hỏi nào thêm, vui lòng gửi email trực tiếp cho tôi qua [email protected] hoặc truy cập www.virtueofselfishinvesting.com để xem các bản cập nhật hỏi đáp định kỳ. Tôi có nên kỳ vọng mức tỷ suất sinh lợi tương tự mức mô hình đã đạt được? Nên nhớ tỷ suất sinh lợi của mô hình chỉ là trên lý thuyết cho khoảng thời gian trước ngày 01 tháng 06 năm 2009, và mức tỷ suất sinh lợi cao này đi kèm mức drawdown có thể vượt quá khả năng chịu đựng của bạn. Do đó, việc chọn các quỹ ETF có đòn bẩy 1 lần, 2 lần hoặc 3 lần là tùy thuộc vào khả năng chấp nhận rủi ro của mỗi người. Mô hình Market Direction ModelTM có tỷ suất sinh lợi +53.8% trong khoảng thời gian một năm (từ ngày 01 tháng 06 năm 2009 đến 31 tháng 05 năm 2010) trong một quỹ sử dụng tiền thật với mức độ hiện diện trên thị trường chưa tới một nửa khoảng thời gian ở trên. Trong một tài khoản riêng khác không dùng tiền thật, tôi muốn xem liệu hệ thống có trụ vững trước một công cụ biến động mạnh như quỹ ETF Technology TYH với đòn bẩy gấp 3 lần hay không, nên tôi thực hiện 100% vị thế ở tín hiệu mua, thực hiện 100% vị thế bán khống ở tín hiệu bán, và hoàn toàn nắm giữ tiền mặt khi có tín hiệu bị vô hiệu hóa. Đến cuối năm ngoái mới xuất hiện các công cụ này, vì thế trước đây cơ hội để kiếm lợi nhuận lớn như vậy không tồn tại. Từ ngày 01 tháng 06 năm 2009 đến ngày 14 tháng 05 năm 2010, tỷ suất sinh lợi là +183.9%, và đến ngày 31 tháng 05 năm 2010, tỷ suất sinh lợi lên đến +215.1%. Tất nhiên, vì tính chất năng động của tài khoản này, drawdown cũng ở mức cao, -18.5%,
đây là con số không hiếm gặp, nhưng là cái giá để trả cho tỷ suất sinh lợi +215.1%. Lưu ý, nếu bạn đang sử dụng quỹ ETF có đòn bẩy 1 lần thì mức lãi của bạn chỉ bằng 1/3 con số trên, và đồng thời drawdown của bạn cũng giảm còn 1/3. Do đó, mức drawdown tệ nhất được ghi nhận bởi mô hình là -15.7% vào năm 1999 khi giao dịch các công cụ ETF có đòn đẩy 1 lần đôi với chỉ số NASDAQ Composite. Cũng lưu ý thêm, tỷ suất sinh lợi dài hạn +33.1% là từ tháng 07 năm 1.974 đến tháng 01 năm 2010 khi giao dịch các công cụ ETF có đòn đẩy 1 lần đối với chỉ số NASDAQ Composite. Nếu sử dụng công cụ ETF có đòn bẩy 3 lần như TYH so với chuyển động của chỉ số NASDAQ Composite, tỷ suất sinh lợi là gấp 3 lần con số trên nhưng lưu ý là nó cũng làm tăng drawdown. Hình 7.11 cho bạn thấy cách thức mô hình hoạt động. Nó kiếm được nhiều tiền khi thị trường có xu hướng, là lúc các tín hiệu đúng mang lại lợi nhuận lớn (có ghi dòng chữ “lợi nhuận lớn”), và sau đó các cơ chế an toàn tự động giúp giới hạn thua lỗ nếu có tín hiệu sai. Trong suốt gần hai thập kỷ, mô hình này là kim chỉ nam giúp chúng tôi thành công trong con đường giao dịch bằng cách đứng ở vị thế đúng trên thị trường. Tỷ suất sinh lợi trung bình hàng năm của mô hình là +33.1% khi tính từ tháng 07 năm 1974. Trong vài năm gần đây, mô hình gặp phải thử thách lớn khi thị trường thường xuyên không có xu hướng, đi ngang (sideway) và biến động khó lường (choppy). Tuy thế, mô hình vẫn hoạt động vượt trội với tỷ suất sinh lợi trung bình hàng năm +17.3% khi tính từ tháng 01 năm 2005 đến nay, đánh bại gần như phần lớn các chỉ số thị trường và nhiều trang website định thời điểm thị trường nổi tiếng. Tỷ suất sinh lợi thực tế có thể lớn hơn nữa bằng cách mua các cổ phiếu chất lượng hàng đầu ở các ngành dẫn sóng khi có tín hiệu mua, đặc biệt trong giai đoạn giữa/cuối năm 200Ổ đến cuối năm 2007- Hơn nữa, có thể đạt tới tỷ suất sinh lợi +51.9% (17-3% X 3) khi sử dụng các ETF có đòn bẩy 3 lần như TYH/TYP. Nói cách khác, những công cụ này giúp mang lại tỷ suất sinh lợi cao gấp 3 lần so với khi đầu tư vào chỉ số NASDAQ Composite. Nghĩa là, tỷ suất sinh lợi +90.2% có thể đạt được khi đầu tư vào các quỹ ETF TYH/TYP từ tín hiệu mua theo ngày bùng nổ theo đà là ngày 12 tháng 03 năm 2009 đến ngày 24 tháng 08 năm 2009, là ngày chúng tôi kết thúc nghiên cứu (xem phần Hỏi Đáp). Nên nhớ, bạn phải chịu được mức drawdown -18.5% để có được mức sinh lợi +90.2%. Đối với những người
có mức độ chịu đựng rủi ro thấp hơn, có thể mua các ETF có đòn bẩy gấp 2 lần như QLD/QID và các ETF có đòn bẩy 1 lần như QQQQ/PSQ. Hình 7.11: Đồ thị ngày của Direxion Daily Technology Bull ETF, năm 2009. Dữ liệu cung cấp bởi eSignal, bản quyền 2010. Ngoài ra, nên nhớ kết quả trên chưa tính đến phí môi giới, thuế, cổ tức nhận được, hoặc lãi tiền gửi trên thị trường tiền tệ khi nắm giữ tiền mặt lúc hệ thống có tín hiệu cân bằng. Luôn luôn ghi nhớ, các kết quả quá khứ không hàm ý cho kết quả tương tự trong tương lai. Ưu điểm của mô hình này là gì? Tôi mạn phép rút ra năm ưu điểm chính: 1. Mô hình cho hiệu suất vượt trội so với chỉ số NASDAQ Composite và S&P 500 trong mọi chu kỳ thị trường suốt 35 năm qua. Từ tháng
07 năm 1974 đến tháng 12 năm 2009, tỷ suất sinh lợi trung bình hàng năm là +33.1%. Mô hình rất thành công trong việc nắm bắt các xu hướng trung hạn, bất kể là tăng giá hay giảm giá. 2. Mô hình có cơ chế tự bảo vệ bằng cách tối thiểu hóa drawdown ở mức thấp nhất. Cơ chế tự bảo vệ dẫn tới nhiều tín hiệu sai nhưng khoản lỗ từ tín hiệu sai chỉ ở mức chỉ -1% đến -1.5%. Điều này dẫn tới tỷ lệ lợi nhuận/rủi ro ở mức rất cao, vượt xa so với chỉ số thị trường ở mọi chu kỳ từ năm 1974 đến nay. Mức drawdown tệ nhất trong suốt 35 năm qua là -15.7%- Trong khi đó, mức giảm mạnh nhất của chỉ số NASDAQ Composite lên tới -78.4%. 3. Mô hình chỉ mua các cổ phiếu có nền tảng cơ bản mạnh nhất tại các điểm pocket pivot và các điểm phá vỡ truyền thống khi mô hình xác định thời điểm thị trường có tín hiệu mua. Website www.virtueofselfishinvesting.com giới thiệu các cổ phiếu có tiềm năng mang lại lợi nhuận lớn vì chúng tôi luôn muốn đạt được tỷ suất sinh lợi 100% mỗi năm khi điều kiện thị trường cho phép. 4. Mô hình này mua các ETF nghịch đảo (hay bán khống các ETF) khi mô hình cho tín hiệu bán. 5. Mô hình sử dụng các ETF có đòn bẩy gấp 2 hoặc gấp 3 để nâng tỷ suất sinh lợi lên, đặc biệt trong giai đoạn thị trường thử thách. Nhược điểm của mô hình này là gì? Tôi nhìn thấy hai nhược điểm chính. Nhược điểm đầu tiên, các giai đoạn thị trường biến động, không có xu hướng là rất khó khăn nhất. Đó là những giai đoạn như: 1. Từ ngày 04 tháng 05 năm 2009 đến ngày 10 tháng 07 năm 2009: Có 4 tín hiệu lỗi liên tiếp. 2. Từ tháng 02 năm 1999 đến tháng 08 năm 1999: Có 5 tín hiệu lỗi liên tiếp, sau đó có 1 tín hiệu lãi, rồi lại có 5 tín hiệu lỗi liên tiếp. Điều này dẫn đến mức drawdown lớn nhất của mô hình là -15.7% trong hơn 35 năm chạy mô hình. Như bạn có thể nhìn thấy trong phần thành quả ở trên, mức drawdown trong suốt giai đoạn này vẫn tương đối
nhỏ so với tỷ suất sinh lợi của mô hình. Trong khi đó, chỉ số NASDAQ Composite lại có mức drawdown tệ nhất là -78.4%. Thật thú vị, tôi đạt được tỷ suất sinh lợi cao nhất vào năm 1999 cho cả hai tài khoản cá nhân là +451% và tài khoản của công ty O’Neil là +566.1% vì tôi chỉ mua các cổ phiếu tốt khi có tín hiệu mua. Xin nói thêm rằng tỷ suất sinh lợi của tài khoản cá nhân thật ra lớn hơn nhiều so với con số +451% vì năm đó tôi không đầu tư tiền chịu thuế chuyên dùng mà chỉ giữ trong tài khoản. Do vậy, ở tổng mức thuê +50.5% (thuê liên bang, nhà nước, v.v...), mức vốn khởi điểm của tôi năm đó và các năm 1997, 1998 và 2000 ít hơn rất nhiều. Tuy nhiên, KPMG, công ty kiểm toán cho tôi, không thể nào sử dụng chuẩn mực kế toán truyền thống vào để tính thêm cả phần này. Tỷ suất sinh lợi cao hơn của tôi đã được Kevin Mardes trích dẫn trong cuốn sách của ông The Best: Conversations with Top Traders (M. Gordon Pub. Group, 2000). Độ biến động tăng lên trong năm 2009 khiến các khoản lỗ do tín hiệu sai tăng lên 1.5% -2.5%, thay vì ở mức bình thường 1%-1.5%. Cần lưu ý: tỷ suất sinh lợi thực tế từ ngày 12 tháng 03 năm 2009 đến ngày 24 tháng 08 năm 2009 (là ngày thực hiện nghiên cứu) đạt được khi tôi trải qua hai sóng tăng giá và một giai đoạn thị trường biến động không có xu hướng khiến hệ thống có 4 tín hiệu lỗi liên tiếp, bằng cách thực hiện 100% vị thế ở tín hiệu mua, thực hiện 100% vị thế ở tín hiệu bán và hoàn toàn nắm giữ tiền mặt khi tín hiệu bị vô hiệu hóa. Ví dụ xem xét: tỷ suất sinh lợi thực tế từ ngày 12 tháng 03 năm 2009 đến ngày 24 tháng 08 năm 2009 (là ngày thực hiện nghiên cứu), trải qua hai sóng tăng giá và một giai đoạn thị trường biến động không có xu hướng khiến hệ thống có 4 tín hiệu lỗi liên tiếp (100% vị thế mua ở tín hiệu mua, thực hiện 100% vị thế bán khống ở tín hiệu bán và hoàn toàn nắm giữ tiền mặt khi tín hiệu bị vô hiệu hóa). Như bạn có thể thấy, bằng cách sử dụng quỹ ETF TYH, tỷ suất sinh lợi đạt được là +90.2% từ ngày 12 tháng 03 năm 2009 đến ngày 24 tháng 08 năm 2009. Thực sự rất tuyệt vời. Bảng 7.2: Hình 7.12 thể hiện dưới dạng đồ thị.
NASDAQ Composite $1 trở thành TYH (3xFTF) $1 trở thành Tín hiệu mua ngày 12/3 1426 1.21 45.3 1.63 Bán khống ngày 28/5 1728.9 1.18 73.8 1.5 Tín hiệu cân bằng 29/5 1 768.2 1.18 79.9 1.5 Tín hiệu mua ngày 1/6 1828.6 1.16 88.1 1.46 Tín hiệu bán khống ngày 17/6 1795.5 1.14 85.3 1 39 Tín hiệu cân bằng ngày 19/6 1831.1 1.14 89.4 1.39 Tín hiệu bán khống ngày 7/7 1770.1 1.13 81.3 1.33 Tín hiệu mua ngày 13/7 1793.2 1.27 85 1.90 Chốt số liệu ngày 24/8 2018.0 (close) +27% 121.4 +90% Hình 7:12: Đồ thị ngày của quỹ ETF Direxion Daily Technology Bull (TYH), năm 2009. Đồ thị cung cấp bởi eSignal, bản quyền 2010. Tuy nhiên, bạn phải trải qua 4 tín hiệu sai liên tiếp với mức drawdown tổng cộng là -18.4% để đạt được tỷ suất sinh lợi +90.2%. Nếu bạn giao dịch ETF có đòn bẩy 1 lần như QQQQ, đại diện tốt cho chỉ số NASDAQ Composite, bạn có thể đạt tỷ suất sinh lợi +27% nhưng mức drawdown chỉ có -6.6%.