sao về thăm gia đình Hạng. Cho mãi tới gần cuối năm 1970,
có dịp về Long Xuyên và tôi đã ghé vào nhà Hạng. Căn nhà
không thay đổi nhiều, tuy nhiên hầu như chẳng còn sinh khí
như thuở nào! Bà cụ, mẹ của Hạng, nằm trên một chiếc võng ở
góc nhà, đối diện bên kia vách, dưới bàn thờ treo hai bộ dạo
phố mùa đông,và dạo phố mùa hè của Hạng mang về từ quân
trường. Thấy tôi, Bà cụ oà khóc, và không ngớt gọi tên Hạng.
Ở ngoài chiến trường, chúng ta, không nhiều thì ít, đã từng trải
qua những lúc thật buồn -buồn, đến độ không còn thiết tha gì,
mỗi khi có đồng đội ngã xuống, nhưng có lẽ chúng ta không
cảm nhận hết được nỗi thống khổ của những người mẹ, người
vợ ở hậu phương, như tôi đang đứng trong căn nhà này vào
giờ phút đó. Nỗi buồn vì nhớ thương của người mẹ hầu như
không hề phôi pha theo năm tháng, nó lớn lao đến độ tôi
không dám mở miệng để có một lời gọi là an ủi Bà cụ. Mấy
đứa em của Hạng dẫn tôi qua khu vườn xéo trước cửa nhà phía
bên kia đường.... Hạng nằm đó xung quanh là mấy bụi me
nước, trên đầu phần mộ là tấm bia nhỏ ghi bằng sơn đỏ: CỐ
TRUNG UÝ ĐÀ LẠT LÊ HỮU HẠNG. Tôi đứng đó chẳng
biết nói gì với mấy đứa em. Nghĩ về Hạng, về những nghiệt
ngã mong manh của đời lính, về những hệ lụy để lại phía sau
...Một ý nghĩ thoáng qua trong đầu, như một lời tâm sự cùng
Hạng “ dù sao thì mày cũng đã đặt chân về được tới trước cửa
nhà...về đây có má có em ...hãy yên nghỉ”. Một đứa em của
Hạng cho tôi biết chị K. mỗi khi về Long Xuyên đều có ghé
qua đây thắp nhang cho anh Hạng. K. là người em gái họ của
T., bạn học chung của chúng tôi. Vào một dịp hè, mấy đứa
chúng tôi rủ nhau đi chơi bên Rạch Giá. Bạn T. dẫn chúng tôi
đến thăm gia đình một người bà con. Tại đây, gia đình giữ lại
ăn cơm, và K . đã nấu đãi chúng tôi món canh chua cá biển.
Cảm tình đã nẩy mầm từ đó trong Hạng, được nuôi dưỡng
trong suốt mấy năm Hạng học ở Long Xuyên tiếp theo hai
năm nữa ở quân trường Đà Lạt…Như bao cuộc tình buồn của
thời chinh chiến, Hạng và K. chưa có được một ngày vui để
cùng chung sống trong mái ấm gia đình, thì Bạn tôi đã vĩnh
viễn ra đi, bỏ lại K. với trăm nghìn nỗi nhớ! Từ Rạch Giá đi
Long Xuyên khoảng sáu, bảy chục cây số, từ đây muốn về nhà
___________________________________________________________
TRANG 50 ĐA HIỆU SỐ 105
Hạng phải qua “bắc” An Hòa, và đi thêm một đoạn đường quê
cả chục cây số với phương tiện di chuyển duy nhất bằng xe
lôi, chỉ để thắp cho Hạng nén nhang vào những ngày giỗ tết.
Qua đó, đã cho thấy tình cảm sâu đậm mà K. đã dành cho bạn
tôi, Lê Hữu Hạng, sâu đậm đến dường nào. Có còn gì đáng
trân quý hơn về K., một người yêu của Lính, dành cho Người
tình đã nằm xuống.
Bị cuốn vào trong cơn lốc chiến tranh,và sau này chìm ngập
trong nỗi nhọc nhằn sau “tháng tư đen” năm 1975. Tôi chẳng
còn có dịp về lại Long Xuyên. Cho đến cách đây mấy năm,
trong một lần về Việt Nam, tôi đã tìm về nơi này.Tất cả đều đã
thay đổi. Con rạch mà cây cầu sắt bắc ngang đã bị lấp đi để lấy
chỗ làm nhà, và vì vậy cây cầu sắt nay cũng không còn. Không
còn ai biết gia đình Hạng đã di chuyển về đâu, kể cả nắm
xương tàn của Hạng. Với tôi, Lê Hữu Hạng đã góp phần
xương thịt của mình vào vùng đất này, cũng giống những hạt
phù sa trong dòng sông Tiền vẫn tháng năm cần mẫn vun bồi
cho vùng đất của Hạng, vùng đất mang tên Mỹ Luông.
Từ đây về Long Xuyên người ta đã làm một con đường
mới, nhưng tôi muốn đi lại con đường xưa, con đường cất giữ
những kỷ niệm êm đềm của thời đi học. Bao ước mơ thuở ấy
đã cùng Hạng mãi mãi nằm lại nơi này, và riêng với tôi thì nay
cũng chỉ còn là hoài niệm. Con đường đã từng sống mãi trong
ký ức của tôi mỗi khi nhớ về những ngày mới lớn, nay đã biến
dạng chẳng để lại dấu tích .....
Cũng như Hạng bây giờ đang nhạt phai dần trong trí nhớ mọi
người ...Có chăng, lúc nhớ lúc quên nơi mấy đứa em, nơi
mấy thằng bạn cũ thân thiết ...nhưng nay cũng đã tuổi già.
Rồi đây, qua dòng thời gian, biết còn ai tưởng nhớ Bạn tôi!
Trần Châu Giang, K22
___________________________________________________________
ĐA HIỆU SỐ 105 TRANG 51
" Nghé Đi Tìm Trâu"
CaptovanK19.
Thứ Bảy ngày
30 tháng 5 năm 2015,
lúc 10 giờ sáng, điện
thoại reng, reng:
- Alo, Lạt Ma
tôi nghe, ai đó.
- Thái đây, tao
muốn hỏi mày một
chuyện.
- Chuyện gì vậy
Thái?
-Có một luật sư
vừa mới từ Oklahoma
về mở văn phòng ngay
bên cạnh văn phòng
tao trên đường
Bellair.., anh ta tên Jimmy Nguyễn. Jimmy sang chào làm
quen lối xóm, thấy văn phòng tao có cái hộp xin tiền cho
thương phế binh (TPB) của mày, Jimmy chăm chú nhìn tấm
hình TPB mặc đồ TQLC rồi hỏi tao để hộp xin tiền cho TPB
làm gì? Tao có quen ai là TQLC không?
Tao trả lời Jimmy thế này:
- Tôi có quen nhiều anh em TQLC, còn hộp nầy là
của một TQLC, bạn tôi, gửi ở đây để những khách hàng nào
có thiện tâm thì bỏ ít tiền lẻ vào đây, năng nhặt chặt bị, để có
được những gói quà nho nhỏ gửi về cho đồng đội là những
TPB cụt chân tay, mù mắt v.v.. nếu anh đi quanh các tiệm
thương mại ở vùng này thì sẽ thấy có các hộp tương tự như
thế này, hộp thì của hội người nghèo, hội người cùi, của
chùa nọ, nhà thờ kia… Bạn tôi đứng ra làm việc này tuy có
gặp nhiều hoài nghi và cay đắng, nhưng chưa đắng cay bằng
___________________________________________________________
TRANG 52 ĐA HIỆU SỐ 105
số phận các TPB/VNCH sống trong xã hội “Xạo Hết Chỗ
Nói” (XHCN). Có thể trên cương vị luật sư anh thấy những
lọ quyên góp như thế này không hợp lệ...
Tao chưa nói hết câu thì Jimmy vội vàng xin lỗi và
giải thích:
- Không, không, thưa chú, xin chú đừng hiểu lầm
câu hỏi của cháu, nghề nghiệp dạy cho cháu biết có những
trái tim “Phật” trong tấm áo rách, có những tình đồng đội
trên những đôi vai gầy, lưng gù, những ai hoài nghi mới là
đáng trách. Cháu hỏi như thế là vì cháu muốn tìm tin tức một
người, một người còn thiệt thòi hơn TPB, người đó đã tử
trận. Thưa chú, đó là bố cháu. Mẹ cháu cho biết bố cháu tử
trận khi cháu mới sinh ra được hơn 3 tháng, bố cháu chưa
kịp về phép nhìn mặt con thì đã hy sinh. Cháu muốn tìm các
bác các chú TQLC, Đồng Đội của bố cháu ngày xưa, để hỏi
thăm tin tức về bố cháu. Bố cháu thuộc ĐĐ3/TĐ2/TQLC tử
trận ở Campuchia 1970, tên là Nguyễn Văn Nhung, K21 Võ
Bị...
- Hello Lạt, Jimmy nói như thế, và đưa tấm hình của
bố mặc
quân phục
đứng bên
chiếc xe
jeep cho
tao coi,
mầy có
biết gì về
anh Nhung
TQLC
không?
Nguyễn
Kha Lạt, tục danh Lạt-Ma, bỗng cảm thấy như có luồng điện
chạy từ đầu xuống chân, Lạt vội đứng bật dậy cầm khung
hình của Nhượng mà Lạt để trên kệ sách, lấy tay xoa lớp bụi
trên kính và rồi bỗng dưng nước mắt Lạt ứa ra, đó là hình
của người chỉ huy, là đại đội trưởng, là anh hùng của Lạt
___________________________________________________________
ĐA HIỆU SỐ 105 TRANG 53
năm xưa ở ĐĐ2/TĐ7/TQLC, đó là Trung Úy Nhượng,
Nguyễn Văn Nhượng chứ không phải Nhung, Lạt hỏi lại
Thái:
- Hi Thái, mày hỏi Jimmy xem, không phải Nguyễn
Văn Nhung mà là Nguyễn Văn Nhượng ĐĐT/ĐĐ2/TĐ7,
Khoá 21 VBĐL, anh Nhượng mất ngày 20/6/1970, nếu đúng
thì tao sẽ đem tấm hình của tao đến gặp Jimmy để so sánh.
Sau một hồi Thái và Jimmy trao đổi tin tức, Thái gọi lại cho
Lạt:
- Hello Ma, đúng là Nhượng, vì Jimmy nói tiếng Việt
không rành nên tao nghe Nhượng thành Nhung. Jimmy đang
nóng lòng gặp mày để hỏi tin tức về bố Nhượng.
***.
Sau một thời gian thu xếp cái hẹn, khi Nguyễn Kha
Lạt và Jimmy gặp nhau, phút đầu ngỡ ngàng, nhưng khi cả
hai đưa hình ra so sánh thì chú cháu ôm choàng lấy nhau mà
khóc! Khó có thể tưởng tượng được một ông già, một trung
niên, những người đàn ông vốn lòng chai đá, không quen
biết nhau mà bỗng dưng ôm nhau mà khóc khiến ai trông
thấy cũng ngạc nhiên và mủi lòng.
Lạt khóc qua hình ảnh của một cấp chỉ huy anh
hùng, Jimmy khóc qua hình ảnh của một người cha đáng
kính mà con chưa bao giờ gặp mặt cha, và đã gần nửa thế kỷ
qua, con đi tìm tung tích thật sự của cha. Những giọt nước
mắt buồn xen với vui, vui cũng khóc như cha con gặp nhau.
Jimmy nói với chú Lạt:
- Thưa chú, đích thực là bố con rồi, tuy buồn lắm
nhưng cả mẹ con và con rất hãnh diện về bố con, con thường
khoe với đồng nghiệp người Mỹ tấm hình này và nói với họ
là bố con đã tử trận, họ phục con lắm, nhưng con không biết
rõ bố con đã hy sinh trong trường hợp nào, chú có thể kể lại
cho con nghe được không?
- Dĩ nhiên là được, nhưng chuyện dài dòng lắm, để
sau này chú sẽ kể rõ đầu đuôi cho Jimmy nghe, còn bây giờ
thì vắn tắt như thế này: chú đã giữ, đã thờ hình bố cháu gần
nửa thế kỷ qua, bởi vì bố cháu đã chiến đấu tới viên đạn cuối
___________________________________________________________
TRANG 54 ĐA HIỆU SỐ 105
cùng, hy sinh mạng sống của một cấp chỉ huy để cứu thuộc
cấp, cứu đồng đội. Sự hy sinh nào ngoài chiến trường cũng
đáng kính, được Tổ Quốc ghi ơn, quan tài phủ quốc kỳ,
nhưng bố Nhượng của cháu còn được phủ bởi tấm lòng
thương mến và kính phục của thuộc cấp, của chú...
Sau khi gặp chú Lạt, người trung đội trưởng của bố
Nhượng ngày xưa, có cả hình ghi ngày tháng và nơi bố tử
trận, Jimmy liền gọi ngay cho mẹ ở Oklahoma báo tin rằng:
“mẹ ơi! con đã tìm được bố rồi”, sau đó Jimmy tức tốc mang
tấm hình mà chú Lạt ghi ngày tháng về cho mẹ xem, để hai
mẹ con cùng chung nhịp tim đập như khi trông thấy chồng,
thấy cha hơn 50 năm về trước..
Cháu Jimmy nói bố Nhượng thuộc ĐĐ3/TĐ2/TQLC,
là Tiểu Đoàn Trâu Điên, còn chú Nguyễn Kha Lạt nói
Nguyễn Văn Nhượng thuộc ĐĐ2/TĐ7/TQLC, cả hai đều
đúng, người viết xin được giải thích:
Trung Úy Nguyễn Văn Nhượng nguyên là
ĐĐP/ĐĐ3/TĐ2 của tôi (TVC), khi tôi bị trọng thương, bị
loại khỏi cuộc chiến, thì Nhượng lên thay tôi làm Đại Đội
Trưởng ĐĐ3/TĐ2. Khoảng thời gian 1969-1970, khi Binh
Chủng TQLC thành lập thêm TĐ7/TQLC thì Đại Đội 3/TĐ2
của Nhượng được tuyển chọn làm nồng cốt để thuyên
chuyển sang tiểu đoàn tân lập và Nhượng trở thành
ĐĐT/ĐĐ2/TĐ7/TQLC. Nguyễn Kha Lạt khi đó là trung đội
trưởng của Nhượng, và vì mến phục một cấp chỉ huy tài giỏi,
cam đảm, đã quên mình để cứu thuộc cấp nên sau khi
Nhượng hy sinh, Nguyễn Kha Lạt giữ mãi tấm hình của
Nhượng bên mình, tấm hình đã trôi nổi theo Lạt qua bao
nhiêu sóng gió, tù đày, vượt biên, và khi được tỵ nạn trên đất
tạm dung Hoa Kỳ thì Lạt lồng kính tấm hình, để trên kệ sách,
như một bàn thờ người anh hùng đã vị quốc vong thân.
Điều cần nói thêm là Nguyễn Văn Nhượng thuộc
Khóa 21 Võ Bị, còn Nguyễn Kha Lạt thuộc khóa 9/68 Võ
Khoa (tên cũ của Trường Bộ Binh Thủ Đức), đây là tình
huynh đệ chi binh vượt khỏi ranh giới quân trường mà một
vài cá nhân thường vướng mắc kỳ thị... Thật tội nghiệp cho
họ! AK47, CKC, RPD, B40, B41, bêta của VC còn không
___________________________________________________________
ĐA HIỆU SỐ 105 TRANG 55
phân biệt Võ Khoa với Võ Bị thì nỡ lòng nào đồng đội lại
phân biệt quân trường!
***
Chúa Nhật ngày 31 tháng 5 năm 2015, lúc 12 giờ
trưa.
Điện thoại reng reng, Lạt cầm điện thoại nghe
- Alooo...
- Có phải là chú Lạt TQLC không?
- Dạ, tôi là Nguyễn Kha Lạt đây, xin lỗi ai đầu dây?
-Trời ơi! Chú Lạt ơi! Chị Nhượng đây, là vợ anh
Nhượng đây, cháu Jimmy vừa đưa tấm hình của anh Nhượng
mà chú cho nên chị gọi chú ngay đây!
Một cảm giác ớn lạnh chụp lên người Lạt, dĩ vãng
hiện về rõ như đang xảy ra trước mắt: Ngày 20/6 năm 1970,
ĐĐ2/TĐ7 của anh Nhượng có nhiệm vụ bảo vệ đoàn xe tiếp
tế trên đường về Preyveng, Kampuchia, đại đội đã đụng rất
mạnh với một tiểu
đoàn VC, quân số
đông hơn, nhưng anh
Nhượng đã khéo léo
điều động đơn vị tiêu
diệt địch, bảo vệ đoàn
xe tiếp tế lương thực
cho dân, bảo vệ đồng
đội và rồi anh hy sinh!
Lạt ghi lại ngày và nơi
Nhựơng tử trận trên
tấm hình mà trước đó
Lạt đã chụp cho
Nhượng đứng trước
cửa văn phòng đại đội
ở căn cứ Sóng Thần
Thủ Đức.
(Hình: Trung úy Nguyễn Văn Nhượng ĐĐT/ĐĐ2/TĐ7.
Thiếu uý Nguyễn Đức Truyền ĐĐP/ĐĐ2/TĐ7 Hai người
đã lần lượt ra đi trong cuộc chiến )
___________________________________________________________
TRANG 56 ĐA HIỆU SỐ 105
Đã hơn 45 năm qua, anh Nhượng và bao đồng đội đã
đi, nhưng không hiểu sao Lạt còn giữ được những tấm hình
quý giá thời chinh chiến của những chàng trai trẻ đã đền
xong nợ nước. Nợ nứơc các anh đã đền xong, nhưng những
ai còn sống, từng được các anh bảo vệ thì có còn nhớ gì đến
món nợ đối với các anh hùng tử sĩ hoặc thiết thực nhất là
món nợ đối với các anh em thương phế binh? Ngoài tấm
hình anh Nhượng mà Lạt để trên kệ sách, Lạt còn giữ được
tấm hình Đại Đội Trưởng Nguyễn Văn Nhượng và Đại Đội
Phó Nguyễn Đức Truyền, cả hai người với súng đạn, nón sắt,
bản đồ.. đang quan sát mục tiêu sẽ phải chiếm. Mục tiêu
chiếm xong rồi, thi hành nhiệm vụ xong, nhưng than ôi! Cả
hai anh không còn nữa, hai anh đã lần lượt ra đi trong cuộc
chiến để hậu phương được thanh bình...
- Alo, alo, chú Lạt có nghe chị nói không?
- Dạ em đang nghe chị nói đây và em cũng đang
trông thấy anh Nhượng, anh Truyền đứng quan sát mục tiêu
để điều động chúng em vào...
- Quá cảm động chú Lạt ơi, hơn 45 năm rồi mới
nghe tiếng nói của chú, người em cùng đơn vị với anh
Nhượng. Việc đầu tiên là chị xin cám ơn tất cả đồng đội đã
dành cho anh Nhượng một sự thương mến, nỗi đau mất
chồng đã nguôi ngoai theo thời gian, nhưng chị và cháu
Jimmy vẫn mãi hãnh diện về anh Nhượng, tấm gương hy sinh
của anh đã giúp chị đứng vững và Jimmy hãnh diện về bố
nên đã cố vượt qua mọi khó khăn để học hành đến nơi đến
chốn theo nguyện vọng của bố. Chú cho chị gửi lời cám ơn
đến Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng TĐ7 Phạm Nhã cùng các
anh em ở hậu cứ, và đặc biệt là cố vấn Mỹ TĐ7 đã giúp chị
vượt qua mọi gian truân khi nách bồng đứa con thơ sau khi
anh Nhượng mất...
- Xin chị bình tâm..
- Chú có biết chị và Jimmy theo dõi những tin tức qua
TV và báo chí VN, chị đã đọc những quyển đặc san các đơn
vị quân đội ta, (rất tiếc là chưa được đọc báo của Võ Bị và
TQLC) để tìm thấy hình ảnh của anh Nhượng, nhất là Jimmy
___________________________________________________________
ĐA HIỆU SỐ 105 TRANG 57
cứ ước mong tìm được đồng đội, đồng khóa cuả bố. Cháu tên
thật là Nguyễn Hải Phúc, sinh năm 1970, ngày bố nó mất,
cháu mới được 3 tháng rưỡi! Dù không thấy mặt bố, nhưng
cháu luôn luôn giữ tấm hình mà chú chụp ngày xưa. Chú có
thể không biết nhưng từ nhỏ đến nay lúc nào cháu cũng buồn
mà lại thích mặc những bộ đồ bông giống của bố…
- Để chị kể tiếp cho chú Lạt nghe, sau khi gặp chú,
cháu Jimmy vội chạy từ Houston về Oklahoma nói với chị:
“mẹ, con tìm gặp được chú Lạt cùng đơn vị với bố rồi”,
cháu còn cười: “nghé đã tìm được trâu*”. Lâu lắm mới nhìn
thấy cháu cười. Còn điều này mới cảm động chú Lạt à:
- Trứơc khi về TĐ7/TQLC thì anh Nhượng ở TĐ2
Trâu Điên nên khi anh Nhượng tử trận, chị vẫn giữ cái áo
TQLC rằn ri có thêu hình con trâu trên cánh tay để làm kỷ
niệm cho đến khi Jimmy lớn, biết đi tìm hình ảnh bố thì
Jimmy đòi chị đưa cái áo trận của anh Nhượng cho cháu
giữ, thỉnh thoảng chị thấy cháu len lén mặc áo của bố vào
rồi đứng trước gương ngắm, nhưng sau khi chú cho cháu
biết tin bố thì cháu lấy ngay áo rằn ri của bố mặc vào rồi
đứng ngay trong văn phòng chụp hình. Nhìn cháu mặc áo
TQLC, chị cứ tưởng như anh Nhượng hiện về, chị nhắm mắt
lại, người chị toát lạnh run lên, nhưng khi nghe tiếng con
gọi: “Mẹ coi đẹp không?” thì chị không thể nào khóc được
nữa mà ứa nước mắt vì sung sướng, vì hãnh diện có con trai
ngoan. Trong văn phòng, trên nóc tủ cháu còn để tấm hình
của anh Nhượng chụp khi còn là SVSQ/K21/VB... (hình trên
đầu bài viết)
- Non nước ơi! Lạt nói, thưa chị, em nghĩ anh
Nhượng linh thiêng lắm, anh đã dẫn lối đưa đường khiến
Jimmy tìm đựơc ước nguyện. Khi Jimmy quay lại Houston,
em sẽ đưa cháu đến gặp các chú, các bác ngày xưa cùng đơn
vị, cùng khóa để chú bác cùng vui với cháu, nhất là trong dịp
Binh Chủng TQLC tổ chức đại hội năm 2015 tại Houston
vào những ngày 4 & 5/7 sẽ có các TQLC khắp nơi về dự,
nhất là các Cọp Biển thuộc các TĐ2 và TĐ7/TQLC.
MX Lê Quang Liễn, trong ban tổ chức đại hội
TQLC, đã gửi thiệp mời tới chị Nhượng và cháu Jimmy đến
___________________________________________________________
TRANG 58 ĐA HIỆU SỐ 105
dự dạ tiệc. Chị và Jimmy
rất vui đã đến dự. Sau khi
ký chi phiếu 300 USD để
tặng các chú Thương Binh,
cháu Jimmy xin
được chụp hình chung với
các bác K21 và TQLC,
cháu nói:
- Bố con tử trận từ năm
1970, đã gần nửa thế kỷ,
con đi tìm hình ảnh bố
Nhượng là một cựu
SVSQ/K21 Võ Bị và cũng
là một Trâu Điên. Hôm
nay, ngày 5 tháng 7/2015,
con được gặp bố con qua hình ảnh của bác Võ Minh Hòa,
K21/VB, và bác Trâu Điên Tô Văn Cấp, con tin rằng bố con
ở nơi nào đó trên cao sẽ rất hãnh diện khi thấy con biết tìm
về nguồn gốc, con sẽ sống và làm việc theo gương các bác và
bố con./.
CaptovanK19.
___________________________________________________________
ĐA HIỆU SỐ 105 TRANG 59
Mùa hè, giữa những chùm hoa nắng lung linh, giữa
những trái táo chín đỏ, trái cam ngọt lừ, giữa tiếng ong
vo ve, tiếng chim ríu rít, tiếng lao xao rất nhẹ của cánh
bướm muôn màu, có người kể tôi nghe một câu chuyện:
Một tai nạn giao thông xảy ra, người đàn ông qua đời ở
tuổi bốn mươi. Lục phủ, ngũ tạng anh không hề tổn
thương, nhưng bộ não bị chấn thương mạnh đã đưa anh
tới cái chết.
Người mẹ già, ôm thân thể bất động của người con trai
duy nhất, không khóc được nữa. Bà như đang chết cùng
với con, con bà tách khỏi đời sống bà từng mảnh, từng
mảnh.
Anh đã hiến tặng tất cả nội tạng của anh cho những
người đang cần để nối tiếp cuộc sống của họ.
Bà biết hai lá phổi của con đã đặt vào một lồng ngực con
của người khác. Bà nghe thêm: trái tim cũng đã mang
đi, đập thổn thức trong một khung ngực lạ. Rồi hai quả
thận, nhiều người đang xếp hàng, nó sẽ làm công việc
thật tốt đẹp cho một người phải ra vào bệnh viện
___________________________________________________________
TRANG 60 ĐA HIỆU SỐ 105
thường xuyên trong cả mấy năm nay để lọc máu. Nó rất
hữu ích và hiền lành. Lá gan của con bà có hai thùy, thì
một thùy đã được mang thay thế cho người có một bên
gan hư hại. Bây giờ còn lại một thùy gan, chắc chỉ nay
mai sẽ có người tới nhận.
Đôi mắt là phần cuối cùng cũng sẽ được cho đi. Chao
ôi! Đôi mắt của con bà, đôi mắt biết cười, đôi mắt cười
trước khi môi nhếch lên. Bà yêu đôi mắt đó vô cùng.
Đôi mắt từ tuổi thơ ngây cho đến lúc trưởng thành lúc
nào cũng cười với bà, làm sao bà không tiếc. Người ta
nói với bà là đôi mắt cũng đã được xếp đặt để mang đi,
trong một sớm mai, có một người con của ai đó sẽ được
hưởng đôi mắt của con bà. Không, bà không muốn, bà
nhất định không muốn cho đôi mắt đó.
Nhưng chao ôi! Dù không cho đi bà cũng làm sao mà
giữ lại. Đôi mắt đó sẽ thành tro ngay lập tức nếu bà hỏa
thiêu thân xác con, hay đôi mắt đó sẽ mục nát trong
lòng đất nếu bà chôn con xuống đất. Hình như có một
vòng tay của ai đó đang ôm đầu bà vào lòng vỗ về:
“Đôi mắt biết cười của con sẽ lại tiếp tục cười trên một
khuôn mặt khác. Cho đi, cho đi mẹ ơi!”
Mai đây, trong những ngày tháng còn lại của đời người
có khi nào bà mẹ này bâng khuâng tự hỏi: “Tim, phổi
của con tôi, đôi mắt của con tôi hiện đang ở trong thân
thể ai, hiện đang ở đâu trên mặt đất này?” Rồi bà ngơ
ngác đi tìm, đi nhìn vào từng lồng ngực, từng cặp mắt
của mỗi người trên quãng đường bà qua.
Mùa thu với lá phong đỏ, với sóc nâu, với hạt bồ đào,
với cá Hồi đang từ biển tìm về dòng suối cũ để sinh nở,
sinh xong cá mẹ sẽ lìa đời. Giữa sự hồi sinh và hy vọng
___________________________________________________________
ĐA HIỆU SỐ 105 TRANG 61
có người kể tôi nghe một câu chuyện khác về cái chết,
về tình mẫu tử, về sự trao tặng nội tạng.
Người con trai 19 tuổi, trong một phút bất mãn với
cuộc đời, anh tự hủy mạng sống mình. Sau cái chết đó
anh cũng để lại nội tạng của mình cho những người
không may mắn. Người mẹ chỉ giữ được hũ tro của
phần thân thể con còn lại. Biết con khi còn sống ôm
mộng được du lịch vòng quanh thế giới. Ba năm sau cái
chết đau thương đó, người mẹ đã tìm cách liên lạc được
với những người trên mạng xã hội nhờ họ mang tro của
anh đi rải bất cứ nơi nào trên thế giới. Khi có một người
bằng lòng, bà lấy một phần tro, cho vào một cái túi nhỏ,
kèm theo một lá thư và bức ảnh của anh gửi tới họ. Thân
xác tro bụi của anh đã được mang rải vào lãnh thổ của
100 quốc gia trên thế giới. (*)
Người mẹ đó tin rằng, làm như thế, anh sẽ được di du
lịch khắp thế giới như khi còn sống anh từng mong ước.
Nghĩ xa thêm một chút thì chắc bà sẽ thấy: Thân thể
của anh phải chăng chỉ là một cái hộp vô tri, dùng để
cất giữ những nội tạng của anh mà thôi. Những nội tạng
này đã hiến dâng cho người khác, đang mang sự sống
mới đến cho người khác, mới là những bảo vật quý giá
nhất. Những người được nhận các bảo vật này, họ chắc
không bao giờ quên người đã hiến tặng.
Mùa xuân vào tuần lễ có rất nhiều hoa đào nở hai bên
đường, có áo len mỏng đi trong gió, có những buổi sáng
lất phất mưa xuân tạt ở hiên nhà, tạt cả vào những ly cà
phê còn bốc khói, có những buổi chiều mưa rắc nhẹ trên
mặt hồ lăn tăn gợn sóng, tôi cũng được nghe những câu
chuyện xúc động của cha mẹ sẵn sàng cho đi nội tạng
của đứa con bất hạnh còn rất bé của mình cho đứa bé
___________________________________________________________
TRANG 62 ĐA HIỆU SỐ 105
khác. Có khác chi mẹ nói: “Chia cho em đi con, món đồ
chơi này con không còn chơi nữa, chia cho bạn đi con.”
Phải là người có trái tim bao dung nhân hậu lắm,
thương yêu con người như con mình, mới làm được
những việc cao cả đó.
Rồi cả bốn mùa tôi được nghe những câu chuyện người
này được lắp bàn tay, người kia được thay bàn chân.
Giống như những phép lạ trong truyện cổ tích, có bà
tiên cầm chiếc gậy thần, quơ lên một cái, cho người sắp
chết được sống, người tàn tật trở thành bình thường.
Thế rồi, xuân tàn, hạ qua, thu chết, đông ngưng, nhưng
dòng đời vẫn chảy, sinh tử vẫn nối tiếp theo nhau. Tôi
lại được nghe, một nhân viên làm việc trong cơ quan
phụ trách phân phối nội tạng đã nói với đôi mắt rớm lệ:
“Cái xác người nằm đó, hiến tặng nội tạng của họ cho
những người đang cần. Cho dù khi sống họ có làm điều gì
nhầm lẫn tới đâu, tôi cũng chắc Thượng Đế sẽ tha thứ hết
cho họ.” Thượng Đế tha hết những lỗi lầm thế gian của
người hiến tặng nội tạng và những người nhận tặng vật
mang mãi cái ơn trong lòng họ đi suốt đời người.
Có bao giờ người ta nghĩ tới, ở mỗi nghĩa trang, nên
dựng một tấm bia ghi ơn cho những người hiến dâng
nội tạng. Vì chắc chắn trong bất cứ nghĩa trang nào
cũng có những cái hộp thân thể đã chôn xuống đất,
nhưng những bảo vật trong đó đã để lại dương trần cho
người khác thừa hưởng, một người họ chưa gặp bao giờ.
Trần Mộng Tú
Tháng 7/29/2015
(*) Nguồn trên mạng
___________________________________________________________
ĐA HIỆU SỐ 105 TRANG 63
Chị
Tôi
Đào Quý Hùng
K26
***********
Trích: Truyện
thật ngắn sau
1975: Chị Tôi.
Thằng nhỏ chạy
thụt mạng trên
bờ đê gồ ghề,
băng qua mấy thuở ruộng, miệng vừa la oai oái, "Má ơi, má ơi,
có...có .....", Chị đang gieo mạ giữa ruộng, chợt ngẩng đầu hỏi
vọng,"Gì đó ?". Thằng nhỏ reo lên, "Có thư từ Mỹ..". Chị giật
mình: "Gì ? Thư ai ?". "Thư của cậu Hùng má ơi !!!!". Chị chợt
tung nắm mạ giữa ruộng, ngã quỵ xuống, rồi lại cố ngoi lên,
chạy giữa đống sình lậy, "Đâu.. đâu.. đưa má coi". Chị cầm
chặt lá thư, quần ống cao ống thấp, không còn để ý gì khác,
như người điên, băng nhanh qua những thuở ruộng chạy bán
sống bán chết về nhà, mở vội lá thư, vừa đọc vừa khóc sướt
mướt. Mấy đứa con nhìn má cũng bùi ngùi khóc theo. Thư vỏn
vẹn có một trang giấy mà chị đọc mãi không bao giờ hết. Đêm
hôm đó, mấy đứa nhỏ cũng không ngủ được, thấp thỏm trong
mùng, thỉnh thoảng nghe tiếng má kêu,"Lạy Trời, em tôi còn
sống ..."
Nhớ một kỷ niệm đứa cháu kể nhân ngày giỗ chị (9 tháng 9).
ĐQH
***********
Nhà tôi ở Ngõ Huyện, gần nhà thờ lớn Hà Nội. Tôi sinh ra tại
nhà thương Phủ Doãn. Nghe lời thày tôi kể lại, một buổi tối
___________________________________________________________
TRANG 64 ĐA HIỆU SỐ 105
mùa hè năm 54, cả nhà tôi lặng lẽ thu vén đồ đạc, vội vã hốt
hoảng, bồng bế xốc vác nhau, vừa đi vừa chạy đến nhà thờ
Dòng Chúa Cứu Thế. Tại đây, đã có rất nhiều người tập trung
đông đảo, cùng những va li, đồ đạc lỉnh kỉnh. Từ đó, nửa đêm
từng chuyến xe chở đoàn người ra bến cảng Hải Phòng. Mấy
ngày sau những chuyến tàu há mồm bắt đầu đưa hằng trăm
ngàn người xuôi Nam. Gia đình tôi lúc bấy giờ có 5 anh chị em,
chị lớn nhất đã 15 tuổi, chị kế 11, anh tôi lên 7, tôi 3 tuổi rưỡi,
em kế tôi vừa tròn một tuổi. Tàu đến bến Bạch Đằng, đoàn
người ngơ ngác lũ lượt lên bờ, rồi lại được hướng dẫn leo lên
những chiếc xe nhà binh đã chờ sẵn. Xe chuyển bánh mà không
ai biết đi đâu, chỉ biết là không còn sợ hãi nạn dân quân đấu tố,
cũng nhờ vào chính sách di tản lánh nạn của chính phủ Cộng
Hòa đã đem người dân miền Bắc yêu chuộng tự do ra khỏi
những đe dọa đàn áp, giết chóc của đám cộng sản vô thần.
Đoàn xe chở gia đình tôi về quận Củ Chi, tỉnh Bình Dương.
Đến nơi đã thấy những tấm lều dựng sẵn, cho từng gia đình tạm
trú, mọi người được phân phát thực phẩm và những dụng cụ
cần thiết. Tôi gọi cha tôi là “thày” và mẹ tôi là “mẹ”. Mẹ tôi có
tính hay sợ ma, những căn lều tạm trú dựng lên ở sát cạnh rừng
cao su, ban đêm, khi phải ra khỏi lều đi vệ sinh, thấy thấp
thoáng những ngọn đèn ẩn hiện như bóng ai, làm cho mẹ tôi
càng đâm ra hoảng sợ. Thật ra, đó là những ánh đèn của toán
thợ cạo mủ cao su làm đêm. Mẹ tôi khăng khăng rằng khu này
trước đây là nghĩa địa, nên nếu không là những oan hồn vất
vưởng thì cũng là những tay trộm cướp rình mò người mới đến
định cư, bà nhất định đòi thày tôi phải tìm cách ra khỏi chỗ này.
Thày tôi trước đi lính Tây, sau giải ngũ làm ở sở ô tô điện Hà
Nội, lại quen với các cha Dòng Chúa Cứu Thế nên ông liên lạc
nhờ giúp đỡ tìm việc làm. Sau một thời gian, được một linh
mục giới thiệu vào làm việc tại trường trung học Jean Jacques
Rousseau ở đường Hồng Thập Tự, sau này đổi thành trường Lê
Quý Đôn. Đồng thời, thày tôi cũng tìm được một căn nhà nhỏ ở
khu đối diện nhà thương Nhi Đồng trên đường Sư Vạn Hạnh.
___________________________________________________________
ĐA HIỆU SỐ 105 TRANG 65
Thế là cả nhà lại dọn lên Saigon. Ngôi nhà lợp lá, ở trong căn
hẻm ngoằn ngoèo, thày tôi không thích, nhưng mẹ tôi lại sợ ở
mặt tiền đường cái, ồn ào, nguy hiểm. Về sau này, con đường
Trần Quốc Toản trở thành con lộ chính, rất phồn thịnh, tấp nập,
làm ăn buôn bán dễ dàng, bấy giờ mẹ tôi mới tiếc.
Chị lớn tôi, tên M., trước học trường bà sơ ở Hà Nội, khi vào
Nam tuổi lỡ cỡ, hơn nữa gia đình cần giúp đỡ nên chị thôi học.
Năm 17 tuổi, qua người quen giới thiệu, chị đến làm y tá giúp
việc cho bác sĩ T.N.N ở gần nhà thờ Huyện Sĩ. Chị có đồng ra
đồng vào và từ đấy tôi có tiền quà chị cho mỗi tháng. Chị kế tên
H. cũng được chị M. bao bọc và đi học tại trường N.B.T.. Mẹ
tôi lại sinh thêm một con trai út. Lương tư chức của thày tôi,
nuôi gia đình đã chật vật khó khăn, ông lại còn lén lút “đèo
bồng” bà hai mà ông gặp lúc làm ở sở ô tô điện, nên mẹ tôi phải
vất vả cố gắng đi buôn bán thêm mỗi ngày. Anh tôi vào chủng
viện PIO XII được hai năm thì bỗng một ngày, tự xách khăn gói
trở về nhà, nói là không tu được, năm sau, anh thi vào trường
Kỹ Thuật Cao Thắng. Năm 16 tuổi, anh được gọi dự tuyển vào
đội banh Thiếu Niên Việt Nam cùng với anh Nguyễn Kim
Quang sau này là tuyển thủ quốc gia. Học xong tiểu học, tôi
nộp đơn thi vào đệ thất ở hai nơi Chu Văn An và Trần Lục,
cuối cùng tôi chọn Trần Lục trên đường Nguyễn Đình Chiểu,
cũng là cơ sở của trường Tiểu Học Đồ Chiểu, vì gần sở thày tôi
làm, tiện đường cho ông chở tôi đến trường. Nhưng rốt cuộc, đệ
thất chỉ học nửa buổi nên thày tôi không đón được, mẹ tôi cho
tiền tôi đi xe buýt. Từ nhà tôi, khu Bệnh Viện Nhi Đồng đón
xe đến ngã tư Kỳ Đồng Trương Minh Giảng thì xuống xe đi bộ
khá xa mới tới trường. Đường Nguyễn Đình Chiểu, Tú Xương,
Đoàn Thị Điểm và Hiền Vương, hai bên nhiều chỗ có những
ngôi biệt thự đồ sộ sang trọng, tôi đoán là nhà của những ông
lớn bà lớn hay là những thương gia giàu có, những ngôi nhà
này lại thường có sân rộng trồng cây ăn trái như nhãn, xoài, ổi,
mận v..v. Mấy thằng bạn nhóc đi cùng, rủ tôi leo rào vào hái
trộm, có hôm bị chủ xua chó ra rượt đuổi, chạy bán mạng. Đôi
___________________________________________________________
TRANG 66 ĐA HIỆU SỐ 105
khi, lại nghe những tiếng đàn piano văng vẳng từ trong ra, thật
hay, thật du dương, tưởng tượng như của cô bé nữ sinh quí phái
xinh đẹp, dễ thương nào đó đang ngồi dạo đàn, tôi thấy lòng
xốn xang,tôi mê tiếng dương cầm từ dạo đó,mơ ước có ngày xa
vời nào … thày tôi có nhiều tiền cũng sẽ sắm cho tôi một cây
đàn….
Năm 18 tuổi anh tôi bỏ học ngang, nói thích đi lính và đăng vào
Không Quân ngành Quân Cảnh và dự định vào đội banh Không
Quân . Cuối năm đệ tam, khi đến nhà một người bạn chơi ,tôi bị
tai nạn lạc đạn cướp cò súng trúng sát cạnh trái tim, xe cấp cứu
chở vô nhà thương Saigon, hai ngày sau bác sĩ chê, nói chỉ chờ
chết. Mẹ tôi rất tin bói toán, nhờ một bà bạn xem dùm, bà này
nói số tôi không chết, sau này “cậu đi lính, làm quan, trên sông
biển”. May mắn thay, nhờ gia đình người bạn tận tình lo lắng
đưa vào nhà thương Grall cấp cứu, giải phẫu kịp thời và tôi đã
thoát nạn. Lên đệ nhị, lớp tôi đổi về học tại trường Chu Văn An
ở Ngã Sáu Chợ Lớn.
Tết Mậu Thân 1968, Việt cộng mở mặt trận tổng tấn công khắp
nơi, khu nhà tôi vùng Ngã Bảy, nhiều tên nằm vùng nổi dậy,
cầm cờ giải phóng đi vòng vòng trong xóm. Gia đình tôi phải
chạy lánh nạn ở Ngã Ba Ông Tạ, sợ có những tên chỉ điểm vì
thày tôi từng hoạt động trong Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia
dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, ông còn đang làm chủ
tịch giáo xứ Vinh Sơn và lại còn là khóm trưởng nữa. Rồi đám
Việt cộng cũng bị quân đội dẹp tan, ai trở về nhà nấy. Riêng
trường Chu Văn An còn được dùng làm nơi tạm trú thêm mấy
tháng cho các gia đình nhà bị thiêu hủy. Đầu tháng Ba sau Tết
Mậu Thân, một hôm, có anh lính Không Quân đến nhà tôi báo
tin, anh tôi đã bị thương do đạn pháo kích vào phi trường, mẹ
tôi hỏi, có sao không, anh nói đang điều trị tại bệnh viện Phan
Thanh Giản và mời thày tôi theo anh xuống Cần Thơ. Tôi tháp
tùng đi theo. Nào ngờ, đến phi trường Trà Nóc, Đại Tá Nguyễn
Huy Ánh đích thân ra đón, bắt tay, báo tin và chia buồn với
thày tôi là anh tôi đã tử thương. Ông phái một chiếc trực thăng
___________________________________________________________
ĐA HIỆU SỐ 105 TRANG 67
cùng một tiểu đội lính đưa quan tài và cha con tôi về Saigon.
Mẹ tôi đau đớn và bệnh hết mấy tháng trời. Tôi trở lại trường
mà lòng đầy những nỗi đau buồn, nhưng vì đã gần đến kỳ thi tú
tài một nên phải cố gắng. Cũng gần hè năm này, tôi thấy có
toán Sinh Viên Sĩ Quan Đà Lạt về trường Chu Văn An. Họ
thuyết trình và phân phát những tài liệu về Võ Bị. Trong bộ
quân phục oai nghiêm, ai trông cũng hồng hào đẹp trai, đám
học sinh đệ nhất bu quanh hỏi han rất đông.
Chị thứ hai của tôi định trở thành cô giáo gõ đầu trẻ nhưng cuối
cùng nhờ người giới thiệu nên xin được việc ở tòa hành chánh
thị xã Nha Trang. Xa nhà thì thày mẹ tôi không muốn, nhưng
chị nhất định đi nói là để giúp gia đình. Hai chị tôi đi làm xa,
anh tôi mất, tôi trở thành con lớn trong gia đình, lúc này tôi
cũng chẳng giúp được gì. Qua khỏi tú tài một, lên đệ nhất học
hành có phần sao lãng uể oải. Bạn tôi dần dà đã có nhiều người
nhập ngũ Thủ Đức, Không Quân, Hải Quân…..Tôi bắt đầu làm
quen với những quán cà phê Bình Minh, Chiêu, Làng Văn,
Thăng Long… ngồi cả hàng giờ nghe nhạc, suy tư vu vơ, thỉnh
thoảng lại đi chơi bi da với nhau. Tôi thường đi sớm về khuya,
thày mẹ tôi tuy không la mắng nhưng thỉnh thoảng cũng buồn
rầu nhắc nhở chuyện học hành. Sau Tết, một hôm tôi chợt nghĩ
đến hình ảnh anh chàng sinh viên Võ Bị Đà Lạt năm ngoái đã
vào trường, một cái gì đó làm tôi bị lôi cuốn và đâm ra háo hức.
Tôi cố tìm hiểu thêm, nhưng mà điều kiện trước tiên, bắt buộc
phải có mảnh bằng tú tài 2 cái đã. Tôi quyết tâm trở lại trường
lớp, bấy giờ các bạn đã bỏ xa tôi về sách vở, tôi phải bỏ nhiều
giờ cố gắng hết sức tự học thêm.
Hôm đi coi kết quả tú tài 2 về, thày tôi hỏi, tôi nói đậu, ông
móc túi cho tôi tiền, tôi khóc, lần đầu tiên tôi nhận được tiền
của ông, tuy không nhiều nhưng tôi biết đây là cả tấm lòng. Các
bạn tôi rủ tôi ghi danh học Luật, nhưng tôi nói với thày mẹ tôi
muốn đi lính, thấy ngăn cản không được,mẹ tôi khuyên hay là
vào Hải Quân như con của một bà bạn, tôi nói là tôi đã có sự
lựa chọn rồi, và tôi nộp đơn thi vào khóa 26 Võ Bị. Được chấp
___________________________________________________________
TRANG 68 ĐA HIỆU SỐ 105
nhận, đến đầu tháng 12 thì tôi lên đường đến Trung Tâm 3
Tuyển Mộ & Nhập Ngũ , từ đó được đưa qua những trại tạm trú
trước khi lên Đà Lạt khám sức khỏe. Ngày 24 tháng 12, năm
1969, khóa 26 chính thức nhập trường, bắt đầu cuộc đời binh
nghiệp.
Chị H. đang làm việc ở Nha Trang, tháng tháng vẫn gửi tiền về
giúp đỡ gia đình, chị quen và kết hôn với anh B., một ông sĩ
quan huấn luyện viên tại trung tâm huấn luyện Lam Sơn. Gia
đình bên chồng ở xã Suối Hiệp, quận Diên Khánh, hai vợ chồng
thuê căn nhà nhỏ xíu tại thành phố Nha Trang mà tôi đã có dịp
ghé thăm.
Giữa năm thứ hai, Phòng Tổng Quản Trị gửi một toán chuyên
viên lên trường làm một cuộc trắc nghiệm tâm lý. Không ai biết
đây là cách để phân loại ngành Quân Binh Chủng.Tôi có tên
trong danh sách xếp loại qua Hải Quân. Lạ thay, tôi đã từ chối
lời mẹ tôi đăng Hải Quân mà bây giờ tên tôi lại lọt vào danh
sách này. Tôi viết thư về kể cho mẹ, bà năn nỉ tôi hết sức, còn
dùng lời bà thày bói năm xưa đã đoán “cậu đi lính, làm quan,
trên sông biển” để khuyên tôi . Tôi nghĩ thương mẹ, bà đã đau
đớn mất con trai đầu, nên quyết định bằng lòng sang Hải Quân.
Ra trường, về Hải Quân, tôi phục vụ trên tuần dương hạm HQ2.
Cuối năm 1974, tôi được cử về Nha Trang học lớp huấn luyện
Trung Tâm Hành Quân. Có dịp gần với chị tôi. Anh B. bây giờ
đã ra nắm chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng thuộc SĐ 23, chị đã có 4
con, 3 trai một gái, lớn nhất là 8 tuổi và nhỏ nhất mới 11 tháng.
Cuộc sống của chị tuy còn vất vả nhưng tương đối dễ thở hơn
hồi trước tôi ra thăm. Bà Năm nhà có hai gian, gian trên để ở,
gian phía sau cho chị H mướn. Bà Năm có hai người con, một
trai 18 tuổi và một gái tên Ái Liên, 16 tuổi.
Đầu năm 1975 tôi trở về lại đơn vị. Công tác đầu tiên là đưa
trung đội Địa Phương Quân thuộc tiểu khu Phước Tuy ra thay
thế trung đội đang trú đóng tại đảo Nam Yết thuộc quần đảo
Trường Sa. Tai nạn lựu đạn nổ khiến một binh sĩ tử thương và
chiến hạm được lệnh đưa xác về lại Vũng Tàu. Sau đó lại trở ra
___________________________________________________________
ĐA HIỆU SỐ 105 TRANG 69
Trường Sa. Tháng 3, 1975 được lệnh tăng phái tuần tiễu tại
vùng I. Đêm 28 tháng 3, chiến hạm tiếp nhận các chiến sĩ đa số
là TQLC lên tàu tại bãi biển Non Nước, Đà Nẵng. Sau đó, đoàn
tàu đổ quân xuống hải cảng Cam Ranh và tiếp tục trở ra vùng
II. Lại một cuộc di tản dân quân nữa từ vùng II trở về Cam
Ranh.
Sau những chuyến công tác dài, chiến hạm được lệnh về bến
Bạch Đằng, và ngày 28 tháng 4 tôi ghé về thăm nhà thì bàng
hoàng hay tin anh B đã tử trận. Chưa kịp hỏi han gì nhiều thêm
thì sáng ngày 29 tháng 4 giới nghiêm, thày tôi sợ lộn xộn nên
bắt em tôi chở tôi trở lại tàu. Đêm 29 tháng 4, chiến hạm đầy
ngập người, thủy thủ trên tàu ngơ ngác không biết chuyện gì
đang xảy ra, rồi chiến hạm được lệnh nhổ neo ra khơi, trực chỉ
Phú Quốc, đoàn tàu tập trung tại đây và bắt đầu cuộc hành trình
đến Subic Bay, Phi Luật Tân.
Tôi ở trại tị nạn Fort Chaffee ba tháng thì được bảo lãnh qua
California. Sống chung với mấy người lính độc thân, vừa đi làm
vừa lo tìm đường học thêm. Cũng ráng nghe ngóng tin tức gia
đình, nhưng mãi đến năm 1978 mới nhận được lá thư đầu tiên
từ thày mẹ tôi, cho biết là nhà rất đỗi vui mừng. Bấy lâu nay gia
đình tôi đã không biết tôi sống chết ra sao, lại có tin là tôi bị
kẹt lại, bị bắt và đã chết. Chị M về với thày mẹ, chị H thì sau
khi chồng tử trận, hỗn loạn rồi cũng chẳng ai làm giấy khai tử
hoặc phát tiền tử tuất. Chị không còn nguồn tài trợ nên dần dần
hết tiền đóng tiền nhà, may nhờ cha mẹ chồng ở thôn Vĩnh Cát
thương tình cho về quê ở và nhường cho một ít đất làm ruộng,
nuôi con, rất là thiếu thốn, kham khổ. Chị bỏ quên hồ sơ giấy
bút, thay vào đó là lưỡi cày và liềm cắt cỏ với con trâu cái
nghé. Bùi ngùi, tôi vội vã gửi ngay lá thư đầu tiên về cho chị H
sau ba năm kể từ lúc tôi biệt tăm từ tháng 4, 1975. Tôi đi làm
thêm nhiều hơn, vừa đi học, mỗi tháng dành dụm ít tiền gửi một
phần cho thày mẹ, phần cho chị M và phần cho mẹ con chị H.
Những gói quà nhỏ bé không lớn lao nhưng gia đình cũng đỡ
khổ phần nào. Các cháu tôi tuy là con ngụy đã bắt đầu trở lại
___________________________________________________________
TRANG 70 ĐA HIỆU SỐ 105
trường. Tôi nhớ ơn và thương các chị tôi, tôi nuôi mộng lớn
hơn là bảo lãnh cả gia đình sang Mỹ nên quyết định đi làm giấy
tờ. Thày mẹ và chị M., các em tôi qua Mỹ trót lọt, riêng chị H.
lại bị trục trặc vì khi anh B. mất, không ai làm giấy khai tử cho
cả.
Mọi chuyện còn đang chờ đợi thì một hôm được tin dữ chị H.
đã bị đột quỵ, chở đi cứu cấp vài tiếng sau thì mất. Hôm giỗ
đầu của chị, cháu tôi có kể cho tôi nghe một khúc chuyện thật
.Tôi viết thành “Truyện Thật Ngắn Sau 1975” đưa lên diễn đàn
Khóa 26, xin lập lại như sau:
Truyện thật ngắn sau 1975: Chị Tôi
Thằng nhỏ chạy thụt mạng trên bờ đê gồ ghề, băng qua mấy
thuở ruộng, miệng vừa la oai oái, "Má ơi,má ơi, có...có .....",
Chị đang gieo mạ giữa ruộng, chợt ngẩng đầu hỏi vọng,"Gì đó
?". Thằng nhỏ reo lên, "Có thư từ Mỹ..". Chị giật mình: "Gì ?
Thư ai ?". "Thư của cậu Hùng má ơi !!!!" . Chị chợt tung nắm
mạ giữa ruộng, ngã quỵ xuống, rồi lại cố ngoi lên, chạy giữa
đống sình lậy, "Đâu.. đâu.. đưa má coi" . Chị cầm chặt lá thư,
quần ống cao ống thấp, không còn để ý gì khác, như người
điên, băng nhanh qua những thuở ruộng chạy bán sống bán
chết về nhà, mở vội lá thư, vừa đọc vừa khóc sướt mướt. Mấy
đứa con nhìn má cũng bùi ngùi khóc theo. Thư vỏn vẹn có một
trang giấy mà chị đọc mãi không bao giờ hết. Đêm hôm đó,
mấy đứa nhỏ cũng không ngủ được, thấp thỏm trong mùng,
thỉnh thoảng nghe tiếng má kêu,"Lạy Trời, em tôi còn sống ..."
Nhớ một kỷ niệm đứa cháu kể nhân ngày giỗ chị (9 tháng 9).
ĐQH
Lời cuối, xin cám ơn hai chị của tôi và tất cả những người chị ở
trên đời này đã hy sinh ít nhiều cho gia đình mình.
Đào Quý Hùng K26
Cảm động vì câu chuyện, thi sĩ Nguyễn Văn Ngọc và cũng là
bạn cùng khóa 26 đã viết tặng tôi bài thơ dưới đây:
___________________________________________________________
ĐA HIỆU SỐ 105 TRANG 71
Chị tôi
thơ: Nguyễn Văn Ngọc
tháng Tư, cơn hồng thủy thư và quà gởi chị
cuốn đời em trôi xa em gởi trọn lòng em
chồng chết trận ngày mơ phút giây đoàn tụ
cuối thấy lại nụ cười hiền.
chị khốn khó quê nhà.
một nách bốn con dại ôi định mệnh cay nghiệt
chị làm ruộng mưu sinh tin dữ đến một ngày
bàn tay xưa phấn, bảng bên kia trời xa lắc
giờ chai sạn, đen sình. chị đột quỵ, lìa đời!
xứ người đầy tất bật mấy đứa cháu côi cút
ngày xuôi ngược áo cơm mất thêm mẹ từ đây
đêm về thương nhớ chị chị em mình hẹn gặp
nước mắt em rơi thầm. đã như mây ngàn bay!
đâu rồi kỷ niệm cũ năm tháng qua vời vợi
đâu rồi bữa cơm xưa các cháu rồi lớn khôn
em rong chơi về muộn em vẫn đời lưu lạc
chị thức đợi, đèn khuya. giỗ chị, buồn ngập hồn!
___________________________________________________________
TRANG 72 ĐA HIỆU SỐ 105
Đà Lạt Tiễn Đưa
Phạm
Kim
Khôi,
K19
Xưa em ngắt cánh hoa đào nhỏ
Thả xuống hồn ta lúc tiễn đưa
(Nhớ Xuân Đà Lạt/ĐH103, Võ Văn Lê, K25)
Hôm tiễn đưa nhau Đà Lạt vắng
Mây trời thấp thoáng mắt buồn nhanh
Cầm tay âu yếm ân cần dặn
Anh nhớ về thăm em nhé anh
Anh hứa và không quên nhớ đâu
Mấy ai quên được thuở ban đầu
Nụ hoa hàm tiếu môi hồng nở
Đã luyến lưu lòng tự bấy lâu
Từ đó mỗi lần anh đến thăm
Nhà em hoa nắng trải đầy sân
Phố cao có cặp tình nhân trẻ
Đẹp nhất trên đời anh với em
Đà Lạt tiễn đưa buồn mắt nhung
Thiết tha tha thiết mặn môi hồng
Nghe như muốn níu thời gian lại
Xui bước chân đi thoáng ngại ngùng.
___________________________________________________________
ĐA HIỆU SỐ 105 TRANG 73
I
Ngày đầu ở SG
Năm 1965. Những ngày đầu ở Sài Gòn của một chàng
sinh viên đến từ xứ Huế, tôi lang thang lếch thếch trên các
vỉa hè, đôi chân mang đôi dép Nhật, tóc tai để dài...Tôi đã
làm đủ nghề để kiếm sống. Có chíếc áo Nil France đẹp nhất
cũng phải cầm thế mấy lần. Đêm nằm trên mui xe đò, nhìn
lên bầu trời đêm của Sài Gòn, trên những hàng lầu cao, để
mà nhớ Huế, nhớ quay quắt. Và đôi lúc không cầm được nỗi
chán chường, tôi vét hết tiền, chui vào động giang hồ rẻ tiền
gần đấy. Con nhỏ thấy tôi ngượng ngập thì cười lớn: "Cưng
ơi, về học bài đi, mai thi hỏng đi lính thì đời tàn đó cưng..."
Nhiều đêm không có chỗ ngủ, tôi phải lội bộ về trụ sở Tổng
Hội Sinh Viên ở đường Duy Tân cạnh nhà thờ Đức Bà, để
qua đêm. Lúc bây giờ, trụ sở mở cửa suốt ngày đêm, và tôi
đã lợi dụng những chiếc bàn dài để trống, để làm giường tạm
sau khi tất cả các sinh viên rời khỏi trụ sở. Và cuối cùng,
cũng nhờ những lần ngủ lại đêm như thế tôi mới khám phá
___________________________________________________________
TRANG 74 ĐA HIỆU SỐ 105
căn phòng bỏ hoang ngay hông của trụ sở tổng hội. Và như
vậy, lần đầu tiên tôi có một mái nhà, dù mái nhà dột nát, dù
không có điện nước, dù cửa sổ lúc nào cũng đóng kín mít.
Tôi chẳng khác một bóng ma. Tôi nhảy ra cửa sổ. Nhảy vào
cửa sổ. Bóng tôi biến mất rồi xuất hiện. Tôi nằm lắng nghe
tiếng chuông nhà thờ, và tiếng ve sầu rộn ràng cả một bầu
trời Duy Tân. Tôi nằm trong bóng tối nhìn những vì sao qua
những mảng trời trống trơn trên mái.
Căn phòng thật thảm hại. Nó đã bị những người thân
chính quyền giận dữ đốt phá sau những lần biểu tình của sinh
viên. Những cột kèo bị cháy đen, vách tường ám khói, nền
nhà đầy tro, và mái nhà dột nát nhiều mảng. Khi trời mưa
lớn, thì nền gạch ngập nước. Khi trời nắng, nền đầy những
tia nắng dọi vào, chiếu trên những chiếc ghế chiếc bàn xiêu
đổ hay bị cháy xém. Cám ơn hai phe biểu tình. Cám ơn
những con tim sôi sục phấn khích, những cặp mắt giận dữ
điên cuồng. Cám ơn lựu đạn cay, những ngọn lửa cuồng mê,
những chiếc xe bị đốt, những vòng dây kẽm chặn ở đầu
đường, cuối đường, để tôi có một nơi tá túc, để tôi kéo dài
cuộc sống của một thằng con xứ Huế giữa một Sài Gòn xa lạ
và vô tâm. Phải, thưa ba. Con đang sống giữa Sài Gòn này,
bình an lắm, giàu sang hoa lệ lắm, bạn bè nhiều lắm, học
___________________________________________________________
ĐA HIỆU SỐ 105 TRANG 75
hành cũng tấn tới lắm. Tôi đã gởi lá thư về Huế để kể với ba
tôi như thế. Phải, tôi chẳng còn bao lâu nữa thì tốt nghiệp kỹ
sư, giáo sư, bác sĩ, để mạ ba em phải ân hận, để em phải chặc
lưỡi tiếc thầm...Cám ơn đời. Cám ơn tất cả. Cám ơn
Dostoievki. Cám ơn người thanh niên trong Tội Ác và Hình
Phạt. Tôi nghe hồi chuông từ nhà thờ Đức Bà, mà mắt mờ lệ.
Rõ ràng, tôi đã dỗ dành tôi, an ủi tôi, nhưng đôi lúc tôi không
thể kiềm chế được nỗi mềm yếu trong cõi tận cùng cô độc
này, tôi hành hạ tôi đến mệt lã.
Nhưng rõ ràng, càng đói rách, lầm than, văn chương càng
thêm nương tựa. Sách vở thì cũng phải vất đi, khi cứ đọc
những trang báo hằng ngày đầy những tin chiến sự. Những
giờ tại giảng đường khoa học dài và buồn đến muốn khóc,
khi cứ nghĩ đến tương lai. Và những buổi chiều mưa giông,
mưa dầm dề cả quần áo, tóc tai, đi bộ từ trường về trụ sở
Tổng hội. Đôi chân mỏi nhừ. Qua bao nhiêu trạm cảnh sát
quân cảnh, chạm trán với bao nhiêu toán tuần tra. Trong
vòng đai, những chiếc xe GMC chở đám người bị thộp cổ về
trại nhập ngũ. Bên ngoài vòng đai, những họng súng của kẻ
thù chờ chực sẵn… Thế hệ của chúng tôi là vậy.
Cũng nhờ ở trụ sở tổng hội sinh viên mà tôi có cơ hội tìm
được một chân dạy kèm trẻ tại tư gia. Số là ở đây có một bộ
phận phụ trách kiếm việc làm cho sinh viên. Tôi được người
phụ trách cho biết có một gia đình cần tìm một người dạy
kèm trẻ, ăn ở luôn tại nhà, để kèm một bé trai 8 tuổi. Mừng
quá, tôi tìm đến nơi, và càng mừng hơn nữa là bà chủ ngôi
biệt thự lại là người Huế. Chị có cảm tình ngay với tôi khi tôi
giới thiệu tôi là sinh viên đến từ Huế, vì hoàn cảnh phải vào
Saigon học tiếp. Tôi đã dấu lai lịch của tôi. Tôi đã dấu những
ngày tháng mà tôi nổi lọan, thề bỏ Huế mà đi. Tôi đã dấu
trong đầu óc tôi, ngay giờ phút đầu tiên, vẽ ra một người đàn
bà quyền quí đầy quyến rũ khiến tim tôi rung động lạ
thường. Tôi nhớ đến những nụ hoa hồng thắm đỏ bên ngoài
khung cửa phòng, khi chị hướng dẫn tôi chỉ căn phòng tôi
___________________________________________________________
TRANG 76 ĐA HIỆU SỐ 105
sắp tạm trú. Những bông hồng rực rỡ như niềm vui của tôi
khi nghe chị chấp nhận tôi làm gia sư.
Trong thời gian này, tôi đã viết được một truyện ngắn kể
lại thời gian tôi giữ chức gia sư. Nhan để của truyện là Đêm
Sao Mùa Hạ. Truyện có nghĩa là bịa. Bởi vì tôi bất lực, nên
tôi phải bịa. Bởi vì tôi thèm khát nên tôi phải mơ tưởng. Ít ra
để ru tôi cùng nỗi cô đơn tận cùng này.
II
Em Saigon
Saigon năm 1967
Phải cám ơn em. Em của Saigon. Em của loài hoa ngọc
lan thơm ngát. Ơn Trên chắc đã động lòng mưa ngâu tháng
bảy nên cho một người nữ xuống giữa cõi nhọc nhằn. Nói gì
để tạ tình em. Nói gì để em hiểu là giọt lệ của em ngày xưa
vẫn còn như thấm và ấm trên má anh hôm nay.
Nhớ em, phải nhớ Sài Gòn. Phải nhớ chiếc áo dài trắng,
và mái tóc cắt demi garçon mà em mang đến. Nhớ em, nhớ
hơi hướm như còn vướng lại trăm năm. Nhớ em, đôi vai nào
nhỏ bé mềm
mại, hàm
răng nào
trắng như hạt
lựu, đôi mắt
nào lung linh
dưới nắng,
đôi môi nào
như mềm ướt
và thân thể
nào nóng
bỏng thịt da.
Nhớ em, em
___________________________________________________________
ĐA HIỆU SỐ 105 TRANG 77
Sài Gòn, hôm nào, tên anh được gọi. Trời ơi, ai đó cà. Ai
như từ tiền thân vì ta phải đọa. Ai lựa tên ta mà bốc nhằm. Ai
đến với ta khi thiên hạ bỏ ta mà chạy mà xa. Ai thả chiếc cầu
để ta được cơ duyên mà chụp. Cám ơn em. Cám ơn Tăng
Nhơn Phú. Nhờ Tăng Nhơn Phú ta mới được gặp Sài Gòn.
Cám ơn trong địa ngục ta vẫn còn thấy được thiên đàng.
Trong lò luyện thép ta còn hứng được một cơn mưa ân sủng.
Ôi trái tim Sài Gòn, giọng nói Sài Gòn, mái tóc Sài Gòn, má
lúm đồng tiền Sài Gòn, mềm mại mà nồng cháy, yếu đuối
mà cuồng nộ đam mê...Bởi rõ ràng như hôm qua, em ngồi
đấy, trên tấm vải nhựa ở khu thăm nuôi. Nắng Tăng Nhơn
Phú đẹp não nùng bởi vì có nắng Sài Gòn em mang đến. Em
gắp cho ta thức ăn như người vợ chiều chồng. Trời ơi, từ khi
sinh ra đến giờ, ta có bao giờ được ai chiều chuộng như em.
Số ta là số du thủ cô hồn, hoang đàng phóng đãng. Số ta lê la
đầu đường xó chợ, số ngủ bờ ngủ bụi mà. Số ta, sinh ra đã
nghe tiếng hí kinh hoàng của con ngựa chứng. Số ta, số luôn
luôn bom đạn, thù hận, tai ách do từ những thằng già ngồi
trong tháp ngà mơ tưởng đến thiên đường và bọn thực dân
phát xít luôn luôn rình mò tìm cách xâm lược. Số ta, cha mẹ
chia lìa, cha con một người một ngã, nhìn đâu cũng thấy
máu, máu, và máu. Số ta, đêm trốn chui trốn nhủi dưới gầm
bàn, xó nhà để tránh đạn, tránh bố ráp... Số ta, tiếng khóc đầu
tiên không phải là khóc cho một kiếp người mà là tiếng khóc
của một thế hệ sinh ra trong thời ta bà mạt kiếp. Số ta, cái số
thế hệ chiến tranh, số rớt tú tài anh đi trung sĩ,... Số ta, không
tình nhân, không bằng hữu. Ngày thứ bảy không có một
người đến thăm. Không ai dư bố thí cho giọt lệ thừa. Như
vậy mà em đến với ta, thì quả tim em là tim bồ tát rồi.
Ta đã nói trăm lần, ta phải cảm tạ Tăng Nhơn Phú. Bởi vì
nhờ Tăng Nhơn Phú mà ta được yêu Sài gòn và được yêu
em. Nhờ có Tăng Nhơn Phú mà bỗng dưng Sài Gòn trở nên
gần gũi. Nhờ có Tăng Nhơn Phú mà trước lạ sau quen con
gái Sài Gòn qua thơ Nguyên Sa, qua văn Duyên Anh. Ôi
Tăng Nhơn Phú, đồi gian khổ mồ hôi, may mà trên bầu trời
vẫn còn có những vì tinh tú sáng để ta còn nhìn về phía Sài
___________________________________________________________
TRANG 78 ĐA HIỆU SỐ 105
Gòn, mà mong mà nhớ. Nhờ có Tăng Nhơn Phú, mà ta mới
đổ mồ hôi để còn có em đem cho ta cơn gió mát. Nhờ có
Tăng Nhơn Phú mà em đã tìm đến ta, vào ngày cuối tuần,
mang theo những món đồ thăm nuôi rải theo nước thánh. Ta
ăn dù chua, cũng thành ngọt, dù cứng cũng thành mềm... Em
hỏi ta có cực không, khiến lòng ta tở mở: Thấm tháp gì. Ta
bị phạt 50 lần hít đất nhảy xổm vì tội để giày bẩn, nhưng ta
phóng đại bị phạt cả trăm lần... Làm như Thủ Đức là một lò
luyện thép... Rồi em cứ bắt ta kể chuyện quân trường. Em
nói em thương các anh sinh viên sĩ quan Thủ Ðức quá. Em
càng làm ta kiêu hãnh.
Cám ơn em. Em đã làm đời ta thôi buồn thảm như con bò
trong đàn bò về thành phố từ bài hát của TCS mà Khánh Ly
đã rên rỉ đến đứt đoạn: Ðàn bò về thành phố đêm buồn vắng
buồn hơn... Bởi vì nếu không có em, chắc bước chân ta sẽ
phải thất thểu trên những vĩa hè Sài Gòn để mà tủi thân. Bởi
vì không có em làm sao ta hiểu được một Sài Gòn độ lượng
bao dung, con gái từ tâm cho mà không cần đặt câu hỏi. Ôi
Sài Gòn, ta tự hào hãnh diện có bộ ngực mềm mại, có bờ vai
nhỏ bé, có con tim như vang những tiếng chuông chùa nhà
thờ... Cần gì sắc đẹp nghiêng ngửa não nùng. Các em ấy đã
có phần hết rồi. Bởi Sài Gòn nhiều tướng tá lãnh tụ, chính trị
gia, nhà văn nhà thơ tài hoa, tài tử đóng phim đẹp trai, những
chàng trai mặc đồ bay, súng ruleau hoa mai vàng trắng...Còn
ta chỉ là thằng đang chuẩn bị trở thành một trung đội trưởng
bộ binh, chẳng biết nhảy đầm, hay biết lái xe để đưa em dạo
phố. Ta chỉ có đôi chân. Ðôi chân sẽ lội bộ, sẽ trèo đèo vượt
suối, sẽ chạy sẽ ngập sình sẽ dẫm trên từng tấc đất đầy tai
họa. Ðôi chân sẽ dẫm trên từng tấc đất của quê hương, cho
dù một ngày nào đó, sẽ bị què bị cưa bị cụt. Ðôi chân chống
lấy thân người nhưng cũng chống đỡ những hòn đá nặng của
lịch sử.
Và con tim. Con tim đang thì thầm, em có nghe không
đấy. Nó đang nói về một niềm hạnh phúc. Bởi vì tuy gia tài
của một tên thanh niên không có gì hết, nhưng em có nghe
___________________________________________________________
ĐA HIỆU SỐ 105 TRANG 79
tiếng còi tàu từ hướng sông Sài Gòn đang vọng về như chúc
mừng chúng ta, và trên bầu trời, muôn vàn tinh tú, sáng lung
linh, gần nhau, sát nhau, như anh và em. Như buổi chiều Sài
Gòn trời đổ cơn giông, ôi cơn mưa ân sủng không ngờ một
ngày chúng trở thành những cơn mưa vĩnh cửu.
oOo
Ngày cuối cùng, anh và em theo xe lam ra xa lộ. Em
cũng chẳng hỏi anh một nơi anh sẽ đến. Anh cũng chẳng cần
bận tâm nơi anh sẽ về. Trời xám màu chì. Vách lầu dựng hai
bên. Chúng ta đi. Ði đâu cho hai kẻ sắp chia tay. Chỉ biết
hiện tại. Chỉ bấu víu vào giờ khắc hiện hữu. Ði đâu. Ðến một
nơi không có bóng người. Một nơi, mà trăng sao rất gần, rất
sáng. Một nơi không còn nhớ đến chiến tranh, thù hận truyền
kiếp. Trong bóng đêm, anh ôm xiết em, hôn, như chưa từng
được hôn, khắp thân thể em. Mặc mưa. Thân thể chúng ta
lấm đầy bùn đất, Chúng ta lăn tròn bấu víu như cố giữ chút
hơi hướm còn lại trước khi từ ly. Mưa rót vào mắt em. Anh
hôn lên đôi mắt. Mưa thấm vào bờ ngực em. Anh úp mặt vào
ngực em, áp miệng môi anh lên hai vùng đồi căng cứng.
Thỉnh thoảng những trái sáng òa vỡ trong đêm, xa xa. Vài
ánh đèn pha soi thủng cõi lòng mưa tối. Một đoàn xe đang
chuyển quân. Ðừng sợ khi nghe tiếng trọng pháo ở căn cứ
nào đó trong vùng vang vọng lại ầm ầm. Cám ơn em. Em
làm anh cảm kích. Em đã cho mà không cần đòi hỏi. Em đã
hiểu thế nào là tâm trạng của một kẻ sắp sửa đối diện với
chiến tranh.
Và chúng ta đã bấu víu, lăn lộn, quằn quại như hai con
thú. Chúng ta không còn hiện hữu nữa. Mặc cõi đêm tai hoạ
này. Mặc những âm thanh buồn bã từ một mặt trận nào đó
vọng về. Mặc mưa. Mặc bùn đất nhão nhẹt. Hơi nóng như
ngùn ngụt cháy. Luỡi miệng ngốn ngáo. Tiếng la rên kích
ngất như niềm hoan lạc tận cùng được kết tinh từ sự sợ hãi,
mất mát, ngăn cách chia lìa, và sự thèm sống mãnh liệt của
một thế hệ đã bị trù dập quá nhiều.
___________________________________________________________
TRANG 80 ĐA HIỆU SỐ 105
III
Đứng giữa Sài Gòn
Trước năm 1975, tôi đã nhìn Sài Gòn bằng cái nhìn của
một kẻ lạ. Tôi chưa bắt gặp cái rung động của một đứa con
trở về, bởi nơi nào là quê hương tôi, nơi nào chôn giữ kỷ
niệm ngọc ngà của tôi, nơi nào, người mẹ chờ con bên khung
cửa, nơi nào có bát cơm nóng sốt, nơi nào có bản tình ca, có
giàn hoa giấy? Tôi chưa bắt gặp cái nao nức của một người
viễn khách được thấy lại quê hương. Thay vào đó, là những
cánh cửa sắt đóng kín, là những xóm chơi bời bẩn thỉu, là
chỗ để tôi đến và lại đi trong quãng đời làm tên lính trận, là
đêm la cà cùng rượu, đàn bà, là ngày hối hả, gấp rút bên
những chai bia tại đường Phan Thanh Giản hay Phạm Ngũ
Lão mỗi lần tôi từ cao nguyên về phép tại Sài Gòn. Sài Gòn
không hề biết những đêm tôi và đồng đội thức trắng trên các
gò mả, hay bãi tha ma. Sài Gòn không hề biết đại đội tôi,
tám mươi người, chết và bị thương hơn một nửa chỉ trong
một trận. Sài Gòn không hề biết chúng tôi đổ máu và nước
mắt để Sài Gòn ăn chơi phè phỡn, để một lũ tai to mặt lớn
vinh thân phì gia... Sài Gòn không hề bận tâm, thắc mắc. Sài
Gòn vẫn kín cổng cao tường, đêm nồng nặc á phiện và đô la.
Sài Gòn đôi khi muốn lấy súng bắn lên cao cho hả giận.
oOo
Nhưng có kẻ đã lấy súng để bắn thay tôi. Bằng hỏa tiễn,
đại bác và đâm tim Sài Gòn bằng lưỡi lê. Trong trại khổ sai,
ngày ngày chúng tôi nghe hoài cái điệp khúc: "Từ thành phố
này, người đã ra đi ...", vọng từ các loa trong trại, cái điệp
khúc ấy càng giúp tôi thấm thía được hai chữ Sài Gòn mà có
một thời, từ lâu, tôi vô tâm, phẫn nộ. Một thời tôi sống làm
kẻ vô ơn. Cái mất mát ghê rợn khiến tôi phải giật mình,
muốn đập đầu cho phun máu. Tại sao mình lại ước mơ hai
miền Nam Bắc thống nhất, con tàu suốt một ngày hú còi
chạy băng băng từ Sài Gòn ra Hà Nội, và mọi người ôm
___________________________________________________________
ĐA HIỆU SỐ 105 TRANG 81
nhau mừng mừng tủi tủi vì hết chiến tranh, hết hận thù. Sự
thật bây giờ là đây: Kẻ thống trị, đang chửi rủa, đang đào mả
tổ tiên ông bà, đang cáo buộc Sài Gòn là một ổ điếm khổng
lồ,...
oOo
Sau tháng 4-1975, tôi chỉ còn một lần về lại Sài Gòn. Lần
này, trở về trong tâm trạng rối bời của một đứa con sắp rời
xa tổ quốc, trong cái tang thương của một kẻ tù hàng binh, và
trong nỗi lo âu của mội tên đang bị kiềm tỏa ...Tôi về để nhìn
lại nó một lần cuối. Và Sài Gòn bấy giờ, dù thật như tiếng
nói đầu môi, thật như sợi tóc, gương mặt của người con gái
giang hồ, gần gũi như một điều hết sức bình thường, nhưng
nghe như chừng trăm đau ngàn đớn như một thí nghiệm tàn
bạo về sinh vật học.. Sài Gòn, bây giờ, ứa nước mắt như câu
thơ:
“Tôi bước đi, không thấy phố thấy nhà,
chỉ thấy mưa sa trên nền cờ đỏ ... »
Sài gòn bây giờ mất rồi. Mất hết ! Mất một Sài Gòn mà
hôm nào, tôi còn trở về từ một chuyến bay quân sự từ Ban
Mê Thuột, ra cổng phi trường Tân Sơn Nhứt, đón chiếc xe
lam, trốn Quân Cảnh, qua Viện đại Học Vạn Hạnh, nhảy
xuống, ghé quán Nắng Mới, chẳng vì cô hàng quán có mái
tóc dài mun làm cảnh, mà vì chẳng có nơi nào để mà trở về.
Mất một Sài Gòn ngày nào, tôi còn trở về, đêm chạy Honda,
nghe gió Bạch Đằng lồng lộng trong ngực, trong phổi, nghe
mùi bánh cuốn từ góc hẻm Phan đình Phùng, Cao Thắng.
Mất một Sài Gòn hôm nào, tôi còn đứng ngã năm ngã
bảy, còn buồn tình để tóc dài, chui vào Vĩnh Lợi gặm ổ bánh
mì, còn thất tình đến cột đèn mà nghe âm hưởng bản nhạc
Aimez vous Brahms từ rạp Lê Lợi vọng lại. Đó, Sài Gòn,
hôm qua, mới là của tôi, của da thịt tôi, của hai chân, hai tay
tôi. Để tôi được đi đứng thong thả, ung dung, mắt nhìn ngang
nhìn dọc, gặp bè bạn xa cách, ôm nhau mừng mừng tủi tủi,
___________________________________________________________
TRANG 82 ĐA HIỆU SỐ 105
tưởng mày chết từ lâu, tưởng mày cụt giò, cưa tay, hay nằm
trong xó rừng, xó núi nào đó. Sài Gòn, hôm qua, là của tôi,
dù một hai đêm ngủ trại Lê Văn Duyệt, mùi rệp, mùi nước
tiểu và mười ngày trọng cấm...
Nhưng giờ đây rõ ràng, nó không còn là của tôi nữa. Mắt
tôi không còn nhìn ngang ngó dọc nữa. Bạn bè tôi không còn
gặp để mà ôm nhau mừng mừng tủi tủi nữa. Ngã năm ngã
bảy tôi không còn đứng đợi nữa. Trại Lê Văn Duyệt tôi
không còn tạm trú nữa...
Nỗi mất mát đến độ ngẩn ngơ bàng hoàng. Từ miệng câm,
tai điếc, mắt mù, từ hai chân đứng giữa một nơi quen thuộc
mà cứ ngỡ như đang đứng giữa một cõi nào quá xa lạ. Từ vĩa
hè, đến mái ngói, vách lầu, con đường, người phố.
Rõ ràng, Sài Gòn không còn là Sàigòn của tôi nữa. Dù tôi
đang đứng giữa Sài Gòn.
IV
Tôi vẫn chưa mất Saigon
Bạn bè trách tôi mấy mươi năm chưa một lần trở lại
Saigon. Họ làm sao biết là tôi đã có một Saigon của riêng tôi,
tôi cất giữ nó làm của riêng cho mình. Đó là Saigon ngày
tháng cũ của thời tôi còn là thằng sinh viên khốn khó, Saigon
của những ngày tôi làm lính trận ghé về thăm vội
vã,…Saigon đó là Saigon trong tôi. Saigon với tôi là muôn
thuở, không mang tên “bác” chú nào cả,….
Hồn tôi trăm ngả Bàn Cờ
Cám ơn em
mái hiên nhờ đụt mưa
Bây giờ hạt nặng hạt thưa
Tôi mang nỗi nhớ
đụt nhờ ai đây ?
___________________________________________________________
ĐA HIỆU SỐ 105 TRANG 83
Ví dụ, một chuyến xe lam Saigon-Gia Định chẳng hạn:
Gặp em trong chuyến xe về muộn
Trăng đã lên trên khu Hàng Xanh
Đường qua Gia Định chia trăm ngả
Có ngả nào em hiểu tình anh ?
Có phải anh ngồi không nói năng
Lòng anh như đã nói trăm lần
Mắt em như cả trời Lê Lợi
Mái tóc em thoảng gió Bạch Đằng
Có phải em là Gia Long
Để anh về không ngủ
Cho lòng anh hạ đỏ
Sân trường thêm bâng khuâng
Có phải em là Trưng Vương
Để anh về trước cổng
Thèm màn mưa rất mỏng
Mềm sợi tóc nhớ nhung
Có phải em Saigon
Kiêu sa và hoa lệ
Hồn nhiên và tươi trẻ
Rộn ràng như chim non
Gặp em trong chuyến xe về muộn
Trăng đã lên trên khu Hàng Xanh
Saigon- Tân Định trăm ngàn ngả
Có ngả nào em hiểu tình anh ?
Trần Hoài Thư
___________________________________________________________
TRANG 84 ĐA HIỆU SỐ 105
Những đồng đội từ chiến trường xưa
Quả thật không còn gì thú vị hơn mỗi khi được gặp lại những
đồng đội từ chiến trường xưa. Sự sống và cái chết chỉ còn là
một khoảng cách mong manh. Chính điều đó đã làm nên tình
thương yêu vô bờ bến của những người đồng đội. Ngay trong
tình thương yêu của gia đình cũng chưa chắc đã có những
giây phút như thế này.
Hàng ngày tôi vẫn nhận được khá nhiều thư điện tử mà
chúng ta quen gọi tắt là “meo” của nhiều bạn bè, trong đó
thường một nửa là những đồng đội xưa hoặc mới quen.
Chúng tôi không hề nghĩ đến cấp bậc đó là gì, nhưng nhiều
anh vẫn rất giữ lễ nghĩa khi viết cho người có cấp cao hơn
hoặc nhiều tuổi hơn, anh em lại trịnh trọng viết “thưa niên
trưởng”. Điều đó có nghĩa là anh em vẫn hiểu nhau, vẫn cứ
“hệ thống quân giai” như khi còn cùng nhau ở trong
QĐVNCH làm cho gần nhau hơn và cuộc sống còn “có anh
có em” ấm lòng hơn. Qua những cái meo, tôi biết các bạn ở
nước ngoài thường kiếm dịp gặp nhau, dù chỉ để ngồi uống
cà phê “đấu láo”, nhất là vào những dịp có ngày kỷ niệm đặc
biệt như ngày Quân Lực, có một số anh em tổ chức buổi lễ
___________________________________________________________
ĐA HIỆU SỐ 105 TRANG 85
kỷ niệm rất long trọng, những cuộc họp khóa từ Võ Bị Đà
Lạt đến SQ Trừ Bị Thủ Đức, đủ mọi khóa, đủ mọi hình thức.
Ngoài ra nhiều vị còn tổ chức những địa điểm lý tưởng để
vinh danh chiến sĩ VNCH.
Tôi ở Sài Gòn quá thèm những sinh hoạt như thế và tôi ghen
tị với các bạn ở nước ngoài hạnh phúc quá. Ở VN chúng tôi
chỉ biết âm thầm nghĩ về những ngày tháng cũ. Anh em đồng
đội đôi khi gặp nhau lại nhỏ to chuyện xưa chuyện nay.
Những ai còn ở lại VN
Nhiều bạn nghĩ rằng ở VN chỉ có tôi là SQ ở lại, nhưng thực
ra không phải thế. Còn khá nhiều sĩ quan đủ mọi thành phần,
vì lý do này lý do khác không đi định cư ở nước ngoài. Bạn
hãy cứ hỏi ngay mấy ông SQ Không Quân, ở đây có hẳn một
club chừng hơn 10 anh em còn ở lại. Đôi khi tôi cũng đã gặp
những ông bạn này. Còn một số lớn khác là những anh em
hạ sĩ quan và những anh không đủ tiêu chuẩn đi HO và đặc
biệt là các anh em Thương Binh VNCH đang sống rất cùng
khổ ở VN. Tôi đã từng có một loạt bài viết về cuộc sống của
những anh em này. Nhưng sau đó, tôi bị CA đến nhà tịch thu
hết máy móc, CD, USB và tài liệu. Bị gọi ra truy hỏi về việc
giúp đỡ anh em Thương Binh VNCH. Tôi trả lời đó là bổn
phận của tôi vì anh em TB VNCH không hề được hưởng bất
___________________________________________________________
TRANG 86 ĐA HIỆU SỐ 105
cứ sự giúp đỡ nào của nhà nước hiện nay. Trong khi Thương
binh miền Bắc được chính phủ cho hưởng nhiều quyền lợi xã
hội. Nhưng họ yêu cầu tôi ngưng làm việc này, chính phủ
VN sẽ lo. Họ có lo hay không các bạn biết rồi! Thêm nữa, họ
vận động một số phần tử thiên cộng đánh phá công việc của
tôi bằng nhiều cách khác nhau kể cả xuyên tạc vu khống. Tôi
đành phải ngưng việc này, tuy nhiên tôi vẫn quen biết với
khoảng 200 anh em TB ở đây và cứ vào dịp Tết, năm nào
cũng có chừng 7-8 anh em thuộc nhiều binh chủng khác
nhau đến nhà tôi chúc Tết. Tình nghĩa của chúng tôi vẫn mặn
nồng. Tôi biết rõ ở Mỹ đã và đang có nhiều hội đoàn, nhiều
tờ báo, nhiều vị ân nhân (trong đó có anh Nam Lộc) vẫn
thường xuyên kêu gọi giúp đỡ anh em TB VNCH. Anh em
không bao giờ bị bỏ rơi, mọi người VN vẫn nhớ ơn các anh.
Như thế dù vẫn còn nghèo khó nhưng anh em rất ấm lòng.
Gặp mặt đồng đội vẫn là điều thú vị nhất trong cuộc sống
của chúng ta hiện nay, hầu hết đã có tuổi. 40 năm trôi qua,
tuổi đời đã chồng chất. Có nhiều anh em không còn đi lại
bình thường được nữa, đành “ôm hận” nằm nhà nhớ những
buổi gặp mặt năm trước. Tôi cũng ở trong hoàn cảnh đó thôi.
Chỉ còn gặp đồng đội qua internet và một số sách vở hoặc
qua các trang web.
Hôm nay tôi muốn kể với các bạn đồng đội một chuyện về
gặp lại những người đồng đội từ chiến trường xưa qua một
cuốn sách. Có điều đặc biệt đó là người phóng viên quân đội
kể lại những mẩu chuyện vô cùng lý thú từ chiến trường xưa,
những trận đánh anh dũng ác liệt mà anh đã từng tham dự
cùng nhiều câu chuyện khác về hành trình cuộc vượt ngục đi
tìm tự do. Ở đây tôi chỉ nói đến những gì tôi biết và trực tiếp
làm việc cùng anh em phóng viên tiền tuyến xưa.
Cuốn sách vừa viết xong, anh gửi cho tôi qua e mail, có lẽ sẽ
được nhà xuất bản Tiếng Quê Hương cho ra mắt vào tháng 9
hoặc tháng 10 sắp tới, có cả bản dịch sang tiếng Anh. Cuốn
sách quá hấp dẫn nên tôi đọc một đoạn rồi bị lôi cuốn, thức
luôn cả đêm đọc hết hơn 600 trang. Bạn đọc Đa Hiệu sẽ là
những người đọc đầu tiên. Tôi viết bài trong phần mở đầu
cho cuốn sách. Mời bạn cùng đọc trước bài này.
___________________________________________________________
ĐA HIỆU SỐ 105 TRANG 87
Gặp lại người bạn phóng viên từ chiến trường xưa
Từ Sài Gòn, tôi nhận được bản thảo tập hồi ký này của
Dương Phục và Vũ Thanh Thủy từ Mỹ gửi về. Thật tình tôi
vui mừng như được gặp lại hai người bạn đồng nghiệp cùng
là phóng viên chiến trường từ những ngày xa xưa.
Với 621 trang cả hai cùng viết từ năm 1979 cho tới nay, tính
ra đã là gần 40 năm, quả là một tác phẩm lớn cả về số lượng
và chất lượng. Tác giả còn sưu tập được cả những bức hình
chiến trường và nhân vật tưởng như không bao giờ còn nữa.
Bài này chỉ là những cảm nghĩ của tôi về cặp phóng viên
này. Suốt một đời dành cho sự nghiệp phóng viên.
Có lẽ nhắc đến hai cái tên Dương Phục và Vũ Thanh Thủy,
các cấp chỉ huy từ cấp quân đoàn đến tiểu đoàn của Quân
Lực VNCH trước năm 1975 rất nhiều vị còn nhớ. Tôi nói
không quá lời, đó là một cặp “trai tài gái sắc” của hàng ngũ
phóng viên chiến trường thời chiến tranh VN đã qua. Họ
chẳng kém gì các phóng viên quốc tế đã từng làm phóng sự
chiến trường ở VN. Bạn đọc từng chương mục trong hồi ký
này, sẽ chứng minh điều đó. Nhưng điều tôi muốn nói ở đây
là những gì tôi biết về Dương Phục khi còn làm việc chung
với tôi, còn Vũ Thanh Thủy cũng chẳng xa lạ gì khi bóng
hồng này vẫn ra vào thấp thoáng tại Đài Phát Thanh Quân
Đội.
Tôi biết Dương Phục từ trước khi về làm Quản đốc Đài Phát
Thanh Quân Đội (PTQĐ) bởi ngay từ khi còn là trưởng
Phòng Báo Chí Quân Đội, tôi vẫn kiêm nhiệm chức vụ phụ
tá trưởng Khối Kỹ Thuật. Khối Kỹ Thuật gồm có 5 phòng
trực thuộc, đó là Phòng Phát Thanh Quân Đội, sau đổi là Đài
Phát Thanh Quân Đội (ĐPTQĐ) và các phòng Báo Chí, Ấn
Họa, Điện Ảnh, Truyền Hình, Văn Nghệ. Nhiệm vụ của tôi
là phụ tá chuyên môn, công việc thường xuyên của tôi là
thành lập các toán phóng viên đi công tác tại khắp các chiến
trường vào thời chiến tranh nóng bỏng đó (1960 -1975).
Toán này thường có phóng viên của ĐPTQĐ, báo chí, điện
ảnh, truyền hình. Trong toán này, anh nào có cấp bậc lớn
nhất thì làm trưởng toán.
___________________________________________________________
TRANG 88 ĐA HIỆU SỐ 105
Phóng viên của Đài PTQĐ thường là sĩ quan nên được cử
làm trưởng toán. Dương Phục thường lãnh nhiệm vụ này và
tôi phải lo phương tiện chuyển vận cho các phóng viên đến
được các nơi cần thiết, rồi lo tiền công tác phí cho cả toán.
Bởi hồi đó quân đội chỉ trả công tác phí giới hạn có 10 ngày
trong 1 tháng cho dù anh đi 30 ngày cũng thế thôi. Tôi phải
lo ngân khoản phụ giúp cho anh em. Phóng viên nào chẳng
“rách”. Dương Phục còn rách hơn vì đi công tác triền miên,
không “đói” sao được.
Khi về nhận trách nhiệm ở Đài PTQĐ, tôi hiểu rõ vì sao
Dương Phục đi triền miên như vậy. Vì hồi đó chiến trường
VN trở nên sôi động, nhiều trận đánh ác liệt hơn hẳn những
năm trước. Một phần vì cái tính của Dương Phục là thích đi,
không đợi được phân công mà chính anh xin đi. Tôi cũng
chẳng có lựa chọn nào hơn. Vả lại cá tính của mấy anh
phóng viên là như thế. Và tôi nghĩ “có tài thì có tật” nên đôi
khi Dương Phục cũng bất cần đời, vắng mặt không lý do, tôi
coi như không biết. Làm sếp mấy anh phóng viên thật khó.
Phải đối xử với họ bằng tình cảm anh em đồng nghiệp thật
tình chứ không phải là khẩu hiệu “huynh đệ chi binh” là
xong.
Có thời gian mới về làm trưởng phòng báo chí, tôi vẫn phải
đi làm phóng sự vì hồi đó phòng báo chí chỉ có chừng 5-7
người. Không đi thì ai đi cho? Nhưng so với các phóng viên
chiến trường thời chiến tranh sau này thì hồi đó tôi đi làm
phóng sự cứ như đi “thưởng nguyệt xem hoa” thôi. Bởi hầu
hết là tham dự các lễ lạc, ngày kỷ niệm tại Phủ Đầu Rồng, tại
Bộ Tổng Tham Mưu, tại các Bộ Tư lệnh Quân Đoàn, Sư
Đoàn. Lâu lâu mới có vài trận đánh nhỏ, khi đến nơi thì cuộc
chiến đã xong, chỉ còn việc nghe thuyết trình và ghi chép về
làm phóng sự cho Đài phát thanh và viết bài cho báo Chiến
Sĩ Cộng Hòa.
Sau này, chúng tôi mới được phép đào tạo một loạt Phóng
Viên Tiền Tuyến tại Đài PTQĐ. Các phóng viên tiền tuyến
này sau khi mãn khóa được đưa về các sư đoàn làm tin tức
và phóng sự gửi về cho đài PTQĐ.
___________________________________________________________
ĐA HIỆU SỐ 105 TRANG 89
Dương Phục lúc đó đã nghiễm nhiên là một phóng viên đàn
anh. Anh đi tơi bời, dường như mặt trận lớn nào cũng có gót
chân Dương Phục. Tôi để Dương Phục tự do lựa chọn theo ý
mình. Bởi thật ra những phóng sự chiến trường của Dương
Phục được thính giả trong và ngoài quân đội đón nghe rất
nhiều. Phóng sự rất sống, rất thật, đem đến cho thính giả cảm
tưởng như chính mình tham dự vào đó.
Tôi nhớ rất rõ khi nhận được bản tin phóng sự thu thanh của
Dương Phục bay vào An Lộc, bị bắn hạ giữa đường. Anh
tường thuật ngay từ khi máy bay trực thăng chở anh cùng
Nguyễn Mạnh Tiến và Nguyễn Thế Tuất Hải bị đạn bắn xối
xả, máy bay chao đảo muốn rớt và muốn nổ tung. Tiếng anh
hét lên trong máy thu thanh cùng với tiếng súng, tiếng máy
bay, tiếng người la lối có vẻ hỗn loạn trong tình thế đối diện
với tử thần. Anh gửi lời chào từ biệt đến thính giả nghe đài.
Nhưng cuối cùng máy bay của anh đáp xuống giữa quốc lộ
13 và được một trực thăng bạn đến giải cứu. Ngày sau đó,
anh và toán phóng viên lại lên đường vào An Lộc.
Đài PTQĐ và Đài Saigon cùng phát cấp tốc phóng sự đó. Có
lẽ đây là phóng sự làm tôi thú vị và hãnh diện nhất trong
cuộc đời làm việc với các phóng viên tiền tuyến.
Ngoài ra còn rất nhiều phóng sự khác của Dương Phục từ An
Lộc đến cổ thành Quảng Trị… Kể làm sao hết những kỷ
niệm xưa.
Ngày 30 tháng 4, 1975, ngày đau buồn nhất của cả VNCH
hay nói cho đúng là ngày đau buồn cho cả nước, nhất là với
các đồng đội của tôi, những người lính VNCH. Giờ phút
cuối cùng tôi và một số anh em còn ở lại Đài PTQĐ, tôi nhớ
có cả Nhật Bằng, Nguyễn Triệu Nam, Dương Phục, ngơ
ngác đau buồn nhìn chiếc xe tăng Cộng Sản đi qua cầu Thị
Nghè, hung hăng bò qua cổng Cục Tâm Lý Chiến, trong đó
có Đài phát thanh thân yêu của chúng tôi.
Đến lúc đó mọi người mới rưng rưng nước mắt chia tay, mỗi
người một ngả.
Cho đến khi bị đưa vào các trại gọi là “trại cải tạo”, tôi ở Sơn
La, Vĩnh Phú một thời gian dài, không biết Dương Phục ở
trại nào. Bỗng một hôm nhận được tin Dương Phục đã “trốn
___________________________________________________________
TRANG 90 ĐA HIỆU SỐ 105
trại”, sau đó là Mai Bá Trác cũng vượt ngục tù về Sài Gòn
rồi không biết bằng cách nào, cả hai người bạn của tôi đều đi
thoát.
Anh em chúng tôi còn ở trong tù râm ran bàn tán, thích thú
truyền tai nhau về sự can đảm của hai anh em này. Từ đó tôi
không còn nhận được tin tức gì của Dương Phục và Vũ
Thanh Thủy nữa.
Hơn 12 năm sau, ở trại tù ra, tôi mới lại được tin của Dương
Phục. Sau này tôi biết anh và Vũ Thanh Thủy làm chủ một
hệ thống truyền thông ở Houston và họ rất thành công.
Dương Phục và Vũ Thanh Thủy tại Đài Saigon Houston, Texas, Hoa Kỳ, 2015
Dương Phục lại cố lần mò ra địa chỉ của tôi ở Sài Gòn, anh
đề nghị tôi viết hàng tuần cho Đài Phát Thanh Houston của
anh. Tôi viết cho Radio Saigon Houston hàng tuần và hẹn
nhân viên từ đài Houston gọi điện thoại về nhà tôi thu thanh.
Cho đến khi tôi bị Công An quận 3 đến tịch thu hết máy
móc, cắt hết đường internet, thu hết điện thoại cùng mọi tài
liệu. Hôm tôi bị thẩm vấn, anh phó CA quận kết tôi đủ thứ
tội và đưa ra một lá thư của một tên nằm vùng nào đó ở
___________________________________________________________
ĐA HIỆU SỐ 105 TRANG 91
Houston viết về cho Công An thành phố kết tội tôi nói trên
đài phát thanh Houston làm mất uy tín của chính phủ Cộng
Hòa Xã Hội CNVN.
Tôi phải ngưng viết một thời gian khá dài, không còn có dịp
liên lạc lại với Dương Phục nữa, song tôi vẫn biết Radio
Saigon Houston rất thành công.
Tôi nghĩ “Trời cho của nào được của đó” nhưng chính tài
năng, nghị lực và lòng yêu nghề của hai người bạn phóng
viên này cũng là yếu tố quyết định.
Đến đây mời bạn đọc bước vào thế giới của những phóng
viên chiến trường mà tôi vừa gặp lại qua cuốn hồi ký này.
Một thế giới đầy lôi cuốn từ khi bước chân vào các chiến
trường cũng như khi vượt biên tìm tự do đầy máu và nước
mắt mà tôi không tưởng tượng ra nổi.
Văn Quang
Sự hình thành nhật Ký của Dương Phục và Vũ Thanh
Thủy
Đến đây, tôi mạn phép tác giả xin được trích vài đoạn ngắn
trong cuốn sách đó:
- Hồi Ký này được
chúng tôi (Dương
Phục và Vũ Thanh
Thủy) bắt đầu viết
những giòng đầu
tiên chiều ngày
29-11-1979, trong
Vịnh Thái Lan,
trên con tàu của
Cao Ủy Tỵ Nạn
Liên Hiệp Quốc
(LHQ) tại Thái Lan. Gia đình chúng tôi thuộc số 157 thuyền
nhân Việt Nam chạy trốn Cộng Sản tìm tự do vừa được ông
Cao Ủy LHQ Theodore Schwitzer III cứu từ đảo Ko Kra và
đưa về trại tỵ nạn Songkhla. Những hồi tưởng này được ghi
bằng mọi cách: nhật ký, những mẩu giấy ghi vội ký ức mỗi
lần nhớ được, và nhiều
___________________________________________________________
TRANG 92 ĐA HIỆU SỐ 105
nhất là qua máy ghi âm tự thuật và các mẩu phỏng vấn của
giới truyền thông rải rác đây đó từ năm 1980 cho tới nay.
Bây giờ tất cả được gom lại để thành cuốn hồi ký quý độc
giả đang cầm trên tay.
- Là nhà báo, chúng tôi không viết văn, chỉ tường thuật trung
thực mọi dữ kiện mà chúng tôi đã sống, đã nghe, đã thấy, tại
chiến trường, trong tù ngục, và trên biển Đông. Và nhận ra
đôi khi sự trung thực còn vượt quá sự giả tưởng của con
người. Nhưng đã dựa trên sự thật, chúng tôi quyết định phơi
bày tất cả, những thảm cảnh kinh hoàng cũng như những
may rủi lạ thường đến độ khó tin, những cái yếu đuối của
con người cũng như những việc tốt lành bất chợt nảy ra từ
những con người thật xấu, để có được công bằng cho cái tốt
cũng như cái xấu của con người. Và cũng để nói lên sự kỳ
diệu của đời sống và lòng người làm nảy sinh hy vọng khi
mà may rủi và tốt xấu lẫn lộn khó ngờ chỉ trong nháy máy.
Một vài nội dung hồi ký này đã đăng rải rác trên các báo
chí Việt Mỹ trong ba thập niên qua. Những đoạn khác được
kể trong các bài nói chuyện trên khắp nước Mỹ - trong chiến
dịch vận động “Vớt Người Biển Đông” trong thập niên 80.
Qua đó, chúng tôi đã thực hiện được phần nào sứ mạng tự
hứa chia sẻ thảm trạng thuyền - nhân Việt Nam với dư luận
thế giới, nhưng vẫn thấy chưa đủ.
- Hồi Ký này,sau cùng, xin dành vinh danh biết bao chiến sĩ
anh hùng đã bỏ mình trong trận chiến Việt Nam, tại các nhà
tù Cộng Sản, và trên đường trốn chạy Cộng Sản để tìm tự do
và quyền làm người.
Xin cảm ơn quý độc giả đã cho chúng tôi cơ hội đến với quý
vị qua những trang sách này.
- Và trên tất cả, xin cảm tạ Thiên Chúa, đã cho chúng tôi
niềm tin làm sức mạnh đối diện mọi sợ hãi, tình yêu để can
đảm khắc phục nghịch cảnh, và hy vọng để bình an ghi nhận
mọi ơn huệ của cuộc đời!”
Chị Vũ Thanh Thủy và anh Dương Phục mỗi người viết từng
đoạn trong cuốn sách này. Tôi chỉ có thể trích vài đoạn tiêu
___________________________________________________________
ĐA HIỆU SỐ 105 TRANG 93
biểu. Trước hết là cái nhìn của cô nữ phóng viên lăn lộn trên
khắp các chiến trường ghi lại những cảm nghĩ của cô về tình
đồng đội của những người lính trẻ:
Thủy viết:
“Đến tháng 4 năm 1975, chúng tôi đã lấy nhau được hơn
một năm. Phục cố chia thì giờ giữa công việc và gia đình. Là
một trung úy Cục Tâm Lý Chiến và trưởng ban Tin Tức Đài
Phát Thanh Quân Đội, công việc bề bộn với những tin tức
thời sự thay đổi dồn dập mỗi ngày cùng với lệnh cấm trại
liên miên đã khiến Phục không sao về được nhà. Tôi vẫn là
phóng viên của đài Tiếng Nói Tự Do (VOF-Voice of
Freedom) và tuy lâu lâu vẫn đến đài làm một phóng sự, bây
giờ đang nghỉ sanh để chuẩn bị chờ đứa con đầu lòng”.
Sau đó Thanh Thủy vẫn tiếp tục có mặt ở khắp các đơn vị
ngoài mặt trận. Cô ngạc nhiên về thứ tình đồng đội của họ,
cô viết:
“Tôi vô cùng ngưỡng mộ các chiến binh tôi gặp tại mặt trận.
Họ hoàn toàn không còn thái độ sỗ sàng và khinh mạn như
khi họ về phép ở thành phố. Tại tuyến đầu, họ rất tình cảm
và tử tế. Tôi thật ngạc nhiên nhận ra sự nghịch lý là giữa các
cuộc giao tranh dữ dội nơi mặt trận, thế mà các người lính
chiến lại có thể ân cần, quan tâm tới nhau đến thế, luôn sẵn
sàng hy sinh chính mạng sống mình cho đồng đội không chút
ngại ngần.
Tôi được nghe bao nhiêu chuyện tương tự, chuyện những
người lính anh hùng dành đi hàng đầu, hay trở lại tiếp cứu
đồng đội, hoặc chậm chân để chờ người bạn lạc lại đằng
sau, để rồi bị mất mạng vì đạn pháo quân địch. Tôi bắt đầu
nhìn thấy mẫu mực của chiến trường, qua những hành động
phi thường của những con người bình thường.
Không chiến binh nào quyết định hy sinh mạng sống mình vì
muốn làm anh hùng. Họ hành động cách bình thản vì đó là
điều họ được huấn luyện để hành xử ngoài mặt trận, và đó là
hành động phải làm của một chiến binh có lòng tự trọng.
Nhưng dưới mắt nhìn người khác, họ trở thành anh hùng.
___________________________________________________________
TRANG 94 ĐA HIỆU SỐ 105
Tôi nhận ra, chiến đấu ngoài trận tuyến không phải
là vì sống chết, mà vì lòng tự trọng. Đã đặt chân ra tới tuyến
đầu mặt trận, người chiến binh không còn quan tâm tới
những ngôn từ to lớn, vĩ đại... như lòng ái quốc, hay chuyện
bảo vệ tổ quốc hoặc đồng bào nữa. Họ chỉ quan tâm tới
chuyện bảo vệ nhau và sống chết theo lòng trung tín với
nhau tới độ mà những người thường dân không thể nào hiểu
nổi.
Tôi thấy ngay cả tình vợ chồng, tình cha con, cũng không
khốc liệt và cấp thời như lòng chung thủy của các chiến binh
với nhau ngoài trận địa. Đó là bổn phận hàng đầu của họ.
Chiến đấu ngoài mặt trận đã trở thành giữ gìn công lý và
bảo vệ tình người”.
Đó là những lời chân thật của một nữ phóng viên danh tiếng
nhất VN.
Sau đây là đoạn bút ký tượng trưng của Dương Phục về
chuyến bay vào An Lộc bị “gãy cánh” giữa đường:
Phục viết:
“Rơi Trong Vùng Địch”
Một lần, ngày 29-4-72, nhóm phóng viên ba người, gồm
Nguyễn Mạnh Tiến, Đài Saigon, Tuất Hải, Đài VOF, và tôi,
Đài PT Quân đội, đã lên được trực thăng bay vào tới được
vùng đồn điền Xa Cam, gần đáp xuống thì bị đạn phòng
không của địch bắn như mưa và pháo kích hàng loạt vào
vùng bãi đáp nên phi cơ lại phải quay về.
Vừa bay trên đường về, phi công phải bay sát đầu ngọn cây
cao su để tránh hỏa tiễn tầm nhiệt SA7, tránh cao xạ phòng
không, nhưng bay thấp như thế thì lại không tránh được đại
liên và ngay cả súng AK. Vừa bay được một đoạn ngắn,
hàng loạt đạn phòng không dữ dội của Cộng quân bắn trúng
chiếc trực thăng có nhóm báo chí.
Viên phi công, Trung úy Võ Văn Cơ của Phi đoàn 223, bị
trúng thương bên vai phải, mũi phi cơ trúng đạn khói xịt lên
mù mịt, nhưng vẫn cố gắng điều khiển trực thăng bay thêm
5, 6 dặm nữa và hết sức khó khăn hạ khẩn cấp được xuống
một bãi đất trống giữa khu rừng gần đồn điền Xa Cam. Tiến,
___________________________________________________________
ĐA HIỆU SỐ 105 TRANG 95
Tuất Hải và tôi vừa nhảy thục mạng ra khỏi trực thăng đã
nhìn thấy đám Cộng quân từ khu rừng chung quanh vừa bắn
AK dồn dập vừa túa ra chạy ào về khu đất chúng tôi đáp
xuống.
Một cách vô thức theo bản năng phóng viên, tôi vừa chạy
vừa nói ào ào vào máy ghi âm, tường thuật lại mọi diễn tiến
của tai nạn kinh hoàng và nguy cơ sắp rơi vào tay địch.
Giữa giây phút nguy nan tưởng như tận số đó, một trực
thăng của biệt đội gunship nhào đến, dùng đại liên bắn xối
xả vào đám địch quân trong khi một trực thăng khác liều
mạng đáp xuống. Chiếc trực thăng này đã xả hết rocket và
mini gun nên nhẹ nhàng hơn, xà ngay được xuống sau lưng
máy bay bị nạn của trung úy Cơ, vẫy tay lia lịa gọi chúng tôi
chạy sang và cứu được 4 nhân viên phi hành và nhóm 3
người báo chí chúng tôi
Đúng lúc Tuất Hải, Tiến và tôi nhảy lên được phi cơ, thì
một loạt pháo khác lại từ trên ào xuống, nổ vang cả vùng
quanh khu vực tiếp cứu. Xạ thủ từ trên các trực thăng vừa
bay thêm tới đã phải đánh nhiều vòng trên trời bắn trả ào ào
vào khu rừng rậm chung quanh bãi đáp. Trong cảnh khói lửa
mù trời, tôi nín thở hồi hộp trong tiếng cánh quạt phần phật
của đoàn trực thăng vội vã rời xa vùng nguy hiểm.
Ngày hôm sau, đoạn ghi âm tôi tường thuật cảnh lâm nạn
trên đường về từ An Lộc được đưa về phát nguyên văn trên
Đài PT Quân Đội. Tiếng bom đạn rền trời gây hồi hộp cho
thính giả tại hậu phương, lần đầu tiên cảm thấy như chính
họ đang có mặt tại trận tiền, cùng nhóm báo chí trải qua
giây phút kinh hoàng căng thẳng trong vòng vây địch. Đoạn
băng ghi âm của tôi đột ngột chấm dứt sau câu chào vĩnh
biệt, khi tôi tắt máy vì tưởng sắp rơi vào tay Cộng quân lúc
thấy chúng chạy đến gần. Trong lúc thính giả còn ngơ ngẩn
hồi hộp không biết chúng tôi sống chết ra sao, thì tôi trở lại
làn sóng tiếp tục tường thuật cảnh được quân bạn cứu giúp
trong giây phút thập tử nhất sinh.
Đoạn phát thanh giây phút sinh tử này không ngờ đã góp
phần giúp tôi chinh phục được trái tim của Thủy, khi đó ở
Saigon đã kinh hoàng bật khóc khi nghe tôi chào vĩnh biệt.
___________________________________________________________
TRANG 96 ĐA HIỆU SỐ 105
Trong phút chốc, Thủy cảm nhận sự mong manh của đời
người và quyết định rũ bỏ sự dè dặt e ngại của lý trí trước cá
tính quá khác biệt của hai người chúng tôi.
Đối với tôi, biến cố này đã ảnh hưởng sâu đậm tới con người
tôi trong vai trò phóng viên. Tôi không tin sự sống còn của
tôi là do may mắn mà xác tín rằng đó là một sự che chở đặc
biệt từ Ơn Trên để tôi có thể thi hành sứ mạng đem được tin
xác thực từ mặt trận về cho người hậu phương. Từ đó, tôi coi
việc truyền thông quan trọng hơn tất cả mọi chuyện cá nhân,
và quyết tâm tìm đường trở lại An Lộc”.
- Thưa các bạn đồng đội, tôi giới thiệu cuốn sách này hoàn
toàn theo cảm xúc của tôi sau khi đọc xong. Cứ như vừa
được sống lại với môt giấc mơ hùng tráng có thật. Tôi nghĩ
đó là một cuốn sách mà tất cả những người lính VNCH nên
đọc để nhớ về và cũng để góp lại một kỷ niệm không thể nào
quên trong đời quân ngũ đã qua của mình.
Văn Quang – Sài Gòn tháng 8 năm 2015
Hình: Dương Phục nhận giải thưởng từ Society of
Professional Journalists (1987)
___________________________________________________________
ĐA HIỆU SỐ 105 TRANG 97
BÃO LỤT THÀNH PHỐ SYDNEY NSW
Vào cuối tháng 2 năm 2015 thành phố Sydney và những
vùng phụ cận đã bị tàn phá bởi cơn giông bão Marcia. Tất cả
các chuyến bay vào và rời khỏi phi trường Sydney đều bị
đình hoãn hết. Trong cùng lúc đó khoảng 3000 hành khách
và thủy thủ đoàn của chiếc du thuyền Rhapsody phải trở về
cảng Sydney sau khi bị nằm ụ trước đó một ngày để tránh
thời tiết vô cùng tệ hại bởi mưa to gió lớn khoảng
100km/giờ. Tất cả túi an toàn dành cho người say sóng có
khắp mọi lối đi ngay cả dọc theo cầu thang trên tàu. Mọi sinh
hoạt ngoài trời trên du thuyền phải hủy bỏ. Tất cả hành
khách có phòng ngay ban công phải đóng và khóa cửa lại.
Nhưng may mắn thay sau
cùng mọi người đều được
bình an và tiếp tục vui thú
những ngày du lịch lênh
đênh trên biển cả. Cùng lúc
đó trên đất liền có khoảng
___________________________________________________________
TRANG 98 ĐA HIỆU SỐ 105
200,000 căn nhà và cơ sở thương mại phải đóng cửa vì
không có điện và vài vùng phải cho cư dân di tản đi nơi khác
an toàn hơn vì nhà cửa bị nước cuốn trôi. Tất cả các trường
học phải tạm đóng cửa. Bãi biển Bondi nổi tiếng thế giới đã
phải đình chỉ mọi sinh hoạt trong thời gian này.
Thủ Hiến tiểu bang New South Wales Mike Baird tuyên bố
đây là cơn bão gây nên lụt lội tệ hại nhất trong thế kỷ. Việc
lo lắng cho dân là việc làm của chính quyền tiểu bang cùng
liên bang; nghĩa là Thủ Hiến và Thủ Tướng chính phủ cùng
quan tâm đến sự bình an của người dân & việc làm hàng
ngày của mọi người hầu sao cho xã hội được thái hòa. Ôi
thật ngọt ngào xúc động biết bao khi làm người dân một
nước Tự Do Dân chủ. Việc làm này hoàn toàn trái ngược với
chế độ tàn ác cộng sản Việt Nam hiện nay đang buôn dân
bán nước, hèn với giặc ác với dân. Ôi thật mỉa mai thay!
Sydney and
surrounds
have been
thrashed with
cyclonic storms
for two days,
causing the
worst flooding
in 100 years.
TƯỞNG NIÊM 40 NĂM NGÀY QUỐC HẬN 30
THÁNG 4 SYDNEY NSW
Hàng năm mỗi khi tháng 4 đến là lòng người dân Việt tị nạn
cộng sản trên khắp thế giới đều rất đau buồn. Năm nay cũng
không ngoại lệ CĐNVTD liên bang Úc Châu tổ chức biểu
tình trước tòa đại sứ cộng sản ở thủ đô Canberra vào ngày
chủ nhật 26 tháng 4 năm 2015. Tin tức thời tiết cho biết sẽ có
___________________________________________________________
ĐA HIỆU SỐ 105 TRANG 99