51 Tứ tượng chính là quy tắc tự nhiên của trời đất, giống như bốn mùa có sự sinh sôi không ngừng. Bản chất gốc rễ của đẩu diệu là "Tinh tính". Tinh diệu sinh trưởng mà có thay đổi. Biến đổi tính chất gốc rễ, tính chất riêng của đẩu diệu là vì "Hóa diệu" vậy. Tử vi đấu số vận dụng mười tám chủ tinh mà định cát hung. Tinh vốn là ảo ảnh, chỉ là dấu hiệu của số. Cho nên đẩu sổ là việc vận dụng số, chứ không phải là "Chiêm tinh" . Các tinh diệu tuân theo quy luật nhất định về việc phi nhập vào các cung, nhưng cát hung của một cung không thể chỉ đơn thuần dựa vào vị trí tinh diệu ở cung mà định đoạt. Bởi vì vị trí sao tuy cố định, nhưng sẽ tùy lúc mà thay đổi, bị biến hóa của tứ tượng ảnh hưởng. Cho nên, tinh cung tương hỗ, triệt tiêu nhau có 144 loại tổ hợp, trong cuộc sống thì không chỉ có 144 loại Mệnh. Tổ hợp của sao tùy theo quy luật của tứ tượng mà "Phi", gọi là "Phi tinh" . Vì thế, người dùng phi tinh tứ hóa, mượn can mà độn tinh, mượn tượng hợp với chi làm ứng thời, là căn bản của Phi tinh Tử vi đẩu số. Lấy cung vị định tượng mà phân chia thì Tử vi đấu sổ có hai đại pháp môn: "Tam hợp pháp" và "Tứ tượng pháp" . "Tam hợp pháp" lấy "Cung Mệnh ", "Cung Quan lộc " và "Cung Tài bạch " làm "tam hợp", thêm "Cung Thiên di" thành "tứ chính", mà làm thành ra "Tam phương tứ chính". Theo địa chi "Tam hợp" định nhân sự, là học thuyết cơ sở Tử vi đẩu số. "Tứ tượng pháp" cũng là lấy "Mệnh", "Quan", "Tài" làm "tam hợp", nhưng "tứ chính" thì lấy theo "Tứ tượng cung vị" là điểm xuất phát và nơi quy tụ - cũng chính là lấy "Cung Mệnh ", "Cung Tử nữ ", "Cung Thiên di" và "Cung Điền trạch" làm "tứ chính". Chỗ bất đồng với "Tam hợp pháp" là tứ tượng pháp lấy thùy tượng thiên can của sáu cung này mà không phải là chỉ dựa vào tính lý sao. Bằng không, sao ở sáu cung này lẫn lộn rất khó mà đoán định. "Tam hợp pháp" gặp tình huống cung vô chính diệu, mượn sao ở cung đối để dùng. "Tứ tượng pháp" gặp cung vô chính diệu, thì không mượn sao ở đối cung, bởi vì sử dụng tượng của nó tùy thuộc vào can cung. Ngoài ra: "Tam hợp pháp" theo phép ngũ hành, nặng tinh về tính lý tinh đẩu, cho nên mới nói đến tính đắc hãm miếu vượng của tinh diệu. "Tứ tượng pháp" cùng với quái và lý số, xem trọng tượng số, cho nên không nhắc đến tính đắc hãm miếu vượng của tinh diệu. Vì vậy, "Đấu số" trong Tử vi đấu sổ chính là có hàm ý như vậy.
52 【飞星漫谈 三十】自化忌转祸为福 一 三十【疾厄宫自化忌】自化忌反为福 所谓自化忌就是某星所坐之宫的宫干令其化忌,例如太阴星所坐之宫的宫干为乙, 「乙机梁紫阴」,因此,这个宫位就出现自化忌的情况。 宫位出现自化忌一般会被视为「破」:命宫出现自化忌为人阴晴不定;夫妻宫出现自 化忌配偶难以相处,婚姻有可能因此会出现问题。。。如此类推。如果一个命盘有三 个以上的宫出现自化忌的情况,一生起伏不起,难以安定。 可是偏偏有一个宫不单不怕自化忌,而且喜见自化忌,这个就是疾厄宫。 疾厄宫出现自化忌,是较普通人更能抵御传染病的,不易受其感染的。 就算禽流感爆发也可以大模斯样地在街上走啦!(说说笑而己) [ Phi tinh mạn đàm 30 ] - Tự hóa kị chuyển họa là phúc 1 30. [ Cung Tật ách tự hóa kị ] - tự hóa kị ngược lại là phúc Cái gọi là tự hóa kỵ chính là can của cung nào đó làm cho sao tọa ở chính cung đấy hóa kỵ. Ví dụ như Thái Âm tọa ở cung có can cung là Ất, "Ất Cơ Lương Tử Âm". Vì vậy, cung vị có tự hóa kỵ. Cung vị xuất hiện tự hóa kỵ có thể xem là bị "Phá" : cung Mệnh xuất hiện tự hóa kỵ là người âm tình bất định; cung Phu thê xuất hiện tự hóa kỵ vợ chồng khó mà sống chung với nhau, hôn nhân có thể vì thế sẽ xảy ra vấn đề… Nếu như một Mệnh bàn có trên 3 cung xuất hiện tự hóa kỵ, cả đời gập ghềnh, khó mà yên ổn. Nhưng riêng có một cung không những không sợ tự hóa kỵ, mà còn vui mừng khi gặp tự hóa kỵ, đó chính là cung Tật ách. Cung Tật ách xuất hiện tự hóa kỵ là người tương đối có khả năng chống đỡ bệnh truyền nhiễm , không dễ bị lây nhiễm. Xem như cúm gia cầm bộc phát cũng có thể yên tâm mà ra đường rồi (Nói vui một chút vậy thôi)
53 【飞星漫谈 三十一】自化忌转祸为福 二 三十一【疾厄宫自化忌】其他疾病和良心的问题 凡宫位出现自化忌就会有「破」。上一篇论及疾厄宫有例外的情况,但其实也不是完 全吉兆。 飞星漫谈聊聊几句很难说得这么清楚。我只是说比较不容易感染「传染病」。但留意 只是对「传染病」比较有抵抗力,并不表示命主比其他人健康。 人怎可能会无病?疾厄宫自化忌,虽然对传染病比较有抵抗力,但相对患暗病和长期 病患的机会比其他人大。 其实用飞星的原理推想也不难想像。以疾厄立太极,就等同当宫坐忌。用拟人想象, 疾厄宫比较抗拒外来的事物,但内在却不安。从这个角度去想就比较容易理解,为什 么会说「破」但又不「破」啦。 加上疾厄是良心位。在良心位自化忌就代表为人比较自我自私,性情比较反复。有得, 自然有失。 [ Phi tinh mạn đàm 31 ] - Tự hóa kị chuyển họa thành phúc 2 31. [ Cung Tật ách tự hóa kị ]- vấn đề lương tâm và bệnh tật khác Phàm cung vị nào xuất hiện tự hóa kỵ sẽ có "Phá". Thiên ở trên đã bàn về trường hợp ngoại lệ của cung Tật ách, nhưng thực cũng không phải hoàn toàn là dấu hiệu tốt. Mấy câu Phi tinh mạn đàm khó mà nói cho rõ ràng chuyện này. Ta chỉ nói là tương đối không dễ mắc "Bệnh truyền nhiễm" . Nhưng lưu ý chỉ là tương đối có sức đề kháng đối với "Bệnh truyền nhiễm" chứ không hề có ý nói người đó khỏe mạnh hơn người khác. Là con người, làm sao mà có thể không bệnh tật gì cho được ? Cung Tật ách tự hóa kỵ, mặc dù tương đối có sức đề kháng đối với bệnh truyền nhiễm nhưng lại dễ mắc những ám bệnh và bệnh mãn tính hơn so với những người khác. Thật ra việc sử dụng nguyên lý suy đoán của phi tinh cũng không quá khó tưởng tượng. Lấy cung Tật ách lập Thái cực, thì tương đương với việc cung Mệnh có tự hóa kị. Tưởng tượng theo lối nhân cách hóa thì cung Tật ách kháng cự lại việc bên ngoài tác động vào, nhưng bên trong bất an. Suy nghĩ từ góc độ này thì khá dễ hiểu vì sao lại nói "Phá" nhưng lại không "Phá" vậy. Thêm vào đó cung Tật ách là cung vị lương tâm con người. Ở cung vị lương tâm mà có tự hóa kỵ thì đại biểu người đó khá ích kỷ, tính tình thường thay đổi, bất định, tự nhiên có, tự nhiên không.
54 【飞星漫谈 三十二】大限化禄的含意 三十二【命宫是财帛的官禄宫】「财」的「运」 这几个星期以来,在不同场合跟好友讨论紫微斗数时,都碰到同一个问题,就是大限 命宫化禄的意义。主流三合派喜见禄,对大限化禄的联想很多:有时代表财运,有时 是事业、姻缘。有的甚至认为,只要是化入命宫三方,就什么好事都会降临。 其实,从飞星紫微斗数的理论中,就可以推敲出其意义出来。 命宫其实是财帛宫逆数第九位,也就是所谓的气数位,也就是财帛宫的官禄宫 - 气运位。 「财」的「运」,其所化之禄就是「财运」的指标。 这也说明了为什么,三合派视大限禄入命宫三方为财运的指标。 同理,命宫也是官禄宫的财帛宫,是事业上赚钱之源头。其四化对己宫也是吉兆,可 以看出事业之财的走动方向。 可是,飞星紫微斗数不会单星独断的。看禄时,也要同时看忌,才能看出整体的吉凶。 有人认为所谓飞星紫微斗数就是传统的三合法加上四化的增益版。其实,你可以从以 上例子看出飞星不是单纯看四化的,宫位也很重要。 [ Phi tinh mạn đàm 32 ] - Hàm ý hóa lộc đại hạn 32. [ Cung Mệnh là cung vị Tài bạch của cung Quan lộc] " \ "Vận \ của \ "Tài \" Mấy tuần lễ gần đây, trong những lúc khác nhau thảo luận với một người bạn tử vi đẩu số, ta đều gặp phải vấn đề về ý nghĩa của đại hạn cung Mệnh hóa lộc. Phần lớn tam hợp phái thích thấy lộc, đối với đại hạn hóa lộc có rất nhiều tượng: Có lúc đại biểu vận tiền bạc, có lúc là sự nghiệp, nhân duyên. Thậm chí còn có thuyết cho rằng chỉ cần có hóa nhập tam phương cung Mệnh, thì chuyện tốt gì cũng sẽ tới. Thật ra thì, từ trong lý luận phi tinh tử vi đấu sổ, có thể cân nhắc đưa ra ý nghĩa. Cung Mệnh thức ra là từ cung vị Tài bạch đếm nghịch đến 9, hay còn gọi là khí số vị, cũng chính là cung Quan lộc của cung Tài bạch - khí vận vị. "Vận" của tài, có hóa lộc chính là chỉ tiêu của "Vận làm giàu " . Điều này cũng giải thích rõ tại sao Tam hợp phái coi hóa lộc đại hạn nhập tam phương cung Mệnh làm chỉ tiêu của vận làm giàu. Cùng nguyên lý đó, cung Mệnh cũng là cung vị Tài bạch của cung Quan lộc , là nguồn kiếm tiền từ sự nghiệp. Tứ hóa hướng về cung cũng là dấu hiệu tốt, có thể thấy được phương hướng vận động tiền tài của sự nghiệp. Nhưng, phi tinh tử vi đấu số không chỉ dùng sao mà định đoán. Lúc nhìn lộc, thì cũng phải đồng thời nhìn kỵ thì mới có thể xem được chỉnh thể cát hung.
55 Có người cho rằng, Phi tinh tứ hóa chính là “Tam hợp pháp” truyền thống gia thêm Tứ hóa. Kỳ thực, từ ví dụ trên ngươi có thể thấy phi tinh không đơn thuần khán tứ hóa mà cung vị cũng rất trọng yếu.
56 【飞星漫谈 三十三】「飞星格局」终身桃花格 三十三【子女宫飞禄入兄友线或财福线】异性缘佳 早在『【飞星漫谈 二十七】打官司的胜数』一文内已经提及过,因为「子女宫」是 「交友宫」的气数位,所以,其飞化可以用来看打官司的胜算。除此以外,「子女宫」 也是经常被用来看命主的桃花格。 「子女宫」飞禄入「兄友线」(i.e.「 子女宫」的宫干令「兄弟宫」或「交友宫」内的 星化禄),代表命主异性缘佳。同理,「子女宫」飞禄入「财福线」(i.e. 「子女宫」 的宫干令「财帛宫」或「交友宫」内的星化禄),也会有同样的现象。 虽然同为异性缘,但是飞禄入「兄友线」,接触桃花的层面很广,因为「兄友线」可 以代表众生,有成为明星的濳质;飞禄入「财福线」,就是偏重钱财,所以和钱财有 关的桃花接触的机会比较大,可以在商界财经界吃得很开。 但是,两种也有可能是会沦落风尘的现象,要看命主行的运啦。 异性缘好不一定是坏事,但当子女宫另一头的化忌飞回命宫时,就是所谓「终身桃花 格」。这种人面对异性的诱惑很容易把持不住。如果意志力不坚,就会一生人不停在 桃花中团团转。 当然,「飞星紫微斗数」不止是单纯看「四化」的,宫位转移也可以看得出很多现象 的。 现在,我们再来深入一点,移动一下太极点再看一次: 如果,你把太极点由「命宫」转为「夫妻宫」,那么,你本命的「疾厄宫」也可以看 成是「夫妻宫」的「子女宫」。那样,当「疾厄宫」飞禄入你的「子田线」和「命迁 线」时,也就是「「夫妻宫」的「子女宫」飞禄入「夫妻宫」的「兄友线」」和「财 福线」。如果命盘有此现象,代表你的另一半异性缘很好。 与此同时,如果「疾厄宫」飞忌回「夫妻宫」,也就是「夫妻宫」的「子女宫」飞忌 回「夫妻宫」的「命宫」,代表你的另一半是「终身生桃花格」。对你来说肯定是坏 多于好。 [ Phi tinh mạn đàm 33 ]\ "Phi tinh cách cục \" - Cách một đời đào hoa 33. [ Cung Tử nữ phi hóa lộc nhập tuyến Huynh Nô hoặc tuyến Tài Phúc ] duyên tốt đẹp với người khác giới. Ngay ở 『 Phi tinh mạn đàm 27 - Lên tòa thắng kiện 』 có đoạn đề cập qua, vì "cung Tử nữ" là khí số vị của "cung Giao hữu ". Cho nên, phi hóa có thể dùng để xem lên tòa có
57 mấy phần thắng kiện. Ngoại trừ trường hợp này, "cung Tử nữ" cũng thường xuyên được dùng để xem cách đào hoa của mệnh chủ. "Cung Tử nữ" phi lộc nhập "tuyến Huynh Nô " (Can cung "Cung tử" làm cho tinh diệu trong "cung Huynh" hoặc "cung Nô" hóa lộc), đại biểu mệnh chủ có duyên tốt đẹp với người khác phái. Cùng một lý lẽ, "Cung Tử nữ" phi lộc nhập "tuyến Tài Phúc "(Can "cung Tử nữ " làm cho tinh diệu trong "cung Tài bạch" hoặc "cung Phúc đức" hóa lộc) cũng sẽ có hiện tượng giống nhau. Tuy rằng đều là duyên với người khác phái, thế nhưng nếu là phi lộc nhập "tuyến Huynh Nô" thì tiếp xúc với đào hoa ở phương diện rộng, bởi vì "tuyến Huynh Nô" đại biểu mọi người xung quanh, có tố chất của người nổi tiếng; Phi lộc nhập "tuyến Tài phúc", là thiên về tiền tài, cho nên cơ hội tiếp xúc đào hoa do liên quan đến vấn đề tiền bạc rất lớn, có thể gặp rất nhiều ở người thuộc tầng lớp thương gia, kinh doanh ăn uống mà mở ra. Nhưng hai loại này cũng có thể có hiện tượng luân lạc phong trần, cần phải xem thêm hành vận của mệnh chủ Duyên tốt với người khác phái không nhất định là chuyện xấu, nhưng khi cung Tử nữ đồng thời hóa kỵ bay trở về cung Mệnh, chính là cách "Cả đời hoa đào". Người như vậy khi đối mặt với sự cảm dỗ của người khác phái rất dễ không cầm lòng được. Nếu như chí lực không kiên định, thì cả đời cuốn vào vòng xoáy của đào hoa. Dĩ nhiên, "Phi tinh tử vi đấu sổ" không chỉ là đơn thuần nhìn "Tứ hóa" , di động cung cũng có thể nhìn ra được rất nhiều hiện tượng. Bây giờ, chúng ta lại nghiên cứu sâu thêm một chút, di động Thái cực để xem thêm lần nữa: Nếu như, lập Thái cực lấy "cung Mệnh " chuyển thành "cung Phu thê", như vậy “cung Tật ách” nguyên cục cũng có thể xem là "cung Tử nữ" của "cung Phu thê" . Như vậy, khi "Cung Tật ách " phi lộc nhập " tuyến Tử Điền " và "tuyến Mệnh Di", cũng chính là "cung Tử nữ " của "cung Phu thê" phi lộc nhập "tuyến Huynh Nô " và "tuyến Tài Phúc" của “cung Phu thê". Nếu như mệnh bàn có hiện tượng này, đại biểu một nửa kia của ngươi có duyên với người khác phái rất tốt. Cùng lúc đó, nếu như "cung Tật ách" phi kỵ trở về "cung Phu thê", cũng chính là "cung Tử nữ" của "cung Phu thê" của phi kỵ trở về "cung Mệnh" của "cung Phu thê" , đại biểu một nửa kia của ngươi có cách "cả đời đào hoa". Đối với ngươi mà nói nhất định là chuyện xấu nhiều hơn tốt vậy.
58 【飞星漫谈 三十四】「飞星格局」回归禄和逆水忌 三十四【射出禄逢生年禄回归禄 射出忌逢生年忌逆水忌】禄禄相碰呈凶 忌忌互衡反吉 千万不要把这个「回归禄」和【飞星漫谈 二十一】中的「禄回归」混为一谈。名字看 起来很相似,但现象几乎完全相反呢。 「逆水忌」其实就是本宫「飞忌」到对宫,而遇上对宫坐生年忌。 例如命宫坐甲干,对宫有太阳坐迁移宫,这就叫做命宫「飞忌」到对宫,又名「射出 忌」。在这个时候,如果迁移宫刚好坐生年忌,例如命主刚好在甲年出生,那就符合 「逆水忌」的条件了。 一般而言「射出忌」是对「发射宫」有害的。但如果「逆水忌」的条件能成立,那就 反而是发射宫得益。 如果「逆水忌」出现在「命宫」、「官禄宫」或「财帛宫」时,飞星派称之为「忌冲 浪花」;意谓运势有如平静的海面突然激起万尺巨浪,出现突发的现象。大利建基立 业、开设厂房等。 跟「逆水忌」相对的叫做「回归禄」,就是本宫飞禄到对宫,而遇对宫坐守生年禄的 情况。一般而言,「命、官、财」三方的对宫「迁、夫、福」有生年禄坐守是好事, 因为生禄照命宫三方是大吉之象。但如果不幸出现「回归禄」,就代表钱虽然赚得轻 松,但花得更痛快。最终可能一无所有,不是一个很好的现象。 很多人对「化忌而不忌」的「逆水忌」很有心得。但很奇怪,偏偏很少人谈论到跟 「逆水忌」相对的「回归禄」。可能因为「飞禄」实在很难理解,皆因其吉凶往往会 受给同宫的飞忌所左右。 [ Phi tinh mạn đàm 34 ]\ "Phi tinh cách cục \" - Hồi quy lộc và Nghịch thủy kị 34. [ Lộc phát xuất ra phùng Hóa lộc năm sinh – hồi quy lộc. Kị phát xuất phùng hóa kỵ năm sinh Nghịch thủy kị ] - Lộc lộc gặp nhau hiện lên hung, kỵ kỵ tương hỗ ngược lại thành cát Ngàn vạn lần không được lấy "hồi quy lộc" và “ lộc hồi quy” trong “phi tinh mạn đàm 21 đem nhập làm một. Tên của chúng thoạt nhìn rất giống nhau, nhưng hiện tượng thì lại thường là hoàn toàn trái ngược. "Nghịch thủy kỵ" chính là Bản cung "Phi kỵ" đến đối cung, mà đối cung ấy lại có kỵ năm sinh. Ví dụ như cung Mệnh có can Giáp, đối cung là cung Thiên di có Thái Dương tọa thủ , đây gọi là cung Mệnh "Phi kỵ" đến đối cung, hay còn gọi là "xạ xuất kỵ" . Lúc này, nếu như
59 cung Di mà có sẵn kị năm sinh, Ví dụ như: Người này vô tình cũng sinh năm Giáp, vậy thì đủ điều kiện điều kiện "Nghịch thủy kỵ " . Thông thường mà nói "xạ xuất kỵ" gây hại đối với " cung phát xạ". Nhưng nếu như có thêm điều kiện "Nghịch thủy kỵ " , thì ngược lại, cung phát xạ lại được lợi. Nếu "Nghịch thủy kỵ" xuất hiện ở "Mệnh ", "Quan lộc " hoặc "Tài bạch ", phi tinh phái gọi là "Kỵ xung lãng hoa" ; ý muốn nói, vận thế đang bình lặng như mặt biển, bỗng gặp cơn sóng lớn cao vạn trượng, tức là xuất hiện 1 hiện tượng cực kỳ bất ngờ. Xây dựng cơ đồ lập nghiệp, mở xưởng… được đắc lợi. Đối lập với "Nghịch thủy kỵ" là "Hồi quy lộc", nghĩa là bản cung Phi lộc đến đối cung, mà lại gặp Lộc năm sinh tọa thủ ở đối cung. Thông thường,tam phương "Mệnh, quan, tài" là đối cung của "Di, phu, phúc" có có lộc năm sinh là tốt, bởi Lộc năm sinh chiếu tam phương cung mệnh là tượng tốt lành. Nhưng nếu chẳng may xuất hiện "hồi quy lộc",thì đại biểu: tiền mặc dù kiếm được ung dung, nhưng tiêu xài lại rất tốn kém. Cuối cùng có thể là hai bàn tay trắng, không phải một hiện tượng tốt. Rất nhiều người tâm đắc với "Hóa kỵ mà không kỵ " của "Nghịch thủy kỵ". Nhưng kỳ lạ là có rất ít người đàm luận đến sự đối lập của "Nghịch thủy kỵ" với "Hồi quy lộc" . Khả năng bởi vi "Phi lộc" rất khó lý giải, vì cát hung của cung thường thường sẽ bị “Phi kỵ” của cung chi phối.
60 【飞星漫谈三十六】飞运(一) 三十六【太极点和体用】活盘的论命要诀 看四化时,大家都集中看命宫的四化,以体用同宫去看运程,这是传统的用法。其实, 飞星派在看运程时,很多时候要把体用分开来飞化的。 未讨论「飞运」前,先跟大家复习一下几个定义:「太极点」、「体」、「用」和 「气数位」。 第一个是「太极点」。由出生的一刻,太极点就在命宫。随着时日的增长,太极点移 动。以命宫为起点,阳男阴女顺行,阳女阴男逆行,太极点每十年移一个宫,再以此 宫为起点排十二宫。这就是我们所熟识的大限盘。 在大限之下,有流年盘。流年盘就是以流年年支的宫位为太极点,排十二宫。这个盘 每一年顺行移动一宫。 以上的就是所谓「因时而易」的「太极点」,是大家耳熟能详的排盘用法。其实还有 「因事而易」的太极点。例如,要看桃花或子女,我们可能会把太极点移到(本命 、 大限或流年的)子女宫。这个情况,我们「移太极」到主事宫,再排十二宫,成为一 个以该事为中心的太极盘。 跟着是跟大家复习一下「体」和「用」。以四化的角度来看,「体」就是以太极点和 以它为首所排成的盘,「用」就是四化的发射宫。四化的发射宫如果是太极点的宫位, 例如,大限的命宫所生出来的四化,就叫做「体用同为命宫」。如果,我们把体和用 分开,例如,以大限命宫为体,大限的官禄宫为用,来看大限官禄的飞化,落在大限 盘的那一个宫位之上。这就叫做「体在命,用在官」。 因为禄宫是命宫的逆数第九位,是所谓的气数位。所以,由气数的飞化,可以用来推 断「运程」。 再进一步看 ,因为每一个宫都有气数位,所以要看主事宫的运势,就要以「太极为体, 气数位为用」,这就是「飞运」了 。 其实早在『【飞星漫谈 三十二】大限化禄的含意』,已经谈论过「以财帛为体,财帛 的气数位(命宫)为用」的「飞运」应用实例了。 下一篇再继续深入讨论「飞运」。 [ Phi tinh mạn đàm 36] - Phi vận (1) 36. [ Thái cực điểm và Thể dụng ]- Yếu quyết luận mệnh trên hoạt bàn.
61 Lúc khán tứ hóa, mọi người cứ chăm chăm nhìn tứ hóa cung mệnh, lấy thể dụng đồng cung để khán vận trình, đây là cách dùng truyền thống. Thật ra, phi tinh phái lúc khán vận trình, rất nhiều khi phải đem thể dụng tách biệt để phi hóa. Chưa vội bàn thảo luận đến "Phi vận", trước hết cùng mọi người ôn tập lại một chút về những định nghĩa: "Thái cực điểm", "Thể", "Dụng" và "Khí số vị" . Thứ nhất là "Thái cực điểm" . Từ thời điểm ra đời, Thái cực điểm ngay tại cung Mệnh. Theo sự thay đổi của ngày giờ mà Thái cực điểm di động Lấy cung Mệnh làm khởi điểm, dương nam âm nữ đi thuận, dương nữ âm nam đi nghịch, Thái cực điểm cứ mỗi mười năm dời đi một cung, ta lại lấy cung này làm khởi điểm để sắp xếp lại mười hai cung. Đây chính là đại hạn bàn mà chúng ta vẫn biết Dưới đại hạn, có lưu niên. Lưu niên bàn chính là lấy cung vị địa chi của năm lưu niên làm Thái cực điểm mà sắp xếp lại mười hai cung. Lưu niên bàn mỗi một năm xê dịch đi một cung theo chiều thuận. Những điều trên được gọi là "Thái cực điểm" "Nhân thời nhi dị” ( Vì thời mà xê dịch đi ). Chính là cách sắp xếp lưu bàn mà mọi người nghe nhiều đã quen. Ngoài ra còn có Thái cực điểm " Nhân sự nhi dị” ( Vì sự việc mà dịch đi) . Ví dụ, muốn xem đào hoa hoặc tử nữa, chúng ta có thể lấy Thái cực điểm chuyển qua Bản Mệnh, đại hạn hoặc lưu niên cung Tử nữ. Trường hợp này, chúng ta "Dời Thái cực" đến cung chủ sự ( cung chủ sự việc cần xét), lại bài bố lại mười hai cung, trở thành một Thái cực bàn lấy sự việc cần xem xét làm trung tâm. Tiếp theo là cùng mọi người ôn tập một chút về “Thể” và “Dụng” . Trên góc độ quan điểm của Tứ Hóa "Thể" là lấy Thái cực điểm và chính nó làm trọng yếu mà sắp xếp lại mệnh bàn, "Dụng" là cung phát xạ tứ hóa. Cung phát xạ tứ hóa nếu là cung Thái cực điểm , ví dụ như cung Mệnh đại hạn phát xạ ra tứ hóa thì gọi là "Thể Dụng đồng vi Mệnh cung" (Dgc:thể dụng đều là cung mệnh) . Nếu, chúng ta đem Thể , Dụng tách ra. Ví dụ: Lấy Mệnh đại hạn làm Thể, quan lộc đại hạn làm Dụng, xem phi hóa của đại hạn Quan lộc, nếu rơi vào đại hạn của cung vị nào đó thì gọi là "Thể ở Mệnh, Dụng ở Quan" . Bởi vì cung Quan lộc là từ cung Mệnh đếm nghịch đến 9, nên được gọi là cung khí số vị. Cho nên, từ phi hóa của cung khí số vị mà có thể dùng để suy đoán "Vận trình" . Tiến thêm một bước, vì cung nào cũng có khí số vị, nên muốn nhìn vận thế của cung chủ sự, thì phải lấy "Thái cực làm thể, khí số vị làm dụng", đây chính là "Phi vận " vậy . Thật ra thì ngay ở 『 phi tinh mạn đàm 12: hàm ý của đại hạn hóa lộc 』, đã đàm luận qua "Lấy tài bạch làm thể, khí số vị của cung tài (cung Mệnh) làm dụng " là một ví dụ ứng dụng thực tế \ "Phi vận \"
62 Thiên tiếp theo lại tiếp tục thâm nhập thảo luận \ "Phi vận \"
63 【飞星漫谈三十七】飞运(二) 三十七【深入太极体和用】飞星的基本 上一篇开始谈「飞运」,带出一些基本的慨念,但要了解飞运的用法,一定要清楚了 解三个飞星紫微斗数中非常重要的慨念:「太极」、「体」和「用」。 这一篇就引用一些例子,希望能把慨念深入浅出的带出来。 「太极」一词听起来很像很玄,其实,一点也不复杂。紫微斗数的命盘只有十二个宫, 太极就在这十二个宫之间移动。 例如,当立太极于财帛宫时,命宫就是财帛的事业,就是所谓财运;兄弟就是财帛宫 的收藏位,也是所谓现金位,可以想像为「银行」。 再进一步,就是本命、大限和流年盘之间的太极点移动。之前一篇说过「因时而动」 的太极点和「因事而动」的太极点之间的分别。太极点其实可以先因时而动再因事而 动的。 大限的移动就是因时而动。例如顺行第三个大限到达福德宫,那么,太极点就「因时 而动」至福德宫 - 以福德宫为命宫再起十二宫,本命的父母宫就是大限的兄弟宫、本命 的命宫就是大限的夫妻宫、本命的兄弟宫就是大限的子女宫。。。如此类推。这就是 太极点移动了,人生也相应地在这十二宫的变化中运转。 然后就是因事而动。就这个例子再引伸,例如想看这个大限的运势,就要由大限官禄 宫(气数位)的四化看出来。太极「因时而动」至福德宫,所以,就以本命福德宫为 命宫,那么,本命的迁移宫就是大限的官禄宫。官禄宫的四化回归以大限为命宫的十 二宫,就可以看出大限的运势。 以上的例子是以大限的命宫为「体」,大限的官禄宫为「用」。 以前也曾经说过,如果想看财运,就要以大限的财帛宫为「体」,以此为太极再立十 二宫,再以大限的财帛宫的气数位,也就是大限命宫为「用」,以其四化飞向回归以 大限财帛宫为太极点的十二宫看财运的变化。这个例子,就是太极点先「因时而动」 至本命福德宫,再「因事而动」至大限的财帛宫,也就是本命的夫妻宫。 也有「体」「用」同宫的情况。想看命宫和十二宫之间的关系,或缘份,就以命宫为 体和用,以其四化回归十二宫以看其现象。 要理解「太极点」、「体」和「用」的运用,才能了解飞星紫微斗数的奥秘,而不是 一味死记四化口诀乱飞。否则,四化的运用就永远只局限于「因时而动」,「体」和 「用」都在命宫的用法。 只要能灵活地运用「飞运」,飞星紫微斗数也不是这么困难。
64 [ Phi tinh mạn đàm 37 ] - Phi vận (2) 37. [ Thâm nhập thái cực thể và sử dụng ] - Cơ bản của Phi tinh Phần trên đã bàn về "Phi vận", có đưa ra một số khái niệm cơ bản nhưng phải hiểu được cách dùng Phi vận, nhất định phải hiểu rõ ba khái niệm cực kỳ quan trọng của phi tinh tử vi đẩu số : "Thái cực", "Thể" và "Dụng" . Trong thiên này trích dẫn một vài ví dụ, hy vọng có thể đem khái niệm diễn giải rõ ràng hơn. "Thái cực", một từ này nghe rất huyền diệu, thật ra, không hề phức tạp chút nào. Mệnh bàn trong Tử vi đấu sổ chỉ có mười hai cung, Thái cực chỉ di động ở trong 12 cung này. Ví dụ, lúc cung tài bạch lập Thái cực, cung Mệnh chính là sự nghiệp của cung tài hay còn gọi là Tài vận; Cung huynh đệ là cung vị cất dấu của cung Tài bạch, chính là cung vị chỉ tiền mặt, có thể tưởng tượng là "Ngân hàng" . Tiến thêm một bước, chính là Thái cực điểm di động giữa nguyên cục, đại hạn, lưu niên. Trước đây đã nói qua vấn đề phân chia Thái cực điểm "Nhân thời nhi động " và "Nhân sự nhi động " . Thậ ra, Thái cực điểm có thể "Nhân thời nhi động " trước rồi mới đến "Nhân sự nhi động " . Sự di động của Đại hạn chính là nhân thời nhi động. Ví dụ như: Đại hạn thứ 3 theo chiều thuận đến cung Phúc đức, do đó, Thái cực điểm "Nhân thời nhi động” mà di chuyển tới Phúc đức - Lấy cung Phúc đức làm cung Mệnh để lập lại mười hai cung, cung Phụ mẫu nguyên cục trở thành đại hạn huynh đệ, Mệnh nguyên cục trở thành đại hạn Phu thệ, Huynh đệ nguyên cục trở thành đại hạn Tử nữ. . . cứ như vậy suy ra. Đây chính là Thái cực điểm di động, đời người cũng giống biến hóa ở mười hai cung này mà vận chuyển vậy. Sau đó là nhân sự nhi động. Lấy ngay ví dụ sau làm dẫn chứng, Ví dụ: muốn xem vận thế của đại hạn này như thế nào, thì phải căn cứ vào tứ hóa của đại hạn cung Quan lộc (khí số vị) để khán. Thái cực "Nhân thời nhi động" đến cung Phúc đức, cho nên, lấy Phúc đức nguyên cục lập mệnh, như vậy, cung Di nguyên cục trở thành cung Quan lộc đại hạn. Tứ hóa của cung quan lộc hồi quy, lấy đại hạn làm cung mệnh rồi bài bố lại mười hai cung có thể nhìn ra vận thế của đại hạn. Ví dụ trên cho thấy có thể lấy cung Mệnh đại hạn là Thể, cung Quan lộc đại hạn làm dụng Trước đây cũng đã từng nói, nếu như muốn nhìn tài vận, thì phải lấy cung đại hạn Tài bạch làm "Thể", coi đây Thái cực lập lại mười hai cung, lại lấy cung khí số vị của đại
65 hạn Tài bạch, cũng chính là đại hạn cung Mệnh mà làm "Dụng", lấy hướng tứ hóa bay về 12 cung được lập cực bởi cung tài bạch mà luận về tài vận. Ví dụ này, chính là Thái cực điểm trước tiên "nhân thời nhi động" đến cung Phúc đức nguyên cục, sau đó "nhân sự nhi động" đến cung đại hạn Tài bạch, cung chính là cung Phu thê bản mệnh. Lại có trường hợp "Thể" ,"Dụng" đồng cung . Muốn xem quan hệ hoặc duyên phận giữa cung mệnh và các cung còn lại thì lấy cung Mệnh cung làm Thể và Dụng, xem tứ hóa bay về mười hai cung mà xem hiện tượng. Phải hiểu cách dùng "Thái cực điểm", "Thể" và "Dụng " , mối có thể hiểu được bí ẩn của phi tinh TVDS chứ không chỉ học vẹt mà phi hóa linh tinh. Nếu không, việc vận dụng tứ hóa vĩnh viễn chỉ giới hạn ở "Nhân thời nhi động", "Thể" và "Dụng" đều ở chỉ dừng lại ở việc dùng cho cung mệnh mà thôi. Chỉ cần có thể vận dụng linh hoạt "Phi vận", phi tinh tử vi đấu sổ cũng không khó khăn lắm.
66 【飞星漫谈 三十八】时空之谜 三十八【紫微斗数的时空论断】飞星派的强项 很多三合派的同道,起初也对飞星派的紫微斗数有所抗拒,但见近年越来越多人用飞 星派的方法去论命,更用的得心应手,因而也相继主动研究这门他们之前不屑一顾的 学问。 可是,当中大部份人只取用飞星派较容易理解的部份,却忽略了最主要的基础。也有 人自夸自己看了多年飞星派的书,以飞星派专家自居大放蹶词,认为飞星派的紫微斗 数是一大堆化星乱飞,对时间性的掌握却很薄弱。 这些人很明显都误会了,以为飞星派的人是运用一连串的单独飞化引起的现象来论命。 例如「夫妻飞忌去命宫会怎样」、「官禄飞禄去兄弟会怎样」之类的一大堆死背的口 诀。虽然,【飞星漫谈】开始时也用这些简单的看法来做引子,但【飞星漫谈】原意 也是以闲谈形式,用最简单的文字来引起大家的兴趣。 其实,飞星派的紫微斗数,最强的就是时间性的掌握。 试想想,如果飞星派真的是用一大堆口诀来论命,看看论命前要背多少个现像:同一 个平面(例如本命盘)有一百四十四个格局,十二体用演化为一千七百二十八个宫, 四化垂象就可生出六千九百一十二个意象。(见李子阳的「飞星步天通会一四四诀」) 光是同一个平面,就有六千九百多个现象。如果是三个平面体用交错,例如本命、大 限和流年,那就当中的组合更是不计其数了。 很老实说,如果要死记几千个现象才可以去论命,飞星紫微斗数不学也罢。 我在【飞星漫谈】也有浅谈过应数。而在这儿发表过,飞天的【飞星心诀】和较早前 方外人大师的【同步断诀】等,都是专门研究应期。 想要学好飞星的人,不应该舍难取易。学习飞星派的紫微斗数而不知道应数的运用, 就好像入了宝山却空手而回。 [Phi tinh mạn đàm 38 ] - Câu đố thời gian và không gian 38. [Phán đoán suy luận thời gian và không gian trong tử vi đấu sổ] – Thế mạnh của phi tinh phái. Rất nhiều đồng đạo của Tam hợp phái, ban đầu cũng có chỗ bất đồng với phi tinh phái, nhưng những năm gần đây càng ngày càng có nhiều người dụng phương pháp phi tinh phái để luận Mệnh, càng dùng lại thấy càng hợp lý, cho nên cũng lần lượt chủ động nghiên cứu cái môn mà trước đây họ chẳng để tâm này.
67 Thế nhưng phần lớn mọi người chỉ nắm bắt phần dễ hiểu mà lại quên đi phần nền tảng cơ sở. Cũng có người tự khoe mình đã xem sách phi tinh phái nhiều năm, nghĩ rằng mình là một chuyên gia phi tinh phái. Họ cho rằng phi tinh phái là một lượng lớn hóa tinh bay loạn xạ, đối với việc nắm bắt thời gian rất yếu kém. Những người này rõ ràng đều hiểu lầm, cho rằng phi tinh phái là vận dụng một chuỗi đơn lẻ phi hóa để đưa tới hiện tượng về Mệnh bàn. Ví dụ "Phu thê Phi kỵ đến cung Mệnh cung thì như thế nào", "Quan lộc Phi lộc đến huynh đệ thì như thế nào" lâu ngày tích tụ thành một lượng lớn khẩu quyết rời xa nguyên lý. Mặc dù, phi tinh mạn đàm ban đầu cũng dùng những nhận định đơn giản như thế này để làm lời dẫn, nhưng nguyên ý của phi tinh mạn đàm là lấy hình thức nói chuyện phiếm, dùng những lời văn giản dị để mang tới hứng thú cho mọi người. Thật ra thì phi tinh phái tử vi đấu sổ, mạnh nhất chính là việc nắm bắt thời gian. Thử nghĩ rằng, nếu như phi tinh phái đúng là dùng một đống khẩu quyết để luận mệnh, xem xem trước khi luận mệnh phải khán bao nhiêu hiện tượng: Cùng tầng (Ví dụ như mệnh bàn nguyên cục) đã có 144 cách cục, 12 thể dụng diễn hóa làm thành 1.728 cung, thêm thùy tượng của tứ hóa có thể sinh ra 6912 ý tượng. (Xem "Phi tinh bộ thiên thông hội nhất tứ tứ quyết" Lý Tử Dương) Chỉ cùng một tầng, thì có hơn 6900 hiện tượng. Nếu như là ba tầng, thể dụng lần lượt giao thao, Tỷ như Mệnh bàn nguyên cục, đại hạn cùng lưu niên, vậy tổ hợp bên trong coi như là đếm cũng không hết. Thành thật mà nói, nếu như phải học vẹt đến mấy ngàn hiện tượng mới có thể luận Mệnh, thì học phi tinh tử vi đấu số không học nữa cũng được. Ta ở trong[ Phi tinh mạn đàm ] cũng có nói qua ứng số. Mà ở chỗ này nói qua, [ Phi tinh tâm quyết ] phi thiên và hơi sớm tiền Phương ngoại Nhân đại sư [ Đồng bộ đoạn bí quyết ] đều là chuyên môn nghiên cứu ứng kỳ. Thiết nghĩ, người muốn học giỏi phi tinh chớ bỏ khó theo dễ. Học phi tinh phái tử vi đấu sổ mà không biết vận dụng ứng số, chẳng khác nào vào núi vàng mà đi về tay không.
68 【飞星漫谈 三十九】事业运 三十九【官禄飞忌冲疾看事业】事业位出问题 早在《【飞星漫谈 一】如何看没有良心的人》的时候我已经说过,本命的官禄宫飞忌 入父母宫冲疾厄宫,是代表命主会做违背良心的事情。其实,如果是在看事业时,这 个现象有另一个解释。今回介绍一下官禄在流运时的看法 。 在大限的官禄飞忌入本命父母冲本命疾厄的情况下,有几个角度可以为这个现象作分 析。第一,官禄属于自己的气数位,运气和你的「本体」无缘,已经是不妙。再者, 父母宫和疾厄宫形成的所谓「父疾线」,也被称为光明线,官忌入光明线有损前程, 除了代表事业上自己怎努力也得不到别人赏识,也代表考运不佳。 不过最直接的角度,就是看看以事业宫为太极,疾厄宫代表什么。疾厄宫除了代表自 己的身体之外,也是官禄的田宅。田宅宫于本命而言是「藏」位,于事业而言就是事 业赚钱的场所。对一个创业者来说,可能是自己的工厂或店子。厂/店受冲无缘,可能 代表倒店,破产等 。详细要看其他飞化啦。 同理,大限财帛如果是入本命交友宫冲本命兄弟宫,也是代表钱财的流失,因为兄弟 宫就是财帛的田宅宫,是财帛的「藏」位,具体点来说就是放现金的地方,例如银行。 财帛宫是你的「现金流向」,如果财帛飞忌冲自己的银行,也就是现金流出自己的财 库。可能是拿钱去投资,但很大机会是亏本。 [ Phi tinh mạn đàm 39] - Vận sự nghiệp 39. [ Quan lộc phi kị xung Tật khán sự nghiệp ] sự nghiệp xảy ra vấn đề Ngay ở 《 Phi tinh mạn đàm 1: Làm sao xem một người không có lương tâm 》ta đã nói qua, Cung Quan lộc bản mệnh phi kỵ nhập cung Phụ mẫu xung cung Tật ách, là đại biểu mệnh chủ sẽ làm những chuyện trái với lương tâm . Thật ra, nếu là lúc khán sự nghiệp, hiện tượng này có một cái giải thích khác. Nay quay lại giới thiệu qua một chút cách nhận định quan lộc lúc ở lưu vận. Tình huống đại hạn Quan lộc phi kỵ nhập bản mệnh Phụ mẫu xung cung bản mệnh Tật ách, có một vài góc độ phân tích hiện tượng này như sau. Thứ nhất, Quan lộc thuộc về khí số vị của mình, vận khí "Bản thể" của mình vô duyên, đã là không ổn. Hơn nữa, cung Phụ mẫu và cung Tật ách hình thành nên cái gọi là "tuyến Phụ Tật ", cũng được gọi là tuyến quang minh, ngay thẳng, quan kỵ nhập tuyến quang minh có thể tổn hại tiền đồ, ngoài ra còn biểu thị trong sự nghiệp, mình cố gắng thế nào đi nữa cũng không được người khác công nhận, cũng đại biểu vận thi cử không được tốt.
69 Bất quá quan điểm trực tiếp nhất, chính là lấy cung Quan lộc lập Thái cực, cung Tật ách đại biểu cái gì. Tật ách trừ đại biểu thân thể ra, cũng là cung Điền trạch của cung Quan lộc. Cung Điền trạch đối với Mệnh mà nói là "Tàng" vị, với sự nghiệp mà nói chính là nơi kiếm tiền của sự nghiệp. Đối với một người gây dựng sự nghiệp mà nói, có thể là công xưởng hoặc cửa tiệm của mình. Nhà máy / cửa tiệm bị Xung là vô duyên, có thể có thể đại biểu thất bại, phá sản … . Kỹ càng hơn phải xem đến Phi hóa khác. Cùng một lý lẽ, đại hạn Tài bạch nếu như là nhập cung Giao hữu bản mệnh xung Huynh đệ bản mệnh, cũng là đại biểu tiền tài hao tổn, bởi vì Huynh đệ là cung Điền trạch của cung Tài bạch, là "Tàng" vị của Tài bạch, cụ thể một chút mà nói thì chính là nơi cất giữ tiền mặt, ví như ngân hàng. Cung Tài bạch là "Hiện kim lưu hướng" của mình ( Dgc: Hướng lưu chuyển của tiền mặt) , nếu như Tài bạch phi kỵ xung ngân hàng của mình, cũng chính là tiền mặt chảy ra khỏi kho tài. Có thể là cầm tiền đi đầu tư, nhưng khả năng rất lớn là lỗ vốn.
70 【飞星漫谈 四十】飞星和四化的关系 四十【四化是四象的意形】四化并不是飞星的全部 其实我最怕写这种类「正名」的文章。一来,自己没有为任何门派捍卫名字的责任; 二来,我也不能代表任何派别去替一套学说「正名」。可是,近年来飞星派的紫微斗 数越来越来行,有些常用的称呼只会令人对「飞星」有所误解,实在不能不在此说明 一下。 部份三合派的大师有感于三合理论中四化的运用的不足够,而希望借用「飞星」中的 四化理论来作为补充,这就是以「星情星性为体,飞星四化为用」的观点。所以,当 他们运用到「飞星」时,就会说成是「飞星四化」的运用。 可是,运用「飞星」岂能单单看「四化」。「飞星四化」这个名词,实在会令人觉得 「飞星」等同「四化」,或「飞星」只有「四化」。这真是一个天大的误会。 我早在【飞星漫谈二十九】飞星本义当中也简单介绍过,「四化」其实是「飞星」中 「四象」的代表。就好像「春夏秋冬」四象,代表天气的变化,是「气象」。「四化」 也是类似,代表着一个宫的「四象」。 每个宫的宫干产生的四化,是代表该宫的「四象」,焦点并不在所化之星的「现象」 上,而在于引发这个「四象」的宫位。 所以,飞星其实是着重「宫位引发的四象的变化」而非「四化星」本身。所以,有人 还会细分。除了「飞星」之外,还有「飞策」、「飞宫」和「飞运」等等。 还有一个听起来很古怪的名词,就是把「飞星」形容为「宫干四化」。 的而且确,把飞星派和传统三合派的紫微斗数当中四化的运用作比较,最大分别就是 四化的源头。除了生年岁干四化相同之外,「三合派」集中使用命宫宫干的四化,而 「飞星派」却运用十二宫的宫干四化。所以,有人为了分辩两者的用法,就以「宫干 四化的运用」和来划分。 其实,我已经在不同场合说过很多次,飞星主旨是以一个「太极点」出发去看,再寻 求当中四象的变化。所以,任何一个宫也会有机会参与四化,但不代表看同一件事, 十二个宫也要同一时间「飞」。严格来说,同一时间只有一个宫在飞,就是「用」之 宫,四化引发的四象就回归以「体」为「太极」的十二宫,看其现象。 以上的听起来好像很难明,其实只要你对紫微斗数悄有认识,也会经常接触到以上的 理论。例如,大限的命宫所产生的忌星忌飞入本命盘的命宫,那就是以大限的命宫为 「用」,以本命的命宫为「体」的看法。这种「因时而动」的「体用」变化大家都会 很熟识。
71 而「飞星」就会再「因事而动」去寻现象。 [ Phi tinh mạn đàm 40] - Quan hệ giữa phi tinh và tứ hóa 40. [ Tứ Hóa là ý hình của tứ tượng ] Tứ Hóa cũng không phải toàn bộ phi tinh Kỳ thực thì ta rất sợ viết về văn chương “ chính danh” loại này. Thứ nhất, ta không có trách nhiệm bảo vệ danh tiếng của bất kỳ môn phái nào; thứ hai, ta cũng không thể đại biểu bất cứ môn phái nào khác mà đi thay thế một bộ học thuyết "Chính danh" . Nhưng, năm gần đây phi tinh phái tử vi đấu sổ càng ngày càng thịnh hành, có một số cái tên thường gọi càng làm người ta hiểu lầm về "Phi tinh, thực sự không thể không ở chỗ này mà nói rõ một chút. Phần lớn bộ phận tử vi gia theo Tam hợp phái cảm thấy lý luận trong tam hợp về cách vận dụng tứ hóa chưa được đầy đủ, mà mong muốn mượn lý luận tứ hóa trong "Phi tinh" để bổ sung, cái này chính là lấy "Tinh tình tinh tính vi thể, phi tinh tứ hóa vi dụng " ( lấy tinh tính làm thể, tứ hóa làm dụng) . Cho nên, khi bọn họ vận dụng "Phi tinh" sẽ nói thành là vận dụng "Phi tinh tứ hóa " . Nhưng, vận dụng "Phi tinh" há có thể chỉ cần khán "tứ hóa". "Phi tinh tứ hóa", một danh từ này quả thực sẽ làm cho người ta cảm thấy "Phi tinh" ngang hàng "tứ hóa", hoặc "Phi tinh" chỉ có "tứ hóa" . Đây thật là một hiểu lầm to lớn. Ta ở trong [Phi tinh mạn đàm 29 ] - Phi tinh bản nghĩa cũng đã giới thiệu sơ lược qua, "Tứ hóa" nhưng thật ra đại biểu "Tứ tượng" trong "Phi tinh". Thật giống như tứ tượng "Xuân hạ thu đông", đại biểu cho biến hóa của khí trời , là "Khí tượng"."Tứ hóa" cũng tương tự, đại biểu "Tứ tượng" của một cung nào đó. Mỗi can của một cung nào đó sản sinh ra tứ hóa, là đại biểu đầy đủ "Tứ tượng" của cung ấy, tiêu điểm không phải ở hiện tượng của sao hóa, mà ở chỗ mỗi một cung vị dẫn phát nên "Tứ tượng " . Sở dĩ, phi tinh thật ra chú trọng "Biến hóa của Cung vị dẫn phát ra tứ tượng "mà không phải là bản thân "Tứ hóa tinh". Cho nên, có người sẽ còn phân nhỏ ra. Ngoài "Phi tinh" ra, còn có "Phi sách", "Phi cung" , "Phi vận" …. Còn có một danh từ nghe rất cổ quái, chính là đem hình dung "Phi tinh" làm "Cung Can tứ hóa" . Chính xác hơn, đem vận dụng tứ hóa trong phi tinh phái và Tam hợp phái truyền thống ra so sánh, phân biệt lớn nhất chính là ngọn nguồn tứ hóa. Trừ sinh tứ hóa can năm sinh giống nhau ra, "tam hợp phái" tập trung sử dụng tứ hóa can cung mệnh, còn
72 "Phi tinh phái" vận dụng tứ hóa can của mười hai cung. Cho nên, có người phân biệt hai cách dùng, cho nên lấy "vận dụng can cung tứ hóa" để phân chia. Thật ra, ta đã nói qua những trường hợp bất đồng rất nhiều lần, mục đích chính của phi tinh là lấy “ thái cực điểm” làm điểm xuất phát để xem, thêm nữa là tìm biến hóa trong tứ tượng. Cho nên, bất kỳ 1 cung nào cũng có thể có tứ háo, nhưng không có nghĩa khán cùng một sự việc, mười hai cung cũng phải có thời điểm "Phi" thống nhất . Nghiêm chỉnh mà nói, thời điểm thống nhất thì chỉ có duy nhất 1 cung “phi” được, chính là cung "Dụng", tứ tượng của tứ hóa dẫn phát quay về lấy “thể” làm “ thái cực” của 12 cung để nhìn ra những hiện tượng khác nhau. Phần trên nghe rất khó hiểu, thật ra thì chỉ cần bạn tinh ý một chút, trong tử vi sẽ thường hay tiếp xúc với lý luận như vậy. Ví dụ: Cung đại hạn Mệnh sinh Hóa kị, kỵ Phi nhập Mệnh Nguyên cục, đó chính là lấy đại hạn cung Mệnh làm "Dụng", lấy Mệnh Nguyên cục làm "Thể " . Kiểu Thể - dụng của "Nhân thời nhi động " mọi người đều quen rồi. Thêm vào đó "Phi tinh" lại có "Nhân sự nhi động" để tìm hiện tượng.
73 【飞星漫谈 四十一】偏财 四十一【父母宫的飞化看偏财】以交友宫的财帛宫看偏财运 偏财其实是众生之财惠泽于你,所以单看财帛宫的飞化不足以断定你是否正在行偏财 运。众生位就是交友(奴仆)宫,它的财帛宫就是父母宫。 所以看偏财,应以父母宫的飞化来看现象,而非以单以财帛宫的飞化。 看的方法跟看财帛的飞化一样。如果飞禄照本命的命、官、财或田,就是好事;如果 另一边忌冲命、官、财或田,就要节制投机赌博了。 例如,流年父母宫飞禄照本命田宅、财帛或命宫,都是有偏财运的征兆;但如果飞忌 冲财帛和田宅,尤其田宅,那就任何投机行为都不要沾手啦。 当然,论命时要考虑大限在中间的关系啦。否则,任何人的命运都会是十二年循环一 次啦。 [Phi tinh mạn đàm 41 ]- Thiên tài ( xu hướng thiên lệch về tiền tài) 41. [phi hóa cung Phụ mẫu khán thiên tài] lấy cung Tài bạch của cung Nô bộc ckhán vận thiên tài. Thiên tài thật ra là tài của chúng sinh tạo thuận lợi bạn, cho nên chỉ đơn thuần nhìn phi hóa cung Tài bạch không đủ để kết luận là ngươi có đang ở hành vận thiên tài hay không. Chúng sinh vị chính là cung Giao hữu (nô bộc), cung Tài bạch của nó chính là cung Phụ mẫu. Cho nên khi khán thiên tài, cần phải lấy phi hóa cung Phụ mẫu để xem hiện tượng, chứ không phải chỉ lấy phi hóa cung tài bạch. Phương pháp khán và khán phi hóa Tài bạch giống nhau. Nếu như phi lộc chiếu Mệnh, Quan, Tài hoặc Điền Nguyên cục thì là chuyện tốt; nếu như là kỵ xung Mệnh, Quan, Tài hoặc Điề thì phải tiết chế đầu cơ, đánh bạc. Ví dụ như lưu niên cung Phụ mẫu phi lộc chiếu bản mệnh cung Điền trạch, Tài bạch hoặc Mệnh thì cũng đều là dấu hiệu báo có thiên tài vận; nhưng nếu như phi kỵ xung Tài bạch và Điền trạch, nhất là Điền trạch thì bất cứ hành động đầu cơ nào cũng không được dính dáng đến. Dĩ nhiên, lúc luận Mệnh cần phải cân nhắc quan hệ với đại hạn nữa. Nếu không, số mệnh bất kỳ người nào cũng sẽ tuần hoàn mười hai năm một lần vậy.
74 【飞星漫谈 四十二】十干四化的不同版本 四十二【戊、庚和壬干的四化】不同派别有不同的看法 写这一篇是想再一次组织一下很久以前研究过的课题,怕自己老大会忘记掉。 7 月 2 日 【飞星漫谈 四十二】十干四化的不同版本 四十二【戊、庚和壬干的四化】不同派别有不同的看法 写这一篇是想再一次组织一下很久以前研究过的课题,怕自己老大会忘记掉。 以下是不同古书和派别中所流传的十干四化版本一漤表: 注: 《全集》=《紫微斗数全集》中的〈定禄权科忌四化诀〉 《全书》=《紫微斗数全书》中的〈安禄权科忌四星变化诀〉 以上戊、庚和壬干中用红色字标记的是各派争议的部份。可以看到: (1)《全书》中只有右弼化科而左辅不化科,而庚干天同化忌改为太阴化忌,原因可 能是「天同不化忌」的理论。 (2)中州派(王亭之)的比较特别,强调左辅右弼不加入四化,所以取而代之的是太 阳和天府化科。庚干也是以天府化科,是比其他的派别更别树一帜。 (3)北派沿用《全集》的左辅右弼化科。可是,庚干却是天同化科和天相化忌。天同 化科而不化忌的原因除了是限随《全书》之外,也有可能是「天同福星不化忌」之说 所影响。另外,天相化忌是其他派别没有出现过的,相传这是由其他术数的原理中推 敲出来的结果。 近年大部份使用三合派紫微斗数的人都会不约而同地使用中州派(王亭之)的十干四 化排列,这和王亭之先生近代积极推广其中州派紫微斗数学说的努力不无关系。 绝大部份飞星派都会使用《全集》中〈定禄权科忌四化诀〉的十干四化排列。 [ Phi tinh mạn đàm 42 ] - phiên bản khác nhau của thập can Tứ Hóa 42. [ Tứ Hóa của Mậu, Canh và Nhâm] – Các phải khác nhau có cái nhìn khác nhau Ta viết vấn đề này để một lần nữa hệ thống lại những gì đã nghiên cứu trước đây, sợ sau này già cả lú lẫn mà quên mất. Ngày 2 tháng 7 [ Phi tinh mạn đàm 42 ] - phiên bản khác nhau của thập can Tứ Hóa 42. [ Tứ Hóa của Mậu, Canh và Nhâm] – Các phải khác nhau có cái nhìn khác nhau
75 Ta viết vấn đề này để một lần nữa hệ thống lại những gì đã nghiên cứu trước đây, sợ sau này già cả lú lẫn mà quên mất. Dưới đấy là sự bất đồng trong cổ thư về và lưu truyền của các phái về thập can tứ hóa: Chú: 〈định lộc quyền khoa kỵ tứ hóa quyết 〉trong《Toàn tập》=《Tử vi đấu sổ toàn tập》 〈an lộc quyền khoa kỵ tứ tinh biến hóa quyết〉trong 《Toàn thư》=《Tử vi đấu sổ toàn thư》. Trên đây, can Mậu, Canh, Nhâm, là các phái đang tranh cãi. Có thể thấy: (1)《Toàn thư》chỉ có Hữu Bật hóa khoa mà Tả Phụ không có hóa khoa. Can Canh Thiên đồng hóa kỵ đổi thành Thái Âm hóa kỵ, nguyên nhân có thể là do lý luận "Thiên Đồng không hóa kỵ" vậy . (2) Trung Châu phái (Vương Đình Chi) tương đối đặc biệt nhấn mạnh Tả Phụ Hữu bật không gia nhập tứ hóa, cho nên thay vào đó là Thái Dương và Thiên phủ hóa khoa. Can Canh cũng lấy Thiên Phủ hóa khoa, so với các phái khác thì lại càng không giống. (3) Bắc phái tiếp tục sử dụng 《Toàn tập》 Tả Phụ Hữu Bật hóa khoa. Nhưng, Can canh lại là Thiên Đồng hóa khoa và Thiên Tướng hóa kỵ. Thiên Đồng hóa khoa mà không hóa kỵ ngoài nguyên nhân giới hạn theo 《Toàn thư》 ra cũng có thể là do ảnh hưởng của thuyết "Thiên Đồng phúc tinh bất hóa kỵ" . Ngoài ra, Thiên Tướng hóa kỵ là điều mà phái khác chưa từng thấy xuất hiện. Tương truyền đây là kết quả từ việc cân nhắc nguyên lý của những thuật số khác mà thêm bớt vào. Năm gần đây, phần lớn những người sử dụng Tử vi đẩu số Tam hợp phái không hẹn mà cùng sử dụng xếp đặt thập can tứ hóa của Trung Châu phái (Vương Đình Chi). Thuyết này cùng Vương Đình Chi tiên sinh tích cực mở rộng trong cận đại, trong đó nỗ lực của học thuyết Trung Châu phái Tử vi đẩu số có chút ít quan hệ. Tuyệt đại đa số phi tinh phái đều sử dụng xếp đặt thập can tứ hóa 〈định lộc quyền khoa kỵ tứ hóa quyết〉trong 《Toàn tập》.
76 【飞星漫谈 四十三】立极和自为体用 四十三【立极和自为体用】两个不同的慨念 最近谈论到「立极」(或移「太极点」)的问题。发觉到很多人会把「立极」和「自 为体用」当成是同一回事。 「立极」就是把「命宫」移动到另一个宫,再以所在之宫为「命宫」,立十二宫。 例如,以「官禄宫」「立极」,那么原来的「命宫」,就可以看成以「官禄宫」为太 极的「财帛宫」,所以「命宫」也可以是「官禄的财帛宫」。 同样道理,「命宫」也是「财帛的气数位」,因为如果以「财帛宫」「立极」,那么 「命宫」就是以「财帛宫」为太极的「官禄宫」,也就是气数的宫位。如此类推。 虽然「立极」好像很玄,但其实大限的用法也是「立极」的一个例子。第二个大限开 始,「大限盘」就会顺(或逆)移一格。如果是顺行,你第二个大限的「命宫」就是 你本命的「父母宫」。以飞星派的说法,就是等同「在父母宫立极」。 立了极后,以这个「太极点」为首的十二宫就是「体」。如果以「太极点」的宫位做 飞化,就叫做「自为体用」。 三合派的人习惯运用大限「命宫」的四化,而大限「命宫」所飞出来的四化,以飞星 派的说法,就是「自为体用」。 那么,什么时候「立了极」,但又不等同「自为体用」呢?其实第一篇飞星漫谈【飞 星漫谈 一】 如何看没有良心的人也已经是一个好例子。以「官禄宫」的飞化飞回本命 的命盘,其实就是「以命宫为体,官禄为用」。也就是说,以「命宫」为太极,「官 禄宫」为用。 例如,想知道「夫妻宫」飞忌往「福德宫」(「夫妻宫」的宫干使福德宫内坐的星化 忌)代表什么,可以以「夫妻宫」「立极」,再看看以「夫妻宫」为太极的飞化去了 以「夫妻宫」为「体」的那一个宫。你会发觉,本命的「福德宫」其实是以「夫妻宫」 「立极」时的「官禄官」,也就是说,可以视为「配偶」飞忌入「配偶的官禄宫」, 是代表配偶是工作狂。 [ Phi tinh mạn đàm 43 ] - Lập cực và tự làm thể dụng 43. [ Lập cực và tự làm thể dụng ] - Hai khái niệm bất đồng Gần đây đàm luận đến vấn đề "Lập cực" (hoặc dời "Thái cực điểm" ). Phát hiện ra rất nhiều người đem "Lập cực" và "Tự làm thể dụng" trở thành một. "Lập cực" chính là đem "cung Mệnh" dời đến một cung khác, lại lấy chỗ của cung đó làm "Cung Mệnh", lập lại mười hai cung.
77 Ví dụ như lấy "cung Quan lộc " "Lập cực", như vậy thành ra "Cung Mệnh" có thể được xem là cung Tài bạch của cung Quan lộc lập cực, cho nên "Cung Mệnh" cũng có thể là "Quan lộc của cung Tài bạch " . Tương tự như vậy, "Cung Mệnh" cũng là "khí số vị của tài bạch", bởi vì nếu như lấy "Cung tài bạch " "Lập cực", như vậy "Cung Mệnh" chính là lấy cung Quan lộc của cung Tài lập cục, cũng chính là cung khí số vị… Cứ như vậy suy ra. Mặc dù "Lập cực" thật giống như rất khó hiểu , nhưng thực ra cách dùng đại cùng là một ví dụ về cách "Lập cực” mà thôi. Đại hạn thứ hai bắt đầu, "Đại hạn bàn" sẽ thuận (hoặc nghịch) dời một ô. Nếu như là thuận, "Cung Mệnh" của đại hạn thứ hai chính là "cung Phụ mẫu" nguyên cục . Lấy phi tinh phái giải thích, chính là xem như "Ở cung Phụ mẫu lập cực" . Lập cực xong, lấy "Thái cực điểm" đứng đầu mười hai cung, đây chính là "Thể" . Nếu như lấy cung vị "Thái cực điểm " mà phi hóa, thì gọi là "Tự làm thể dụng" . Những người của Tam hợp phái có tập quán dùng tứ hóa đại hạn "Cung Mệnh ", mà đại hạn "Cung Mệnh" phát xuất tứ hóa ra ngoài, theo lối giải thích của phi tinh phái thì cũng chính là "Tự làm thể dụng" . Như vậy, lúc nào "Lập cực"nhưng lại không phải là "Tự làm thể dụng"? Thật ra thì phần đầu tiên của phi tinh mạn đàm [Phi tinh mạn đàm 1] – Làm sao khán một người không có lương tâm cũng đã là một ví dụ điển hình. Lấy "Cung quan lộc " phi hóa bay về mệnh bàn nguyên cục, thật ra thì chính là "Lấy Cung Mệnh làm thể, quan lộc làm dụng" . Nói cách khác, lấy "cung Mệnh" làm Thái cực, "Cung Quan lộc " làm dụng. Ví dụ, muốn biết "cung Phu thê" phi kỵ đến "cung Phúc đức " (Can "cung Phu thê" khiến cho sao trong tọa trong cung Phúc đức hóa kỵ) đại biểu cái gì ? Ta có thể lấy "cung Phu thê" "Lập cực", lại lấy phi hóa của "Cung phu thê" làm Thái cực để xem. Rồi lấy "cung Phu thê" làm "Thể ". Ngươi sẽ phát giác, " cung Phúc đức " bản mệnh thật ra là cung Quan lộc của cung Phu thê khi lập cực. Nói cách khác, có thể coi là "Phối ngẫu" phi kỵ nhập "cung quan lộc của phối ngẫu ", là đại biểu phối ngẫu của ngươi là người cuồng công việc.
78 飞星漫谈 四十四】「飞星格局」禄忌交缠 四十四【一、五、九、十之飞忌与来禄交缠】两败俱伤 今次是谈之前很少提及不同宫所飞出之禄忌成交缠的现象。 本命一、五、九、十(命宫、财帛宫、官禄宫和田宅宫)飞忌入的宫,如果同一时间 其他宫也飞禄进来,那就会形成「禄忌交缠」的现象,损之在命主。 例如,本命兄弟飞禄入本命夫妻,而本命田宅也同时飞忌入本命夫妻宫,那么命主要 尽量避免跟人合伙做房产的买卖。 「禄忌交缠」有别于其他的飞星法则,是在同一个平面显示的现象。 [Phi tinh mạn đàm bốn mươi bốn ]- \ "Phi tinh cách cục \" lộc kị giao triền (Dgc: Giao triền: Quấn quít, lẫn vào nhau) 44. [Phi kị của 1,5,9,10 cùng tới lộc giao triền ] - Lưỡng bại câu thương Những lần luận bàn trước, rất ít khi đề cập đến các cung khác nhau phi xuất lộc kỵ thành hiện tượng giao triền. Bản mệnh một, năm, chín, mười (cung Mệnh, cung Tài bạch, cung Quan lộc cùng cung Điền trạch) phi hóa kỵ nhập cung, nếu như cùng thời điểm đó cung khác cũng phi lộc tiến đến, vậy thì sẽ tạo thành hiện tượng "Lộc kỵ giao triền " , mệnh chủ bị tổn hại. Ví dụ, bản mệnh Huynh đệ phi lộc nhập bản mệnh Phu thê, mà bản mệnh Điền trạch cũng đồng thời phi kỵ nhập bản mệnh Phu thê, như vậy mệnh chủ phải cực kỳ tránh việc góp vốn mua bán bất động sản với người khác. "Lộc kỵ giao triền" khác biệt với những cách cục phi tinh khác, là hiện tượng biểu hiện ở cùng một tầng.
79 【飞星漫谈 四十五】换工作的抉择 四十五【以子女飞化入本命大限】看事业上的贵人 某人在工作上不如意,想离开自己的工作岗位。于是来问命,想知道自己应该换工作 好,还是保持原状好。盘上显示他来年的大限官禄宫飞化三吉入本命三方,连流年也 是显示吉象,肯定他未来在事业上有好的转变。 可是,到底是因为换工作后事业有好转,还是因为留在原职出现好的转机,这个不容 易单从这个现象看出来。 有些人会试图兼看迁移、交友、父疾的飞化。可是,也未必能解答到应否转工的问题。 其实有一个直接一点的看法:用子女宫的飞化去做触机。 子女宫是事业的交友,可以视为客人,也可以是合作伙伴的关系。这一点在【飞星漫 谈 二十七】打官司的胜数中,也曾经讨论过。 因此,子女宫的飞化也可以看得出你最近是遇到贵人还是贼人。可以用流年的子女宫 飞化,如果三吉入本命三合或大限三合,而忌不冲三合,那么,你这一年很有机会遇 到贵人。 如果嫌流年不够精确,可以用流月的子女宫的飞化回归流年和大限来看现象了。 不过以我的经验,因为是用上了触机,也就是因事而起象,所以流年的现象已经很足 够了。 [Phi tinh mạn đàm 45 ] - Lựa chọn thay đổi công tác 45. [ Lấy tử nữ phi hóa nhập bản mệnh, đại hạn ] - khán quý nhân trên sự nghiệp Có một người, trong công việc không như ý, muốn từ bỏ công việc của mình. Vì vậy tới xem số, muốn biết mình đổi công việc có tốt không, có thể có công việc tốt như bây giờ không. Trên lá số báo hắn ta năm sau đại hạn quan lộc phi hóa tam hóa cát nhập tam phương bản mệnh, ngay cả lưu niên cũng biểu hiện cát tượng, khẳng định hắn trong thời gian tới trên sự nghiệp có chuyển biến tích cực. Thế nhưng rốt cuộc là vì đổi sang việc khác có chuyển biến tốt đẹp hay là bởi vì ở lại chức vụ cũ mà chuyển biển cơ hội tốt. Câu hỏi này không phải chỉ từ một hiện tượng nói trên mà dễ dàng nhìn ra . Có vài người sẽ có ý định nhìn thêm phi hóa cung Di, Giao hữu, Phụ Tật. Nhưng cũng chưa chắc có thể giải đáp được vấn đề là có nên chuyển việc hay không. Thật ra thì có một quan điểm trực diện hơn, đó là : lấy cung Tử nữ phi hóa khán cơ hội tiếp xúc.
80 Cung Tử nữ là giao hữu của sự nghiệp, có thể coi là khách, cũng có thể là quan hệ hợp tác làm ăn. Điểm này ở [Phi tinh mạn đàm 27] – lên tòa thắng kiện, cũng từng thảo luận qua. Vì vậy, phi hóa cung Tử nữ cũng có thể nhìn ra được là ngươi gần tới đây gặp quý nhân hay tặc nhân. Có thể dụng phi hóa lưu niên Tử nữ, nếu như tam cát nhập tam hợp bản mệnh hoặc tam hợp đại hạn, mà kỵ không xung tam hợp, như vậy năm đó ngươi rất có cơ hội gặp được quý nhân. Nếu như nghi ngờ lưu niên không đủ chính xác, có thể dụng lưu nguyệt cung Tử nữ phi hóa quay trở về lưu niên và đại hạn để xem hiện tượng. Bất quá theo kinh nghiệm của ta, bởi vì dùng tới là động đến cũng chính là vì sự mà khởi lên tượng. Cho nên xem đến lưu niên hiện tượng cũng đã rất đủ rồi..
81 【飞星漫谈 四十六】财帛宫的冤情 四十六【财帛是你的财务总监】别把他当作是你的财神 对大部份人来说,紫微斗数十二宫中最吸引的宫位应该是财帛宫了。 财,就是钱财,帛,是泛指有价值,可以保值的东西。由于名字相当吸引,财帛宫一 直给人的印象是「财神」。当看见财帛宫的坐星漂亮,再加上有化禄、化权和化科等 三吉星来会时,就不禁沾沾自喜,认为大富之期不远矣。相反,当自见财帛宫煞忌交 杂,就怨天不公平,不给予发达的机会云云。 事实上,研习紫微斗数多年的朋友都会留意到,财帛宫有吉有禄未必一定大发,而有 忌却能出富豪。个中的原因,纯粹基于大家对财帛宫的误解。 财帛宫其实不等同财库,也不是你的财神。如果以拟人法去形容,他其实只是一个受 雇于你的财务总监,负责掌管你的财务往来。 也就是说,财帛宫主要是看你的钱财或财产的流动情况。在《飞星漫谈四十六 图一》 中,财帛宫飞忌入官禄宫。命宫三方的忌入命宫三方为吉,而飞禄入命,代表命主工 作上获利,得到好处。留意财帛的飞化在这个情况下是点出工作赚回来的钱流去那儿。 得财并非单单看财帛宫飞禄往命宫那一头飞化。 另一个例子《飞星漫谈四十六 图二》中,财帛飞禄入交友宫,飞忌入田宅宫。因为是 我宫(财帛宫)禄入他宫(交友宫),所以财流的方向是去了交友宫那一边。现象就 变成钱财都给朋友从财库中拿去了。 大家可以看到财帛宫的飞化主要是表达钱财的流动方向。而真正的库位,其实是你的 田宅宫。因为,如果以财帛宫为一(太极点),它的逆行第六宫就是田宅宫,和财帛 宫是有一六共宗的关系,是财帛宫的实体,真正的财库位。 而财运位,早在「【飞星漫谈 三十二】大限化禄的含意」中,也有记载:以财帛宫为 一(太极点),命宫就是其逆数第九位,也就是气数位。所以,命宫是财帛宫的气数, 也就是财运。 [Phi tinh mạn đàm 46 ] - Oan tình của cung Tài bạch 46. [Tài bạch là tổng giám tài vụ của ngươi] - chớ đem nó coi như là tài thần của ngươi. Đối với phần lớn mọi người mà nói, trong Tử vi đấu sổ, mười hai cung hấp dẫn nhất có lẽ là cung Tài bạch Tài, chính là tiền tài, bạch, là nói về có giá trị, có thể là đồ đáng giá. Bởi vì cái tên rất hấp dẫn, cung Tài bạch vẫn cho người ta ấn tượng là "Thần tài" . Khi nhìn thấy sao tọa ở cung tài bạch đẹp, hơn nữa khi có tam cát tinh hóa lộc, hóa quyền, hóa khoa hoặc tới hội
82 họp, không tránh khỏi dương dương tự đắc, cho rằng chả mấy mà phát lên như diều gặp gió. Ngược lại, khi tự thấy cung tài bạch sát kỵ hỗn hợp, thì liền oán trời cao không công bằng, không cho ta cơ hội phát đạt …. Trên thực tế, các bằng hữu nghiên tập Tử vi đấu sổ nhiều năm đều sẽ lưu ý, cung Tài bạch có cát có lộc chưa chắc nhất định đại phát, mà có kỵ lại có thể giàu có. Nguyên nhân trong đó cơ bản thuần túy là sự hiểu nhầm của mọi người về cung Tài bạch . Cung Tài bạch thật ra không giống như tài kho, cũng không phải thần tài của ngươi. Nếu như dùng phương pháp nhân cách hóa để hình dung thì cung Tài bạch thật ra chỉ là một người làm thuê ở chức vụ Tổng giám tài vụ , phụ trách trông tài vụ vãng lai của ngươi mà thôi. Nói cách khác, cung Tài bạch chủ yếu là nhìn hoạt động lưu động tiền tài, tài sản của ngươi. Ở 《Phi tinh mạn đàm 46, hình 1, cung Tài bạch phi kỵ nhập cung Quan lộc. Kị của tam phương cung mệnh nhập tam phương cung mệnh là cát, nhưng phi lộc nhập Mệnh, đại biểu mệnh chủ trong công việc có được lợi, đắc được đúng chỗ. Lưu ý Phi hóa tài bạch ở tình huống này là điểm ra xem tiền do công việc kiếm được sẽ lưu chuyển đi nơi nào. Đắc tài, tịnh không phải là chỉ khán cung Tài bạch phi hóa lộc đến cung Mệnh. Một ví dụ khác trong《 Phi tinh mạn đàm 46, hình 2》, Tài bạch phi hóa lộc nhập cung Giao hữu, phi kỵ nhập cung Điền trạch. Bởi vì là ngã cung (cung Tài bạch ) hóa lộc nhập tha cung (cung Giao hữu), cho nên hướng lưu chuyển của tiền tài là di chuyển về phía Giao hữu. Hiện tượng liền trở thành tiền tài có bao nhiêu cũng đem cho bạn mà tiền này lấy từ tài trong kho của mình. Mọi người có thể thấy phi hóa cung Tài bạch chủ yếu là biểu đạt phương hướng lưu động của tiền tài. Còn chân chính khố vị, thật ra lại là cung Điền trạch. Bởi vì, nếu như lấy cung Tài bạch làm cung thứ 1 (Thái cực điểm), từ đó đi ngược chiều đến cung thứ 6 chính là cung Điền trạch, cùng cung Tài bạch có quan hệ nhất lục cộng tông, là thực thể của cung Tài bạch , là tài kho vị chân chính. Mà tài vận vị, ngay ở "[Phi tinh mạn đàm 32 ]- đại hạn hóa lộc hàm ý \", cũng có ghi lại: Lấy cung tài bạch làm thứ 1 (Thái cực điểm), đếm nghịch đến 9 là cung Mệnh, cũng chính là khí số vị. Cho nên, cung Mệnh là khí số vị của cung Tài bạch , cũng chính là tài vận.