The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.
Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by leanh.subh, 2021-11-14 09:58:15

NHÓM 4-10A7

NHÓM 4-10A7

LỜI MỞ ĐẦU

CHỊU TRÁCH NHIỆM XUẤT BẢN:
NHÓM 4 – 10A7 – THPT Ngô Quyền

CHỊU TRÁCH NHIỆM NỘI DUNG:
NGUYỄN MINH AN
VŨ NGỌC MAI

LÊ ĐINH PHƯƠNG MAI
NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG NHI

NGUYỄN TÂM THANH
TRƯƠNG HUY THÀNH
PHẠM HOÀNG VIỆT

CHỈNH SỬA NỘI DUNG:
LÊ ĐINH PHƯƠNG MAI

PHẠM HOÀNG VIỆT

TRÌNH BÀY BÌA:
VŨ NGỌC MAI

NGUYỄN TÂM THANH

Sách có sử dụng thông tin và hình ảnh minh họa lấy từ nguồn sách giáo khoa Lịch Sử 10 và trên trang mạng Internet.
Mọi thông tin thắc mắc liên hệ tại: [email protected]

MỤC LỤC

• Phần 1: Các quốc gia – quá trình hình thành và phát triển.
• Phần 2: Điều kiện tự nhiên.
• Phần 3: Kinh tế.
• Phần 4: Xã hội.
• Phần 5: Chính trị.
• Phần 6: Lịch – thiên văn.
• Phần 7: Chữ viết.
• Phần 8: Khoa học.
• Phần 9: Nghệ thuật.



CÁC QUỐC GIA CỔ
ĐẠI PHƯƠNG TÂY

Bao gồm : Hi Lạp,La Mã (bản ngữ là Roma)
ngoài ra còn có các quốc gia nhỏ ở ven Địa
Trung Hải, các thị quốc nhỏ,…

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH

Thời gian Địa điểm

Hình thành Nằm trên
vào khoảng bờ Bắc
đầu thiên Địa Trung
niên kỉ I Hải
TCN

Vùng biển Địa Trung Hải

2. Điều kiện tự nhiên

THUẬN LỢI Cảnh quan (sông,
núi, biển,..):độc
Cảnh quan hùng vĩ của phương Tây cổ đại đáo, đa dạng, đẹp

đẽ,...

Phát triển hàng Khí hậu: ấm áp,
hải, thương trong lành
nghiệp biển

Có hải cảng,
nhiều đảo, biển
lớn => giao thông
thuận lợi cho

KHÓ KHĂN Nông nghiệp nghèo nàn
con người phải lao động cực nhọc
• Đất đai ít màu mỡ, khô cằn, khó cày cấy, khó canh tác
• Yếu tố đất đai kém phát triển dẫn đến sự thiếu hụt

nguồn lương thực nên phải mua lúa mì, lúa mạch của
người Tây Á, Ai Cập.
• Ban đầu các bộ lạc đều sống ở các thung lũng. Ở đấy
những dãy núi cao từ lục địa chảy ra biển đã nâng cấp
thung lũng này với thung lũng khác tạo thành những
đồng bằng nhỏ hẹp.
• Nhờ có công cụ bằng sắt mà diện tích đất canh tác
trong việc trồng trọt đã có kết quả.
• Con người phải gian khổ khai phá từng mảnh đất,
phải lao động khó nhọc mới đảm bảo được một phần
lương thực



➢ Chủ yếu trồng lúa mì, lúa mạch là

chính.
➢ Các loại cây lưu niên có giá trị cao

như: oliu, cam, chanh…
➢ Nông nghiệp còn kém phát triển

nên vẫn phải mua lúa mì, lúa mạch

của các nước Phương Đông.

❖ Phát triển đa dạng các ngành nghề
như: đóng tàu, may mặc, làm nhạc
cụ, chế tạo vũ khí, kim hoàn, làm
gốm…

➢ Nhờ hàng hoá đa dạng, mẫu mã đẹp,
chất lượng cao mà ngành thủ công
nghiệp phát triển và có quy mô lớn.

➢ Sự phát triển của ngành thủ công
nghiệp cũng tác động mạnh đến
thương nghiệp của các quốc gia này.

➢ Mở rộng buôn bán, trao đổi
hàng hoá với vùng Địa Trung
Hải và các nước Phương Đông.

➢Đê Lốt, Pire trở thành trung
tâm buôn bán nô lê lớn nhất
thế giới.

 Nhờ hoạt động thương mại phát đạt dẫn đến lưu thông tiền tệ từ rất
sớm.

Tiền tệ Athens Tiền tệ Roma

➢Thủ công nghiệp và thương nghiệp chính là hai yếu

tố chủ yếu thúc đẩy nền kinh tế Hy-La cổ đại phát

triển một cách mạnh mẽ.
➢Trở thành những quốc gia giàu mạnh nhất Phương

Tây cổ đại.
➢Sáng tạo nên một nền văn minh rực rỡ trong lịch sử

nhân loại.

4. Xã hội

Với sự phát triển không ngừng, xã hội của các
quốc gia cổ đại phương Tây đã có sự khác biệt
rõ rệt với các quốc gia cổ đại phương Đông

CÙNG NHAU CỦNG CỐ LẠI KIẾN THỨC

Hãy take note lại nhiều nhất có thể các bạn nhé

Vua Vua là người đứng đầu nắm giữ Quý tộc gồm các quan lại ở địa
Quý tộc mọi quyền hành phương, các thủ lĩnh quân sự và
những người phụ trách nghi lễ,
Nông dân công xã tôn giáo => được hưởng nhiều
đặc quyền, đặc lợi

Nông dân công xã là bộ phận đông đảo, có vai trò to lớn trong
sản xuất

Nô lệ Nô lệ là tầng lớp thấp nhất của xã hội (chủ yếu là tù binh và
nhân viên công xã bị mắc nợ nhưng không trả được nợ hoặc

là tù nhân phạm tội)

Sơ đồ phân cấp xã hội của các quốc gia cổ đại phương Đông

TỔNG KẾT LẠI

⇒ Như vậy ta có thể kết luận rằng: Xã hội cổ đại phương ✓ Đặc biệt nô lệ ở phương Đông không phải là lực
Đông là xã hội chiếm nô không rõ nét, không “điển lượng lao động chính làm ra của cải vật chất nuôi
hình” vì: sống xã hội.

✓ Ở xã hội phương Đông cũng luôn tồn tại những mâu ✓ Không là lực lượng có mâu thuẫn sâu sắc với giai
thuẫn giai cấp. Giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị cấp thống trị, không là lực lượng thúc đẩy xã hội
hết sức gay gắt. Nhưng đây lại là những xã hội có chế độ phát triển.
chiếm hữu nô lệ không điển hình (chế độ nô lệ gia
trưởng).

✓ Nô lệ ở đây là thiểu số trong thành phần dân chúng
(dưới 5%).

✓ Họ chủ yếu là các nô tỳ, gói trọn cuộc sống trong gia
đình chủ, được trả tiền công theo công việc, ít mâu
thuẫn về quyền lợi -> phân tán khắp nơi, không bao giờ
sống tập trung -> hoàn toàn không có khái niệm nô lệ.

Sau khi khái quát đặc điểm của xã hội các
quốc gia cổ đại phương Đông thì giờ đây
chúng ta đã có được cái nhìn sơ lược nhất
để có thể dễ dàng nhận thấy được những
đặc điểm riêng biệt của xã hội các quốc gia
cổ đại phương Tây qua quá trình không

ngừng phát triển

ĐẶC TRƯNG CỦA
XÃ HỘI

Xã hội cổ đại Hy Lạp và Rô-ma gồm có 2 giai cấp cơ
bản là chủ nô và nô lệ.
⮚Chủ nô là người có quyền lực, có nền tảng kinh tế,

giàu có và bóc lột nô lệ.
⮚Nô lệ là lượng lao động chính trong xã hội, làm

việc cực nhọc trong các trang trại, thường bị chủ nô
đối xử tệ bạc, bóc lột sức lao động. Nô lệ được xem
là tài sản riêng của chủ nô và bị xem là “công cụ
biết nói”.
=> Do tình trạng bóc lột nặng nề nên các nô lệ liên
tục nổi dậy đấu tranh chống lại chủ nô, đòi quyền lợi.

Hình ảnh các nô lệ đang bị đánh đập, hành hạ một
cách dã man

Sơ đồ phân cấp xã hội các quốc gia cổ đại
phương Tây
Giai cấp thống trị -> Giai cấp bị trị
-> lực lượng lao
quyền lực kinh tế, sở động chính -> lệ
thuộc vào chủ nô
hữu nhiều nô lệ

Những cư dân tự do -> có nghề Chủ nô
nghiệp, tự kiếm sống bằng lao
động -> cuộc sống an nhàn -> Bình dân
viện cấp xã hội (bao gốm thợ thủ công, dân tự do và kiều

dân di cư từ nơi khác đến)

Nô lệ

Hình ảnh đời sống sinh hoạt của các thợ thủ công, kiểu dân và Hình ảnh mua bán, trao đổi nô lệ ở các quốc gia cổ đại phương
bình dân Tây như một món hàng

KẾT LUẬN

=> Tất cả những yếu tố trên đã hình thành nên chế độ chiếm hữu nô lệ ở xã
hội các quốc gia cổ đại phương Tây

Cảnh chủ nô đánh đập nô lệ

HẬU QUẢ

✔ Sự giàu có của Hi Lạp dựa trên nền kinh tế công
thương nghiệp, sử dụng lao động nô lệ, làm các việc
trồng, hái nho, khai mỏ, chèo thuyền và khuân vác...
khiến cho sự cách biệt giữa giàu và nghèo, giữa chủ
nô và nó lẽ ngày càng lớn. ở Roma, sự cách biệt
này còn lớn hơn.

⇒ Nô lệ bị bóc lột và bị khinh rẻ nên thường phản
kháng chủ nô. Ở Hi Lạp, hình thức phản kháng chủ
yếu là trễ nải trong lao động và bỏ trốn, nhất là khi
có chiến tranh. Ở Rô-ma thì họ nổi dậy khởi nghĩa
chống đối thực sự.

⇒ Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Xpac-ta-cut năm

71-73 TCN.

5. Chính trị

Thể chế dân chủ: quyền lực nằm Thể chế dân chủ phát triển cao
trong tay Đại hội công dân. nhất ở Athens

Đại hội công dân bầu và cử ra cơ quan
nhà nước, quyết định mọi công việc
nhà nước.
Không có vua.

Thành lập Hội đồng 500 có vai trò như “quốc hội”, thay
mặt dân quyết định công việc trong nhiệm kì 1 năm.
Bầu 10 viên chức điều hành công việc như một “chính
phủ” có nhiệm kì 1 năm.

Bản chất: dân chủ chủ nô

6. Lịch – Thiên văn

- Lịch Julius: Người Rô-ma tính 1 năm là 365 ngày ¼, định
ra 1 tháng lần lượt có 30 và 31 ngày, riêng tháng 2 có 28
ngày-so với thực tế vẫn bị chậm một ít nhưng rất gần với
những hiểu biết ngày nay.
=> Từ phép tính lịch trên, lại có quá nhiều ngày nhuận
được thêm vào để phù hợp với các mùa thiên văn trong sơ
đồ lịch Julius, khiến lịch này có them 1 ngày dư ra sau mỗi
134 năm, tức xấp xỉ 11 phút/năm. Và đó là hoàn cảnh lịch
Gregorious ra đời.

❖ Lịch Gregorious:
• Ra đời năm 1582.
• Chia thành 12 tháng với 365 ngày, cứ 4 năm thì thêm 1 ngày

vào cuối tháng 2 tạo thành năm nhuận.
• 400 năm phải bỏ bớt đi 3 ngày cho năm nhuận. Tính đến năm

1582 thì sự sai biệt đã lên đến 10 ngày.
• Năm nhuận là năm có số thứ tự chia hết cho 4 nhưng trừ các

năm tận cùng bằng 00 thì phải vừa chia hết cho 4, vừa chia hết

cho 400 thì mới là năm nhuận.

❑ Nhờ vào đi biển, người Hi Lạp đã thấy Trái Đất không phải như
cái đĩa mà mà như hình quả cầu tròn, tuy nhiên họ vẫn tưởng Mặt
Trời quay quanh Trái Đất.

❑ Theo Thales de Milet-người đầu tiên nghiên cứu về thiên văn học:
ông cho rằng vũ trụ đầy các hành tinh, vì vậy có thể có sự sống
ngoài Trái Đất. Ông còn hiểu biết về hiện tượng nhật thực diễn ra
do Mặt Trăng che khuất Mặt Trời.

Anaximander: ông đã đưa ra mô hình vũ trụ đầu tiên theo
Thuyết Địa Tâm của Ptolemy-đó là 1 bước phát triển quan
trọng vì nghiên cứu đó dựa trên suy luận, không phải dựa trên
quan sát. Bên cạnh đó, ông còn tìm cách giải thích nguồn gốc
của vũ trụ, vũ trụ sinh ra, trưởng thành và chết đi rồi lại sinh
ra theo vòng tuần hoàn.

Nhà triết học Pythagoras cũng cho rằng Trái Đất là 1 quả cầu
nằm tại trung tâm vũ trụ và phát hiện ra rằng sao Hôm và sao
Mai thực chất chỉ là 1 hành tinh.

7. Chữ viết

➢ Người Ai Cập, Lưỡng Hà đã có chữ viết cổ
nhưng chữ của họ có quá nhiều hình, nét, kí hiệu
nên khả năng phổ biến bị hạn chế.

➢ Từ điều trên, bảng chữ cái Hi Lạp ra đời. Nhiều
học giả nghĩ rằng các chữ cái ấy đã được người
Hi Lạp áp dụng từ các nét chữ của người Do
Thái - bảng chữ cái Phoenician từ ba thế kỉ trước
đó.

➢ Bảng chữ cái Hi Lạp lúc bấy giờ chưa theo 1
hướng cố định, khi thì sang trái, khi sang phải.

➢ Sau đó, nhờ cuộc sống bôn ba trên biển và trình độ phát
triển của nền kinh tế đã tạo cho nhân dân Địa Trung Hải
nhu cầu sáng tạo ra 1 thứ chữ viết gồm các kí hiệu đơn
giản nhưng có khả năng ghép chữ linh hoạt thành từ để
thể hiện ý nghĩ của con người. Thế là bảng chữ cái mà ta
đang sử dụng – hệ chữ cái Rô-ma ra đời, tức hệ
A,B,C,…ban đầu chỉ có 20 chữ cái, sau này thêm 6 và
hoàn chỉnh như ngày nay.

➢ Sau khi họ có được bảng chữ cái, giai đoạn tiếp
theo là chế dị bản của chữ.

➢ Ngoài ra, họ cũng có hệ chữ số gọi là số La Mã.
➢ Vào thế kỉ 17, khoảng 5.000 năm sau khi người

Sumer bắt đầu tạo chữ trên đất sét. Chúng ta có 1
bảng chữ cái gồm 26 chữ cái, chữ hoa và cả chữ
thường.
➢ Sự ra đời của hệ thống chữ cái là 1 phát minh vĩ
đại, góp phần cống hiến lớn lao của cư dân Địa
Trung Hải cho nền văn minh nhân loại.

8. Khoa học

Vài nét cơ bản về khoa học phương Tây

❖ Chủ yếu thuộc các lĩnh vực : toán học và lí học
❖ Phải đến thời cổ đại Hi Lạp và Rô-ma , thì những hiểu biết khoa học đã có từ hàng nghìn năm trước mới thực sự trở thành

khoa học vì có độ chính xác cao và đạt tới trình độ khái quát hóa cao thành định lí được tạo ra bởi những nhà khoa học
mà tên tuổi cũng như là những đóng góp vẫn tồn tại đến ngày nay.
❖ Những định lí nổi tiếng như :
• Pi-ta-go ( tính chất về số nguyên và định lí về các cạnh của tam giác vuông).

• Ta-lét
• Ơ-clít ( tiên đề về đường thẳng song song).

9.NGHỆ THUẬT

A. Nghệ thuật Hy Lạp cổ đại

Nghệ thuật của Hy Lạp cổ đại thường được chia theo phong cách
thành bốn giai đoạn: hình học, Cổ xưa, cổ điển, và Hy Lạp hóa.

Các tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu:

+ Đồ gốm và hội họa.
+ Điêu khắc, tượng đá và các công trình kiến trúc.

Nguồn tham khảo: https://dkn.news/van-hoa/nghe-thuat/hoi-hoa-
hy-lap-co-dai-cac-de-che-vi-dai-tu-sparta-den-athena.html

Bình Dipylon ( Thế kỷ thứ 8 ) 1.Phong cách hình học (thế
kỉ IX và thế kỉ VIII)

Thời đầu, chỉ là các họa tiết hình học được sử
dụng, sau đó xuất hiện hình cách điệu của
người và vật.

Hình bên là bình Dipylon. Bình cao 108 cm,
Bảo tàng Nghệ thuật Thủ đô, New York. Được
phát hiện tại nghĩa trang Dipylon, Athena; đây
là một chiếc bình di cốt đựng các vật dụng làm
cho người quá cố. Các họa tiết hình học vẫn
còn, hai viền trang trí tượng trưng cho một đám
tang. Không có bất cứ một sự gợi lại nào của
thế giới bên kia, không giống như hội họa Ai
Cập.

2. Phong cách phương Đông Dê hoang dã ( 640-630 )
( thế kỉ thứ VII )

Hình bên là bình rượu nho cổ Hy Lạp. Cao
39,50 cm, đường kính 30 cm, Bảo tàng
Louvre, Paris. “Những hình ưa thích theo
phong cách “dê hoang dã” được thể hiện
chủ yếu trên các loại bình rượu cổ, bắt
nguồn từ các mẫu hình bằng đồng, các đĩa
có chân hoặc không chân. Đường vẽ được
nhấn mạnh bởi các nét điểm xuyến vẽ màu
trên bề mặt gốm trắng ngà. Tô vẽ động vật
rất cách điệu (động vật tưởng tượng và
động vật thực), được tìm thấy ở nhiều khu
vực. Bề mặt được trang trí bởi các hình
cách điệu, hình tam giác, hình chữ vạn,
hoa hồng, các hoa văn trừu tượng» (Bản
chỉ dẫn bảo tàng Louvre)

3. Phong cách với hình đen ( thế kỉ VII và VI )

Chiếc bình cao 61 cm, có dấu của
Exekias, Bảo tàng Vatican, Rome.
Achilles và Ajax là những anh hùng
huyền thoại của cuộc chiến giữa
Sparta và Troy. Họ chơi xúc xắc trong
khi tay vẫn giữ chặt cây giáo. Ở thời
kỳ đó (thế kỷ thứ 6 TCN), những cảnh
thần thoại đã trở thành một tiêu đề
nổi bật trong việc trang trí các vò hai
quai. Các nhân vật được thể hiện
giống như trong hội họa Ai Cập.

Achilles và Ajax chơi xúc xắc ( Khoảng 540 )



4. Phong cách hình đỏ ( khoảng 500 tr. TCN )

Là việc phác thảo trước hình ảnh chủ đề,
dùng bút để vẽ đường ranh giới trên đất sét,
giữ lại màu đỏ cam ban đầu của đất sét và
nền được sơn màu đen. Do sử dụng bút vẽ để
vẽ, các đường kẻ có màu đen và mịn hơn, thời
kỳ này bắt đầu sử dụng phương pháp biểu
hiện sáng và tối, kỹ thuật này thành thạo hơn
và sống động chân thực hơn. Các tác phẩm
của thời kỳ này vừa phức tạp vừa lộng lẫy,
hình dạng của bình cũng rất đa dạng. Có bình
dùng đựng nước, đựng dầu, dùng cúng tế lễ,
một số được sử dụng trong tiệc cưới. Chủ đề
của tranh trên những chiếc bình là phong tục
dân gian và thần thoại thời đó.

Điêu khắc, tượng đá và các công trình kiến trúc

Một số tác phẩm điêu khắc, tượng đá nổi tiếng:

Bức tượng Aphrodite de Milos – Thần Vệ nữ Mi- Bức tượng Winged Victory of Samothrace


Công trình kiến trúc Hy Lạp cổ đại

Kiến trúc Hy Lạp cổ là một trong Đền thờ Parthenon thờ nữ thần Athena
những nền kiến trúc có sức ảnh hưởng
rất lớn. Những giá trị mà nó mang đến
cho đến nay không một nền kiến trúc
nào có được. Nền kiến trúc này đã
được hình thành từ rất lâu. Những
công trình kiến trúc này xuất hiện
trên cả một vùng đất đai rộng lớn. Đó
là miền Nam bán đảo Balkans, các
đảo nhỏ ở vùng biển Aegaeum
(Aigaion), khu vực Tiểu Á, Ý, Sicilia,
Pháp, Tây Ban Nha và Ai Cập, vùng
ven Hắc Hải.
Những công trình nghệ thuật Hy Lạp
cổ đại vẫn còn nguyên giá trị đến tận
ngày nay và mang hơi thở của một
thời đại lịch sử có sức ảnh hưởng lớn
của nhân loại.

B. Nghệ thuật La Mã ( Roma ) cổ đại

Nghệ thuật La Mã cổ đại gắn liền với nhiều mốc
lịch sử quan trọng và gần đây nhất là sự lật đổ
các vị vua Etruscan và thành lập nước cộng hòa
năm 509 TCN. Nghệ thuật La Mã cổ đại được
chia làm 2 giai đoạn, giai đoạn Cộng hòa và Đế
chế La Mã từ năm 27 TCN và triều đại vua chúa/
hoàng đế lớn.
Nghệ thuật La Mã bao gồm: điêu khắc, kiến trúc,
hội họa. Các tác phẩm sáng tạo dựa trên mô
hình của Hy Lạp, Italy, hay văn hóa thị giác của
Ai cCRậEpD;ITlSà: Tshiựs pkreếstenhtaợtiopn hteomàplnatemwaỹs cgreiữataednbyhSiềliduesngog,hệ
thuinậclutdninổgiictoinếsnbgy Fklahtiácocn,nahndaiunf.ographics & images by Freepik

Điêu khắc La Mã ( Roma ) cổ đại
Điêu khắc thời đế chế La Mã truyền thống được
chia làm 5 loại: Quát, lịch sử, chân dung, phù điêu
mộ và bản sao tác phẩm Hy Lạp cổ đại. Điêu khắc
của La Mã đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi nền nghệ
thuật Hy Lạp. Một số bản sao của La Mã là những
tri thức gốc còn sót lại và được bảo tồn từ người Hy
Lạp.
Điển hình là bức tượng Venus trưng bày tại Bảo
tàng Anh là bản sao của bức tượng Hy Lạp tại
Louvre, bản gốc từ Hy Lạp có từ năm 500 TCN, cả
hai bức tượng đều thiếu cánh tay của thần Vệ nữ.
Các bức chân dung điêu khắc từ thời Cộng hòa có
hơi hướng đơn giản, tự nhiên hơn các công trình
cầu kỳ thời Đế quốc sớm. Các tác phẩm tiêu biểu
thời này là các quý tộc La Mã với những bức tượng
bán thân của tổ tiên.
Dù là thời trước hay thời nay thì điêu khắc vẫn
mang ý nghĩa thực tế, miêu tả chi tiết đơn giản cơ
thể con người, chân dung các tác phẩm điêu khắc
về Hoàng đế được dùng để tuyên truyền thông điệp,
hệ tư tưởng đến mọi người.
Điêu khắc các vị Hoàng đế

Kiến trúc La Mã ( Roma ) cổ đại

Khải hoàn môn Constantine Người La Mã thật sự rất giỏi trong việc tính
toán và sở hữu một trí óc sáng táo, gầy dựng
nên những công trình kiến trúc lưu truyền
cho toàn nhân loại. Họ đã vận dụng những
chất liệu xây dựng kết hợp khả năng thiết kế
độc đáo để tạo ra những công trình vĩ đại.
Các công trình kiến trúc điêu khắc La Mã cổ
đại nổi tiếng không thể bỏ qua là đấu trường
Colosseum, đền Parthenon, cầu vòm bằng
đá, cột Trajan và Khải Hoàn Môn. Nổi tiếng
nhất không thể không kể đến vào thời đó là
Vistruvius.

CHÂN THÀNH CẢM ƠN
CÁC BẠN VÀ QUÝ
THẦY CÔ ĐÃ ĐÓN XEM
SẢN PHẨM CỦA NHÓM
4 CHÚNG EM!


Click to View FlipBook Version