https://thuviensach.vn sự phức tạp nào thiếu chiều sâu, sự trôi chảy nào thiếu nội dung, quyết định nào thiếu sự bất đối xứng, khoa học nào thiếu nỗi hoài nghi, tôn giáo nào thiếu sự khoan dung, Và, trên hết là: không có gì thiếu da thịt trong cuộc chơi. Và cảm ơn tất cả mọi người vì đã đọc cuốn sách của tôi.
https://thuviensach.vn LỜI CẢM ƠN Ralph Nader; Ron Paul; Will Murphy (biên tập viên, người cố vấn, người hiệu đính, chuyên gia cú pháp và chuyên viên ngữ pháp); Ben Greenberg (biên tập viên); Casiana Inonita (biên tập viên); Molly Turpin; Mika Kasuga; Evan Camfeld; Barbara Fillon; Will Goodlad; Peter Tanous; Xamer Bou Assaleh; Mark Baker (hay còn được gọi là Guru Anaerobic); Armand d’Angour; Alexis Kirschbaum; Max Brockman; Russell Weinberger; Theodosius Mohsen Abdallah; David Boxenhorn; Marc Milanini; Những người tham gia ở ETH – Zurich; Kevin Horgan; Paul Wehage; Baruch Gottesman, Gil Friend, Mark Champlain, Aaron Elliott, Rod Ripamonti, và Zlatan Hadzic (cảm ơn tất cả vì phần tôn giáo và sự hy sinh); David Graeber (Goldman Sachs); Neil Chriss; Amir-Reza Amini (ô tô tự động); Ektrit Kris Manushi (tôn giáo); Jazi Zilber (đặc biệt là về Rav Safra); Farid Anvari (bê bối tại Anh Quốc); Robert Shaw (vận chuyển và chia sẻ rủi ro); Daniel Hogendoorn (vua Cambyses); Eugene Callahan; Jon Elster, David Chambliss Johnson, Gur Huberman, Raphael Douady, Robert Shaw, Barkley Rosser, James Franklin, Marc Abrahams, Andreas Lind, và Elias Korosis (cảm ơn tất vả vì bài báo); John Durant; Zvika Afk; RobertFrey; Rami Zreik; Joe Audi; Guy Riviere; Matt Dubuque; Cesáreo González; Mark Spitznagel; Brandon Yarkin; Eric Briys; Joe Norman;Pascal Venier; Yaneer Bar-Yam; Thibault Lécuyer; Pierre Zalloua; Maximilian Hirner; Aaron Eliott; Jaffer Ali; Thomas Messina; Alexandru Panicci; Dan Coman; Nicholas Teague; Magued Iskander; Thibault Lécuyer; James Marsh; Arnie Schwarzvogel; Hayden Rei; John MastFinn; Rupert Read; Russell Roberts; Viktoria Martin; Joe Norman; Ban Kanj Elsabeh; Vince Pomal; Graeme Michael Price; Karen Brennan; Jack Tohme; Marie-Christine Riachi; Jordan Thibodeau; Pietro Bonavita. Tôi xin lỗi vì bất cứ thiếu sót nào.
https://thuviensach.vn DANH SÁCH THUẬT NGỮ Trục lợi: Tìm cách lợi dụng những quy định hoặc “quyền hạn” mang tính bảo vệ để thu lợi nhưng lại không đóng góp gì vào hoạt động kinh tế và không làm tài sản người khác tăng lên. Tony Béo sẽ ví điều đó với việc bị ép buộc phải trả tiền bảo kê cho mafia nhưng không thu được lợi ích kinh tế từ việc bảo kê đó. Bộc lộ sở thích: Lý thuyết này, bắt nguồn từ Paul Samuelson (ban đầu xuất hiện trong bối cảnh lựa chọn hàng hóa công), cho rằng người ta không có sự tiếp cận hoàn toàn với những suy luận đằng sau hành động của mình; hành động là thứ có thể quan sát, nhưng suy nghĩ thì không, vì thế không thể sử dụng suy nghĩ trong những quá trình tìm hiểu khoa học nghiêm túc. Trong kinh tế học, các cuộc thí nghiệm đều yêu cầu người tham gia chi tiêu thực sự. Tóm tắt của Tony Béo sẽ là: “Lời nói là thứ rẻ mạt.” Chiếm quyền điều tiết: Tình huống trong đó các quy định pháp lý rốt cuộc bị một tác nhân nào đó “thao túng,” thường là sẽ đi chệch hướng khỏi ý định ban đầu của các quy định pháp lý đó. Thu nhập của một số quan chức và doanh nhân có thể đến từ các quy định pháp lý bảo hộ và việc cấp phép kinh doanh, và từ cả việc họ vận động hành lang cho chúng. Chú ý rằng việc áp dụng các quy định dễ dàng hơn nhiều so với việc sửa chữa hay gỡ bỏ chúng. Chủ nghĩa duy khoa học: Niềm tin vào loại khoa học có vẻ… giống khoa học, nhưng lại nhấn mạnh quá nhiều vào các khía cạnh bề ngoài hơn là về cơ chế hoài nghi của nó. Chủ nghĩa này rất thịnh hành trong những lĩnh vực trong đó nhà quản lý hành chính đánh giá những đóng góp dựa trên các thang đo. Nó cũng thịnh hành trong những lĩnh vực dành cho những người nói rất nhiều về khoa học nhưng lại chẳng “làm gì cả,” ví dụ như các phóng viên hay giáo viên phổ thông.
https://thuviensach.vn Chủ nghĩa duy lý ngây thơ: Niềm tin cho rằng chúng ta tiếp cận được tất cả những gì khiến thế giới vận hành và những gì chúng ta không hiểu rõ thì không hề tồn tại. Trí thức ngu đần: Một kẻ ngu. Chủ nghĩa duy lý giả cầy: 1) Chú trọng vào tính lý trí của một niềm tin thay vì vào các hệ quả của nó, 2) sử dụng những mô hình xác suất tệ hại để phê phán một cách ấu trĩ về “sự phi lý trí” của người khác khi họ tham gia thực hiện một số hành động nào đó. Vấn đề người đại diện: Sự lệch pha về lợi ích giữa người đại diện và người ủy nhiệm, ví dụ như lợi ích giữa nhân viên bán ô tô và bạn (chủ sở hữu tiềm năng), hoặc giữa bác sĩ và bệnh nhân. Giao dịch Bob Rubin: Khoản lợi thu được trong một phạm vi lệch, nơi các lợi ích hiển thị rõ ràng (và được tưởng thưởng một số khoản bồi hoàn nữa) còn những tổn hại thì rất hiếm hoi (và không bị trừng phạt vì không có da thịt trong cuộc chơi). Có thể được khái quát hóa sang lĩnh vực chính trị hay bất kỳ lĩnh vực nào mà trong đó hình phạt thì yếu ớt và nạn nhân chỉ là những khái niệm trừu tượng và phân tán (ví dụ như người đóng thuế và các cổ đông). Kẻ thích can thiệp: Người gây ra sự mong manh bởi họ tưởng rằng mình hiểu rõ những gì đang xảy ra. Họ không tiếp xúc với cơ chế gạn lọc và nguyên tắc da thịt trong cuộc chơi. Và họ cũng thường thiếu khiếu hài hước. Ngụy biện gỗ xanh: Nhầm lẫn nguồn gốc của những kiến thức quan trọng, thậm chí là cần thiết – màu xanh của gỗ – với những thứ khác ít rõ ràng hơn khi nhìn từ bên ngoài và khó điều khiển hơn. Việc các nhà lý thuyết đặt sai trọng tâm vào những điều mà một người nên biết trong một lĩnh vực cụ thể nào đó, hay khái quát hơn, những thứ mà chúng ta gọi là “kiến thức có liên quan” thực ra lại không hề liên quan lắm.
https://thuviensach.vn Hiệu ứng Lindy: Khi một công nghệ, tư tưởng, doanh nghiệp, hoặc bất cứ thứ gì không thể bị hủy hoại sẽ gia tăng tuổi thọ theo từng ngày sống sót thêm – khác với những thứ có thể bị hủy hoại (như con người, mèo, chó, lý thuyết kinh tế học, và cà chua). Như vậy, một cuốn sách đã từng được in ấn suốt 100 năm sẽ có khả năng tiếp tục được in ấn trong 100 năm nữa – với điều kiện doanh số bán của nó vẫn còn khả thi. Tính ergodic: Trong ngữ cảnh của chúng ta ở đây, tính ergodic hiện hữu khi một tập hợp những người chơi có chung những đặc tính thống kê (đặc biệt là các thông số kỳ vọng) với một người chơi đơn lẻ trong một khoảng thời gian. Xác suất tập hợp tương tự như xác suất thời gian. Sự thiếu vắng tính ergodic sẽ làm cho những đặc tính rủi ro không thể chuyển tiếp trực tiếp từ xác suất quan sát được sang những lợi ích của một chiến lược có khả năng bị hủy hoại (hay bất cứ rào cản hấp thụ hay “điểm tới hạn” nào) – nói cách khác, điều này không bền vững về mặt xác suất. Mediocristan: Một quá trình chủ yếu gồm những thứ bình thường (mediocre), với ít thành công hoặc thất bại ở mức độ cực đoan (ví dụ như thu nhập của nha sĩ). Không một quan sát đơn lẻ nào có thể ảnh hưởng một cách có ý nghĩa đến toàn thể. Đây còn được gọi là “đuôi nhỏ,” hoặc thuộc nhóm phân phối Gauss. Extremistan: Một quá trình trong đó cái toàn thể có thể chịu tác động của một quan sát đơn lẻ (ví dụ, thu nhập của một tác giả). Đây còn được gọi là “đuôi lớn.” Bao gồm các phân dạng, hay nhóm phân phối xác suất theo quy tắc lũy thừa. Nguyên tắc thiểu số: Một sự bất đối xứng theo đó sự lựa chọn của thiểu số quyết định hành vi của toàn thể. Người hút thuốc có thể xuất hiện ở khu vực không hút thuốc nhưng người không hút thuốc không thể ở những khu vực hút thuốc, như vậy người không hút thuốc sẽ chiếm ưu thế, không phải bởi vì họ ban đầu là số đông mà vì họ có đặc tính bất đối xứng. Tác giả cho rằng
https://thuviensach.vn ngôn ngữ, đạo đức và (một số) tôn giáo lan truyền rộng rãi thông qua nguyên tắc thiểu số. Via Negativa: Trong thần học và triết học, sự chú trọng vào điều mà một thứ không phải là, một định nghĩa gián tiếp, được coi là ít rơi vào các ngụy biện hơn là phương pháp via positiva. Trong thực tế, đó là công thức về những điều nên tránh xa, những việc không nên làm – trong những lĩnh vực có các hiệu ứng phụ có thể nhân lên và không thể đoán định, thì phép trừ phát huy hiệu quả tốt hơn phép cộng. Trong y học, việc khiến một người bỏ hút thuốc có ít các phản ứng phụ có hại hơn là cung cấp cho người đó thuốc thang và các phương thức trị liệu. Tính quy mô: Phẩm chất của các thực thể thay đổi (thường là đột ngột) khi chúng trở nên lớn hơn hay nhỏ hơn: thành phố khác với các bang lớn, lục địa rất khác so với các hòn đảo. Hành vi tập thể thay đổi khi quy mô các nhóm tăng lên, đây là một luận điểm ủng hộ cho chủ nghĩa địa phương và chống lại sự toàn cầu hóa đang diễn ra một cách mất kiểm soát. Nền văn hóa trí thức đơn sắc: Phóng viên, giới hàn lâm và những nô lệ khác không có da thịt trong cuộc chơi trong một vấn đề cho trước sẽ cùng đồng quy vào trạng thái “bảo thủ, truyền thống,” vốn dễ bị thao túng và thường là bác bỏ những chứng cứ quan sát được. Lý do là hình phạt cho những người đi chệch khỏi quỹ đạo đó họ thường bị gán cho những nhãn mác như “kẻ ủng hộ Putin,” “kẻ giết hại trẻ em,” hay “kẻ phân biệt chủng tộc” (những kẻ lòe bịp vẫn hay dùng trẻ em để đánh vào cảm xúc). Điều này cũng tương tự như sự đa dạng sinh học sẽ suy giảm khi hòn đảo trở nên lớn hơn (xem Thiên nga Đen). Kinh doanh đức hạnh: Là sự hạ thấp đức hạnh bằng cách sử dụng nó làm chiến lược marketing. Theo quan niệm cổ điển, đức hạnh cần phải được giữ riêng tư, đây là điều mâu thuẫn với những thông điệp kiểu “hãy bảo vệ môi trường” của thời hiện đại. Những kẻ kinh doanh đức hạnh thường là những kẻ đạo đức giả. Hơn nữa, đức hạnh thiếu vắng lòng dũng cảm, sự hy sinh, và
https://thuviensach.vn da thịt trong cuộc chơi sẽ không bao giờ là đức hạnh cả. Kinh doanh đức hạnh tương đồng với sự buôn thần bán thánh, tức hoạt động trong thời Trung cổ cho phép người có tiền mua một vị trí trong tôn giáo hoặc mua phép xá tội, tức là xóa bỏ tất cả tội lỗi của mình bằng tiền bạc. Nguyên tắc Vàng (đối xứng): Đối xử với người khác theo cách bạn muốn họ đối xử với mình. Nguyên tắc Bạc (Nguyên tắc Vàng phủ định): Đừng làm với người khác những điều bạn không muốn họ làm với bạn. Hãy chú ý điểm khác biệt với Nguyên tắc Vàng, vì Nguyên tắc Bạc ngăn không để những người lắm chuyện điều khiển cuộc đời bạn. Nguyên tắc khoan dung: Thực hành sự đối xứng trong các cuộc tranh luận liên quan đến tri thức; hãy trình bày luận điểm của đối phương một cách chính xác, hệt như bạn mong muốn luận điểm của mình được đối phương trình bày lại. Đây là phép đối nghịch của phép ngụy biện “người rơm.”
https://thuviensach.vn PHỤ LỤC KỸ THUẬT A. DA THỊT TRONG CUỘC CHƠI VÀ XÁC SUẤT ĐUÔI
https://thuviensach.vn Hình 1 Giao dịch Bob Rubin: Khoản lợi thu được trong một phạm vi lệch, nơi các lợi ích hiển thị rõ ràng (và được tưởng thưởng một số khoản bồi hoàn nữa) còn những tổn hại thì rất hiếm hoi (và không bị trừng phạt vì không có da thịt trong cuộc chơi). Có thể được khái quát hóa sang lĩnh vực chính trị hay bất kỳ lĩnh vực nào mà trong đó hình phạt thì yếu ớt và nạn nhân chỉ là những khái niệm trừu tượng và phân tán (ví dụ như người đóng thuế và các cổ đông). Phần phụ lục này sẽ phân tích sự bất tương hợp về xác suất hay là các rủi ro và lợi nhuận đuôi khi có sự hiện hữu của vấn đề người ủy nhiệm-người đại diện. Đùn đẩy thiệt hại: Nếu người đại diện nắm mặt tích cực trong kết quả của một biến ngẫu nhiên, nhưng không phải chịu mặt tiêu cực nào, và chỉ được đánh giá trên cơ sở những thành tích trong quá khứ, vậy thì anh ta có động cơ để che giấu những rủi ro phần đuôi bên trái bằng cách sử dụng sự phân phối thiên lệch (hoặc tổng quát hơn là sự bất đối xứng) đối với thành tích. Có thể khái quát hóa hiện tượng này cho bất cứ lợi ích nào trong đó người tham gia không phải chịu toàn bộ những rủi ro và những hậu quả tiêu cực từ hành động của mình. Gọi P(K, M) là lợi ích dành cho người tham gia sau M giai đoạn nhận phần thưởng:
https://thuviensach.vn Khi các biến ngẫu nhiên phân bố đồng nhất độc lập thể hiện sự phân bố lợi nhuận trong một khoản thời gian nhất định và K là một “chướng ngại”, là một chỉ số về thời điểm dừng khi những điều kiện về thành tích quá khứ không đạt yêu cầu (tức là điều kiện phải có một mức thành tích nhất định trong một số năm trước đó, nếu không dòng lợi ích sẽ chấm dứt, cuộc chơi kết thúc và các phần thưởng khích lệ tích cực sẽ dừng lại). Hằng số Y € (0,1) là “lợi ích của người đại diện,” hoặc là tỉ lệ bồi hoàn từ thành tích đạt được, không nhất thiết phải là tiền bạc (miễn là có thể định lượng nó như “lợi ích”). Đại lượng thể hiện kích cỡ của sự tiếp xúc tại thời điểm t+(i-1)∆t (do độ trễ Ito378 , vì thành tích ở khoảng thời gian s sẽ được xác định bằng q ở thời điểm <strước đó).
https://thuviensach.vn Coi [f1] thuộc họ các phương pháp đo lường thống kê f1 của Xj, J € N. Mỗi phương pháp đo tương ứng với một số đặc điểm nhất định về giá trị trung bình/độ lệch, và ta có thể chia nửa các thuộc tính của chúng, thành phân phối “trên” và phân phối “dưới,” vào hai phía của thông số “trung tâm” K. Ta viết dFj(x) như fj(x)dx, nên , phân phối “trên” và phân phối “dưới” sẽ tương ứng với kỳ vọng có điều kiện nhất định
https://thuviensach.vn Bây giờ định nghĩa V € R+ là một phương pháp đo lường phi tham số lấy K làm trọng tâm của một bất đối xứng , , với giá trị > 1 cho bất đối xứng dương, và < 1 cho bất đối xứng âm. Dễ hiểu, độ lệch có các xác suất và kỳ vọng di chuyển theo các hướng ngược nhau: lợi ích âm càng lớn, thì xác suất bồi hoàn càng nhỏ. Ta không giả định một “cuộc chơi công bằng,” tức là với lợi nhuận không giới hạn, có thể viết là m^++m^-=m.
https://thuviensach.vn Giả định lược giản về hằng số q và thời điểm dừng có điều kiện đơn Giả sử q là hằng số, q=1 và đơn giản hóa điều kiện thời điểm dừng là không hề có mất mát trong các khoảng thời gian trước, , dẫn đến: Do nhận những lợi ích độc lập và phân phối đồng nhất của người đại diện, kỳ vọng tại thời điểm dừng tương ứng với kỳ vọng của thời điểm dừng nhân với kỳ vọng bồi hoàn cho người đại diện . Và
https://thuviensach.vn Có thể viết kỳ vọng của thời điểm dừng dưới dạng xác suất thành công với điều kiện không có các tổn thất trước đó: Ta có thể biểu diễn điều kiện thời điểm dừng dưới dạng những lần thành công liên tục. Coi ∑ là một tập hợp được sắp xếp theo trình tự gồm những lần thành công liên tiếp nhau , trong đó S là thành công và F là thất bại trong khoảng thời gian ∆t, với các xác suất liên quan tương ứng là Với giá trị M lớn, vì (0,1), chúng ta có thể xem biểu thức trước gần như là tương đương. Do đó:
https://thuviensach.vn Cuối cùng, lợi ích kỳ vọng của người đại diện: sẽ tăng khi (i) tăng , (ii) giảm thiểu xác suất của tổn thất , nhưng, và đây mới là điểm chính, ngay cả nếu (i) và (ii) cùng diễn ra với tổn thất thuộc về m, tổng kỳ vọng từ tập hợp này.
https://thuviensach.vn Điều đáng lo ngại là khi , người đại diện không quan tâm đến sự giảm sút của tổng lợi nhuận kỳ vọng m nếu nó đến từ phía bên trái của phổ phân phối, m-. Nhìn vào phần bị lệch, lợi ích kỳ vọng của người đại diện sẽ đạt giá trị tối đa dưới một phân phối j với giá trị vj thấp nhất (bất đối xứng âm tối đa). Tổng kỳ vọng của phần thưởng dương không có da thịt trong cuộc chơi phụ thuộc vào độ lệch âm, không phụ thuộc vàom.
https://thuviensach.vn Hình 2: Indi Mac, một doanh nghiệp thất bại trong cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn379 (từ Taleb 2009). Đây là một ví dụ cho việc các rủi ro tiếp tục tăng cao dù không có tổn thất, cho đến khi hệ thống sụp đổ.
https://thuviensach.vn B. ĐẶC ĐIỂM XÁC SUẤT CỦA TÍNH BỀN VỮNG VÀ TÍNH ERGODIC Chấp nhận rủi ro linh động: Nếu bạn nhiều lần đương đầu với rủi ro – bất cứ rủi ro nào – thì cách tính rủi ro là đếm theo số lần tiếp xúc với nó trong suốt cuộc đời, hay theo cách mà nó rút ngắn khoảng đời còn lại. Đặc điểm của sự hủy diệt: Xác suất hủy diệt nằm ở vùng thời gian cho một người đại diện đơn lẻ và không tương ứng với xác suất đuôi ở vùng trạng thái-không gian (hay tập hợp). Và các kỳ vọng giữa hai vùng này cũng không thể thay thế được cho nhau. Do đó, nhận định của những người đại diện rằng việc đánh giá các sự kiện đuôi là “quá mức,” vốn được suy diễn từ những ước tính ở vùng trạng thái-không gian, là sai lầm. Nhiều lý thuyết về “lý trí” của người đại diện được xây dựng dựa trên các toán tử ước tính và/hoặc phương pháp đo lường xác suất sai lầm. Đây là lý do chính đằng sau chiến lược thanh tạ380 . Đây là một trường hợp đặc biệt của việc hợp nhất giữa một biến ngẫu nhiên với lợi ích của một đạo hàm phụ thuộc thời gian và phụ thuộc lối mòn. Hay diễn giải theo lối dân dã hơn là: Không bao giờ băng qua một dòng sông nếu độ sâu trung bình của nó là 1,2 mét. Một trường hợp tổng quát được lược giản hóa Ta hãy xét ví dụ đã được lược giản tối đa, một chuỗi các biến ngẫu nhiên độc lập
https://thuviensach.vn với các số thực dương . Các định lý hội tụ của lý thuyết xác suất cổ điển chú trọng đến hành vi của tổng, hay giá trị trung bình: theo quy luật (yếu) về các số lớn (hội tụ trong xác suất). Như đã chỉ ra trong câu chuyện về sòng bạc ở Chương 19, khi n tiến tới vô cực sẽ tạo ra sự hội tụ về xác suất tới giá trị lợi ích trung bình thực sự m. Mặc dù luật số lớn được áp dụng trong các cách chọn i sao cho giá trị này phải được tách biệt một cách chặt chẽ theo thời gian, nhưng nó nhận (một số) giá trị độc lập, và chắc chắn là cả giá trị độc lập với lối mòn. Bây giờ, ta hãy xét , trong đó tất cả các biến trạng thái X_i đều được phân mục theo một đơn vị thời gian: t:0<t<T. Giả định rằng “các sự kiện theo thời gian” được rút ra từ một phân phối xác suất giống nhau: P(Xi) = P(Xi,t) Ta định nghĩa xác xuất thời gian là quá trình tiến triển theo thời gian của một người đại diện đơn lẻ i. Khi xuất hiện sự hủy diệt mang tính kết thúc, tức không thể đảo ngược, thì mọi quan sát lúc này đều phụ thuộc vào một số thuộc tính của quan sát trước đó, và điều gì xảy ra ở khoảng thời gian t phụ thuộc vào khoảng thời gian t1, điều gì xảy ra ở t-1 phụ thuộc vào t-2,…. Bây giờ, ta đã có sự phụ thuộc vào lối mòn.
https://thuviensach.vn Tiếp theo, ta sẽ xét đến cái gọi là thất bại của tính ergodic: Định lý 1 (sự bất bình đẳng về không gian trạng thái-thời gian): Giả định rằng là kỳ vọng về không gian trạng thái cho một khoảng thời gian tĩnh ban đầu t, và EN(XT) là kỳ vọng thời gian cho bất cứ người đại diện i nào, và cả hai giá trị này đều thu được thông qua luật số lớn yếu. Ta có: Chứng minh: trong đó 1Xt-1>0 là hàm đặc trưng đòi hỏi cho sự sống sót tại khoảng thời gian trước đó. Như vậy, giới hạn của n cho t cho thấy sự suy giảm kỳ vọng về thời gian:
https://thuviensach.vn Thực ra, ta có thể chứng minh sự phân kỳ: . Như chúng ta đã thấy bằng cách làm T<∞, bằng cách thực hiện quy trình đệ quy cho luật của các kỳ vọng lặp, ta nhận được giá trị bất bình đẳng cho tất cả các T. Ta có thể thấy tập hợp những người chấp nhận rủi ro có thể có một lợi ích trong bất cứ khoảng thời gian t nào, trong khi mỗi người chấp nhận rủi ro đơn lẻ chắc chắn sẽ đi đến thất bại. Cách tiếp cận khác: ta cũng có thể chứng minh định lý này một cách bài bản hơn bằng phương pháp lý thuyết đo lường bằng cách chỉ ra rằng trong khi tập hợp không gian “phi hủy diệt” A là rời rạc, nhưng tập hợp thời gian thì không. Cách tiếp cận này dựa vào một thực tế rằng với một đo lường, không nhất thiết bằng với .
https://thuviensach.vn Hầu như tất cả các bài báo thảo luận về “sự đánh giá quá cao” đối với các rủi ro đuôi của các lựa chọn về bảo hiểm (xem bài báo tổng kết của Barberi, 2003) đều thiếu sự bất bình đẳng trong Định lý 1. Rõ ràng, chúng đều giả định rằng người đại diện chỉ tồn tại cho một quyết định hoặc sự tiếp xúc đơn lẻ. Đơn giản, những bài báo đầu tiên ghi nhận “sự thiên kiến” đã giả định rằng người đại diện sẽ không bao giờ đưa ra một quyết định khác trong phần đời còn lại của mình. Giải pháp thường thấy cho sự phụ thuộc lối mòn này – nếu nó chỉ phụ thuộc vào sự hủy diệt – được thực hiện bằng cách đưa vào một hàm của X để bảo đảm trung bình tập hợp (độc lập với lối mòn) có chung đặc tính với giá trị trung bình thời gian (phụ thuộc vào lối mòn) – hoặc giá trị trung bình có điều kiện đối với sự sống sót. Hàm logarit tự nhiên dường như là một sự lựa chọn thích hợp. Như vậy, thuộc cùng một phân loại xác suất; do đó giá trị đo lường xác suất trên một lối mòn sẽ không sai khác đối với giá trị đo lường trên lối mòn kia – đây gọi là tính ergodic. Theo cách này, khi phân tích thành quả và rủi ro dưới các điều kiện của sự hủy diệt, cần phải chuyển dạng dữ liệu bằng hàm logarit (Peters, 2011), hoặc giới hạn cận của phần đuôi trái (Kelly 1956), trong khi vẫn tăng tối đa cơ hội cho phần đuôi phải (Gell-mann 2016), hay giới hạn cận của phần đuôi trái (Geman và cộng sự, 2015). Ta vừa chứng minh ở trên là trừ khi thực hiện chuyển dạng dữ liệu theo hàm logarit (hoặc một hàm trơn để tạo ra giá trị -∞ với tập hủy diệt ở X = 0), cả hai kỳ vọng sẽ phân kỳ. Điểm mấu chốt của nguyên tắc cảnh báo là tránh lệ thuộc vào hàm logarit hay chuyển dạng dữ liệu bằng cách làm giảm xác suất hủy diệt. Trong một bài báo có ảnh hưởng, Peters và Gell-Mann (2014) đã chỉ ra rằng Bernoulli không sử dụng hàm logarit cho một hàm “thỏa dụng” lõm, mà để
https://thuviensach.vn khôi phục tính ergodic với tiêu chuẩn Kelly. Một chút lịch sử: Bernoulli khám phá ra các rủi ro kiểu logarithm dưới ảo tưởng “thỏa dụng.” Kelly và Thorp hồi phục hàm logarit cho tiêu chuẩn về tăng trưởng tối đa trên cương vị một chiến lược đánh bạc tối ưu. Không có gì liên quan đến tính thỏa dụng. Samuelson phê phán hàm logarit, cho rằng nó mang tính ép buộc, nhưng ông không nhận ra rằng có thể sử dụng hàm bán logarit (hay logarit một phần), ví dụ trên một phần tài sản. Từ Menger đến Arrow, qua Chernoff và Samuelson, nhiều người trong lĩnh vực lý thuyết ra quyết định đã mắc phải sai lầm này về tính ergodic. Năm 1975, Pitman chứng minh rằng chuyển động Brown381 có rào cản hấp thụ bằng 0, khi loại bỏ các đường hấp thụ, sẽ trở thành một quá trình Bessel ba chiều. Độ lệch của các đường sống sót là 1/x, có thể được kết hợp với một hàm logarit. Peters và Gell-Mann hồi phục hàm logarit cho tính ergodic, đồng thời mang lại nền tảng vật lý vững chắc cho kết quả của Kelly. Cirillo và tôi (Taleb và Cirrilo, 2015) phát hiện ra rằng logarit là một phương pháp chuyển dạng trơn độc đáo để tạo ra hai dạng phân phối nhằm loại bỏ giá compact một đuôi để cho phép sử dụng lý thuyết về giá trị cực trị. Chúng tôi có thể chứng minh (Briys và Taleb, đang trong quá trình viết và chỉ trao đổi qua các giao tiếp riêng tư) sự cần thiết của phương pháp chuyển dạng theo hàm logarit trên cương vị một phương pháp phòng tránh hủy diệt đơn giản, và nó lại là một trường hợp đặc biệt của phân loại hữu dụng HARA (hyperbolic absolute risk aversion – tránh né rủi ro tuyệt đối theo đường hyperbol). Áp dụng Định lý 1 vào chuyển động Brown
https://thuviensach.vn Ý nghĩa của phần trình bày lược giản không thay đổi về việc có nên dùng các mô hình phức tạp hơn hay không, ví dụ nhưng các quá trình ngẫu nhiên toàn bộ chịu các rào cản hấp thụ. Và tất nhiên, trong bối cảnh tự nhiên, việc xóa bỏ toàn bộ phần đời trước đó là có thể xảy ra (ví dụ, có thể lấy giá trị âm cực trị), chứ không chỉ là điều kiện dừng. Luận điểm của Peters và GellMann cũng loại bỏ cái gọi là câu đố phần bù vốn382 nếu bạn có thể thêm phần đuôi mập (như vậy thì các kết quả sẽ nghiêm trọng hơn rất nhiều, có thể dẫn tới mức độ tương đương với hủy diệt) và mất đi khả năng thay thế nhau giữa thời gian và tập hợp. Không có câu đố nào cả. Vấn đề này vẫn giữ nguyên trong đời sống thực nếu ta sử dụng một quá trình ngẫu nhiên có rào cản hấp thụ kiểu như chuyển động Brown. Thay cho một sự biểu diễn lược giản, với một quá trình phụ thuộc vào L, ta sẽ có một rào cản hấp thụ dưới đây, : Với Z là một biến ngẫu nhiên.
https://thuviensach.vn Theo thời gian tiếp diễn, và xét trường hợp hình học, gọi là thời điểm dừng. Mục đích ở đây là làm sao để kỳ vọng đơn giản về thời điểm dừng tương hợp với phần tuổi thọ còn lại – hoặc vẫn giữ được thứ tự giống như vậy. Chúng ta vừa chuyển trọng tâm từ xác suất sang sự không tương hợp giữa thời điểm dừng cho sự hủy diệt và phần tuổi thọ còn lại. C. NGUYÊN TẮC VỀ SỰ BỀN VỮNG TRONG XÁC SUẤT Nguyên tắc: Một đơn vị cần phải chấp nhận rủi ro như thể nó sẽ nhiều lần đương đầu với rủi ro này – ở một tần suất định rõ – trong suốt phần đời còn lại của nó. Nguyên tắc về sự bền vững cần thiết cho luận điểm dưới đây. Các thí nghiệm mang tính tĩnh (chúng ta đã thấy sự lẫn lộn giữa trạng thái-không gian và thời gian), trong khi cuộc sống lại mang tính động. Nếu bạn gặp một xác suất hủy diệt nhỏ, dạng rủi ro “một lần,” và bạn sống sót qua nó, rồi lặp lại điều đó (một rủi ro “một lần” khác), cuối cùng bạn sẽ bị hủy diệt với xác suất là 1. Sở dĩ ở đây có sự nhầm lẫn là do có vẻ như rủi ro “một lần” là điều hợp lý, nhưng điều đó cũng có nghĩa là một rủi ro tiếp theo cũng hợp lý. (Xem Hình 3). Tin tốt ở đây là một số phân loại rủi ro có thể được coi là có xác suất bằng 0: trái đất đã tồn tại qua hàng nghìn tỷ sự biến đổi tự nhiên hằng ngày trong vòng ba tỷ năm qua, nếu không chúng ta đã không có mặt ở đây. Có thể sử dụng các luận điểm về xác suất có điều kiện (đã được điều chỉnh cho thiên kiến về sự sống sót) để loại bỏ xác suất hủy diệt trong hệ thống.
https://thuviensach.vn Bây giờ, ta không cần phải lấy t → ∞ và sự bền vững vĩnh cửu cũng không còn cần thiết nữa. Ta có thể chỉ cần tăng thời gian tồn tại. t càng dài thì các toán tử kỳ vọng càng có khả năng phân kỳ. Hình 3: Tại sao sự hủy diệt không phải là tài nguyên tái tạo được: Dù xác suất nhỏ tới đâu, thì dần dần, điều gì đã được định trước là sẽ va phải rào
https://thuviensach.vn cản hủy diệt chắc chắn sẽ va phải nó. Không nên coi bất kỳ rủi ro nào là sự kiện “một lần” cả. Hãy xét thời điểm ngừng kỳ vọng vô điều kiện trong một mô hình lược giản riêng biệt: , là số lần tiếp xúc trong một khoảng thời gian, Tlà khoảng tuổi thọ còn lại, và p là xác suất hủy diệt, cả hai giá trị này đều ở trong cùng khoảng thời gian điều chỉnh giá trị p. , ta có thể điều chỉnh rủi ro theo sự lặp lại. Tuổi thọ T càng cao (được biểu diễn bằng các khoảng thời gian), thì vấn đề sự hủy diệt càng nghiêm trọng. Con người và cây cỏ có tuổi thọ ngắn, nhưng tự nhiên thì không – ít nhất là cho t có bậc 108 năm, như vậy xác suất rủi ro hủy diệt hằng năm là O(10-8) và (đối với những mức độ tăng chặt chẽ hơn) xác suất rủi ro cục bộ tối đa là O(10-50). Thứ bậc càng cao trong hệ thống cá nhân-loài-hệ sinh thái thì vấn đề hủy diệt càng nghiêm trọng. Tính hai mặt này phụ thuộc vào t → ∞; như
https://thuviensach.vn vậy yêu cầu là không cần thiết đối với những gì không tồn tại vĩnh cửu, có tuổi thọ hữu hạn. Luận điểm về đuôi mập: Một hệ thống có khả năng tạo ra sự lệch hướng càng lớn thì vấn đề hủy diệt càng trở nên nghiêm trọng. Chúng ta sẽ bàn kỹ hơn về vấn đề đuôi mập. Rõ ràng, sự dao động của quá trình là quan trọng; nhưng những sự khác biệt chưa vượt quá ngưỡng hủy diệt đều không quan trọng. Chuyển dạng logarit Dưới tiên đề về sự bền vững, ví dụ, “chúng ta nên chấp nhận rủi ro như thể chúng ta sẽ chấp nhận rủi ro mãi mãi,” thì chỉ có chuyển dạng bằng hàm logarit (hoặc các phương pháp tương tự) là áp dụng được. Đuôi mập là một đặc tính đáng lo ngại khi thiếu giá compact cho biến ngẫu nhiên, nhưng sự lo ngại sẽ giảm đi khi các biến này bị chặn. Nhưng, như chúng ta đã thấy sự cần thiết phải sử dụng chuyển dạng logarit, một biến ngẫu nhiên có giá trong khoảng [0,∞) bây giờ sẽ có giá trong khoảng (-∞,∞), như vậy các đặc tính thu được từ lý thuyết giá trị cực trị có thể được áp dụng trong các phân tích của chúng ta. Tương tự, nếu các tổn thất được định nghĩa dưới dạng một số dương với chặn trên H tương ứng với sự hủy diệt, chúng ta có thể chuyển dạng nó để khoảng của nó từ [0,H] chuyển thành [0,∞). Trong các phân tích về bảo hiểm, Cramer và Lundberg đã phát hiện ra khó khăn này; xem Cramer 1930. Một lưu ý về tính ergodic383 : Tính ergodic không thể nhận biết qua thống kê, không thể quan sát được, và không có thử nghiệm chuỗi thời gian nào cho thấy tính ergodic, tương tự như kiểm định Dickey-Fuller cho tính dừng (hay kiểm định Phillips-Perron cho các chuỗi tích hợp). Quan trọng hơn:
https://thuviensach.vn Nếu kết quả của bạn thu được thông qua việc quan sát một chuỗi thời gian, làm sao bạn có thể đưa ra những khẳng định về phương pháp đo lường xác suất tập hợp? Câu trả lời ở đây cũng tương tự như việc giao dịch chênh lệch giá, vốn không có kiểm định thống kê nhưng điều quan trọng là nó có một phương pháp đo lường xác suất được quyết định từ trước (luận điểm “không có bữa ăn nào miễn phí”). Hơn nữa, ta hãy xét luận điểm về một chiến lược “tự chủ tài chính,” ví dụ bằng phương thức phòng vệ năng động. Tại điểm giới hạn, ta giả định rằng luật số lớn sẽ nén lợi nhuận và không gặp phải bất cứ tổn thất hay rào cản hấp thụ nào. Nó đáp ứng được tiêu chí của chúng ta về tính ergodic nhưng không thu được các thông số đo lường về mặt thống kê. Hơn nữa, hầu như tất cả các tài liệu viết về đầu tư/tiêu thụ liên thời gian đều đòi hỏi không có sự kiện hủy diệt. Chúng ta không khẳng định rằng một biện pháp bảo hộ hay một quá trình ngẫu nhiên là có tính ergodic, nhưng chúng ta khẳng định rằng, với xác suất tập hợp của nó (thu được qua các phương pháp cắt ngang, giả định là thông qua những xác suất chủ quan, hay đơn giản là được xác định bằng các luận điểm kiểu giao dịch chênh lệch giá), một chiến lược chấp nhận rủi ro nên tuân theo những đặc tính đó. Như vậy, tính ergodic liên quan đến chức năng của một biến hay quá trình ngẫu nhiên, chứ không liên quan đến bản thân quá trình. Và chức năng này không nên cho phép sự hủy diệt diễn ra. Nói cách khác, giả định rằng SP500 có một lợi nhuận kỳ vọng là “alpha,” thì một chiến lược ergodic sẽ tạo ra một chiến lược, như tiêu chuẩn Kelly, để thu được giá trị alpha đó. Nếu nó không làm được điều đó, vì rào cản hấp thụ hay một thứ gì khác, nó không có tính ergodic. D. MỘT ĐỊNH NGHĨA KỸ THUẬT VỀ ĐUÔI MẬP Các phân phối xác suất nằm trong khoảng từ đuôi nhỏ cực trị (Bernoulli) đến đuôi mập cực trị. Các phân nhóm của những xác suất thường được phân
https://thuviensach.vn biệt dựa trên các đặc tính hội tụ của moment bao gồm (1) Có một giá compact nhưng không suy biến, (2) Phân phối dưới Gauss, (3) Phân phối Gauss, (4) Phân phối dưới mũ, (5) Phân phối luật lũy thừa với số mũ lớn hơn 3, (6) Phân phối luật lũy thừa với số mũ lớn hơn 2 nhưng bé hơn hoặc bằng 3, (7) Phân phối luật lũy thừa với số mũ bé hơn hoặc bằng 2. Đặc biệt, các phân phối luật lũy thừa có một giá trị trung bình có hạn chỉ khi số mũ lớn hơn 1, và có một phương sai có hạn chỉ khi số mũ lớn hơn 2. Mối quan tâm của chúng ta là phân biệt giữa các trường hợp trong đó các sự kiện đuôi là tác động chính, khi một định nghĩa chính thức về ranh giới giữa các phân nhóm phân phối này được coi là Mediocristan và Extremistan. Ranh giới tự nhiên giữa chúng xuất hiện ở những phân phối dưới mũ, và có đặc tính sau đây: Coi là một dãy các biến ngẫu nhiên độc lập và đồng nhất phân phối với các giá thuộc(R+)với hàm phân phối tích lũy là F. Phân loại phân phối dưới mũ được định nghĩa như sau (xem Teugels, 1975, Pitman 1980):
https://thuviensach.vn Trong đó là phân phối tích lũy của X1 + X2, tổng của hai sao chép độc lập của X. Điều này ngụ ý rằng xác suất của việc tổng X1 + X2 vượt quá một giá trị x lớn gấp đôi xác suất của việc một trong hai giá trị riêng biệt vượt quá x. Như vậy, mỗi khi giá trị tổng này vượt quá x, đối với các giá trị x đủ lớn, điều đó là do một trong hai giá trị đã vượt quá x – giá trị lớn nhất trong hai biến này – và giá trị còn lại đóng góp không đáng kể. Một cách tổng quát hơn, cũng theo cách trên, ta có thể thấy rằng giá trị lớn nhất trong n biến sẽ hoàn toàn chiếm ưu thế trong tổng của n biến này. Một cách chặt chẽ, hai đặc tính dưới đây tương đương với điều kiện dưới mũ (xem Chistyakov, 1964, Embrechts và cộng sự, 1979). Với một giá trị n≥2 cho trước, coi
https://thuviensach.vn Như vậy, tổng Sn có cùng độ lớn với mẫu lớn nhất Mn, và đó là một cách khác để nói rằng phần đuôi đóng vai trò quan trọng nhất. Dễ hiểu rằng các sự kiện đuôi trong các phân phối dưới mũ nên suy giảm chậm hơn các phân phối mũ, trong đó các sự kiện đuôi lớn trở thành không liên quan. Thực ra, ta có thể chỉ rõ rằng các phân phối dưới mũ không có các moment lũy thừa: cho tất cả các giá trị của ε lớn hơn 0. Tuy nhiên, điều ngược lại không đúng, vì các phân phối này không có các moment lũy thừa hay đáp ứng được các điều kiện dưới mũ.
https://thuviensach.vn Chú ý rằng nếu ta chọn việc biểu thị các lệch hướng là các giá trị âm của biến x, kết quả giống như vậy vẫn được giữ nguyên bởi sự đối xứng của các giá trị âm cực trị, thay thế x → +∞ bằng x → -∞. Với các biến hai đuôi, chúng ta có thể xem xét một cách độc lập vùng dương và vùng âm.
https://thuviensach.vn PHỤ CHÚ Những ghi chú ở đây được sắp xếp theo chủ đề thay vì sắp xếp theo thứ tự. Đạo đức: Taleb và Sandis (2013), Sandis và Taleb (2015). Xem thêm Nagel (1970), Ross (1939); về triết học của sự hành động, Sandis (2010, 2012). Đạo đức chính trị: Thompson (1983). Sự bất định và đạo đức: Altham (1984), Williams (1993), Zimmerman (2008). Tổng quát: Blackburn (2001), Broad (1930). Leo núi từ những phía khác nhau: Parft (2011). Đạo đức và kiến thức: Pritchard (2002), Rescher (2009). Trong khi tôi thiên về đức hạnh đạo đức, đức hạnh vị đức hạnh, thì vì các lý do hiện sinh, đồng tác giả Constantine Sandis và tôi, nhờ vào bộ sách On What Matters (Bàn về những thứ quan trọng) của Derek Parfit (2001), người coi tất cả chúng như đang trèo lên cùng một ngọn núi nhưng từ những phía khác nhau, phát hiện ra rằng da thịt trong cuộc chơi rơi vào điểm hội tụ của ba hệ thống đạo đức then chốt: mệnh lệnh của Kant, hệ quả luận và đức hạnh cổ điển. Người ủy nhiệm-người đại diện và những rủi ro đạo đức trong kinh tế học: Ross (1973), Pratt và cộng sự (1985), Stiglitz (1988), Tirole (1988), Hölmstrom (1979), Grossman và Hart (1983). Những quyết định Hồi giáo đưa ra dưới sự bất định: Bản thảo chưa được xuất bản của Farid Karkabi, Karkabi (2017), Wardé (2010). Al ġurm fl jurm là khái niệm chính. Mắt trả mắt không theo nghĩa đen: Phần thảo luận bằng tiếng Aram, kể về trường hợp một người nhỏ làm hại một người lớn thì không có sự tương đương nào, đã bị dịch sai. Gadol dễ có nghĩa là “anh hùng” hơn là “to lớn” và Qatan dễ có nghĩa là “kẻ yếu đuối” hơn là nhỏ bé.
https://thuviensach.vn Lý trí: Binmore (2008) và một trao đổi riêng tư với K. Binmore và G. Gigerenzer trong một kỷ yếu vinh danh Gigerenzer ở Bielefeld vào năm 2017. Người Thiên Chúa giáo và người ngoại giáo: Wilkens (2003), Fox (2006), và rất nhiều nữa. Xem thêm Read và Taleb (2014) Julianus: Ammianus Marcellinus, Lịch sử, tập I và II, Loeb Classics, Harvard University Press. Xem thêm Downey (1939, 1959). Ostrom: Ostrom (1986, 2015). Xem thêm thảo luận econtalk với Peter Boetke và Russel Robert, econtalk.org/archives/2009/11/boettke_on_elin.html. Sự bất đối xứng và tính quy mô: Thăng hoa trong nghịch cảnh. Gen vị kỷ: Wilson và Wilson (2007), Nowak và cộng sự (2010). Trình bày của Pinker về tranh luận giữa Novak, Wilson và cộng sự, với những người ủng hộ cách tiếp cận “gen vị kỷ”, không hiểu rõ tính quy mô giữa những thứ khác: edge.org/conversation/steven_pinker-the-false-allure-of-groupselection. Bar-Yam và Sayama (2006). Hàng rào cao thì hàng xóm mới tốt: Rutherford và cộng sự. (2014). Sự hy sinh: Halbertal (1980). Bất bình đẳng động: Lamont (2009), Rank và Hirshl (2014, 2015). Xem thêm cũng từ Mark Rank, “From Rags to Riches to Rags,” (tạm dịch: từ ăn mày lên đại gia rồi lại thành ăn mày) The New York Times ngày 18 tháng 4 năm 2014. Tính ergodic và cờ bạc: Peters và Gell-Mann (2016), Peters (2011). Bất bình đẳng: Piketty (2015). Tước đoạt tài sản đã sẵn có trong bản chất Piketty từ lâu (1995).
https://thuviensach.vn Tính toán sự bất bình đẳng sai đường: Taleb và Douady (2015), Fontanari và cộng sự. (2017). Đánh thuế cho sự bình đẳng là không phù hợp với đuôi mập: Thứ thuế này, với mục đích trừng phạt những người tạo ra của cải, rất phổ biến nhưng cực kỳ nực cười và chắc chắn là mang tính tự sát: khi lợi ích bị cắt không thương tiếc từ phía trên, việc trở thành một người chấp nhận rủi ro với những đặt cược có xác suất thành công nhỏ là một việc làm điên khùng, khi bạn chỉ thắng được 20 phần (sau thuế) thay vì cả 100 phần, sau đó cống nộp toàn bộ tiền để dành cho hệ thống đánh thuế tài sản lũy tiến này. Chiến lược tối ưu sẽ là trở thành một nhà hàn lâm hay công chức nhà nước kiểu Pháp, những kẻ chống lại những người tạo ra của cải. Hãy xem vấn đề cắt ngang theo trục thời gian này: So sánh với một người có những khoản thu nhập béo bở, ví dụ như một nhà khởi nghiệp làm ra 4,5 triệu đô-la sau mỗi 20 năm với một giáo sư kinh tế học kiếm được cùng số tiền đó trong cùng một khoảng thời gian (225 nghìn đô-la từ tiền thuế của người dân). Nhà khởi nghiệp với cùng một số tiền kiếm ra đó phải trả 75% thuế thu nhập, cộng với thuế tài sản đánh trên số tiền còn lại, trong khi nhà hàn lâm ăn biên chế và sống trục lợi không hề tạo ra tài sản lại chỉ trả khoảng 30%). Đánh bạc kiểu Kelly: Thorp (2006), McLean và cộng sự (2011). Đáp ứng: Thật nông cạn khi nghĩ rằng những tiên đề kinh tế sẽ dẫn đến việc “tối đa hóa” thu nhập mà không gặp phải sự hạn chế nào (các nhà hàn lâm kinh tế học sử dụng thứ toán học ấu trĩ trong các chương trình tối ưu hóa cũng như trong lối tư duy của mình). Hoàn toàn có thể “đáp ứng” tài sản của mình, tức là nhắm đến một mức thu nhập đáp ứng kỳ vọng, cộng với việc tìm kiếm những công việc thích hợp nhất, và có sự tự hào khi nhìn thấy thành quả lao động của mình. Hoặc không cần phải công khai “tối đa hóa” thứ gì cả, chỉ cần làm những điều mình thích bởi vì điều đó khiến chúng ta trở nên người hơn. Bạo lực: Pinker (1011), Cirillo và Taleb (2016, 2018).
https://thuviensach.vn Tái chuẩn hóa: Galam (2008, 2012). Tái chuẩn hóa nhóm trong Binney và cộng sự. (1992). Máu dày: Margalit (2002). Lý trí bị giới hạn: Gigerenzer và Brighton (2009), Gigerenzer (2010). Hiệu ứng Lindy: Eliazar (2017), Mandelbrot (1982, 1997); cũng như trong Thăng hoa trong nghịch cảnh. Periander thành Corinth: trong cuốn Early Greek Philosophy: Beginning and Early Ionian Thinkers, Part 1 Gen và nguyên tắc thiểu số: Lazaridis (2017), Zalloua, trong các thảo luận riêng tư. Ngôn ngữ lan truyền nhanh hơn gen. Những người Bắc Âu sẽ rất ngạc nhiên khi nghe rằng (1) người Hy Lạp cổ đại và hiện đại thật ra là cùng là một giống người, (2) “người nói tiếng Semit,” ví dụ như người Phoenicia, lại gần gũi về mặt di truyền với những người “Ấn Âu” hơn người “Semit,” mặc dù họ lại cách rất xa nhau về mặt ngôn ngữ.
https://thuviensach.vn TÀI LIỆU THAM KHẢO Altham, J.E.J., 1984. “Ethics of Risk.” Proceedings of the Aristotelian Society, new series, 84 (1983–1984): 15–29. Ammianus Marcellinus. History, vols I and II. Loeb Classics, Harvard University Press. Barberis, N., 2013. “The Psychology of Tail Events: Progress and Challenges.”American Economic Review 103(3): 611–16. Bar-Yam, Yaneer, and Hiroki Sayama, 2006. “Formalizing the Gene CenteredV iew of Evolution.” In Unifying Themes in Complex Systems, pp. 215–222. Berlin, Heidelberg: Springer-Verlag. Binmore, K., 2008. Rational Decisions. Princeton University Press. Binney, James J., Nigel J. Dowrick, Andrew J. Fisher, and Mark Newman, 1992. The Theory of Critical Phenomena: An Introduction to the Renormalization Group. Oxford: Oxford University Press. Blackburn, S., 2001. Ethics: A Very Short Introduction. Oxford: Oxford University Press. Broad, C. D., 1930. Five Types of Ethical Theory. London: Kegan Paul. Chistyakov, V., 1964. “A Theorem on Sums of Independent Positive Random Variables and Its Applications to Branching Random Processes.”Theory of Probability and Its Applications 9(4): 640–648. Cirillo, Pasquale, and Nassim Nicholas Taleb, 2018. “The Decline of Violent Conflicts: What Do the Data Really Say?” Nobel Foundation
https://thuviensach.vn ———, 2016. “On the Statistical Properties and Tail Risk of Violent Conflicts.” Physica A: Statistical Mechanics and its Applications 452: 29– 45. Cramér, H., 1930. On the Mathematical Theory of Risk. Centraltryckeriet. Downey, Glanville, 1939. “Julian the Apostate at Antioch.” Church History 8(4): 303–315. ———, 1959. “Julian and Justinian and the Unity of Faith and Culture.” Church History 28(4): 339–349. Eliazar, Iddo, 2017. “Lindy’s Law.” Physica A: Statistical Mechanics and Its Applications. Embrechts, P., 1997. Modelling Extremal Events: for Insurance and Finance. Berlin, Heidelberg: Springer-Verlag. Embrechts, P., C. M. Goldie, and N. Veraverbeke, 1979. “Subexponentiality and Infnite Divisibility.” Probability Theory and Related Fields 49(3): 335– 347. Fontanari, Andrea, Nassim Nicholas Taleb, and Pasquale Cirillo, 2017. “GiniEstimation Under Infnite Variance.” Fox, Robin Lane, 2006. Pagans and Christians: In the Mediterranean World from the Second Century A.D. to the Conversion of Constantine. Penguin U.K. Galam, Serge, 2008. “Sociophysics: A Review of Galam Models.” International Journal of Modern Physics C 19.03: 409–440. ———, 2012. Sociophysics: A Physicist’s Modeling of Psycho-Political Phenomena. Berlin, Heidelberg: Springer-Verlag.
https://thuviensach.vn Geman, D., H. Geman, and N. N. Taleb, 2015. “Tail Risk Constraints and Maximum Entropy.” Entropy 17(6): 3724. Available: http://www.mdpi.com/1099-4300/17/6/3724. Gigerenzer, G., 2010. “Moral Satisfcing: Rethinking Moral Behavior as Bounded Rationality.” Topics in Cognitive Science 2: 528–554. Gigerenzer, G., and H. Brighton, 2009. “Homo Heuristicus: Why Biased Minds Make Better Inferences.” Topics in Cognitive Science 1(1): 107–143. Grossman, S. J., and O. D. Hart, 1983. “An Analysis of the Principal-Agent Problem.” Econometrica, 7–45. Halbertal, Moshe, 2012. On Sacrifce. Princeton University Press. Hölmstrom, B., 1979. “Moral Hazard and Observability.” The Bell Journal ofEconomics, 74–91. Isocrates, 1980. Three volumes. Loeb Classical Library. Cambridge, Mass.: Harvard University Press. Karkaby, Farid, 2017. “Islamic Finance: A Primer.” Bản thảo chưa xuất bản. Kelly, J. L., 1956. “A New Interpretation of Information Rate.” IRE Transactions on Information Theory 2(3): 185–189. Lamont, Michèle, 2009. The Dignity of Working Men: Morality and the Boundaries of Race, Class, and Immigration. Cambridge, Mass: Harvard University Press. Lazaridis, Iosif, Alissa Mittnik, Nick Patterson, Swapan Mallick, Nadin Rohland, Saskia Pfrengle, Anja Furtwängler et al., 2017. “Genetic Origins of the Minoans and Mycenaeans.” Nature 5 779972 48, no. 7666: 214–218.
https://thuviensach.vn MacLean, Leonard C., Edward O. Thorp, and William T. Ziemba, 2011. The Kelly Capital Growth Investment Criterion: Theory and Practice, vol. 3. World Scientifc. Mandelbrot, Benoit, 1982. The Fractal Geometry of Nature. Freeman and Co. ———, 1997. Fractals and Scaling in Finance: Discontinuity, Concentration, Risk. New York: Springer-Verlag. Mandelbrot, Benoit B., and N. N. Taleb, 2010. “Random Jump, Not RandomWalk.” In Richard Herring, ed., The Known, the Unknown, and the Unknowable. Princeton, N.J.: Princeton University Press. Margalit, Avishai, 2002. The Ethics of Memory. Cambridge, Mass.: Harvard University Press. Nagel, T., 1970. The Possibility of Altruism. New Jersey: Princeton University Press. Nowak, Martin A., Corina E. Tarnita, and Edward O. Wilson, 2010. “The Evolution of Eusociality.” Nature 466, no. 7310: 1057–1062. Ostrom, Elinor, 1986. “An Agenda for the Study of Institutions.” Public Choice48(1): 3–25. ———, 2015. Governing the Commons. Cambridge University Press. Parft, Derek, 2011. On What Matters. Vols. 1–3. Oxford: Oxford University Press. Periander of Corinth. In Early Greek Philosophy: Beginning and Early Ionian Thinkers, Part 1. Loeb Classical Library.
https://thuviensach.vn Peters, Ole, 2011. “The Time Resolution of the St Petersburg Paradox.” Philosophical Transactions of the Royal Society of London A: Mathematical, Physical and Engineering Sciences 369(1956): 4913–4931. Peters, Ole, and Murray Gell-Mann, 2016. “Evaluating Gambles Using Dynamics.” Chaos: An Interdisciplinary Journal of Nonlinear Science 26(2): 023103. Có thể truy cập: scitation.aip.org/content/aip/journal/chaos/26/2/10.1063/1.4940236 Piketty, Thomas, 1995. “Social Mobility and Redistributive Politics.” The Quarterly Journal of Economics 110(3): 551–584. ———, 2015. Capital in the Twenty-frst Century. Cambridge, Mass.: Harvard University Press. Pinker, S., 2011. The Better Angels of Our Nature: Why Violence Has Declined. Penguin. Pitman, E. 1980. “Subexponential Distribution Functions.” Journal of the Australian Mathematical Society, Series A, 29(3): 337–347. Pitman, J. W., 1975. “One-Dimensional Brownian Motion and the ThreeDimensional Bessel Process.” Advances in Applied Probability 511– 526. Pratt, J. W., R. Zeckhauser, and K. J. Arrow, 1985. Principals and Agents: The Structure of Business. Harvard Business Press. Prichard, H. A., 2002. “Duty and Ignorance of Fact.” trong Moral Writings, ed. J. MacAdam. Oxford: Oxford University Press. Rank, Mark Robert, and Thomas Hirschl, 2015. “The Likelihood of Experiencing Relative Poverty Over the Life Course.” PLOS One 10(7).
https://thuviensach.vn Rank, Mark Robert, Thomas Hirschl, Kirk A. Foster, 2014. Chasing the American Dream: Understanding What Shapes Our Fortunes. Oxford: OxfordUniversity Press. Read, R., and N. N. Taleb, 2014. “Religion, Heuristics and Intergenerational Risk-Management.” Econ Journal Watch 11(2): 219–226. Rescher, N., 2009. Ignorance: On the Wider Implications of Defcient Knowledge. Pittsburgh: University of Pittsburgh Press. Ross, David, 1939. The Foundations of Ethics. Oxford: Clarendon Press. Ross, S. A., 1973. “The Economic Theory of Agency: The Principal’s Problem.” The American Economic Review 63(2): 134–139. Ross, W. D., 1930. The Right and the Good. Rev. ed., 2002. Ed. P. StrattonLake. Rutherford, Alex, Dion Harmon, Justin Werfel, Alexander S. Gard-Murray, Shlomiya Bar-Yam, Andreas Gros, Ramon Xulvi-Brunet, and Yaneer BarYam. “Good Fences: The Importance of Setting Boundaries for Peaceful Coexistence.” PLOS One 9(5): e95660. Sandis, Constantine, 2012. The Things We Do and Why We Do Them. Palgrave Macmillan, 2012. Sandis, Constantine, and Nassim Nicholas Taleb, 2015. “Leadership Ethics and Asymmetry.” Leadership and Ethics, 233. Stiglitz, J. E., 1988. “Principal and Agent.” trong The New Palgrave Dictionary of Economics, vol. 3. London: Macmillan. Taleb, N. N., 2007. “Black Swans and the Domains of Statistics.” The American Statistician 61(3): 198–200.
https://thuviensach.vn Taleb, N. N., and P. Cirillo, 2015. “On the Shadow Moments of Apparently Infinite-Mean Phenomena,” arXiv preprint arXiv:1510.06731. Taleb, N.N., and R. Douady, 2015. “On the Super-Additivity and Estimation Biases of Quantile Contributions.” Physica A: Statistical Mechanics and Its Applications 429: 252–260. Taleb, N. N. and C. Sandis, 2013. “The Skin in the Game Heuristic for Protection Against Tail Events.” Review of Behavioral Economics 1(1). Teugels, J. L., 1975. “The Class of Subexponential Distributions.” The Annals of Probability, vol. 3, no. 6, pp. 1000–1011, 1975. Thompson, D. F., 1983. “Ascribing Responsibility to Advisers in Government.” Ethics 93(3): 5466–0. Thorp, Edward O., 2006. “The Kelly Criterion in Blackjack, Sports Betting and the Stock Market.” Handbook of Asset and Liability Management1: 385–428. Tirole, J., 1988. The Theory of Industrial Organization. Cambridge, Mass.: MIT Press. Wardé, I., 2010. Islamic Finance in the Global Economy. Edinburgh University Press. Wilken, R. L., 2003. The Christians as the Romans Saw Them. Yale University Press. Williams, B., 1993. Shame and Necessity. Cambridge: Cambridge University Press. Wilson, D. S., and E. O. Wilson, 2007. “Rethinking the Theoretical Foundation of Sociobiology.” The Quarterly Review of Biology 82(4): 327– 348.
https://thuviensach.vn Zimmerman, M. J., 2008. Living with Uncertainty: The Moral Signifcance of Ignorance. Cambridge, U.K.: Cambridge University Press.
https://thuviensach.vn VỀ TÁC GIẢ NASSIM NICHOLAS TALEB có 21 năm sống và làm việc trên cương vị một người đương đầu với rủi ro, sau đó trở thành một nhà nghiên cứu triết học, toán học và hầu hết là các vấn đề (rất) thực tiễn về xác suất.
https://thuviensach.vn CHÚ THÍCH 1. Bản tiếng Việt do Alpha Books xuất bản năm 2018. 2. Nhà đầu cơ: chỉ người đầu tư/mua bán chứng khoán hoặc các loại tài sản khác với mức độ rủi ro cao hơn mức trung bình để đổi lấy tiềm năng lợi nhuận cao hơn trung bình. 3. Bản tiếng Việt được Alpha Books xuất bản năm 2018. 4. Trong thần thoại Hy Lạp, Procrustes là một tên cướp thường bắt những nạn nhân nằm vừa với cái giường của hắn bằng cách kéo hoặc cắt chân họ. Theo nghĩa bóng, hình ảnh này chỉ một kế hoạch tạo sự đồng nhất hoặc tuân phục bằng các biện pháp độc đoán hoặc bạo lực. 5. Bản tiếng Việt được Nhà xuất bản Trẻ phát hành năm 2015 với tựa đề Khả năng cải thiện nghịch cảnh. 6. Để hiểu rõ tại sao các nguyên tắc đạo đức, các nghĩa vụ về luân thường đạo lý, và các kỹ năng không dễ tách rời trong cuộc sống thực, hãy xem xét ví dụ sau đây. Khi bạn nói với một người ở vị trí có trách nhiệm, ví dụ một kế toán viên, rằng, “Tôi tin anh,” có phải ý bạn muốn nói là: 1) bạn tin vào các nguyên tắc đạo đức của người đó (anh ta sẽ không chuyển tiền đến Panama), 2) bạn tin vào sự chính xác trong các tính toán của anh ta, hay 3) cả hai? Quan điểm xuyên suốt trong cuốn sách này là trên thực tế, rất khó tách bạch giữa một bên là các nguyên tắc đạo đức và một bên là kiến thức và năng lực. (Chú thích của tác giả.) 7. Yogi Berra (1925-2015): Vận động viên kiêm huấn luyện viên bóng chày nổi tiếng người Mỹ. Ông thường sử dụng lối nói thay thế những từ có phát âm tương tự nhau nhằm mục đích hài hước và châm biếm.
https://thuviensach.vn 8. Da thịt trong cuộc chơi (Skin in the game): Nguồn gốc của cụm thành ngữ này chưa được xác định rõ, nhưng nó được Warren Buffett phổ biến khi ông dùng nó để nói về việc ông đầu tư tiền túi vào quỹ đầu tư do ông sáng lập. Có “da thịt trong cuộc chơi” nghĩa là chia sẻ rủi ro (ví dụ: do bản thân đã đầu tư tài chính, công sức…) và quyền lợi trong một hoạt động/mục tiêu nào đó. Thành ngữ này được sử dụng phổ biến trong kinh doanh, chơi bạc, hoặc chính trị. 9. Lý thuyết hợp đồng: Lĩnh vực nghiên cứu về phương thức xây dựng và phát triển các thỏa thuận pháp lý của các cá nhân và tổ chức. 10. Mệnh lệnh Kant (hay mệnh lệnh tuyệt đối – Categorical imperative): Khái niệm triết học trọng tâm trong triết học đạo đức của triết gia người Đức Immanuel Kant. Có thể coi đây là một cách đánh giá các động cơ hành động. 11. Hannibal: Kẻ sát nhân hàng loạt trong series tiểu thuyết của Thomas Harris, về sau được chuyển thể thành phim, trong đó có bộ phim nổi tiếng Sự im lặng của bầy cừu. 12. Uber hóa (thuật ngữ xuất phát từ cách làm của Công ty Uber): Làm biến đổi một thị trường hay mô hình kinh tế bằng cách đưa ra một giải pháp thay thế rẻ và hiệu quả hơn. 13. Conventry: Một thành phố của Anh. 14. Brussels: Thủ đô của Bỉ. 15. Omaha và Washington, Quận Columbia (DC): tên hai thành phố của Mỹ. 16. Chủ nghĩa duy khoa học (scientism): Niềm tin thái quá vào khoa học, cho rằng chỉ những tuyên bố khoa học mới có ý nghĩa.
https://thuviensach.vn 17. Cato The Elder, tên thật là Marcus Porcius Cato (234–149 TCN): Nhà sử học và nghị viên La Mã, được biết đến như là một chính trị gia bảo thủ chống lại văn hóa Hy Lạp. Ông cũng là một trong những người đầu tiên viết sử bằng tiếng Latin. 18. Những người thích can thiệp có một đặc điểm chính chung: thường thì họ không tập tạ. (Chú thích của tác giả.) 19. Chơi đùa với tính mạng người khác. (Chú thích của tác giả.) 20. Tác giả muốn ám chỉ các số liệu thống kê. 21. Tam giác Bermuda, hay còn gọi là Tam giác Quỷ: Một vùng biển hình tam giác với ba đỉnh là Florida, Puerto Rico và Bermuda. Nơi đây xảy ra rất nhiều vụ mất tích tàu thuyền và máy bay bí ẩn. 22. Yazidi: Một tộc người Kurd bản địa ở Iraq. 23. Mandean: Một tộc người thiểu số ở vùng Lưỡng Hà, không theo đạo Hồi. 24. Julianus (có hỗn danh là Julianus Kẻ Bội giáo): Hoàng đế La Mã trong giai đoạn năm 361-363, người đã khôi phục tín ngưỡng đa thần cổ của người La Mã, vốn đã bị loại bỏ sau khi Constantinus I tuyên bố Ki-tô giáo là quốc giáo của La Mã. 25. Alexander Đại đế (356-323 TCN): một vị vua của Macedon cổ đại, chinh phạt phần lớn châu Á. 26. Đế quốc Byzantine, hay còn được gọi là Đế quốc La Mã Phương Đông: Phần phía Đông của đế quốc La Mã xưa kia. Sau khi phần phía Tây của đế quốc sụp đổ vào khoảng thế kỷ thứ 5, phần phía Đông vẫn tồn tại và phát triển trước khi bị đế quốc Ottoman chinh phục vào năm 1453.
https://thuviensach.vn 27. Chiến tranh Falkland: Một cuộc đụng độ quân sự ngắn ngày giữa Anh Quốc và Argentina để tranh chấp chủ quyền của hòn đảo Falkland vốn là thuộc địa của Anh Quốc nhưng lại nằm rất gần lãnh thổ lục địa của Argentina. 28. Trục lợi: Hành vi lợi dụng các quy định pháp lý mang tính bảo hộ hoặc “quyền hạn” để thu lợi mà không đóng góp vào hoạt động kinh tế, và không làm tăng thêm tài sản của người khác. Theo cách định nghĩa của Tony Béo (sẽ được giới thiệu ở vài trang tới), thì điều đó cũng giống như việc bị ép phải trả tiền bảo kê cho mafia nhưng không nhận được bất cứ lợi ích kinh tế gì từ việc bảo kê này. (Chú thích của tác giả.) 29. Quỹ phòng hộ (hedge fund): Một hình thức quỹ đầu tư, hoạt động dựa trên vốn góp của các nhà đầu tư tham gia, thường là do một hãng quản lý đầu tư chuyên nghiệp quản lý và có cấu trúc của một công ty đối tác hữu hạn, trách nhiệm hữu hạn, hoặc các hình thức tương tự. 30. Via negativa [tiếng Latin, tạm dịch là đường lối phủ định. Đây là một quan điểm bắt nguồn từ thần học Thiên Chúa giáo cho rằng Chúa Trời vĩ đại ngoài tầm với của hiểu biết và ngôn ngữ của loài người, và cách chính xác nhất để nói về Chúa là cách nói phủ định, tức nói về những thứ không phải là Chúa thay vì khẳng định những gì là Chúa]: Đây là nguyên tắc rằng chúng ta biết rõ về điều sai hơn là về điều đúng, và rằng kiến thức phát triển qua phép trừ. Đồng thời, việc phát hiện ra vấn đề thì dễ dàng hơn là tìm kiếm giải pháp khắc phục. Các hành động loại bỏ sẽ hiệu quả hơn các hành động thêm vào, vì sự bổ sung có thể tạo ra những vòng lặp phản hồi phức tạp và khó nhận biết. Vấn đề này được bàn cụ thể trong cuốn Thiên nga Đen. (Chú thích của tác giả.) 31. Hammurabi (1810 TCN – 1750 TCN): Vị vua thứ sáu của Babylon, nổi tiếng với việc lập ra Bộ luật Hammurabi, một trong những đạo luật đầu tiên được ghi lại trong lịch sử.