The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.

Bản thảo TVBQGVN Theo Dòng Lịch Sử

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by nguyendangtrinh29, 2016-06-06 03:09:21

TVBQGVN Theo Dòng Lịch Sử (Bản thảo)

Bản thảo TVBQGVN Theo Dòng Lịch Sử

Cái Tang Chung Cuối Đời Binh Nghiệp
Trong những ngày cuối của tháng 4/75 đã có nhiều K19 mất tích trên đường chiến

đấu và di tản và sau đó là trong ngục tù Cộng Sản. Một số K19 chống đối và vượt ngục,
nhưng chẳng may bị bắt lại và bị sát hại. Có thể gọi đây là “Cái Tang Chung Cuối Đời
Binh Nghiệp.”

Tử Sĩ Khóa 19
Ngoài cái tang chung đầu đời và cuối đời binh nghiệp, K19 chiến đấu ra sao? Tất

cả đã sống và chiến đấu vì: Danh Dự, Tổ Quốc, Trách Nhiệm.
Nhìn vào lệnh thuyên chuyển của BTTM, hẳn ai cũng thấy K19 đã:
“Không cầu an lạc dễ dàng mà chỉ khát khao gió mưa cùng nguy hiểm.”
Cùng quân trường, cùng thầy dạy, những sĩ quan xuất thân K19 đã đem hết khả

năng chỉ huy và lãnh đạo, nhưng tùy vào thời gian và chiến trường, mỗi cá nhân có
những thăng tiến khác nhau.

Trong ngục tù CS, những Trần Văn Bé, Phạm Văn Tư, Nguyễn Văn Bình, Trần
Văn Khánh, v.v... sống bất khuất nên bị kẻ thù hạ sát, thì ngoài chiến trường đã có 98 cựu
SVSQ K19 đã anh dũng hy sinh vì Tổ Quốc. Nếu cần nói thêm về tinh thần trách nhiệm
của cựu SVSQ K19 vào giờ phút thứ 25 của cuộc chiến, K19 hãnh diện với Võ Mộng
Thúy và Nguyễn Bá Niết. Dù có điều kiện vượt thoát, nhưng các anh đã ở lại với thuộc
cấp và rồi ở lại vĩnh viễn trên núi rừng Cao Nguyên. Quận Trưởng Cao Ngọc Vân (Hà
Tiên), không đầu hàng mà dẫn quân đi rồi mất tích. Một Trần Nghĩa Châu, Trung Đoàn
Phó TrĐ40/SĐ22BB đã ở lại cùng chiến đấu với binh sĩ dưới quyền vào ngày cuối cùng
của cuộc chiến 30/4/1975, cho đến khi hết đạn và ngã gục. Đây chính là sự đóng góp
xương máu của K19 nói riêng và Trường VB nói chung, cho Tổ Quốc Việt Nam.

Với 98 tử sĩ, mà mỗi người có một bản tuyên dương công trạng khác nhau nhưng
các anh được cùng chung niềm kính phục của toàn thể đồng khóa. Các anh đã đền nợ
nước, được Tổ Quốc ghi ơn và đồng bào vinh danh. Bạn bè đồng khóa không thể biết hết
và kể hết công trạng của các anh mà chỉ biết mãi mãi nhớ đến và dâng lên các anh linh
những nén tâm hương.

SINH HOẠT SAU 1975 VỚI TỔNG HỘI VÀ CÁC HỘI ĐỊA PHƯƠNG

Khóa 19 đã hoàn thành trách nhiệm của Tổng Hội Võ Bị và các Hội Võ Bị địa
phương giao phó trong các nhiệm vụ như sau:

• 2 Tổng Hội Trưởng,
• 1 Chủ Tịch Hội Đồng Tư Vấn & Giám Sát của Tổng Hội Võ Bị,
• 2 Tổng Hội Phó và 3 Liên Hội Trưởng & Liên Hội Phó,
• 11 Hội Trưởng Hội Võ Bị địa phương,
• 4 Chủ Bút Đặc San Đa Hiệu.

390
 
 
 
 
 
 Khóa
 19
 -­‐
 Nguyễn
 Trãi
 
 
 BẢN
 THẢO

LỜI KẾT
Sĩ Quan Khóa 19 TVBQGVN là quân nhân QLVNCH, luôn sống và chiến đấu vì

Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm, và trung thành với Lý Tưởng Quốc Gia.
Tuy nhiệm vụ chưa hoàn thành, trên đường lưu vong, cựu SVSQ Khóa 19 vẫn sát

cánh cùng đồng bào, cùng các đơn vị bạn để tranh đấu đòi TỰ DO, DÂN CHỦ và NHÂN
QUYỀN cho Việt Nam.

BẢN
 THẢO
 
 
 
 K19
 -­‐
 Nguyễn
 Trãi
 
 
 
 
 
 391

DANH SÁCH KHÓA 19
(*) Qua đời khi tại ngũ = 6 người

(**) Tử trận = 98 người

(***) Mất tích sau 1975 = 3 người
(****) Chết và bị giết trong trại tù Cộng Sản sau 1975 = 10 người

001.Đỗ Hữu Ái 038.Dương Văn Chiến 075.Ngô Viết Điền
002.Trần Khắc Am*** 039.Lê Văn Chiểu 076.Lê Đình Điển**
003.Lâm Thuận An 040.Trần Văn Chính 077.Nguyễn Văn Điển**
004.Hồ Huỳnh Anh 041.Hoàng Văn Chu** 078.Nguyễn Ngọc Điệp**
005.Huỳnh Ngọc Ẩn 042.Ng. V. Bạch Chu** 079.Lâm Minh Điều**
043.Nguyễn Đức Chuẩn** 080.Nguyễn Ngọc Đính
006.Phan Công Bá 044.Nguyễn Văn Chúc 081.Lê Văn Định**
007.Phạm Ngọc Bách** 045.Dương Phú Chung 082.Nguyễn Định
008.Tôn Thất Ban 046.Lê Văn Chương 083.Bùi Văn Đoàn
009.Trần Xuân Bàng 047.Nguyễn V. Chương* 084.Nguyễn Văn Đối
010.Phạm Ngọc Bảng 048.Ngô Văn Cúc 085.Nguyễn Quang Đôn
011.Lê Văn Bé 049.Nguyễn Huy Cự** 086.Nguyễn Văn Đổng**
012.Trần Văn Bé**** 050.Lê Văn Cử**** 087.Đặng Trung Đức**
013.Lê Quý Bình 051.Đinh Trọng Cường 088.Nghiêm Công Đức**
014.Nguyễn Văn Bình**** 052.Đỗ Tự Cường 089.Nguyễn Chí Đức**
053.Ng. Ngọc N. Cường 090.Trần Kim Đức
015.Lê Thành Bôn** 054.Nguyễn Thành Danh 091.Võ Trọng Em
055.Phạm Ngọc Dao 092.Ký Quốc Gia
016.Thái Bông 056.Nguyễn Văn Diệp 093.Nguyễn Vĩnh Gia**
017.Nguyễn Xuân Bỗng 057.PhạmTrần Công Diệu 094.Huỳnh Giai
018.Nguyễn Quang Bột 058.Vũ Đoàn Doan 095.Nguyễn Vĩnh Giám
019.Nguyễn Vĩnh Can
020.Dương Thắng Cảnh 059.Lê Thành Du 096.Võ Quang Giáng
021.Trần Quốc Cảnh 060.Huỳnh Bá Dũng ** 097.Nguyễn Giáo**
022.Bùi Đức Cát** 061.Trần Trí Dũng** 098.Ngô Văn Giàu
023.Nguyễn Đức Cần** 062.Trần Duy 099.Nguyễn Văn Gio
024.Tô Văn Cấp 063.Đặng Văn Duyên 100.Lê Triệu Giư
025.Lê Duy Cầu** 064.Nguyễn Đa** 101.Hồ Văn Hạc
026.Phạm Khánh Châm** 065.Vũ Cao Đà 102.Nguyễn Văn Hai**
027.Phạm Chất** 066.Phan Xuân Đài** 103.Chu Văn Hải
028.Phạm Châu 067.Nguyễn Lê Đại** 104.Đoàn Phương Hải
029.Trần Nghĩa Châu** 068.Võ Đào 105.Hồ Trường Hồng Hải
030.Trần Văn Cháu 069.Lê Văn Đáp 106.Bùi Vĩnh Hạnh
031.Trần Kiêm Chi* 070.Đỗ Đăng 107.Đồng Bá Hạnh
032.Nguyễn Chí (1941) 071.Nguyễn Văn Đấu 108.Nguyễn Đình Hạnh
033.Nguyễn Chí (1940) 072.Trần Thiện Đấu 109.Nguyễn Văn Hạnh
034.Phạm Thượng Chí** 073.Nguyễn Ngọc Đến 110.Nguyễn Văn Hào**
035.Nguyễn Vĩnh Chỉ** 074.Trần Công Điềm* 111.Trần Văn Hên

036.Lê Quang Chích
037.Trần Văn Chích**

392
 
 
 
 
 
 Khóa
 19
 -­‐
 Nguyễn
 Trãi
 
 
 BẢN
 THẢO

112.Phạm Duy Hiệp** 155.Hoàng Thọ Khương** 198.LâmVăn Minh
113.Hoàng Gia Hiếu 156.Trương Khương 199.Thái Nhỉ Minh**
114.Nguyễn Khắc Hiếu 157.Lê Văn Kịch** 200.Đỗ Văn Mười
115.Nguyễn Trọng Hiếu 158.Lê Đình Kiên** 201.Nguyễn Mười
116.Trần Văn Hiếu** 159.Nguyễn Văn Kiên** 202.Bùi Văn Nam
117.Ng. Văn Hóa (1939) 160.Châu Minh Kiến**
118.Ng. Văn Hóa (1940) 161.Lê Văn Kiệt 203.Phan Nghè
119.Lê Cảnh Hoài 162.Nguyễn Hữu Kiều 204.Phan Đình Nghiêm**
120.Nguyễn Đình Hoan 163.Trương Bá Kỳ* 205.Thái Văn Nghiệp**
121.Hồ Ngọc Hoàng** 164.Phạm Như Đà Lạc 206.Đặng Văn Ngoạn
122.Đoàn Văn Hoành 165.Huỳnh Văn Lành 207.Lê Kim Ngọc
123.Dương Đắc Hoè** 166.Lương Thành Lạp 208.Nguyễn Đình Ngọc
124.Nguyễn Việt Hồ 167.Nguyễn DươngLâm** 209.Nguyễn Kim Ngôn
125.Đinh Văn Hơn 168.Trương Văn Lâm 210.Nguyễn Văn Nguyên
126.Trần Văn Hợp**** 211.Đoàn Đình Ngữ
127.Vũ Đình Huân 169.Lê Kim Lân** 212.Nguyễn Văn Nhan
128.Lê Ngọc Huấn 170.Vương Thành Lân 213.Phạm Văn Nhậm
129.Trương Đình Huấn 171.Hà Văn Lầu** 214.Dương Quang Nhật**
130.Nguyễn Khắc Huệ 172.Hồ Lệ 215.Trương Trọng Nhật
131.Nguyễn Văn Hùng ** 173.Đặng Đình Liêu 216.Trần Trung Nhất
132.Nguyễn Xuân Huy 174.Nguyễn Anh Linh 217.Nguyễn Trọng Nhiệm
133.Tạ Mạnh Huy 175.Đàm Đình Loan**** 218.Nguyễn Nho
134.Trần Thanh Huyện 176.Đỗ Thành Long 219.Nguyễn Văn Nhỏ
135.Lâm Hưng 177.Ng.Văn Long (1942) 220.Lê Nghĩa Nhơn
136.Trần Xuân Hưng** 178.Ng.Văn Long (1940) 221.Phạm Phú Nhơn
137.Phan Văn Hường 179.Phạm Đình Long 222.Nguyễn Đức Nhuận
138.Nguyễn Văn Hữu 180.Trần Văn Long 223.Trần Trung Nhứt
139.Phạm Phú Hữu 181.Đặng Hữu Lộc 224.Nguyễn Văn Nhựt**
140.Lê Khắc Kha 182.Huỳnh Tấn Lộc 225.Lâm Vạng Niên
141.Vũ Đình Khang 183.Phạm Hữu Lợi 226.Lê Văn Niên**
184.Trần Hữu Lợi 227.Nguyễn Bá Niết**
142.Võ Thành Kháng** 185.Nguyễn Bá Luân 228.Đặng Vũ Ninh
143.Nguyễn Công Khanh 186.Phan Triều Luân** 229.Ngô Văn Nô**
144.Nguyễn Kim Khánh** 187.Nguyễn Thạch Lục 230.Vũ Ngọc Hồ Paul**
145.Trần V. Khánh(42)**** 188.Nguyễn Văn Lượng 231.Vũ Cao Phan
146.Trần V. Khánh (1943) 189.Bùi Đức Lưu 232.Nguyễn Xuân Phán
147.Trương Đình Khánh 190.Nguyễn Văn Ly 233.Nguyễn Văn Phẩm
191.Nguyễn Hoàng Mai** 234.Mã Diệu Phong**
148.Võ Công Khánh 192.Dương Tấn Mãi 235.Nguyễn Cao Phong
149.Lê Trọng Khiêm 193.Hoàng Văn Mạnh 236.Huỳnh Văn Phu
150.Nguyễn Trọng Khiêm 194.Trần Văn Mãnh
151.Nguyễn Đức Khiết ** 195.Trịnh Xuân Mão 237.Cam Phú
152.Đồng Đăng Khoa 196.Nguyễn Hồng Miên 238.Nguyễn Phú**
153.Nguyễn Đăng Khôi** 197.Huỳnh Văn Minh** 239.Trần Hồng Phú
154.Phạm Kim Khôi 240.Nguyễn Thành Phúc

BẢN
 THẢO
 
 
 
 K19
 -­‐
 Nguyễn
 Trãi
 
 
 
 
 
 393

241.Dương Văn Phước* 283.Lê Trọng Tài**** 325.Ng. V. Thọ (SĐ5)
284.Huỳnh Kim Tắc 326.Trần Đức Thọ**
242.Nguyễn Tấn Phước 327.Nguyễn Hữu Thoại**
243.Ng. V. Phước (1942)** 285.Mai Xuân Tâm 328.Bùi Thuế Thổ**
244.Ng. V. Phước (1943)** 286.Nguyễn Minh Tâm 329.Đặng Kim Thu
245.Trg. Đình Phước**** 330.Hà Trọng Thu
287.Ng. V. Tâm (1941)
246.Lê Minh Phương 288.Ng.V.Tâm(1940SĐ21) 331.Ng.V. Thu (1941)**
247.Nguyễn Phương 289.Ng. V. Tâm(1940SĐ5)
248.Nguyễn Thế Phương** 290.Vũ Văn Tâm 332.Ng.V. Thu (1943)**
291.Phạm Văn Tân 333.Đinh Văn Thuận
249.Nguyễn Văn Phương 292.Phạm Mạnh Tần** 334.Nguyễn Hữu Thuận
250.Trịnh Đức Phương 293.Lý Thành Tấn 335.Nguyễn Quang Thuận
251.Nguyễn Thái Quan** 294.Nguyễn Tiến Tấn 336.Trần Văn Thuật
252.Ng. Văn Quang (1939) 295.Nguyễn Văn Tấn 337.Võ Mộng Thúy**
296.Trần Ngọc Tấn 338.Trần Thanh Thủy
253.Ng. Văn Quang (1938) 297.Nguyễn Phước Tây 339.Nguyễn Tâm Thứ
254.Nguyễn Vinh Quang 298.Đặng Ngọc Thạch 340.Nguyễn Thừa**
255.Phạm Thanh Quang 341.Phạm Đình Thừa
299.Hoàng Gia Thái*** 342.Chế Văn Thức
256.Phan Văn Quang 300.Trương Văn Thái 343.Phạm Văn Thương
257.Trương Công Quang** 301.Bùi Dương Thanh 344.Trần Văn Tiên
258.Lê Văn Quế** 302.Hoàng Văn Thanh 345.CaoVăn Tinh
259.Ngô Hữu Quế 346.Trần Phú Tĩnh
303.Lê Gia Thanh 347.Nguyễn Thanh Tòng
260.Võ Văn Quí 304.Nguyễn Viết Thanh 348.Trần Bá Tòng
261.Nguyễn Đăng Quy** 305.Đinh Long Thành
262.Ng.V. Quý (1943) 306.Nguyễn Thiện Thành 349.Võ Thanh Tòng
307.Nguyễn Văn Thành 350.Nguyễn Anh Tôn
263.Ng.V. Quý (1939) 308.Châu Đức Thảo 351.Nguyễn Văn Tốt
264.Nguyễn Văn Rong 309.Đặng Cao Thăng 352.Phạm Hữu Tốt**
265.Nguyễn Xuân Riện 310.Hoàng Văn Thăng** 353.Ngô Trạc**
266.Lâm Văn Rớt 311.Nguyễn Trọng Thăng
312.Lý Văn Thế 354.Hoàng Trai
267.Trần Tiễn San 313.Trần Văn Thế 355.Trần Văn Trang
268.Nguyễn Văn Sang 314.Võ Văn Thêm 356.Hồng Khắc Trân
269.Đinh Văn Sáng 315.Nguyễn Xuân Thi 357.Nguyễn Mạnh Trí
316.Trần Văn Thi 358.Nguyễn Văn Triệu
270.Nguyễn Văn Sâm 317.Đào Duy Thiện 359.Nguyễn Hồng Trọng
271.Văn Bá Sen 318.Hồng Dũ Thiều** 360.Nguyễn Văn Trọng**
272.Phạm Hiệp Sĩ 319.Vũ Công Thiệu** 361.Nguyễn Văn Truật**
273.Nguyễn Văn Sinh*** 320.Vũ Huy Thiều
321.Phan Văn Thìn 362.Lê Thành Trung
274.Hà Sơn** 322.Hoàng Đình Thịnh** 363.Lê Văn Trung
275.Kâng Tum Sơn 323.Nguyễn Trí Thọ** 364.Nghiêm Viết Trung
276.Lưu Tiên Sơn 324.Ng. V. Thọ (BĐQ) 365.Trần Hữu Trung**
366.Trần Tấn Trung**
277.Lý Văn Sơn**
278.Nguyễn Thành Sơn
279.Trần Hoành Sơn
280.Nguyễn Văn Sự

281.Trương Thanh Sương
282.Hồ Tứ Tá

394
 
 
 
 
 
 Khóa
 19
 -­‐
 Nguyễn
 Trãi
 
 
 BẢN
 THẢO

367.Trần Văn Trữ 385.Lý Kim Vân v Danh sách này không kể
368.Lê Quang Trường 386.Nguyễn Tường Vân* 6 SVSQ tử nạn tại khóa
369.Phạm Đức Tú 387.Thái Sơn Vân học RNSL tại Dục Mỹ
370.Hoàng Đôn Tuấn 388.Trần Vệ là:
371.Nguyễn Anh Tuấn** 389.Đào Quang Vinh
372.Trần Văn Tuấn 390.Nguyễn Văn Vinh 1.Phan Thừa
373.Võ Lê Tuấn 391.Phạm Kim Vinh 2.Lê Quang Trị
392.Quách Văn Vinh 3.Nguyễn Thế Long
374.Lê Thanh Tùng 393.Nguyễn Văn Vĩnh
375.Lê Viết Tùng** Trọng
376.Trần Đại Tùng 394.La Hoàn Võ 4.Bùi Thình Túc
377.Vũ Thiệu Tùng** 395.Tống Tấn Võ 5.Nguyễn Khắc Vũ
378.Tăng Bửu Tuyền 396.Lâm Văn Xê 6.Bùi Quang Vực
379.Phạm Văn Tư**** 397.Huỳnh Như Xuân****
380.Trần Cẩm Tường 398.Nguyễn Phước Xuân v Danh sách này cũng
381.Trần Ngọc Tường** không kể những TKS
382.Nguyễn Văn Tỵ hoặc SVSQ được trả về
dân chính, vì lý do sức
383.Cao Minh Vân khoẻ.
384.Cao Ngọc Vân**

***

BẢN
 THẢO
 
 
 
 K19
 -­‐
 Nguyễn
 Trãi
 
 
 
 
 
 395

CÁC SĨ QUAN KHÓA 19 VỊ QUỐC VONG THÂN

1.-Thiếu Úy Phạm Ngọc Bách, Khóa 19 (29/9/1941-2/3/1965)
Đại Đội Trưởng Biệt Động Quân, tử trận ngày 2/3/1965 tại Xóm Xinh,
Chiến Khu D, Phước Thành.

2.-Đại Úy Lê Thành Bôn, Khóa 19 (1/7/1940-10/2/1971)
Trung Uý Lê Thành Bôn được lệnh về làm tùy viên cho Trung Tướng Dư Quốc Đống Tư
Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù thay cho Thiếu Úy Phạm Thượng Chí xin ra tác
chiến. Một năm sau Lê Thành Bôn lại xin ra tác chiến giữa lúc chiến trường
vô cùng sôi động trên khắp nơi.

Ngày 10/2/1971, Đại Uý Lê Thành Bôn Đại Đội Trưởng thuộc Tiểu
Đoàn 3 Nhảy Dù chạm địch rất mạnh với một Tiểu Đoàn Việt Cộng có
chiến xa yểm trợ. Bôn đã phối hợp hỏa lực không, pháo yểm, điều động
binh sĩ chiến đấu gây tổn thất nặng nề cho địch quanh căn cứ hỏa lực 31 của Bộ Chỉ Huy
Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù. Trong lúc chỉ huy, Đại Uý Lê Thành Bôn đã anh dũng hy sinh đền
nợ nước trên đất Hạ Lào, và được truy thăng cố Thiếu Tá.

Nhảy Dù Phạm Thượng Chí, Nhảy Dù Lê Thành Bôn cũng như các Võ Bị khác
luôn tâm niệm: “Chúng tôi không tìm an lạc dễ dàng mà chỉ khát khao gió mưa cùng
nguy hiểm”, bởi thế cho nên trong số 25 sĩ quan Khóa 19 tình nguyện về Nhảy Dù đã có
10 ngừời hy sinh vì Tổ Quốc. (Người viết: Đoàn Phương Hải Khóa 19).

3.-Thiếu Tá Bùi Đức Cát, Khóa 19 (4/6/1943-29/3/1971)
Trưởng Phòng 3/Lữ Đoàn 3 Thiết Giáp, hy sinh ngày 29/3/1971 tại Đồn Điền Chup
Campuchia.

4.-Đại Úy Nguyễn Đức Cần, Khóa 19 (16/10/1940-9/4/1968)
Ngày 4/4/1968, Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù gồm 3 Tiểu Đoàn 3,6,8 tham dự Hành
Quân Lam Sơn 207A tại Khe Sanh. Toàn bộ Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù được trực
thăng vận vào phía đông căn cứ Khe Sanh do Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ
trấn giữ, với nhiệm vụ hành quân giải toả áp lực của 4 Sư Đoàn Cộng Quân
325, 324, 304 và 320 cùng các Trung Đoàn pháo, hỏa tiễn bao vây căn cứ
hỏa lực Khe Sanh. Các đơn vị Nhảy Dù đã liên tục chạm súng dữ dội vớí Cộng Quân
quanh căn cứ Khe Sanh. Đại Uý Nguyễn Đức Cần, Đại Đội Trưởng 33/Tiểu Đoàn 3
Nhảy Dù đã anh dũng hy sinh đền nợ nước vào ngày 9/4/1968 trên vùng đồi núi Khe
Sanh và được truy thăng Thiếu Tá. Nguyễn Đức Cần hy sinh khi vợ mang bầu sắp sanh
nên Cần chưa kịp đón mừng con trai đầu lòng! (Người viết: Đoàn Phương
Hải Khóa 19)

5.-Đại Úy Lê Duy Cầu, Khóa 19 (23/1/1943-6/1972)
Tiểu Đoàn Trưởng Địa Phương Quân/ Tiểu Khu Ba Xuyên, hy sinh tháng
6/1972 tại Sóc Trăng, và được truy thăng cố Thiếu Tá.

396
 
 
 
 
 
 Khóa
 19
 -­‐
 Nguyễn
 Trãi
 
 
 BẢN
 THẢO

6.-Thiếu Úy Phạm Khánh Châm, Khóa 19 (10/10/1939-1/1/1966)
Sĩ quan thuộc Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù, hy sinh ngày 1/1/1966 tại Hậu Nghĩa.

7.-Thiếu Úy Phạm Chất, Khóa 19
(14/2/1941-14/11/1966)
Sĩ quan thuộc Tiểu Đoàn 39 Biệt Động Quân, hy sinh ngày 14/11/1966 tại
Quảng Nam.

8.-Trung Tá Trần Nghĩa Châu, Khóa 19 (17/7/1940-1975)
Cuối năm 1968, khi tôi, Trịnh Bá Tứ Khóa 18, về nhận Tiểu Đoàn 4/40/ Sư
Đoàn 22 Bộ Binh thì Trần Nghĩa Châu là Tiểu Đoàn Phó và ba đại đội
trưởng là Khóa 21 và Khóa 22. Chúng tôi đã có một thời gian dài chiến đấu
bên nhau; lòng dũng cảm, khả năng chỉ huy của các đàn em làm tôi vững
tâm trong mọi tình thế, nhưng điều mà tôi cảm thấy hạnh phúc là Trần
Nghĩa Châu là chất keo kết dính đồng môn Võ Bị với nhau, cho dù khi anh
đi làm tiểu đoàn trưởng ở đơn vị khác cũng vẫn thế.

Năm 1972 tôi bị bắt, sau đợt trao trả tù binh 1973, Châu đã đến thăm và tặng tôi
một món qùa quý giá mà nay nhắc lại tôi vẫn muốn khóc, Châu nói:

-Mừng anh đã trở về, anh yên tâm có đàn em lo cho anh.
Đầu năm 1975, Châu lên Trung Tá và đi làm Trung Đoàn Phó, anh gọi báo cho tôi
hay, chẳng bao lâu, tôi nghe tin anh hy sinh và xác anh ở lại chiến trường.
Nhắc đến Trần Nghĩa Châu, một cựu SVSQ VB như tất cả các cựu SVSQ VB
khác, đã làm tròn nghĩa vụ người trai. Xin ghi lại đôi dòng để tưởng nhớ đến Trần Nghĩa
Châu Khóa 19 và tất cả đồng môn Võ Bị đã Vị Quốc Vong Thân.
(Người viết: CSVSQ Trịnh Bá Tứ Khóa 18)

9.-Thiếu Úy Phạm Thượng Chí, Khóa 19 (3/10/1941-1/1/1966)
Sau khi 25 tân Thiếu Uý Khóa 19 trình diện Sư Đòan Nhảy Dù, Thiếu Úy
Phạm Thượng Chí được Trung Tướng Dư Quốc Đống Tư Lệnh Sư Đoàn
Nhảy Dù giữ lại làm sĩ quan tùy viên, nhưng Chí luôn xin ra các tiểu đoàn
tác chiến, khoảng một năm sau Chí được thuyên chuyển về Tiểu Đoàn 8
Nhảy Dù.

Trong trận Nhảy Dù tiêu diệt trọn một tiểu đoàn Cộng Quân tại Bồng Sơn năm
1966, Thiếu Úy Phạm Thượng Chí đã anh dũng hy sinh ngày 1/1/1966, và được truy
thăng cố Trung Úy. Trung Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù đã bay đến mặt trận, ngậm
ngùi tiếc thương một cựu sĩ quan tùy viên đã anh dũng hy sinh vì tổ quốc.

Phạm Thượng Chí đã một lòng: “Chúng tôi không tìm an lạc dễ dàng mà chỉ khát
khao gió mưa cùng nguy hiểm”

(Người viết: Đoàn Phương Hải Khóa 19).

BẢN
 THẢO
 
 
 
 K19
 -­‐
 Nguyễn
 Trãi
 
 
 
 
 
 397

10.-Thiếu Úy Nguyễn Vĩnh Chỉ, Khóa 19 (3/3/1941-18/1/1965)
Sĩ quan thuộc Tiểu Đoàn 32 Biệt Động Quân, hy sinh ngày 18/11/1965, tại
Tam Hiệp, quận Bến Tranh, tỉnh Mỹ Tho.

11.-Trung Úy Trần Văn Chích, Khóa 19 (5/10/1940-4/12/1967)
Sĩ quan thuộc Tiểu Đoàn 5 Thủy Quân Lục Chiến, hy sinh ngày 4/12/1967 tại
Rạch Ruộng, tỉnh Kiến Phong, và được truy thăng cố Đại Úy.

12.-Thiếu Úy Hoàng Văn Chu, Khóa 19 (8/1/1941-29/3/1965)
Sĩ quan thuộc Tiểu Đoàn 21 Biệt Động Quân, hy sinh ngày 29/3/1965 bỏ xác
tại trận địa Kontum.

13.-Thiếu Úy Nguyễn Văn Bạch Chu, Khóa 19 (3/10/1941-28/2/1966)
Sĩ quan thuộc Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù, hy sinh ngày 28/2/1966 tại Quảng Ngãi.

14.-Thiếu Úy Nguyễn Đức Chuẩn, Khóa 19 (17/2/1941-8/12/1965)
Sĩ quan thuộc Tiểu Đoàn 11 Biệt Động Quân, hy sinh ngày 8/12/1965 tại Quảng Nam.

15.-Thiếu Tá Nguyễn Huy Cự, Khóa 19 (23/4/1938-1972)
Sĩ quan thuộc Sư Đoàn 18 Bộ Binh, hy sinh năm 1972.

16.-Trung Úy Huỳnh Bá Dũng, Khóa 19 (20/10/1942-1/2/1968)
Sĩ quan thuộc Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh/ Hành quân, hy sinh ngày
1/2/1968 tại thị xã Quảng Ngãi.

17.-Thiếu Úy Trần Trí Dũng, Khóa 19 (28/11/1940-12/6/1965)
Ngày 8/6/1965, đại quân Bắc Việt đánh chiếm quân lỵ Đồng Xoài gây cho quân bạn
nhiều tổn thất nặng nề. Ngày 10/6/1965, Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù được trực
thăng vận phối hợp cùng Tiểu Đoàn 52 Biệt Động Quân tái chiếm lại quận lỵ
Đồng Xoài. Sáng ngày 12/6/1965, Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù tiếp tục hành quân
và chạm địch nặng với 2 Trung Đoàn 271 và 272 Cộng Quân tại đồn điền
cao su Thuận Lợi phía Bắc Đồng Xoài 7 cây số. Địch dùng chiến thuật biển
người bao vây, chia cắt, mưa pháo tấn công và cận chiến với Tiểu Đoàn 7
Nhảy Dù trong suốt ngày đêm 12/6/1965.

Thiếu Úy Trần Trí Dũng chỉ huy binh sĩ chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và đã
tử thương khi vừa ra trường được hơn 6 tháng. (Người viết: Đoàn Phương Hải Khóa 19)

398
 
 
 
 
 
 Khóa
 19
 -­‐
 Nguyễn
 Trãi
 
 
 BẢN
 THẢO

18.-Thiếu Tá Nguyễn Đa, Khóa 19 (13/4/1940-5/1973),
Tiểu Đoàn Trưởng 1/9/ Sư Đoàn 5 Bộ Binh, hy sinh tháng 5/1973 trên Quốc Lộ13 tại
Bình Long.

19.-Trung Úy Phan Xuân Đài, Khóa 19 (12/2/1941-29/8/1967)
Đại Đội Trưởng thuộc Tiểu Đoàn 3/41/Sư Đoàn 22 Bộ Binh, gan dạ, đã tạo những chiến
công đáng kể trong các cuộc hành quân. Binh Sĩ, Hạ Sĩ Quan và Sĩ Quan trong Tiểu
Đoàn nể phục sự gan dạ, kể cả tài chỉ huy của anh.

Mặc dù còn đang được nghỉ phép kết hôn, nhưng khi đơn vị hành
quân còn thiếu sĩ quan chỉ huy nên anh trở lại trình diện để cùng hành quân
với đơn vị. Ngay ngày đầu cuộc hành quân tại vùng Phù Mỹ, Bình Định,
đơn vị anh đã đụng địch và thanh toán rất nhiều mục tiêu, đôi bên đều ít
nhiều tổn thất và Phan Xuân Đài đã hy sinh ngày 29/8/1967. Nợ nước anh
đền xong, để lại người vợ mới cưới đã thành góa phụ. Anh được truy thăng
cố Đại Úy. (Người viết: Trương Thanh Sương Khóa 19).

20.-Thiếu Úy Nguyễn Lê Đại, Khóa 19 (4/5/1942-25/10/1965)
Sĩ quan Biệt Động Quân, hy sinh ngày 25/10/1965 tại Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

21.-Thiếu Úy Lê Đình Điển, Khóa 19
(21/12/1939-8/6/1965)
Sĩ quan thuộc Trung Đoàn 31/ Sư Đoàn 21 Bộ Binh, hy sinh ngày 8/6/1965
tại Chương Thiện.

22.-Đại Úy Nguyễn Văn Điển, Khóa 19
(12/10/1942-1972)
Sĩ quan thuộc Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù, hy sinh năm 1972 tại chiến trường Tây
Ninh.

23.-Trung Úy Nguyễn Ngọc Điệp, Khóa 19
(10/1/1940-9/1/1967)
Từ Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù thuyên chuyển về Tiểu Đoàn 3/ Trung Đoàn 15
Bộ Binh. Là Đại Đội Trưởng, hành quân vùng Nha Mân, Sa Đéc. Tử nạn khi
hành quân vượt sông ngày 9/1/1967.
(Người viết: Nguyễn Đình Hạnh Khóa 19).

BẢN
 THẢO
 
 
 
 K19
 -­‐
 Nguyễn
 Trãi
 
 
 
 
 
 399

24.-Đại Úy Lâm Minh Điều, Khóa 19
(2/11/1942-6/5/1968)
Đại Đội Trưởng Đại Đội 1/43/ Sư Đoàn 18 Bộ Binh, hy sinh ngày 6/5/1968,
trên Quốc Lộ 20 giữa Túc Trưng và La Ngà, quận Định Quán, Long Khánh.

25.-Thiếu Tá Lê Văn Định, Khóa 19
(27/2/1939-5/3/1971)
Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5/2/ Sư Đoàn 1 Bộ Binh, hy sinh ngày
5/3/1971 tại Hạ Lào.

26.-Trung Úy Nguyễn Văn Đổng, Khóa 19 (21/4/1941-12/12/1966)
Sĩ quan thuộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh, hy sinh ngày 12/12/1966.

27.-Thiếu Tá Đặng Trung Đức, Khóa 19 (14/7/1941-7/1972)
Trong bất cứ cuộc hành quân quan trọng nào, tôi, Ngô Văn Xuân Khóa 17, Trung
Đoàn Trưởng Trung Đoàn 44 Bộ Binh luôn dùng hai tiểu đoàn của Trung
Đức và Xuân Phán là Khóa 19, cả hai tiểu đoàn này đều có thành tích chiến
đấu cao nhất trong Trung Đoàn 44 Bộ Binh.
Trung Đoàn 44 Bộ Binh đã được tuyên dương công trạng trước Quân
Đội lần thứ năm về những chiến công hiển hách, mà Trung Đoàn đã đạt
được trong suốt thời gian tác chiến tại mặt trận Kontum 1972, trong đó có
công lao của Đặng Trung Đức, một tiểu đoàn trưởng ưu tú, tài ba cả tác
chiến lẫn tham mưu của Sư Đoàn 23 Bộ Binh, được hầu hết các cấp chỉ huy và bạn bè quí
mến, thuộc cấp kính nể yêu thương.
Nhưng tiếc thay, Thiếu Tá Đặng Trung Đức đã hy sinh vì Tổ Quốc, đền ơn
Trường Võ Bị vào tháng 7/1972. Anh được truy thăng cố Trung Tá. Tướng Tư Lệnh Sư
Đoàn 23 Bộ Binh đã lấy tên anh đặt cho bản doanh Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh
Hành Quân tại Kontum. (Người viết: Song Vũ Ngô Văn Xuân Khóa 17)

28.-Đại Úy Nghiêm Công Đức, Khóa 19 (4/4/1942-11/12/1969)
Sĩ quan Biệt Động Quân, hy sinh ngày 11/12/1969.

29.-Thiếu Úy Nguyễn Chí Đức, Khóa 19 (19/8/1938-1965)
Sĩ quan thuộc Đại Đội 5/ Tiểu Đoàn 2/ Trung Đoàn 9/ Sư Đoàn 5 Bộ Binh, hy sinh
năm 1965 tại Trị Tâm, Dầu Tiếng.

30.-Thiếu Úy Nguyễn Vĩnh Gia, Khóa 19
(10/1/1943-18/1/1966)
Sĩ quan thuộc Tiểu Đoàn 11 Biệt Động Quân, hy sinh ngày 18/1/1966 tại
Quảng Nam.

400
 
 
 
 
 
 Khóa
 19
 -­‐
 Nguyễn
 Trãi
 
 
 BẢN
 THẢO

31.-Trung Úy Nguyễn Giáo, Khóa 19
(18/10/1942-28/12/1967)
Đại Đội Trưởng Đại Đội 3/Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân, hy sinh ngày
28/12/1967 tại Gò Nổi, Điện Bàn, Quảng Nam.

32.-Trung Úy Nguyễn Văn Hai, Khóa 19
(4/5/1941-1/8/1966)
Sĩ quan Trung Đoàn 48/ Sư Đoàn 18 Bộ Binh, hy sinh ngày 1/8/1966.

33.-Thiếu Úy Nguyễn Văn Hào, Khóa 19 (14/9/1941-27/11/1965)
Đại Đội Trưởng Đại Đội 1/ Tiểu Đoàn 2/ Trung Đoàn 7/ Sư Đoàn 5 Bộ Binh, hy sinh
ngày 27/11/1965 tại Dầu Tiếng, và được truy thăng cố Trung Ủy.

34.-Thiếu Úy Phạm Duy Hiệp, Khóa 19
(18/10/1940-4/4/1965)
Sĩ quan Biệt Động Quân, hy sinh ngày 4/4/1965.

35.-Thiếu Úy Trần Văn Hiếu tự Tám, Khóa 19
(21/5/1938-22/12/1965)
Đại Đội Trưởng Đại Đội 1/2/31/ Sư Đoàn 21 Bộ Binh, hy sinh ngày
22/12/1965 tại Chương Thiện.

36.-Đại Úy Hồ Ngọc Hoàng, Khóa 19
(9/11/1942-29/3/1975)
Sĩ quan thuộc Tiểu Đoàn 6 Thủy Quân Lục Chiến, mất tích và xem như đã
hy sinh trong trận đánh với Cộng Quân vào chiều tối ngày 29/3/1975 tại Đà
Nẵng.

37.-Trung Úy Dương Đắc Hoè, Khóa 19
(1/5/1938-28/11/1966)
Quan sát viên L19/ Sư Đoàn 23 Bộ Binh, tử nạn ngày 28/11/1966 tại Quảng
Đức.

BẢN
 THẢO
 
 
 
 K19
 -­‐
 Nguyễn
 Trãi
 
 
 
 
 
 401

38.-Thiếu Úy Nguyễn Văn Hùng, Khóa 19
(14/4/1945-31/12//1964)
Sĩ quan thuộc Tiểu Đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến, hy sinh ngày 31/12/1964
tại Bình Giả.

39.-Đại Úy Trần Xuân Hưng, Khóa 19 (25/3/1938-7/12/1968)
Xử lý thường vụ chức vụ Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 43 Biệt Động Quân, hy sinh ngày
7/12/1968 tại Kinh Bà Đầm Thác Lác trong cuộc hành quân trực thăng vận tiếp viện cho
một đơn vị Sư Đoàn 21 Bộ Binh đang chạm địch mạnh vùng giáp ranh 2 tỉnh Cần Thơ,
Chương Thiện. Cánh quân của Hưng đã lọt vào ổ độn thổ phục kích của địch ngay tại bãi
đáp trực thăng. Hưng và binh sĩ thuộc quyền đã chiến đấu dũng cảm, gây cho đối phương
tổn thất nặng. Phản phục kích mà đạt được kết quả như vậy là ít có xảy ra. Nhưng đến
viên đạn cuối cùng rồi Hưng cũng đã hy sinh và bị Cộng Quân cắt cổ cùng với một cố
vấn Mỹ. (Người viết: Kang Tum Sơn Khóa 19).

40.-Thiếu Úy Võ Thành Kháng, Khóa 19 (2/2/1940-28/12/1964)
Thủ khoa Khóa 19, Võ Thành Kháng thuộc Tiểu Đoàn 4 Thủy Quân Lục
Chiến, hy sinh ngày 31/12/1964 cùng với Thủy Quân Lục Chiến Nguyễn
Văn Hùng. Trước đó, ngày 28/12/1964 là Biệt Động Quân Nguyễn Thái
Quan. Cả ba Sĩ quan Khóa 19 đã hy sinh trong trận Bình Giả. Đây là sự hy
sinh sớm nhất của Khóa 19.

41.-Trung Úy Nguyễn Kim Khánh, Khóa 19
(29/10/1940-4/8/1966)
Sĩ quan Biệt Động Quân, hy sinh ngày 4/8/1966 tại ven đô Sài Gòn.

42.-Thiếu Úy Nguyễn Đức Khiết, Khóa 19 (17/10/1942-4/2/1966)
Sĩ quan thuộc Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù, hy sinh ngày 4/2/1966 tại Bồng Sơn, Bình Định.

43.-Thiếu Úy Nguyễn Đăng Khôi, Khóa 19
(1/9/1941-18/9/1965)
Sĩ quan thuộc Tiểu Đoàn 3/ Trung Đoàn 4/ Sư Đoàn 2 Bộ Binh, hy sinh
ngày 18/9/1965 tại Quế Sơn, Quảng Nam.

44.-Trung Úy Hoàng Thọ Khương, Khóa 19
(6/5/1838-21/12/1967)
Sĩ quan thuộc Sư Đoàn 7 Bộ Binh, hy sinh ngày 21/12/1967.

402
 
 
 
 
 
 Khóa
 19
 -­‐
 Nguyễn
 Trãi
 
 
 BẢN
 THẢO

45.-Trung Úy Lê Văn Kịch, Khóa 19 (12/9/1943-12/9/1968)
Sĩ quan thuộc Lực Lượng 101, hy sinh ngày 12/9/1968 tại Cầu Ngang.

46.-Thiếu Tá Lê Đình Kiên, Khóa 19
(5/12/1940-1972),
Trung Đoàn Phó Trung Đoàn 41/ Sư Đoàn 22 Bộ Binh, hy sinh năm 1972
tại Bình Định.

47.-Trung Úy Nguyễn Văn Kiên, Khóa 19
(11/11/1942-27/12/1966)
Sĩ quan thuộc Tiểu Đoàn 1/ Trung Đoàn 1/ Sư Đoàn 1 Bộ Binh, hy sinh
ngày 27/12/1966 tại Quảng Trị.

48.-Thiếu Tá Châu Minh Kiến, Khóa 19 (1939-14/9/1969)
Khi còn là Đại Đội Trưởng/ Tiểu Đoàn 1/8/ Sư Đoàn 5 Bộ Binh, trong cuộc
hành quân cấp sư đoàn (năm 1965) vào mật khu Hố Bò để tiêu diệt các
Trung Đoàn 761, 762 Chủ Lực Miền của cục R Cộng Quân, khi tiểu đoàn
lọt vào ổ phục kích giữa rừng tre gai do địch bày sẵn, đại đội đi đầu và Bộ
Chỉ Huy Tiểu Đoàn bị địch bao vây, địch chia cắt tiểu đoàn ra làm hai. Đại
đội của Châu Minh Kiến đi sau cũng đụng địch, súng nổ vang trời, Kiến đã chỉ huy đơn
vị anh dũng phản công, vang dậy tiếng hò hét xung phong, làm cho Cộng Quân kinh
hoàng bỏ chạy và đại đội đã tịch thu được những loại vũ khí mới thời điểm 1965 như
AK47, B40. Tiểu Đoàn Trưởng hết sức khen ngợi Kiến.

Cựu Đại Tá Richard W.Hobbs, Tiểu Đoàn Trưởng/ Sư Đoàn 1 Hoa Kỳ, người
từng sát cánh chiến đấu với Kiến, đã viết về thành tích và lòng dũng cảm của anh như
sau: “Một trong những đơn vị thiện chiến nhất của Quân Lực VNCH là Tiểu Đoàn 1/8/
Sư Đoàn 5 Bộ Binh, mà người chỉ huy đơn vị này là Thiếu Tá Châu Minh Kiến”.

Châu Minh Kiến đã ghi trong sổ nhật ký hành quân: “Nếu phải chết, chúng tôi
phải chết can trường tại trận tuyến, đối diện với địch quân”.

Châu Minh Kiến lên Thiếu Tá và làm Tiểu Đoàn Trưởng vào giữa năm 1968 và
rồi được truy thăng cố Trung Tá trong trận đánh tại mật khu Dương Minh Châu.

(Người viết: Trần Cẩm Tường Khóa 19/ Sư Đoàn 5 Bộ Binh).

49-Thiếu Tá Nguyễn Dương Lâm, Khóa 19
(31/12/1939-1973)
Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1/ Trung Đoàn 53/ Sư Đoàn 23 Bộ Binh, hy
sinh năm 1973 tại Pleime, Pleiku.

BẢN
 THẢO
 
 
 
 K19
 -­‐
 Nguyễn
 Trãi
 
 
 
 
 
 403

50.-Thiếu Úy Lê Kim Lân, Khóa 19
(1/5/1942-9/8/1966)
Sĩ quan thuộc Tiểu Đoàn 1/ Trung Đoàn 50/ Sư Đoàn 25 Bộ Binh, hy sinh
ngày 9/8/1966 tại Gò Đen, Bình Chánh, Long An.

51.-Thiếu Tá Hà Văn Lầu, Khóa 19
(7/8/1942-1974)
Sĩ quan thuộc Tiểu Đoàn 79 Biệt Động Quân, hy sinh năm 1974 tại Thường
Đức, tỉnh Quảng Nam.

52.-Thiếu Tá Phan Triều Luân, Khóa 19
(1941-1973)
Sĩ quan thuộc Binh Chủng Biệt Động Quân, hy sinh sau năm 1973.

53.-Đại Úy Nguyễn Hoàng Mai, Khóa 19
(9/6/1942-11/7/1968)
Sĩ quan thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh, hy sinh ngày 11/7/1968.

54.-Thiếu Úy Huỳnh Văn Minh, Khóa 19 (1/3/1941-22/5/1965)
Trưởng Ban 3/ Tiểu Đoàn 2/ Trung Đoàn 48 Bộ Binh Biệt Lập, khi hành
quân mở đường bị lọt ổ phục kích của địch, hy sinh ngày 22/5/1965 tại Đồng
Xoài thuộc tỉnh Phước Long.

55.-Trung Úy Thái Nhỉ Minh, Khóa 19 (16/8/1940-11/1/1966)
Sĩ quan thuộc Sư Đoàn 2 Bộ Binh, hy sinh ngày 11/1/1966.

56.-Thiếu Úy Phan Đình Nghiêm, Khóa 19 (1940-22/12/1965)
Trung Đội Trưởng Trung Đội 2/2/ Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân, đóng quân trong
khuôn khổ Đại Đội tại cứ điểm Núi Thọ cách đồn Thạch Trụ khoảng 700 met thuộc quận
Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi do Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân đóng. Khoảng 3 giờ sáng
ngày 22/12/1965, cả 2 cứ điểm bị 2 trung đoàn của Sư Đoàn 320 Sao Vàng Cộng Quân
với Tiểu Đoàn pháo phòng không tấn công. Sau nhiều đợt tấn công không kết quả, đến tờ
mờ sáng địch đã quyết liệt dùng chiến thuật biển người, tiền pháo hậu xung, nhưng không
thể tràn ngập đồn, đành phải rút lui. Cả 2 bên đều tổn thất nặng cũng là lúc Nghiêm hy
sinh, ngày 22/12/1965. (Người viết: CSVSQ Hồ Văn Hạc Khóa 19).

404
 
 
 
 
 
 Khóa
 19
 -­‐
 Nguyễn
 Trãi
 
 
 BẢN
 THẢO

57.-Đại Úy Thái Văn Nghiệp, Khóa 19 (20/6/1942-1973)
Sĩ quan thuộc Liên Đoàn 5 Biệt Động Quân, hy sinh năm 1973 tại An Lộc, Bình Long.

58.-Thiếu Tá Dương Quang Nhật, Khóa 19 (12/2/1940-1971)
Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 23 Tiếp Vận thuộc Sư Đoàn 23 Bộ Binh. Tử
nạn trực thăng năm 1971, tại vùng Bắc Ban Mê Thuột.

59.-Trung Úy Nguyễn Văn Nhựt, Khóa 19 (1942-1965)
Vừa tốt nghiệp, trình diện đơn vị, giữ chức vụ Đại Đội Trưởng Đại Đôi 2/
Tiêu Đoàn 44 Biệt Động Quân, tham chiến Hành Quân Dân Chí 179/ Sư
Đoàn 21 Bộ Binh, anh đã lập chiến công đầu với tài chỉ huy xuất sắc mà anh
đã học được tại quân trường đem ra áp dụng nơi chiến trận. Anh được vinh
thăng Trung Úy tại mặt trận vào ngày 1/1/1965, sau một tuần lễ hành quân.
Và suốt mùa xuân năm đó anh đã tiếp tục cùng đơn vị truy sát địch quân,
trong các cuộc Hành Quân Dân Chí tiếp theo để bảo quốc an dân. Nhưng đạn thù đã
không tránh người mà đã đưa anh vào miền miên viễn khi tuổi đời chỉ mới 23 vào tháng
7/1965 tại Sóc Trăng. Anh được truy thăng cố Đại Úy. (Người viết: BĐQ Lâm Thuận An
Khóa 19)

60.-Trung Úy Lê Văn Niên, Khóa 19 (15/2/1942-3/3/1966)
Đại Đội Trưởng/ Trung Đoàn 1/ Sư Đoàn 1 Bộ Binh, hy sinh ngày 3/3/1966 tại Quảng
Trị.

61.-Thiếu Tá Nguyễn Bá Niết, Khóa 19 (20/11/1944-1975)
Tháng 3/1975, Thiếu Tá Nguyễn Bá Niết là Liên Đoàn Phó Liên Đoàn
Phòng Thủ Sư Đoàn 6 Không Quân tại Pleiku, với tinh thần trách nhiệm rất
cao, đã ở lại đến giờ phút chót để lo sắp xếp di chuyển cho hết người và vật
dụng cần thiết, Niết ở lại để phá hủy những chiến cụ không thể mang đi
được mà không để lại cho địch. Tuy là sĩ quan Không Quân nhưng anh ở lại
tới giờ phút cuối, triệt thoái bằng đường bộ và anh đã hy sinh trên Liên Tỉnh Lộ 7B.

Tính thần trách nhiệm, thà hy sinh mình chứ không bỏ đồng đội,
đồng bào của một SVSQ VB. (Người viết: Phạm Đình Long Khóa 19, người
được Niết đẩy lên máy bay).

62.-Thiếu Úy Ngô Văn Nô, Khóa 19 (20/2/1940-21/2/1965)
Sĩ quan thuộc Tiểu Đoàn 1/ Trung Đoàn 9/ Sư Đoàn 5 Bộ Binh, hy sinh
ngày 21/2/1965 tại Trị Tâm, Dầu Tiếng, và được truy thăng cố Trung Úy.

63.-Thiếu Tá Vũ Ngọc Hồ Paul, Khóa 19,
(20/6/1942-30/4/1975)
Liên Đoàn Trưởng Địa Phương Quân, hy sinh ngày 30/4/1975 tại Long
Xuyên.

BẢN
 THẢO
 
 
 
 K19
 -­‐
 Nguyễn
 Trãi
 
 
 
 
 
 405

64.-Đại Úy Mã Diệu Phong, Khóa 19 (27/11/1943-6/3/1968)
Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 2/ Trung Đoàn 31/ Sư Đoàn 21 Bộ Binh, hy sinh ngày
6/3/1968 tại Cần Thơ.

65.-Đại Úy Nguyễn Phú, Khóa 19 (11/4/1940-1972)
Từ Sư Đoàn 5 Bộ Binh thuyên chuyển về Trung Đoàn 53/ Sư Đoàn 23 Bộ
Binh, hy sinh năm 1972 tại Kontum.

66.-Đại Úy Nguyễn Văn Phước, Khóa 19 (9/6/1942-30/10/1968)
Sĩ quan thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh, hy sinh ngày 30/10/1968.

67.-Đại Úy Nguyễn Văn Phước, Khóa 19 (28/5/1943-18/11/1969)
Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1/ Trung Đoàn 31/ Sư Đoàn 21 Bộ Binh, hy sinh ngày
18/11/1969 tại Chương Thiện, và được truy thăng cố Thiếu Tá.

68.-Đại Úy Nguyễn Thế Phương, Khóa 19
(22/7/1942-1973)
Sĩ quan thuộc Sư Đoàn 25 Bộ Binh, hy sinh năm 1973.

69.-Thiếu Úy Nguyễn Thái Quan, Khóa 19,
(21/3/1942-28/12/1964)
Sĩ quan thuộc Binh Chủng Biệt Động Quân, hy sinh ngày 28/12/1964 tại
Bình Giả.

70.-Thiếu Úy Trương Công Quang, Khóa 19
(4/7/1939-27/11/1965)
Đại Đội Trưởng Đại Đội 2/2/ Trung Đoàn 7/ Sư Đoàn 5 Bộ Binh, hy sinh
ngày 27/11/1965, tại Dầu Tiếng, và được truy thăng cố Trung Úy.

71.-Trung Úy Lê Văn Quế, Khóa 19 (10/10/1943-6/4/1965)
Đại Đội Trưởng 4/ Tiểu Đoàn 44 Biệt Động Quân, là một sĩ quan trẻ và gan dạ, rất được
lòng các binh sĩ thuộc quyền. Đơn vị anh hành quân trận chiến đầu tiên
trong khuôn khổ Hành Quân Dân Chí 129/ Sư Đoàn 21 Bộ Binh, đã góp
phần đắc lực trong công tác an dân. Anh được vinh thăng Trung Úy tại mặt
trận và được tuyên dương trước Quân Đội với những thành quả do Đại Đội
của anh đạt được. Nhưng hơn 3 tháng sau, đơn vị anh phải kịch chiến với
một đơn vị địch cấp tiểu đoàn, anh đã đền nợ nước ngày 6/4/1965, được truy
thăng cố Đại Úy khi mới 22 tuổi. (Người viết: Biệt Động Quân Lâm Thuận
An Khóa 19)

406
 
 
 
 
 
 Khóa
 19
 -­‐
 Nguyễn
 Trãi
 
 
 BẢN
 THẢO

72.-Thiếu Tá Nguyễn Đăng Quy, Khóa 19
(20/5/1941-2/1972)
Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2/ Trung Đoàn 5/ Sư Đoàn 2 Bộ Binh, hy sinh
tháng 2/1972 tại Đức Phổ, Quảng Ngãi.

73.-Trung Úy Hà Sơn, Khóa 19
(1/2/1942-19/4/1968)
Sĩ quan thuộc Sư Đoàn 2 Bộ Binh, hy sinh ngày 19/4/1968 tại Quảng Tín.

74.-Thiếu Tá Lý Văn Sơn, Khóa 19
(29/2/1940-26/3/1975)
Sĩ quan thuộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh, hy sinh ngày 26/3/1975 tại Chu Lai,
Quảng Nam.

75.-Thiếu Úy Phạm Mạnh Tần, Khóa 19 (25/9/1944-8/5/1965)
Sĩ quan Đại Đội 2/1/50/ Sư Đoàn 25 Bộ Binh, hy sinh ngày 8/5/1965 tại Bến Lức, Long
An.

76.-Đại Úy Hoàng Văn Thăng, Khóa 19
(10/8/1942-19/2/1970)
Sĩ quan thuộc Sư Đoàn 25 Bộ Binh, hy sinh ngày 19/2/1970.

77.-Thiếu Úy Hồng Dũ Thiều, Khóa 19 (10/10/1943-8/12/1965)
Sĩ quan Tiểu Đoàn 11 Biệt Động Quân, hy sinh ngày ngày 8/12/1965 tại Quảng Nam.

78.-Đại Úy Vũ Công Thiệu, Khóa 19
(6/10/1940-19/8/1968)
Sĩ quan thuộc Sư Đoàn 7 Bộ Binh, hy sinh ngày 19/8/1968.

79.-Trung Úy Hoàng Đình Thịnh, Khóa 19
(20/3/1944-5/5/1968)
Sĩ quan Biệt Động Quân, hy sinh ngày 5/5/1968 tại Bình Chánh.

BẢN
 THẢO
 
 
 
 K19
 -­‐
 Nguyễn
 Trãi
 
 
 
 
 
 407

80.-Trung Úy Nguyễn Tri Thọ, Khóa 19 (6/6/1938-9/5/1969)
Quan sát viên L19/ Sư Đoàn 1 Bộ Binh, tử nạn ngày 9/5/1969 tại Phú Bài,
Thừa Thiên, và được truy thăng cố Đại Úy.

81.-Thiếu Úy Trần Đức Thọ, Khóa 19 (13/4/1940- 16/12/1965)
Sĩ quan thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh, hy sinh ngày 16/12/1965.

82.-Thiếu Úy Nguyễn Hữu Thoại, Khóa 19 (10/2/1940-1/8/1965)
Sĩ quan thuộc Trung Đoàn 43/ Sư Đoàn 18 Bộ Binh, hy sinh ngày 1/8/1965
trong cuộc hành quân mở đường từ Long Khánh đi Xuyên Mộc, tỉnh Phước
Tuy.

83.-Đại Úy Bùi Thuế Thổ, Khóa 19
(15/7/1942-1967)
Sĩ quan thuộc Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân, hy sinh năm 1967 tại Bạc
Liêu.

84.-Đại Úy Nguyễn Văn Thu, Khóa 19 (16/10/1941-5/4/1970)
Nguyễn Văn Thu, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 23 Biệt Động Quân là một biểu tượng
của Võ Bị nói chung và Khóa 19 nói riêng, về tình đồng đội, tinh thần trách nhiệm.

Nguyễn Văn Thu bị sốt rét, đang nằm bệnh viện, nhưng khi nghe tin tiểu đoàn của
anh được lệnh hành quân thì anh xin bác sĩ cho một số thuốc uống và xin xuất viện để về
tham dự hành quân cùng đồng đội. (Người viết: Biệt Động Quân Đặng Kim Thu
Khóa19).

Rồi trong cuộc hành quân ấy, Tiểu Đoàn 23 Biệt Động Quân kịch chiến với địch
quân, hay nói đúng hơn là một bầy dã thú. Trong Thung Lũng Dak Lao xác anh nằm cạnh
xác cố vấn Mỹ, nhưng cả hai bị Cộng Quân chặt đầu, cặp lon đại úy bị chúng gỡ mất.

Nguyễn Văn Thu là một cấp chỉ huy can trường và đảm lược ngoài mặt trận,
nhưng trong cuộc sống bình thường, Nguyễn Văn Thu là một người bạn, một người anh
đầy lòng nhân ái, khoan dung, binh sĩ gọi anh là “Thu Thầy Tu”.

(Người viết: Biệt Động Quân Vương Mộng Long Khóa 20).

85.-Trung Úy Nguyễn Văn Thu, Khóa 19 (7/7/1943-1/2/1968)
Đại Đội Trưởng Đại Đội 23 Quân Nhu thuộc Sư Đoàn 23 Bộ Binh, hy sinh
ngày 1/2/1968 (Tết Mậu Thân) tại Ban Mê Thuột.

408
 
 
 
 
 
 Khóa
 19
 -­‐
 Nguyễn
 Trãi
 
 
 BẢN
 THẢO

86.-Thiếu Tá Võ Mộng Thúy, Khóa 19 (1/10/1941-3/1975)
Khi còn là Trung Úy, đang phục vụ tại Phòng 3/ Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III,
đã xin thuyên chuyển về Binh Chủng Biệt Động Quân. Khi giữ chức vụ Tiểu
Đoàn Trưởng Biệt Động Quân, Thúy là người hùng trong trận VC vây căn
cứ Krek Campuchia hơn một tháng trong năm 1971 (Báo Chiến Sĩ Cộng
Hòa có viết mấy thiên phóng sự về Thúy). Thúy được thăng cấp Thiếu Tá tại
mặt trận. Sau đó, về Quân Đoàn II, là Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 38 Biệt Động
Quân, đã hy sinh tháng 3/1975 khi chỉ huy trên chiến xa M113 vượt sông Ba trên Liên
Tỉnh Lộ 7B trong khi Quân Đoàn II hành quân di tản.

87.-Trung Úy Nguyễn Thừa, Khóa 19 (10/1/1941-3/1/1970)
Đại Đội Trưởng/ Tiểu Đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến, hy sinh trong cuộc hành quân ngày
3/1/1970 tại Chương Thiện, và được truy thăng cố Đại Úy.

88.-Trung Úy Phạm Hữu Tốt, Khóa 19 (4/1/1942-28/4/1966)
Sĩ quan thuộc Binh Chủng Biệt Động Quân hành quân và đã hy sinh ngày 28/4/1966.

89.-Thiếu Uý Ngô Trạc, Khóa 19 (12/3/1939-26/6/1965)
Thiếu Úy Ngô Trạc, Đại Đội Trưởng/ Sư Đoàn 25 Bộ Binh, trong chương trình luân
phiên về phép trong tháng 6/1965, anh đã được chấp thuận phép về quê cưới vợ. Đến
ngày đi, một Thiếu Úy khác trong đơn vị đi phép chưa về kịp chuyến hành quân. Tình
đồng đội và trách nhiệm chung của người lính chiến, Thiếu Úy Ngô Trạc đã bỏ lỡ một
chuyến phép và đã tình nguyện hành quân với Đại Đội. Đã điều động Đại Đội chiến đấu
đương đầu với địch cấp Tiểu Đoàn tại cầu An Hạ, chẳng may đã phải hy sinh. Một anh
hung vị quốc vong thân, anh đã được truy cố Trung Úy.
(Người viết: Phạm Đình Long Khóa 19)

90.-Trung Úy Nguyễn Văn Trọng, Khóa 19 (27/3/1938-14/4/1967)
Sĩ quan thuộc Tiểu Đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến, hy sinh ngày 14/4/1967
trong cuộc hành quân tại Bồng Sơn, Bình Định.

91.-Thiếu Úy Nguyễn Văn Truật, Khóa 19 (14/1/1938-3/6/1965)
Đại Đội Trưởng Đại Đội 1/1/40/ Sư Đoàn 22 Bộ Binh, hy sinh ngày 3/6/1965, trong cuộc
hành quân dọc Liên Tỉnh Lộ 7B, quận Phú Túc, tỉnh Phú Bổn.

92.-Thiếu Úy Trần Hữu Trung, Khóa 19 (5/3/1941-29/9/1965)
Sĩ quan thuộc Sư Đoàn 22 Bộ Binh, hy sinh trong cuộc hành quân ngày 29/9/1965.

93.-Đại Úy Trần Tấn Trung, Khóa 19 (1/12/1938-1968)
Sĩ quan Trưởng Ban 3 Tiểu Đoàn/ Trung Đoàn 11/ Sư Đoàn 7 Bộ Binh, hy
sinh năm 1968 (Tết Mậu Thân) tại Trung Tâm Huấn Luyện Hùng Vương/
Sư Đoàn 7 Bộ Binh.

BẢN
 THẢO
 
 
 
 K19
 -­‐
 Nguyễn
 Trãi
 
 
 
 
 
 409

94.-Thiếu Tá Nguyễn Anh Tuấn, Khóa 19
(22/4/1942-22/7/1971)
Sĩ Quan Tùy Viên Tư Lệnh Quân Đoàn III, tử nạn ngày 22/7/1971 do trực
thăng rơi tại Tây Ninh.

95.-Thiếu Tá Lê Viết Tùng, Khóa 19
(11/12/1938-1972)
Sĩ quan thuộc Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù, hành quân và hy sinh năm 1972 tại
Quảng Trị.

96.-Đại Úy Vũ Thiệu Tùng, Khóa 19
(19/6/1940-8/7/1968)
Sĩ quan thuộc Sư Đoàn 25 Bộ Binh, hành quân và hy sinh ngày 8/7/1968.

97.-Thiếu Úy Trần Ngọc Tường, Khóa 19
(17/5/1944-23/5/1965)
Đại Đội Trưởng Đại Đội 2/4/32/ Sư Đoàn 21 Bộ Binh, chỉ huy đơn vị hành
quân giải tỏa áp lực địch, đồng thời tiếp tế và tản thương cho đồn Khai
Quang, ven sông Cái Tàu, U Minh Hạ, quận Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Trên
đường về, qua sự phản công rất hiệu quả của đơn vị anh đã đẩy lui được một
đợt tấn công của địch vào buổi sáng, nhưng lại lọt vào ổ phục kích đợt thứ hai khi trời
chập tối, trên địa thế sình lầy, nhiều bụi rậm và lau sậy. Một số binh sĩ và anh đã mạng
vong bởi đạn và lưỡi lê đâm của địch ngày 23/5/1965. Anh được truy thăng cố Trung Úy.

98.-Thiếu Tá Cao Ngọc Vân, Khóa 19
(1938-5/1975)
Quận Trưởng Hà Tiên, không chịu đầu hàng giặc, dẫn quân tẩu thoát rồi mất
tích (xem như đã hy sinh) trong những ngày đầu tháng 5/1975.

***

410
 
 
 
 
 
 Khóa
 19
 -­‐
 Nguyễn
 Trãi
 
 
 BẢN
 THẢO

CÁC SĨ QUAN KHÓA 19 BỊ THIỆT MẠNG TRONG NGỤC TÙ CỘNG SẢN

Trong ngục tù Cộng Sản (CS), đã có những tấm gương bất khuất, chống đối, vượt
ngục hay bị hạ sát của các cựu SVSQ, được đăng tải rải rác trong các đặc san. Sau đây là
một vài trường hợp điển hình của Khóa 19:

1.-Thiếu Tá Trần Văn Bé, Khóa 19 (4/3/1940-10/4/1976)
Trần Văn Bé đã ra ngoài hàng rào kẽm gai và dừng lại bên lộ để chờ Tư, nhưng
khi nghe súng nổ, biết bạn bị kẹt, Bé nhanh chân vựơt thoát về Biên Hòa, nhưng rất buồn
là vài ngày sau đó thì anh bị bắt lại, anh bị nhốt vào quan tài sắt (conex) để
chờ ngày ra tòa án Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN). Với chính sách “khoan
hồng nhân đạo, trước sau như một” nên trước khi xử án, Việt Cộng (VC) đã
chuẩn bị cho Trần Văn Bé đầy đủ mọi phương tiện để tạo điều kiện cho anh
“cải tạo tốt”, đó là:
Một quan tài, một cọc sắt, một cái lỗ,
AK đạn đã lên nòng và một lũ quan tòa đười ươi.
Có rất nhiều cựu SVSQ VB vượt ngục tù Cộng Sản (CS), nhưng đa số không
thoát, cái giá tìm tự do phải trả là bị cực hình tra tấn và bị âm thầm sát hại, nhưng Trần
Văn Bé của Khóa 19 thì “được” đưa ra “tòa án” XHCN để xét xử công khai.
Tên chánh án bằng lời lẽ nham hiểm đầy giả dối nói với Trần Văn Bé:
-Anh có điều gì cứ trình bày, khai thật, khai hết để Đảng và Nhà Nước sẽ xét xử
khoan hồng tha cho anh trở về với vợ con.
Nhưng Bé đã không nói gì khác mà lớn tiếng tố cáo sự gian dối của chúng rằng
kêu gọi đi “học tập” một tháng mà giam giữ muôn năm.
Thế là “quan tòa” gõ búa ra lệnh vệ binh bịt miệng Bé và công tố đọc cáo trạng,
xét rằng, xét rằng v.v.. rồi hắn tuyên bố:
-Tòa án Quân Sự Quân Khu 7 quyết định xử phạt Trần Văn Bé: TỬ HÌNH.
Toán vệ binh kéo Bé ra cột vào cái cọc sắt đã đóng sẵn bên ụ đất, bên cỗ quan tài
và cạnh hố chôn và rồi những tràng AK như trút hận thù lên Trần Văn Bé.
Thiếu tá Trần Văn Bé, cựu SVSQ/Khóa 19 gục đầu xuống, trút hơi thở cuối
cùng vào 10 giờ 30 phút ngày Thứ Bảy mồng 10/4/1976, ngày thứ 300 “cải tạo”
Một sự kiện mà hơn 4 ngàn tù nhân trại Suối Máu chứng kiến và hẳn là còn nhớ
mãi cho đến mai sau. Trời đang nắng ráo, nhưng ngay sau khi linh hồn Trần Văn Bé vừa
ra khỏi xác, trời đất bỗng nổi cơn giông tố, mây đen bao phủ, cát bụi tung mù toàn thể
khu vực trại tù Suối Máu. Tùy theo tôn giáo, tùy niềm tin của mỗi người vào sự linh
thiêng của anh hùng Trần Văn Bé, nhưng chắc chắn, tất cả những ai chứng kiến hiện
tượng bất thường này đều tin rằng sự tàn ác dã man, gian dối của cầm thú đội lốt người
đã khiến trời đất phải nổi giận. (Trích Đặc San Nguyễn Trãi 1962-2012)

2.-Thiếu Tá Phạm Văn Tư, Khóa 19 (5/5/1944-1976)
Trong những ngày giờ cuối của tháng 4/75 đã có nhiều Khóa 19 mất tích trên
đường chiến đấu và di tản và sau đó là trong ngục tù CS, đã có một số Khóa 19 chống đối
và vượt ngục, nhưng chẳng may bị bắt lại và bị sát hại như nhiều CSVSQ VB khác, đó là

BẢN
 THẢO
 
 
 
 K19
 -­‐
 Nguyễn
 Trãi
 
 
 
 
 
 411

“Cái Tang Chung Cuối Đời Binh Nghiệp”. Trong cái tang chung ấy, Khóa 19 có nỗi buồn
riêng về 2 bạn đồng khóa vượt ngục không thành công và bị “tòa án” VC hành quyết, đó
là 2 bạn Trần Văn Bé và Phạm Văn Tư.

Vào cuối năm 1975, VC tập trung các sĩ quan, đa số là cấp tá Việt
Nam Cộng Hòa (VNCH) từ các Trại Long Giao, Hóc Môn về Trại Suối
Máu, Biên Hòa, đây là trại giam tù Phiến Cộng trước 1975 được bao quanh
bằng nhiều hàng kẽm gai kiên cố, canh gác cẩn thận, vậy mà Bé và Tư vẫn
quyết tâm vượt ngục. Bé đã thoát được ra ngoài, nhưng Tư bị vướng giữa
các hàng rào kẽm gai rồi bị chòi canh VC phát giác, súng nổ, Tư bị trọng
thương. Khi bọn cai tù kéo Tư ra khỏi hàng rào thì chúng đã “khoan hồng nhân đạo” bắn
luôn tứ chi của Tư cho nát. Tư bị bỏ mặc nằm trên mặt đất, được kiến mối tận tình “săn
sóc”, côn trùng và VC đã đưa Tư về “cõi phúc” sau một ngày bị đày đọa ở địa ngục trần
gian Suối Máu. VC đã tử hình Phạm Văn Tư. (Trích Đặc San Nguyễn Trãi 1962-2012)

3. Đại Úy Lê Văn Cử, Khóa 19
(21/12/1939-28/9/1976),
Qua đời vì tai nạn lao động ngày 28/9/1976 tại Trại Tù Hoàng Liên
Sơn, miền Bắc.

4.-Trung Tá Nguyễn Văn Bình, Khóa 19 (10/10/1943-1978)
Trong số 14 Trung Tá thuộc Khóa 19 thì Nguyễn Văn Bình, Trung Đoàn Trưởng
Trung Đoàn 54/ Sư Đoàn 1 Bộ Binh là một trong những “ngôi sao” tương lai của Khóa
19, các bạn đồng khóa cùng Sư Đoàn 1 Bộ Binh như Nguyễn Văn Hóa, Lê
Khắc Kha, Hoàng Trai đã xác nhận điều đó. Ngoài những đức tính cần thiết
cho một cấp chỉ huy lý tưởng của quân đội là liêm khiết, thuộc cấp phục và
thượng cấp mến thì Nguyễn Văn Bình còn là một người con chí hiếu, mỗi
khi chu toàn nhiệm vụ với đại gia đình là đơn vị, thì việc kế tiếp là thăm
viếng mẹ già, khi từ giã mẹ thì anh luôn luôn đi thụt lùi.
Sau 30/4/1975, anh bị giam tại trại tù Tiên Lãnh, anh đã vượt ngục,
khi gần tới biên giới Lào thì bị bắt lại, trên đường bị giải giao về trại, anh đã cương quyết
chống lại thái độ hỗn xược của bọn cai tù nên anh đã bị chúng bắn tại chỗ. Ý chí bất
khuất của Nguyễn Văn Bình trong lao tù đã được một bạn tù viết thành một cuốn sách.
Nhưng trong phạm vi ngắn gọn này thì chúng ta có thể kết luận: “Trung Tá Nguyễn Văn
Bình, CSVSQ/Khóa 19 Trường VBQGVN là một cấp chỉ huy gương mẫu, lý tưởng của
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, người con chí hiếu của gia đình và người tù bất khuất”.
(Người viết: Lê Khắc Kha Khóa 19)

5.-Thiếu Tá Trần Văn Hợp, Khóa 19 (15/10/1942-1978)
Trần Văn Hợp chọn Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến, chỉ sau một thời gian
ngắn thì Hợp và một số Khóa 19 khác đã được đặc cách thăng cấp Trung Úy tại mặt trận.
Hợp phục vụ liên tục tại Tiểu Đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến (Trâu Điên) từ cấp trung đội

412
 
 
 
 
 
 Khóa
 19
 -­‐
 Nguyễn
 Trãi
 
 
 BẢN
 THẢO

trưởng cho đến tiểu đoàn trưởng và là tiểu đoàn trưởng duy nhất trong số 30
Sĩ quan Khóa 19/ Thủy Quân Lục Chiến. Hợp đã tham dự tất cả các cuộc
hành quân trên khắp bốn vùng chiến thuật, Campuchia, Hạ Lào, Quảng Trị
cho tới giờ phút cuối cùng 30/4/1975.

Vào giai đoạn khốc liệt nhất mùa Hè 1972 và giai đoạn 55 ngày đêm
tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị, Trần Văn Hợp, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu
Đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến luôn xuất sắc hoàn thành nhiệm vụ. Điều đáng nói về Hợp
không phải là chiến công, cấp bậc hay huy chương v.v... mà là phong cách sống và chỉ
huy của một sĩ quan xuất thân Võ Bị.

Trong một buổi họp các sĩ quan tham mưu để nhận xét về ưu khuyết điểm sau trận
đánh, chỉ huy, lối sống, Thiếu Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến đã nói:

-Người ta có thể không ưa Hợp, nhưng không ai có thể coi thường Trần Văn Hợp.
Trong Trại Tù Long Giao, khi “học” những bài về “ngụy quân, ngụy quyền”, tên
giảng viên sau khi kể tội các vị tuyên úy, bác sĩ v.v... rồi hắn kết luận một câu mà hằng
mấy trăm người cùng nghe, có lẽ đến nay nhiều người còn nhớ:
-Những thứ như Trâu Điên, Cọp Ba Đầu Rằn thì phải thẳng tay trừng trị.
Trâu Điên Trần Văn Hợp đã “tử nạn” đúng như lời đã tuyên bố cảnh cáo của cai
tù, của CS: “thà giết lầm hơn bỏ sót” ( Người viết: Tô Văn Cấp Khóa19)

6.-Đại Úy Trần Văn Khánh, Khóa 19
(28/8/1942-1976)
Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn Quân Cảnh ở Biên Hòa, trốn Trại Tù Long
Giao và bị sát hại năm 1976.

7 .-Đại Úy Đàm Đình Loan, Khóa 19
(1/8/1941-1977)
Qua đời trong trại tù Miền Bắc năm 1977.

8.-Thiếu Tá Trương Đình Phước, Khóa 19
(6/7/1941-15/12/1979)
Bị VC hại chết ngày 15/12/1979 trong Trại Giam Tiên Lãnh, tỉnh
Quảng Nam.

BẢN
 THẢO
 
 
 
 K19
 -­‐
 Nguyễn
 Trãi
 
 
 
 
 
 413

9.-Đại Úy Lê Trọng Tài, Khóa 19
(5/2/1943-1977)
Bị VC hại chết năm 1977 tại Trại Giam Bù Gia Mập, tỉnh Phước
Long.

10.-Trung Tá Huỳnh Như Xuân, Khóa 19
(6/3/1942-12/1979)
Trung Tá Huỳnh Như Xuân, là một trong 150 người tù mà VC biệt
giam sau năm 1975 tại Trại Biệt Giam Đồng Mộ, Tiên Lãnh, Tỉnh Quảng
Nam. Trại tù này đã được Thủ Tưởng VC Phạm Văn Đồng gọi là 5% không
thể cải tạo được.
Xuân bị bệnh ruột thừa không được chữa trị. Những lần cơn đau hành
hạ Xuân, bạn cùng phòng đã báo cáo đến cán bộ quản giáo. Đối thoại giữa quản giáo và
an ninh, cho ta thấy rằng không có chính sách chữa trị cho những người tù. Không có
thuốc men, Xuân đã trút hơi thở cuối cùng vào tháng 12/1979. Đó là chính sách dã man
của CSVN. (Người viết: Hồ Văn Hạc Khóa 19)

***
Đại Diện Khóa: Trương Thanh Sương
Biên Soạn: BBS K19

414
 
 
 
 
 
 Khóa
 19
 -­‐
 Nguyễn
 Trãi
 
 
 BẢN
 THẢO

KHÓA 20 - NGUYỄN CÔNG TRỨ

TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA VIỆT NAM

SƠ LƯỢC

Nhập Trường: 07-12-1963
Số Ứng Viên Nhập Trường: 425

Mãn Khóa: 20-11-1965
Chủ Tọa Lễ Mãn Khóa: Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu,

Chủ Tịch Uỷ Ban Lãnh Đạo Quốc Gia
Số Sĩ Quan Tốt Nghiệp: 407

Tên Khóa: Nguyễn Công Trứ
Thủ Khoa: Quách Tinh Cần

BẢN
 THẢO
 
 
 
 Khóa
 20
 -­‐
 Nguyễn
 Công
 Trứ
 
 
 
 
 
 415
 


 

GIAI ĐOẠN HUẤN LUYỆN (1963-1965)

1. TẠI TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA VIỆT NAM (ĐÀ LẠT)

Từ năm 1960, thi hành lệnh của Cộng Sản Đệ Tam Quốc Tế, Cộng Sản Hà Nội
bắt đầu xua quân xâm lược Việt Nam Cộng Hòa qua công cụ Mặt Trận Giải Phóng Miền
Nam. Trước tình hình đất nước như thế, những chàng trai Việt mang nặng lý tưởng Quốc
Gia có học lực Tú Tài 2 (Ban A, B và Kỹ Thuật) đã hăng hái tình nguyện gia nhập Khóa
20 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Các khóa sinh Khóa 20 bắt đầu nhập trường một
tháng sau cuộc binh biến ngày 1 tháng 11 năm 1963.

Ngày nhập trường

Sau 8 tuần lễ luyện tập gian khổ của thời kỳ Tân Khóa Sinh trước khi chính thức
được công nhận là SVSQ, toàn Khóa 20 phải qua giai đoạn thử thách sau cùng là chinh
phục đỉnh “Trinh Nữ” có độ cao 2.167m của dãy núi Lâm Viên. Tân Khóa Sinh Nguyễn
Diên Xảo và Phạm Cang đã chiếm được phần thưởng danh dự “Vua Leo Núi” của khóa.
Một buổi lễ gắn Alpha trọng thể sau đó được diễn ra tại Vũ Đình Trường Lê Lợi dưới sự
chủ tọa của Chỉ Huy Trưởng, Thiếu Tướng Trần Tử Oai, cùng các Niên Trưởng Khóa 19,
những người đã khổ cực huấn luyện dìu dắt Khóa 20. Rất nhiều thân nhân của Khóa 20
cũng đã được mời tham dự.

Trong thời gian 2 năm thụ huấn gian nan vất vả với nhiều kỷ niệm vui buồn, một
SVSQ đã vĩnh viễn xa Trường Mẹ, cựu SVSQ Võ Phú Hữu đã tử nạn khi đơn vị thực tập
bài học chiến thuật “Trung Đội Vượt Sông Ứng Chế” tại Hồ Than Thở. Thêm nữa, một
vài anh em khác phải trở lại đời sống dân sự vì lý do sức khỏe không thể tiếp tục theo
đuổi chương trình huấn luyện quá khắt khe.

Trong lễ mãn khóa, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ Tịch Uỷ Ban Lãnh Đạo
Quốc Gia, đã đặt tên cho Khóa 20 là Khóa Nguyễn Công Trứ. Câu nói để đời của Uy
416
 
 
 
 
 
 Khóa
 20
 -­‐
 Nguyễn
 Công
 Trứ
 
 
 BẢN
 THẢO
 


 

Viễn Tướng Công Nguyễn Công Trứ là kim chỉ nam cho tất cả Khóa 20, “Lúc làm tướng
không lấy gì làm vinh, khi làm lính cũng không lấy gì làm nhục."

Các Tân Sĩ Quan Khóa 20 được gắn cấp bậc thiếu uý thực thụ
BẢN
 THẢO
 
 
 
 Khóa
 20
 -­‐
 Nguyễn
 Công
 Trứ
 
 
 
 
 
 417
 


 

Tang Bồng Hồ Thỉ - Thủ Khoa bắn cung đi 4 phương trời

Tin tức từ khắp chiến trường gởi về, nhiều niên trưởng đã sớm hy sinh nhưng
không làm Khóa 20 nao núng, 1965 là cao điểm của chiến tranh xâm nhập Miền Nam VN
của quân Cộng Sản Bắc Việt. Việc chọn lựa đơn vị cũng tràn đầy niềm vui và nước mắt.

Ai cũng thích vào các binh chủng hào hùng nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Tuy
nhiên, số lượng được ấn định có giới hạn, không thể đáp ứng thỏa đáng niềm mơ ước của
các Tân sĩ quan. Trong số 407 sĩ quan ra trường, số người được tuyển chọn vào các binh
chủng như sau:

o Nhảy Dù 50 người,
o Thủy Quân Lục Chiến 25 người,

o Biệt Động Quân 48 người,
o Lực Lượng Đặc Biệt 07 người,
o Thám Kích Vùng II Chiến Thuật 10 người.

Như vậy tổng cộng là 140 người được may mắn vào các đơn vị Nhảy Dù, Biệt
Động Quân, Thủy Quân Lục Chiến, Lực Lượng Đặc Biệt & Thám Kích. Phần còn lại về
các Sư Đòan Bộ Binh, trong đó riêng Sư Đoàn 5 có 39 người.

Thời gian về sau nầy Khóa 20 có 2 người qua binh chủng Thiết Giáp: Võ Công
Danh & Nguyễn Bích.

418
 
 
 
 
 
 Khóa
 20
 -­‐
 Nguyễn
 Công
 Trứ
 
 
 BẢN
 THẢO
 


 

Tổ Chức

Bộ Chỉ Huy
Khóa 20 Nguyễn Công Trứ đặc biệt là khóa có nhiều vị Chỉ Huy Trưởng nhất:
1- Đại Tá Trần Ngọc Huyến,
2- Thiếu Tướng Trần Tử Oai,
3- Đại Tá Trần Văn Trung,
4- Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Kiểm,
5- Đại Tá Lâm Quang Thơ.

Sĩ Quan Cán Bộ Liên Đoàn Sinh Viên Sĩ Quan
Thiếu Tá Thành (biệt danh Th/Tá Em,) Liên Đoàn Trưởng.
Thiếu Tá Nguyễn Bá Thịnh, Liên Đoàn Trưởng.
v Đại đội A: Đại Úy Trần Mộng Di, Đại Đội Trưởng - Trung úy Lê Minh
Ngọc & Trung Úy Tôn Thất Thuận, Đại Đội Phó;
v Đại đội B: Trung Úy Lê Hữu Khái, Đại Đội Trưởng - Trung Úy Nguyễn
Hoàng, Đại Đội Phó;
v Đại đội C: Đại Úy Đỗ Quý Sơn, Đại Đội Trưởng - Trung Úy Lý Văn Mẹo,
Đại Đội Phó;
v Đại đội D: Đại Úy Nguyễn Cao Đàm, Đại Đội Trưởng - Trung Úy Phan
Thanh Trân, Đại Đội Phó;
v Đại đội E: Đại Úy Đào Đức Yên, Đại Đội Trưởng - Trung Úy Đinh Văn
Tôn, Đại Đội Phó;
v Đại đội F: Đại Úy Phạm Quang Mỹ, Đại Đội Trưởng - Trung Úy Hoàng
Công Trúc & Trung Úy Nguyễn Ngọc Khiêm, Đại Đội Phó;
v Đại đội G: Đại Úy Nguyễn Đình An, Đại Đội Trưởng - Trung Úy Phạm
Xuân Thất, Đại Đội Phó;
v Đại đội H: Đại Úy Nguyễn Đình Tạo, Đại Đội Trưởng - Trung Úy Võ Văn
Sung, Đại Đội Phó.

Huấn Luyện Quân Sự và Văn Hóa
v Trưởng Khối Văn Hóa Vụ: Thiếu Tá Ngô Văn Doanh;
v Trưởng Khối Quân Huấn: Thiếu Tá Nguyễn Ry;
v Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn Chỉ Huy Công Vụ: Đại Úy Nguyễn Bảo
Nghĩa.

Hệ Thống Tự Chỉ Huy
Nhận trách nhiệm từ tháng 12-1964 cho đến ngày 20 tháng 11 năm 1965.

Cấp Liên Đoàn
v Liên Đoàn Trưởng: SVSQ Quách Tinh Cần;
v Liên Đoàn Phó: SVSQ Lê Văn Hai;

BẢN
 THẢO
 
 
 
 Khóa
 20
 -­‐
 Nguyễn
 Công
 Trứ
 
 
 
 
 
 419
 


 

v Tham Mưu Liên Đoàn: SVSQ Phan Thanh Miên, Nguyễn Hữu Hối,
Nguyễn Văn Hùng.

Cấp Tiểu Đoàn
v Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn TĐ 1: SVSQ Hoàng Văn Thái;
v Tham Mưu TĐ 1: SVSQ Nguyễn Văn Trung, Quách Thưởng, Nguyễn Văn
Mai;
v Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 2: SVSQ Nguyễn Văn Hoan;
v Tham Mưu TĐ 2: SVSQ Hoàng Đình Đạt, Trần Ngọc Hòa, Thuận Văn
Chàng.

Cấp Đại Đội
v Đại Đội Trưởng ĐĐ A: SVSQ Trần Thanh Quang,
v Đại Đội Trưởng ĐĐ B: SVSQ Nguyễn Thái Bửu,
v Đại Đội Trưởng ĐĐ C: SVSQ Trương Văn Vân,
v Đại Đội Trưởng ĐĐ D: SVSQ Hoàng Xuân Cường,
v Đại Đội Trưởng ĐĐ E: SVSQ Bùi Văn Thượng,
v Đại Đội Trưởng ĐĐ F: SVSQ Trương Dưỡng & Nguyễn Thành Nhu,
v Đại Đội Trưởng ĐĐ G: SVSQ Thái Minh Hoàng,
v Đại Đội Trưởng ĐĐ H: SVSQ Trần Hữu Bảo.

Những Nét Đặc Biệt

Phái Đoàn Thiện Chí
Trong thời gian 8 tuần lễ sơ khởi có một số Tân Khóa Sinh đau chân không

chạy bộ được, tạm thời tổ chức thành một nhóm riêng biệt khỏi phải chạy trong hàng
theo đại đội và khi đi học xa được ưu tiên quân xa đưa rước. Nhóm này được gọi đùa
là “Phái Đoàn Thiện Chí”.

Ban Văn Nghệ
Thiếu Tướng Chỉ Huy Trưởng Trần Tử Oai chỉ định SVSQ Quách Vĩnh

Trường thành lập Ban Văn Nghệ Khóa 20. Một chương trình phát thanh “Tiếng Nói
Võ Bị” hàng tuần trên đài phát thanh Đà Lạt và cũng từ đó được nối tiếp bởi các khóa
sau nầy.

420
 
 
 
 
 
 Khóa
 20
 -­‐
 Nguyễn
 Công
 Trứ
 
 
 BẢN
 THẢO
 


 

Dạ Hành
Thời Thiếu Tướng Trần Tử Oai làm Chỉ Huy Trưởng, SVSQ K20 phải liên tục

thực tập nhiều cuộc dạ hành. Theo kế hoạch vào buổi chiều luân phiên hàng tuần, các
đại đội được quân xa chở đến các điểm thật xa, rồi tất cả phải tìm phương giác để
băng rừng về lại nhà trường. Đây là lời giải thích của Thiếu Tướng CHT mà Khóa 20
thuộc nằm lòng:

"Qua đi thăm lớp học, Qua thấy các em quá mệt mỏi… Qua rất thông cảm với các
em. Qua biết các em thường ta thán về việc bắt các em đi dạ hành nhiều quá, nhất
là vào mùa học văn hóa. Nhưng các em phải hiểu rằng cuộc đời của các em sau
này gắn liền với bóng đêm. Kẻ địch thường lợi dụng bóng đêm để tấn công làm
cho ta thiệt hại nhiều nhất. Chính vì vậy mà Qua muốn các em phải quen dần với
bóng đêm. Qua hy vọng, các em sẽ hiểu lý do mà các em phải dạ hành nhiều trong
thời gian thụ huấn."

2. TẠI TRUNG TÂM HUẤN LUYỆN BĐQ DỤC MỸ (NHA TRANG)

Khóa 23 Rừng Núi Sình Lầy
Sau khi SVSQ Khóa 19 bị tai nạn trong bài thực tập tại Trung Tâm Huấn Luyện

Biệt Động Quân - Dục Mỹ, Khóa 20 không được tham dự khóa huấn luyện Rừng Núi
Sình Lầy khi còn là SVSQ như thông lệ mà chỉ được theo học sau khi đã tốt nghiệp. Ai
chọn binh chủng Nhảy Dù thì miễn theo học khóa nầy để về Saigon học khóa Nhảy Dù.
Trong thời gian đang thụ huấn Khóa 23 RNSL thì 39 tân Thiếu Úy được tuyển chọn về
Sư Đoàn 5 đã được lệnh ngưng học, cấp tốc về trình diện đơn vị vì nhu cầu của chiến
trường. Số còn lại, tiếp tục huấn luyện cho đến khi hoàn tất chương trình.

BẢN
 THẢO
 
 
 
 Khóa
 20
 -­‐
 Nguyễn
 Công
 Trứ
 
 
 
 
 
 421
 


 

Thủ khoa khóa này là Thiếu Úy TQLC Lê Xuân Lộc.

3. NHỮNG CHƯƠNG TRÌNH HUẤN LUYỆN ĐẶC BIỆT KHÁC

v Những Tân sĩ quan khi được bổ sung về các sư đoàn Bộ Binh đều được

theo học khóa Tiền Sát Viên Pháo Binh trong 2 tuần lễ tại các trung tâm
huấn luyện thuộc binh chủng Pháo Binh.

v 50 Tân Sĩ quan về Sư Đoàn Nhảy Dù phải theo học khóa chuyên môn về

Nhảy Dù.

v Những tân sĩ quan về TQLC, Thám Kích, Lực Lượng Đặc Biệt và những

chuyên môn khác đã được huấn luyện ở những trung tâm dành riêng cho
các đơn vị của các binh chủng của mình.

GIAI ĐOẠN PHỤC VỤ ĐẤT NƯỚC (1966-1975)

1 - Sự Đóng Góp Cho Đất Nước
Từ ngày ra trường Khóa 20 đã chiến đấu gần 10 năm khắp những chiến trường sôi

động nhất trên 4 vùng chiến thuật, từ vùng giới tuyến vào tận Cà Mau trong các cuộc
hành quân chống du kích và ngăn chặn sự xâm nhập của quân Cộng Sản Bắc Việt. Các
cuộc hành quân nhằm giải tỏa sự tấn công của địch vào dịp Tết Mậu Thân 1968; truy kích
quân Cộng Sản qua Campuchia 1970; Hạ Lào trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 năm
1971; giải tỏa áp lực địch tại thị xã An Lộc và tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị vào “Mùa
Hè Đỏ Lửa” 1972. Những cuộc thử lửa giữa Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và Quân
Chính Quy Cộng Sản Bắc Việt đã chứng tỏ sự lớn mạnh của QLVNCH thừa sức để giữ
vững miền Nam nếu được quân viện đầy đủ từ các nước bạn đồng minh.

Những sĩ quan Khóa 20 trong các đơn vị chủ lực QLVNCH đã góp phần không
nhỏ vào việc ngăn chận quân xâm lăng Cộng Sản Bắc Việt và buộc chúng phải trả lại cho
nhân dân Miền Nam những phần đất đã lấn chiếm. Cờ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa
vẫn ngạo nghễ tung bay trên Cổ Thành Đinh Công Tráng, Thị Xã Quảng Trị vào ngày
15-9-1972, phần lớn là do sự hy sinh và đóng góp của nhiều đơn vị thiện chiến của
QLVNCH trong đó Nhảy Dù, TQLC và BĐQ là thành phần chính yếu. Họ đã chiến đấu
dũng cảm, mang về những chiến công vang lừng cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu có mặt ngay tại Cổ Thành
Quảng Trị vừa được giành lại sau 81 ngày bị quân Bắc Việt chiếm giữ. Ông đã quỳ
xuống và cầu nguyện cho sự an bình cho đất nước trong cảnh đổ nát vì chiến tranh. (Xem
hình ở trang kế)

422
 
 
 
 
 
 Khóa
 20
 -­‐
 Nguyễn
 Công
 Trứ
 
 
 BẢN
 THẢO
 


 

Nhìn chung, Khóa 20 sau hơn 10 năm chinh chiến kể từ ngày ra trường, đa số đều
mang cấp thiếu tá. Họ đã đảm nhận nhiều chức vụ chỉ huy quan trọng khởi sự từ trung
đội trưởng, đại đội phó, đại đội trưởng, tiểu đoàn phó, tiểu đoàn trưởng, trung đoàn phó,
trung đoàn trưởng, liên đoàn phó, quận trưởng kiêm chi khu trưởng, trưởng ban, trưởng
phòng, v.v… Khóa 20 tính đến ngày 30-4-1975 có 8 người được thăng cấp trung tá:

v Huỳnh Bá An : Phụ Tá Trưởng Phòng 3 Sư Đoàn 3 Bộ Binh,

v Nguyễn Thái Bửu : Trung Đoàn Phó Trung Đoàn 5 Sư Đoàn 2 Bộ Binh,

v Trương Phúc : Trung Đoàn Phó Trung Đoàn 32 Sư Đoàn 21 Bộ Binh,

v Đoàn Minh Phương: Quận Trưởng Quận Sơn Tịnh Tỉnh Quảng Ngãi,

v Hoàng Mão : Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 3 Sư Đoàn 1 Bộ Binh,

v Nguyễn Văn Măng : Liên Đoàn Phó Liên Đoàn 9 Biệt Động Quân,

v Trương Ngọc Sáng : Tiểu Đoàn Trưởng,Trung Đoàn 51 Sư Đoàn 1 Bộ Binh,

v Lại Thế Thiết : Liên Đoàn Phó Liên Đoàn 15 Biệt Động Quân.

Đặc biệt Hoàng Mão, người duy nhất của khóa giữ chức vụ trung đoàn trưởng và
được tưởng thưởng Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương kèm ADBT với Nhành Dương
Liễu.

Bên cạnh những chiến công hiển hách của hầu hết các Sĩ Quan Khóa 20 trong các
trận chiến đấu với quân CSVN; phần lớn đều đã được thăng thưởng đặc cách tại mặt trận
và được tặng thưởng nhiều huy chương cao quý: Bảo Quốc Huân Chương, Anh Dũng
Bội Tinh với Nhành Dương Liễu, huy chương vàng, bạc, đồng của QLVNCH và Hoa Kỳ.

Rất nhiều người đã trở thành những chiến sĩ xuất sắc của QLVNCH.

BẢN
 THẢO
 
 
 
 Khóa
 20
 -­‐
 Nguyễn
 Công
 Trứ
 
 
 
 
 
 423
 


 

2 - Thương Phế Binh - Những Người Để Lại Một Phần Thân Thể ngoài Chiến
Trường

Khóa 20 có nhiều sĩ quan đã bị thương rất nhiều lần và được ân thưởng nhiều
Chiến Thương Bội Tinh. Một số đông đã để lại một phần thân thể của họ ngoài chiến
trưòng, nhưng vẫn tiếp tục phục vụ trong quân đội: như trường hợp Quách Vĩnh Trường,
mất một tay và một chân thương tật 170% vẫn tình nguyện ở lại phục vụ quân đội;
Nguyễn Hữu Thọ mất một chân; Hoàng Như Liêm mất một chân; Dương Đông Hải mất
một bàn chân, Trần Văn Quỳnh, Nguyễn Phú Hữu, Trương Ngọc Toàn, Phạm Văn Khoá,
Trần Kim Bảng, Phạm Văn Yêng, Phạm Ngọc Tấn Nguyễn Thanh Đức, Bùi Văn
Thượng, Trần Hữu Bảo v.v. và còn rất nhiều người khác.

3 - Hy Sinh vì Tổ Quốc (116 hy sinh trong số 407 SQ tốt nghiệp)
Bên cạnh một số anh em cùng khóa may mắn trên đường binh nghiệp thì một số

rất đông đã hy sinh vì Tổ Quốc. Trong vòng 10 năm, con số tử trận được ghi nhận lên
đến 116 Sĩ quan. Người hy sinh đầu tiên của Khóa 20 là Thiếu Úy Đỗ Bá.

Ý Chí Bất Khuất và Tinh Thần Trách Nhiệm
Tuy bị buông súng, nhưng ý chí bất khuất của những sĩ quan Khóa 20 vẫn là

những tấm gương sáng và làm rạng danh cho khóa:
v Thiếu Tá Phạm Văn Thái tự sát tại tư gia Thị Xã Phan Rang vào lúc 1 giờ
trưa ngày 2-4-1975 sau khi hay tin Thành Phố Nha Trang bị thất thủ.
v Thiếu Tá Huỳnh Túy Viên, Quận Trưởng Quận Đầm Dơi bị địch xử bắn tại
sân vận động Cà Mau vì nhất quyết tử thủ không đầu hàng. Anh đã can đảm
không đồng ý cho kẻ thù bịt mắt khi súng hướng về phía anh và anh đã hô
vang, "Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm."
v Thiếu Tá Tôn Thất Trân gốc TQLC, Tiểu Đoàn Trưởng Địa Phương Quân
Tiểu Khu Hậu Nghĩa bị xử tử trong lúc sa cơ. Anh đã chửi vào mặt kẻ thù là
“Chúng mày không có chính nghĩa.”
v Đại Úy Hoàng Đình Đạt, Trưởng Ban 4 Trung Đoàn 52 Sư Đoàn 18 Bộ Binh,
đã có giấy phép trong tay, nhưng trước tình hình nguy ngập của trận chiến sau
cùng tại Xuân Lộc, Đại Úy Đạt đã tình nguyện ở lại chiến đấu và đã anh dũng
hy sinh. Chị Đạt và gia đình đã tìm được xác Anh sau ngày mất nước
30/4/1975.

424
 
 
 
 
 
 Khóa
 20
 -­‐
 Nguyễn
 Công
 Trứ
 
 
 BẢN
 THẢO
 


 

Thiếu Tá Huỳnh Túy Viên Thiếu Tá Tôn Thất Trân

Thiếu Tá Phạm Văn Thái Đại Úy Hoàng Đình Đạt

BẢN
 THẢO
 
 
 
 Khóa
 20
 -­‐
 Nguyễn
 Công
 Trứ
 
 
 
 
 
 425
 


 

4- Những SQ Đã Thành Công về Học Vấn (Trước và Sau 1975)

v Đại Úy Quách Vĩnh Trường dù bị thương tật nặng nhưng vẫn tình nguyện ở
lại phục vụ quân đội; tiếp tục con đường học vấn. Anh đã tốt nghiệp văn bằng
Cử nhân Luật hạng Bình Thứ năm 1974 với sự khen thưởng đặc biệt của Hội
Đồng Khoa Luật Sài Gòn. Đến Hoa Kỳ định cư Trường vẫn tiếp tục việc học
của mình và đã tốt nghiệp “A.A. degree” tại Coastline Community College.

v Đại Úy Quách Tinh Cần được quân đội gởi đi du học Hoa Kỳ. Anh đã tốt
nghiệp văn bằng Cao Học Điện Tử tháng 5 năm 1973 và trở về TVBQGVN
làm Phụ Tá Trưởng Khoa Điện kiêm Trưởng Ban Điện Tử từ tháng 08-1973
đến 30-3-1975. Anh là SVSQ đầu tiên trở thành giáo sư văn hóa của

TVBQGVN.
v Phạm Văn Yêng đã bị thương 3 lần ở chiến trường, giải ngũ năm 1969 nhưng

vẫn phấn đấu tiếp tục học và đỗ Cử Nhân Luật năm 1971.
v Trần Đức Du trở thành giáo sư trung học.
v Võ Đình Lưu đỗ Cử Nhân Luật.
v Trước 1975 còn nhiều Sĩ quan K20 khác với tinh thần hiếu học và muốn

cải tiến kiến thức của người chỉ huy nên đã ghi danh theo học các phân
khoa khác nhau ở nhiều trường đại học. Có những người đã hoàn thành
chương trình học tập nhưng cũng có những người chưa đạt được ước
nguyện.
v Mũ Đỏ Trần Thanh Quang dù thương tật chỉ còn một bàn tay, nhưng với khả
năng sinh ngữ đặc biệt nên đã được học bổng Fulbright với 2 bằng Cao Học
về Báo Chí và Kế Toán tại Hoa Kỳ.
v Thiếu Tá Vương Mộng Long, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 82 BĐQ đã
góp công lớn trong chiến thắng lừng lẫy sau cùng của QLVNCH tại mặt trận
Xuân Lộc tháng 4 năm 1975. Vương Mộng Long bị đi tù Cộng Sản 13 năm, dù
đến Hoa Kỳ định cư năm 1993 nhưng cũng đã tốt nghiệp cấp bằng B.A. về
Social Sciences & Communication tại University Washington năm 2003. Anh
còn là nhà văn của Khóa 20 với nhiều bài “Bút Ký Chiến Trường” thật xuất
sắc.
v Trương Dưỡng dù phải ngồi xe lăn vì thương tật, nhưng vẫn cố gắng thành
đạt với văn bằng Cử Nhân (Bachelor’s degree.)
v Nguyễn Trọng Nhi: Dù qua Mỹ muộn màng vào năm 1992, sau hơn 10 năm
trong nhà tù Cộng Sản, nhưng với tất cả sự cố gắng học hỏi anh đã thành công
với 2 bằng tốt nghiệp: Cao Học Academy of Chinese & Health Science, tại
Oakland năm 1998 và Tiến Sĩ Đông Y (Doctor of Philosophy in Oriental
Medicine) năm 2003.
v Nguyễn Ngọc Tú: Đang theo học khóa Tham Mưu Trung Cấp TQLC tại
Quantico, Virginia, Hoa Kỳ thì miền Nam Việt Nam thất thủ năm 1975.
Chương trình huấn luyện bị ngưng, phải rời khỏi nhà trường tiếp tục mưu sinh

426
 
 
 
 
 
 Khóa
 20
 -­‐
 Nguyễn
 Công
 Trứ
 
 
 BẢN
 THẢO
 


 

vừa làm vừa học và anh đã tốt nghiệp vớí văn bằng Kỹ Sư Điện vào tháng 5-
1980.
v Nguyễn Văn Hoan đến định cư tại Hoa Kỳ rất sớm đã tốt nghiệp Bachelor of
Science.

5 - Trận Hải Chiến Hoàng Sa
Ngày 19 tháng 1 năm 1974, Thiếu Tá Phạm Văn Hồng thuộc Phòng 3 Bộ Tư

Lệnh Quân Đoàn I cùng một nhân viên Tòa Lãnh Sự Mỹ, có nhiệm vụ hướng dẫn phái
đoàn công binh nghiên cứu, soạn kế hoạch để thiết lập một phi trường trên quần đảo
Hoàng Sa. Ngày 19 tháng 1 năm 1974, Trung Cộng tấn công chiếm đảo Hoàng Sa trái
phép, Phạm Văn Hồng và toàn thể toán công tác bị bắt. Nhờ sự phản đối mạnh mẽ của
chính quyền VNCH và quốc tế nên 29 ngày sau chúng buộc phải trao trả qua ngả Hồng
Kông. Cựu SVSQ Phạm Văn Hồng K20 là nhân chứng sống để nói lên chủ quyền đảo
Hoàng Sa là của Việt Nam.

6 - Những Sự Kiện Cuối Cùng Của Giai Đoạn Phục Vụ
v Lữ Đoàn 147 TQLC gồm các Tiểu Đoàn 3, 4, 5, 7 mà cấp chỉ huy hầu hết là
Khóa 20 như: Phạm Cang, Nguyễn Văn Sử, Phạm Văn Tiền, Lê Quang
Liễn với đơn vị còn nguyên vẹn, đã cùng nhau quyết giữ vững phòng tuyến
phía Nam cửa biển Thuận An, hầu bảo vệ sự di tản cho dân chúng và các đơn
vị bạn. Cuối cùng tất cả cùng đơn vị trở thành tù binh vào những ngày cuối
tháng Ba năm 1975.
v Thiếu Tá Trịnh Trân, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 34 BĐQ, đã cùng với
nhiều đơn vị bạn yểm trợ và hộ tống cho đoàn xe di tản của trường Mẹ đến nơi
an toàn trong những giờ phút lâm nguy của đất nước.
v Thiếu Tá Nguyễn Văn Nghiêm Tiểu Đoàn Trưởng và Thiếu Tá Nguyễn Trọng
Nhi Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 12 Nhảy Dù, quyết định giữ lại cầu Sài Gòn
trong những giờ phút cuối cùng để dễ dàng cho đoàn quân di tản.

GIAI ĐOẠN TÙ CS SAU 1975 (1975-1988)

1 - Tù Chính Trị Cái Gọi Là "Tù Cải Tạo"
Khi CSVN chiếm được miền nam VN, hầu hết sĩ quan Khóa 20 đều chịu số

phận chung cùng quân dân cán chính VNCH dưới cái gọi là tù cải tạo từ vài năm
cho đến 13 năm.

2 - Những Anh Hùng Vượt Ngục
Trần Công Hạnh, Trần Tấn Hòa, Vương Mộng Long, Nguyễn Văn Nghiêm,

Nguyễn Ngọc Thạch, Nguyễn Thanh Toàn, Đặng Quốc Trụ, Trương Văn Vân, Nguyễn
Tâm Miên, Vũ Tiến Tường (mất tích trong lúc trốn trại)… đã nói lên được sự can đảm và
tiết tháo của người cựu SVSQ K20 xuất thân từ mái trường Võ Bị.

BẢN
 THẢO
 
 
 
 Khóa
 20
 -­‐
 Nguyễn
 Công
 Trứ
 
 
 
 
 
 427
 


 

3 - Hiên Ngang Bất Khuất, Giữ Vững Sĩ Khí Trong Các Trại Tù Cộng Sản
TQLC Phạm Cang, Lê Quang Liễn cùng vài thành viên lãnh đạo cuộc đình

công phản đối chính sách đối xử cay nghiệt của trại tù Bình Điền Huế vào năm
1979. Cang và Liễn đã bị tra tấn dã man và bị biệt giam suốt thời gian tù tội.

4 - Tuyên Truyền và Truyền Thông Trong Trại Tù Cộng Sản
Đại Uý Đỗ Ngọc Nuôi bị kết án âm mưu lật đổ chế độ CS trong trại giam

Tiên Lãnh 18 năm tù vì tham gia vào nghe radio và tung tin cho toàn trại trong vụ
án của Thiếu Úy Trần Quang Trân (tử hình) và Trung Uý Trần Lân (chung thân.)

Trần Tấn Hoà và Hoàng Mão đã quản lý và nghe radio, phổ biến tin tức
của thế giới cho hầu hết các bạn tù tại trại Nam Hà A & B năm 1978-1979.

GIAI ĐOẠN ĐỊNH CƯ (1975-2016)

1 - Định Cư
Một số nhỏ đã may mắn có điều kiện đi định cư ở hải ngoại trong những

ngày Sàigon thất thủ. Một số khác tìm cách vượt biên trong mọi tình huống, không
chấp nhận sống chung với CSVN sau một thời gian kẹt lại tại VN.

Đặc biệt Nguyễn Cao Nghiêm đã quyết định cùng gia đình đi tìm tự do với
tổng cộng 32 lần mới thành công sau khi ra khỏi trại tù. Nhưng cái giá mà anh phải
trả rất đắt trong lần thứ 12 với người vợ đang mang bầu và 3 con đều bị chìm sâu
ngoài biển cả.

Ngoài sự ra đi như kể trên, đa số sau này ra khỏi tù đều được định cư theo
chương trình H.O. hoặc ODP do thân nhân bảo lãnh.

2 - Những Món Quà Tình Nghĩa
Những năm tháng dài sau ngày 30/4/75, đa số bạn bè trong nước đều bị đi

tù. Vợ con phải sống trong hoàn cảnh thật bi đát vì chế độ kỳ thị của nhà cầm
quyền cộng sản. Các chị hàng ngày lăn vào cuộc sống đắp đổi, vá víu với trăm điều
khó khăn để nuôi chồng con. Bất ngờ một hôm họ lần lượt nhận được những giấy
mời ra bưu điện nhận quà, mà đa số những món quà đó đều được gửi dưới tên một
người là Nguyễn Hữu Thọ, một vài gói với tên là Đặng Đình Trí, Trần Hữu Hiếu...
qua sự đóng góp của nhiều bạn Khóa 20 may mắn sớm được định cư tại hải ngoại.
Những món quà mang nặng tình nghĩa nầy trong đó một phần là tiền trợ cấp
thương tật của Nguyễn Hữu Thọ sau khi được định cư tại Hoa Kỳ, nào mấy ai có
lòng tốt được như anh!

Nhằm mục đích tương trợ tại xứ người cũng như đóng góp hầu giúp đỡ
những bạn cùng khóa còn đang tù tội hoặc nghèo khó tại quê nhà, một ban đại diện

428
 
 
 
 
 
 Khóa
 20
 -­‐
 Nguyễn
 Công
 Trứ
 
 
 BẢN
 THẢO
 


 

đã được thành lập tại tư gia Nguyễn Hữu Thọ vào năm 1986 mà Nguyễn Thanh
Đức là người đại diện khóa đầu tiên.

Quách Vĩnh Trường với bức tranh "Tang Bồng Hồ Thỉ": Dù chỉ còn
một chân và một cánh tay phải với bàn tay 4 ngón, anh đã thực hiện được bức tranh
"Tang Bồng Hồ Thỉ" được Hội Võ Bị Nam Cali đấu giá với số tiền là $7,000.00
USD. Anh đã dùng số tiền nầy cho việc cứu trợ các tù nhân Võ Bị trong lao tù
cộng sản tại quê nhà.

3 - Ban Đại Diện K20 Trong Nước
Trước năm 1975 tại Sài Gòn, Khóa 20 đã thể hiện sự gắn bó qua những lần

họp mặt tại nhà hàng Nam Đô, Câu Lạc Bộ An Đông. Một Ban Đại Diện Khóa 20
được hình thành gồm các anh làm việc tại Sài Gòn như: Hoàng Văn An, Nguyễn
Chánh Trực, Phạm Văn Yêng...

Sau ngày 30-4-1975, Khóa 20 cùng chung số phận thật đen tối của đất nước,
phần lớn đều bị tập trung vào các trại tù với cái tên đươc gọi là “Trại Cải Tạo,"
phải chịu số phận tù đày nghiệt ngã không biết ngày về. Tuy nhiên, Khóa 20 vẫn
giữ được sĩ khí và thể hiện tinh thần đoàn kết, thương yêu đùm bọc lẫn nhau.

Một ban đại diện tạm thời được hình thành trong bóng tối: Nguyễn Chánh
Trực, Hoàng Văn An, Chị Lê Xuân Trạch, chị Hoàng Đình Đạt,… để liên lạc với
ban đại diện hải ngoại hầu giúp đỡ một số chị khó khăn; cũng như một số còn
đang ở trong tù.

Truyền Thống Tương Trợ của Khóa 20
Khi nhắc đến “Huynh Đệ Chi Binh“ hay “Tình Tự Võ Bị” là nói đến tình

thương yêu của quân đội nói chung hay Khóa 20 nói riêng. Còn hành động nào tốt
đẹp hơn, khi Khóa 20 lo lắng cho bạn Trương Đình Hà bị bệnh “tâm thần” khi còn
tại Việt Nam cho đến khi qua đời tại Mỹ.

Qua trung gian của một số thân nhân còn tại Việt Nam nhờ người thăm
viếng gia đình chị Huỳnh Túy Viên. Cả khóa cùng nhau gom góp tài chánh giúp
chị trong hoàn cảnh khó khăn ngay từ đầu và tìm cách bảo lãnh gia đình chị sang
định cư tại Hoa Kỳ theo diện đặc biệt. Nhưng việc chưa thành thì chị Viên đã
không còn nữa.

Đại diện anh em khóa vào Viện Dưỡng Lão thăm viếng mẫu thân của bạn
Trịnh Trân, thân phụ mẫu cố SVSQ K20 Vũ Xuân Phụng; và còn gởi quà hàng
năm cho các bạn cùng khóa, thân nhân các bạn đã khuất còn lại tại Việt Nam. Đặc
biệt là trường hợp của BĐQ Nguyễn Lạn hiện bị lâm trọng bệnh đã được anh em
cùng khóa tận tình chăm sóc, thăm hỏi… nhất là Anh Chị Trần Lương Tín, niềm
hãnh diện chung cho cả Khóa 20.

BẢN
 THẢO
 
 
 
 Khóa
 20
 -­‐
 Nguyễn
 Công
 Trứ
 
 
 
 
 
 429
 


 

Những ngày sống lưu vong trên xứ người, anh em Khóa 20 ở khắp nơi trên
thế giới, đông nhất là tại Mỹ, vẫn thường xuyên họp mặt 2 năm một lần tại nhiều
thành phố khác nhau.

4 - Khóa 20 Ngày Nay
Khóa 20 nhập trường 425 người, tốt nghiệp 407, 1 bị tai nạn chết trong

trường, 17 ra trường ngoài ý muốn. Trong số 407 sĩ quan tốt nghiệp hiện nay tính
đến ngày 20-1-2014, Khóa 20 ghi nhận được tương đối chính xác như sau:

v Tại Mỹ: 192 người,
v Tại Pháp: 3 người,
v Tại Đức: 2 người,
v Tại Úc: 4 người,
v Tại Canada: 1 người,
v Tổng cộng con số Khóa 20 sinh sống tại hải ngoại là: 202 người.
v Khóa 20 còn liên lạc được trong nước: 24 người.
v Khóa 20 hiện nay còn: 226 người.

Con số Khóa 20 được biết không còn sống như sau:
v Hy sinh đền nợ nước trước tháng 4 năm 1975: 116 người,
v Bị Cộng Sản Việt Nam xử bắn: 2 người,
v Tự sát: 1 người,
v Mất tích vì nhiều lý do trong cuộc chiến và vượt biên: 6 người,
v Qua đời vì già và bệnh: 42 người,
v Tổng cộng Khóa 20 đã mất: 167 người.

Con số Khóa 20 chưa biết tin còn sống hay đã qua đời: 17 người.

Các chị quả phụ của Khóa 20 tại hải ngoại: 26 người

Khóa 20 có 2 người xuất gia đi tu sau khi ra khỏi trại tù cộng sản là Mai Hòa Đơ
với pháp danh Thích Kiên Định và Lê Hữu Vệ với pháp danh Thích Truyền Vệ. Bên cạnh
đó còn có chị quả phụ Nguyễn Minh Trí cũng đã quy y với pháp danh Sư Cô Như Hạnh.

5 – Những Chức Vụ Khóa 20 Đảm Nhận Trong Các Hội Đoàn Hải Ngoại

Khóa 20 có 3 người đảm nhiệm chức vụ Tổng Hội Trưởng:
v Tổng Hội Trưởng Tổng Hội Võ Bị: Đinh Văn Nguyên và Võ Nhẫn,
v Tổng Hội Trưởng Tổng Hội Thủy Quân Lục Chiến: Phạm Cang.

430
 
 
 
 
 
 Khóa
 20
 -­‐
 Nguyễn
 Công
 Trứ
 
 
 BẢN
 THẢO
 


 

Ngoài ra Khóa 20 cũng đã đóng góp rất nhiều vào sự phát triển trong mọi
sinh hoạt của Tổng Hội Võ Bị với nhiều chức vụ khác nhau:

v Trần Thanh Quang, Nguyễn Tống Hiến, Lê Trực: Tổng Hội Phó Truyền
Thông;

v Lê Tấn Tài: Tổng Hội Phó Nội Vụ kiêm Chủ Bút Đặc San Đa Hiệu (2012);
v Nguyễn Thanh Đức: Thủ Quỹ Tổng Hội kiêm Trị Sự Phát Hành Đa Hiệu

(1985-1990), Đại Diện Khóa 20 trong 23 năm (1978-1997 và 2001-2005);
v Nguyễn Tài Ánh: Hội Trưởng Hội Võ Bị Houston và đồng thời là Trưởng

Ban Tổ Chức Đại Hội Võ Bị Toàn Cầu XIX thành công tốt đẹp;
v Những cựu SVSQ đại diện K20 nhiều năm: Nguyễn Thanh Đức, Nguyễn

Hữu Thọ, Lê Tấn Tài;
v Hoàng Xuân Đạm: đã đóng góp rất nhiều công sức cho K20 và cho Tổng

Hội. Anh giữ vai trò trọng yếu trong Ban đại diện các tập san K20, Đa
Hiệu từ 2012-2016. Ngoài ra Hoàng Xuân Đạm còn nhiệt tình phụ trách tất
cả phần trang trí mỗi khi có đại hội của Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.

6 - Công Lao Các Nàng Dâu Khóa 20
Sau ngày mất nước, các nàng dâu Khóa 20 đã xứng đáng đảm nhiệm vai trò

làm mẹ và làm vợ hiền chăm sóc chồng con. Nếu không có công lao đóng góp của
các chị thì Khóa 20 không thể tồn tại đến ngày hôm nay. Ngoài chuyện thăm nuôi,
các chị còn tích cực phụ với các anh đi thăm viếng, chia sẻ quà cáp trong công tác
tương trợ mọi hoàn cảnh khó khăn cho các bạn còn trong nước. Như các chị Lê
Xuân Trạch, chị Nguyễn Phú Hữu, chị Hoàng Văn An, chị Nguyễn Chánh Trực,
chị Quả Phụ Hoàng Đình Đạt, v.v...

7 - Tâm Tình của Khóa 20
Anh em Khóa 20 xuất thân từ Trường Võ Bị Quốc Gia, trải qua một cuộc

chiến khốc liệt, nước mất nhà tan, nhưng tình tự thiêng liêng Võ Bị vẫn luôn gắn
bó và ngày càng thêm bền chặt theo thời gian.

Xin cám ơn những bạn đã góp công, góp sức duy trì tình đoàn kết Khóa 20
như: Hoàng Văn An, Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Hữu Phước, Nguyễn Thanh Đức,
Trần Kim Bảng, Lê Tấn Tài, Trần Thanh Quang, Trần Hữu Bảo, Trần Văn Thao,
Bùi Văn Thượng, Hoàng Mão, Trần Văn Quỳnh, Trần Lương Tín, Hoàng Xuân
Đạm, Quách Thưởng, Trần Văn Chu, Võ Công Danh, Nguyễn Chánh Trực, Phạm
Văn Hồng, Nguyễn Hữu Mạnh, Quách Vĩnh Trường,… cùng sự đóng góp tích cực
của các Chị K20 để ngày nay anh em có dịp gặp gỡ họp mặt trong tình thương yêu
của toàn khóa./.

BẢN
 THẢO
 
 
 
 Khóa
 20
 -­‐
 Nguyễn
 Công
 Trứ
 
 
 
 
 
 431
 


 

Đại Hội 50 Năm tại San Jose (01-09-2013)

Đại Hội 52 Năm tại Orange County (06-09-2015)
432
 
 
 
 
 
 Khóa
 20
 -­‐
 Nguyễn
 Công
 Trứ
 
 
 BẢN
 THẢO
 


 

DANH SÁCH KHÓA 20

STT Họ Tên STT Họ Tên STT Họ Tên

1 HOÀNG VĂN AN 137 NGUYỄN VĂN HÙNG 273 TRẦN QUỲNH

2 LÊ CẢNH AN 138 TRẦN ĐỒNG HƯNG 274 TRẦN VĂN QUYỀN
3 NGUYỄN VIẾT AN 139 THÁI VĂN HUYỆN 275 LÊ NGỌC RĂNG
4 HUỲNH BÁ AN
5 LẠI QUỐC AN 140 NGUYỄN VĂN HUYỀN 276 NGUYỄN THIỆN SANH
6 NGUYỄN VĂN ÂN 141 NGUYỄN TẤN HƯƠNG 277 PHẠM VĂN SANH
7 LÊ NGỌC ẨN
8 NGUYỄN TÀI ÁNH 142 HỨA ĐẠO HUY 278 TRƯƠNG NGỌC SÁNG
9 VÕ ẤM
10 VŨ QUÝ ÁNH 143 NGUYỄN ĐẮC KIÊN 279 VĂN THÀNH SANG
11 NGUYỄN HỮU BA 144 BÙI HỮU KIỆT 280 ĐẶNG VĂN SƠN
12 NGUYỄN VĂN BA
13 ĐỖ BÁ 145 NGUYỄN TẤN KIỆT 281 VŨ PHÚC SINH
14 TRẦN HỮU BẢO
15 NGUYỄN VĂN BẢY 146 NGUYỄN BÁ KỲ 282 HÀ MẠNH SƠN
16 NGUYỄN CÔNG BAO
17 TRẦN KIM BẢNG 147 PHẠM THẾ KIỆT 283 ĐOÀN KIM SƠN
18 TRƯƠNG ĐÌNH BẢY
19 NGUYỄN THANH BÌNH 148 NGUYỄN TUẤN KIỆT 284 LƯU VĂN SUNG
20 NGUYỄN BÍCH 149 HOÀNG THÚC KHÁNG 285 NGUYỄN VĂN SỬ
21 LƯU VĂN BÍNH
22 VÕ VĂN BÉ 150 VŨ THẾ KHANH 286 ĐỖ HỮU TÀI
23 NGUYỄNH HỮU BIÊN 151 PHAN VĂN KHÁNH 287 LÊ TẤN TÀI
24 NGUYỄN VĂN BỐC
25 LÊ BƠN 152 NGUYỄN HÙNG KHANH 288 TRẦN VĂN TÀI
26 NGUYỄN THÁI BỬU
27 NGUYỄN ĐÔNG CÁC 153 ĐẶNG BÁ KHẲNG 289 TRẦN HỮU TÀI
28 NGUYỄN VĂN CẢNH
29 NGUYỄN NGỌC CANG 154 PHẠM KHÂM KHÂM 290 ĐOÀN XUÂN TẢI
30 PHẠM CANG
31 QUÁCH TINH CẦN 155 NGUYỄN ĐÌNH KHIÊM 291 NGUYỄN VĂN TÁO
32 LƯU VĂN CẦM
33 VŨ VĂN CÁT 156 NGUYỄN VĂN KHỈA 292 THÁI VĂN TÂN
34 TRẦN PHI CƠ
35 NGUYỄN VĂN CỘI 157 NGUYỄN VĂN KHOA 293 NGUYỄN NGỌC TÂN
36 NGUYỄN VĂN CƠ
37 NGUYỄN MINH CƠ 158 PHẠM VĂN KHÓA 294 NGUYỄN THỚI TÂN
38 NGUYỄN TẤN CỬ 159 ĐỖ VĂN KHƯƠNG 295 PHẠM NGỌC TẤN


  160 TRẦN VĂN KHOẢN 296 LÊ BÁ TẨN

161 NGUYỄN VĂN KHƯƠNG 297 NGUYỄN PHÁT TÂM

162 NGUYỄN BÁ LAI 298 TRẦN LƯƠNG TÍN

163 NGUYỄN VĂN LAI 299 NGUYỄN NGỌC TIỀN

164 NGUYỄN LẠN 300 PHẠM VĂN TIỀN
165 PHẠM VĂN LÀNH 301 HOÀNG GIA TIẾN

166 LƯƠNG HỒNG LÀNH 302 NGUYỄN TỐNG TIẾN
167 TRẦN TIỄN LĂNG 303 ĐOÀN VĂN TIẾU

168 NGUYỄN CÔNG LẮM 304 NGUYỄN THANH TOÀN
169 PHAN GIA LÂM 305 TRƯƠNG NGỌC TOÀN

170 NGUYỄN VĂN LÂN 306 TRẦN GIA TOÀN

171 NGUYỄN THANH LIÊM 307 LÊ VĂN TOẢN

172 TRẦN THANH LIÊM 308 LÊ QUỐC TOẢN

173 HOÀNG NHƯ LIÊM 309 VÕ THẾ TỒN

174 LÊ SĨ LINH 310 NGUYỄN MẠNH TÔNG

BẢN
 THẢO
 
 
 
 Khóa
 20
 -­‐
 Nguyễn
 Công
 Trứ
 
 
 
 
 
 433
 

39 LÊ PHƯỚC CƯƠNG 175 LÊ QUANG LIỄN 311 NGUYỄN NGỌC TỚI
312 TRẦN MẠNH TUÂN
40 HỒ TIẾC CƯỜNG 176 NGUYỄN VĂN LIỄU 313 TRẦN ĐỨC TUẤN
314 NGUYỄN QUANG TUẤN
41 HOÀNG XUÂN CƯỜNG 177 NGUYỄN VĂN LOAN
315 PHẠM TUẤN
42 THUẬN VĂN CHÀNG 178 HÀ THÚC LONG
316 VÕ ANH TUẤN
43 NGUYỄN XUÂN HỒNG 179 PHẠM HƯNG LONG 317 NGÔ VĂN TUẬN
CHÂN 318 NGUYỄN KHẮC TUNG
319 HỒ ĐẮC TÙNG
44 PHAN NGỌC CHÂU 180 NGUYỄN THÂN LONG 320 NGUYỄN NGỌC TÚ
321 VŨ TIẾN TƯỜNG
45 TRỊNH VĂN CHIN 181 NGUYỄN PHÚC LONG 322 PHẠM VĂN THÁI
323 LÊ VĂN THÁI
46 LÊ MINH CHÂU 182 TRẦN KHẮC LONG 324 HOÀNG VĂN THÁI
325 NGUYỄN NGỌC THẠCH
47 LÊ HỮU CHÍ 183 VƯƠNG MỘNG LONG 326 TRẦN VĂN THAO
327 PHẠM VĂN THÀNH
48 ĐỖ ĐỨC CHIẾN 184 HÀ VĂN LỘC 328 PHẠM VĂN THÀNH
329 PHAN VĂN THÀNH
49 NGUYỄN MẠNH CHINH 185 PHÙNG VĂN LỘ 330 PHẠM VĂN THÀNH
331 NGUYỄN VĂN THÀNH
50 VŨ BÌNH CHÍNH 186 ĐOÀN ĐẠI LỘC 332 NGUYỄN NGỌC THÀNH
333 TRIỆU CÔNG THÀNH
51 NGUYỄN QUỐC CHÍNH 187 THÁI VĨNH LỘC 334 ĐỖ ĐỨC THÀNH
335 TRẦN VĂN THÀNH
52 TRẦN VĂN CHÓT 188 HUỲNH THIỆN LỘC 336 HUỲNH PHÚ THẠNH
337 BÙI CAO THĂNG
53 DƯƠNG ĐÌNH CHÍNH 189 LÊ PHÁT LỘC 338 NGUYỄN ĐẮC THẮNG
339 BÙI ĐÌNH THẮNG
54 ĐOÀN VĂN CHỚ 190 LÊ XUÂN LỘC 340 NGUYỄN HỮU THẬN
55 HUỲNH VĂN CHỜ 191 NGÔ ĐÌNH LỢI 341 TRẦN XUÂN THẾ
56 NGÔ CHƯƠNG 192 TRẦN VĂN LỰC 342 NGUYỄN KẾ THI
57 ĐỖ DUY CHƯỞNG 193 TRẦN QUANG LƯU
58 TRẦN VĂN CHU 194 VÕ ĐÌNH LƯU 343 NGÔ THÌN
59 HUỲNH TẤN CHƯƠNG 195 ĐẶNG PHƯỚC LƯU 344 LƯƠNG VĂN THÌN
345 CHU VĂN THIỆP
60 VÕ CÔNG DANH 196 PHẠM VĂN LƯƠNG 346 LẠI THẾ THIẾT
347 BÙI ĐỨC THỊNH
61 ĐỖ CƠ DANH 197 PHẠM VĂN MẠI 348 VÕ VĂN THỌ
62 HUỲNH VĂN DINH 198 NGUYỄN VĂN MAI 349 LÊ VĂN THỌ
350 NGUYỄN HỮU THỌ
63 LÃ TRUNG DUNG 199 HOÀNG MÃO 351 TRẦN VĂN THỌ
64 HUỲNG VĂN DÂN 200 LẠI VĂN MẠCH 352 NGUYỄN XUÂN THỌ
65 TRẦN ĐỨC DU 201 NGUYỄN HỮU MẠNH
66 ĐINH DŨNG 202 NGUYỄN VĂN MĂNG
67 VÕ DUY DƯƠNG 203 LÊ THƯỢNG MẪN
68 TRƯƠNG DƯỠNG 204 TĂNG THIÊN MÂN
69 NGUYỄN QUAN ĐẠI 205 HÀ THÚC MẪN
70 HỒ VĂN ĐẠI 206 ĐÀO KIM MINH
71 HOÀNG XUÂN ĐẠM 207 NGUYỄN QUANG MINH
72 HOÀNG ĐÌNH ĐẠT
73 TRẦN ĐĂNG 208 PHAN ÁI MINH
74 TRẦN ĐẨU 209 NGUYỄN QUANG MINH
75 TRẦN NGỌC ĐIỆP 210 NGUYỄN QUAN MINH
76 NGUYỄN VĂN ĐẲNG 211 TRỊNH VĂN MINH
212 VŨ VĂN MINH

77 NGUYỄN HÒA ĐINH 213 TRƯƠNG HOÀNG MINH

78 LÊ VĂN ĐOÀN 214 PHAN THANH MIÊN
79 LÊ THƯỢNG ĐÔ 215 NGUYỄN TÂM MIÊN
80 NGUYỄN VĂN ĐOÀN 216 PHAN VĂN NA

434
 
 
 
 
 
 Khóa
 20
 -­‐
 Nguyễn
 Công
 Trứ
 
 
 BẢN
 THẢO
 


 

81 PHAN ĐỘ 217 NGUYỄN VĂN NAM 353 TRẦN CÔNG THỌ
82 HOÀNG ĐẠI ĐỒNG
83 CHU TRÍ ĐỒNG 218 LÊ VĂN NAM 354 ĐẶNG QUỐC THÔNG
84 MAI HÒA ĐƠ
85 NGUYỄN ĐÌNH ĐỨC 219 NGUYỄN VĂN NAM 355 NGUYỄN THÚC THƠ
86 LÊ HOÀI ĐỨC
87 HUỲNH ĐẮC ĐỨC 220 NGÔ VĂN NIẾU 356 NGUYỄN VĂN THỜI
88 NGUYỄN THANH ĐỨC
221 ĐỖ NGỌC NUÔI 357 LÊ VĂN THỜI
89 QUÁCH GIÁM
90 TRẦN VĂN GIÁO 222 NGUYỄN ĐÌNH NGỌ 358 TRẦN NGỌC THU
91 TRẦN KHÁNH GIƯ
223 ĐỖ VĂN NGỌC 359 LÊ VĂN THUẬN
92 HÀ CÔNG HÁCH
93 NGUYỄN VĂN HAI 224 LÊ QUANG NGHIỆP 360 NGUYỄN VĂN THUẬN
94 TRƯƠNG ĐÌNH HÀ
95 NGUYỄN HAI 225 LƯU VĂN NGỌC 361 TRẦN VĂN THÙY
96 LÊ VĂN HAI
97 DƯƠNG ĐÔNG HẢI 226 PHẠM VĂN NGỘ 362 ĐẶNG VĂN THỦY
98 LÂM QUANG HẢI
99 ĐẶNH HỮU HẢI 227 HOÀNG VĂN NGỌC 363 VŨ HỮU THUYẾT
100 TRẦN VĂN HẢI
101 TRẦN CÔNG HẠNH 228 NGUYỄN ĐĂNG NGỘ 364 NGUYỄN VĂN THUYỀN
102 ĐOÀN HỮU HÀO
103 NGUYỄN LƯƠNG HÀO 229 NGUYỄN ĐÌNH NGÔ 365 NGUYỄN CÔNG THƯ
104 NGUYỄN TỐNG HIẾN
105 PHẠM HỮU HIẾU 230 NGUYỄN HỮU NGHĨA 366 TẠ ĐỨC THƯỢNG
106 VÕ VĂN HẾT
107 MẠC NHƯ HIỀN 231 NGUYỄN VĂN NGHIÊM 367 HUỲNH CÔNG THƯỞNG
108 NGUYỄN HIỆU
109 NGUYỄN THÀNH HIẾU 232 HUỲNH VĂN NGHIỆP 368 BÙI VĂN THƯỢNG
110 TRƯƠNG ĐÌNH HIẾU
111 NGUYỄN HOA 233 NGUYỄN CAO NGHIÊM 369 QUÁCH THƯỞNG
112 TRẦN HỮU HIẾU
113 HOÀNG ĐÌNH HIỆP 234 PHẠM TẤN NGHIỆP 370 LÊ XUÂN TRẠCH
114 PHẠM THÁI HÓA
115 TRẦN TẤN HÒA 235 HUỲNH VĂN NGƯU 371 TÔN THẤT TRÂN
116 NGUYỄN XUÂN HÒA
117 PHẠM HOÀN 236 ĐINH VĂN NGUYÊN 372 HỒ VĂN TRÂN

118 TRẦN NGỌC HÒA 237 NGUYỄN CẢNH NGUYÊN 373 TRỊNH TRÂN

119 NGUYỄN VĂN HOAN 238 PHAN VĂN NGUYÊN 374 HUỲNH BỮU TRÂN

120 THÁI MINH HOÀNG 239 NGUYỄN THANH NHÃ 375 PHẠM THÀNH TRI
121 NGUYỄN XUÂN HÒE
122 ĐẶNG ĐỨC HUYỀN 240 VŨ VĂN NHÂM 376 ĐẶNG ĐÌNH TRÍ


  241 VÕ NHẪN 377 NGUYỄN MINH TRÍ

242 NGUYỄN ĐỨC NHỊ 378 NGUYỄN HIỀN TRIẾT

243 NGUYỄN TRỌNG NHI 379 NGUYỄN THÀNH TRỌNG

244 NGUYỄN THÀNH NHU 380 TRẦN QUANG TRỌNG

245 NGÔ VĂN NGUYỆN 381 ĐẶNG QUỐC TRỤ

246 NGÔ NGỌC PHAN 382 NGUYỄN QUỐC TRỤ

247 TRẦN TẤN PHÁT 383 NGUYỄN ĐỨC TRUNG

248 LÊ THANH PHONG 384 NGUYỄN VĂN TRUNG

249 ĐẶNH HỮU PHÚ 385 LÊ TRỰC

250 CAO ĐÌNH PHÚ 386 NGUYỄN CHÁNH TRỰC

251 TRẦN VĂN PHÚ 387 QUÁCH VĨNH TRƯỜNG

252 NGUYỄN TẤN PHÚC 388 TRẦN VĂN TRƯƠNG

253 TRƯƠNG PHÚC 389 THÁI LÊ TRƯƠNG

254 VŨ XUÂN PHỤNG 390 LÊ NGUYỄN THIỆN
TRUYỀN

255 NGUYỄN HỮU PHƯỚC 391 CHÂU VĂN ÚT

256 BÙI VĨNH PHƯỚC 392 TRƯƠNG VĂN VÂN

257 PHẠM TẤN PHƯỚC 393 PHAN THÀNH VẠN

258 ĐOÀN MINH PHƯƠNG 394 NGUYỄN THANH VÂN

BẢN
 THẢO
 
 
 
 Khóa
 20
 -­‐
 Nguyễn
 Công
 Trứ
 
 
 
 
 
 435
 

123 NGUYỄN VĂN HỔ 259 NGUYỄN VĂN PHƯƠNG 395 NGUYỄN THÀNH VÂN

124 NGUYỄN HỘI 260 TRẦN THANH PHƯƠNG 396 LÊ HỮU VỆ

125 LÊ VĂN HÒN 261 NGUYỄN ĐỨC PHƯƠNG 397 NGUYỄN VĂN VINH
126 NGUYỄN HỮU HỐI
127 NGUYỄN TÂM HỒNG 262 LÊ HỮU PHƯỢNG 398 VŨ TUẤN VIỆT
128 PHẠM VĂN HỒNG
129 NGUYỄN VĂN HUÂN 263 LÊ VĂN PHƯƠNG 399 HUỲNH TÚY VIÊN
130 TRỊNH TIẾN HÙNG
131 TRỊNH VĂN HƠN 264 NGUYỄN VĂN QUÁN 400 LÊ ĐÌNH VỤ
132 NGUYỄN ANH HÙNG 265 NGUYỄN HỮU QUANG 401 NGUYỄN VĂN VỌNG
133 PHẠM ĐỨC HÙNG
134 TRẦN NGỌC HÙNG 266 NGUYỄN HUỆ QUANG 402 NGUYỄN NGỌC XẢO
135 NGUYỄN PHÚ HỮU
267 TRẦN THANH QUANG 403 NGUYỄN DIÊN XẢO
136 VÕ VĂN HUỆ
268 NGUYỄN THANH QUANG 404 NGUYỄN VĂN XUÂN

269 PHẠM GIA QUANG 405 ĐỖ QUANG XUÂN

270 LÊ ĐÌNH QÙY 406 HOÀNG ĐĂN XỨNG

271 TRẦN XUÂN QUÝ 407 PHẠM VĂN YÊNG

272 TRẦN VĂN QUỲNH

Đại Diện Khóa: Hoàng Mão
Biên Soạn: Ban Biên Soạn Lược Sử Khóa 20

436
 
 
 
 
 
 Khóa
 20
 -­‐
 Nguyễn
 Công
 Trứ
 
 
 BẢN
 THẢO
 


 

KHÓA 21 - CHIẾN THẮNG NÔNG THÔN

TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA VIỆT NAM

SƠ LƯỢC

Nhập Trường: 14-12-1964
Số Ứng Viên Nhập Trường: 248

Mãn Khóa: 26-11-1966
Chủ Tọa Lễ Mãn Khóa: Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu,

Chủ Tịch Uỷ Ban Lãnh Đạo Quốc Gia
Số Sĩ Quan Tốt Nghiệp: 235

Tên Khóa: Chiến Thắng Nông Thôn
Thủ Khoa: Mai Văn Hoá

THỜI KỲ TÂN KHOÁ SINH
Đây là một chương trình huấn luyện mang tính truyền thống, kéo dài trong 8 tuần

lễ, được chỉ huy và huấn luyện bởi một khóa đàn anh, Khóa 20. Nhưng sau 7 tuần lễ Tân
Khóa Sinh (TKS), đúng vào thời điểm Tết Nguyên Đán, những sự kiện đặc biệt sau đây
đã xẩy ra cho Khóa 21:

* Được chinh phục Đỉnh Lâm Viên,
* Được làm Lễ Gắn Alpha,
* Được phép nghỉ Tết và được đi phố.

BẢN
 THẢO
 
 
 
 Khóa
 21
 -­‐
 Chiến
 Thắng
 Nông
 Thôn
 
 
 
 
 
 437
 


 

* Sau một tuần nghỉ Tết Nguyên Đán, phải bỏ Alpha và tiếp tục hoàn tất thời gian
TKS thêm một tuần.

438
 
 
 
 
 
 Khóa
 21
 -­‐
 Chiến
 Thắng
 Nông
 Thôn
 
 
 BẢN
 THẢO
 


 

NHỮNG BIẾN CỐ NĂM THỨ NHẤT (12/1964 - 12/1965)

v Trong một bài học chiến thuật về tiếp tế thả dù tự do, được thực hiện tại Bãi
Tập Hồ Than Thở, do Đại Úy Lưu Vĩnh Lữ là huấn luyện viên và dưới sự giám sát
của Đại Tá Lâm Quang Thơ, Chỉ Huy Trưởng. Một kiện hàng được thả dù xuống,
rơi đúng vào chỗ của SVSQ Đinh Hữu Hồ, làm anh bị tử thương, chỉ cách
Đại Tá Thơ vào khoảng 20 mét.

v Toàn thể SVSQ Khóa 21 được về Sài Gòn tham dự Lễ Diễn Binh ngày 1/11/65
trên Đại Lộ Thống Nhất, Sài Gòn.

BẢN
 THẢO
 
 
 
 Khóa
 21
 -­‐
 Chiến
 Thắng
 Nông
 Thôn
 
 
 
 
 
 439
 


 


Click to View FlipBook Version