51 thông tin. Đặc biệt, “phát triển và nâng cao chất lượng của hệ thống thông tin khoa học và công nghệ quốc gia theo hướng chuyển đổi số” là một trong những định hướng trọng tâm phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030 ban hành theo Quyết định số 569/ QĐ-TTg ngày 11/05/2022 của Thủ tướng Chính phủ, đáp ứng yêu cầu mới của Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030 ban hành kèm theo Quyết định số 942/QĐ-TTg ngày 15/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ. Tại địa phương đã có nhiều thay đổi về cơ cấu tổ chức hoạt động thông tin KH&CN sau khi thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW Hội nghị lần thứ VI Ban chấp hành Trung ương khóa XII. Nhiều địa phương đã thực hiện sáp nhập, hợp nhất các đơn vị sự nghiệp gồm cả thông tin, thống kê KH&CN, ứng dụng KH&CN, tiêu chuẩn đo lường chất lượng (với 22 tên gọi khác nhau, trong đó chủ yếu là Trung tâm Thông tin và Ứng dụng KH&CN). Phương hướng và nhiệm vụ trong thời gian tới Hội Thông tin KH&CN Việt Nam là tổ chức xã hội - nghề nghiệp vững mạnh; giữ vai trò nòng cốt trong công tác tập hợp, đoàn kết rộng rãi và phát huy trí tuệ sáng tạo của đội ngũ trí thức trong hoạt động thông tin - thư viện KH&CN nói riêng và trí thức KH&CN nói riêng; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các hội viên bao gồm cả hội viên tổ chức và hội viên cá nhân; là nhân tố có ý nghĩa trong việc đưa thông tin KH&CN trở thành nguồn lực phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hiện đại, hội nhập quốc tế sâu rộng, góp phần phát triển bền vững đất nước. Về xây dựng và phát triển Hội: Củng cố tổ chức, nâng cao năng lực và đổi mới phương thức hoạt động của Hội; Tuyên truyền rộng rãi về hoạt động của Hội, đặc biệt tích cực phát triển hội viên mới (mở rộng tới các doanh nghiệp, tổ chức hoạt động, ứng dụng KH&CN), là các tập thể, cá nhân và hội thành viên):Hỗ trợ hoạt động của các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Hội. Về tập hợp, vận động trí thức và bảo vệ quyền lợi, lợi ích chính đáng của hội viên phù hợp với quy định pháp luật: Tiếp tục tăng cường công tác tập hợp vận động trí thức hoạt động trong lĩnh vực thông tin KH&CN. Củng cố và phát triển Hội Thông tin KH&CN Việt Nam để tập hợp, đoàn kết và tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để phát huy trí tuệ sáng tạo của trí thức, tích cực tham gia công cuộc phát triển đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thực hiện tốt việc tôn vinh trí thức KH&CN tiêu biểu. Về phát triển sự nghiệp thông tin khoa học và công nghệ: Đẩy mạnh hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội nhằm đề xuất với Nhà nước chiến lược phát triển thông tin kinh tế, KH&CN, các chính sách phát triển thông tin kinh tế, KH&CN ở cấp quốc gia và địa phương; Thúc đẩy xã hội hóa hoạt động thông tinkinh tế, KH&CN, tham gia thực hiện các dịch vụ thông tin phục vụ chương trình, đề án kinh tế-xã hội và KHCN; Xây dựng chương trình và tổ chức đào tạo thường xuyên và tập huấn ngắn ngày; Tổ chức hội thảo khoa học và báo cáo chuyên đề, ...Đẩy mạnh hoạt động tư vấn kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên ngành, chuyên lĩnh vựctrong các ngành, kinh tế - xã hội và tư vấn chuyển giao, ứng dụng công nghệ mới, trực tiếp tới cơ sở, trên nền tảng tổ chức và phát triển quan hệ hợp tác, tiếp cận trực tiếp, cụ thể nhu cầu ứng dụng kỹ thuật, công nghệ của cơ sở. Về quản lý báo chí: Làm tốt công tác quản lý báo chí của Hội; Đảm bảo cơ quan báo chí của Hội hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích; đúng pháp luật; tránh tình trạng báo hóa; Củng cố Ban biên tập của Tạp chí phù hợp với quy định của Đảng và Nhà nước. Về quan hệ hợp tác, đối ngoại: Đẩy mạnh hợp tác với các hội và hiệp hội, đặc biệt là Hội Thư viện Việt Nam, các Hiệp hội ngành nghề kinh tế Việt Nam, hội nhập quốc tế. Giới thiệu hoạt động của Hội với quốc tế và các cơ quan, tổ chức kinh tế, xã hội và KHCN trong nước; đồng thời, hợp tác, liên kết, tham gia vào hoạt động của các tổ chức có liên quan trong khuôn khổ các quy định của pháp luật hiện hành;Tìm kiếm nguồn kinh phí để thực hiện các dự án thông tin và tham gia vào các tổ chức thông tin và tư liệu quốc tế và khu vực; Về tuyên truyền, phổ biến chính sách, chủ trương và pháp luật của Nhà nước và kiến thức KH&CN và BVMT: Tham gia tuyên truyền, phổ biến chính sách, chủ trương và pháp luật của Nhà nước cho các hội viên và đội ngũ thông tin và tư liệu nói chung; Tiếp tục đẩy mạnh công tác phổ biến thông tin công nghệ thông qua tổ chức các hội nghị, hội thảo giới thiệu và trình diễn công nghệ; Tham gia xã hội hoá và phổ biến kiến thức KH&CN cho nhân dân, nhất là đối với nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa; Phối hợp và hợp tác với các tổ chức KH&CN, tổ chức truyền thông, tổ chức xã hội và tổ chức phi chính phủ kháctrong công tác tuyên truyền và phổ biến này. Với tinh thần “Đoàn Kết - Sáng tạo - Đổi mới - Phát triển”, Hội Thông tin KH&CN Việt Nam và các hội viên, các tổ chức trực thuộc, đội ngũ trí thức trong lĩnh vực thông tin KH&CN nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng Hội Thông tin và KH&CN Việt Nam trở thành tổ chức xã hội - nghề nghiệp thực sự vững mạnh; có vị trí và uy tín trong xã hội, tập hợp, đoàn kết và phát huy sức sáng tạo của đội ngũ trí thức KH&CN, đóng góp có hiệu quả vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.
VĂN HÓA - GIÁO DỤC Culture - Education 52 - Chào chị Trà My, thường thấy chị Trà My vui vẻ trên sân khấu, vậy khi hết vai diễn về nhà và trong cuộc sống đời thường thì sao? - Tôi luôn tạo cho mình những niềm vui, những phút thư giãn và những cuộc đi chơi cùng bạn bè và người thân. Khi lên sân khấu, làm phim hay bất cứ việc gì tôi cũng làm với tâm thế thoải mái nhất, tạo cảm giác vui vẻ và không áp lực. Tất nhiên cũng có những lúc tĩnh lặng đó là lúc tôi một mình suy nghĩ vẩn vơ, thoáng buồn, thoáng tủi vì những nỗi cô đơn trong căn nhà thiếu hơi ấm của một người chồng. Nghệ sĩ Trà My: Tôi muốn dành cho con trai mình những điều tốt đẹp nhất Với nghiệp diễn của mình, nghệ sĩ Đinh Trà My đã lưu vào lòng khán giả một lối diễn dí dỏm, đầy sức sống. Nhưng không ai biết đằng sau đó là một hành trình dài làm mẹ đơn thân, là trụ cột cho con trai để làm việc, cống hiến. Đầu năm 2024, phóng viên Thông tin phát triển đã có cuộc trao đổi với chị trước thềm năm mới khi mùa Xuân đang dần gõ cửa.
53 Nhưng thực sự tôi không muốn mình bị chìm sâu bởi những điều đó, tôi luôn sống với những điều tích cực rằng cuộc sống này còn có rất nhiều điều tốt đẹp ở phía trước. Vậy nên dù ở nhà hay đến đâu tôi luôn nghĩ mình phải là một người đầy kiên định và thật thoải mái dù cuộc sống thế nào, cuộc đời có ra sao thì mình luôn vui vẻ đón nhận. - Sau nhiều năm làm mẹ đơn thân, đến giờ vẫn thấy Trà My lẻ bóng - tại sao chị không muốn kiếm tìm cho mình người bầu bạn khi con trai đã lớn? - Tôi chưa bao giờ lẻ bóng cả, quanh tôi luôn có những người bạn người thân, họ luôn tạo cho tôi những niềm vui khi tôi buồn, động viên và chia sẻ cùng tôi khi tôi thất bại. Mọi thứ đều tuỳ duyên đến hay đi và thực sự tôi thấy cuộc sống hiện tại đang rất thoải mái vì luôn có con trai tôi là tri kỷ là người bạn thân thiết mà tôi luôn tâm sự, chia sẻ. Đặc biệt con trai cũng luôn ủng hộ mẹ có bạn trai và luôn mong mẹ hạnh phúc. Tôi nghĩ tất cả mọi thứ đều thuận theo tự nhiên, điều gì tốt đẹp đến thì mình đón nhận, điều gì không tốt thì mình hà cớ gì phải vơ vào để đau lòng suy nghĩ. - Giờ vừa là nghệ sĩ biểu diễn vừa là nhà sản xuất, Trà My có cho rằng mình đang “quá sức” và có sợ một ngày nào đó khán giả quên mình hay không? - Người nghệ sĩ nào chẳng hạnh phúc khi đi đến đâu cũng được khán giả mến mộ và tôi luôn trân trọng và biết ơn tất cả quý khán giả trong suốt những năm qua đã dành tình yêu thương, chia sẻ động viên, quan tâm theo dõi tôi. Nếu bị khán giả quên thì tôi cũng buồn lắm chứ - và đó là lý do vì sao tôi không cho phép mình hài lòng với những thành tích cũ mà luôn thay đổi, tạo điểm mới ở từng vai diễn. Người nghệ sĩ hạnh phúc nhất là đi đến đâu cũng được chào đón bằng những nụ cười rạng rỡ, hững cái bắt tay thân thiết. Mấy chục năm qua gắn bó với nghề diễn, mình hạnh phúc và đam mê, không gì sướng bằng được lên sân khấu, được diễn và thoả sức với những sáng tạo.Tuy nhiên vài năm gần đây khi con trai Trọng Phúc của tôi học đạo diễn thì tôi thấy mình vất vả hơn một chút, phải kiêm nhiệm là nhà sản xuất để cùng con trai có những bộ phim đầu tay.Tuy vất vả và phải lo lắng mọi thứ nhưng tôi thấy mình thật vui, luôn hạnh phúc khi đồng hành cùng con trai làm những việc mình thích. Dù vất vả hay quá sức thì tôi luôn thấy mình đang làm đúng, đúng với trách nhiệm là một người mẹ, đúng với trách nhiệm của một người làm nghề chia sẻ và đồng hành cùng con trai. Tôi muốn dành cho con trai mình những điều tốt đẹp nhất và tạo những hành trang tốt nhất khi con trưởng thành. - Nhìn lại năm 2023 của Trà My thế nào và Tết năm nay có gì mới để gửi đến khán giả gần xa? - Năm 2023 với tôi đầy khó khăn và thử thách, có những lúc tưởng không gượng dậy nổi và muốn buông xuôi. Nhưng tôi là người luôn bình tĩnh,kiên trì và tin vào những việc mình làm những điều mình nói, mọi khó khăn cũng tạm qua. Điều tôi hài lòng là năm nay đã sản xuất được 2 bộ phim do Trọng Phúc đạo diễn, đó là phim “Cùng con” – đây là bộ phim tiền tốt nghiệp của Phúc. Và phim “Mục Kiền Liên cứu độ mẫu thân” về lễ Vu Lan báo hiếu. Và vui hơn nữa là Trọng Phúc đã đạt giải “Đạo diễn xuất sắc nhất” trong phim “Mục Kiều Liên cứu độ mẫu thân” trong cuộc thi tài năng trẻ của trường Sân khấu điện ảnh Hà Nội tổ chức. Trà My luôn trân trọng và biết ơn tất cả khán giả,những người luôn quan tâm, theo dõi chia sẻ động viên Trà My trong suốt những năm qua. Xuân mới đã đến – Trà My tôi xin gửi lời kính chúc sức khoẻ đầu xuân mới đến với mọi người – chúc riêng độc giả của Tạp chí Thông tin phát triển một năm mới đầy niềm vui và hạnh phúc. Đặc biệt xin hãy luôn yêu thương Trà My cùng con trai Trọng Phúc hơn để My và con trai có thêm vui và động lực làm tốt hơn nữa trong sự nghiệp cũng như trong cuộc sống. - Cảm ơn chị về những chia sẻ. DẠ THẢO
VĂN HÓA - GIÁO DỤC Culture - Education 54 Là con trai nghệ sĩ nổi tiếng đồng thời cũng nối nghiệp người bố không may mất sớm của mình, Trọng Phúc luôn tự răn mình cần phải cố gắng nhiều hơn nữa để xứng đáng với những kỳ vọng không chỉ của bố mà còn là cả mẹ - người bạn tuyệt vời của anh. - Chào Trọng Phúc, được nối nghiệp bố và theo đúng nghề, anh cảm thấy như thế nào? - Từ bé tôi đã theo cha mẹ đi làm phim, đi biểu diễn, tôi được tiếp xúc với nghệ thuật từ nhỏ nên đã có đam mê, thi thoảng mẹ tôi là nghệ sĩ Trà My vẫn cho tôi làm các vai nhí diễn cùng mẹ khi tôi còn nhỏ.Và tôi lớn lên từng ngày qua câu hát của cha và lời ru của mẹ nên nghệ thuật đã ngấm vào tôi từ bao giờ… chỉ biết lớn lên là muốn theo chân nối nghề của cha mẹ và điều đó làm tôi hạnh phúc. - Việc có mẹ là diễn viên có lợi gì và có ảnh hưởng tới việc người khác nhìn Trọng Phúc là “được gia đình đỡ đần” trong sự nghiệp không? - Khi cha tôi mất tôi mới 10 tuổi tôi đã cảm nhận được sự mất mát trong tôi và trong mẹ. Mẹ là người phụ nữ mạnh mẽ nhất mà tôi thấy, chưa bao giờ tôi thấy mẹ yếu đuối trước mặt tôi và cả những người thân. Mẹ luôn bầu bạn tâm sự chia sẻ và lắng nghe, dành thời gian cho tôi nhiều hơn cho mẹ. Trong những năm qua khi tôi học lớp đạo diễn mẹ luôn ủng hộ và tạo cho tôi những cơ hội tốt để phát triển. Mẹ chưa bao giờ tạo áp lực hay ép tôi phải làm điều gì theo ý mẹ mà mẹ chỉ hướng cho tôi hướng đi khi tôi đã lựa chọn. Tôi vô cùng hạnh phúc vì có cha mẹ làm Đạo diễn Trọng Phúc: Tết là sum vầy, cha mẹ ở đâu là mình theo đó Gặp gỡ đạo diễn Trọng Phúc trong một buổi chiều Xuân nhẹ nhàng đầu năm 2024 khi Phúc vừa từ trường Sân khấu điện ảnh trở về và lại tất bật ngồi dựng lại từng thước phim mà anh đang tâm huyết.
55 nghệ thuật vì chính họ đã truyền cảm hứng cho tôi và giúp đỡ dạy bảo tôi rất nhiều điều trong chính ngành nghề của mình. - Đạo diễn thường lựa chọn dòng phim mình theo đuổi, để có thể làm được bộ phim khẳng định tên tuổi mình. Phúc sẽ lựa chọn dòng phim nào để theo đuổi lâu dài mà vẫn hỗ trợ được mẹ? - Từ khi học năm nhất tôi đã thích làm phim tình cảm, nói về gia đình,c ha mẹ và con cái, chắc có lẽ tình cảm của cha mẹ đã ngấm sâu vào tâm trí và trái tim tôi nên tôi luôn nghĩ về điều đó. Cũng may thay mẹ cũng là người thích dòng phim tình cảm nên chúng tôi luôn có đồng quan điểm khi chọn thể loại phim. Và thực sự ước mơ của tôi đã thành hiện thực khi tôi đã làm một bộ phim về cha mình - đó là phim tiền tốt nghiệp của tôi mang tên “Cùng con”. Những ký ức của tôi và người cha đã qúa cố được tôi tái hiện lại qua bộ phim ngắn này mà tôi luôn mong ước. Mẹ là người đồng hành và viết lên những ý tưởng của tôi. Xây dựng nên một kịch bản phim ngắn “Cùng con” tôi rưng rưng khi ngồi nhớ và kể lại cho mẹ nghe những kỷ niệm mà tôi và cha từng có. Buồn vì thiếu cha - Hạnh phúc vì có mẹ. Vậy nên với tôi chủ đề về gia đình, cha mẹ chắc không thể thiếu được khi tôi làm phim. - Nói một chút về gia đình, Phúc có bao giờ cho rằng bản thân mình chưa được may mắn trên con đường sự nghiệp vì thiếu một người thầy - người bạn - người cha hay không? - Từ khi còn nhỏ tôi được cha yêu thương chăm sóc và dạy từng câu hát, mỗi lần đưa đi học tôi đều áp tai vào lưng để nghe cha hát và những âm thanh ấy cho đến tận giờ tôi vẫn nhớ mồn một. Tất cả những mất mát,t hiệt thòi với tôi khi thiếu vắng cha thì mẹ đã bù đắp lại. Mẹ vừa là mẹ, vừa là cha vừa là bạn và bây giờ là đồng nghiệp. Mẹ luôn chắp cánh cho tôi biến ước mơ thành hiện thực và biết đứng dậy đi lên bằng chính đôi chân của mình. Tôi luôn ngưỡng mộ và tự hào về cha mẹ mình, tôi hạnh phúc vì được làm con của cha mẹ. Bởi vậy tôi luôn cố gắng học và làm tốt nhất những gì có thể để mỗi ngày mẹ được cười tươi và ở nơi ấy cha tôi cũng yên lòng. Tết đến Phúc thích về quê ăn tết hay ở Hà Nội? Thường thì các bạn trẻ không thích về quê hoặc đi cùng bố mẹ vậy Phúc có quan điểm thế nào trong chuyện này? Từ bé đến lớn tôi có thói quen cứ Tết đến là cha mẹ đi đâu là mình theo đó. Đến bây giờ cũng vậy, những ngày tết mẹ luôn bận rộn nên tranh thủ đi sắm tết, chạy về quê, thăm bà con họ hàng. Tôi và mẹ dành đêm 30 ở nhà thắp hương cho gia tiên và cha tôi rồi sau đó 2 mẹ con chạy về quê với bà ngoại. Mẹ dành ngày mùng 1 chúc tết gia đình quây quần bên những người thân sau đó chúc tết họ hàng làng xóm. Rồi 2 mẹ con đi đến chùa lễ phật cầu sức khoẻ bình an cho một năm mới. Tôi nghĩ tết là sự xum vầy đoàn tụ nên tôi luôn dành thời gian vào dịp tết cùng mẹ để về quê ăn tết với gia đình.Và tôi thích điều đó – đó cũng chính là mầm xanh mà mẹ luôn ươm dưỡng cho tâm hồn của tôi được bình yên, hạnh phúc nhất. - Cảm ơn Trọng Phúc và chúc Phúc luôn có những bộ phim ý nghĩa trên con đường nghệ thuật. DẠ THẢO
VĂN HÓA - GIÁO DỤC Culture - Education 56 Mình với bạn Tết biết nhau và làm bạn với nhau cũng mấy chục năm rồi đó. Mình vẫn còn nhớ ngày xưa khi cậu bé hai ba tuổi ngây ngô lần đầu làm quen với Tết. Hình ảnh của Tết trong mình lúc còn con nít nhiều màu sắc lắm và cũng chộn rộn lắm. Mình vẫn nhớ ở một thị xã nhỏ ở miệt sông nước Cửu Long, những ngày cận Tết cũng là lúc xe chở cây kiểng từ đâu ùn ùn đổ về và chưng đầy đường. Con nít tụi mình hay nấp sau những chậu hoa cúc đại đoá bự chảng để chơi năm mười. Là con nít thì không bao giờ than mệt và cũng không bao giờ biết mệt, Tết là dịp để con nít không phải đi học và mẹ cũng dễ tính hơn và cho chơi thả ga. Và con nít cũng không bao giờ biết nỗi niềm của người lớn sau những lo toan cho Tết. Mẹ đi làm pháo, ít tiền, khoản tiền dành dụm chỉ để nuôi đủ hai mẹ con trong căn nhỏ. Tết, mấy xe honda chở đồ con nít đến rao rực rỡ tưng bừng um sùm ngay ngoài cổng, thằng bé chỉ biết thấy hai đứa bạn nhà giàu gần nhà được sắm đồ mới nên cũng lạch bạch chạy về nhà đòi mẹ sắm đồ. Đứa bé 3 tuổi đó có lẽ không hiểu được những đắn đo của nỗi lòng người mẹ khi bấm bụng mua trả góp để con có manh áo mới mặc cho bằng bạn bằng bè. Với tấm áo xúng xính đó, mẹ chở mình bằng xe đạp đi vào thị xã chụp hình, thằng bé mặt phúng phính mắc cỡ không dám cười vì bị sún răng, mẹ phải động viên là áo đẹp thì cười lên con. Nó làm như giả bộ cười nhưng kì thực là thích lắm. Thích vì có áo mới, áo jean nguyên bộ, giày đánh cộp, oách lắm chứ bộ. Ngồi ôm mẹ thật chặt phía sau, nó không để ý là áo mẹ đã sờn. Nó không bao giờ hiểu được hết mẹ nghĩ gì mỗi khi Tết đến. Có lẽ thế thật, tấm lòng và sự hi sinh của mẹ vĩnh viễn là thứ bí ẩn lớn nhất và thẳm sâu nhất của vũ trụ mà ta phải luôn tự hào và hãnh diện khi có được. À, rồi Tết trong mình là hội chợ Tết nữa nè. Là gánh lô tô huyên náo một góc sân vận động, là những vòng quay ngựa gỗ, là mấy trò chọi đồ, thả con bọ. Mẹ dúi vào tay mấy đồng tiền lẻ để chơi, và mình thì thỉnh thoảng ăn may trúng vài gói mì hai con tôm để lột ra ăn ngon lành mà thấy Tết lắm rồi. Nhà nghèo, đêm giao thừa của hai mẹ con cũng đi ngủ sớm. Mẹ vẫn thường hay bế mình về khi thằng bé mập ú nằm lăn quay ra ngủ ở nhà hàng xóm khi đi coi ké vô tuyến. Thường thì mình chẳng bao giờ đón giao thừa để khi mở mắt ra đã là năm mới để dụi vào lòng mẹ như mỗi buổi sáng thường ngày, rồi ớ ra Tết nên mẹ được nghỉ làm không phải đi làm pháo, không phải đi dệt thảm và mẹ sẽ ở với mình cả ngày. Vậy là Tết lắm đó. Tết của người nghèo chắc chộn rộn hơn người giàu, mình nghĩ vậy! Mẹ buôn chuyến cho Tết, tất tả những chuyến xe xuôi ngược miền Tây để buôn gà cho Tết. Mẹ là người rất giỏi, mẹ có thể không uống nước suốt chuyến xe dài vì muốn dành dụm thêm vài chục đồng bạc lẻ cho gia đình. Những chuyến hàng cận Tết luôn đem đến nhiều hi vọng và cũng là những rủi ro. Hi vọng sẽ có thêm tiền để Tết của nhà nghèo đỡ tủi thân. Nhưng cũng rủi ro khi những con gà rù thiểu não không ai thèm mua và mẹ hốc hác bươn bả giữa nắng chang chang của chợ Tết ngày 30 lạc lõng người. Chiều 30 Tết, mẹ về, đem thịt về cuốn chả giò để con có cái Tết cho tươm. Thịt chợ chiều, hoi nồng mùi khổ, vậy mà con vẫn thấy ngon lắm vì với mình mẹ luôn là đầu bếp giỏi nhất và có tâm nhất. Ở nhà đã là 30 Tết rồi! Ngày cuối cùng của năm cũ, ngày để trở về. Ông anh nhắn tin từ Tân Hiệp báo là đã về nhà – nhà bên bờ kinh – nghe bình yên sớm tối với gia đình cho trọn hẳn 10 ngày. Cô bạn buông câu “còn chừng nửa tiếng nữa là đến nhà rồi mày ơi. Nôn nao dễ sợ!”. Nhà! Tiếng này nghe ngày Tết chắc thiêng liêng hơn nhiều dữ lắm. Tại tự dưng ông bạn hỏi đúng lúc tủi thân quá trời quá đất: Đứng chờ tàu giữa trời tuyết lất phất. Cái tự dưng bạn hỏi: “Bên đó chắc Tết không có mấy món Việt hay mai đào đâu nhỉ”. Mình trả lời: “Có chứ anh! Có đủ hết đó.” Xong mình bỏ lửng câu đó giữa mịt mùng trời tuyết ở nơi xa và tự nghĩ: Nhưng chỉ có nhà để về với Tết là không có thôi. Có nhà, có gia đình, có mẹ là có Tết. Tết cũng như mẹ vậy, vẫn về bên ta như lời hẹn mỗi năm của người tri kỉ không bao giờ sai hẹn. Như giữ cho ta ngọn lửa bập bùng ấm áp trong tim của nồi bánh chưng chờ Tết, giữ mùi nước thơm mẹ nấu tắm ngày 30 để sạch sẽ cho đêm trừ tịch và giữ cho mắt thằng bé hấp háy sáng ngời với áo mới đứng khoanh tay gọn gàng chờ lì xì Tết. Tết vậy đó, nghe gần quá trời, dễ quá trời. Nghe dễ ẹc, gọn ơ à hen. Mà tự nhiên giờ nói ra xong mới thấy khó chao ôi là khó. LÊ THẮNG - TADA LÊ Tết là Mẹ
57 Mẹ Mẹ ơi mẹ khổ nhiều rồi Mẹ ngồi con tỏ đôi lời từ tâm Năm nay Tết đến âm thầm Khiến con không thể cầm lòng đãi môi *** Mang quà cho mẹ đi thôi Để rồi vui Tết hân hoan cửa nhà Mẹ cha giờ tuổi đã già Vui ca sống khỏe cả nhà đoàn viên! Bài thơ tặng mẹ Mẹ ơi con gắng thi đua Đợi mùa Tết đến đi mua phần quà Trước là phúc đáp mẹ cha Sau là đạo nghĩa tình nhà anh em *** Ngẫm xem thiên hạ bao phen Thi nhau sắm Tết khắp miền yêu thương Lẽ thường Xuân đến tự nhiên Kiên cường phấn đấu mẹ hiền thỏa tâm Nhà báo Phạm Quốc Cường - Trưởng ban Pháp luật - bạn đọc, báo Pháp luật Việt Nam Cung chúc tân xuân! Tiên tổ cháu con mỗi gia đình Tình đời nghĩa sáng tỏa non sông Công danh phúc đức còn lưu lại Lộc xuân hậu thế phải đón vào *** Thiên thời tạo nghiệp sinh nhân quả Tu đức rèn thân hướng chí bền Cung chúc muôn người luôn ấm áp Tân Xuân tỏa rạng bước anh tài.
VĂN HÓA - GIÁO DỤC Culture - Education 58 Tọa lạc ngay trên số 680 đường Bạch Đằng, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội - miếu Hai Bà Trưng được coi là khởi nguồn của đền Hai Bà Trưng về câu chuyện kiên trung của bà Trưng Trắc cùng em gái là Trưng Nhị phất cờ khởi nghĩa, được nhân dân ủng hộ. Miếu Hai Bà Trưng có quy mô kiến trúc nhỏ, khiêm nhường, nằm tại số 680 đường Bạch Đằng, quay hướng Đông, nhìn ra sông Hồng. Cổng của miếu được xây dựng theo kiểu tam quan, tứ trụ, đỉnh 2 trụ lớn đắp hình 4 chim phượng, đỉnh 2 trụ nhỏ đắp hình nghê. Miếu kết cấu theo kiểu chữ “đinh”, Đại bái 3 gian 2 dĩ, Hậu cung 1 gian, 2 dãy dải vũ, mỗi dãy 3 gian nằm đối diện nhau trên khu vực sân trước của miếu. Các di vật, đồ thờ còn bảo lưu được không nhiều, tiêu biểu nhất là long ngai, bài vị thờ Hai Bà, bộ kiệu long đình mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn, 17 đạo sắc phong từ thời Lê (1783) đến thời Nguyễn (1924). Thủ nhang Hoàng Thị Nga, là người con của làng Đồng Nhân chia sẻ những câu chuyện khi còn nhỏ, bên nồi bánh chưng đang bốc khói, với cái se lạnh của Hà Nội đón chờ mùa Xuân mới - lời bà tôi kể rằng theo ghi chép cổ, ngay sau khi Hai Bà Trưng gieo mình xuống dòng sông Hát Giang, khí anh linh kết thành tượng đá, theo dòng nước Ngày Tết về miếu thờ Hai Bà Trưng nghe kể chuyện về tâm linh Việt Đối với nhiều người con đất Việt, những ngày Tết nguyên Đán được trở về bên gia đình, quây quần bên nồi bánh chưng xanh thơm nức và nghe ông, nghe bà kể chuyện về những chiến tích thời xưa của cha ông ta chính là điều thích thú nhất mà có lẽ tuổi 8x - 9x nào cũng từng trải qua. trôi xuôi mãi đến tận thời Lý mới tới vùng Thăng Long xưa. Vào một đêm đầu tháng 2, người dân ở khu vực bãi bồi trên dòng sông Nhị thấy hai pho tượng đá tỏa sáng trước bãi Đồng Nhân sông Cái (sông Hồng). Hai tượng thường vọt ra khí sáng và cũng cứ trôi mãi đến khúc sông bãi Đồng Nhân (Đồng Nhân Châu),
59 đêm đêm tỏa sáng thấu trời, dân sở tại kinh dị và thuyền bè không dám đến gần. Một đêm, phường chài đậu bên bến nghe văng vẳng tiếng nói: ‘Thuyền các ngươi ô uế, nên lui xuống hạ lưu’. Nhà vua lúc đó là Lý Anh Tông biết chuyện, sai người ra đón rước nhưng không được. Người dân sinh sống ở bãi Đồng Nhân khi ấy phải lấy vải đỏ đón các bà vào thì thấy tượng đá cao lớn và nặng, đầu đội mũ trụ, thân mặc áo giáp, hai tay trỏ lên trời, một chân quỳ, một chân ngả ra. Vua bèn giáng chỉ truyền cho dân làng này dựng đền thờ hai cỗ tượng các bà ở bên sông. Việc này là vào năm Đại Định thứ 3 (tức 1142). Những câu chuyện của bà vẫn cứ văng vẳng bên tai, trở về Hà Nội sau nhiều năm xa cách vì bận rộn công việc, tôi quay trở lại bến nước, bãi bồi ngày xưa. Trải qua nhiều năm, lụt lội, chiến tranh - miếu thời Hai Bà bên dòng sông Hồng bị đổ nát. Sau thời gian dài được sự quan tâm của UBND TP.Hà Nội thì tới nay miếu thờ Hai Bà Trưng cũng được tu sửa lại khang trang hơn, phục vụ cho các du khách tham quan, hướng đến vai trò phát triển du lịch tâm linh đúng như mục tiêu của thành phố Hà Nội. Đến miếu thờ Hai Bà Trưng hôm nay, du khách sẽ được nghe những câu chuyện về Hai Bà, được tham quan bến nước được tu bổ một cách sạch sẽ và khang trang. Và phủ miếu chăm chút tại nơi đây chính là bà Hoàng Thị Nga, một người con được sinh ra trong một gia đình có truyền thống văn hóa, do có cơ duyên với Phật Thánh, bà đã được dân làng tín nhiệm mời về làm thủ nhang của đền. Trong quá trình thực hành tín ngưỡng, bà đã cố gắng vượt qua mọi khó khăn để tham gia tích cực, làm các công việc có ích với cộng đồng. Bà đã tham gia nhiều công tác từ thiện, xây dựng, trùng tu đền, đình, chùa và các công trình phúc lợi tại địa phương,… Hiện nay, bà Hoàng Thị Nga đang là hội viên của Trung tâm bảo tồn nghiên cứu Văn hóa tín ngưỡng Việt Nam. Bà Nga được biết đến với các hoạt động tích cực trong câu lạc bộ, luôn có ý thức, trách nhiệm, không quản ngại khó khăn cùng trung tâm giới thiệu, quảng bá những giá trị của tín ngưỡng thờ mẫu. Chia sẻ với phóng viên, bà Hoàng Thị Nga cũng cho biết trong những năm qua, với sự kêu gọi không chỉ của bà mà còn của nhiều nhà hảo tâm khác, miếu thờ Hai Bà Trưng cũng được tu bổ, khang trang lại nhiều sau khi các kiến trúc cũ cũng bị xuống cấp và mài mòn. Hiện nay, cổng miếu cũng đã bị hỏng, đổ nát - bậc tam cấp cũng vỡ, hỏng nền sân của miếu. “Tôi chỉ mong muốn với sự kêu gọi và ủng hộ từ các mạnh thường quân, các nhà hảo tâm để miếu Hai Bà Trưng được xây dựng cổng đền một cách khang trang và lịch sự. Miếu thờ Hai Bà là một công trình trúc tâm linh lớn và cũng là một trong những ngôi đền thiêng biểu tượng của vùng đồng Bằng Bắc Bộ. Miếu thờ hiện có 2 gian và cung cấm, khuôn viên bên ngoài cũng thoáng và rộng đủ để cho khách đến sắp lễ hay cầu nguyện. Tuy nhiên đối diện cửa miếu có cột trụ nhưng vẫn chưa có kinh phí để xây dựng cổng miếu cho khang trang. Việc làm công đức là điều thiện, điều nên làm và trong kinh nhân quả của nhà Phật cũng có ghi và khuyến khích việc làm công đức để nơi miếu thờ, đình, chùa... được trở nên sạch sẽ, khang trang - hướng đến sự phát triển về du lịch tâm linh giữa lòng Hà Nội theo chỉ đạo của thành phố” - thủ nhang Hoàng Thị Nga chia sẻ. Với tâm nguyện muốn lan tỏa và hoàng dương nét đẹp của tín ngưỡng thờ Mẫu và tại miếu thờ Hai Bà Trưng - bà Hoàng Thị Nga đã góp phần tu dưỡng, bảo tồn, giữ gìn những giá trị văn hóa, giá trị nghệ thuật của Đạo Mẫu Tam Tứ Phủ trong nét truyền thống văn hóa của người Việt xưa và nay. HOÀNG YẾN Photo by Trình Thái Khang
VĂN HÓA - GIÁO DỤC Culture - Education 60 Tôi rất vinh dự khi được PGS-TS Cao Văn, nguyên Hiệu Trưởng trường ĐHHV, Phó GĐ Trung tâm NC & phát triển Văn hoá Hùng Vương chi nhánh tỉnh Phú Thọ, gọi điện mời đi điền dã với nhóm Nghiên cứu lịch sử vào ngày 15/5 âm lịch, năm Nhâm Dần, đến Làng Trẹo, thị trấn Hùng Sơn, huyện Lâm Thao, với chủ đề: “Về với Cội nguồn” để tìm hiểu thêm về ngôi Đình làng mới được xây dựng cách đây hơn 10 năm. Trong nhóm nghiên cứu còn có Nhà giáo Ưu tú, Vũ Văn Viết, Hiệu trưởng Trường THPT Vũ Thê Lang, GĐ Trung tâm NC & phát triển Văn hoá Hùng Vương chi nhánh tỉnh Phú Thọ; Thạc sỹ, Nguyễn Tiến Khôi, Chủ tịch Hội KH Lịch Sử Tỉnh Phú Thọ, Phó GĐ Trung tâm NC & phát triển Văn hoá Hùng Vương chi nhánh tỉnh Phú Thọ, nguyên GĐ Khu di tích lịch sử Đền Hùng và cô giáo Nguyễn Thị Hằng, nguyên Giảng viên Trường ĐH Hùng Vương,. Tôi là người trong nhóm sau khi nghỉ công tác, lần đầu tiên được đến thăm, thắp hương tại một ngôi Đình Triệu Phú ở làng Trẹo. Hôm đó, đúng vào ngày rằm, tôi thấy rất nhiều người từ những tỉnh xa đến dâng hương, hoa, trà quả, thậm chí có cả lễ mặn: mâm xôi, con gà với tâm trạng cung kính cầu phúc an lành. Sau khi nhóm chúng tôi đặt mâm lễ hoa quả tươi lên trước bàn thờ tại hậu cung, dâng hương lễ bái các Vua Hùng, chúng tôi xin phép ông Thủ Từ chụp ảnh nội thất và đi vòng quanh ngôi Đình chụp ảnh để ghi lại dấu tích ngôi Đình. Khi ngắm kỹ ngôi Đình từ bên trong và bên ngoài, tôi hết sức bất ngờ tự hỏi, tại sao ngôi Đình ở đây lại trông y hệt như ngôi Đền Thượng trên núi Nghĩa Lĩnh. Sự giống nhau như thế có đúng thật hay không?. Đây một câu hỏi bí ẩn mà tôi sốt ruột đi tìm lời giải. Theo lời kể của các cụ cao tuổi ở Làng Trẹo thì trước khi có Đình là ngôi Miếu thờ các Vua Hùng của làng từ hàng nghìn năm trước, về sau mới xây dựng Đình của làng. Làng Triệu Phú xưa có tên cổ là làng Trẹo. Qua cuốn lịch sử của làng Trẹo có ghi: Không hiểu làng có từ bao giờ, chỉ biết rằng cuối thời Hồng Bàng (đầu thiên niên kỷ 3) đã có làng, có tên. Dân số thời Hồng Bàng làng Trẹo có khoảng 1.000 người. Đến cuối thời Trần là 2000 người, Thời hậu Lê còn 200 người (do cuộc thảm sát của giặc Minh). Làng Trẹo xưa vinh dự được đón Vua Hùng Vương thứ 18 (tức Hùng Duệ Vương) về làng ăn tết từ 25 tháng chạp đến mùng 8 tháng giêng, Ngài mới trở về kinh Đô. Để ghi nhớ công đức các Vua Hùng, về sau nhân dân làng Trẹo đã góp công sức xây dựng ngôi Miếu đầu tiên trên Núi Nghĩa lĩnh để thờ tự các Vua Hùng và gọi là Hùng Vương Tổ Miếu (tức Đền Trung ngày nay). Còn các ngôi Đền khác trên Núi Nghĩa Lĩnh như Đền Thượng, Đền Hạ, Đền Giếng về sau mới được xây dựng. Kể từ đó, nhân dân làng Trẹo được giao nhiệm vụ con trưởng tạo lệ hương hoả phụng thờ ngôi Hùng Vương Tổ Miếu (Đền Trung) trên núi ĐI TÌM CÂU TRẢ LỜI VỀ TÊN MỘT NGÔI ĐỀN TỪ THỜI HÙNG VƯƠNG TẠI LÀNG TRẸO Cổng Làng Trẹo
61 Nghĩa Lĩnh, các đời Vua sau này đã ra sắc lệnh miễn thuế cho dân làng để con trưởng tạo lệ có điều kiện hương hoả phụng thờ. Trao đổi với Thạc sỹ Nguyễn Tiến Khôi, Chủ tịch Hội KH Lịch Sử tỉnh Phú Thọ, Phó GĐ Trung tâm NC & phát triển Văn hoá Hùng Vương chi nhánh tỉnh Phú Thọ, nguyên GĐ Khu di tích lịch sử Đền Hùng thắc mắc của tôi về ngôi Đình Triệu Phú ở làng Trẹo tại sao trông hệt như ngôi Đền Thượng trên núi Nghĩa Lĩnh. Ông Khôi cho biết: Năm 2005, ông được UBND tỉnh bổ nhiệm làm GĐ Khu di tích lịch sử Đền Hùng, nâng cấp từ BQL trực thuộc Sở VH TT-DL để trực thuộc UBND tỉnh. Năm 2007, tiếp tục triển khai thực hiện Quyết định số 48/TTG ngày 30/3/2004 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt ,Quy hoạch phát triển Khu di tích lịch sử Đền Hùng; Bộ Văn hoá thông tin và UBND Tỉnh đã đồng ý cho Khu di tích lịch sử Đền Hùng tu bổ, tôn tạo các ngôi Đền trên núi Nghĩa lĩnh. Một bài toán đặt ra lúc đó là khi hạ giải các ngôi Đền để tu bổ tôn tạo, thì toàn bộ vật liệu sau hạ giải không thể để chất đống cho mục nát mà cần phải chuyển cho một số địa phương để bổ sung tu bổ di tích ở những nơi di tích lịch sử văn hóa đã bị xuống cấp. Sau khi được UBND tỉnh đồng ý, vật tư công trình kiến trúc Đền Thượng đã chuyển cho Làng Trẹo - làng cổ Thị Trấn Hùng Sơn để tôn tạo đình Trẹo, hiện tại được đặt tên là Đình Triệu Phú. Còn các Đền khác sau này khi hạ giải cũng được chuyển cho một số xã như xã Phượng Lâu (Việt Trì), Sơn Dương (Lâm Thao)... để tu bổ, tôn tạo các ngôi Đền thờ Vua Hùng của địa phương đã xuống cấp. Ngồi tiếp chuyện với chúng tôi tại phòng đón khách gần Đình, ông Thủ từ Đào Ngọc Thắng (năm 2007 đã làm Bí thư Đảng uỷ Thị Trấn Hùng Sơn, Huyện Lâm Thao) cho biết: Sau khi tiếp nhận nguyên vật liệu ở Đền Thượng trên núi Mặt trước ngôi Đình Triệu Phú Ba bài vị và đồ thờ ở hậu cung ngôi Đình Triệu Phú Gian Đại bái Gian Tiền tế
VĂN HÓA - GIÁO DỤC Culture - Education 62 Nghĩa Lĩnh hạ giải chuyển về, làng đã vận động các Mạnh Thường Quân ủng hộ kinh phí, nguyên vật liệu để tu sửa, tôn tạo lại ngôi Đền trên nền đất Đình cũ thờ các Vua Hùng. Lúc đó, Nghệ nhân Nhân Dân Trần Độ ở Bát Tràng đã tự nguyện cung tiến toàn bộ số gạch xây Đền, gạch lát nền Đền, Nghi Môn. Đồng thời, một số nhà hảo tâm khác cũng phát tâm xin đóng góp kinh phí và công thợ. Sau một thời gian, ngôi Đình Triệu Phú đã được tu bổ, tôn tạo bảo tồn di tích này trông hình thức y hệt như phiên bản của Đền Thượng ngày trước trên núi Nghĩa lĩnh. Toàn bộ cột Đình bây giờ được đổ bằng bê tông cốt thép, gạch xây Đình là gạch nung chín, xây bằng vữa xi măng, gạch lát nền Đình là loại gạch có hoa văn giống thời xưa, khác hẳn với cột xây bằng vôi vữa, tường xây bằng đá ong trước đây. Khi việc tu bổ, xây dựng để bảo tồn di tích ngôi Đền Thượng trên núi Nghĩa Lĩnh sắp hoàn thành, nhân dân trong làng Trẹo tiếp tục đề nghị với các cơ quan chức năng và UBND Tỉnh xin được tiếp nhận toàn bộ nội thất ngôi Đền Thượng cũ gồm có các Ban thờ, Hoành phi, Câu đối... về thờ phụng. Riêng 3 chiếc ngai thờ trong hậu cung cũng được làm giống hệt 3 chiếc ngai trong hậu cung Đền Thượng tại Đền Hùng bây giờ. Công việc tu bổ, xây dựng để bảo tồn di tích lịch sử văn hoá ngôi Đình Triệu Phú ở Làng Trẹo đã hoàn tất, đại diện Lãnh đạo địa phương cùng với Thạc sỹ Nguyễn Tiến Khôi đang là GĐ Khu di tích lịch sử Đền Hùng đã về Hà Nội để gặp trực tiếp GS Vũ Khiêu, anh hùng Lao động xin ý kiến về tên định đặt cho ngôi Đình này và được GS Vũ Khiêu đặt tên là Hùng Vương Cơ Miếu. Ông nói: “đây là Cơ nghiệp họ Hùng, nên chữ: Hùng Vương Cơ Miếu còn được hiểu là Miếu thờ cơ nghiệp Hùng Vương, lấy tên như vậy để đặt cho Đình Triệu Phú ở Làng Trẹo này (bảo tồn) di tích thời Hùng Vương là chính xác”. Ngôi Đình được tu bổ, xây dựng xong trông rất khang trang, bề thế, vững chãi, nhân dân trong làng rất phấn khởi. Hàng năm, Thị Trấn Hùng Sơn, huyện Lâm Thao có thông báo rộng rãi cho nhân dân trong và ngoài tỉnh về dự ngày giỗ Tổ Hùng Vương 10/3 âm lịch tại ngôi Đình làng Trẹo. Ở nơi đây, ngoài ngày giỗ chính Vua Hùng, theo tục lệ hàng năm còn có 2 ngày kỳ trại vào mùa xuân từ ngày 25 tháng chạp đến mùng 8 tháng giêng dân làng mở hội tưởng nhớ Vua Hùng. Đồng thời còn diễn lại các tích xưa như: Lễ hội rước Chúa Gái về núi Tản Sông Đà. Còn vào mùa thu tháng tám trong các ngày mùng một và mùng hai âm lịch làng mở tiệc ăn mừng chiến thắng của Tản Viên chống Thục. Trong năm, dân làng Nhóm nghiên cứu thắp hương hậu cung ngôi Đình Triệu Phú
63 Trẹo còn tổ chức ăn tết cơm mới vào hai dịp: mùng năm tháng năm và ngày mùng mười tháng mười âm lịch. Ngoài ra hàng năm vào ngày mùng hai tháng chạp làng tổ chức giỗ Tổ làng. Tôi được biết sau khi Đền được tu bổ, tôn tạo xong, Lãnh đạo địa phương nhiều lần làm đơn đề nghị Sở VH TT-DL báo cáo với UBND tỉnh để công nhận di tích Hùng Vương Cơ Miếu là di tích LSVH cấp tỉnh. Tuy nhiên trên 10 năm qua, do chưa có sự thống nhất giữa cơ sở và cơ quan quản lý di tích lịch sử văn hoá cấp Tỉnh về tên gọi Đền hay Đình cho đúng. Như vậy cuộc tranh luận tên Đình và Đền cứ tiếp tục mãi, cuối cùng Làng Trẹo đã phải thống nhất theo hướng dẫn lập hồ sơ di tích lịch sử văn hoá cấp Tỉnh của Sở VH TT-DL để trình UBND tỉnh, lý lẽ rất đơn giản là vì xây dựng trên đất nền của Đình Triệu Phú cũ thì phải là Đình Triệu Phú chứ không phải là Đền Triệu Phú hay Hùng Vương Cơ miếu. Năm 2020, trên cơ sở tờ trình của Sở VH TT-DL, ngày 11 tháng 01 năm 2021, UBND tỉnh Phú Thọ đã ký quyết định công nhận Đình Triệu Phú tại làng Trẹo là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh. Như vậy, vấn đề mà chúng tôi đề cập là tại sao không công nhận tên gọi Hùng Vương cơ Miếu - di tích (bảo tồn) Đền Thượng trên núi Nghĩa Lĩnh thờ các Vua Hùng ở Làng Trẹo là Đền Trẹo- di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh mà lại công nhận với tên Đình Triệu Phú là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh ?. Ở đây chúng ta cần hiểu rõ các khái niệm: “Đền”, “Đình”, “Miếu” là hoàn toàn khác nhau. Đền là công trình kiến trúc được xây dựng để thờ cúng một vị Thánh hoặc những nhân vật lịch sử được tôn sùng như thần thánh. Ở Việt Nam, phổ biến nhất là các Đền thờ được xây dựng để ghi nhớ công ơn của các anh hùng có công với đất nước hay công đức của một cá nhân với địa phương được dựng theo truyền thuyết dân gian. Đình là nơi thờ Thành hoàng của làng, đồng thời là nơi hội họp, bàn việc của dân làng. Đình được coi là trung tâm sinh hoạt văn hoá gắn bó với một cộng đồng dân cư và mang đặc trưng của nền văn minh lúa nước Việt Nam. Còn Miếu nhỏ hơn nhiều so với Đình và Đền. Miếu là một dạng di tích văn hoá trong tín ngưỡng dân gian Việt nam. Đối tượng được thờ ở Miếu rất đa dạng, thờ Thần mây, mưa, sấm, sét, thờ Thần rừng, Mẫu Thoải, Tam tòa Thánh Mẫu, Tứ phủ công đồng… Hiện tại nội thất ngôi Đền Thượng được chuyển về thờ tự tại Đình Triệu Phú ở làng Trẹo bố trí như sau: Tiền môn (phía ngoài nhìn vào có hai tượng chấn phong, chấn thuỷ và tên đình). Gian đầu tiên là Tiền tế khoảng 30m2 , nơi đây để trống chiêng, các bức đại tự, y môn, bức chắn giữ mặt tiền và kiệu thần. Gian giữa là Đại bái có nhang án thờ hội đồng các quan, Lạc Hầu, Lạc Tướng, có bộ bát bửu, chấp kích, ngựa bạch, ngựa hồng, có hai bức lệnh chỉ sắc phong cao 1,4m, dài1,6m; và các hoành phi câu đối. Gian trong cùng là Hậu Cung được sắp xếp 4 cỗ long ngai (trong đó có ba bài vị ở giữa thờ Đột ngột Cao Sơn và 18 đời Hùng Vương. Ở ngoài nhìn vào bên phải là thờ Ất Sơn, bên trái là thờ Viễn Sơn). Ban tây cỗ long ngai không bài vị thờ hai công chúa: Tiên Dung và Ngọc Hoa. Bên trong cỗ long ngai vẽ bức tranh rồng vàng cao 2m, dài 2,4m. Bên phải nhìn vào thờ long mã, bên trái thờ Phụng hoàng. Các ban thờ trong ngôi Đền đều sắp đặt có đầy đủ bộ đồ thờ thất sự (bát hương, cây nến, ống hương, bình hoa, đài đẩu). Như vậy không gian hiện tại của ngôi Đền rất hẹp, bầy toàn đồ chỉ để tế lễ, không có không gian rộng để dân làng ngồi hội họp, bàn việc thì sao gọi là Đình được. Chúng ta đều biết toàn bộ nguyên vật liệu di tích hạ giải ở Đền Thượng chuyển cho Làng Trẹo để tôn tạo bảo tồn di tích thời Hùng Vương trên đất nền Đình Triệu Phú lại vẫn lấy tên là Đình Triệu phú là không đúng. Tham khảo ý kiến của nhiều người cao tuổi tại làng Trẹo và có cả ý kiến của lãnh đạo Đảng chính quyền địa phương Thị trấn Hùng Sơn đều mong muốn đặt tên Đền sao cho đúng sự thật lịch sử. Đây không phải là Đình mà là Đền Thượng thờ tự các Vua Hùng trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh xã Hy Cương được đưa về làng cổ để bảo tồn. Với sự lý giải như trên, chúng tôi đề nghị UBND Tỉnh nên đổi tên lại cho một di tích lịch sử văn hoá thời Hùng Vương Đình Triệu Phú ở làng Trẹo là Hùng Vương Cơ Miếu hoặc là Đền Trẹo thì mới hợp lý. Nhân đây ngoài vấn đề lớn về tên gọi di tích văn hoá lịch sử bảo tồn thời Hùng Vương ở Làng Trẹo là Hùng Vương Cơ Miếu, hay Đền Trẹo mà đang đặt tên không đúng là ĐìnhTriệu Phú, chúng tôi cũng đề nghị UBND tỉnh, Sở VH TT-DL cần nghiên cứu, xem xét nên có quy hoạch về khu tích lịch sử văn hoá Đền Trẹo quan trọng này (hiện tại Đền có diện tích là 1.500m2 , trong tương lai nên mở rộng ra khoảng trên vài ngàn m2 ) để có mặt bằng rộng rãi đáp ứng đầy đủ các tiêu chí về một khu di tích lịch sử văn hoá tầm cỡ Quốc gia (sau này địa phương sẽ tiếp tục hoàn thiện hồ sơ đề nghị Bộ Văn hoá TT& DL quyết định công nhận di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia). Đồng thời, làm tốt công tác quảng bá tuyên truyền cho người dân các địa phương trong cả nước biết về lịch sử của ngôi Đền thờ các Vua Hùng của làng Trẹo. Tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân địa phương trong và ngoài tỉnh đến thực hành tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, góp phần bảo tồn gìn giữ di sản Văn hoá phi vật thể của nhân loại./. ĐINH QUANG TÚ
VĂN HÓA - GIÁO DỤC Culture - Education 64 Ngôi chùa được hoàn thành xây dựng vào năm Nhâm Thân (1632) niên hiệu Đức Long thứ 4 đời vua Lê Thần Tông. Du khách thập phương về chiêm bái lễ Phật Thánh tại chùa Keo cảm nhận đây là một quần thể kiến trúc đặc sắc với khuôn viên xanh gồm nhiều cây cổ thụ tỏa bóng mát. Chùa Phật cùng tòa Thánh và gác chuông vươn cao như đài sen in bóng lung linh xuống mặt hồ. Ba hồ rộng tựa như chữ Phẩm cùng đường Thần đạo chạy thẳng hướng ra sông Hồng phía Nam tạo thành công trình rất đăng đối. Với kiến trúc hai tòa tam quan nội và ngoại đã tạo điểm nhấn khác biệt của chùa Keo so với nhiều ngôi chùa Việt. Điều rất ấn tượng với du khách, cùng kiến trúc đặc sắc chùa Keo còn lưu giữ nhiều hiện vật với phong cách mỹ thuật từ thời Lê đến thời Nguyễn. Đặc biệt có tượng Thiền sư Không Lộ bằng gỗ trầm hương đang tôn thờ cung thượng điện. Theo người xưa truyền lại, pho tượng này được tạc ngay khi Thiền sư viên tịch (thế kỷ XI) đã bảo quản bằng phương pháp truyền thống với nghi lễ mộc dục và điểm trang có từ mấy trăm năm qua. Ngay tại cửa chính của Tam quan nội là bức chạm rồng với hai rồng chầu mặt nguyệt cùng cách điệu rồng con và nghê vờn ẩn hiện trong lớp mây hình mác tựa ngọn lửa - một hình thức tiêu biểu của mỹ thuật chạm khắc thời hậu Lê. Trong kiến trúc đình chùa Việt, hình tượng rồng Hình tượng rồng trong nghệ thuật điêu khắc ở chùa Keo Chùa Keo tên chữ là Thần Quang tự là ngôi chùa cổ nổi tiếng bậc nhất của vùng quê Thái Bình. Ngôi chùa tọa lạc trên địa bàn làng Keo (xưa là Dũng Nhuệ), nay thuộc xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư.
65 rất đỗi quen thuộc. Qua mỗi triều đại khác nhau, hình dáng rồng cũng được thể hiện với những nét đặc trưng riêng biệt. Thời Lý, dáng rồng mềm mại uyển chuyển. Thời Trần, rồng khỏe khoắn dáng thăng giáng vờn mây. Thời Lê, bờm râu có thể bện lại vảy móng vuốt chạm rõ nổi bật, đặc biệt vân mây mũi mác tựa như lửa cháy rực, thân rồng uốn khúc ẩn hiện xa gần. Bức chạm rồng tam quan nội chùa Keo đã trở thành tác phẩm chạm đặc sắc thời hậu Lê. Bức chạm rồng phục chế (năm 1991), hiện nay đang được an vị tại tam quan chùa Keo. Bức chạm nguyên bản thế kỷ XVII được bảo quản và trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Hà Nội. Tại khu đền Thánh tôn thờ Thiền sư Không Lộ ở chùa Keo, một bảo vật quốc gia đã được công nhận đó là: nhang án chùa Keo - thế kỷ XVII. Nhang án do cụ Vũ Khả Vy chạm khắc với kỹ thuật cực kì tinh xảo. Bốn mặt nhang án chạm rồng với đường nét tinh vi diễn tả vây rồng móng vuốt từng chi tiết. Phần chạm lộng đục xuyên tạo dáng rồng uốn lượn rất sống động. Nhiều ô đặc tả mặt rồng chạy bao quanh nhang án. Phần chạm này các cụ xưa chạm thành nhiều lớp trên dưới. Người xem chỉ cần nhìn nghiêng với góc độ khác nhau là cảm nhận được tác phẩm có độ nổi của thân rồng. Phần trên của nhang án cách điệu nhiều cánh sen đua nở như đang dâng hương thơm ngát phụng thờ chốn linh thiêng. Bốn chân quỳ của nhang án đặt trên hệ thống khung với bốn bánh xe giúp di chuyển nhang án dễ dàng cũng như tạo độ cao hợp lý tránh ẩm thấp khi thời tiết xấu. Nơi tôn trí nhang án có hai giếng non bộ nằm ở hai bên đông và tây. Phần kết cấu chấn song tạo khác biệt. Vào lúc sáng và chiều, ánh nắng mặt trời phản xạ qua mặt nước non bộ hắt vào qua chấn song tạo sự huyền ảo càng làm cho ánh sơn thiếp thêm long lanh hơn. Các cụ xưa kể lại, để hoàn thành sơn thiếp cho nhang án phải trải qua rất nhiều công đoạn. Sơn ta được lắng đọng sáu tháng rồi trộn lớp sơn ưng ý qua quá trình làm khuấy đều thêm đất phù sa để hom bó. Tiếp tục lại mài nhẵn nhiều lần lại sơn tiếp. Vì nhang án chạm rồng rất tinh xảo nên công việc sơn cũng rất kỳ công. Qua đợt sơn cầm tiếp đến thiếp vàng bạc. Tính đến nay gần 400 năm, nhang án cổ chùa Keo vẫn còn lớp sơn nguyên bản trường tồn cùng thời gian. Trong văn hóa phương Đông, hình tượng rồng rất đỗi quen thuộc. Rồng tượng trưng cho quyền uy vua chúa, từ long bào, long ấn, long sàng... đều có hình rồng hiện diện. Nơi thờ tự đình chùa... rồng cũng được nghệ nhân xưa tạo tác. Với thuyết: Long sinh cửu tử, hình tượng rồng đã có biến đổi so với rồng mẹ. Theo Thục viên tạp kí - chín đứa con của rồng lại được gắn với nhiều hình tượng khác nhau, thậm chí tên gọi cũng có thể khác nhau. Tù Ngưu thân rồng hay trang trí ở nhạc cụ - vì chúng thích nghe nhạc. Nhai Tí thân rồng đầu sói trang trí ở chuôi kiếm vũ khí. Trào Phong giống phượng hoàng hay ở cột trụ biểu. Bồ Lao hay đầu rồng trên quai chuông. Toan Nghê đầu rồng thân sư tử trên mái đình chùa hay trang trí chầu cổng cửa. Bí Hí thân rùa đầu rồng đội bia. Bệ Ngạn, Bá Hạ đầu rồng thân cá chép. Xi Vẫn hay Li Vẫn giống cá hay còn gọi là con kìm nóc - loại thích nước phun mưa. Qua khảo cứu tại chùa Keo, ngoài hình tượng rồng chạm khắc trên gỗ như cánh cửa, nhang án, đồ thờ thì các bia đá tiêu biểu như: Thần Quang tự bi (1632), Trùng tu Thần Quang tự bi đại pháp sư (1609). Thần Quang tự bi (1698) hình tượng rồng rất phong phú. Bia 1632 phần trán bia là đầu rồng, hai cạnh bia được chạm thân rồng - một kiểu bia đặc biệt thời Lê. Trên nóc chùa Phật, chùa Giá roi và đền Thánh chùa Keo và hệ thống tàu đao được nghệ nhân xưa đắp hình tượng con của rồng rất đẹp. Những chú nghê sống động. Xi Vẫn đầu rồng thân cá chép ôm kìm bờ nóc, phần đuôi cá như đang vẫy vùng tạo dáng. Trên bờ nóc đền Thánh hơi cong mềm mại là hoa văn hoa chanh rỗng cùng Xi Vẫn đuôi cuộn tròn uyển chuyển. Phần kiến trúc phía dưới là rất nhiều con sơn nội ngoại chạm rồng nhiều dáng vẻ. Có rồng thăng giáng quấn quanh con sơn, có rồng ẩn hiện trong mây đầu đội vào đấu bẩy. Du khách thán phục tài năng người xưa, mỗi con sơn là hình tượng khác nhau, thật đúng là sự sáng tạo vô cùng phong phú. Bước lên cầu thang của gác chuông chùa Keo, luồng ánh sáng tự nhiên qua cửa thông phong làm nổi bật những quả chuông đồng được treo chính giữa ở mỗi tầng. Chuông to nhất đúc năm Chính Hòa 19 - năm Mậu Dần 1698. Trên chuông có bài minh do Tiến sĩ khoa Đinh Sửu đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân Đỗ Viết Hồ (quê Thanh Hóa) soạn. Phần quai của ba quả chuông là Bồ Lao chuông - hình dáng thân rồng hai đầu với phần chân có móng vuốt “nắm” chặt đỉnh chuông, thân Bồ Lao uốn cong để thanh treo chuông luồn qua. Cả thân Bồ Lao như “gồng” lên chịu sức nặng quả chuông nhưng khuôn mặt vẫn tươi tắn như đang cười. Thời điểm giao thừa đón năm mới, chuông chùa Keo lại được thỉnh để nghinh xuân tiếp phúc cầu quốc thái dân an. Tiếng chuông tỉnh thức vang vọng khắp thinh không - thân Bồ Lao lại rung nhẹ nối mạch nguồn muôn thuở. Quý khách về với chùa Keo lễ Phật chiêm ngưỡng di tích quốc gia đặc biệt và cùng cảm nhận di sản ngàn xưa để lại với những bảo vật hiện hữu như nhang án, tượng pháp, đồ tế khí, bia đá chuông đồng... cùng di sản văn hóa phi vật thể lễ hội nghi thức tế lễ… Những giá trị mỹ thuật truyền thống qua hình tượng rồng vẫn còn mãi nơi đây. NGUYỄN THUYÊN (Vũ Thư)
VĂN HÓA - GIÁO DỤC Culture - Education 66 1. Tính phổ quát của hiện tượng/ biểu tượng rắn trong điện thần thờ Mẫu ở VN Thờ nữ thần là một hiện tượng phổ biến ở Việt nam, trải đều trên cả ba vùng Bắc – Trung - Nam thì đều có các nữ thần chủ: Liễu Hạnh (miền Bắc); Thiên yana (miền Trung); xa hơn chút nữa về phía nam có bà Đen (Tây Ninh), bà Chúa Xứ (tây Nam bộ). Đã có rất nhiều các nghiên cứu về mối liên hệ, các lớp văn hóa của những hiện tượng này như mẫu Liễu với tư cách sử thi (Đặng văn Lung); mẫu Liễu và mối quan hệ với nội đạo tràng (Phạm Quỳnh Phương); hành trình việt hóa của nữ thần Thiên yana (Ngô Văn Doanh); Nghi lễ lên đồng (Nguyễn Ngọc Mai); quan hệ giữa Mẫu Liễu với Thiên yana trong di tích điện Hòn chén (Ngô Đức Thịnh); và cả các lớp nam thần chuyển hóa thành nữ thần của Bà Chúa Xứ qua sáng tạo của văn hóa Việt thời kỳ khẩn hoang phương nam…Nói như vậy để thấy rằng văn hóa thờ thần/ thánh mẫu đã được khảo tả, nghiên cứu bóc tách các lớp rất nhiều cũng chỉ để làm rõ ý nghĩa, giá trị và các lớp giao lưu văn hóa, tiếp nối văn hóa của hiện tượng mang tính bản địa này. Nhưng điều thấy rất rõ là dường như mọi nghiên cứu chủ yếu vẫn chỉ tập trung quá nhiều vào hệ thống thần linh trên thần điện; lai lịch gốc tích của vị thần và chuyên khảo về nghi lễ mà vẫn chưa có nhiều lý giải liên quan đến những dấu hiệu, biểu tượng khác xung quanh điện thờ bà. Điều không thể phủ nhận là tại các cơ sở thờ mẫu ở phía Bắc thì biểu tượng Rắn/ thần rắn là rất phổ biến cho dù đó là điện tư gia hay điện công thì biểu tượng rắn với mô típ 2 con vật lớn quấn ngang xà nhà chầu về ban công đồng hay ban tượng thờ trong hậu cung đã trở thành nét đặc trưng ở các điện thờ Mẫu phía Bắc và cũng thấy ở điện Hòn chén (miền Trung). Đó là chưa kể hàng ngàn các cơ sở tín ngưỡng dân gian khác như đền, phủ, miếu, đình thờ các vị thần thành hoàng làng đều có thần tích là con của bà mẹ mang thai với rắn, giao long…để rồi sinh ra người anh hùng cứu dân giúp nước. Sau khi hoàn thành sứ mệnh lại hóa thành nguyên bản trườn về, tìm về miền sông nước. Từ tính chất phổ biến của dạng thức trang trí này trong điện thần thờ mẫu và vô vàn những mô típ nguồn cội của các thần thành hoàng, chúng tôi thử đi tìm ý nghĩa của rắn trong điện thờ Mẫu ngõ hầu lý giải thêm về loại hình tôn giáo đặc biệt này. 2. Các lớp ý nghĩa của biểu tượng rắn trong văn hóa thế giới Với đặc tính âm, rắn là loài máu lạnh, không chân, không lông mao, lông vũ, xuất hiện bất thình lình, phóng ra nhanh như tia chớp từ lỗ tối hay kẽ nứt và có thể đem đến cái chết bất ngờ. Cộng với đặc tính cuộn khúc, siết, bóp nghẹt nuốt chửng tiêu hóa rồi ngủ, có thể từ bỏ vẻ ngoài giống đực để trở thành giống cái, lột xác để tái sinh.v.v… Rắn được ví như “một sự nỗ lực di truyền lâu dài mang tính đối ngược với con người”. Rắn được các nhà phân tâm học cho rằng nó là phần lý trí ít kiểm sóat nhất của con người. Nói như C.Jung, thì “rắn là một con vật có xương sống, hiện thân cho tâm hồn hạ đẳng, cho cái tăm tối, cái không bình thường, khó hiểu, huyền bí”. Ở một phương diện khác người Pygmee lại cho rằng Rắn là biểu tượng của cội nguồn sự sống và cũng là biểu tượng của linh hồn, nhục dục1 . Như vậy, từ đặc tính của rắn bí ẩn, bí mật không thể lường trước cũng như không thể hiểu được các kiểu hóa thân của nó mà rắn được coi là biểu tượng của “bản thể vô hình, sống tận tầng sâu của ý thức”. Với đặc tính song sinh trong chính nó, rắn cũng được ví như bản thể của các vị thần khởi nguyên trong biểu hiện ban đầu của mình, và đó luôn là những con rắn vũ trụ. Điều này được 1. Jean Chevalier & alain Gheerbrant (1997), từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Nxb đà nẵng tr 762 Giải mã hiện tượng thờ rắn/ biểu tượng rắn TRONG HỆ THỐNG ĐIỆN THỜ MẪU Ở VIỆT NAM
67 cho rằng Rắn là “biểu thị của một phức cảm có tính mẫu gốc”2 từ đây mà có nhiều tộc người quan niệm rắn gắn với ý tưởng về sự sống. Trong tiếng Ả rập rắn được gọi là el hayyah, còn cuộc sống là El hayat (Gues 159) . Khái niệm này cũng bắt nguồn từ thuật ngữ El Hay là cách gọi thượng đế của họ với nghĩa người mang lại sự sống . Trong hầu hết các truyền thuyết về sự hình thành của vũ trụ trước khi bị tôn giáo của trí tuệ truất phế thì thần rắn chính là vị thần đầu tiên. Từ khía cạnh này mà trong hầu hết các nền văn hóa thế giới, rắn đều được coi là “biểu tượng kép của linh hồn và nhục dục” , là “ mẫu gốc quan trọng của nhất của tâm hồn con người” ( Bachelard, 212). Trong mật tông rắn bản nguyên được gọi là Kundalini, mô tả về trạng thái của nó Durs viết về nó như sau: “cuộn khúc ở chân cột sống, trên luân xa trong trạng thái ngủ, nó dùng miệng mà ngậm bít đầu dương vật lại khi bị đánh thức sẽ có trạng thái rít lên và cứng người lại và liên tiếp leo lên các luân xa, khi đó dục năng dâng lên là sự sống tái hiện”. Trong truyền thuyết cổ đại Hy lạp cũng kể về cuộc kết hợp giữa Zeus và perséphone (trí tuệ & tâm hồn) thì Zeus cũng phải tự biến thành rắn để thực hiện cuộc kết duyên này. Chi tiết này cho thấy trí tuệ dù là rất thần thánh thì cũng vẫn phải công nhận sự có trước của cái tồn tại nguyên thủy. Bản năng mẫu gốc của Rắn còn được coi như là vị chúa tể của phép biện chứng sống, nó là vị tổ tiên huyền thoại, vị bán thần khai hóa và cũng là chúa tể của phụ nữ. Câu truyện về con rắn đến với bà mẹ của hoàng đế Auguste trong giấc mơ tại đền thờ Apollon đã cắt nghĩa về sự ra đời kỳ diệu của Scipion trưởng và Alexandre Đại đế. Thậm chí trong ngụy tác về sự ra đời của chúa Kito cũng có câu chuyên về một con rắn đã đến với một nữ đồng trinh Do Thái mà theo Frazer thì “có đủ cơ sở để tin rằng đó chính là Đức mẹ đồng trinh Maria”. Tính phổ cập của các truyền thuyết coi rắn là chúa tể của phụ nữ còn xuất hiện ở nhiều vùng trên thế giới và đó được coi là biểu tượng của sự phì nhiêu, sinh sản. Nhiều nhà dân tộc học như Éliade , Krappe, Bauman đã minh chứng về mối liên hệ phụ nữ - rắn với các cứ liệu về nét đặc thù của các xã hội mẫu hệ: Người Tchoke (awngola) đặt một con rắn bằng gỗ dưới giường cưới để đảm bảo khả năng thụ thai của của người phụ nữ; ở vùng Volta khi người phụ nữ đã mang thai họ được đưa vào những căn nhà trang trí đầy hình rắn, còn người Nourouma ở Gougoro thì tin rằng một người phụ nữ sẽ mang thai khi có con rắn bò vào lều. Ở Ấn độ những người phụ nữ muốn có con phải nhận một con rắn hổ mang làm con nuôi, người Tupi – guarani ( Braxin) có tục cầm con rắn quật 2. Jean Chevalier & alain Gheerbrant (1997), từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, tr 762 vào háng người phụ nữ vô sinh để họ có thể trở thành mắn đẻ 3. Trong kinh thánh con rắn đã xuất hiện với đầy đủ tố chất của bản nguyên và dục năng nó đã làm cho Eva thấy cây sự chết chính là cây của sự sống và thôi thúc Eva vứt bỏ sự e lệ trinh trắng để tham gia cuộc sống trần tục mà sản sinh ra loài người. Trong văn hóa Ấn độ có biểu tượng về rắn vũ trụ Ananta/ Naga, với tư cách là kẻ bảo vệ, và tiêu hao chu kì, Ananta thường xuất hiện với hình hài thân quấn vào cái gốc của trục thế gian, hoặc cõng, ôm lấy vật tạo thành hoặc tự ngậm lấy đuôi mình làm thành một vòng tròn khép kín nhằm ngăn chặn sự phân rã của nó. Ở tư thế này “rắn chính là biểu tượng của hiển lộ và tiêu hao chu kỳ và cũng là sự kết hợp của giới tính tự trong bản thân nó: tự thụ thai thường trực, chuyển vị bất tận từ chết sang sống”. Nói như Barchelard thì đó là “ biện chứng cụ thể của sự sống và sự chết, cái chết thoát ra từ sự sống và sự sống thoát ra từ cái chết”4 . Các nhà biểu tượng học cho rằng trong hình dạng tồn tại này thì con rắn giống vòng tròn, vừa gợi lên tính năng động của bánh xe chuyển vận vừa biểu thị của vòng hoàng đạo. Hình tượng rắn thần Naga cuộn khúc nâng đỡ đức phật lên khỏi nạn hồng thủy và phình ra thành cái lọng che cho đức phật đã trở thành mô típ kiến trúc phổ biến trong kiến trúc Phật giáo Nam Tông. Trong văn học cổ xưa, đặc biệt các truyền thuyết về các vị thần sơ khởi ở nhiều quốc gia Đông Nam Á, rắn còn được đề cập đến với tư cách của vị thần nước. Hình ảnh khi nó giận dữ thì trở thành Lé viathan của người do Thái cổ, khi uống nước nó tạo ra thủy triều, khi vùng vẫy nó làm nên dông bão (rồng đen, rồng trắng). Các danh xưng về sông của người Hy lạp đều mang tên hoặc có nguồn gốc tiền tố rắn: Ophis và Draco ở Hy lạp và Trung á; Hằng Hà (Ấn độ) và hình ảnh rồng có cánh ở Viễn đông . Trong văn hóa nông nghiệp ở viễn đông con rồng đã trở thành người cha huyền thoại của nhiều triều đại và các hoàng đế Trung Hoa đã thêu hình rồng trên cờ hiệu của mình để chứng tỏ nguồn gốc thần thánh của nền quân chủ. Thần thoại chim – rắn từng là cặp xuất hiện khá dầy trong các tín ngưỡng cổ xưa như một biểu tượng kép về ý nghĩa mây - nước. Như vậy, trong kho tàng văn hóa thế giới con rắn, rồi tiến thêm lên một bước nữa là rồng (thực là cũng là một biến thể của rắn) thì rắn đã trở thành một hệ biểu tượng: vừa là cội nguồn của sự sống bản nguyên, vừa là biểu tượng của quyền lực siêu trí tuệ. Vừa là thần bảo trợ cho các đấng tinh thần, vừa là chúa tể của phụ nữ và sự sinh sản. Trong con người nó có thể trú ngụ 3. Jean chevalier & Alain gheerbrant ( ) từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, tr 769 4. Jean chevalier & Alain Gheerbrant, tài liệu đã dẫn, tr 769
VĂN HÓA - GIÁO DỤC Culture - Education 68 ở tầng sâu nhất của ý thức nhưng cũng có thể vụt chuyển vận lên để làm thành quyền lực siêu nhiên (khi kudalini vươn dậy theo chiều dọc cột sống thì các luân xa mở ra, con người có thể đạt được những trạng thái siêu việt). Trong vũ trụ nó cư ngụ ở thẳm sâu của biển cả và chỉ xuất hiện khi cần phải làm những cuộc chuyển dời đổi thay mang tính sáng tạo. Tất cả những biểu tượng này của Rắn khiến cho nó mang một bề dày các tầng ý nghĩa và có quyền năng riêng so với nhiều loài bò sát khác. Văn hóa tâm linh của người Việt không nằm ngoài hệ quy chiếu đó. 3. Rắn trong văn hóa tâm linh Việt Nam Trong văn hóa Viêt Nam rắn, rồng đều xuất hiện và mang đầy đủ mọi ý nghĩa cả đơn và kép của nó. Với tư cách là vị chúa tể của dục năng và sinh sản, rắn thần xuất hiện với tên gọi Giao long và luôn luôn đi cùng với các câu chuyện về phụ nữ được giao long phủ, quấn để rồi sinh ra những bậc kì tài như: Hoàng tử Linh Lang dưới triều Lý5 ; Phùng Từ Nhan nằm chiêm bao thấy Thần Long quấn mình trên sông Lục Đầu, sau đó bà mang thai đẻ ra 5 người con, hai trong số đó thành tướng quân của Triệu Quang phục nay 5. Chuyện kể mẹ của Thần là cung nữ, một hôm tắm ở hồ thì bị một con rắn quấn chặt vào người, sau đó bà có mang sinh được người con trai trên mình có 28 vết hằn tựa vẩy rồng và trên ngực có bẩy chấm óng ánh như ngọc, vua đặt tên là Linh lang. ngài lớn lên khi có nạn nước đã cầm quân đánh giặc, cờ của ngài phất đến đâu giặc tan tới đó. Dẹp xong giặc ngài trở về mắc bệnh rồi hóa thành Giao Long chui xuống hồ biến mất. Vua phong thần Linh Lang đại vương, nay tại nơi đó còn đền thờ, hội vào 11/2. thờ ở đền Trương Hống, Trương Hát6 ; thậm chí thủy tổ của người Việt cũng là thuộc rắn (Lạc Long quân). Và nhiều vị anh hùng văn hóa khác của làng quê Việt Nam cũng có mô típ ra đời từ việc bà mẹ bị giao long, rắn lớn phủ mà sinh ra anh hùng. Trong tài liệu về các đương cảnh thành hoàng đang được thờ phụng ở các làng quê Việt của Nguyễn Duy Hinh cho biết khá nhiều nguồn gốc các thần đều liên quan đến rắn: Thần tích xã Trịnh xá (Kiến An – Hải phòng) thờ đương cảnh thành hoàng Nguyễn Hùng con ông Nguyễn Trạch và bà Trần Thị Trinh có công đánh giặc Lương Nguyên7(?) thời Lý Nam Đế, hóa xuống nước; Thần tích xã Lâm Hộ (Phúc Yên) thờ bài vị đương cảnh thành hoàng là ông Dương Quan con ông Dương Quế và bà Nguyễn Thị Trinh, bà mơ thấy rắn hoa sinh ra Dương Quan; Bản cảnh thành hoàng xã Thông Quyết (Bắc Ninh) cho biết, ông Nguyễn Trung và bà Hoàng Diệu, bà nhặt được ngoài suối hai quả trứng rắn đem về. Trứng vỡ bắn nước và người bà nên có mang sinh ra hai trứng nở ra hai con rắn, hai con luôn quẩn quanh bên bà. Một hôm bà đang dệt cửu, đánh rơi con thoi làm cụt đuôi một con rắn nên gọi là ông Cụt. Về sau hai rắn cáo biệt cha mẹ xuống nước. Dân làng ốm đau, súc vật chết. Thần ứng mộng cho biết hai con rắn là con của Long Vương bị đày xuống trần làm con nuôi, nay mãn hạn trở về, dân làng phải thờ; Thần thành hoàng xã Thọ Xương (Bắc Giang) là con ông Hoàng Chân và bà Hoàng Thị. Bà bắt được con rắn vàng, rắn quấn bà, mang thai sinh ra ông Minh có 6. Còn có tên khác là Đền thờ thánh Tam Giang 7. Nguyễn Duy Hinh (1996) Tín ngưỡng thanh hoàng VN, Nxb KHXH, tr 268.
69 một sừng rắn sau lưng. Giúp vua Lý đánh giặc… Mặc dù không có những truyền thuyết bay bổng và những cuộc sáng tạo hùng vĩ của các thần rắn như ở các nền văn hóa phương Tây, song ở văn hóa Việt Nam ngoài việc các vị thần có nguồn gốc từ rắn, thì chính bản thân rắn cũng được thờ cúng khá phổ biến. Rắn thần có mào từng là hình tượng phổ biến trong văn hóa Mường – Việt. Nhiều ngôi đình, miếu cổ vẫn còn lưu giữ những cốt truyện về lai lịch của vị thần thành hoàng làng vốn dĩ là những cặp rắn có mào từng làm khuynh đảo dân làng, hoặc đầu thai thành người phò trợ vua dẹp giặc ( thần Linh lang) để rồi cuối cùng được thờ tự làm thần thành hoàng làng của người Việt. Trở lại điện thần thờ mẫu khắp từ Bắc chí Nam, từ ngôi điện to lớn đàng hoàng, tới ngôi điện nhỏ bé khuất nẻo đều luôn có đôi rắn hiện diện trên xà ngang và chầu về thần tượng Mẫu. Khi thì là cặp rắn xanh – đỏ; khi thì là cặp rắn trắng – vàng; khi thì là cặp rắn cuộn khúc nhô đầu lên (đôi rắn ở điện mẫu đền mẫu Lạng Sơn), tất cả đều trong tư thế sẵn sàng nhả ra, phun ra những năng lượng khổng lồ điều này không hề ngẫu nhiên mà thực sự chính là một mật mã văn hóa, một sự lý giải về bản chất nguyên khởi của Mẫu thần. Câu chuyện về Mẫu Liễu lần thứ ba xuống trần mở quán bán hàng ở khu vực đèo ngang và vụt hóa thành rắn phun phì phì khi bị thái tử con vua Lê chòng ghẹo khiến Thái tư hồn siêu phách lạc, khi trở về kinh thì hóa dại đã phần nào hé lộ bản chất khởi nguyên của Mẫu (là rắn). Chỉ khác Zeus hóa rắn để thực hành việc giao hoan với Perséphone mà tái sinh thì Mẫu lại trở về bản nguyên để từ bỏ cuộc kết hợp với nền quân chủ cuối mùa. Điều này cho thấy hình tượng Mẫu mà ta vẫn gặp với ba ngôi hay bốn ngôi, thậm chí với một ngôi thần chủ thực ra cũng chỉ là những biểu hiện trí tuệ của sức mạnh khởi nguyên nhưng vẫn mang nguyên lõi của dục tính đó là hình tượng phụ nữ. Câu chuyện về tam sinh tam hóa của Mẫu cùng với nguồn gốc từ thượng giới xuống đã phản ánh đầy đủ tính chất bất diệt và khả năng chuyển vận của vòng tròn mà con rắn tạo ra (tự vận chuyển trong vòng sinh hóa). Với tính chất này đã giải thích vì sao Mẫu có quyền năng tối thượng. Quan sát các tín đồ về lễ mẫu gồm đủ mọi thành phần nhưng tựu chung lại các mục đích chính vẫn là cầu tài cầu lộc; cầu con và chữa bệnh, nhưng một khía cạnh âm thầm khác ít được các căn đồng bộc lộ và các nhà nghiên cứu chú ý đó là cầu cho có được nguồn năng lượng mẫu ban cho để con người có thể vươn tới bản thể thánh thần. Đa số các thanh đồng khi lên đồng đều tin là mình sẽ nhận được năng lượng, sinh khí của thánh thần giáng (đi vào) cơ thể họ, do đó khi trên chiếu hầu họ không chỉ vào vai thần, thánh mà còn tin rằng họ chính là thần, thánh8 . Các dư âm về khả năng xuất hiện tâm linh của các Đồng khi thực hành lên đồng trong quá khứ (có thể thần giao cách cảm, tiên tri, hậu tri, nhận được sóng âm…) được khoa học cận tâm lý giải thích là họ rơi vào trạng thái hư giác mà có thể nhìn thấy, nghe thấy những âm thanh, hình ảnh mà người khác không nghe hay nhìn thấy…thì chính là trạng thái siêu việt ( thần nhập theo quan điểm dân gian). Sự giải thích về duy chỉ nguồn gốc thiên thần của Mẫu đến đây không còn đủ sức thuyết phục nữa mà ý nghĩa về biểu tượng Mẫu còn là bản nguyên của sự sống là nguồn dục năng có thể được gọi dậy và vượt trội thành trí tuệ siêu việt mới là đáp án khả dĩ hợp lý. Chỉ như vậy thì biểu tượng kép mẫu – rắn không chỉ là sự phì nhiêu, sung túc và may mắn trong sinh sản cùng khả năng chữa bệnh vốn dĩ là đặc tính của con rắn mà còn là hai mặt của một bản thể thống nhất kỳ diệu: dục năng và trí tuệ thánh thần. Như vậy, rắn cặp xuất hiện ở điện thần thờ Mẫu không phải là với tư cách một vị thần đơn lẻ, hay đại diện cho tư duy thần của miền rừng núi tích hợp vào như nhiều cách giải thích hiện nay mà rắn ở đây chính là sự biểu hiện của khía cạnh thứ hai, khía cạnh cốt lõi và là bản thể, bản nguyên sơ khởi, bản nguyên gốc của vị thần được thờ. Là chúa tể của phụ nữ, và biểu tượng của sự sinh sản, cũng là biểu tượng cho sự vượt dậy của bản năng được kích thích và phát triển thành trí tuệ siêu việt, một lần nữa bản thể của rắn vũ trụ lại được khẳng định và chuyển hóa thành những mẫu thần dung dị trong đời sống tâm linh Việt Nam. TS. NGUYỄN NGỌC MAI Viện nghiên cứu Tôn giáo, Viện Hàn lâm KHXHVN Tài liệu tham khảo: 1.Nguyễn Đổng Chi (1976), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Nxb KHXH 2.Ngô Văn Doanh (2009), Tháp bà Thiên yana hành trình của một nữ thần, Nxb trẻ 3. Jean chevalier & Alain gheerbrant (1997 ), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Nxb Đà Nẵng, trường viết văn Nguyễn Du. 4. Đặng Văn Lung (1991), Tam tòa thánh Mẫu, Nxb VHDT 5. Nguyễn Ngọc Mai (2017) , Nghi lễ lên đồng lịch sử và giá trị, Nxb Hà Nội. 6. Ngô Đức Thịnh (cb 2002), Đạo mẫu ở Việt Nam, Nxb VHTT 7. Truyền thuyết các vị thần Hà Nội (1994), Nxb Văn hóa Thông tin 8. Xem Nguyễn Ngọc Mai (2017) Nghi lễ lên đồng lịch sử và giá trị, Nxb Hà Nội, tr 160 - 161
VĂN HÓA - GIÁO DỤC Culture - Education 70 PHONG THỦY VƯỢNG KHÍ SINH TÀI NĂM GIÁP THÌN (2024) 1/ Tam Nguyên Cửu Vận là gì ? Tam Nguyên Cửu Vận là sự vận chuyển các hành tinh trong hệ Mặt Trời theo một chu kỳ nhất định, kéo dài 180 năm. Chu kỳ chúng ta đang sống bắt đầu từ năm 1864 kéo đến 2043 là kết thúc và sau đó lại chuyển sang một chu kỳ mới. Người xưa chia 180 năm làm 3 Nguyên, mồi Nguyên kéo dài 60 năm (60 X 3 =180). Mỗi Nguyên lại chia làm 3 Vận, mỗi Vận kéo dài 20 năm. Vì thế mới gọi là Tam Nguyên Cửu Vận. Thượng Nguyên ( từ 1864 đến 1923 ), gồm: Vận 1 : từ 1864 đến 1883, do sao Nhất Bạch làm chủ . Vận 2 : từ 1884 đến 1903 , do sao Nhị Hắc làm chủ Vận 3 : từ 1904 đến 1923 , do sao Tam Bích làm chủ. Trung Nguyên ( từ 1924 đến 1983 ), gồm: Vận 4 : từ 1924 đến 1943, do sao Tứ Lục làm chủ Vận 5 : từ 1944 đến 1963, do sao Ngũ Hoàng làm chủ. Vận 6 : từ 1964 đến 1983 , do sao Lục Bạch làm chủ. Hạ Nguyên ( từ 1984 đến 2043 ) gồm: Vận 7 : từ 1984 đến 2003 , do sao Thất Xích làm chủ Vận 8 : từ 2004 đến 2023 , do sao Bát Bạch làm chủ. Vận 9 : từ 2024 đến 2043 , do sao CửuTử làmchủ 2/ Vân 9 (từ 2024 đến 2043 ), sao Cửu Tử (hành Hỏa ) làm chủ có đắc điểm gì ? a) Đăc tính của sao Cửu Tử: Ngũ hành thuộc hành Hỏa, mầu sắc Đỏ, phương vị chính Nam, số 9. Cửu Tử là cát tinh, khi được vận thì phát phúc rất nhanh, công danh, tài lộc, học vấn, khoa cử sinh con đẻ cái đều may mắn. Khi thất vận thì Cửu Tử gây nhiều trở ngại về công danh, tiền bạc và sức khỏe cho con người. b) Ảnh hưởng của sao Cửu Tử tới đời sống xã hội trong 20 năm tới như thế nào: Những ảnh hưởng tích cưc: Dự báo những ngành nghề liên qua đến Hỏa: Cửu Tử là sao thiên về học hành khoa cử có do đó ngành giáo dục sẽ có những tiến bộ đáng kể về chất lượng, đăc biệt là những phát minh khoa học sẽ thúc đẩy mạnh mẽ cuộc cách mạng công nghệ và 4.0 Các nghành công nghệ điện tử viễn thông, tự động hóa sẽ là những ngành nghề rất hót trong thời gian tới. Những nghề game, tương tác ảo, giao dịch kinh doanh trên mạng intenet cũng triển mạnh mẽ. Cửu Tử thuộc hành Hỏa, Hỏa sinh Thổ, nên bất động sản vẫn có cơ hội phát triển, nhưng Hỏa lại thuộc về cái đẹp, do đó việc xây dựng những căn hộ cao cấp mới phù hợp thời thượng. Hỏa có tác dụng thúc đẩy ngành ẩm thực phát triển mạnh mẽ. Hỏa đại diện cho cái đẹp, nên các ngành nghề thẩm mỹ, thời trang, công nghệ làm đẹp cho con người sẽ lên ngôi trong Vận 9. Giao thông vận tải đường bộ, đường hàng không sẽ có bước tiến nhảy vọt. Cửu Tử là sao Đào hoa nên đời sống tình cảm của con người sẽ phát triển mạnh mẽ, đa dạng. Ngành công nghệ tình dục cũng phát riển không ngừng. Hỏa đại diện cho những đời sống tình cảm, yếu tố tinh thần, tín ngưỡng, do đó những ngành Tâm lý học, Tôn giáo, Tâm linh, Tử vi, Phong thủy cũng sẽ phát triển mạnh mẽ. Đặc tính của Hỏa là lan tỏa, tản ra nên tình trạng di cư, di dân sẽ rất phổ biến. Măt tiêu cưc : Hỏa tượng trưng cho quyền lực, dẫn tới những cuộc chiến tranh trên phạm vi thế giới đến việc tranh chấp địa vị trong nội bộ từng quốc gia, tất cả đều thể hiện mục đích muốn khẳng định quyền lực của một một quốc gia hay một cá nhân nào đó. Những cuộc chiến tranh ác liệt giữa Nga và Ucren, Isaraen và Hamas xẩy ra vào những năm cuối Vận 8, đây là giai đoạn giao thoa giữa hai Vận 8 và Vận 9 nên đã thấy xuất hiện cấc dấu hiệu nói trên. Hỏa hoạn là mối tai họa to lớn đe dọa đời sống con người trong Vận 9, ngay từ những năm cuối Vận 8, đã thấy hỏa hoạn ở nhiều nơi, do đó mọi người, mọi gia đình phải luôn cảnh giác đề phòng hỏa hoạn phát sinh. PHONG THỦY PHI TINH NĂM GIÁP THÌN ( 2024 ) Năm Giáp Thìn ( 2024) các Phi Tỉnh được chuyển đến các vị trí sau: Hướng chính Bắc: từ337,5o đến22,5o: sao Bát Bạch ( Cát tinh ) Hướng Đông Bắc: từ 22,5o đến 67,5o: sao Lục Bạch ( Cát tinh ) Hướng chính Đông: từ 67,5o đến 112,5o : sao Nhất Bạch ( Cát tinh) Hướng Đông Nam:từ ll2,5o đến 157,5o: sao Nhị Hắc (Hung tinh) Hướng chính Nam: từ 157,5o đến 202,5o: sao Thất Xích (Hung tinh) Hướng Tây Nam: từ 202,5o
71 đến247,5o : sao Cửu Tử ( Cát Tinh ) Hướng chính Tây: từ 247,5o đến 292,5o: sao Ngũ Hoàng ( Hung tinh) Hướng Tây Bắc: từ292,5o đến 337,5o: sao Tứ Lục ( Cát tinh ) Trung Cung: Giữa nhà sao Tam Bích ( Hung tinh ) Đặc điểm các Phi Tinh : Nhất Bạch: (số 1) Ngũ hành thuộc Thủy, khi chuyển đến vị trí đắc địa sinh vượng sẽ giúp cho con người phát triển về các mặt sự nghiệp, học vấn, thi cử đỗ đạt, tài lộc dồi dào, tình duyên phát triển. Nhị Hắc (số 2) Ngũ hành thuộc Thổ, là Hung tinh chuyên gieo rắc bệnh tật, tai họa, khi nó xuất hiện ở một vị trí nào đó trong căn nhà, dù là phòng ngủ, phòng làm việc, phòng ăn. Tam Bích (số 3) Ngũ hành thuộc Mộc, là Hung tinh chuyên gây chuyện thị phi, đối đầu, tranh chấp, kiện cáo, bệnh tật, nhất là những bệnh về gan, mật. Tứ Luc (số 4) Ngũ hành thuộc Mộc, chủ về thi cử đỗ đạt, đem lại vận may về khoa cử, học tập, nghiên cứu khoa học, mở rộng kiến thức. Ngũ Hoảng (số 5 ) Ngũ hành thuộc Thổ, là Đại hung tinh, gây nhiều tai họa về tiền bạc, sự nghiệp, sức khỏe cho con người. Lục Bạch (số 6) Ngũ hành thuộc Kim, là Cát tinh đem lại vận may về tiền bạc, sự chuyển dịch, thăng tiến. Thất Xích (số 7) Ngũ hành thuộc Kim, là Hung tinh thường gây tai họa cho con người về bệnh tật, mổ xẻ, tranh chấp, đối đầu, tai nạn nặng nề và nhất là Hỏa hoạn. Bát Bạch ( số 8 ) Ngũ hành thuộc Thổ, là Cát tinh, đem lại danh lợi, khoa cử và tiền bạc cho con người, nhưng sang Vận 9, ẢNH HƯỞNG VÀ CÁCH HÓA GIẢI HUNG TINH, KÍCH HOẠT CÁT TINH Ở CÁC PHƯƠNG VỊ TRONG NĂM Hướng Chính Bắc ( Khảm ) Năm Giáp Thìn ( 2024 ) sao Bát Bạch ( số 8 hành Thổ ) bay đến phương Bắc. Sao Bát Bạch vốn là Cát tinh của Vận 8, nhưng sang Vận 9 đã trở nên thoái vận. Tuy vậy nếu bố trí phong thủy đúng cách thì Bát Bạch vẫn đem lại may mắn về nhiều mặt: tài vận, kinh tế phát triển, doanh nhân thành đạt, khoa cử găp may, hôn nhân thành tựu Các nghành nghệ thuật, mỹ thuật phát triển. Giái pháp: Hãy đặt những vật phẩm phong thủy thuộc hành Thổ ( mầu Vàng ) tại phương vị phía Bắc của ngôi nhà, của Văn phòng, như Thạch anh mầu Vàng, Hoa Vàng, cây rung tiền .Vàng, chuỗi đồng tiền Lục Đế, tỳ hưu mầu Vàng. Hướng Đông Bắc: ( cẩn ) Năm nay sao Lục Bạch ( số 6, hành Kim ) bay vào phương Đông Bắc. Lục Bạch là Cát tinh chủ về chức vụ thăng tiến, tài lộc dồi dào, ngành tài chinh, ngân hàng trong khu vụ phát triển mạnh mẽ. Lục Bạch cũng chủ về đi xa, thuyên chuyển, di cư, du lịch. Giải pháp: Đông Bắc thuộc hành Thổ, rất thuận lời cho Lục Bạch hành Kim (Thổ sinh Kim). Hãy đặt ở vị trí Đông Bắc trong nhà, trong văn
Xuân Giáp Thìn VĂN HÓA - GIÁO DỤC Culture - Education 72 phòng những vật phẩm phong thủy mầu Vàng hoặc mầu Trắng để phát huy mặt tích cực của Cát tinh Lục Bạch, như thạch anh Vàng, Trắng, Hoa vàng, Trắng, tỳ hưu Vàng, trắng. Hướng chính Đông (Chấn) Năm nay sao Nhất Bạch ( số 1, hành Thủy ) Nhất Bạch là Cát tinh, chủ về vận đào hoa, tình duyên phát triển, về danh lợi, sự thăng tiến, thi cử đỗ đạt, xuất ngoại, tài lộc dồi dào. Giải pháp: Hãy đặt ở vị trí Đông của ngôi nhà, của văn phòng những vật phẩm phong thủy thuộc hành Thủy như Thạch anh Đen, đài nước phong thủy, bình nước, tranh về sông, hồ, biển cả. Hướng Đông Nam (Tốn): sao Nhị Hắc bệnh tinh ( số 2, hành Thổ ) sẽ quản phương vị Đông Nam. Nhị Hắc là Hung tinh chuyên gieo rắc bệnh tật, ở khu vực Đông Nam dễ bùng phát dịch bệnh. Trong Ngũ Hành, hành Thổ liên quan đến những bệnh tỳ vị dạ dầy, thận, đường sinh dục, mỏi nhức cơ bắp, tai nạn, mổ xẻ. Mặt khác Nhị Hắc dễ gây hỏa hoạn. Phòng ngủ, phòng ăn, phòng làm việc nằm ở vị trí Đông Nam là nơi chịu ảnh hưởng của ổ năng lượng xấu, dễ ảnh hưởng tới sức khỏe con người. Hóa giải: Tránh động thổ ở khu vực này. Đặt những vật phẩm phong thủy thuộc hành Kim ( mầu Trắng ) để Thổ phải sinh cho Kim thì Thổ sẽ yếu đi, do đó hạn chế được tác hại của Nhị Hắc, như Thạch anh Trắng, chuỗi đồng tiền Lục Đế, Tỳ hưu thạch anh Trắng. Mặt khác cần tránh dùng mầu Đỏ, mầu Vàng ở khu vực này. Hướng chính Nam ( Ly ) : Năm nay sao Thất Xích ( số 7, hành Kim )bay vào phương vị chính Nam. Thất Xích là Hung tinh đem đến phương Nam một vùng năng lượng tiêu cực, suy thoái, làm cho quyền lực suy vi, lại chủ về trộm cướp, tranh chấp đối đầu, tai nạn, bệnh tật đường hô hấp, mổ xẻ, đồng thòi dễ gây ra hỏa hoạn. Hóa giải: Để giảm bớt tác hại của Thất Xích, hãy đăt ợ vị trí Nam của ngôi nhà, của văn phòng những vật, phẩm phong thủy hành Thủy như Thạch anh Đen, Xanh dương, bình nước, đài nước phong thủy. Hạn chế đặt những vật dụng kim loại ở phương Nam như dao, kéo và các đồ dùng kim loại khác. Hướng Tây Nam (Khôn )Năm Giáp Thìn sao Cửu Tử (số 9,hành Hỏa) bay vào phương vị Tây Nam. Sao Cửu Tử chủ về hỷ khánh, may mắn, gia đình vui vẻ, tình duyên phát triển, sinh con, thăng tiến. Giải pháp: Để tăng cường Hỏa vận, hãy dùng những vật phẩm phong thủy mầu Đỏ như Thạch anh Đỏ, hoa Đỏ, Thảm Đỏ và tivi đặt ở khu vực này cũng rất tốt. Hướng chính Tây ( Đoài) Năm nay sao Ngũ Hoàng ( số 5, hành Thổ ) bay vào hướng chính Tây. Ngũ Hoàng là Đại hung tinh chuyên gây tổn thất về tiền bạc, phá sản, thất bại, lại dễ gây chuyện thị phi đối đầu, kiện cáo, đồng thời ảnh hưởng xấu tới sức khỏe, mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn nặng nề. Giải pháp: Tại phương vị chính Tây, tránh động thổ khởi công xây dựng hoặc sửa chữa nhà cửa, mặt khác cũng tránh đặt những vật phẩm mầu Đỏ, mầu Vàng tại khu vực này. Hãy tăng cường những vật phẩm phong thủy hành Kim (mầu Trắng) như Thạch manh Trắng, chuỗi đồng tiền Lục Đế, vật liệu Inox trắng , chuông gió 6 ống mầu Trắng v.v... Hướng Tây Bắc (Càn): Năm nay sao Tứ Lục ( số 4, hành Mộc ) chuyển đến phương vị Tây Bắc. Tứ Lục là Cát tinh chủ về học hành khoa cử, thúc đấy việc mở rộng tri thức, nghiên cứu sáng tạo, nâng cao địa vị xã hội cho các nhà khoa học, nhà văn, các nghệ sỹ, nhà thiết kế.v.v.. Giải pháp: Tại phương vị này cần đặt những vật phẩm phong thủy hành Mộc (mầu Xanh lá cây ) như Thạch anh mấu Xanh lá cây, cây xanh , thảm Xanh lá cây và những vật phẩm phong thủy thuộc hành Thủy như Thạch anh Đen, đài nước phong thủy để Kim ( Tây Bắc ) sinh cho Thủy và cuối cùng Thủy sinh cho Mộc Tứ Lục. Trung Cung (Giữa nhà, trung tâm môt quốc gia, mỏt đô thi), sao Tam Bích, số 3, hành Mộc ). Năm Giáp Thìn sao Tam Bích thống trị vùng Trung Cung. Tam Bích là Hung tinh chuyên gây chuyện tranh chấp, bất hòa, đối đầu, thị phi , kiện cáo, lại dễ gây bệnh về gan mật, tai nạn giao thông. Hóa giải: Hãy bố trí những vật phẩm phong thủy thuộc hành Hỏa tại khu vực này để hạn chế tác hại của Tâm Bích, như Thạch anh Đỏ, Tím, Hồng, thảm Đỏ, hoa Đỏ, đèn lồng Đỏ. PHỤ LỤC Giới thiệu những vật phẩm phong thủy dễ tìm Thạch anh: Thạch anh là một loại đá quý có năng lượng cực manh và có nhiều mầu sắc phù họp với Ngũ hành: Thạch anh mầu Trắng thuộc hành Kim Thạch anh mầu Vàng, Nâu thuộc hành Thổ - Thạch anh mầu Đỏ, Hồng, Tím thuộc hành Hỏa - Thạch anh mầu Xanh lá cây, Xanh rêu, Xanh ngọc thuộc hành Mộc - Thạch anh mầu Đen thuộc hành Thủy Cây cảnh, hoa Cây kim tiền phát, Trúc quân tử, Lộc vừng, Thông, Tùng bách... và những hình ảnh về cây rừng, tre, trúc., thuộc hành Mộc Những loại hoa có mầu Đỏ, Hồng, Tím thuộc hành Hỏa Hoa vàng thuộc hành Thổ, hoa Trắng thuộc hành Kim. Đài nước phong thủy và những vật phẩm có liên quan đến nước: Đài nước phong thủy, hồ nước, bể cá, tranh sông, hồ, biển, thác và những vật phẩm mầu Đen đều thuộc hành Thủy. Những đồ phong thủy khác: Tranh ảnh, ánh sáng đèn, chuông gió, tỳ hưu, kỳ lân, cóc, voi đá, rùa vàng, đen tùy theo mầu sắc...Đỏ, Hồng, Tím (Hỏa, Xanh lá cây, Xanh rêu, Xanh ngọc ( Mộc ), mầu Trắng, Kim loại, nhũ bạc, chuông gió ( Kim ), Vàng, Nâu, Cánh dán ( Thổ ), .Đen, Ghi, xanh nước biển ( Thủy ) .V.V.. là những vật phẩm phong thủy có thể dùng trong việc hóa giải Hung tnh và kích hoạt Cát tinh. HOÀNG THIÊN LƯƠNG
* Năm Mậu Thìn (248): Khởi nghĩa Bà Triệu Bà Triệu tức Triệu Thị Trinh (quê ở Triệu Sơn, Thanh Hóa) cùng với anh là Triệu Quốc Đạt đã lãnh đạo nhân dân quận Cửu Chân nổi dậy chống ách đô hộ của quân Ngô. Bà có câu nói nổi tiếng: "Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển khơi, đánh đuổi quân Ngô giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tỳ thiếp người". * Năm Mậu Thìn (548): Triệu Quang Phục xưng vương Vua Lý Nam Đế mất, Triệu Quang Phục lên thay, xưng hiệu là Triệu Việt Vương. Triệu Quang Phục tiếp tục cuộc kháng chiến chống quân Lương. Đến năm Canh Ngọ (550), Triệu Việt Vương từ căn cứ Dạ Trạch xuất quân giao chiến, giết được tướng giặc là Dương Sàn, thu lại kinh đô, giành lại nền độc lập nước nhà. * Năm Mậu Thìn (968): Nước Đại Cồ Việt ra đời Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, xưng là Vạn Thắng Vương. Năm Mậu Thìn (968), ông lên ngôi hoàng đế, lấy quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư (Ninh Bình). * Năm Bính Thìn (1076): Kháng chiến chống quân Tống, ra đời bản "Tuyên ngôn độc lập" lần thứ nhất Nhà Tống đem quân sang xâm lược nước ta. Dưới sự chỉ huy đầy mưu trí của Lý Thường Kiệt, quân dân ta đã chiến đấu vô cùng quả cảm, anh dũng. Trong lúc gam go nhất của cuộc kháng chiến, Lý Thường Kiệt đã làm một bài thơ cổ vũ tinh thần quyết chiến quyết thắng của quân và dân ta. Bài thơ đã đi vào lịch sử dân tộc ta như một bản Tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất: "Nam quốc sơn hà Nam đế cư/Tiệt nhiên định phận tại thiên thư/Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm/Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư". * Năm Canh Thìn (1940): Khởi nghĩa Bắc Sơn và Nam Kỳ Nhận thấy sự tan rã của chính quyền thực dân Pháp sau khi phát xít Nhật nhảy vào Đông Dương, Đảng bộ Bắc Sơn (Lạng Sơn) đã phát động quần chúng nổi dậy cướp chính quyền, tấn công đồn bốt và các đơn vị lính Pháp đang rút chạy, cướp vũ khí, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. 20 giờ ngày 27/9/1940, hơn 600 quân khởi nghĩa đã tấn công đồn Mỏ Nhài (châu lỵ Bắc Sơn). Mặc dù cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn thất bại nhưng đã để lại những bài học quý về khởi nghĩa vũ trang, xây dựng chính quyền; đặt nền móng cho việc xây dựng căn cứ địa cách mạng với những lực lượng vũ trang đầu tiên mà sau này phát triển thành Việt Nam Cứu quốc quân. Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra đêm 22 rạng ngày 23/11/1940. Khởi nghĩa Nam Kỳ đã đi vào lịch sử với nhiều địa danh, những tên tuổi anh hùng và lần đầu tiên xuất hiện cờ đỏ sao vàng năm cánh (trước trụ sở của Ban khởi nghĩa tỉnh Mỹ Tho và một số tỉnh khác). Đây cũng là lần đầu tiên trong tài liệu truyền đơn xuất hiện tên gọi "Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa". * Năm Nhâm Thìn (1952): Chiến dịch Tây Bắc thắng lợi Chiến dịch Tây Bắc diễn ra từ ngày 14/10 đến 10/12/1952. Kết quả toàn chiến dịch, quân ta loại khỏi vòng chiến đấu 13.800 tên địch. Chiến thắng này đã giải phóng đồng bào Tây Bắc khỏi ách thống trị của thực dân Pháp, giải phóng một khu vực đất đai rộng lớn, một vùng chiến lược quan trọng... * Năm Giáp Thìn (1964): Trận đầu đánh thắng Không quân Mỹ Ngày 5/8/1964, Tổng thống Mỹ Johnson đã dựng lên "sự kiện vịnh Bắc Bộ", trực tiếp ra lệnh cho máy bay Mỹ bắn phá nhiều đợt xuống vùng phụ cận Vinh - Bến Thủy (Nghệ An), cửa Lạch Trường (Thanh Hóa) và cửa sông Gianh (Quảng Bình). Quân và dân ta đã anh dũng chiến đấu, bắn rơi 8 máy bay Mỹ, bắt sống 1 phi công. Từ đó, ngày 5/8 trở thành Ngày truyền thống của Hải quân nhân dân Việt Nam. * Năm Bính Thìn (1976): Tổng tuyển cử, bầu Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất Từ ngày 15 đến ngày 21/11/1975, tại Sài Gòn - Gia Định đã diễn ra Hội nghị Hiệp thương chính trị bàn vấn đề thống nhất Việt Nam về mặt nhà nước. Hội nghị đã quyết định Tổng tuyển cử, bầu Quốc hội chung trong cả nước. Ngày 25/4/1976, Tổng tuyển cử, bầu Quốc hội nước Việt Nam thống nhất đã được tiến hành. Từ ngày 24/6 đến 3/7/1976, Quốc hội nước Việt Nam thống nhất họp tại Thủ đô Hà Nội. TUẤN MINH (Tổng hợp) Rồng là con vật huyền thoại, thiêng liêng và gần gũi trong văn hóa truyền thống. Đối với người Việt Nam, năm Thìn (năm rồng) ghi dấu nhiều sự kiện đáng nhớ trong lịch sử dân tộc. trong lịch sử Những năm Thìn đáng nhớ 73
Thăm viếng mộ tổ tiên Đây là một phong tục phổ biến của người Việt, thể hiện đạo hiếu, lòng kính trọng đối với đấng sinh thành và các bậc tổ tiên đã khuất. Chợ Tết Chợ Tết bao giờ cũng đông, vui, có không khí hơn những phiên chợ ngày thường trong năm. Người ta đi chợ Tết không chỉ để mua sắm mà còn để gặp gỡ, để tận hưởng cái không khí háo hức khi Tết đến. Chơi hoa Tết Miền Bắc và miền Trung thường chọn cành đào đỏ để cắm trên bàn thờ hoặc cây đào trang trí trong nhà, bởi theo quan niệm người Trung Quốc, đào có quyền lực trừ ma và mọi xấu xa, màu đỏ chứa đựng sinh khí mạnh, màu đào đỏ thắm là màu may mắn, như lời cầu nguyện và chúc phúc đầu xuân. Miền Nam lại hay dùng cành mai vàng. Màu vàng tượng trưng cho sự cao thượng vinh hiển cao sang, màu vàng còn tượng trưng cho vua chúa (thời phong kiến). Gói bánh chưng, bánh tét Bánh chưng là một phong tục có từ nền văn minh lúa nếp (không đơn giản là lúa nước). Lúa nếp chỉ tìm thấy dấu vết cổ xưa ở đồng bằng sông Hồng và gắn với câu chuyện bánh chưng, bánh giầy từ thời vua Hùng thứ 18 khi kén phò mã. Ngày nay bánh chưng bánh tét vẫn là phong tục thưởng thức ẩm thực Tết. Bày mâm ngũ quả Mâm ngũ quả là mâm quả gồm 5 loại quả khác nhau đặt trên bàn thờ tổ tiên là phong tục không thể thiếu trong ngày Tết của người Việt để cầu mong một năm mới bình an, may mắn, hạnh phúc, an PHONG TỤC đón Xuân ăn Tết của người Việt Tết Nguyên Đán của người Việt là dịp con cháu sum vầy, đoàn tụ bên gia đình thân yêu của mình Về ý nghĩa nhân sinh của Tết Nguyên đán, đó là Tết của gia đình, Tết của mọi nhà. Tết Nguyên đán là lễ hội truyền thống mang tính toàn dân. Tết Nguyên Đán lưu lại trong tâm khảm người Việt nhiều phong tục, tập quán, văn hóa phong phú có ý nghĩa sâu sắc nhằm cầu mong một năm mới an lành, may mắn, an khang, thịnh vượng. khang, phú quý Dựng cây nêu ngày Tết Cây nêu là một cây tre cao khoảng 5 - 6 mét. Ở ngọn thường treo nhiều thứ (tùy theo từng điạ phương) như vàng mã, bầu rượu bện bằng rơm, hình cá chép bằng giấy (để táo quân dùng làm phương tiện về trời), đôi khi người ta còn treo lủng lẳng những chiếc khánh nhỏ bằng đất nung, mỗi khi gió thổi, những khánh đất va chạm nhau tạo thành những tiếng kêu leng keng nghe rất vui tai. Người xưa tin rằng những vật treo ở cây nêu, cộng thêm những tiếng động của những khánh đất, là để báo hiệu cho ma quỷ biết rằng nơi đây là nhà có chủ, không được tới quấy nhiễu.Vào buổi tối, nhiều nhà treo một chiếc đèn lồng ở cây nêu để tổ tiên biết đường về nhà ăn Tết với con cháu. Vào đêm trừ tịch còn VĂN HÓA - GIÁO DỤC Culture - Education 74
cho đốt pháo ở cây nêu để mừng năm mới tới, xua đuổi ma quỷ hoặc những điều không may. Cây nêu thường được dựng vào ngày 23 tháng chạp, là ngày Táo quân về trời đến hết ngày mùng bảy thì cây nêu được hạ xuống. Cúng ông Táo Ông Táo hay còn gọi là Thần Bếp, có trách nhiệm theo dõi mọi việc xảy ra trong gia đình rồi trình báo cho Trời. Năm nào cũng vậy, cứ vào ngày 23 tháng Chạp, nhà nào cũng thu dọn nhà cửa, bếp sạch sẽ rồi làm lễ cúng tiễn ông Táo lên trời, nhờ ông báo cáo những điều tốt đẹp để một năm mới bình an và may mắn. Theo lệ, lễ cúng ông Táo được đặt trong bếp và phải có cá chép vì tục truyền rằng ông Táo cưỡi cá chép để lên trời. Lễ cúng Tổ tiên Đây là lễ mời ông bà về ăn Tết với con cháu. Chiều ngày 30 tháng Chạp, trên bàn thờ tổ tiên được bày 1 mâm cỗ bao gồm trái cây và thức ăn. Người gia trưởng thắp hương dâng lên bàn thờ, cầu xin tổ tiên chứng giám và phù hộ cho gia tộc được nhiều phước lành trong năm mới. Cúng giao thừa Cúng giao thừa thường phải làm hai lễ, một lễ cúng trong nhà và một lễ cúng ngoài trời. Sở dĩ người Việt Nam làm lễ cúng giao thừa vì niềm tin rằng: Một năm bắt đầu, ắt phải có kết thúc. Ý nghĩa của buổi lễ cũng là: bỏ hết đi những ân oán năm cũ, nghinh đón năm mới đến với tài lộc và những điều tốt đẹp. Hái lộc Hái lộc đầu xuân là nét đẹp truyền thống trong năm mới của người Việt. Hái lộc thường được thực hiện vào đêm giao thừa hoặc sáng sớm mùng 1 Tết để cầu may mắn, rước lộc vào nhà. Xông đất đầu năm Nguyên đán có nghĩa là buổi sáng đầu tiên của năm, lúc mọi thứ đều được bắt đầu, mới mẻ tinh khôi. Chính vì vậy mà sau thời điểm giao thừa lúc 12 giờ đêm cuối năm, người khách đầu tiên đến thăm gia chủ trong năm mới là người “xông đất”, là sứ giả do sự may mắn đưa đến. Theo quan niệm dân gian, người xông đất có ảnh hưởng quan trọng đến hậu vận của cả nhà trong năm mới Chúc Tết Sáng mồng một Tết còn gọi là ngày Chính đán, con cháu tụ họp ở nhà tộc trưởng để lễ Tổ Tiên và chúc tết ông bà, các bậc huynh trưởng. Theo quan niệm, cứ năm mới tới, mỗi người thêm một tuổi, bởi vậy ngày mùng 1 Tết là ngày con cháu “chúc thọ” ông bà và các bậc cao niên (ngày xưa, các cụ thường không nhớ rõ ngày tháng sinh nên chỉ biết Tết đến là thêm 1 tuổi). Lì xì Lì xì đầu năm là phong tục văn hóa tốt đẹp của người Việt và nhiều nước trong khu vực, với mong muốn những điều tốt đẹp nhất và lấy may từ những ngày đầu năm mới. Phong bao tượng trưng cho sự kín đáo - không muốn có sự so bì dẫn đến chuyện xích mích, không vui trong ngày Tết. Bao lì xì thường có màu đỏ, một trong những màu cát tường nhất trong những lễ hội. Hơn nữa, phong bao lì xì còn tượng trưng cho tài lộc - người ta nhận được hay cho đi càng nhiều bao lì xì thì người ta càng tin rằng mình đã phát tài phát lộc. Đi lễ chùa đầu năm Phong tục đi lễ chùa trong những ngày đầu của năm mới là một nét đẹp văn hóa tâm linh trong đời sống mỗi người Việt để cầu xin một năm mới may mắn, phúc lộc và tỏ tấm lòng thành kính của mình đối với đức Phật, tổ tiên. Xin chữ đầu xuân Theo tục lệ người Việt Nam, cứ từ mùng 2 Tết trở đi, mọi người đã nô nức đi xin chữ cầu may cho một năm mới an lành hạnh phúc. Tết Nguyên đán là dịp con cháu sum vầy, đoàn tụ bên gia đình thân yêu của mình. Về ý nghĩa nhân sinh của Tết Nguyên đán, đó là Tết của gia đình, Tết của mọi nhà. Tết Nguyên đán là lễ hội truyền thống mang tính toàn dân. Xuân Thắm Tình Đất Nước Tết Đượm Nghĩa Quê Hương 75
VĂN HÓA - GIÁO DỤC Culture - Education 76 Mục đích từng bước xây dựng, hình thành những chuẩn mực văn hóa nhằm điều chỉnh lời nói, thái độ, hành vi của cá nhân, tổ chức nơi công cộng trên địa bàn thành phố, xây dựng thành phố văn minh, hiện đại. Thứ nhất, chấp hành nghiêm chỉnh các quy định, quy tắc ứng xử, quy chế về văn hóa công sở; gương mẫu chấp hành và vận động người dân thực hiện các quy định, quy tắc nơi công cộng. Thứ hai, giao tiếp, làm việc với nhân dân bằng thái độ niềm nở, tận tình, trách nhiệm. Giữ gìn đoàn kết nội bộ, có tinh thần cầu thị, lắng nghe; cộng tác, giúp đỡ đồng nghiệp hoàn thành tốt nhiệm vụ. Thứ ba, mặc trang phục gọn gàng, lịch sự. Đeo (cài) thẻ tên và chức danh khi thực hiện nhiệm vụ, thực thi công vụ. Thứ tư, có ý thức giữ gìn và bảo vệ tài sản của cơ quan, giữ gìn vệ sinh chung; tiết kiệm trong việc sử dụng điện, nước, điện thoại, văn phòng phẩm và khai thác có hiệu quả các trang thiết bị tin học, thiết bị văn phòng trong công việc. Thứ năm, nghiêm túc nhận lỗi, nhận khuyết điểm, thực hiện phê bình và tự phê bình, rút kinh nghiệm khi để xảy ra sai sót. Thứ sáu, không tự ý phát ngôn, cung cấp thông tin, tài liệu không đúng thẩm quyền; trưng bày, phát tán hình ảnh, nội dung văn hóa phẩm đồi trụy, tài liệu chống lại Đảng, Nhà nước; tung tin, bịa đặt, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác. Thứ bảy, không hút thuốc tại cơ quan, phòng làm việc; sử dụng đồ uống có cồn trong giờ làm việc và giờ trưa của ngày làm việc. Thứ tám, không truy cập các website, sách báo có nội dung không lành mạnh; đeo tai nghe, bật nhạc, nghe nhạc, chơi các trò chơi trên máy vi tính hoặc trên điện thoại; quảng cáo, vận động, mời gọi mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ có tính chất kinh doanh trong giờ làm việc. Thứ chín, không tham gia, tổ chức, lôi kéo người khác đánh bạc, chơi họ, hụi, lô, đề và các tệ nạn xã hôi khác dưới mọi hình thức; tàng trữ, sử dụng vật liệu gây nguy hại, cháy nổ, vũ khí trái quy định tại cơ quan. Cuối cùng, không phô trương, lãng phí, trục lợi trong việc tổ chức các hoạt động liên hoan, cưới hỏi, tang lễ, mừng thọ, sinh nhật, tân gia... Thông qua các cơ quan truyền thông đại chúng, Bộ quy tắc ứng xử nơi công cộng đã có tác động lớn đến sự chuyển biến tích cực về cách cư xử, giao tiếp với nhau giữa người và người. Đặc biệt sau 6 năm triển khai, Bộ quy tắc ứng xử đã ăn sâu vào đời sống hàng ngày của người dân, biến thành nếp sống văn hóa của mỗi gia đình, tập thể và cá nhân - nâng cao vị thế thanh lịch của “người Tràng An” trên cả nước. Ghi nhận tại phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội - các cán bộ nơi đây sau khi được học hỏi, nghe tuyên truyền về Bộ quy tắc ứng xử của cán bộ với người dân thì cũng đã thay đổi rất nhiều trong việc hỗ trợ, đón tiếp người dân khi đến phường thay đổi thủ tục hành chính. Các cán bộ một cửa của phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm ngoài việc hỗ trợ người dân trong việc kê khai thông tin của bản thân để đăng ký các thủ tục hành chính như: thay đổi nhân khẩu, làm tạm trú, đăng ký giấy khai sinh, đăng ký mua nhà, xe.... thì các cán bộ phường cũng phổ biến tới người dân việc sử dụng chuyển đổi số - thuận tiện cho việc theo dõi, xin các thủ tục hành chính mà không cần phải mất thời gian quá nhiều khi ra phường, quận. Những cán bộ thường xuyên tiếp xúc với người dân cũng được trang bị đồng phục hoặc mặc đồ kín đáo, lịch sự tạo cảm giác thân thiện với người dân khu vực. Đặc biệt nhiều cán bộ phường giao tiếp ngoại ngữ khá tốt, hỗ trợ rất nhiều cho việc kê khai tạm trú - đăng ký hồ sơ đối với người nước ngoài hoặc các công ty có tính chất nước ngoài đóng trên địa bàn. Đây là sự tiến bộ vượt bậc không chỉ đối với sự phát triển của xã hội nói chung Hà Nội cần mạnh tay hơn nữa trong việc triển khai Bộ quy tắc ứng xử một cách hiệu quả Thực hiện Quyết định số 522/QĐ-UBND ngày 25/01/2017 của UBND thành phố Hà Nội V/v ban hành Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các cơ quan thuộc thành phố Hà Nội và Quyết định 1655/ QĐ-UBND ngày 10/3/2017 của UBND thành phố Hà Nội về việc ban hành Quy tắc ứng xử nơi công cộng trên địa bàn thành phố Hà Nội.
77 mà còn là sự tiến bộ, học hỏi, tuyên truyền sâu rộng của chính người dân Thủ đô sau khi triển khai quyết liệt Bộ quy tắc ứng xử của thành phố. Trong quá trình triển khai bộ quy tắc ứng xử, thông qua việc tuyên truyền trong ngành, các cơ quan trong và ngoài nước thì ngay cả thông tin về hành vi, ứng xử một cách văn minh từng cá nhân trong xã hội cũng được các cơ quan truyền thông, báo chí tuyên truyền sâu rộng tới từng người. Với những điều nên làm và không nên làm tại các cơ quan, đơn vị, các công trình công cộng, điểm vui chơi, tham quan... cũng được các đơn vị truyền thông bằng nhiều hình thức khác nhau như phát tờ rơi, biển báo, hệ thống hướng dẫn, loa đài phát thanh... cũng được triển khai đều đặn để mọi người đều thực hiện, làm theo - xây dựng Hà Nội là thành phố xanh - sạch - đẹp - hòa bình. Có rất nhiều vấn đề cần bàn luận xung quanh việc giao tiếp ứng xử nơi công cộng hay nơi công sở, tuy nhiên mỗi người dân Hà Nội đều cố gắng thể hiện sự chuẩn mực về văn hóa, biết lắng nghe, khiêm nhường và bày tỏ thái độ đúng mực với những người xung quanh. Các cơ quan đoàn thể, mỗi cuối tuần luôn tạo ra các buổi sinh hoạt để tạo sự gắn bó, đồng thuận giữa các thành viên, viên chức với nhau để tích cực trao đổi, nâng cao nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp của bản thân đối với công việc mà mình đảm nhiệm. Chia sẻ với phóng viên, ông Đoàn Quan Tuấn - Sở Văn hóa Thể thao Hà Nội cho biết ở Sở Văn hóa thường xuyên tổ chức những buổi sinh hoạt chuyên đề để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về tinh thần, thái độ làm việc, chuẩn mực giao tiếp, ứng xử, đạo đức, lối sống và phát huy ý thức trách nhiệm của từng cán bộ công nhân viên trong đơn vị. Đặc biệt đối với người dân khi đến làm việc tại Sở Văn hóa Thể thao, các cán bộ tiếp dân luôn nâng cao đạo đức nghề nghiệp với phương châm “Trách nhiệm phục vụ, tận tình, chu đáo” - ý thức kỷ luật, kỷ cương hành chính, rèn luyện chuyên môn nghiệp vụ để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đối với người cán bộ có những quy định riêng khi giao tiếp, ứng xử với người dân - còn ở chiều ngược lại, người dân cũng đã được tuyên truyền sâu rộng trong việc tuân thủ luật pháp, quy định của Nhà nước đề ra trước đó. Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Hùng Vĩ (Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn) đã từng nói, để hệ thống quản lý hành chính được lành mạnh, hiệu quả thì việc thực thi công vụ theo đúng chuẩn mực, ngoài việc nâng cao ý thức, trách nhiệm của mỗi cán bộ công chức thì rất cần sự hỗ trợ hiệu quả từ phía người dân. Thượng tôn pháp luật – đó chính là đòi hỏi của một xã hội văn minh mà dù là cán bộ công chức hay người người dân đều phải thực thi. Đặc biệt khi ở xã hội hiện đại, báo chí - truyền thông càng phát triển thì việc phản ánh một công việc nào đó của người dân càng nhanh chóng lan truyền một cách mạnh mẽ và người công bộc của dân càng phải nghiêm chỉnh hơn nữa để tránh ảnh hưởng tới hình ảnh của đơn vị, của ngành mình và hơn hết là hình ảnh của người cán bộ không bị lu mờ trước thông tin xấu. Có thể nói, 2 Bộ quy tắc ứng xử của Hà Nội là: “Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các cơ quan thuộc thành phố Hà Nội” và “Quy tắc ứng xử ở nơi công cộng trên địa bàn thành phố Hà Nội” đã và đang áp dụng một cách nhanh chóng vào đời sống của chính người dân Thủ đô. Có thể nói, tại các công sở được đóng trên địa bàn Hà Nội là nơi liên tục diễn ra các hoạt động giao tiếp hàng ngày và văn hóa ứng xử của từng người thể hiện sự chín chắn, khiêm nhường, biết lắng nghe và tỏ thái độ đúng mực trước những cái xấu xa làm ảnh hưởng tới hình ảnh “Tràng An thanh lịch” của người Hà Nội. Dù ghi nhận sau 2 Bộ quy tắc ứng xử, người dân Hà Nội đã có những chuyển biến tích cực trong giao tiếp hàng ngày, tuy nhiên qua ghi nhận thực tế của phóng viên thì Hà Nội vẫn còn tồn tại những mặt hạn chế. Ví dụ các hàng quán vỉa hè vẫn còn mọc lên như thách thức chính quyền, người dân vẫn còn xả rác nơi công cộng, cán bộ tha hóa, biến chất quát nạt người dân, đòi hỏi kinh phí khi hỗ trợ người dân hoặc muốn đẩy nhanh các thủ tục hành chính. Còn ở môi trường học đường thì học sinh còn đi xe máy kẹp 3, kẹp 4, học sinh sử dụng thuốc lá ở môi trường học đường - một môi trường mà nghiêm cấm những thói hư tật xấu. Theo đánh giá, một phần do hiện nay vẫn chưa có chế tài xử lý nghiêm đối với các cán bộ lợi dụng chức quyền để “hành” dân hay việc nghiêm cấm bán và lưu hành thuốc lá mà Bộ Y tế đã đề nghị thời gian qua. Chính vì thế tính răn đe chưa được cao, chỉ ở phần nhắc nhở, động viên, định hướng.... Hơn nữa công tác tuyên truyền cũng chỉ mang tính chất hình thức, đối phó. Vì vậy, Hà Nội cần mạnh tay hơn trong việc tuyên truyền Bộ quy tắc ứng xử một cách chặt chẽ, xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, xử nghiêm các cán bộ lợi dụng chức quyền, nghiêm cấm các hành vi - vi phạm trong học đường dù ở hình thức nào... để các quy tắc ứng xử có hiệu quả một cách triệt để. Việc làm này cần có sự nỗ lực chung của các cấp ngành, các tổ chức chính trị xã hội ở các ngành nghề khác nhau để Hà Nội luôn là điểm sáng văn hóa - điểm đến hòa bình đối với khách du lịch trong và ngoài nước. HOÀNG HẢI YẾN
VĂN HÓA - GIÁO DỤC Culture - Education 78 Ngoài việc bản thân vừa là MC, vừa là ca sĩ ở dòng nhạc bolero hay nhạc xưa thì Yến Ngọc bolero luôn biết lựa chọn những ca khúc có âm điệu sôi động, phù hợp với nhiều chương trình khác nhau, không để sự khô cứng của các chương trình mà cô tham dự trở nên nhàm chán. Ca sĩ Yến Ngọc bolero cũng đã từng tâm sự, cô luôn biến hóa đa dạng không chỉ cho giọng hát mà còn là chính những trang phục của cô trên sân khấu. Khác với dòng nhạc mà cô theo đuổi là nhạc bolero, mỗi khi lên sân khấu với những ca khúc ở các dòng nhạc khác nhau, Yến Ngọc luôn biết cách tạo ấn tượng cho khán giả khi thể hiện giọng ca đầy mê lực của bản thân và phá cách trong từng giai điệu để bữa tiệc âm nhạc thêm phần sôi động và hấp dẫn. Tâm sự về con đường âm nhạc của bản thân, nữ ca sĩ Yến Ngọc cho biết cô đi hát từ rất sớm và cũng có những thành tựu nhất định, dù lúc đó cát-xê chỉ có 17.000 đồng/đêm. Nhưng khi gặp “người trong mộng” chị quyết định tạm dừng con đường ca hát để chuyên Ca sĩ Yến Ngọc bolero: TÔI CÒN NỢ ƠN CỦA NHIỀU NGƯỜI Ca sĩ Yến Ngọc - thường được gọi với cái tên Vũ Yến Ngọc chuyên hát ở dòng nhạc nhẹ hay dòng nhạc xưa, bolero mà cô theo đuổi từ xưa đến giờ. Ca sĩ bolero Yến Ngọc không phải là cái tên quá mới mẻ trong làng nhạc, đặc biệt là ở dòng nhạc xưa, tuy nhiên để khán giả nhớ đến và yêu thích thì ngoài việc lựa chọn những ca khúc như “đo ni đóng giày” vào giọng hát của mình thì nữ ca sĩ luôn biết cách biến đổi bản thân mình để làm mới mẻ màu sắc chính những ca khúc mà cô thể hiện. tâm vào gia đình nhỏ. Nhưng hạnh phúc chỉ kéo dài được 5 năm, cuộc tình của họ tan vỡ khi cả hai có một cô con gái. “Thời điểm tan vỡ hôn nhân tôi co mình lại với 4 bức tường và nỗi đau về tinh thần quá lớn, thấy tôi nhụt chí, buồn bã lại còn túng thiếu vì không có tiền nuôi con, anh Huy Cường đã bắt tôi đưa con lên Hà Nội và dạy lại tôi cách hòa nhịp, cách hát. Tôi như con bé con ngô nghê với nghề bỡ ngỡ như lần đầu được hát. Nhưng khi cất giọng, tôi như cá gặp nước, cứ thế hát ca, cứ thế bị cuốn đi trong sức sống của âm nhạc chính mình. Tôi đã sống lại từ đó. Tôi lấy lại tự tin trong bản thân mình sau những chuỗi ngày đau khổ và thất bại trong mối tinh đầu tiên” - nữ ca sĩ tâm sự.
79 Bên cạnh đó, ca sĩ bolero Vũ Yến Ngọc cũng không quên nhắc tên tới từng người đàn anh, đàn chị đã luôn bên cạnh cô những lúc khó khăn nhất trong cuộc đời. “Chị Thanh Thanh Hiền là người đầu tiên giúp tôi trụ vững lại ở Hà Nội và cho tới nay vẫn tiếp tục giúp đỡ tôi. Rồi đến anh Hồ Quang 8, nam ca sĩ Huy Cường hay danh hài Công Vượng.... để tôi tồn tại, nuôi sống bản thân cùng con gái rồi mới tính được đến “sống với nghề”. Tôi mang ơn các anh chị và luôn hiểu rằng, trong cuộc đời này, tôi nợ ơn các anh chị nhiều lắm” - nữ ca sĩ Yến Ngọc bolero tâm sự. Đối với Yến Ngọc Bolero, không gì quan trọng hơn sự nỗ lực không ngừng. Bởi cô cho rằng, trời không cho hay lấy đi của ai tất cả. Vì vậy, bản thân Yến Ngọc Bolero luôn giữ vững quyết tâm và lòng nhiệt huyết với nghề. Và cô đã làm được. Hiện tại, gần như cả tháng Yến Ngọc Bolero đều có show lớn/ nhỏ, đủ tiền trang trải cuộc sống nơi thành thị cho hai mẹ con. Nữ ca sĩ từng ra mắt nhiều sản phẩm âm nhạc như: Lạc mất nhau rồi, Tiếng võng mẹ đưa, Mưa chiều kỉ niệm, Chiều mưa biên giới.... Và với giọng hát của mình, cô luôn biết ru hồn khán giả vào từng giai điệu cũng như lối diễn đầy thu hút, có lúc dịu dàng, có lúc bốc lửa theo từng chương trình, từng lứa tuổi. Có thể nói, ca sĩ bolero Yến Ngọc như một cô nàng “tắc kè hoa” trong các dòng nhạc mà cô thể hiện, vì ở đó khán giả có thể gặp một Yến Ngọc hết sức da diết, mềm mại với các ca khúc nhạc xưa, nhạc bolero. Nhưng ở một nơi nào đó, khán giả lại bắt gặp một nữ MC với lối dẫn dắt câu chuyện duyên dáng cùng giọng ca mượt mà và cũng có thể là một nữ ca sĩ bốc lửa với sức nóng lan tỏa, thiêu đốt những ngọn đèn sân khấu để chính cô hay các ca sĩ khác luôn cháy hết mình ở thánh đường của chính họ. HOÀNG YẾN
VĂN HÓA - GIÁO DỤC Culture - Education 80 Văn hóa ẩm thực của người Việt - Hương vị truyền thống trong bữa cơm ngày Tết Từ xa xưa nền nông nghiệp của nước ta gắn liền với sự phát triển của cây lúa nước thì cha ông ta đã có sự kết hợp men rượu từ những hạt gạo nếp tròn, dẻo, có mùi thơm đặc trưng, không bị lại gạo với nhiều loại thảo dược cùng nguồn nước được lấy trực tiếp dưới dòng tại địa phương tạo ra chất và vị riêng, tạo thành thứ chất lỏng màu trắng đục chính là sợi dây dây kết nối giữa thể xác và tâm hồn mỗi cá nhân con người Việt mỗi khi bên mâm cơm gia đình. Trong những bữa tiệc, đám cưới hay chính mâm cơm gia đình luôn xuất hiện thứ nước cất tinh khiết đó và kết hợp với công nghệ khoa học hiện đại thì những giọt nước màu đục đó cũng đã được xử lý chất độc hại để cho ra đời những giọt rượu thơm ngon mà không phải thương hiệu nào cũng có được. Trong văn hóa ẩm thực độc đáo của người Việt Nam, rượu đã luôn đóng vai trò quan trọng trong các dịp lễ tết và các buổi tiệc gia đình. Trong đó, “Rượu đất” được ủ lên men theo phương pháp truyền thống thuần Việt, và nó gắn liền với bữa cơm ngày Tết - một trong những dịp quan trọng nhất của năm. Ghi nhận tại làng nghề truyền thống, gia đình ông Hoàng Văn Thùy tại Hà Nội vẫn duy trì nghề nấu rượu truyền thống từ những năm 1990. Sau khi chưng cất ở nhiệt độ nhất định thì sẽ hạ thổ và được người dân yêu thích gọi là “Rượu đất”, vì nó được ngâm dưới lòng đất một thời gian dài trước khi đem ra uống. Rượu đất được ra đời với sứ mệnh nhằm gìn giữ hương vị và bản sắc của cha ông. Từng giọt rượu đất chứa đựng tinh hoa của thời đại, của bản sắc truyền thống xa xưa. Đồng thời đem đến sự an toàn, nguyên chất cho người sử dụng. Và cái tên “Rượu đất” của gia đình ông cũng ra đời từ đó. Để có thể lưu giữ lại hương vị truyền thống, đồng thời tạo ra giá trị đích thực, bền lâu, gia đình ông quyết định thành lập hộ kinh doanh tháng 7 năm 2019 để mở rộng sản xuất kinh doanh loại rượu này. Trong bữa cơm ngày Tết, thường được đặt trên bàn thờ tổ tiên như một cách thể hiện lòng thành kính và tôn kính đối với tổ tiên đã mất. Khi dùng trong mâm cỗ, rượu được chia sẻ và uống cùng nhau, tạo nên không khí ấm cúng và vui tươi trong gia đình. Đây là thời điểm mà những câu chuyện và kỷ niệm gia đình được chia sẻ và gắn kết tình thân. “Rượu đất” ngày nay được tạo ra nhằm giữ trọn vẹn giá trị và công thức của rượu hạ thổ truyền thống, là bước đột phá giúp cho rượu an toàn hơn đối với người sử dụng. Nếu như “Miếng trầu là đầu câu chuyện” thì chén rượu chính là sợi dây kết nối, giao lưu những câu chuyện của chính nó tới từng mâm cơm, bữa tiệc của người Việt. Và khi nâng ly rượu lên, người ta có thể cảm nhận được sự độc đáo, riêng biệt của mảnh đất Việt - nơi nó đã được sinh ra và phát triển. Vì vậy, trong các bữa tiệc gia đình vào dịp Tết, người Việt thường tận hưởng rượu một cách cẩn thận và có trách nhiệm. Họ thường dành thời gian để tận hưởng hương vị của “Rượu đất”, nhấp từng ly một và thường dùng kèm với các món ăn truyền thống như thịt heo quay, chả lụa, bánh chưng hay bánh tét. Văn hóa ẩm thực của người Việt không chỉ là về việc thưởng thức các món ăn ngon mà còn là về việc tạo ra không gian gắn kết gia đình và tôn vinh truyền thống. “Rượu đất” và nghi thức sử dụng nó trong bữa cơm ngày Tết là một phần không thể thiếu trong cuộc sống và văn hoá của người Việt. Trong thời đại hiện đại, mặc dù rượu bia đã trở thành một phần của cuộc sống hàng ngày, người Việt vẫn giữ được ý thức và truyền thống về việc sử dụng rượu một cách có trách nhiệm. Việc khuyến nghị người sử dụng rượu không lái xe là một biện pháp an toàn và đúng đắn, nhằm đảm bảo an toàn giao thông cho cả người uống và những người khác trên đường. Bằng cách uống rượu một cách có trách nhiệm và không lái xe sau khi sử dụng rượu, người Việt thể hiện tinh thần tự giới hạn và tôn trọng an toàn giao thông. TÚ QUYÊN
Chuỗi chương trình “Thanh Xuân Rực Rỡ” đã thành công tốt đẹp, mang đến những trải nghiệm ý nghĩa cho hơn 10.000 sinh viên tại các địa điểm: ngày 3/1/2024 tại Trường Cao Đẳng Sư Phạm Trung Ương Hà Nội, ngày 6/1/2024 tại Nhà Văn Hóa Sinh Viên Thành phố Hồ Chí Minh - cơ sở Thủ Đức, và ngày 7/1/2024 tại trường Đại Học Sư Phạm - Đại Học Đà Nẵng. Chương trình được tổ chức bởi công ty Green Hope phối hợp cùng Trường Cao Đẳng Sư Phạm Trung Ương, Nhà Văn Hóa Sinh Viên Thành phố Hồ Chí Minh, và trường Đại Học Sư Phạm - Đại Học Đà Nẵng, với sự đồng hành vàng của Dầu Gội Dược Liệu Nguyên Xuân thuộc Công ty TNHH Dược Phẩm Hoa Linh. Trong khuôn khổ chương trình, Nhà Đồng Hành Vàng Nguyên Xuân đã trao tặng học bổng và 100 vé tàu cho sinh viên có hoàn cảnh khó khăn về quê đón Tết với tổng trị giá hơn 200 triệu đồng. Ngoài ra, các ca sĩ đồng hành cùng chương trình như: Tích Kỳ Lê, Tường Vi, Hải Đăng Doo, Bằng Cường, Nhóm Gemini, Trần Hùng Tuấn, Chí Tâm, DJ Sao Mai, DJ ChiaoC, Anna, Phương Phương … đã trình diễn một đêm nhạc ấn tượng, mang đến những giây phút tuyệt vời cho sinh viên. Sự chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm của các diễn giả khách mời như TS Trịnh Thị Xim, TS Lê Thương Huyền, Doanh nhân - Hoa Hậu Đại Sứ Nhân Ái Lê Thị Thu, Thạc Sỹ Nguyễn Thị Hồng Yến, nhạc sĩ ca sĩ Cao Anh Phi đã góp phần định hướng chuỗi giá trị sống tích cực cho sinh viên tham dự chương trình. Ca khúc chủ đề “Thanh Xuân Rực Rỡ” được sáng tác bởi tác giả chankynguyen, với âm nhạc do nhạc sĩ, ca sĩ Cao Anh Phi thực hiện. Ca khúc này đã thu hút sự quan tâm và yêu thích của đông đảo khán giả trẻ. Với thông điệp về tình yêu, tuổi trẻ và đam mê, ca khúc mang đến một thông điệp tích cực và khích lệ cho tất cả những ai đang trải qua giai đoạn thanh xuân của cuộc đời. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự hỗ trợ và đồng hành Vàng từ thương hiệu Dầu gội dược liệu Nguyên Xuân của công ty TNHH Dược phẩm Hoa Linh, nhờ đó chương trình “Thanh Xuân Rực Rỡ” đã trở thành một sự kiện thành công và đáng nhớ. Chúng tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn đến tất cả các ca sĩ trẻ, sinh viên các trường đại học và cao đẳng đã tham gia trình diễn trong chương trình. Sự nhiệt huyết và tài năng của các bạn đã tạo nên một không khí phấn khích và sôi động. Chúng tôi mong rằng sự kiện này đã giúp sinh viên nhìn nhận và trân trọng tuổi thanh xuân của mình, khơi dậy niềm đam mê và tiềm năng trong cuộc sống. Năm 2024, dự án “Thanh Xuân Rực Rỡ” sẽ tiếp tục lan toả năng lượng tích cực cho học sinh, sinh viên trên toàn quốc giúp các bạn tự tin, bản lĩnh, sống rực rỡ theo cách của riêng mình. Các tổ chức cá nhân liên hệ biểu diễn, đồng hành, hỗ trợ, phối hợp tổ chức chương trình Thanh Xuân Rực Rỡ vui lòng liên hệ qua số điện thoại hotline 0931927813. CÔNG TY TNHH TMDV ĐÀO TẠO & ĐẦU TƯ GREEN HOPE Tầng 3, tòa nhà An Phú Plaza, 117 - 119 Lý Chính Thắng, P.Võ Thị Sáu, Q.3, HCM VPĐD Đà Nẵng: 76 Nguyễn Lâm, Thọ Quang, Sơn Trà, Đà Nẵng 81
VĂN HÓA - GIÁO DỤC Culture - Education 82 Trên tinh thần đó, Chính phủ đã có Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năn 2020”. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng đã triển khai Đề án thông qua “Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030”. Một trong những mục tiêu quan trọng của Đề án là bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số. Thực tế hiện nay cho thấy, việc phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số ngày càng được chú trọng, công tác bảo tồn luôn được các địa phương quan tâm, và đóng góp cho phát triển du lịch quốc gia. Tuy nhiên, gìn giữ các di sản văn hóa bản địa là áp lực thường trực trong đời sống của các cộng đồng thiểu số trong thời hiện đại. Trong những năm qua, hội nhập toàn cầu ngày càng sâu rộng của Việt Nam đã tạo nên áp lực ngày càng khốc liệt đối với văn hóa của các dân tộc thiểu số. Do đó, việc gìn giữ di sản văn hóa bản địa không chỉ là cố gắng của các cá nhân, cộng đồng thiểu số bản địa, mà còn là cố gắng của các cơ quan quản lý nhà nước. Văn hóa bản địa muốn gìn giữ và phát huy cần tạo ra giá trị thặng dư, đem lại nguồn thu nhập, thích ứng với kinh tế thị trường, và thị hiếu của khách hàng. Quan điểm phát triển văn hóa bản địa của các cộng đồng dân tộc thiểu số phải dựa trên ý tưởng Sẵn lòng chi trả (Willing-To-Pay), trong đó chú trọng đến mẫu mã, chất liệu và ý nghĩa lịch sử-văn hóa của sản phẩm. Quan điểm này rất phù hợp với việc phát huy các nghề thủ công truyền thống của các cộng đồng dân tộc thiểu số, và gắn kết với du lịch cộng đồng. Ở đây, nghề thủ công truyền thống là quan trọng nhất, thúc đẩy đa dạng sinh kế, tăng thu nhập người dân, và là một phần của du lịch cộng đồng trong điều kiện phù hợp, cho phép. Khi không có du lịch, người dân vẫn có thể có thu nhập nhờ vào bán các sản phẩm nghề thủ công truyền thống của mình. Câu chuyện của nghề thủ công truyền thống của đồng bào Gia-rai tại thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai là minh chứng cho ví dụ này. Thành phố Pleiku trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh Gia Lai, có diện tích tự nhiên 26.076,85ha với dân số 263.786 người, gồm 22 xã/phường. TP. Pleiku có đặc thù về địa hình và cảnh quan thiên nhiên với biểu tượng Biển Hồ, nên thành phố có nhiều tiềm năng để phát triển. TP.Pleiku có hai dân tộc thiểu số tại chỗ là dân tộc Gia-rai và Ba-na. Ngoài ra còn nhiều DTTS khác. Các kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy, dân tộc Gia-rai và Ba-na tại TP.Pleiku vẫn còn lưu giữ nhiều nghề thủ công truyền thống như mộc, đan lát, dệt thổ cẩm, rèn,... Tuy nhiên số lượng những nghệ nhân đang giảm dần. Chẳng hạn như, đối với nghề dệt thổ cẩm, số lượng nghệ nhân giỏi, chỉ còn khoảng 30 người. Còn đối với nghệ nhân mộc, chuyên về tạc tượng gỗ dân gian, chỉ còn 20 người. Trong số các nghệ nhân này, nghệ nhân Pel (làng Phung, xã Biển Hồ) chuyên về dệt thổ cẩm, và nghệ nhân Ksor Hnao (phường Đống Đa) chuyên về tạc tượng gỗ. Tạc tượng gỗ và dệt thổ cẩm là những sản phẩm có giá trị mang cả chiều dài văn hoá - lịch sử của cộng đồng người Gia-rai. Vì vậy, trong những năm qua, các cấp chính quyền thành phố Pleiku luôn nỗ lực chú trọng phát triển văn hóa bản địa, góp phần bảo tồn nghề thủ công, đa dạng sinh kế, tăng thu nhập, và tạo ra chuỗi giá trị du lịch. VĂN HÓA LÀ NGUỒN LỰC CHO PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC THIỂU SỐ Việt Nam là quốc gia đa văn hóa, đa dân tộc. Do vậy, văn hóa của các cộng đồng dân tộc thiểu số phải được xem là một nguồn lực cho phát triển quốc gia nói chung và các cộng đồng dân tộc thiểu số nói riêng. Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014, và Kết luận số 76-KL/TW ngày 04/6/2020 của Bộ Chính trị khẳng định “văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị. Văn hóa vừa là trụ cột, vừa là nền tảng phát triển xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước”.
83 Trong những năm gần đây, câu lạc bộ dệt thổ cẩm ở làng Phung, vườn tượng gỗ Ba-na, Gia-rai ở làng Ớp, làng Ia Nueng,... là những mô hình hiệu quả trong việc giới thiệu các sản phẩm nghề thủ công truyền thống của dân tộc Gia-rai và Ba-na nhằm quảng bá, giới thiệu, thu hút du khách, từ đó đem đến cơ hội và giải pháp phát triển kinh tế-xã hội địa phương. Văn hóa bản địa dần dần được các thế hệ trẻ tiếp nhận, khi họ nhận thấy được giá trị mà chúng đem lại. Từ đó, du lịch cộng đồng dựa trên bản sắc văn hóa truyền thống được tạo ra và hỗ trợ mạnh mẽ bởi chính quyền địa phương. Không gian văn hóa Cồng Chiêng tiếp tục được vun đắp và phát triển. Tuy nhiên, để đạt được các kết quả như trên, là quá trình không ngừng nghỉ của các cán bộ quản lý, các nhà khoa học, và bản thân người dân trong việc thích ứng và đa dạng hóa sản phẩm truyền thống, phá bỏ những rào cản, tư duy không phù hợp trong việc bảo tồn và phát triển sản phẩm nghề thủ công truyền thống. Quan điểm làm sao để người mua và du khách Sẵn lòng chi trả cho sản phẩm được áp dụng triệt để, dựa trên các giá trị cốt lõi, tinh hoa, đặc trưng của các nghệ nhân làm ra. Chẳng hạn như, tượng gỗ của đồng bào Gia-rai thường bị quan niệm là tượng nhà mồ; nhưng thật ra, tượng còn có chức năng trang trí ở các nhà rộng, nhà dài, và nhà sàn. Tượng gỗ nguyên mẫu thường có kích cỡ to (dao động 1,2m), dần dần được thu nhỏ, phù hợp với việc vận chuyển, và trang trí, trưng bày ở không gian phù hợp. Các mô hình tượng gỗ cũng phù hợp với người mua và du khách, chế tác hoàn toàn bằng thủ công, giá cả phù hợp và tránh những sản phẩm thường có ở các nhà mồ, như tượng người khóc, người buồn,… Những sản phẩm thủ công đẹp, có giá trị cao còn được lãnh đạo chính quyền liên kết với các doanh nghiệp, cửa hàng OCOP để bán, cho dù sản phẩm của các nghệ nhân chưa đăng ký chứng nhân sản giúp, nhằm giúp người dân mở rộng thị trường. Sự phát triển bền vững các nghề thủ công truyền thống của người Gia-rai tại thành phố Pleiku còn gắn liền với thời đại phát triển công nghệ, kinh tế số. Các nghệ nhân năng động thường giới thiệu sản phẩm của mình thông qua các nền tảng số như Facebook, Zalo, Tik Tok, Shopee,… Để tiếp nối câu chuyện thành công bước đầu như thế, các nhà khoa học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, cùng các cán bộ địa phương cũng đề xuất một số giải pháp, tạo nền tảng phát triển bền vững hơn cho nghề thủ công của các dân tộc thiểu số tỉnh Gia Lai, đưa văn hóa trở thành nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Gia Lai như sau: Thứ nhất, địa phương cần thực hiện kiên quyết, giám sát chặt chẽ các chính sách từ trên xuống dưới, những chính sách đã ban hành từ Chính phủ xuống đến cấp phường, xã về việc bảo tồn và phát triển các nghề truyền thống DTTS. Thứ hai, chọn lọc những giá trị tinh hoa, bản sắc của từng nghề thủ công truyền thống của các DTTS để xây dựng khung hành động, quảng bá, giới thiệu, gắn kết vào các chương trình hành động phát triển kinh tế-xã hội tổng thể của địa phương. Thứ ba, bảo tồn nghề thủ công truyền thống lấy chủ thể văn hóa là trọng tâm, nghiên cứu, tập hợp lực lượng các nghệ nhân lại với nhau, phát huy tính sáng tạo, phù hợp với sự phát triển của bối cảnh của kinh tế thị trường, phát triển hài hòa giữa truyền thống và tính đổi mới, sáng tạo, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất, quảng bá, tiếp cận khách hàng. Các sản phẩm văn hóa một khi có đầy đủ giá trị được xây dựng trên quy trình cẩn thận sẽ hình thành nên một nguồn vốn văn hóa tộc người, bên cạnh các nguồn vốn tri thức (thông qua kĩ năng, tay nghề), và vốn kinh tế (thông qua giá trị thương mại sản phẩm). Từ đó, các nghệ nhân hướng đến việc xây dựng thương hiệu, có đăng ký bản quyền sản phẩm, chỉ dẫn địa lý sản phẩm, và tham gia Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (Chương trình OCOP). Thứ tư, địa phương tùy theo điều kiện mà có thể đưa ra chính sách và việc làm thực tế để khuyến khích, động viên lực lượng nghệ nhân dệt. Với những nghệ nhân nghề truyền thống giỏi, có tay nghề cao, nên xét danh hiệu nghệ nhân cho họ, giúp họ có cơ sở nâng cao chế độ bồi dưỡng qua các đợt thi, truyền nghề. Địa phương cũng cần dành những phần thưởng có giá trị lớn để trao thưởng cho những sản phẩm nghề truyền thống tốt, có chất lượng qua các cuộc thi. Như vậy mới dễ động viên, kích thích nghệ nhân thêm yêu quý, gắn bó với nghề. Cuối cùng, cần liên kết việc sản xuất sản phẩm thủ công với những doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh để thương mại hóa sản phẩm, mở rộng thị trường, chính quyền cần có chính sách thiết thực, cụ thể cho những doanh nghiệp liên kết với các nhóm, câu lạc bộ nghề, các nghệ nhân trong việc tiêu thụ sản phẩm, chẳng hạn như miễn giảm thuế, ưu tiên địa điểm kinh doanh, ưu tiên việc vay tín dụng ngân hàng,… Việc các doanh nghiệp gia tăng thu nhập cho các nghệ nhân, cộng đồng DTTS cũng chính là giúp Chính phủ thực thi việc giảm nghèo các cộng đồng DTTS, giúp nhà nước bảo tồn, phát triển nghề truyền thống, đưa các sản phẩm nghề truyền thống lên tầm cao mới và giảm bớt các gánh nặng cho Nhà nước trong việc thực thi các chính sách an sinh xã hội. NÔNG BẰNG NGUYÊN Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
VĂN HÓA - GIÁO DỤC Culture - Education 84 Tóm tắt: Trên cơ sở tư lệu điền dã dân tộc học của tác giả được thực hiện vào tháng 1/2024, bài viết nghiên cứu ẩm thực của người Giáy ở thị trấn Đồng Văn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang. Nội dung bài viết làm rõ các đặc điểm ẩm thực, lựa chọn thức ăn, và các món ăn cũng như cách chế biến của người Giáy hiện nay, phản ánh sự thích nghi và sáng tạo trong ẩm thực địa phương. Đặc biệt, bài viết nhấn mạnh vào việc ẩm thực không chỉ đơn thuần là tiêu thụ thực phẩm mà còn thể hiện giá trị văn hóa, bản sắc dân tộc, và mối quan hệ sâu sắc giữa người Giáy với thiên nhiên và truyền thống lâu đời của họ. Từ khóa: Ẩm thực, Văn hoá, Truyền thống, Bản sắc, Người Giáy, Huyện Đồng Văn, Tỉnh Hà Giang Abstract: Based on the ethnographic fieldwork conducted in January 2024, the article examines the cuisine of the Giay people in Dong Van Town, Dong Van District, Ha Giang Province. It covers the food characteristics, choices, dishes, and cooking methods of the Giay people today, reflecting their adaptability and creativity in local cuisine. The article especially highlights that their cuisine is more than just food consumption; it represents cultural values, ethnic identity, and the deep bond between the Giay people and their longstanding traditions with nature. Keywords: Cuisine, Culture, Tradition, Identity, Giay People, Dong Van, Ha Giang 1. Bài viết là một phần nghiên cứu của đề tài cấp cơ sở “Văn hoá vật chất của người Giáy ở thị trấn Đồng Văn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang hiện nay” do ThS. Lục Mạnh Hùng chủ nhiệm, Viện Dân tộc học chủ trì thực hiện trong năm 2024. 2. (*) ThS., Viện Dân tộc học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; Email: [email protected] Ẩm thực của người Giáy ở Đồng Văn, Hà Giang1 1. Mở đầu Thị trấn Đồng Văn nằm ở phía Bắc của tỉnh Hà Giang, phía Đông giáp huyện Mèo Vạc, phía Tây giáp xã Thài Phìn Tủng (huyện Đồng Văn), phía Nam giáp các xã Thài Phìn Tủng, Tả Phìn, Tả Lủng (huyện Đồng Văn) và giáp huyện Mèo Vạc, phía Bắc giáp xã Má Lé (huyện Đồng Văn) và giáp Trung Quốc. Thị trấn Đồng Văn có diện tích 27,65 km², dân số năm 2019 là 7.912 người, mật độ dân số 286 người/km², với 22 thôn bản và tổ dân phố (Chi cục Thống kê Đồng Văn, 2022: 10). Thị trấn Đồng Văn nằm ở vùng núi đá, có độ cao từ 1.000 đến hơn 1.600 mét so với mực nước biển. Huyện Đồng Văn có nhiều dân tộc sinh sống như Hmông, Tày, Dao, Kinh, Nùng, Giáy, La Chí, Hoa, Pà Thẻn, Cơ Lao, Lô Lô, Bố Y, Phù Lá, Pu Péo, Sán Chay, Tày, mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, hình thành nên nét đặc trưng của tộc người. Người Giáy ở huyện Đồng Văn có 1.137 người, phân bố ở 7 xã (Chi cục Thống kê Đồng Văn, 2021). Hoạt động ẩm thực truyền thống của người Giáy rất phong phú, đa dạng. Đặc biệt, từ khi được UNESCO công nhận cao nguyên đá Đồng Văn là Công viên địa chất toàn cầu, người Giáy đã có nhiều biến đổi, ẩm thực cũng là loại hình sinh kế mới, tạo thêm nguồn thu nhập cho các gia đình, góp phần xóa đói, giảm nghèo. 2. Đặc điểm ẩm thực của người Giáy Ẩm thực không chỉ đơn thuần là việc tiêu thụ “đồ ăn thức uống” mà còn thể hiện những giá trị văn hóa đặc thù, phản ánh tinh thần và quan niệm sống của mỗi cộng đồng. Đối với cộng đồng dân tộc Giáy tại huyện Đồng Văn, ẩm thực không chỉ là nhu cầu tất yếu để tồn tại mà còn là biểu hiện của giá trị văn hóa riêng, thể hiện qua các món ăn đặc sản và phong tục liên quan đến chu kỳ đời người. Trước đây, việc ăn uống của dân tộc Giáy chủ yếu là để đảm bảo sự sinh tồn. Sống giữa vùng núi non và thường xuyên đối mặt với nạn đói, họ chưa xem ăn uống như là một nghệ thuật hay một chuẩn mực xã hội. Các phương tiện chế biến thức ăn thường đơn giản và thiết thực, phản ánh môi trường sống khắc nghiệt mà họ phải thích nghi. Ngày nay, khi điều kiện sống đã được cải thiện và ẩm thực trở thành một phần không thể tách rời của văn hóa dân tộc, hành động ăn uống của dân tộc Giáy không chỉ bảo tồn những giá trị truyền thống mà còn hòa quyện với những giá trị mới từ sự tiếp xúc và giao lưu với các cộng đồng khác. 3. Lựa chọn ẩm thực của người Giáy Trong văn hóa của người Giáy ở Đồng Văn, lựa chọn thức ăn không chỉ dựa vào sở thích cá nhân mà còn phản ánh mối quan hệ sâu sắc với môi trường tự nhiên và truyền thống lâu đời. Thực phẩm được chọn thường là những sản phẩm có sẵn từ thiên nhiên như rau rừng, thịt săn và cá suối. Cách tiếp cận này không chỉ đảm bảo tính bền vững trong tiêu dùng mà còn thể hiện sự kính trọng và tri ân đối với nguồn tài nguyên địa phương. Bữa ăn của họ không chỉ là việc nạp năng lượng mà còn là nghi lễ, trong đó mỗi lựa chọn thức ăn đều gắn liền với ý nghĩa tinh thần, từ việc chọn nguyên liệu đến phương thức chế biến, mỗi khía cạnh đều mang đậm dấu ấn của bản sắc dân tộc và thấu hiểu sâu sắc về văn hóa và phong tục của họ. Thức ăn của con người gắn bó mật thiết với canh tác nòng nghiệp, phát triển ngư nghiệp và tùy thuộc vào điều
85 kiện sinh thái mà cư dân những vùng khác nhau trên thế giới chọn cây nào, vật nuôi nào làm nguồn thực phẩm chính. Các vùng Trung Á, Đông Nam Á và Trung Đóng được coi là cái nôi của cây lúa, với khoảng 120.000 loại (Esterik 2008:9), tạo nên truyền thống ăn gạo ở nơi đây. Từ gốc nguồn tại Trung Đông, lúa mì đã được nhiều quốc gia thuộc châu Á và châu Âu canh tác để làm lương thực. Quê hương của cây ngô ở châu Mỹ, và đến nay dù loại cây này di thực tói nơi khác, song vẫn được trồng nhiều nhất tại các quốc gia thuộc châu Mỹ. Những cư dân có nền chăn nuôi phát triển như người Mông cố, thịt và sữa có vai trò quan trọng trong bữa ăn. Với người Nhật Bản, sống ở quốc gia giữa đại dương, thủy sản là thức ăn phổ biến. Còn Việt Nam, nơi thuộc cái nòi của cây lúa, là nước có mức tiêu thụ gạo bình quân đấu người nhiều nhất trong 16 nước ăn gạo ở châu Á, châu Phi, và cũng thuộc sổ 7 quốc gia tiêu thụ gạo cao của châu Á. Trong 54 dân tộc của Việt Nam, chỉ những tộc người như Hmông, Nùng, Pu Péo sống ở vùng cao núi dá của tỉnh Hà Giang có tập quán lấy ngô làm lương thực chính, số còn lại đều dùng gạo (Cơm ba bát/ Áo ba manh/Đói không xanh/Rét không chết - Thành ngữ người Việt) (Vương XuânTình 2020:15-26). Người Giáy ở Đồng Văn lựa chọn thức ăn dựa trên kiến thức truyền thống và mối quan hệ mật thiết với thiên nhiên. Họ ưu tiên sử dụng các loại thực phẩm mà họ có thể trồng trọt hoặc thu hoạch một cách bền vững từ đất đai của mình, như các loại củ, ngũ cốc và thực phẩm từ sông suối, thể hiện sự tôn trọng họ dành cho môi trường và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa con người và thiên nhiên. Sự lựa chọn này cũng phản ánh niềm tự hào về di sản văn hóa và sự tự chủ trong việc duy trì lối sống lành mạnh, cân bằng giữa con người và tự nhiên. 4. Các món ăn và cách chế biến của người Giáy hiện nay. Có thể thấy ẩm thực của người Giáy Đồng Văn là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và sự đổi mới, phản ánh đời sống phong phú và đa dạng của họ. Vào dịp tết, người Giáy dán bùa chú màu đỏ khắp nơi, kể cả chuồng gia súc, trên đó viết những lời cầu may bằng chữ Hán rồi nhà nhà chuẩn bị gói bánh chưng đen. Bánh Chưng Đen trong Dịp Tết: Bánh chưng đen là một biểu tượng của văn hóa ẩm thực người Giáy trong dịp Tết. Sự độc đáo của bánh không chỉ nằm ở màu sắc đen từ gạo nếp ngâm tro mà còn ở hương liệu thiên nhiên kết hợp với đậu xanh, tạo nên một dư vị khó quên. Bánh “Cóc Mò” trong Tết Đoan Ngọ: Bánh “Cóc Mò” là một món ăn đặc trưng trong Tết Đoan Ngọ của người Giáy Đồng Văn. Hình dạng tam giác trụ đáy ba cạnh và cách thức chấm bánh với mật hoặc đường làm nổi bật hương vị đặc biệt của bánh. Kỹ Thuật Làm Súc Xích và Thịt Lạp: Người Giáy còn nổi tiếng với kỹ thuật làm súc xích treo gác bếp và thịt lạp (sường) - thịt xông khói. Cả hai loại thịt đều qua quá trình ướp gia vị cầu kỳ và được treo gác bếp, tạo ra hương vị đậm đà và độc đáo. Thiết đãi Khách với Thịt Xông Khói và Rượu Đặc Biệt: Khi có khách đến chơi, người Giáy thường dùng thịt lạp xông khói và rượu chưng cất từ men đặc biệt để thiết đãi, phản ánh sự mến khách và truyền thống ẩm thực phong phú của họ. Xôi Ngũ Sắc: Một món ăn đặc trưng của người Giáy, được nấu từ gạo nếp và các loại lá cây rừng tạo nên 5 màu sắc tượng trưng cho trời và đất. Cách làm bánh “Cóc Mò” trong Tết Đoan Ngọ của người Giáy Ảnh: Tác giả
VĂN HÓA - GIÁO DỤC Culture - Education 86 Bánh Tam Giác Mạch Chiên: Một món ăn phổ biến ở Đồng Văn, được làm từ bột tam giác mạch, bột gạo nếp và lá gai. Bánh sau khi nặn thành hình tròn, được chiên trong dầu để tạo ra một hương vị độc đáo và hấp dẫn. Cháo Ấu Tẩu: Một món ăn đặc biệt và nổi tiếng ở Hà Giang, được chế biến từ gạo, thịt băm, và ấu tẩu. Món ăn này có hương vị đặc trưng và độc đáo, nhưng cần chú ý trong quá trình chế biến do ấu tẩu có độc tố cao. Khâu Nhục: Một món ăn quan trọng trong các dịp lễ tết của người Giáy Tả Van. Thịt lợn ba chỉ được chuẩn bị và nướng kỹ, phết mật ong, cùng với các loại gia vị đa dạng như hành, tỏi, gừng và ngũ vị hương. Thịt Lợn Nướng: Một món ăn ngon và độc đáo, được nướng trên lò trong khoảng 6 giờ với hương vị riêng biệt nhờ sự pha trộn của các loại gia vị truyền thống. Nộm Rau Dớn: Một món ăn tinh tế, kết hợp giữa rau dớn và các gia vị như vừng lạc, tỏi, ớt, giấm, và đường, tạo ra hương vị hấp dẫn. Phở Tráng Kìm: Một món ăn đặc biệt từ Đồng Văn với bánh phở độc đáo không giống với bất kỳ nơi nào khác, thể hiện sự sáng tạo trong ẩm thực địa phương. Thắng Cố: Món này ban đầu được chế biến từ thịt ngựa và nội tạng, nhưng sau đó đã được thay đổi để dễ dàng thưởng thức hơn bằng cách kết hợp thêm thịt trâu, bò. Phương pháp chế biến đặc biệt, kết hợp các loại thảo quả và gia vị, tạo ra một hương vị độc đáo và hấp dẫn. Bánh Cuốn Chan: Món này khác biệt so với bánh cuốn thông thường. Thay vì dùng nước mắm pha ngọt, người dân Đồng Văn ăn bánh cuốn với nước dùng ninh từ xương lợn, hành lá và rau thơm, cùng với nhân thịt xay, mộc nhĩ và trứng gà. Thịt Trâu Gác Bếp: Món ăn đặc trưng của người Giáy, thịt trâu non được chặt thành miếng nhỏ và ướp gia vị trước khi nướng trên lửa than hoa, tạo ra hương vị thơm ngon và đặc trưng. Thịt Gà Nướng Lá Mắc Mật: Một món ăn thú vị khác của người Giáy là thịt gà nướng lá mắc mật. Gà được ướp với các loại gia vị tự nhiên và bọc trong lá mắc mật trước khi nướng trên than hồng, tạo ra một hương vị đặc trưng và thơm ngon. Cá Suối Nướng: Cá suối được bắt trực tiếp từ các dòng suối trong vùng Đồng Văn. Sau khi sơ chế, cá được ướp với các loại gia vị địa phương và nướng trên lửa than, mang đến một hương vị tươi ngon và đặc trưng của vùng cao nguyên. Măng Chua Nấu Thịt: Một món ăn kết hợp giữa măng chua và thịt heo hoặc thịt trâu, mang lại hương vị chua nhẹ, thơm ngon và độc đáo. Canh Cải Mèo Nấu Thịt: Canh cải mèo nấu thịt là món canh đơn giản nhưng đầy hương vị, phản ánh sự gần gũi và tinh tế trong cách chế biến thức ăn của người Giáy. Ẩm thực của người Giáy tại Đồng Văn không chỉ là sự thể hiện của truyền thống và di sản văn hóa mà còn là biểu tượng của sự sáng tạo và thích ứng với nguồn tài nguyên tự nhiên. Từ món xôi ngũ sắc đầy màu sắc, bánh tam giác mạch chiên thơm ngon, đến cháo ấu tẩu đặc biệt và các loại thịt được chế biến tinh tế như khâu nhục và thịt lợn nướng, mỗi món ăn đều mang đến trải nghiệm ẩm thực độc đáo và phong phú. Những món ăn này không chỉ đáp ứng nhu cầu về hương vị mà còn thể hiện sự tôn trọng và kết nối mạnh mẽ với thiên nhiên và cộng đồng. 5. Ẩm thực và bản sắc văn hoá người Giáy Việc hình thành bản sắc văn hóa của quốc gia, khu vực, tộc người, vùng miền dựa trên nhiếu yếu tố, trong đó có ẩm thực. Ẩm thực có thể trở thành biếu tượng văn hóa quốc gia, với nghĩa khi nhắc về một quốc gia, người ta thường nhớ đến thức ăn, đồ uống nào đó. Nói tới nước Pháp, cùng với tháp Eiffel, nhà thờ Đức Bà, ít ai không nhớ bánh mỳ Baguette, rượu Champagne. Bánh mỳ Baguette dài hàng mét, song chỉ nặng khoảng 250 gam, được làm thủ công từ bột mỳ, nước, men và muối. Champagne là loại rượu vang làm từ nho, rất được ưa chuộng trong các bữa tiệc sang trọng. Với Nhật Bản, một trong các món ăn mang tính biểu tượng cho văn hóa của nước này là sucshi. Đó là món cơm trộn giâm (shari) kết hợp với hải sản, rong biển và một số loại rau; được nắm, cuộn hay gói thành bánh. Khi nhắc đến Trung Quốc, trong rất nhiều các biểu tượng văn hóa, người ta thường nhớ đến rượu Mao Đài, nâu bằng đậu nành, cao lương, tiểu mạch và có hương vị đặc biệt. (Vương Xuân Tình (2020), tr. 52) Ẩm thực của người Giáy không chỉ là việc tiêu thụ thực phẩm mà còn là sự thể hiện của văn hóa, truyền thống và bản sắc dân tộc. Các món ăn của người Giáy không chỉ phản ánh sự đa dạng trong khẩu vị mà còn thể hiện sự gắn bó của họ với thiên nhiên và sự tôn trọng đối với nguồn tài nguyên từ đất đai của họ. Các món ăn truyền thống như xôi ngũ sắc, bánh tam giác mạch chiên, thịt trâu gác bếp, và cháo ấu tẩu phản ánh mối quan hệ sâu sắc giữa người Giáy với thiên nhiên. Việc sử dụng nguyên liệu tự nhiên, từ thực vật đến động vật, cho thấy sự thấu hiểu và tôn trọng mà họ dành cho môi trường sống xung quanh. Món Súc Xích và Thịt Lạp. Ảnh: tác giả
87 Ẩm thực người Giáy cũng là cách họ kể lại câu chuyện văn hóa của mình. Mỗi món ăn không chỉ là sự kết hợp của hương vị mà còn là sự kết hợp của lịch sử, truyền thuyết, và tín ngưỡng. Như khâu nhục và thịt lợn nướng thể hiện sự quan trọng trong các lễ tết và sự tụ họp cộng đồng. Người Giáy đã thể hiện sự sáng tạo trong ẩm thực bằng cách kết hợp các nguyên liệu và phương pháp chế biến truyền thống với những yếu tố mới, như cách họ thích nghi với nguồn nguyên liệu sẵn có. Điều này không chỉ thể hiện khả năng thích nghi với điều kiện sống mà còn thể hiện sự phong phú trong tâm hồn ẩm thực của họ. Qua ẩm thực, người Giáy không chỉ chia sẻ văn hóa của mình với thế hệ sau mà còn với những người từ các nền văn hóa khác. Mỗi món ăn là một câu chuyện, một phần của bức tranh lớn về văn hóa và cuộc sống của người Giáy. Trong khi thích ứng với thời đại mới, người Giáy vẫn giữ gìn và tôn trọng các phương pháp chế biến truyền thống. Điều này cho thấy sự tôn trọng sâu sắc của họ đối với di sản và truyền thống của tổ tiên. Kết luận: Ẩm thực của dân tộc Giáy ở Đồng Văn không chỉ là biểu hiện của nhu cầu cơ bản về thực phẩm, mà còn là một phần quan trọng thể hiện bản sắc văn hóa và truyền thống của họ. Qua từng món ăn, từ bánh chưng đen độc đáo trong dịp Tết, đến thịt lợn nướng gác bếp thơm lừng, chúng ta có thể thấy sự gắn kết mật thiết của người Giáy với thiên nhiên và lịch sử của mình. Những phương pháp chế biến truyền thống, cùng với việc sử dụng nguyên liệu từ thiên nhiên, không chỉ là biểu hiện của sự sống còn mà còn là cách họ duy trì và phát triển văn hóa của mình. Ẩm thực của người Giáy cũng phản ánh sự đa dạng trong văn hóa vật chất. Từ các món ăn hàng ngày đến những món ăn đặc biệt trong các dịp lễ tết, chúng ta có thể thấy sự phong phú và sự tinh tế trong cách họ kết hợp hương vị và nguyên liệu. Điều này không chỉ thể hiện sự thích nghi và sáng tạo trong ẩm thực mà còn thể hiện quan niệm về sức khỏe, cộng đồng và mối quan hệ với thiên nhiên. Ngoài ra, ẩm thực còn là cách người Giáy giao tiếp và chia sẻ văn hóa của họ với thế giới. Mỗi món ăn không chỉ là sự kết hợp của hương vị, mà còn là câu chuyện về lịch sử, địa lý và các giá trị văn hóa. Sự đa dạng trong ẩm thực người Giáy không chỉ là niềm tự hào của họ, mà còn là cơ hội để chúng ta hiểu và trân trọng văn hóa phong phú này. Kết luận, ẩm thực dân tộc Giáy tại Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, là một phần không thể tách rời của văn hóa vật chất và là minh chứng cho sự phong phú và độc đáo của văn hóa Việt Nam. Qua việc nghiên cứu và trải nghiệm ẩm thực này, chúng ta có thể có cái nhìn sâu sắc hơn về văn hóa và lịch sử của dân tộc Giáy, đồng thời hiểu rõ hơn về giá trị và tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống. Tài liệu tham khảo Chi cục Thống kê Đồng Văn (2022), Niên giám thống kê huyện Đồng Văn năm 2021, Đồng Văn, https://cucthongke.hagiang. gov.vn/c/document_library/get_file?uuid=518f893e-072c409e-a135-4ea964727f52&groupId=248720 Chi cục Thống kê Đồng Văn (2021), Niên giám thống kê huyện Đồng Văn năm 2020, Đồng Văn, https://cucthongke.hagiang. gov.vn/c/document_library/get_file?uuid=13042973-1e99- 4e88-9599-0fee91a5638e&groupId=248720 Nguyễn Văn Minh (2021), Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hà Giang, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội. Lục Mạnh Hùng (2013), Hôn nhân của người Giáy ở xã Đồng Thanh, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, Luận văn thạc sĩ Văn hoá học, Học viện KHXH Việt Nam. Nguyễn Ngọc Thanh (2016), Văn hóa các dân tộc vùng lòng hồ thủy điện Lai Châu, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội. Vương Xuân Tình (2020), Nhân học ẩm thực ,www.ussh. vnu.edu.vn) Viện Dân tộc học (1978), Các dân tộc ít người ở Việt Nam (Các tỉnh phía Bắc), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội. UBND thị trấn Đồng Văn (2023), Danh sách lao động đi làm ngoài tỉnh năm 2023. Qua ẩm thực người Giáy chia sẻ câu chuyện văn hóa của mình với du khách Ảnh: Tác giả LỤC MẠNH HÙNG
VĂN HÓA - GIÁO DỤC Culture - Education 88 Không khí đón xuân tưng bừng trên thế giới Thông tin và Phát triển trân trọng giới thiệu một số hình ảnh không khí xuân trên thế giới với các hình ảnh ở Nga, Italia, Bồ Đào Nha, Ba Lan, Ấn Độ, Pháp, Mỹ và Anh qua ống kinh AP, Getty Images, TASS, Zuma, EPA
89
VĂN HÓA - GIÁO DỤC Culture - Education 90 Một biệt thự cổ với vườn tượng của riêng mình nằm đầu đường Hùng Vương, Đà Lạt, điêu khắc gia Phạm Văn Hạng đã trưng bày nhiều tác phẩm điêu khắc bằng đá và nhiều chất liệu khác để công chúng Đà Lạt và du khách có dịp chiêm ngưỡng. Trải qua hơn 30 năm gắn bó với mảnh đất này, ông xem đây như là nơi chốn đi về; là nơi thai nghén và cũng là điểm xuất phát cho nhiều ý tưởng về các tượng đài hay tác phẩm nghệ thuật mà ông vô cùng trân quý. Một gian phòng lưu giữ nhiều tác phẩm về chân dung các nhà văn, nhà thơ, học giả, nhạc sĩ…những người ông kính trọng, biết ơn và gần gũi đã được ông tư duy, hình thành và tạo tác. Sức sống mãnh liệt của những công trình điêu khắc của ông cũng đã tạo được dấu ấn khó phai mờ. Tuy vậy, ông vẫn không chịu nhận mình nghệ sĩ, là người nổi tiếng hôm nay. Ông kính trọng những người thầy, người anh đi trước và cảm thấy sức và lực của mình chỉ là những hạt cát nhỏ nhoi, những giọt nước mong manh dễ vỡ. Điêu khắc gia Phạm Văn Hạng sinh năm 1942 (Nhâm Ngọ) tại làng Nam Ô, phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Ông sinh ra và lớn lên khi đất nước đang có chiến tranh. Ông khao khát tự do hòa bình cho đất nước, khao khát tự do cho người nghệ sĩ. Năm 1970, ông đã từng gây chấn động với công chúng miền Nam, đặc biệt là tại thành phố Sài Gòn hoa lệ với tác phẩm “Chứng tích”. Chất liệu là ruột gan, xương thịt, máu, dây kẽm gai, mảnh bom của các nạn nhân chiến tranh ở Quảng Trị. Điêu khắc gia Phạm Văn Hạng thổ lộ: “Tôi là người phản chiến. Đây là tiếng nói của người nghệ sĩ phản kháng. Tôi không thích chiến tranh. Tác phẩm này, ban đầu tôi đặt tên là “S.O.S Việt Nam”. Trịnh Công Sơn đặt lại tên là “Chứng tích”, tôi thấy thi ca hơn”. Là người lao động thực sự vì nghệ thuật và không ai biết rằng, nhiều đêm ông đã thức trắng để tìm ra ý tưởng mới cho một tượng đài, cho một công trình điêu khắc nhỏ hay lớn; ông không màng đến việc có tiền hay không có tiền. Nơi mà ông hướng tới là một công trình mới sáng tạo, một tác phẩm nghệ thuật đúng nghĩa của nó. Khi nói về nghề, ông lặng đi: “Những đêm mình ngồi dậy, thao thức, thấy mình cơ cực, nhưng vẫn có một hoài bão. Hoài bão đó không phải để nổi tiếng như người ta nghĩ. Hoài bão để sống. Sống bằng sức lực của mình, nên tôi ít dùng chữ nghệ sĩ; mình cũng không có tuyệt tác gì; không thể có tuyệt tác như Trịnh Công Sơn, như Phạm Duy. Tôi chỉ là người lao lực hết sức mình. Theo bản năng một tý, theo cảm xúc một tý, chưa phải là tác phẩm. Nhưng may mắn của cuộc đời tôi để lại là cái công việc mà tôi hy vọng rằng nó tồn tại. Ví dụ, ở Sài Gòn tôi để lại tượng Lê Văn Duyệt; ở huyện Bình Chánh tôi để lại tượng “Đất lành chim đậu”; ở đường Tôn Đức Thắng tôi để lại “Người chứng đức tin”. Ở Đà Nẵng, chắc chắn tôi để lại Cầu Rồng. Tôi đặc tả cái đuôi và đầu Rồng. Ở Huế, Quảng Trị - mỗi nơi tôi cũng để lại một cái. Tôi chỉ ước ao, nếu có dịp gửi gắm lại những người nghe tôi kể chuyện bằng tấm lòng khiêm nhường, hết mình yêu nghề. Yêu nghề phải biết trả giá, kể cả bị khinh bỉ và cuộc đời ai cũng vậy. Cái được thì người ta vinh quang, vỗ tay. Tôi thấy những người ấy thật hạnh phúc. Nhưng ngược lại, về phần người nghệ sĩ thì cô đơn, đau khổ để mà sáng tạo. Tôi lựa chỗ trong bản năng sống của tôi, mà làm nghệ thuật là một cuộc phiêu lưu không thể không tai tiếng được”. Cả một đời dâng hiến cho những tượng đài, cho những tác phẩm mỹ thuật đồ sộ, điêu khắc ĐIÊU KHẮC GIA PHẠM VĂN HẠNG NGƯỜI HẾT MÌNH VÌ NGHỆ THUẬT Nói đến điêu khắc gia Phạm Văn Hạng là nói đến một con người lao lực vì nghệ thuật. Ông miệt mài làm việc như con thoi, năm này sang tháng khác; hết đêm lại ngày hầu như không có thời gian thư giãn.
91 gia Phạm Văn Hạng còn có một góc khuất dành tặng cho đời mình. Đó là thi ca. Thơ của ông cô đọng, ngắn gọn. Tháng 9 năm 2007, Điêu khắc gia Phạm Văn Hạng cho ra mắt tập thơ đầu tay “độc nhất vô nhị” mang tên “30 năm tập tễnh làm thơ” làm bằng đồng nặng 200 kg với 25 bài thơ. Bài dài nhất 28 chữ. Bài ngắn nhất 5 chữ, được gò nổi bằng 4 thứ tiếng: Việt, Anh, Pháp, Hoa và đạt 3 kỷ lục: Tập thơ nặng nhất. Tập thơ có số bản ít nhất và tập thơ duy nhất chạm khắc nổi trên chất liệu bằng đồng, độc bản. Cũng năm 2007, ông xuất bản tập thơ với 29 bài thơ. Tập thơ tràn ngập nỗi niềm: “Có một chiều mưa trong công viên / Trong công viên có một tượng đá / Có một người rẽ vào công viên/ Đứng nhìn tượng đá / Trong công viên chiều mưa./ Có hai tượng đá đứng nhìn nhau”. Rất nhiều bút tích, bài thơ, cảm nghĩ của nhiều văn nghệ sĩ tên tuổi đã viết về Phạm Văn Hạng. Nhà thơ Hoàng Cầm từng có bốn câu thơ tặng Phạm Văn Hạng: “Hồn anh trăm mảnh bay nghìn nẻo / Thắm đượm vô thường lọc ước mơ / Anh gọi hồn về nghiêng phép bút / Mở nguồn linh diệu nắng hoen mơ”. Trong bài thơ “Với một họa sĩ”, Nhà thơ Trinh Đường thổ lộ: “Trước lạc loài thế kỷ / hành trang là bể dâu /giờ đi vào trần thế / còn đây một cái đầu / Vườn người toàn quả cấm / chén đời đầy mưa ngâu / Vẽ nhọ bồi hề tất / chỉ chừa ba sợi râu / Chẳng trở thành tia chớp / sống làm gì cho lâu / Thơ, văn đều có họa / chúng mình đi về đâu?” (24.II.89)… Một lần gặp, điêu khắc gia Phạm Văn Hạng lặng đi một thoáng, trong giọng nói trầm buồn của ông chan chứa những điều sâu lắng mà có lẽ ông đã dồn nén mấy chục năm nay và trên khóe mắt của ông nước mắt bắt đầu lăn xuống: “Tôi làm thơ cũng khá sớm mà không…thành, bởi vì thấy người ta làm thơ quá hay. Nhưng tôi có suy tư về cuộc đời cho nên thơ tôi nặng về Đời. Một năm tôi làm một bài, hai năm tôi làm một bài. Có bài tôi làm đến 5 năm. Bài thơ tôi làm mà cảm xúc rất mạnh, mà phải gần 20 năm mới làm được. Chỉ có mấy chữ: “Những bức tượng trong vườn òa ra khóc / Khi nhân văn bị sỉ nhục giam cầm / Đá gỗ sắt đồng không thể lặng câm”. Muốn làm bài thơ đó, tôi phải mất gần 20 năm trời.” Với ông, thi ca như một tôn giáo để được gửi gắm những suy tư triết học của mình. Ở đó, ông như được trở về một nơi yên tĩnh, một nơi thiêng liêng để suy nghiệm về cuộc đời; để đi tìm bản ngã của mình. Không có nhiều tác phẩm thi ca, nhưng chính thi ca là nơi nuôi dưỡng tứ thơ, là mạch nguồn khơi gợi cho những tác phẩm điêu khắc mà ông hướng tới. Chỉ có trong gió bụi trần ai, trong muôn ngàn gian khó, trong sự dằn vặt nội tâm thì thiên chức của người nghệ sĩ bừng sáng lóa. Điêu khắc gia Phạm Văn Hạng giãi bày: “Tôi có mang danh họa sĩ. Tôi thích là người lao lực. Ai nói tôi là người lao lực, đó là người biết chia sẻ tôi và họ thương yêu tôi. Còn những danh từ nghệ sĩ, mình thấy cao quá, không với tới được đâu. Tôi nghĩ: Cuộc đời thương mình lắm rồi.” Và có lúc ông đã thốt lên: “Mênh mông trời biển lòng ai biết? Ngẫm lại ngàn năm vọng tiếng buồn!” . Với tôi tin, những gì ông đã nói là ông làm. Điêu khắc gia Phạm Văn Hạng là người lao lực vì nghệ thuật. Sự cầu mong nào cũng thừa, chỉ có trái tim của ông vẫn hòa cùng nhịp đập với sự tận hiến với nghệ thuật. TRẦN NGỌC TRÁC
Y TẾ VÀ MÔI TRƯỜNG Medicine and Enviroment 92 Ngay những năm mới lên ngôi, vua Lê Hiển Tông (1740-1786) đã cho ý kiến lập Y Miếu để thờ tiên thánh và các vị danh y lớn. Vào năm Canh Ngọ (1750), Xuyên Hầu và Ngoạn Quận công đã tiến hành xây dựng công trình đầu tiên trên một thửa đất thuộc huyện Quảng Đức ở phía tây hoàng thành, nhưng Y Miếu lúc đó còn rất sơ sài. Đến năm Cảnh Hưng thứ 34 (1773), có Chưởng Viện Thái Y Trịnh Đình Ngoạn đứng ra trông coi việc xây dựng và mở rộng Y Miếu với quy mô lớn hơn. Việc này được ghi lại trên tấm bia của Viện Thái Y, dựng vào năm Giáp Ngọ (1774) niên hiệu Cảnh Hưng thứ 35, hiện còn lưu tại chùa Phổ Giác ở phố Ngô Sĩ Liên ngay gần miếu. Theo đó, vua ra lệnh cho Viện Thái Y chọn đất và lĩnh tiền để xây dựng Y Miếu. Công việc đã có sự lần lữa, chậm trễ, rồi bị bỏ lơi đi một thời gian. Mãi sau có ông Trịnh Đình Ngoạn hăng hái đứng ra đôn đốc. Ông vốn sinh trong một gia đình nhiều đời làm thuốc ở xã Định Công, huyện Thanh Trì; lớn lên tinh thông y lý kinh sử và làm đến chức Chưởng Viện Thái Y. Nhận thấy khoảnh đất công giáp phía tây Phượng Thành, bên trái Văn Miếu, lại có dòng nước bao quanh, cách biệt nơi bụi bặm ồn ào, Trịnh Hầu đã mạnh dạn tâu trình, liền được Chúa Trịnh khen ngợi chuẩn y và cấp 10 mẫu ruộng để dùng vào việc đèn hương. Quốc Thánh Mẫu (mẹ Chúa) còn ban thêm cho hai hốt bạc. Noi theo thịnh tình của Thánh Mẫu, nhiều vị trong nội cung đều góp bạc, góp tiền để giúp vào việc xây dựng Y Miếu. Vậy nên chỉ “vài tháng đã xong, thẳng thắn, bay bướm, cung tường lộng lẫy, dãy dọc toà ngang, cột rường đồ sộ…”. Thời kỳ đầu, dân vẫn quen gọi Y Miếu là Viện Thái Y, mãi rồi mới gọi là Y Miếu Thăng Long. Sang thời Nguyễn, Y Miếu Thăng Long nằm trong tổng Hữu Nghiêm, sau đổi thành tổng Yên Hoà, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức. Năm 1834, Y Miếu Thăng Long được trùng tu lớn, mở rộng thêm nhiều. Từ năm 1942 thì Y Miếu Thăng Long thuộc về địa phận nội thành Hà Nội. Sau 1954, Y Miếu từng được trùng tu và làm trụ sở của Hội Đông y VN. Đến năm 1980 lại được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa quốc gia với tổng thể kiến trúc trong diện tích 747m2 so với 3.600m2 trước đây. Nhưng cùng số phận như chùa Quang Minh ngay bên cạnh, Y Miếu tiếp tục bị lấn chiếm, nay chỉ còn lại 140m2 và phải chung sân, chung cổng với dân thường. Gần đây Y Miếu được sửa sang nhưng lối vào vẫn bị che khuất bởi khu chợ Ngô Sĩ Liên. Không còn nguyên vẹn… Một cổng vòm nhỏ có gắn biển số nhà 12 đã bạc màu nằm sâu trong một ngõ chợ nhỏ phố Y Miếu, phường Văn Miếu, Đống Đa, Hà Nội chính là đặc điểm để nhận biết Y Miếu khi đến đây. Có lẽ, chỉ có những “thổ dân” lâu năm ở đây mới biết rõ đường vào Y Miếu như thế này. Cổng Y Miếu Thăng Long hiện nayPhải quan sát kỹ mới nhận thấy biển chỉ dẫn lối vào Y Miếu Thăng Long Phần tường bên trong nơi thờ tự của Y Miếu đã xuống cấp, bong tróc khắp nơi Bà Hoàng Thị Thảo năm nay đã 80 tuổi - người trong coi Y Miếu hơn 13 năm nay cho biết, hiện nay diện tích của Y Miếu bị thu hẹp rất nhiều. Theo ghi nhận, nhiều NƠI THỜ CÁC VỊ DANH Y LỚN - Y MIẾU THĂNG LONG Theo Di tích lịch sử - văn hoá Hà Nội có viết thì Y Miếu Thăng Long được xây vào giữa thế kỷ 18, trong thờ các vị Tổ nghề Y. Ngay những năm mới lên ngôi, vua Lê Hiển Tông (1740-1786) đã cho kiến lập Y Miếu để thờ tiên thánh và các vị danh y lớn. Vào năm Canh Ngọ (1750), Xuyên Hầu và Ngoạn Quận công đã tiến hành xây dựng công trình đầu tiên trên một thửa đất thuộc huyện Quảng Đức ở phía tây hoàng thành, nhưng Y Miếu lúc đó còn rất sơ sài.
93 hạng mục tại Y Miếu đã xuống cấp rõ rệt: phần tường trên mái và tường bao quanh khu vực thờ tự trong miếu bị bong tróc khắp nơi, loang ố gây mất mỹ quan; lối dẫn vào Y Miếu phải chung cổng với người dân; bên trong nơi thờ tự các vị danh y, nhiều vết nứt ngang lộ rõ, phần tường trên mái và tường bao quanh bị bong tróc, nguy cơ rơi từng mảng vữa vụn có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Khi hỏi về việc hỗ trợ kinh phí trong coi nơi đây, bà Hoàng Thị Thảo cho biết: “Ngân sách của phường trả cho tôi bình quân mỗi tháng một triệu đồng theo định kỳ 6 tháng trả một lần, trong đó đã bao gồm tất cả công và toàn bộ hương hoa cúng dâng hàng ngày, phần lễ hoa quả, oản, xôi… vào những ngày Rằm, mùng Một hàng tháng hoặc ngày lễ đặc biệt như ngày Thầy thuốc Việt Nam 27-2”. Để gìn giữ và phát huy giá trị các di tích, di sản, thiết nghĩ chính quyền địa phương cùng các cấp ngành liên quan cần có những giải pháp thiết thực hơn nữa để bảo tồn và phát huy những giá trị lịch sử, văn hóa của di tích. Y Miếu được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa quốc gia năm 1980. Ảnh: NGUYỄN LINH GIANG Ngày ngày, bà Hoàng Thị Thảo một mình cặm cụi chăm lo hương khói nơi đây
Y TẾ VÀ MÔI TRƯỜNG Medicine and Enviroment 94 Nhắc đến danh tiếng của những bác sĩ chữa hếm muộn, có lẽ thật thiếu sót nếu không nhắc tới bác sĩ Đoàn Tuấn (Hưng Yên) chuyên chữa các bệnh hiếm muộn và vô sinh nổi tiếng cả nước. Là một bác sĩ khá bận rộn với công việc của mình, đồng thời lại là chủ tịch một công ty chuyên về y tế nhưng bác sĩ Đoàn Tuấn luôn được các chị em yêu quý không chỉ là một người “mát tay” trong việc chữa vô sinh, hiếm muộn mà còn là tình cảm của chính bác sĩ với những cặp vợ chồng đang mong chờ một thiên thần nhỏ trong ngôi nhà của mình. Bác sĩ Đoàn Tuấn - hiện đang là bác sĩ trưởng của Phòng khám đa khoa Mẹ và bé - đồng thời cũng đang là Chủ tịch Công ty cổ phần y tế quốc tế Vietcare – đơn vị uy tín và tiên phong trong lĩnh vực phát triển công nghệ y tế. Bác sĩ Đoàn Tuấn cũng là bác sĩ chính ở khoa hỗ trợ sinh sản và nam học, phòng làm việc của nam bác sĩ luôn xuất hiện những vị khách đặc biệt với những món quà cũng đặc biệt không kém. “Món quà” ở đây chính là các bạn nhỏ được chính tay bác sĩ đã “gieo hạt” tới cho các gia đình hiếm muộn. Những bạn nhỏ có bạn mới bắt đầu biết đi, có bạn chỉ mới tập lật... dù gần hay xa thì các gia đình hiếm muộn ấy vẫn không quên người bác sĩ tận tâm đem niềm vui, niềm hy vọng, hạnh phúc đến với mình. Bác sĩ Đoàn Tuấn: NGƯỜI MANG TIN VUI ĐẾN GIA ĐÌNH BỊ HIẾM MUỘN Bác sĩ Đoàn Tuấn: Niềm vui của người bác sĩ chữa hiếm muộn chính là tiếng khóc chào đời của trẻ sơ sinh Chia sẻ với phóng viên, chị Trần Thị Yến (quê ở Bắc Giang) cho biết anh chị biết tới phòng khám và danh tiếng của bác sĩ Đoàn Tuấn qua một người bạn. Hai vợ chồng chị Yến đã dòng dã bao công sức chạy chữa tìm con khắp nơi với hon 20 năm khó khăn và tiền sử thai lưu 15-16 lần, cộng thêm tuổi cũng đã lớn nên hy vọng cứ dần dần lụi tắt. Nhờ duyên lành nên vợ chồng chị Trần Thị Yến đã được gặp bác sĩ Đoàn Tuấn, để rồi với 5 tháng kiên trì, chị Yến đã được mang thai đứa con của mình và đội ngũ y bác sĩ cùng bác sĩ Đoàn Tuấn đã giữ con cho chị tới thai kỳ tuần 39 đầy gian truân vất vả. Em bé đầu tiên của vợ chồng chị Yến chào đời trong niềm hân hoan, hạnh phúc vô bờ bến của tất cả những người chứng kiến - với bác sĩ Đoàn Tuấn, đây cũng chính là niềm vui, hạnh phúc của nghề bác sĩ mà anh đã lựa chọn. Cũng như chị Yến ở Bắc Giang, vợ chồng anh chị Ngọc Vân cũng đã từng bị thai lưu tới mười mấy lần vì em bé không có tim thai, cứ mang thai rồi lại bị sẩy. Thậm chí có cả khi sinh con ra rồi, con của anh chị đã lớn được 20 tuổi thì định mệnh chia rẽ con cái với cha mẹ, “người đầu bạc tiễn người
95 đầu xanh”. Đứa con duy nhất của cặp vợ chồng đã mất sớm khi tuổi đời còn quá trẻ. Gia đình chị Ngô Vân đã tìm tới bác sĩ Đoàn Tuấn khi tuổi đã cao, sức khỏe sa sút với mong muốn có một mụn con để gia đình đỡ phần quạnh quẽ, cũng muốn có người chăm lo hương khói sau này. “Tôi tưởng chừng như đứt hy vọng vì khi được giới thiệu, gặp bác sĩ Đoàn Tuấn thì chồng tôi bị chuẩn đoán là đứt gãy tinh trùng 38- 40%. Bác sĩ đã động viên vợ chồng tôi và chia sẻ khó khăn về kinh tế, rồi duyên lành cũng đã tới khi tôi bắt đầu mang thai. Và khi bé được 36 tuần thì gia đình cùng bác sĩ quyết tâm mổ để đưa em bé ra ngoài. Giờ đây con mình cũng đã được 5-6 tuổi rồi nên tôi và gia đình cùng đưa cháu đến để chào cũng như chia sẻ câu chuyện này với mọi người để những người giống như vợ chồng tôi có thêm hy vọng về ước mong gặp được thiên thần của chính mình” - chị Vân cho hay. Bác sĩ Đoàn Tuấn tâm sự rằng, ai cũng biết chữa vô sinh hiếm muộn là một quá trình lâu dài và gian nan, nên các bác sĩ còn thực sự là những người đồng hành cùng bệnh nhân trong suốt quá trình ấy. Từ việc làm ‘công tác tư tưởng’ khi nguyên nhân đến từ người chồng, người vợ, chia sẻ niềm vui, động viên họ đi tiếp hành trình mỗi khi thất bại. “Niềm vui của chúng tôi được nhân lên khi chứng kiến niềm hạnh phúc của các cặp vợ chồng có tin mừng. Những lúc thất bại, chúng tôi động viên bệnh nhân đừng bỏ cuộc mà hãy tiếp tục đi tiếp. Bởi kỹ thuật hiện nay đã tốt lên nhiều, tỷ lệ thụ tinh trong ống nghiệm thành công ngày càng tăng. Tính trên tổng số bệnh nhân tại khoa, kết quả thụ thai trong ống nghiệm thành công chiếm khoảng 65%. Tôi nghĩ đó là một con số rất đáng để hy vọng. Bản thân tôi cũng luôn phải cập nhật kiến thức mới của các nước tiên tiến, tham gia nhiều hội thảo khoa học chuyên ngành hỗ trợ sinh sản để mang ứng dựng mới về phát triển phòng khám, mang nhiều tin vui tới các bà mẹ và gia đình bị hiếm muộn con cái lâu nay” - bác sĩ Đoàn Tuấn chia sẻ. Những năm qua, bác sĩ Đoàn Tuấn cùng đội ngũ chuyên gia y tế tại Phòng khám đa khoa Mẹ và bé luôn nỗ lực, cố gắng và đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận. Hiện nay, khoa có thể làm được tất cả các kỹ thuật chuyên sâu mà các trung tâm hỗ trợ sinh sản trên thế giới đã và đang làm như: kích thích buồng trứng, chọc hút noãn, ICSI, chuyển phôi tươi, chuyển phôi trữ, hỗ trợ phôi làm tổ, hỗ trợ phôi thoát màng, đông phôi, đông noãn… HOÀNG YẾN
THỂ THAO - DU LỊCH Sport - Travel 96 Những bức ảnh thể thao XUẤT SẮC NHẤT NĂM 2023 Vận động viên đến từ Hy Lạp Evangelia Platanioti tại Giải vô địch thể thao dưới nước thế giới ở Fukuoka, Nhật Bản Ảnh: Adam Pretty/Getty Images Một con lừa băng qua đường trong cuộc đua xe đạp Tour of Saudi Arabia. Ảnh: Alex Broadway/Getty Images Trận tứ kết CONCACAF Nations League giữa Mexico và Honduras tại Estadio Azteca ở Mexico City. Ảnh: Hector Vivas/Getty Images Đua xe mô tô quốc tế tại Công viên Hawkstone ở Anh Ảnh: Cameron Smith/Getty Images Trận đấu bóng đá giữa Barcelona và Atlético Madrid Ảnh: EPA/Vostock-photo Vận động viên lướt sóng người Úc Olivia Ottaway lặn dưới làn sóng ở Tahiti Ảnh: Ryan Pierse/Getty Images
97 Các vận động viên ăn mừng chiến thắng tại Giải vô địch điền kinh thế giới ở Budapest Ảnh: EPA/Vostock-photo Giải vô địch thế giới các môn thể thao dưới nước tại Nhật Bản Ảnh: Hình ảnh Adam Pretty/Getty Trận chung kết Giải bóng bầu dục thế giới 2023 giữa New Zealand và Nam Phi ở Saint Denis, Pháp Ảnh: EPA/Vostock-photo Lướt sóng lớn ở Nazaré, Bồ Đào Nha Ảnh: EPA/Vostock-photo Serb Novak Djokovic tại giải Pháp mở rộng Ảnh: Clive Brunskill/Getty Images Đấu kiếm thi đấu tại Đại hội thể thao châu Á lần thứ 19 ở Hàng Châu, Trung Quốc Ảnh: Shi Tang/Getty Images
THỂ THAO - DU LỊCH Sport - Travel 98 Một đoàn tàu cổ điển mới, gồm 8 toa màu xanh cổ điển, hiện chạy từ Matxcova đến khu nghỉ mát trượt tuyết gần nhất, cách thủ đô khoảng 50 km. Tàu dựa trên cơ sở tàu điện ER2K, từng được sản xuất ở Riga,Cộng hòa Latvia. Tàu RETRO chạy từ thủ đô Mátxcơva của Nga đến khu nghỉ mát trượt tuyết gần nhất chỉ cách thành phố 50 km. Những đoàn tàu này đã lỗi thời và không còn được sản xuất, nhưng Cơ quan Đường sắt nhà nước Nga đã chọn mẫu xe đặc biệt với vẻ ngoài cổ điển đặc biệt của nó. Mặc dù mẫu xe lửa cũ này có một số nhược điểm như tiếng ồn lớn, thiếu nhà vệ sinh và máy lạnh, nhưng chiếc xe lửa retro được tân trang lại gần đây trông khác hẳn. Hãy trở lại quá khứ Liên Xô trên chuyến tàu RETRO mới này!
Một vé cho chuyến tàu cổ điển, khởi hành từ ga Savelovskaya ở Matxcova, có giá 300 rúp từ thứ Hai đến thứ Sáu và 500 rúp vào cuối tuần. Những người đi du lịch đến các khu nghỉ mát trượt tuyết cũng có cơ hội mua thẻ trượt tuyết giảm giá. Con tàu, được đặt tên là Yakhroma theo điểm đến cuối cùng nơi có các khu trượt tuyết địa phương, được sơn tông màu xanh lá cây đậm cổ điển, nổi bật khác hẳn với các màu đỏ, trắng và xanh mới của các đoàn tàu điện hiện đại chạy ở Mátxcơva. Bên trong, đoàn tàu cổ điển được trang bị những chiếc ghế dài bằng gỗ thoải mái, nhưng cổ kính thay vì những chiếc ghế hiện đại, cửa sổ được đóng bằng rèm mới và một số toa được trang bị tủ đựng đồ khô. Vì hướng chính của đoàn tàu là các khu nghỉ mát mùa đông của vùng Matxcova, nên nó cũng có các đồ đạc bằng gỗ kiểu cổ điển để gắn chặt ván trượt và ván trượt tuyết. Nội thất của các toa tàu được trang trí bằng các áp phích của Liên Xô và các bức bích họa khác tạo nên bầu không khí của những ngày nghỉ đông ở Liên Xô. Trong một số toa của đoàn tàu, các ván trượt cổ điển của Liên Xô thậm chí còn được gắn vào các bức tường. Mặc dù có vẻ ngoài cổ điển đặc trưng, đoàn tàu được trang bị hệ thống thông tin liên lạc hiện đại mà mọi người đã trở nên quen thuộc trong những năm gần đây. Ví dụ, ổ cắm USB có sẵn trong toa cho bất kỳ ai cần sạc điện thoại thông minh hoặc các thiết bị khác. Trà và báo được phát miễn phí trong suốt chuyến đi. Như một phần thưởng, khi đến ga Yakhroma, hành khách có thể đến các khu nghỉ mát trượt tuyết trên xe buýt Ikarus cổ điển. Theo fullpicture 99
100 Chào Xuân Giáp Thìn ĐẠO DIỄN HOÀNG NHẬT NAM VÀ CEO CÔNG TY SEN VÀNG BÀ PHẠM KIM DUNG