SỔ TAY THUỘC QUYỀN SỞ HỮU CỦA TỔ 3 - 10 VĂN Văn minh Đại Việt
Văn minh Đại Việt TỔ 3 - 10 VĂN
Nội dung Thiết kế Nhóm tác giả Hà Khánh Linh (B) Tạ Hương Giang Đỗ Lưu Hồng Nhung Nguyễn Hải Linh Nguyễn Minh Trang Lê Quỳnh Trang Hà Trâm Anh Lê Thu Huế Vũ Thị Tâm Nguyễn Thu Phương Nghiêm cấm hành vi sao chép bản quyền dới mọi hình thức
Lời tựa... Các bạn thân mến! Cuốn sổ tay Văn minh Đại Việt của Tổ 3 lớp 10 Văn - THPT Chuyên Hùng Vương đã khái quát nhất về thời Đại Việt cũng như các thành tựu nổi bật, làm bền tảng quan trọng cho sự phát triển của các thời sau này. Cuốn sổ sẽ giúp các bạn hiểu khái quát, sơ lược nhưng quan trọng nhất của văn minh Đại Việt. Từ đó, tiếp cận được lịch sử dân tộc và có lợi trong việc thi cử đạt điểm số cao. Chúc các bạn có thời gian học tập vui vẻ, hiệu quả! CÁC TÁC GIẢ
MỤC LỤC MỤC LỤC MỤC LỤC .Văn minh Đại Việt .Thành tựu 1.1. Giới thiệu khái quát 1.2. Cơ sở hình thành 1.3. Tiến trình phát triển 1.4. Ý nghĩa, vị trí 2.1. Tiến bộ về chính trị 2.2. Tiến bộ về kinh tế 2.3. Tín ngưỡng, tư tưởng, tôn giáo 2.4. Giáo dục và khoa cử
NOTES Kiến thức trọng tâm Chú giải từ khó
01 VĂN MINH ĐẠI VIỆT
+ Văn minh Đại Việt tồn tại và phát triển cùng quốc gia Đại Việt, trải dài gần 1000 năm (từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX), gắn liền với: chính quyền họ Khúc, họ Dương và các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Lê sơ, Mạc, Lê Trung Hưng, Tây Sơn, Nguyễn. Khái niệm: Đặc điểm Là những sáng tạo vật chất và tinh thần tiêu biểu trong kỉ nguyên độc lập của Việt Nam từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX Văn minh: Khái niệm này dịch từ ngôn ngữ phương Tây “Civilasation” (bắt nguồn từ chữ Civitas – đô thị), chỉ trình độ phát triển cao của văn hóa. “Văn minh là trạng thái tiến bộ cả về vật chất và tinh thần của xã hội loài người, tức là trạng thái phát triển cao của nền văn hóa. Trái với văn minh là dã man” (“Lịch sử văn minh thế giới”). 11 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT Khái niệm
Các giai đoạn phát triển . Thế kỉ X: bước đầu được định hình. . Thế kỉ XI – XV: phát triển mạnh mẽ, toàn diện và thể hiện rõ nét tính dân tộc. . Thế kỉ XV – XVII: tiếp tục phát triển và đạt được những thành tựu rực rỡ . Thế kỉ XVII I – giữa thế kỉ XIX: bắt đầu thể hiện dấu hiệu suy thoái. . Khôi phục và phát triển nền văn minh Việt cổ. . Ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa (phía Bắc) . Ảnh hưởng văn hoá Chăm pa ( phía Nam) + Văn minh Đại Việt còn được gọi là văn minh Thăng Long. Nền văn minh là sự tổng hợp của 3 nhân tố Thành tựu: kết quả đạt được hết sức có ý nghĩa, sau một quá trình hoạt động thành công
Kế thừa thành tựu của nền văn minh Văn Lang - Âu Lạc: Văn minh Đại Việt có nguồn gốc sâu xa từ nền văn minh Văn Lang - Âu Lạc được bảo tồn qua hơn 1 000 năm Bắc thuộc. Những di sản và truyền thống của văn minh Văn Lang - Âu Lạc tiếp tục được phục hưng, phát triển trong thời kì độc lập, tự chủ. Dựa trên nền độc lập, tự chủ của quốc gia Đại Việt: Độc lập, tự chủ là nhân tố quan trọng của việc hình thành và phát triển văn minh Đại Việt. Năm 905, Khúc Thừa Dụ dựng quyền tự chủ bước đầu. Năm 938, sau chiến thắng chống quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, Ngô Quyền xưng vương, mở ra thời kì độc lập, tự chủ lâu dài cho dân tộc. Năm 1010, Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư ra Đại La. Trải qua các triều đại khác nhau, nền độc lập, tự chủ quốc gia tiếp tục được củng cố vững chắc. Tiếp thu có chọn lọc những thành tựu văn minh bên ngoài: Trong quá trình hình thành và phát triển, ngoài việc kế thừa nền văn minh Văn Lang, Âu Lạc, người Việt đã tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn minh từ bên ngoài, đặc biệt là văn minh Trung Quốc, văn minh Ấn Độ, góp phần làm phong phú nền văn minh Đại Việt. Khái niệm: 21 CƠ SỞ HÌNH THÀNH
Ngô – Đinh – Tiền Lê: -Sau 938: Ngô Quyền xưng vương sau chiến thắng Bạch Đằng, đóng đô ở Cổ Loa (Hà Nội), nền độc lập dân tộc được khôi phục hoàn toàn. -Triều Đinh, Tiền Lê đóng đô ở Hoa Lư (Ninh Bình), kinh tế và văn hóa dân tộc bước đầu phát triển. Lý – Trần – Hồ: -1010: Lý Thái Tổ rời đô ra Thăng Long, mở ra thời kì phát triển rực rỡ của văn minh Đại Việt. -Nhà Trần kế thừa và phát huy các thành tựu của nhà Lý (Đặc trưng nổi bật của văn minh Đại Việt thời Lý- Trần “tam giáo đồng nguyên”) 1407-1427: Nhà Minh thực hiện chính sách hủy diệt văn minh Đại Việt. Ngô Quyềntrongtrậnchiếnsông Bạch Đằng LýTháiTổchodờiđôvềThăngLong Khái niệm: 31 TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN
Lê Sơ: Năm 1428: Nhà Lê Sơ được thành lập, Đại Việt trở thành một cường quốc trong khu vực Đông Nam Á. Văn minh Đai Việt đạt được những thành tựu rực rỡ trên cơ sở “độc tôn Nho học”. Mạc – Lê Trung Hưng: -1527: nhà Mạc thành lập. Văn minh Đại Việt có xu thế hướng ngoại. -Thời Lê Trung Hưng: Văn minh Đại Việt phát triển theo xu hướng dân gian hóa và bước đầu tiếp xúc với văn minh phương Tây. Tây Sơn – Nguyễn: -Cuối TK XVIII: phong trào Tây Sơn bùng nổ và lan rộng, đánh tan quân xâm lược Xiêm và Mãn Thanh, tạo nền tảng cho sự thống nhất quốc gia. -1802: Nhà Nguyễn thành lập, quốc gia thống nhất. Văn minh Đại Việt nổi bật là tính thống nhất. Truyềnthuyếthồ Gươm -sựrađời củanhàLêSơ
- Khẳng định quá trình lịch sử xây dựng và bảo vệ tổ quốc của người dân Đại Việt. - Văn minh Đại Việt thể hiện rõ sự kết hợp những dòng văn hóa đã có khả năng hội nhập giữa bản địa với bên ngoài và bên ngoài hòa nhập vào nội địa. Mộtsốnétvănhoátruyềnthống - Khẳng định tinh thần quật khởi và sức lao động sáng tạo bền bỉ của nhân dân. Về ý nghĩa: Ể Khái niệm: 41 Ý NGHĨA VỊ TRÍ
-Là nền tảng để Việt Nam đạt được nhiều thành tựu rực rỡ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, vượt qua các khó khăn, thử thách. - Chứng minh sự phát triển trên tất cả các lĩnh vực trong lịch sử, tạo nên niềm tin, sức mạnh cho chúng ta trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm sau này. - Tạo dựng bản lĩnh, bản sắc riêng để người Việt Nam vững vàng vượt qua thử thách, vững bước tiến vào kỷ nguyên hội nhập và phát triển mới. Các cuộcđấutranhquật cườngsaunày
-Trong những điều kiện của một nước độc lập lại có gốc rễ vững chắc của một nền văn minh bản địa, văn minh Đại Việt mở rộng tiếp thu các nền văn hoá, văn minh xung quanh nhưng không những không bị yếu tố ngoại lai xoá nhoà, mà trái lại càng làm cho nó đa dạng và phong phú hơn lên. Về vị trí: -Những thành tựu của nền văn minh Đại Việt đã khẳng định bản sắc của một dân tộc đã trưởng thành, một quốc gia văn hiến, là cơ sở và là sức mạnh để hội nhập với thế giới tiên tiến bên ngoài.
02 THÀNH TỰU
11 TIẾN BỘ VỀ CHÍNH TRỊ 1. Thiết chế chính trị Các vương triều Đinh - Tiền Lê đã tiếp thu mô hình thiết chế chính trị quân chủ trung ương tập quyền của phong kiến Trung Quốc. Thiết chế ngày càng được hoàn thiện qua các triều đại Lý Trần và đạt đến đỉnh cao triều đại Lê sơ. 2. Pháp luật Các vương triều Đại Việt chú trọng xây dựng pháp luật . Các bộ luật như Hình thư thời Lý, Hình luật thời Trần,...là những thành tựu lập pháp tiêu biểu. Hình1.Sơđồnhànước thờiTrần Hình2. Bộluậthìnhthưthời Lý
21 TIẾN BỘ VỀ KINH TẾ 1. Nông nghiệp Nông nghiệp lúa nước và văn hóa làng xã tiếp tục là một trong những đặc trưng của văn minh Đại Việt. Các triều đại đều đặc biệt chú trọng phát triển nông nghiệp. Lập lễ Tịch điền vào mùa xuân để khuyến khích nghề nông phát triển Bảo vệ trâu bò, giết sẽ bị xử phạt nặng Lập cơ quan phụ trách đê điền Khai hoang mở rộng diện tích canh tác Kĩ thuật sản xuất có nhiều tiến bộ Rất coi trọng nông nghiệp: Hình3,4. Tranhvẽnhânđân ĐạiViệt laođộngtrêncánhđồng
Thời kì này nhiều nghề thủ công phát triển, nổi tiếng nhất là các nghề: dệt, gốm sứ, luyện kim.Bên cạnh đó còn có các nghề: chạm đục gỗ, chạm khắc đá, thuộc da, làm giấy, khảm trai, sơn mài, kim hoàn,.. Các xưởng thủ công của Nhà nước (Cục Bách tác) chuyên sản xuất các mặt hàng độc quyền của triều đình: tiền, vũ khí, trang phục và đồ dùng của hoàng cung.. Thủ công nghiệp dân gian cũng phát triển ( ban đầu người nông dân sản xuất mặt hàng thủ công, sau này trở thành ngành kĩ thuật độc lập. Nhiều làng nghề truyền thống được hình thành (Gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, thổ hà Bắc Giang, 82 bia tiến sĩ Văn Miếu-Quốc Tử Giám...) 2. Thủ công nghiệp Hình5. Mộtvài mónđồgốm thời ĐạiViệt Hình6. Tiềnthời LêSơ
3. Thương nghiệp Bắt đầu từ thời Tiền Lê( thế kỉ X), các triều đại đều cho đúc các loại tiền kim loại riêng. Nội thương: chợ hình thành (Vân Đồn Quảng Ninh) Ngoại thương: bắt đầu từ thế kỉ XV, về sau đặc biệt trong thế kỉ XVII, khi thương mại Á-Âu phát triển, các công ty như Đông Ấn Hà Lan, Đông Ấn Anh và thương nhân Trung Quốc, Nhật Bản, Đông Nam Á,.. đã đến Đại Việt buôn bán nhộn nhịp khắp cả nước. Hình7. Mộtgóc Hội Anthếkỉ XVIII (tranhcổ) Hình 8. Tranh môphỏngThăngLongthếkỉ XVIII
31 TÍN NGƯỠNG, TƯ TƯỞNG, TÔN GIÁO 1. Tư tưởng yêu nước, thương dân Phát triển theo hai xu hướng: dân tộc và thân dân. Dân tộc: đề cao trung quân ái quốc, đoàn kết toàn dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đề cao sức mạnh toàn dân đánh giặc. Thân dân: gần dân, yêu dân. Vua quan cùng nhân dân quan tâm đến mùa màng, sản xuất, chiến đấu và bảo vệ Tổ quốc. 2. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và Tổ Tiên Hình10. Bànthờcúnggiatiên Hình9. Lễhội Đền Hùngdiễn Tiếp tục phát triển qua việc xây dựng lăng miếu, đền đài thờ tổ tiên, các vị anh hùng dân tộc, các vị tổ nghề,…. Tạo nên tinh thần cởi mở, hòa đồng tôn giáo của người Việt. Tiếp thu ảnh hưởng các tôn giáo từ Ấn Độ, Trung Hoa, kể cả phương Tây trên cơ sở hòa nhập với tín ngưỡng cổ truyền, tạo nên một nếp sống văn hóa nhân văn.
3. Thành tựu cơ bản về tôn giáo Phát triển mạnh trong buổi đầu độc lập và trở thành quốc giáo thời Lý Trần. Dưới thời vua Lý Thánh Tông, Thiền phái Thảo Đường được sáng lập. Sang thời Trần, thiền phái Trúc Lâm Yên Tử ra đời. Từ thế kỉ XV, Phật giáo mất vai trò quốc giáo, song vẫn có sự phát triển mạnh mẽ, đồng hành cùng dân tộc trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. a) Phật giáo b) Đạo giáo Phổ biến trong dân gian và được các triều đại phong kiến trong dân gian coi trọng, có vị trí nhất định trong xã hội. c) Nho giáo Dần phát triển cùng với sự phát triển của giáo dục và thi cử, góp phần to lớn trong việc đào tạo đội ngũ tri thức. Từ thế kỉ XV, Nho giáo giữ vị trí độc tôn, là hệ tư tưởng của giai cấp thống trị để xây dựng nhà nước quân chủ trung ương tập quyền. Hình11.PhậtThíchCa Mâu Ni (đạidiệnPhậtgiáo) Hình12. LãoTử (đạidiện Đạogiáo) Hình13. KhổngTử (đạidiện Nhogiáo)
41 Nhà Lý là triều đại đầu tiên ở Việt Nam xác lập hệ thống giáo dục khoa cử có hệ thống. Từ đầu công nguyên thời Bắc thuộc, các triều đại Trung Quốc đã truyền bá chữ Nho, mở trường học tại Việt Nam, với quan niệm là công cụ đồng hóa. Đến thế kỷ 10, chữ Hán đã trở thành chữ viết chính thức, nhưng số người biết chữ Nho rất ít ỏi. Các nhà sư thường là lớp trí thức quan trọng bên cạnh các viên chi hậu, viên ngoại lang. GIÁO DỤC & KHOA CỬ 1. Giáo dục Sang thời Lý, năm 1070, Lý Thánh Tông cho xây dựng Văn Miếu ở kinh thành Thăng Long, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công, tứ phối 72 người hiền của đạo Nho. Năm 1076 vua Lý Nhân Tông lập ra Quốc Tử Giám. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cho rằng Quốc Tử Giám chỉ là trường học công đầu tiên do triều đình chính thức đứng ra tổ chức, thể hiện sự quan tâm đối với việc học hành của hoàng tộc, còn trường học tư được hình thành trước đó. Hình14.TưliệuhìnhảnhVăn miếu QuốcTử Giám thời ĐạiViệt
Sách vở chủ yếu trong hệ thống đào tạo là Tứ thư, Ngũ kinh, Bắc sử, Nam sử và sách của bách gia chư tử. Tuy nhiên, do ảnh hưởng đậm nét của Phật giáo và một phần của Đạo giáo, Nho giáo chưa có vị trí độc tôn như sau này. Các trường lớp còn dạy nhiều kiến thức về Phật giáo và Đạo giáo. Chữ viết chính thức trong giáo dục vẫn kế tục các đời trước là chữ Hán. Tuy nhiên, trong những năm đầu, hệ thống trường học chưa nhiều. Có hai dạng trường lớp: Người biết chữ nhưng đi thi không đỗ đạt: mở lớp dạy học để kiếm sống hoặc tầng lớp quan lại hoặc những người đã đỗ đạt, vì nhiều lý do đã về nhà (nghỉ hưu, bị sa thải, từ quan...) mở lớp dạy cho con em mình hoặc những người thân thích. Các trường học tồn tại trong các chùa do các nhà sư giảng dạy (không chỉ dạy Phật giáo và truyền đạt cả kiến thức Nho giáo). Hình15. Dạyhọc thời ĐạiViệt Như vậy vào thời Lý dù rất coi trọng đạo Phật nhưng từ trung kỳ đã coi trọng đạo Nho hơn trước, vì Nho giáo là học thuyết giải quyết được các mối quan hệ cơ bản (vua – tôi, cha – con, vợ - chồng, bằng hữu...), làm ngọn cờ cho sự ổn định xã hội, để thống nhất và quản lý xã hội. Điều đó không chỉ bảo vệ cho quyền lợi của nhà Lý mà còn đặt nền móng cho sự phát triển giáo dục và khoa cử Nho học của các triều đại sau này.
2. Khoa cử Cùng việc mở Quốc Tử Giám, nhà Lý quan tâm tới việc tổ chức thi cử để lựa chọn nhân tài mà các triều đại trước đó chưa thực hiện. Khoa thi đầu tiên được nhà Lý tổ chức vào tháng 2 năm 1075, niên hiệu Thái Ninh thời vua Lý Nhân Tông, gọi là thi Minh kinh bác học. Lê Văn Thịnh người làng Báo Tháp xã Đông Cứu (nay thuộc huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh) đỗ đầu cùng hơn 10 người trúng tuyển. Ông trở thành thủ khoa đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Việc mở khoa thi Nho giáo đầu tiên đánh dấu mốc về việc nhà Lý chính thức tuyển người theo Nho giáo làm quan bên cạnh tầng lớp quan lại thiên về kiến thức Phật giáo trước đó. Trong kỳ thi thứ tư, thí sinh phải viết luận về chủ đề Y quốc thiên (thiên trị nước) và thiên tử truyện (truyện đế vương). Hình16. Môphỏngkì thi thời Lê-Trịnh Các khoa thi đòi hỏi kiến thức về Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo, vì vậy người ứng thí các khoa thi phải thông hiểu kiến thức cả ba đạo này mới có thể đỗ đạt. Việc tổ chức thi Tam giáo (Phật, Nho, Đạo) chính thức được thực hiện năm 1195 dưới triều vua Lý Cao Tông. Thi cử bằng cả Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo phản ánh tam giáo đồng nguyên khá phổ biến vào thời Lý.
Tổ 3 lớp 10 chuyên Văn - Trường THPT Chuyên Hùng Vương xin trân trọng cảm ơn các tác giả có tác phẩm, tư liệu được sử dụng, trích dẫn trong cuốn sổ này.