tO t
THẾ CHIẾN THỨ HAI
Tác giả: Antony Beevor
Bản quyền tiếng Việt © Cổ phần Sách Omega Việt Nam, 2022
Bản dịch tiếng Việt © Công ty Cổ phần Sách Omega Việt Nam, 2022
Công ty Cổ phần Sách Omega Việt Nam xuất bản, bìa cứng, áo ôm, 2022.
Công ty Cổ phần Sách Omega Việt Nam - thành viên của Alpha Publishing Group.
CÔNG TY CPSÁCHOMEGA VIỆT NAM (OMEGA PLUS)thành lập tháng 9/2016 với định hướng xuất bản
tri thức nền tảng trong lĩnh vực Khoa học Nhân văn, Khoa học Tự nhiên, Chính trị - Xã hội, Triết học,
Nghệ thuật… Đến nay, chúng tôi đã xuất bản hơn 300 đầu sách thuộc 6 tủ sách bao gồm: Kinh điển,
Sử Việt, Khoa học, Nhân vật Vĩ đại, Nghệ thuật và Tủ sách Đời người. Thông qua việc xuất bản các
ấn phẩm có giá trị, mang hàm lượng tri thức cao, qua các hoạt động nhằm đưa tri thức hữu ích đến
cộng đồng; Omega Plus mong muốn đóng góp theo cách riêng vào sự phát triển đang ngày càng
mạnh mẽ của xã hội.
Không phần nào trong xuất bản phẩm này được phép sao chép, lưu trữ trong hệ thống truy xuất hoặc
truyền đi dưới bất kỳ hình thức nào hoặc bằng bất kỳ phương tiện nào gồm điện tử, cơ khí, sao chụp,
ghi âm hoặc mọi hình thức và phương tiện khác mà không có sự cho phép trước bằng văn bản của
Công ty Cổ phần Sách Omega Việt Nam. Chúng tôi luôn mong muốn nhận được những ý kiến đóng
góp của quý vị độc giả để sách ngày càng hoàn thiện hơn.
Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia Việt Nam
Beevor, Antony
Thế chiến thứ hai / Antony Beevor ; Dịch: Trịnh Huy Ninh, Trịnh Ngọc Minh. - H. : Nxb. Hà Nội ;
Công ty Sách Omega Việt Nam, 2021. - 1200 tr. ; 24 cm
Tên sách tiếng Anh: The second world war
ISBN 978-604-359-451-5
1. Lịch sử 2. Chiến tranh thế giới II
940.54 - dc23
HNK0094p-CIP
Góp ý về sách, liên hệ về bản thảo và bản dịch: [email protected]
Liên hệ ebooks, hợp tác xuất bản & truyền thông trên sách: [email protected]
Liên hệ dịch vụ bản quyền, xuất bản, ký gửi và phát hành: [email protected]
Đ I NG TRI N KHAI OMEGA+
Phụ trách xuất bản: Trần Hoài Phương
Điều phối sản xuất: Nguyễn Quang Diệu
Biên tập viên: Nguyễn Lê Hoài Nguyên
Thiết kế bìa: Tuyết Ngân
Trình bày: Quốc Nguyễn
Thư ký xuất bản: Vũ Thị Giang
ĐƠN VỊ HỢP TÁC TRUYỀN THÔNG
https://www.facebook.com/tramdocvn
website: http://tramdoc.vn/
Dành tặng Michael Howard
Mục lục 7
Bản đồ
Lời giới thiệu của nhà xuất bản
Dẫn nhập
Chiến tranh nổ ra
“Hủy diệt cả gói Ba Lan”
Từ Cuộc chiến Cuội đến Blitzkrieg
Rồng và mặt trời mọc
Na Uy và Đan Mạch
Đánh sang phía tây
Pháp sụp đổ
Chiến dịch Sư Tử Biển và trận chiến Anh
Những tiếng dội
Cuộc chiến Balkan của Hitler
Châu Phi và Đại Tây Dương
Barbarossa
Rassenkrieg
THẾ CHIẾN THỨ HAI
Liên minh Lớn
Trận Moscow
Trân Châu Cảng
Trung Quốc và Philippines
Chiến tranh khắp thế giới
Wannsee và “quần đảo” SS
Nhật chiếm đóng và trận Midway
ất bại trên sa mạc
Chiến dịch Blau – mở lại Barbarossa
Đánh trả trên ái Bình Dương
Stalingrad
Alamein và Chiến dịch Bó Đuốc
Nam Nga và Tunisia
Casablanca, Kharkov và Tunis
Châu Âu trong rào kẽm gai
Trận chiến trên Đại Tây Dương và ném bom chiến lược
ái Bình Dương, Trung Quốc và Miến Điện
Trận Kursk
Từ Sicily đến
Ukraine và Hội nghị Teheran
Diệt chủng bằng hơi ngạt
Ý – cú đòn hiểm
Cuộc tấn công mùa xuân của Xô Viết
ái Bình Dương, Trung Quốc và Miến Điện
Mùa xuân của những kỳ vọng
Bagration và Normandy
Berlin, Warsaw và Paris
8 ANTONY BEEVOR
Cuộc tấn công Ichigō và Leyte
Những hi vọng bất thành
Ardennes và Athens
Từ Vistula đến Oder
Đột kích Philippines, Iwo Jima, Okinawa, Tokyo
Yalta, Dresden, Königsberg
Người Mỹ trên sông Elbe
Chiến dịch Berlin
Những thành phố của người chết
Bom nguyên tử và chinh phục Nhật Bản
Lời cảm ơn
Chú thích
Mục từ tra cứu
Phụ lục hình ảnh ...........................................................................
THẾ CHIẾN THỨ HAI 9
BẢN ĐỒ
ái Bình Dương (tháng Tám năm 1942)
Xâm lược và chia cắt Ba Lan (tháng Chín – tháng Mười một
năm 1939)
Cuộc chiến Mùa Đông (tháng Mười một năm 1939 – tháng Ba
năm 1940)
Lãnh thổ Trung Quốc (trước năm 1954)
Đức xâm lược Na Uy và Đan Mạch (tháng Tư – tháng Sáu
năm 1940)
Đức xâm lược các nước Vùng Trũng và Pháp (tháng Năm năm
1940)
Chiến dịch La Bàn (tháng Mười hai năm 1940 – tháng Hai
năm 1941)
Đức xâm lược Hy Lạp và Crete (tháng Tư – tháng Năm năm 1941)
Chiến dịch Barbarossa (tháng Sáu – tháng Chín năm 1941)
Trận Moscow (tháng Mười một – tháng Mười hai năm 1941)
Chiến dịch Blau (tháng Sáu – tháng Mười một năm 1942)
Tây Nam ái Bình Dương và quần đảo Solomon
10 ANTONY BEEVOR
Chiến dịch Sao iên Vương (tháng Mười một năm 1942)
Trận Alamein (23 tháng Mười – 4 tháng Mười một năm 1942)
Tunisia (tháng Hai – tháng Năm năm 1942)
Trận Kursk (Từ ngày 5 đến ngày 23 tháng Bảy năm 1943)
Sicily và Ý (tháng Bảy năm 1943 – tháng Sáu năm 1944)
Miến Điện
Overlord (6 tháng Sáu năm 1944)
Chiến dịch Bagration (tháng Sáu – tháng Tám năm 1944)
Leyte và Philippines (tháng Mười năm 1944)
Trận Ardennes (tháng Mười hai năm 1944 – tháng Một năm
1945)
Từ Vistula đến Oder (Từ ngày 12 đến ngày 31 tháng Một năm
1945)
Bao vây Berlin (1945)
THẾ CHIẾN THỨ HAI 11
LỜI GIỚI THIỆU
CỦA NHÀ XUẤT BẢN
5hế kỷ XX, nhân loại trải qua một cuộc chiến thảm khốc mà đến
nay vết thương của nó vẫn còn hằn sâu trong tâm thức của nhiều
quốc gia, dân tộc trên thế giới. Chiến tranh thế giới thứ hai hay ế
chiến thứ hai bắt đầu từ năm 1939 và kết thúc năm 1945 với sự tham
gia của hơn 30 quốc gia trên thế giới là một cuộc chiến tranh toàn diện.
Các quốc gia tham chiến đã dồn toàn bộ nguồn lực kinh tế, quân sự,
khoa học, công nghiệp trong mọi nỗ lực tham chiến. Những vụ thảm
sát kinh hoàng, những cuộc tấn công đẫm máu... đã diễn ra. Và rồi hậu
quả của nó là khôn lường khi theo nhiều nguồn thống kê, số người thiệt
mạng lên tới 70-80 triệu người, hàng trăm triệu người dân bị mất nhà
cửa. Nền kinh tế các quốc gia sụp đổ, phần lớn hạ tầng công nghiệp
bị phá hủy... Sau tất cả, nỗi đau chiến tranh vẫn còn nhức nhối trong
nhiều thế hệ ở nhiều quốc gia.
Là một người lính đã từng tham gia phục vụ quân đội, nhà văn,
nhà sử học người Anh Antony Beevor đã tái dựng tương đối toàn cảnh
về bức tranh Chiến tranh thế giới thứ hai qua cuốn sách ế chiến
thứ hai ( e Second World War). Trong vị thế của người trong cuộc,
như một phóng viên chiến trường, những cảnh quay về cuộc chiến từ
12 ANTONY BEEVOR
tất cả các bên tham chiến được ông khắc họa chân thực đến khốc liệt,
đau thương và ám ảnh. Bằng cái nhìn nhân bản, Antony Beevor mang
đến cách quan sát đa chiều, khách quan về lịch sử để nhắc nhở thế giới
ngày nay cần phải trân trọng và giữ gìn nền hòa bình thế giới. Việc
thiết lập hòa bình, như sử gia Anh Michael Howard đã viết, “là nhiệm
vụ hằng ngày của mỗi chúng ta… và không có công thức, không có tổ
chức và không có cuộc cách mạng chính trị nào có thể giải phóng con
người khỏi nhiệm vụ không thể lay chuyển này. ế chiến thứ hai nhắc
nhở chúng ta nhiệm vụ này cần thiết như thế nào”.
Nhà xuất bản Hà Nội và Công ty Cổ phần Sách Omega Việt
Nam trân trọng giới thiệu đến độc giả cuốn sách ế chiến thứ hai
Chúng tôi hi vọng độc giả sẽ có những cái nhìn khách quan, đa chiều
trong việc tiếp cận thông tin, đồng thời chọn lọc được những thông
tham khảo hữu ích góp phần nâng cao nguồn tri thức cho chính mình.
NHÀ XUẤT BẢN HÀ NỘI
THẾ CHIẾN THỨ HAI 13
Yang Kyoungjong (người Triều Tiên) bị buộc đi lính lần lượt cho Quân
đội Đế quốc Nhật, Hồng quân và Wehrmacht (lực lượng vũ trang Đức),
bị quân Mỹ bắt ở Normandy vào tháng Sáu năm 1944.
14 ANTONY BEEVOR
DẪN NHẬP
5háng Sáu năm 1944 khi quân Đồng minh đổ bộ Normandy,
một người lính trẻ đã đầu hàng các lính dù Mỹ. Cứ tưởng anh
ta là người Nhật nhưng hóa ra lại là người Triều Tiên , tên là Yang
Kyoungjong. Năm 1938, mới 18 tuổi, Yang bị người Nhật bắt vào đạo
quân Quan Đông ở Mãn Châu. Một năm sau, Yang bị Hồng quân bắt
trong trận Khalkhin Gol và bị đưa đến trại lao động. Trong tình thế
hiểm nghèo năm 1942, lãnh đạo quân sự Liên Xô cho anh ta cùng hàng
nghìn tù binh khác sung quân. ế rồi, đến đầu năm 1943, Yang lại
bị quân Đức bắt trong trận Kharkov ở Ukraine. Năm 1944, trong bộ
quân phục Đức, anh bị đưa sang Pháp phục vụ một Ostbattallion (Tiểu
đoàn phương Đông) vốn được dự đồ là sẽ tăng cường sức mạnh cho
Bức tường Đại Tây Dương ở tận căn cứ trên bán đảo Cotentin nằm
phía trong bãi biển Utah. Sau một thời gian bị giam ở Anh, anh ta sang
Mỹ định cư, không hé lộ chút gì về quá khứ, cuối cùng thì qua đời ở
Illinois vào năm 1992.
1. Tính đến thời điểm năm 1945, tạm thời chúng tôi dùng cách dịch “Triều Tiên”
cho chữ Korea/Korean trong bản tiếng Anh, vì phải đến sau khi Chiến tranh Triều
Tiên kết thúc (ngày 27 tháng Bảy năm 1953) và sau Hiệp định Geneva năm 1954
thì mới có sự phân định bán đảo Triều Tiên thành Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc
(hay Nam Hàn, Nam Triều Tiên) như cách chúng ta đang dùng hiện nay. (BTV)
THẾ CHIẾN THỨ HAI 15
Trong cuộc chiến trải khắp địa cầu và tước đi sinh mạng của hơn
60 triệu người, cựu chiến binh bất đắc dĩ này của các quân đội Nhật,
Liên Xô, Đức kể ra cũng may mắn. Nhưng Yang có lẽ vẫn là một
minh họa sống động nhất đại diện cho sự bất lực của hầu hết người
trần mắt thịt bình phàm khi đối diện với cái có vẻ như là các thế lực
lịch sử áp đảo.
Mãi đến ngày 1 tháng Chín năm 1939, châu Âu mới nhảy vào
cuộc chiến. Một số sử gia bàn luận về “Cuộc chiến tranh 30 năm” tính
từ năm 1914 đến năm 1945 với ý cho rằng ế chiến thứ nhất chính
là “tai ương khởi nguồn”. Số khác giữ quan điểm “cuộc chiến lâu dài”,
vốn bắt đầu từ cuộc đảo chính Bolshevik vào năm 1917, đã tiếp diễn và
trở thành “cuộc nội chiến châu Âu” cho đến tận năm 1945, hoặc thậm
chí còn kéo dài đến khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ ở Liên Xô và Đông
Âu vào năm 1989.
Tuy nhiên, lịch sử có bao giờ gọn ghẽ. Sir Michael Howard lập
luận đầy thuyết phục rằng xét ở nhiều mặt, đòn tấn công của Hitler ở
phía tây nhắm vào Pháp và Anh quốc năm 1940 là sự nối dài của ế
chiến thứ nhất. Gerhard Weinberg cũng cả quyết rằng cái cuộc chiến
bắt đầu bằng việc xâm lăng Ba Lan năm 1939 đó là khởi đầu cho tham
vọng Lebensraum (không gian sinh tồn) ở phía đông của Hitler, và đây
mới là mục tiêu then chốt của ông ta. Quả đúng vậy, nhưng những
cuộc cách mạng và nội chiến từ năm 1917 đến năm 1939 rốt cục đã gây
thêm nhiều rối rắm cho bản dự đồ. Chẳng hạn, “phía bên trái” luôn tin
chắc cuộc nội chiến Tây Ban Nha đánh dấu sự khởi đầu ế chiến thứ
hai, trong khi “phía bên phải” lại cho rằng nó đại diện cho sự mở màn
ế chiến thứ ba giữa chủ nghĩa cộng sản và “nền văn minh phương
Tây”. Đồng thời, cuộc chiến Trung-Nhật từ năm 1937 đến năm 1945
1. “Phía bên trái” (the left) và “phía bên phải” (the right) ngầm chỉ phe Tây Âu và
Đông Âu, mô phỏng theo vị trí địa lý của các luồng tư tưởng trên bản đồ châu Âu
mà ta thường thấy. (BTV)
16 ANTONY BEEVOR
cũng như cách nó nhập vào cuộc chiến tranh thế giới cũng thường bị
các sử gia phương Tây coi nhẹ. Nhưng mặt khác, một số sử gia châu Á
lại cho rằng ế chiến thứ hai bắt đầu từ năm 1931 với việc Nhật xâm
lược Mãn Châu.
Các tranh luận xoay quanh chủ đề cuộc đại chiến này bắt đầu từ
khi nào cứ thế mà nảy sinh, nhưng ế chiến thứ hai rõ ràng là tập hợp
của nhiều xung đột. Tuy hầu hết là quốc gia đối đầu với quốc gia, song
cuộc nội chiến ở tầm quốc tế giữa hai bên tả-hữu cũng thấm đẫm và
thậm chí còn chi phối nhiều cuộc chiến trong số đó. Vì vậy, cần phải
nhìn lại một số điều kiện dẫn đến điều này, khối mâu thuẫn tàn khốc
nhất và hủy diệt nhất mà thế giới từng biết tới.
Những tác động khủng khiếp của ế chiến thứ nhất đã khiến
Pháp và Anh quốc – bên chiến thắng chính đại diện cho châu Âu – kiệt
quệ và kiên quyết rằng bằng mọi giá không để lặp lại một việc tương tự
như vậy. Người Mỹ, sau khi có đóng góp quan trọng trong việc đánh
bại nước Đức Đế quốc (Imperial Germany), cũng muốn rửa tay cho
sạch hết những thứ mà họ coi là một Cựu ế giới mục rữa và tàn bạo.
Trung Âu, bị phân mảnh bởi những đường biên giới mới được vẽ ra tại
Hội nghị Versailles, thì đối mặt với sự nhục nhã và bần cùng của thất
bại. Niềm kiêu hãnh nát tan, các sĩ quan quân đội Áo-Hung Kaiserlich
und Koniglich phải trải nghiệm một pha đảo ngược của “câu chuyện
Lọ Lem”, khi mà bộ quân phục như mơ của họ bị thay bằng bộ đồ
rách rưới của kẻ thất nghiệp. Nỗi cay đắng trước thất bại của phần lớn
sĩ quan và binh lính Đức còn bị xát muối thêm bởi thực tế là cho đến
trước tháng Bảy năm 1918, quân đội của họ vẫn bất bại, điều đó đã
1. Viết tắt là k.u.k., nghĩa là “thuộc hoàng đế và vua”, chỉ vương triều/chính phủ
Habsburg, hoặc theo một số học giả hiện đại thì chỉ giới hạn dùng cho chế độ quân
chủ kép Áo-Hung trong giai đoạn 1867-1918; trong thời kỳ này, theo thỏa thuận
Áo-Hung, hai lãnh thổ nhập vào cùng một liên minh, Habsburg đồng thời là Kaiser
(hoàng đế Áo) và könig (vua Hungary). (ND)
THẾ CHIẾN THỨ HAI 17
khiến sự sụp đổ bất ngờ ngay chính tại quê nhà càng có vẻ gì đó giống
như tai họa và không cách gì lý giải được. Trong mắt họ, những cuộc
nổi loạn và bất ổn trong lòng nước Đức vào mùa thu năm 1918 đã đẩy
nhanh sự thoái vị của Kaiser hoàn toàn là do những người Do ái
Bolshevik. Những người cánh tả kích động quả thực đã góp một tay và
hầu hết các lãnh đạo cách mạng nổi bật của Đức trong giai đoạn 1918-
1919 ấy quả thực là người Do ái, nhưng lý do chính đằng sau sự bất
ổn lại là nạn đói và sự mệt mỏi vì chiến tranh. uyết âm mưu độc hại
của cánh hữu – truyền thuyết đâm sau lưng – là một phần khiến họ
không thể không lẫn lộn nguyên nhân với kết quả.
Siêu lạm phát giai đoạn 1923-1924 đã xói mòn cả những gì chắc
chắn lẫn tính chính trực của giới tư sản Đức. Sự cay đắng do nỗi nhục
quốc gia lẫn cá nhân mang đến đã sinh ra cơn giận không đâu vào với
đâu. Các phần tử dân tộc Đức mơ đến ngày đảo ngược nỗi nhục từ
bức chế Versailles . Đời sống ở Đức được cải thiện trong nửa sau những
năm 1920, chủ yếu nhờ những khoản vay lớn từ Mỹ. ế rồi cuộc suy
thoái toàn thế giới, vốn bắt đầu từ sau sự sụp đổ của Phố Wall năm
1929, giáng đòn nặng hơn lên nước này khi Anh quốc và các nước khác
từ bỏ bản vị vàng vào tháng Chín năm 1931. Nỗi lo sợ trước một lần
siêu lạm phát nữa đã buộc chính phủ của thủ tướng Brüning phải duy
trì đồng Reichsmark theo giá vàng, khiến đồng tiền này bị định giá
quá cao. Các khoản vay của Mỹ đã ngưng lại, chủ nghĩa bảo hộ chặn
đường đến với các thị trường xuất khẩu của Đức, dẫn đến thất nghiệp
tràn lan, tình cảnh làm tăng đáng kể cơ hội cho những kẻ mị dân vẽ vời
giải pháp cực đoan.
Khủng hoảng tư bản đã đẩy nhanh cuộc khủng hoảng dân chủ
tự do, thứ từng tỏ ra vô hiệu ở nhiều nước châu Âu theo sau tác động
rời rạc của việc bỏ phiếu theo đại diện tỷ lệ. Phần lớn các hệ thống
1. Nguyên văn: Diktat Versailles. (BTV)
2. Tiền tệ ở Đức từ năm 1924 đến năm 1948. (ND)
18 ANTONY BEEVOR
nghị viện xuất hiện sau khi ba đế chế của châu lục này sụp đổ vào năm
1918 đều không đủ sức đối phó với xung đột dân sự. Và các nhóm sắc
tộc thiểu số vốn vẫn khá yên ổn dưới các chế độ đế quốc cũ giờ đây lại
bị đe dọa trước các chủ thuyết về sự thuần khiết quốc gia dân tộc.
Ký ức hẵng còn tươi mới về cách mạng Nga và sự tàn phá khủng
khiếp của các cuộc nội chiến ở Hungary, Phần Lan, các nước Baltic và
ngay cả ở Đức đã đẩy quá trình phân cực chính trị lên cao. Vòng luẩn
quẩn sợ hãi và thù hận có nguy cơ biến lời nói kích động thành lời tiên
tri tự ứng nghiệm, như các sự kiện ngay sau đây ở Tây Ban Nha thể
hiện. Những lựa chọn nhị nguyên tốt-xấu quyết loại bỏ thứ chủ nghĩa
trung dung dân chủ dựa trên thỏa hiệp. Trong kỷ nguyên chủ nghĩa tập
thể mới này, những giải pháp bạo lực đã có vẻ cực kỳ khác thường đối
với trí thức cả hai phe tả hữu, cũng như với những cựu binh ế chiến
thứ nhất còn ôm lòng cay đắng. Đối diện với thảm họa tài chính, bỗng
đâu hình thái nhà nước độc đoán lại trở thành trật tự hiện đại đương
nhiên ở hầu khắp châu Âu và có vẻ như là đáp án cho sự hỗn loạn mà
xung đột bè phái gây ra.
áng Chín năm 1930, tỷ lệ phiếu bầu cho Đảng Xã hội Quốc
gia [Đảng Quốc xã Đức] tăng từ 2,5% lên 18,3%. Cánh hữu bảo thủ
ở Đức, vốn chẳng mấy tôn trọng nền dân chủ, đã hủy hoại Cộng hòa
Weimar một cách hiệu quả, và do đó mở ra cánh cửa cho Hitler. Họ
đánh giá thấp đến mức trầm trọng sự nhẫn tâm của Hitler, cho rằng
có thể sử dụng ông ta như một con rối dân túy hòng bảo vệ ý tưởng về
nước Đức của họ. Nhưng Hitler biết chính xác mình muốn gì, còn họ
thì không. Ngày 30 tháng Một năm 1933, Hitler trở thành thủ tướng
và nhanh chóng tiến hành loại bỏ những kẻ đối địch tiềm tàng.
Bi kịch với các nạn nhân về sau của Đức nằm ở chỗ nước này
đã có quá đủ những người vì mang khao khát trật tự và sự tôn trọng
1. Nguyên bản: Manicean, chỉ sự lưỡng cực giữa một bên tốt và một bên xấu, dựa trên
nguyên lý cơ bản giữa giao tranh tốt-xấu theo Mani giáo. (BTV)
THẾ CHIẾN THỨ HAI 19
mà hăng hái đi theo Hitler. Hitler đã thành công khi tìm cách khơi
lên bản năng xấu xa nhất của họ: sự oán giận, không dung thứ, ngạo
mạn, và nguy hiểm nhất là cảm giác về một chủng tộc thượng đẳng.
Bất kỳ niềm tin nào còn sót lại dành cho một nhà nước pháp quyền
Rechtsstaat, một quốc gia trên nền tảng tôn trọng sự điều hành của
luật pháp, đều nát tan thành từng mảnh vụn khi đối mặt với lòng quả
quyết của Hitler rằng hệ thống pháp luật phải phục vụ cho trật tự mới.
Các thiết chế công cộng – tòa án, trường đại học, bộ tham mưu và báo
chí – đều quỳ gối trước chế độ mới. Những người phản kháng nhận
thấy bản thân mình bị cô lập đến bất lực và bị công kích là kẻ phản bội
trước định nghĩa mới của tổ quốc (Fatherland), không chỉ bởi chế độ
mà còn bởi tất cả những ai ủng hộ nó. Gestapo (không như NKVD
tức cảnh sát mật của Stalin) nhàn hạ đến bất ngờ. Hầu hết những vụ
bắt bớ của họ chỉ đơn thuần đáp lại những tố cáo của chính người Đức
dành cho người Đức.
Đội ngũ sĩ quan vốn tự hào với truyền thống phi chính trị cũng
đã để mình bị phỉnh phờ trước hứa hẹn tăng cường lực lượng và tái vũ
trang ồ ạt mặc dù vẫn coi thường kẻ phỉnh phờ ấy là tầm thường, ăn
mặc dị hợm. Chủ nghĩa cơ hội sóng vai cùng sự hèn hạ trước uy quyền.
ủ tướng Đức thế kỷ XIX là Otto von Bismark từng có lần nhận xét
rằng sự can đảm xét trên bình diện đạo đức là đức tính hiếm hoi ở Đức,
nhưng nó lại biến mất hoàn toàn một khi người Đức khoác lên mình
bộ quân phục. Phe Quốc xã dĩ nhiên muốn tất cả mặc quân phục, nhất
là trẻ con.
Tài năng lớn nhất của Hitler nằm ở chỗ ông ta nhận ra và khai
thác được điểm yếu của đối thủ. Cánh tả ở Đức sau khi phân đôi thành
Đảng Cộng sản Đức và Đảng Xã hội Dân chủ đã không còn là mối
đe dọa thực sự. Hitler dễ dàng dắt mũi những người bảo thủ ngây thơ
ngạo mạn tưởng mình đã kiểm soát được ông ta. Ngay khi đã củng cố
1. Gestapo: cảnh sát mật hay mật vụ Đức Quốc xã, một tổ chức do SS lập ra. (BTV)
20 ANTONY BEEVOR
xong quyền lực ở “quê nhà” bằng những sắc lệnh bao quát và bỏ tù
hàng loạt, Hitler hướng sự chú ý sang việc phá vỡ Hiệp ước Versailles.
Việc trưng binh được thực hiện trở lại vào năm 1935, Anh quốc chấp
nhận việc hải quân Đức được tăng cường và không quân Luftwa e
được công khai thành lập. Cùng với Pháp, Anh quốc không có động
thái nghiêm túc nhằm phản đối chương trình tái vũ trang đang tăng
tốc ở Đức.
áng Ba năm 1936, quân Đức Quốc xã chiếm lại Rhineland
trong động thái đầu tiên vi phạm các hiệp ước Versailles và Locarno. Đó
là “cái tát” vào mặt Pháp, nước đã chiếm đóng vùng này trong hơn một
thập niên, khiến sự ngưỡng mộ Quốc trưởng lan rộng khắp nước Đức,
ngay cả từ phía những người vốn không bỏ phiếu cho ông ta. Sự ủng hộ
này cộng với phản ứng có phần yếu thế của Anh và Pháp đã giúp Hitler
hào hứng làm tới. Một tay Hitler khôi phục niềm tự hào của người Đức
trong khi việc tái vũ trang, hơn nhiều so với chương trình, công trình
công được tán dương của ông ta, đã chặn được đà tăng thất nghiệp. Sự
tàn bạo của Đảng Quốc xã và việc mất tự do với hầu hết người Đức
dường như chỉ là cái giá nhỏ nhoi phải trả.
Sự mê hoặc đầy thuyết phục của Hitler với người dân Đức bắt đầu
từng bước tước bỏ những giá trị nhân văn của đất nước này. Không ở
đâu thể hiện hậu quả trên rõ ràng cho bằng cuộc khủng bố người Do
ái diễn ra theo từng đợt. Nhưng không như nhiều người vẫn nghĩ,
việc này chủ yếu bắt nguồn bên trong Đảng Quốc xã thay vì từ bên
trên. Hitler hô hào chống lại người Do ái không nhất thiết đồng
nghĩa với việc ông ta đã quyết định dùng “Giải pháp Tối hậu” hòng tiêu
diệt thể xác. Ông ta bằng lòng cho quân đặc chủng SA (Sturmabteilung)
tấn công người Do ái và sản nghiệp của họ, cướp tài sản của họ để
thỏa mãn cái hỗn hợp tạp nham của lòng tham và sự đố kỵ, cùng sự
phẫn uất tưởng tượng. Ở giai đoạn này, chính sách của Đức Quốc xã
nhắm tới việc tước bỏ các quyền công dân của người Do ái cũng như
mọi thứ họ sở hữu, rồi sau đó thông qua việc làm nhục và quấy nhiễu
THẾ CHIẾN THỨ HAI 21
mà buộc họ rời khỏi nước Đức. “Bọn Do ái phải cút khỏi nước Đức,
thậm chí cút khỏi toàn châu Âu,” Hitler đã nói như vậy với bộ trưởng
tuyên truyền Joseph Goebbels vào ngày 30 tháng Mười một năm 1937.
“Việc này sẽ mất chút thời gian, nhưng sẽ và bắt buộc phải xảy ra.”
Chương trình biến Đức thành thế lực thống trị châu Âu của
Hitler đã được nói rõ trong Mein Kampf, một tác phẩm tự truyện kết
hợp với tuyên ngôn chính trị của Hitler lần đầu được xuất bản vào năm
1925. Trước hết, ông ta thống nhất Đức với Áo, sau đó sẽ đưa người
Đức bên ngoài cương giới của Reich [đế chế] trở lại dưới quyền kiểm
soát. “Người chung dòng máu phải ở chung trong một đế chế,” ông
tuyên bố. Chỉ khi đạt được điều đó thì người Đức mới có “quyền tinh
thần” “đòi hỏi lãnh thổ bên ngoài. anh gươm rồi mới đến lưỡi cày;
nước mắt của chiến tranh sẽ tạo ra bánh mì hằng ngày cho các thế hệ
mai sau.”
Chính sách hiếu chiến của Hitler được tuyên bố rõ ràng ngay từ
trang đầu. Nhưng dẫu cho mọi đôi lứa Đức đều phải mua một cuốn
Mein Kampf lúc kết hôn, không mấy người có vẻ coi các tiên đoán hiếu
chiến của ông là đáng chú ý. Họ thích tin vào những khẳng định mới
nhất và lặp đi lặp lại của ông ta hơn, rằng ông ta không muốn chiến
tranh. Những cú tát táo tợn trực diện vào điểm yếu của Anh và Pháp đã
khiến họ vững tin vào hi vọng rằng Hitler có thể đạt được tất cả những
điều ông ta mong muốn mà không để xảy ra xung đột lớn. Họ không
thấy được rằng nền kinh tế đã quá nóng của Đức và quyết tâm của
Hitler hòng tận dụng lợi thế ban đầu trong vũ trang đã khiến việc xâm
lăng các nước láng giềng thành chuyện rõ ràng chắc chắn.
Hitler không quan tâm tới chỉ mỗi việc chiếm lại những phần
lãnh thổ mà Đức bị mất sau Hiệp ước Versailles. Ông ta coi khinh
bước đi nửa vời như vậy. Ông ta nhấp nhổm sốt ruột bởi tin rằng mình
không sống đủ lâu để đạt được giấc mơ uy quyền tối cao của Đức.
Ông ta muốn lấy cả Trung Âu và toàn bộ nước Nga đến tận sông Volga
làm Lebensraum cho Đức, để bảo đảm cho Đức một vị thế siêu cường,
22 ANTONY BEEVOR
tự cấp tự túc. Giấc mơ chinh phục các lãnh thổ phía đông đã được
khích lệ nhiều nhờ thời gian ngắn ngủi chiếm đóng các nước Baltic
năm 1918, một phần Belorussia, Ukraine và miền Nam nước Nga đến
tận Rostov trên sông Đông. Đó là theo Hiệp ước Brest-Litovsk, bức chế
của chính nước Đức ký với chính quyền Xô Viết non trẻ. “Vựa bánh
mì” của Ukraine đặc biệt hấp dẫn người Đức sau cái đận suýt chết đói
chủ yếu là vì sự kiện từng bị Anh quốc bao vây trong ế chiến thứ
nhất. Hitler quyết tránh tình trạng “ngã lòng” mà nước Đức đã trải qua
năm 1918 dẫn đến cách mạng và sụp đổ. Lần này thì những nước khác
là kẻ phải đói. Nhưng một trong những chủ định chính cho kế hoạch
Lebensraum là chiếm lấy công nghiệp dầu ở phía đông. Khoảng 85%
nguồn cung cấp dầu của Reich, ngay cả trong thời bình, đến từ nhập
khẩu, và đó có thể là gót chân Achilles của nước Đức trong chiến tranh.
Các thuộc địa phía đông xem ra là phương cách tốt nhất để tự
cấp tự túc, có điều tham vọng của Hitler lớn hơn nhiều so với tham
vọng của các phần tử dân tộc chủ nghĩa khác. Phù hợp với niềm tin
theo thuyết Darwin xã hội rằng sự tồn vong của quốc gia là cuộc đấu
tranh giành quyền thống trị chủng tộc, Hitler muốn giảm sâu số dân
Slav bằng cách cố ý bỏ đói họ và khiến những người sống sót thành
như nô lệ.
Quyết định can thiệp vào cuộc nội chiến Tây Ban Nha mùa hè
1936 của Hitler không mang tính cơ hội như thường được mô tả. Ông
ta tin một nước Tây Ban Nha Bolshevik kết hợp cùng chính phủ cánh
tả ở Pháp sẽ hình thành nên mối đe dọa từ phía tây trong khi nước Đức
còn đang bận đối phó với Liên Xô của Stalin ở phía đông. Một lần nữa,
Hitler đã có khả năng khai thác sự chán ghét chiến tranh của các nền
dân chủ. Anh quốc sợ rằng xung đột ở Tây Ban Nha có thể khơi mào
cho một cuộc xung đột châu Âu khác, trong khi chính phủ Mặt trận
Bình dân mới của Pháp thì sợ phải hành động một mình. Điều đó cho
phép Đức hỗ trợ quân sự trắng trợn cho các phần tử dân tộc của thống
chế Francisco Franco giành thắng lợi cuối cùng trong khi Luftwa e của
THẾ CHIẾN THỨ HAI 23
Hermann Göring được thử nghiệm các máy bay và chiến thuật mới.
Nội chiến Tây Ban Nha còn kéo Hitler và Benito Mussolini xích lại gần
nhau hơn với việc chính phủ phát xít của Ý đưa một quân đoàn “tình
nguyện” sang chiến đấu cùng phe chủ nghĩa dân tộc. Nhưng Mussolini,
với lối khoa trương và tham vọng ở Địa Trung Hải của mình, cũng lo
ngại quyết tâm đảo ngược hiện trạng của Hitler. Người dân Ý chưa sẵn
sàng cho một cuộc chiến ở châu Âu, cả về mặt quân sự và tâm lý.
Với mong mỏi có được thêm đồng minh trong cuộc chiến sắp tới
chống Liên Xô, Hitler đã lập ra Hiệp ước Chống Quốc tế Cộng sản
với Nhật Bản vào tháng Mười một năm 1936. Nhật Bản đã bắt đầu
bành trướng thuộc địa ở Viễn Đông trong thập niên cuối của thế kỷ
XIX. Hưởng lợi từ sự suy tàn của chính quyền đế quốc Trung Hoa,
Nhật thiết lập sự hiện diện ở Mãn Châu, chiếm Formosa (Đài Loan)
và bán đảo Triều Tiên. Chiến thắng trước Nga Sa hoàng trong cuộc
chiến 1904-1905 đã biến Nhật thành một thế lực quân sự chính trong
khu vực. Tư tưởng bài trừ phương Tây lớn mạnh trong nước Nhật với
tác động của việc Phố Wall chao đảo cùng cuộc suy thoái toàn cầu.
Tầng lớp sĩ quan chủ nghĩa dân tộc ngày càng đông lên thì nhìn về
Mãn Châu và Trung Hoa theo cách chẳng khác gì toan tính của Đức
Quốc xã đối với Liên Xô: đất và người ở đó phải chịu nô dịch để nuôi
Nhật Bản.
Xung đột Trung-Nhật giống như miếng ghép còn thiếu của ế
chiến thứ hai. Vốn đã bắt đầu khá lâu trước khi cuộc chiến ở châu Âu
bùng nổ, xung đột này thường được xem như một vấn đề hoàn toàn
riêng biệt mặc dù đã xảy ra đợt triển khai lực lượng trên bộ lớn nhất của
Nhật ở Viễn Đông cũng như có sự dính dáng của cả Mỹ lẫn Liên Xô.
áng Chín năm 1931, quân đội Nhật tạo sự kiện Phụng iên
khi cho nổ đường sắt để lấy cớ chiếm cả Mãn Châu. Phía Nhật hi
vọng biến vùng này thành nơi sản xuất lương thực chính khi nông
nghiệp ở nước nhà đã suy giảm nghiêm trọng. Họ gọi nơi này là
24 ANTONY BEEVOR
Mãn Châu Quốc và lập ra một chính quyền bù nhìn cho vị vua bị phế
truất Henry Phổ Nghi đứng đầu. Chính quyền dân sự ở Tokyo, dù bị
các sĩ quan coi thường, vẫn cảm thấy buộc phải ủng hộ quân đội. Hội
Quốc Liên ở Geneva từ chối lời kêu gọi cấm vận Nhật Bản của Trung
Hoa. ực dân Nhật mà chủ yếu là nông dân tràn sang chiếm đất cho
mình theo sự khuyến khích của chính phủ. Họ muốn trong vòng hai
mươi năm lập được “một triệu hộ” bám lại với tư cách là các trại chủ
thực dân. Hành động này đưa đến kết quả là Nhật Bản bị cô lập ngoại
giao. Việc này đánh dấu khởi đầu của một tiến trình quyết định cả về
mặt bành trướng ra ngoài lẫn ảnh hưởng của giới quân phiệt đối với
chính phủ ở Tokyo.
Một chính quyền hiếu chiến hơn đã thắng thế và đội quân Quan
Đông ở Mãn Châu mở rộng kiểm soát đến tận cửa ngõ Bắc Kinh.
Chính phủ Quốc dân Đảng của Tưởng Giới ạch ở Nam Kinh buộc
phải rút lui. Tuy tuyên bố kế tục Tôn Dật Tiên – người từng muốn
truyền bá một nền dân chủ theo phong cách phương Tây – nhưng
Tưởng Giới ạch thực ra lại là tổng thống lĩnh quân phiệt.
Quân đội Nhật bắt đầu “dòm ngó” láng giềng Xô Viết ở phía bắc
và để mắt tới phía nam ái Bình Dương, mục tiêu là các thuộc địa
Viễn Đông của Anh quốc, Pháp và Hà Lan, cùng những mỏ dầu Đông
Ấn của Hà Lan. Việc đình chiến khó khăn ở Trung Hoa đột nhiên bị
phá bỏ bởi cuộc tập trận của Nhật, mà sau đó trở thành vụ đấu súng
giữa hai bên, vào ngày 7 tháng Bảy năm 1937 ở cầu Marco Polo (hay
Lư Câu Kiều) bên ngoài Bắc Kinh. Quân đội iên Hoàng ở Tokyo
cam đoan với Nhật hoàng Hirohito rằng có thể đánh bại Trung Hoa chỉ
trong vài tháng. Lực lượng tăng cường được gửi sang đại lục và theo đó
là một chiến dịch kinh hoàng nổ ra. Quân đội iên hoàng được thả
xích. Nhưng cuộc chiến không sớm kết thúc khải hoàn như các tướng
ở Tokyo tiên liệu. Sự tàn bạo khủng khiếp của phe tấn công đã vấp phải
kháng cự quyết liệt. Hitler đã không rút ra được bài học này cho mình
trong lần đánh Liên Xô sau đó bốn năm.
THẾ CHIẾN THỨ HAI 25
Một số người phương Tây bắt đầu coi cuộc chiến Trung-Nhật
phần nào giống như cuộc nội chiến Tây Ban Nha. Robert Capa, Ernest
Hemingway, W. H. Auden và Christopher Isherwood, nhà làm phim
Joris Ivens và nhiều phóng viên đã đến thăm, bày tỏ sự cảm thông và
ủng hộ đối với người Trung Hoa nói chung. Một số người cánh tả đã
đến căn cứ của Đảng Cộng sản Trung Hoa ở Diên An, hỗ trợ Mao
Trạch Đông. Nhưng chính phủ của cả Anh lẫn Mỹ đều không chuẩn
bị cho một bước đi thực tế nào.
Chính phủ của Neville Chamberlain cũng như hầu hết dân Anh
quốc vẫn chuẩn bị sống chung với một nước Đức đã được hồi sinh
và tái vũ trang. Nhiều người phe bảo thủ coi Đảng Quốc xã như tấm
khiên chắn chống lại chủ nghĩa Bolshevik. Chamberlain, cựu thị trưởng
Birmingham với tính chính trực kiểu cũ đã phạm phải sai lầm tai hại
khi chờ đợi các chính khách khác chia sẻ giống với mình các nguyên
tắc giá trị và nỗi khiếp sợ chiến tranh. Ông từng là một bộ trưởng giỏi
và một thủ tướng có những quyết sách tài chính rất hiệu quả, nhưng lại
chỉ hiểu biết hạn chế về chính sách đối ngoại lẫn quốc phòng. Với cổ áo
kiểu cánh én, hàng ria kiểu Edward và chiếc ô dài, ông cho thấy mình
hoàn toàn lơ mơ trước sự tàn nhẫn của chính quyền Đức Quốc xã.
Những người khác, kể cả những người có cảm tình với phe cánh
tả, cũng ngại đối mặt với chính quyền Hitler vì vẫn tin rằng Đức đã
bị đối xử quá bất công ở hội nghị Versalles. Họ còn thấy khó mà phản
đối ham muốn lộ liễu của Hitler là đưa các bộ phận người Đức thiểu
số ở lân cận, chẳng hạn những người ở Sudetenland của Tiệp Khắc, về
lại Reich. Trên hết, người Anh và Pháp lo sợ trước ý nghĩ về một cuộc
chiến châu Âu nữa. Cho phép nước Đức Quốc xã thôn tính Áo vào
tháng Ba năm 1938 có vẻ chỉ là cái giá nhỏ để duy trì hòa bình thế giới,
đặc biệt khi đa số người Áo đã bỏ phiếu cho một Anschluss, tức liên
minh, với Đức vào năm 1918, và hai mươi năm sau lại hoan nghênh
việc Quốc xã thâu tóm đất nước mình. Việc Áo vào cuối chiến tranh
26 ANTONY BEEVOR
tự nhận là nạn nhân đầu tiên của Hitler có phần không đúng với những
gì đã xảy ra trước đó.
Hitler sau đó mới quyết định muốn xâm chiếm Tiệp Khắc vào
tháng Mười, thời điểm sau khi nông dân Đức đã thu hoạch xong vì các
bộ trưởng Đức Quốc xã lo ngại một cuộc khủng hoảng cung cấp lương
thực quốc gia. Nhưng trước sự bực tức của Hitler, Chamberlain và đồng
cấp Édouard Daladier người Pháp trong các cuộc đàm phán vào tháng
Chín năm 1938 ở Munich đã tự đem dâng vùng Sudeteteland với hi
vọng duy trì hòa bình. Hitler bị tước đi cơ hội gây chiến nhưng đã lấy lại
được toàn bộ đất nước mà chẳng phải động tay chân. Chamberlain còn
có một nước đi sai lầm cốt yếu khi từ chối hỏi ý kiến Stalin. Điều đó đã
tác động đẩy nhà lãnh đạo Xô Viết đến quyết định thỏa thuận một hiệp
ước với nước Đức Quốc xã vào tháng Tám năm 1939. Chamberlain đã
tin rằng chỉ mình ông là đã có thể hoàn toàn thuyết phục được Hitler
rằng quan hệ tốt với các đồng minh phía tây chỉ có lợi mà thôi.
Một số sử gia tranh luận rằng nếu Anh quốc và Pháp sẵn sàng
chiến đấu vào mùa thu năm 1938 thì mọi sự đã khác hẳn. Điều ấy chắc
chắn là có thể, từ quan điểm của Đức. ực tế thì người dân cả Anh
quốc và Pháp đều không sẵn sàng tâm lý cho chiến tranh, chủ yếu vì
họ đã bị các chính trị gia, các nhà ngoại giao và báo chí thông tin sai
hướng. Bất kỳ ai cố sức cảnh báo về các kế hoạch của Hitler, chẳng hạn
như Winston Churchill, đều bị coi là hiếu chiến.
Chỉ đến tháng Mười một cùng năm đó, người ta mới “sáng mắt”
ra trước bản chất thực của chế độ Hitler. eo sau vụ việc một thanh
niên Ba Lan gốc Do ái ám sát một quan chức sứ quán Đức ở Paris,
quân đặc chủng Quốc xã đã tiến hành một cuộc khủng bố kiểu Đức,
được biết với tên Kristallnacht (nghĩa là “đêm kính” vì tất cả kính của
các cửa tiệm đều vỡ). Mây đen chiến tranh lơ lửng trên đầu Tiệp Khắc
mùa thu đó, còn trong Đảng Quốc xã thì ủ đầy “năng lượng tàn bạo”.
Lính đặc chủng SA đốt phá các giáo đường Do ái, tấn công và giết
hại người Do ái, đập phá cửa tiệm của họ, đến nỗi Göring phải
THẾ CHIẾN THỨ HAI 27
than phiền về phí tổn ngoại hối từ việc phải thay tất cả kính tấm mua
từ Bỉ. Dân thường Đức bị sốc, nhưng chính sách cô lập người Do ái
của Đức Quốc xã đã mau chóng thuyết phục thành công được đại
đa số vốn dĩ thờ ơ với số phận của nhóm công dân đặc biệt này. Rất
nhiều người sau đó còn không thắng nổi cám dỗ vơ vét cướp bóc tài
sản, chiếm đoạt các căn hộ và “Aryan hóa” các doanh nghiệp Do ái.
Những người Quốc xã rất giỏi lôi kéo ngày càng đông dân thường hơn
vào vòng tội ác của mình.
Hitler chiếm nốt phần còn lại của Tiệp Khắc vào tháng Ba năm
1939 – một vi phạm trắng trợn Hiệp ước Munich, sự kiện này rốt cuộc
đã chứng minh rằng tuyên bố đưa hết người dân Đức trở lại Reich
chẳng qua chỉ là cái cớ để ông ta mở rộng lãnh thổ. Sự phẫn nộ ở Anh
quốc đã buộc Chamberlain phải đưa ra bảo đảm cho Ba Lan như một
lời cảnh báo Hitler đừng có mà lấn tới.
Sau đó, Hitler than phiền là đã bị phá ngang kế hoạch chiến tranh
năm 1938 vì “người Anh và Pháp đã chấp nhận mọi đòi hỏi của tôi ở
Munich.” Vào mùa xuân năm 1939, ông ta giải thích sự sốt ruột của
mình với ngoại trưởng Romania: “Tôi năm mươi rồi,” ông ta nói. “Tôi
muốn chiến tranh luôn bây giờ thay vì khi năm lăm hay sáu mươi.”
Như vậy, Hitler đã để lộ ra mục tiêu thống trị châu Âu chỉ trong
một đời người mà ông ta nghĩ rằng sẽ ngắn ngủi. Với bản tính kiêu
căng thất thường, ông ta không tin cậy giao cho bất kỳ ai khác thực
hiện sứ mệnh của mình. Ông ta tự coi mình là tuyệt đối không thể thay
thế và bảo với các tướng rằng vận mệnh của Reich phụ thuộc vào một
mình ông ta. Đảng Quốc xã và toàn bộ hình thức quản trị hỗn loạn
của Hitler chưa bao giờ được thiết kế để tạo nên sự ổn định và liên tục.
Và lý tưởng của Hitler về “Đế chế nghìn năm” cho thấy mâu thuẫn tâm
lý đáng kể.
Ngày 30 tháng Một năm 1939, kỷ niệm sáu năm lên nắm quyền,
Hitler đã có một bài diễn thuyết quan trọng trước các dân biểu nghị
viện Reichstag.Trong đó, ông ta đưa ra lời “tiên tri” định mệnh, điều mà
28 ANTONY BEEVOR
ông ta cùng những kẻ theo đuôi trong Giải pháp Tối hậu sẽ còn phải
nhắc lại. Hitler tuyên bố rằng người Do ái đã cười cợt khi ông ta báo
trước rằng ông rồi sẽ lãnh đạo nước Đức và “giải quyết vấn đề Do ái.”
Sau đó ông ta tuyên bố: “Hôm nay tôi lại muốn tiên tri: nếu bọn Do
ái quốc tế bên trong và ngoài châu Âu thành công trong việc đẩy các
quốc gia vào một cuộc chiến tranh thế giới lần nữa, kết quả sẽ không
phải là địa cầu bị Bolshevik hóa và theo đó là chiến thắng của bè lũ Do
ái, mà là chủng tộc Do ái sẽ bị xóa sổ ở châu Âu.” Sự lẫn lộn nhân
quả đáng ngạc nhiên này nằm ngay trung tâm mạng lưới dối trá và tự
huyễn hoặc đầy ám ảnh của Hitler.
Mặc dù đã chuẩn bị chiến tranh và muốn gây chiến với Tiệp Khắc
nhưng Hitler không thể hiểu vì sao thái độ của Anh lúc này lại đột
nhiên thay đổi từ nhân nhượng sang chống đối. Ý định tấn công Pháp
và Anh quốc vẫn còn đó, nhưng phải vào thời điểm mà ông ta chọn. Kế
hoạch Quốc xã, rút kinh nghiệm từ ế chiến thứ nhất, là tách riêng
các xung đột ra để khỏi phải chiến đấu đồng thời trên nhiều hơn một
mặt trận.
Sự ngạc nhiên của Hitler trước phản ứng của Anh quốc để lộ ra
rằng ông ta rất thiếu hiểu biết về lịch sử thế giới. Xét theo cung cách của
Anh quốc trong hầu hết các khủng hoảng ở châu Âu từ thế kỷ XVIII,
chính sách mới của chính phủ Chamberlain chẳng có gì là khó hiểu. Sự
thay đổi không phải do hệ tư tưởng mà cũng chẳng phải vì chủ nghĩa
lý tưởng. Vương quốc Anh không đứng ra chống lại chủ nghĩa phát xít
hay chủ nghĩa bài Do ái, ngay cả khi khía cạnh đạo đức của việc ấy
có lợi cho tuyên truyền quốc gia. Các động cơ của nó nằm trong chiến
lược truyền thống. Việc Đức Quốc xã thù địch chiếm đóng Tiệp Khắc
đã cho thấy rõ dã tâm của Hitler thống trị châu Âu. Đó là mối đe dọa
đối với hiện trạng, điều mà thậm chí một Anh quốc suy yếu và không
ham hố chiến tranh cũng không thể chấp nhận được. Hitler còn đánh
giá thấp sự tức giận của Chamberlain khi bị gạt qua bên một cách
THẾ CHIẾN THỨ HAI 29
toàn diện ở Munich. Du Cooper, người đã từ chức Bộ trưởng Hải
quân để phản đối việc phản bội người Tiệp, đã viết rằng Chamberlain
“chưa từng gặp ai ở Birmingham có chút gì giống Adolf Hitler… Không
ai ở Birmingham từng thất hứa với thị trưởng của mình.”
Ý định của Hitler đã trở nên rõ rành rành. Và cú sốc mà hiệp ước
của ông ta với Stalin vào tháng Tám năm 1939 gây ra đã khẳng định
rằng Ba Lan sẽ là nạn nhân tiếp theo. “Biên giới quốc gia”, ông ta viết
trong Mein Kampf, “do con người đặt ra thì cũng do con người thay
đổi.” Ngẫm lại, vòng lặp phẫn uất từ Hiệp ước Versailles dường như
đã khiến cho việc bùng nổ một cuộc thế chiến khác nữa là không thể
tránh khỏi, nhưng trong lịch sử không có gì được định trước cả. Hậu
quả của ế chiến thứ nhất chắc chắn đã tạo ra những đường biên giới
bất ổn và căng thẳng trên khắp châu Âu. Nhưng Adolf Hitler chắc chắn
là kiến trúc sư chính của đám cháy mới và khủng khiếp hơn nhiều mà
rồi đây sẽ lan khắp thế giới, sẽ thiêu đốt hàng triệu sinh mạng, gồm cả
của chính ông ta. Và chưa hết, thật trớ trêu khi cuộc đụng độ đầu tiên
của ế chiến thứ hai – cuộc đụng độ mà Yang Kyoungjong lần đầu bị
bắt – lại bắt đầu ở tận Viễn Đông.
30 ANTONY BEEVOR
1
CHIẾN TRANH NỔ RA
T H ÁNG SÁU – T HÁN G TÁ M NĂ M 1939
gày 1 tháng Sáu năm 1939, Georgii Zhukov, một chỉ huy kỵ
binh thấp đậm, nhận được lệnh triệu tập khẩn cấp đến Moscow.
Cuộc thanh trừng Hồng quân của Stalin bắt đầu từ năm 1937 vẫn còn
đang tiếp diễn nên Zhukov, người từng bị cáo buộc một lần, cầm chắc
mình đã bị tố là “kẻ thù của nhân dân”, rồi sẽ bị rơi vào “cối xay thịt”
của Lavrenti Beria – tức hệ thống thẩm vấn của Bộ Dân ủy Nội vụ Liên
Xô (NKVD).
Trong cơn hoang tưởng “Đại Khủng bố”, những sĩ quan cao
cấp nằm trong số đầu tiên bị bắn chết với tội danh những gián điệp
Trotskyite-phát xít. Khoảng 30.000 người đã bị bắt. Nhiều người
thuộc hàng cao cấp nhất đã bị xử tử và đa số bị tra tấn đến mức phải
nhận tội cho xong. Zhukov vốn thân cận với một số nạn nhân nên đã
chuẩn bị sẵn túi đi tù, kể từ ngày cuộc thanh trừng bắt đầu hai năm
trước. Bởi đã chờ đợi giây phút này từ lâu, ông ta viết thư từ biệt vợ.
THẾ CHIẾN THỨ HAI 31
“Với em, anh có một yêu cầu,” ông viết. “Đừng mãi khóc than, hãy
vững tâm và cố đường hoàng mà chịu đựng sự chia ly đáng buồn này
thật chân thành.”
Nhưng khi đáp tàu đến Moscow vào hôm sau, Zhukov không bị
bắt mà cũng chẳng bị giải đến nhà giam Lubyanka. Ông được bảo đến
Kremlin gặp người bạn cũ chí thân của Stalin ở Quân đoàn Kỵ binh
số 1 trong nội chiến tức Nguyên soái Kliment Voroshilov, bấy giờ là ủy
viên nhân dân về quốc phòng. Trong đợt thanh trừng, người lính “tầm
thường, vô danh, đầu óc tăm tối” này củng cố được địa vị của mình
bằng cách ráo riết loại bỏ các chỉ huy tài năng.
Zhukov được báo phải bay đến đất nước vệ tinh của Xô Viết là
Ngoại Mông, tại đó tiếp nhận vị trí chỉ huy Quân đoàn Đặc biệt số
57 gồm cả Hồng quân lẫn các lực lượng Mông Cổ để giáng cú phản
đòn quyết định vào Lục quân Đế quốc Nhật. Stalin bực mình khi viên
chỉ huy địa phương xem ra không mấy thành công. Với mối hiểm họa
từ Hitler ở phía tây, ông ta muốn chấm dứt sự khiêu khích của người
Nhật đến từ phía nhà nước bù nhìn Mãn Châu Quốc. Sự căng thẳng
trong quan hệ giữa Nga và Nhật đã có từ thời Sa hoàng và chắc chắn
chế độ Xô Viết vẫn còn chưa quên được thất bại vào năm 1905. Dưới
thời Stalin, lực lượng của họ ở Viễn Đông đã mạnh hơn nhiều.
Giới quân phiệt Nhật bị ám ảnh trước mối họa chủ nghĩa
Bolshevik. Và kể từ khi Hiệp ước Chống Quốc tế Cộng sản giữa Đức
và Nhật được ký vào tháng Mười một năm 1936, căng thẳng giữa các
đơn vị biên phòng Hồng quân với quân Quan Đông trên mặt trận
Mông Cổ ngày càng gia tăng. Sức nóng tăng lên đáng kể bởi một chuỗi
đụng độ biên giới trong năm 1937 và một xung đột lớn năm 1938, sự
kiện Chương Cổ Phong ở hồ Khasan, cách Vladivostok 110km về phía
tây nam.
Người Nhật còn tức giận vì Liên Xô đã hỗ trợ cho Trung Hoa
không chỉ về mặt kinh tế mà còn cả xe tăng T-26, một đội ngũ cố
vấn quân sự đông đảo cùng nhiều phi đội “tình nguyện”. Các chỉ huy
32 ANTONY BEEVOR
đạo quân Quan Đông ngày càng chán nản khi Nhật hoàng Hirohito
vào tháng Tám năm 1938 trù trừ việc cho phép họ tổng lực đáp trả
Xô Viết. Sự ngạo mạn của họ dựa trên đánh giá sai lầm rằng Liên Xô
sẽ không đánh trả. Họ yêu cầu được toàn quyền hành động theo cách
thức phù hợp trong mọi sự cố biên giới trong tương lai. Động cơ của
yêu cầu này là tư lợi. Một cuộc xung đột cấp độ thấp với Liên Xô sẽ
buộc Tokyo tăng cường cho đạo quân Quan Đông chứ không cắt giảm.
Họ sợ một số đơn vị có thể bị điều xuống phía nam tham chiến chống
quân Quốc dân Đảng của Tưởng Giới ạch.
Ban tham mưu đế quốc ở Tokyo cũng dành chút hỗ trợ cho quan
điểm hiếu chiến của lãnh đạo quân Quan Đông. Nhưng hải quân và
các chính trị gia dân sự lại hết sức lo lắng. Áp lực buộc Nhật Bản phải
coi Liên Xô là kẻ thù chính từ nước Đức Quốc xã khiến họ khó xử
nhất. Họ không muốn dính vào một cuộc chiến ở phía bắc dọc theo
biên giới giữa Mông Cổ với Siberia. Sự chia rẽ này khiến chính phủ
của hoàng thân Konoe Fuminaro khó mà vui cho được. Khi chiến
tranh ở châu Âu đã trở nên hiển nhiên, tranh cãi trong chính quyền
và giới quân sự cao cấp vẫn không dịu đi. Quân đội và các nhóm cực
hữu làm rùm beng và thổi phồng số lượng các cuộc đụng độ đang
gia tăng nơi biên giới phía bắc. Trong khi đó, đạo quân Quan Đông
không thông báo cho Tokyo mà cứ thế ban lệnh cho phép chỉ huy tại
chỗ hành động sao cho phù hợp để trừng trị những kẻ vi phạm. Việc
này diễn ra dưới cái gọi là đặc quyền “chủ động trên chiến trường”,
cho phép các đơn vị điều động quân vì lý do bảo đảm an ninh trên
chiến trường mình phụ trách mà không cần xin ý kiến bộ tham mưu
quân đội iên hoàng.
Sự kiện Nomonhan, mà sau này Liên Xô gọi là trận Khalkhin
Gol theo tên con sông, bắt đầu vào ngày 12 tháng Năm năm 1939.
Một trung đoàn kỵ binh Mông Cổ đã vượt Khalkhin Gol để cho
ngựa ăn cỏ ở những gò đất tươi tốt trên thảo nguyên xanh rờn rộng
lớn, sau đó tiến sâu thêm chừng hai chục cây số kể từ bờ sông mà
THẾ CHIẾN THỨ HAI 33
người Nhật coi là biên giới, đến ngôi làng lớn Nomonhan mà nước
Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ tuyên bố nằm trên giới tuyến. Sau
khi bị các lực lượng Mãn Châu của quân Quan Đông đẩy lùi trở lại
Khalkhin Gol, quân Mông Cổ phản công. Đánh tới đánh lui chừng
hai tuần thì Hồng quân kéo đến tiếp viện. Vào ngày 28 tháng Năm,
các lực lượng Xô Viết và Mông Cổ tiêu diệt 200 quân Nhật cùng
một số xe bọc thép cổ lỗ. Vào giữa tháng Sáu, không quân của Hồng
quân đánh bom một số mục tiêu trong khi lực lượng mặt đất xộc
thẳng vào Nomonhan.
Tiếp theo đó là chiến sự nhanh chóng leo thang. eo yêu cầu của
Zhukov sau khi đến vào ngày 5 tháng Sáu, các đơn vị Hồng quân được
chi viện từ quân khu Xuyên Baikal. Vấn đề chính mà các lực lượng Xô
Viết phải đối mặt là họ phải tác chiến cách ga tiếp tế gần nhất 650km,
đồng nghĩa với một nỗ lực vận tải khổng lồ bằng xe trên những con
đường đất xấu đến nỗi mỗi chuyến phải mất tới năm ngày. Khó khăn
kinh người này ít nhất đã dụ hoặc được quân Nhật đánh giá thấp sức
mạnh chiến đấu của các lực lượng do Zhukov tập hợp được.
Nhật phái đi Sư đoàn 23 của Trung tướng Komatsubara Michitaro
và một phần Sư đoàn 7. Quân Quan Đông yêu cầu tăng cường mạnh
sự hiện diện trên không để yểm trợ. Và điều này khiến Tokyo lo lắng.
Bộ tổng tham mưu quân đội iên hoàng gửi ngay lệnh cấm trả đũa
và thông báo rằng sẽ cho một sĩ quan đến tận nơi để báo cáo tình hình.
Nghe được tin này, các chỉ huy Quan Đông vội hành động trước khi bị
ngăn lại. Sáng 27 tháng Sáu, họ đánh vào các căn cứ Xô Viết ở Ngoại
Mông. Bộ tham mưu ở Tokyo nổi giận và gửi hàng loạt mệnh lệnh cấm
tiếp tục bất cứ hoạt động trên không nào.
Vào đêm 1 tháng Bảy, quân Nhật tràn qua sông Khalkhin Gol và
chiếm được một ngọn đồi chiến lược giúp uy hiếp bên sườn Xô Viết.
Tuy nhiên, sau ba ngày chiến đấu quyết liệt, Zhukov rốt cuộc đã đẩy
lùi họ qua sông trong một trận phản công bằng xe tăng. Sau đó, ông
chiếm một đoạn bờ sông phía đông và bắt đầu một cú lừa tuyệt vời –
34 ANTONY BEEVOR
mà Hồng quân gọi là maskirovka . Trong khi Zhukov bí mật chuẩn bị
một cuộc tổng tấn công, quân của ông lại làm ra vẻ như đang tạo một
phòng tuyến tĩnh. ông tin được mã hóa qua loa yêu cầu gửi thêm vật
liệu làm boong ke, loa phóng thanh tiếng ồn của máy đóng cọc, những
cuốn sách mỏng có nhan đề Chiến sĩ Xô Viết phải biết gì về phòng ngự
được phát vung vít cốt sao có vài cuốn lọt vào tay địch. Trong khi đó,
Zhukov đưa thêm xe tăng tiếp viện tới trong đêm rồi giấu kỹ. Cánh tài
xế kiệt sức vì những chuyến xe chuyên chở đủ đạn dược chuẩn bị cho
cuộc tấn công.
Vào ngày 23 tháng Bảy, quân Nhật lại tấn công trực diện nhưng
không phá được tuyến phòng thủ của Xô Viết. Họ cần thời gian để
chuẩn bị sẵn sàng cho đợt tấn công thứ ba mà không biết rằng lực
lượng của Zhukov lúc này đã tăng lên đến 58.000 quân, với gần 500 xe
tăng và 250 máy bay.
Đúng 05:45 giờ sáng Chủ nhật ngày 20 tháng Tám, Zhukov bất
ngờ tấn công, đầu tiên là một đợt bắn pháo dọn đường suốt ba tiếng
đồng hồ, sau đó là xe tăng và máy bay yểm trợ, cả bộ binh lẫn kỵ binh.
Sức nóng kinh hồn. Với nhiệt độ lên hơn 40oC, người ta kể rằng súng
máy và pháo được xếp như nêm, khói và bụi từ các vụ nổ làm tối sập
cả chiến trường.
Trong khi bộ binh Xô Viết gồm ba sư đoàn súng trường và một lữ
đoàn nhảy dù chốt chặt ở trung tâm cầm chân phần đông quân Nhật
thì Zhukov cho ba lữ đoàn thiết giáp và một sư đoàn kỵ binh Mông Cổ
di chuyển bọc hậu. Xe tăng tăng tốc vượt nhánh sông Khalkhin Gol,
gồm cả những chiếc loại T-26 từng được dùng để giúp phe Cộng hòa
trong nội chiến Tây Ban Nha và nhanh hơn nhiều nguyên mẫu của thứ
mà sau trở thành T-34 – loại xe tăng hạng trung hiệu quả nhất trong
1. Là một phần của nghi binh chiến thuật, maskirovka tức là đánh lạc hướng đối
phương, giấu kín hướng tấn công chính, bí mật tập trung quân dự bị đông đảo, tận
dụng hoạt động ban đêm, thực hiện tốt nghi binh chiến thuật. (BTV)
THẾ CHIẾN THỨ HAI 35
ế chiến thứ hai. Những chiếc xe tăng lỗi thời của Nhật không có
chút cơ hội nào. Pháo của chúng không có đạn xuyên thủng xe bọc sắt.
Dù không có súng chống tăng hiệu quả, quân Nhật vẫn liều mạng
chiến đấu. Người ta thấy Trung úy Sadakaji dùng kiếm samurai tấn
công một chiếc xe tăng cho đến khi bị nó hạ gục. Lính Nhật từ hầm đất
bắn ra gây tổn thất nặng nề cho đối phương dù ngược lại phải hứng đòn
từ xe tăng phun lửa. Zhukov không hề nao núng trước thương vong
của quân mình. Khi tư lệnh quân khu Liên Baikal đến thị sát đề xuất
tạm ngừng tấn công, Zhukov chẳng buồn nghe. Ông đáp trả cấp trên
rằng nếu ngừng tấn công rồi bắt đầu lại, thương vong của Xô Viết sẽ lớn
hơn gấp 10 lần “vì sự thiếu quyết đoán của chúng ta”.
Bất chấp quyết tâm không hàng, quân Quan Đông vẫn phải chịu
thất bại nghiêm trọng vì chiến thuật và trang bị cổ lỗ. Các lực lượng của
Komatsubara bị bao vây và gần như bị diệt sạch trong một cuộc thảm
sát kéo dài gây thương vong 61.000 quân. Hồng quân có 7.974 người
chết và 15.251 bị thương. Đến sáng 31 tháng Tám, trận đánh kết thúc.
Khi trận đánh bắt đầu, hiệp ước giữa Đức Quốc xã cùng Liên Xô được
ký kết ở Moscow và khi nó kết thúc, quân Đức đã tập trung ở biên
giới Ba Lan sẵn sàng khai mào cuộc chiến ở châu Âu. Những đụng độ
lẻ tẻ còn tiếp tục cho đến giữa tháng Chín nhưng Stalin đã quyết định
trong tình hình thế giới lúc đó, khôn ngoan hơn cả là chấp nhận yêu
cầu ngừng bắn của Nhật.
Zhukov, người từng lo bị bắt khi đến Moscow, bây giờ trở lại để
nhận từ tay Stalin ngôi sao vàng Anh hùng Liên Xô. Chiến thắng đầu
tiên của ông, một khoảnh khắc chói sáng trong thời kỳ khủng khiếp
đối với Hồng quân, đã có tác động lan xa. Quân Nhật chao đảo với
thất bại bất ngờ trong khi kẻ thù của họ là Trung Hoa, cả phe Quốc
dân Đảng lẫn phe Cộng sản thì phấn khích. Ở Tokyo, phe chủ trương
“Bắc phạt” chống Liên Xô phải nhận một đòn nặng. Phe “Nam chinh”
do hải quân cầm đầu nhờ đó mà lấn tới. Vào tháng Tư năm 1941,
trước sự thất vọng của Berlin, Hiệp ước không xâm phạm Xô-Nhật
36 ANTONY BEEVOR
được ký kết chỉ vài tuần trước khi diễn ra Chiến dịch Barbarossa, Đức
xâm lấn Liên Xô. Trận Khalkhin Gol do vậy đã ảnh hưởng lớn tới
quyết định của Nhật sau đó là chuyển sang tấn công các thuộc địa của
Pháp, Hà Lan và Anh quốc ở Đông Nam Á, thậm chí đối đầu cả với
hải quân Mỹ ở ái Bình Dương. Việc Tokyo sau đó từ chối tấn công
Liên Xô vào mùa đông 1941 đã đóng vai trò quan trọng trong bước
ngoặt địa-chính trị của cuộc chiến, cả ở Viễn Đông lẫn trong trận sống
còn của Hitler với Liên Xô.
Chiến lược của Hitler trong giai đoạn trước chiến tranh không
nhất quán. Có lúc ông ta hi vọng liên minh với Anh quốc trước khi ra
quyết định cuối cùng đánh Liên Xô, nhưng sau lại tính hất nước này
khỏi vai trò lục địa bằng cách đánh phủ đầu Pháp. Để bảo vệ sườn phía
đông của mình trong trường hợp đánh sang tây trước, Hitler thúc giục
Ngoại trưởng Joachim von Ribbentrop mở lời đề nghị liên minh với
Ba Lan. Người Ba Lan thừa hiểu sự nguy hiểm của việc khiêu khích
Stalin và nghi ngờ (rất đúng đắn) rằng Hitler muốn biến mình thành
chư hầu nên đã tỏ ra rất cảnh giác. Tuy nhiên, chính phủ Ba Lan đã
phạm phải một sai lầm nghiêm trọng. Khi Đức vào Sudettenland năm
1938, các lực lượng Ba Lan lại đi chiếm đóng tỉnh Teschen của Tiệp
Khắc mà từ năm 1920 Warsaw đã đòi phải thuộc về dân tộc Ba Lan, đã
thế còn đẩy đường biên giới tới tận dãy Carpathian. Động thái này vừa
khiến Xô Viết bực mình vừa làm mất lòng các chính phủ Vương quốc
Anh và Pháp. Sự tự tin thái quá của Ba Lan rốt cuộc lại đúng ý Hitler.
Ý tưởng của người Ba Lan về việc lập một khối Trung Âu chống lại sự
bành trướng của Đức – một “châu Âu thứ ba” như cách họ gọi – đã cho
thấy rõ đó chỉ là ảo vọng.
Vào ngày 8 tháng Ba năm 1939, không lâu trước khi quân của
mình chiếm Prague và phần còn lại của Tiệp Khắc, Hitler đã nói
với các tướng về ý định nghiền nát Ba Lan. Ông ta lập luận rằng
khi đó Đức sẽ được hưởng lợi từ tài nguyên của Ba Lan và thống
trị từ Trung Âu xuống phía nam. Ông ta quyết định khiến Ba Lan
THẾ CHIẾN THỨ HAI 37
câm nín, bằng cách chinh phục chứ không phải bằng ngoại giao,
trước khi đánh sang phía tây. Ý định tiêu diệt “nền dân chủ Do ái”
của Mỹ cũng được thể hiện.
Vào ngày 23 tháng Ba, Hitler chiếm vùng Memel của Lithuania
để gộp vào Đông Phổ. Hitler tăng tốc chương trình chiến tranh vì lo
ngại Anh quốc và Pháp tái vũ trang thì sẽ sớm bắt kịp. Nhưng ông ta
vẫn coi thường lời bảo đảm của Chamberlein với Ba Lan được tuyên bố
trước Viện ứ dân (Hạ viện) ngày 31 tháng Ba. Vào ngày 3 tháng Tư,
Hitler lệnh cho các tướng lên kế hoạch Chiến dịch Trắng, chiến dịch
xâm lược Ba Lan dự kiến sẵn sàng vào cuối tháng Tám.
Vì bản năng chống Cộng dẫn đến miễn cưỡng giao thiệp với
Stalin, mặt khác lại đánh giá quá cao người Ba Lan, Chamberlain
thành ra lề mề trong việc tạo nên khối phòng thủ chống Hitler ở Trung
Âu và vùng Balkan. Trên thực tế, bảo đảm của Anh quốc dành cho Ba
Lan đã hoàn toàn bỏ qua Liên Xô. Chính phủ của Chamberlain chỉ
bắt đầu phản ứng với sơ sót này khi các báo cáo về đàm phán thương
mại Đức-Xô được gửi tới. Stalin đã hết sức lo ngại rằng các chính phủ
Anh quốc và Pháp không chặn nổi Hitler. Việc không được các nước
này cho tham gia thảo luận về vận mệnh Tiệp Khắc vào năm trước
đó chỉ càng làm tăng thêm cơn giận. Stalin còn ngờ rằng Anh quốc
và Pháp muốn gài mình vào xung đột với Đức để tránh phải tự chiến
đấu. Dĩ nhiên, ông ta muốn thấy các nước tư bản xúm vào tự làm
tiêu hao lẫn nhau.
Vào ngày 18 tháng Tư, Stalin thử thách các chính phủ Anh quốc
và Pháp bằng cách đề xuất liên minh với một hiệp ước hứa hẹn hỗ
trợ bất kỳ quốc gia Trung Âu nào bị đe dọa xâm lược. Anh quốc bối
rối không biết xử trí ra sao. Phản ứng đầu tiên của cả Lord Halifax
tức ngoại trưởng Anh bấy giờ lẫn cấp phó thường trực Sir Alexander
Cadogan là cân nhắc xem liệu nước đi này của Xô Viết có ý định
“ma mãnh” gì không. Chamberlain sợ rằng đồng tình với một động
thái như vậy chỉ tổ chọc giận Hitler. Và quả thực nó đã thúc đẩy
38 ANTONY BEEVOR
Quốc trưởng cũng tìm kiếm cho mình một hiệp ước riêng với nhà
độc tài Xô Viết. Dù thế nào đi nữa, phía Ba Lan và Romania cũng
nghi ngờ. Họ có lý khi lo sợ Liên Xô sẽ đòi cho Hồng quân mượn
đường qua lãnh thổ của họ. Mặt khác, người Pháp, vốn đã coi Nga là
đồng minh tự nhiên chống Đức từ trước ế chiến thứ nhất, lại tỏ ra
hào hứng với ý tưởng liên minh. Pháp cảm thấy không thể hành động
thiếu Anh quốc nên gây sức ép để London đồng ý tham gia đàm phán
quân sự với chính quyền Xô Viết. Stalin không mấy ấn tượng trước
phản ứng ngần ngại của Anh quốc, nhưng cũng có ý định bí mật riêng
là đẩy đường biên giới Xô Viết đi xa thêm về phía tây. Ông ta đã ngắm
sẵn vùng Bessarabia của Romania, Phần Lan, các nước Baltic và miền
Đông Ba Lan, nhất là các phần Belorussia và Ukraine đã phải nhượng
cho Ba Lan sau khi chiến thắng năm 1920 của nước này. Anh quốc rốt
cuộc cũng chấp nhận sự cần thiết của một hiệp ước với Liên Xô và bắt
đầu đàm phán vào cuối tháng Năm. Nhưng Stalin nghi ngờ, với rất
nhiều lý lẽ, rằng chính phủ Anh đang chơi trò câu giờ.
Ấn tượng trong Stalin thậm chí còn xấu thêm về phái đoàn quân
sự Pháp-Anh khởi hành đến Leningrad ngày 5 tháng Tám trên một tàu
hơi nước chậm rề rề. Tướng Aimé Doumenc và đô đốc Sir Reginald
Plunkett-Ernle-Erle-Drax chẳng hề có quyền quyết định gì. Hai người
này chỉ có thể báo cáo về Paris và London. Không chỉ thế, nhiệm vụ
của họ cách gì cũng thất bại còn vì nhiều lý do khác. Doumenc và Drax
phải đối mặt với một vấn đề không thể khắc phục: Stalin khăng khăng
đòi quyền chuyển quân qua lãnh thổ Ba Lan và Romania – đòi hỏi mà
không nước nào chấp nhận được. Cả hai hết sức nghi ngờ những người
Cộng sản nói chung, đặc biệt là Stalin. ời gian cứ thế trôi đi, các cuộc
đàm phán không đạt được kết quả tiếp tục đến nửa cuối tháng Tám,
nhưng ngay cả người Pháp vốn rất muốn có thỏa thuận cũng không
thể thuyết phục chính phủ Warsaw nhượng bộ. Tổng tư lệnh Ba Lan,
ống chế Edward Śmigły-Rydz, nói rằng: “Với Đức chúng tôi có nguy
cơ mất tự do, nhưng với người Nga là nguy cơ mất cả linh hồn.”
THẾ CHIẾN THỨ HAI 39
Hitler bị kích động trước việc Anh quốc và Pháp mưu toan lôi
kéo Romania vào hiệp ước phòng thủ chống Đức xâm lược, quyết định
rằng đã đến lúc cân nhắc một bước đi vô tiền khoáng hậu về mặt hệ
tư tưởng, về một hiệp ước giữa Đức Quốc xã với Liên Xô. Vào ngày 2
tháng Tám, Ribbentrop lần đầu tiên đề xuất ý tưởng về một mối quan
hệ mới với đại biện Xô Viết ở Berlin. “Từ Baltic đến biển Đen không
có vấn đề gì là không thể giải quyết,” Ribbentrop nói với ông này, “giữa
hai chúng ta.”
Ribbentrop không giấu giếm ý định xâm lược Ba Lan và gợi ý
chuyện chia đất. Hai ngày sau, đại sứ Đức ở Moscow đánh tiếng rằng
Đức sẽ coi các nước Baltic là thuộc vào vòng ảnh hưởng của Xô Viết.
Ngày 14 tháng Tám, Ribbentrop đề xuất đến Moscow để đàm phán.
Vyacheslav Molotov, bộ trưởng ngoại giao mới của Liên Xô, bày tỏ
quan ngại việc Đức ủng hộ Nhật trong khi các lực lượng của nước này
vẫn đang có giao tranh với Hồng quân ở hai bên bờ sông Khalkhin Gol,
tuy nhiên cũng thể hiện rằng Xô Viết sẵn lòng tiếp tục thảo luận, nhất
là về vấn đề các nước Baltic.
Đối với Stalin, những cái lợi ngày càng trở nên rõ ràng. ực
ra ông ta đã cân nhắc việc hòa giải với Hitler từ Hiệp ước Munich.
Việc chuẩn bị đã có bước tiến vào mùa xuân 1939. Vào ngày 3 tháng
Năm, lực lượng NKVD bao vây dân ủy ngoại giao. Nhà ngoại giao Xô
Viết kỳ cựu Maxim Litvinov bị Molotov thay thế trên cương vị ngoại
trưởng, và một số người Do ái khác bị bắt.
ỏa thuận với Hitler sẽ cho phép Stalin chiếm các nước Baltic
và Bessarabia , chưa kể đến miền Đông Ba Lan trong trường hợp Đức
xâm lấn từ phía tây. Và bởi biết bước tiếp theo của Hitler sẽ là chống
Pháp và Anh quốc, ông ta hi vọng thấy sức mạnh của Đức sẽ bị suy yếu
trong một cuộc chiến tư bản đẫm máu. Như thế, Stalin sẽ có thời gian
1. Bessarabia: tên gọi chỉ vùng lãnh thổ lịch sử ở Trung Âu, với khoảng hai phần ba
diện tích thuộc Moldova ngày nay. (BTV)
40 ANTONY BEEVOR
để xây dựng lại Hồng quân đang kiệt quệ, mất tinh thần sau những
cuộc thanh trừng.
Còn đối với Hitler, thỏa thuận với Stalin sẽ tạo điều kiện cho
ông ta xúc tiến cuộc chiến, đầu tiên là chống Ba Lan rồi sau tới Pháp
và Anh quốc, thậm chí còn không cần tới đồng minh. Cái gọi là
Hiệp ước ép với Ý ký ngày 22 tháng Năm chẳng có mấy ý nghĩa
vì Mussolini không tin nước mình có thể sẵn sàng cho chiến tranh
trước năm 1943. Tuy nhiên, Hitler vẫn đặt cược vào linh cảm rằng
bất chấp cam kết, Pháp và Anh quốc sẽ né tránh chiến tranh khi Đức
xâm lược Ba Lan.
Cuộc chiến tuyên truyền của nước Đức Quốc xã chống Ba Lan
được tăng cường. Để lấy cớ xâm lược, người Ba Lan bị buộc tội chuẩn
bị chống Đức. Và Hitler tìm mọi cách tránh thương lượng vì không
muốn lại bị tước đi một cuộc chiến vì những nhượng bộ vào phút cuối.
Để lôi kéo người dân Đức theo mình, Hitler khai thác sự căm
ghét sâu sắc dành cho Ba Lan vì nước này đã nhận được Đông Phổ
và một phần xứ Silesia trong Hiệp ước Versailles. ành phố Tự do
Danzig và Hành lang Ba Lan – được tạo ra để cho Ba Lan lối ra biển
Baltic, chia tách Đông Phổ với phần còn lại của Reich – được trưng lên
như hai bất công lớn nhất của Hiệp ước Versailles. Nhưng vào ngày 23
tháng Năm, Quốc trưởng lại tuyên bố cuộc chiến sắp tới không phải vì
ành phố Tự do Danzig mà vì Lebensraum ở phía đông. Các báo cáo
về một triệu người dân tộc Đức bị áp bức ở Ba Lan được lợi dụng triệt
để. Không có gì lạ khi những lời Hitler đe dọa Ba Lan đã khơi dậy sự
phân biệt đối xử chống lại họ và đã có chừng 70.000 người chạy sang
Reich vào cuối tháng Tám. Những tuyên bố của Ba Lan rằng người
thuộc dân tộc Đức tham gia vào hành động lật đổ trước khi xung đột
bắt đầu gần như chắc chắn là dối trá. Dù gì thì những luận điệu trên
truyền thông Quốc xã về việc truy bức người Đức ở Ba Lan đã được tô
vẽ hết sức lâm ly.
THẾ CHIẾN THỨ HAI 41
Ngày 17 tháng Tám, khi quân đội Đức thao diễn trên sông Elbe,
hai đại úy từ sứ quán Anh được mời đến quan sát thấy rằng các sĩ
quan trẻ của Đức đã “tự tin và chắc chắn rằng quân đội Đức có thể
đối đầu bất kỳ ai.” Tuy vậy, các tướng và quan chức cao cấp của bộ
ngoại giao lại lo ngại rằng việc xâm lược Ba Lan có thể dẫn đến một
cuộc chiến toàn châu Âu. Hitler vẫn tin chắc rằng Anh quốc sẽ không
tham chiến, lý luận rằng dù thế nào thì hiệp ước hòa bình sắp có với
Liên Xô cũng sẽ trấn an các tướng lĩnh đang lo phải chiến đấu trên
hai mặt trận. Dẫu vậy, ngày 19 tháng Tám, để đề phòng Anh quốc
và Pháp tuyên chiến, Đại đô đốc Erich Raeder lệnh cho hai tàu tuần
dương bọc thép Deutschland và Graf Spee cùng 16 tàu ngầm ra khơi
hướng về Đại Tây Dương.
Ngày 21 tháng Tám, vào lúc 11:30 giờ, Bộ Ngoại giao Đức nằm
trên đường Wilhelmstrasse ra thông báo rằng Hiệp ước Không xâm
phạm Xô-Đức đã được trình. Khi tin Stalin đồng ý nói chuyện đến tai
Hitler ở Berghof, “sào huyệt” của ông ta trên núi Alps ở Berchetesgaden,
có lời chứng thuật rằng ông ta đã nắm chặt tay tỏ vẻ chiến thắng, nện
xuống bàn và tuyên bố với tùy tùng: “Có rồi! Có được rồi!” “Người
Đức trong các quán cà phê phấn khích bởi nghĩ rằng như vậy nghĩa là
hòa bình rồi,” một nhân viên sứ quán Anh quốc nhận xét. Còn đại sứ
Sir Nevile Henderson thì báo luôn về London rằng “ấn tượng đầu tiên
ở Berlin là cảm giác vô cùng nhẹ nhõm… Một lần nữa niềm tin của
người Đức vào khả năng Herr Hitler sẽ đạt được mục tiêu mà không
cần đến chiến tranh đã được tái khẳng định.”
Tin này khiến Anh quốc xôn xao, nhưng đối với người Pháp,
những người vốn đã tính toán nhiều hơn đến một hiệp ước với đồng
minh truyền thống là Nga, thì đó đúng là bom nổ. Trớ trêu thay,
Franco ở Tây Ban Nha và giới lãnh đạo Nhật mới là những người
choáng váng nhất. Họ cảm thấy bị phản bội khi thình lình nghe tin
kẻ đầu trò Hiệp ước chống Quốc tế Cộng sản giờ đây lại bắt tay với
Moscow. Chính phủ Tokyo sụp đổ vì sốc, song tin này cũng là một
42 ANTONY BEEVOR
đòn mạnh giáng xuống Tưởng Giới ạch và những người Trung Hoa
theo Quốc dân Đảng.
Ngày 23 tháng Tám, Ribbentrop có chuyến bay lịch sử đến thủ
đô Xô Viết. Có vài điểm mắc trong đàm phán khi hai chính thể độc
tài phân chia châu Âu với nhau trong bản dự thảo mật. Stalin đòi toàn
bộ Latvia và Ribbentrop đã chịu nhường sau khi nhận được sự chấp
thuận nhanh chóng của Hitler qua điện thoại. Khi cả hiệp ước không
xâm phạm lẫn biên bản bí mật đã được ký kết xong, Stalin nâng cốc
mừng Hitler, nói với Ribbentrop rằng ông ta biết “nhân dân Đức yêu
quý Quốc trưởng của mình đến nhường nào.”
Cũng ngày hôm đó, Sir Nevile Henderson bay sang Berchtesgaden
cùng một bức thư của Chamberlain trong cố gắng cuối cùng để tránh
chiến tranh, nhưng Hitler buộc tội Anh quốc đã kích động thái độ
chống Đức của người Ba Lan. Dù là một nhà hòa giải tinh quái nhưng
rốt cuộc Henderson hiểu ra rằng “viên hạ sĩ của cuộc chiến trước đây
thậm chí còn khao khát hơn việc chứng minh mình làm được gì nếu là
Tổng thống lĩnh chinh phục trong cuộc chiến tiếp theo.” Ngay trong
đêm đó, Hitler lệnh cho quân đội chuẩn bị xâm chiếm Ba Lan sau ba
ngày nữa.
Lúc 03:00 giờ sáng 24 tháng Tám, sứ quán Anh quốc ở Berlin
nhận được một bức điện mã Rajah từ London. Các nhà ngoại giao,
một số vẫn còn mặc đồ ngủ, bắt đầu đốt tài liệu mật. Đến giữa trưa, một
cảnh báo được phát ra cho toàn bộ người dân Anh quốc rời khỏi Đức.
Đại sứ Henderson dù còn thiếu ngủ sau chuyến đi đến Berchtesgaden
nhưng tối hôm đó vẫn đóng vai trò cầu nối với các nhân viên của mình.
Ngày hôm sau, Henderson một lần nữa gặp Hitler lúc này đã
ở Berlin. Quốc trưởng đề nghị hiệp ước với Anh quốc sau khi chiếm
xong Ba Lan nhưng rồi đã nổi điên lên khi Henderson nói rằng điều
kiện để đạt được bất kỳ một thỏa thuận nào là ông ta phải ngừng
ngay cuộc xâm lược cũng như rút khỏi Tiệp Khắc. Một lần nữa Hitler
đưa ra tuyên cáo rằng nếu phải có chiến tranh thì nó sẽ xảy ra bây giờ
THẾ CHIẾN THỨ HAI 43
chứ không phải khi ông ta đã năm lăm hay sáu mươi. Tối đó, Hitler
thực sự bất ngờ và bàng hoàng khi hiệp ước Anh-Ba Lan chính thức
được ký kết.
Ở Berlin, các nhà ngoại giao Anh quốc giả định điều xấu nhất.
“Chúng tôi đã chuyển toàn bộ tư trang vào phòng khánh tiết của sứ
quán,” một trong số họ viết, “gian phòng lúc này trông như nhà ga
Victoria sau khi xe lửa đưa khách đi tàu thủy đến.” Các sứ quán và
lãnh sự quán Đức ở Anh quốc, Pháp và Ba Lan đều được yêu cầu phải
lệnh cho người thuộc dân tộc Đức trở về Reich hoặc sang một nước
trung lập.
Vào thứ Bảy, ngày 26 tháng Tám, chính phủ Đức hủy bỏ lễ kỷ
niệm 25 năm trận Tannenberg. Kỳ thực, dịp lễ này vẫn thường được
dùng để ngụy trang một cuộc tập trung quân đông đảo ở Đông Phổ.
Con tàu chiến cũ Schleswig-Holstein đã đến ngoài khơi Danzig một
ngày trước, mang danh một chuyến viếng thăm hữu hảo nhưng không
hề báo gì cho chính phủ Ba Lan. Trong buồng đạn của nó đầy đạn pháo
sẵn sàng nã vào các vị trí của Ba Lan trên bán đảo Westerplatte gần cửa
sông Vistula.
Ở Berlin cuối tuần đó, dân chúng say sưa với thời tiết đẹp. Các
bãi dọc theo bờ Grunewald của Wannsee đầy người tắm nắng và bơi
lội. Họ dường như quên mất hiểm họa chiến tranh, dù đã có thông
báo rằng sẽ áp dụng chế độ phân phối. Ở sứ quán Anh quốc, nhân viên
bắt đầu uống nốt các kho champagne dưới hầm. Họ nhận thấy ngoài
đường quân lính đông hơn hẳn, nhiều người còn mang những đôi ủng
mới xuất kho, lớp da vẫn còn màu vàng chứ chưa kịp đánh xi đen.
Cuộc xâm lăng dự kiến bắt đầu vào hôm đó nhưng bởi Hitler vẫn
còn chống chếnh với việc Anh quốc và Pháp quyết định ủng hộ Ba Lan
nên vào buổi tối hôm trước đã cho hoãn lại. Ông ta hi vọng dấu hiệu
dao động nào đó từ Anh. Có điều, một đơn vị biệt kích Brandenburger
không nhận được lệnh dừng đúng lúc nên đã tiến vào Ba Lan và chiếm
một cây cầu trọng yếu.
44 ANTONY BEEVOR
Hitler vẫn hi vọng đổ lỗi được cho Ba Lan khơi mào cuộc xâm
lược, giả vờ đồng ý đàm phán với Anh quốc, Pháp và cả với Ba Lan. Tuy
nhiên, ông ta từ chối đưa ra bất kỳ điều khoản nào cho chính phủ Ba
Lan thảo luận, không mời một phái viên nào từ Warsaw, đồng thời đặt
thời hạn đến nửa đêm ngày 30 tháng Tám. Hitler cũng từ chối đề nghị
hòa giải từ chính phủ Mussolini. Đến ngày 28 tháng Tám, một lần nữa
Hitler ra lệnh cho quân đội sẵn sàng xâm lược vào ngày 1 tháng Chín.
Trong khi đó, Ribbentrop tránh mặt các đại sứ Ba Lan và Anh
quốc; cung cách quen thuộc của ông này là hờ hững nhìn chăm chăm
vào khoảng không, không đoái hoài gì đến những người xung quanh
như thể họ không đáng được chia sẻ ý nghĩ. Cuối cùng ông ta cũng
đồng ý gặp Henderson vào nửa đêm sang ngày 30 tháng Tám, ngay
khi các điều khoản hòa bình không được thông tri hết hạn. Khi
Henderson yêu cầu được cho biết điều khoản đó là gì. Ribbentrop “lôi
ra một tài liệu dài ngoằng,” Henderson kể lại, “đọc cho tôi nghe bằng
tiếng Đức, đúng hơn là nói liến thoắng nhanh hết mức, giọng điệu cực
kỳ khó chịu… Khi ông ta đọc xong, tôi bèn yêu cầu được xem. Herr
von Ribbentrop chối phắt, khinh khỉnh ném tài liệu xuống bàn và nói
rằng giờ đây nó đã hết hiệu lực vì không có phái đoàn nào của Ba Lan
đến Berlin trước nửa đêm cả.” Hôm sau, Hitler ban bố Chỉ thị số 1
cho Chiến dịch Trắng xâm lược Ba Lan vốn đã được chuẩn bị từ năm
tháng trước.
Ở Paris, bầu không khí trầm mặc với ký ức về hơn một triệu người
đã chết trong cuộc chiến trước. Ở Anh quốc, việc di tản ồ ạt trẻ con
khỏi London được thông báo vào ngày 1 tháng Chín nhưng đa số dân
chúng vẫn tin rằng lãnh đạo Đức Quốc xã chỉ đang giả vờ. Người Ba
Lan thì không ảo tưởng như vậy; song ở Warsaw không có dấu hiệu
hoảng loạn nào, chỉ có quyết tâm.
Nỗ lực cuối cùng hòng tạo ra một cái cớ casus belli gây chiến đích
thị là điển hình cho phương pháp của Quốc xã. Hành động tuyên
truyền bôi nhọ được Reinhard Heydrich, cấp phó của ống chế SS
THẾ CHIẾN THỨ HAI 45
Heinrich Himmler, lên kế hoạch và tổ chức. Heydrich cẩn thận lựa
chọn một nhóm SS tin cẩn nhất. Nhóm này giả vờ tấn công một đồn
hải quan và một đài phát thanh của Đức gần thị trấn biên giới Gleiwitz,
sau đó phát đi thông điệp bằng tiếng Ba Lan. Lính SS bắn vài tù nhân
bị đánh thuốc từ trại tập trung Sachsenhausen đã được mặc cho quân
phục Ba Lan rồi bỏ xác họ lại làm bằng chứng. Vào chiều 31 tháng Tám,
Heydrich gọi điện cho viên sĩ quan được giao phụ trách để đưa câu mật
mã mở màn chiến dịch: “Bà chết rồi!” Đó là biểu trưng lạnh gáy cho
việc nạn nhân đầu tiên của ế chiến thứ hai ở châu Âu là tù nhân trại
tập trung bị sát hại vì một lời nói dối.
46 ANTONY BEEVOR
2
“HỦY DIỆT CẢ GÓI BA LAN”
THÁNG CHÍN MƯỜI HAI, 1939
5rong những giờ đầu tiên của ngày 1 tháng Chín năm 1939, quân
Đức đã sẵn sàng vượt biên giới Ba Lan. Ngoại trừ các cựu binh từ
ế chiến thứ nhất, đây là trải nghiệm chiến trận đầu tiên của hầu hết
binh lính. Như hầu hết những người lính, họ trầm tư trong tách biệt
của bóng đêm về cơ hội sống sót của bản thân và liệu chăng họ có khiến
chính mình phải hổ thẹn không. Trong lúc chờ nổ máy, một chỉ huy
thiết giáp trên biên giới Silesia mô tả cảnh tượng xung quanh: “Rừng
tối, trăng tròn và một làn sương nhẹ trên mặt đất đem lại khung cảnh
huyền hoặc.”
Đến 04:45 giờ sáng, những viên đạn pháo đầu tiên bắn từ phía
biển gần Danzig. Chiếc Schlewig-Holstein từ trận Jutland năm 1916 đã
di chuyển trong bóng tối trước bình minh vào vị trí ngoài khơi bán đảo
Westerplatte rồi nã đạn vào pháo đài Ba Lan bằng dàn súng lớn chính
THẾ CHIẾN THỨ HAI 47