The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.
Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by thuhang0609.hh, 2022-09-24 11:13:42

DOC THU_ Hành trình nhân loại

DOC THU_ Hành trình nhân loại

U T UA
ZtA AUw Z9 O U AU s OA
Z

Z

ZN

Eylon Levi, before being modi ed.
9
A

w

HÀNH TRÌNH NHÂN LOẠI
NGUỒN GỐC CỦA THỊNH VƯỢNG VÀ BẤT BÌNH ĐẲNG
Tác giả: Oded Galor
Ấn bản trước của cuốn sách được viết chung bằng tiếng Do Thái, cùng với Tiến sĩ Ori Katz, và được dịch sang tiếng
Anh bởi Eylon Levi, trước khi được sửa đổi.
Các biểu đồ minh họa được thiết kế bởi Darren Bennett
Hình minh họa ở các trang 98, 104, 183, 240 © Ally Zhu 2022.
*Các trang này tương ứng với các trang 93, 99, 177 và 232 trong phiên bản Mỹ
Bản quyền tiếng Việt © Cổ phần Sách Omega Việt Nam, 2022
Bản dịch tiếng Việt © Công ty Cổ phần Sách Omega Việt Nam, 2022
Công ty Cổ phần Sách Omega Việt Nam xuất bản, bìa mềm tay gấp, 2022.

Công ty Cổ phần Sách Omega Việt Nam - thành viên của Alpha Publishing Group.

CÔNG TY CP SÁCH OMEGA VIỆT NAM (OMEGA PLUS) thành lập tháng 9/2016 với định hướng xuất bản tri thức nền
tảng trong lĩnh vực Khoa học Nhân văn, Khoa học Tự nhiên, Chính trị - Xã hội, Triết học, Nghệ thuật… Đến nay,
chúng tôi đã xuất bản gần 300 đầu sách thuộc 6 tủ sách, bao gồm: Kinh điển, Sử Việt, Khoa học, Nhân vật Vĩ đại,
Nghệ thuật và Tủ sách Đời người. Thông qua việc xuất bản các ấn phẩm có giá trị, mang hàm lượng tri thức cao, qua
các hoạt động nhằm đưa tri thức hữu ích đến cộng đồng; Omega Plus mong muốn đóng góp theo cách riêng vào sự
phát triển đang ngày càng mạnh mẽ của xã hội.

Không phần nào thuộc sở hữu của Công ty Cổ phần Sách Omega Việt Nam và được chủ sở hữu nhượng quyền trong
xuất bản phẩm này được phép sao chép, lưu trữ trong hệ thống truy xuất hoặc truyền đi dưới bất kỳ hình thức nào
hoặc bằng bất kỳ phương tiện nào gồm điện tử, cơ khí, sao chụp, ghi âm hoặc mọi hình thức và phương tiện khác mà
không có sự cho phép trước bằng văn bản của Công ty Cổ phần Sách Omega Việt Nam. Chúng tôi luôn mong muốn
nhận được những ý kiến đóng góp của quý vị độc giả để sách ngày càng hoàn thiện hơn.

Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia Việt Nam
Z

Hành trình nhân loại : Nguồn gốc của thịnh vượng và bất bình đẳng / Oded Galor ; Dịch: Trần Thị Kim Chi, Đỗ Ngọc
Quỳnh Chi ; Vũ Thành Tự Anh h.đ.. - H. : Dân trí ; Công ty Sách Omega Việt Nam, 2022. - 300 tr. ; 24 cm

1. Tăng trưởng kinh tế 2. Bất bình đẳng
338.9001 - dc23
DTM0434p-CIP

Góp ý về sách, liên hệ về bản thảo và bản dịch: [email protected]
Liên hệ ebooks, hợp tác xuất bản & truyền thông trên sách: [email protected]
Liên hệ dịch vụ bản quyền, xuất bản, ký gửi và phát hành: [email protected]

THE JOURNEY OF HUMANITY

The Origins of Wealth and Inequality

BAN CỐ VẤN TỦ SÁCH KINH TẾ - CHÍNH TRỊ - LUẬT
Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh, Tiến sĩ Nguyễn Tuệ Anh, Nguyễn Cảnh Bình,
Tiến sĩ Trần Kiên, Tiến sĩ Phạm Sỹ Thành, Đại sứ Hoàng Anh Tuấn

ĐỘI NGŨ TRIỂN KHAI OMEGA+
Phụ trách xuất bản: Trần Hoài Phương
Điều phối sản xuất: Ngô Tuấn
Thiết kế bìa: Hoàng Duy Khánh
Trình bày: Vũ Lê Thư
Thư ký xuất bản: Giang Vũ

ĐƠN VỊ HỢP TÁC TRUYỀN THÔNG ĐƠN VỊ HỢP TÁC XUẤT BẢN
https://www.facebook.com/tramdocvn
website: http://tramdoc.vn/

MỤC LỤC

Những bí ẩn trong hành trình nhân loại ..................................... 9

I.
HÀNH TRÌNH NHÂN LOẠI
1. Những bước chân đầu tiên....................................................20
2. Lạc bước trong trì trệ............................................................. 33
3. Cơn bão ngầm .........................................................................48
4. Chạy hết công suất................................................................. 61
5. Hóa thân..................................................................................89
6. Miền đất hứa......................................................................... 106
Đoạn kết: Giải mã Bí ẩn Tăng trưởng....................................... 125

II.
NGUỒN GỐC CỦA THỊNH VƯỢNG VÀ

BẤT BÌNH ĐẲNG
7. Huy hoàng và Khốn khổ ..................................................... 132
8. Dấu vân tay của thể chế ..................................................... 148
9. Nhân tố văn hóa .................................................................. 168



10. Chiếc bóng đổ dài của địa lý............................................... 185
11. Di sản của cuộc Cách mạng Nông nghiệp.........................208
12. Xa mãi Phi châu.................................................................... 223
Đoạn kết: Giải mã Bí ẩn Bất bình đẳng.................................... 241
Lời bạt ........................................................................................... 247
Lời cảm ơn .................................................................................... 251
Chú thích...................................................................................... 254
Tài liệu tham khảo ...................................................................... 270



Dành tặng Erica



NHỮNG BÍ ẨN TRONG
HÀNH TRÌNH NHÂN LOẠI

ột chú sóc lướt qua bậu cửa sổ tòa nhà có phong cách kiến
trúc Gothic Venice tại Đại học Brown. Chú dừng lại một lúc rồi ném
cái nhìn tò mò về phía một con người kỳ lạ đang cặm cụi viết sách
thay vì cần mẫn kiếm ăn như mình. Chú là hậu duệ của loài sóc từng
chạy nhảy thoăn thoắt khắp các cánh rừng nguyên sinh ở Bắc Mỹ hàng
nghìn năm trước. Hệt như tổ tiên xa xôi và đồng loại đương thời trên
khắp thế giới, sóc dành phần lớn thời gian đi lượm thức ăn, trốn kẻ săn
mồi, tìm kiếm bạn tình và tìm nơi trú ẩn khi thời tiết bất trắc.

Trên thực tế, trong hầu hết quá trình tồn tại của nhân loại, kể từ
khi Homo sapiens ra đời như một loài khác biệt gần 300.000 năm trước,
áp lực cơ bản của cuộc sống con người cũng hệt như loài sóc, được
quyết định bởi mục tiêu sinh tồn và duy trì nòi giống. Trong nhiều
thiên niên kỷ và trên khắp hoàn cầu, mức sống của con người hầu như
không đổi, chỉ mấp mé vừa đủ để tồn tại. Nhưng thật kỳ lạ, chỉ trong
vài thế kỷ qua, phương thức tồn tại của chúng ta đã biến đổi ngoạn
mục. So với chiều dài thăm thẳm của lịch sử, chất lượng cuộc sống loài
người đã được cải thiện một cách ấn tượng chưa từng thấy gần như chỉ
trong một sớm một chiều.

Thử hình dung ai đó sống ở Jerusalem vào thời Chúa Jesu 2.000
năm trước, bước vào cỗ máy thời gian và du hành đến Jerusalem dưới
sự cai trị của Ottoman năm 1800. Chắc chắn họ sẽ choáng ngợp trước
những bức tường thành nguy nga tráng lệ, dân số gia tăng đáng kể và
việc áp dụng nhiều phát minh đổi mới. Nhưng mặc dù Jerusalem vào



thế kỷ 19 tương đối khác biệt so với thời La Mã, kẻ du hành thời gian
vẫn khá dễ dàng thích nghi với môi trường mới lạ xung quanh. Đương
nhiên họ sẽ phải điều chỉnh hành vi cho phù hợp với các chuẩn mực
văn hóa mới, nhưng họ vẫn có thể tiếp tục những ngành nghề mà họ
từng thực hành vào buổi bình minh của thế kỷ 1 và dễ dàng kiếm kế
sinh nhai, vì những kiến thức và kỹ năng ở Jerusalem cổ đại vẫn thích
hợp vào đầu thế kỷ 19. Họ cũng dễ bị tổn thương trước những hiểm
họa, bệnh tật và thiên tai hệt như dưới thời La Mã, và tuổi thọ kỳ vọng
của họ hầu như không thay đổi.

Tuy nhiên, hãy mường tượng trải nghiệm của người đi xuyên
không nếu họ lại bước vào cỗ máy thời gian và chỉ đi xa thêm hai
trăm năm nữa, đến Jerusalem đầu thế kỷ 21. Họ sẽ sững sờ kinh ngạc.
Những kỹ năng cũ giờ đây đã lỗi thời, giáo dục chính quy là điều kiện
tiên quyết cho hầu hết mọi ngành nghề, và những công nghệ tưởng
chừng như phép phù thủy sẽ là nhu cầu thiết yếu hằng ngày. Hơn nữa,
vì vô số căn bệnh chết người trong quá khứ đã được loại trừ nên tuổi
thọ của họ sẽ lập tức tăng gấp đôi, đòi hỏi một tư duy hoàn toàn khác
và cách tiếp cận cuộc sống lâu dài hơn.

Hố sâu ngăn cách giữa các thời đại này khiến ta khó hình dung
ra thế giới mà loài người đã bỏ lại sau lưng cách đây không lâu. Dẫn
lời triết gia người Anh thế kỷ 17 Thomas Hobbes, đời sống con người
lúc bấy giờ thật khốn khổ, tàn bạo, và ngắn ngủi.1 Vào thời điểm đó, một
phần tư trẻ sơ sinh đã chết vì đói rét và đủ loại bệnh tật trước ngày
thôi nôi, phụ nữ thường qua đời khi sinh nở, và tuổi thọ hiếm khi
vượt quá bốn mươi. Đó là một thế giới chìm trong bóng tối sau khi
mặt trời khuất dạng phía chân trời, là nơi mà nam phụ lão ấu mất hàng
giờ đồng hồ gánh nước về nhà, không được thường xuyên tắm giặt và
trải qua những tháng mùa đông lạnh giá trong những ngôi nhà sặc sụa
khói. Đó là thời kỳ mà hầu hết mọi người sống ở làng mạc xa xôi hẻo
lánh, hiếm khi mạo hiểm rời xa nơi chôn nhau cắt rốn, lay lắt sống còn
bằng những bữa ăn tẻ nhạt và đơn điệu, không biết đọc mà cũng chẳng
biết viết. Đó là một thời kỳ ảm đạm khi một đợt khủng hoảng kinh tế



Hành trình nhân loại

không chỉ đơn thuần đòi hỏi người ta phải thắt lưng buộc bụng mà còn
dẫn đến đói kém kiệt quệ và tử vong hàng loạt. Những khó khăn hằng
ngày của chúng ta thời nay chẳng là gì so với nỗi khốn khổ và bi kịch
mà tổ tiên chưa xa lắm của chúng ta phải đương đầu.

Lâu nay gần như ai cũng tin rằng mức sống đã tăng dần trong
suốt lịch sử loài người. Niềm tin đó khá méo mó. Tuy hầu hết quá trình
phát triển công nghệ quả thật diễn ra từ từ và tăng tốc theo thời gian,
nhưng nó không dẫn đến sự cải thiện tương ứng của mức sống. Sự
phát triển ngoạn mục về chất lượng sống trong những thế kỷ qua thật
ra đã kết tinh từ một biến đổi đột ngột.

Chỉ mới vài thế kỷ trước đây thôi, hầu hết mọi người đều có cuộc
sống chẳng khác gì tổ tiên xa xăm và y hệt như hầu hết những người
khác trên toàn cầu hàng thiên niên kỷ trước, chứ không giống như các
hậu duệ thời nay. Điều kiện sống của nông dân Anh vào đầu thế kỷ 16
tương tự như điều kiện sống của nông nô Trung Quốc thế kỷ 11, như
nông dân Maya cách đây 1.500 năm, như người chăn gia súc Hy Lạp
thế kỷ 4 TCN, hay như nông dân Ai Cập cách đây 5.000 năm, hoặc như
những kẻ chăn cừu ở Jericho 11.000 năm về trước. Nhưng kể từ thuở
bình minh của thế kỷ 19, chỉ là một tích tắc so với lịch sử tồn tại dài
dằng dặc của loài người, tuổi thọ đã tăng hơn gấp đôi và thu nhập bình
quân đầu người đã tăng 20 lần ở những vùng phát triển nhất thế giới,
và tăng 14 lần nếu tính chung cả Trái đất (Hình 1).2

Sự tiến bộ liên tục vừa nêu quả thật triệt để đến mức chúng ta
thường không để ý tới tính chất đặc biệt của giai đoạn này so với
những thiên niên kỷ còn lại trong lịch sử loài người. Điều gì giải thích
cho Bí ẩn tăng trưởng, tức sự biến đổi ngoài sức tưởng tượng về chất
lượng sống trong vài thế kỷ qua về mặt sức khỏe, tiền tài và giáo dục,
đã lấn át mọi thay đổi khác trên các phương diện này kể từ khi
sapiens ra đời?

Vào năm 1798, học giả người Anh, Thomas Malthus, đã đưa
ra một lý thuyết có vẻ hợp lý về cơ chế khiến mức sống trì trệ và xã



hội lâm vào cảnh đói nghèo triền miên từ thời xa xưa. Ông lập luận
rằng bất cứ khi nào xã hội xoay xở để tạo ra thặng dư lương thực
thông qua đổi mới công nghệ, thì sự cải thiện mức sống đạt được
cũng chỉ là tạm thời vì nó chắc chắn sẽ dẫn đến sự gia tăng tỉ lệ sinh
và suy giảm tỉ lệ tử vong một cách tương ứng. Thế nên chỉ là vấn đề
thời gian trước khi sự gia tăng dân số tiếp theo sẽ làm cạn kiệt lượng
lương thực dư thừa, rồi cuộc sống sẽ quay lại mức bần hàn và xã hội
lại nghèo khổ như trước.

Thu nhập bình quân đầu người (đô-la Mỹ)

Năm

Các nước phương Tây ở Tây Âu Đông Âu
Bắc Mỹ và châu Đại dương Châu Mỹ Latin
Đông Á
Tây Á Châu Phi

Hình 1. Bí ẩn tăng trưởng
Sự tăng vọt ngoạn mục của thu nhập bình quân ầu người khắp các vùng

trên thế giới trong hai thế kỷ qua ã xảy ra sau hàng nghìn năm trì trệ.3

Quả thật, vào thời kỳ được gọi là kỷ nguyên Malthus – tức là toàn
bộ lịch sử loài người mãi cho tới sự tiến bộ nhảy vọt gần đây – thành
quả của tiến bộ công nghệ chủ yếu hướng tới những nền dân số lớn
với mật độ cao và hầu như đóng băng sự phồn vinh dài hạn của họ.



Hành trình nhân loại

Dân số gia tăng trong khi điều kiện sống trì trệ và gần như ở mức
cùng đinh mạt hạng. Chênh lệch giữa các vùng về độ tinh xảo của công
nghệ và năng suất đất đai được phản ánh qua mật độ dân số khác nhau,
tuy nhiên, ảnh hưởng của những nhân tố này đối với mức sống chủ
yếu vẫn là tạm thời. Nhưng trớ trêu thay, ngay khi Malthus vừa hoàn
thành luận thuyết của ông và tuyên bố rằng ‘chiếc bẫy đói nghèo’ này sẽ
tồn tại mãi mãi, thì cơ chế ông vạch ra đột nhiên sụp đổ và sự chuyển
biến từ trì trệ sang tăng trưởng đã diễn ra.

Làm thế nào loài người thoát khỏi chiếc bẫy đói nghèo? Những
nguyên nhân cơ bản nào đã kéo dài thời kỳ trì trệ? Biết đâu những
lực chi phối suốt thời kỳ đóng băng kinh tế dài lê thê và việc chúng
ta thoát khỏi thời kỳ đó sẽ giúp chúng ta nâng tầm hiểu biết về
nguyên do khiến mức sống hiện nay trở nên quá bất bình đẳng trên
toàn cầu?

Được thôi thúc bởi niềm tin và bằng chứng rằng muốn hiểu vì
sao các nước lại quá chênh lệch nhau về mức độ giàu nghèo như thế,
người ta phải xác định các động lực chính của quá trình phát triển
trên bình diện tổng thể, tôi đã phát triển một lý thuyết thống nhất
nhằm khái quát toàn bộ hành trình của nhân loại.4 Khi làm sáng tỏ
những động lực chi phối quá trình chuyển đổi từ kỷ nguyên trì trệ
sang kỷ nguyên tăng trưởng ổn định về mức sống, lý thuyết này cũng
khai quật những dấu chân của quá khứ xa xôi trong số phận của các
quốc gia.

Trong chặng đầu của cuộc hành trình, chúng ta sẽ khám phá Bí
ẩn tăng trưởng, tập trung vào cơ chế đã trói buộc loài người mãi tồn
tại ở mức bần cùng suốt phần lớn chiều dài lịch sử và những động lực
tối hậu nào đã giúp một số xã hội thoát khỏi cạm bẫy này và đạt được
mức độ thịnh vượng chưa từng thấy mà nhiều dân cư trên thế giới
ngày nay đang tận hưởng. Chuyến du hành của chúng ta bắt đầu từ
ngay điểm khởi hành của loài người – sự xuất hiện của Homo sapiens ở
Đông Phi gần 300.000 năm trước – và dõi theo những dấu mốc quan
trọng trong hành trình của nhân loại: Homo sapiens đã di cư từ châu Phi



hàng chục nghìn năm trước sang khắp các lục địa; tiếp đến, các xã hội
đã biến đổi từ những bộ lạc săn bắt hái lượm sang các cộng đồng nông
nghiệp định canh, và gần đây là Cách mạng Công nghiệp và Chuyển
đổi Nhân khẩu học.5

Lịch sử loài người vô cùng phong phú với muôn vàn tình tiết
hấp dẫn: những nền văn minh phát triển rực rỡ rồi lụi tàn thê lương;
những vị hoàng đế lôi cuốn với binh hùng tướng mạnh trong những
cuộc chinh phạt lẫy lừng và chiến thắng vẻ vang; những nghệ sĩ đã gầy
dựng nên kho tàng văn hóa quyến rũ; các triết gia và nhà khoa học đã
nâng tầm hiểu biết của chúng ta về vũ trụ, cũng như vô số xã hội và
hàng tỉ cuộc đời trôi qua bên ngoài ánh đèn sân khấu. Thật dễ dàng trở
nên lạc lõng trong đại dương chi tiết ấy, bị sóng đánh dạt trôi và không
nhận biết được những dòng chảy mãnh liệt bên dưới.

Thay vào đó, cuốn sách này khám phá và xác định những dòng
hải lưu ngầm: những động lực nằm đằng sau, chi phối quá trình phát
triển. Cuốn sách này cho thấy các động lực này, dù có thể vô hình
nhưng không ngừng vận hành trong suốt lịch sử loài người và thời kỳ
đóng băng kinh tế, lấy đà để cho tiến bộ công nghệ trong cuộc Cách
mạng Công nghiệp có thể tăng tốc vượt bậc, từ đó giáo dục cơ bản trở
nên cần thiết để thích ứng với môi trường công nghệ thay đổi. Tỉ lệ
sinh bắt đầu giảm và sự cải thiện mức sống không còn bị ràng buộc bởi
ảnh hưởng bất lợi của đà tăng dân số, mở ra nền phồn vinh lâu dài và
tiếp tục tăng vọt cho đến ngày nay.

Trọng tâm của hành trình khám phá này là câu hỏi về khả năng
tồn tại của loài người trên Trái đất. Trong kỷ nguyên Malthus, điều
kiện khí hậu bất lợi và dịch bệnh đã góp phần tàn phá dân số loài
người. Ngày nay, tác động của quá trình tăng trưởng đối với sự suy
thoái môi trường và biến đổi khí hậu làm dấy lên những băn khoăn
lo ngại về việc làm thế nào nhân loại có thể tồn tại bền vững và ngăn
chặn những hệ lụy nhân khẩu học thảm khốc như trong quá khứ. Cuộc
hành trình của nhân loại mở ra một lối thoát tràn trề hi vọng: điểm tới
hạn mà thế giới đã đạt được gần đây, dẫn đến sự sụt giảm liên tục về



Hành trình nhân loại

tỉ lệ sinh cũng như sự gia tăng ‘nguồn vốn nhân lực’ và đổi mới công
nghệ, có thể giúp loài người giảm thiểu những tác động bất lợi này và
sẽ là trọng tâm để đạt được sự tồn tại bền vững trong dài hạn.

Điều thú vị là, sự thịnh vượng tăng vọt trong những thập niên
gần đây hầu như chỉ xảy ra ở một vài nơi trên thế giới, dẫn đến sự biến
đổi lớn thứ hai chỉ có ở loài người chúng ta: tình trạng bất bình đẳng
sâu sắc giữa các xã hội. Người ta có thể cho rằng hiện tượng này xảy ra
chủ yếu là do việc thoát khỏi kỷ nguyên trì trệ đã xuất hiện vào những
thời điểm khác nhau trên toàn cầu. Các nước Tây Âu và một vài phân
nhánh của chúng ở Bắc Mỹ và châu Đại Dương đã trải qua bước nhảy
vọt đáng kể về mức sống ngay từ thế kỷ 19, trong khi quá trình đi lên
này bị trì hoãn ở hầu hết các khu vực của châu Á, châu Phi và châu Mỹ
Latin mãi đến nửa sau thế kỷ 20 (Hình 2). Nhưng lý do gì khiến vài nơi
trên thế giới trải qua sự biến đổi này sớm hơn những nơi khác?

Gỡ rối Bí ẩn tăng trưởng sẽ giúp chúng ta thấu hiểu Bí ẩn bất bình
đẳng trong chặng thứ hai của cuộc hành trình – cội nguồn của sự khác
biệt về lộ trình phát triển giữa các xã hội và chênh lệch mức sống ngày
càng tăng giữa các quốc gia trong hai trăm năm qua. Khám phá những
yếu tố sâu xa nằm đằng sau tình trạng bất bình đẳng toàn cầu này sẽ
giúp ta lần theo dấu chân của cuộc hành trình và ngược thời gian trở
về quá khứ, cuối cùng trở lại nơi bắt đầu: cuộc di cư của Homo sapiens từ
châu Phi hàng chục nghìn năm trước.

Chúng ta sẽ xem xét các yếu tố thể chế, văn hóa, địa lý và xã hội
nổi lên trong quá khứ cổ đại và thúc đẩy các xã hội đi theo những quỹ
đạo lịch sử riêng biệt, ảnh hưởng đến thời điểm thoát khỏi kỷ nguyên
trì trệ và tạo ra chênh lệch giàu nghèo giữa các quốc gia. Công cuộc
cải cách thể chế tại những ngả rẽ quan trọng ngẫu nhiên trong quá
trình lịch sử đôi khi đưa các nước vào những con đường khác nhau
và góp phần vào sự phân hóa của họ theo thời gian. Tương tự, sự
hình thành các chuẩn mực văn hóa riêng biệt cũng góp phần dẫn đến
những chuyển động khác nhau của các bánh răng lịch sử vĩ đại trên
toàn cầu.6



Thu nhập bình quân đầu người (đô-la Mỹ)

Các nước phương Tây ở Năm Đông Âu Tây Á
Bắc Mỹ và châu Đại dương Tây Âu Châu Mỹ Latin Châu Phi
Đông Á

Hình 2. Bí ẩn bất bình đẳng
Sự phân hóa của thu nhập bình quân ầu người giữa
các vùng khác nhau trên thế giới trong hai thế kỷ qua.7

Tuy nhiên, bắt nguồn từ quá khứ xa xôi, những yếu tố sâu xa hơn
thường đặt nền móng cho sự ra đời của các chuẩn mực văn hóa, thể chế
chính trị và tiến bộ công nghệ, chi phối khả năng phát triển và thịnh
vượng của các xã hội. Sự ưu ái về địa lý như đất đai và khí hậu đã thúc
đẩy sự phát triển những đặc điểm văn hóa thuận lợi cho quá trình tăng
trưởng – hợp tác, tin cậy, bình đẳng giới và tư duy hướng tới tương
lai. Sự phù hợp thổ nhưỡng với các đồn điền lớn đã góp phần dẫn tới
sự bóc lột và chiếm hữu nô lệ cũng như sự ra đời và tồn tại của các thể
chế chính trị mang tính bót lột. Môi trường dịch bệnh ảnh hưởng xấu
đến năng suất lao động và năng suất nông nghiệp, đầu tư vào giáo dục
và sự thịnh vượng lâu dài. Và đa dạng sinh học đã thúc đẩy quá trình



Hành trình nhân loại

chuyển đổi sang các cộng đồng nông nghiệp định canh với những tác
động thuận lợi cho quá trình phát triển trong thời kỳ tiền công nghiệp,
mặc dù những áp lực thuận lợi này đã tiêu tan khi các xã hội bước vào
thời hiện đại.

Nhưng còn có một yếu tố nữa ẩn sau các đặc điểm thể chế và văn
hóa thời hiện đại, kết hợp với yếu tố địa lý như một động lực cơ bản
của phát triển kinh tế: mức độ đa dạng trong mỗi xã hội, với những tác
động thuận lợi cho sự đổi mới và những tác động bất lợi cho cố kết xã
hội. Việc khám phá vai trò của các đặc điểm địa lý sẽ đưa chúng ta quay
ngược thời gian 12.000 năm về thuở bình minh của Cách mạng Nông
nghiệp. Rồi việc xem xét nguyên nhân và kết quả của sự đa dạng lại tiếp
tục đưa ta về hàng chục nghìn năm nữa, lần theo những bước chân đầu
tiên của loài người rời khỏi vùng đất châu Phi.

Đây không phải là nỗ lực đầu tiên nhằm mô tả lực đẩy cốt lõi của
lịch sử nhân loại. Các nhà tư tưởng vĩ đại như Plato, Hegel và Marx cho
rằng lịch sử mở ra theo những quy luật phổ quát không thể tránh khỏi,
thường xem nhẹ vai trò của xã hội trong việc định hình số phận của
chính họ.8 Ngược lại, cuốn sách này không vẽ ra một hành trình bất
di bất dịch của nhân loại hướng tới những điều không tưởng hay viển
vông, mà cũng chẳng nhằm rút ra những bài học đạo đức về phương
hướng mong muốn của cuộc hành trình và kết quả của nó. Có thể nói
rằng, việc cải thiện bền vững mức sống trong thời hiện đại này khó
lòng sánh với Vườn Địa đàng, nơi không có xung đột xã hội và chính
trị. Bất bình đẳng và bất công vẫn còn tồn tại dai dẳng.

Thay vào đó, nhằm tìm hiểu và giúp giảm thiểu những nguyên
nhân tối hậu của tình trạng chênh lệch một trời một vực về sự thịnh
vượng của các quốc gia, cuốn sách này được thiết kế để trình bày một
cách trung thực câu chuyện liên ngành và khoa học về sự tiến hóa của
các xã hội kể từ khi Homo sapiens xuất hiện. Phù hợp với truyền thống
văn hóa coi phát triển công nghệ là sự tiến bộ,9 triển vọng đạt được
qua hành trình khám phá này có thể được mô tả về cơ bản là tràn trề hi
vọng về quỹ đạo phát triển của các xã hội trên toàn cầu.



Khi tập trung vào hành trình vĩ đại của nhân loại, tôi không có
ý định xem nhẹ tầm quan trọng của tình trạng bất bình đẳng đáng kể
trong nội bộ và giữa các xã hội. Trái lại, tôi muốn ai trong chúng ta
cũng hiểu biết về những hành động có thể giúp xóa đói giảm nghèo và
bất công, đồng thời góp phần vào sự phồn vinh của toàn thể nhân loại.
Như sẽ lập luận, trong khi những động lực mãnh liệt làm nền tảng cho
cuộc hành trình của nhân loại vẫn tiếp tục hoạt động không ngừng, thì
giáo dục, lòng khoan dung và bình đẳng giới vẫn là những yếu tố then
chốt dẫn đến sự thịnh vượng của loài người trong những thập niên và
thế kỷ tới.



I.

HÀNH TRÌNH
NHÂN LOẠI



1.

NHỮNG BƯỚC CHÂN ĐẦU TIÊN

rèo lên con đường quanh co đến hang núi Carmel ở Israel ngày
nay, ta có thể hình dung ra khung cảnh hùng vĩ bao quanh địa điểm
này thời tiền sử. Khí hậu Địa Trung Hải ôn hòa và nhiệt độ chỉ dao
động nhẹ qua các mùa. Con lạch uốn lượn qua những rặng núi trong
thung lũng xanh tươi liền kề là một nguồn nước trong lành. Những
cánh rừng bên sườn núi là nơi thích hợp để săn hươu, nai, linh dương,
tê giác, lợn rừng; và giữa thiên nhiên hoang dã, ở những vùng đất
trống tiếp giáp với đồng bằng ven biển hẹp và rặng núi Samaria đã
mọc lên những giống ngũ cốc và cây ăn quả thời tiền sử. Khí hậu ấm
áp, đa dạng sinh thái và nguồn nguyên liệu thô xung quanh hang núi
Carmel biến nơi đây thành mái nhà lý tưởng cho nhiều quần thể săn
bắt hái lượm qua nhiều thiên niên kỷ. Quả thật, những tàn tích còn lại
được khai quật trong các hang động cổ đại này đã trở thành Di sản Thế
giới được UNESCO công nhận về sự tiến hóa của loài người và chứng
thực cho hàng loạt những khu định cư thời tiền sử qua hàng trăm
nghìn năm cũng như những cuộc hội ngộ trớ trêu tiềm tàng giữa
sapiens và người Neanderthal.1

Các phát hiện khảo cổ học ở đây cũng như những nơi khác cho
thấy người cổ đại và tiền hiện đại tiếp thu chậm nhưng đều đặn các kỹ
năng mới, sử dụng thành thạo lửa, phát triển các loại lưỡi dao, rựa tay
và các công cụ bằng đá lửa và đá vôi ngày càng tinh vi, và đã tạo ra các
tác phẩm nghệ thuật.2 Động lực chính thúc đẩy những tiến bộ công



Hành trình nhân loại

nghệ và văn hóa này, xác định loài người và khiến chúng ta khác biệt
với các loài khác, chính là sự tiến hóa của bộ não con người.

Nguồn cội

Bộ não con người thật phi thường: lớn, nhiều nếp gấp và phức
tạp hơn bộ não của bất kỳ giống loài nào khác. Kích thước của nó đã
tăng gấp 3 lần trong vòng sáu triệu năm qua, và hầu hết sự biến đổi này
đã xảy ra cách đây 200.000–800.000 năm, nói chung là trước khi
sapiens xuất hiện.

Tại sao khả năng của bộ não con người đã gia tăng đáng kể trong
suốt lịch sử loài người? Thoạt nhìn qua, câu trả lời có vẻ hiển nhiên: có
được bộ não phát triển rõ ràng đã giúp chúng ta đạt được mức độ an
toàn và thịnh vượng mà không loài nào khác trên Trái đất đạt được.
Thế nhưng thực tế phức tạp hơn nhiều. Nếu một bộ não như thế thật
sự mang lại lợi ích rõ ràng cho sự tồn tại của con người, thì tại sao
không có loài nào khác phát triển bộ não tương tự qua hàng tỉ năm
tiến hóa?

Thử nghĩ về điểm khác biệt này trong giây lát. Ví dụ, con mắt đã
phát triển độc lập dựa theo một vài dấu vết tiến hóa. Mắt đã tiến hóa
trong những loài động vật có xương sống (lưỡng cư, chim, cá, động vật
có vú và bò sát), động vật chân đầu (bao gồm mực nang, bạch tuộc và
mực ống), cũng như dưới hình thức đơn giản hơn (mắt đơn) ở động
vật không xương sống như ong, nhện, sứa và sao biển. Sống cách đây
hơn 500 triệu năm, tổ tiên xa xôi của tất cả các loài này dường như chỉ
có các cơ quan thụ cảm ánh sáng cơ bản, có thể phân biệt ánh sáng và
bóng tối.3 Tuy nhiên, vì tầm nhìn chính xác mang lại lợi thế sống còn
trong những môi trường khác nhau, nên con mắt phức tạp đã tiến hóa
độc lập trong những quần thể khác nhau, thích nghi đặc thù với môi
trường sống của từng loài.

Hiện tượng này, theo đó các đặc điểm tương tự như nhau phát
triển độc lập ở các loài khác nhau chứ không phải xuất hiện từ một đặc



điểm hiện hữu trong tổ tiên chung, được gọi là tiến hóa hội tụ. Có rất
nhiều ví dụ khác, chẳng hạn như sự phát triển của cánh ở côn trùng,
chim và dơi, và hình dạng cơ thể tương thích đã tiến hóa ở cá (cá mập)
và động vật biển có vú (cá heo) để phù hợp với cuộc sống dưới nước.
Rõ ràng, nhiều loài khác nhau đã có được những đặc điểm thuận lợi
tương tự như nhau dù tiến hóa một cách độc lập; nhưng trong các đặc
điểm đó không có bộ não với khả năng tạo ra các kiệt tác văn học, triết
học và nghệ thuật, hoặc phát minh ra lưỡi cày, bánh xe, la bàn, máy in,
động cơ hơi nước, điện báo, máy bay và internet. Bộ não như vậy chỉ
mới tiến hóa trong một quần thể duy nhất là con người. Tại sao một
bộ não uy lực như vậy lại rất hiếm gặp trong tự nhiên, bất chấp những
ưu điểm rõ ràng của nó?

Giải đáp câu hỏi này một phần nằm ở hai nhược điểm lớn của bộ
não. Thứ nhất, não của chúng ta tiêu tốn rất nhiều năng lượng. Chỉ
chiếm 2% trọng lượng cơ thể nhưng bộ não tiêu thụ đến 20% năng
lượng. Thứ hai, kích thước lớn của bộ não khiến đầu thai nhi phải chật
vật lắm mới ra khỏi cơ thể mẹ trong quá trình sinh nở. Do đó, bộ não
của con người phải bị nén, nghĩa là có nhiều nếp gấp hơn so với các
loài khác, và các em bé ra đời với bộ não ‘nửa chừng’ cần nhiều năm
tinh chỉnh để đạt đến độ trưởng thành. Do đó, trẻ sơ sinh loài người
yếu đuối hơn so với nhiều loài khác: trong khi những con thú non có
thể tự đi lại ngay khi vừa chào đời và nhanh chóng tự kiếm ăn, các em
bé cần một vài năm mới đi vững và nhiều năm nữa mới có thể tự túc
về vật chất.

Với những hạn chế ấy, điều gì đã dẫn đến sự phát triển của bộ não
con người ngay từ thuở hồng hoang? Các nhà nghiên cứu lập luận rằng
xem ra một vài động lực đã cùng góp phần vào quá trình này. Giả thuyết
sinh thái cho rằng não người tiến hóa do sự tiếp xúc của loài người với
những thay đổi của môi trường. Khi khí hậu biến động và các quần thể
động vật lân cận thích nghi tương ứng, người tiền sử với bộ não phát
triển hơn sẽ có khả năng tìm kiếm nguồn thực phẩm mới tốt hơn, vạch
ra các chiến lược săn bắt và hái lượm, đồng thời phát triển các công



Hành trình nhân loại

nghệ nấu nướng và lưu trữ cho phép họ tồn tại và phát triển trong quá
trình thay đổi điều kiện sinh thái của môi trường sống.4

Ngược lại, giả thuyết xã hội cho rằng nhu cầu hợp tác, cạnh tranh
và thương mại ngày càng tăng trong các cấu trúc xã hội phức tạp đã tạo
ra một bộ não tinh vi hơn, với khả năng hiểu động cơ của người khác
và dự đoán phản ứng của họ tốt hơn, và đây là một lợi thế tiến hóa.5
Tương tự, khả năng thuyết phục, thao túng, tâng bốc, tường thuật và
khôi hài – tất thảy đều có lợi cho vị thế xã hội cũng như mang lại ưu
thế cho bản thân – đã thúc đẩy sự phát triển bộ não cùng với khả năng
lập luận và diễn thuyết.

Trong khi đó, giả thuyết văn hóa nhấn mạnh khả năng đồng hóa và
lưu trữ thông tin của bộ não con người, cho phép nó được lưu truyền
qua các thế hệ. Theo quan điểm này, một trong những lợi thế độc đáo
của não người là khả năng học hỏi hiệu quả từ kinh nghiệm của người
khác, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp thu những thói quen và sở
thích giúp nâng cao khả năng sống còn trong các môi trường đa dạng
mà không cần dựa vào quá trình thích nghi sinh học chậm hơn nhiều.6
Nói cách khác, những đứa trẻ sơ sinh của con người có thể yếu đuối
về thể chất nhưng bộ não các bé được trang bị những năng lực học tập
độc đáo, bao gồm khả năng nắm bắt và lưu giữ các chuẩn mực hành
vi – hay văn hóa – đã giúp tổ tiên chúng ta tồn tại và sẽ giúp con cháu
chúng ta phát triển thịnh vượng.

Một cơ chế có thể góp phần vào sự phát triển bộ não là lựa chọn
bạn tình. Có thể con người đã phát triển sở thích giao phối với những
đồng loại có bộ não phát triển hơn, ngay cả khi không có lợi thế tiến
hóa rõ ràng của chính bộ não.7 Có lẽ những bộ não phức tạp này đã
chứng thực những phẩm chất vô hình quan trọng để bảo vệ và nuôi
dạy con cái, và con người có thể suy ra các phẩm chất này ở người bạn
tình từ những đặc điểm tính cách có thể cảm nhận được như trí tuệ, sự
khéo léo, tư duy nhanh hoặc khiếu hài hước.

Sự tiến hóa của bộ não con người là động lực chính cho sự tiến
bộ độc nhất của nhân loại, đặc biệt là vì nó giúp mang lại tiến bộ công



nghệ – những phương thức ngày càng tinh vi hơn để biến các vật liệu
và tài nguyên thiên nhiên xung quanh thành lợi thế của loài người.
Tiếp đến, những tiến bộ này giúp định hình các quá trình cách mạng
trong tương lai, cho phép con người thích nghi thành công hơn với
môi trường thay đổi để tiếp tục tiến bộ hơn nữa và sử dụng các công
nghệ mới – một cơ chế lặp đi lặp lại và tạo ra những bước tiến lớn hơn
bao giờ hết về công nghệ.

Đặc biệt, người ta cho rằng việc sử dụng lửa và nấu chín thức ăn
đã thúc đẩy sự phát triển hơn nữa của bộ não thông qua giảm năng
lượng cần thiết để nhai và tiêu hóa, giúp con người dễ tiếp cận calo hơn
và giải phóng không gian trong hộp sọ mà trước đây dành để phục vụ
cơ và xương hàm.8 Vòng xoáy đi lên củng cố lẫn nhau này có lẽ đã tạo
ra sự đổi mới hơn nữa trong công nghệ nấu nướng, đến lượt mình lại
đưa đến sự phát triển hơn nữa của bộ não.

Tuy nhiên, bộ não không phải là cơ quan duy nhất giúp chúng ta
khác biệt với các loài động vật có vú khác. Bàn tay con người là một ví
dụ. Cùng với bộ não, bàn tay ta cũng tiến hóa một phần để đáp ứng với
công nghệ, đặc biệt là lợi ích của việc chế tác và sử dụng các công cụ săn
bắn, kim chỉ và dụng cụ nấu ăn.9 Đặc biệt, khi loài người làm chủ công
nghệ đục đẽo đá và làm những cây lao bằng gỗ, triển vọng sinh tồn của
những người biết sử dụng công cụ một cách mạnh mẽ và chính xác đã
được cải thiện. Những người thợ săn giỏi hơn có thể đùm bọc gia đình
vững chắc hơn, và do đó nuôi dạy nhiều con cái đến tuổi trưởng thành
hơn. Việc trao truyền các kỹ năng này giữa các thế hệ đã làm tăng tỉ lệ
những người thợ săn thành thạo; và lợi thế của những phát minh đổi
mới tiếp theo như cây lao cứng hơn, cánh cung mạnh hơn và mũi tên
sắc hơn, đã góp phần vào lợi thế tiến hóa của các kỹ năng săn bắn.

Các vòng xoáy đi lên với bản chất tương tự đã xuất hiện trong
suốt lịch sử loài người: môi trường thay đổi và tiến bộ công nghệ giúp
tăng dân số và kích hoạt sự thích nghi của con người với môi trường
sống đang thay đổi và các công cụ mới; tiếp đến, khả năng thích nghi
giúp nâng cao năng lực điều khiển môi trường và tạo ra các công nghệ



Hành trình nhân loại

mới. Như ta sẽ thấy, các vòng xoáy đi lên này là trọng tâm để hiểu hành
trình của nhân loại và giải mã Bí ẩn tăng trưởng.

Hành trình di cư từ chiếc nôi của loài người

Trong hàng trăm nghìn năm, loài người lang thang thành những
nhóm nhỏ săn bắt hái lượm ở châu Phi, dần dần phát triển các khả
năng công nghệ, xã hội và nhận thức phức tạp.10 Khi người tiền sử
ngày càng trở thành những người săn bắt hái lượm giỏi hơn bao giờ
hết, dân số ở những vùng màu mỡ của châu Phi tăng lên đáng kể, cuối
cùng làm giảm không gian sống và tài nguyên thiên nhiên sẵn có ở mỗi
vùng. Vì vậy, một khi điều kiện khí hậu cho phép, con người bắt đầu
vươn sang các lục địa khác để tìm đến những mảnh đất phì nhiêu hơn.

Được cho là loài người săn bắt hái lượm đầu tiên, Homo erectus
đã di cư sang lục địa Âu–Á gần hai triệu năm trước. Cho đến nay,
những hóa thạch cổ nhất của sapiens đầu tiên được phát hiện bên
ngoài châu Phi có tuổi đời 210.000 năm (được tìm thấy ở Hy Lạp) và
177.000–194.000 năm (được phát hiện trên núi Carmel ở miền bắc
Israel).11 Tuy nhiên, dường như hậu duệ của những người hiện đại đầu
tiên Nguồn gốc châu Phi này đã tuyệt chủng hoặc lui về châu Phi do
điều kiện khí hậu bất lợi trong thời kỳ băng hà.12

Sau đó, chính ở châu Phi khoảng 150.000 năm trước đã xuất hiện
tổ tiên (mẫu hệ) gần đây nhất của toàn thể nhân loại, được gọi là Eve
Ti thể. Lẽ đương nhiên, mặc dù có rất nhiều phụ nữ ở châu Phi vào
thời điểm đó, nhưng dòng dõi của họ cuối cùng đã tuyệt chủng. Tất
cả loài người trên Trái đất ngày nay đều là hậu duệ của người phụ nữ
châu Phi ấy.13

Theo giả thuyết ‘Nguồn gốc châu Phi’ hiện đã được chấp nhận
rộng rãi, về mặt giải phẫu học dân số hiện tại của người hiện đại trên
toàn cầu chủ yếu bắt nguồn một cuộc di cư khác, đáng kể hơn, của
Homo sapiens từ châu Phi vào khoảng 60.000–90.000 năm trước.14 Loài
người lũ lượt kéo đến châu Á qua hai con đường: phía bắc qua đồng



bằng sông Nile và bán đảo Sinai đến miền đông Địa Trung Hải được
gọi là Levant, và phía nam qua eo biển Bab–el–Mandeb ở cửa Biển Đỏ
vào bán đảo Arab (Hình 3).15 Con người hiện đại đầu tiên đã đến Đông
Nam Á hơn 70.000 năm trước,16 rồi đến Úc cách đây 47.000–65.000
năm,17 và đến châu Âu gần 45.000 năm trước.18 Họ định cư ở Beringia
khoảng 25.000 năm trước, băng qua cây cầu đất vượt eo biển Bering
vào một số thời kỳ băng hà trong thế Pleistocen, và tiến sâu hơn vào
châu Mỹ khoảng 14.000–23.000 năm trước.19

Những làn sóng di cư dồn dập từ châu Phi đã góp phần vào quy
mô và sự đa dạng dân số trên khắp Trái đất. Khi định cư ở các vùng
sinh thái mới, người tiền sử tận hưởng hoa thơm cỏ lạ ở miền đất mới
để săn bắt hái lượm và bắt đầu sinh con đẻ cái nhanh chóng hơn. Trong
khi đó, khả năng thích nghi với các môi trường mới đa dạng dẫn đến sự
đa dạng hơn về con người và công nghệ, thúc đẩy quá trình lan truyền
và trao đổi các sáng kiến, rồi dẫn đến sự gia tăng dân số hơn nữa.

Hình 3. Hành trình di cư từ châu Phi của Homo sapiens
Các lộ trình di cư và thời iểm di cư phỏng tính của Homo sapiens

(thường xuyên ược sửa ổi dựa trên những phát hiện mới.)

Nhưng cuối cùng, gia tăng dân số khiến những vùng đất đai màu
mỡ và tài nguyên ngày càng trở nên khan hiếm, vốn dĩ là nguyên nhân



Hành trình nhân loại

thôi thúc quá trình di cư từ châu Phi ban đầu. Bất chấp những công cụ
và kỹ thuật mới, cuộc sống của con người dần dần quay trở về mức bần
cùng như trước. Cùng với biến đổi khí hậu, việc không thể nuôi sống
dân số ngày càng tăng đã thôi thúc nhân loại khám phá ra một phương
thức mưu sinh khác: nông nghiệp.

Định cư thuở ban đầu

Gần 12.000 năm trước, khi khí hậu dần ấm lên sau thời kỳ băng
hà gần nhất, Homo sapiens đã trải qua một sự biến đổi ngoạn mục. Trên
khắp thế giới, con người dần dần chuyển từ đời sống du mục sang lối
sống định cư, và bắt đầu đạt được những bước tiến dài trong nghệ
thuật, khoa học, chữ viết và công nghệ.

Bằng chứng từ nền văn hóa Natufian từng nở rộ ở Levant
(13.000–9.500 TCN) cho thấy ở một số nơi, con người đã chuyển sang
lối sống định cư từ trước khi bắt đầu canh tác nông nghiệp. Mặc dù
chủ yếu vẫn là những kẻ săn bắt hái lượm, người Natufian sống trong
các khu dân cư ổn định, thường được làm trên nền đá khô và lợp bằng
những cành cây. Mỗi khu định cư có đến vài trăm người sinh sống
bằng cách mạo hiểm đi săn bắt và hái lượm các loại cây hoang dã bản
địa.20 Nhưng đối với phần lớn dân số thế giới vào thời điểm đó, việc
chuyển sang hoạt động nông nghiệp mới là động lực chính dẫn đến lối
sống định cư.

Cuộc Cách mạng Nông nghiệp hay còn gọi là Cách mạng Đồ đá
mới lần đầu tiên xảy ra ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu – một vùng đất
xanh tươi dọc theo sông Tigris và Euphrates, xuôi về ven biển phía
đông Địa Trung Hải và xung quanh Đồng bằng sông Nile của Ai Cập –
nơi có nhiều loài động thực vật dễ thuần hóa. Hoạt động nông nghiệp
cũng bắt đầu một cách độc lập khoảng 10.000 năm trước ở Đông Nam
Á, và từ những nơi khác nhau, nó đã nhanh chóng lan tỏa khắp lục địa
Âu–Á mênh mông. Hoạt động nông nghiệp dễ dàng mở mang trên dải
đất bao la này là nhờ hai lục địa trải dài từ đông sang tây cho nên các
loài động thực vật và công nghệ có thể phát tán dọc theo các vĩ tuyến



có nhiệt độ và thổ nhưỡng tương tự như nhau mà không vấp phải
những trở ngại tự nhiên lớn.

Ngược lại, như lập luận của nhà địa lý học và sử học người Mỹ
Jared Diamond trong cuốn sách được trao giải Pulitzer Guns, Germs and
Steel (Súng, vi trùng và thép), châu Phi hạ Sahara và châu Mỹ, nơi có ít
loài động thực vật có thể thuần hóa hơn, đã trải qua quá trình chuyển
sang nông nghiệp muộn hơn nhiều.21 Mặc dù đã khởi đầu sớm ở Trung
Mỹ và một số vùng của châu Phi, nhưng việc lan truyền hoạt động
nông nghiệp ở đây chậm hơn vì hai lục địa trải dài từ bắc xuống nam
nên dẫn đến sự khác biệt lớn về khí hậu và thổ nhưỡng giữa các vùng.
Hơn nữa, sa mạc Sahara và những khu rừng nhiệt đới rậm rạp không
thể vượt qua ở Trung Mỹ là những rào cản tự nhiên đối với quá trình
khuếch tán này.

Tuy nhiên, sau hàng trăm nghìn năm thay đổi công nghệ cũng
như biến đổi xã hội một cách chậm chạp và đau thương, quá trình
chuyển hóa từ các bộ lạc săn bắt hái lượm sang các xã hội nông nghiệp
và từ lối sống du cư sang cuộc đời định cư đã lan rộng tới hầu hết nhân
loại trong vòng vài nghìn năm. Trong cuộc Cách mạng Đồ đá mới, con
người đã thuần hóa nhiều loại động thực vật hoang dã trên khắp thế
giới. Lúa mì, lúa mạch, đậu Hà Lan, đậu xanh, ô liu, quả sung và chà
là, cũng như cừu, dê, lợn và chim bồ câu, lần đầu tiên được thuần hóa
ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu. Nho và lựu ở vùng Nam Kavkaz gần đó.
Lúa, trâu và tằm được thuần hóa ở Trung Quốc và vịt ở Đông Nam Á.
Vừng, cà tím và bò zebu ở tiểu lục địa Ấn Độ. Cao lương, khoai mỡ,
cà phê và lừa ở châu Phi. Mía và chuối ở New Guinea; ngô, đậu, bí và
khoai tây, cũng như gà tây, các loại lạc đà không bướu llamas và alpacas
ở châu Mỹ.22

Điểm mấu chốt là, các xã hội nông nghiệp được hưởng lợi từ
những lợi thế công nghệ đáng kể tồn tại suốt hàng nghìn năm. Không
giống như các bộ lạc săn bắt hái lượm, những cộng đồng này tạo ra sản
lượng lớn hơn đáng kể và nuôi sống nền dân số ngày càng tăng. Lớn



Hành trình nhân loại

hơn và được trang bị tốt hơn so với các bộ lạc săn bắt hái lượm, các xã
hội nông nghiệp cuối cùng đã chiếm chỗ và đồng hóa các xã hội phi
nông nghiệp trong quá trình sinh sôi nảy nở khắp các lục địa.

Trong khi đó, việc tăng cường buôn bán trong mỗi cộng đồng
nông nghiệp giúp con người có thể chuyên môn hóa trong những
ngành nghề cụ thể, chẳng hạn như nông dân, thợ gốm, thợ dệt, thợ
chế tạo công cụ, thương gia hoặc nghệ nhân. Dần dần điều này dẫn đến
sự ra đời của các giai tầng xã hội khác nhau, trong đó có một tầng lớp
đặc biệt quan trọng, không trực tiếp sản xuất lương thực thực phẩm
mà chỉ chuyên tâm tạo ra tri thức. Tổng kết lại, những tiến bộ tiếp theo
trong nghệ thuật, khoa học, chữ viết và công nghệ báo trước màn dạo
đầu của nền văn minh.

Buổi bình minh của nền văn minh loài người

Hầu hết các xã hội nông nghiệp thoạt đầu vẫn duy trì các khuôn
khổ xã hội từng thịnh hành từ trước Cách mạng Đồ đá mới. Sự gắn kết
của các xã hội bộ lạc quy mô nhỏ với các mối quan hệ họ hàng đan xen
chặt chẽ đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự hợp tác và giảm thiểu tình
trạng tranh chấp. Các vị tù trưởng bộ lạc thực thi các quy tắc của cộng
đồng và thúc đẩy sự hợp tác, nhưng các tầng lớp xã hội quan trọng
hiếm khi xuất hiện và gần như mọi cá nhân đều tham gia vào các hoạt
động nông nghiệp hay chăn dắt súc vật.

Nhưng khi quy mô định cư mở rộng, khi dân số ngày càng đông
đúc hơn và khi nghề nghiệp của con người trở nên đa dạng hơn, thì
cũng nảy sinh nhu cầu hợp tác rộng rãi hơn, vượt ra ngoài khả năng
quản lý bằng quan hệ họ hàng. Những thể chế chính trị và tôn giáo
phức tạp ra đời để phục vụ nhu cầu này đã cho phép tổ tiên chúng
ta cộng tác trên quy mô lớn hơn nhiều, cho phép họ xây dựng các hệ
thống thủy lợi rộng lớn, đền đài thiêng liêng, pháo đài vững chắc và
quân đội hùng mạnh.23 Các giai tầng xã hội hoàn toàn mới lạ đã ra đời,
bao gồm tầng lớp cai trị, quý tộc, linh mục, nghệ sĩ, thương nhân và
binh lính.



Jericho, một trong những khu định cư lâu dài đầu tiên trên thế
giới, bắt đầu mở rộng vào khoảng năm 9.000 TCN và kéo dài đến tận
thời kỳ Kinh Thánh. Nó bao gồm một dãy nhà san sát, nhiều công
cụ và đồ dùng nghi lễ, là nơi cư trú của 1.000–2.000 người, được bao
quanh bằng một bức tường đá cao 3,6 mét, và có một tháp canh cao 8,5
mét.24 Khu định cư quan trọng thứ hai ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu –
Çatalhöyük (7.100–5.700 TCN) – là một trung tâm buôn bán đồ gốm,
đá lửa, các công cụ bằng đá obsidian, và hàng xa xỉ trong vùng. Tọa lạc
ở Anatolia thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay, khu định cư này bao gồm các
dãy nhà làm bằng gạch bùn được trang trí và xây đối diện nhau, lúc cao
điểm có sức chứa khoảng 3.000–10.000 người chuyên trồng lúa mì, lúa
mạch, các loại đậu, vừng, hạnh nhân, hạt dẻ cười, và chăn nuôi động
vật thuần hóa như cừu, dê và gia súc.

Hầu hết các thành phố lớn đầu tiên của thế giới cổ đại đều mọc lên
bên bờ sông Euphrates, sông Tigris và sông Nile cách đây 4.000–6.000
năm. Những nơi này bao gồm các trung tâm cổ đại của nền văn minh
Sumer và Akkadia, Uruk và Ur, với gần 100.000 cư dân trong thời kỳ
này, và Memphis ở Ai Cập cổ đại.25 Các thành phố ở Trung Quốc – và
sau đó là Ấn Độ và Hy Lạp – có cùng quy mô như các khu định cư lớn ở
vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu khoảng 3.300 năm trước, trong khi phải đến
1.000 năm sau thì Carthage ở Bắc Phi mới đạt đến tầm vóc này. Điều
thú vị là mãi đến 2.000 năm trước, một thành phố ở châu Âu – Rome –
mới vươn lên đứng đầu bảng xếp hạng các thành phố lớn nhất thế giới,
và phải đến thế kỷ 20 thì New York mới là thành phố đầu tiên của châu
Mỹ bước lên ngôi vị trí đông dân nhất thế giới.

Một lần nữa, khoảnh khắc chuyển tiếp này trong hành trình của
loài người được thúc đẩy bởi và dẫn tới tiến bộ công nghệ. Sự tăng tốc
đột ngột của đổi mới sáng tạo tại thời điểm này cho phép loài người
tiếp tục thuần hóa các loài thực vật và động vật, đồng thời cải thiện việc
canh tác, lưu trữ, thông tin liên lạc và vận chuyển. Các phương pháp
canh tác từng bước được áp dụng bao gồm sử dụng cuốc, cày kéo bằng
tay rồi bằng sức động vật, hệ thống tưới tiêu và cuối cùng là ruộng bậc



Hành trình nhân loại

thang. Các xã hội sử dụng lửa thành thạo để xử lý đất sét và kim loại,
và sử dụng những vật liệu này cùng với xi măng để xây dựng nhà ở,
công cụ và kho chứa ngũ cốc. Họ đã biết lợi dụng sức nước để xay ngũ
cốc, học cưỡi ngựa, lừa và lạc đà thuần dưỡng để chuyên chở hàng hóa
trên đất liền và biết nương theo sức gió để băng qua đại dương và biển
cả. 5.500 năm sau khi người dân Jericho xây dựng những tháp canh cao
chót vót 8,5 mét, người Ai Cập đã xây dựng Đại kim tự tháp Giza, vút
cao đến 146,5 mét.

Bên cạnh đó, công nghệ chữ viết lần đầu tiên ra đời ở Sumer
thuộc miền nam Lưỡng Hà cách đây 5.500 năm. Chữ viết cũng xuất
hiện độc lập, chủ yếu ở Ai Cập cách đây 5.200 năm, ở Trung Quốc
3.300 năm, và ở Trung Mỹ 2.500 năm trước. Thoạt đầu, chữ viết được
phát triển để phục vụ mục đích kế toán và ghi chép, rồi sau đó để khắc
lên bia mộ. Tuy nhiên, điều quan trọng là chữ viết cũng giúp các xã hội
lưu giữ những kiến thức hữu ích, truyền lại cho các thế hệ tương lai và
củng cố những huyền thoại thống nhất.

Cũng như những giai đoạn thay đổi công nghệ trước đó, Cách
mạng Đồ đá mới không chỉ biến đổi lối sống và công cụ của con người,
mà còn kích thích sự thích nghi sinh học với môi trường mới. Sự tiến
hóa đồng thời của gien và văn hóa có lẽ được minh chứng rõ nét nhất
qua sự thích nghi của con người trong quá trình thuần hóa động vật –
sự duy trì lactase. Lactase là một loại enzym cần thiết cho quá trình
tiêu hóa đường lactose – một loại đường có trong các sản phẩm từ sữa.
Giống như các loài động vật có vú khác, cơ thể người tiền sử chỉ tạo ra
lactase trong giai đoạn sơ sinh. Nhưng những đột biến xuất hiện ở Tây
Á, châu Âu và Đông Phi từ khoảng 6.000–10.000 năm trước đã dẫn
đến quá trình tạo men lactase lâu dài, nhờ đó giúp con người tiếp tục
tiêu hóa sữa ngay cả sau giai đoạn sơ sinh.26 Cụ thể, trong xã hội của
những người chăn nuôi cừu và gia súc ở các khu vực này, những người
trưởng thành tình cờ có khả năng sản sinh ra men lactase trong cơ thể
sẽ có thể sử dụng động vật làm nguồn thực phẩm di động và tái tạo.
Điều này mang lại một lợi thế tiến hóa và dần dần được phổ biến trong



các quần thể này theo thời gian. Kết quả là hơn 90% người trưởng
thành ở British Isles và Scandinavia dung nạp được lactose, trong khi tỉ
lệ này giảm mạnh xuống dưới 10% ở các cộng đồng Đông Á – nơi nền
kinh tế truyền thống không dựa vào cừu và gia súc.27

Sữa động vật không phải là sản phẩm tự nhiên duy nhất mà cơ thể
con người đã tiến hóa để tiêu thụ. Các đột biến tương tự giúp ta tiêu hóa
tinh bột, từ đó cho phép đưa bánh mì vào chế độ ăn. Khả năng thích nghi
của con người cũng không chỉ giới hạn trong việc tạo ra một chế độ ẩm
thực phong phú. Khi mật độ dân số gia tăng và thú hoang được thuần
hóa, thì mức độ phổ biến trong quần thể sẽ cao hơn, nhờ đó quần thể sẽ
có khả năng chống lại các bệnh truyền nhiễm và góp phần vào khả năng
miễn dịch bẩm sinh đối với bệnh sốt rét ở một số xã hội.28

Do đó, cuộc Cách mạng Nông nghiệp đã tạo tiền đề cho vòng
xoáy đi lên củng cố lẫn nhau giữa thay đổi công nghệ và khả năng thích
nghi của con người. Được kích hoạt bởi sự gia tăng dân số và biến đổi
khí hậu, đồng thời được định hình bởi địa lý, quá trình biến đổi công
nghệ đã diễn ra, tạo ra sự thay đổi trong mối quan hệ vật chất giữa
chúng ta với môi trường, bao gồm việc sử dụng nhiều hơn những loài
thực vật và động vật có thể thuần dưỡng. Nó dẫn đến sự thích nghi về
mặt xã hội và sinh học, cả hai đều khuyến khích sự biến đổi công nghệ
và tăng cường sự phụ thuộc của chúng ta vào nó. Cuối cùng, chính
vòng xoáy đi lên này – một động lực nền tảng không ngừng diễn tiến
kể từ đó – đã tạo ra sự tăng trưởng dân số đáng kể và sự kiểm soát của
loài người đối với môi trường sống, biến Homo sapiens thành loài thống
trị trên Trái đất.

Tuy nhiên, như đã lưu ý ngay từ đầu, bất chấp những tiến bộ to
lớn về kiến thức và công nghệ, thật bí ẩn lạ lùng khi mức sống của con
người, thể hiện qua tuổi thọ, chất lượng sống, mức độ thoải mái và
thịnh vượng vật chất của họ, nhìn chung vẫn còn trì trệ. Để giải mã bí
ẩn này, ta phải nghiên cứu sâu hơn về nguồn gốc của sự trì trệ: chiếc
bẫy đói nghèo.


Click to View FlipBook Version