1 ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH XÃ VIỆT NGỌC DI TÍCH ĐÌNH DĨNH XÃ VIỆT NGỌC, HUYỆN TÂN YÊN DI TÍCH ĐÌNH DĨNH XÃ VIỆT NGỌC – HUYỆN TÂN YÊN – TỈNH BẮC GIANG I. TÊN GỌI DI TÍCH Đình Dĩnh thuộc xã Việt Ngọc, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Di tích Kiến trức nghệ thuật Đình Dĩnh, xã Việt Ngọc, huyện Tân Yên
2 ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH XÃ VIỆT NGỌC DI TÍCH ĐÌNH DĨNH XÃ VIỆT NGỌC, HUYỆN TÂN YÊN II. ĐỊA ĐIỂM PHÂN BỐ VÀ ĐƯỜNG ĐI ĐẾN DI TÍCH 1. Địa điểm phân bố Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, Việt Ngọc là xã Ngọc Cụ, tổng Vân Cầu, huyện Yên Thế. Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 là xã Hồng Kiều, huyện Yên Thế. Ngày 20 tháng 10 năm 1945 gọi là xã Việt Ngọc, huyện Tân Yên. Đình Dĩnh nay thuộc xã Việt Ngọc, nằm liền kề với UBND xã. Xã Việt Ngọc có vị trí địa lý như sau: - Phía Đông giáp xã Ngọc Vân. - Phía Tây giáp xã Ngọc Sơn (Hiệp Hòa). - Phía Nam giáp xã Lương Phong (Hiệp Hòa). - Phía Bắc giáp xã Đông Thành (Phú Bình – Thái Nguyên). 2. Đường đi đến di tích Từ thành phố Bắc Giang theo đường tỉnh lộ 284 (tuyến Bắc Giang – Cầu Gồ) khoảng 15km đến thị trấn Cao Thượng rẽ trái theo đường tỉnh lộ 295 (Cao Thượng – Bỉ Nội – Hiệp Hòa) 12km là đến xã Việt Ngọc. Đình Dĩnh nằm liền kề UBND xã, cạnh đường tỉnh lộ 295 nên rất thuận lợi cho khách tới đây để tham quan, nghiên cứu, học tập. Đây là tuyến đường đã được trải nhựa, do vậy du khách có thể tới di tích một cách dễ dàng bằng các phương tiện như: ô tô, xe máy, xe đạp đều được. Di tích Kiến trức nghệ thuật Đình Dĩnh, xã Việt Ngọc, huyện Tân Yên
3 ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH XÃ VIỆT NGỌC DI TÍCH ĐÌNH DĨNH XÃ VIỆT NGỌC, HUYỆN TÂN YÊN III. LỊCH SỬ ĐÌNH VÀ NGƯỜI ĐƯỢC THỜ Ở ĐÌNH DĨNH 1. Lịch sử đình Dĩnh Đình Dĩnh xưa gồm tòa tiền đình 3 gian, 2 chái và hậu cung 3 gian được gắn kết với nhau tạo thành bố cục kiểu chữ đinh (J). Hai bên sân đình có hai dãy dải vũ, mỗi dãy 3 gian, phía trước có tòa phương đình, có tường xây bao quanh. Bái đường có các vì mái kết cấu thượng con chồng trụ giá chiêng hạ cốn, 6 hàng chân cột, sàn đã bị dỡ. Trên các đầu dư, các cốn con chồng đều chạm nổi kênh bong, đề tài tứ linh, tứ quý rất sinh động. Ở các đầu kẻ trang trí rồng mây, long hóa. Trong kháng chiến chống Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, đình Dĩnh là nơi sinh hoạt của quân và dân ta. Năm 1943-1944, đình Dĩnh là địa điểm để bà Hà Thị Quế và ông Nguyễn Trọng Tỉnh về hoạt động cách mạng. Năm 1947, đình là lớp học tập cảu trường Ngô Sĩ Liên tỉnh Bắc Giang và Trường Hàn Thuyên (Bắc Ninh). Giai đoạn 1954-1958, trụ sở làm việc của UBND xã đặt tại đình. Những năm 1965-1966, đình Dĩnh là kho chứa lương thực, thực phẩm của xã để phục vụ kháng chiến. Tuy nhiên, do sự thay đổi của thời gian và sự tàn phá của chiến tranh nên đình Dĩnh xưa không còn nguyên vẹn. Nay chỉ còn lại toà phương đình. Tòa đại đình được nhân dân địa phương khôi phục lại trên nền đình cũ gồm 3 gian, 2 chái, 2 dĩ. Ban đầu tòa đại đình được xây dựng sát với tòa phương đình song đến năm 1981, tòa đại đình được di chuyển lùi về phía sau khoảng 3m. Năm 2001, đình lại chuyển một lần nữa về phía sau cách đình cũ khoảng 10m như ngày nay. 2. Người được thờ Theo bài vị khắc chữ Hán ở đình Dĩnh, đây là nơi thờ đức Quý Minh đại vương và đức thánh Tam Giang. a, Về sự tích Cao Sơn – Quý Minh: Theo thần tích ở đình Đa Mai, thành phố Bắc Giang, đã được UBND tỉnh Bắc Giang xếp hạng năm 2003 theo Quyết định số 178/QĐ- CT ngày 28/1/2003, có ghi chép về đức Cao Sơn- Quý Minh như sau: Vào đời Vua Hùng Vương thứ 18 ở tại Nghệ An có một đôi vợ chồng là dòng dõi thi lễ nhiều đời làm công khanh. Ông bà đã ngoại tứ tuần mà vẫn chưa có con. Ông bà thường đến nơi đình, chùa, đền, miếu linh thiêng để làm lễ cầu tự. Nghe tin
4 ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH XÃ VIỆT NGỌC DI TÍCH ĐÌNH DĨNH XÃ VIỆT NGỌC, HUYỆN TÂN YÊN ở Thanh Hóa có một ngôi đền linh ứng lắm, ông bà liền sắm sửa nghi lễ đầy đủ, chu tất để đến đó cầu cúng. Tới ngày 15 tháng 3 năm Nhâm Ngọ bà sinh ra con trai lớn là Cao Sơn, con thứ là Quý Minh. Đến năm 12 tuổi, thiên tư tỏ ra rất thông minh, võ nghệ hơn người, ít ai địch nổi. Khi hai ông 18 tuổi thì cha mẹ quy tiên. Hai ông đã chịu tang cha mẹ ba năm chu tất. Trong thời gian đó Hùng Duệ Vương hạ chiếu lệnh cho các châu, huyện, đạo chọn tuyển người có tài năng đức độ lên làm quan. Hai ông thấy vậy xin triều ứng tuyển và vua thấy hai ông có tài văn võ hơn người và truyền lệnh cho giữ chức chỉ huy sứ. Khi ấy ở đất Tượng Quận lại có người họ Thục, tên Phán vốn dòng dõi nhà Hùng, khi sang trị vì tại vùng đất này nên đã đổi họ. Nghe tin Hùng Duệ Vương truyền ngôi báu cho con rể. Thục Phán sinh lòng ghen tức bèn đem quân sang quấy rối. Hùng Duệ Vương lấy làm lo lắng bèn cho mời phò mã Sơn Thánh đến tấu trình và hiến kế. Nhà vua bèn phong cho Cao Sơn – Quý Minh làm tả hữu tướng quân tiên phòng lên đường dẹp quân Thục Phán ở miền Đông Bắc. Khi tới lộ Bắc Giang thì trời sẩm tối nên hai ông đã hạ trại đóng quân tại đó. Thấy vùng đất này có nhiều lợi thế cho việc quân, hai ông truyền lệnh cho quân sĩ và nhân dân trong vùng xây dựng, thiết lập đồn lũy để chống phản tặc. Đêm ấy hai ông đều mộng thấy nhân thần tự xưng là thần linh trong vùng đến trợ giúp dẹp loạn. Sáng hôm sau, hai ông làm lẽ bái yết và cho khao thưởng quân sĩ cùng dân thôn. Dân trang khu vô cùng hưởng ứng hai vị Cao Sơn – Quý Minh lại nói với các bô lão rằng: Ta vâng lệnh thiên sứ, giúp nước an dân, đem quân đến đây lập đồn lũy bố phòng quân giặc. Thấy được có nhân thần báo mộng trợ giúp lại được dân trang hết lòng hưởng ứng, vậy ta cho 500 nén bạc để nhân dân lập miếu từ làm nơi thờ phụng mãi mãi. Hai ông vâng mệnh vua mang quân tới miền Đông Bắc lô Bắc Giang xây đồn đắp lũy được nhân dân phù trợ nên đã giành được thắng lợi rực rỡ nay xin báo đáp bệ hạ. Vua nghe xong liền cho y chuẩn Hai ông bái tạ vua rồi trở về đóng đồn binh nơi trang khu. Tới nơi, hai ông được các vị bô lão và nhân dân trang khu tấp nập đến chúc mừng. Các cụ tấu rằng: Từ khi hai ông đóng quân ở đây, dân thôn ở đây được yên nghiệp làm ăn sinh sống, ngày một thịnh vượng. Nhân đây, trên mảnh đất này, xưa làm nơi đồn trú, nay lập đền thờ cúng tưởng niệm. Hai ông ưng thuận và chuẩn cho các cụ rằng: Dân trang có lòng ngưỡng vọng và kính trọng ta để truyền tới muôn đời
5 ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH XÃ VIỆT NGỌC DI TÍCH ĐÌNH DĨNH XÃ VIỆT NGỌC, HUYỆN TÂN YÊN nhưng khi thiết lập miếu từ để thờ phụng, tưởng niệm thì xin hãy cho linh thần cùng phối hưởng. Hai ông ban cho dân trang khu 1000 nén bạc để tu bổ đền từ và hương hoa chi nghi lễ. Cùng lúc ấy tự nhiên trời đất tối sầm, có hai đám mây vàng từ trên trời hạ xuống trước mặt hai ông rồi đưa hai ông đi. Hôm đó là ngày 15 tháng 8 âm lịch. Lúc ấy dân trang không biết là hai ông đã hóa về trời nên rất lấy làm kinh sợ. Mọi người làm sớ tấu trình lên vua. Vua lệnh cho dân trang khu tổ chức thờ cúng, tế lễ hai ông theo đúng nghi thức. Nhân đó, vua ban sắc cho các ông, phong cho đức Cao Sơn là: Thông minh đại vương tặng phong: Tế thế hộ quốc an dân, phù vận dương vũ dực thánh bảo cảnh, hiển hựu tôn thần. Nguyên tặng hiệu linh đôn tĩnh, hùng lược trác vĩ dực bảo trung hưng thượng đẳng thần. Phong cho đức Quý Minh là: Hiển ứng Đại Vương. Tặng phong phụ úy uy dũng hộ quốc an dân, phù hiếu chiếu cảm, trật ưu tôn thần. Tặng: Thanh lãng cao hiệu, địch cát, cát tĩnh, dịch bảo trung hưng thượng đẳng thần. Chuẩn cho dân làng trang khu phụng thờ. c, Về đức thánh Tam Giang: Theo thần tích ở đình Ninh Tào, xã Hợp Thịnh, Hiệp Hòa đã được UBND tỉnh Bắc Giang xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa 2005 theo QĐ số 172/QĐ/CT ngày 02/02/2005, có ghi chép về đức thánh Tam Giang rằng: Ngài sinh ở Vân Mẫu, Bắc Ninh có bốn anh em trai và một em gái. Đó là Trương Hống, Trương Hát, Trương Lừng, Trương Lẫy và một người em gái tên Đạm Nương. Năm anh em trông rất khôi ngô tuấn tú. Nhà tuy nghèo, nhưng ngài ở nhà nuôi mẹ, đọc sách hơn 10 năm, không lúc nào xa vắng. Khi mẹ mất, đêm nào ngài cũng đi thăm mả mẹ. Có lần đi đến chỗ bãi cả thì gặp một lũ quỷ, ngài đấu vật với chúng, lũ quỷ thua, cụp xuống lậy, tôn ngài làm thầy và dâng một bộ áo đỏ, một bộ áo trắng để làm bảo bối. Năm ngài 20 tuổi, nhà Lương bên Tàu (Đại Đông thứ 7) sang xâm lược nước ta. Khi Triệu Quang Phục lên ngôi vua dẫn đi chiêu mộ người tài giỏi ra dẹp giặc cứu nước. Khi nghe tin về anh em nhà Trương Hống, vua bèn sai người về đón và phong cho anh em ngài: ông anh là Thượng Tướng quân, em thứ hai là phó Tướng quân, ông ba và ông tư là Tùy Tướng cùng nhau tiến binh đánh giặc. Ngài biết rằng, lúc đó là tháng tư, đường xá lầy lội khó đi nên đã thay đổi phương tiện tiến quân bằng đường thủy chia các đạo bốn mặt đánh úp quân địch. Giặc Lương bỏ chạy về Tàu, nhà vua
6 ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH XÃ VIỆT NGỌC DI TÍCH ĐÌNH DĨNH XÃ VIỆT NGỌC, HUYỆN TÂN YÊN đã khao thưởng tướng sĩ, ban cho ông anh được hưởng thực ấp ở trấn Kinh Bắc (thời ấy gồm các vùng: Bắc Ninh, Bắc Giang, Đông Anh, Đa Phúc), ông em hưởng thực ấp ở huyện Đông Ngàn (nay là Đông Anh – Hà Nội). Rồi bỗng dưng Lý Phật Tử (dòng dõi nhà vua Lý Nam Đế) đem quân Chiêm, Lào đánh nước ta. Anh em Ngài lại đem quân đánh giặc những Lý Phật Tử đã xin giảng hòa vì Lý Phật Tử là dòng dõi vua Lý Nam Đế nên vua Triệu Việt Vương đã cho Châu Quân Thần làm giới hạn để cho con trai mình là Nhã Lang, anh em ngài can ngăn nhưng không được. Nên anh em Ngài liền từ chức về ở núi Phù Lan làng Phù Long (ở huyện Phú Thọ, tỉnh Sơn Tây cũ) làm ruộng. Lúc này Lý Phật Tử lại đem quân đánh vào thành Long Biên. Vua Triệu Việt Vương đem con gái chạy về phía Nam cùng đường ông nhảy xuống bể tự tử. Lý Phật Tử cho mời anh em Trương Hống, Trương Hát ra làm quan nhưng anh em Ngài không chịu nên Lý Phật Tử ra lệnh bắt anh em Trương Hống. Anh em Trương Hống đã giả làm thuyền buôn xuôi về quê tảo mộ mẹ. Xong ông anh cho thuyền vào sông Cầu ngược lên ngã ba Xà (làng Phượng La xã Tam Giang, Yên Phong, Bắc Ninh) thì đục thủng thuyền và tuẫn tiết và ngày mùng 10 tháng 4 âm lịch. Vì thế, nhân dân đã lập đền, tạc tượng thờ ở đó gọi là đền Xà hay đền Ngã Ba Xà. Thuyền ông em đi theo sông Thương ngược đến ngã ba Phượng Nhỡn (giáp giới giữa ba huyện Yên Dũng, Lạng Giang, Lục Nam) cũng đục thủng thuyền chìm xuống chết giữa dòng sông. Hôm ấy, đúng mồng 10 tháng 4 âm lịch. Nhân dân ở đây đã lập đền thờ Trương Hát tại ngã ba Phượng Nhỡn. Như vậy, cả nhà: anh, em, vợ, con, người nhà và gia nhân hơn chục người đều chết ở hai nơi đó. Còn người con của Trương Hống tên là Trương Kiều còn ít tuổi ở trên núi Phù Lan (Sơn Tây) với cô Đạm Nương chưa kịp đi theo. Vua hậu Lý (tức Lý Phật Tử) nghe tin đó liền cho mời ông Trương Kiều ra làm quan nhưng ông không nhận bèn tìm đến tận Ngã Ba Xà tự vẫn, xác trôi về làng Mai Thượng, huyện Hiệp Hòa. Hôm ấy là ngày mồng 2 tháng 2 âm lịch. Nhân dân ở đây đã lập đền thờ. Duy chỉ có bà Đạm Nương còn sống sau về Vân Mẫu thờ cúng cha mẹ rồi chết ở đó. Vua Lý Phật Tử truy phong:
7 ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH XÃ VIỆT NGỌC DI TÍCH ĐÌNH DĨNH XÃ VIỆT NGỌC, HUYỆN TÂN YÊN Ông anh là: Vũ Lâm Lang Quả Nghi linh ứng thượng tướng quân. Ông em là: Đại thụ tướng quân. Đến đời vua hậu Ngô Vương đã phong cho ông anh làm chức Long Vương đến ở các sông ngòi bến nước. Còn ông em làm chức Tuần Đô phó sĩ ở sông Cầu – sông Thương. Khi vua hậu Ngô Vương đánh giặc Lý Huy ở núi Côn Luân thì đêm đêm ông anh dẫn một nửa quân đi sông Cầu qua sông Như Nguyệt lên sông Phù Lương (Thái Nguyên), còn ông em dẫn quân đi sông Nam Bình lên thượng lưu, đánh úp giặc trên núi Côn Luân và đã chiến thắng. Ngô Vương sai lập đền thờ gọi là đền Đuổm và phong: Ông anh là: Đại Đương giang hộ quốc thần vương. Ông em là: Tiểu Đương giang hộ quốc thần vương. Đến thời vua Lê Đại Hành nên hiệu Thiên Phúc thứ 2 (năm 981) thì giặc bên Tàu (nhà Tống) sang xâm lược nước ta. Anh em Trương Hống lại hiện về giúp vua trị giặc cứu dân và vua đã phong: Ông anh là: Sảng Khang Khước Địch đại vương thượng đẳng thần. Ông em là: Hiển Thắng Uy Địch đại vương thượng đẳng thần. Đến đời vua Trần Nhân Tông niên hiệu Trùng Hưng thứ nhất (1285) gia phong: Ông anh là: Tam Giang Khước Địch hiển ứng đại vương Thiên Hựu Thượng đẳng thần. Ông em là: Tam Giang Uy Địch đại vương dũng cảm thượng đẳng thần. Năm thứ 21 niên hiệu Hưng Long đời vua Trần Anh Tông (1293-1314) gia phong: Ông anh là: Trợ Thuận. Ông em là: Thuận Thắng. Để thêm vào sắc phong trước đó: Đời vua Lê Kính Tông năm thứ nhất (1600) niên hiệu Thuận Đức nhà Lê các thời Cảnh Hưng (1740-1786), Chiêu Thống (1787- 1788) nhà hậu Lê đều có sắc phong. Ông anh và ông em là: Thượng đẳng phúc thần. Ông ba và ông tư là: Trung đẳng phúc thần.
8 ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH XÃ VIỆT NGỌC DI TÍCH ĐÌNH DĨNH XÃ VIỆT NGỌC, HUYỆN TÂN YÊN Sau này cả bốn ông đều có đền thờ riêng ở các nơi. Do vậy, hiện nay ở đình Dĩnh thờ bốn vị để tưởng nhớ tới công ơn của các ngài đã đem lại cho nhân dân nơi đây. Lễ kết nạp đoàn viên mới năm 2020 và năm 2022 tại Di tích Đình Dĩnh, xã Việt Ngọc, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
9 ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH XÃ VIỆT NGỌC DI TÍCH ĐÌNH DĨNH XÃ VIỆT NGỌC, HUYỆN TÂN YÊN IV. LOẠI HÌNH DI TÍCH ĐÌNH DĨNH Đình Dĩnh thuộc thôn Dĩnh (cũ), xã Việt Ngọc là nơi thờ các đức thánh Cao Sơn – Quý Minh, Tam Giang. Đó là những người đã có công với nhân dân nơi đây, với đất nước. Các vị thần đã đem lại cuộc sống bình yên, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân địa phương nói riêng, cho nhân dân Bắc Giang nói chung. Chính vì vậy, nhân dân nơi đây từ xa xưa đã ý thức tinh thần thờ phụng người có công với quê hương mình nên họ đã lập đình để thờ phụng, tưởng nhớ tới các ngài. Đình Dĩnh nay chỉ còn lại tòa phương đình. Tòa đại đình được tu bổ lại. Tòa phương đình đình Dĩnh với nghệ thuật chạm kênh bong điêu luyện, tinh xảo, cùng với kết cấu kiến trúc được thể hiện qua các vì kèo, đầu dư, ván mê…là những mảng chạm khắc về các con vật linh thiêng: long, ly, quy, phượng với dáng vẻ khác nhau mang phong cách thời Nguyễn. Ở đây, người nghệ nhân lấy con rồng làm chủ thể với dáng vẻ dữ dằn: râu vuốt ngược, mắt lồi dữ, bờm dựng lên phía trên. Những hình ảnh hoa lá mà chúng ta bắt gặp ngoài đời thường tưởng chừng như rất đỗi bình thường, thì ở đây lại được người nghệ nhân với đôi tay khéo léo của mình đã khắc họa trên từng chi tiết của tòa phương đình, tăng thêm phần sống động, huyền ảo mà không mất đi vẻ linh thiêng của ngôi đình. Trải qua biết bao nhiêu sự thăng trầm của lịch sử và sự biến đổi của thiên nhiên, đình Dĩnh tuy không còn nguyên vẹn như xưa song đây cũng là ý thức gìn giữ một di sản văn hóa vật thể của địa phương, góp phần làm phong phú di sản văn hóa của Bắc Giang cũng như của dân tộc Việt Nam. Hiện nay, đình Dĩnh còn lưu giữ được một số đồ thờ quý, có giá trị như: ngai thờ, bài vị, giá đọc văn tế, linh vị, chiêng, trống… và nguồn di sản Hán Nôm đáng quý. Hàng năm, vào ngày mồng 10 tháng Giêng âm lịch và ngày 10 tháng 9 âm lịch, dân làng tổ chức hội lệ, sinh hoạt diễn ra các trò chơi mang đậm tính dân gian như: chọi gà, cờ, hát tuồng… Như vậy, xét về loại hình di tích, đình Dĩnh thuộc loại Di tích kiến trúc nghệ thuật.
10 ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH XÃ VIỆT NGỌC DI TÍCH ĐÌNH DĨNH XÃ VIỆT NGỌC, HUYỆN TÂN YÊN V. KHẢO TẢ DI TÍCH ĐÌNH DĨNH Đình Dĩnh thuộc thôn Dĩnh, tọa lạc trên một khu đất rộng, liền kề với UBND xã. Đình được xây dựng theo hướng Nam, xung quanh bóng cây tỏa mát bốn mùa. Đình có vị trí như sau: - Phía Đông giáp khu dân cư. - Phía Tây giáp UBND xã Việt Ngọc. - Phía Nam giáp đường tỉnh lộ 295. - Phía Bắc giáp khu dân cư. Khi vào đình Dĩnh, ta bước lên sân gạch rồi bước qua 7 bậc thềm vào nghi môn đình. Tòa phương đình của đình Dĩnh hiện nay còn khá nguyên vẹn, lợp ngói mũi, chồng diêm 8 mái; 4 mái dưới; 4 mái trên. Tòa phương đình có kích thước chiều dài: 10,2m; rộng 6,5m; cao 5,6m. Nghi môn ở vì giữa có kết cấu kiểu giá chiêng, còn 2 vì hai bên có kết cấu theo kiểu độc trụ, cánh báng. Tòa nghi môn được xây dựng với 4 hàng chân cột tương ứng với 16 cột gỗ lim. Các đầu dư cột cái đều được chạm khắc hình đầu rồng chân đạp vào cột, đầu vươn ra, bờm vuốt ngược tại dáng chắc khỏe. Ở vì chính giữa chạm hình mặt hổ phù, mũi to, bờm dựng, mắt lồi. Ở các bức ván mê của gian giữa được người nghệ nhân chạm khắc hình các con vật linh thiêng như: long, ly, quy, phượng. Song ở đây, người nghệ nhân lấy rồng làm chủ thể. Rồng ở đây được chạm khắc nổi hẳn lên, nổi hẳn lên, nổi bật hơn các con vật khác. Rồng trông rất dữ: bờm vuốt ngược lên, râu mép cong dài về phía sau, mắt lồi. Đó là rồng thời Nguyễn. Ở các đầu bẩy của tòa phương đình được chạm nổi đề tài tứ quý: tùng, cúc, trúc, mai, đào cùng cuốn thư và chữ thọ. Ở hai bên vì nách để tạo ra 2 chái và góc đao, người nghệ nhân xưa đã tạo ra khoảng trống bằng cách gắn hai cột gỗ chạy từ khoảng trống giữa gian trái đi qua hai cột quân xuống phía dưới tường. Đó gọi là kẻ moi, làm cho tòa phương đình thêm phần thoáng đãng, dễ nhìn mà không mất đi vẻ linh thiêng, trang trọng của tòa phương đình. Về phần mái của toà phương đình gồm có 8 mái; 4 mái phía trên; 4 mái phía dưới. Tất cả 8 góc mái đều được đắp nổi hình lá đề uốn cong tạo ra phần đao cho phương đình. Trên đỉnh mái đắp nổi hình “lưỡng long chầu nguyệt”, 4 góc bờ xối mái trên là hình 4 con nghê đang chầu.
11 ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH XÃ VIỆT NGỌC DI TÍCH ĐÌNH DĨNH XÃ VIỆT NGỌC, HUYỆN TÂN YÊN Sau khi ta bước qua tòa phương đình được chiêm ngưỡng kiến trúc nghệ thuật tại đây thật đẹp mắt của các bức chạm khắc các đề tài tứ linh, tứ quý rất sinh động, tăng thêm vẻ đẹp cho tòa phương đình. Tiếp vào bên trong ta đi qua một sân gạch, vào tòa đại đình, với hai bên là hai cây: cây đại và cây vải tỏa bóng mát. Trước cửa đình là bức hoành phi ghi dòng chữ Hán: “Dĩnh cung đình” tức là cung đình Dĩnh. Phía sau đình là vườn cây bạch đàn, xa xa nữa là ngọn núi Đót thuộc xã Phúc Sơn. Bên phải đình là UBND xã, bên trái đình là khu dân. Tòa đại đình Dĩnh hiện nay gồm 5 gian, 2 chái, với kết cấu vì kèo theo kiểu giá chiêng, tiền kẻ, hậu bẩy. Đình gồm 4 vì kèo với 8 cột chính, nên lát gạch vuông đỏ, mái lợp ngói mũi. Hai bên cửa có hình chữ “Thọ” để tạo ô thoáng cho ngôi đình, hệ thống cửa bức bàn bằng gỗ bạch đàn. Kết cấu vì kèo ở đình Dĩnh được trang trí bằng các hình tượng mặt hổ phù. Vì nách của đình được chạm khắc hình: long, quy, mây tụ. Ở gian chính giữa để tạo ra nơi thờ thánh, ở đây người ta đã nối 2 cột cái với hai cột quân ở phía sau bằng cách dùng hệ thống ván bằng, xà ngang, xà dọc nối với nhau tạo ra ban thờ cao: 195cm, dài: 290cm, rộng: 225cm. Tại nơi đây là chỗ đặt ngai thờ, bài vị, cùng hai linh vị, giá đọc văn tế và một số đồ thờ khác. Phần mái của đình Dĩnh gồm 4 mái: 2 mái chính, hai mái phụ, với đao cong mái lượn. Ở phía trên đỉnh nóc đắp nổi hình “lưỡng long chầu nguyệt”. Bốn góc mái được đắp nổi 4 con vật linh thiêng biến thể: long, ly, quy, phượng làm tăng thêm vẻ uy nghiêm, trang trọng cho ngôi đình.
12 ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH XÃ VIỆT NGỌC DI TÍCH ĐÌNH DĨNH XÃ VIỆT NGỌC, HUYỆN TÂN YÊN Liên đội trường Tiểu học Việt Ngọc tổ chức Lễ kết nạp đội viên mới năm học 2017-2018 tại Di tích Đình Dĩnh, xã Việt Ngọc, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang VI. CÁC TÀI LIỆU HIỆN VẬT CÓ TRONG ĐÌNH DĨNH 1. Di sản Hán Nôm *Hoành phi: “Dĩnh cung đình” Dịch nghĩa: Cung đình Dĩnh “Vạn cổ anh linh” Dịch nghĩa: Muôn thuở linh thiêng. *Câu đối: Phiên âm: “Vân sơn đãng đãng càn khôn bạch Ngọc thụ thương thương nhật nguyệt trường” Dịch nghĩa: Đất trời trắng xóa, mây trên đỉnh núi lãng đãng bay. Ngày tháng dài dằng dặc, cây ngọc xanh tốt xum xuê. Phiên âm:
13 ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH XÃ VIỆT NGỌC DI TÍCH ĐÌNH DĨNH XÃ VIỆT NGỌC, HUYỆN TÂN YÊN “Vạn đại phương danh lưu sử sách Thiên niên vượng khí phái sơn hà” Dịch nghĩa: Tiếng thơm muôn đời còn lưu truyền trong sử sách. Khí tốt ngàn năm vẫn bao trùm khắp núi sông. Phiên âm: “Thần linh giáng phúc thiên thu vượng Thánh đức gia ân vạn đại xương” Dịch nghĩa: Thần linh ban phúc ngàn năm được thịnh vượng Thánh đức gia ơn muôn đời phát triển. Phiên âm: “Ngọc lĩnh nhất chi chung tú khí Cụ đình thiên cổ ngưỡng anh phong” Dịch nghĩa: Núi Ngọc một chi chung đúc được những khí tốt. Đình Ngọc Cụ ngàn năm chiêm ngưỡng sự thanh cao. *Chữ Hán trên câu đầu: “Càn, Nguyên, hanh, lợi, trinh” “Bảo Đại thập nhất niên tu tạo” Nghĩa là Năm Bảo Đại thứ 17 tu tạo lại. *Hai bài vị ghi chữ Hán: Bài vị 1: “Đương Giang đô thống, Quý Minh đại vương thần vị tiền” Bài vị 2: “Cao Sơn đô thống, Quý Minh đại vương thần vị tiền” *Câu đối: Phiên âm: “Ức thế anh linh tặng hách dịch Bách niên nghi vệ tráng quan chiêm” Dịch nghĩa: Muôn thuở anh linh càng rực rỡ Trăm năm nghi vệ rạng hào hoa.
14 ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH XÃ VIỆT NGỌC DI TÍCH ĐÌNH DĨNH XÃ VIỆT NGỌC, HUYỆN TÂN YÊN *Chữ Hán trên câu đầu: “Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín Phú, quý, thọ, khang, ninh” *Chữ Hán trên thượng lương: “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Tân Tỵ niên, lục nguyệt nhị thập tứ nhật, thụ trụ, thượng lương đại cát” Dịch nghĩa: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngày 24 tháng 6 năm Tân Tỵ dựng thượng lương đại cát. Nội dung sắc phong: Phiên âm: “Bắc Giang tỉnh, Yên Thế phủ, Ngọc Cụ xã, tòng tiền phụ sự, nguyên tặng: Hiệu linh tôn đĩnh, hùng lược trác vĩ, dực bảo trung hưng, Cao Sơn thượng đẳng thần. Thanh lãng cao diệu, Địch cát khác tĩnh, dực bảo trung hưng Quý Minh thượng đẳng thần. Nhuận trạc hoằng phù, Bác lợi trừng khâm dực bảo trung hưng Tam Giang tôn thần. Hộ quốc tý dân, nẫm trứ linh ứng, tiết ban cấp sắp phong. Chuẩn kỳ phụng sự. Tứ kim chính trực trẫm tứ tuần, đại khánh tiết kinh ban bảo chiếu đàm ân lễ, long đăng trật: Cao Sơn thượng đẳng thần; Quý Minh thượng đẳng thần; Đặc chuẩn y cựu phụng sự Tam Giang tôn thần, trứ gia tặng: Uông nhuận trung đẳng thần, đặc chuẩn phụng sự dụng chí quốc khánh nhi thần tự điển, khâm tai. Khải Định cửu niên, thất nguyệt, nhị thập tứ nhật.” Dịch nghĩa: Sắc cho xã Ngọc Cụ, phủ Yên Thế, tỉnh Bắc Giang cứ theo như trước phụng thờ. Nguyên được phong tặng là bậc: Hiệu linh đôn tĩnh hùng lược trác vĩ, dực bảo trung hưng Cao Sơn thượng đẳng thần. Thanh lãng cao diệu, Địch cát khác tính, dực bảo trung hưng Quý Minh thượng đẳng thần. Nhuận trạc hoằng phù, Bác lợi trừng khám dực bảo trung hưng Tam Giang tôn thần có công giúp nước, che chở cho dân, vô cùng linh ứng, đã từng được ban tặng sắc phong. Chuẩn cho địa phương phụng thờ. Đến nay, nhân dịp nhà vua tròn 40 tuổi có tổ chức đại lễ mừng tạo, ban ra bảo chiếu tỏ rõ ân lễ của nhà vua, tăng thêm phẩm cấp cho các vị thần: Cao Sơn thượng đẳng thần, Quý Minh thượng đẳng thần; Đặc chuẩn cho địa phương cứ theo như cũ
15 ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH XÃ VIỆT NGỌC DI TÍCH ĐÌNH DĨNH XÃ VIỆT NGỌC, HUYỆN TÂN YÊN phụng thờ: Tam Giang tôn thần, gia tặng: Uông nhuận trung đẳng thần. Chuẩn cho địa phương phụng thờ thần vào những dịp lễ lớn, mừng vui đất nước. Hãy tuân theo sắc chỉ này. Ngày 24 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (1924). 2. Các tài liệu, hiện vật khác - Kiệu Bát cống thời Nguyễn có kích thước chiều dài: 350cm, có chạm khắc hình rồng, hổ phù, phượng. Đòn gánh kiệu dài: 230cm, đòn đỡ dài: 148cm. Cả hai đòn ở đầu có chạm hình đầu rồng. - Ngai thờ có kích thước chiều cao: 90cm, rộng: 46 cm. Hai tay ngai hình rồng, son sơn thếp vàng. - Hai bài vị có kích thước như nhau cao 90cm, có khắc chữ Hán. - Linh vị có kích thước chiều cao là: 90 cm, rộng là: 35cm. Linh vị này làm bằng gỗ, sơn đỏ giống hình mặt người ở trong lòng, bên ngoài trang trí hình rồng chầu. - Giá đọc văn tế thời Nguyễn cao: 40cm, rộng 38cm, được trang trí rồng chầu mặt nguyệt. - Bộ bát bửu (8 chiếc), quạt cò bằng gỗ (2 chiếc). - Bát hương sứ thời Nguyễn (5 chiếc). - Đài nước lớn (2 chiếc) có kích thước giống nhau cao 30cm. - Đài nước nhỡ (2 chiếc) có kích thước giống nhau cao 23cm. - Đài nước nhỏ (6 chiếc) có kích thước giống nhau cao 20cm. - Sập chân quỳ dạ các cao: 20cm, dài: 45cm, rộng: 23cm. Sập được sơn son thếp vàng, có trang trí đầu hổ phù. - Sập thờ thứ 2 cao 180cm, dài: 170cm, rộng; 60cm. - Mâm bồng gỗ cao: 27cm, đường kính 31cm. - Lọ hóa sứ cao 80cm, đường kính miệng: 26cm, đường kính đế: 15cm. - Đôi hạc thời Nguyễn đứng trên mai rùa cao cả rùa: 238cm, cao hạc: 230cm. - Trống bọc da trâu (2 chiếc). - Chiêng có đường kính: 50cm. - Lọng (2 chiếc), một tàn bằng gỗ, hai ống sắc có chiều dài như nhau là 50cm.
16 ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH XÃ VIỆT NGỌC DI TÍCH ĐÌNH DĨNH XÃ VIỆT NGỌC, HUYỆN TÂN YÊN VII. GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - VĂN HÓA VÀ KIẾN TRÚC NGHỆ THUẬT CỦA ĐÌNH DĨNH 1. Giá trị lịch sử văn hóa Đình Dĩnh thuộc xã Việt Ngọc, huyện Tân Yên là trung tâm sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng tiêu biểu của nhân dân địa phương. Đình Dĩnh là nơi thờ Cao Sơn – Quý Minh đại vương, Tam Giang đô thống. Đình được xây dựng vào thời Nguyễn trên khu đất cao ráo, thoáng mát. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đình là địa điểm sinh hoạt của quân và dân ta. Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, đình Dĩnh là trụ sở làm việc của UBND xã, sau thời gian đó, đình là kho chứa lương thực, thực phẩm để phục vụ kháng chiến. Hàng năm, vào ngày mồng 10 tháng Giêng âm lịch và ngày 10 tháng 9 âm lịch, lễ hội nơi đây lại được tổ chức với các trò chơi dân gian mang đậm bản sắc dân tộc, làm tăng thêm không khí linh thiêng, ấm cúng của ngày hội. 2. Về giá trị kiến trúc nghệ thuật Căn cứ vào những hiện vật còn trong đình, đó là sắc phong, bài vị, ngai, linh vị, giá đọc văn tế, các bức chạm khắc với chủ đề tứ linh, tứ quý rất sinh động… thì dình Dĩnh được xây dựng vào thời Nguyễn. Với kiểu kiến trúc: vì giữa có kết cấu giá chiêng, còn 2 vì hai bên có kết cấu theo kiểu độc trụ, cánh báng cùng nghệ thuật chạm kênh bong dân gian tinh xảo, đôi bàn tay khéo léo của nghệ nhân đã nâng giá trị của đình Dĩnh lên một vị trí quan trọng, là một trong những di sản văn hóa vật thể tiêu biểu của tỉnh với một tổng thể kiến trúc vững chắc và các mảng chạm khắc tinh tế, khéo léo của người nghệ nhân xưa. Nghệ thuật điêu khắc ở đình Dĩnh khá đặc sắc và phong phú. Các đề tài truyền thống được đưa vào khác sinh động. Đó là mảng đề tài tứ linh: long, ly, quy, phượng. Rồng ở đây tuy còn mang vẻ dữ tợn với thân hình uốn khúc, mắt lồi, râu mép dài vuốt ngược về phía sau, bờm vuốt ngược lên trên, song với sự chau chuốt, khéo léo tài tình của người nghệ nhân dân gian thì nó lại có những đường nét mềm mại, bay bổng, sống động… Kết cấu kiến trúc của đình Dĩnh cũng được người nghệ nhân tạo dựng tinh tế từ các đầu dư biến thể đầu rồng. Ngoài ra, giá trị nghệ thuật ở tòa phương đình còn thể hiện ở từng chi tiết kết cấu kiến trúc ở các câu đầu, cốn, đầu dư… bằng tất cả tài
17 ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH XÃ VIỆT NGỌC DI TÍCH ĐÌNH DĨNH XÃ VIỆT NGỌC, HUYỆN TÂN YÊN khéo léo của mình, những người nghệ nhân dân gian xây dựng đình Dĩnh đã tạo nên một tác phẩm nghệ thuật đặc sắc và hoàn mỹ với những hình ảnh vừa sống động, chân thực, vừa linh thiêng, huyền bí. Như vậy, có thể nói rằng đình Dĩnh bên cạnh những giá trị về lịch sử, văn hóa, ngôi đình này còn nổi trội hơn về giá trị kiến trúc nghệ thuật. Đây là một công trình văn hóa tiêu biểu được xây dựng vào thời Nguyễn, nó mang giá trị kiến trúc nghệ thuật là chính. VIII. TÌNH TRẠNG BẢO QUẢN PHƯƠNG ÁN BẢO VỀ SỬ DỤNG DI TÍCH ĐÌNH DĨNH Đình Dĩnh từ khi xây dựng cho tới nay không còn nguyên vẹn như xưa. Mấy năm gần đây nhân dân địa phương đã cùng nhau đóng góp công sức, tiền của đề khôi phục lại tòa đại đình và tu sửa tòa phương đình như hiện nay. Đó là ý thức tự giác của người dân địa phương trong việc bảo tồn di sản văn hóa dân tộc. Từ nhiều năm qua, viêc tu bổ và bảo quản đình Dĩnh đã được nhân dân và chính quyền địa phương quan tâm, gìn giữ, tu tạo và bảo vệ, đã được các cụ thay nhau trông nom, đèn nhang chu đáo. Tuy nhiên, đó mới chỉ là giải pháp tình thế trước mắt của địa phương. Vậy để bảo vệ di tích này, chúng ta cần gìn giữ đúng nguyên trạng của nó, thực hiện khoanh vùng đất đai; quy hoạch bảo vệ khu di tích. Tất cả những hạng mục cần tu sửa nhất thiết phải được sự hướng dẫn và sự chỉ đạo cụ thể của cơ quan chuyên môn. Đình Dĩnh là một tài sản văn hóa quý hóa của địa phương. Vì vậy cần lập kế hoạch xây dựng nơi đây thành trung tâm sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng nhằm giáo dục cho các thế hệ về truyền thống xây dựng và đấu tranh bảo vệ quê hương, đất nước của tổ tiên ông cha. Về nghiên cứu, khảo sát lập hồ sơ khoa học và pháp lý cho di tích hiện nay chính là một việc làm có tác dụng trực tiếp và lâu dài trong quá trình quản lý di tích. Khi dình Dĩnh được Nhà nước xếp hạng thì việc sử dụng, bảo vệ di tích phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa cơ quan chuyên môn với nhân dân và chính quyền địa phương. Công tác bảo vệ và sử dụng di tích phải thực hiện theo đúng Luật di sản văn hóa.
18 ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH XÃ VIỆT NGỌC DI TÍCH ĐÌNH DĨNH XÃ VIỆT NGỌC, HUYỆN TÂN YÊN IX. CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ KHOA HỌC ĐỂ XẾP HẠNG DI TÍCH ĐÌNH DĨNH Căn cứ theo đề nghị của nhân dân địa phương, thông qua UBND xã Việt Ngọc, phòng VHTT – TT huyện Tân Yên, vừa qua Ban Quản lý Di tích Bắc Giang đã tiến hành khảo sát lập hồ sơ khoa học, pháp lý trình UBND tỉnh Bắc Giang xếp hạng di tích đình Dĩnh. Căn cứ Luật di sản văn hóa đã được Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2001 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2002. Nhằm bảo vệ lâu dài và sử dụng có hiệu quả di sản văn hóa vào công cuộc xây dựng đời sống văn hóa mới ở nông thôn, nay bộ hồ sơ khoa học và pháp lý đình Dĩnh đã hoàn thiện. Vậy đề nghị các cấp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt. Căn cứ vào chương IV, mục 1, điều 28, phần 1 và chương III, điều 13 của “Luật di sản văn hóa và văn bản hướng dẫn thi hành”, nhà xuất bản chính trị Quốc gia 2003, chúng tôi thấy đình Dĩnh xã Việt Ngọc thuộc điểm đ, điều 28 và được xếp vào loại hình di tích kiến trúc – nghệ thuật. Nguồn: Tư liệu Hồ sơ di tích Đình Dĩnh, xã Việt Ngọc năm 2005.