The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.

DI TÍCH ĐÌNH - CHÙA THỄ, XÃ LAN GIỚI, HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by Hồng Quân, 2023-10-21 15:13:39

DI TÍCH ĐÌNH - CHÙA THỄ XÃ LAN GIỚI, HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

DI TÍCH ĐÌNH - CHÙA THỄ, XÃ LAN GIỚI, HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

1 LÝ LỊCH DI TÍCH ĐÌNH-CHÙA THỄ XÃ LAN GIỚI, HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG I. TÊN GỌI DI TÍCH Đình-Chùa Thễ (còn gọi là Giản Ngoại) thuộc xã Lan Giới, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang II. ĐỊA ĐIỂM PHÂN BỐ VÀ ĐƯỜNG ĐI ĐẾN DI TÍCH 1. Địa điểm phân bố Đình, Chùa Thễ xã Lan Giới được xây dựng đầu thế kỷ XIX, trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, tuy không còn nguyên vẹn như xưa, song đây là khu tâm linh gìn giữ một di sản văn hóa vật thể, được UBND Tỉnh công nhận và xếp hạng khu di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh năm 2005. Đây là khu di tích gắn với tuyến du lịch tâm linh núi Giành Liên Chung đi Đập Đá Ong xã Lan Giới, huyện Tân Yên. Trước cách mạng tháng 8 năm 1945 là xã Giản Ngoại thuộc tổng Lan Giới, phủ Yên Thế. Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 thuộc xã Quang Trung. Đình-Chùa Thễ là khu di tích chung của xã. Hiện nay, Đình, Chùa Thễ nằm trên đất của thôn Bình Minh. Thôn Bình Minh có vị trí địa lý như sau: Phía Đông giáp thôn Chính Lan và thôn Cầu Thầy của xã An Thượng.


2 Phía Tây giáp thôn Bãi Trại. Phía Nam giáp xứ đồng Cấp và thôn Phố Thễ. Phía Bắc giáp thôn Đá Ong. 2. Đường đi đến di tích Đình-Chùa Thễ thuộc xã Lan Giới, huyện Tân Yên cách thành phố Bắc Giang khoảng 28 km về phía Tây Bắc. Đi từ Thành phố Bắc Giang qua cầu sông Thương rẽ phải theo đường tỉnh lộ 284 khoảng 22 km đến Thị trấn Nhã Nam, rẽ trái theo đường tỉnh lộ 287 khoảng 3 km rẽ vào đường bê tông lên UBND xã khoảng 2 km, qua cổng chào xã 150m xã rẽ vào đường làng 500m là đi tới di tích. Du khách có thể đi bằng ô tô, xe máy, xe đạp đều được. III. LỊCH SỬ ĐÌNH- CHÙA THỄ VÀ NGƯỜI ĐƯỢC THỜ 1. Lịch sử Đình-Chùa a. Lịch sử Đình Đình Thễ xưa được xây dựng ở khu Bãi đồng của thôn Bình Chương (nay là thôn Bình Minh). Đó là một ngôi đình gồm 5 gian tòa tiền tế nối với hậu cung một gian tạo thành hình chữ đinh. Đình xưa được xây dựng với toàn bộ hệ thống cột, sàn, tường xung quanh bằng gỗ lim che kín, với các cột gỗ to hàng vòng tay người ôm không xuể. Tương truyền ngôi đình này xưa rất linh thiêng, hễ bất kỳ ai đi qua đều phải bỏ mũ, xuống ngựa, nếu ai không làm vậy sẽ bị trừng phạt. Do nhân dân nơi đây thấy như vậy không thuận lợi cho việc đi lại nên đã chuyển đình lên vị trí như hiện nay. Trải qua sự biến cố của thiên nhiên cũng như của xã hội Đình-Chùa Thễ nay không còn như xưa. Năm 1991, nhân dân địa phương đã hưng công đóng góp công sức, tiền của vào tu sửa, tôn tạo Đình như hiện nay. b. Lịch sử Chùa Chùa Thễ (tên chữ là chùa Linh Thông) xưa còn gọi là chùa Bình, sau đó đổi gọi là chùa Nguyền, chùa Giản Ngoại, chùa Thễ. Sở dĩ chùa Thễ có tên gọi được chuyển đổi qua nhiều lần như vậy là vì: Theo các cụ cao niên ở địa phương kể lại: Trước kia Chùa Thễ rất nhỏ và được xây dựng ở cánh đồng Bình, do vậy nhân dân địa phương gọi tên chùa theo tên cánh đồng là Chùa Bình. Sau này do nhân dân địa


3 phương hay có sự mâu thuẫn với nhau nên họ đã bảo nhau lên chùa để thề nguyền, lần sau không như vậy nữa. Do vậy mà chùa được đổi tên thành Chùa Nguyền. Chùa Giản Ngoại là tên gọi theo tên xã ngày xưa thời kỳ trước cách mạng tháng 8 năm 1945 và lúc này Chùa Nguyền được đổi tên thành Chùa Giản Ngoại. Chùa Thễ là tên gọi theo tên của làng Thễ. Đây là ngôi chùa chung của cả xã Lan Giới. Đình-Chùa Thễ trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử tuy không còn nguyên vẹn như xưa song đây cũng là ý thức tâm linh gìn giữ một di sản văn hóa vật thể của Tỉnh Bắc Giang nói riêng, của dân tộc Việt Nam nói chung. Trong thời kỳ chống thực dân Pháp, cũng như thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, Đình-Chùa Thễ một địa điểm quan trọng phục vụ cho hai cuộc kháng chiến của dân tộc. - Năm 1946-1947 Đình-Chùa Thễ là xưởng sản xuất vũ khí - Năm 1948-1949 khu vực Đình-Chùa Thễ là cơ sở học tập của Trường chính trị Quân khu. - Những năm 1950-1954 Trường cấp II Ngô Sỹ Liên của Tỉnh sơ tán về học tập tại khu vực Đình-Chùa Thễ. - Giai đoạn 1955-1963 UBND xã và Trường Tiểu học của xã đóng tại khu vực Đình-Chùa. - Giai đoạn 1964-1967 Đình-Chùa Thễ là kho chứa đựng vũ khí, quân trang phục vụ kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. - Giai đoạn 1968-1972 Sư đoàn 304b đóng tại Đình Thễ. - Giai đoạn năm 1969-1981 Chùa Thễ là lớp học của Trường Tiểu học xã Lan Giới, do cụ Nguyễn Văn Thanh làm hiệu trưởng (nay cụ đã chết). Đình-Chùa Thễ từ khi xây dựng cho tới nay đã qua nhiều lần chuyển đổi tên gọi cũng như đã trùng tu, tôn tạo nhiều lần làm cho cụm di tích này ngày càng khang trang, tố hảo hơn. 2. Người được thờ Đình-Chùa Thễ không những là nơi thờ Phật, mà còn là nơi thờ, tưởng niệm những người có công với quê hương, với đất nước và còn là nơi ghi đậm dấu ấn lịch


4 sử của quê hương. Theo bài vị ở Đình, đây là nơi thời đức thánh Cao Sơn- Quý Minh và Tam Giang đô thống. a. Về sự tích Cao Sơn- Quý Minh Theo thần tích ở đình Đa Mai, thành phố Bắc Giang đã được UBND tỉnh Bắc Giang xếp hạng năm 2003 theo Quyết định số 178/QĐ-CT ngày 28/01/2003, có ghi chép về Cao Sơn- Quý Minh như sau: Vào đời Vu Hùng Vương thứ 18 ở tại Nghệ An có một đôi vợ chồng là dòng dõi thi lễ nhiều đời làm công khanh. Ông bà đã ngoại tứ tuần mà vẫn chưa có con. Ông bà thường đến Đình, Chùa, Miếu linh thiêng để làm lễ cầu tự. Nghe tin ở Thanh Hóa có một ngôi đền linh ứng lắm, ông bà liền sắm sửa nghi lễ đầy đủ, chu tất để đến đó cầu cúng. Tới ngày 15 tháng 3 năm Nhâm Ngọ bà sinh được hai người con trai diện mạo khác thường. Ông đặt tên người con trai lớn là Cao Sơn, con thứ là Quý Minh. Đến năm 12 tuổi, thiên tư tỏ ra rất thông minh, võ nghệ hơn người, ít ai địch nổi. Khi hai ông 18 tuổi thì cha mẹ quy tiên. Hai ông đã chịu tang cha mẹ ba năm chu tất. Trong thời gian đó Hùng Duệ Vương hạ chiếu lệnh cho các châu, huyện, đạo chọn tuyển người có tài năng, đức độ lên làm quan. Hai ông thấy vậy xin triều ứng tuyển và vua thấy hai ông có tài văn võ hơn người và truyền lệnh cho giữ chức chỉ huy sứ. Khi ấy ở đất Tượng Quận lại có người họ Thục, tên Phán vốn dòng dõi nhà Hùng, khi sang trị vì tại vùng đất này nên đã đổi tên họ. Nghe tin Hùng Duệ Vương truyền ngôi báu cho con rể. Thục Phán sinh lòng ghen tức bèn đem quân sang quấy rối. Hùng Duệ Vương lấy làm lo lắng bèn cho mời phò mã Sơn Thánh đến tấu trình và hiến kế. Nhà vua bèn phong Cao Sơn- Quý Minh làm tả hữu tướng quân tiên phong lên đường dẹp quân Thục Phán ở miền Đông Bắc. Khi tới lộ Bắc Giang thì trời sẩm tối nên hai ông đã hạ trại đóng quân tại đó. Thấy vùng đất này có nhiều lợi thế cho việc quân, hai ông truyền lệnh cho quấn sĩ và nhân dân trong vùng xây dựng, thiết lập đồn lũy để chống phản tặc. Đêm ấy hai ông đều mộng thấy nhân thần tự xưng là thần linh trong vùng đến trợ giúp dẹp loạn. Sáng hôm sau, hai ông làm lễ bái yết và cho khao thưởng quân sĩ cùng dân thôn. Dân trang khu vô cùng hưởng ứng hai vị Cao Sơn- Quý Minh lại nói với các bô lão rằng: Ta vâng lệnh thiên sứ,


5 giúp nước an dân, đem quân đến đây lập đồn lũy bố phòng quân giặc. Thấy được có nhân thần báo mộng trợ giúp lại được dân hết lòng hưởng ứng, vậy ta cho 500 nén bạc để nhân dân lập miếu từ làm nơi thời phụng mãi mãi. Hai ông vâng mệnh vua mang quân tới miền Đông Bắc lộ Bắc Giang xây đồn đắp lũy được nhân dân phù trợ nên đã giành được thắng lợi rực rỡ nay xin báo đáp bệ hạ. Vua nghe xong liền cho y chuẩn Hai ông bái tạ vua rồi trở về đóng đồn binh nơi trang khu. Tới nơi, hai ông được các vị bô lão và nhân dân trang khu tấp nập đến chúc mừng. Các cụ tấu rằng: Từ khi hai ông đóng quân ở đây, dân thôn ở đây được yên nghiệp làm ăn sinh sống, ngày một thịnh vượng. Nhân đây, trên mảnh đất này, xưa làm nơi đồn trú, nay lập đền thờ cúng tưởng niệm. Hai ông ưng thuận và chuẩn cho các cụ rằng. Dân trang có lòng ngưỡng vọng và kính trọng ta để truyền tới muôn đời nhưng khi thiết lập miếu từ để thờ phụng, tưởng niệm thì xin hãy cho linh thần cùng phồi hưởng. Hai ông ban cho dân trang khu 1000 nén bạc để tu bổ đền từ và hương hoa chi nghi lễ. Cùng lúc ấy tự nhiên trời đất tối sầm, có hai đám mây vàng từ trên trời hạ xuống trước mặt hai ông rồi đưa hai ông đi. Hôm đó là ngày 15 tháng 8 âm lịch. Lúc ấy dân trang không biết là hai ông đã hóa về trời nên rất lấy làm kinh sợ. Mọi người làm sớ tấu trình lên vua. Vua lệnh cho dân trang khu tổ chức thờ cúng, tế lễ hai ông theo đúng nghi thức. Nhân đó, vua ban sắc cho hai ông, phong cho đức Cao Sơn là: Thông minh đại vương tặng phong: Tế thế hộ quốc an dân, phù vận dương vũ dực thánh bảo cảnh, hiển hựu tôn thần. Nguyên tặng hiệu linh đôn tĩnh, hùng lược trác vĩ dực bảo trung hưng thượng đẳng thần. Phong cho đức Quý Minh là: Hiển ứng Đại Vương tặng phong: Phụ úy uy dũng hộ quốc an dân, phù hiếu chiếu cảm, trật ưu tôn thần. Tặng phong: Thanh lãnh cao hiệu, địch cát, cát tĩnh, dịch bảo trung hưng thượng đẳng thần. Chuẩn cho dân làng trang khu phụng thờ. b. Về đức thánh Tam Giang Theo thần tích ở đình Ninh Tào, xã Hợp Thịnh, huyện Hiệp Hòa đã được UBND tỉnh Bắc Giang xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa 2005 theo Quyết định số 172/QĐ/CT ngày 02/02/2005, có ghi chép về đức thánh Tam Giang rằng: Ngài sinh ở Vân Mẫu, Bắc Ninh có bốn anh em trai và một em gái. Đó là Trương Hống, Trương Hát, Trương Lừng, Trương Lẫy và một người em gái tên Đạm


6 Nương. Năm anh em trông rất khôi ngô tuấn tú. Nhà tuy nghèo, nhưng ngài ở nhà nuôi mẹ, đọc sách hơn 10 năm, không lúc nào xa vắng. Khi mẹ mất, đêm nào ngài cũng đi thăm mả mẹ. Có lần đi đến chỗ bãi cá thì gặp một lũ quỷ, ngài đấu vật với chúng, lũ quỷ thua, cụp xuống lậy, tôn ngài làm thầy và dâng một bộ áo đỏ, một bộ áo trắng để làm bảo bối. Năm ngài 20 tuổi, nhà Lương bên Tàu (Đại Đông thứ 7) sang xâm lược nước ta. Khi Triệu Quang Phục lên ngôi vua dẫn đi chiêu mộ người tài giỏi ra dẹp giặc cứu nước. Khi nghe tin về anh em nhà Trương Hống, vua bèn sai người về đón và phong cho anh em ngài; ông anh là Thượng Tướng quân, em thứ hai là phó Tướng quân, ông ba và ông tư là Tùy Tướng cùng nhau tiến binh đánh giặc. Ngài biết rằng, lúc đó là tháng tư, đường xá lầy lội khó đi nên đã thay đổi phương tiện tiến quân bằng đường thủy chia các đạo bốn mặt đánh úp quân giặc, Giặc Lương bỏ chạy về Tàu, nhà vua đã khao thưởng tướng sĩ, ban cho ông anh được hưởng thực ấp ở trấn Kinh Bắc (thời ấy gồm các vùng: Bắc Ninh, Bắc Giang, Đông Anh, Đa Phúc), ông em hưởng thực ấp ở huyện Đông Ngàn (nay là Đông Anh- Hà Nội). Rồi bỗng dưng Lý Phật Tử (dòng dõi nhà vua Lý Nam Đế) đem quân Chiêm, Lào đánh nước ta. Anh em Ngài lại đem quân đánh giặc nhưng Lý Phật Tử đã xin giảng hòa vì Lý Phật Tử là dòng dõi vua Lý Nam Đế nên vua Triệu Việt Vương đã cho Châu Quân Thần làm giới hạn để cho con trai mình là Nhã Lang, anh em ngài can ngăn nhưng không được. Nên anh em Ngài liền từ chức về ở núi Phù Lan làng Phù Long (ở huyện Phú Thọ, tỉnh Sơn Tây cũ) làm ruộng. Lúc này Lý Phật Tử lại đem quân đánh vào thành Long Biên. Vua Triệu Việt Vương đem con gái chạy về phía Nam cùng đường ông nhảy xuống bể tự tử. Lý Phật Tử cho mời anh em Trương Hống, Trương Hát ra làm quan nhưng anh em ngài không chịu nên Lý Phật Tử ra lệnh bắt anh em Trương Hống. Anh em Trương Hống đã giả làm thuyền buôn xuôi về quê tảo mộ mẹ. Xong ông anh cho thuyền vào sông Cầu ngược lên ngã ba Xà (làng Phượng La xã Tam Giang, Yên Phong, Bắc Ninh) thì đục thủng thuyền và tuẫn tiết vào ngày mùng 4 tháng 10 âm lịch. Vì thế, nhân dân đã lập đền, tạc tượng thờ ở đó gọi là đền Xà hay đền Ngã Ba Xà. Thuyền ông em đi theo sông Thương ngược lên ngã ba Phượng Nhỡn (giáp giới giữa ba huyện


7 Yên Dùng, Lạng Giang, Lục Nam) cũng đục thủng thuyền chìm xuống chết giữa dòng sông. Hôm ấy, đúng mùng 10 tháng 4 âm lịch. Nhân dân ở đây đã lập đền thờ Trương Hát tại ngã ba Phượng Nhỡn. Như vậy, cả nhà anh, em, vợ, con, người nhà và gia nhân hơn chục người đều chết ở hai nơi đó. Còn người con của Trương Hống tên là Trương Kiều còn ít tuổi ở trên núi Phù Lan (Sơn Tây) với cô Đạm Nương chưa kịp đi theo. Vua hậu Lý (tức Lý Phật Tử) nghe tin đó liền cho mời ông Trương Kiều ra làm quan nhưng ông không nhận bèn tìm đến Ngã Ba Xà tự vẫn, xác trôi về làng Mai Thượng, huyện Hiệp Hòa. Hôm ấy là ngày mùng 2 tháng 2 âm lịch. Nhân dân ở đây đã lập đền thờ. Duy chỉ có bà Đạm Nương còn sống sau về Vân Mẫu thờ cúng cha mẹ rồi chết ở đó. Vua Lý Phật Tử truy phong: Ông anh là: Vũ Lâm Lang Quả Nghi linh ứng thượng tướng quân. Ông em là: Đại thụ tướng quân Đến đời vua hậu Ngô Vương đã phong cho ông anh làm chức Long Vương đến ở các sông ngòi bến nước. Còn ông em làm chức Tuần Đô phó sĩ ở sông Cầu- sông Thương. Khi vua hậu Ngô Vương đánh giặc Lý Huy ở núi Côn Luân thì đêm đêm ông anh dẫn một nửa quân đi sông cầu qua sông Như Nguyệt lên sông Phù Lương (Thái Nguyên), còn ông em dẫn quân đi sông Nam Bình lên thượng lưu, đánh úp giặc trên núi Côn Luân và đã chiến thắng. Ngô Vương sai người lập đền thờ gọi là đền Đuổm và phong: Ông anh là: Đại Đương giang hộ quốc thần vương. Ông em là: Tiểu Đương giang hộ quốc thần vương. Đến thời vua lê Đại Hành niên hiệu Thiên Phúc thứ 2 (năm 981) thì giặc bên Tàu (nhà Tống) sang xâm lược nước ta. Anh em nhà Trương Hống lại hiện về giúp vua trị giặc cứu dân và vua đã phong: Ông anh là: Sảng Khang Khước Địch đại vương thượng đẳng thần. Ông em là: Hiển Thắng Uy Địch đại vương thượng đẳng thần.


8 Đến đời vua Trần Nhân tông niên hiệu Trùng Hưng thứ nhất (1285) gia phong: Ông anh là: Tam Giang Khước Địch hiển ứng đại vương Thiên Hựu thượng đẳng thần. Ông em là: Tam Giang Uy Địch đại vương dũng cảm thượng đẳng thần. Năm thứ 21 niên hiệu Hưng Long đời vua Trần Anh Tông (1293-1314) gia phong: Ông anh là: Trợ Thuận Ông em là: Thuận Thắng. Để thêm vào sắc phong trước đó: Đời vua Lê Kính Tông năm thứ nhất (1600) niên hiệu Thuận Đức nhà Lê các thời Cảnh Hưng (1740-1786), Chiêu Thống (1787- 1788) nhà hậu Lê đều có sắc phong. Ông anh và ông em là: Thượng đẳng phúc thần. Ông ba và ông từ là: Trung đẳng phúc thần. Sau này cả bốn ông đều có đền thờ riêng ở các nới. Do vậy, hiện nay ở Đình Thễ thờ bốn vị để tưởng nhớ tới công ơn của các ngài đã đem lại cho nhân dân nơi đây. IV. LOẠI HÌNH DI TÍCH Đình-Chùa Thễ thuộc xã Lan Giới không những là nơi thờ đức Phật mà còn là nơi thờ, tưởng niệm đức thánh Cao Sơn- Quý Minh, Tam Giang. Đó là những đấng tối cao đã có công với dân, với đất nước. Các vị thần đã đem lại cuộc sống bình yên, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân địa phương nói riêng, cho nhân dân Bắc Giang nói chung. Chính vì vậy, nhân dân nơi đây từ xa xưa đã có ý thức luôn tưởng nhớ tới người có công với quê hương nên họ đã lập đình để thờ phụng, tưởng niệm tới các vị anh hùng đó. Đình-Chùa Thễ được những người nghệ nhân với đôi bàn tay khéo léo của mình, đã khắc họa trang trí trên các cấu kiện của Đình-Chùa. Đó là các mảng chạm kênh bong điêu luyện, tinh xảo, cùng với kết cấu kiến trúc được thể hiện qua các vì kèo, đầu dư, ván mê…vẫn là những hình tượng về các con vật linh thiêng: Long, Ly, Quy, Phượng với dáng vẻ khác nhau. Ở đây, người nghệ nhân lấy con rồng làm chủ thể, xung quanh là hình quy, ly và phượng. Những hình ảnh hoa lá cũng được người


9 nghệ nhân đưa vào chốn linh thiêng làm tăng thêm vẻ đẹp của Đình-Chùa mà không mất đi vẻ cổ kính, trang nghiêm của di tích. Trải qua biết bao sự thăng trầm của lịch sử và sự biến đổi của thiên nhiên, ĐìnhChùa Thễ tuy không còn nguyên vẹn như xưa, song đây cũng là ý thức gìn giữ một di sản văn hóa vật thể của nhân dân địa phương, góp phần làm phong phú di sản văn hóa Bắc Giang cũng như của dân tộc Việt Nam. Hiện nay Đình-Chùa Thễ còn lưu giữ được hệ thống tượng Phật khá đầy đủ (23 pho) và một số đồ thờ quý có giá trị như: Ngai thờ, Bài vị, Bát hương…và nguồn di sản Hán Nôm đáng quý. Đó là các bức hoành phi, câu đối, bia đá. Hằng năm, vào ngày 14, 15 tháng Giêng âm lịch và các ngày 14,15 tháng 8 âm lịch, dân làng tổ chức hội lệ, sinh hoạt diễn các trò chơi mang đậm tính dân gian như: chọi gà, cờ người, hát tuồng, đánh đu, vật…Đặc biệt ở nơi đây có hẳn một đoàn nghệ thuật tuồng chuyên đi hát mà xưa kia nhà thơ Tú Mỡ đã có một thời về đây dậy làm thơ, ca hát (Nay không còn nữa). Như vậy, xét về loại hình di tích, Đình-Chùa Thễ thuộc loại di tích lịch sử- văn hóa… V. KHẢO TẢ DI TÍCH ĐÌNH CHÙA THỄ Đình- Chùa thễ tọa lạc trên cùng một thửa đất rộng, cao ráo, thoáng mát, ngoảnh hướng Nam. Đình- Chùa Thễ được xây dựng theo kiểu thức truyền thống “tiền thần hậu Phật” tức là Đình trước Chùa sau. 1. Đình Thễ


10 (Lễ kết nạp Đoàn viên: “Lớp Đoàn viên chào mừng Đại hội Đoàn các cấp) Lễ kết nạp Đoàn viên năm 2023 Đình Thễ hiện nay được xây dựng trên một khu đất có bóng cây tỏa mát bốn mùa. Phía trước đình là một sân gạch nhỏ và một bãi đất được trồng các loại cây cảnh như: cây đại, cây cọ…Bên tả đình là khu dân cư, bên hữu là nhà mẫu, phía sau đình là chùa Thễ. Khi bước vào đình, ta đi qua sân gạch nhỏ, bước lên bậc thềm tam cấp, rồi qua hệ thống cửa bức bàn vào đình. Đình Thễ hiện nay gồm tòa đại đình 3 gian, 2 chái và một gian hậu cung được liên kết với nhau tạo thành chữ đinh (J). Đình có kích thước chiều cao là 4,5m; chiều dài là 17,1m; chiều rộng là 7m. Đình có kết cấu chịu lực theo kiểu giá chiêng, kẻ truyền. Kết cấu kiến trúc chạm khắc đề tài tứ linh: long, ly, quy, phượng và hình hoa lá, ở bốn đòn bẩy phía trước cửa đình được người nghệ nhân chạm khắc tinh xảo với đề tài hình ảnh hoa lá, vân xoắn, cây mai, cây trúc. Hai ván mê ở phía sau gian chính giữa đình được chạm khắc hình tứ linh; với ba góc là hình con ly, quy, phượng còn ở chính giữa là hình “ngư long hí thủy”. Tuy nhiên, ở đây nhân dân địa phương đã dùng sơn xanh, đỏ, tím, vàng, nâu làm mất đi vẻ cổ kính ban đầu của di tích. Trước cửa hậu cung phía trên có đắp nổi hình “lưỡng long chầu nguyệt” và phía trên cùng là bức hoành phi có ghi dòng chữ


11 hán: “Thánh cung vạn tuế”. Trong hậu cung được bài trí các đồ thờ và ngai thờ, bài vị. Về phần mái của đình giữ một phần rất quan trọng cho di tích. Đình gồm bốn mái: hai mái chính, hai mái phụ, với đao cong tạo cho ngôi đình thêm đẹp mắt, hai bên đầu mái có tạo hình đao cong, bờ dải hình hoa chanh. Như vậy, căn cứ vào kết cấu kiến trúc, các tài liệu hiện vật có trong di tích hiện nay. Đình Thễ được xây dựng vào thời Nguyễn (thế kỷ XIX-XX). 2. Chùa Thễ Chùa Thễ hiện nay được xây dựng đầu thế kỷ XIX. Khi vào chùa ta đi qua một sân gạch nhỏ vào chùa qua hệ thống cửa bức bàn. Xung quanh chùa trồng các cây đại, sấu, mít, cau…xum xuê tỏa bóng mát. Chùa Thễ hiện nay gồm có tòa tiền đường 9 gian, 2 dĩ và thượng điện một gian, hai chái. Để nối tòa tiền đường với tòa thượng điện là hai gian ống muống tạo cho ngôi chùa hình có chữ công (I). Chùa Thễ có kích thước như sau: Tòa thượng điện có chiều cao từ nền đến nóc là 3,4m; dài là 9,5m; rộng là 4,1m. Tòa tiền đường cao từ nền đến nóc là 3,9m; dài là 23,5m; rộng là 6m. Kết cấu vì kèo của tòa tiền đường, gian giữa theo kiểu giá chiêng, kẻ truyền; còn lại các gian kế bên có kết cấu theo kiểu chồng rường, giá chiêng. Nền chùa được lát gạch vuông đỏ, với 8 vì kèo tương ứng 16 cột cái. Bên trong gian thượng điện và gian ống muống được bài trí một hệ


12 thống tượng Phật với nhiều tư thế khác nhau. Tòa tiền đường cũng được bài trí tượng Phật và một số đồ thờ. Về phần mái của chùa Thễ gồm bốn mái: hai mái chính ở phía trước và phía sau; hai mái phụ ở hai bên tường hồi. Đỉnh mái có đắp nổi hình dải hoa chanh, ở chính giữa mái là hình chữ Hán “Linh Thông tự” tức là chùa Linh Thông. Hai đầu mái là hình hai con nghê biến thể đang chầu. Ở bốn góc mái được đắp nổi hình bốn con phượng. Nhà mẫu được xây dựng ở phía bên phải chùa ở phía trước (nay được xây dựng bên trái của Chùa), ngay cạnh đình gồm 3 gian. Nhà mẫu có kết cấu theo kiểu quá giang gác tường, bên trong là một hệ thống tượng mẫu và tượng cô, cậu mới công đức. 3. Nhà mẫu Nhà mẫu xây dựng được bố trí đặt phía sau chùa. Được xây dựng theo kiến trúc kiểu chữ Đinh (J), bao gồm tòa Tiền đường và thượng điện. Tòa Tiền đường có kích


13 thước 9,86m* 6,12m; Thượng điện có kích thước là 5,52m*5,1m. Phía trước bố trí 02 cột đồng trụ. Cột đồng trụ được đắp, trang trí theo lối kiến trúc cổ truyền thống. Chiều cao tới dạ tàu là 2,56m; cao tới nóc (thượng lương) là 4,80m. Gồm cột cái có đường kính D300mm, cột quân có đường kính D250mm. Các cấu kiện cột, khung mái được làm bằng Bê tông cốt thép 200#, đá 1*2. Các cấu kiện được trát bằng vữa xi măng 75#, sau đó sơn hoàn thiện màu vân gỗ cho toàn bộ các cấu kiện. Hoành, rui mái được làm bằng gỗ Bạch Đàn xoắn, các cấu kiện hoàn thiện để mộc không sơn. Mái lợp ngói mũi truyền thống. Các con giống, bờ mái được đắp theo lối kiến trúc cổ. Tường xây bằng gạch chỉ đặc 6,5*10,5*22cm, vữa xi măng mác 50#. Phần tường mặt trước xây để mộc, bắt mạch vữa xi măng và cửa chữ thọ nằm vị trí giữa hai gian bên. Các bức còn lại trát toàn bộ tường trong, ngoài vữa xi măng mắc 50#, dày 15mm, sau đó lăn sơn hoàn thiện 3 nước màu (1 nước lót, 2 nước phủ). Nền lát bằng gạch gốm 400*400mm, lát công mạch. Cửa đi dùng cửa thượng song hạ bản bằng gỗ Lim Nam Phi, cửa được sơn PU hoàn thiện. Xây bậc tam cấp bằng gạch đặc, vữa xi măng mác 50#, sau đó lát gạch bậc có mũi màu đỏ. Toàn bộ chân cột được đắp vữa xi măng 75#, sau đó sơn hoàn thiện giả đá… 4. Nhà nghè


14 Vào thời tiền Lê hậu Lý cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII có ngài quận công Dương Đình Vạn là quân của tướng Dương Tự Minh là người có công với nước, hiện nay Dương Tự Minh được thờ tại Đình Thễ xã Lan Giới, huyện Tân Yên, Tỉnh Bắc Giang. Trước đây Nghè Dương Đình Vạn được dân làng xây dựng và thờ ở khu vườn nhà Ông Trần Văn Kính cách vị trí nghè bây giờ là khoảng 5-10m. Năm 2011 Nghè Dương Đình Vạn được vợ (chồng) ông Dương Vương Hải, vợ là Đào Thị Ngát con cụ trí thôn Bình Chương cũ (nay sáp nhập thành thôn Bình Minh) phát tâm hưng công xây dựng nghè Dương Đình Vạn với trị giá 180 triệu đồng. Trong nghè hiện có Ngai thờ, bát hương. Hàng năm cứ vào rằm tháng giêng, và rằm tháng 8 các cụ trong Đình Chùa Thễ lại làm lễ rước cụ nghè lên đình từ chiều VI. CÁC TÀI LIỆU HIỆN VẬT CÓ TRONG DI TÍCH 1. Di sản Hán Nôm a. Di sản Hán Nôm ở Đình Thễ Câu đối Phiên âm: “Trung nghĩa nhất môn uy bắc địa Anh linh vạn cổ chấn Nam thiên” Dịch nghĩa: Một nhà trung nghĩa uy nĩ vang lừng đất Bắc. Muôn thuở hiển linh chấn giữ khắp trời Nam. Phiên âm: “Uy linh hiển khánh Quang minh chính đại” Phiên âm: “Thế gian muôn sự giai bào ảnh Thiên kiếp duy dư nhất điểm tình” Dịch nghĩa: Thế gian muôn sự tất cả đều như hư ảo


15 Ngàn kiếp qua đi duy chỉ có ta giữ lại được một chút tình. Hoành phi: “Thánh cung vạn tuế Thân thánh muôn năm” Bài vị chữ Hán: Bài vị 1: “Thanh Lãng cao diệu, địch cát tuấn tĩnh, dực bảo trung hưng Quý Minh thượng đẳng thần” Bài vị 2: “Đổng trạch hoằng phù, bác lợi trừng trạm, dực bảo trung hưng, Tam Giang đại thần” Bài vị 3: “Hiệu linh đôn tĩnh, Hùng tuấn trác vĩ, dực bảo trung hưng Cao Sơn thượng đẳng thần” Tên người công đức ghi trên ván bưng cửa hiên đình: Ngô Đức Hùng bái thập nguyên, Vũ Đình Nhuận bái lục nguyên, Nguyễn Văn Hựu bái ngũ nguyên, Nguyễn Đình Khắc bái tứ nguyên, Khổng Văn Thanh bái tứ nguyên, Vũ Văn…bái tam nguyên, Tống Văn Tước bái nhị nguyên, Lương Văn Mỹ bái nhất nguyên, hiệu Diệu Lan bái tam nguyên, hiệu Diệu Thái bái nhị nguyên, hiệu Diệu Thịnh bái nhất nguyên, hiệu Diệu Khánh bái nhất nguyên, hiệu Diệu Tường bái nhất nguyên, hiệu Diệu Vượng bái nhất nguyên, hiệu Diệu Thảo bái tam nguyên, hiệu Diệu Hoan bái tam nguyên, Vũ Quang Nhã bái nhất nguyên, Nguyễn Văn Sắc bái nhất nguyên, Vũ Văn Ngọ bái nhị nguyên, Vũ Văn Huệ bái tứ nguyên, Phạm Văn Hoành bái tứ nguyên, Vũ Văn Niên bái ngũ nguyên, Vũ Kế Thế bái lục nguyên, vũ Quang Huy bái thập nguyên. Dịch nghĩa: Ngô Đức Hùng cúng 10 đồng, Vũ Đình Nhuận cúng 6 đồng, Nguyễn Văn Hựu cũng 5 đồng, Nguyễn Đình Khắc cúng 4 đồng, Khổng Văn Thanh cúng 4 đồng, Vũ Văn…bái tam cúng 3 đồng, Tống Văn Tước cúng 2 đồng, Lương Văn Mỹ cúng 1 đồng, hiệu Diệu Lan cúng 3 đồng, hiệu Diệu Thái cúng 2 đồng, hiệu Diệu Thịnh cúng 1 đồng , hiệu Diệu Khánh cúng 1 đồng, hiệu Diệu Tường cúng 1 đồng, hiệu Diệu Vượng cúng 1 đồng, hiệu Diệu Thảo cúng 3 đồng, hiệu Diệu Hoan cúng 3 đồng, Vũ Quang Nhã cúng 1 đồng, Nguyễn Văn Sắc cúng 1 đồng, Vũ Văn Ngọ cúng


16 2 đồng, Vũ Văn Huệ cúng 4 đồng, Phạm Văn Hoành cúng 4 đồng, Vũ Văn Niên cúng 5 đồng, Vũ Kế Thế cúng 6 đồng, vũ Quang Huy cúng 10 đồng. Câu đối: Phiên âm: “Mỹ địa tướng hùng tranh cực lực Xuân thiên kỳ phúc tráng mịch chiêm” Dịch nghĩa: Đất tốt điềm lành cùng tranh đua hết sức Trời xuân cầu phúc mong nhanh chóng tìm được những điều tốt lành. b. Di sản Hán Nôm ở chùa Thễ Bức đại tự trên nóc chùa: “Linh Thông tự” tức là chùa Linh Thông. Câu đối: Phiên âm: “Nhập môn khẩu niệm Di Đà Phật Đáo xứ tâm trì Bát Nhã kinh” Dịch nghĩa: Vào chùa miệng niệm Phật ADI Đà Ở khắp mọi nơi đều giữ lòng mình trong sáng theo kinh Bát Nhã Phiên âm: “Vạn cổ cương thường minh nhật nguyệt Thiên thu hương hỏa đối càn khôn” Dịch nghĩa: Đạo cương thường muôn đời vẫn tỏa sáng cùng ánh mặt trăng, mặt trời. Phụng thờ hương hỏa ngàn năm để sánh cùng trời đất. Phiên âm: “Dục đắc chân linh sinh Tịnh Độ Cửu liên đài bạn lễ Di Đà” Dịch nghĩa: Mong muốn đạt đến bậc chân linh sống trong cõi Tịnh Độ Xây dựng chín bệ hoa sen trên đài cao để lễ Phật Di Đà.


17 Văn bia ở chùa Thễ: Phiên âm: BI CHÍ TỰ “Yên Thế phủ, Lan Giới tổng, Giản Ngoại xã, thượng hạ đẳng, duyên vi tự vũ khuynh đảo dĩ niên chiếu chi. Nhu phí khá đa. Tự nghĩa định mãi hậu Phật được hoặc sinh linh trị giá ngân mỗi hậu tam thập nguyên. Xã nội Nguyễn Thị hiệu Diệu Nghĩa, khất nạp ngân lục bách nguyên. Bản xã nhận thủ…ngân túc số dĩ…nhị tọa. Chuẩn khắc đích danh tại hậu. Cụ hữu liên danh ký kết. Nghiênh niên sự lệ tam nguyên, kính biếu mỗi lệ nhất cỗ hương hỏa bạc trần vĩnh truyền hậu thế. Tư lập bi chí: Nguyễn Công tự Phúc Bình tiên linh tọa. Phạm Thị hiệu Diệu Kim tiên linh vị tọa. Duy Tân thất niên, thập nhất nguyệt, sơ nhị nhật lập Kỳ lão Vũ Quang Huy ký; Kỳ lão Ngô Đức Hùng ký; Kỹ lão Vũ Kế Thế ký; Kỳ lão Nguyễn Đình Nhuận ký; Lỹ Trưởng Nguyễn Văn Hựu ký; Toàn bản xã thượng hạ cộng kỷ.” Dịch Nghĩa: BIA CHÍ Ở CHÙA Tất cả mọi người trên dưới trong xã Giản Ngoại, tổng Lan Giới, phủ Yên Thế cùng nhau xây dựng Đình, Chùa để tỏ lòng kính ngưỡng có ghi chép lại để lưu giữ cho đời sau được tỏ rõ việc làm ấy. Tiền của chi cho việc ấy tốn kém rất nhiều. Thiết nghĩ ấy là việc nghĩa nên có ý định mua hậu Phật trong lúc còn sống hay đã qua đời. Trị giá tiền cho mỗi hậu Phật là 30 đồng bạc. Trong xã có Nguyễn Thị hiệu Diệu Nghĩa xin được nộp 600 đồng bạc. Bản xã nhận lấy đầy đủ số đồng bạc ấy để mời thợ về tu bổ đình chùa. Mọi người trong xã cùng hứa sẽ khắc ghi hậu Phật cho 2 vị (ở 2 tòa). Có chuẩn ghi danh ước ở phía sau, có đầy đủ liên danh ký kết. Hàng năm


18 vào ngày sự lệ phải bỏ ra 3 đồng bạc, kính biếu mỗi lệ 1 cỗ; hương hỏa trầu cau đầy đủ để bày tỏ lưu truyền cho đời sau. Có lập bia chí khắc ghi linh vị của cụ: Nguyễn Công tự Phúc Bình. Phạm Thị hiệu Diệu Kim. Vào ngày 2 tháng 11 năm Duy Tân thứ 7 Kỳ lão Vũ Quang Huy ký; Kỳ lão Ngô Đức Hùng ký; Kỹ lão Vũ Kế Thế ký; Kỳ lão Nguyễn Đình Nhuận ký; Lỹ Trưởng Nguyễn Văn Hựu ký; Toàn bản xã trên dưới cùng nhau ký. c. Câu đối nhà mẫu Phiên âm: “Thần nữ luyện tu công quả mẫn. Việt Nam phụng sự thủy nhi chung” Dịch nghĩa: Bậc thần nữ luyện rèn, tu dưỡng thu được nhiều công quả. Nước Việt Nam ta thờ phụng đến mãi mãi ngàn đời sau. 2. Các tài liệu hiện vật khác a. Các tài liệu, hiện vật ở Đình Thễ - 3 bài vị thời Nguyễn có kích thước như nhau cao 78cm - 3 ngai thờ thời Nguyễn cao 90cm, rộng 44cm - Chiêng đồng có đường kính là 57cm - Lọng 02 chiếc - Đôi hạc đứng trên mai rùa - Đài nước nhỏ09 chiếc - Mâm bồng 01 chiếc - Đèn gỗ 04 chiếc - Lọ hoa bằng sứ 01chiếc - Trống 01 chiếc


19 b. Các tài liệu, hiện vật khác có trong chùa * Hệ thống tượng Phật ở chùa Thễ Sơ đồ hệ thống tượng Phật ở Chùa Thễ như sau: 19 1 1 1 20 2 3 4 5 6 7 8 9 10 12 11 13 14 18 17 15 16 1*. Tượng Tam Thế 11*. Tượng Thích Ca chỉ Thiên 2*. Tượng An Nam 12*. Tượng Kim đồng 3*. Tượng A Di Đà 13*. Tượng Ngọc nữ


20 4*. Tượng Quan Âm 14*. Bát hương 5*. Tượng Văn Thù 15*. Tượng Ông Thiện 6*. Tượng Phật Bà Quan Âm 14 tay 16*. Tượng Đức Ông 7*. Tượng Phổ Hiền 17*. Tượng Ông ác 8*. Tượng Bắc Đẩu 18*. Tượng Thánh Hiền 9*.Tượng Ngọc Hoàng 19*. Tượng Quan Âm Tống tử 10*. Tượng Nam Tào 20*. Tượng Quan Âm Nam Hải 1*. Hàng trên cùng là tượng Tam Thế ngồi tọa thiền trên bệ sen, tay ấn khuyết. Ba pho tượng có kích thước như nhau: Cao cả bệ: 80 cm Tượng cao: 62 cm Ngang vai: 22 cm Ngang gối rộng: 35 cm Ngang mặt rộng: 10 cm 2*. Hàng tượng thứ hai là tượng An Nam Cao cả bệ: 81cm Tượng cao: 75 cm Ngang vai rộng: 20 cm Ngang gối rộng: 24 cm 3*. Tượng A Di Đà Cao cả bệ: 95 cm Tượng cao: 75 cm Ngang vai rộng: 26 cm Ngang gối rộng: 38 cm Ngang mặt rộng: 23cm A Di Đà ngồi thiền, 2 tay đặt lên nhau ở giữa lòng bàn chân. 4*. Tượng Quan Âm: đặt ở hàng thứ hai bên trái tượng A Di Đà, tay cầm bảo bối


21 Cao cả bệ: 85 cm Tượng cao: 75 cm Ngang vai rộng: 20 cm Ngang gối rộng: 24 cm 5* và 7* Hàng thứ ba là tượng Phổ Hiền được bài trí ở hai bên tượng Phật Bà Quan Âm. Tượng Phổ Hiền bên phải ngồi trên lưng hổ, tượng Văn Thù bên trái ngồi trên lưng voi. Hai pho tượng này có kích thước như nhau: cao 87 cm 6* Tượng Phật Bà Quan Âm 14 tay Cao cả bệ: 92 cm Tượng cao: 72 cm Ngang vai rộng: 22 cm Ngang gối rộng: 40 cm 8* và 10* Hàng thứ tư là tượng Nam Tào và Bắc Đẩu có kích thước như nhau Cao cả bệ: 88 cm Tượng cao: 78 cm Ngang vai rộng: 22 cm Ngang gối rộng: 24 cm Tượng Bắc Đẩu sơn đỏ, đầu đội mũ chuồn, tay cầm túi sinh, ở bên phải tượng Ngọc Hoàng. Tượng Nam Tào ngồi trên bệ, tay cầm túi tử, tay phải cầm bút, ở bên trái tượng Ngọc Hoàng. 9* Tượng Ngọc Hoàng Cao cả bệ: 101cm Tượng cao: 91cm Ngang vai rộng: 22 cm Ngang gối rộng: 28 cm Tượng Ngọc Hoàng tay phải cầm hốt, mặc áo có hình rồng chầu mặt nguyệt, hổ phù, đầu đội mũ bình thiên. 11* Hàng thứ năm là tượng Thích Ca chỉ Thiên Cao cả bệ: 38cm


22 Tượng cao: 26cm Tượng Thích ca đứng, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất. 12*, 13* Hàng thứ sáu là tượng Kim đồng- Ngọc nữ có kích thước như nhau: Tượng cao: 82cm Ngang vai rộng: 22cm Ngang gối rộng: 30cm Tượng Kim đồng được bài trí ở bên phải ở gian ống muống, chân phải quỳ, tay phải đặt trên gối phải. Tượng Ngọc nữ được bài trí ở bên trái ở gian ống muống, chân trái quỳ, tay trái đặt trên gối trái. 14* Tượng Thánh Hiền được đặt ở bên phải gian tiền đường, tay phải ấn khuyết đưa lên trước ngực, tay trái áp và ngực, chân đi hài, mặt hiền từ. Cao cả bệ: 110cm Tượng cao: 96cm Ngang vai rộng: 26cm Ngang gối rộng: 26cm 15* Tượng Ông ác ngồi trên lưng hổ ở bên phải gian tiền đường, tay phải cầm thanh kiếm, tay trái đặt trên đùi trái. Mặt dữ, tay cầm kiếm thể hiện diệt trừ điều ác. Tượng cao cả bệ: 230cm Ngang vai rộng: 50cm Ngang gối rộng: 90cm Mặt rộng: 18cm 16* Tượng ông Thiện ngồi trên lưng hổ ở phía bên trái gian tiền đường, tay trái cầm viên ngọc đưa lên phía trước mặt, tay phải đặt trên đùi phải. Mặt hiền từ thể hiện sự cứu độ chúng sinh. Tượng cao cả bệ: 230cm Ngang vai rộng: 50cm Ngang gối rộng: 65cm Mặt rộng: 18cm


23 17* Tượng Đức Ông được đặt ở bên trái gian tiền đường, đầu đội mũ quan, tay phải cầm thanh đao, tay trái đặt trên gối trái, râu dài đen, chân đi hài. Tượng cao cả bệ: 110cm Tượng cao: 88cm Ngang vai rộng: 26cm Ngang gối rộng: 30cm 18* Tượng Quan Âm Nam Hải được đặt ở góc bên trái phía trong tòa thượng điện, hai tay chắp vái trước ngực Tượng cao cả bệ: 66cm Tượng cao: 56cm Ngang vai rộng: 20cm Ngang gối rộng: 20cm 19* Tượng Quan âm tống tử ở góc sau cùng bên phải tòa thượng điện, hai tay bế đứa trẻ ngồi trong hang đá, phía bên trên vai phải ở phía sau là lọ nước cam lộ. Đứa trẻ là hiện thân của chúng sinh đau khổ được Quan âm cứu vớt Tượng cao cả bệ: 84cm Tượng cao: 73cm Ngang vai rộng: 25cm Ngang gối rộng: 25cm Với tất cả các pho tượng nêu trên có tượng Kim đồng, tượng Ngọc nữ, tượng Văn Thù và Phổ Hiền là được tạo bằng đất, còn lại là được làm bằng gỗ mít. * Các tài liệu, hiện vật khác: - Bát hương sứ cao 28cm, đường kính miệng 28cm, đường kính đế 26cm - Bát hương sứ nhỏ 7 chiếc - Mâm bồng nhỏ bằng gỗ 2 chiếc cao 16cm - Đèn nến gỗ 2 chiếc cao 55cm - Mõ gỗ c. Các tài liệu, hiện vật có trong nhà mẫu - 10 pho tượng mẫu mới công đức - 2 pho tượng cô mới công đức


24 - 2 pho tượng cậu mới công đức Tất cả các pho tượng này đều tạo bằng đất, mới công đức Ngoài tượng ra nhà mẫu còn có bát hương sứ mới (5 chiếc), mâm bồng, đèn nến (2 cây đèn), mỗ gỗ. VII. GIÁ TRỊ LỊCH SỬ- VĂN HÓA CỦA DI TÍCH Khu di tích Đình-Chùa Thễ là một quần thể các hạng mục công trình văn hóa tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân địa phương. Nơi đây thờ các vị tướng tài giỏi đã có nhiều công lao với dân, với nước trong việc đánh đuổi giặc ngoại xâm. Đó là đức thánh Cao Sơn- Quý Minh, Tam Giang đô thống. Trong những thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc, vùng đất này là địa bàn hoạt động cách mạng của quân và dân ta. Đình-Chùa Thễ là kho chứa quân trang, vũ khí để phục vụ kháng chiến. Có thời kì Đình-Chùa Thễ còn là lớp học của Trường Ngô Sỹ Liên tỉnh Bắc Giang và cũng là lớp học của Trường Tiểu học xã Lan Giới. Đình-Chùa Thễ đã được những nghệ nhân với đôi bàn tay khéo léo của mình khắc họa trên các cấu kiện của Đình-Chùa, đó là mảng chạm kênh bong điêu luyện, tinh xảo, cùng kết cấu kiến trúc được thể hiện qua các vì kèo, đầu dư, ván mê…là những mảng chạm khắc về các con vật linh thiêng: long, ly, quy, phượng với nhiều dáng vẻ khác nhau. Hiện nay Đình-Chùa Thễ còn lưu giữ được hệ thống tượng Phật khá đầy đủ và một số đồ thờ quý, có giá trị như: ngai thờ, bài vị, bát hương…và nguồn tư liệu chữ Hán, chữ Nôm đáng quý. Đó là những bức hoành phi, câu đối, bia đá. Hằng năm vào ngày 14, 15 tháng giêng âm lịch và ngày 14, 15 tháng 8 âm lịch dân làng tổ chức hội lệ, sinh hoạt diễn các trò chơi mang đậm tính dân gian như: chọi gà, cờ người, hát tuồng, đánh đu, vật…


25


26 Cây đa trong chùa


27


28


29


Click to View FlipBook Version