Christopher Leonard
Vietnamese Language Translation copyright © 2021 by Alpha Books Co.
KOCHLAND: THE SECRET HISTORY OF KOCH INDUSTRIES AND CORPORATE POWER IN
AMERICA
Copyright © 2019 by Christopher Leonard.
All Rights Reserved.
Published by arrangement with the original publisher, Simon & Schuster, Inc.
KOCHLAND - ĐẾ CHẾ KOCH
Bản quyền tiếng Việt © Công ty Cổ phần Sách Alpha, 2022
Alpha Books – Thương hiệu sách Quản trị kinh doanh số 1 thị trường,
thuộc Công ty Cổ phần Sách Alpha – thành viên của Alpha Publishing Group.
Alpha Books tiên phong mang tới cho doanh nghiệp, doanh nhân và người lao động nguồn tri
thức về quản trị kinh doanh mới nhất, hiện đại nhất, tiên tiến nhất của thế giới. Alpha Books
tiếp tục mở mở rộng chủ đề, nội dung và chất lượng sản phẩm, hướng tới việc xuất bản Giáo
trình đại học hiện đại, các ấn phẩm của Harvard Business Press, sản xuất và kinh doanh dữ liệu
và tri thức số cho doanh nghiệp…
Alpha Books – Tri thức là sức mạnh.
Không phần nào trong xuất bản phẩm này được phép sao chép hay phát hành dưới bất kỳ
hình thức hoặc phương tiện nào mà không có sự cho phép trước bằng văn bản của Công ty
Cổ phần Sách Alpha. Chúng tôi luôn mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp của quý
vị độc giả để sách ngày càng hoàn thiện hơn.
Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia Việt Nam
Leonard, Christopher
Kochland - Đế chế KOCH : Lịch sử bí ẩn của Koch Industries và sự thao túng đối với kinh tế -
chính trị Mỹ / Christopher Leonard ; Phạm Hà dịch. - H : Thế giới ; Công ty Sách Alpha, 2022.
- 906 tr. ; 24 cm
ISBN 978-604-345-819-0
1. Tập đoàn Koch Industries 2. Lịch sử 3. Mỹ
338.766 5530973 - dc23
TGM0338p-CIP
Góp ý về sách, liên hệ về bản thảo và bản dịch: [email protected]
Liên hệ hợp tác về nội dung số: [email protected]
Liên hệ hợp tác xuất bản & truyền thông trên sách: [email protected]
Liên hệ dịch vụ tư vấn, đại diện & giao dịch bản quyền: [email protected]
2
BAN CỐ VẤN
TS. Đậu Anh Tuấn, PGS-TS. Vũ Minh Khương, Nhà báo Hoàng Tư Giang,
TS. Nguyễn Đình Cung, Tô Chính Nghĩa, Lê Văn Thành, Nguyễn Quỳnh Trang,
Đoàn Đức Thuận, Lê Quốc Vinh, Nguyễn Đình Thành, Nguyễn Danh Nguyên,
Lê Hồng Phúc, Nông Vương Phi, Lê Quang Vũ
ĐỘI NGŨ TRIỂN KHAI ALPHA BOOKS
Phụ trách xuất bản: Khuyên Trần
Điều phối viên: Hương Trần
Thiết kế bìa: Ngô Thuỵ Khả Tú
Trình bày: Vũ Lê Thư
Thư ký xuất bản: Thủy Nguyễn
ALPHABOOKS TRÂN TRỌNG GIỚI THIỆU
chuỗi talkshow online New Ideas in Business được tổ chức hằng tuần với sự góp
mặt của các KOLs nổi tiếng nhất trong lĩnh vực quản trị kinh doanh của Việt Nam.
Mời bạn đọc quét QR để biết thông tin cụ thể:
SỰ THẬT VỀ NỀN DÂN CHỦ MỸ VÀ QUYỀN LỰC
“CHE CẢ BẦU TRỜI” CỦA THIỂU SỐ 1%
- Nguyễn Cảnh Bình
Chủ tịch HĐQT Alpha Books
K H Ô N G P H Ả I C H Ỉ Đ Ộ C G I Ả V I Ệ T N A M , mà
ngay cả người Mỹ cũng ít ai biết đến cái tên Charles Koch. Người
đàn ông ấy đã xây dựng cả một đế chế hùng mạnh, một đế chế có
ảnh hưởng sâu sắc đến cả đời sống kinh tế và chính trị của Hoa Kỳ,
song cũng xây dựng thành công một bức màn che bao phủ xung
quanh đế chế của mình. Và giờ thì bức màn đó đã được kéo lên,
những bí mật bị giấu kín suốt mấy chục năm qua đã được phơi bày.
Vậy, Charles Koch là ai? Koch Industries là gì?
Đối với một thiểu số những người từng có ấn tượng với cái
tên này, Charles Koch là một thế lực hầu như không thể nhìn thấy
và hoàn toàn không thể vượt qua trong chính trị. Ông “có quyền
sinh sát” đối với các nhà lập pháp Đảng Cộng hòa, nắm trong tay
một tổ chức vận động hành lang cực mạnh, các tổ chức tư tưởng
bảo thủ và các nhóm “Tiệc trà” để cùng thực thi âm mưu ngăn chặn
hành động chống biến đổi khí hậu cũng như hủy bỏ các quy định
của chính phủ vốn được Koch xem là bất lợi cho mình.
Với sự điều hành của Charles Koch, Koch Industries từ một
doanh nghiệp nhỏ đã trở thành một tập đoàn khổng lồ, bao phủ
đời sống kinh tế Mỹ. Từ xuất phát điểm là lọc dầu, ngành công
5
Christopher Leonard
nghiệp mang lại một lượng lớn lợi nhuận, Koch Industries mở
rộng phạm vi sang các lĩnh vực vận tải, nông sản, phân bón và
dữ liệu, cũng như giao dịch hàng hóa. Hầu như mỗi gia đình ở
Mỹ đều có trong nhà ít nhất một sản phẩm có gắn nhãn của Koch
Industries, dù họ không ý thức được cái tên đó có quyền năng lớn
tới mức nào.
Tất cả những chi tiết đó có trong Kochland – Đế chế Koch,
cuốn sách hấp dẫn, nhưng cũng gây rùng mình vì những bí mật
mà nó bóc dỡ ra. Tác giả Christopher Leonard đã khiến những
người trong cuộc lên tiếng, vạch trần từ các giao dịch kinh doanh
sai trái của Koch Industries, đến chiến lược xây dựng một đế chế
được thiết kế để tránh sự giám sát của luật pháp và công chúng. Ẩn
sau Tòa tháp được bọc bởi lớp kính nhìn không thấu ở Wichita,
Charles Koch rao giảng và truyền bá lý thuyết “Quản lý dựa trên
Thị trường” của mình, qua đó định hình lại vai trò của chính phủ
đối với thị trường. Tầm nhìn chính trị của ông đại diện cho một
cực trong cuộc tranh luận, rằng chính phủ về cơ bản nên bảo vệ
tài sản tư nhân và không làm gì khác. Tất cả mọi thứ để cho thị
trường quyết định.
Từ cuộc điều tra của FBI về vụ Koch trộm dầu trên vùng
đất của người da đỏ, cuốn sách dẫn dắt người đọc đến những câu
chuyện đáng sợ hơn, như việc xả thải có chứa hóa chất gây chết
người ra khu vực gần sông, cuộc chiến “một mất một còn” với tổ
chức công đoàn, cùng nhiều sai phạm dẫn đến những khoản tiền
phạt rất lớn nhưng “không ảnh hưởng đến lợi nhuận của công
ty”. Là một người cực đoan thế hệ thứ hai, Charles Koch và Koch
Industries điều hướng những thay đổi sâu sắc trong nền kinh tế
Hoa Kỳ và toàn cầu trong suốt 1/4 thế kỷ qua, cho thấy một sự
thật đáng báo động về cách những người trong nhóm 1% thống
trị toàn nước Mỹ.
6
Đế chế Koch
Nếu nói rằng việc tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch sẽ đẩy nhân
loại đến ngày tận thế, thì Charles Koch đóng vai trò rất lớn trong
tiến trình kinh khủng đó và Koch Industries xứng đáng được
“vinh danh” là tập đoàn khổng lồ phá hoại nhất mà nước Mỹ từng
dung dưỡng. Tuy vậy, trong gần 1.000 trang sách, Christopher
Leonard không hề đưa ra nhận định đó dù cung cấp rất nhiều
bằng chứng để chứng minh. Độc giả có thể thấy hẫng với cách
cuốn sách khép lại, nhưng suy cho cùng, tác giả chỉ đóng vai trò
một người tường thuật khách quan, còn sự phán xét dành cho lịch
sử – và chính người đọc nó.
Chính vì điều đó, Kochland – Đế chế Koch giống như một vùng
đất lạ ẩn chứa đầy những bất ngờ đang chờ những nhà thám hiểm
tò mò.
7
MỤC LỤC
Sự thật về nền dân chủ Mỹ và quyền lực
“che cả bầu trời” của thiểu số 1%................................................................5
Lời tựa: Chiến binh (1967-2019)........................................................... 11
PHẦN I
PHƯƠNG THỨC KOCH
01 Theo dõi (1987-1989).............................................................. 25
02 Bắt đầu một thời kỳ biến động(1967-1972)........................ 59
03 Cuộc chiến giành giật Pine Bend (1971-1973).................. 87
04 Thời kỳ bất ổn leo thang (1973-1975)................................ 123
05 Cuộc chiến tranh giành Koch Industries (1980-1983)... 151
06 Đại học Koch (1983-1989)................................................... 183
07 Vòng vây thù địch (1985-1992)............................................ 199
08 Bằng hữu giấu mặt của người làm chủ quy trình
(1995-1999).............................................................................. 235
09 Con tàu chệch hướng (1995-2000)..................................... 289
10 Thất bại (2000)......................................................................... 327
9
PHẦN 2
HỘP ĐEN KINH TẾ
11 Sự trỗi dậy của người Texas (2000)...................................... 335
12 Sức mạnh của thông tin (2000-2004)................................. 367
13 Cuộc tấn công của Killer Electrons (2000-2002)............. 407
14 Giao dịch trong thế giới thực (2002-2005)........................ 451
15 Đánh chiếm Georgia- Pacific (2003-2006)........................ 471
16 Buổi bình minh của hệ thống quản lý lao động
(2006-2009).............................................................................. 495
17 Sự sụp đổ (2008–2010).......................................................... 527
PHẦN 3
NHỮNG GÃ KHỔNG LỒ
18 Sự đoàn kết (2010-2011)....................................................... 561
19 Trái đất nóng lên (2008-2009)............................................. 601
20 Sự nóng lên (2009-2010)....................................................... 655
21 Cuộc chiến cho các BTU Mỹ (2010-2014)....................... 709
22 Nền tảng giáo dục của Chase Koch (1977-2016)............. 747
23 Đưa liên đoàn lao động IBU vững mạnh trở lại
(2015-2017).............................................................................. 787
24 Bùng cháy (2017-2018).......................................................... 819
25 Sự kiểm soát (2018)................................................................. 865
Lời cảm ơn.................................................................................................. 883
Phụ lục......................................................................................................... 892
10
LỜI TỰA
CHIẾN BINH (1967-2019)
N G À Y 1 8 T H Á N G 5 N Ă M 1 9 8 2 , bốn chuyên gia
ngân hàng Morgan Stanley tại Phố Wall đã tới Wichita, tiểu bang
Kansas, để đặt vấn đề với Charles Koch, CEO của Koch Industries
(xin gọi tắt là Koch) – một công ty năng lượng cỡ trung thuộc
sở hữu gia đình không mấy tên tuổi. Họ muốn thuyết phục ông
đưa công ty lên Sàn Giao dịch Chứng khoán New York. Đề xuất
đó hoàn toàn phù hợp với tư duy kinh doanh truyền thống kiểu
Mỹ. Việc niêm yết được xem là bước phát triển tự nhiên đối với
những doanh nghiệp như Koch, giúp họ tiếp cận nguồn vốn dồi
dào và hứa hẹn các khoản lương thưởng hậu hĩnh cho đội ngũ
quản lý. Nhưng nó cũng đòi hỏi vị CEO phải nhượng bộ trong
việc điều hành công ty. Còn Morgan Stanley sẽ thu về một khoản
phí không nhỏ.
Charles năm đó 45 tuổi nhưng đã điều hành Koch từ tuổi
32 sau khi cha ông đột ngột qua đời. Trông ông cao gầy và mang
11
Christopher Leonard
dáng dấp thể thao. Tại các cuộc họp, ông thường kiệm lời và tỏ ra
khá thụ động. Nhóm chuyên gia trình bày với ông kế hoạch nhằm
biến Koch thành một công ty đại chúng, trong đó có một điều
khoản rất hấp dẫn: Nếu chấp thuận, tài sản của Charles có thể tăng
thêm 20 triệu đô-la chỉ sau một đêm. Nhưng câu trả lời của ông lại
khiến họ ngỡ ngàng.
“Ông ấy không hề muốn vậy”, bản ghi chép của các chuyên
gia cho biết. Charles điềm tĩnh lý giải tại sao những đề xuất dạng
này không phù hợp với công ty ông. Trên thực tế, Koch có lợi
nhuận vô cùng lớn. Công ty đang hoạt động trên những mảng
thiết yếu và cực kỳ phức tạp của ngành công nghiệp năng lượng
Mỹ. Trong thập niên 1980, Koch chính là đầu mối thu mua và
bán dầu thô lớn nhất cả nước. Nó còn sở hữu nhà máy lọc dầu
riêng, thuê mướn một lực lượng chuyên viên đông đảo – giao
dịch gần như mọi thứ từ nguyên liệu thô, xăng dầu, sản phẩm
tài chính cho đến những hợp đồng tiềm năng. Điều này có thể
sẽ thôi thúc nhiều CEO nghĩ tới chuyện lên sàn. Nhưng Charles
không hề muốn người ngoài biết về mức thu nhập của các giao
dịch viên. Việc trở thành công ty đại chúng sẽ làm lộ rất nhiều
bí mật.
“Những chuyên viên giao dịch của Koch đặc biệt quan ngại
nếu thông tin về lương bổng của họ, thứ vốn được giữ kín, lại bị
sử dụng để gây sức ép cho họ”, bản ghi nhớ viết.
Bí mật đóng vai trò quan trọng trong chiến lược của Koch.
Charles sẽ không bao giờ chịu từ bỏ nguyên tắc này và cũng muốn
nhượng bộ quyền điều hành công ty. Trong đầu ông luôn có một
tầm nhìn rõ ràng, cụ thể với nó; các tay đầu tư Phố Wall đừng mơ
can thiệp.
12
Đế chế Koch
Nếu nhóm chuyên gia ngân hàng kia tin rằng mình có thể
thuyết phục Charles thì họ hoàn toàn không hiểu ông. Đằng sau
vẻ ngoài trầm lắng, Charles thực sự là một chiến binh. Ông không
bao giờ để những ý tưởng về hướng đi cho công ty của mình bị lay
chuyển hay chịu lùi bước trước thách thức. Khi bị hai người anh
em ruột – Frederick và William – tranh giành quyền điều hành
Koch, ông đã đấu lại họ trong một cuộc chiến pháp lý gay gắt kéo
dài hàng thập kỷ. Trước các yêu sách của nghiệp đoàn lao động
trong những năm đầu làm CEO, ông đã nhất quyết không nhượng
bộ, ngay cả khi sự quá khích của họ suýt chút nữa đã phá hoại nhà
máy lọc dầu. Khi bị FBI và Bộ Tư pháp [Mỹ] điều tra hoạt động
thu mua dầu, Charles đã sử dụng tất cả các con bài chính trị và
pháp lý mà ông có để đối phó. Khi Tổng thống Obama và Quốc
hội do phe Dân chủ chiếm đa số muốn áp đặt quy định mới lên
ngành sản xuất nhiên liệu nhằm hạn chế phát thải nhà kính, ông
đã phản ứng quyết liệt theo cách làm thay đổi hoàn toàn diện mạo
của nền chính trị Mỹ về sau.
Trong tất cả những cuộc chiến kể trên, Charles luôn là kẻ
chiến thắng sau cùng.
Việc gạt bỏ đề xuất của các tay ngân hàng Phố Wall năm
1981 mới chỉ là một trận đụng độ nhỏ trong cuộc chiến tổng lực
dài hơi mà ông tham dự để kiến tạo và dẫn dắt Koch phát triển
theo đúng tầm nhìn của mình. Koch đã tránh được loại rắc rối
mà những công ty đại chúng mắc phải: báo cáo kết quả tài chính
mỗi quý cho các nhà đầu tư. Thay vào đó, Charles chỉ phải bận
tâm đến doanh thu của từng năm. Koch luôn duy trì một bộ phận
phát triển đầu não hoạch định chiến lược cho những mảng kinh
doanh có thể tồn tại hàng thập kỷ. Tầm nhìn này đã giúp công ty
luôn vững vàng trong khi các đối thủ thì loạng choạng. Như năm
13
Christopher Leonard
2003, Koch đã mua lại hàng loạt nhà máy phân bón đang thua lỗ –
thương vụ tiềm ẩn nhiều rủi ro mà không một công ty đại chúng
nào dám liều lĩnh tiếp nhận. Nhưng các nhà máy này hiện đang
sinh lời chẳng khác gì “những cây ATM bị lỗi liên tục nhả tiền”.
Khác với các doanh nghiệp niêm yết, Koch không phải trả cổ tức
– một con số không nhỏ; nhờ đó, họ có thể tái đầu tư ít nhất 90%
lợi nhuận để ngày càng lớn mạnh và bành trướng.
Chiến lược này đã đặt nền móng cho nhiều thập kỷ tăng
trưởng liên tục. Koch đã liên tục mở rộng bằng cách mua lại vô số
doanh nghiệp và tham gia nhiều mảng kinh doanh khác nhau. Đó
hầu hết đều là những lĩnh vực thiết yếu, chiếm vai trò quan trọng
trong xã hội hiện đại. Koch đã len lỏi vào từng ngóc ngách của đời
sống thường nhật mặc dù không mấy ai biết tới. Hàng triệu người
đang sử dụng sản phẩm mà không cần nhìn tên thương hiệu được
in trên đó. Công ty lọc và bán xăng dầu cho xe cộ, máy bay… Koch
là nhà sản xuất phân đạm lớn thứ ba thế giới, còn phân đạm là
nền tảng của ngành thực phẩm hiện đại. Koch còn chế tạo hóa
chất và nguyên liệu tổng hợp dùng làm tã trẻ em, băng nẹp, thảm,
chai nhựa, ống dẫn… Công ty cũng sở hữu George-Pacific, nhà
sản xuất vách tường, cột trụ, gỗ dán… dùng để xây nhà cửa, văn
phòng. Koch làm cả khăn giấy, khăn lau, giấy in báo, đồ dùng,
dụng cụ vệ sinh… Nó sở hữu một mạng lưới văn phòng giao dịch
rộng khắp ở Houston, Moscow, Geneva… thuê rất nhiều chuyên
viên xử lý hợp đồng mua bán mọi thứ từ nhiên liệu, phân bón,
kim loại hiếm… cho tới các hợp đồng chứng khoán phái sinh.
Doanh thu hằng năm của Koch lớn hơn cả Facebook, Goldman
Sachs và U.S. Steel cộng lại, cùng lợi nhuận khiến người khác thực
sự choáng váng. Cùng với em trai David, Charles đang nắm giữ
khoảng 80% cổ phần của Koch với tổng tài sản đạt gần 120 tỷ đô-
14
Đế chế Koch
la, lớn hơn cả Jeff Bezos hay Bill Gates.i Tuy nhiên, họ lại không
hề sáng tạo ra sản phẩm mới hay cách mạng hóa bất cứ ngành
công nghiệp nào. Hai anh em đã gây dựng khối tài sản khổng lồ
bằng một chiến lược bền bỉ để tận dụng cơ hội trong những mảng
có lẽ là phức tạp và tăm tối nhất của hệ thống kinh tế.
Cuốn sách này viết về lịch sử của đế chế Koch và qua đó phác
họa bức chân dung nền kinh tế Mỹ kể từ thập niên 1960. Câu
chuyện về Koch cũng là câu chuyện của ngành năng lượng Mỹ,
của những nhân công nhà máy lọc dầu, các giao dịch viên triệu
phú, chuyên gia vận động hành lang, nhà đầu tư cá nhân… Nghiên
cứu trường hợp của Koch cũng là để hiểu nền kinh tế Mỹ hiện đại.
Trong hơn sáu năm, tôi đã dành hàng trăm giờ để phỏng
vấn các cựu nhân viên, nhà quản lý, người tiết lộ thông tin bí mật
và những lãnh đạo cấp cao ở Koch, bao gồm cả Charles Koch. Tôi
cũng phỏng vấn nhiều đại diện chính quyền, giới công tố viên,
ngân hàng và nhà quản lý từ các đối thủ cạnh tranh của Koch.
Kèm theo đó là nhiều tài liệu nội bộ, biên bản ghi nhớ sau những
cuộc họp ban điều hành, hồ sơ được chính phủ cho phép công
bố,… cùng nhiều nguồn khác.
Ralph Waldo Emersonii từng nói: Tổ chức là cái bóng nối dài
của cá nhân. Nhận định này đặc biệt đúng với Koch Industries do
Charles toàn quyền kiểm soát và dẫn dắt từ năm 1967. Chân dung
i. Số liệu tại thời điểm tác giả viết sách. Tổng doanh thu của Facebook, Goldman
Sachs và U.S. Steel hiện đã cao hơn Koch. Trong khi Jeff Bezos đã có tài sản tiệm
cận 200 tỷ đô-la, còn Bill Gates là trên 130 tỷ đô-la. (TG)
ii. Ralph Waldo Emerson (1803-1882): Nhà viết tiểu luận, triết gia, nhà thơ, nhà
sư phạm, đồng thời là người đi đầu phong trào tự lực cánh sinh và chủ nghĩa siêu
việt (transcendentalism) Mỹ. (ND)
15
Christopher Leonard
của ông được treo ngay tại sảnh công ty và các nhân viên được
đào tạo bằng những bài phát biểu được ghi hình từ trước của ông.
Tất cả các nhân viên tại Koch phải thấm nhuần một triết lý được
Charles phát minh gọi là Quản lý dựa trên Thị trường (MBM).
Tuy nhiên, câu nói của Emerson về các tổ chức mới chỉ đúng một
nửa. Không chỉ là cái bóng của con người, tổ chức còn phản chiếu
hệ thống chính trị và kinh tế mà nó đại diện. Chẳng hạn, một tập
đoàn lớn của Trung Quốc sẽ rất khác so với một tập đoàn lớn ở
Mỹ. Mỗi quốc gia sẽ có luật lệ, văn hóa và động cơ kinh tế khác
nhau; do đó Koch phản ánh hệ thống của nước Mỹ, nơi nó ra đời
và phát triển.
Khi Charles giành quyền điều hành Koch, nước Mỹ đang
vận hành theo khuôn khổ của chính sách Kinh tế Mới – được đặc
trưng bởi sự can thiệp sâu rộng của chính phủ vào thị trường, một
hệ thống tài chính bị xiềng xích cùng các nghiệp đoàn lao động
liên tục gây sức ép. Điều này khiến những công ty năng lượng như
Koch phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ. Charles căm ghét nó. Cùng
quan điểm với các nhà kinh tế học trường phái Áo như Ludwig
von Mises, ông tin rằng sự can thiệp của chính phủ thường lợi bất
cập hại. Trong suốt sự nghiệp của mình, Charles đã chứng kiến
hệ thống Kinh tế Mới sụp đổ, nhưng nó lại không được thay thế
bởi một xã hội tự do như ông mong muốn mà bằng một hệ thống
kinh tế chính trị rối loạn – đặc trưng bởi những quy định được
bãi bỏ có chọn lọc, kết hợp với một chính phủ điều tiết và nhà
nước phúc lợi tràn lan. Charles không hoạt động trong khuôn khổ
đó, ông muốn thay đổi nó. Ông đã dành trọn đời để thiết lập một
mạng lưới ảnh hưởng chính trị được xem là lớn mạnh và vươn
xa nhất do một CEO doanh nghiệp hậu thuẫn. Mạng lưới ấy bao
gồm những tổ chức vận động hành lang chuyên nghiệp với tiềm
lực tài chính dồi dào, cùng một đội quân đông đảo các nhà hoạt
16
Đế chế Koch
động và tình nguyện viên trên khắp cả nước mang tên Americans
for Prosperity (“Người Mỹ vì sự thịnh vượng” – AFP) bên cạnh
một loạt think tanki và chương trình nghiên cứu đa dạng cũng do
Koch tài trợ. Tầm nhìn chính trị của Charles đại diện cho một
cực trong cuộc tranh luận dai dẳng về vai trò của nhà nước và thị
trường – cho rằng nhà nước về cơ bản chỉ nên bảo vệ khu vực tư
nhân và không cần làm gì khác. Trong khi đó, các chính khách có
quan điểm đối nghịch lại ủng hộ một chính quyền liên bang mạnh
mẽ cùng cơ chế kiểm soát chặt chẽ để hạn chế bớt quyền lực của
các tập đoàn lớn. Hai thái cực này cho đến giờ vẫn không thể thỏa
hiệp với nhau.
Nhưng trước những tranh cãi kéo dài đến nhàm chán, nền
kinh tế Mỹ hiện đại vẫn ưu ái các tập đoàn khổng lồ biết vận động
hành lang hơn những doanh nghiệp nhỏ và độc lập với chính trị.
Chính xác hơn, nó sẽ ưu ái những tay chơi có khả năng kiểm soát
sự phức tạp của một thị trường ngày càng kết nối và toàn cầu hóa
nhưng lại chịu sự kiểm soát gắt gao của các quy định.
Charles thường chỉ trích nền chính trị hiện đại là thời kỳ
của chủ nghĩa tư bản bè phái, nhưng đế chế do ông gây dựng xem
ra lại rất phù hợp để thăng hoa trong môi trường như vậy. Koch
thuê hẳn một đội ngũ chuyên gia pháp lý đông đảo để giúp công ty
đối phó với sự can thiệp sát sao của nhà nước, bên cạnh những bộ
óc phân tích thị trường và chuyên gia giao dịch xông xáo trên các
mảng kinh doanh đa dạng của ngành năng lượng. Dễ nhận thấy
Koch đã bành trướng sang hầu hết mọi lĩnh vực ít cạnh tranh hay
i. Một tổ chức hoặc nhóm các cá nhân hoạt động nghiên cứu đưa ra các tư vấn
về chính sách, chiến lược trong các lĩnh vực, ban đầu là quân sự, sau đó mở rộng
sang các lĩnh vực khác như chính trị, kinh tế, giáo dục, khoa học kĩ thuật, văn
hóa và xã hội.
17
Christopher Leonard
bị các công ty độc quyền thâu tóm, những ngành gắn kết chặt chẽ
với chính sách trợ cấp và quy định điều chỉnh của chính phủ.
Lấy ví dụ: Koch kiếm được rất nhiều lợi nhuận từ nhà máy
lọc dầu. Mặc dù cả nền kinh tế Mỹ đều phụ thuộc vào các sản
phẩm lọc dầu nhưng không một nhà máy mới nào được xây dựng
kể từ năm 1977. Đây là lĩnh vực vốn bị thâu tóm bởi những tay
chơi thâm căn cố đế, các cơ sở lâu đời hoạt động gần như hết công
suất và đạt tỷ suất lợi nhuận thuộc hàng cao nhất thế giới. Chỉ một
nhà máy ngừng hoạt động cũng có thể làm tăng giá dầu toàn nước
Mỹ. Nguyên nhân là do những lỗ hổng trong đạo luật Không khí
sạch được thông qua năm 1963 (sửa đổi năm 1970) – áp dụng tiêu
chuẩn kiểm soát ô nhiễm nghiêm ngặt đối với các nhà máy lọc dầu
mới xây dựng. Chủ của những cơ sở lọc dầu cũ, bao gồm Koch,
có thể khai thác kẽ hở để tăng công suất trong khi tránh được
những quy định môi trường mới. Điều này mang lại cho họ một
sức mạnh không thể đo đếm trước bất cứ đối thủ cạnh tranh tiềm
năng nào. Ít nhà máy đồng nghĩa với tính cạnh tranh kém và dân
Mỹ phải mua xăng với giá cao.
Koch Industries đã tận dụng tối đã lợi nhuận của mình. Năm
2018, trụ sở của Koch tại Wichita trông không khác gì một pháo
đài. Cơ sở được mở rộng vào năm 2014, xây thêm hàng nghìn
mét vuông tại khu văn phòng dưới chân tháp Koch Tower – một
tòa nhà có cửa sổ được xây bằng đá granit đen lấp lánh. Trong
số các hạng mục được cải tạo còn có một bức tường đất cao bao
quanh khuôn viên phía Bắc. Theo yêu cầu của Koch, chính quyền
Wichita đã cho nắn chỉnh lại một con phố để giữ người dân ở
khoảng cách an toàn với trụ sở. Hiếm công ty nào thâm nhập sâu
rộng vào đời sống của người dân Mỹ lại có thể cùng lúc tách biệt
khỏi cộng đồng như một ốc đảo giống Koch.
18
Đế chế Koch
Nhân viên của Koch thường đi làm từ sớm, gây nên cảnh
tắc nghẽn nhỏ ngay tại lối vào khuôn viên, dưới sự giám sát của
nhân viên an ninh. Phần lớn những người này sẽ di chuyển tới
tòa tháp Koch Tower qua một đường hầm dưới lòng đất, nơi có
vô số mảnh ghép ghi nhớ lịch sử của Koch. Chân dung Charles
Koch được treo tại khu vực sảnh lớn có một dãy thang máy. Đó
là một bức chân dung lớn được ghép từ những tấm hình nhỏ hơn
– chính là hình các nhân viên của Koch. Ở phía bên kia sảnh là
gian hàng Hot Commodities, nơi họ có thể mua cà phê hay một
đĩa CD về lịch sử công ty kể từ thời Fred Kochi và lấy tạp chí nội
bộ Discovery bóng loáng, nơi bài viết của Charles thường chiếm vị
trí phông trang bìa.
Mỗi nhân viên được nhận vào làm việc tại Koch sẽ trải qua
một khóa huấn luyện vài ngày để học về triết lý MBM của Charles.
Ông thường nói đó là chìa khóa để đạt tới tự do và thịnh vượng,
có thể được áp dụng cho cá nhân, doanh nghiệp và cả quốc gia.
Việc tuân thủ “tín ngưỡng” này là điều bắt buộc đối với những
ai mong muốn làm việc tại Koch. Trong một cuốn sách, Charles
Koch viết “sự điều chỉnh hành vi” là cần thiết để MBM phát huy
hiệu quả thay vì vận dụng rập khuôn. Mười nguyên tắc hướng
dẫn trong MBM được in ra và dán khắp trụ sở, trên cả ly cà phê
sử dụng một lần mà nhân viên dùng trong giờ nghỉ. Người làm
tại Koch thuộc lòng các từ vựng trong MBM và nói thứ ngôn ngữ
mà chỉ người trong nội bộ mới hiểu. Đó là những cụm từ như
“mô hình tâm lý”, “phát hiện mang tính thử nghiệm” hay “quyền
quyết định”… Các nhân viên viên tại đây không chỉ là người làm
công ăn lương mà còn là công dân của một thể chế với ngôn ngữ
i. Fred C. Koch (1900-1967), nhà sáng lập Koch Industries, cha của Charles
Koch. (TG)
19
Christopher Leonard
và mục tiêu riêng. Thành công của Koch, chí ít là về mặt tài chính,
lại càng củng cố cho niềm tin rằng họ đang làm điều đúng đắn và
MBM thực sự là chìa khóa cho cuộc sống.
Vì cuốn sách này là tiểu sử của một tổ chức, không phải cá
nhân, nên bạn sẽ bắt gặp rất nhiều nhân vật ở đây. Đó là Heather
Farragher, một cựu nhân viên tại Koch, người đã tiết lộ nhiều bí
mật về những hành vi sai trái có tổ chức trong tập đoàn và phải
hứng chịu hậu quả nghiêm trọng nhất từ sự trả đũa. Người đọc
cũng sẽ biết tới Bernard Paulson, nhà quản lý giàu tham vọng từng
giúp Koch dẹp yên sự quá khích của một nghiệp đoàn lao động;
Dean Watson, ngôi sao đang lên, người đã thấm nhuần triết lý
MBM nhưng sự nghiệp phút cuối lại sụp đổ bởi chính tham vọng
của bản thân; Philip Dubose, nhân viên đã ăn trộm dầu để làm vui
lòng cấp trên; Steve Hammond, công nhân kho hàng đã đại diện
cho người lao động để thương lượng quyền lợi với giới chủ tại
Koch; hay Brenden O’Neill, một giao dịch viên sống tại Wichita,
người đã rất nỗ lực để kiếm được hàng triệu đô-la… Nhưng tất cả
bọn họ đều sẽ đến rồi đi, trong khi Koch Industries vẫn tiếp tục
tiến về phía trước và thay đổi cùng thời đại. Đó là bản chất của các
tổ chức lớn. Nếu cảm thấy khó theo dõi vì có quá nhiều cái tên,
hãy tham khảo phần phụ lục với tên các nhân vật được xếp theo
mẫu tự chữ cái.
Duy chỉ một người đàn ông xuất hiện xuyên suốt lịch sử
50 năm của câu chuyện được viết trong cuốn sách này. Ông đã
ngự trị trên đỉnh cao tại Koch và thúc nó tiến về phía trước, định
hướng nó theo đúng tầm nhìn của mình và gặt hái vinh quang
cùng nó. Hơn ai hết, Charles Koch chính là tác giả của câu chuyện
về Koch Industries.
20
Đế chế Koch
Mặc dù có thể nhận thấy tầm ảnh hưởng to lớn của ông đối
với tập đoàn và qua hệ thống chính trị Mỹ, nhưng nhìn chung
Charles Koch vẫn là một nhân vật tương đối bí ẩn. Ông thích sự
riêng tư và bí mật. Không ít người đã cố gắng tìm hiểu về Charles,
theo dõi ông qua những bức tường cao và cửa sổ kính tối màu ở
trụ sở chính của Koch tại Wichita, trong đó có đặc vụ FBI James
Elroy. Là người theo dõi hoạt động của Koch trong nhiều năm,
Enroy tin rằng Charles cùng cấp dưới đã dính líu tới một đường
dây phạm tội lớn vào năm 1988.
Đó là lý do tại sao Elroy lại ẩn mình trong một trại nuôi bò ở
Oklahoma ngay giữa ban ngày, tay điều chỉnh chiếc máy ảnh ống
kính góc rộng để theo dõi những nhân viên của Koch. Thời khắc
ấy cũng là lúc cuốn sách này được viết.
21
Christopher Leonard
22
Đế chế Koch
PHẦN I
PHƯƠNG THỨC
KOCH
23
Charles Koch đã ngự trị trên đỉnh cao tại
Koch và thúc nó tiến về phía trước, định
hướng nó theo đúng tầm nhìn của mình
và gặt hái vinh quang cùng nó. Hơn ai hết,
ông chính là tác giả của câu chuyện về
Koch Industries.
01
THEO DÕI (1987-1989)
Đ Ặ C V Ụ F B I J A M E S E L R O Y đang đứng ở đằng xa
trên đồng cỏ để chờ đợi sự xuất hiện của một người đàn ông từ
công ty Koch Oil. Anh mang theo máy ảnh gắn ống kính khẩu độ
600mm để chụp xa cùng vô số thước phim, và cả một chiếc túi
nhét đầy thức ăn cho bò. Elroy đã cẩn thận lựa chọn địa điểm này
và đến từ sớm để cắm chốt. Anh đang đứng tại nơi có thể quan sát
toàn cảnh khu vực xung quanh một thùng kim loại lớn hình trụ
chứa dầu. Có hằng trăm kết cấu như vậy đang nằm rải khắp vùng
nông thôn Oklahoma – nắm dưới bề mặt tiêu điều xơ xác là rất
nhiều dầu. Những giàn khoan hoạt động không ngừng nghỉ suốt
ngày đêm sẽ hút và bơm đầy dầu thô vào các thùng chứa. Khi các
thùng dầu đã đầy, một nhân viên từ Koch Oil sẽ lái xe bồn tới để
hút dầu rồi chở đi. Elroy đang đợi người đó.
Anh mở túi bốc một nắm đồ ăn rồi ném đầy ra mặt đất. Đám
bò ngay lập tức vây quanh anh, dúi đầu ngửi ngửi và nhai thức
25
Christopher Leonard
ăn đang vương vãi trên thảm cỏ. Có lẽ đó là cách duy nhất để ẩn
mình trong vùng đồng cỏ bằng phẳng của Oklahoma.
Chỉ có mình Elroy ở đây trong khoảnh khắc ấy. Thị trấn gần
đó nhất là Nowata – một tiểu khu gồm nhiều dãy nhà một tầng
bằng gạch trên đường đi vào trung tâm thành phố. Con phố chính
tại Nowata mang tên Avenue chứ không phải Main Street. Theo
cách nói của một số người, Elroy đang đứng giữa “xứ sở của người
da đỏ” – cụm từ được dùng để chỉ khu bảo tồn của người thổ dân
Osage và Cherokee. Là một đặc vụ FBI thâm niên ở Oklahoma
City, Elroy không lạ gì nơi này. Trong sự nghiệp của mình, anh đã
theo đuổi nhiều chuyên án lớn, phá vô số âm mưu tội phạm, trong
đó có vụ án tham nhũng “đình đám” hồi đầu thập niên 1980 khiến
hơn 200 người phải hầu tòa, bao gồm hai phần ba số ủy viên một
hội đồng quản hạt tại Oklahoma.
Và cũng không có gì lạ khi Elroy bị cuốn vào cuộc điều tra
này. Anh đang đứng giữa đám bò và chăm chú quan sát khu vực
xung quanh thùng chứa. Đây là chuyên án đặc biệt mà FBI đã cử
riêng Elroy điều tra để báo cáo với Thượng viện. Mặc dù phải làm
việc với cấp trên mới nhưng anh đã quá quen với công việc thu
thập bằng chứng về những sai phạm phức tạp trên quy mô lớn.
Sếp của Elroy ở Thượng viện tin rằng công ty Koch Oil không
mấy tên tuổi đang dính líu vào một đường dây ăn cắp dầu làm
thiệt hại hàng triệu đô-la cho người da đỏ – và có lẽ cả dân Mỹ
đóng thuế. Nhiệm vụ của Elroy là tìm chứng cứ cho cáo buộc trên.
Đó cũng là lý do tại sao anh luôn mang theo chiếc máy ảnh có
khẩu độ lên tới 600mm.
Không phải chờ đợi lâu, Elroy đã thấy mục tiêu xuất hiện:
một chiếc xe tải đang di chuyển trên con đường hẹp dẫn đến khu
vực thùng chứa. Lúc ấy, anh đã ngụy trang xong và hướng chiếc
26
Đế chế Koch
máy ảnh về phía xe tải đang đậu bên cạnh thùng chứa dầu. Một
người đàn ông bước xuống; Elroy có thể quan sát anh ta rất rõ, từ
quần áo, nét mặt cho đến từng hành động như thể đối tượng đang
chỉ đứng cách vài bước chân.
Tách. Tách. Tách.
Những tấm ảnh được tráng bằng hóa chất trong phòng tối,
ban đầu còn mờ nhưng ngày càng rõ nét hơn. Chúng ghi lại cảnh
người nhân viên của Koch Oil tiến lại gần thùng chứa dầu, mở
nắp, đo mực dầu bên trong và viết biên lai. Đó là những hình
ảnh quá rõ ràng và sắc nét, một bằng chứng không thể chối cãi.
Theo thời gian, Elroy đã thu tập được cả chồng ảnh như thế.
Chiếc máy ảnh ống kính 600mm thực sự đã hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ.
Tuy nhiên, Elroy lại không định sử dụng những tấm ảnh làm
bằng chứng trước tòa. Chúng sẽ chỉ là công cụ trong cuộc điều tra
của anh – một cách để khai thác điểm yếu của con người.
Elroy đã học được cách điều tra các âm mưu lớn cho FBI
trong những năm 1980. Để phá tan một âm mưu lớn, hãy bắt đầu
từ vòng ngoài. Anh sẽ truy tìm những manh mối nhỏ nhất và khai
thác chúng. Đó là lý do Elroy theo dõi các nhân viên của Koch Oil
– những người trực tiếp làm công việc hút dầu từ thùng chứa. Họ
chính là nhân tố dễ tiếp cận nhất và thường sẽ nhanh “mở miệng”
nếu bị nhà chức trách gõ cửa. Họ là những người làm công việc
bèo bọt, những nhân tố hữu hình nhất trong cái mà Elroy dần tin
là một âm mưu phức tạp.
Thoạt nhìn, Elroy không có vẻ gì là một đặc vụ FBI điển
hình. Anh hay để tóc húi cua và đi giày đen bóng loáng. Năm
27
Christopher Leonard
1970, khi mới tốt nghiệp Học viện FBI tại Quantico, tiểu bang
Virginia, với mái tóc đen bờm xờm và nụ cười nhếch mép thường
trực theo kiểu mỉa mai – ra vẻ ta đây là người hiểu chuyện, trông
anh giống một luật sư tư vấn doanh nghiệp hơn. Elroy rất am hiểu
luật hình sự, nhạy bén và sử dụng súng trường thành thạo. Mặc
cho vẻ ngoài bất cần ấy, anh lại là người tuân thủ pháp luật và
trật tự. Elroy luôn tôn thờ giám đốc J. Edgar Hooveri – người mà
anh tin là một lãnh đạo có tầm nhìn xa chứ không phải kẻ chuyên
quyền theo góc nhìn của một số sử gia. Khi được thông báo làm
việc dưới sự chỉ đạo của Thượng viện, Elroy đã không mấy vui.
Anh vốn nghĩ các cuộc điều tra do Thượng viện tổ chức thực chất
chỉ là những màn kịch chính trị “vụng về”. Là một đặc vụ FBI kỳ
cựu, Elroy đã quá quen hành động theo đúng luật và bám sát trình
tự trong việc thu thập chứng cứ để đưa vụ án ra tòa. Trong khi đó,
các thượng nghĩ sĩ dường như lại quá hời hợt với chuyện này; họ
chỉ muốn có bằng chứng để công bố trong những phiên điều trần
ở Washington. Tuy nhiên, sếp của Elroy lại hiểu anh rất rõ. Khi
được giao phá bất cứ một vụ án nào, anh gần như sẽ bị nó ám ảnh.
Và Koch Oil cũng không phải ngoại lệ.
Theo tin mật báo mà Thượng viện nhận được, Koch Oil
đang thực hiện hành vi ăn trộm dầu tại vùng đất của người da đỏ ở
Oklahoma. Đây là khu vực thuộc phạm vi quản lý của chính quyền
i. J. Edgar Hoover (1895 – 1972): giám đốc đầu tiên của Cục Điều tra Liên bang
Mỹ (FBI) từ năm 1935 đến khi qua đời (1972). Ông được ca ngợi vì đã xây dựng
FBI thành một cơ quan hoạt động hiệu quả và ứng dụng nhiều công nghệ hiện
đại. Nhưng một số ý kiến chỉ trích cũng cho rằng ông đã vượt quá thẩm quyền khi
cho phép thu thập chứng cứ theo cách thiếu minh bạch, bật đèn xanh cho hoạt
động quấy rối các nhà hoạt động xã hội, tranh đấu nhân quyền,… Sau Hoover,
nhiệm kỳ của giám đốc FBI đã bị giới hạn lại không quá 10 năm, trừ khi được
Thượng viện đặc cách. (TG)
28
Đế chế Koch
liên bang nên Thượng viện không thể không quan tâm tới các cáo
buộc. Mánh khóe của Koich Oil thực ra khá đơn giản: Là một đơn
vị thu mua dầu mỏ, họ sẽ cử nhân viên tới các thùng chứa, hút dầu
ra và vận chuyển bằng ống dẫn hoặc xe bồn. Mỗi lần như vậy, họ
sẽ cố tình báo cáo sai lệch đi, chẳng hạn chỉ lấy lượng dầu tương
đương với 99 thay vì 100 thùng. Điều đó có nghĩa là Koch được
hưởng một thùng dầu miễn phí mỗi lần họ mua dầu.
Sự thật đơn giản là vậy nhưng việc điều tra lại chẳng dễ chút
nào. Koch Oil có lẽ đã lên kế hoạch và chuẩn bị hết sức kỹ lưỡng
để tránh sự soi mói từ bên ngoài.
Koch Oil là một công ty con của Koch Industries, một tập
đoàn đa ngành thuộc sở hữu gia đình có trụ sở chính tại Wichita.
Không ai tại FBI hay Thượng viện từng nghe nói về nó khi bắt đầu
mở cuộc điều tra năm 1988. Có người còn nhầm nó với Coca-Cola
ở Atlanta, hay phát âm trệch thành watch (đồng hồ) thay vì cách
đọc chính xác hơn là smoke (khói). Nhưng hóa ra Koch Industries
lại rất lớn và quyền lực. Các điều tra viên của Thượng viện tìm
hiểu được nó chính là đầu mối thu mua dầu mỏ lớn nhất nước
Mỹ. Trong vài thập niên, Koch đã âm thầm mua lại hàng chục
nghìn dặm đường ống dẫn dầu và cả mạng lưới dịch vụ chuyên
chở bằng xe bồn. Ngay đến Exxon Mobile hay Chevron cũng phải
tìm đến Koch như là đối tác thu mua duy nhất khi muốn đưa dầu
từ các giếng khai thác ở những nơi hẻo lánh như Oklahoma ra thị
trường. Hàng triệu người Mỹ bơm xăng vào xe mỗi ngày đang sử
dụng sản phẩm của Koch mà chẳng hề biết tới nó.
Nhưng có một điểm rõ ràng nhất về Koch là nó ôm giữ một
sự bất đồng sâu sắc với chính quyền liên bang và hệ thống cai trị
chung của nước Mỹ. David Koch, một trong hai chủ sở hữu chính
kiêm phó chủ tịch điều hành công ty đã từng đại diện đảng Tự
29
Christopher Leonard
doi chạy đua chức Phó Tổng thống Mỹ năm 1980 với cương lĩnh
tranh cử hết sức đặc biệt: kêu gọi xóa bỏ mọi thứ từ bưu điện, Cục
Bảo vệ Môi trường cho tới trường công. Bản thân Koch cũng gặp
không ít rắc rối trong suốt nhiều năm với các cơ quan quản lý
năng lượng liên bang vì cáo buộc thao túng giá cả và nhiều vấn đề
khác. Các vị lãnh đạo tại Koch thường tranh cãi rằng thị trường
năng lượng không nên bị trói buộc bởi những quy định chồng
chéo của chính quyền liên bang. Mặc dù ngự trị ở một mắt xích
quan trọng trong chuỗi cung ứng năng lượng Mỹ với quyền lực và
ảnh hưởng như vậy, Koch vẫn là gã khổng lồ giấu mặt. Bằng cách
nào đó, nó đã luồn lách vào từng ngóc ngách của hệ thống cơ sở
hạ tầng năng lượng Mỹ mà không để lộ thân phận.
Vậy làm sao để chứng minh Koch ăn trộm dầu? Elroy đã lần
theo các nhân viên rút dầu hay còn được gọi là “những chiếc máy
đo” trong lĩnh vực này. Lợi ích duy nhất của họ khi “đo nhầm”
lượng dầu trong thùng sẽ thể hiện trên phiếu lương. Họ vốn là
người dân sống tại các thị trấn nhỏ, chăm chỉ làm việc để lo cho
gia đình; nhiều người còn chẳng biết số dầu mà họ lấy đi sẽ được
sử dụng cho mục đích gì. Họ chỉ làm theo mệnh lệnh mà thôi –
Elroy đoán như vậy. Buổi tối, anh cùng cộng sự tìm đến nhà họ.
Khi có người ra mở cửa, Elroy tự giới thiệu là đặc vụ FBI và hỏi
liệu mình có thể vào trong để cùng trò chuyện một lát. Khả năng
cao là những người này chưa từng gặp đặc vụ FBI trước đó; họ
cảm thấy bất ngờ, khó hiểu và tự hỏi làm thế nào mà hai đặc vụ
xuất hiện ở đây. Còn Elroy thì ngược lại, anh đã chuẩn bị sẵn các
i. Libertarian Party: Một đảng chính trị nhỏ tại Mỹ. David Koch (1940-2019), em
trai của Charles Koch, từng là thành viên đảng này trước khi chuyển sang đảng
Cộng hòa vào năm 1984 tới khi qua đời năm 2019; còn Charles hiện vẫn sinh
hoạt cùng đảng Tự do. (ND)
30
Đế chế Koch
câu hỏi cùng bằng chứng cụ thể cho những cáo buộc về hành vi
ăn cắp.
Elroy ngồi xuống ghế và bắt đầu hỏi họ từng câu về đời sống
hằng ngày, trong đó có công việc đo dầu. Điều này có lẽ sẽ khiến
họ cảm thấy kỳ quái, đầu óc quay “mòng mòng”, không hiểu vì
sao FBI lại quan tâm tới công việc khá nhàm chán lặp đi lặp lại
của mình, hay hỏi cả về chiếc nhiệt kế có nắp lưng làm bằng gỗ và
dụng cụ đo lượng dầu. Họ sẽ băn khoăn: Mình đã làm gì sai? Mình
đang vướng vào rắc rối phải không?
Các đặc vụ FBI đều là chuyên gia trong việc hỏi những câu
khiến nhân chứng phải từ từ suy ngẫm về khả năng tồi tệ nhất có
thể xảy đến từ các câu trả lời của họ. Và đặc vụ trong trường hợp
này còn là Elroy, anh đã buông những lời mà chắc chắn không ai
muốn nghe: “Anh có nghĩ việc đo nhầm là hành vi ăn cắp? Chẳng
phải anh đã lấy đi một lượng dầu mà không hề trả tiền?”
Và để hạ gục họ, Elroy còn đưa ra những tấm ảnh sắc nét
anh chụp được. Anh đặt chúng lên bàn cho họ nhìn để nhận thức
được tình hình. Rất nhẹ nhàng và vô tư, anh hỏi họ: “Người trong
ảnh có phải là anh? Anh đang đo dầu phải không?”. Elroy cho biết
mình cũng đã có mặt tại hiện trường để đo lại lượng dầu sau khi
họ rời đi và phát hiện thấy sai biệt đáng kể. Anh muốn nghe một
lời giải thích.
Bằng cách này, Elroy đã có được một vài nhân chứng về
những gì đang diễn ra bên trong Koch Industries, hay họ xử lý thế
nào với lượng dầu đã lấy đi. Từng lời khai đã trang bị thêm cho
anh công cụ để gây áp lực với nhân chứng tiếp theo. Không lâu
sau, anh đã có thể hỏi họ cả chuyện về những cuộc họp ban điều
hành lẫn chỉ dẫn từ ban lãnh đạo.
31
Christopher Leonard
Trong nhiều tháng, Elroy đã tiếp xúc hơn 15 nhân viên của
Koch. Anh đảm bảo sẽ giữ kín danh tính để họ có thể thoải mái
chia sẻ chuyện nội bộ của công ty đã thuê mình. Một bức tranh
toàn cảnh bắt đầu hiện lên.
Giới quản lý tại Koch sẽ không bao giờ trực tiếp chỉ đạo
nhân viên ra ngoài ăn cắp. Tất nhiên rồi. Thay vào đó, họ liên tục
áp đặt các chỉ tiêu và nói rõ nhân viên đo dầu không được phép
“thiếu” – tức báo cáo là đã lấy nhiều dầu hơn từ thùng chứa so với
lượng thực tế chuyển về. Việc “thiếu” liên tục trong vài tuần cũng
đồng nghĩa với mất việc. Vì thế, họ phải tìm cách để “thừa”i ra –
tức báo cáo lượng dầu đã lấy thấp hơn so với thực tế, chẳng hạn
100 thùng thay vì 101 thùng. Kết quả là đường dây vận chuyển
của Koch luôn đạt thặng dư hằng năm, thu mua được lượng dầu
lớn hơn với số tiền đã trả, ít nhất là tại Oklahoma.
Nhân viên đo dầu của Koch nói với Elroy về sự cần thiết của
việc phải “thừa”, tiêu chí luôn được nhắc tới trong các cuộc họp về
“tăng trưởng thường xuyên”. Đó dường như cũng là cách truyền
đạt chỉ thị của Koch tại tổng hành dinh ở Wichita tới từng nhân
viên. Nghe đến đó, Elroy ngay lập tức tin rằng Koch Oil chính là
một doanh nghiệp đang thực hiện hành vi phạm pháp do tập đoàn
mẹ ở trên chỉ đạo.
Nhưng chưa một ai trong chính phủ biết rõ quy mô của
đường dây tội phạm này lớn đến mức nào. Ai là người đã tạo áp
lực cho các nhân viên đo dầu với tiêu chí “tăng trưởng thường
xuyên”? Ai đã bày cho họ cách làm giả số liệu khi đo dầu?
i. Các nhân viên đo dầu và quản lý tại Koch thường sử dụng những thuật ngữ
riêng mà chỉ họ mới hiểu, chẳng hạn “under” (dưới) thay cho “short” (thiếu) và
“over” (trên) thay cho “long” (thừa). (TG)
32
Đế chế Koch
Elroy đã đi tìm câu trả lời từ phòng khách này sang phòng
khách khác ở vùng ngoại ô Oklahoma. Nỗ lực của anh sẽ buộc
Koch phải trực tiếp đối diện với chính phủ liên bang mà nó vô
cùng căm ghét.
*
Koch tình cờ phát hiện ra mình đang trở thành mục tiêu
của Elroy và qua đó là Thượng viện. Tất cả bắt đầu từ một chuỗi
các sự việc lạ lùng trong một buổi sáng bình lặng ở Phoenix, tiểu
bang Arizona.
Ngày 4 tháng 10 năm 1987, những cậu bé giao báo sáng đạp
xe và thảy từng tờ Arizona Republic số Chủ nhật lên thảm cỏ hay
lối chạy xe của từng ngôi nhà với dòng tít rất dễ gây bùng nổ trên
trang nhất: “Gian lận ở xứ sở của người da đỏ: Sự phản bội gây
thiệt hại 1 tỷ đô-la”.
Đó là phần mở đầu của câu chuyện được đăng tới 30 kỳ
trong những tuần tiếp theo, xoáy sâu vào hành vi lũng đoạn ngang
nhiên và sự bất lực của một cơ quan liên bang mang tên BIA (Cục
Chuyên trách các Vấn đề về Người da đỏ).
Bài báo viết rằng các chương trình dành cho người thổ dân
chỉ là “một mớ hổ lốn, giả dối và bị trói buộc bởi một loạt lề thói
quan liêu khiến chúng trở nên vô dụng”. Và đó mới chỉ là câu đầu
tiên trong bài.
Mặc dù BIA là đối tượng được nhắc tới trong bài báo,
nhưng phần lớn sự chú ý đầu tiên lại tập trung vào những công
ty dầu mỏ đang khai thác trên vùng đất này. Một dòng tít phụ
còn chỉ đích danh việc chính quyền liên bang cấp phép hoạt
động cho các công ty này chẳng khác nào “tiếp tay cho hành vi
33
Christopher Leonard
cướp bóc” theo cách vô cùng nham hiểm và phức tạp. Bài báo
phân tích: Thường thì các công ty sẽ chịu trách nhiệm báo cáo
sản lượng mà họ đã khai thác trên đất của người da đỏ, nhưng
chính phủ lại không thanh tra kỹ những số liệu này, tất cả đều
dựa trên nguyên tắc thành thật và tôn trọng. Vì vậy, tác giả ngờ
rằng các công ty dầu mỏ đã lợi dụng điều đó để thường xuyên
báo cáo lượng dầu lấy đi thấp hơn so với thực tế và trục lợi thêm
hàng triệu đô-la mỗi năm.
Loạt bài viết trên Arizona Republic đã thu hút sự quan tâm
và phản ứng giận dữ mà phần lớn các phóng viên có nằm mơ
cũng chưa chắc thấy. Trong số đó có Thượng nghị sĩ đảng Dân
chủ Dennis DeConcini của tiểu bang Arizona. Phát biểu trước báo
giới, ông cho rằng hành vi này là một tội ác mang tính “hủy hoại”,
nó cũng “cho thấy sự quản lý yếu kém của chính quyền”.
DeConcini không thể ngồi yên. Hoạt động quản lý yếu kém
do quan liêu đối với ông là hành vi đáng lên án, song nó lại càng
ghê tởm nếu nạn nhân là người da đỏ. Là thành viên thuộc SIAC
(Ủy ban Phụ trách các Vấn đề của Người da đỏ) tại Thượng viện,
ông thừa nhận thổ dân sống ở những khu định cư tập trung như
tại tiểu bang của ông chính là nhóm thiểu số thiệt thòi nhất nước
Mỹ. Từ xa xưa, vùng đất của các bộ tộc da đỏ được xem là những
quốc gia có chủ quyền trên giấy tờ. Vào thời điểm cuối thập niên
1980, các quốc gia này chẳng còn lại gì ngoài sự lạc hậu và suy tàn.
Sau khi bị đuổi khỏi nơi mình từng sống và quây nhốt trong các
khu tập trung mang danh “bảo tồn”, họ phải ký vào những thỏa
thuận công nhận quyền sở hữu đất đai và nguồn tài nguyên trên
đó. Song chúng lại được cất giữ trong một quỹ tín thác do chính
phủ liên bang và BIA quản lý. Nói cách khác, các văn bản này đã
hợp thức hóa sự cai trị của chính quyền liên bang đối với những
34