2
VAN GOGH: THE LIFE
An illustrated exploration of the artist, his life and context,
with a gallery of 300 of his greatest paintings
By Steven Naifeh and Gregory White Smith
Copyright © 2011 by Woodward/White, Inc.
Maps copyright © 2012 by David Lindroth, Inc.
This edition is published by arrangement with William Morris Endeavor Entertainment, LLC.
through Andrew Nurnberg Associates International Limited
All rights reserved.
VAN GOGH
Tác giả: Steven Naifeh & Gregory White Smith
Bản quyền tiếng Việt © Cổ phần Sách Omega Việt Nam, 2021
Bản dịch tiếng Việt © Công ty Cổ phần Sách Omega Việt Nam, 2021
Công ty Cổ phần Sách Omega Việt Nam xuất bản, bìa cứng, áo ôm, 2021.
Công ty Cổ phần Sách Omega Việt Nam - thành viên của Alpha Publishing Group.
CÔNG TY CP SÁCH OMEGA VIỆT NAM (OMEGA PLUS) thành lập tháng 9/2016 với định hướng xuất bản tri
thức nền tảng trong lĩnh vực Khoa học Nhân văn, Khoa học Tự nhiên, Chính trị - Xã hội, Triết học, Nghệ
thuật… Đến nay, chúng tôi đã xuất bản hơn 200 đầu sách thuộc 6 tủ sách bao gồm: Kinh điển, Sử Việt,
Khoa học, Nhân vật Vĩ đại, Nghệ thuật, Y học. Thông qua việc xuất bản các ấn phẩm có giá trị, mang hàm
lượng tri thức cao, qua các hoạt động nhằm đưa tri thức hữu ích đến cộng đồng; Omega Plus mong muốn
đóng góp theo cách riêng vào sự phát triển đang ngày càng mạnh mẽ của xã hội.
Không phần nào trong xuất bản phẩm này được phép sao chép hay phát hành dưới bất kỳ hình thức hoặc
phương tiện nào mà không có sự cho phép trước bằng văn bản của Công ty Cổ phần Sách Omega Việt
Nam. Chúng tôi luôn mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp của quý vị độc giả để sách ngày càng
hoàn thiện hơn.
Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia Việt Nam
Steven Naifeh
Van Gogh / Steven Naifeh, Gregory White Smith ; Dịch: Ngô Đức Trung... ; Phạm Diệu Hương h.đ.. - H. :
Dân trí, 2021. - 1296tr. ; 24cm
Tên sách tiếng Anh: Van Gogh: The life
1. Gogh, Vincent van, 1853-1890, Hoạ sĩ, 1853-1890, Hà Lan 2. Tiểu sử 3. Sự nghiệp
759.9492 - dc23
DTL0152p-CIP
Góp ý về sách, liên hệ về bản thảo và bản dịch: [email protected]
Liên hệ ebooks, hợp tác xuất bản & truyền thông trên sách: [email protected]
Liên hệ dịch vụ bản quyền, xuất bản, ký gửi và phát hành: [email protected]
Ngô Đức Trung, Vũ Đình Thắng, Trần Khả Ái, Bùi Duy Trung dịch,
Phạm Diệu Hương hiệu đính
4
BAN CỐ VẤN TỦ SÁCH NGHỆ THUẬT
Nghệ sĩ Nguyễn Trần Ưu Đàm, Họa sĩ Đào Quốc Huy, Họa sĩ Trịnh Lữ, Ths Nguyễn Thế Sơn
ĐỘI NGŨ TRIỂN KHAI OMEGA+
Phụ trách xuất bản: Trần Hoài Phương
Điều phối viên: Trịnh Thu Hằng
Thiết kế bìa: Phạm Ngọc Điệp
Trình bày: Vũ Lê Thư
Thư ký xuất bản: Cao Hồng Ngọc
ĐƠN VỊ HỢP TÁC
Dành tặng các mẹ của chúng con,
Marion Naifeh và Kathryn White Smith,
vì là những người đầu tiên cho chúng con thấy niềm vui nghệ thuật,
và với tất cả những nghệ sĩ của Trường Juilliard,
những người đã mang tới cho cuộc đời chúng tôi thật nhiều niềm vui,
cuốn sách này dành tặng với lòng biết ơn.
S. N.
G. W. S.
MỤC LỤC
Lời tựa của nhóm dịch................................................................................. 9
Thư gửi chúng ta: những Vincent và Theo thời hiện đại............................ 13
Danh sách hình ảnh minh họa................................................................... 19
Lời nói đầu: Trái tim Cuồng mê................................................................. 28
PHẦN I. NHỮNG NĂM ĐẦU ĐỜI 1853 - 1880
01 Các con đập và những bờ đê.......................................................... 35
02 Tiền đồn chốn Bãi hoang............................................................... 46
03 Cậu bé kỳ lạ................................................................................... 68
04 Đức Chúa và Tiền bạc.................................................................... 89
05 Đường tới Rijswijk....................................................................... 114
06 Kẻ lưu đày.................................................................................... 135
07 Noi gương Đức Ki-tô................................................................... 160
08 Bước đường kẻ lữ khách............................................................... 186
09 Ôi Jerusalem, Ôi Zundert............................................................ 213
10 Ngược chiều gió thổi.................................................................... 235
11 “Dat Is Het” (Chính là nó) ........................................................... 252
12 Miền đất đen................................................................................ 282
13 Miền đất Hình ảnh...................................................................... 308
PHẦN II. NHỮNG NĂM TẠI HÀ LAN 1880 - 1886
14 Những trái tim băng.................................................................... 319
15 Aimer Encore (Yêu nữa đi)............................................................. 340
16 Nắm đấm người họa sĩ................................................................. 361
17 Ô cửa sổ nhỏ của anh................................................................... 393
18 Lão mồ côi................................................................................... 428
19 Jacob và Esau............................................................................... 462
20 Lâu đài trên cát............................................................................ 488
21 Người tù...................................................................................... 513
22 La Joie de Vivre (Niềm vui sống)................................................... 545
23 Con Nam..................................................................................... 565
24 Mầm điên.................................................................................... 588
25 Ào một phát................................................................................. 628
26 Hết ảo tưởng................................................................................ 651
PHẦN III. NHỮNG NĂM Ở PHÁP 1886 - 1890
27 Trái luân thường.......................................................................... 686
28 Anh em nhà Zemganno................................................................ 724
29 Nắm và Buông............................................................................. 749
30 Mê cuồng Vụ lợi.......................................................................... 782
31 Le Paradou (Vườn Paradou).......................................................... 808
32 Hướng dương và Trúc đào........................................................... 853
33 Khu vườn của nhà thơ................................................................. 886
34 Kẻ man rợ ảo................................................................................ 912
35 La Luttle (Cuộc chiến).................................................................. 925
36 Kẻ lạ............................................................................................. 958
37 Hai con đường............................................................................. 983
38 Miền Nam đích thực.................................................................. 1014
39 Đêm đầy sao............................................................................... 1038
40 Kẻ bị cô lập................................................................................ 1077
41 “Một Đứa con Suy đồi” ............................................................. 1114
42 Khu Vườn và Cánh đồng lúa mì................................................ 1146
43 Ảo tưởng Tan biến Trác tuyệt Còn lưu....................................... 1189
Lời kết: Ici Repose (Nơi đây Yên nghỉ)..................................................... 1204
Phụ lục: Một Ghi chú về Vết thương Chí mạng của Vincent................. 1213
Lời cảm ơn ............................................................................................ 1230
Ghi chú về Các nguồn tài liệu................................................................ 1234
Tài liệu tham khảo................................................................................. 1236
Mục từ tra cứu....................................................................................... 1253
Nguồn bản quyền hình ảnh................................................................... 1261
LỜI TỰA CỦA NHÓM DỊCH
TRONG SUỐT QUÁ TRÌNH làm việc kéo dài tới ba năm cùng vô
vàn câu chữ về cuộc đời của Vincent van Gogh, nhân vật mà chúng tôi vẫn
thường thân mật gọi là “anh Vinh”, đã có không ít lần tôi hình dung về thời
điểm khi kết thúc cuốn sách này, tôi sẽ nghĩ gì, và viết những lời thế nào cho
phần lời tựa cuốn sách. Để rồi đến hôm nay, tôi hầu như… không biết viết
gì cả. Đối với tôi, sau chừng ấy thời gian, việc biên dịch cuốn sách về cuộc
đời của danh họa Van Gogh đã chuyển hóa từ một công việc thành một giai
đoạn đời sống.
Thời điểm bắt tay vào thực hiện, trái với cảm giác háo hức lúc ban đầu,
tôi nhận ra một Vincent van Gogh “hơi khác” với người họa sĩ huyền thoại
mà truyền thông vẫn khắc họa. Thì ra một nghệ sĩ như Van Gogh, người
trong thời đại này được đồng cảm và tôn vinh như vị họa sĩ thiên tài đáng
thương phải sống trong một thời đại không ai hiểu mình, bị mọi người xa
lánh… lại thực sự là một người đáng ghét và hoàn toàn dễ hiểu khi bị xa lánh.
Trong suốt nửa đầu cuốn sách, có không ít lần bản thân tôi trong quá trình
dõi theo câu chuyện về cuộc đời Van Gogh đã phải thốt lên, đập mạnh tay
xuống bàn vì bất bình, phải tìm người để nói chuyện nhằm giải tỏa cảm giác
bức xúc như thể Vincent là một ông bạn đang hiện diện ngay đây và ngày
lại ngày không làm gì khác hơn ngoài việc khiến chúng tôi phải bận tâm
và phát điên. Thậm chí còn kỳ lạ hơn khi những cơn sóng nhiệt thành, sự
cuồng mê và toàn bộ những cảm xúc bi ai thăng trầm của Van Gogh dường
như đã trở thành một bầu không khí chung hòa vào đời sống, vào những sự
kiện cá nhân của chính tôi suốt khoảng thời gian gắn bó với cuốn sách này.
Vì làm việc nhóm nên chúng tôi đã có nhiều phen tranh luận, có lúc
vô cùng gay gắt, không chỉ về câu từ, ánh nghĩa, mà đa phần còn liên quan
đến cách chúng tôi làm việc với nhau, giữa các cá tính hầu như ít có điểm
10
tương đồng. Vậy nhưng dần dần, chúng tôi cũng tìm được cách để hòa nhịp
và chấp nhận nhau, mỗi một chương sách đều được soát lại, chỉnh sửa và
thậm chí là dịch lại vài lần.
Nửa sau của cuốn sách, hành trình cảm xúc của tôi và các anh em trong
nhóm biên dịch đã dần thay đổi, từ phản cảm ban đầu, sau này có đôi lúc
tôi cũng rơi nước mắt cùng Vincent, và dần hiểu, cảm thương trước nỗi đau
và bệnh tật, thán phục vì tinh thần hội họa của Vincent, đâu đó lại bắt gặp
sự tương đồng chí hướng của Vincent với chính tôi, để rồi dưới cái nhìn
khách quan thu về những bài học riêng tư cho cá nhân. Tôi cũng tin rằng
không chỉ với tôi, chắc chắn đối với cả các thành viên trong nhóm biên dịch,
và với tất cả các độc giả của cuốn sách này, cuộc đời của Vincent van Gogh
qua nghìn trang sách sẽ là một cơ duyên để mỗi chúng ta hiểu hơn về chính
bản thân.
–– Trần Khả Ái
“‘Anh không khinh miệt [nó],’ anh nói đầy khinh miệt, ‘nhưng nó
không đóng góp nhiều lắm cho cái đẹp đích thực.’” Đây có lẽ là cảm giác tôi
nhớ nhất về con người của Vincent, một cảm giác cực đoan theo đuổi cái
mà Vincent tin nó nên là và cũng là một cảm giác cực đoan kiếm tìm cho
được cái mà nó nên là. Điều đó có thể là bi kịch – hoặc cũng có thể là niềm
hạnh phúc tột cùng – đối với một cuộc đời bất kỳ: cố công kiếm tìm cho
bằng được hòng thỏa mãn thôi thúc duy nhất trong mình. Dù điều kiếm
tìm đến sau cuối có trở nên ý nghĩa đích thực hay hoàn toàn vô nghĩa thì,
suy cho cùng, hành trình dẫn đến kết cục mới là thứ xứng đáng để chúng
ta quan tâm đến.
Như cách tác giả dẫn dắt tôi qua từng trang sách, hành trình của
Vincent từ khi bắt đầu đến khi kết thúc trọn vẹn tựa một giấc mơ, khi tôi,
như thể, quan sát đến tận lõi những suy nghĩ thầm kín nhất của Vincent,
dẫu chỉ bằng lời kể của tác giả. Và vào một khoảnh khắc trong quá trình
biên dịch cuốn sách này, tôi nhận ra rằng Vincent van Gogh dường như là
một cái cớ, hay nói cách khác, một cái duyên để phần nào tôi hiểu được
thêm một chút về con người của chính tôi. Điều này lại không xảy ra ở
trong cuốn sách mà xảy ra ở ngay quá trình chúng tôi làm việc với nhau.
Những điểm va chạm giữa chúng tôi đều biến thành cơ hội để tôi thấu hiểu
thêm con người mình, hóa ra tôi cũng không “tử tế” như tôi thường tưởng
11
tượng. Nhưng rồi cũng nhờ vào Vincent van Gogh mà tôi hiểu rằng, con
người, dẫu là “danh họa”, cũng có khả năng sẽ không “tử tế.” Điều, có lẽ là,
tốt lành mà mình có thể làm cho chính mình, là thành thật: thành thật đến
tột cùng với con người của chính mình. Đối với tôi, đây là một “món quà”
cho riêng tôi sau biết bao “hình phạt” khi biên dịch cuốn sách này.
–– Vũ Đình Thắng
Lang thang cùng anh “trên những con đường bí ẩn tới như vậy,” suốt
ba năm, tôi mới nghiệm ra được vì sao câu Theo nói ở đầu cuốn sách:
Vincent buộc “người ta phải yêu hoặc ghét.” Còn về phần mình, sau cùng,
tôi nghĩ có lẽ là cả hai: tôi yêu anh, và cũng ghét anh ghê gớm, như lúc yêu
điên cuồng hay căm ghét chính bản thân mình vậy, và cũng bởi tôi thấy
phần nào hình bóng của mình qua hành trình cùng với anh, Vincent.
Lúc viết những dòng này cũng là lúc tôi lần giở về những trang sách đầu,
cảm xúc lần đầu vẫn còn nguyên vẹn – tôi vẫn xúc động, vẫn trào nước mắt.
Nhưng lần này, còn cảm thấy được yên ủi bớt những ngổn ngang trong lòng.
Tác phẩm của anh là gì, thì anh là như vậy. Và cuộc đời mà anh sống,
cũng như thế.
Với một cái bắt tay thật chặt.
–– Ngô Đức Trung
Khi đang loay hoay với đời sống, tôi nhận được lời mời góp sức biên
dịch cuốn sách này. Nghĩ là được khám phá những điều thú vị của một
danh họa nổi tiếng, ai ngờ đâu mỗi trang sách lại khiến tôi mỏi mệt thêm
với tay họa sĩ khù khoằm, loay hoay gấp bội và quá rách việc này. Nhưng
càng tiến sâu hơn vào những trang sau, sự bế tắc, cuồng mê, lẫn khát khao
của Vincent van Gogh được lột tả. Tôi tìm được câu trả lời vì sao những bức
tranh của Van Gogh lại có hấp lực đến thế. Những nét cọ ngắn dứt khoát.
Những vòng xoáy chuyển động dữ dội. Những mảng màu rực rỡ bao chứa.
Tất cả phóng chiếu một cách tự nhiên, bộc toát với những mã hiệu từ một
tâm hồn khác thường. Công việc biên dịch đánh vật với Vincent đã giúp tôi
ngắm nhìn một Đêm đầy sao với xúc cảm đã khác trước. Và đó cũng là cơ
duyên đẩy tôi vào hành trình khám phá bầu trời sao của chính mình.
–– Bùi Duy Trung
12
Chúng tôi gửi lời cảm ơn tới người hiệu đính của cuốn sách đã luôn
sao sát và cho chúng tôi những lời khuyên hữu ích; cảm ơn Omega Plus,
đặc biệt là ban biên tập vì đã nhẫn nại, và hỗ trợ chúng tôi một cách chuyên
nghiệp suốt quá trình dịch cuốn sách này; xin dành lời cảm ơn tới gia đình
và những người bạn của chúng tôi vì đã là chỗ dựa vững chắc và nguồn động
lực giúp chúng tôi đi hết hành trình này. Sau cùng, lời cảm ơn này dành cho
toàn bộ quý độc giả đã quan tâm và đang cầm trên tay cuốn sách này. Hi
vọng đây sẽ là một hành trình hấp dẫn với quý vị và các bạn – những người
đã, đang, và sẽ, không chỉ yêu hội họa, mà còn “quan tâm tới người tạo ra
tác phẩm,” để “tìm, và… yêu con người – nghệ sĩ” ấy.
Trân trọng!
Hà Nội, ngày 18 tháng 3 năm 2021
NHÓM DỊCH GIẢ
THƯ GỬI CHÚNG TA: NHỮNG VINCENT
VÀ THEO THỜI HIỆN ĐẠI
–– PHẠM DIỆU HƯƠNG
VINCENTWILLEMVANGOGH, sinh tháng 3 năm 1853 ở Groot-Zundert,
Hà Lan, mất tại Auvers-sur-Oise, Pháp vào tháng 7 năm 1890 nhờ một viên
đạn, vĩnh viễn tuổi 37.
Một số phận bị nguyền rủa, một kẻ điên, một họa sĩ vẽ tranh với mục
đích đầu tiên là vì tiền, và cho đến gần cuối đời khi danh tiếng bắt đầu đến,
vẫn nhất khoát chối từ và hững hờ với mọi lời tán dương, tâng bốc. Danh
tiếng đối với Vincent chỉ là một phương tiện thay cho lời xin lỗi, mỗi bài
báo ngợi khen với anh chỉ như một món quà anh dành tặng gia đình với hi
vọng làm vui lòng những người thân yêu của anh, để rồi họ sẽ tha thứ và lại
chấp nhận anh. Bởi điều anh mong cầu, trên tất thảy, là tình yêu, gia đình,
là được có người đồng hành, lắng nghe chia sẻ.
Sinh ra trong một gia đình có lịch sử khổ đau và gánh chịu hệ quả của
chiến tranh là mầm điên di truyền trải dài nhiều thế hệ, Vincent không thể
lựa chọn và không thể làm khác với bản chất cực đoan đến cuồng dại trong
mình. Anh chạm đến mọi cực điểm của con người, từ yếu đuối sụp đổ đến
kiên cường ngoan cố, đưa cảm xúc của bản thân dành cho người khác từ
mến yêu gần gũi sang thù hằn hoang tưởng, luôn khiến cho những người
xung quanh đối với anh từ thương mến, cảm thông thành kinh hãi, chối
bỏ, xa lánh. Tất cả đều bởi anh khát khao đến tuyệt vọng tình yêu thương,
xuất phát từ sự thiếu thốn ôm ấp vỗ về khi anh mới chỉ còn là một đứa trẻ.
Suốt cuộc đời, Vincent luôn hằng mơ về một thứ gì đó chỉ thuộc về
riêng mình, một gia đình, một nơi chốn, một người bạn đồng hành… và
đối tượng anh hướng tới luôn luôn cụ thể, nếu không phải là người mà
14
anh cần thì không là ai khác. Thế nhưng, Vincent van Gogh với nhu cầu
yêu, được yêu và được sẻ chia chan chứa một cách dị thường, lại phải lớn
lên trong sự kiềm hãm, trong thứ tình yêu chỉ bằng lời mà thiếu đi hơi
ấm. Sự tồn tại của anh như một đầu xung đột đối nghịch với những con
người ở thời điểm anh sống: khi anh yêu, đòi được yêu – gia đình đáp lại
anh bằng đòi hỏi về danh dự và bổn phận; khi anh muốn được rong chơi
trên bãi hoang quê nhà, được ở bên cha mẹ và các em – anh bị gửi đến
trường nội trú; người ta yêu cầu từ anh sự chậm rãi, kỹ thuật và vẽ bằng
“cái đầu” – anh thực hành hội họa ào ạt bằng cảm xúc, bằng “trái tim”;
khi mọi người chăm chăm vào các hình ảnh tôn giáo hay sự phù du của
đời sống hiện đại – anh hướng đến thiên nhiên và sự thế tục của đời sống
nhân sinh… Từ không được thỏa mãn cảm xúc dẫn đến ái kỷ, ngã mạn,
cố chấp, những điều càng ngày càng sâu sắc hơn trong anh sau mỗi lần
cố gắng vùng vẫy thoát khỏi vực sâu bất hạnh chẳng thành, Vincent van
Gogh lại càng phát tiết ra một xung lực mạnh mẽ đẩy lùi những người mà
anh khát khao được gần gũi đi thật xa khỏi anh. Cô đơn đến hết đời, chỉ
bán được một bức tranh, anh phát điên, chìm hẳn vào bóng tối, để rồi cậy
nhờ sự giải thoát từ một viên đạn.
Giờ đây, mỉa mai và trớ trêu thay, danh tiếng bậc nhất cùng lòng
ngưỡng mộ và những tôn vinh về tình yêu của anh và dành cho anh lại
thành hiện khi anh đã không còn tại thế. Nhưng liệu rằng, nếu như có
một Vincent van Gogh bằng xương thịt hiển hiện nơi đây, có thực chúng
ta sẽ không lánh xa anh (hay bị chính anh đẩy xa) bất chấp những tính
cách cực đoan, độc tôn, ngạo ngược, vị kỷ không thể lay chuyển của anh?
Mọi con đường Vincent đi, từ học việc bán tranh, truyền giáo, hay trở
thành họa sĩ, tất thảy đều là bởi nơi anh đau đáu hướng về: thời thơ ấu
ở nhà xứ Zundert; và hội họa, sau cùng, có lẽ chỉ là một cái cớ, một đối
tượng, một phương tiện thích hợp để có thể giúp anh trút bớt ẩn ức và
giải phóng bản thân.
Vậy thì hội họa sao có thể bù đắp được khoảng trống tình yêu mà
anh hằng mong mỏi, nó chỉ có thể thay mặt cho tất cả những con người
đã chối bỏ anh, trở thành một đối tượng cho Vincent trút lên những khát
khao đến tuyệt vọng, bộc lộ chúng một cách thô ráp và bộc trực nhất, cực
đoan và tuyệt vọng nhất như chính trong nghệ thuật của anh – một thứ
15
nghệ thuật “cuồng điên,” cương mãnh và hiển lộ. Và chính vì thế, có lẽ điều
cuối cùng mà Vincent van Gogh muốn vẫn luôn luôn và mãi mãi là tình
yêu, chứ chẳng hề là sự tôn vinh nghệ thuật. Bởi vậy mà, như anh tuyên bố
“tác phẩm của tôi là gì, thì tôi là như vậy,” mọi điều anh thấy-cảm, suy tư
và tin tưởng, mọi buồn-vui, tuyệt vọng hay đớn đau đều tìm được đường
lên tranh. Một Vincent sống bạo liệt ra sao, thì nghệ thuật của anh cũng
cuồng điên như vậy: những bức vẽ phong cảnh chi tiết ở mức cực điểm, rồi
các nét vẽ xộc xệch, xiêu vẹo không thể kiểm soát, cho tới lối hội họa cày đi
cày lại trên mặt tranh, sang đắp nổi, điêu khắc sơn dầu, cũng như bút pháp
cuộn-xoáy đặc trưng sau này; màu sắc, cũng thế, Vincent dùng những tổ
hợp màu bổ sung rực rỡ nhất, hay những tông đơn sắc tùy vào những rung
động (thường là cực điểm) trong cảm xúc của anh – một biểu hiện vừa bộc
lộ toàn bộ, không giấu giếm, vừa bí ẩn và sâu sắc tới tận cùng. Hội họa của
anh, qua ngòi bút cả hai tác giả, hiện lên một cách sống động, không chỉ về
kỹ thuật sử dụng màu, bút pháp hay sự đặc tả cảnh hay hình, mà đó còn
là những gì thúc đẩy anh “từ trong nội tâm” – giúp độc giả có thể quan sát
được quá trình chuyển biến đặc biệt trong tâm thức sáng tạo của anh, dõi
theo hành trình hình thành và phát triển của một cá tính nghệ thuật đặc
biệt đời thường và gần gũi.
Tạm đặt sang bên mọi lời tán tụng và ngưỡng mộ của hậu thế về cuộc
đời cực đoan phi thường, cũng như một hành trình sống trải đầy bi kịch
kinh điển của con người để rồi kết xuất thành một khối di sản nghệ thuật
đồ sộ đi kèm với danh tiếng bậc nhất của họa sĩ Vincent van Gogh, chúng ta
hãy cùng hướng về một câu hỏi đại diện cho nỗi khao khát suốt cuộc đời của
anh, câu hỏi đặc biệt dành cho những con người hiện đại, những người đã
dám nhận rằng giờ đây chúng ta đã hiểu tấm lòng anh, đã cảm nhận được
giá trị ở nghệ thuật nơi anh, đã tôn vinh anh và khẳng định về dự cảm của
anh với những bức tranh đi trước thời đại mà anh sống: sau khi đọc xong
cuốn sách này, chúng ta có sẵn lòng khẳng định sẽ vẫn yêu anh và đồng hành
mãi mãi bên anh như chính cách mà con người anh vốn là?
Trong một nỗ lực truy nguyên và giải huyền thoại hành trình sống,
sáng tạo phi thường và mâu thuẫn tới tận cùng của Vincent van Gogh, cuốn
tiểu sử Van Gogh: The Life của hai tác giả Steven Naifeh và Gregory White
Smith, dài 43 chương với cách tiếp cận đa chiều cùng một khối lượng tư liệu
16
đồ sộ và các tranh ảnh liên quan, đã đem đến nhiều ý nghĩa hơn một tiểu sử
nghệ sĩ xuất sắc thuần túy, trở thành một biên niên sử về số phận và sự đau
khổ của con người – của không chỉ riêng Vincent, mà còn tất cả các thành
viên trong gia đình Van Gogh: cha Dorus, mẹ Anna, Theo, các em gái, bác
Cent và dì Cornelia, bác Jan, cùng vô số nhân vật khác đi ngang qua đời
Vincent. Trong sự trói buộc, siết nghẹt lấy tự do, cảm xúc và ước vọng của
nhau, ai trong tấn bi kịch này cũng vừa phải vác “thánh giá” của chính mình
và vừa lại là “thánh giá” cho kẻ khác. Như mẹ Anna bao bọc tới mức tước
đoạt tự do và tạo điều kiện dung dưỡng cảm xúc tiêu cực của các con. Hay
cha Dorus bất phân giữa hai hình ảnh người cha và Đức Cha. Theo, vừa yêu
thương, trung thành nhưng cũng vừa thờ ơ, xa cách và giày vò anh trai. Còn
Vincent, vốn hay phủ định cha mẹ, lại trở thành bản sao của chính những
gì khiến anh đau đớn nhất: từ lý tưởng về bổn phận, phong cách làm việc
điên cuồng, cảm giác ám ảnh về sự chỉn chu, thái độ cưỡng ép vô lối, không
dung thứ, cho tới thói quen rao giảng, bài biện.
Dõi theo hành trình sống của Vincent, cùng mọi cực hạn của từng
chiều cảm xúc trong anh, cũng như những hành xử, phản ứng của các
nhân vật trong sách, chúng ta ít nhiều sẽ thấy có sự tương đồng đâu đó với
Vincent, Theo, hay các nhân vật khác, ở những người mà mình thân quen
hoặc chính mình. Bởi bản tính thẳm sâu nơi con người theo thời đại thực
ra cũng không có quá nhiều khác biệt. Những con người sống cùng thời với
Vincent đã không thể đáp lại niềm mong mỏi của anh, thì liệu chúng ta có
thể đáp lại được thứ tình yêu của vị kỷ đó? Nếu chúng ta gặp Vincent, liệu
chúng ta có thể kiên nhẫn ở bên anh để chỉ cho anh biết tình yêu là một thứ
phải học, phải nhu nhuyến, con người phải sửa mình và khiêm nhường để
học yêu; chứ không phải tuyên xưng, đòi hỏi, và cưỡng bách. Và nếu như
chính chúng ta cũng là một Vincent van Gogh, liệu rằng chúng ta sẽ có thể
nhìn nhận mọi thứ khác đi và không nương theo cảm xúc của mình tới mức
sa đà và vô phương cứu chữa, liệu chúng ta có chọn khác?
Nhưng số phận đã bắt Vincent phải là một con người như những
gì mà anh là, chỉ có một điều tốt đẹp duy nhất: trong hoàn cảnh nơi mọi
mầm mống bệnh hoạn được nảy mầm và phát triển đến tận cùng – một
“điều kiện” để nếm trải những đày đọa, khổ đau ghê gớm, sâu sắc và “vượt
ngưỡng” nhất (điều không phải con người bình thường nào cũng có khả
17
năng hoặc có cơ hội để thực sự chạm tới) – Vincent đã chạm đến tận cùng
sự thăng hoa, và cũng là tận cùng của sự điên loạn.
Vincent van Gogh là đại diện cho một “sự nghịch pha,” tất cả những
thứ tiêu cực nhất trong con người Vincent cộng hưởng, tập trung lại để trở
thành một sự tốt, một điều lớn lao, và phát lộ ra một thiên tài.
Là một “thiên tài” với hậu thế, cũng là một “thiên tai” suốt đời với gia
đình, bè bạn, và những người sống quanh anh, quá trình biên dịch lại cuốn
tiểu sử của Vincent Van Gogh cũng trắc trở và lắm tai ương như chính cuộc
đời anh vậy. Những khó khăn để dung hòa một cuộc đời bất kham, giọng
văn của hai tác giả, giọng dịch của mỗi dịch giả để hoàn chỉnh cuốn sách,
đặc biệt là cả những thiên tai chung của thế giới, “thiên tai” riêng từ sức
khỏe đến tâm lý của nhóm dịch giả, biên tập đổ xuống trong suốt 3 năm làm
sách, đến khi… Van Gogh đã không chỉ là một họa sĩ vĩ đại nữa. Từng trải
nghiệm cảm xúc, nỗi đau đớn, những chuyến du hành vào tận cùng nỗi cô
độc, những cuộc vẽ đầy thăng hoa của anh đã hòa vào thế giới tinh thần của
mỗi người tham gia thực hiện cuốn sách này. Đó, là một hành trình đặc biệt.
Biết về cuộc đời của Vincent giúp ta có thể đồng cảm trước vô vàn những
mâu thuẫn, cả khách quan lẫn nội tại bùng nổ từng ngày, từng giờ thậm chí
từng khắc trôi qua trong đời anh.
Cuốn tiểu sử do hai tác giả Steven Naifeh và Gregory White Smith chấp
bút là một tác phẩm công phu, phản ánh mọi sắc thái, biến chuyển, rối ren
trong đời sống nội tâm và thế tục của Vincent van Gogh, văn phong truyền
tải phong nhiêu mà hàm súc, với dung lượng đồ sộ, hẳn sẽ không dễ đọc và
tốn không ít thời gian. Nhóm dịch giả cũng đã hết sức nỗ lực để trung thành
với nguyên gốc dù bản dịch có thể không quá xuất sắc và giữ gìn được trọn
vẹn tinh hoa của cuốn sách gốc, và cố nhiên, sẽ còn những điểm chưa thấu
đáo, còn thiếu sót, như chính bản thân đội ngũ biên dịch hẵng còn phân
vân và trăn trở. Tuy vậy, mọi thứ đều cần phải có một điểm kết, và dù cuốn
sách không thể hoàn thiện toàn hảo ngay, nhưng hi vọng theo thời gian, nhờ
những đóng góp bổ sung của quý độc giả, kết hợp cùng sự chỉnh sửa, hoàn
thiện của đội ngũ dịch giả-hiệu đính-biên tập trong tương lai, cuốn sách này
có thể được tốt hơn, hoàn chỉnh hơn trong mỗi lần tái bản.
Ở góc độ cá nhân, việc hiệu đính bản dịch cuốn sách đã cho tôi thêm
cơ hội trải nghiệm những nỗ lực – hiệp lực công phu, vượt khó của tác
18
giả – dịch giả – biên tập – hiệu đính, để rồi khi đặt mình ở cương vị là
người đọc, có thể đồng cảm được và bao dung hơn, nỗ lực nhân văn hơn
với bất kỳ ai cùng trên hành trình đang dịch, biên tập những cuốn sách,
những cuộc đời. Xin cảm ơn tất cả bạn đọc sẽ tham gia cuộc hành trình
37 năm của Van Gogh trong cuốn sách này cùng chúng tôi, rất mong qua
đó chúng ta sẽ cảm thông cho nhau, trân trọng cuộc đời và thêm yêu mình
yêu người. Chúng ta, dù có là thiên tài hay “thiên tai”, cuối cùng cũng chỉ
để yêu thương được ai đó và có được ai đó yêu thương mình như mình và
họ là. Đúng như Vincent Van Gogh đã dành trọn vẹn con người anh để
nói-vẽ với chúng ta vậy.
Nơi bầu trời sao ấy, chúc anh đã tìm thấy một vì tinh tú của riêng cho
mình. Một cái ôm thật chặt, người anh em họa sĩ đồng nghiệp mãi mãi
cùng tuổi 37 thương mến!
Hà Nội, 30 tháng 3 năm 2021
DANH SÁCH HÌNH ẢNH MINH HỌA
Trang 336 Anthon van Rappard, Đầm lầy Passievaart gần Seppe
5 John Peter Russell, Chân dung Vincent van Gogh, năm (Phong cảnh gần Seppe), tháng 6 năm 1881
1886 338 Đầm lầy với Hoa súng, tháng 6 năm 1881
27 Những chân dung tự họa, năm 1887 341 Kee Vos-Stricker và con trai Jan, khoảng (k.) năm
30 Khu vườn Nhà tắm, tháng 8 năm 1888
1881
34 Vincent van Gogh, 13 tuổi 345 Những cối xay gió gần Dordrecht, tháng 8 năm 1881
359 Con lừa và Xe kéo, tháng 10 năm 1881
36 Anna Carbentus
363 Anton Mauve, năm 1878
49 Quảng trường Markt tại Zundert 376 Con phố bị đào xới cùng những Người thợ đào, tháng
52 Các em trai và em gái của Vincent: Anna, Theo, Lies, 4 năm 1882
Cor, và Wil 390 Người phụ nữ ngồi trên một cái Giỏ gục đầu vào tay,
69 Chuồng gia súc và Nhà người nông dân, tháng 2 năm tháng 3 năm 1883
1864 395 Nỗi buồn, tháng 4 năm 1882
412 Sân thợ mộc và Hiệu giặt, tháng 5 năm 1882
76 Theo van Gogh, 13 tuổi 419 Chiếc nôi, tháng 7 năm 1882
436 Luke Fildes, Những người xin Vé vào cửa một Viện
87 Vincent van Gogh trên bậc thềm Trường Tilburg
tế bần, năm 1874
90 Theodorus (Dorus) van Gogh 441 Hubert von Herkomer, Buổi họp mặt Cuối cùng:
96 Bác Cent van Gogh ngày Chủ Nhật ở Viện tế bần Chelsea (chi tiết), năm
1871
103 Nhà thờ Zundert 444 Ông già và Cây gậy, tháng 9 – tháng 11 năm 1882,
và Ông già mặc Áo đuôi tôm, tháng 9 – tháng 10 năm
115 H. G. Tersteeg 1882
448 Kiệt lực, tháng 11 năm 1882
121 Phòng trưng bày tại Goupil, The Hague 450 Các nữ thợ mỏ, tháng 11 năm 1882
460 Phát chẩn xúp ở một Bếp xúp công, tháng 3 năm
143 Ursula và Eugenie Loyer 1883
184 Nhà cha sở và Nhà thờ tại Etten, tháng 4 năm 1876 474 Đường mòn tới Bờ biển, tháng 7 năm 1883
198 Ary Scheffer, Chúa, Người an ủi , 1836–1837 496 Phong cảnh với những Thân cây sồi vùng Đầm lầy,
200 Nhà thờ tại Petersham và Turnham Green, tháng 11 tháng 10 năm 1883
508 Phong cảnh Drenthe, tháng 9 – tháng 10 năm 1883
năm 1876 508 Người đàn ông Kéo Bừa, tháng 10 năm 1883
515 Jean-Léon Gérôme, Người tù, năm 1861
216 Scheffersplein, Khu buôn bán tại Dordrecht
518 Nhà xứ ở Nuenen
243 Thiếu tướng Hải quân Johannes van Gogh (Bác 526 Thợ dệt, năm 1884
Jan) 535 Chim bói cá, tháng 3 năm 1883
536 Những cây phong bị xén ngọn, tháng 3 năm 1883
262 Hang Machpelah, tháng 5 năm 1877
279 Quán cà phê “Au Charbonnage”, tháng 11 năm 1878
283 Mỏ Than Marcasse, Hầm #7
313 Những người Thợ mỏ đi trong Tuyết lúc Rạng đông,
tháng 8 năm 1880
318 Vincent van Gogh, 18 tuổi
323 Anthon Ridder van Rappard
332 Người gieo giống (phỏng theo Millet), tháng 4 năm 1881
20
557 Margot Begemann 863 Chân dung Bưu tá Joseph Roulin, tháng 8 năm 1888
589 Jozef Israëls, Gia đình nông dân bên Bàn ăn, năm 1882 890 Vườn hoa công cộng và Hàng rào, tháng 4 năm 1888
592 Đầu một Người phụ nữ, 1884 – 1885 892 Chân dung Milliet, Phó Trung úy của quân đoàn
610 Những người ăn khoai tây, tháng 4 năm 1885
613 Léon Lhermitte, Thu hoạch, năm 1883 Zouaves, tháng 9 năm 1888
618 Đầu một Người phụ nữ, tháng 3 năm 1885
913 Paul Gauguin, năm 1891
629 Bảo tàng Rijksmuseum, Amsterdam, chụp ít lâu sau
khi hoàn thành năm 1885 928 Nghĩa trang Alyscamps, Arles
932 Paul Gauguin, Quý bà Ginoux (Vẽ nghiên cứu cho
644 Tháp Nhà thờ Cổ ở Nuenen, tháng 6 – tháng 7 năm
1885 bức “Cà phê Đêm”), năm 1888
949 Bé Marcelle Roulin, tháng 12 năm 1888
645 Tĩnh vật Kinh Thánh, tháng 10 năm 1885 952 Luke Fildes, Chiếc ghế trống (“Đồi Gad, ngày 9 tháng
653 Cặp đôi đang khiêu vũ, tháng 12 năm 1885
6 năm 1870”), năm 1870
669 Phòng thạch cao ở Học viện Antwerp 956 Paul Gauguin, Vincent van Gogh vẽ Hoa hướng
674 Nữ khỏa thân đứng (Nhìn từ mặt bên), tháng 1 năm
dương, tháng 11 năm 1888
1886 999 Chân dung Bác sĩ Félix Rey, tháng 1 năm 1889
679 Đầu của một Bộ xương với Điếu thuốc đang cháy, 1001 Chân dung tự họa với Băng tai, tháng 1 năm 1889
1003 Meijer de Haan, Ký họa Theo van Gogh, năm 1888
tháng 1 – tháng 2 năm 1886
685 Chân dung tự họa với Mũ rơm, năm 1887 1018 Phòng cách ly, Bệnh viện Arles
700 Chân dung tự họa, năm 1887; Chân dung tự họa với 1029 Khoảng sân trong tại Bệnh viện vùng Arles, tháng
Mũ phớt xám, 1886 – 1887; và Chân dung tự họa với 4 năm 1889
Mũ rơm, năm 1887 1032 Khám đường trong Bệnh viện vùng Arles, tháng 4
706 Xưởng dạy của Fernand Cormon (khoảng năm năm 1889
1885)
1039 Nhà thương điên Saint-Paul-de-Mausole, Saint-
709 John Peter Russell, Chân dung Vincent van Gogh, Rémy
năm 1886
1043 Bồn tắm, nhà thương điên Saint-Paul-de-Mausole
717 Jean-Baptiste Corot, Agostina, năm 1866 1055 Phong cảnh những cây Ô-liu trên Núi, tháng 6 năm
730 Johanna Bonger, năm 1888 1889
750 Lucien Pissarro, Vincent và Theo van Gogh, năm 1887 1060 Những cây bách, tháng 6 năm 1889
761 Henri de Toulouse-Lautrec, Chân dung Émile 1062 Đêm đầy sao, tháng 6 năm 1889
Bernard, năm 1886 1087 Adrien Lavielle phỏng theo Jean-François Millet,
763 Henri de Toulouse-Lautrec, Chân dung Vincent van Giấc ngủ trưa, năm 1873
Gogh, năm 1887 1095 Rừng Ô-liu, tháng 6 năm 1889
773 Hình đồ lại từ bìa của tạp chí Paris Illustré, tháng 1104 Khu vườn của Nhà thương điên Saint-Paul-de-
7 – tháng 12 năm 1887 và Kỹ nữ: Phỏng theo Eisen, Mausole, tháng 11 năm 1889
tháng 10 – tháng 11 năm 1887
797 Đường đến Tarascon, tháng 7 năm 1888 1106 Jo và con trai Vincent, năm 1890
801 Cây cầu gập và Quý cô cầm dù, tháng 5 năm 1888
1154 Bác sĩ Paul Gachet
809 Nhà Vàng, Arles 1162 Marguerite Gachet bên cây Dương cầm, tháng 6
810 Quảng trường Lamartine, Arles năm 1890
822 Đường ở Saintes-Maries, tháng 6 năm 1888
832 Phong cảnh ở gần Montmajour và Xe lửa, tháng 7 1163 Gia đình Ravoux trước Quán trọ Ravoux
1176 Hình đầu một Chàng trai đội Mũ rộng vành (có thể
năm 1888
836 Người lính Zouave ngồi, tháng 6 năm 1888 là René Secrétan), tháng 6 – tháng 7 năm 1890
841 Thu hoạch Lúa mì ở Arles, năm 1888 1185 Những rễ cây, tháng 7 năm 1890
850 Người gieo giống và Mặt Trời buổi chiều tà, tháng 8 1186 Khu vườn của Daubigny, tháng 7 năm 1890
năm 1888 1197 Phòng ngủ của Vincent ở Quán trọ Ravoux
1205 Theo van Gogh, năm 1890
1212 Mộ của Vincent và Theo van Gogh, tại Auvers
21
PHỤ LỤC TRANH IN MÀU PHẦN 2
Nhà Vàng (“Con phố”), tháng 9 năm 1888
PHẦN 1 Đêm đầy sao trên dòng sông Rhône, tháng 9 năm 1888
Cảnh biển ở Scheveningen, tháng 8 năm 1882 Chân dung tự họa (dành tặng Paul Gauguin), tháng 9
Hai người phụ nữ trên Cánh đồng hoang, tháng 10
năm 1888
năm 1883 Chân dung Mẹ của họa sĩ, tháng 10 năm 1888
Đầu một Người phụ nữ, tháng 3 năm 1885 Vườn công cộng với Cặp đôi và cây Linh sam màu lam:
Những người ăn khoai tây, tháng 4 – tháng 5 năm 1885
Tháp Nhà thờ Cổ ở Nuenen (“Nhà thờ của những người Khu vườn của Nhà thơ III, tháng 10 năm 1888
Xe ngựa ở Tarascon, tháng 10 năm 1888
nông dân”), tháng 5 – tháng 6 năm 1885 Phụ nữ Arles: Bà Ginoux với Sách, tháng 11 năm 1888
Giỏ khoai tây, tháng 9 năm 1885
Tĩnh vật Kinh Thánh, tháng 11 năm 1885 (hoặc tháng 5 năm 1889)
Một đôi giày, đầu năm 1887 Bà Roulin đưa nôi (Khúc hát ru), tháng 1 năm 1889
Tượng Vệ Nữ bán thân, tháng 6 năm 1886 Ghế và Tẩu của Vincent, tháng 12 năm 1888
Ở Quán cà phê: Agostina Segatori ở quán Le Tambourin, Ghế của Gauguin, tháng 12 năm 1888
Chân dung tự họa với Băng tai và Tẩu thuốc, tháng 1
tháng 1 – tháng 3 năm 1887
Bình nước và Đĩa cùng hoa quả họ cam chanh, giai đoạn năm 1889
Tĩnh vật: Bình và mười lăm đóa Hướng dương, tháng 8
tháng 2 – tháng 3 năm 1887
Quang cảnh từ Căn hộ của Theo, tháng 3 – tháng 4 năm 1887 năm 1888
Những vườn rau ở Montmartre: Đồi Montmartre, tháng Hoa diên vĩ, tháng 5 năm 1889
Đêm đầy sao, tháng 6 năm 1889
6 – tháng 7 năm 1887 Những cây bách, năm 1889
Nội thất của một Nhà hàng, tháng 6 – tháng 7 năm 1887 Thân gỗ và Thường xuân (Bụi tầng thấp), tháng 7 năm
Hoa bối mẫu trong Lọ đồng, tháng 4 – tháng 5 năm 1887
Chân dung tự họa, mùa xuân năm 1887 1889
Cánh đồng lúa mì và Chim chiền chiện, tháng 6 – tháng Chân dung tự họa, tháng 9 năm 1889
Phòng ngủ, đầu tháng 9 năm 1889
7 năm 1887 Người gieo giống, tháng 11 năm 1888
Chân dung tự họa với Mũ rơm, tháng 8 – tháng 9 năm Cánh đồng lúa mì và Người thợ gặt, đầu tháng 9 năm 1889
Chân dung Trabuc, một Người phục vụ ở Bệnh viện Saint-
1887
Cây mận nở hoa: phỏng theo Hiroshige, tháng 10 – tháng Paul, tháng 9 năm 1889
Cây cối ở Vườn bệnh viện Saint-Paul, tháng 10 năm 1889
11 năm 1887 Hái Ô-liu, tháng 12 năm 1889
Chân dung Père Tanguy, năm 1887 Trưa: Nghỉ ngơi (phỏng theo Millet), tháng 1 năm 1890
Chân dung tự họa với tư cách một Họa sĩ, tháng 12 năm Hẻm núi Les Peiroulets, tháng 10 năm 1889
Hoa hạnh đào, tháng 2 năm 1890
1887 – tháng 2 năm 1888 Hoa diên vĩ, tháng 5 năm 1890
Cây đào hồng ra hoa (Nhớ về Mauve), tháng 3 năm 1888 Nhà thờ ở Auvers, tháng 6 năm 1890
Cầu Langlois ở Arles cùng những Người phụ nữ giặt đồ, Chân dung Bác sĩ Gachet, tháng 6 năm 1890
Khu vườn của Daubigny, tháng 7 năm 1890
tháng 3 năm 1888 Những rễ cây, tháng 7 năm 1890
Vụ gặt, tháng 6 năm 1888 Cánh đồng lúa mì cùng bầy Quạ, tháng 7 năm 1890
Những con tàu cá trên Bờ biển Saintes Maries-de-la-Mer,
cuối tháng 6 năm 1888
Người lính Zouave, tháng 6 năm 1888
Cô gái Nhật, dáng ngồi, tháng 7 năm 1888
Chân dung Bưu tá Joseph Roulin, đầu tháng 8 năm 1888
Chân dung Patience Escalier, tháng 8 năm 1888
Tĩnh vật: Lọ hoa trúc đào và Sách, tháng 8 năm 1888
Sân hiên Quán cà phê ở Quảng trường Công cộng, Arles,
ban đêm, tháng 9 năm 1888
Quán cà phê Đêm tại Quảng trường Lamartine ở Arles,
tháng 9 năm 1888
CÂY PHẢ HỆ DÒNG HỌ VAN GOGH–CARBENTUS
Jan van Gogh Hendrik (Hein) Vincent van Gogh
c.1530/1540–? 1814–1877
Gerrit van Gogh Johannes (Jan) van Gogh Sr.
c.1590/1600–1648 1817–1885
Vincent van Gogh Gerrit van Gogh Wilhelmina (Elize) Bruins
1634–? 1636/39–1714 1819–1864
Vincent van Gogh Willem Daniel van Gogh
1674–1746 1818–1872
David van Gogh Magdalena Susanna van Stockum
1697–1740 1828–1904
Vincent van Gogh Jan van Gogh Vincent (Cent) van Gogh
(sculptor) 1722–1784 1820–1888
1720–1802
Cornelia (Cornelie) Carbentus
Johannes van Gogh 1829–1913
1763–1840
Cornelis (Cor) Marinus van Gogh
Vincent van Gogh 1824–1908
1789–1874
Maria (Mietje) Johanna van Gogh
Elizabeth Huberta 1831–1911
Vrijdag
Theodorus (Dorus) van Gogh
1790-1857 1822–1885
Gerrit Carbentus Anna Cornelia Carbentus
1697–1756 1819–1907
Hermanus Carbentus Willemina (Mina) Catharina
1732–1800 Gerardina Carbentus
1816–1904
Gerrit Carbentus
1761–1797 Johannes Paulus Stricker
1816–1886
Willem Carbentus
1792–1845 Clara Adriana Carbentus
1817–1866
Anna Cornelia van
der Gaag Arie Carbentus
1792–1855 1826–1875
Sophie (Fie) Cornelia Elisabeth
van Bemmel 1828–1897
Johannus (Jan) Rutgerus Carbentus
1827–1875
Cornelia (Cornelie) Carbentus
1829–1913
Vincent (Cent) van Gogh
1820–1888
Hendrik Jacob Eerligh van Gogh Vincent
1853–1886 Willem van
Gogh
Johannes van Gogh Jr. 1890–1978
1854–1913
Johannes
Vincent van Gogh (Jan)
1852–1852 Paulus Vos
1873–1928
Vincent Willem van Gogh
1853–1890
Anna Cornelia van Gogh
1855–1930
Joan Marius van Houten
1850–1945
Theo van Gogh
1857–1891
Johanna (Jo) Gezina Bonger
1862–1925
Elisabeth (Lies) Huberta van Gogh
1859-1936
Jean Philippe Theodore du Quesne
van Bruchem
1840–1921
Willemina (Wil) Jacoba van Gogh
1862–1941
Cornelis (Cor) Vincent van Gogh
1867–1900
Cornelia Adriana Stricker (“Kee Vos”)
1846–1918
Christoffel Martinus Vos
1841–1878
Ariëtte (Jet) Sophia Jeanette Carbentus
1856–1894
Anton Mauve
1838–1888
Miền Bắc châu Âu trong khoảng
thời gian dịch chuyển của Van Gogh
1853–1890
Biển Bắc
Welwyn
PeTtuerrnGshhraaemmen
London
Isleworth Richmond
Đồi Box Hill Ramsgate
ANH Dover
Southampton Brighton Eo biển Dover
Calais
Lille
Courrières
Lens
Eo biển Anh
PHÁP Sông Oise
Sông Seine Paris
0 dặm 50 Rừng
0 km 50 Fontainebleau
Groningen
Haarlem HooVgeeDveZRnewEeoNneoeTrldHooEAmsNteireduawm-
Vịnh Zuiderzee
Amsterdam
Leiden HÀ LAN
Scheveningen
The Hague
Rotterdam
Dordrecht Hertogenbosch
BẮC BRABANT
Breda
Eindhoven
Scheldt AntwNeArMpBRABANT ĐỨC
sông
Brussels
Tournai BỈ
BORINAGE
Mons Charleroi
BẢN ĐỒ RỜI Ở TRANG SAU
Khu vực Parissông Oise
Chaponval Auvers-sur-Oisesông Seine
Pontoise
Sông Seine
Argenteuil
Asnières
đảo La Grand Jatte Montmartre
Passy Paris
Brabant Dordrecht
và Borinage
Hertogenbosch
HÀ LAN
Zevenbergen Đ Ứ C Helvoirt
Princenhage
EZtutenndert Breda Tilburg
Nuenen
Eindhoven
Pontoise
N A MBR
Antwerp Gheel A B A N T
Mechelen
Sông Scheldt Brussels
BỈ
Tournai
BORINAGE
Wasmes/ Mons Charleroi
Petit Wasmes FrCaumeesrmieess
0 dặm 20
PHÁP 0 km 20
LANGUEDOC Miền Nam nước Pháp
Avignon
Nîmes Tarascon
Saint-Rémy
Fontvieille dãy Alpilles P E
Arles Montmajour
Montpellier R O V E N C
Camargue Aix-en-Provence
Saintes- Marseille Cassis
Maries
0 dặm 40
0 km 40
Self-cPhoìrvtràaimtNsự,hpcữetnnrgêcncihlgâiaấnnyd,du18ni8gn7t,kự12oh1ọn/8a×p(9aS5pe/8elfir-nP,.o1[83rt80r7,a7,i1t×2s21)/,48,x5 c9m5/8]in.
Lời nói đầu
TRÁI TIM CUỒNG MÊ
T H E O Đ Ã H Ì N H D U N G T Ớ I Đ I Ề U T Ồ I T Ệ N H Ấ T. Vincent “tự
làm mình bị thương,” tin nhắn chỉ vỏn vẹn có thế. Tâm trí ngược xuôi,
Theo hối hả tới nhà ga bắt đầu đi Auvers. Lần gần nhất cậu nhận tin thảm
khốc kiểu này là từ Paul Gauguin, khi anh ta đánh điện thông báo rằng
Vincent “ốm nặng.” [Khi đó] Theo tới Arles, một thành phố phía nam
[nước Pháp] để rồi thấy anh trai đang nằm trong phòng theo dõi của bệnh
viện, đầu quấn băng còn tâm trí hoàn toàn trống rỗng.
Cuối chặng tàu này, liệu Theo sẽ còn thấy điều gì?
Vào những lúc như bây giờ – và đã nhiều lần như vậy – ký ức của Theo
lại thơ thẩn tìm về một Vincent khác mà cậu từng biết: một người anh trai
đầy đam mê và hiếu động, người có những trò đùa náo nhiệt, lòng đồng
cảm vô hạn, và luôn khiến cậu ngạc nhiên không dứt. Trong những ngày
ấu thơ rong ruổi trên những cánh đồng hay những khu rừng quanh thị trấn
Zundert tại Hà Lan – nơi chôn rau cắt rốn của hai anh em – Vincent đã khai
mở cho Theo chiêm ngưỡng sự huyền bí và vẻ đẹp của thiên nhiên. Mùa
đông, Vincent dạy Theo trượt băng và lái xe trượt tuyết. Mùa hè, Vincent
bày cho em trai xây lâu đài trên những con đường cát trắng. Mỗi Chủ Nhật
tại nhà thờ, hay bên cây đàn piano trong phòng khách, Vincent lại cất lên
giọng hát trong trẻo, tự tin. Hai anh em ở chung trên căn phòng gác mái, và
Vincent trò chuyện tới tận khuya, khơi gợi nơi em trai một tình cảm gắn bó
mà những chị em khác gọi là sự “tôn sùng,” nhưng Theo, mãi nhiều thập kỷ
sau, vẫn tự hào nhận thừa rằng đó là sự “kính yêu.”
Vincent đó mới là người mà Theo cùng lớn lên: một người dẫn đường
liều lĩnh, người truyền cảm hứng và kẻ rầy la, người đam mê kiến thức bách
khoa, một nhà phê bình kỳ khôi, một người bạn đồng hành vui nhộn, một
Van Gogh 29
đôi mắt nhìn xuyên thấu. Làm thế nào, làm thế nào mà Vincent đó, Vincent
của cậu, lại thành ra một tâm hồn tan nát thế này?
Theo nghĩ mình biết câu trả lời: Vincent là nạn nhân của chính trái
tim cuồng mê nơi anh. “Có thứ gì đó trong cách anh ấy nói khiến người ta
phải yêu hoặc ghét,” Theo cố gắng tự lý giải. “Anh ấy không dung thứ cho
bất cứ điều gì và cho bất cứ ai.” Khi những cuồng điên bất kham của tuổi trẻ
nguội lạnh dần nơi kẻ khác, Vincent vẫn trung thành với những nguyên tắc
nghiệt ngã đó. Những cơn cảm xúc mãnh liệt, không nguôi cứ thế quét qua
đời anh. “Anh là một kẻ cuồng mê!” Vincent tuyên bố vào năm 1881. “Anh
cảm thấy trong anh có một sức mạnh… một ngọn lửa mà có thể anh không
thể dập tắt, và phải giữ nó bùng cháy.” Dù khi bắt bọ cánh cứng trên những
bờ lạch tại Zundert, khi sưu tập và biên mục tranh in, rồi khi giảng Tin
Mừng, khi say sưa ngốn ngấu [các tác phẩm của] Shakespeare hoặc Balzac
tới phát sốt, hay khi nghiên cứu những tương tác của màu sắc, Vincent luôn
làm mọi thứ trong tâm thế gấp gáp, mù quáng và nhất khoát của một đứa
trẻ. Ngay cả đọc báo, anh cũng đọc “trong cuồng nhiệt.”
Những cơn bão nhiệt huyết này đã biến đổi một cậu bé có tính cách
dữ dội tới mức khó giải thích thành một tâm hồn ngang bướng và thương
tật: một kẻ xa lạ giữa cuộc đời, một kẻ lưu vong giữa gia đình, một kẻ thù
của chính mình. Không ai rõ hơn Theo – người dõi theo con đường đau
khổ của anh trai qua gần 1.000 lá thư – về những đòi hỏi không khoan
nhượng mà Vincent tự đặt cho bản thân, và cho người khác, cũng như
những hậu quả bất tận mà anh phải gánh chịu. Không ai rõ hơn [cậu] về cái
giá mà Vincent phải trả, trong cô đơn và thất vọng, cho những cuộc công
kích tự-đánh-bại-bản-thân, không thỏa hiệp với cuộc đời; và cũng không ai
rõ hơn [cậu] rằng những lời cảnh báo là vô hiệu. “Anh rất cáu khi người ta
cứ cố khuyên rằng ra biển là nguy hiểm,” Vincent nói trong một lần Theo cố
gắng can thiệp. “Sự an toàn nằm ở ngay trái tim của hiểm nguy.”
Có gì ngạc nhiên khi một trái tim cuồng mê sáng tạo ra một dạng nghệ
thuật cũng cuồng mê như thế? Theo từng được nghe nhiều lời thì thầm,
đồn đại về anh mình – “C’est un fou (Đó là một gã điên),” họ nói. Ngay
trước những sự kiện xảy ra hồi 18 tháng trước tại Arles, trước cả những lần
vào ra bệnh viện và nhà thương điên, người ta cũng chối bỏ nghệ thuật của
Vincent vì cho rằng đó chỉ là tác phẩm của một kẻ mất trí. Một nhà phê
bình từng miêu tả những hình thù méo mó và màu sắc gây sốc của Vincent
30 Steven Naifeh và Gregory White Smith
là “sản phẩm của một tâm trí bệnh hoạn.” Chính Theo cũng mất nhiều năm
nỗ lực nhằm chế ngự sự thái quá trong những nét cọ của anh trai, nhưng bất
thành. Giá như anh ấy dùng ít sơn đi một chút – đừng trát dày như thế. Giá
như anh ấy vẽ chậm lại một chút – đừng cho ra đờiAliềFnanmatiộc tHleúarct quá 5nhiều
tác phẩm như thế. (“Chỉ là đôi khi anh vẽ cực kỳ nhanh,” Vincent phản
bháếct .lầ“sesnThhvaoonhnwràếtgyicectalsũiđrecelnếafelngrmmallosầàirsnaessisaopkpniahei,àncáa?ttcaefAcorr.urnằNalanhyorgwilkynhchttoeáhôrcamennndagiighndatàhVtzhiiểsnneưecđsuehiừlnlenutteầ’sgrsmtnrvđaoutưlmmicoợabnunce,ối.rca”n,on)dfdTsei,ựmfihfianatenỉgaotelmltsyđe,tmỉãhavapnbàtelórcahaoizmoinđntàegiinnnlnyt- tóhiilệạni
chứ kuheôdntogppohurảifonrthhữfrnogmthhisửrnaggghediệemxisbteấntcteậenve,ncausồtnhgeynpộile,dvuàph, hỗanrdlloyạsneen–, tinhứ mà
Vincetnhet cvloẫsnetgs,ọaittliàcs“, nanhdữsnpgarbeứrcootmrasnohf fnamgậilpy,tfrriàenndhs,ộainhdọcar.e”ditors.
Khu vườn Nhà tắmGa(rGdeanrodfeanBoatfhahoBusae,thpehnocuislea),nbdútinckhìovnà mpaựpcert,rên giấy, tháng 8
năm A18u8g8u, s2t3⅞188×81,92¼37/i8nx. [16901/4×i4n9. cm]
Only by tracing this temperament and the trail of tears it left, Theo believed,
could anyone truly understand his brother’s stubbornly inner-driven art. This
Van Gogh 31
Theo mỗi nhịp lắc của con tàu đang tới hiện trường thảm họa, bao
lời khinh miệt và chế nhạo theo năm tháng như dội về trong tâm trí Theo.
Trong một thời gian dài, bởi thể diện gia đình hoặc tình cảm anh em, Theo
đã chống lại những cáo buộc về chứng điên. Vincent chỉ đơn thuần là “một
người khác thường” – như Don Quixote đấu thương với cối xay gió, một gã
lập dị cao quý thì còn được, chứ không phải một kẻ điên. Nhưng rồi chuyện
xảy ra ở Arles đã thay đổi tất cả. “Nhiều họa sĩ phát điên, nhưng đó cũng
chính là lúc họ bắt đầu tạo ra thứ nghệ thuật đích thực,” sau này Theo viết.
“Thiên tài rong ruổi trên những con đường bí ẩn tới như vậy.”
Và không ai từng lang thang trên một con đường bí ẩn hơn Vincent:
một khởi đầu ngắn ngủi và thất bại khi làm một nhân viên môi giới nghệ
thuật, một nỗ lực sai lầm để trở thành giáo sĩ, một sứ mệnh truyền giáo
không đi tới đâu, một lần tạt ngang vào công việc minh họa tạp chí, và
cuối cùng, một sự nghiệp họa sĩ vụt cháy ngắn ngủi. Không ở đâu mà tính
khí nóng nảy và ngang ngạnh của Vincent lại lộ ra rõ hơn ở số lượng tranh
cứ tiếp tục tuôn ra, bất chấp sự tồn tại rách nát của chủ nhân, ngay cả khi
chúng chất đống, vứt xó chẳng ai đoái hoài trong tủ quần áo, gác xép và
những căn phòng trống của gia đình, bạn bè và chủ nợ.
Theo tin rằng chỉ bằng cách lần theo tính khí đó cũng như những giọt
nước mắt còn đọng lại, người ta mới có thể thực sự hiểu được thứ nghệ
thuật ngoan cố đến từ tâm can của anh trai mình. Đó cũng là câu trả lời
của Theo cho tất cả những kẻ đã bài bác những bức tranh – hay những bức
thư của Vincent – là những biểu hiện huênh hoang của một kẻ thảm bại,
như hầu hết họ vẫn làm vậy. Chỉ khi hiểu Vincent “từ nội tâm,” Theo nhấn
mạnh, thì người ta mới có thể hi vọng thấy được nghệ thuật của Vincent
theo cách mà anh ấy nhìn, cảm thụ nó theo cách mà anh ấy cảm. Chỉ vài
tháng trước chuyến tàu định mệnh này, Theo đã gửi lời cảm ơn tới nhà phê
bình đầu tiên dám khen ngợi tác phẩm của anh trai: “Cậu đã hiểu những
bức tranh này, và nhờ vậy cậu đã nhìn thấy rất rõ con người ấy.”
Giống như Theo, thế giới nghệ thuật vào thế kỷ 19 rất coi trọng vai
trò của tiểu sử trong nghệ thuật. Émile Zola là người mở đường với lời kêu
gọi cho một thứ nghệ thuật “của máu và thịt,” nơi mà tranh và họa sĩ hợp
nhất. “Điều mà tôi tìm kiếm trước bất cứ điều gì khác trong một bức tranh,”
Zola viết, “là con người.” Không ai tin vào tầm quan trọng của tiểu sử một
cách nhiệt thành hơn Vincent van Gogh. “[Zola] phát biểu rất hay về nghệ
32 Steven Naifeh và Gregory White Smith
thuật,” Vincent viết vào năm 1885: “‘Trong mỗi bức tranh (một tác phẩm
nghệ thuật), cái tôi tìm, và tôi yêu là con người – là nghệ sĩ.’” Không ai hào
hứng với việc thu thập tiểu sử của nghệ sĩ hơn Vincent, tất cả mọi thứ từ các
bản thảo nhiều tập tới những “truyền thuyết” hay “chuyện phiếm” và các
mẩu tin đồn. Thấm nhuần tư tưởng của Zola, Vincent tìm kiếm trong mỗi
bức tranh các dấu hiệu cho thấy “kiểu người nào đứng sau mỗi tấm toan.”
Năm 1881, vào buổi đầu của sự nghiệp họa sĩ, Vincent nói với một người
bạn: “Nói chung, và đặc biệt hơn đối với các nghệ sĩ, tôi quan tâm tới người
tạo ra tác phẩm cũng nhiều như bản thân tác phẩm đó.”
Với Vincent, nghệ thuật là thứ ghi lại cuộc đời của anh, chân thật hơn,
tiết lộ nhiều hơn (“rất sâu, sâu tới khôn cùng”), thậm chí hơn cả những lá
thư dồn dập gửi kèm. Mỗi khi “tĩnh tại và hạnh phúc,” cũng như mỗi cơn
run rẩy vì đau đớn và tuyệt vọng, anh tin rằng chúng đều tìm đường lên
tranh; mọi đau buồn đều thành hình tượng tan nát tâm can; mỗi bức tranh
đều trở thành tự-họa. “Tôi muốn vẽ những gì tôi cảm,” anh từng nói, “và
cảm những gì tôi vẽ.”
Niềm tin này đã dẫn lối Vincent tới tận lúc chết – chỉ vài giờ sau khi
Theo tới Auvers. Không ai có thể thực sự nhìn thấu những bức tranh của
Vincent nếu như không biết câu chuyện của anh. “Tác phẩm của tôi là gì,”
anh tuyên bố, “thì tôi là như vậy.”
PHẦN I
NHỮNG NĂM ĐẦU ĐỜI
1853 – 1880
Vincent van Gogh, 13 tuổi
01
CÁC CON ĐẬP VÀ NHỮNG BỜ ĐÊ
TRONG HÀNG NGÀN CÂU CHUYỆN MÀ VINCENT VAN GOGH
ngốn ngấu suốt một đời, có một trong số đó đã để lại ấn tượng sâu đậm
trong trí tưởng tượng của anh: “The Story of a Mother” (Câu chuyện về
một người mẹ) của Hans Christian Andersen. Bất cứ khi nào gặp trẻ nhỏ,
Vincent lại kể đi kể lại câu chuyện u ám của Andersen về một người mẹ
hiền, người đã chọn cho con mình cái chết, thay vì để đứa trẻ trong thế rủi
ro phải sống một đời bất hạnh. Vincent thuộc lòng câu chuyện và có thể kể
nó bằng vài thứ tiếng khác nhau, trong đó có cả kiểu tiếng Anh nặng giọng.
Với Vincent, kẻ có cuộc đời ngập tràn bất hạnh, kẻ vĩnh viễn kiếm tìm bản
thân trong văn chương và nghệ thuật, thì câu chuyện về tình mẫu tử trở nên
lệch lạc của Andersen lại có một sức mạnh dị biệt, và việc Vincent luôn ám
ảnh kể đi kể lại câu chuyện cũng cho thấy nỗi khát khao và sự thương tổn
độc nhất nơi anh.
Anna, mẹ của Vincent, không bao giờ hiểu người con trai cả của
mình. Sự lập dị của anh, kể cả khi còn nhỏ, đã thách thức thế giới quan
truyền thống vốn đã ăn sâu bén rễ trong bà. Trí tuệ viễn-du của Vincent
thách thức khả năng thấu suốt và năng lực tìm hiểu hạn chế nơi mẹ mình.
Với bà, dường như anh chỉ có toàn những quan điểm kỳ dị và “hão
huyền”; còn trong mắt anh, có vẻ bà lại quá hẹp hòi và thiếu cảm thông.
Thời gian càng chảy trôi, bà càng thêm chán ghét Vincent. Bất lực trong
thấu hiểu dẫn tới mất kiên nhẫn, mất kiên nhẫn trở thành hổ thẹn, và từ
hổ thẹn thành ra giận dữ. Thời điểm Vincent trưởng thành cũng là lúc bà
gần như từ bỏ mọi hi vọng dành cho anh. Bà phủ nhận khát vọng tôn giáo
và nghệ thuật của con trai mình [cho rằng chúng] là những thứ “lan man
không có tương lai” và so cuộc đời lầm lạc của anh với một cái chết trong
12 The Early Years, 1853–1880
pitalized toward the end, she never came to visit, despite frequent travels to see
36 SteveonthNerafiafemhilyvàmGemrebgeorsr.yEWvehnitaefteSrmhitshdeath, when fame belatedly found him, she
never regretted or amended her verdict that his art was “ridiculous.”
gia đình. AnVninacebnut nộecvetrộuinadnerhstocohd ủhistâmmothgerâ’syr“ejđecatuionđ. ớAnt tivmàesk, hheổlassởh”edcohuot cha mẹ.
Bà nhất kathinmogerási,ltyheaqgbualaiẳnmnsetgdith,đicmiasllteinấlfgtfohcreảbreiann“ghhaữa“rnhda-ghlfe-bsatrứrtaecndg”terw,ahonamlhfa-tnihre“asoofymakespoýeurrhseodọnalo.1v. e.m.w” hàAotanh để ở
nhà, như btrhinểgstoốnnlygsokrrhoứw arnádclorsưs.ở” Bi u(tbhàe nceũvenrgstođpãpevdứbitddđinighfoầruhehr ếaptpcroávcal.gAhti chép về
tuổi thơ cpthủoeeamenawdniothfh)ht,ihsevlipàfela,cihnũetinpvaeginqutceehdstẳhionenrg:p“omWrtrhấaoyitis(cfrtohomei mtarapọihdnomtgoygnsrpahiprhiữt)snasngeedktaá/pcpTehnprdoheudẩgmha mà sau
này Vincecnoltd rteặpnrogof banàd. slanders blight?”
AAnnnnaaCCaarrbbeennttuuss
Sau koanhnnai aAcloncuondrlaensqseuldiaaayđicnờaiMr,abnyegn1ư8t5ờu1si itnmaaTcrhrheieỉHdtaìtgmhueeRt, hhevoấemyreemnodfộTtthhveeoàDdiuobtrcuứhscmvtaohnnưaGrovcghàhytác phẩm
của Vinceanntd,gbửyi ocnheoacbcoàutnrto, “nthgenmhoữstnpgleatsàaintsảpnlacđe ểinlạthie. Twororldn.”gRnechlaữimngednfrăomm cuối đời
của Vincenseta-(bbotàtosmốnmgudlâcuonhtaơinnincgothnetprearfie1ct7mnixăomf s)a,ntdhaưndbcàlayvifếortgcrhowoinagnflhowc-ứ ngắn lại
ers, The Hague in May was a veritable Eden: flowers bloomed in unrivaled abun-
1. Nguyên gốc: “drawing,” về mặt kỹ thuật là vẽ bằng hoặc kết hợp than, chì, bút sắt, phấn, sáp,
v.v., các chất liệu khô, không sử dụng các chất màu pha dung môi như dầu hoặc nước – hoặc nếu
có, cũng là một lượng rất ít. Khái niệm này được sử dụng để phân biệt với vẽ sơn dầu, màu nước,
temnapif_e97r8a0,37v5.5v0.74–89_v6pà_0d1_or1.tr.iinếdnd g12Việt chưa có khái niệm tương đương để phân biệt giữa “draw8/1i7n/1g1”10v:4à4 AM
“painting” nên cuốn sách này sử dụng các từ “vẽ khô” và “vẽ ướt” để diễn tả hai khái niệm ở trên,
đặc biệt trong các trường hợp hai câu hoặc khái niệm này cùng xuất hiện trong một câu hoặc một
đoạn văn. Tuy vậy, trong một số phần của cuốn sách này, “drawing” đôi khi được dịch đơn thuần
là “vẽ”, “bức vẽ”, “bản vẽ”, hoặc “ký họa” trong khi “painting” phần đa được dịch kèm chất liệu là
sơn dầu (vẽ sơn dầu).
* Lưu ý: Các chú thích ghi (BT) là của người biên tập, chú thích ghi (TG) là của tác giả, những
chú thích còn lại là của nhóm dịch giả.
Van Gogh 37
và thưa thớt dần, và khi Vincent nằm viện vào những ngày cuối đời, bà cũng
không tới thăm, dù vẫn thường xuyên đi lại thăm hỏi những thành viên khác
trong gia đình. Rồi ngay cả sau cái chết của Vincent, khi danh tiếng muộn
màng cuối cùng rồi cũng tới với anh, bà cũng vẫn không bao giờ ân hận hay
thay đổi nhận định rằng nghệ thuật của Vincent chỉ là thứ “lố lăng.”
Vincent không bao giờ hiểu tại sao mẹ lại chối bỏ mình. Đôi khi, anh
giận dữ phản đối, gọi Anna là một người đàn bà “lòng dạ sắt đá” với “một
thứ tình yêu chua xót.” Khi khác, anh lại tự trách bản thân mình vì đã là
một “kẻ nửa kỳ dị, nửa khó chịu… chỉ mang lại buồn đau và mất mát.”
Nhưng không bao giờ anh ngừng cầu xin mẹ chấp thuận. Lúc cuối đời, anh
vẽ chân dung bà (từ một bức ảnh) rồi viết thêm một bài thơ với câu hỏi ai
oán: “Là ai, người phụ nữ mà linh hồn tôi tìm kiếm/Qua những lời trách cứ
lạnh lùng và sự phỉ báng khiến [tôi] tàn rụi?”
ANNA CORNELIA CARBENTUS kết hôn với Đức Cha1 Theodorus van
Gogh vào một ngày quang mây tháng 5 năm 1851 tại thành phố The
Hague2, quê hương của nền quân chủ Hà Lan, nơi được miêu tả là “chốn
dễ chịu nhất thế gian.” Được cải tạo bằng bùn đáy biển theo tỉ lệ giữa cát và
đất sét hoàn hảo cho việc trồng hoa, thành phố The Hague là một vườn Địa
Đàng đích thực vào dịp tháng 5: hoa nở tràn ngập vô vàn khắp bên đường,
trên những bờ kênh, trong vườn và công viên, trên ban công và dưới hiên
nhà, trong các lô cửa sổ và những chậu hoa trên thềm nhà, rồi trên cả những
chiếc sà lan ghé qua. Hơi ẩm liên tục tràn ra từ những ao hồ kênh rạch sẫm
bóng cây, khiến cho “mỗi sáng dường như lại được tô điểm bằng một màu
xanh tươi mới, rực rỡ hơn,” như lời tán dương của một du khách bị cảnh
sắc ở đây làm cho mê đắm.
1. Trong các giáo phái Tin Lành (Kháng Cách) – một trong ba nhánh chính của Cơ Đốc giáo (Ki-
tô giáo), bên cạnh Công giáo La Mã và Chính Thống giáo Đông phương – mục sư đã thụ phong
vẫn được cho phép kết hôn (không bị áp dụng luật độc thân). Lệ này theo gương của Martin
Luther, dù đã được thụ phong nhưng vẫn lấy vợ vào năm 1525. Còn trong Giáo hội Công giáo La
Mã, theo lệ thường, thì chỉ những người đàn ông độc thân hoặc góa bụa mới được chấp nhận làm
ứng viên để được thụ phong chức linh mục.
2. The Hague, lần đầu được gọi tên là Die Haghe vào năm 1242 – tới thế kỷ 15, nơi này được gọi
là des Graven hage theo nghĩa đen là “rừng của bá tước”. Thành phố này trong tiếng Việt thường
được gọi là “La Hay” dựa theo cách gọi “La Haye” của tiếng Pháp, và là thành phố lớn thứ ba ở
Hà Lan sau Amsterdam và Rotterdam.
38 Steven Naifeh và Gregory White Smith
Vào ngày cưới, gia đình Anna rải cánh hoa dọc lối đi của cô dâu chú
rể và mỗi điểm dừng chân lại trang trí bằng những chiếc vòng kết bằng hoa
và lá xanh. Cô dâu đi từ nhà gái Carbentus ở khu Prinsengracht tới nhà thờ
Kloosterkerk, một công trình quý giá từ thế kỷ 15 tọa lạc trên một đại lộ rợp
cây, vây quanh là những căn biệt thự tuyệt đẹp ngay trung tâm hoàng gia của
thành phố. Xe ngựa chở cô dâu chạy dọc những con đường vốn là đối tượng
cho cả lục địa khắp nơi dơ dáy phải ghen tị: mỗi khung cửa sổ đều được lau
sạch tươm, mỗi cánh cửa ra vào đều được sơn hoặc phủ véc-ni mới, mỗi
chậu đồng trên các bậc thềm đều được đánh bóng, và mỗi ngọn giáo trên
các tháp chuông đều mới được mạ vàng. “Mái nhà hình như cũng được cọ
rửa mỗi ngày thì phải,” một người nước ngoài tự hỏi, và đường phố thì “sạch
như sàn nhà.” Chốn này “khiến cho tất cả mọi người phải ghen tị với niềm
hạnh phúc của những người được sống tại đây,” một du khách khác viết.
Chính lòng biết ơn với những tháng ngày trong trẻo thế này, trong
khung cảnh yên bình nơi đây – và nỗi sợ rằng chúng có thể đột ngột biến
mất – đã định hình cuộc đời của Anna Carbentus. Bà biết rằng đời sống
không phải luôn thế này, dù là với gia đình hay đất nước của bà.
Năm 1697, số phận gia tộc Carbentus như treo đầu sợi tóc: Gerrit
Carbentus là thành viên duy nhất còn sống của dòng họ, sau chiến tranh, lũ
lụt, hỏa hoạn và bệnh dịch kéo dài suốt 150 năm. Cha ông của Gerrit đã bị
giết sạch trong cuộc tàn sát đẫm máu trên diện rộng của cuộc Chiến Tranh
80 Năm, khi 17 tỉnh thuộc Vùng Thấp1 vùng lên chống lại ách cai trị bạo
tàn của người Tây Ban Nha. Theo ghi chép, cuộc chiến nổ ra năm 1568 khi
những người Tin Lành ở nhiều thành phố, trong đó có The Hague, nổi dậy
“trong một tấn thảm kịch gây ra bởi bạo lực và hủy diệt cuồng loạn.” Nạn
nhân bị trói lại rồi ném xuống từ các cửa sổ cao, bị dìm chết, chặt đầu, và
thiêu cháy. Tòa án Dị Giáo Tây Ban Nha đáp trả bằng cách kết án tất cả đàn
ông, phụ nữ, và trẻ em tại Hà Lan, cả thảy ba triệu người, phải chết như
những kẻ dị giáo.
Liên miên 80 năm trời, trên mảnh đất Hà Lan vốn bình yên, quân
đội chiến đấu với quân đội, tôn giáo đương đầu với tôn giáo, giai cấp đánh
nhau với giai cấp, dân binh đánh nhau với dân binh, hàng xóm chiến đấu
1. Nguyên văn: “Low Countries”, là tên gọi của khu vực sau này trở thành đất nước Hà Lan. Tên
gọi “Netherlands” của Hà Lan có nghĩa là “vùng đất thấp”.
Van Gogh 39
với hàng xóm, tư tưởng đấu tranh với tư tưởng. Một người qua đường ở
Haarlem nhìn thấy “rất nhiều người bị treo cổ trên cây, trên giàn xử giảo, và
trên các xà ngang ở khắp nơi.” Nhà cửa bị đốt rụi, nhiều gia đình chết thiêu
trên cọc, còn xác người vương vãi khắp đường sá.
Thỉnh thoảng, hỗn loạn cũng lắng xuống (như năm 1648, khi các tỉnh
thuộc Hà Lan tuyên bố độc lập khỏi vua Tây Ban Nha và chiến tranh công
nhiên kết thúc), nhưng ngay sau đó một làn sóng bạo lực mới lại quét qua
mảnh đất này. Năm 1672, tức là chỉ khoảng hơn một thế hệ sau cuộc Chiến
Tranh 80 Năm, được mệnh danh là Rampjaar (Năm thảm họa), khi một
cơn bạo loạn khác lại sôi sục trên những con đường yên tĩnh và hoàn mỹ
của thành phố The Hague. Đám đông tràn vào trung tâm thành phố, truy
lùng những nhà lãnh đạo cũ của đất nước rồi chặt họ ra thành từng mảnh
dưới bóng nhà thờ Kloosterkerk, cũng là nơi Anna Carbentus tổ chức đám
cưới sau này.
Nhưng nguy cơ lớn nhất mà dòng họ Carbentus phải đối mặt không
phải là chiến tranh, cũng không phải là những cuộc kích phát bạo loạn có
tổ chức này. Giống như nhiều đồng hương, lũ lụt khiến Gerrit Carbentus
phải sống cả đời cận kề bờ diệt vong. Mọi thứ vẫn luôn như thế kể từ khi kết
thúc Kỷ Băng Hà, khi đầm phá tại cửa sông Rhine bắt đầu được bồi đắp bởi
đất bùn màu mỡ, hấp dẫn mạnh mẽ những người tới định cư đầu tiên. Dần
dần, dân định cư nơi đây bắt đầu đắp đê chắn biển và đào kênh thoát nước
cho những đầm lầy phía sau. Thế kỷ 16 và 17 đánh dấu sự phát minh ra cối
xay gió, giúp cho việc tháo nước trên diện rộng, cũng như khai hoang trên
quy mô thật sự lớn bắt đầu trở nên khả thi. Từ năm 1590 tới năm 1740,
song hành với việc các thương gia Hà Lan chinh phục thế giới thương mại
và kiến lập nên những thuộc địa giàu có tại các bán cầu xa xôi, thì các nghệ
sĩ, nhà khoa học Hà Lan tạo ra một Thời kỳ Vàng son1 để cạnh tranh với
thời Phục Hưng của Ý, Hà Lan được nới rộng thêm hơn 300 mẫu Anh, tăng
diện tích canh tác lên gần một phần ba.
Nhưng chẳng gì ngăn được biển. Bất chấp hàng nghìn năm nỗ lực phi
thường – và đôi khi bởi chính nỗ lực đó – lũ lụt vẫn không thể tránh khỏi,
1. Thời kỳ Vàng Son (Dutch Golden Age) của Hà Lan diễn ra vào khoảng thế kỷ 17, là một trong
những thời điểm mà đất nước Hà Lan nằm trong nhóm các quốc gia phát triển hàng đầu về khoa
học, mậu dịch, quân sự và nghệ thuật. Phân đoạn đầu được đánh dấu bởi Cuộc chiến tranh 80 năm
(Eighty Years’ War), sau đó diễn ra trong hòa bình đến cuối thế kỷ dưới thời Cộng hòa Hà Lan.
40 Steven Naifeh và Gregory White Smith
tựa như cái chết. Với đặc tính khó lường đầy khiếp sợ, sóng dữ chồm lên
những con đê, hoặc nghiền nát những con đê bằng sức nước – hoặc cả hai –
và rồi biển lại ập vào miền đất bằng phẳng này. Lắm khi, biển chỉ lạnh lùng
mở ra và nuốt chửng đất. Vào năm 1530, chỉ trong một đêm, 20 ngôi làng
chìm vào lòng biển, chỉ chừa lại trên mặt nước đỉnh ngọn tháp nhà thờ và
những bộ thây súc vật.
Đó là một đời sống bấp bênh, và tất cả dân đồng xứ, cũng như Gerrit
Carbentus, kế thừa được một thứ giác quan nhạy bén với những thảm họa
cận kề – giác quan của người thủy thủ. Trong một phần tư cuối thế kỷ 17,
hàng nghìn người đã chết trong cuộc chiến với biển, trong đó có chú ruột
của Gerrit Carbentus chết đuối ở Sông Lek. Ông ta theo chân cha, mẹ, các
anh chị em ruột, các cháu trai, cháu gái, cả người vợ đầu và toàn bộ gia đình
nhà vợ, tất cả họ đều chết trước khi Gerrit tròn 30 tuổi.
Gerrit Carbentus sinh ra cuối một thời kỳ biến động tàn phá; thì cháu
nội của ông, cũng tên Gerrit, lại sinh ra vào đầu một thời kỳ khủng khiếp
khác. Từ giữa thế kỷ 18, trên khắp châu Âu, cách mạng đòi tự do bầu cử,
mở rộng quyền công dân, bãi bỏ các khoản thuế bất công hợp nhất với tinh
thần không tưởng của thời Khai sáng tạo ra một sức mạnh không gì ngăn
nổi, giống như chiến tranh và sóng biển.
Lửa cách mạng lan tới nhà Carbentus chỉ là vấn đề thời gian. Khi quân
đội của nước Cộng hòa Pháp vừa thành lập tiến vào Hà Lan năm 1795, họ
tới như đoàn quân giải phóng. Nhưng khi dừng chân, họ là những kẻ xâm
lược. Hầu như nhà nào cũng có lính vào ở, bao gồm cả nhà Carbentus. Hàng
hóa vốn liếng (chẳng hạn như tiền vàng, tiền bạc) bị tịch thu; thương mại
suy kiệt; lợi nhuận biến mất; doanh nghiệp đóng cửa; giá cả tăng vọt. Gerrit
Carbentus, một người thợ da và cha của ba đứa con, mất đi sinh kế. Nhưng
đó vẫn chưa phải điều tệ nhất. Sáng ngày 23 tháng 1 năm 1797, Gerrit rời
nhà mình ở The Hague để đi làm ở một thị trấn gần đó. Tới bảy giờ tối, người
ta tìm thấy anh nằm bên đường Rijswijk, bị cướp, bị đánh, và đang hấp hối.
Khi đưa được về tới nhà, anh đã chết. Mẹ anh “điên loạn ôm chặt lấy cơ thể
vô hồn và nước mắt chảy tràn khắp người anh,” như lời ghi trong biên niên
sử gia đình Carbentus, một cuốn nhật ký gia tộc được gìn giữ qua nhiều thế
hệ. “Đã chết rồi con trai tôi, một đứa trẻ tự chính nó đã là một điều kỳ diệu.”
Gerrit Carbentus để lại một người vợ mang thai và ba đứa con nhỏ.
Một trong số đó là Willem, ông ngoại của họa sĩ Vincent Willem van Gogh.
Van Gogh 41
Trong những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 19, sau khi quân Napoleon
rút đi, người Hà Lan đã bắt đầu tu sửa lại những con đê lập quốc của họ.
Nỗi sợ bị dòng nước xoáy thảm khốc cuốn trở lại lan rộng khắp nơi, tới nỗi
tính điều độ nay trở thành nguyên tắc của cả thời kỳ này: dù là trong chính
trị, tôn giáo, khoa học, hay trong nghệ thuật. “E sợ cách mạng khiến những
cảm thức bảo thủ sinh sôi,” một người biên sử viết, “sự tự-hài-lòng và lòng
tự tôn dân tộc” trở thành đặc tính của thời kỳ này.
Như chính đất nước Hà Lan thoát khỏi cái bóng của nổi loạn và chính
biến, Willem Carbentus cũng tái dựng lại cuộc đời mình trên đống đổ nát
sau tấn thảm kịch riêng. Ông kết hôn ở tuổi 23 và có liền chín người con
trong vòng 12 năm – điều đáng kinh ngạc là không đứa nào chết yểu.
Ổn định chính trị và “lòng tự tôn dân tộc” cũng đem lại những lợi ích
khác. Một làn sóng yêu thích tất cả mọi thứ thuộc về Hà Lan làm bùng nổ
nhu cầu về sách. Từ Amsterdam cho tới những ngôi làng nhỏ nhất, nhiều
nhóm được thành lập để thúc đẩy việc đọc, từ các tác phẩm kinh điển cho
tới những cuốn sổ tay kiến thức. Nắm lấy thời cơ này, Willem hướng kỹ
năng nghề da của mình sang nghệ thuật đóng sách và mở một cửa hàng ở
Spuistraat, khu mua sắm chính của thành phố The Hague. Trong ba thập
kỷ tiếp theo, ông xây dựng cửa hàng thành một ngành kinh doanh thịnh
vượng, nuôi cả đại gia đình sống ở tầng trên cửa hàng. Năm 1840, khi chính
phủ tìm người đóng bìa cho bản hiến pháp gây tranh cãi đã lâu, Willem
Carbentus được chọn, để rồi từ đó về sau, ông tự quảng cáo mình là “Thợ
đóng sách Hoàng gia.”
Phục hồi nhờ sự điều độ và tính phục tùng tỏ ra hiệu quả với đất nước
Hà Lan và chính bản thân Willem, nhưng không phải với tất cả mọi người.
Trong đám con cái của Willem, đứa thứ hai, Clara, bị cho là mắc chứng
“động kinh,” một từ được dùng để che giấu thế giới tăm tối của những đau
đớn tinh thần và cảm xúc vào thời đó. Không bao giờ kết hôn và bị lãng
quên, Clara sống trong sự khước từ nhằm bảo vệ phẩm giá gia đình, và chỉ
rất lâu sau, bệnh tình của cô mới được cháu trai, họa sĩ Vincent van Gogh
biết tới. Một người con trai của Willem, Johannus, cũng “không sống theo
cách thức thông thường của cuộc đời,” một người chị gái viết lấp lửng như
vậy, và Johannus sau đó tự sát. Cuối cùng, ngay cả Willem, bất chấp thành
công, cũng chịu thua cuộc sống. Năm 1845, ở tuổi 53, ông qua đời vì “bệnh
tâm thần,” điều hiếm hoi được thừa nhận trong biên niên sử của gia đình.
42 Steven Naifeh và Gregory White Smith
Hồ sơ chính thức ghi nguyên nhân tử vong một cách thận trọng hơn là “sốt
chảy dịch,” một kiểu dịch tả bò thường xuất hiện định kỳ trên gia súc nông
thôn nhưng không bao giờ lây sang người. Triệu chứng của nó, có lẽ là cơ
sở cho chẩn đoán chính thức, gồm kích động quá độ, tiếp sau là co thắt, sùi
bọt mép và tử vong.
Bị những lời cảnh báo đó bủa vây, Willem Anna, cô con gái giữa của
gia đình lớn lên với một cái nhìn u ám và sợ hãi về cuộc sống. Khắp mọi
nơi, những thế lực cứ chực chờ đe dọa đưa cả gia đình trở lại thời kỳ hỗn
loạn mà họ chỉ vừa mới thoát ra, đột ngột và dứt khoát như thể biển cả
nuốt chửng một ngôi làng. Kết quả là một tuổi thơ bị bao phủ bởi sợ hãi và
thuyết định mệnh: một cảm thức rằng cả cuộc sống và hạnh phúc đều bấp
bênh, mà do đó chẳng hề đáng hi vọng. Thế giới của Anna là “một chốn chỉ
có muộn phiền và lo lắng, [điều] vốn là cố hữu”; một nơi mà “sự thất vọng
sẽ không bao giờ ngừng” và chỉ có kẻ ngốc mới “đòi hỏi nhiều” ở cuộc sống.
Thay vào đó, người ta đơn thuần phải “học cách chịu đựng,” cô nói, “hiểu
rằng không ai là hoàn hảo,” rằng “luôn luôn có những khiếm khuyết trong
sự toàn thành của mọi ước nguyện,” và rằng con người cần được yêu thương
“bất chấp những thiếu sót của họ.” Nhất là bản tính con người quá hỗn loạn
để mà tin tưởng, vĩnh viễn đứng trước nguy cơ phát điên. “Nếu chúng ta
có thể làm bất cứ điều gì chúng ta muốn,” cô cảnh báo con cái mình, “mà
không hề hấn gì, không nhìn thấy gì, không phiền toái gì, thì phải chăng
chúng ta đang lạc ngày một xa khỏi con đường đúng đắn?”
Anna giữ lối suy nghĩ tiêu cực này tới tuổi trưởng thành. Không hề
hài hước trong ứng xử với gia đình và bạn bè, cô dễ u sầu và liên tục ủ ê vì
những chuyện cỏn con, chỉ thấy rủi ro và sầu não trong những khát vọng
dường như bất-khả. Tình yêu thường sẽ mất, người thương rồi sẽ chết. Khi
vắng chồng, dù chỉ trong chốc lát, cô lại dằn vặt bản thân bằng những suy
nghĩ về cái chết của anh ấy. Trong những gì Anna kể lại về ngày cưới, giữa
những miêu tả về hoa và xe ngựa trong rừng, cô vẫn chẳng thể dứt hẳn khỏi
suy nghĩ về những người thân vì đau ốm mà không thể tới dự. “Ngày cưới,”
cô kết luận, “kèm theo biết bao nỗi buồn”.
Nhằm kiềm lại sức mạnh của bóng tối bên trong mình, Anna giữ cho
mình bận rộn điên cuồng. Cô học đan từ bé, và trong suốt quãng đời còn lại,
xỏ kim đan với “tốc độ đáng sợ,” theo lời biên niên sử gia đình. Cô là một
người viết “không biết mệt,” với những lá thư – toàn những câu cú lộn xộn
Van Gogh 43
do hấp tấp, và thêm thắt chi chít – bộc lộ cùng một kiểu gấp gáp chẳng đi tới
đâu. Anna chơi đàn. Anna đọc sách vì “nó khiến ta bận rộn [và] hướng tâm
trí theo hướng khác. Là một người mẹ, cô bị ám ảnh với lợi ích của việc giữ
mình bận tâm và thúc giục lũ trẻ làm thế mỗi khi có thể. “Bắt tâm trí con bận
rộn với những thứ khác,” cô khuyên một trong số chúng, nhằm chữa trị cảm
giác “nản lòng.” (Đó cũng là bài học mà con trai cô Vincent, có lẽ là nghệ sĩ
trầm uất và có khả năng sản tạo mãnh liệt nhất trong lịch sử, đã ghi nhớ quá
kỹ.) Khi mọi thứ khác thất bại, Anna sẽ lau dọn một cách dữ dội. “Ma (Mẹ)
thân yêu đang bận dọn dẹp,” chồng cô viết, hồ nghi về tính hiệu quả trong
tất cả những chiến lược của cô, “nhưng vẫn ngẫm nghĩ và lo âu về tất thảy.”
Đôi tay bận rộn của Anna cũng tìm tới nghệ thuật. Ít nhất là cùng với
em gái Cornelia, cô học vẽ và dùng màu nước – thú tiêu khiển của tầng lớp
tư sản mới, vừa do lợi ích, lại vừa là biểu trưng cho sự thư nhàn. Và hoa –
những bó violet, hoa đậu, dạ lan hương, lưu ly – là chủ đề mà cô yêu thích,
cũng là đề tài phổ biến của các nghệ sĩ phòng-khách1 lúc bấy giờ. Có lẽ,
khi theo đuổi thú vui truyền thống này, chị em nhà Carbentus cũng được
ông chú lập dị Hermanus – người ít nhất một lần, tự nhận mình là nghệ
sĩ – khuyến khích. Ngoài ra, một gia đình nghệ thuật phi-truyền-thống
khác, nhà Bakhuyzen, cũng ủng hộ và làm gương cho họ. Mỗi khi tới nhà
Bakhuyzen, Anna lại như được đắm chìm vào thế giới nghệ thuật. Hendrik,
người cha trong gia đình Bakhuyzen, là một họa sĩ phong cảnh đáng-trọng,
không chỉ dạy vẽ cho con cái của mình (hai trong số đó tiếp tục trở thành
những họa sĩ xuất chúng), cho chị em nhà Carbentus, mà còn cho những
học trò có thiên hướng đổi mới, những họa sĩ sau này tạo nên một trào lưu
nghệ thuật mới mang đậm chất Hà Lan, Trường phái Hague2. 35 năm sau
những cuộc thăm thú của Anna, chính phong trào nghệ thuật này đã cho
1. Nguyên văn: “parlor artists”. Vào thế kỷ 18 – 19, việc có một phòng khách trong nhà thể hiện
vị thế và tầng lớp của chủ nhà (thường là ở tầng lớp trung lưu trở lên). Vì phòng khách là nơi gia
chủ gặp gỡ và giao lưu với bạn bè, những mối quan hệ mà qua đó họ tương tác và thể hiện bản
thân với thế giới bên ngoài, nên phòng khách luôn được trang hoàng nội thất một cách đẹp mắt
và cầu kỳ với các tác phẩm nghệ thuật, tranh ảnh của các thành viên cũng như tước hiệu. (BT)
2. Mang phong cách gợi nhắc đến các họa sĩ của trường phái Barbizon và chủ nghĩa Hiện thực
Pháp, trường phái Hague được bắt nguồn từ năm 1860 có điểm nổi bật là sử dụng những tông
màu buồn, lặng với bầu không khí ảm đạm đặc trưng trong tranh tả phong cảnh và đời sống
thường nhật của người nông dân địa phương. Tên thông dụng của trường phái này là “The Grey
School” – Trường phái Xám. (BT)
44 Steven Naifeh và Gregory White Smith
con trai bà một nơi nương náu, để từ đó anh dấn thân vào một sự nghiệp
họa sĩ ngắn ngủi và đầy giông tố.
Là một đứa trẻ hay sợ hãi, Anna bị tôn giáo hấp dẫn một cách tự nhiên.
Trừ những lễ cưới hay lễ rửa tội, tôn giáo xuất hiện tương đối muộn
trong lịch sử gia đình Carbentus: Năm 1795, khi quân Pháp tới The Hauge,
bởi “bàn tay khắc nghiệt của Chúa Trời” mà gia đình bị đám lính trú cướp
bóc, còn tiền bạc thì bị tịch thu – người chép sử của gia đình than trách.
Nhưng chỉ hai năm sau, khi bạo lực lan tràn khắp đất nước thời điểm đó
tìm tới Gerrit Carbentus đơn độc trên đường tới Rijswijk, giọng kể sử biên
niên lập tức tuôn trào lòng mộ đạo bi ai: “Mong Chúa rủ lòng xót thương
để chúng con có thể chấp nhận quyết định của Ngài bằng một trái tim vâng
lời.” Việc này phản ánh bản chất của cảm thức tôn giáo trỗi dậy sau nhiều
năm hỗn loạn – cả trong gia đình Carbentus và khắp cả nước: một sự thừa
nhận trong run sợ về hậu quả của hỗn loạn. Kiệt quệ và đổ máu, con người
chuyển từ một thứ tôn giáo củng cố lòng trung thành sang một thứ tôn giáo
giúp trấn an sợ hãi. Tự Anna cũng tóm tắt lại những mục tiêu khiêm tốn
của đức tin mới là “duy trì, hỗ trợ, và ủi an.”
Sau này, khi bão tố cuộc đời ngày một lớn hơn và tăng lên gấp bội,
Anna càng gắng tìm nơi nương náu trong tôn giáo với nỗi tuyệt vọng ngày
một tăng. Chỉ một dấu hiệu đảo lộn nhỏ nhất trong cuộc sống của cô, hoặc
hành vi sai sót của những đứa con cũng đủ để kích thích một cơn mộ đạo.
Từ thi cử cho tới xin việc, mọi cuộc khủng hoảng đều dẫn tới một bài giảng
khẩn cầu tới từ tâm của Ngài hoặc đức kiên nhẫn của Ngài. “Cầu Chúa lòng
lành giữ cho con lòng trung thực,” bà viết thư cho Theo nhân dịp cậu được
thăng chức. Bà xin Chúa che chở con cái mình trước mọi thứ, từ cám dỗ
tình dục tới thời tiết xấu, từ chứng mất ngủ tới các chủ nợ. Nhưng trên hết,
bà thỉnh cầu Ngài bảo vệ bà khỏi những sức mạnh đen tối đến từ bên trong.
Thứ thuốc vạn năng không-ngừng-nghỉ của bà – rất giống biến thể cuồng
mê của Vincent trong cả những chủ đề tôn giáo lẫn thế tục – là chỉ báo về
một nhu cầu cần được yên lòng mà chẳng cách nào thỏa mãn nổi. Dù liên
tục khẳng định về sức mạnh an ủi trong đức tin của mình, nhưng rõ ràng cứ
khăng khăng khấn niệm điều đó triền miên chỉ càng cho thấy Anna – hoặc
Vincent – chưa bao giờ thực sự được tôn giáo an ủi.
Trong mọi khía cạnh của cuộc sống, không chỉ tôn giáo, Anna đều
tìm kiếm khoảng an toàn. Bà khuyên con cái “học cách sống đời sống bình
Van Gogh 45
thường hơn nữa,” và “khiến cho đường đời của con được bằng thẳng.”
Trong một xã hội hậu cách mạng và hậu chấn thương – một xã hội luôn
luôn tưởng thưởng cho sự tuân phục, hoặc thường bắt buộc điều đó – thì
đây là một lý tưởng mà hầu như ai cũng hướng tới. Giữ gìn chuẩn tắc là
bổn phận của mọi phụ nữ trẻ ở Hà Lan, và không ai thực hiện bổn phận này
chuyên tâm hơn Anna Carbentus.
Nên, vào năm 1849, vào lúc Anna bước sang tuổi 30 mà vẫn chưa kết
hôn, không có gì ngạc nhiên khi cô cảm thấy một nhu cầu cấp bách phải
có một tấm chồng. Tất cả các anh chị em, trừ Clara động kinh, Johannus
bất ổn, và cô út Cornelia, thì còn lại đều đã lập gia đình. Trong đám chị em
họ, chỉ có một cô luống tuổi hơn Anna mà vẫn chưa chồng, rồi sau đó cũng
cưới một người đàn ông góa vợ – một cái kết thường gặp với những cô gái
quá lứa lỡ thì. Nghiêm nghị, thiếu hài hước, nhạt nhòa, tóc đỏ, và đã đầu
ba – viễn cảnh của Anna có khi còn tệ hơn: một bà cô.
Nhưng vào tháng 3 năm 1850, tin Cornelia, cô em gái kém Anna
mười tuổi, tuyên bố đính hôn với Van Gogh, một thương gia ngành in giàu
có tại The Hague giáng cho Anna một cú liểng xiểng. Anh này sống tại tầng
trên phòng trưng bày của mình ở khu Spuistraat, không cách quá xa cửa
tiệm của nhà Carbentus, và cũng giống như Cornelia, anh có một người
anh trai muộn vợ: Theodorus, một mục sư Tin Lành 28 tuổi. Ba tháng sau,
một cuộc gặp gỡ được sắp đặt giữa Theodorus và Anna. Theodorus (tên
gọi ở nhà là Dorus) mảnh khảnh và đẹp trai, với “nhiều nét sáng sủa thanh
nhã” và mái tóc hung bắt đầu ngả bạc. Khác với người em trai quảng giao,
Theodorus là một người lặng lẽ và dè dặt. Anh sống ở Groot Zundert, một
ngôi làng nhỏ gần biên giới Bỉ, cách xa sự cầu kỳ hoàng gia của thành phố
The Hague. Nhưng tất cả những điều này đều không quan trọng. Quan
trọng là gia thế nhà đó chấp nhận được; mà Anna cũng chẳng còn lựa chọn
nào khác. Theodorus cũng hào hứng ngang với Anna trước sự sắp đặt này.
Gần như ngay lập tức sau ngày gặp gỡ, họ tuyên bố đính hôn.
Ngày 21 tháng 5 năm 1851, Theodorus van Gogh và Anna Carbentus
kết hôn tại nhà thờ Kloosterkerk. Sau lễ cưới, cặp vợ chồng mới cưới rời đi
Groot Zundert thuộc khu vực Công giáo phía nam. Sau này, Anna nhớ lại
cảm giác trong đêm đầu tiên sau đám cưới: “Cô dâu hôm ấy không tránh
khỏi những lo âu về mái ấm tương lai.”