The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.

VIỆT NAM CỘNG HÒA 10 NGÀY CUỐI CÙNG
Trần Đông Phong

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2022-09-28 21:09:27

VIỆT NAM CỘNG HÒA 10 NGÀY CUỐI CÙNG Trần Đông Phong

VIỆT NAM CỘNG HÒA 10 NGÀY CUỐI CÙNG
Trần Đông Phong

còn phải ghi nhớ cuộc chiến tranh này như một lầm lạc gây nhiều tổn thất
nhất trong lịch sử dân tộc Việt kể từ buổi khai sinh.
Điều mà chúng ta có thể làm được hiện nay là phá vỡ bức màn huyền thoại
“chống Mỹ cứu nước” là chỉ rõ tính chất tàn bạo của nhà cầm quyền trong
vụ án xét lại và vạch rõ bản chất cuộc chiến tranh ngu xuẩn đã qua. Khi lá
bùa hộ mệnh của chính thể rơi xuống nó sẽ không còn dám giữ thái độ tàn
bạo và bạo ngựơc như hiện nay. Ở đâu còn tình cảm và khát vọng lấn lướt,
ờ đó chân lý câm lặng và huyền thoại nảy sinh.
Một khi đám đông nhận thức được rằng họ đã bị lừa, nhận thức đựơc rằng
cuộc chiến tranh thần thánh mà kẻ cầm quyền vẫn rêu rao, thục chất chỉ là
trò trẻ con bị xui ăn cứt gà sáp, và rằng đó là một cuộc dấn thân mù lòa vô
tích sự mà bài học đắng cay sẽ lưu truyền cho hậu thế. Khi đó chính quyền
Việt Nam sẽ đựơc lãnh đủ”. [Dương Thu Hương: “Tiểu Luận”]

Quan niệm của những người cầm quyền tại hai “nước Việt Nam” tức là

nước Việt Nam Cộng Hòa và nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, hai miền

Nam và Bắc Việt Nam về cuộc chiến tranh mà họ lãnh đạo cho đến ngày kết

thúc là như vậy, do đó người ta đã gọi cuộc chiến đó là một cuộc “chiến

tranh ủy nhiệm” (proxy war), cuộc chiến này đã gia tăng cường độ và kéo

dài thêm trong 12 năm kể từ sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị giết.

Đó là một cuộc chiến tranh mà trong những ngày tháng cuối cùng của

cuộc đời, ông Ngô Đình Diệm đã cố tìm mọi phương cách để ngăn chận

không cho xảy ra và một trong những phương cách đó có thể là sự “xích lại

gần” để tiến tới một giải pháp chính trị không những cả hai miền Nam Bắc

đều có lợi mà lại còn có thể bảo tồn được quyền tự do của nhân dân Miền

Nam nữa.

Ông đã nói với ký giả Marguerite Higgins rằng: “Chúng tôi đã phải chịu
đương đấu với chiến tranh trong 23 năm trường, nhưng chúng tôi
quyết tâm không nhượng bộ trước sự xâm lăng bằng vũ lực vì chúng
tôi muốn bảo vệ nền độc lập của chúng tôi và bảo vệ nhũng cơ hội có
được quyền tự do. Bất cứ kế hoạch thống nhất đất nước nào mà không
bảo đảm được những giá trị này là sự phản bội đối với những hy sinh
mà dân tộc chúng tôi đã chịu đựng từ năm 1954 và vẫn phải còn chịu
nhiều hy sinh nữa trong tương lai”.

Lúc sinh thời, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã từng tuyên bố rằng “Cuộc
chiến tranh tại miền Nam Việt Nam là một cuộc chiến tranh ý thức hệ đương
đầu với ý thức hệ”, ông muốn nói rằng miền Bắc xâm lăng miền Nam vì họ

muốn chiến đấu cho cái ý thức hệ cộng sản hay “xã hội chủ nghĩa” của họ,

còn miền Nam thì phải chiến đấu để bảo vệ quyền tự do, bảo vệ quyền dân

chủ, bảo vệ quyền làm người. Ông Ngô Đình Diệm quan niệm rằng người

miền Nam Việt Nam, trước và trên hết, chiến đấu cho sự sống còn của chính

họ, cho sự tự do của chính họ chứ không chiến đấu cho ai khác, chiến đấu
cho quốc gia của họ chứ không chiến đấu cho quốc gia nào khác. Nếu Việt
Nam không đủ sức đề chống lại cộng sản Bắc Việt với sự hỗ trợ của toàn
thể khối cộng sản quốc tế thì trong trường hợp đó, Việt Nam có thể phải nhờ
đến sự trợ giúp của Hoa Kỳ, tuy nhiên, Hoa Kỳ phải ký kết một hiệp ước
chính thức cam kết sẽ ủng hộ cho Việt Nam.

Trước đó cũng có người đã cảnh cáo ông Ngô Đình Diệm về viễn tượng
một ngày nào đó người Mỹ có thể bỏ Việt Nam và lúc đó thì ta sẽ “chết như
con cá lóc bị dập đầu”. Khi ông Ngô Đình Diệm mới về nước giữ chức vụ
Thủ Tướng, vào tháng 3 năm 1955, ông Trần Văn Ân, chủ nhiệm tuần báo
Đời Mới đã nói với Thủ Tướng Ngô Đình Diệm rằng: “Thưa Cụ, nước mình
nhỏ bé đành phải bắt tay với Mỹ, thật tình bắt tay, nhưng chơi tay đôi với họ
khó lòng lắm. Nước họ lại nước dân chủ, chánh quyền dễ thay tay. Rủi ngày
nào đó, vì một lẽ gì mà họ buông bỏ ta, thì ta, không có bạn khác, sẽ chết
như cá lóc bị dập đầu”. [Nguyễn Long Thành Nam: Phật Giáo Hòa Hảo Trong
Dòng Lịch Sứ Dân Tộc, Đuốc Từ Bi, California, 1991, trang 548.]

Lời khuyên này sau đó không còn ai dám nhắc lại vì đến tháng 5 năm
1955, sau vụ Bình Xuyên thì ông Trần Văn Ân bị kết án tử hình, bị đày đi
Côn Đảo cho đến sau ngày đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963 mới được trả
tự do. Tuy nhiên đến khoảng năm 1963 thì lại có những người ngoại quốc
cũng đã khuyên Tổng Thống Ngô Đình Diệm những điều như vậy.

Tiến Sĩ Hammer cho biết rằng: Quốc Vương nước Maroc, Mahommed V
và nhiều nhà lãnh đạo Á Phi khác đã nhiều lần cảnh giác Tổng Thống Ngô
đình Diệm không nên để cho miền Nam Việt Nam bị lệ thuộc quá nhiều vào
một đồng minh duy nhất là Hoa Kỳ vì nếu trong trường hợp mà Hoa Kỳ thôi
không còn ủng hộ nữa thì miền Nam sẽ lâm nguy vô phương cứu vãn. [Ellen
J. Hammer: Sách đã dẫn. Trang 121.]

Bà Ellen Hammer cho biết như sau về vấn đề đó: Tổng Thống Ngô Đình
Diệm tin tưởng rằng miền Nam phải trông cậy, dựa vào nhân dân miền Nam
để tự bảo vệ cho mình. Trong trường hợp phải nhờ đến sự trợ giúp từ ngoại
quốc, Tổng Thống Diệm đã nghĩ đến việc yêu cầu Hoa Kỳ ký kết một bản
hiệp ước (treaty) với Việt Nam trong dó người Mỹ phải chính thức hứa hẹn
sẽ ủng hộ cho Miền Nam Việt Nam … [Marguerite Higgins: Sách đã dẫn,

trang 176].

Dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm tuyên bố
“Tổ Quốc lâm nguy” vào năm 1961, hàng trăm ngàn thanh niên đã tình
nguyện hay bị động viên vào Quân Đội và họ đã chiến đấu rất anh dũng
để “bảo vệ những cơ hội có được quyền tự do và bảo vệ nền độc lập
của đất nước của họ” chứ không phải chiến đấu cho Hoa Kỳ. Sau khi
ông Ngô Đình Diệm bị giết, hàng triệu người trai trẻ, nam cũng như nữ, tại

miền Nam Việt Nam vẫn tiếp tục chiến đấu cho ý thức hệ của họ, một ý thức

hệ rất tầm thường và vô cùng đơn giản: Bảo vệ tự do, bảo vệ quyền làm
người và xây dựng một đời sống dân chủ tốt đẹp hơn cho chính họ,
cho gia đình của họ và cho con cháu của họ.

Đối với những người lãnh đạo, có thể chính quyền của họ theo đuổi một

cuộc chiến tranh do quan thầy, do đàn anh của họ ủy nhiệm, nhưng đối với

hàng triệu người trong quân đội, trong các ngành hành chánh, trong các

đoàn thể chính trị tại miền Nam những người trẻ tuổi Việt Nam không chiến

đấu cho ngời Mỹ, không chiến đấu cho các ông Ngô Đình Diệm, Dương Văn

Minh, ông Nguyễn Khánh, ông Nguyễn Cao Kỳ hay ông Nguyễn Văn Thiệu,

họ đã chiến đấu để bảo vệ tự do, bảo vệ dân chủ, bảo vệ nhân quyền cho

họ, cho con cháu của họ và đối với những người trong thế hệ đó, cuộc chiến

tranh ở miền Nam là một cuộc “chiến tranh ý thức hệ đương đầu với ý thức

hệ” như lời của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, một cuộc chiến tranh giữa

ý thức hệ của họ đương đầu với ý thức hệ của những người cộng sản Bắc

Việt.

Họ chiến đấu vì họ biết rằng nếu còn miền Nam thì họ còn tất cả, nếu
miền Nam mất vào tay cộng sản thì họ sẽ mất tất cả.

Vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, một số chiến sĩ trong Quân Lực Việt Nam

Cộng Hòa, đại diện cho các thế hệ Việt Nam chiến đấu vì ý thức hệ đó, đã

nói với nhà báo Pháp Jean Lartéguy trước trận đánh cuối cùng, vài giây phút

trước khi đi vào cõi chết:

Chúng tôi sẽ chiến đấu, có lẽ chúng tôi sẽ là những ngời chiến sĩ
chiến đấu cuối cùng. Xin ông nhớ viết lại rằng chúng tôi không chiến
đấu để chết cho ông Thiệu, cho ông Hương hay ông Minh. Chúng tôi
sẽ chiến đấu cho đến chết vì tự do, vì quyền được tự do ngôn luận,
quyền được phê bình và nền độc lập của chúng tôi…

Giả thử như mà Việt Nam Cộng Hòa không bị rơi vào tay cộng sản vào

ngày 29 tháng 4 năm 1975 thì chỉ vài tháng sau cũng phải sụp đổ. Lúc đó

lực lượng của Việt Nam Cộng Hòa chỉ còn có 3 Sư Đoàn 7, 9 và 21 còn

nguyên vẹn, làm sao chúng ta có thể chống đỡ được một lực lượng gồm có

quân đoàn 1, quân đoàn 2, quân đoàn 3, quân đoàn 4, quân đoàn 232 và

một số đơn vị độc lập tổng cộng lên đến trên 150.000 người, vào khoảng 25

sư đoàn với đầy đủ vũ khí, đạn dược và cả một hậu cần vĩ đại ở miền Bắc

cũng như là các nước xã hội chủ nghĩa?

Chúng ta có thể làm được cái gì lúc đó ?

Có lẽ câu trả lời cũng sẽ tùy thuộc vào từng cá nhân nhưng đối với đa số

người miền Nam còn được sống sót sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chúng

ta đã phải sống trong đọa đày tủi nhục, trong nỗi uất hận và đớn đau của

những người thất chí vì đã không làm trọn bổn phận đối với quê hương đất

nước, không làm tròn bổn phận đối với chính gia đình và bản thân của mình
và nhất là mang cái mặc cảm phải gánh chịu trách nhiệm đã không làm tròn
bổn phận đối với các thế hệ mai sau.

Dĩ nhiên là người miền Nam, chúng ta ai cũng đều có trách nhiệm đã
không giữ được miền Nam Việt Nam, đã không bảo vệ được tự do và no ấm
cho hàng chục triệu người miền Nam, tuy nhiên tất cả chúng ta đều chỉ là
những chiếc lá khô, những cánh bèo giạt trong cơn đại hồng thủy năm 1975.
Sau ngày Vùng I và Vùng II tan rã, từ dân đến quân không ai còn tin tưởng
vào những người lãnh đạo lúc đó, Quân Đội chúng ta đã mất đi hơn một nửa
tiềm năng, vũ khí đạn dược chỉ còn đủ cung cấp cho Quân Đội chỉ có 20
ngày và quan trọng nhất là viện trợ Hoa Kỳ sẽ chấm dứt sau ngày 30 tháng
6 năm 1975, từ dân đến quân không ai còn tin tưởng vào những người lãnh
đạo lúc đó và thân phận những con người bé nhỏ như chúng ta thì chỉ như
là những “con thuyền không lái”, những “cánh diều đứt dây” và định m ệnh
của mỗi người dường như tùy thuộc vào một bàn tay nào đó ở trên cao.

Thân phận của người miền Nam chúng ta hồi đó cũng giống như thân
phận những người dân trong vùng New Orleans và các Tiểu Bang trong
vùng Vịnh Mễ Tây Cơ trong cơn bảo Katrina, giống như những chiếc thuyền
nan tý hon giữa cơn đại hồng thủy, thân phận người miền Nam chúng ta nào
có khác thân phận của những ngời dân hiền lành sống trong vùng ven biển
ở Nam Dương, ở Thái Lan một vài ngày, một vài giờ, một vài phút trước cơn
sóng thần vĩ đại vào cuối năm 2004, tất cả đang sống trước ngưỡng cửa
của thần chết, tất cả đều đang sống trong năm phút cuối cùng của cuộc đời.

Tổng Thống Ngô Đình Diệm có nói rằng: “Đừng có quên rằng trong cuộc
chiến tranh này, người nào, phe nào mà còn có thể chiến đấu được trong 5
phút cuối cùng thì phe đó sẽ chiến thắng”

Tiếc thay, vào năm 1975 thì nhân dân miền Nam lại bị đứng vào phe
“không có thể chiến đấu được trong 5 phút cuối cùng”, họ mất tất cả vì những
người lãnh đạo miền Nam không có đủ đức độ, không có đủ uy tín, không
có đủ tài năng như ông Ngô Đình Diệm, vì họ đã hướng dẫn cuộc chiến
tranh đi vào một cuộc/’chiến tranh ủy nhiệm” mà người ủy nhiệm thì từ năm
1971, từ 4 năm về trước, đã phủi tay không còn quan tâm đến nữa và đến
năm 1975 thì đã ngoảnh mặt làm ngơ.

Hơn ba mươi năm đã trôi qua kể từ ngày Việt Nam Cộng Hòa bị khai tử,
có nhiều diễn biến đã xảy ra trên thế giới và biến cố quan trọng nhất trong
thế kỷ thứ 20 là sự sụp đổ của các nước cộng sản Đông Âu và ngay cả Liên
Bang Xô Viết, “thiên đường của xã hội chủ nghĩa”.

Người dân Nga đã phải sống dưới ách cộng sản trong gần ba phần tư thế
kỷ, người dân các nước Đông Âu đã phải sống dưới ách cộng sản gần 45
năm mới được hưởng lại tự do.

Còn Việt Nam?
Đại Tá Nguyễn Ngọc Khôi, cựu Tư Lệnh Lữ Đoàn Liên Binh Phòng Vệ
Phủ Tổng Thống dưới thời Đệ Nhất Công Hòa, có kể lại cho người viết nghe
một điều tiên đoán của ông Ngô Đình Nhu về hậu quả của một cuộc đảo

chánh lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm. Đại Tá Khôi nói rằng em ruột của ông
là Đại Úy Nguyễn Ngọc Hạp, lúc bấy giờ là Sĩ Quan Tùy Viên của ông Cố
Vấn Ngô Đình Nhu, có kể lại cho ông rằng một vài ngày trước cuộc đảo
chánh 1 tháng 11 năm 1963 khi ông Hạp vào xin phép ông Cố Vấn ra về thì
ông Nhu ra lệnh cho ông Hạp phải ở lại. Trong khi ông Hạp đang còn đứng
trong văn phòng thì ông nghe ông Ngô Đình Nhu, đang đứng trước cửa sổ

nhìn ra đường và nói một mình: Nếu chế độ này bị lật đổ thì chính phủ kế
tiếp sẽ do nhóm Quân Đội lãnh đạo. Cái chính phủ của Quân Đội do
người Mỹ đưa lên thì giỏi lắm là chỉ sau một “chu kỳ” miền Nam sẽ thua
cộng sản. Một khi mà cộng sản chiếm được miền Nam thì ít nhất là sau
3 “chu kỳ” nữa nhân dân Việt Nam mới thoát được ách cộng sản. [Mạn
đàm với cựu Đại Tá Nguyễn Ngọc Khôi tại Garden Grove, California ngày
22 tháng 9 năm 2005].

Chu kỳ mà ông Ngô Đình Nhu nói đến ở đây có lẽ là 12 năm (12 con giáp
theo âm lịch) và sau cuộc đảo chánh 1963 thì các chính phủ Quân Nhân tiếp
tục lên cầm quyền và Việt Nam Cộng Hòa phải đầu hàng cộng sản Bắc Việt
vào năm 1975, đúng 12 năm sau.

Nếu quả thật ông Ngô Đình Nhu có nói như vậy và nếu mà ông ta tiên
đoán không sai thì “3 chu kỳ” sau khi cộng sản chiếm được miền Nam vào

năm 1975 sẽ là năm 2011, hy vọng rằng lúc đó thì người Việt Nam có thể
thoát được ách cộng Sản như nhân dân Nga và các dân tộc Đông Âu hồi
cuối thập kỷ 1980.

Bây giờ đã là năm 2006!
Trần Đông Phong


Click to View FlipBook Version