TIN BUỒN
Chúng tôi vô cùng thương tiếc báo tin:
Giáo sư Tiến sĩ
TRẦN QUANG HẢI
Sinh ngày 13 tháng 5 năm 1944 tại Linh Đông, quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định (nay là TP. HCM)
Ông là hậu duệ đời thứ 5 của nhạc sĩ cung đình Huế, Trần Quang Thọ (1830-1890), đời thứ tư
của nhạc sĩ nổi tiếng về đàn tỳ bà, Trần Quang Diệm, đời thứ 3 của nhạc sĩ nổi tiếng về đàn kìm
và dây Tố Lan Trần Quang Triều (tự Bảy Triều). Là trưởng nam của Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà nghiên
cứu Văn hóa và Âm nhạc cổ truyền nổi tiếng Trần Văn Khê (1921-2015) và bà Nguyễn Thị
Sương (1921-2014). Là chồng của Danh ca Bạch Yến.
Trần Quang Hải là nhà Dân tộc Âm nhạc học làm việc tại Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu khoa
học tại Bảo tàng Con người (Musée de l’Homme) Paris (Pháp) từ năm 1968. Thành viên của Hội
đồng Âm nhạc truyền thống quốc tế.
Đã từ trần vào hồi 00h00 ngày 29/12/2021 tại Paris, Pháp. Hưởng thọ 78 tuổi.
Trần Quang Hải, sinh ngày 13 tháng 5, 1944 tại làng Linh Ðông Xã, huyện Thủ Ðức, tỉnh Gia Ðịnh, Việt Nam,
trong một gia đình năm đời nhạc sĩ cổ truyền Việt Nam, tốt nghiệp trường Quốc gia âm nhạc Saigon năm 1961.
Sang Pháp học nhạc học (musicology) tại trường đại học Sorbonne, dân tộc nhạc học (ethnomusicology) tại
trường cao đẳng khoa học xã hi (School of Studies in Social Sciences, Paris). Đậu tiến sĩ dân tộc nhạc học năm
1973
Bắt đầu làm việc nghiên cứu tại Viện Bảo Tàng Con Người (Musée de l'Homme, Paris) từ 1968. Ngoài sự
nghiên cứu về kỹ thuật hát đồng song thanh (overtone singing) từ 1969, Trần Quang Hải đã trình diễn trên
3000 buổi tại 60 quốc gia trên thế giới, giảng dạy về nhạc Á châu tại hơn 100 trường đại học. Ðã viết cho 30 tờ
báo Việt ở hải ngoại từ 1975, viết cho nhiều tự điển nhạc như New Grove Dictionary of Music and Musicians
(Anh quốc, 1980 và tái bản năm 2001), Algemene Muziekencyclopedia (Hòa Lan, 1984), và nhiều báo chuyên
về âm nhạc như Journal of Ethnomusicology (Hoa kỳ), Journal of Asian Music (Hoa kỳ), The World of Music
(Ðức), Koukin Journal (Nhựt), Cahiers de Musiques Traditionnelles (Thụy Sĩ). Ðã thực hiện 15 dĩa 33 vòng và 8
CD về nhạc Việt Nam từ 1971 ở Pháp, Ý và Hoa kỳ, 6 phim video về nhạc Việt và hát đồng song thanh, 1 phim
16ly The Song of Harmonics được 4 giải thưởng quốc tế, 30 giải thưởng cho công trình nghiên cứu nhạc Việt, Á
Châu và hát đồng song thanh.
Những bài viết của Nhạc Sĩ Trần Quang Hải
GS Trần Văn Khê
Cái khó nhứt của tôi là viết về cha tôi , một người rất nổi tiếng trong giới nghiên cứu nhạc Việt Nam và Á châu. Nếu viết
khen nhiều hơn chê thì thiên hạ sẽ cho là thiên vị, là người trong nhà khen lẫn nhau. Dù ai có muốn nói gì, nghĩ gì, đối
với tôi không quan trọng.
Tôi viết về cha tôi cũng như tôi đã viết về nhiều nhạc sĩ, ca sĩ khác. Tôi chỉ ghi những gì tôi biết về cha tôi với một cái nhìn
khách quan tối đa. Nhân dịp Lễ Các Người Cha (Father's Day), tôi ghi lại một số hình ảnh của một người cha, một người
thầy và một nhà nghiên cứu âm nhạc đã mang lại cho nền âm nhạc Việt Nam những hào quang rực rỡ chói sáng trên thế
giới mà chưa có ai có thể làm được cho tới ngày hôm naỵ
I. Thời thơ ấu
Đêm rằm tháng 6 âm lịch năm Tân Dậu (1921), chú bé Trần Văn Khê chào đời trong một gia đình bốn đời nhạc sĩ.
Cụ cố Trần Quang Thọ trước kia là nhạc công Triều đình Huế. Ông nội là Trần Quang Diệm, tục danh là Ông Năm Diệm,
biết đàn kìm, đàn tranh nhưng chuyên đàn tỳ bà theo phong cách Thần kịnh Cha là Trần Quang Triều, mà giới tài tử
trong Nam thường gọi là Ông Bảy Triều biết đờn nhiều cây, mà đặc biệt nhứt là đờn độc huyền (đàn bầu), và đờn kìm
(đàn nguyệt). Với đờn độc huyền, Ông Bảy Triều đã bắt chước tiếng đào thán, tiếng ca nỉ non, nũng nịu của một người
con gái, và ông đã chế ra cách lên dây đờn kìm mà ông gọi là "dây Tố Lan", thuộc hò nhì, lấy chữ xự làm hò mà dây Tồn
cao bằng giọng hò trầm, thường dùng để đờn Văn Thiên
Tường và Tứ đại oán, mà giới tài tử trong Nam đều biết và còn sử dụng. Người cô thứ ba Bà Trần Ngọc Viện, tục gọi là Cô
Ba Viện, trước dạy nữ công tại trường áo tím, năm 1926 vì để tang Cụ Phan Châu Trinh nên bị sa thải, về Vĩnh Kim lập
gánh hát đồng Nữ Ban, toàn diễn viên con gái, con nông dân vùng Vĩnh Kim, đông Hoà, Long Hưng, đàn tranh rất hay và
đã truyền ngón cho Trần Văn Khê trong những bài Nam Xuân, Nam Ai.
Cụ cố ngoại là Nguyễn Tri Phương, đã làm đến chức Khâm sai Kinh Lược Nam Kỳ, tuyệt thực tử tiết khi Pháp chiếm thành
Hà Nội lúc Cụ đang giữ chức Tuyên sát đồng sức đại thần miền Bắc. Ngoại tổ là Nguyễn Tri Túc, lúc sinh thời đã nuôi rất
nhiều nhạc sĩ danh tiếng vùng
Cần đước, Vĩnh Kim để cho hai người con là Nguyễn Tri Lạc và Nguyễn Tri Khương học các thứ đờn. Ông Nguyễn Tri
Khương, cậu thứ năm của Trần Văn Khê mà cũng là thầy dạy Trần Văn Khê đánh trống nhạc lễ và trống hát bội, đã sáng
tác nhiều bản nhạc theo truyền thống
Như: "Yến tước tranh ngôn", "Phong xuy trịch liễu" mà Trần Văn Khê đã ghi âm vào dĩa hát CD OCORA số C 56005. Mẹ là
Nguyễn Thị Dành không được Cha cho học nhạc, nhưng thường thích nghe hoà nhạc trong gia đình.
Trần Văn Khê chẳng những được may mắn sanh trong một gia đình mà hai bên nội ngoại đều là nhạc sĩ, mà lại được
"thai giaó" một cách rất đặc biệt. Nhà phía bên nội ở gần lò heo, nên người cậu thứ năm ông Nguyễn Tri Khương đã xin
phép nội tổ được đem mẹ Trần Văn Khê về dưỡng thai trong miếng vườn riêng có trồng nhiều thứ hoa đẹp lại xa lò heo,
không nghe tiếng heo kêu la khi bị thọc huyết. Mỗi ngày ông lại thổi sáo và đàn tranh cho người em gái là thân mẫu Trần
Văn Khê nghe mỗi sáng, trưa, chiều. Mắt không xem hát bội, không xem đá gà, chỉ thường đọc những sách như "Nhị
Thập Tứ Hiếu", "Gia Huấn Cạ" Sau khi chào đời, mỗi ngày Trần Văn Khê vẫn tiếp tục được nghe đàn sáo của cậu Năm
Nguyễn Tri Khương, và cậu Mười Nguyễn Tri Ân cũng là người thổi ống tiêu rất hay.
Sau khi cúng thôi nôi, được ông nội rước về ở gần Ông và hàng ngày nghe ông đờn tỳ bà, cha đờn độc huyền, cô đờn
tranh, chú bé đã sống trong một không khí đầy nhạc. Khách tới, ông nội đờn bài Lưu Thuỷ, để cho chú bé Trần Văn Khê
nhảy cà tưng trong tay người cô hay người khách, cho thấy chú bé biết theo nhịp, hễ ông đờn mau, thì nhảy mau, ông
đờn chậm thì nhảy chậm.
Sáu tuổi đã biết đờn kìm (đàn nguyệt) , đờn mấy bản dễ như "Lưu Thuỷ", "Bình Bán văn", "Kim Tiền", "Long Hổ Hội". Bảy
tuổi đã tập cho các chị diễn viên gánh đồng Nữ Ban của cô Ba Viện hát bài "La Madelon" để chưng màn đầu cải lương.
Tám tuổi biết đờn cò. Mười hai tuổi biết đờn tranh và đánh trống nhạc, biết cùng với người anh họ, anh Ba Thuận, con
của cậu Năm Khương chơi trò làm chai, xô giàng, khai xá, đề phang.
Nhưng Trần Văn Khê lại bị mồ côi rất sớm. Ba tuổi ông ngoại qua đời. Năm tuổi đến phiên ông nội. Mẹ mất năm 9 tuổi,
và năm sau 10 tuổi cha từ trần. Cô Ba Viện nuôi ba anh em Trần Văn Khê, Trần Văn Trạch và Trần Ngọc Sương đến ngày
khôn lớn. Tuy mới lên 10 tuổi, mà cô ba đã lo việc đào tạo con người cho cháu. Trước hết phải biết đi xe đạp, phải đạp đi
lần từ nhà ra ngả ba chim chim, rồi đi đến Xoài hột, rồi tới Mỹ Tho cách nhà 14 cây số. Phải biết lội. Hàng ngày cô nhờ
mấy anh em bà con tập cho lội lần đến lúc bỏ bập dừa lội sang sông, cô mới cho tắm sông. Rồi cho học võ Thiếu Lâm với
anh Ba Thuận, với mấy thày dạy võ trong vùng. Cho học để tự vệ, để khỏi sợ ma, mà không cho đi đấu. Cô lại mua cho
một cây đờn kìm nhỏ vừa tay như bên Châu Âu con nít phải đờn violon 2/4 để khỏi hư ngón. Lúc nào đờn chơi, cô cũng
nghe và vừa sai là sửa liền.
II. Thời kỳ học tập
Sơ học
10 tuổi đậu Tiểu học. Sang Tam Bình Vĩnh Long nhờ người cô thứ năm nuôi. đến Tam Bình , Trần Văn Khê được học chữ
Hán trong ba năm với Nhà thơ và nhà nho Thượng Tân Thị và trong kỳ Sơ học năm 1934 tại Vĩnh Long được đậu Sơ Học
có phần Hán Văn. Cả tỉnh chỉ có
Trần Văn Khê và Nguyễn Trọng Danh được đậu bằng chữ Hán.
Trung học
Vào trường trung học Trương Vĩnh Ký năm 1934, được cấp học bổng. Năm nào cũng đứng đầu lớp, và năm thứ tư học
Pháp văn với ông Champion, được chấm đậu kỳ thi tuyển một học sinh xuất sắc nhứt trong năm đệ tứ để được du lịch
trên chiếc xe lửa xuyên Việt năm 1938
từ Saigon đến Hà nội, ghé qua Phan Thiết, Tourane (Ðà Nẵng), Nha Trang, Huế. Thêm một cái may trong đời học sinh là
được học Việt văn và Hán văn với Giáo sư Phạm Thiều.
Đậu tú tài phần nhứt năm 1940, thủ khoa phần nhì năm 1941, và nhờ vậy được Giải thưởng đặc biệt của đô đốc Decoux,
để đi viếng cả nước Cao Miên (Kampuchea) xem Chùa Vàng, Chùa Bạc tại Nam Vang, viếng đế Thiên đế Thích và trên
đường về Việt Nam, ghé Hà Tiện Nhờ thầy Phạm Thiều giới thiệu, được nhà thơ Ðông Hồ tiếp đãi trong một tuần, dẫn đi
xem thập cảnh mỗi nơi được nghe một bài thơ hay do thi sĩ Ðông Hồ đọc để vịnh cảnh đẹp.
Trong lúc học tại trường trung học Trương Vĩnh Ký, đã cùng Lưu Hữu Phước, Võ Văn Quan lập dàn nhạc của trường, và
dàn nhạc của học sinh trong Câu lạc bộ họcsinh mang tên là Scola Club của Hội SAMIPIC (đức Trí Thể Dục Nam Kỳ). Trần
Văn Khê chỉ huy hai dàn nhạc đó, vừa phối khí dàn nhạc dân tộc có chen đàn Tây như mandoline, ghi-ta (guitar), vừa
diễn trong khuôn khổ dàn nhạc Scola Club, những bài hát Tây loại "Les Gars de la Marine", "Sunset in
Vienna", làm trưởng ban tổ chức lễ Ông Táo trước ngày lễ nghỉ vào dịp Tết Ta, Tổng thư ký hội Thể Thao, và giữ tủ sách
của trường trong ba năm Tú Tài.
Được học bổng của chánh phủ thuộc địa, lại được bổng đặc biệt của hội SAMIPIC, Trần Văn Khê ra Hà Nội học y khoa.
Đại Học
Tại đại Học Hà Nội, cùng với các bạn Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Phan Huỳnh Tấng (nay đổi thành
Phạm Hữu Tùng), Nguyễn Thành Nguyên, hoạt động trong khuôn khổ của Tổng Hội Sinh Viên mà Chủ tịch là Dương Ðức
Hiền và sau này là Phạm Biểu Tâm.
Trần Văn Khê đứng trong ban tổ chức đêm hát trường đại học hằng năm, không được học nhạc Tây phương bao giờ, chỉ
học dương cầm (piano) vài giờ với Bình Minh, con gái của đốc Công đức, sau tự học piano, mà dám phê bình các nhạc sĩ
trong dàn nhạc trường đại học, mà phê bình đúng, nên được các nhạc sĩ cử làm chỉ huy dàn nhạc trường đại học. Trần
Văn Khê thừa dịp đó để có thể , ngoài những bản thông thường của nhạc Tây phương như "La Veuve Joyeuse", "Marche
Turque", "Monument Musical",v.v. giới thiệu những bài hát thanh niên và lịch sử của Lưu Hữu Phước.
Trần Văn Khê và Lưu Hữu Phước tập cho học sinh trường Thành Nhân hát bài hát "Thiếu Sinh", các cô trường đồng
Khánh hát bài "Thiếu Nữ Việt Nam", sinh viên đại Học Hà Nội hát bài "La Marche des Etudiants", và đầu năm 1943, dựng
ca nhạc kịch "Tục Luỵ" (Thơ của Thế Lữ, nhạc phổ Lưu Hữu Phước) với nữ sinh trường đồng Khánh Hà Nội, hè 1943,
dựng ca kịch "Tục Luỵ" với nữ sinh trường áo tím nữ học đường (sau đổi thành trường Gia Long cho tới năm 1975 đổi
thành trường Nguyễn Thị Minh Khai).
Trần Văn Khê tham gia phong trào "Truyền bá quốc ngữ trong ban của Bà Hoàng Xuân Hãn, "Truyền bá vệ sinh" của các
sinh viên trường Thuốc, và cùng các bạn Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng tổ chức những chuyến "đi Hội
đền Hùng", và đi viếng sông Bạch đằng, Ải Chi Lăng, đền Hai Bà.
III Lập Gia đình và Hoạt động Xã hội
Năm 1943, Trần Văn Khê lập gia đình với Nguyễn Thị Sương, người bạn gái học cùng lớp Triết ở trường Pétrus Ký. Bà
Sương là một trong bốn nữ sinh học ban Tú Tài của trường con trai Pétrus Ký vì lúc đó trường Áo Tím không có lớp trình
độ trung học nhị cấp như bây giờ. Nguyễn Thị Sương rất giỏi về triết lý, bài viết đã từng được trên đài phát thanh. Lúc đó
còn đang học trường thuốc, Trần Văn Khê nghe lời người cô Trần Ngọc Viện, người đã lo cho ăn học từ nhỏ tới lớn, để
lập gia đình, với hy vọng có con trai nối dòng họ Trần. Trong gia đình họ Trần, thân phụ Trần Văn Khê đã qua đời sớm, để
lại hai trai là Trần Văn Khê và Trần Văn Trạch (từ trần năm 1994 tại Paris, Pháp). Nếu không may hai cậu trai ấy qua đời
mà chưa có con trai nối dòng thì dòng họ Trần sẽ tuyệt. Nghe theo lời của cô, Trần Văn Khê chịu lập gia đình. Trần Văn
Khê yêu cô Nguyễn Thị Sương, bạn học cùng lớp Tú tài ở trường Pétrus Ký, người con gái thuỳ mị, dễ thương, học giỏi
nhứt bên phía nữ, con gái đầu lòng của ông Hanh (Nguyễn Văn Hanh), giáo viên tại Saigon và sau đó làm đốc học tại Thủ
Đức. Vào mùa hè năm 1943, sau mấy năm đeo đuổi hình bóng người con gái miền Nam kiều diễm, hiền hoà,
Trần Văn Khê đã cùng Nguyễn Thị Sương sánh duyên, mang lại cho dòng họ Trần 4 đứa con: hai trai (Trần Quang Hải
hiện là nhà nghiên cứu nhạc dân tộc tại Paris, Trần Quang Minh hiện là kiến trúc sư ở Saigon) và hai gái (Trần Thị Thuỷ
Tiên hiện sống tại Paris, và Trần Thị Thuỷ Ngọc, nữ nhạc sĩ đàn tranh và làm việc cho một ban nghiên cứu đông Nam Á
của trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học ở Paris). Sự hy sinh cao cả của người vợ hiền suốt thời gian tranh đấu cho
đất nước đã giúp cho Trần Văn Khê làm tròn sứ mạng của một thanh niên yêu
nước có đủ thì giờ tranh đấụ Từ 1949 khi Trần Văn Khê lên đường sang Pháp để lại quê nhà một vợ, 3 con thơ dại và một
đứa con còn nằm trong bụng mẹ , người vợ đã trở thành cô giáo dạy Pháp văn vaÀnh văn để nuôi và dạy dỗ 4 con cho
tới ngày trưởng thành. Sự hy sinh đó đã được đền bù xứng đáng là các con ngày nay đều thành danh, mang lại cho đất
nước những tiếng thơm tốt đẹp qua những thành quả gặt hái khắp năm châu bốn biển của con trai đầu lòng Trần Quang
Hải.
Mùa thu năm 1943, sau khi thi đậu đầu từ năm thứ nhứt đến năm thứ nhì trường Thuốc, đã bắt đầu chuẩn bị thi ngoại
trú (Externe des Hơpitaux) thì nhiều sự kiện làm Trần Văn Khê phải xin thôi học để trở về Nam.
Thứ nhứt là tại vấn đề sức khoẻ: bị rét rừng rất nă.ng. Trần văn Khê không có vi trùng lao trong cơ thể thử theo cách
tiêm dưới da (intra dermo) cũng không thấy có vi trùng, thì khi học đến những bịnh truyền nhiễm, thì không đủ sức để
kháng cự
Thứ hai là lúc đó có phong trào "Xếp bút nghiên." Lưu Hữu Phước đặt nhạc và Huỳnh Văn Tiểng viết lời bản nhạc "Xếp
bút nghiên" đã được các sinh viên thời đó hát hăng say.
...Lúc quê hương cần người
Dứt là tơ vương
Giã trường lên yên...
Nhiều bạn trong đó có Lưu Hữu Phước và Huỳnh Văn Tiểng đã rời nhà trường, không phải lên yên ngựa mà lên xe đạp đi
về Nam bằng xe đạp. Trần Văn Khê lúc đó đau rét rừng mới hết, còn yếu, nên về Nam bằng xe lửa.
Lý do thứ ba là lúc ấy bắt đầu có nạn đói tại miền Bắc. Trần Văn Khê và Lưu Hữu Phước định về Nam để lập một gánh hát
sinh viên đi các tỉnh vừa giới thiệu bài hát thanh niên, lịch sử của Lưu Hữu Phước, vừa góp tiền mua gạo gởi ra cứu đói
ngoài Bắc. Và gánh hát không chuyên nghiệp và lưu động của sinh viên đã đi trong mấy tháng tại các tỉnh miền đông và
miền Tây để hát.
Về Nam, cùng với các bạn sinh viên , Trần Văn Khê tham gia tổ chức "Đêm Lam Sơn" tại Saigon, để ủng hộ học sinh trại
"Suối Lồ Ồ". Rồi tham gia phong trào "Thanh Niên Tiền Phong" đầu năm 1944, Trần Văn Khê dạy học tại hai trường tư
lớn nhứt tại Saigon: trường Lê Bá Cang và trường Nguyễn Văn Khuê.
Ngày 13 tháng 5 dương lịch, năm 1944, Trần Quang Hải, con trai đầu lòng của Trần Văn Khê ra đời tại nhà bảo sanh Thủ
Đức. Lưu Hữu Phước đã viết một ca khúc "Trần Quang Hải bao nỗi mừng" để chào mừng con trai đầu tiên của người bạn
chí thân của mình. Đứa cháu trai nối dòng họ Trần.
Các trường tản cư xuống tỉnh. Trường Pétrus Ký do Giáo sư đặng Minh Trứ làm Giám đốc, được chuyển về Bến Tre. Trần
Văn Khê trong khi chuẩn bị dạy trường ấy, dạy học trường tư thục của bác sĩ Nguyễn Văn Còn.
Lúc ấy, ngoài việc dạy học, còn tham gia Ban tuyên truyền của tỉnh Bến Tre cùng với Đặng Ngọc Tốt, đi các nơi trong tỉnh
Bến Tre, Sa đéc. Anh Đặng Ngọc Tốt diễn thuyết, Trần Văn Khê hát các bài nhạc của Lưu Hữu Phước để nhắc lại những
trang lịch sử oai hùng của dân tộc Việt Nam.
Sau ngày 9 tháng 3, năm 1945, Nhựt đảo chánh, Trần Văn Khê cùng các bạn sinh viên đại Học Hà nội, ủng hộ "Chánh phủ
cách mạng lâm thời " và thành lập nhóm "Hoàng Mai Lưu" (Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ và Lưu Hữu Phước). Lúc đó
Trần Văn Khê bắt đầu quen biết Phạm Duy, và giới thiệu Phạm Duy cho Lưu Hữu Phước.
IV- Tham Gia Kháng Chiến
Từ tháng 8, năm 1945, Ông Phạm Văn Bạch lúc ấy làm chánh chủ tỉnh Bến Tre đã ký giấy cho Trần Văn Khê lên chợ Thiên
Hộ gặp Huỳnh Văn Tiểng, lúc đó làm Phó Chủ tịch uỷ ban kháng chiến Nam bộ. Trần Văn Khê được Huỳnh Văn Tiểng ký
tên bổ nhậm làm "Nhạc trưởng quân đội Nam bộ" với cấp đại đội trưởng trong Cộng hoà vệ binh.
Trước khi vào khu kháng chiến, Trần Văn Khê đưa gia đình về Vĩnh Long. Tại đó gặp Phạm Duy, lúc đó Phạm Duy theo
gánh hát cải lương "Đức Huy Charles Miều" đêm đêm hát tân nhạc giữa hai màn cải lương. Mỗi đêm sau khi vãn hát,
Trần Văn Khê và Phạm Duy gặp nhau nói chuyện về nhạc mới.
Lưu Hữu Phước đã cùng Trần Văn Khê đặt các điệu kèn cho quân đội để thay thế các giọng kèn Tây thổi lúc sáng thức
dậy, lúc chào cờ, lúc đi ngủ , v.v. Lưu Hữu Phước tình nguyện đi làm thuốc súng và lựu đạn với Nguyễn Mỹ Ca tại Hoả
Lựu (Rạch Giá). Trần Văn Khê đi kháng chiến, mà hiếu hoà, không ưng cầm súng, nên đi khắp nơi thay đổi các điệu kèn
quân đội, tổ chức đoàn quân nhạc gồm các nhạc sĩ công giáo làng Lương Hoà. đi khắp vùng đồng Tháp, Chợ Thiên Hộ, đi
đến Hậu giang, các tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, đi đến Cà Mau, Năm Căn, Cái Nước vừa giúp ban tuyên truyền Nam bộ trong
việc huy động toàn dân kháng chiến, vừa thâu tiền lẻ để giúp nhà thương quân y, như nhà thương ở Lẫm Biện Tú, vùng
Cái Nước do bác sĩ Nguyễn Tú Vinh cai quản. Uỷ lạo chiến sĩ ngay mặt trận, đàn và hát cho thương binh nghe những điệu
hát câu hò dân gian, và nhứt là những bài nhạc của Lưu Hữu Phước.
Tháng 3, năm 1946, đứa con trai thứ nhì Trần Quang Minh ra đời. Như vậy là Trần Văn Khê đã làm cho cô ba Viện an
lòng nơi chín suối. Gia đình họ Trần đã có con trai nối dòng rồi! Và lúc ấy cả gia đình của Trần Văn Khê đều tản cư đến
Cái Nước, nên chưa lo xong việc nhà, không cùng đi ra Bắc với Lưu Hữu Phước, và bác Tôn đức Thắng được.
Vì thế, cuối năm 1946, thay vì ra Bắc, Trần Văn Khê trở về thành. Nhưng về để tham gia với nhóm "kháng chiến tại
thành" do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, sau Mai Văn Bộ chỉ huy, bằng cách viết báo cho nhóm Thống Nhứt, liên lạc với
các giới nghệ sĩ cải lương Lúc ấy Trần Văn Khê vừa viết cho báo Thần Chung, Việt Báo, tạp chí Sông Hương, tạp chí Mai,
vừa dạy Anh Văn tại hai trường Huỳnh Cẩm Chương, Ngô Quang Vinh, và mở lớp dạy tư Anh văn tại nhà. Được phái cho
phận sự phê bình âm nhạc và sân khấu , Trần Văn Khê lúc ấy gặp gỡ rất thường càc đào kép cải lương như Tư Chơi, Năm
Châu, Bảy Nhiêu, Duy Lân, và hằng tháng gặp các anh có cả anh Tư Trang để bàn về sự phát triển của cải lương.
Năm 1948, các tổ kháng chiến tại thành bị lộ, Trần Văn Khê bị bắt và giam tại khám Catinat cùng một lúc với các giáo sư
tư thục Nguyễn Văn Hiếu (sau này là Bộ trưởng Văn Hoá, Trần Thọ Phước (sau này là Giám đốc Air Vietnam ở đông Nam
Á ). Năm ấy vào mùa thu, con gái đầu của Trần Văn Khê chào đời.
V. Những năm đầu tiên trên đất Pháp
Năm 1949, vì bị lộ nên Trần Văn Khê, sau khi bàn với các bạn, rời nước Việt Nam sang Pháp, vừa "lánh nạn", vừa du học.
Tới Pháp với hai bàn tay trắng, một bộ đồ vải tropical, và bản hợp đồng với các báo kể phía trên để làm "phóng viên"
Trần Văn Khê lúc ấy thành ký giả chuyên nghiệp, có được thẻ nhà báo chuyên nghiệp do sở Thông tin Pháp cấp cho.
Vừa tới Pháp tháng 5, thì tháng 8 cùng đi với học sinh Việt Nam tham dự Liên hoan thanh niên tại Budapest (HungGia
Lợi). Cùng với anh Nguyễn Ngọc Hà (hiện giờ chức Phó trưởng ban Việt kiều trung ương), tổ chức chương trình văn nghệ
giới thiệu nước Việt Nam đang tranh đấu dành tự do. Trần Văn Khê dự thi nhạc cụ dân tộc, với hai cây đàn cò và đàn
tranh, được Giải nhì , sau Liên Xô , đồng hạng với Mông Cổ, trước Hung Gia lợi và Bảo Gia lợi. đồng thời Trần Văn Khê
được anh đại diện Kháng chiến Việt Nam từ chiến khu sang Miến điện để đi Bupadest, tặng "Lá cờ thi đua" vì đã giới
thiệu có hiệu quả nhứt trong đoàn, tinh thần kháng chiến anh dũng của dân tộc Việt Nam cho thanh niên nhiều nước
biết.
Sau chuyến đi Budapest, Trần Văn Khê mất học bổng sắp được để học Khoa báo chí tại đại học Michigan, và không được
thẻ tạm trú tại Pháp, mỗi ba tháng phải lên sở cảnh sát Paris trình diện.
Tự làm việc để sinh sống, từ năm 1949 tới 1951 đọc các báo Pháp để viết tiết mục "điểm báo", làm phóng viên về các
sinh hoạt Việt kiều, và viết du ký, phóng sự, và cắt gởi về toà soạn những bài báo xã thuyết về chánh trị quốc tế, và
chánh trị liên hệ đến Việt Nam. Nhân làm báo, mới thi vào trường chánh trị nổi tiếng là "Sciences Po" Paris thử chơi.
được đậu vào năm thứ nhì của trường, Trần Văn Khê học hai năm trong môn Giao dịch quốc tế, và học thêm Anh văn tại
đại học văn khoa Paris.
Tiền học nhờ báo bên nhà hàng tháng chuyển ngân. Nhưng báo thường bị đóng cửa. Trần Văn Khê phải đi đờn mỗi tối
thứ năm, và tối chủ nhựt tại hiệu cơm "La Paillote" của bà Từ Bá Hoà để được một bữa cơm ngon và chút ít tiền túi.
Trong năm sau, mỗi cuối tuần, giới thiệu đờn cò, đờn tranh tại nhà hàng "Bồng Lai" của ông Bùi Văn Tuyền, tại vùng
Champs Elysées. Ghi âm cho hãng dĩa hát ORIA, hơn 30 bài nhạc mới của Lưu Hữu Phước, Phạm Duy, Võ đức Thu,
Nguyễn Hữu Ba, Lê Thương, Hùng Lân, với bí danh là Hải Minh (tên của hai đứa con trai ghép lại ).
Ngày 10 tháng giêng năm 1950, con gái út của Trần Văn Khê ra đời. Trần thị Thuỷ Ngọc sanh tại tỉnh Vĩnh Lọng Lúc ấy
Trần Văn Khê đã ở Pháp hoạt động văn nghệ cho Hội Ái Hữu Việt Kiều do GS Phạm Huy Thông làm hội trưởng, chơi thân
với nhà viết báo Khuông Việt, nhà
thơ Nguyễn Văn Cổn, Lê Văn Sáu, lúc ấy là sinh viên trường Chánh trị và đại học văn khoa (cựu giáo sư đại học sư phạm
Thành Phố Hồ Chí Minh). Trần Văn Khê khi rời Việt Nam đi sang Pháp thì vợ mới cấn thai có 10 ngàỵ đứa con gái út mở
mắt chào đời không thấy mặt
cha và cũng không biết cha cho tới năm 1969 mới được sang Pháp để nhìn thấy mặt cha lần đầu.
Mùa hè năm 1950, Trần Văn Khê sang La Haye, Hoà Lan học về luật quốc tế, một khoá với Lê Thành Khôi (từng làm giáo
sư đại học Paris, người viết quyển Histoire du Vietnam được nổi tiếng)
Hè năm 1951, thi đậu ra trường Chánh trị Khoa giao dịch quốc tế. Nhờ đậu hạng 5, nên được tuyển vào ngạch thư ký
quốc tế cho Liên Hiệp Quốc, năm ấy họp đại hội tại Paris.
Trong khi chờ đợi nhậm chức vào mùa thu 1951, thì tháng 8, hai tháng sau khi đậu bằng Chánh trị, bị đưa vào nhà
thương Cochin, bị giải phẩu gấp và từ đó đến tháng 10 năm 1954, phải bị sống "bên lề cuộc đời", đi từ bịnh viện này,
đến trung tâm dưỡng bịnh nọ , bị giải phẩu 4 lần, và đã phải uống, và bị tiêm bao nhiêu thứ thuốc có thể chữa bịnh này
gây bịnh khác. Ba năm hai tháng, mới được trở về cuộc sống bình thường. Nhưng cũng nhờ bị "nhốt" trong nhà thương
mà Trần Văn Khê có cơ hội, có thì giờ đọc bao nhiêu sách tại thư viện Paris. Ghi tên soạn luận án Tiến sĩ đại học Paris
năm 1952, Trần Văn Khê được các uỷ viên văn hoá (délégué culturel) của các nhà thương dành cho sinh viên như Centre
de Cure Universitaire tại Arie sur l'Adour, Postcure Universitaire tại vùng Sceaux, ngoại ô Paris, lo việc mượn, và trả sách.
Từ năm 1954, ra khỏi nhà thương, cho đến 1958, theo học khoa nhạc học và chuẩn bị luận án Tiến sĩ dưới sự chỉ đạo của
các Giáo sư Jacques Chailley, Emile Gaspardone, và André Schaeffner.
Ngoài ra Trần Văn Khê làm nhiều công việc để mưu sống. Đáng kể nhứt là bốn việc sau đây:
1. Thực hiện 52 buổi nói chuyện bằng tiếng Việt cho đài BBC Luân đôn với các đề tài âm nhạc kịch nghệ và chuyện cổ tích
Việt Nam
2. Ðóng phim cho hãng "Arthur Rank Corporation" bên Anh. Phim tên là "A Town Like Alice" (Một thành phố giống như
Alice Springs, một thành phố giữa sa mạc bên châu Úc). Phim dựa theo tiểu thuyết của Nevil Shute, Pháp dịch tên phim
là "Ma vie commence en Malaisie" (Đời tôi bắt đầu từ Mã Lai). Ðóng vai đại uý Nhựt Sugaya, cai quản trại tù binh Anh và
Úc. Đóng chung với Peter Finch và Virginia Mac Kenna. Phim được lựa chiếu tại Liên hoan phim Cannes năm 1957.
3. Trong phim Pháp "La Rivière des Trois Joncques" (Ba chiếc thuyền trên con rạch) , phim gián điệp. Trần Văn Khê đóng
hai vai: vai chánh cảnh sát trưởng Việt Nam trong cơ quan phản gián điệp, vai phụ: ông già Tàu bán đồ cổ. Đóng với Jean
Gaven và Dominiques Wilms.
4. Lồng tiếng phim "Gengis Khan" trong vai Thừa tướng Kao Lịnh Vai do tài tử Mỹ James Mason đóng. Tiếng Pháp do
Trần Văn Khê nói.
Còn lồng tiếng cho phim "Tarzan nổi giận" trong vai Rokov do dược sĩ Nguyễn Trọng Thu, người tiền phong trong việc
lồng tiếng phim ngoại quốc ra tiếng Việt chủ trương, và hai phim Mễ Tây Cơ do Vạn Ý Phim phát hành. Giám đốc: ông
Huỳnh Tấn đốc.
Lồng tiếng phim cho mấy chục phim Mỹ chuyển sang tiếng Pháp cho các hãng Kikoine, Hen, vv. đóng phim quảng cáo
cho xe Renault 4, cho hãng rượu Martini, v.v.
Tháng 6 năm 1958: đậu Tiến sĩ Văn Khoa (Môn Nhạc Học) đại học Sorbonnẹ Tối ưu với lời ban khen của giám khảo
(Mention Très Honorable avec félicitations du Jury). Luận án chánh: Âm nhạc truyền thống Việt Nam (La musique
vietnamienne traditionnelle / The Traditional Vietnamese Music). Đề tài phụ:
1. Khổng Tử và âm nhạc (Confucius et la Musique / Confucius and Music).
2. Vị trí âm nhạc trong xã hội Việt Nam (Place de la musique dans la société vietnamienne / Place of Music in the
Vietnamese Society).
VI. Sau khi đậu Tiến sĩ Văn Khoa
Tháng 8 năm 1958: dự hội nghị quốc tế đầu tiên tại trụ Sở UNESCO Paris. Tham luận và Hoà nhạc chung một chương
trình với Ravi Shankar (Ấn độ), Ebadi và Hossein Malek (Ba Tư), Yuize Shinichi (Nhựt Bổn) và Yehudi Menuhin (Mỹ gốc
Nga. Danh cầm thế giới về violon / violin). Năm 1959: Hội Singer Polignac cho học bổng một năm để nghiên cứu và phổ
biến nhạc Việt Nam và nhạc châu Á tại Paris. Sáng lập Trung Tâm Nghiên cứu nhạc đông Phương (Centre d'Etudes de
Musique Orientale / Center of Studies for Oriental Music). Giữ chức Giám đốc học vụ và Giáo sư nhạc Việt Nam. Từ năm
1979 chủ tịch Trung tâm kiêm Tổng giám đốc học vụ đến năm 1989. Trung tâm này giải tán khi Trần Văn Khê hưu trí, sau
30 năm hoạt động.
Từ khi đậu Tiến sĩ đến lúc về hưu năm 1987, các hoạt động đi vào 5 hướng chánh:
1. Nghiên cứu âm nhạc
Năm 1960, được bổ nhiệm vào Trung Tâm nghiên cứu khoa học Pháp (Centre National de la Recherche Scientifique /
National Center for Scientific Research) với chức Tuỳ viên (attaché de recherche), 1964 lên chức Chuyên viên nghiên cứu
(chargé de recherche), năm 1968 lên chức nghiên cứu sư (maître de recherche), và từ năm 1971 lên chức Giám đốc
nghiên cứu (Directeur de recherche).
Đề tài nghiên cứu: trước hết là âm nhạc truyền thống Việt Nam rồi đi lần đến đề tài "đối chiếu nhạc cụ, nhạc lý và ngôn
ngữ âm nhạc các nước Châu Á".
Trong mỗi đề tài đi dài trong thời gian và rộng trong không gian. Trong thư viện tìm thư mục, trong các Bảo tàng viện
nghe các băng từ, dĩa hát làm phiếu, và nhứt là đi diền dã (recherche sur le terrain / field research), và tự ghi âm , chụp
ảnh trên thuộc địa. Mỗi năm báo cáo kết quả và phải có ít nhiều bài đăng trong các tạp chí chuyên môn.
Phải tham gia giảng trong các trường đại học, và tham luận tại các hội nghị quốc tế.
Không thể đi sâu vào chi tiết, nhưng chỉ đưa ra vài con số điển hình:
- Trần Văn Khê đã đăng trong 27 năm làm việc, gần 200 bài đa số viết bằng tiếng Pháp, một số nhỏ bằng tiếng Anh có
một số bài được dịch ra tiếng Đức, tiếng Trung quốc, tiếng Ả Rạp trong đó có hơn 130 bài đăng trong từ hai ba chục đến
cả trăm trang đánh máy, và những bài đăng trong tạp chí Le Courrier de l'UNESCO được dịch ra hơn 15 thứ tiếng.
- Trần Văn Khê được các nước mời hay được Trung tâm nghiên cứu khoa học Pháp và UNESCO phái đi dự gần 200 hội
nghị quốc tế trên 67 nước trên thế giới.
-Đã tự ghi âm trên 600 giờ âm nhạc và trao đổi với nghệ nhân, nghệ sĩ Việt Nam, trên 300 giờ âm nhạc Châu Á, châu Phi,
chụp hơn 8.000 tấm ảnh, dương bản, ảnh màu hoặc đen trắng về sinh hoạt âm nhạc tại Việt Nam và tại nhiều nước đãi
qua, thu thập được gần 500 dĩa hát
của các nước trên thế giới, thực hiện được hơn 15 dĩa hát về âm nhạc truyền thống Việt Nam, 4 dĩa được 5 giải thưởng
lớn của Hàn lâ m viện dĩa hát Pháp, năm 1960, 1970, dĩa hát đức quốc năm 1969, Diapason dór của tạp chí chuyên về
giới thiệu và phê bình dĩa hát tại Pháp, và giải các nhà phê bình dĩa hát tại đức quốc năm 1994
- Đã thực hiện nhiều phim ngắn dài về dân tộc nhạc học như phim về lối hát cổ điển Dhrupad( Ấn độ), vế ong Sheng
Trung quốc (Sanh hầu), đàn Gu Quin (cổ cầm Trung quốc), đàn tranh Việt Nam.
2. Giảng dạy trong các trường đại học
Từ năm 1963 dạy trong Trung Tâm Nghiên cứu nhạc đông phương , dưới sự bảo trợ của Viện Nhạc Học Paris (Institut de
Musicologie de Paris / Institute of Musicology) môn thực tập đàn tranh và lớp lý thuyết, ngôn ng" âm nhạc các nước
Châu Á đến năm 1980 chỉ lo về hành chánh và tổ chức chương trình giảng dạy.
Từ năm 1965 được mời dạy một lớp về âm thanh, thang âm điệu thức trong các truyền thống tại châu Á.
Từ năm 1970 đến sau dạy môn dân tộc nhạc học cho lớp cử nhân và Cao học. Có cả Séminaire cho các thí sinh Tiến sĩ. GS
Trần Văn Khê chỉ đạo nghiên cứu, đỡ đầu và làm giám khảo cho hơn 50 thí sinh bảo vệ tiểu luận án cao học và luận án
tiến sĩ về nhạc châu Á châu Phi. Trong số đó chỉ có một tiến sĩ Việt Nam là Nguyễn Thuyết Phong là có thời gian được dạy
âm nhạc Việt Nam tại trường đại học Kent bên Mỹ.
Ngoài ra còn giảng ba năm cho trường Cao học Khoa học xã hội (Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales), giảng
nhiều lần tại Nhạc viện Paris lớp về nhạc cụ Châu Á của bà bá tước Genivieve de Chambure, và được thỉnh giảng trên 15
đại học năm châu, chỉ nhắc đến một vài nơi như Hàn Lâm viện List tại Budapest, đại học Varsovie, đại học Vicenza,
Venise, Iran (Ba Tư), Tây Nam Úc châu, Perth, Trường nhạc Algerie, 3 lần tại đại học Hawaii, 2 lần UCLA,
Los Angeles, Carbondale (Southern Illinois), 3 lần tại Nhạc Viện Hà nội, và nhiều lần tại lớp thể nghiệm dạy nhạc dân tộc
trên cấp đại học của Viện Nghiên cứu âm nhạc và múa do cố GS Lưu Hữu Phước làm Viện trưởng, v.v.
GS Trần Văn Khê thường nói trong 20 năm vừa qua đã "đốt đuốc tìm học trò". Và trong nhiều buổi thuyết trình Giáo sư
có nhắc đến người môn sinh theo dõi và thực hiện được một số công trình mà Giáo sư mơ ước là Nhà giáo ưu tú Phạm
Thuý Hoan, giảng viên đờn tranh tại Nhạc viện Thành Phố HồChí Minh.
3. Nhạc sĩ truyền thống Việt Nam
Tuy Giáo sư Trần Văn Khê dạy về nhạc học, nhưng vẫn không quên mình là nhạc sĩ truyền thống. Trong các hội nghị quốc
tế, thường được mời tham dự với hai tư cách: người nghiên cứu tham luận trong các buổi họp và tối còn đàn như một
nghệ sĩ.
- Trần Văn Khê còn dự rất nhiều nhạc hội, liên hoan âm nhạc Châu Á như Nhạc Hội Rennes, Royan bên Pháp, Ajaccio tại
đảo Corsica, Bá Linh bên đức, Pamplona, bên Tây ban nha,
Venise, Roma bên Ý, Bratislava vàBrno (Tiệp Khắc), Shiraz (Ba Tư), Sao Paulo bên Nam Mỹ, Wellington bên Tân Tây Lan,
v.v.
- Trần Văn Khê đã dạy đờn tranh trong Trung Tâm Nghiên Cứu Nhạc đông Phương và kết quả rõ nhứt là hai người con
của Giáo sư, Trần Quang Hải và Trần Thị Thuỷ Ngọc đều biết đờn tranh và đã dạy lại cho nhiều trẻ em và thanh niên Việt
Nam tại Pháp. Riêng Trần Quang Hải rất có khiếu về âm nhạc. Tốt nghiệp nhạc viện Saigon về vĩ cầm (học với nhạc sĩ Đỗ
Thế Phiệt), sang Pháp học rất giỏi về đàn tranh, đỗ đầu các cuộc thi về nhạc Ba Tư, nhạc Ấn độ, nhạc Trung quốc, lý
thuyết và thực tập. Trần Quang Hải là nhạc sĩ Việt Nam thực hiện 3 dĩa 33 vòng về đàn tranh và dân ca Việt Nam với
người em cô cậu Hoàng Mộng Thuý từ năm 1975 tới 1978, 7 dĩa 33 vòng về nhạc Việt Nam với vợ là nữ ca sĩ Bạch Yến
(từng nổi tiếng qua bài Đêm đông của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương và các thể loại nhạc thời trang bằng tiếng ngoại quốc.
Trần Quang Hải tổng cộng làm 15 dĩa 33 vòng, 8 CD về nhạc Việt Nam, và 10 CD cộng tác với các nhạc sĩ khác, và là người
Việt Nam duy nhứt được hai giải thưởng dĩa hát của Pháp (giải thưởng Hàn lâm viện Charles Cros / Grand Prix du Disque
de l'Académie Charles Cros năm 1983 và năm 1996). Trần Quang Hải vừa là nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học, làm việc
cho Trung tâm nghiên cứu khoa học Pháp (viết 4 quyển sách, 300 bài viết về nhạc Á châu và hát đồng song thanh, giảng
dạy tại trên 100 trường đại học tại 60 quốc gia), vừa là nhạc sĩ trình diễn nhạc dân tộc Việt Nam (tham dự trên 140 đại
hội liên hoan nhạc cổ truyền). Trần Quang Hải trở thành một chuyên gia về hát đồng song thanh nổi tiếng nhứt thế giới
sau 32 năm nghiên cứu. Ngoài ra còn được tặng cho danh hiệu là "Vua Muỗng "(Le Roi des Cuillers / The King of Spoons)
sau khi thắng giải tại một đại hội liên hoan nhạc dân tộc tại tỉnh Cambridge (Anh quốc) năm 1967, và "Người đánh đàn
môi giỏi nhứt thế giới "(The Best Jew's Harp player in the World) trong một đại hội liên hoan thế giới về đàn môi (The
3rd World Festival of Jew's Harp) tại tỉnh Molln (Áo quốc) năm 1998 với trên 300 nghệ nhân đàn môi giỏi nhứt trên thế
giới tham dự Trần Quang Hải vừa là con và là học trò có khiếu nhứt của Trần Văn Khê, vừa bảo vệ truyền thống âm nhạc
gia đình (đời thứ 5), vừa phát huy nhạc truyền thống thế giới qua sự giao lưu âm nhạc trình diễn trên các sân khấu đại
nhạc hội trên thế giới từ trên 30 năm qua. Con đường của Trần Quang Hải hoàn toàn khác con đường của Trần Văn Khê
nhưng cả hai đều hướng về nhạc dân tộc. Trần Thị Thuỷ Ngọc, con gái út của Trần Văn Khê, rất chăm học đàn tranh,
luyện tập rất kỹ và nắm vững truyền thống gia đình.
Cô Thuỷ Ngọc đã giúp đỡ người cha trong việc dạy nhạc Việt và đàn tranh tại Trung tâm nghiên cứu nhạc đông phương
gần 10 năm trời và đã cộng tác với hai dĩa nhạc Việt Nam với cha của cô. Hiện nay Thuỷ Ngọc làm việc cho một toán
nghiên cứu đông Nam Á của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học Pháp.Tại Pháp, Trần Văn Khê có ba môn sinh
người Pháp, Nelly Felz, André Lant, và Kim Lý, đã học đờn tranh rồi sau đó tiếp tục học với ái nữ là Trần Thị Thuỷ Ngọc.
Cả ba đều đờn được các hơi Bắc, Quảng, Nhạc, Xuân, Ai, Đảo, Oán.
- Nhạc sĩ truyền thống Trần Văn Khê đã thực hiện những dĩa hát trong đó nhạc sĩ đờn độc tấu, vừa đờn vừa ca những
bản xưa như "Bắc Cung Ai", đờn hoà với con gái Trần thị Thuỷ Ngọc, con trai Trần Quang Hải, với bạn tri âm là nhạc sư
Nguyễn Vĩnh Bảo và nữ nhạc sĩ đàn tranh Nguyễn thị Hải Phượng. Nhạc sĩ có giới thiệu những cách tuỳ hứng đờn nguyệt
(đờn kìm) , đờn tranh trong một dĩa hát mang tên là "Âm nhạc truyền thống mới" (Nouvelle Musique
Traditionnelle/New Traditional Music). Đây là sự phối hợp giữa Trần Văn Khê (đờn kìm, đờn tranh, trống) với Trần
Quang Hải (muỗng, sinh tiền). Cả hai người đã thử tìm một hướng đi cho nhạc cổ truyền Việt Nam, biến đổi cách rao,
cách phát triển bài bản dựa theo tuỳ hứng như trong nhạc Jazz, nhạc Ấn độ, thêm vào đó tiết tấu cho hấp dẫn dựa theo
chu kỳ tiết tấu (cycles rythmiques /rhythmical cycles). Cuộc thể nghiệm đầu tiên tại đại hội liên hoan nhạc cổ truyền tại
tỉnh Shiraz (Ba Tư) giữa đàn kìm và muỗng đã gặt hái một sự thành công ngoài sức tưởng tượng. Sau vài năm thử thách
tại các đại nhạc hội, hoà tấu với sự phụ hoạ tiếng gõ song lang của Trần Thị Thuỷ Ngọc, một thể loại mới cho nhạc cổ
truyền Việt Nam được thành hình. Năm 1973, hãng dĩa OCORA của Pháp mời ba cha con thu một dĩa nhạc cổ truyền Việt
Nam theo thể loại mới. Sau ba năm bị "ngâm" trong học tủ , dĩa 33 vòng "Âm nhạc truyền thống mới" được xuất bản,
đánh dấu một bước đường mới trong việc vạch một hướng đi mới lạ cho nhạc Việt. Từ đó, Trần Văn Khê có dịp về Việt
Nam mang ý kiến này về xứ, thử thách với các nhạc sĩ trẻ (đặc biệt nhóm nhạc gõ Phù đổng) và được giới trẻ tiếp nhận
và phát triển mạnh mẽ. Một dĩa CD khác với các thể loại ngâm thơ cổ, thơ mới và ca những bài cổ như Ngũ đối hạ, Nam
Xuân với sự cộng tác của con gái Trần Thị Thuỷ Ngọc
- Giáo sư Trần Văn Khê đã nhận lời thuyết trình cho Thanh niên yêu nhạc Thụy Sĩ , Nam Tư, cho các đài phát thanh, đài
truyền hình nhiều nước trên thế giới về nhạc Việt Nam.
- 43 nước trên thế giới đã mời GS Nhạc sĩ Trần Văn Khê thuyết trình và biểu diễn âm nhạc truyền thống Việt Nam
4. Nhiệm vụ quốc tế
Giáo sư Trần Văn Khê là thành viên của nhiều hội nghiên cứu âm nhạc trong nước Pháp, Mỹ, Trung Quốc, và trên trường
quốc tế:
- Hội nhà văn Pháp (Société des Gens de Lettres) (Pháp)
- Hội âm nhạc học (Société Francaise de Musicologie) (Pháp)
- Hội dân tộc nhạc học Pháp (Société Francaise d'Ethnomusicologie) (Pháp)
- Hội âm nhạc học quốc tế (Société Internationale de Musicologie)
- Hội dân tộc nhạc học (Society for Ethnomusicology) (Mỹ)
- Hội nhạc học Á châu (Society for Asian Music) (Mỹ )
- Hội Âm nhạc Á châu và Thái Bình Dương (Society for Asian and Pacific Music)
- Hội quốc tế giáo dục âm nhạc (International Society for Music Education)
- Thành viên và chủ tịch hội đồng khoa học Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc với phương pháp đối chiếu (International
Institute for Comparative Music Studies (Đức)
- Hội đồng quốc tế âm nhạc truyền thống (International Council for Traditional Music) nguyên phó chủ tịch (Mỹ)
- Hội đồng quốc tế âm nhạc (International Music Council / UNESCO), nguyên uỷ viên ban chấp hành, nguyên phó chủ
tịch, đương kim Chung sanh hội trưởng danh dự (Pháp)
- Viện sĩ thông tấn, Hàn lâm viện Châu Âu, Khoa Học, Văn chương, Nghệ Thuật
Từ 14 năm nay, thành viên ban giám khảo quốc tế Giải thưởng cho cổ nhạc thế giới của đài phát thanh Insbruck (Áo
quốc)
Từ 27 năm nay, thành viên và từ 10 năm nay chủ tịch ban tuyển lựa quốc tế của Diễn đàn âm nhạc châu Á do Hội đồng
quốc tế âm nhạc tổ chức
Ban giám đốc của chương trình viết lại lịch sử âm nhạc thế giới (UNESCO đề xướng và tài trợ)
Với nhiều nhiệm vụ đó, GS Trần Văn Khê trong 36 năm nay đã tham dự rất nhiều Hội nghị quốc gia Pháp, đức, và Hội
nghị quốc tế. Tất cả gần 200 hội nghị cử hành trong số 67 trên thế giớị
Xin đơn cử một số thí dụ:
Hội nghị các hội quốc tế
1. Hội đồng quốc tế âm nhạc (Unesco) , Paris 1958; Paris 1960; Roma 1962; Hambourg 1964; Rotterdam 1966; New York
1968; Moscou 1971; Geneva 1973; Ottawa, Montreal 1975; Bratislava, Praha 1977; Perth, Merbourne, Sydney 1979;
Budapest 1981; Stockholm 1983; Berlin Est 1985; Brasilia 1987; Paris 1989.
2. Hội đồng quốc tế âm nhạc truyền thống, Jerusalem
1961; Honolulu 1977; Oslo 1979; Seoul 1981; New York 1983; Stockholm-Helsinki 1985; Berlin Est 1987; Schladming (Áo)
1989.
3. Hội quốc tế âm nhạc học, Copenhague 1972; Berkeley (Mỹ) 1977; Strasbourg (Pháp) 1982.
4. Hội quốc tế giáo dục âm nhạc, Perth 1979; Varsovie 1980.
5. Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc theo phương pháp đối chiếu , Berlin 1965, 1967, 1971, 1986, 1989
6. Diễn đàn âm nhạc châu Á, Paris 1969; Paris 1971, Alma Ata (Nga sô) 1975; Manila (Phi luật tân) 1976; Bagdad 1979;
Bình Như"ng (Bắc Hàn) 1983; Ulan Bator (Mông cổ) 1985; Thành phố HồChí Minh 1990; Bombay 1993.
+ Đề tài: Bảo vệ và giới thiệu truyền thống âm nhạc
Teheran 1967; Berlin 1968; Berlin 1969; Lisbonne 1971; Montreal 1975; Manila 1976; Manila 1978; Baghdad 1979; Brest
1982; Wellington (Tân Tây Lan) 1982; Madagascar 1985; Dakar 1985.
+Đề tài: Các phương tiện truyền thống và âm nhạc
Tokyo 1961; Jerusalem 1963; Paris 1967; Hyderabad (Ấn độ) 1978; Baden Baden (đức) 1980; New York 1983; Tây Bá
Linh, 1986.
+ Đề tài giáo dục âm nhạc
Giải thưởng, Huy Chương, Bằng Danh Dự
* 1938: Bổng du lịch Saigon-Hànội-Saigon trên đường xe lửa xuyên Việt, cho học sinh xuất sắc các trường trung học miền
Nam.
1941: Bổng Toàn quyền đô đốc Decoux, cho học sinh đậu Thủ khoa Tú tài phần nhì và được toàn thể Giáo sư của lớp đề
nghị
* 1949: Giải thưởng nhạc cụ dân tộc tại Liên hoan Thanh niên Budapest.
* 1960: Giải thưởng lớn của Hàn lâm viện dĩa hát Pháp (Grand prix de l'Academie du Disque Français) Giải thưởng đại
Học Pháp (Prix des Universit's de France). Dĩa hát về nhạc Việt Nam của Boite à Musique số BM LD 365.
* 1969: Deutscher Schallplatten Preis, Giải thưởng dĩa hát đức quốc cho Dĩa về nhạc Việt Nam Truyền thống miền Trung,
dĩa Barenreiter Musicaphon số BM 30 LD 2022. Dĩa UNESCO Collection
* 1970: Giải thưởng lớn Hàn lâm viện dĩa hát Pháp (Grand Prix du disque de l'Academie du Disque Français), Prix de
l'Ethnomusicologie (Giải thưởng dân tộc nhạc học), dĩa Barenreiter Musicaphon số BM 30 LD 2022, UNESCO Collection.
* 1974: được cử làm hội viên danh dự của hội nghệ sĩ ái Hữu và được bằng ban khen của hội do ba nghệ sĩ lớn trong bộ
môn cải lương ký tên: Năm Châu, Phùng Há, Kim Cương.
Huy chương bội tinh hạng nhứt của chánh phủ Việt Nam cộng hoà
Văn hoá bội tinh hạng nhứt của bộ giáo dục Việt Nam cộng hoà
* 1975: Tiến sĩ âm nhạc danh dư (Docteur en musique, honoris căusa đại học Ottawa (Canada)
* 1981: Giải thưởng âm nhạc của Unesco Ở Hội đồng quốc tế âm nhạc (Prix Unesco Ơ.CIM de la Musique)
* 1991: Officier de l'Ordre des Arts et des Lettres. Ministère de la Culture et de l'Information du Gouvernement francais
(Huy chương về Nghệ Thuật và Văn Chương của Bộ Văn Hoá Chánh phủ Pháp).
* 1993: Cử vào Hàn Lâm Viện Châu Âu về Khoa Học, Văn Chương, Nghệ Thuật. Viện Sĩ thông tấn, Membre correspondant
de l'Académie européenne des Sciences, des Lettres et des Arts
* 1993: được Tổng Thống Pháp Francois Mitterrand mời tháp tùng chuyến công du của Tổng thống tại Việt Nam
* 1994: Giải thưởng của các nhà phê bình đĩa hát Ðức quốc (Deutscher SchallplattenKritik Preis)
* 1995: Giải thưởng Koizumi Fumio về dân tộc nhạc học (Koizumi Fumio Prize for Ethnomusicology, Nhựt Bổn)
* 1998: Huy chương Vì Văn Hoá Dân Tộc Bộ Văn Hoá (CHXHCNVN)
* 1999: tháng 5 dương lịch: Tiến sĩ danh dự đại học Monoton (Nouveau Brunswick, Canadă
* 1999: Tháng 8 dương lịch: Huân chương Lao động hạng nhứt do Chủ Tịch Trần đức Lương cấp (CHXHCNVN)
Danh sách dĩa hát do Trần Văn Khê đờn hay thu thanh điền dã:
- 1950-1952: 14 dĩa 78 vòng do hãng dĩa ORIA sản xuất bên Pháp, phát hành bên Việt Nam, gồm có 28 bản tân nhạc của
các nhạc sĩ Lê Thương, Phạm Duy, Võ đức Thu, Hoàng Quý,
Thẩm Oánh, Hùng Lân, Nguyễn Hữu Ba, Hoàng Quý, Lưu Hữu Phước, vv & Lấy bí danh là ca sĩ Hải Minh.
- 1959: "Musique du Vietnam"(Nhạc Việt Nam), hãng La Boite a Musique số LD 365 (17cm/33 vòng), Paris. Grand Prix de
l'Academie du Disque Français 1960. Prix des Universites de France (Giải thưởng Hàn lâm viện Dĩa hát Pháp 1960)
- 1969: "Viet Nam 1", hãng Barenreiter Musicaphon số BM 2022 (30cm/33 vòng), collection Unesco, Kassel, đức.
Deutscher Schallplatten Preis 1969 (Giải thưởng dĩa hát đức 1969),
Grand Prix de l'Acad('mie du Disque Français 1970 Prix d'ethnomusicologie (Giải thưởng Hàn lâm viện Dĩa hát Pháp 1970
Giải thưởng Dân tộc nhạc học )
- 1970: "Viet Nam 2", hãng Barenreiter Musicaphone số BM 2023 (30cm/33 vòng) , collection Unesco, Kassel, đức.
- 1972: "Musique du Viet Nam, Tradition du Sud" (Nhạc Việt Nam, truyền thống miền Nam với Nguyễn Vĩnh Bảo và Trần
Văn Khê), hãng OCORA số 68 (30cm/ 33 vòng) , Paris.
- 1972: "South Viet Nam, Entertainment Music" (Miền Nam Việt Nam,
Nhạc Tiêu Khiển với Nguyễn Vĩnh Bảo) , hãng Philips số 6586 028 ( 30cm/33 vòng) collection Unesco: Musical Sources,
Hoà Lan
.- 1972: "Inde du Nord / Pandit Ram Narayan/ Le Sarangi" (Ấn độ miền Bắc/ Nhạc sư Ram Narayan / đàn Sarangi), hãng
OCORA số OCR 69 (dĩa 30cm/33 vòng), Paris. Lời dẫn giải: Trần Văn Khê.- 1972: "Narendra Bataju, Sitar/Surbahar" (Nhạc
sĩ Narendra Bataju/đàn Sitar và Surbahar), hãng CETO SELAF Ợ ORSTOM số W 751, Paris. Lời dẫn giải: Trần Văn Khê.
- 1976: "Viet Nam: Nouvelle Musique Traditionnelle" (Việt Nam: Nhạc cổ truyền kiểu mới, với Trần Văn Khê, Trần Quang
Hải, Trần thị Thuỷ Ngọc), hãng dĩa OCORA số 558 512 (30cm / 33 vòng), Paris.
- 1978: "Viet Nam / Ca Trù and Quan Họ" hãng EMI ODEON số 064-183113 (30cm / 33 vòng), collection Unesco: Atlas
Musical, Venise, Ý đại lợi.
- 1979: "Hát chèo / Vietnamese Traditional Folk Theatre", hãng Philips số 658 6035 (30cm / 33 vòng), collection Unesco:
Sources Musicales, Amsterdam, Hoà Lan.
- 1983: "Viet Nam, Instruments et ensembles de musique traditionnelle" (Việt Nam, Nhạc khí và Ban nhạc cổ truyền),
hãng ARION số ARN 38783 (30cm /33 vòng), Paris
- 1985: "Viet Nam, Court Theatre Music" (Việt Nam , nhạc tuồng hoàng giă , hãng EMI Ợ ODEON số 260 2821 (30cm / 33
vòng), collection Unesco: Musical Atlas
- 1985: "Musique du Vietnam" (Nhạc Việt Nam), hãng ACCT (Agence de Coopération Culturelle et Technique) số 18110
(30cm/33 vòng), Paris.
- 1990: "Viet Nam / Hat Cheo", hãng AUVIDIS số đ8022 (dĩa CD), collection Unesco, Paris. Tái bản của dĩa "Hat
Cheo/Vietnamese Traditional Folk Theatre" của hãng Philips số 6586035 (30cm/33 vòng). Một băng cassette của CD này
được xuất bản cùng một lúc.
- 1991: "Viet Nam / Ca Tru & Quan Ho", hãng AUVIDIS đ8035 (dĩa CD), collection Unesco, Paris. Tái bản của dĩa cùng tên
của hãng Emi-Odeon số 064-183113 (30cm / 33 vòng). Một băng cassette của CD này được xuất bản cùng một lúc.
- 1994: "Viet Nam: Tradition du Sud/ Nguyen Vinh Bao & Tran Van Khe", dĩa OCORA số C 580043 (dĩa CD), Paris. được
giải Diapason dÓr. Tái bản của dĩa OCORA số 68 (30cm/ 33 vòng, năm 1972)
- 1994: "Viet Nam / Poésie et Chants / Tran Van Khe & Tran Thi Thuy Ngoc" (Việt Nam / Ngâm thơ và Hát), hãng OCORA
số C 560044 (dĩa CD), Paris.
- 1995: "Viet Nam / Le Dan Tranh: Musique d'Hier et d'Aujourd'hui" (Việt Nam / đàn Tranh: Nhạc quá khứ và hiện taị" với
Nguyễn Thị Hải Phượng và Trần Văn Khê, hãng OCORA số
560045 (dĩa CD), Paris. Grand Prix de la Critique Allemande (Giải thưởng Phê Bình đức), CHOC de la revue Le Monde de
la Musique
.
- 1996: "Viet Nam / Tradition du Sud/ Nguyen Vinh Bao & Tran Van Khe", hãng AUVIDIS số đ8049 (dĩa CD), collection
Unesco, Paris.
- 1998: "Viet Nam / Improvisations/ Tran Van Khe, Tran Quang Hai, Tran Thi Thuy Ngoc", hãng OCORA số C 580070 (dĩa
CD), Paris. Tái bản của dĩa OCORA số 558 512 (30cm / 33 vòng, năm 1976).
- 1997: "Viet Nam Ca Tru", hãng INEDIT số W 260070 (dĩa CD), Paris. Lời dẫn giải: Trần Văn Khê.
- 1997: "Viet Nam: Tradition de Hue" (Việt Nam: Truyền thống Huế/ Nhạc cung đình và Nhạc thính phòng), hãng INEDIT
số W 260075 (dĩa CD), Paris. Lời dẫn giải: Trần Văn Khê.
- 1998: "Viet Nam: Tradition du Sud" (Việt Nam: Truyền thống miền Nam), hãng AUVIDIS đ8070 (dĩa CD), collection
Unesco, Paris. Tài liệu thu thanh và lời dẫn giải: Trần Văn Khê & Nguyễn Hữu Ba.
- 1998: "Viet Nam: Musique bouđhique" (Việt Nam: Nhạc Phật giáo), hãng INEDIT số &&. (dĩa CD), Paris. Lời dẫn giải:
Trần Văn Khê.
Phim
Một số phim do Trần Văn Khê thực hiện và một số phim về Trần Văn Khê
1. Một phim về kỹ thuật hát Dhrupad của Ấn độ điệu thức Raga Todi do hai anh em Dagar trình diễn, do trung tâm GRM
(Groupe de Recherche Musicale của ông Pierre Schaeffer), Paris , 1964. Một phim về cách lên dây đàn Tanpura Ấn độ và
một phim về kỹ thuật đánh trống Pakhawaj và chu kỳ tiết tấu Chautala với 12 đơn vị.Một đoạn phim về cách đọc thơ và
sau đó hát theo thể điệu Dhruapd và những thí dụ hát theo thể điệu Dhrupad, Kheyal và Thumri.
2. Phim "Histoire du riz", phần 1 về sắc tộc Ifugao ở Phi Luật Tân, phần 2 ở Việt Nam , phim nói bằng tiếng Pháp do Trần
Văn Khê đọc. Thực hiện bởi Điier Mauro và Hồ Thuỷ Tiện Sản xuất: Orchidees.
3. Phim "Dis moi, Philippines" do Trần Văn Khê đọc tiếng Pháp và do Eric Dazin thực hiện. Sản xuất: Orchidees.
Tài liệu băng thu thanh
1. Les Traditions musicales de l'Asie (Truyền thống âm nhạc Á châu) , nói tiếng Pháp
2. Le Dhrupad: un art vocal de l'Inde du Nord (Dhrupad: nghệ thuật hát Ấn độ miền Bắc) , nói tiếng Pháp
3. Le Tabla et les cycles rythmiques dans la musique hindoustane (Trống Tabla và chu kỳ tiết tấu trong nhạc ấn theo
trường phái hindoustane), nói tiếng Pháp.
4. La musique arabe (Nhạc ả rạp), 6 tập, với sự cộng tác của Giáo sư Amnon Shiloah, nói tiếng Pháp.
Băng Video Với sự cộng tác của cơ quan thính thị của trường đại học ParisĐauphine, INALCO (viện quốc gia ngôn ng" và
văn minh đông phương) đặc biệt với Guy Senelle, Điier Tauin và Paul Hervé.
1. Le Sheng, orgue à bouche avec Cheng Shui Cheng (đàn Sanh Hầu với nhạc sĩ Cheng Shui Cheng). Quá trình lịch sử, cách
chế tạo nhạc khí. Diễn giả: Trần Văn Khệ Khái quát về "Sanh Hầu ở Á châu"
2. Le Quin, cithare chinoise à 7 cordes sans chevalets (đàn Cổ Cầm 7 dây không có nhạn với các nữ nhạc sĩ Liu, Yip Ming
Mei). Quá trình lịch sử, kỹ thuật đàn, một vài bài cổ điển của đàn tranh cổ cầm. Diễn giả: Trần Văn Khê.
3. Le "Dan Tranh", cithare vietnamienne à 16 cordes (đàn Tranh Việt Nam 16 dây ) với sự cộng tác của Trần Thị Thuỷ
Ngọc. Quá trình lịch sử , miêu tả , kỹ thuật đàn, một vài bản cổ truyền. Giải thích về điệu thức theo truyền thống miền
Nam, đối chiếu với các loại đàn tranh Trung quốc, Nhựt Bổn, đại Hàn và Mông Cổ.
4. Le "Dan Tranh", cùng một đề tài nhưng với bài bản khác. Với sự cộng tác của Trần Thị Thuỷ Ngọc. Trình bày và giải
thích bằng tiếng Pháp: Trần Văn Khê, thực hiện cho Trung tâm nghiên cứu nhạc đông Phương.
Tài liệu thu hình video tại Việt Nam:
1. Nhạc dân gian và tuồng ở Việt Nam năm 1982
- Lễ Giỗ Tổ Cải lương miền Nam ở TP HồChí Minh (29/09/1982)
- Trích đoạn tuồng "Thần nữ dựng ngũ linh kỳ"(29/09/1982)
- Nhạc dân gian vùng Huế (làng Xuân Long) (29/09/1982)
- Hát Tuồng, truyền thống Quảng Nạm Trang điểm, đọng tác, đấu võ (25/10/1982)
- Hát Tuồng, truyền thống Bình định: Nhạc, Diễn xuất, minh hoạ đọng tác, những cách ngâm do ông Võ Sĩ Thừa biểu diễn
(27/10/1982)
- Tuồng dân gian Hát Bài chòị Minh hoạ và trích đoạn một vài tuồng cổ truyền (18/10/ 1982)
- Viếng thăm nữ nghệ sĩ nhân dân Phùng Há (tháng 11, 1982)
Đời sống âm nhạc ở Việt Nam năm 1987
- Tiết tấu cổ truyền dùng trong múa và tân nhạc với Văn Thinh
- Sáng chế cây đờn độc huyền Lạc Cầm phối hợp chung với đàn tranh 12 dây và 2 đàn kìm 4 dây do Mạc Tuyên sáng tạo
Trình bày và thể nghiệm minh hoạ do các nhạc sĩ và giáo sư nhạc của trường âm nhạc Hà nội. Giáo sư Lưu Hữu Phước và
Trần Văn Khê dẫn giải (17/11/1987)
- Nhạc truyền thống và dân ca trong các lớp mẫu giáo ở Củ Chi, và trường Lê Lợi (TP HCM) (27 /11/1987)
- Buổi hoà nhạc của nhóm Tiếng Hát Quê Hương, nhóm Tao đàn do Phạm Thuý Hoan, giáo sư trường Âm nhạc HCM xếp
đặt đặc biệt cho Giáo sư Trần Văn Khê (29/11/1987)
- Độc tấu đàn tranh do Hải Phượng đàn những bản cổ truyền và sáng tác mới của Phạm Thuý Hoan (30/11/1987)
- Nhóm đàn gõ Phù đổng tại TP HCM (04/12/1987)
- Lễ đặc biệt dành cho GS Trần Văn Khê do 3 nhóm trẻ "Tiếng Hát QuêHương", "Tao đàn", "Bình Thạnh" (06/12/1987)
- Dạ Hội nhạc cổ truyền Việt Nam tại toà Tổng Lãnh Sự Pháp ở TP HCM. Phần giới thiệu bằng tiếng Pháp: TrầnVăn Khê
(07/12/1987)
- Âm nhạc truyền thống Việt Nam tại Montreal (Canada, ngày 19 và 27 tháng 4, 1987.
Thu hình video năm 1989:
- 5 chương trình nhạc truyền thống Việt Nam cho Viện nghiên cứu âm nhạc và múa được chiếu trên đài truyền hình của
TP HCM (5 tháng 3, 1989) với GS Trần Văn Khê là diễn giả và với sự tham gia của nhạc sĩ Phạm Đức Thành (đàn bầu) và
nhóm Phù đổng (nhạc cụ gõ).
- Buổi họp của nhóm nhà thơ Quỳnh Dao do nhà thơ Tôn nữ Hỷ Khương tổ chức vinh danh GS Trần Văn Khê (2 tháng 9,
1989) (video NTSC)
- Lưu Hữu Phước, cuộc đời, sự nghiệp, nghệ thuật, thuyết trình bởi Trần Văn Khê với minh hoạ của nhiều nhóm nhạc sĩ
tại nhà hát Thành phố (TP HCM) vào hai ngày 11 và 12 tháng 9, 1989 (6 giờ phim video)
- Đêm Trung Thu do bà Phạm Thuý Hoan tổ chức và GS Trần Văn Khê trong vai tuỳ hứng Ông Tiên Già (phim video NTSC)
- Hội nghị quốc tế âm nhạc tại Osaka với bài tham luận bằng tiếng Anh "International Reception of Music in
VietnameseTraditionữ (22/07/1990), tham gia bàn tròn về
"International Recepion in Music" (24 tháng 7, 1990) (phim video NTSC)
- Hội nghị về nhạc Á châu và Thái Bình Dương tại Kobe (Nhựt Bổn) (28 tháng 7, 1990) (phim video NTSC)
- Lễ 70 tuổi của GS Trần Văn Khê do hội các nhà thơ Gia đình Quỳnh Dao do nhà thơ nữ Tôn nữ Hỷ Khương tổ chức tại TP
HCM (14 tháng 11, 1990) (phim video NTSC)
- Giới thiệu nhạc đàn tài tử miền Nam do Trần Văn Khê thuyết trình do đài Truyền hình Cần Thơ thực hiện (16 tháng 11,
1990) (phim video NTSC)
- Đêm vinh danh GS Trần Văn Khê do nhóm Tiếng Hát Quê Hương tổ chức (16 tháng 11, 1990) (phim video NTSC)
- Buổi nói chuyện của GS Trần Văn Khê về các hoạt động của giáo sư ở hải ngoại tại Thuỳ Khương trang (22 tháng 11,
1990) (phim video NTSC)
- Kỷ niệm Nguyễn Tri Phương, ông cố ngoại của GS Trần Văn Khê tại phường Bửu Hội, tỉnh Biên Hoà (đồng Nai)(2 tháng
12, 1990) (phim video NTSC)
- Chương trình âm nhạc của nhóm Tiếng Hát Quê Hương cho đài truyền hình TP HCM (1 và 2 tháng 12, 1990) (phim
video NTSC)
Ngoài ra từ 1991 tới nay (2001) hàng trăm chương trình phim video đã được thực hiện tại Việt Nam.
Về băng thu thanh, GS Trần Văn Khê đã thu trên 600 giờ nhạc cổ truyền Việt Nam về ca trù, hát chèo, hát tuồng, ca Huế,
nhạc cung đình Huế, đàn tài tử miền Nam rất Hữu ích cho việc nghiên cứu lịch sử nhạc Việt sau này.
Sách mới
- 2000 : "Văn Hoá với Âm Nhạc Dân Tộc", Nhà Xuất Bản Thanh Niên, 158 trang, TP HCM, Việt Nam
Tiểu luận của GS Trần Văn Khê về cải lương, ca trù, Tán Tụng trong nhạc Phật giáo, nét nhạc dân tộc trong nhạc Lưu Hữu
Phước, và một vài nhận xét về những nghệ sĩ trẻ Phương Phương,
Nguyễn Thanh Hằng và Ea Sola
- 2000: "Trần Văn Khê & Âm Nhạc Dân Tộc", Nhà Xuất Bản Trẻ, 432 trang, TP HCM, Việt Nam
Sách gồm có hai phần: hồi ký và bút ký ghi lại những kỷ niệm của tác giả ở Việt Nam và hải ngoại qua âm nhạc trong thời
gian 50 năm, và khảo cứu với 10 bài viết về ngôn ngữ và âm nhạc Việt / Á Châu, dân ca Quan Họ, đàn đá Khánh Sơn, cải
lương với ưu và nhược điểm, và
liên hệ giữa âm nhạc và kiến trúc.
- 2001: "Hồi ký Trần Văn Khê: ướm mầm trổ nụ " tập 1, Nhà Xuất bản Trẻ , 303 trang, TP HCM, Việt Nam
Giai đoạn đầu tiên của GS Trần Văn Khê từ lúc sơ sinh tới lúc đi vào kháng chiến. Lúc nhỏ học ở Pétrus Ký, gặp Xuân Diệu,
Huy Cận , Phạm Duy, và hoạt động lúc học trường thuốc ở Hà nội cùng với Lưu Hữu Phước , Mai Văn Bộ. Có liên hệ với
giai đoạn sơ khai của lịch sử tân nhạc Việt Nam.
- 2001: "Hồi ký Trần Văn Khê: đất khách quê người", tập 2, Nhà Xuất Bản Trẻ, 287 trang, TP HCM, Việt Nam
Giai đoạn đi sang Pháp năm 1949 đưa tới việc đậu xong tiến sĩ âm nhạc và phát huy vốn cổ nhạc Việt ở hải ngoại (Pháp
và các diễn đàn hội nghị quốc tế) cho tới đầu thập niên 70.
Xin xem thêm về sự nghiệp âm nhạc của GS Trần Văn Khê:
Prof. Dr. Tran Van Khê Homepage: www.philmultic.com/tran
Tôi sẽ phát triển thêm về khía cạnh nghiên cứu nhạc Á châu cũng như ảnh hưởng của GS Trần Văn Khê trong ngành dân
tộc nhạc học (ethnomusicology) trên thế giới trong một dịp khác.
Tìm hiểu về nguồn gốc và phát triển Hát Cải Lương
Khi nói đến cải lương, đối với người miền Nam cũng như người miền Bắc đều nghĩ đến bài Vọng cổ trước tiên. Nhưng ít
ai biết đến xuất xứ, hình thành, và diễn tiến của ngành nghệ thuật sân khấu đặc biệt của miền Nam nầy. Trong phạm vi
bài này tôi sẽ lần lượt đề cập đến nguồn gốc của hai chữ « Cải Lương », quá trình, hình thành, và cấu trúc dàn nhạc và bộ
môn bài bản.
Nguồn gốc hai chữ «Cải lương»
Danh từ « cải lương » có lẽ rút từ câu:
Cải biến kỳ sự,
Sử ích tự thiên lương »
Có nghĩa là đổi những gì cũ còn lại ra thành những gì mới và hay. Danh từ cải lương được xuất hiện đầu tiên trên bảng
hiệu của gánh Tân Thinh của ông Trương Văn Thông vào năm 1920. Sân khấu được trang hoàng đẹp đẽ, có màn nhung,
có tranh cảnh, và hát bài La Madelon bằng tiếng Việt trước khi kéo màn .
Quá trình và hình thành
Miền Nam của xứ Việt Nam là nơi phát xuất ra Hát cải lương. Con người miền Nam có một đời sống nhàn hạ, sung túc.
Ruộng cò bay thẳng cánh. Cá đầy sông, rạch. Không lo đói nhờ đất đai phì nhiêu, rau cải và lúa gạo đầy đồng. Người
miền Nam mang dòng máu của những dân đến sinh sống trên đất Nam kỳ đầu tiên. Họ thuộc những người bị triều đình
Huế đày vào trong Nam để khai khẩn đất hoang, hay bị bất mãn với sự phân tranh Trịnh Nguyễn. Thêm vào đó có nhiều
người Tàu sang di trú vì không chịu thần phục nhà Thanh.
Dân ca miền Nam phối hợp những đặc trưng của dân ca miền Bắc, miền Trung, thêm vào đó những sắc thái cổ truyền
của nhạc Cao Miên, Trung Hoa, Chàm. Do đó, dân ca rất phong phú về giai điệu cũng như tiết tấu qua những điệu lý,
điệu hò, nói thơ.
Lúc khởi đầu vào cuối thế kỷ thứ 19, những cuộc hát cúng đình hay hát bội được tổ chức hàng năm vào kỳ lễ thần linh.
Có những gánh được mời tới những gia đình khá giả vào dịp làm chay. Vì vậy có câu « trong chay ngoài bội ». Có những
cuộc « hát chập » vào những dịp tiệc tùng giải trí với các ca sĩ nổi tiếng tới giúp vui.
Vào đầu thế kỷ 20, ngành ca hát được bành trướng hơn và trở thành một bộ môn giúp vui trong các dịp tiệc tùng, cưới
hỏi. Điệu hát được ưa thích nhất thời đó là điệu Tứ đại oán với các bài Khóc chồng, « Bùi Kiệm thi rớt », « Bá Ngộ Mai ».
Trước thế chiến thứ nhất (1914-18), nhà cầm quyền Pháp khuyến khích người Việt dịch các vở tuồng của Molière hay
của Victor Hugo ra tiếng Việt để diễn cho người mình xem.
Ở miền Nam vào thời đó, một số nhà yêu nhạc cổ như Trần Văn Thiệt (thân phụ của cố nhạc sĩ Duy Lân), Tống Hữu Định
đã đưa một số bài nhạc cổ trong đàn tài tử lên sân khấu vừa hát vừa ra bộ diễn cảnh Bùi Kiệm thi rớt, hay Bùi Ông rầy
Bùi Kiệm trích trong vở Lục Vân Tiên và bài ca Tứ đại oán được đem trình bày và rất được ưa thích .
Có một ban nhạc tài tử ở Mỹ Tho do ông Nguyễn Tống Triều lập ra, với Nguyễn Tống Triều sử dụng đàn kìm, ông Bảy Vô
kéo đàn cò, ông Chín Quán thủ cây đàn độc huyền, ông Mười Lý thổi ống tiêu, cô Hai Nhiễu đàn tranh và cô Ba Đắc hát .
Mỗi tối thứ bảy ban nhạc này trình diễn tại Minh Tân khách sạn ở gần nhà ga xe lửa Mỹ Tho. Người đến nghe loại nhạc
tài tử này càng ngày càng đông. Ông chủ rạp hát bóng Casino ở Mỹ Tho thấy khách sạn Minh Tân sao đông khách quá,
mới nghĩ đến việc đem ban nhạc này trình diễn trước giờ chiếu phim. Bắt đầu từ đó mới có phụ diễn cổ nhạc trên sân
khấu hát bóng. Ca nhạc cải lương bước lên sân khấu đầu tiên là sân khấu hát bóng.
Cô Ba Đắc là một nữ danh ca hát « sa-lông » nổi tiếng qua lối hát dậm thêm vài câu hài hước trong các bài « Đại lang
dậm », « Bùi Kiệm dậm », Bùi Kiệm -Nguyệt Nga ». Lúc đầu chỉ ngồi trên bộ ván để hát. Về sau mới đứng dậy vừa hát vừa
ra bộ. Từ đó mới sinh ra loại hát « Ca ra bộ ».
Từ loại hát Ca ra bộ rất đơn sơ tiến tới ca kịch, tức là vừa hát vừa diễn tả lời ca với những động tác . Bài bản được sáng
tác thêm, hay dựa trên một số điệu sẵn có như Hành Vân, Bình Bán Vắn, Kim Tiền Huế, Ngũ Điểm, Bài Tạ, Ngâm
Thơ,vv…
Sau đó, có những nhóm ca kịch đầu tiên của Hai Ngọc, Bộ Vang ở Mỹ Tho đi biểu diễn lưu động để giúp vui chứ chưa
nghĩ đến việc kiếm tiền. Đây là giai đoạn tài tử chứ chưa phải chuyên nghiệp.
Đoàn hát chuyên nghiệp đầu tiên được Thầy André Thận ở tỉnh Sa Đéc thành lập vào năm 1918 lấy tên là gánh Thầy
Thận. Có đủ đào kép, có cả người soạn tuồng và đặt lời ca. Lúc đầu chỉ hát ở các chợ nhỏ trong làng, rồi mới đi ra thành
phố. Nhưng gánh này sống không lâu, phải rã gánh.
Đào kép gánh Thầy Thận mới nhập vô Gánh Thầy Năm Tú (tên thật là Châu văn Tú) ở Mỹ Tho. Đây là một gánh hát đại
quy mô, có soạn giả Trương Duy Toản (tác giả vở Kim Vân Kiều), có họa sĩ Trần Ngọc Điều vẽ phong sơn thủy. Danh tiếng
gánh hát vang tới Saigon. Đoàn hát len diễn tại rạp hát bóng Moderne ở vùng Tân Định. Hãng dĩa Pathé của Pháp đã sản
xuất rất nhiều dĩa hát 78 vòng. Nhờ vậy tiếng tăm của gánh Thầy Năm Tú vang dội khắp ba miền Nam Trung Bắc.
Sự hình thành gánh Thầy Năm Tú đánh dấu sự chào đời sân khấu cải lương và có tầm vóc quốc giá hơn là địa phương.
Lần lượt các gánh khác được lập ra một cách mau chóng: Văn Hí Ban ở Chợ Lớn, Tập Ích Ban ở Thốt Nốt, Nghĩa Đồng
Ban, Tân Thinh. Gánh Nam Đồng Ban với nữ nghệ sĩ Năm Phỉ nổi tiếng trong vở « Tham phú phụ bần ». Gánh Tái Đồng
Ban ở Mỹ Tho với các nghệ sĩ nổi tiếng như Phùng Há, Năm Châu, Ba Du.
Các vở tuồng đầu tiên đều lấy từ truyện Tàu nhưng cách ăn mặc đi đứng, nói năng đều khác hẳn với hát bội. Các vở
tuồng như « Phụng Nghi Đình », « Một Quế Anh », « Hạng Võ Biệt Ngu Cơ », « Trảm Trịnh Ân », «Hoa Mộc Lan tùng
chinh », « Mổ Gan Tỉ Can », « Khương Hậu Thọ Oan », « Hoàng Phi Hổ phản Trụ đầu Chu », vv.. rất được ưa chuộng .Dần
dần, nhiều bài hát khác được đưa vào cải lương như « Xuân Phong », « Hành Vân », và sự xuất hiện của hai bài mới là «
Xuân Nữ », và « Dạ Cổ Hoài Lang ».
Bài « Dạ Cổ Hoài Lang » còn gọi là « Hoài Lang ». Bài này do ông Cao Văn Lầu, biệt hiệu là Sáu Lầu, quê ở Tân An, đến
định cư ở Bạc Liêu lúc còn nhỏ, sáng tác bài này vào khoảng năm 1918, chịu nhiều ảnh hưởng của bài Tứ Đại Oán và bài
Hành Vân. Khởi đầu chỉ có hai nhịp cho mỗi câu (bài Dạ Cổ Hoài Lang gồm 20 câu 2 nhịp). Sau khi phát triển thành nhịp
tư được hát đầu tiên trên sân khấu Tập Ích Ban năm 1921, và thành nhịp 8 trên sân khấu Tái Đồng Ban vào năm 1922. Cố
nghệ sị Lư Hòa Nghĩa, tự Năm Nghĩa, cũng do âm cảm tiếng chuông chùa núi Sam (Châu Đốc) đã đưa bản này thành nhịp
16 với tên khác là Vọng cổ Bạc Liêu vào năm 1936. Khoảng đầu năm 1951, nghệ sĩ Nguyễn Thành Út, biệt hiệu Út Trà Ôn
đã biến thành Vọng cổ nhịp 32 mà đa số nghệ sĩ cải lương hiện nay vẫn còn hát. Vọng cổ nhịp 64 bắt đầu phát triển. Có
người còn hát thành nhịp 128 nhưng không mấy phổ biến. Các nghệ sĩ muốn được nổi tiếng và thành công thì phải hát
thật mùi bài Vọng cổ. Nghệ sĩ Út Trà Ôn đã nhờ bài Vọng cổ mà được nổi tiếng trong giới cải lương.
Cải lương dần dần lan ra Trung và Bắc sau thế chiến thứ nhất (1914-18). Người đầu tiên giới thiệu nghệ thuật cải lương
trên sân khấu Hà nội là ông Nguyễn Văn Súng, tự Sáu Súng. Đúng ra, là một gánh xiệc có chen vào giữa chương trình một
vài bài hát cổ nhạc, chưa có tuồng tích rõ ràng. Ít lâu sau mới có hai gánh Phước Hội và Tân Lập Ban từ Nha Trang ra Hà
Nội trình diễn tại rạp Quảng Lạc.
Cho tới năm 1925, Hà Nội vẫn chưa có gánh hát cải lương chuyên nghiệp. Chỉ có một số người ưa thích cải lương hợp
nhau lại đóng tuồng với danh nghĩa cứu trợ trong chiến dịch « Nam Kỳ tương tế ». Năm 1923, một nhóm sinh viên
trường Luật diễn tuồng « Bội phụ quả báo » của Phạm Công Bình tại rạp Philharmonique.
Năm 1925, một nhóm sinh viên cao đẳng diễn tuồng « Châu Trần Tiết Nghĩa » của Nguyễn Văn Tệ.
Năm 1927 một nhóm phụ nữ ở Hà Nội diễn tuồng « Trang Tử Cổ Bồn » dựa vào tích xưa. Dư luận thời đó đã công kích
ban « Nữ tài tử » với những lời chỉ trích các bà thích lên sân khấu làm trò.
Đến cuối năm 1925 và đầu năm 1926 mới có nhóm tài tử Đồn Ấu ở Sán Nhiên Đài và nhóm tài tử phố Hàng Giấy mướn
rạp ông Ba Bỏ ở Ô Chợ Dừa.
Năm 1927, gánh Nghĩa Hiệp Ban ra Bắc với những tuồng Tàu như « Lã Bố Điêu Thuyền », « Tra Ấn Quách Hòe »,vv… Rạp
Quảng Lạc, rồi rạp chèo Sán Nhiên Đài đều đổi thành rạp cải lương.
Đến giai đoạn 1928-37, các tuồng Tàu, tuồng Tây được đem đi diễn khắp nơi và nhiều điệu hát mới được sáng tác như
bài « Tiếng Nhạn Trong Sương », « Hoài Tình » , « Chuồn Chuồn ». Những bài hát Tây được dịch ra lời Việt như « Pouët
Pouët » trong vở tuồng Tiếng Nói Trái Tim, bản « Tango mystérieux » trong vở Đóa Hoa Rừng. Nhiều soạn giả phóng tác
những tác phẩm văn học Pháp như « Giá Trị Danh Dự » (Le Cid của Corneille), « Túy Hoa Vương Nữ » (Marie Tudor của
Victor Hugo), « Tơ Vương Đến Thác » (La Dame aux Camélias của Alexandre Dumas). Một số truyện của văn sĩ Việt cũng
được đưa lên sân khấu như « Lan và Điệp » phỏng theo tiểu thuyết « Tắt Lửa Lòng » của Nguyễn Công Hoan, « Bùn Lầy
Nước Đọng » phỏng theo tác phẩm « Tắt Đèn » của Ngô Tất Tố. Trong thời gian này, một đoàn cải lương thường có hai
dàn nhạc : dàn nhạc cải lương thì ngồi ở cánh gà đàn ra, còn dàn nhạc Tây phương với dương cầm (piano), saxo, các loại
kèn Tây, trống thì ngồi ở phía trước sân khấu để đàn lúc trước khi kéo màn khai diễn và những tuồng Tây. Sau đó mới tới
giai đoạn tuồng Phật, tuồng Tiên với những màn đấu phép biến hóa song song với các vở tuồng kiếm hiệp La Mã. Nhạc sĩ
Mộng Vân là người viết rất nhiều bài bản cho loại tuồng kiếm hiệp. Loại nhạc này còn được gọi là nhạc cà chía.
Từ năm 1935 tới năm 1941 nhiều gánh hát được thành lập ở miền Bắc như Nhật Tân Ban, Quốc Hoa, Tố Như, Ái Liên (nữ
nghệ sĩ Ái Liên là mẹ của nữ ca sĩ Ái Vân, nữ ca sĩ Ái Xuân, từ trần năm 1992), Đức Huy, Nam Hồng, vv… Nhiều gánh còn
vô trong Nam diễn được thành công. Một số gánh hát như An Lạc Ban, Phước Cương, Tân Hí Ban, Trần Đắt, Năm Phỉ,
Phụng Hảo, Thanh Tùng, Năm Châu, Kim Thoa ra Bắc được khán giả mến mộ.
Giai đoạn 1940-45, các loại tuồng vừa kể trên không còn ăn khách nữa. Cố nghệ sĩ Năm Châu mới viết một số tuồng xã
hội như « Tìm Hạnh Phúc », « Khi Người Điên Biết Yêu » nói lên tâm trạng xã hội Việt Nam thời đó và rất được hoan
nghinh. Tuồng dã sử rất được ăn khách trong thời nà . Sau thế chiến thứ hai (1939-45), một số tuồng chiến tranh do cố
nghệ sĩ Bảy Cao đề xướng và tạo một chỗ đứng đặc biệt trong làng cải lương.
Giai đoạn 1960-70, loại hồ quảng dù đã được phát hiện từ năm 1935 với nữ nghệ sĩ lão thành Phùng Há, bắt đầu phát
triển mạnh mẽ. Nữ nghệ sĩ Phượng Mai (hiện chuyển sang tân nhạc ở hải ngoại) đã được nổi tiếng trong lĩnh vực này
trước 1975 cùng với nữ nghệ sĩ Bạch Lê (hiện sinh sống tại Pháp).
Ở miền Nam , ký giả kịch trường Trần Tấn Quốc đã sáng lập ra giải Thanh Tâm hàng năm tặng cho một nghệ sĩ cải lương .
Người đầu tiên nhận giải là cố nữ nghệ sĩ Thanh Nga. Sau đó Ngọc Giàu, Bạch Tuyết , Lệ Thủy, Mộng Tuyền, Diệp Lang,
vv... đã tiếp nối nhận giải cho tới năm 1975.
Sau bao biến chuyển trong cải lương với những đề tài khác nhau, bài vọng cổ càng ngày càng có một chỗ đứng quan
trọng trong cải lương nói riêng, và trong cổ nhạc nói chung. Không một vở tuồng nào không được nghe ít nhất là năm
hay sáu lần. Khán giả đi xem hát cải lương với mục đích là để nghe hát bài vọng cổ cho thật mùi.
Năm 1975, sau khi chấm dứt chiến tranh giữa miền Nam và miền Bắc, một số nghệ sĩ cải lương ra đi tỵ nạn. Việt Hùng
phối hợp với một số nghệ sĩ như Vương Kiệt, Hùng Cường (sang Mỹ từ năm 1982 và từ trần năm 2002?), Kim Tuyến để
lập thành đoàn hát cải lương nhưng rồi phải dẹp gánh. Bên Pháp, một số nghệ sĩ tài danh như Hữu Phước (từ trần
năm …..), Chí Tâm (sang Mỹ định cư năm 1990), Hương Lan (rời bỏ cải lương sang hát tân nhạc và cũng định cư ở Mỹ từ
1987), Phương Thanh, Hà Mỹ Liên, Kiều Lệ Mai, Minh Đức, Minh Thanh, Kim Chi, Tài Lương , Minh Tâm, Ngọc Lưu với sự
cộng tác của nữ nghệ sĩ lão thành Bích Thuận đã thành lập một đoàn hát Năm Châu Paris vào năm 1983 với hy vọng bảo
tồn và duy trì nghệ thuật cải lương ở hải ngoại. Chỉ ít lâu sau rồi phải tự rã gánh. Sau đó, có hai đoàn cải lương được
thành lập. Đoàn Nghệ sị tỵ nạn Paris với Hữu Phước, Kiều Lệ Mai, Minh Đức, Hà Mỹ Liên, và đoàn Hội Nghệ Sĩ Trẻ với Chí
Tâm, Tài Lương , Minh Tâm. Hai đoàn này hoạt động mạnh trong năm 1987 rồi hai năm sau lại giải tán. Hai nghệ sĩ Thành
Được và Phượng Mai tỵ nạn ở Đức có một thời gian đi lưu diễn Âu châu, Mỹ châu và Úc châu nhưng không lâu dài . Cả
hai cũng sang định cư ở Mỹ. Thành Được giải nghệ nghề hát, mở nhà hàng ở San Jose, California, Mỹ . Sau này có một số
nghệ sĩ cải lương nổi tiếng như Phượng Liên, Bích Sơn , rồi Ngọc Huyền, Tài Linh sang định cư ở Mỹ nhưng không thể gầy
dựng một đoàn cải lương dù số nghệ sĩ danh tiếng có thừa , cũng như số nhạc sĩ cổ nhạc đủ sức lập thành dàn nhạc .
Tại Saigon, sau khi nữ nghệ sĩ Thanh Nga từ trần trong một « tai nạn » mà tới nay vẫn chưa tìm được nguyên do vì sao,
những nghệ sĩ kỳ cựu như Phùng Há, Bảy Nam (từ trần), Kim Cúc (từ trần), Kim Lan (từ trần), Út Trà Ôn (từ trần), hay các
nghệ sĩ Văn Thái, Ánh Tuệ, Khánh Hợi của cải lương miền Bắc, những nghệ sĩ cải lương còn lại của chế độ cộng hòa miền
Nam vẫn tiếp tục trình diễn và gặt hái nhiều thành công như Ngọc Giàu, Bạch Tuyết, Lệ Thủy, Kim Cương, Thanh Vi, Mỹ
Châu, Thanh Kim Huệ, Minh Vương, Diệp Lang. Những tài năng trẻ tiếp nối cũng rất ăn khách như Vũ Linh, Vũ Luân,
Thoại Mỹ, Thoại Miêu, Phượng Loan, Phượng Hằng, Trọng Phúc, Tài Linh (định cư ở Mỹ năm 2005), Ngọc Huyền (định cư
ở Mỹ), Kim Tử Long, Tú Sương, Ánh Hoa. Các nghệ sĩ có nhiều triển vọng qua các giải Trần Hữu Trang cho thấy số lượng
ngày càng đông, đặc biệt là trong năm 2007 những giọng ca có thể trở thành những nghệ sĩ tài danh trong tương lai như
Hồ thị Ngọc Trinh, Phan Minh Đức, Oanh Kiều, Hoa Phượng, Thi Nhung, Diễm Kiều, Ngọc Tuyền, Trung Thảo, Trúc Ly,
Hoàng Khanh, Mỹ Vân, Hải Yến, Hải Long , vv…Giờ đây diễn xuất giữ phần quan trọng hơn là có giọng ca mùi như xưa .
Nghệ sĩ phải thuộc tuồng chứ không có người nhắc tuồng như trước.
Cấu trúc dàn nhạc
Ban nhạc tài tử lúc hòa tấu ở phòng khách (đàn hát sa-lông) thường gồm có: 1 đàn kìm, 1 đàn tranh, 1 đàn cò, 1 đàn độc
huyền, 1 sáo hay tiêu. Khi có người hát thì thêm phách hay song lang.
Khi trở thành dàn nhạc cải lương thì số lượng nhạc cụ trở thành quan trọng hơn : 1 trống ban, 1 song lang, 1 cặp não
bạt, 1 đồng la, 1 đàn cò, 1 đàn gáo, 1 đàn kìm, 1 đàn tam, 1 đàn đoản, 1 đàn tranh. Lại có thêm sáo, tiêu, kèn củn, kèn
nàm. Sau này có thêm đàn độc huyền, đàn xến, ghi ta phím lõm (còn gọi là lục huyền cầm), tam thập lục, vi-ô-long, hạ uy
cầm nhứt là ở miền Nam. Câu lục huyền cầm hay ghi-ta phím lõm có nhiều khả năng về cung bực, âm thanh trầm bỏng
lại có thể luyến láy do phím móc sâu. Từ 40 năm nay, ghi-ta phím lõm giữ vai trò chánh trong dàn nhạc cải lương, và mấy
lúc sau này đàn ghi ta phím lõm có gắn điện giống ghi-ta điện của nhạc trẻ kích động. Cố nhạc sĩ Văn Vĩ là người có ngón
đờn ghi-ta phím lõm huyền diệu nhất. Ngoài dàn nhạc cổ, còn có thêm dàn nhạc Tây phương với piano, saxo, clarinette,
trống, ghi-ta điện, và đàn synthé (hay organ).
Làn điệu hát trên sân khấu cải lương
Những bài bản được nghe trong tuồng cải lương đều phát xuất từ dân ca cổ nhạc miền Nam phần lớn, và những làn
điệu trong nhạc đàn tài tử, một loại nhạc thính phòng miền Nam. Có thể phân loại một số bài bản thông dụng như sau:
1. Từ những điệu ca dân gian như những điệu Lý . Trong Nam có hàng chục bài Lý : Lý con sáo, Lý thập tình, Lý ngựa ô, Lý
giao duyên, Lý vọng phu, Lý chiều chiều, Lý bình vôi, Lý chuồn chuồn, vv… Có Lý ngựa ô Bắc, lý ngựa ô Nam. Từ điệu Lý
ngựa ô biến thành điệu cải lương Ô Mã 18 câu nhịp đôi. Mỗi một bài diễn tả một tâm trạng mà người viết tuồng phải
nắm vững để tránh bị sai lầm. Khi vui tươi thì sử dụng điệu Lý ngựa ô. Khi bâng khuâng thì điệu Lý con sáo. Lúc kể lể
thương đau thì hát Lý chuồn chuồn. Khi ru con thì hát Lý giao duyên, vv… Đến những điệu ngâm cũng phải biết lúc nào
ngâm theo thể ngâm nào. Có nhiều loại ngâm như Ngâm Kiều (còn gọi là Lẫy Kiều), ngâm Sa Mạc, Bồng Mạc, ngâm Sổng,
nói thơ Lục Vân Tiên, ngâm thơ Tao Đàn, hò.
2. Từ những bài nhạc lễ cung đình trong hát bội sau được cải biên dùng trong cải lương như Vũ Biền Xuất Đôi, Nam
Xuân, Nam Ai, Nam Đảo, Ngũ Đối Thượng, Ngũ Đối Hạ, Long Đăng, Tiểu Khúc, vv…
3. Từ những sáng tác mới sau này khi có ca ra bộ, hát cải lương như Văn Thiên Tường, Tứ Đại Oán, Trường Tương Tư,
Lưu Thủy Trường, Ái Tử Kê, Vọng Cổ, vv…
4. Từ những điệu hát lấy từ nhạc nước ngoài nhứt là từ Trung quốc, nhạc Quảng Đông xuyên qua các bài Xang Xừ Líu,
Khốc Hoàng Thiên, Liễu Xuân Nương, Bản Tiều, Lạc Âm Thiều, vv…
Theo một vài giả thuyết cho rằng thầy ký Trần Quang Quờn, tự Thầy Ký Quờn, quê ở Vĩnh Long, đã sáng tác hai bài Tứ
Đại Oán và Văn Thiên Tường cách đây hơn 80 năm. Đặc biệt là bài Tứ Đại Oán đã khơi nguồn cho hát ca ra bộ trước khi
hát cải lương thành hình .
Một điệu hát quen thuộc khác đã được ông Sáu Lầu sáng tác là bài Dạ Cổ Hoài Lang, trở thành Vọng Cổ Hoài Lang (1936)
và Vọng Cổ sau đó. Chính bài hát này đã dính liền với sân khấu cải lương. Nhạc sĩ và thầy tuồng Nguyễn Tri Khương (từ
trần 1962) (cậu của GS Trần Văn Khê, và ông cậu của tôi) đã sáng tác một số bài bản mới như « Bắc Cung Ai », « Phong
Xuy Trịch Liễu », « Yến Tước Tranh Ngôn » cho vở tuồng « Giọt lệ chung tình » vào năm 1927 cho gánh hát Đồng Nữ Ban
do bà cô ba của tôi là Trần Ngọc Viện sáng lập. Nhưng cho tới ngày nay không thấy ai dùng các bài này trong cải lương.
GS Trần Văn Khê có thu vào dĩa hát bên Pháp vào năm 1959.
Nhạc sĩ Tư Chơi đã sáng tác một số điệu hát vào năm 1937 như Trông Thấy Ai Xinh Thay ! và Xin Thề. Cố nghệ sĩ Bảy
Nhiêu đã sáng tác bài Hoài Tình .
Nhạc sĩ Mộng Vân trong những năm 1939-40 đã sáng tác nhiều bài ngắn như « Tấn Phong », « Túy Tửu », « Thu Phong
Nguyệt », « Giang Tô », « Sương Chiều », « Tú Anh », « Tô Vũ », « Nặng Tình Xưa », vv…Nhạc của Mộng Vân có điệu gần
gủi với phong cách cải lương, nhưng cũng có điệu lai căng, chịu nhiều ảnh hưởng Tây phương .
Ở hải ngoại, môi trường không có. Nghệ sĩ phải hành nghề phải hành nghề khác để mưu sinh cầu thực. Cho nên nghệ
thuật cải lương ở hải ngoại bị dừng lại. Thế hệ trẻ của cộng đồng Việt Nam ở nước ngoài có lẽ sẽ không còn hiểu hay
không biết gì về ngành cải lương trong tương lai.Trong nước có tờ tuần báo « Sân khấu thành phố » thông tin những
sinh hoạt của các nghệ sĩ cải lương. Trang nhà http://cailuongvietnam.com đăng tải những tin tức nghệ sĩ , hình ảnh,
những bài viết về cải lương nói chung và một số trang nhà cho nghe và xem những vở tuồng cải lương hiện tại giúp cho
chúng ta có một cái nhìn trung thực về hiện trạng của nghệ thuật cải lương. Nghệ thuật cải lương ngày nay vẫn tiếp tục
phát triển trong nước và hy vọng rằng được bành trướng rộng lớn trong tương lai.
Lịch sử Tân Nhạc Việt Nam
Phần I
Nhạc Mới hay là Tân Nhạc hay là Nhạc Cải Cách là một loại nhạc xuất hiện vào khoảng năm 1928. Ðó là một thể nhạc lấy
nhạc ngữ Tây phương làm nền tảng (thang âm thất cung do-ré-mi-fa-sol-la-si-do, hòa âm phối khí, nhạc khí Tây phương
vv...).
Lịch sử tân nhạc Việt Nam có thể chia thành năm giai đoạn:
Giai đoạn tượng hình (1928-1937)
Giai đoạn thành lập (1938-1945)
Giai đoạn kháng Pháp (1946-1954)
Giai đoạn đất nước chia đôi (1954-1975)
Giai đoạn di tản (từ 1975 trở đi)
Giai đoạn tượng hình (1928-1937)
Nói cho đúng thì sự phát xuất đầu tiên của âm nhạc cải cách khởi xướng từ loại nhạc đàn tài tử trong Nam với những
nhạc phẩm mới của thầy ký Trần Quang Quờn khoảng trước thế chiến thứ nhứt (1914-1918)
Nghệ sĩ cải lương tiền phong Tư Chơi (tên thật là Huỳnh Thủ Trung) đã sáng tác một số bài hát ta theo điệu tây như
"Tiếng nhạn trong sương", "Hòa duyên", đồng thời viết bài Việt cho một số bài Tây thịnh hành thời đó như "Marinella"
(trong vở tuồng Phũ Phàng). Một số bản nhạc Pháp được dịch ra lời Việt như "Pouet Pouet" (trong tuồng Tiếng Nói Trái
Tim), "Tango mystérieux " (trong tuồng Ðóa Hoa Rừng), "La Madelon " (trong tuồng Giọt Lệ Chung Tình), vv..
Nghệ sĩ Bảy Nhiêu có sáng tác bài "Hoài Tình" trở thành một bản rất được ưa chuộng. Năm 1930, đảng cộng sản Ðông
Dương được thành lập và bài ca của Ðình Như "Cùng Nhau Ði Hồng Binh" được sáng tác trong tù và đi liền với phong
trào kháng Pháp.
Có một số bản nhạc được viết ra trước thế chiến thứ hai như « Bẽ Bàng » (1935), « Nghệ Sĩ Hành Khúc » (1936) của Lê
Yên, « Bóng Ai Qua Thềm » (1937)của Văn Chung, « Xuân Năm Xưa »(1936) của Lê Thương , « Biệt Ly » (1939) của Doãn
Mẫn, vv…
Vào khoảng năm 1937, phong trào "ái Tino" lên rất cao tại Việt Nam. Trên làn sóng điện, trong rạp hát, tại các vũ trường,
nơi tư nhân đâu đâu cũng nghe những âm điệu du dương của nhạc sĩ Vincent Scotto qua giọng hát êm ả của Tino Rossi.
Giai đoạn thành lập (1938-1945)
Phong trào chuyển theo hướng làm thay đổi sở thích của giới trẻ. Trước mối nguy vọng Pháp và trong tinh thần bảo vệ
nghệ thuật của dân tộc, một số nhạc sĩ Việt Nam ra tay sáng tác nh"ng bản tân nhạc đầu tiên. Ðó là vào năm 1938. Ở
miền Bắc lúc ấy có Thẩm Oánh (định cư tại Hoa kỳ và từ trần năm 1996) , Dương Thiệu Tước (từ trần năm 1998 tại Việt
Nam) , Trần Quang Ngọc, Lê Thương (từ trần năm 1996 tại Việt Nam). Trong Nam thì có Nguyễn Văn Tuyên, Nguyễn
Xuân Khoát, Phạm Ðăng Hinh. Tháng 3, 1938, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên được chánh phủ bảo hộ Pháp gởi ra Hà Nội để
thuyết trình về âm nhạc cải cách hầu tạo một phong trào mới.
Vào tháng 9, 1938, báo Ngày Nay đã góp công vào phong trào phổ biến nhạc mới bằng cách đăng những bài tân nhạc
đầu tiên. Từ năm 1938 tới 1942 báo Ngày Nay đã đăng "Bông Cúc Vàng", "Kiếp Hoa" của Nguyễn Văn Tuyên, "Bình
Minh", "Ðàn Xuân "của Nguyễn Xuân Khoát, "Khúc Yêu Ðương" của Thẩm Oánh, "Bản Ðàn Xuân" của Lê Thương, "Ðám
Mây Rừng " của Phạm Ðăng Hinh, "Ðường Trường" của Trần Quang Ngọc.Báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy có đăng bản "Con
Thuyền Không Bến " của Ðặng Thế Phong.
Các nhạc sĩ Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước, Trần Dư, Vũ Khánh, Phạm Văn Nhượng cùng nhau thành lập nhóm
MYOSOTIS. Trong nhóm này có hai xu hướng:
1. Sáng tác nhạc mới nhưng có âm hưởng nhạc dân tộc do Thẩm Oánh chủ trương.
2. Sáng tác hoàn toàn theo nhạc ngữ Tây phương do Dương Thiệu Tước cầm đầu.
Ít lâu sau, một nhóm khác gồm vài nhạc sĩ trẻ đầy nhiệt quyết thành lập nhóm TRICEA gồm Văn Chung, Lê Yên, Dzoãn
Mẫn. Nhóm này chịu ảnh hưởng nhạc Trung Quốc lúc đầu, về sau phảng phất âm hưởng Âu châu và phải rả sớm. Nhóm
Ðồng Vọng ở Hải Phòng có các nhạc sĩ Hoàng Quý, Văn Cao, Canh Thân. Nhóm Ðồng Vọng do Hoàng Quý điều khiển ra
đời chuyên về nhạc hướng đạo lúc đầu và sau đó tích cực đóng góp trong việc phổ biến nhạc mới.
Lê Thương lúc đó giảng dạy tại trường trung học Lê Lợi. Một số tráng sinh hướng đạo có nh"ng tên đi vào lịch sử âm
nhạc Việt Nam như Canh Thân, Phạm Ngữ, Hoàng Quý đã sáng tác những bài nhạc đáng kể như "Nhớ Quê Hương"
(Phạm Ngữ), và "Chùa Hương" (Hoàng Quý).
Tỉnh Nam Ðịnh chứng kiến sự chào đơì của hai bài "Ðêm Thu" và "Con Thuyền Không Bến" của nhạc sĩ đoản mệnh Ðặng
Thế Phong.
Hai bài nhạc Nhựt "Hà Nhựt Quân Tái Lai " (Bao giờ anh trở lại ) và "Shina No Yoru " (Ðêm Trung Hoa) trích trong phim
"Ðêm Trung Hoa" (Nuit de Chine) đã gợi hứng cho nhạc sĩ Việt Nam thời bấy giờ sáng tác nhạc Việt, tạo thành phong
trào "Người Việt hát nhạc Việt ".
1939: thế chiến thứ hai bùng nổ tại Âu Châu. Những bài "Việt Nam Bất Diệt" của Hoàng Gia Linh, "Trên Sông Bạch Ðằng"
của Hoàng Quý, "Tiếng Gọi Sinh Viên" của Lưu Hữu Phước đã làm sống dậy tinh thần yêu nước của tuổi trẻ.
Tân nhạc trong hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ đã đóng một vai trò đáng kể và từ đó phát triển rất mạnh. Phong trào
tân nhạc đã được đưa lên cao tột đỉnh với Tổng Hội Sinh Viên trong giai đoạn lịch sử 1943-1945. Nhạc sĩ đi liền với Tổng
Hội Sinh Viên không ai khác hơn là Lưu Hữu Phước. Những bài hát làm ra đúng thời, đúng lúc và vẫn còn sống mãi trong
tim đa số người Việt ngày hôm nay (nhứt là những ngươì vào tuổi ngũ tuần trở đi). Những ai đã sống trong thời kháng
chiến chống Pháp vẫn còn nhớ những bài gợi lên những giai đoạn lịch sử Việt Nam như "Ải Chi Lăng", "Bạch Ðằng
Giang", "Hội Nghị Diên Hồng", hay những bài khích động thanh niên như "Tiếng Gọi Sinh Viên" (đổi thành Tiếng Gọi
Thanh Niên, và cũng là bài quốc ca của thơì Ngô Ðình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu). "Lên Ðàng" hay với thiếu nữ như
"Thiếu Nữ Việt Nam", hay những bài gắn liền với lịch sử như "Kinh Cầu Nguyện", "Hồn Tử Sĩ" (bài mà trong bất cứ
chương trình đấu tranh của người Việt di tản vẫn còn dùng để tưởng nhớ các chiến sĩ tử trận) . Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước
là người đầu tiên sáng tác nhạc ca kịch trong kịch thơ "Tục Lụy" của Khái Hưng và Thế Lữ và tiểu ca kịch "Con Thỏ Ngọc".
Nguyễn Ðình Thi sáng tác bài "Diệt Phát Xít" thúc đẩy dân chúng nổi lên chống Nhựt Bổn.
Lúc bấy giờ ở tại Sài Gòn, chỉ lẻ tẻ vài hội hoạt động về nhạc cải cách. Hội Nam Kỳ Ðức Trí Thể dục mời bà nhạc sĩ dương
cầm Louise Nguyễn Văn Tỵ (tên thật là Thái Thị Lang) trình diễn piano với những bài do bà sáng tác. Nhạc sĩ quá cố Võ
Ðức Thu trình bày nhạc phẩm "Việt Nam Tân Ðiệu". Từ Bắc tới Nam, nhạc sĩ tân nhạc bắt đầu mọc lên như nấm.
Trong giai đoạn 1944-1945, nhiều bài bạn tôn giáo như "A Di Ðà Phật" của Thẩm Oánh được hát nhân ngày khánh thành
trùng tu chùa quan sứ Hà Nội vào cuối năm 1942 hay bài "Sám Hối" và nhiều ca khúc khác của Nguyễn Hữu Ba và Văn
Giảng sáng tác tại Huế. Nhạc đoàn Lê Bão Tịnh gồm các nhạc sĩ Hùng Lân, Hải Linh, Tâm Bảo, Thiên Phụng đã sáng tác tập
Cung Thánh gồm hàng trăm bài Thánh ca Thiên chúa giáo (1944-1945).
Giai đoạn 1945-1946 đánh dấu cuộc chiến tranh bùng nổ tại Việt Nam vừa sau trận thế chiến thứ hai. Các nhạc sĩ lo sáng
tác nhạc chiến đấu như Văn Cao với "Tiến Quân Ca" (trở thành Quốc Ca của chế độ cộng sản miền Bắc từ năm 1945, và
được dùng làm Quốc Ca của Việt Nam Xã hội chủ nghĩa từ năm 1976 sau khi thống nhứt đất nước), "Chiến Sĩ Việt Nam ",
như Ðỗ Nhuận với "Nhớ Chiến Khu ", như Phạm Duy với "Chiến Sĩ Vô Danh ", "Xuất Quân ", như Lưu Hữu Phước với
"Ðoàn Quân Ma ", như Phan Huỳnh Ðiểu với "Giải Phóng Quân ", như Thẩm Oánh với "Việt Nam Phục Quốc ". Song song
vơí những sáng tác chiến đấu, tình cảm vẫn còn rung động trong nguồn hứng qua các bài "Thiên Thai " (Văn Cao), "Ðêm
Ðông " (Nguyễn Văn Thương), "Xuân và Tuổi Trẻ " (La Hối), "Mùa Ðông Binh Sĩ " (Phan Huỳnh Ðiểu), "Dạ Khúc " (Nguyễn
Mỹ Ca), "Ðêm Tàn Bến Ngự " (Dương Thiệu Tước), " Cây Ðàn Bỏ Quên " (Phạm Duy), "Mơ Hoa " (Hoàng Giác), "Cô Lái
Ðò" (Thẩm Oánh), "Suối Mơ " (Văn Cao), "Hẹn Một Ngày Về " (Lê Hữu Mục), "Ði Chơi Chùa Hương " (Trần Văn
Khê/Nguyễn Nhược Pháp).
Các nhạc sĩ đã dùng nhạc để diễn tả những bài thơ lãng mạn của Đoàn Phú Tứ (« Màu Thời Gian » nhạc Nguyễn Xuân
Khoát), của Lưu Trọng Lư ( « Tiếng Thu » nhạc Phạm Duy), của Nguyễn Bính (« Cô Lái Đò » nhạc Nguyễn Đình Phúc) . Các
đề tài lãng mạn của Tự Lực Văn Đoàn tạo nguồn hứng cho một vài nhạc phẩm như « Bướm Hoa » của Nguyễn Văn
Thương , hay « Cô Hái Hoa » của Hoàng Giác .
Nhạc nhà thờ với nhạc sĩ Hùng Lân (tù trần năm 1986 tại Việt Nam), nhạc quân đội với Đinh Ngọc Liên khởi xướng trong
giai đoạn sơ khai này .
Trước năm 1945, nhạc dành cho trẻ em rất hiếm. Hoàng Quý có viết một số bài vì ông là huynh trưởng của đoàn hướng
đạo Hải Phòng. Phạm Văn Xung đã đưa nhiều bản nhạc trẻ em Tây phương với lời Việt vào phong trào hướng đạo. Một
số rất ít nhạc phẩm của Nguyễn Xuân Khoát như « Con Voi », « Thằng Bờm », hay của Lê Thương như « Thằng Cuội »
được xem như là những ca khúc trẻ em đầu tiên của Việt Nam . Sau 1945, Phong Nhã là người đầu tiên thật sự viết ca
khúc cho trẻ em như « Ai yêu bác Hồ Chí Minh hơn thiếu nhi nhi đồng », « Kim Đồng », « Nhanh Bước Nhanh Nhi Đồng
», vv…
Giai đoạn kháng pháp (1946-1954)
Giai đoạn kháng Pháp (1946-1954) bắt đầu từ tháng 12, 1946 đã chứng kiến sự chào đời của một số nhạc khúc tranh đấu
mãnh liệt. Ða số các nhạc sĩ đã rời cuộc sống xa hoa của thủ đô và các thành phố để tự nguyện dấn thân vào cuộc kháng
chiến toàn quốc. Từ đó, âm nhạc Việt Nam bước vào một giai đoạn mới. Tại vùng bị chiếm, âm nhạc vẫn tiếp tục theo
chiều hướng nhạc tr" tình, lãng mạn, hay nhạc nói lên những hình ảnh dân tộc Việt, phong cảnh Việt. Có thể kể một số
bài bản điển hình như "Người Hà Nội " (Nguyễn Ðình Thi), "Làng Tôi " (Văn Chung), "Quê Em " (Nguyễn Ðức Toàn), "Rạng
Ðông " (Hùng Lân), "Tình Ca" (Phạm Duy), "Bà Mẹ Quê" (Phạm Duy), "Vợ Chồng Quê " (Phạm Duy), "Em Bé Quê " (Phạm
Duy), "Ngày Trở Về " (Phạm Duy), "Mơ Khúc Tương Phùng " (Văn Phụng), "Ai Về Sông Tương "(Thông Ðạt), "Tiếng Thời
Gian " (Lâm Tuyền), "Hòn Vọng Phu 1,2,3 " (Lê Thương), "Hòa Bình 48 " (Lê Thương), "Liên Hiệp Quốc " (Lê Thương),
"Chúc Tết " (Lê Thương), "Tiếng Thùy Dương " (Lê Thương), vv....
Với thể hành khúc, ca khúc chiến đấu, âm điệu hùng tráng lúc đầu dựa theo các điệu diễn binh của Pháp, rồi dần dần
hấp thụ và chuyển biến thành những hành khúc mang màu sắc dân tộc. Qua những nhạc khúc đi sâu vào lòng dân tộc
thời bấy giờ như "Du kích Sông Thao", "Chiến Thắng Ðiện Biên " của Ðỗ Nhuận, "Sông Lô" của Văn Cao, "Tiểu Ðoàn 307 "
của Nguyễn Hữu Trí, "Bộ Ðội Về Làng" của Lê Yên, "Quê Tôi Giải Phóng " của Văn Chung. "Hò Kéo Pháo" của Hoàng Vân,
nhạc đấu tranh đã thành công trong việc kết hợp ngôn ngữ âm nhạc Tây phương và âm điệu dân tộc dựa trên thang âm
ngũ cung. Bác và đảng cũng là một đề tài mới mẻ đã sinh ra một bài như "Ca Ngợi Hồ Chủ Tịch" của Văn Cao, "Biết Ơn Cụ
Hồ" của Lưu Bách Thụ, và "Chào Mừng Ðảng Lao Ðộng Việt nam " của Lưu Hữu Phước, vv....
Trong giai đoạn này , tại Pháp trong những năm 1949 tới năm 1951, hãng dĩa ORIA đã thu mấy chục dĩa nhựa 78 vòng
tiếng hát của các ca sĩ Hải Minh (biệt hiệu của giáo sư Trần Văn Khê), Bích Thuận, Hoàng Lan, Văn Lý (tức nhạc sĩ Nguyễn
Văn Thông) những ca khúc của Lưu Hữu Phước (« Hội nghị Diên Hồng »), Phạm Duy (« Chiến sĩ vô danh »), Lê Thương («
Tiếng Thùy Dương », « Hòa Bình 48 »), Võ Ðức Thu (« Quyết Tiến »), Nguyễn Hữu Ba ( « Lửa Rừng Ðêm »), Đan Trường («
Trách Người Đi ») vv...
Giai đoạn thứ nhì của lịch sử tân nhạc khởi sự từ sau hiệp định Genève (1954) cho tới lúc mất Saigon (30 tháng 4, 1975).
4. Giai đoạn đất nước chia đôi (1954-74)
Hiệp định Genève được ký vào tháng 7, 1954. Ðất nước Việt Nam bị chia đôi. Vĩ tuyến 17 được tạm dùng làm ranh giới
cắt đôi xứ Việt Nam. Miền Bắc với chế độ xã hội chủ nghĩa, và miền Nam với chế độ dân chủ cộng hòa.
A. Nhạc mới tại miền Bắc
Với đường lối cộng sản, với sự ảnh hưởng âm nhạc của Trung Quốc và Nga sô ngày càng sâu đậm theo tỷ số ngày càng
cao của các nhà soạn nhạc được gởi đi du học ở các nước cộng sản. Bốn chủ đề được khuyến khích để phát triển:
1. Hồ chí Minh.
Tên của Hồ Chí Minh được dùng làm nguồn hứng cho một số sáng tác như " Việt Bắc nhớ Bác Hồ" (Phạm Tuyên), "Hồ Chí
Minh Ðẹp Nhất Tên Người " (Trần Kiết Tường), "Ðôi Dép Bác " (Văn An), " Nhớ Ơn Hồ Chí Minh" (Tô Vũ), "Lời Ca Dâng
Bác " (Trọng Loan), "Trồng Cây Lại Nhớ Ðến Người" (Ðỗ Nhuận), vv....
2. Phong cảnh và tâm hồn Việt Nam cũng gợi cho một số nhạc sĩ viết những nhạc phẩm như "Quảng Bình Quê Ta Ơi"
(Hoàng Vân), "Vàm Cỏ Ðông " (Trương Quang Lực), "Tây Nguyên Bất Khuất" (Văn Ký), "Bài Ca Hà Nội " (Vũ Thành),
"Trường Sơn Ðông, Trường Sơn Tây" (Hoàng Hiệp), "Một Khúc Tâm Tình Của Người Hà Tĩnh " (Nguyễn Văn Tý), "Những
Cô Gái Ðồng Bằng Sông Cửu Long" (Huỳnh Thơ), « Cô Gái Sài Gòn Đi Tải Đạn » (Lư Nhất Vũ), « Tiếng Về Sài Gòn » (Huỳnh
Minh Siêng), « Sài Gòn Quật Khởi » (Hồ Bắc), « Hướng Về Hà Nội » (Hồ Bắc), vv...
3. Dân tộc thiểu số là một đề tài mơí cho những sáng tác như "Tiếng Ðàn Tà Lư" (Huy Thục), "Cô Gái Cầm Ðàn Lên Ðỉnh
Núi" (Văn Ký), "Bản Mèo Ðổi Mới" (Trịnh Lai), "Em Là Hoa Pơ Lang" (ÐứcMinh), "Bóng Cây Kơ Nia" (Phan Huỳnh Ðiểu).
4. Giai đoạn kháng Mỹ, Giải phóng miền Nam (1965-1975) là một động cơ thúc đẩy những nhà sáng tác âm nhạc sản
xuất những bản nhạc như "Anh Vẫn Hành Quân" (Huy Du), "Chào Anh Giải Phóng Quân" (Hoàng Vân), "Lời Anh Vọng Mãi
Ngàn Năm - Nguyễn Văn Trỗi " (Vũ Thành), "Bài Ca Năm Tấn" (Nguyễn Văn Tý), "Lá Thư Hậu Phương" (Phạm Tuyên),
"Trai Anh Hùng, Gái Ðảm Ðang" (Ðỗ Nhuận), "Bài Ca May Áo" (Xuân Hồng), "Hành Khúc Giải Phóng" (Lưu Nguyễn Long
Hưng tức Lưu Hữu Phước), "Giải Phóng Miền Nam" (Huỳnh Minh Siêng , một biệt hiệu khác của Lưu Hữu Phước). Bài
"Giải Phóng Miền Nam" được dùng làm quốc ca của Mặt trận giải phóng từ năm 1960 tới năm 1975.
Sau khi "giải phóng " miền Nam ngày 30 tháng 4,1975, một số bản nhạc được chào đời : "Tiếng Hát Thành Phố Mang Tên
Người" (Cao Việt Bách), "Bài Ca Thống Nhứt" (Võ Văn Di), "Ðất Nước Trọn Niềm Vui" (Hoàng Hà), "Bài Ca Xây Dựng"
(Hoàng Vân), vv..... Ngoài bốn chủ đề trên, các nhạc sĩ miền Bắc cũng có sáng tác cho những nhạc khí cổ truyền qua
những nhạc phẩm như : "Vì Miền Nam" cho độc huyền và dàn nhạc giao hưởng của Huy Thục, "Vững Một Niềm Tin" cho
đàn nguyệt của Xuân Bá, "Vũ Khúc Tây Nguyên" cho đàn độc huyền của Ðỗ Nhuận, "Hội Mùa" cho sáo của Ðinh Thìn,
"Tình Quê Hương" cho đàn nhị của Thao Giang, "Kể Chuyện Quê Hương" cho đàn tỳ bà của Mai Phương, "Bình Minh
Trên Reo Cao" cho đàn tranh của Phương Bảo. Đa số những sáng tác cho nhạc khí cổ truyền đều do chính tác giả trình
diễn như các nhạc sĩ Đức Tùy, Ngọc Phan , Đinh Thình với sáo trúc, Mai Phương với đàn tỳ bà, Hồ Khắc Chí với đàn bầu,
Kim Oanh với đàn trưng, klôngput, Phương Bảo với đàn tranh, Thao Giang, Thế Dân. Riêng về đàn bầu có khá nhiều nhạc
sĩ sáng tác đóng góp như Huy Thục, Hoàng Đạm, Hoàng Vân, Đức Nhuận, Huy Du, Đinh Long, Xuân Khải, Khắc Chí, Văn
Thắng, Xuân Tứ, Hồng Thái, Quốc Lộc được các nhạc sĩ trình diễn sau đây độc tấu : Mạnh Thắng, Đức Nhuận, Đoàn Anh
Tuấn, Nguyễn Tiến, Khắc Chí, Nguyễn Chương, Thanh Tâm, Xuân Ba, Ngọc Hướng.
Sau khi hiệp định Genève (Accord de Genève) ký xong, nhiều đoàn ca múa chuyên nghiệp của các quốc gia Liên Xô và
Đông Âu tới Hà nội trình diễn với những màn hợp xướng làm cho các nhạc sĩ Việt Nam thời đó quan tâm tới việc soạn ca
khúc nhiều bè . Những sáng tác đầu tiên vào năm 1955 như « Hò Đẵn Gỗ » (Đỗ Nhuận), « Sóng Cửa Tùng » (Doãn Nho), «
Chiến Sĩ Biên Phòng » (Huy Thục), cũng như trong năm 1956 và 1957 với « Ta Đã Lớn », « Hò Kiến Thiết » (Nguyễn Xuân
Khoát), « Tiếng Chim » (Lưu Cầu), « Tiếng Hát Người Chiến Sĩ Biên Thùy » (Tô Hải , 1958), vv…
Từ 1960 tới 1975, song song với lớp nhạc sĩ đi đầu như Lưu Hữu Phước, Đỗ Nhuận, Lương Ngọc Trác, sau đó tới Doãn
Nho, Tô Hải, Lưu Cầu, Vân Đông, Hoàng Hà, Hồ Bắc, Huy Thục, La Thăng, một số nhạc sĩ trẻ (Trọng Bằng, Cao Việt Bách,
Đỗ Dũng, Hoàng Bội, Thế Bảo) chú ý tới soạn vừa cho hát và nhạc khí xuất hiện và đẩy mạnh phong trào sáng tác hợp
xướng ở miền Bắc .
Nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát thể nghiệm vở thanh xướng kịch (một loại trường ca) đầu tiên « Vượt Sông Cái » vào năm
1955, và Đàm Linh viết vở « Nguyễn Văn Trỗi » theo lời thơ của Chu Điền vào năm 1965.
Ảnh hưởng nhạc cổ điển Tây phương được thể hiện trong những bài hát dân ca, những giao hưởng khúc, những "opera"
(kịch hát) với phương pháp phối âm phối khí theo nhạc ngữ Tây phương do các nhạc sĩ được gởi đi tu nghiệp ở các viện
âm nhạc các quốc gia cộng sản. Nguyễn Ðình Tân, Ðàm Linh, Nguyễn Văn Nam, Trọng Bằng, Ðỗ Nhuận, Văn Ký đều du
học ở Nga Sô, Hoàng Việt ở Bảo Gia Lợi, Nguyễn Văn Thương ở Ðông Ðức, Hoàng Ðàm, Hoàng Vân ở Trung Quốc,
Nguyễn Tài Tuệ ở Bắc Hàn. Những kịch hát (opera) Việt hóa được thành hình như "A Sao" và "Người Tạc Tượng" của Ðỗ
Nhuận, "Bên Bờ Krong Pa" của Nhật Lai, "Bông Sen" của Lưu Hữu Phước và Nguyên Vũ, "Quê Hương" của Hoàng Việt.
Một xu hướng mới được phát hiện sau khi đất nước bị chia đôi, đó là thể loại sáng tác bài ca không lời theo cấu trúc cổ
điển Tây phương dùng cho dàn nhạc hơn là hát . Các nhạc sĩ Lưu Cầu (« Quê Hương »), Nguyễn Văn Thương, Chu Minh
(« Bài Ca Không Lời »), Tô Vũ (« Trăng Cung Hồ »), Hồng Đăng , Văn Ký, Lê Lôi, Huy Du (« Miền Nam Quê Hương Ta Ơi »),
Ca Lê Thuần (12 préludes không tiêu đề), Minh Khang (10 préludes), Hoàng Dương (« Giai Điệu Quê Hương »), Hoàng
Cương , Sơn Ngọc Hoàng , vv… Rồi các loại khác như vũ khúc chú trọng đến các vũ điệu các sắc tộc miền núi như các tác
phẩm « Vũ Khúc Tây Nguyên » (Hoàng Đạm), « Tây Nguyên Vui Chiến Thắng » (Nguyễn Văn Thương), « Rừng Xuân Tây
Nguyên » (Vĩnh Cát), « Vũ Khúc Hơ Rê » (Hoàng Dương), « Vũ Khúc Tây Bắc » (Trọng Bằng), vv…
Các loại khác như Scherzo ( « Lý Ngựa Ô » của Nguyễn Tuấn), Ru Con (« Hát Ru cho piano » của Nguyễn Đình Tấn),
Sérénade ( « Chiều Quê Hương » cho piano và violon của Nguyễn Thị Nhung), Fantaisie (« Fantaisie số 1 » của Quang
Hải), Rhapsodie (« Bài Ca Chim Ưng » của Đàm Linh), Sonate (« Người Về Đem Tới Ngày Vui » của Trọng Bằng ),
Symphonie (Giao hưởng khúc) (« Quê Hương » của Hoàng Việt) được sự hưởng ứng của nhiều nhạc sĩ .
Một loại hình khác là Ca kịch nhỏ (operette như « Tục Lụy » của Lưu Hữu Phước), kịch hát nói (« Căn Nhà Màu Hồng
Ngọc » của Hoàng Vân) và điện ảnh. Tác giả đầu tiên của nhạc phim ảnh là Nguyễn Đình Phúc (phim « Chung Một Dòng
Sông », « Lửa Trung Tuyến ») đã tạo nên một trường phái viết nhạc phim. Các nhạc sĩ khác như Trọng Bằng (« Cù Chính
Lan », « Biển Lửa »), Hồng Đăng (« Hà Nội Mùa Chim Làm Tổ ») , Hoàng Vân ( « Con Chim Vành Khuyên »), Đàm Linh ( «
Đường Về Quê Mẹ »), Trọng Đài ( « Canh Bạc »), Đặng Hữu Phúc (« Tướng Về Hưu ») tiếp nối và phát triển mạnh mẽ
nhạc phim ở Việt Nam .
A. Nhạc mới tại miền Nam
Song song với sự phát triển nhạc tại miền Bắc, luồng sóng người Bắc di cư vào miền Nam sau hiệp định Genève đã mang
theo rất nhiều nhạc sĩ , và văn nghệ sĩ. Trong một chiều hướng tự do, các nhạc sĩ đã cùng nhau thi đua sáng tác qua
những khuynh hướng và chủ đề mà tôi tạm chia thành bốn giai đoạn:
Nhạc tình tự dân tộc (1954-63)
Nhạc tình cảm lãng mạn (1963-1975)
Nhạc phản chiến xuống đường (1966-1975)
Du ca và nhạc trẻ (1968-1975)
1. Nhạc tình tự dân tộc (1954-1963)
Trong giai đoạn đầu này, miền Nam trở thành đệ nhất cộng hòa dươí thời cố tổng thống Ngô Ðình Diệm. Những bài hát
bộc lộ, thể hiện hình ảnh dân tộc, đất nước, cũng như đơì lính chiến được dùng làm đề tài để sáng tác. "Con đường cái
quan" (Phạm Duy), "Mẹ Việt Nam", và "Tâm Ca" của Phạm Duy là những thiên trường ca nói lên cái đẹp của quê hương.
Nhiều nhạc sĩ khác đã đóng góp rất nhiều như Lam Phương với "Khúc Ca Ngày Mùa", "Chiều Hành Quân", như Lê Trọng
Nguyễn với "Nắng Chiều", như Lê Trạch Lựu với "Em Tôi", như Trần Văn Trạch với "Chiến Xa Việt Nam", "Xổ Số Kiến Thiết
Quốc Gia", "Chiếc Xe Lửa Mùng Năm", như Nguyễn Văn Ðông với "Chiều Mưa Biên Giới", "Mấy Dặm Sơn Khê", như
Huỳnh Anh với "Mưa Rừng", như Hoàng Thi Thơ với "Gạo Trắng Trăng Thanh", "Tìm Anh", như Trịnh Hưng với « Lối Về
Xóm Nhỏ », « Tôi Yêu ».
2. Nhạc tình cảm lãng mạn (1963-1975)
Ðệ nhị cộng hòa bắt đầu tháng 11, 1963 sau khi Ngô Ðình Diệm bị giết. Tình và Lính là hai chủ đề quan trọng nhứt. Ðời
lính được nói tới nhiều qua một số nhạc phẩm: "Lính Nghĩ Gì? (Hoài Linh), "Tình Anh Lính Chiến " (Lam Phương), "Lính
Trận Mưa Xa" (Bằng Giang và Anh Châu), "Anh Tiền Tuyến, Em Hậu Phương" (Minh Kỳ), "Phiên Gác Ðêm Xuân" (Nguyễn
Văn Ðông), "Trên Vùng Bốn Chiến Thuật" (Trúc Phương), "Người Ở Lại Charlie" (Trần Thiện Thanh), "Người Yêu Của Lính"
(Anh Chương ), "Em Yêu Người Lính Chiến" (Thu Hồ), "Ngày Phép Của Lính" (Thanh Sơn), "Vì Yêu Anh Là Lính" (Y Vân),
"Tình Lính" (Y Vân), "Lính Mà Anh" (Anh Thy), "Người Lính Chung Tình" (Khánh Băng), "Hai Người Lính Tâm Sự" (Thanh
Sơn), "13 Tuổi Lính" (Lê Dinh-Minh Kỳ), "Ngày Tròn Tuổi Lính" (Lê Dinh-Dạ Cầm). Cho tới năm 1969, một số nhạc phẩm
sau đây đã được rất đông người Việt miền Nam ưa thích và vẫn còn gợi lại trong lòng những người lìa xa đất nước ngày
hôm nay. Như những tình khúc và các bài không tên nhứt là "Bài Không Tên Thứ Nhứt", "Bài Không Tên Số 2" của Vũ
Thành An, "Mộng Dưới Hoa" (Phạm Ðình Chương-Ðinh Hùng), "Nửa Hồn Thương Ðau" (Phạm Ðình Chương-Cung Tiến-
Thanh Tâm Tuyền), "Sang Ngang " (Ðỗ Lễ), "Giọt Mưa Trên Lá "(Phạm Duy), "Kỷ Vật Cho Em" (Phạm Duy) , "Nghìn Trùng
Xa Cách" (Phạm Duy), "Nửa Ðêm Ngoài Phố" (Trúc Phương), "Lệ Ðá" (Hà Huyền Chi- Trần Trịnh), "Thôi " (Y Vân), "Căn
Nhà Ngoại Ô" (Anh Bằng - T.H.), "Thương Quá Việt Nam" (Phạm Thế Mỹ), "Nỗi Lòng " (Nguyễn Văn Khánh), "Kiếp Nghèo"
(Lam Phương), "Khi Ðã Yêu" (Phượng Linh), "Tình Yêu Ðã Mất " (Phạm Mạnh Cương), "100 phần 100" (Ngọc Sơn -Tuấn
Hải), vv.... Khi bước sang 1970 cho tới khi Saigon bị thất thủ vào ngày 30 tháng 4, 1975, nhạc sĩ trẻ đã gây một tiếng vang
lớn trong làng tân nhạc Việt Nam. Trần Thiện Thanh (cũng là ca sĩ Nhật Trường, sang định cư tại Hoa kỳ , 1993) là nhạc sĩ
tiêu biểu cho giai đoạn tân nhạc thời này (1970-75). Những nhạc khúc của anh như "Mùa Ðông Của Anh", "Người Yêu
Tôi Khóc", "Anh Không Chết Ðâu Em", "Người Ở Lại Charlie", tả lại nỗi đau khổ của người lính , người tình ở tiền tuyến
cũng như nỗi lo lắng của người sống hay chết sau chiến tranh. Nói như thế không có nghĩa là phủ nhận những ca khúc
khác cũng đánh dấu vai trò của nó trong giai đoạn này. Phạm Duy với "Mùa Thu Chết", "Em Hiền Như Ma Soeur" ,
Nguyễn Ánh 9 với "Không", « Buồn Ơi, Chào Mi », Châu Kỳ với "Tôi Viết Nhạc Buồn", Vũ Chương-Dạ Cầm với "Lần Ðầu
Cũng Là Lần Cuối", Lê Dinh với "Nếu Mai Này", Lê Mộng Bảo với "Ve Sầu", Vũ Thành An với "Ðừng Yêu Tôi", Khánh Băng
vơí "Nếu Một Ngày", Mai Bích Dung với "Cho Người Tình Nhớ" , Hoàng Thi Thơ với "Một Lần Cuối", Tùng Giang và Nam
Lộc với "Anh Ðã Quên Mùa Thu", Ngân Giang với "Vỗ Ta Mừng Rạng Ðông", vv.... Cũng trong giai đoạn này (1963-1975)
Phạm Duy là nhạc sĩ sáng tác nhiều nhạc phẩm nhất ở Việt Nam, và đa số các bản nhạc đều được ưa thích. Phạm Duy đã
sáng tác trên 700 bài và nhiều tập nhạc về một chủ đề như "Bé Ca", "Tục Ca", "Tâm Phẫn Ca", "Ðạo Ca", "Bình Ca".
Hoàng Thi Thơ là một trong một số ít nhạc sĩ đã thành công ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Nhạc mang nhiều dân tộc tính
như "Gạo Trắng Trăng Thanh", "Rước Tình Về Với Quê Hương", nhạc quê hương như "Trơì Quê Hương Ta Xanh", "Mặt
Trời Lại Sáng Quê Hương", nhạc hùng mạnh như "Những Người Không Biết Quay Lùi", "Quân Thù Nào", nhạc tình cảm
như "Ðường Xưa Lối Cũ ", "Tà Áo Cưới", "Chuyện Tình Người Trinh Nữ Tên Thi". Hoàng Thi Thơ còn soạn một số nhạc
cảnh như "Xe Phở Việt Nam", "Lão Hành Khất Mù Ðộc Ðáo", hay những trường ca như "Trường Ca Một Ngày Trọng Ðại",
"Trường Ca Màu Hồng Sử Xanh", cũng như viết nhạc cho một số vũ điệu dân tộc ít người như múa xòe , múa sập, múa
kơ ho, và những kịch hát như "Ả Ðào Say", "Cô Gái Ðiên". Lam Phương là nhạc sĩ miền Nam đã sáng tác mấy trăm nhạc
phẩm và một số đã đi sâu vào lòng dân miền Nam vì giai điệu phản ảnh dân nhạc. Có thể kể như "Khúc Ca Ngày Mùa",
"Chuyến Ðò Vĩ Tuyến", "Chiều Hành Quân", "Kiếp Nghèo", "Ðoàn Người Lữ Thứ" "Tình Anh Lính Chiến", "Nhạc Rừng
Khuya", "Trăng Thanh Bình", "Ngày Tạm Biệt", vv... Trần Văn Trạch, một thiên tài của Việt Nam, giữ một ngôi vị độc tôn
về nhạc hài hước trong lịch sử tân nhạc Việt Nam và đã đóng góp một số nhạc phẩm như "Tai Nạn TêLêPhôn", "Cái Ðồng
Hồ", "Chiếc Xe Lửa Mùng Năm". Bài "Xổ Số Kiến Thiết Quốc Gia" của Trần Văn Trạch đã được sáng tác vào năm 1955 và
đã nổi tiếng khắp miền Nam Việt Nam trong vòng 20 năm (tới năm 1975), một bài hát mà hầu như mọi người Việt Nam
miền Nam đều đã được nghe vì là bài hát được trình bày mỗi tuần trước khi xổ số tại Saigon. Nhạc châm biếm xã hội đã
được thể hiện qua ban tam ca AVT với những bản nhạc chịu nhiều ảnh hưởng của Chèo như "Trấn Thủ Lưu Ðồn", "Bán
Nước", "Ba Bà Ði Bán Lợn Xề", vv....
3. Nhạc phản chiến - xuống đường (1966-1975)
Hiện tượng Trịnh Công Sơn tiêu biểu cho phong trào nhạc phản chiến tại miền Nam. Bắt đầu vào khoảng năm 1966,
những nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn với một nhạc ngữ mới lạ dựa vào dân ca Mỹ, Ái nhĩ lan, hay loại nhạc thể (modal
music) của thời Trung Cổ bên Âu châu, đã chinh phục thế hệ trẻ qua giọng hát của Khánh Ly. Trịnh Công Sơn đã đánh
trúng tâm lý của giới trẻ, một giới trẻ ngao ngán cuộc chiến, chỉ khao khát hòa bình. Năm 1968, Trịnh Công Sơn đã tung
ra tập nhạc "Kinh Việt Nam" sau Tết Mậu Thân và đã kêu gào mọi người nên dừng tay giết nhau. "Dân ta tàn phế 20
năm. Nước mắt và máu đã làm thành những con suối lớn chảy mòn tiềm lực sáng tạo. Ðã mươì năm nay, anh em ta săn
đuổi nhau bằng hận thù giả tạo. Xin hãy dừng tay để mọi căn nhà Việt Nam co' thể mở rộng chờ đón một sớm mai hòa
bình ".
"Cánh Ðồng Hòa Bình", "Ðồng Dao Hòa Bình", "Nối Vòng Tay Lớn" của Trịnh Công Sơn đã được vang dậy trong các buổi
hát phản chiến. Tập nhạc "Ta Phải Thấy Mặt Trời" (1969) Trịnh Công Sơn gieo tiếp những hạt giống chống chiến tranh tại
miền Nam một cách mãnh liệt. Sự thành công của "Những Tình Khúc" (1967) của Trịnh Công Sơn với các bản "Nhìn
Những Mũa Thu Ði", "Mưa Hồng", "Diễm Xưa", "Nắng Thủy Tinh", "Còn Tuổi Nào Cho Em", "Tôi Ru Em Ngủ", "Tình Sầu",
"Tình Xa", "Ru Em", "Ru Ta Ngậm Ngùi", "Biển Nhớ", "Hạ Trắng ", "Cát Bụi", "Như Cánh Vạc Bay" đã tạo một chỗ đứng
vững vàng trong làng tân nhạc Việt Nam. Từ đó mới nẩy sinh những bài hát kêu gọi hòa bình trong "Hãy Nói Giùm Tôi"
trong "Ca Khúc Da Vàng". Trịnh Công Sơn là nhạc sĩ nổi nhất trong vòng 10 năm chót của đệ nhị Cộng Hòa Việt Nam
(1966-1975) với hàng trăm bản nhạc nói lên tình yêu, đau khổ bởi chiến tranh, kêu gọi hòa bình. Những chủ đề đó đã
được thể hiện qua các tập "Ca Khúc Thần Thoại Quê Hương" , "Ca Khúc Da Vàng".
Song song với nhạc phẩm phản chiến của Trịnh Công Sơn, vào lúc sau Tết Mậu Thân 1968, mầm móng chóng đối chính
quyền Nguyễn Văn Thiệu ở Saigon bắt đầu nẩy nở ở tại các trường đại học văn khoa Saigon với Miên Ðức Thắng (tên
thật là Nguyễn Văn Thắng), tác giả của những nhạc phẩm "Hát Từ Ðồng Hoang", "Lớn Mãi Không Ngừng". Phong trào
học sinh và sinh viên xuống đường dưới sự lèo lái của Huỳnh Tấn Mẫm, chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Saigon lúc đó đã tạo
thành một luồng gió mới đối với nền tân nhạc Việt. "Hát Cho Ðồng Bào Ta Nghe" ra đời giữa ngọn lửa đấu tranh của các
thành thị miền Nam. "Hát Cùng Ðồng Bào Ta" , tập nhạc xuống đường thứ hai xuất bản vào năm 1971 đã đưa tiếng hát
từ những công trường, bến tàu, những phường xóm lao động đến các học đường. Những bài hát xuống đường được giới
sinh viên học sinh hát nhiều nhất lúc đó là "Sức Mạnh Nhân Dân (Trương Quốc Khánh), "Tình Nghĩa Bắc Nam" (Nguyễn
Văn Sanh), "Ðường Ta Ði Niềm Tin Lớn Mạnh" (Nguyễn Văn Sanh), "Phương Ðông Ðã Dậy Nắng Hồng" (Nguyễn La Nghi),
"Qui Nhơn Ngời Ngời Biển Lửa" (thơ Trần Nhật Nam, nhạc Ðoàn Ðình Quang), "Hát Trên Ðường Ðường Tranh Ðấu"
(Ðoàn Công Nhân), "Người Cha Bến Tàu" (ý thơ Võ Thiệu Quang, nhạc Trần Long Ẩn), "Không Ai Ngăn Nỗi Lời Ca" (La
Hữu Vang), "Dậy Mà Ði" (Nguyễn Xuân Tấn). Tôn Thất Lập đã đóng góp nhiêù bản nhạc đi liền với phong trào sinh viên
xuống đường như "Những Ngày Ðại Hội Ðấu Tranh", viết trong đại hội kỳ 2 tại đại học Vạn Hạnh, "Lúa Reo Trên Khắp
Ðồng Bằng", "Từ Sông Hương đến Sông Hát", "Chúng Ta Ðã Ðứng Dậy", vv..... Phạm Thế Mỹ, một nhạc sĩ của đại học Vạn
Hạnh đã viết "Hoa Vẫn Nở Trên Ðường Quê Hương ", "Những Người Không Chết ", "Thương Quá Việt Nam", "Bông Hồng
Cài Áo" (qua y' thơ của Thích Nhật Hạnh).
4. Du ca và phong trào nhạc trẻ (1968-1975)
Phong trào du ca Việt Nam được thành lập năm 1966 tại Saigon cùng một lúc với phong trào làm công tác xã hội của
thanh niên, sinh viên và học sinh; hai sáng lập viên của phong trào là các anh Nguyễn Quyết Thắng và Ðinh Gia Lập.
Phong trào được bộ Quốc Gia giáo dục và thanh niên Việt Nam Cộng Hòa công nhận chính thức và cấp giấy phép hoạt
động trên toàn quốc kể từ ngày 24 tháng giêng năm 1969.
Du ca là một đoàn thể hoạt động về văn nghệ phục vụ cộng đồng. Văn nghệ cộng đồng là hình thức văn nghệ trong đó cả
người nghe lẫn người hát đều cộng tác với nhau, mục đích tác động tinh thần và cảm hóa ngươì nghe hơn là ru ngủ, để
tất cả cùng ý thức và phục vụ cho cộng đồng, xứ sở . Người hát du ca trao đổi những khả năng chuyên môn qua sinh
hoạt tập thể. Du ca viên gây tinh thần cộng đồng trong phạm vi khả năng của mình. Người du ca noí với mọi người bằng
những lời tai nghe mắt thấy qua âm thanh tiếng nhạc, hoạt cảnh , hay vũ khúc, vv.. Những lọai nhạc du ca gồm có: thanh
niên ca, thiếu niên ca, sinh hoạt ca, dân ca, sử ca, nhận thức ca, và những bài ca tình người. Phong trào du ca do anh
Hoàng Ngọc Tuệ làm chủ tịch đến năm 1967 thì anh Ðỗ Ngọc Yến lên thay thế. Các huynh trưởng hướng dẫn cũng như
cố vấn như Nguyễn Ðức Quang, Trầm Tử Thiêng, Phạm Duy, Lê Ðình Ðiểu, Ngô Mạnh Thu, Hà Tường Cát, Trần Văn Ngô,
Trần Ðại Lộc, Nguyễn Thanh, Nguyễn Khả Lộc, Phan Huy Ðạt, Tống Hoằng và Phương Oanh. Phong trào cũng quy tụ khá
nhiều nhạc sĩ tên tuổi cũng như huấn luyện viên và các cây viết trẻ gồm có: Nguyễn Ðức Quang, Ngô Mạnh Thu, Trầm Tử
Thiêng, Phạm Duy, Nguyễn Thanh, Anh Việt Thu, Giang Châu, Nguyễn Hữu Nghĩa, Phan Ni Tấn, và Nguyễn Quyết Thắng.
Những tuyển tập nhạc du ca đã phát hành như: tuyển tập du ca 1, du ca 2, du ca 3, "Những Bài Ca Khai Phá", "Ta Ði Trên
Dòng Lịch Sử" , "Những Ðiều Trông Thấy", "Sinh Hoạt Ca", "Những Khuôn Mặt Du Ca", "Hát Cho Những Người Sống Sót".
Phong trào du ca Việt Nam trước 1975 có tác dụng mạnh đối với các giới trẻ qua các toán ca diễn đó đây, trong học
đường, ngoài sân cỏ, trên sân khấu, trong các đoàn thể bạn, hướng đạo, hay thanh sinh công (thanh niên, sinh viên,
công nhân). Những ca khúc sinh hoạt của du ca là thức ăn nuôi dưỡng các đoàn thể để sinh hoạt. Du ca ra đời đúng lúc
mọi người đang đòi hỏi một nền văn nghệ sống động, thức tỉnh và mới lạ, và cũng bởi niềm tỉnh thức đó, đâu đâu ta
cũng nghe những bài hát quen thuộc. Thí dụ như bài "Việt Nam , Việt Nam " (Phạm Duy), "Việt Nam Quê Hương Ngạo
Nghễ " (Nguyễn Ðức Quang), "Hát Từ Tim, Hát Bằng Hơi Thở" (Nguyễn Quyết Thắng), "Anh Sẽ Về" (Nguyễn Hữu Nghĩa,
thơ Kinh Kha), "Xin Chọn Nơi Này Làm Quê Hương" (Nguyễn Ðức Quang), vv....
Phạm Duy cũng có đóng góp trong phong trào du ca với một số bài bản như "Sức Mấy Mà Buồn", "Thôi Bỏ Ði Tám". Tất
cả những ca khúc trong phong trào du ca đều có mục đích kêu gọi thanh niên hãy tự hào, tin tưởng và hy vọng nơi tương
lai. Dù khó khăn, dù gian nan, dù sao đi nữa, người dân Việt Nam nên chấp nhận Việt Nam là quê hương ngàn đời. Niềm
hy vọng nhỏ nhoi chỉ lóe lên và chưa được bừng sáng thì 30 tháng 4, 1975 đã đưa hàng trăm nghìn người ra đi trên
đường di tản.
Nhạc trẻ là một hiện tượng âm nhạc xuất hiện tiên khởi vào đầu thập niên 60. Nhạc kích động Âu Mỹ bắt đầu xâm nhập
thị trường miền Nam vào cuối năm 1959. Giới trẻ, con của các thương gia và giới trưởng giả theo học chương trình Pháp
thường nghe các loại nhạc kích động của Mỹ và Pháp. Phải đợi tới khoảng 1963-65, phong trào nghe nhạc kích động tây
phương bành trướng mạnh qua các buổi tổ chức khiêu vũ tại gia. Các danh ca của Mỹ như Paul Anka, Elvis Presley, The
Platters, của Anh quốc nhu Cliff Richard, The Shadows, The Beatles, The Rolling Stones, của Pháp như Johnny Halliday,
Sylvie Vartan, Françoise Hardy, Christophe, Dalida, vv.... là thần tượng của giới thanh niên nam nữ dưới 18 tuổi.
Những ban nhạc trẻ kích động mang những trên như C.B.C., The Dreamers, The Uptight, The Blue Jets, The Spotlights
(sau đổi thành Strawberry Four với Tùng Giang, Ðức Huy, Tuấn Ngọc và Billy Shane - cả 4 người này hiện nay ở Mỹ và
Billy Shane đã qua đời năm 1998). Một số ca sĩ Việt thích kèm theo tên ngoại quốc bên cạnh tên Việt như Elvis Phương
(hiện ở Hoa Kỳ), Pauline Ngọc (không còn hát nữa và hiện sống bên Ðức), Prosper Thắng (sống ở Pháp và từ trần năm
1998), Julie Quang (hiện sống ở Mỹ), Carol Kim (sống ở Mỹ), vv.. Họ nổi danh với các bản nhạc ngoại quốc hát bằng lời
Pháp và Anh. Những hộp đêm Mỹ ngày càng nhiều từ 1968 trở đi càng khuyến khích số người hát nhạc Mỹ nhiều hơn
nữa. Trước sự bành trướng mạnh mẽ của nhạc ngoại quốc nổi tiếng, Phạm Duy, Quốc Dũng, Nam Lộc, Tùng Giang,
Trường Hải, vv... chuyển sang đặt lời Việt cho nhạc ngoại quốc.
Phải đợi tới năm 1971 mơí thấy xuất hiện đại hội nhạc trẻ đầu tiên được tổ chức tại sân Hoa Lư do Trường Kỳ (hiện ở
Montreal, Canada), Tùng Giang (ở California, Hoa Kỳ), và Nam Lộc (làm việc cho một cơ quan thiện nguyện USCC ở Los
Angeles, Cali) đảm trách. Sự thành công của đại hội nhạc trẻ đầu tiên ở Saigon đã đẩy mạnh nhạc trẻ lên cao độ qua
những năm kế tiếp (1971 tại trường trung học Taberd với hơn 10.000 người nghe, và 1974 , năm chót trước khi mất
Saigon tại vườn sở thú với trên 20.000 khán giả).
Những bản nhạc ngoại quốc như "The House of the Rising Sun", "Reviens la Nuit", "Tous les Garçons et les Filles", "Capri,
c'est fini", "Bang Bang" , "Besame Mucho", "Only You", "My Prayer", "Be Bop Be Lu La", "Love Story", "Yesterday",
"Michelle", etc... là những bài vẫn còn được "ăn khách" trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại hiện nay. Loại nhạc trẻ
không đóng góp gì vào gia tài của nền tân nhạc Việt Nam hay chỉ là loại nhạc bắt chước theo người Tây phương, không
có gì là sáng tạo cả. Ðó là loại nhạc cuồng loạn, ru hồn thế hệ trẻ trong khung cảnh chiến tranh để cho họ tạm quên cảnh
tương tàn của đất nước qua những bước nhảy tango, twist, be-bop, valse, pasodoble, rumba, cha cha cha, vv.. Một giai
đoạn bị Mỹ hóa giữa thơì kỳ náo loạn.
Giai đoạn thứ ba của lịch sử tân nhạc Việt Nam kể từ khi hàng triệu người Việt bỏ xứ ra đi trên đường tạm dung sau ngày
30 tháng 4,1975 cho tới đầu thiên niên kỷ thứ ba
5. Nhạc di tản từ 30 tháng 4, 1975.
30 năm lặng lẽ trôi qua.30 năm đầy biến chuyển trong lịch sử thế giới nói chung và trong lịch sử Việt Nam nói riêng. Chỉ
riêng về ngành âm nhạc Việt Nam, nhất là ở hải ngoại, số lượng bài bản tân nhạc , những ca khúc đã thay đổi nhiều đề
tài, đã tăng số lượng theo một mức độ ngoài sức tưởng tượng của loài người. Những năm đầu của thời di tản cho thấy
những băng nhựa đủ loại, từ các cuốn băng sao lại băng cũ thời trước 75, đến các băng được sản xuất tại Âu Mỹ do hàng
chục trung tâm băng nhạc. Ðến năm 1988 mở màn cho giai đoạn dĩa laser loại compact disc. Chỉ trong vòng 5 năm
(1988-1993) hàng nghìn dĩa laser tràn lan khắp nơi. Loại dĩa laser video phát triển từ 1992 lúc phong trào hát Karaoke
khởi xướng mạnh tại Hoa Kỳ và Canada. Nhiều quán cà phê và quán phở, tiệm ăn ở Bắc Mỹ phải trang bị máy karaoke và
luôn cả tư nhân cũng thích hát Karaoke vào cuối tuần trong những cuộc họp bạn tại gia. Gần đây hơn, các loại dĩa CDV,
và DVD thay thế loại laserdisc làm bành trướng mạnh phong trào Karaoke tại tư gia. Video về tân nhạc cũng rất thịnh
hành. Hàng mấy chục trung tâm băng nhạc xuất hiện tại Âu Mỹ và các ca sĩ tự lập các trung tâm sản xuất riêng. Trong
phạm vi nhạc di tản, tôi chỉ đề cập tới tân nhạc Việt Nam ở hải ngoại. Tân nhạc Việt Nam ở hải ngoại (1975-2005) Giai
đoạn di tản qua 25 năm cho thấy sức mạnh vô cùng mãnh liệt của ngươì Việt trong lĩnh vực sáng tác. Dù trong bất cứ
hoàn cảnh nào, con người làm văn nghệ lúc nào cũng hăng say tìm nguồn hứng qua những sáng tác âm nhạc. Một số
nhạc sĩ ra đi trong đợt di tản đầu tiên gồm có Phạm Duy, Hoàng Thi Thơ, Lam Phương, Nam Lộc, Song Ngọc, Tô Huyền
Vân, Huỳnh Anh. Năm giai đoạn thể hiện lịch sử tiến triển của tân nhạc hải ngoại:
1. Nhớ Quê Hương, nhớ Saigon
Ðất nước vừa bị mất, quê hương phải lìa xa. Saigon vừa bị đổi tên. Niềm thất vọng tràn trề dâng cao trong lòng tất cả
người dân Việt phải bỏ xứ ra đi trong uất hận, căm tức, tủi nhục. Toán người di tản ra đi đầu tiên đã đến Mỹ vào giữa
mùa xuân năm 1975. Phải đợi tới cuối thu 1975, một số nhạc sĩ có tên tuổi ở Saigon đã ra đi trong đợt đầu và trong số
đó có Nam Lộc. Nam Lộc là người đã viết một bản nhạc vào cuối năm 1975 và là bài thành công nhứt trong giai đoạn đầu
của di tản (1975-1980). Ðó là bài "Saigon Ơi! Vĩnh Biệt ". Saigon, thành phố của bao kỷ niệm, của nhớ nhung, của hàng
triệu con tim bi. rung động mỗi khi hai chữ Saigon được nhắc đến, là đề tài cho một số nhạc phẩm như "Saigon Ơi! Vĩnh
Biệt !" (Nam Lộc , 1975), "Saigon Ơi ! Thôi Ðã Hết" (Nam Lộc , 1976), "Saigon, Bây giờ Buồn Không Em ?" (Song Ngọc,
1976), "Ðêm Qua Mơ Thấy Saigon" (Hoàng Thi Thơ, 1976), "Saigon Niềm Nhớ Không Tên" (Nguyễn Ðình Toàn, 1977),
"Khi Xa Saigon" (Lê Uyên Phương, 1980), "Bài Cuối Cho Saigon" (Song Ngọc, 1981), "Saigon Áo Xanh Nón Lá " (Anh Bằng -
Vũ Kiện, 1981), "Trả lại Saigon Cho Tôi" , "Saigon Ra Ðường" (thơ Duyên Anh, nhạc Vũ Trung Hiền, 1982), "Saigon Năm
Xưa "(Trần Quang Hải, 1985).
Ngày 9 tháng 5, 1976 tại Los Angeles, California, lễ kỷ niệm một năm xa xứ đã được một số nghệ sĩ Việt tổ chức một
chương trình đại nhạc hội đầu tiên giống như ở Saigon cùng lúc với sự chào đời cuốn băng thực hiện lần đầu tại hải
ngoại do nữ ca sĩ Thanh Thúy hát với tựa cuốn băng Thanh Thúy 1: Saigon ơi! Vĩnh biệt đánh dấu một biến chuyển mấu
chốt trong lĩnh vực tân nhạc di tản và sản xuất băng nhạc tại hải ngoại.
Ở Âu châu tại Paris, phải đợi tới tháng 9, 1976 mới thấy sự bùng nổ của chương trình nhạc hội qua sự cố gắng của Lê Lai
(đài VOA) từ Hoa Thịnh Ðốn sang Paris để tổ chức 4 buổi trình diễn tân nhạc, dân ca và ngâm thơ với Khánh Ly, Hoàng
Oanh và sự cộng tác của nhạc sĩ Trần Quang Hải . Sự thành công của chương trình thi ca nhạc di tản đầu tiên đã khơi
mào cho chương trình thi ca vũ nhạc kịch của đoàn Hoàng Thi Thơ từ Mỹ sang Pháp và Thụy Sĩ trình diễn vào cuối tháng
10, 1976.
Các trung tâm băng nhạc lần lần xuất hiện ở Mỹ và Pháp. Từ 1988 bắt đầu chuyển mình sang phong trào làm dĩa laser.
Cả chục nghìn dĩa CD đã được tung ra trên thị trường băng nhạc Việt Nam từ 1987. Nhạc sĩ Phạm Duy là người đầu tiên
đưa nhạc Việt vào dĩa CD do Phạm Duy Cường soạn hòa âm và sản xuất với tựa đề "Nhạc Tình Phạm Duy" vào cuối năm
1987. Vào đầu tháng 2, 1988, tại Paris, nhà sản xuất dĩa hát Pháp Playasound đã tung ra thị trường quốc tế dĩa laser đầu
tiên về nhạc cổ truyền Việt Nam với Trần Quang Hải và Bạch Yến qua dĩa "Rêves et Réalités/Trần Quang Hải et Bạch Yến"
(Giấc Mơ và Sự Thật).
Băng vidéo trở thành một món ăn tinh thần cần thiết cho cộng đồng người Việt hải ngoại. Trung tâm Thúy Nga trở nên
một nơi phát hành các chương trình ca nhạc hay nhất từ 1989 trở đi với sự tuyển chọn ca sĩ, phối hợp vơí kỹ thuật thu
hình do một cơ quan chuyên nghiệp Pháp đảm nhận. Phong trào Karaoke lan tràn vào giới nhạc Việt từ 1990.
1. Nhạc tranh đấu và kháng chiến
Sau ba năm im hơi 1975-1978), sống ẩn dật tại Miami (Florida) bên Mỹ trong khi chờ đợi các con (ban nhạc The
Dreamers) còn kẹt lại ở Saigon (sau đó toàn ban nhạc The Dreamers đã được sang Mỹ và hiện định cư tại Midway City,
California), trong khi ca sĩ Duy Quang đã nhờ Julie Quang (bây giờ chỉ mang tên Julie thôi sau khi chia tay với Duy Quang)
để sang Pháp vào cuối năm 1978, Phạm Duy, người sáng tác nhạc nhiều nhất ở Việt Nam, lại xuất hiện lộ diện qua quyển
nhạc "Hát Trên Ðường Tạm Dung" (1978). Bản "Tôi Ði Trên Ðường Tạm Dung" và bản "Nguyên Vẹn Hình Hài" của Phạm
Duy đã là ngọn đuốc đốt cháy tạo nguồn hứng sáng tác cho một số nhạc sĩ trẻ để tung ra những nhạc phẩm tả nỗi uất ức
oán hờn căm thù đi liền với phong trào phục quốc kháng chiến cùng lúc với sự xuất hiện của Võ Ðại Tôn và Hoàng Cơ
Minh. Nguyệt Ánh , một hiện tượng mới trong làng tân nhạc từ 1980 bắt đầu sáng tác nhiều nhạc phẩm phục quốc qua
những cuốn băng như "Em nhớ màu cờ", "Dưới Cờ Phục Quốc", vv... Tên Nguyệt Ánh đi liền với giai đoạn phục quốc,
kháng chiến.
Việt Dzũng, một nhạc sĩ trẻ, hăng say kháng chiến, nói lên tiếng nói căm hờn qua các bản nhạc đầy ý chí trong hai cuốn
băng "Lưu Vong Khúc" và "Kinh Tỵ Nạn" (1981). Trần Quang Hải và Bạch Yến đã sáng tác một số nhạc phẩm đấu tranh ,
điển hình nhất là "Thương Nhớ Quê Hương" (1978), "Cầu Mong Cho Mau Hòa Bình" (1978), và "Em Về Giữ Lửa" ( phổ
thơ của Minh Ðức Hoài Trinh, 1978) Chí nguyện đoàn hải ngoại phục quốc Việt Nam, với mục đích yểm trợ "chiến dịch
người về" đã xuất bản hai cuốn băng "Hát Cho Những Người Về " (1981), và "Rực Lửa Trời Ðông" (1983) gồm những ca
khúc nung nấu tinh thần kháng chiến ở hải ngoại và quốc nội. Nhiều chủ đề được tung ra qua một số băng nhạc sản xuất
từ 1976-80 như "Tháng Tư Buồn", "Sài Gòn Vĩnh Biệt Tình Ta", "Ngày Quốc Hận 30 tháng 4, 75", "Người Di Tản Buồn",
"Hát Cho Người Tìm Tự Do", "Quê Hương Bỏ Lại", vv...
2. Nhạc tả lại cảnh lao tù Việt Nam
Năm 1981, Phạm Duy sáng tác 20 bài lấy tựa là "Ngục Ca" qua lời thơ của ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện trong tập thơ "Tiếng
Vọng Từ Ðáy Vực" . Hà Thúc Sinh sáng tác trong thời gian học tập cải tạo ở Việt Nam. Sau khi vượt biển , được định cư
tại Mỹ, đã xuất bản tập nhạc "Tiếng Hát Tủi Nhục" (1982). Châu Ðình An, một nhạc sĩ trẻ , đã đóng góp qua tập nhạc
"Những Lời Ca Thép " (1982). Phạm Duy, Lê Uyên Phương, Nguyệt Ánh, Việt Dzũng, Nguyễn Ðức Quang ở Mỹ, Nguyễn
Hữu Nghĩa, Phan Ni Tấn, Vy Hùng ở Canada, Trần Quang Hải, Duyên Anh, Ngô Càn Chiếu ở Pháp, Nguyễn Quyết Thắng ở
Hòa Lan, Nguyễn Ðình Ngoạn ở Ðức, Phạm Quang Ngọc, Cung Ðàn Nguyễn Sỹ Nam, Hoàng Ngọc Tuấn ở Úc châu đã viết
nhiều bài ca tranh đấu cũng như những ca khúc phù hợp với phong trào phục quốc.
3. Sự phục sinh của nhạc tiền chiến
Từ năm 1982 trở đi, hiện tượng phục sinh nhạc tiền chiến được phát triển rộng rãi. Những ca sĩ đua nhau sản xuất băng
nhạc hát lại những bài hát tiền chiến hay những bài trước 1975. Bạch Yến, Khánh Ly, Lệ Thu, Thanh Thúy, Kim Anh, Minh
Hiếu, Thanh Tuyền, Hương Lan, Julie, Huyền Châu, Bích Thuận, Phương Dung, Kim Loan, Duy Quang, Elvis Phương,
Thanh Mai, vv.... trong những năm 1983-85 đã phát hành trên 100 cuốn băng nhạc làm sống lại những bài ca tiền chiến
như để gợi lại biết bao kỷ niệm của thời quá khứ. Chủ đề phục quốc, kháng chiến nhường bước cho chủ đề tình yêu và
kỷ niệm quê hương sau 10 năm lưu vong. Một số nhạc sĩ như Lam Phương, Ðức Huy, Phan Kiên, Duy Quang, Ngô Minh
Khánh, Trần Quang Hải, Duyên Anh trong khoảng thời gian 1982-85 đã sáng tác rất nhiêù nhạc phẩm ca ngợi tình yêu đôi
lứa. "Yêu Em Dài Lâu" (Ðức Huy), "Ru Ðơì Phù Ảo" (Duyên Anh, 1984), "Anh Cần Em" (Trần Quang Hải -Lương Ngọc Châu,
1982). Giai đoạn này đánh dấu một chiều hướng mới trong làng nhạc Việt với sự viết lời ngoại quốc (Pháp và Anh) trên
nhạc Việt do nhạc sĩ Trần Quang Hải đề xướng và mang nhạc Việt do nhạc sĩ Việt sáng tác vào thị trường quốc tế.
1. Hưng Ca, nhạc trẻ, nhạc song ngữ
Phong trào phổ thơ được bành trướng, cũng như sự tái sinh phong trào du ca vơí Nguyễn Ðức Quang, Nguyễn Hữu
Nghĩa và Phan Ni Tấn. Nguyễn Quyết Thắng ở Hòa Lan đã đẩy mạnh phong trào du ca với sự thực hiện một trang nhà Du
Ca với đầy đủ hình ảnh các sáng lập viên, bài hát và sinh hoạt ở hải ngoại .(http://home.wanadoo.nl/duca)
Phong trào Hưng Ca gồm các nhạc sĩ Nguyễn Hữu Nghĩa, Hà Thúc Sinh, Nguyệt Ánh, Việt Dzũng, Châu Đình An, Huỳnh
Công Ánh, Trần Lãng Minh, Phan Ni Tấn, Khúc Lan, được chánh thức ra đời tại San Jose vào ngày 7 tháng 9, năm 1985 với
tôn chỉ là dùng văn nghệ sân khấu và thanh niên để giữ vững niềm tin cách mạng dân tộc chống chủ nghĩa và bạo quyền
cộng sản. Hai tập nhạc được phát hành: "Hưng Ca 1: Lên Ðường "(1985), và "Hưng Ca 2: Hẹn Em Sài Gòn" (1986).
Vấn đề thích nhạc ngoại quốc đã có từ thập niên 60 tại Việt Nam. Ba mươi năm trôi qua ở hải ngoại, giờ đây phong trào
thích nhạc ngoại quốc (giống loại nhạc trẻ thời thập niên 70 ở Saigon) lại bành trướng mạnh và được giới trẻ lớn lên ở
hải ngoại hưởng ứng nồng nhiệt. Từ chỗ ưa thích nhạc ngoại quốc đã tạo ra phong trào xuất bản nhạc khiêu vũ và sự
phát hiện nhiều vũ trường ở các nơi có đông người Việt sinh sống. Một số mầm non ca sĩ trẻ như Linda Trang Ðài, Cinda
Thúy, Sơn Tuyền, Thúy Vi, Thái Hiền, Phương Thúy, Lucia Kim Chi, Tryzzie Phương Trinh, Tuệ Châu, Tuấn Anh ở Mỹ, Ngọc
Huệ (sang định cư ở Mỹ từ năm 1991), Bảo Khánh, Quỳnh Lân ở Úc châu cùng với Công Thành và Lynn (sang định cư ở
Hoa kỳ từ năm 1987). Về sau có Don Hồ (nổi tiếng nhứt trong năm 1992), Dalena (nữ ca sĩ Mỹ chuyên hát tiếng Việt, nổi
tiếng nhứt trong hai năm 1991 và 1992), Trịnh Nam Sơn, Thái Tài, Ý Nhi, Ý Lan, Sher'e Thu Thủy, Phi Khanh, Như Mai,
Kenny, Mỹ Huyền, Ngọc Bích, Thanh Hà, Quỳnh Như, Mạnh Ðình, Phi Nhung, Thanh Trúc, vv... mang lại cho nền nhạc trẻ
một luồng gió mới và tạo nhiều sống động.
Từ chỗ ưa thích nhạc ngoại quốc đi tới nhạc song ngữ rất gần. Một số nhạc sĩ Việt như Phạm Duy, gần đây hơn có Khúc
Lan, Ngọc Huệ, tất cả đều ở Mỹ và dịch lời ca Mỹ và Pháp ra bằng tiếng Việt và các ca sĩ trẻ hát nửa Việt nửa Anh hay
Pháp và tạo thành một phong trào nhạc song ngữ từ năm 1987 trở đi. Trong thơì gian 10 năm chót của thế kỷ 20, Phạm
Duy đã phổ nhạc thơ Hoàng Cầm, phát hành quyển "Ngàn Lời Ca" (1987). Năm 1991, Phạm Duy thực hiện một loạt ca
khúc "Bầy Chim Lìa Xứ", và phần giao hưởng cho "Con Ðường Cái Quan". Sau cùng ông soạn nhạc phổ thơ "Truyện Kiều"
và sẽ hoàn thành trong một thời gian gần đây. Trong vài năm chót đây (từ 1988), một số ca sĩ tân nhạc sống dưới chế độ
cộng sản đã thoát ra hải ngoại và xin tỵ nạn như Họa Mi ( Pháp, 1988), Ái Vân (Ðức, 1990, và sau đó định cư tại Hoa Kỳ),
Anh Khoa (Hung Gia Lợi, 1988), Thái Châu (Gia nã đại, 1990), Bích Liên (Ðức, 1992), Duy Khánh (Hoa Kỳ, 1991), Duy Trác
(Hoa Kỳ, 1992), Nhật Trường (Hoa Kỳ, 1993) đã mang lại cho nhạc Việt ở hải ngoại một luồng gió mới , nhứt là trong
ngành phát hành băng nhạc và băng vidéo.
Một số nữ nhạc sĩ nổi danh ở hải ngoại qua nhiều sáng tác như Nguyệt Ánh, Khúc Lan, Linh Phương, Lê Tín Hương, mdtt
ở Hoa kỳ, Bảo Trâm ở Canada, Trang Thanh Trúc, Mộng Trang ở Pháp, Bích Hà, Quách Nam Dung ở Úc châu. Nhạc sĩ Vô
Thường (từ trần năm 2003 tại Hoa kỳ) tạo một chỗ đứng riêng biệt với tiếng đàn Tây ban cầm tay trái qua hàng trăm CD
tự xuất bản tại Hoa Kỳ . Các nhạc sĩ nghiệp dư như bác sĩ Phạm Anh Dũng (Hoa Kỳ), bác sĩ Nguyên Bích (Hoa Kỳ), giáo sư
tiến sĩ Phạm Quang Tuấn (Úc châu) có viết nhạc, và nhiều hội viên của hai hội Nhạc Việt ([email protected] ) và Em
Ca Hát ([email protected]) , cũng như nhạc sĩ Võ Tá Hân đã phổ nhạc cho trên 200 bài thơ và thực hiện trên 22 CD
với toàn nhạc của anh. Nhạc thiền đạo được phát triển từ năm 1996 vơí hai hiện tượng đáng kể: thiền sư Lương Sĩ Hằng
và Vô Thượng Sư Thanh Hải và một số nhạc phổ thơ của hai vị này.
Nhạc cận đại Việt Nam theo chiều hướng Tây phương cũng được phát triển trong giới nhạc Việt. Nhạc sĩ Nguyễn Mạnh
Cường chưa đầy 30 tuổi khi sáng tác bài « Phụng Vũ » đã đoạt giải thưởng ở đại hội quốc tế âm nhạc gia trẻ Á châu và
Thái Bình Dương tại Wellington (Tân Tây Lan) năm 1984. Nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn rời Việt Nam năm 1983 định cư tại Úc
châu đã học dân tộc nhạc học và hiện giảng dạy nhạc đương đại tại trường đại học University of New South Wales và mỹ
học tại University of Sydney .. Tác giả của nhiều nhạc phẩm đương đại phối hợp nhạc ngữ Việt, Á và Úc, Âu qua nhiều dĩa
CD xuất bản tại Úc . Nhạc sĩ Lê Tuấn Hùng (sinh năm 1962 đậu tiến sĩ dân tộc nhạc học tại trường đại học Monash
University (Melbourne, Úc châu) và chú trọng nhiều tới sáng tác nhạc đương đại giữ nhạc Việt và nhạc Tây phương cùng
với sự cộng tác của vỡ là nữ nhạc sĩ Đặng Kim Hiền (huy chương vàng đàn tranh và dân ca ở Việt Nam trước khi sang
định cư tại Úc năm 1990) với nhiều dĩa CD phát hành tại Úc .
Tại Hoa Kỳ, nhạc sĩ Cung Tiến (sinh năm 1938) tiếp tục sáng tác nhạc đương đại. Nhạc tấu khúc « Chinh phụ ngâm »
(1987) , soạn cho 21 nhạc khí, đã được trình diễn lần đầu vào ngày 27 tháng 3, 1988 tại San Jose với dàn nhạc thính
phòng San Jose, đã được giải thưởng Văn Học nghệ thuật quốc khánh 1988. Hội viên của hội nhạc sĩ sáng tác ở
Minneapolis (Minnesota, Hoa Kỳ), Cung Tiến đã trình làng một sáng tác nhạc đương đại « Lơ thơ tơ liễu buông mành »
dựa trên một điệu dân ca Quan họ (2003). Nhạc sĩ Phan Quang Phục (sinh năm 1962) sang Hoa Kỳ năm 1982, đậu tiến sĩ
âm nhạc tại trường đại học Michigan (Hoa kỳ), dạy sáng tác tại trường đại học Cleveland State University (1993-1996) và
sau đó tại trường đại học University of Illinois. Được giải thưởng Prix de Rome năm 1997, một giải thưởng cao quý nhứt
trong lĩnh vực âm nhạc. Phan Quang Phục, được xem như là một trong 6 nhạc sĩ trẻ giỏi nhứt xứ Mỹ về nhạc đương đại,
đã sáng tác rất nhiều và các nhạc phẩm được trình diễn khắp năm châu .
Xứ Pháp đã đào tạo một số nhạc sĩ Việt Nam có một chỗ đứng quan trọng trong làng nhạc hiện đại . Nguyễn Văn Tường
(1929-1996), người Việt đầu tiên học nhạc điện thanh (musique électro-acoustique) đã viết những nhạc phẩm phối hợp
hai tư tưởng Âu Á như bài « Cộng Tồn » (1968) (Co-existence), « Về Nguồn » (1975) sử dụng máy móc điện tử và nhạc cổ
truyền Việt Nam . Nguyễn Thiên Đạo (sinh năm 1939) , học trò Việt duy nhứt của nhạc sư Olivier Messiaen đã sử dụng
nhạc ngữ cận đại tây phương trong một số nhạc phẩm như « Thành Đồng Tổ Quốc », « Khóc Tố Như », vở kịch opéra «
Mỵ Châu Trọng Thủy ». Tôn Thất Tiết (sinh năm 1933) học nhạc ở Pháp từ năm 1958 và khởi sự sáng tác năm 1964. Ông
đã sáng tác trên 50 nhạc phẩm đa số mang tên Việt như « Tứ đại cảnh » (1968), « Hy Vọng » (1971), « Ngũ Hành »
(1973), « Chu Kỳ 1 tới 5 » (1976-1983, « Kiếm Ai » (1978), « Tranh » (1980). Ông nhận rất nhiều giải thưởng quốc tế, và
ông viết nhạc phim cho những phim « Mùi Đu Đủ Xanh », « Xích Lô » của nhà đạo diễn trẻ tuổi Trần Anh Hùng. Trương
Tăng (1936-1989) học nhạc ở nhiều trường nhạc tại Paris, sáng tác nhiều nhạc phẩm như « Fujiyama » (thơ giao hưởng),
« Dạ Hương » (kịch hát dựa trên một truyện cổ tích Việt Nam), « Mẹ ». Anh đã sáng tác nhiều tiểu khúc cho đàn tranh,
đàn bầu. Được giải thưởng của ông hoàng Rainier của Monaco cho một giao hưởng khúc với 100 nhạc khí . Trương Tăng
chuyển sang nhạc điện toán (musique assistée par ordinateur) và học tại trung tâm IRCAM , Paris . Trần Quang Hải đóng
góp nhiều trong lĩnh vực nhạc đương đại. Cộng tác với nhạc sĩ Nguyễn Văn Tường trong phần trình diễn đàn môi, đàn
tranh, hát đồng song thanh và muỗng trong nhạc phẩm « Về Nguồn » (1975), cũng như đã cộng tác với Misha Lobko để
hoàn thành bản « Shaman » (1982) trong đó nhạc jazz, điện tử, nhạc cổ truyền, nhạc tùy hứng đều được sử dụng. Trần
Quang Hải đã trình bày nhạc phẩm « Trở Về Nguồn Cội » với đàn tranh và nhạc điện tử tại đại học nhạc Á châu ở tỉnh
Etampes (Pháp) năm 1988. Sự khám phá kỹ thuật hát đồng song thanh nghĩa là hát hai âm thanh khác nhau cùng một lúc
từ trong cổ họng (chant diphonique / chant de gorge – overtone singing / throat singing) phát xuất từ Mông Cổ, Tuva đã
giúp cho Trần Quang Hải từ năm 1974 sáng tác nhiều nhạc phẩm mới trong nhạc điện thanh (musique électro-
acoustique), nhạc tùy hứng (musique improvisée – improvized music), nhạc thế giới (musique du monde – world music),
nhạc thiền (musique méditative – music for meditation), nhạc điều trị học (musicothérapie– music therapy).
1. Nhạc tại Việt Nam sau 1975
Tân nhạc từ năm 1975 trở đi đã thay đổi đề tài. Nhạc đã xoay từ chiến tranh tới hòa bình, từ đất nước bị chia đôi tới
thống nhất với một cuộc sống mới, từ nhạc bị gò ép trong lối viết nhạc Nga sô và Trung quốc tới sự giao lưu văn hóa
phóng túng với thế giới . Trong vòng gần 30 năm (1975-2004) mức sản xuất ở Việt Nam đã tiến rất xa và rất mau.
Đất nước được thống nhất, đề tài xoay về phong cảnh đẹp của Việt Nam. Lính trong vai trò kiến thiết, trong hòa bình.
Tình yêu đôi lứa được phát triển mạnh.
Trong xứ Việt Nam có hai chiều hướng về nhạc : nhạc nhẹ chú trọng về giải trí, hay nói một cách khác là tân nhạc , và
nhạc nặng tức là loại nhạc giao hưởng, nhạc trình diễn trong khung cảnh của viện quốc gia âm nhạc viết cho kịch, vũ và
điện ảnh .
*Nhạc nhẹ Loại nhạc nhẹ dính liền với nhạc thời trang, nhạc trẻ khơi nguồn từ các nguồn nhạc dân gian, nhạc ngoại quốc
kích động. Nó được phát hiện theo hai khuynh hướng.
1. Khuynh hướng dùng ngôn ngữ âm nhạc cổ điển Âu châu do nhạc sĩ Thanh Tùng (« Mưa Ngâu », « Giọt Nắng Bên Thềm
») đề xướng qua đề tài tình yêu. Có rất nhiều nhạc sĩ trẻ đi theo khuynh hướng này với những tìm tòi và sáng tạo khác
nhau như Nguyễn Đình Bảng (« Cơn Mưa Em Bất Chợt »), Từ Huy (« Những Lời Em Hát »), Phú Quang (« Em Ơi, Hà Nội
Phố »), Duy Thái , Nguyễn Ngọc Thiện ( « Như Khúc Tình Ca »), Dương Thụ (« Tiếng Sóng Biển »), Đặng Hữu Phúc (« Ru
Con Mùa Đông »), Phạm Trọng Cầu (« Tiếng Hát Cho Em »).
2. Khuynh hướng thứ nhì chuyên về âm nhạc dân tộc cổ truyền . Ban nhạc nhẹ của nhà hát Tuổi Trẻ do Đỗ Hồng Quân
phụ trách đã đưa các nhạc khí dân tộc, cũng như cách phối âm phối khí, trình diễn, sáng tác theo chiều hướng nhạc dân
gian. Các nhạc sĩ Nguyễn Cường « Đừng Sánh Em Với Mặt Trời », « Một Nét Ca Trù Mùa Xuân »), Trần Tiến (« Tùy Hứng
Ngựa Ô », « Tiếng Trống Baranưng ») , Phó Đức Phương (« Nha Trang Thu »), Trương Ngọc Ninh sáng tác theo chiều
hướng này.
Nhạc tại Việt Nam sau 1975 Trong xứ Việt Nam có hai chiều hướng về nhạc: nhạc nhẹ chú trọng về giải trí, hay nói một
cách khác là tân nhạc, và nhạc nặng tức là loại nhạc giao hưởng, nhạc trình diễn trong khung cảnh của viện quốc gia âm
nhạc. Loại nhạc nhẹ dính liền với nhạc thời trang, nhạc trẻ khơi nguồn từ các nguồn nhạc dân gian, nhạc ngoại quốc kích
động. Nó được phát hiện theo hai khuynh hướng:
-Khuynh hướng dùng ngôn ngữ âm nhạc cổ điển Âu châu do nhạc sĩ Thanh Tùng đề xướng qua đề tài tình yêu. Có rất
nhiều nhạc sĩ trẻ đi theo khuynh hướng này với những tìm tòi và sáng tạo khác nhau như Nguyễn Ðình Bảng, Từ Huy,
Phú Quang, Duy Thái, Nguyễn Ngọc Thiện, Dương Thụ.
-Khuynh hướng thứ nhì chuyên về âm nhạc dân tộc cổ truyền. Ban nhạc nhẹ của nhà hát Tuổi Trẻ do Ðỗ Hồng Quân phụ
trách đã đưa các nhạc khí dân tộc, cũng như cách phối âm phối khí, trình diễn, sáng tác theo chiều hướng nhạc dân gian.
Các nhạc sĩ Nguyễn Cường, Trần Tiến, Phó Ðức Phương, Trương Ngọc Ninh sáng tác theo chiều hướng này.
Một số nhạc sĩ thuộc thế hệ trước như Hoàng Vân, Huy Du, Xuân Hồng, Hoàng Hiệp, Phan Huỳnh Điểu, Nguyền Đức
Toàn, Phạm Tuyên, Tân Huyền, Hồng Đăng, Văn Ký, Vũ Thanh, Nguyễn Văn Tý cũng sáng tác những nhạc phẩm được phổ
biến rộng rãi trong quần chúng .
Ca khúc quần chúng gồm có mọi thể loại : hành khúc (« Khúc Quân Hành Trên Bán Đảo » của Cát Vận, « Hành Quân Lên
Tây Bắc » của An Thuyên ; trữ tình (« Dáng Đứng Bến Tre » của Nguyễn Văn Tý , « Điệp Khúc Tình Yêu » của Trần Tiến, «
Em Ơi , Hà Nội Phố » của Phú Quang phổ thơ Phan Vũ .
Nhóm « Những Người Bạn » gồm 8 nhạc sĩ : Trịnh Công Sơn (từ trần năm 2001), Trần Long Ẩn , Tôn Thất Lập, Từ Huy,
Nguyễn Ngọc Thiện, Thanh Tùng, Nguyễn Văn Hiên, và Vũ Hoàng được chào đời tại Sài Gòn vào ngày 8 tháng 3, năm
1992 sau khi Trịnh Công Sơn sang Pháp gặp nhóm nghệ sĩ phố (artists on the road / artists de rue). Tên « Những Người
Bạn » do Trịnh Công Sơn đề nghị với mục đích là sáng tác và trình bày sáng tác mới cho bạn và công chúng nghe . Mỗi
tháng, nhóm đều có họp và mỗi người phải giới thiệu ít nhất là một sáng tác mới của mình và nghe lời phê bình của anh
em . Nhóm « Những Người Bạn » sẵn sàng đi giới thiệu những tác phẩm mới và làm thành băng nhạc, vidéo với sự phụ
giúp của những ca sĩ nổi tiêng như Lệ Thu (sang định cư tại Pháp), Lê Tuấn, Ngọc Sơn, Thế Sơn, Thu Hà, Yến Linh. Trong
buổi đầu tiên của nhóm này, Trịnh Công Sơn đã trình bày nhạc phẩm mới nhứt tên là «Con Mắt Còn Lại » (ý thơ Bùi
Giáng). Thanh Tùng viết một ca khúc «Lối Cũ Ta Về » trong hoài niệm về người vợ đã mất . Trần Long Ẩn viết tặng mẹ.
Hiện tượng này xảy ra vì các ca khúc mới sau 1975 không còn người nghe. Dân chúng ưa nhạc « sến », nhạc « vàng » hay
nhạc trướ 75. Các ca khúc trữ tình trước 75 xua đuổi các loại nhạc đấu tranh ca tụng Bác và Đảng, và luôn cả nhạc mới
sau 75.
Từ năm 1990 trở đi, phong trào tổ chứ hát vinh danh các nhạc sĩ lão thành như Nguyễn Văn Thương, Lê Thương , Hoàng
Giác, Tô Vũ, Nguyễn Văn Tý hay các nhạc sĩ trẻ hơn như Trịnh Công Sơn được tổ chức tại Hà Nội và Sài Gòn và những ca
khúc tiền chiến được hát trở lại .
Nhạc sĩ Phạm Tuyên đã chuyển hướng sáng tác qua nhạc trẻ em (nhạc đồng dao) được nhiều thành công qua hàng trăm
ca khúc mới. Một số nhạc sĩ trẻ như Phú Quang, Thanh Tùng, Trần Tiến, Nguyễn Cường, Phạm Minh Tuấn, Tôn Thất Lập,
Thế Hiền, Nguyễn Văn Hiên, Dương Thụ, Từ Huy, Ngọc Đại , vv… viết nhiều bài nhạc mới rất được ưa chuộng. Đề tài mới
hướng về tình yêu chứ không còn ca tụng Đảng nữa.
Nhiều nhạc sĩ trẻ tiếp nối các nhạc sĩ đàn anh tạo một thế hệ mới trong địa hạt sáng tác. Có thể kể Nguyễn Hiệp (1947),
Thế Hải (1947), Văn Thành Nho (1949), Nguyễn Phú Quang (1949), Trần Quang Lộc (1949), Vũ Ngọc Giao (1951), Linh
Giang, Trần Thiết Hùng (1951, Quang Minh (1953), Quang Lộc (1954), Châu Đăng Khoa (1955), Vũ Hoàng (1956), Võ Công
Ánh (1957), Nguyễn Hải (1958), Trương Ngọc Ánh (1959).
Các ca sĩ trẻ nổi tiếng hiện nay càng ngày càng nhiều như Lê Dung (từ trần năm 2001), Ánh Tuyết, Thanh Lam, Hồng
Nhung, Hồng Hạnh, Cẩm Vân, Cẩm Ly, Phương Thanh, Lam Trường, Đan Trường , Quang Linh, Bảo Yến, Khắc Dũng,
Thanh Long, Mỹ Linh, Tam Ca Áo Trắng, Bằng Kiều (sang định cư ở Hoa Kỳ, thành hôn với nữ ca sĩ Trizzy Phương Trinh),
Trang Nhung, Hồ Lệ Thu, Nguyên Vũ, Hiền Thục, Trần Thu Hà (định cư tại Hoa kỳ), Tạ Minh Tâm, Quang Thọ… Nhạc trẻ,
nhạc ngoại quốc thuộc đủ loại pop, hip hop, house, rave, rap, jazz, thịnh hành trở lại với nhiều tụ điểm hát ngoài trời
rộng lớn tại Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn cũ)
Năm 2002 đánh dấu sự phát hiện hai nhạc sĩ trẻ Quốc An và Nguyễn Nhất Huy với bản nhạc « Hát Với Dòng Sông ». Một
nhạc sĩ trẻ khác Tiến Luân chuyên về nhạc có âm hưởng dân tộc nổi lên với bài « Quê Em Mùa Nước Lũ ». Nhạc sĩ Quang
Đạt (sinh năm 1976), giảng viên Nhạc Viện TPHCM và trường âm nhạc Yamaha và là người soạn hòa âm cho rất nhiều ca
khúc thịnh hành nhất trong năm 2002 như « Cây Đàn Sinh Viên », « Hát Với Dòng Sông », « Hát Cho Người Ở Lại », « Tình
Phiêu Lãng », « Lời Mẹ Ru ». Các ca sĩ thuộc thế hệ thế kỷ 21 như Mỹ Tâm, Nguyễn Phi Hùng , Thanh Thảo, nhóm MTV,
Minh Quân, Nhóm Ty My Ty, Việt Quang, Ưng Hoàng Phúc, Lâm Chí Khanh, Ngô Thành Vân, Mỹ Lệ, vv….
Thị trường băng dĩa, CD, VCD và ngay cả DVD bành trướng mạnh mẽ từ năm 2000. Hàng chục đại hội liên hoan tân nhạc
được đài truyền hình, đài phát thanh, báo chí tổ chức khắp nơi trên toàn xứ tạo cơ hội cho những ca sĩ trẻ có điều kiện
thăng tiến. Hội nhạc sĩ Việt Nam thành lập năm 1957 đã quy tụ hàng trăm nhạc sĩ và trở thành hội viên của hiệp hội các
nhà soạn nhạc Châu Á (ACL – Asian Composers League) từ năm 2000. Trung tâm bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam
được thành lập vào năm 2002 bảo vệ những nhạc phẩm Việt Nam ở Việt Nam và ngoại quốc .
Từ năm 2001, một số ca sĩ trẻ trong nước chạy ra xứ ngoài (Trần Thu Hà, Bằng Kiều qua hôn nhân, Thu Phương, MC Huy,
Bảo Yến, Nhã Phương), một số ca sĩ bị mắc bịnh « siêu sao », đa số chạy theo kiểu hát nhép (tạo nên những « búp bê
biết hát »), fan ảo (phát sinh fan club ), hát nhạc chưa được phép, một số ca sĩ tranh nhau ca khúc mua độc quyền , làm
xáo trộn đời sống âm nhạc trẻ ở Việt Nam.
Một số nhạc sĩ tìm lợi tức thương mại qua việc đặt lời Việt cho nhạc ngoại, chìm đắm trong nhạc lai, nhạc nhái , đạo nhạc
(chấn động nhất trong năm 2004 với hai nhạc sĩ Bảo Chấn và Quốc Bảo), đạo thơ.
Việc viết lời Việt trên nhạc ngoại không phải là chuyện mới mẻ. Trước đó đã có các bản « Đồng Xanh » ( từ « Greenfield
»), « Cha Yêu » (từ « Papa »), và rất nhiều ca khúc song ngữ được lưu hành ở miền Nam trước 75. Vấn đề chuyển ngữ bị
lạm phát vì yếu tố thương mại. Những ca khúc thời trang của Tây phương hay Á châu được chuyển ngữ một cách hấp
tấp, vội vàng, đôi khi trở nên ngây ngô, ngớ ngẩn, không còn ý nghĩa nguyên bản như trong ca khúc « Yêu Nhau Đi » (từ
« Tragedy »), « Ôi Tình Yêu », « Mắt Bồ Câu » (từ nhạc Thái)
Những bài hát nổi tiếng của các « diva » lừng danh thế giới như Whitney Houston, Celine Dion, Mariah Carey, Toni
Braxton đã được các ca sĩ Việt Nam chọn và bắt chước sao cho thật giống nguyên bản, tạo thành một phong trào nhạc
nhái . Điển hình nhất là nữ ca sĩ Hồng Nhung với « Everything I Do », « Beauty and Beast » (do Brandy hát nguyên bản),
Thanh Lam với « Unbreak My Heart », « I Will Always Love You » (do Toni Braxton hát), Hồng Hạnh nổi tiếng với bài « I
Wanna Dance With Somebody » (do Whitney Houston trình bày).
Sự ra đời của chương trình Làn Sóng Xanh (LSX) của đài Tiếng Nói Nhân Dân TPHCM, chương trình VTV Bài Hát Tôi Yêu
và Mai Vàng cho thấy những bản nhạc ngoại đa số đứng đầu bảng xếp hạng ca khúc được yêu thích nhứt . Vì lý do đó,
các ca sĩ đua nhau hát nhạc ngoại để có tên trên danh sách ca khúc của ba chương trình kể trên. Ca khúc thuần túy Việt
Nam hay có âm hưởng dân ca dần dần bị chìm trong quên lãng và không được giới trẻ để ý tới. Hiện tượng « nhạc sĩ thị
trường » được chào đời để đáp ứng thị hiếu quần chúng trẻ.
Hiện tượng trong làng nhạc trẻ ở Việt Nam từ năm 2003 là « liveshow » đã đưa nữ ca sĩ Mỹ Tâm lên hàng đầu các ca sĩ
nổi tiếng trong năm 2003 và 2004 .
Năm 2004, nhạc ngoại lời Việt chiếm 30% số ca khúc phổ biến trong băng dĩa nhạc theo thống kê của phòng ca múa nhạc
sở VHTT TPHCM. Trên sân khấu biểu diễn, số ca khúc nhạc ngoại lời Viẹt chiếm gần 50%. Những quyết định, kiểm điểm,
phê bính, trừng phạt được đưa ra qua các quyết định mới trong quy chế 47 về tổ chức biểu diễn để mong mang lại trật
tữ và tạo điều kiện cho việc hồi sinh nhạc trẻ thuần túy Việt Nam
Nhạc Jazz được nhập vào thị trường nhạc Việt từ khi Việt Nam mở cửa và chấp nhận « đổi mới » (perestroika) vào cuối
thập niên 80. Nhạc sĩ kèn saxophone Quyên Văn Minh đã gây dựng phong trào nghe nhạc Jazz từ đầu thập niên 90 với
sự thành lập Hanoi Jazz Club . Tại Sài Gòn (TPHCM bây giờ) có một số quán có nhạc Jazz như Dragon Bar, Yoko Cafe, Bob
Jazz va Wild Horse. Qua 4 liên hoan nhạc Jazz Châu Âu từ năm 2001, không khí thích nhạc Jazz được bừng sôi trong giới
yêu nhạc jazz còn trong giai đoạn phôi thai tại Việt Nam, nhưng hy vọng sẽ được phát triển mạnh trong tương lai.
Nhạc thiếu nhi
Từ năm 1976, sau khi Việt Nam được thống nhất, ca khúc thiếu nhi được sáng tác mạnh hơn với sự đóng góp của nhiều
nhạc sĩ đàn anh như Nguyễn Xuân Khoát, Lưu Hữu Phước , Phong Nhã (« Bài Ca Sum Hợp »), Phan Huỳnh Điểu (« Ngày
Vui Mới »), Phạm Tuyên (« Hát Dưới Trời Thu Hà Nội », tập nhạc thiếu nhi « Chú Voi Con Ở Bản Đôn »), Hoàng Vân, Hồ
Bắc, Xuân Giao (« Giấc Mơ Em Bé »), Hoàng Hà (« Chú Bộ Đội ») , Hoàng Long ( « Từ Rừng Xanh Cháu Về Thăm Lăng Bác
» sáng tác chung với Hoàng Lân), Hoàng Hà ( « Con Mèo Ra Bờ Sông »), Vũ Thanh (« Em Đi Trong Tươi Xanh »), Huy Trân
(« Bầu Trời Này, Mặt Đất Này » thơ Diệp Minh Tuyên ), Minh Châu (« Dàn Đồng Ca Mùa Hạ »), Hàn Ngọc Bích (« Mùa
Xuân Và Tuổi Hoa »), vv… Các nhạc sĩ trẻ của thế hệ đang lên như Cao Minh Khanh (« Mùa Xuân Và Tình Bạn »), Trần
Ngọc (« Em Như Chim Câu Trắng »), Đỗ Trí Dũng (« Các Đám Mây Sẽ Kể »), Vũ Trọng Tường (« Mùa Thu Ngày Khai
Trường »), vv… cũng như các nhạc sĩ nổi tiếng như Trịnh Công Sơn (« Em Là Hoa Hồng Nhỏ »), Phạm Trọng Cầu (« Nhịp
Cầu Tre »), Trương Quang Lục ( « Màu Mực Tím »), Nguyễn Văn Hiên (« Thêm Một Tuổi Hồng »), Nguyễn Ngọc Thiện ( «
Cô Bé Dỗi Hờn »), Phạm Đăng Khương (« Con Đường Đến Trường »), Vũ Hoàng (« Hoa Điểm 10 »), vv…viết nhiều bài hát
cho trẻ em . Nhiều trung tâm văn hóa thiếu nhi Hà Nội, TPHCM, Quảng Nam, Đà Nẵng, Cần Thơ tạo điều kiện cho trẻ em
hát với nhau. Đại hội liên hoan nhạc trẻ em được tổ chức hàng năm khắp nơi. Cuộc hội thảo « Âm nhạc thiếu nhi » do
ban âm nhạc thiếu nhi - hội nhạc sĩ Việt Nam tổ chức năm 1985 đánh dấu sự lưu ý của giới nhạc sĩ đối với giới trẻ em.
Băng nhạc cassette audio và video, hay băng karaoke giúp cho trẻ em thích hát nhạc của lứa tuổi của chúng.
Nhạc mới cho nhạc khí cổ truyền
Sau 1975, phong trào cải tiến nhạc khí cổ truyền và sáng tác bài bản mới lên tới cao độ. Những công trình cải tiến nhạc
khí đáng được để ý như cải tiến đàn tính của dân tộc Tày, Thái, hệ thống mõ ống, mõ cá của Tạ Thâm, đàn trưng của Đỗ
Lộc, Bá Phổ, sáo mèo của Lương Kim Vinh, sáo trúc của Đinh Thìn, đàn bầu của Phan Chí Thanh, Xuân Hoạch, k’ni của
Quốc Hùng, dinh pah cũa Nay Knia Sơn, đàn tranh của Phương Bảo, Nguyễn Vĩnh Bảo. Ngoài ra, một số nhạc sĩ đã chế ra
những cây đàn hoàn toàn mới như nhạc sĩ Phạm Lý (Tp.HCM) chế tạo mới bộ đàn lý gồm 4 cây. Nhạc sĩ Lê Thái Sơn (Hà
Tây) với cây đàn p'rông (một dạng piano làm bằng tre, nứa). Những trường hợp này được xem như là sự sáng chế nhạc
cụ.
Các nhạc phẩm được lưu truyền trong dân chúng gồm có : « Trở Về Tây Nguyên » (Đỗ Lộc) cho đàn trưng và dàn nhạc
dân tộc, « Khát Vọng Ba Dan » (Nguyễn Cường) cho đàn đinh pah của dân tộc Ê Đê và dàn nhạc, « Thúy Kiều » (Văn
Thắng) cho đàn tỳ bà và tốp nhạc dây (2 viôlông, 1 viôla, 1 xenlô), « Biển Quê Hương » (Trần Quý) cho đàn bầu và dàn
nhạc giao hưởng, tổ khúc « Rừng Đêm Trăng » (Phú Quang) viết cho 5 loại sáo cải tiến píthiu, pípặp, sáo H’Mông,
pítầmlay, pítốp) của một số sắc tộc Tây Bắc cùng dàn nhạc nhẹ Tây phương với trống mõ dân tộc . Nhạc cụ gõ rất được
các nhạc sĩ dùng trong nhiều sáng tác đương đại như « Tiếng Pháo Giao Thừa » (Nguyễn Xuân Khoát), « Trống Cười Cưới
Chồng » (Đỗ Nhuận), « Âm Vang Điện Biên » (Huy Thục) .
Ca kịch, nhạc kịch, vũ kịch, nhạc điện ảnh
Những loại ca kịch (kịch hát mới –comédie musicale), và nhạc kịch (opéra) chỉ được phát triển thực sự từ 1985 trở đi. Vở
kịch hát « Thạch Sanh Lý Thông » (Đức Minh) đã tạo thành công qua lần trình diễn đầu tiên năm 1985 tại Hải Phòng. Đề
tài được lấy từ các truyện cổ tích như « Nàng Công Chúa Lên Rừng » (Văn Thành Nho), « Chuyện Tình Nàng Tiên Du »
(Phó Đức Phương), hay đề tài trong đời sống hàng ngày như « Lửa Tình Trên Cát Trắng » (Vũ Ngọc Quang) , « Yêu Trước
Phật Đài » (Trọng Đài), hoặc liên hệ tới văn học xứ người như « Tình Yêu Và Danh Dự » (Vũ Ngọc Quang) dựa trên Le Cid
của Pierre Corneille thuộc xứ Pháp .
Nhạc kịch (opéra) theo kiểu opéra tây phương phải kể đến hai vở tạo tiếng vang nhiều nhứt sau 1975. Đó là vở « Nguyễn
Trãi » (Đỗ Nhuận) được trình diễn lần đầu nhân dịp kỷ niệm 600 năm ngày sinh của Nguyễn Trãi, và vở « Tình Yêu Của
Em » (Tiếng Hát Xanh) (Nguyễn Đình Tấn) diễn lần đầu năm 1981 nói lên số phận của một số người trong cuộc chiến
tranh cách mạng dành lại độc lập, tự do cho Việt Nam.
Vũ kịch (ballet) là một loại hình đã có trước 1975, dựa trên các vũ điệu sắc tộc Việt Nam nhưng chưa có hoàn chỉnh. Tổ
khúc thơ múa « Giai điệu Niềm Tin » (biên đạo múa : Đoàn Long, nhạc của Hoàng Việt với nhạc phẩm « Giao Hưởng số 1
») và thơ múa « Hồ Gươm » với Hoàng Đình Quý biên đạo múa, và nhạc của Cao Việt Bách . Từ năm 1990 trở đi, vũ kịch
tái sinh và nẩy nở khắp nơi . Vở kịch múa « Ngọc Trai Đỏ » (Ca Lê Thuần) được ra mắt tại nhà hát lớn TPHCM nhân dịp kỷ
niệm 300 năm thành lập thành phố Sài Gòn. Đa số đề tài vũ kịch đều hướng về các sắc tộc ở Việt Nam như « Hành Trình
Đến Cõi Then » (múa do Lê Khình, nhạc của Phó Đức Phương), « Sự Tích Chiếc Khèn Bè » múa do Đoàn Long, nhạc của
Vũ Duy Cường), « Huyền Sử Chiêng Cồng » (múa do Đoàn Long, nhạc của Đặng Nguyễn), « Huyền Thoại Trường Sơn »
(múa do Bằng Thịnh, nhạc của Ngô Quốc Tính.
Nhạc kịch nói chỉ là nhạc đệm, nhạc nền (musique de fond) cho vở kịch. Loại này ít được phát triển. Một số nhạc sĩ đã
thử thách qua một số kịch nói. Chẳng hạn như « Âm Mưu Và Hậu Quả » (Đàm Linh), « Hẹn Ngày Trở Lại » (Trọng Bằng), «
Quyền Được Hạnh Phúc » (Hoàng Vân), « Cuộc Gặp Gỡ Muộn Màng » (Doãn Nho), « Ăn Mày Hạnh Phúc » (Huy Thục), «
Chị Nhàn » (Tô Hải), « Đứng Gác Dưới Đèn Nêông » (Trần Ngọc Xương), « Nguồn Sáng Trong Đời » (Phó Đức Phương), và
những nhạc sĩ khác như Ca Lê Thuần, Quang Hải, Phú Quang, Phạm Minh Tuấn, An Thuyên, Ngô Quốc Tính, vv…
Nhạc điện ảnh còn ở trong tình trạng sơ khai trong giai đoạn chiến tranh (1954-75) với chủ đề chiến tranh, giải phóng
đất nước. Nhạc phim chuyên về nhạc hùng. Cuốn phim đầu tiên có nhạc loại giao hưởng của Nguyễn Đình Phúc được
soạn nghiêm túc là « Chung Một Dòng Sông ». Sau đó có thêm nhạc sĩ khác như Hoàng Vân, Trọng Bằng, Hoàng Hiệp, Y
Vân, Phạm Trọng Cầu, Trịnh Công Sơn, Phạm Minh Tuấn, vv…
Nhạc sĩ Hồng Đăng viết cho trên 70 phim đủ loại « Kén Rể », « Hà Nội Mùa Chim Làm Tổ », « Đời Hát Trong », « Hạt Muối
Của Biển », vv… Trọng Bằng, tốt nghiệp ở Nga Sô, viết nhạc loại giao hưởng cho các phim « Cù Chính Lan », « Hoàng Hoa
Thám », « Ngôi Sao Tren Biển », vv… Đàm Linh tạo sự chú ý qua nhạc của phim « Trận Chiến Đấu Tiếp Diễn », « Đường
Về Quê Mẹ », « Đứa Con Người Hàng Xóm », vv… với cách sử dụng nhạc khí Tây phương, hay hòa hợp Tây phương và
Việt Nam . Hoàng Vân viết nhạc phim chuyên về nhạc giao hưởng cho cả trăm cuốn phim trong đó có phim được giải
thưởng như « Con Chim Vành Khuyên », « Biển Gọi », « Em Bé Hà Nội ». Đặng Hữu Phúc khởi sự viết nhạc cuốn phim «
Anh Và Em » từ năm 1986 và liên tiếp nhiều phim khác như « Tướng Về Hưu », « Người Đàn Bà Bị Săn Đuổi », vv… Gần
đây Đặng Hữu Phúc sử dụng máy vi tính để viết nhạc phim. Trọng Đài viết nhạc phim từ 1989 như « Canh Bạc » , « Số
Phận Của Một Tình Yêu », « Quạ Và Công » (phim hoạt họa). Đỗ Hồng Quân đã chiếm nhiều giải thưởng âm nhạc của liên
hoan phim toàn quốc lần 8 (1987) với phim « Thằng Bờm », liên hoan phim toàn quốc lần 9 (1990) với phim « Đêm Hội
Long Trì », liên hoan phim toàn quốc lần 10 (1993) với phim « Cờ Lau ».
Nhạc Giao Hưởng
Trong thời gian 10 năm đầu (1975-1985) nhạc giao hưởng theo ngôn ngữ Tây phương cổ điển gặp khó khăn trong việc
phổ biến. Nhưng sau đó, giới yêu nhạc cổ điển đông hơn, và nhiều nhạc phẩm được chào đời qua tài năng của các nhà
soạn nhạc được huấn luyện tại Âm nhạc viện Hà Nội hay ở các âm nhạc viện Âu châu và Nga sô.
Đỗ Hồng Quân (« Chủ Đề Và Biến Tấu » cho dương cầm, « Rápxôđi Việt Nam »), Đặng Hữu Phúc (« Xô Nát Phúc Điệu »
cho dương cầm), Nguyễn Văn Quý (« Xô Nát số 4 cho viôlông và pianô »), Nguyễn Cường (« Tứ tấu dây 94 »), Thụy Loan
(« Khúc Trữ Tình » - Romance), Phúc Linh (« Ngẫu Hứng » cho ôboa, bátxông, và pianô), Xuân Tứ (« Bài Ca Chung Thủy »)
mở màn cho những nhạc phẩm lớn theo chiều hướng nhạc cổ điển Tây phương đương đại .
Nhạc giao hưởng thu hút một số nhạc sĩ như Doãn Nho (thơ giao hưởng « Thánh Gióng »), Nguyễn Thị Nhung (thơ giao
hưởng « Khát Vọng »), Trần Trọng Hùng ( « Giao hưởng cho đàn dây và gõ »), Đàm Linh (giao hưởng « Không Đề ») ,
Nguyễn Đình Bảng (balát giao hưởng « Thị Kính Thị Mầu »), Trọng Bằng (« Người Về Đem Tới Ngày Vui »), Trần Ngọc
Xương (« Trăm Sông Đổ Về Biển Lớn »), Lê Khiêm Hoàn (tổ khúc giao hưởng « Hội Được Mùa »), Đặng Văn Bông (‘Mẹ Và
Đất Nước », Trần Trọng Hùng (« Trở Về Với Điện Biên »).
Loại hình hòa tấu (concerto) cho nhạc cụ và dàn nhạc không thấy trong nhạc Việt Nam cho tới năm 1985. Một số nhạc
phẩm dùng nhạc khí cổ truyền dân tộc cho phần độc tấu (Quang Hải với nhạc phẩm « Hòa Tấu Số 1 » chủ đề 1 cho đàn
tranh và dàn nhạc « Quê Tôi Giải Phóng ») . Điển hình là các nhạc sĩ Ca Lê Thuần (« Hòa Tấu Nhỏ Cho Pianô Và Dàn Nhạc
») Phạm Minh Tuấn (« Bất Khuất »), Trọng Đại (« Hòa Tấu Cho Dàn Nhạc »), Đỗ Hồng Quân (« Hòa Tấu Cho Viôlông Và
Dàn Nhạc »). Chủ đề để sáng tạo nhạc giao hưởng, hòa tấu dựa trên làn điệu dân ca, thang âm điệu thức nhạc dân tộc.
Trong sự phát triển các nhạc phẩm, đa số các nhà soạn nhạc chú tâm về các bè theo chiều ngang. Nhưng cũng có một vài
nhà soạn nhạc trẻ như Vũ Nhật Tân (« Ký Ức ») tạo sự gặp gỡ các âm theo chiều dọc.
Giá trị âm nhạc Việt Nam trong giai đoạn lịch sử bi thảm, khó khăn mà chúng ta hiện nay đang trải qua, sẽ được chấp
nhận, hay bị đào thải là do nơi sự cố gắng của mỗi cá nhân, mỗi nghệ sĩ. Khi chúng ta tự hào nhạc của tổ tiên và hãnh
diện khi học hỏi cũng như lúc trình diễn, tìm đủ mọi cách để vun bồi, phát triển và truyền lại cho đám hậu sinh theo một
đường lối tốt đẹp, phản ảnh dân tộc tính thì trong tương lai, nhạc Việt sẽ được nẩy nở ngày càng đẹp hơn, giàu hơn,
phong phú hơn để tạo một chỗ đứng vững mạnh trong vườn nhạc Á châu. Chính dân tộc Việt Nam sẽ quyết định sự sống
còn của nền âm nhạc Việt trong tương lai.
Sách tham khảo
ĐÀO Trọng Từ, 1979: « La Renaissance de la musique vietnamienne », Essais sur la musique viêtnamienne, Editions en
langues étrangères: 146-221, Hanoi, Vietnam .
GIBBS, Jason, 1996: « Nhạc Tiền Chiến: The Origins of Vietnamese Popular Song », bài tham luận ở hội nghị của Society
for Ethnomusicology, Northern Carolina, Hoa kỳ (8 trang)
GIBBS, Jason, 1997: « Reform and Tradition in Early Vietnamese Popular Song », Nhạc Việt 6: 5-33, Kent, Ohio, Hoa Kỳ
HOÀNG Hiệp, CA Lê Thuần, XUÂN Hồng , LƯU Hữu Phước, QUANG Hải, NGUYỄN Lang, PHAN Huỳnh Điểu, TRÍ Thanh,
TRỊNH Công Sơn, TRẦN Trọng, ĐĂNG Đàn, TÔ Hải, 1986: Âm Nhạc ở thành phố Hồ Chí Minh , nhà xuất bản TP Hồ Chí
Minh, 180 trang, TP HCM, Việt Nam
HỒ Trường An, 1998: Theo Chân Những Tiếng Hát, 385 trang, tổ hợp xuất bản miền Đông, Arlington, Virginia, Hoa Kỳ.
HỒ Trường An, 2000: Theo Chân Những Tiếng Hát, 380 trang, tổ hợp xuất bản miền Đông, Arlington, Virginia, Hoa Kỳ
LÊ Hoàng Anh, 2000: Trò Chuyện Với Nghệ Sĩ , nhà xuất bản Thanh Niên, 965 trang, TP HCM, Việt Nam
LÊ Hoàng Long, 1996: Chuyện Tình Các Nhạc Sĩ Tiền Chiến, Văn Hóa Thông Tin (nxb), 202 trang, Hà Nội, Việt Nam
PHẠM Duy: Hồi ký 1: Thời Thơ Ấu, Vào Đời, 149 trang, Midway City, Calif. Hoa Kỳ
PHẠM Duy: Hồi ký 2: Thời Cách Mạng Kháng Chiến, 128 trang, Midway City, Calif, Hoa kỳ
PHẠM Duy: Hồi ký 3: Thời Phân Chia Quốc Cộng, 164 trang, Midmay City, Calif, Hoa Kỳ
PHẠM Duy: Hồi ký 4: Thời Lưu Vong, 176 trang, Midway City, Calif, Hoa Kỳ
REYES, Adelaida, 1999: Songs of the Caged, Songs of the Frê/ Music and the Refugê Experience, Temple University Press
(nxb), 218 trang, Philadelphia, Hoa Kỳ
TRẦN Cường, 1996: Âm Nhạc / Tác Giả Và Tác Phẩm, Giáo dục âm nhạc phổ thông, tập 1, Nhà xuất bản âm nhạc, 347
trang, Hà Nội, Việt Nam
Trần Quang Hải, 1987: “La Musique et les réfugiés », La Revue Musicale (nxb) 402-403-404 : 125-133, Paris, Pháp .
Trần Quang Hải, 1989: Âm Nhạc Việt Nam Biên Khảo , Bắc Đẩu (nxb), 361 trang, Paris, Pháp .
Trần Quang Hải, 2001, 2002, 2003 : Tổng Kết Nhạc Việt Hải Ngoại, trang nhà www.vietnhac.org , Minneapolis,
Minnesota, Hoa Kỳ
Trần Quang Hải, 2001: « Vietnamese Music in Exile since 1975 and Musical Life in Vietnam since Perestroika”, The World
of Music 2-3: 103-112, University of Bamberg, Đức (có thể xem trang nhà www.honque.com , New Jersey, Hoa Kỳ hay
www.vietnhac.org , Minneapolis, Hoa Kỳ)
TRƯỜNG Kỳ, 1995: Tuyển Tập Nghệ Sĩ 1, tác giả xuất bản, 300 trang, Montreal, Canada
TRƯỜNG Kỳ, 1997: Tuyển Tập Nghệ Sĩ 2, tác giả xuất bản, 320 trang, Montreal, Canada
TRƯỜNG Kỳ, 1999: Tuyển Tập Nghệ Sĩ 3, tác giả xuất bản, 367 trang, Montreal, Canada
TRƯỜNG Kỳ, 2000: Tuyển Tập Nghệ Sĩ 4, tác giả xuất bản, 368 trang, Montreal, Canada
TRƯỜNG Kỳ, 2001: Tuyển Tập Nghệ Sĩ 5, tác giả xuất bản, 378 trang, Montreal, Canada
TRƯỜNG Kỳ, 2002: Tuyển Tập Nghệ Sĩ 6, tác giả xuất bản, 384 trang, Montreal, Canada
TRƯỜNG Kỳ, 2002: Một Thời Nhạc Trẻ, tác giả xuất bản, 384 trang, Montreal, Canada
TÚ Ngọc, NGUYỄN Thị Nhung, VŨ Tự Lân, NGUYỄN Ngọc Oánh, THÁI Phiến : 2000 : Âm Nhạc Mới Việt Nam / Tiến Trình
Và Thành Tựu, Viện Âm Nhạc (nxb), 1000 trang, Hà Nội, Việt Nam
VŨ Tự Lân, 2001: Những Tác Động Của Giao Lưu Văn Hóa Quốc Tế Đối Với Sự Hình Thành – Phát Triển Âm Nhạc Chuyên
Nghiệp Mới Việt Nam , Hội Nhạc Sĩ Việt Nam (nxb), 92 trang, Hà Nội, Việt Nam .
Báo Chí
Sóng Nhạc, nguyệt san, chuyên về sinh hoạt tân nhạc Việt Nam ở quốc nội ,địa chỉ: 81 Trần Quốc Tuhảo, Q3, TPHCM,
Việt Nam . điện thư: [email protected]
Văn Hóa Nghệ Thuật , nguyệt san, chuyên về nghiên cứ nhạc dân tộc, tân nhạc và nhạc cổ điển Tây phương ỡ Việt Nam ;
địa chỉ: 32 Hào Nam, Đống Đa, Việt Nam . điện thư : [email protected]
Âm Nhạc và Thời Đại, nguyệt san, chuyên về đủ mọi khí cạnh âm nhạc Việt Nam tại quốc nội . Cơ quan ngôn luận của Hội
Nhạc sĩ Việt Nam ; địa chỉ : 51 Trần Hưng Đạo, Hà Nội, Việt Nam. ĐT: (84-4) 94 35 384
Trang Nhà
www.tranquanghai.org và http://tranquanghai.phapviet.com
Hai trang nhà này của Trần Quang Hải có một bài viết về tân nhạc Việt Nam bằng 3 thứ tiếng (Việt / Pháp / Anh)
www.vnstyle.vdc.com.vn/vim: khánh thành năm 2002, trang nhà này của Viện Âm Nhạc Hà Nội giới thiệu sinh hoạt của
Viện qua tin tức, bài vở, sách , dĩa CD, VCD về nhạcViệt Nam bằng hai thứ tiếng (Việt / Anh)
www.vov.org.vn : những bài ca không quên, ca khúc trữ tình, nhạc không lời, chương trình ca nhạc, ca nhạc thiếu nhi .
www.vietscape.com : nhạc trẻ, tân nhạc, phỏng vấn ca nhạc sĩ Việt Nam hải ngoại
www.saigonbao.com/amnhac/Amnhac2.htm: những trang nhà về nhạc Việt và điện ảnh Việt Nam ở hải ngoại
http://www.vnunited.org/audio: rất nhiều bài tân nhạc Việt Nam do các ca sĩ trình bày (MP3)
http://www.vncentral.com/news/vanhoa: tin tức về tân nhạc Việt Nam
http://www.angelfire.com/ut/ttran4/VN.html: các ca sĩ Việt Nam, tân nhạc, nhạc vàng
www.vietet.com: tin tức nhạc trẻ Việt Nam ở Hoa kỳ, tiểu sử các ca sĩ và địa chỉ
www.vietnhac.org: trang nhà do sinh viên ở Minneapolis thực hiện có trên 100 tiểu sử nhạc sĩ hải ngoại, tiểu sử các nhạc
sĩ qua đời, và gần 200 bài viết về nhạc Việt Nam đủ loại .
www.honque.com : báo mạng lưới với nhiều bài viết về nhạc Việt Nam , phỏng vấn nhiều nhạc sĩ Việt Nam hải ngoại, và
có thể nghe và xem video nhạc Việt sáng tác ở hải ngoại
www.talawas.org : báo mạng lưới ỡ Đức với một số bài về nhạc Việt Nam, phỏng vấn nhạc sĩ Việt Nam hải ngoại
www.tienve.org : báo mạng lưới ở Úc châu với nhiều bài viết và nhạc phẩm về nhạc Việt Nam .
http://vietsciences.free.fr : báo mạng lưới ở Pháp có một chương trình dành cho nhạc Việt Nam
http://home.wanadoo.nl/duca: lịch sử du ca, du ca viên, và nghe nhạc du ca
www.emviet.com/pvh : trang nhà chào đời năm 2002 ở Úc châu, giới thiệu những sáng tác của nhạc sĩ Phan Văn Hưng
và những ca khúc khác cùng một số dân ca Việt Nam
http://home.vicnet.net.au/~aaf/us.htm: trang nhà của đôi nhạc sĩ Lê Tuấn Hùng và Đặng Kim Hiền ớ Úc châu, gồm có
những sáng tác nhạc hiện đại của Lê Tuấn Hùng và những bài viết về nhạc Việt Nam .
www.geocities.com/emcahat: nơi sinh hoạt của giới yêu nhạc tài tử và bán chuyên nghiệp ở hải ngoại
www.vota.com/nhac: trang nhà của nhạc sĩ Võ Tá Hân với tất cả sáng tác của anh và có thể nghe những CD gồm trên 200
nhạc phẩm đã được phát hành .
http://perso.club-internet.fr/nmchau: rất nhiều sáng tác của các nhạc sĩ của nhóm Nhạc Việt và của nhóm The Silicon
Band ở Pháp.
www.giaidieu.net: diễn đàn trao đổi nhạc Việt, tin tức nhạc trẻ Việt Nam , tiểu sử nhạc sĩ và ca sĩ sống tại Việt Nam .
www.giaidieuxanh.com.vn: tất cả tin tức nhạc ở Việt Nam từ nhạc cổ truyền dân tộc đến nhạc Pop Việt /Tây phương,
nhạc cổ điển Tây phương và nhạc hiện đại thế gii .
Sơ Khảo Dân Nhạc Đồng Bào Thái Ở Việt Nam
Người Thái, một trong 54 sắc tộc ở Việt Nam, sống đông đúc ở miền Tây Bắc xứ Việt Nam. Họ đến định cư tại Việt Nam
từ thế kỷ thứ 10 và hiện nay dân tộc Thái đã có gần 400.000 người. Ngôn ngữ Thái hiện nay đã được xếp vào nhóm tiếng
Thái hay còn gọi là nhóm Tày Thái. Những dân tộc cùng hệ ngôn ngữ Thái ở miền Tây Bắc còn có nhóm: Lào, Lự, Tày,
Nùng, Giấy, Pu Nà .
Trước khi nghiên cứu về nhạc và các điệu múa của người Thái, thiết tưởng chúng ta nên có một khái niệm sơ về người
Thái nói chung. Mặc dù cũng có những đặc trưng cơ bản của người Thái ở miền Tây Bắc, ta nhận thấy có hai ngành Thái:
Thái Trắng vàThái Đen. Đó là một đặc điểm cần lưu ý đến khi nghiên cứu về họ.
Thái Trắng có thể chia làm hai nhóm địa phương. Nhóm thứ nhất cư trú ở phía Bắc trong các huyện Mường Lay, Mường
Tê, Phong Thổ, một phần ở Tuần Giao, Quỳnh Nhai, Sinh Hồ, Tủa Chùa, và xã Ngọc Chiến thuộc Mường La . Nhóm này có
những đặc trưng văn hóa của một nhóm địa phương thống nhất như cùng một vùng thổ ngữ, một loại hình sinh hoạt
phong tục tập quán, văn học, nghệ thuật dân gian, tôn giáo, vv... Nhóm thứ hai nằm ở phía Nam trong các huyện Mộc
Châu, Phú Yên và một phần Văn chấn. Nhóm này do ảnh hưởng của nhiều luồng văn hóa khác nhau, nên chỉ có thể thống
nhất trên những nét chung chung như: cùng chung một chuyện kể về nguồn gốc vàsự Thiên di, cùng một phong tục tập
quán, một loại hình văn học, nghệ thuật dân gian .
Thái Đen có những đặc trưng của một nhóm địa phương tương đối đồng nhứt. Đồng bào Thái Đen hiện nay sống ở các
huyện Văn Chấn, than Uyên , Mường La, Thuần Châu, Mai Sơn, Sông Mã, Tuần Giao, Điện Biên, Phong Thổ, Sinh Hồ,
Quỳnh Nhai. Một nhóm Thái Đen có hơi khác một số điểm về tập quán và thổ ngữ hiện nay cư trú ở huyện Yên Châu ,
nên thường được gọi là Thái Yên Châu .
Sự phân chia thành hai ngành Thái Trắng vàThái Đen ở miền Tây Bắc hiện nay là kết quả của một quá trình trên những
diễn biến lịch sử lâu dài và khá phức tạp. Có người cho rằng Thái Đen vì họ ăn mặc đen, quấn khăn đen. Ngược lại Thái
Trắng được gọi như vậy là vì họ ăn mặc trắng, quấn khăn trắng. Tại sao lại có chuyện ăn mặc khác nhau như vậy? Nên
biết rằng người Thái Trắng có nơi khi thờ cúng tổ tiên lại ăn mặc đen? Có một giả thuyết cho rằng là người Thái Trắng có
nước da trắng hơn người Thái Đen! !
Nơi sinh sống của người Thái được gọi là "bản" và "mường". Nhiều bản hợp lại thành một "mường" nhỏ . Nhiều
"mường" nhỏ hợp lại thành "châu mường". Ngay từ đầu các "bản", "mường" đã phân chia rải rác tương đối đông đúc
trên những vùng cư trú của ba nhóm địa phương vùng Tây Bắc.
Về mặt tôn giáo, người Thái cho rằng trên trái đất này có hai thế giới: thế giới của sự sống, và thế giới hư vô . Thế giới sự
sống bao gồm sự tồn tại của con người, muôn vật vàcác hiện tượng trong thể trạng thực mà người ta có thể nhìn thấy
được. Thế giới hư vô bao gồm một cõi sống mà họ gọi là "phi". Thí dụ như người ta muốn sống và sống được là nhờ "phi
khuôn" của người va vật tức la "phi then" có nghĩa là chủ cõi trời .
Người Thái cũng như các dân tộc khác vì đã sống qua các thời kỳ lịch sử nên họ có những tín ngưỡng linh hồn, tín
ngưỡng thờ thần ma.
Sau khi nhìn qua một vài khía cạnh sắc tộc và tôn giáo của sắc tộc Thái, chúng ta thử tìm hiểu âm nhạc dân gian và điệu
múa cổ truyền của họ.
ÂM NHẠC DÂN GIAN
Âm nhạc là một bộ môn nghệ thuật được người Thái ưa thích. Trong cuộc sống hàng ngày, "khắp" (hát) đối với họ không
thể thiếu được. Người ta nghe hát hoặc hát cho mọi người nghe một cách rất say mê. Trước đây đã từng có những cuộc
hát kéo dài tới hai, ba ngày đêm . Qua loại hát, không những người ta chỉ thưởng thức những thi vị của ý thơ mà còn gởi
gắm tâm tình vào những âm thanh trầm bổng của giọng hát hay nữa.
Ngoài loại hát, người Thái còn có những nhạc khí để diễn đạt tư tưởng, tình cảm của mình hoàn toàn bằng âm thanh
không cần có lời hát. Những nhạc khí này đã đóng vai trò rất quan trọng để tạo nên âm nhạc dân gian của người Thái.
Âm nhạc dân gian Thái có nhiều làn điệu khác nhau được cấu trúc trên các âm giai ngũ cung mà người Kinh gọi là Hò xự
xang, xê, cống, líu. Người Thái chưa có phương pháp ký âm nên không có tên gọi các cung bậc của âm giai.
Hát được người Thái gọi la ø"Khắp". "Khắp" có thể đồng nghĩa với hát, hò, ngâm. "Khắp" có rất nhiều làn điệu và mỗi làn
điệu dùng để thổ lộ tư tưởng và tình cảm khác nhau.
Một lối "Khắp" rất phổ biến , đó là những giọng mà người Thái gọi la ø"quám khắp" (hát thơ). Đây làlời hát dùng cách
hát để làm hình thức để diễn đạt nội dung bài thơ. Như vậy, hễ có thơ là người ta có thể hát ngay theo một lối hát cho
hợp thể loại . Đó chính làcác điệu dân ca biểu hiện bằng các lối hát thơ thích hợp với làn điệu của từng vùng cùng
làtruyện thơ, nhưng khi hát, làn điệu khác nhau hoàn toàn. Chẳng hạn như không bao giờ người ta hát tập thơ sử Tây pú
xớc như tập anh hùng ca Chương han. Hoặc người ta cũng không hát Phanh Mường (kể chuyện dựng mường) như hát
truyện thơ Chàng Lù, Nàng Ủa. Lại cũng có thể có hai lối hát cho cùng một tác phẩm thơ. Truyện thơ Sống Chụ Xon Xao,
khi nằm để ngâm nga thì phải theo làn điệu "khắp xư", nhưng khi trong các bữa tiệc cưới thì phải theo làn điệu "khắp
báo xao"... Như vậy một bài thơ, hoặc một truyện thơ bao giờcũng là một bài hát. Hoặc cũng có thể nói được rằng cứ
hát là đã có nội dung thơ. Do đó người Thái gọi baì thơ sáng tác là "khắp bắ" nghĩa là tự Nghĩ ra thơ để hát. Ngày xưa
người làm thơ thường được gọi là "mo khắp bắc" (mo hát thơ), "chang khắp bắc" (người khéo hát thơ), "sây khắp bắc"
(thầy hát thơ), hoặc "nài khắp bắc "(có nghĩa là người giỏi về hát thành thơ). Như vậy làn điệu của hát rõ ràng đã diễn tả
được ý thơ theo quan niệm thẩm mỹ âm thanh làn điệu thì đặc tánh âm nhạc dân gian Thái đã hình thành. Lúc này người
ta không nhất thiết phải hát bằng lời thơ mà chỉ cần xướng âm, thổi sáo, hoặc dùng các nhạc khí, vv... biểu hiện làn điệu
của hát thơ, người ta cũng có thể nhận ra một cách chắc chắn đó là âm nhạc Thái .
Hát thơ cũng có rất nhiều làn điệu.
Hát thơ theo làn điệu "khắp xư" là một lối đọc thơ nhưng theo một quy cách hát, thường phổ biến trong cách đọc phần
lớn các truyện thơ. "Khắp xư" có nghĩa là hát thơ, bởi vậy có lẽ phải có các thể thơ, giọng hát này mới ra đời. Làn điệu
của "Khắp xư" biểu hiện sự sắp xếp nhịp điệu cung cách của thơ Thái. Đó là lời thơ tự do. Các câu thơ tùy, có lúc sẵn
tiếng nhưng phần lớn thường lẻ tiếng như 3, 5, 7, 9, 11, 13, vv... Thơ không bó buộc phải theo một luật bằng trắc, nhưng
rất chú trọng các thanh trầm bổng cân đối nhịp nhàng. Không gieo vần thơ ở tiếng cuối màlấy tiếng cuối câu trên gieo ở
tiếng đầu, thì 2, 3, 4 (vần lưng) ở câu dưới, thể hát thơ "khắp xư" mang tính chất ngâm nga.
Tuy nhiên, do cấu trúc của làn điệu đã biểu hiện được tính chất của hát nên người Thái đã gọi thơ là "khắp", có nghĩa là
hát, chứ ít sử dụng từ "xư bắc" (thơ) một cách riêng rẻ. Nếu đem so sánh tiếng Việt với tiếng Thái thì thấy như sau:
Tiếng Việt, thơ, ngâm thơ, ca dao, thi ca
Tiếng Thái "xư khắp bắc", "khắp xư", "khắp", "khắp"
Người Việt có từ chỉ thơ và ca, còn người Thái chỉ có "khắp"dùng cho cả thơ lẫn ca.
Nhờ nhịp điệu của loại thơ 5 chữ, "khắp xư" (hát thơ) lại không thể hiện tính chất ngâm nga của thơ. Lúc đó "khắp xư"
trở nên bài xướng thơ có nhịp phách . Ngược lại có thể nói đây là lối đồng ca thơ, dùng mở đầu cho một làn điệu múa.
Những bài đồng dao trẻ em Thái càng thể hiện tính nhịp phách một cách rõ rệt hơn. Đó làbài hát thơ có nhịp 2/4 khiến
cho trẻ em vừa đọc vừa vỗ tay. Tiếng cuối câu thơ được nhấn hai lần vào nhịp mạnh làm cho bản đồng dao mang tính
chất ngây thơ. Như vậy rõ ràng lối "khắp xư", một mặt còn nằm ở dạng chưa ổn định về nhịp phách, vì tính giai điệu của
âm nhạc còn tùy thuộc quá nhiều vào thơ. Mặt khác cũng đã xuất hiện khuynh hướng ổn định về nhịp phách và hình
thành cấu trúc giai điệu để tạo thành những bài ca khúc dân gian hoàn hảo. Từ sự thể hiện tính làn điệu của "khắp xư"
mà những làn điệu ở các vùng khác xuất hiện.
Dân ca trữ tình gọi la ø"khắp báo xao" (hát trai gái), "khắp chiêu" (hát reo), "khắp au hua, au hang" (hát cùng kéo đầu ,
cùng vuốt đuôi) là một thể hát thơ . Làn điệu thường mở đầu bằng chuỗi tượng thanh hò. Tiếp theo là lối hát ngâm nga
từ 1 tới 2, 3 câu thơ và kết bằng một chuỗi tượng thanh hò. Cứ như vậy, làn điệu được nhắc đi nhắc lại theo thể đơn
nhất để diễn tả nội dung bài thơ. Phải chăng đây là nguồn gốc tạo ra cấu trúc ba thành phần của âm nhạc dân gian Thái:
mở đầu, phần giữa, và phần kết thúc?
Ở một vài nơi, người Thái địa phương còn có lối hát được gọi là "khắp phẳn" (hát xoán lại). Thường cứ hát trên làn điệu
"khắp xư" rồi lại chuyển sang hát dân ca trữ tình. Mục đích của "khắp phẳn" là để gắn những câu tình tứ của người hát
theo thơ dân ca với câu tinh tứ đã được khẳng định ghi chép lại trong các truyện thơ Thái.
Lối hát "khắp phẳn" phải chăng cũng là cách tập hợp một số làn điệu tập thể đồng ca. Một người cất tiếng hò, cả đám hò
theo để hưởng ứng. Sau đó, người hát chuyể n sang hát ngâm nga đổi câu thơ rồi hò, cả đám lại hò hưởng ứng. Lối hát
đó đã làm tiếng thơ thêm tươi sáng và vui hẳn lên.
Hát thơ trữ tình đã tiến tới sụ thống nhứt trong các làn điệu dân ca của từng vùng Thái. Vùng Thái Trắng ở miền Bắc
thường vừa hát vưà đệm đàn tính. Giai điệu của hát và các đàn tính theo lối đệm khác nhau nhưng rất ăn nhịp tạo một
sự hòa hợp âm thanh làm tình cảm trở nên trong sáng. Vùng Mai Sơn, Mường La, Thuận Châu còn có"lối hát đệm sáo gọi
là "pí pặp" với làn điệu biểu hiện tình cảm say đắm . Ở Mường La, người ta còn có giọng hát gọi là "loang tông" (xuôi
theo lòng cánh đồng) thường để diễn tả nỗi ai oán trong sự phũ phàng của tình yêu. Người Yên Châu rất ưa dùng khèn
bè để đệm cho hát. Trong một làn điệu nghe tưởng như rất khúc chiết vì tiếng hát xen với tiếng khèn bè rất nhộn nhịp
chồng chất nhau. Tiếng hát của người Thái Mộc Châu khi cần thiết cũng đệm bằng ống tiêu gọi la ø"pí khúi" hay còn gọi
là "pí thiu".
Tiếng hát xưa còn được nghe trong những làn điệu "Khắp mo". Đây là giọng hát của những "mo chang" dùng để diễn đạt
tứ thơ trong tôn giáo, và đặc biệt phổ biến hơn, người ta sử dụng giọng "khắp mo" để diễn ca các tập thơ lịch sử. Nói
một cách khác, khi đọc các truyện thơ lịch sử một cách đúng nhứt bao giờ cũng phải diễn tả bằng giọng hát "mo". Ở đây
giai điệu thường chỉ nằm tren các quãng 3 (do-mi) và quãng 5 (do-sol), với nhịp điệu rõ ràng biểu hiện vẻ trang nghiêm
của chất thơ lịch sử.
Bên cạnh hát "mo", dân ca Thái còn có lối hát "chương han" (thơ kể chuyện về chàng Chương gan dạ) gọi là "khắp
Chương".
Ngoài "khắp mo", trong lối hát thơ phục vụ cho tôn giáo Thái còn phải kể đê 'n các giọng hát gọi là "khắp một". "Một"
đàn ông hát đệm theo sáo nứa (co lưỡlam đồng) gọi là "pí láo", còn gọi cách khác là "khắp một láo". "Một" đàn bà không
đệm theo nhạc cụ và gọi là "khắp một nhính" hoặc "khắp một há ní" Đây là lối sử dụng âm nhạc để gây cho những tín đồ
của thế giới hư vô . Âm nhạc ở đây trở thành tiếng ru lòng người chập chờn như liều thuốc mê. "Khắp một láo" (một đàn
ông) không những chỉ có làn điệu mà đã có những đoạn hát có nhịp phách hẳn hòi. Do đó cũng có thể coi những đoạn
hát đó là một loại ca khúc hoàn hảo của âm nhạc dành cho các "một" của người Thái. Phải kể tới các bản ca khác xuất
hiện trong các dân vũ Thái Trắng được mang tính độc lập của nó với thơ. Khác với các bài hát thơ, những bài ca này, cấu
trúc nhạc thực rõ ràng, nhịp phách phân chia đàng hoàng. Có thể kể ở đây những bài bản như "Táng Xạ", "Nhụm Hứa",
"Inh lả ơi", vv.....
Nhạc khí Thái có đàn "Tính Tẩu" một loại đàn dây rất được ưa chuộng. Ngoài ra có nhiều loại "pí" (sáo) va ø"kén (khèn
bè). Thêm vào đó có nhạc cụ gõ như trống, chũm chọe, chiêng.
Về múa, người Thái có rất nhiều điệu múa như múa tập thể "xé vòng", "xé lảng" (múa mộc), "xé pén" (múa khiên). Một
loạt điệu múa dính liền với đời sống hàng ngày như múa khăn, múa nón, múa chai, múa hái rau. Múa "xé cắp" (múa cằm
bẫy) của Thái được người Việt chế biến thành múa sạp.
Một số điệu múa cải biên như "Nhụm Hứa" (đẩy thuyền) biến đổi từ múa khăn, "Tạng Xá" từ điệu múa khăn vừa hát vừa
múa theo điệu nhạc đàn tính
Sự đóng góp của âm nhạc dân gian Thái rất lớn trong nhạc dân tộc Việt Nam. Trong tương lai, với điều kiện nghiên cứu
cho phép, chúng ta sẽ có dịp khám phá biết bao truyền thống dân nhạc của 54 sắc tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam và sẽ
mang lại cho chúng ta một niềm tự hào vềsự phong phú của dân nhạc, đa văn hóa của nền nghệ thuật đa dạng tại Việt
Nam.
Đàn Môi
Đàn môi (tiếng Anh là Jew’s Harp/tiếng Pháp là Guimbarde) là một loại đàn rất nhỏ có thể bỏ vào túi (dài chừng 7cm)
thuộc loại nhạc khí tự âm vang (idiophone). Đàn mội Âu Mỹ chỉ có một loại bằng kim khí (metal: thép, sắt, đồng, thau,
nhôm) và chỉ có một kiểu thôi . Nhạc khí được để ấn lên trên răng, ngón tay trỏ của bàn tay mặt khảy lên trên đầu lưỡi
của nhạc khí (languette de l’instrument / tongue of the instrument) để cho thanh lưỡi đó đi qua lại giữa hai hàm răng,
trong khi đó miệng thay đổi thể tích bằng cách đọc các nguyên âm (a, e , i , o , u) . Nhờ vây mà khi âm thanh phát ra từ
miệng sẽ có những cao độ khác nhau.
Bên Âu châu, đàn mội có khắp nơi : Jew’s harp (Anh), guimbarde (Pháp), maultrommeln (Đức/Áo), scacciapensieri hay
marranzanu (Ý), mondharp (Hòa Lan), mundharp (Na Uy), mungiga (Thụy Điển), vargan (Nga), berimbao (Tây ban
nha),vv…
Không những đàn môi có rất nhiều ở Việt Nam và các quốc gia châu Á, mà còn có nhiều loại khác nhau. Chẳng hạn như
các đàn môi bằng kim khí có thể tìm thấy tại các quốc gia Ấn độ, tiểu bang Rajasthan (morchang), Nam Ấn độ (morsing),
Pakistan, Nepal, Altai, Tuva, Mông cổ, Trung Quốc (có loại đàn môi ba cái chung với nhau gọi là kou xiang) . Ngoài ra cỏn
có đàn môi tre tại các xứ Nhật Bổn (mukkuri), Thai Lan, Borneo (bunkau), Bali (genggong), Phi luật tân (kubing), Cao
Miên (ang kuoch). Xứ Việt Nam có rất nhiều loại đàn mội bằng kim khí thấy ở sắc tộc Gia rai, bằng thau ở sắc tộc Mông
(miền Bắc), bằng tre ở sắc tộc Ba-na, Ê đê, Mnông Ga, Gia rai
Ở Á châu có nhiều loại đàn mội khác loại, hình thù khác nhau, dài ngắn tùy theo truyền thống . Cò loại bằng tre với lưỡi
nằm giữa khung, có loại phải giựt sợi dây để cho lưỡi rung trong miệng người đánh đàn (Bali, Nhật Bản) .
Hầu hết các đàn môi dành để khảy trong lúc tiêu khiển, nhàn hạ. Nhưng có truyền thống cho thấy đàn môi đuợc dùng để
tỏ tình (như sắc tộc Mông ở Việt Nam). Và có truyền thống cho thấy đàn mội được khảy chung với nhau cả mấy chục
đàn môi giống như một dàn nhạc (tại Bali). Xứ Tuva đàn môi do những người chữa bịnh có thần lực mạnh khảy tạo một
âm thanh huyền bí
Muốn biết rõ hình dáng của các loại đàn môi, bạn có thể vào trang nhà sau đây: www.khomus.de. Trang nhà này miêu tả
đàn môi bằng kim khí của xứ Yakutia
www.danmoi.de. Trang nhà này chuyên về đàn môi Việt Nam do một người Đức tên Clemens Voigt chủ trương thực
hiện. Anh ấy chỉ ngoài 30 tuổi, biết đàn môi nhiều loại và khởi sự việc buôn bán đàn môi Việt từ vài năm nay. Anh ta có
đi sang Việt Nam, tới vùng người Mông ở và đặt mua mỗi chuyến đi cả mấy ngàn cây đàn môi. Nhờ vậy mà trên thế giới,
có rất nhiều người mua đàn môi Mông .Ngoài ra còn có rất nhiều hình của các loại đàn môi của Rajasthan, Pakistan,
Nepal, Altai, Jakutia. Các loại đàn môi thấy trên trang nhà này đều có thể đặt mua qua địa chỉ điện thơ với điều kiện trả
tiền như thế nào.
www.zêlandnet.nl/paclax/jewsharp
Đây là một trong vài trang nhà quan trọng về đàn môi thế giới do anh Phons Bakx chủ trương ở Hòa Lan . Có nhiều chủ
đề về lịch sử đàn môi ở Âu châu, tiểu sử của những người chơi đàn môi nổi tiếng trong giới đàn môi, tiểu sử những
người làm đàn môi (có trên 100 người). Ngoài ra có danh sách các CD chuyên về đàn môi có thể đặt mua
www.jewsharpguild.org
Trang nhà này do một hội đàn môi của Mỹ thực hiện với một số hình ảnh đàn môi của hai ba hội viên thu thập khắp nơi
qua các đại hội liên hoan về đàn môi.
www.stn.at/home/maultrommel
Trang nhà này của một hội đàn môi xứ Áo, viết bằng tiếng Đức, cho biết sinh hoạt đàn môi ở xứ Áo .
www.koukin.jp
Trang nhà này viết toàn bằng tiếng Nhật do Leo Tadagawa, bạn của tôi, thực hiện. Leo Tadagawa là người nghiên cứu và
thu thập đàn môi duy nhứt trên thế giới có một kho tàng đàn môi (trên 2.000 cây đàn môi), cả mấy trăm CD, dĩa nhựa
33vòng , và cả mấy trăm quyển sách viết về đàn môi bằng cả mấy chục thứ tiếng . Tôi quen với Leo Tadagawa từ năm
1990, và có tới ngủ tại nhà anh này nhiều lần khi tôi sang Tokyo .Anh có tổ chức mấy buổi trình diễn cho tôi tại Tokyo.
Gần đây nhất là vào tháng 4, 2004. Anh được bầu làm tổng thư ký của International Society of Jew’s Harp (Hội quốc tế về
đàn môi) mà tôi là một trong 10 người thành viên và sáng lập.
http://spiritdimension.com/magical-music/vargansd.htm
Trang nhà này viết bằng tiếng Nga, chú trọng về đàn môi của Nga mà thôi, nhứt là đàn của các dân tộc ở vùng Tây Bá Lợi
Á thuộc Nga
Có ba trang nhà của những người làm đàn môi ở Đức và Áo
www.maultrommel-schwarz.at
Ông Schwarz là một trong vài người còn lại của làng Molln bên xứ Áo có xưởng chế đàn môi theo phương pháp cổ
truyền .
www.stn.at/maultrommel
Ông Wimmer cũng là một người làm đàn môi ở làng Molln rất nổi tiếng tại xứ Áo. Vào xem trang nhà sẽ thấy những hình
ảnh và cách làm đàn môi. Viết bắng tiếng Đức.
www.planet-interkom.de/andreas.schluetter
Ông Andreas Schluetter, người Đức, cũng làm đàn môi nổi tiếng bên xứ Đức .
Cả ba người này tôi có dịp gặp và viếng thăm nơi xưởng làm đàn môi lúc tôi đi sang Molln dự đại hội liên hoan thế giới
về đàn môi năm 1998.
Sau đây là danh sách một số dĩa CD chuyên về đàn môi
A Song for the Jew’s Harp , do Phons Bakx trình diễn, 22 bài, Hòa Lan , 1997
Music and the Dispel of Thoughts, do Phons Baks trình diễn, 26 bài, Hòa Lan, 1999
Jew’s Harp Mosaics, Phons Bakx đàn môi, tài liệu 1986-87, 26 bài, Hòa Lan, 2004
Jew’s Harp of the World, do Trần Quang Hải đàn môi, 17 bài, Pháp, 1997
Floating World, do Steev Kinwald đàn, 14 bài, tự sản xuất, 2001
Transparent Movement, do Steev Kinwald đàn, 10 bài, tự sản xuất , 2004
Summer is Coming, do Fedora Gogolev, Alina Degtyaryova, Olga Podluzhnaya đàn, xứ Yakutia
Sing My Khomus, do Ivan Alexeyev and Spiridon Shishigin dàn, do Leo Tadagawa sản xuất, Tokyo, Nhựt bổn
Mukkuri Hawehe, do nghệ sĩ Ainu của Nhựt Bổn đàn, Leo Tadagawa sản xuất , 10 bài, Tokyo, 2001
Munnharpas Verden (The Jew’s Harp World) do Sven Westad chủ trương và thực hiện, với các nhạc sĩ chuyên về đàn
môi như Sven Westad (Na Uy), Leo Tadagawa (Nhựt), Trần Quang Hải (Việt Nam) và John Wright (Anh quốc), Na Uy,
2000
Hrynhent, nhạc cổ truyền Na Uy với đàn môi và đàn dây, 12 bài, Na Uy, 2003
Albrechtsberger: Konzerte für Maultrommel und Mandora do Albin Paulus đàn môi Đức và Hung Gia Lợi, 15 bài, Áo
quốc, 2003
Ngoài ra có thể tìm thêm tài liệu trên www.google.fr . Chỉ cần gõ những chữ sau đây:
“jew’s harp” sẽ có 12700 trang nhà nói về đàn môi bằng tiếng Anh
“guimbarde” sẽ có 7.150 trang nhà
“maultrommel” sẽ có 10.000 trang nhà
“danmoi” sẽ có 2.810 trang nhà
“mukkuri” sẽ có 527 trang nhà đa số viết bằng tiếng Nhựt
“khomus” sẽ có 1.800 trang nhà nói về đàn môi xứ Yakutia (Tây bá lợi á)
Đàn môi xứ Tuva làm bằng cây thước kẻ học trò bằng kim khí
Đàn môi sắc tộc xứ Đài Loan
Đàn môi scacciapensieri của xứ Ý đại lợi