17 | Page Page17 Vương Mộng Long và Mẹ tháng 4 năm 1993 Hóa ra một thằng Việt-Cộng vừa ra khỏi rừng mấy ngày mà đã thông thuộc đường sá Sài-Gòn hơn một thiếu tá tiểu đoàn trưởng Biệt Ðộng Quân Vùng 2 của Việt-Nam Cộng-Hòa! Tới cổng sau của Bộ Tổng Tham Mưu, tôi tưởng mình thoát nạn, nào ngờ, – Anh đỗ xe ở đây! Không được thoái bộ! Chờ tôi họp xong, tôi sẽ quay ra! Nghe rõ chưa? Y chỉ chỗ cho tôi tắt máy và đậu xe sát vọng gác bên hông của Bộ Tổng Tham Mưu rồi ra lệnh cho mấy tên bộ đội trong điếm canh,
18 | Page Page18 – Tôi giao cho các đồng chí nhiệm vụ quản chế anh này! Giữ anh ta tại đây cho tới khi hội họp xong tôi sẽ trở ra. Nếu anh ta thoái bộ thì các đồng chí cứ việc bắn! Ðừng bắn chết là được! Cứ bắn gãy chân thôi! Nghe rõ chưa? Tôi ngồi xuống bờ cỏ bên vọng gác, móc túi lấy điếu thuốc Ruby ra hút đốt thời giờ. Tôi hút tới điếu thuốc thứ ba mà tên cán binh Việt-Cộng vẫn chưa ra. Ðã tới 8 giờ, giờ điểm danh của ban tiếp quản Quân Khu 5, mà tên Việt-Cộng vẫn chưa ra. Tôi mon men tới bên vọng gác, – Anh bộ đội ơi! Ðã tới giờ tôi phải có mặt ở Ủy Ban Quân Quản Thành Phố, tôi có thể đi được không? “Crách! Crách!” cùng với tiếng lên cò súng là khẩu lệnh, – Ngồi xuống đó! Cấm di chuyển! Anh mà bước khỏi đây một bước là tôi bắn! Thế là tôi đành ngồi xuống. Tôi dự trù nếu thằng cán binh ác ôn mà trở ra, tôi sẽ đòi nó ký cho tôi tờ giấy chứng nhận lý do vì sao tôi tới phòng Z trình diện trễ. Thoáng chốc mặt trời đã tới đỉnh đầu. Sài-Gòn tháng Năm trời vừa nắng cháy da, vừa ẩm ướt hầm hầm như đang trông chờ những cơn mưa bóng mây. Gặm xong ổ bánh mì thịt, tôi thấy cổ khô ran, khát nước. Tôi lại mon men tới bên vọng gác, – Anh bộ đội ơi! Tôi xin phép đi sang bên kia đường để mua nước uống có được không? – Ngồi xuống đó! Ði là tôi bắn! Không có nước nôi gì hết! Nghe rõ chưa?
19 | Page Page19 Tới hai giờ chiều thì bụng tôi căng như cái trống, tôi lại mon men tới bên vọng gác, – Anh bộ đội ơi! Tôi xin phép vào nhà xí của trại để đi tiểu tiện có được không? – Cần gì phải vào nhà xí! Anh cứ ngồi xuống vạch cu ra mà đái! Không ai thèm nhìn anh đái đâu! Cố nín thêm chừng một giờ sau nữa, tôi cũng đành phải mở nút quần. Tôi nhắm mắt, đái đại ngay trên lề cỏ bên đường. Ðồng hồ tay của tôi chỉ đúng 4 giờ chiều thì tên cán bộ mới xuất hiện. Vừa phóng lên yên sau, y đã hối, – Khẩn trương lên! Họp hành gì mà lâu quá! Tôi đói lắm rồi! Anh mau mau chở tôi về lại Tòa Ðô Chánh! Mau lên! Mau lên! Trên đường về, thằng Việt-Cộng không còn kê súng lên đầu tôi nữa. Vì đã biết đường đi, nên lúc về tôi không bị lạc. Tới cổng Tòa Ðô Chánh tên cán bộ xuống xe, rồi mở cái cặp da, – Anh tính tiền xe ôm thuê bao cả ngày hôm nay là bao nhiêu? Tôi sẽ trả cho anh! Anh làm việc có lương tâm lắm! Tôi tuyên dương anh đấy! Thì ra thằng Việt-Cộng này tưởng lầm tôi là một anh chạy xe ôm! Tôi nói, – Anh nhầm rồi! Tôi không phải xe ôm! Nhưng thôi! Anh không cần trả tiền tôi, mà hãy ký cho tôi cái giấy chứng nhận rằng anh đã trưng dụng tôi chạy xe đưa anh đi công tác suốt ngày nay để tôi xuất trình cho Ủy Ban Quân Quản Thành Phố. Nghe tôi nói, tên cán bộ hơi ngẩn người ra một giây, rồi nhẹ giọng, – Vậy thì xin lỗi anh nhé! Ðược rồi! Tôi sẽ ký giấy làm chứng cho anh.
20 | Page Page20 Nói xong, y mở cái cặp da, rút ra một quyển sổ công lệnh của Quân Khu 7, tờ nào cũng có con dấu đỏ chót. Y xé một tờ rồi ghi trên đó mấy chữ: “Chứng nhận đã sử dụng nhân công này từ 8 giờ sáng tới 5 giờ chiều ngày 20 tháng 5 năm 1975” Y ký tên rồi đưa tờ công lệnh cho tôi, – Ði đi! Yên chí sẽ không có ai làm khó dễ anh đâu! Quá 5 giờ chiều tôi mới tới cái lều bán cháo lòng của chị Bền. Thấy tôi, chị Bền lo lắng hỏi, – Ủa! Sao giờ này chú mới tới? Trưa nay anh Bền và mấy ông phòng “ZÉT” không ra ăn cơm. Chú vào trong đó xem có gì lạ thì ra báo cho chị hay. Tôi khóa xe rồi đi vào trại. Khu doanh trại của bộ đội vẫn sinh hoạt bình thường. Dãy nhà ngang là khu tiếp quản chỉ còn một phòng Y là có người. Phòng Z cửa cũng mở toang, cái bảng carton 40X40 cm có chữ “Z” đã bị gỡ bỏ, trong phòng không thấy bóng dáng ai. Tôi ghé phòng Y hỏi thăm một người đàn bà đang ngồi trước cửa, – Chị ơi! Chị làm gì ở đây? Sao hôm nay phòng nào cũng trống không vậy chị? Bà con đi đâu hết rồi? Người nữ quân nhân (hay công chức) trả lời, – Tôi là nhân viên của Ty Cảnh Sát tỉnh Bình-Thuận bị tập trung ở phòng Y. Hôm nay xe đã tới chở các ông, các bà ở mấy phòng khác đi sạch trơn. Cán bộ canh gác cũng lên xe đi hết, chỉ bốn người của Quân Khu 6 chúng tôi còn ở đây thôi anh ơi! – Mấy người ở phòng “Zét” đi lúc nào vậy chị?
21 | Page Page21 – Mấy ông phòng “Zét” tập trung từ sáng sớm, mãi tới hơn 3 giờ chiều họ mới bị còng tay đưa lên xe, chẳng biết đi đâu. Phòng Y và phòng Z ở sát vách nhau, vậy mà cả tuần lễ sau tôi mới biết phòng Y chứa những người bị gọi tập trung theo lệnh của Quân Khu 6. (Quân Khu 6 gồm các tỉnh Quảng Đức, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Tuy.) Tôi cám ơn chị nữ công chức Việt-Nam Cộng-Hòa rồi lên văn phòng chính của trại để hỏi cho rõ sự tình. Ngay cửa vào, tôi chạm mặt một cán bộ người Nam. Vừa nghe tôi xưng danh, hắn đã hét lên, – Anh là Vương Mộng Long hả? Anh đi đâu mà giờ này mới vác mặt tới đây? Xe của Quân Khu 5 chờ anh cả nửa ngày mà không thấy anh, họ đã khởi hành rồi! Anh đúng là thằng phá hoại! La hét xong, y quay vào trong ra lệnh, – Ðồng chí trực trại đem thằng này đi nhốt cho tôi! Thế là tôi bị còng hai tay dẫn tới góc rào, tống vào cái điếm canh bỏ trống nằm đằng sau một cái lô cốt lớn bên phải cổng trại. Tới 6 giờ chiều thì kẻng tan sở gióng lên. Mấy người bị quản thúc trong phòng Y lần lượt theo nhau đi ra cổng. Trong khi đó tôi ngồi bên song sắt ngó ra ngoài. Tôi không biết những bạn bè cùng phòng Z của tôi đã bị đem đi đâu. Nhưng cứ nghĩ tới câu nói mà tên cán bộ người Hải Hưng đã nói với tôi: “Nếu anh mà bị đưa về Quân Khu 5 thì khó toàn mạng đó! Có trốn được thì trốn đi! Cố gắng kín miệng, đừng cho ai biết tôi đã nói với anh điều này!” Tôi thấy số mình còn hên. Có khi phải bất đắc dĩ chạy xe ôm không công một ngày mà tôi đã được toàn mạng cũng nên.
22 | Page Page22 Ðúng 6 giờ 5 phút, tên cán bộ đã ra lệnh nhốt tôi chợt đi xăm xăm tới cửa điếm canh, – Anh đã cơm nước gì chưa? Nếu đói thì chờ đó! Chút nữa sẽ có người đem cơm cho anh ăn. Chợt nhớ tới cái giấy chứng nhận của tên Việt-Cộng ở Tòa Ðô Chánh, tôi nói với tên cán bộ, – Hôm nay tôi tới trễ là có lý do! Cán bộ hãy mở còng tay để tôi lấy bằng cớ cho cán bộ coi. Ðọc xong những chữ viết và săm soi kỹ cái dấu mộc đỏ, y gật gù, – Tôi sẽ giữ cái giấy chứng nhận này. Bây giờ tôi cho phép anh về. Sáng mai đúng 8 giờ anh phải tới trình diện tôi trong phòng trực. Năm phút sau tôi ra tới cổng, chị Bền đang chờ tôi, mặt chị không giấu nổi nỗi âu lo, – Chuyện gì vậy chú? Tôi vắn tắt kể cho chị biết lý do vì sao tôi tới trễ và lặp lại những lời người nữ Cảnh Sát tỉnh Phan-Thiết đã nói với tôi cho chị nghe. Ngày 21 tháng 5 tôi gửi xe sau quán của chị Bền rồi vào văn phòng chính của trại. Ở đây đã có bốn người, ba nam, một nữ của phòng Y ngồi chờ sẵn. Năm chúng tôi là những người còn sót lại sau cùng của đợt tập trung ngày 11 tháng 5 năm 1975 của Ủy Ban Quân-Quản Thành Phố Sài-Gòn, Gia-Ðịnh. Sau này tôi mới hay, hôm qua, 20 tháng 5 là thời hạn chót để các đơn vị địa phương tới tiếp nhận người.
23 | Page Page23 9 giờ sáng chúng tôi được lệnh lên xe. Tôi lựa một chỗ ngồi bên trái, đằng sau xe để khi ra tới đường Lê Văn Duyệt tôi có thể vẫy tay báo hiệu cho chị Bền. Xe vừa ra tới cổng, tôi đã thấy chị Bền và đứa con gái lớn của chị đứng bên lề vẫy tay. Tôi chắc mẩm rằng, thế nào chiều nay gia đình tôi cũng sẽ nhận được tin tôi bị đưa đi xa rồi. Chúng tôi được chở đi quanh co một hồi rồi đậu trước khám đường Chí - Hòa. Tên cán bộ trưởng toán ra lệnh cho chúng tôi xuống xe rồi dẫn chúng tôi đi vòng vòng một lúc sau thì chui vào một cái sân cỏ nhỏ. Y bảo chúng tôi đứng chờ nơi sát cổng, còn y thì ôm một tập hồ sơ đi vào phòng trực. Tôi thấy dưới hiên một dãy nhà có vài người đứng chen chúc nhau. Trong số những người đang đứng lố nhố đó, tôi nhìn mặt được ba ông Biệt Ðộng Quân là Hồ Văn Hòa, Lương Ðình Chi và Nguyễn Hiệp. Tôi giơ tay vẫy họ, họ vẫn tỉnh bơ, có lẽ họ không nhận ra tôi. Sau mười phút đợi chờ, tên cán bộ trưởng đoàn hối hả đi ra, y ngoắc tay cho chúng tôi đi theo. Tới xe, y lớn tiếng nói với tên Việt-Cộng tài xế, – Hết chỗ rồi! Chúng nó không nhận! Mình đi Quang Trung! Xe nổ máy chạy ra ngoại ô Sài-Gòn, hướng về Trung Tâm Huấn Luyện Quang-Trung. Tới cổng Trung Tâm Huấn Luyện Quang-Trung tên cán bộ trưởng đoàn lại lếch thếch ôm cái cặp đi vào. Lần này chúng tôi không được xuống đất, mà phải ngồi yên tại chỗ. Mười phút sau thằng Việt-Cộng lại đi ra, lại ban lệnh cho thằng tài xế,
24 | Page Page24 – Hết chỗ rồi! Chúng nó không nhận! Mình về Hoa Lư! Trưa hôm đó chiếc GMC chở chúng tôi ngừng bánh trước một tòa nhà khá lớn nằm đối diện với sân vận động Hoa Lư trên đường Ðinh Tiên Hoàng. Vị trí này là cơ ngơi của một bộ gì đó tôi không nhớ, nay là chỗ đóng quân tạm thời của một đơn vị trực thuộc Quân Khu 7 CộngSản. Trước sân có vài chiếc xe quân sự đang đậu. Tên cán bộ dẫn giải ôm cặp hồ sơ đi vào cổng, mười phút sau lại đi ra. Lần này y cho chúng tôi xuống xe. Chỉ tay về hướng căn phòng cuối dãy nhà, y ra lệnh, – Các anh chị vào nghỉ trong đó, chờ phương tiện đi Quân Khu Ngoài! Tôi nghĩ: “Quân Khu Ngoài chắc là Quân Khu 5 và Quân Khu 6” Ngay khi đó, hai cán bộ Việt-Cộng khác từ sau khu dinh thự tiến ra vẫy tay gọi tên trưởng toán dẫn giải; rồi cả ba chụm đầu vào nhau bàn tán. Mấy phút sau, ba tên này vừa nhìn về phía chúng tôi vừa viết viết, ký ký cái gì đó trên một mảnh giấy. Cuối cùng, một thằng già Nghệ-Tĩnh bước tới trước mặt chúng tôi. Y hắng giọng “khạc! khạc!” vài ba cái rồi nói, – Tôi đã ký nhận danh sách của các anh chị. Các anh các chị cứ ở tạm đây. Hôm nào có người ở Quân Khu Ngoài vào nhận, tôi sẽ cho các anh các chị đi. Bây giờ các anh các chị có thể về nhà, sáng mai đúng 8 giờ phải có mặt ngay chỗ này! Nghe được câu này, tôi khoan khoái thở ra: “Thế là chưa sao! Chưa sao!” Xế chiều, tôi mò về tới quán của chị Bền. Tôi kể cho chị hay diễn biến chuyện đã xảy ra trong ngày. Chị gật gật đầu,
25 | Page Page25 – Như vậy chú còn hên hơn anh Bền! Không rõ giờ này anh Bền ở đâu? Chắc không lâu nữa chú sẽ bị chở đi gặp anh Bền. Gặp anh Bền, chú nhớ nói với anh ấy rằng, vợ con anh ấy suốt ngày cầu Trời Phật phù hộ, độ trì cho anh ấy. Vợ con anh ấy vẫn mong đợi từng ngày để gặp lại anh ấy! Chị Bền đưa hai bàn tay lên vuốt mặt, nước mắt đã rơi, chị tôi không nói thêm được lời nào nữa…
26 | Page Page26 Hôm đó tôi về tới nhà sớm hơn mọi ngày. Vợ chồng con cái chở nhau trên chiếc Honda đi quanh phố một vòng mà thấy trong lòng thật là vui, quên hết muộn phiền, lo âu. Từ ngày 22 tháng 5 tôi không còn dùng Honda để làm phương tiện di chuyển nữa; tôi tới sân vận động Hoa Lư theo hai tuyến đường xe Lamb. Vì nếu tôi tiếp tục dùng Honda mà bất chợt người ta bắt tôi đi, thì gia đình tôi làm sao hay biết mà đi tìm xe? Vả lại cái sổ chủ quyền của chiếc xe lúc nào cũng phải nằm trong túi người lái nó. Lái xe mà không có sổ chủ quyền, gặp các trạm kiểm soát giao thông thì xe sẽ bị tịch thu ngay. Người nhà có tìm ra xe mà không có sổ chủ quyền thì cũng bó tay. Trong thời gian gửi xe ở quán cháo lòng của vợ anh Bền, tôi cũng gửi chị Bền cái sổ chủ quyền chiếc Honda của tôi. Ðược cái là vấn đề kiểm soát giờ giấc của bọn Việt-Cộng này cũng rất dễ dãi, không chút khắt khe. Chúng tôi có tới trễ, tới muộn nửa giờ, một giờ, cũng không ai làm khó dễ gì. Hàng ngày chúng tôi chỉ cần có mặt ký tên trên sổ điểm danh một lần, rồi muốn đi đâu thì đi, lâu lâu lại tạt về phòng cho có mặt. Gần tới cuối tháng chúng tôi có thêm hai ông bạn mới. Hai ông này là hai ông thiếu tá khóa 10 Ðà Lạt; một ông làm Trưởng ty Cảnh-Sát, một ông làm Trưởng ty Chiêu-Hồi. Chẳng rõ các ông này do cơ quan nào mang tới gửi ở đây. Chắc hai vị này cũng là những người đang chờ bị bốc đi như chúng tôi. Mãi hai ngày sau tôi mới biết ông Trưởng ty Cảnh-Sát tên là Nguyễn Hồ Ðịch, còn ông Trưởng ty Chiêu-Hồi tên là Trần Hướng Trung. Một buổi trưa tôi rủ hai ông đàn anh Võ-Bị tản bộ ra ngã tư ăn bún bò. Khi chúng tôi quay về thì thấy bốn người Quân Khu 6 đang tụ họp trong văn phòng để làm việc gì đó. Lúc trở ra mặt người nào người nấy đều có vẻ tươi vui. Chúng tôi đang chuẩn bị đi về, nên không kịp hỏi han xem có chuyện gì đã xảy ra. Sáng hôm sau thì bốn người bạn này không xuất hiện nữa.
27 | Page Page27 Thấm thoát đã qua đầu tháng 6, qua tin truyền đi trên Truyền Thanh và Truyền Hình thì Ủy Ban Quân Quản Thành Phố đã ra thông cáo rằng sĩ quan cấp thiếu tá trở lên sẽ phải trình diện đi học tập cải tạo tại vài địa điểm trong Sài-Gòn. Tên Việt- Cộng thường ngồi nhận chữ ký hằng ngày của chúng tôi cho chúng tôi biết rằng từ nay Quân Khu 7 sẽ không cho phép các Quân Khu khác tới nhận người nữa. Như thế là chúng tôi không còn phải lo lắng chuyện sẽ bị chuyển giao cho các Quân Khu Ngoài. Y nói, chúng tôi chỉ cần có mặt ở đây vào ngày các lớp học tập khai giảng thì đơn vị này sẽ cung cấp phương tiện để đưa chúng tôi tới trường, tới lớp. Y nhắc nhở chúng tôi nhớ chuẩn bị đem theo áo quần cùng những vật dụng cần thiết như kem đánh răng, bàn chải để tiện dùng trong thời gian một tháng học tập xa nhà. Cũng từ ấy, chúng tôi có thể chia phiên nhau, một người có mặt, hai người kia ở nhà. Ba chúng tôi đều biết địa chỉ của nhau. Do đó, người trực có thể đi kêu hai người kia nếu có chuyện gì cần gấp. Tên cán bộ quản chế cho chúng tôi biết rằng các trung tâm sẽ nhận người đăng ký từ ngày 13 tới 15 tháng 6 năm 1975. Chúng tôi sẽ được chở tới trung tâm vào ngày cuối, tức là 15 tháng 6 để khỏi phải chờ lâu tại trung tâm trước khi tới địa điểm học tập. Ðúng 12 giờ trưa ngày 15 tháng 6 năm 1975 tôi và hai ông đàn anh được đưa lên xe để di chuyển tới các trung tâm tiếp nhận. Xe chạy thẳng một lèo tới Trường Trung Học Lasan Taberd thì ngừng, tôi bị gọi xuống. Tên cán bộ hướng dẫn đem tôi vào văn phòng của trường, giao nạp tôi cho một sĩ quan Cộng-Sản. Cầm cái biên nhận tù binh, tên cán bộ dẫn giải bắt tay tôi rồi nói, – Mừng anh! Chúc anh học tập tốt, lao động tốt để sớm về sum họp với gia đình.
28 | Page Page28 Sau đó tôi được một tên bộ đội dẫn lên lầu để nhập bọn cùng vài sĩ quan cấp thiếu tá đã trình diện sáng nay; vì vậy tôi không rõ hai ông thiếu tá khóa đàn anh của tôi bị đưa tới trung tâm nào. Mãi tới sáu năm sau, 1981 tôi mới gặp lại hai vị này ở Trại Z30C Hàm-Tân, Thuận-Hải. Từ 15 tháng 6 năm 1975 tôi bắt đầu một chuyến đi xa dài ngày… Nửa năm đầu, từ tháng 6 năm 1975 tới giữa tháng 10 năm 1975 tôi bị giam tại trại Long-Giao. Qua một tháng sống đời tù đày, tôi bắt đầu có ý định vượt ngục. Tôi đã bàn chuyện trốn trại cùng hai ông thiếu tá cựu quận trưởng, nhưng giờ chót hai ông này thối chí, nên tôi đành phải huỷ bỏ mưu đồ. Nửa năm kế đó tôi bị chuyển về trại giam Suối Máu, Tam-Hiệp, BiênHòa, chờ ngày bị đưa ra Bắc. Hai tuần lễ sau ngày bị đưa ra đất Bắc, nửa đêm 8 tháng 8 năm 1976, tôi vượt ngục lần đầu. Trải qua mười ngày lặn lội trong rừng dưới cơn bão số 6, tôi và người bạn đồng hành bị bắt lại, bị cùm, bị đánh đập, khảo tra, rồi được cho về Ðội 11, Trại 4, Liên Trại 4 để tiếp tục lao động. Một hôm trời giăng giăng mưa phùn, tôi và bạn tù đi cấy lúa vần công cho Thôn Nam Xã Cẩm-Nhân, Yên-Bình, Yên-Bái thì thấy hai ông tù cải tạo khiêng một cái võng có người nằm bên trong. Cái võng được phủ bằng chiếc mền Trung Cộng màu đỏ. Theo sau cái võng là một ông tù đeo cái balô, có lẽ trong balô là tài sản của người nằm trên võng. Có một vệ binh Việt-Cộng đeo AK đi canh chừng đằng sau ông tù đeo balô. Chắc mấy người này đang đưa một ông tù bệnh nặng lên bệnh xá của liên trại để chữa trị. Tôi ngừng tay cấy, lớn tiếng hỏi, – Ê! Ai đó? Các cha?
29 | Page Page29 Ông tù mang ba lô liền lớn tiếng đáp lời, – Tước! Tước rằn ri! – Phải Nguyễn Ðỗ Tước Biệt Ðộng Quân không? – Ðúng rồi! – Bệnh gì vậy? – Kiết lỵ! Chiều hôm đó cái võng lại quay về, vẫn có chiếc mền đỏ Trung Cộng phủ bên trên. Tôi lại hỏi, – Hết bệnh chưa? Ông tù mang ba lô lại đáp lời, – Chết rồi! Tôi chỉ còn biết ngậm ngùi đứng nhìn theo bóng chiếc mền đỏ đi xa dần về hướng Trại 8 nơi Ðèo Lũng Ngàn. Ngày xưa, trước tôi, Trung tá Nguyễn Ðỗ Tước đã là Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân ở Pleime. Tết Dương Lịch 1978 vừa đi qua thì tôi vượt ngục lần thứ hai. Sau hai tháng lặn lội trong rừng, chưa vượt khỏi biên giới Việt-Lào, tôi lại bị bắt. Thất bại lần này, qua những trận khảo đả dã man của kẻ thù mà tôi không thành người tàn phế cũng là nhờ phúc đức ông bà đã che chở cho tôi.
30 | Page Page30 Năm 1981 tôi bị chuyển trại về Nam, trại tù mới có tên Z30C Hàm-Tân, Thuận Hải. Rồi một sớm tinh mơ cuối năm 1984 tôi vượt ngục lần thứ ba. Vừa nhảy khỏi rào trại, tôi đã bị một vệ binh túm được. Lạ lùng một điều là thằng Việt-Cộng này đã không bắn tôi, không bắt tôi, mà chỉ xua tay ra dấu cho tôi chui vào sân trại trở lại. Ghìm súng trước ngực tôi, y ra lệnh: “Anh Long không được đi! Trong giờ tôi gác mà anh trốn thoát thì tôi sẽ vào tù thay anh! Vào đi! Vào đi! Anh không chịu chui vào thì tôi phải bắn!” Nghe thế, tôi bèn nhanh nhẹn chui vào trong rào trở lại. Ai ngờ, một tuần lễ sau ngày đó thì tên Công An vệ binh Việt-Cộng này đã cùng một ông tù cải tạo rủ nhau vượt biên. Họ trốn trong khi tên Công An dẫn ông cải tạo viên đi kiếm củi! Có lẽ hai người này đã an vui sinh sống trên đất Hoa-Kỳ. Cuối năm 1985 tù cải tạo trại Z30C được tha gần hết, gần chục người sau cùng, trong đó có tôi, bị chuyển sang trại Z30D cũng ở Hàm-Tân, Thuận-Hải; trại này còn có tên là Trại Thủ-Ðức. Tôi gặp lại ông Lương Ðình Chi và anh Huỳnh Cẩm Lường ở trại này. Tại đây, chúng tôi tiếp tục bị cưỡng bức lao động cật lực cả ngày lẫn đêm. Khoảng trung tuần tháng 12 năm 1987, sau một ngày làm công tác đào ao thông tầm, ông Lương Ðình Chi tìm gặp tôi trong sân. Ông Chi ôm ngực, nhăn nhó, – Long ơi! Nhờ chú cạo gió cho anh. Ngực anh đau quá, thở không được.
31 | Page Page31 Tôi dẫn ông về phòng, nhờ bác Mậu già trực buồng xoa dầu, cạo gió, nắn xương cho ông. Hôm sau ông Chi được cho vào nằm trong bệnh xá, không phải đi lao động. Bệnh tình của ông Chi ngày một tăng, ông không ăn được, không thở được. Trước lễ Giáng Sinh năm 1987 thì Việt-Cộng cho ông Chi về điều trị tại gia; sang năm 1988 tôi cũng được thả. Tôi được về, nhưng anh bạn Trung sĩ Thông Dịch Viên Huỳnh Cẩm Lường của tôi vẫn còn bị giữ trong trại. Về tới nhà hôm trước, hôm sau tôi tới góc đường Nguyễn Biểu, Trần Hưng Ðạo để thăm ông bạn già Lương Ðình Chi, ông Chi đang nằm liệt giường, liệt chiếu. Tháng sau thì ông Chi qua đời. Cũng trong thời gian này tôi tái ngộ cựu Thiếu tá Biệt Ðộng Quân Hồ Văn Hòa, anh Hòa đang làm chủ một xe bán nước sinh tố trên đường Lê Thánh Tôn. Anh Hòa cho tôi hay rằng ngay tối 11 tháng 5 năm 1975 anh và vài chục người khác bị đưa xuống tàu thủy chở ra Côn Ðảo. Không biết vì lý do gì nửa đường, tàu có lệnh quay trở lại. Về lại Sài-Gòn, anh Hòa bị đưa vào Lao Xá Chí-Hòa chờ ngày đưa đi cải tạo. Vì lý do đó mà sáng 21 tháng 5 năm 1975 tôi đã nhìn thấy anh ta đứng trong hiên Chí Hòa. Tới năm 1988, bạn bè mà tôi gặp trong sân Biệt Khu Thủ Ðô ngày 11 tháng 5 năm 1975 chỉ còn rất ít. Trong suốt 13 năm, từ 1975 tới 1988, trải qua bao nhiêu trại giam; ở đâu tôi cũng cố tìm tin tức những người bạn đã cùng tôi có mặt trong phòng “Zét” ngày xưa. Nhưng tới ngày tôi rời trại tù, 6 ông bạn của tôi vẫn bặt vô âm tín.
32 | Page Page32 Ít lâu sau ngày về tôi đạp xe qua khu doanh trại cũ của Biệt Khu Thủ Ðô để xem quán cháo lòng của bà vợ ông Huỳnh Thanh Bền có còn ở đó hay không. Thời 1988 khu vực này vẫn chưa có nhiều thay đổi, lều quán bên đường vẫn y nguyên, phố xá có vẻ còn tiêu điều hơn là trước ngày tôi bị dẫn lên xe đưa đi khỏi nơi đây. Quán cháo lòng ngày xưa được che bằng hai cái poncho ghép lại, nay được thay bằng một tấm vải nhựa dày. Nồi cháo bốc hơi ngày xưa nay được đổi thành nồi xôi đậu xanh, cũng bốc hơi. Tôi thấy người ngồi sau cái bàn vuông có hai cái ghế con là một bà già gầy guộc tóc bạc phơ. Nhưng tôi đoan chắc rằng người đó là vợ ông Trung sĩ Huỳnh Thanh Bền. Thấy tôi dừng xe chị Bền ngước mắt hỏi, – Ông khách cần mấy gói xôi? Muốn gói muối đậu chung với xôi hay là gói riêng? Tôi ân cần, – Chị Bền! Chị không nhận ra em sao? Long đây chị! Nghe vậy, chị Bền giật mình trợn mắt, – Cái gì? Ông khách là chú Long hả? Tới lúc nhận ra tôi rồi, chị Bền bật khóc, – Em về rồi hả? Em về lúc nào vậy? Em có gặp anh Bền không? – Em mới về mấy ngày thôi! Mười ba năm nay, đi tới trại nào em cũng dò hỏi, nhưng không có tin tức gi của anh Bền cả. Còn chị, từ ấy tới giờ chị có đi tìm anh không? Có nghe ngóng được gì không?
33 | Page Page33 Chị Bền kéo cái ghế con cho tôi ngồi, rồi lấy tấm vải nhựa phủ lên trên gánh xôi, làm như đã dẹp cửa hàng, không tiếp khách nữa, – Chuyện dài lắm chú ơi! Ðể chị từ từ kể cho chú nghe. Chị Bền bắt đầu kể chuyện bằng những âm thanh nghẹn ngào chan bằng những giọt nước mắt. Trong gần một giờ đồng hồ tôi đã được nghe toàn bộ câu chuyện đi tìm chồng của Chị Bền. Thì ra từ khi bị chuyển đi, tôi đã lấy lại cái thư mà tôi đã gửi chị Bền, nên chị không còn địa chỉ nhà tôi, do đó chị không biết tìm cách nào mà liên lạc được với vợ con tôi. Năm cái thư của những bạn phòng “Zét” đã được con gái anh Bền gửi đi ngay sau ngày các anh ấy lên xe. Bốn gia đình nhận thư đã không hồi âm, riêng người vợ của Thiếu úy Bổn mãi ba tháng sau mới liên lạc với con gái anh Bền. Trong thư, chị Hà, vợ anh Bổn đã hẹn ngày để vào thăm chị Bền. Hôm đó chị Bền không ra quán, ở nhà đón chị Hà. Chị Hà không đội khăn tang, nhưng ghim trên ngực áo một miếng vải đen, đó là dấu hiệu chị có thân nhân vừa quá vãng. Bước vào nhà, chưa kịp ngồi xuống ghế, chị Hà đã vừa mếu máo vừa nói, – Các anh ấy chết hết rồi! Các anh ấy bị xử tử, trôi sông hết rồi! Nghe được câu này thì vợ Trung sĩ Huỳnh Thanh Bền ngã ra ngất xỉu. Cạo dầu, đánh gió cả giờ sau mà chị Bền vẫn phải nằm trên giường không dậy nổi. Chị Hà đành kể tiếp phần sau câu chuyện cho cháu Thoa nghe.
34 | Page Page34 Thì ra cơ mưu thả thư rơi của ông Thiếu úy Thám Báo đã không thành công. Những cái pháo tép có vỏ ngoài quấn bằng những tờ giấy bạc 500 đồng của Ngân-Hàng Quốc-Gia Việt-Nam phát hành đã bị tịch thu ngay khi các ông bạn tôi vừa đứng vào hàng tập họp trong sân để kiểm tra an ninh trước khi lên xe. Chiếc Molotova chở sáu ông phòng “Zét” đã chạy thâu đêm và suốt ngày hôm sau thì tới Qui-Nhơn. Họ được giao cho Ủy Ban Thanh Lọc của Quân Khu 5. Ngày kế đó, họ bị đưa vào một khu vườn cây cối um tùm, nằm sát bờ sông Lại Giang gần chân cầu xe lửa Bồng Sơn. Nơi này có mấy dãy nhà tôn vách ván kín mít. Sáu người bị trói tay và bị nhốt trong một căn phòng tối như bưng. Phòng giam này do ba cán binh Việt-Cộng luân phiên canh giữ suốt đêm ngày. Liên tiếp một tuần lễ, ngày nào họ cũng bị áp giải lên một phòng chứa đầy dụng cụ tra tấn để các chuyên viên khai thác thẩm vấn và chấp cung. Qua ngày thứ tám thì sáu ông cựu quân nhân Việt-Nam Cộng-Hòa đã kiệt lực, không ai đứng dậy nổi. Ngày thứ chín họ được ở yên trong phòng. Tới tối ngày thứ mười thì có bốn tên Việt-Cộng từ Ủy Ban Thanh Lọc Quân Khu 5 tay thủ AK 47 lầm lì xuất hiện trước phòng giam. Bọn này gọi tên, ra lệnh cho người tù lớn tuổi nhứt là Trung sĩ Huỳnh Thanh Bền bước ra ngoài. Tới cửa, trước khi bị dẫn đi, ông Bền bị trói chặt hai tay bằng một sợi dây dù, hai mắt ông bị bịt bằng một vuông vải đen, miệng ông bị nhét một cái giẻ to. Rồi cứ thế, mỗi tối phòng giam lại hụt đi một người. Anh Thiếu úy Thám Báo Tỉnh là người bị trói tay, bịt miệng, bịt mắt dẫn đi sau cùng.
35 | Page Page35 Chị Hà biết được chuyện này là do một trong ba tên cán bộ Cộng-Sản canh giữ phòng giam kể lại cho chị nghe. Y là người đã chứng kiến những gì đã xảy ra từ ngày đầu tới ngày cuối. Số là, khi ra đi, anh Bổn đã chuẩn bị sẵn mười cái khoen vàng một chỉ. Anh luồn những cái khoen vàng đó trong lưng quần. Sau khi bị khảo đả ngày đầu, anh Bổn vội rút hết vàng ra mua chuộc một tên cán bộ bảo vệ. Tên này cùng quê Phú-Phong, Bình-Ðịnh với anh Bổn. Y đã cố gắng giúp anh khai bệnh tiêu chảy lúc nửa đêm. Anh được đưa ra bờ sông để đại tiện; thừa dịp này anh có thể nhảy xuống nước mà lặn đi. Nhưng mỗi lần anh ra ngoài, đều có hai vệ binh đi theo. Tên vệ binh thứ nhì đã ranh ma, cột chặt một tay anh vào cổ tay nó, do đó đã có hai dịp may ngồi bên bờ nước mà anh Bổn vẫn không trốn được. Vài ngày sau, biết mình đã cùng đường, anh Bổn kể hết mọi chuyện đã xảy ra từ ngày anh bị tập trung ở Sài-Gòn cho tới ngày anh bị đưa về Bình-Ðịnh cho tên Việt-Cộng gốc Phú-Phong nghe. Anh cho y địa chỉ gia đình anh ở Qui-Nhơn và viết mấy chữ nhắn người nhà anh đền ơn cho y, nếu y tìm tới gặp vợ anh và kể cho chị ấy biết hết sự tình. Thời gian này chị Hà đang ở nhà cha mẹ đẻ trong thành phố Qui -Nhơn. Một tuần lễ sau ngày anh Bổn bị trôi sông, tên cán bộ người PhúPhong đã tới nhà gặp chị Bổn. Tên Việt-Cộng kể rằng ngày cuối cùng chỉ còn một mình anh Bổn trong phòng, anh vẫn bình tĩnh như thường, anh nhờ y nhắn với chị Hà một câu: “Kiếp này duyên tình của vợ chồng mình nửa đường đứt đoạn, đôi ta chỉ biết hẹn gặp nhau ở kiếp sau!” Y cũng tiết lộ cho chị Hà biết lý do vì sao mỗi đêm Ủy Ban Thanh Lọc Quân Khu 5 chỉ đem một người đi bắn rồi đạp xác xuống sông Lại Giang.
36 | Page Page36 Sở dĩ nhà cầm quyền Vịệt-Cộng chọn cách giết từng người như thế chỉ với mục đích tránh tai mắt của ngư dân quanh vùng. Lại Giang là con sông lớn, nước chảy không ngừng, nên chỉ vài giờ sau khi bị ném xuống nước, xác người bị thủ tiêu đã trôi tới biển Ðông. Nghe xong chuyện sáu anh em phòng «Zét» bị thủ tiêu, gia đình chị Hà đã bỏ công thuê người đi dò dẫm hỏi thăm dân cư ngụ hai bên bờ Lại Giang từ cầu Bồng-Sơn ra tới cửa biển An Dũ xem có xác chết trôi nào nổi lên không? Cả tháng sau không tìm thấy dấu tích gì, gia đình chị Hà đành bỏ cuộc. Tới tháng thứ ba, chị Hà mới vô tình lục ra cái thư của bà chị anh Bổn gửi ra từ Sài-Gòn, từ đó chị Hà có địa chỉ của vợ anh Bền. Từ sau lần gặp mặt đó, bẵng đi một thời gian dài, tới cuối năm 1979 chị Hà lại tái xuất hiện. Lần này chị tới từ biệt chị Bền để ra đi theo chương trình xuất cảnh bán chính thức. Chị Hà bước thêm bước nữa. Chồng mới của chị là một ông lớn tuổi, người Việt gốc Hoa. Chị Bền cho tôi hay cháu Thoa đã có gia đình, chồng cháu là con một ông đại úy chế độ cũ, ông ấy đã được tha về từ năm 1981. Chồng cháu Thoa đã nhiều lần bỏ công sức đi tìm người tù có tên Huỳnh Thanh Bền qua những trại giam của Quân Khu 5 như Tiên Lãnh, Bình Ðiền, Gia-Trung, Thuần-Hạnh, Củng-Sơn… vân vân, nhưng vô vọng. Có một lần, vào năm 1982, gia đình cháu Thoa được tin ông Bền bị giam ở Trại Z30 A nơi Ngã Ba Ông Ðồn và đang nằm chờ chết vì bịnh sốt xơ gan. Cả nhà ông Bền, gồm cả con trai, con gái, con rể, cùng với hai đứa cháu ngoại, kéo nhau lên Ngã Ba Ông Ðồn để xin gặp mặt ông lần cuối. Nhưng tiếc thay, khi gặp nhau mới vỡ lẽ ra, ông Huỳnh Thanh Bền này chỉ là một người trùng tên, trùng họ với ông Bền ở phòng «Zét» của trại Lê Văn Duyệt mà thôi. Thời gian sau khi tôi được thả thì tất cả tù nhân cải tạo còn lại đều bị tập trung về trại Z 30 D, ở Hàm-Tân. Tôi nói với cháu Thoa hãy lên đây hỏi thăm xem có ai tên là Huỳnh Thanh Bền hay không.
37 | Page Page37 Bạn cựu tù cải tạo tiễn Vương Mộng Long lên đường đi Mỹ – tháng 4 năm 1993 Chỉ một tuần sau tôi gặp lại chị Bền, chị gạt nước mắt rồi nói với tôi, – Chú ơi! Chẳng có ai tên Huỳnh Thanh Bền ở trại này! Bận rộn công việc làm ăn kiếm sống, nhưng tôi và một anh bạn gốc Thủy Quân Lục Chiến vẫn lâu lâu ghé thăm chị Bền. Gặp hai đứa em, chị vui mừng ra mặt, nói đủ thứ chuyện. Chị kể rằng ngày xửa, ngày xưa chị và anh Bền là con của hai ông địa chủ ở Cần Thơ. Hai ông địa chủ gả con, cưới vợ cho con mà chẳng thèm hỏi ý kiến con. Hai cô chiêu, cậu ấm này đều là dân học trường Tây, trường Ðầm, nhưng vẫn nghe lời phụ mẫu: “Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó!”
38 | Page Page38 Chị kể cho tôi nghe chuyện đám cưới nhà quê diễn ra như thế nào. Chị nói, ngày đưa dâu chị lo sợ lắm. Chị không biết ông chồng mình dáng dấp cao, thấp, béo, gầy, ra sao, tính tình hiền lành hay hung dữ, rồi chị che miệng cười, – Vậy mà chỉ ít lâu sau khi thành vợ, thành chồng, tụi này đã thương nhau dứt ra không nổi. Chị tâm sự, – Ảnh là tri kỷ của tui, còn tui cũng là tri kỷ của ảnh! Ảnh Solo Guitar hay lắm! Nhưng ảnh chỉ đờn cho mình tui nghe thôi! Hai đứa tui cứ tự ví mình như Bá Nha, Tử Kỳ. Ngày đám cưới, mẹ ảnh có cho tui một cành thoa bằng vàng, ảnh nói sau này có con gái thì ảnh sẽ đặt tên nó là cây trâm vàng để nhớ mẹ anh ấy. Vì thế, đứa con gái đầu của tụi tui có tên là Kim Thoa… Một hôm, tôi ghé thăm, chị cho tôi hay thằng con trai và đứa con gái út mới về làm ăn dưới Cần-Thơ, quê nội, còn chị thì dọn về ở với gia đình cháu Kim Thoa đâu đó vùng Thị Nghè. Tôi thắc mắc, – Giờ này mấy đứa nhỏ đã lớn khôn và có gia thất cả rồi, chị không còn phải lo lắng nuôi dạy chúng nó nữa. Sao chị không ở nhà nghỉ ngơi và trông cháu? Chị còn tiếp tục buôn bán kiếm tiền làm chi? Nghe thế, chị Bền nhìn tôi rầu rầu, – Chị đâu có cần nuôi ai! Chị chỉ nuôi hy vọng thôi! Chị ôm gánh xôi mỗi ngày ở đây chỉ vì chị coi chỗ này như một cái hộp thư. Biết đâu hôm nào đó có một ông của phòng “Zét” còn sống sót đi qua, thì chị sẽ có tin tức của anh Bền.
39 | Page Page39 Ngày 5 tháng 5 năm 1992 những người tù cải tạo sau cùng được trả tự do; một trong những người đó là Thiếu tướng Ðỗ Kế Giai, người đã chỉ huy tôi. Một tuần sau tôi tới tư gia của Thiếu Tướng Giai để thăm ông. Dịp này Tướng Giai đã nói với tôi, – Thế là từ nay tất cả anh em mình đều đã được đoàn tụ với gia đình. Tôi buồn rầu, nắm tay ông Tướng, – Không phải vậy đâu Thiếu tướng ơi! Còn nhiều anh em đã ra đi mà chưa thấy về! Trên đường về nhà, tôi đạp xe qua con đường xưa ghé thăm chị Bền. Chị vẫn còn ngồi chỗ cũ. Chị vẫn bán xôi. Chị vẫn chờ tin chồng. Chị hỏi tôi, – Em đi thăm ai về? Tôi trả lời, – Em vừa từ nhà Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai về, tiện đường ghé thăm chị. Ông Giai mới được thả tuần trước. Ông ấy là người sau cùng ra khỏi nhà giam. Nghe vậy, chị Bền thở dài, – Như thế thì anh Bền không về thật rồi! Anh ấy không về thật rồi em ơi! Chợt chị ngẩng mặt nhìn tôi, – Bây giờ là tháng 5, năm xưa anh Bền cũng ra đi vào tháng 5. Anh ấy không về, thì coi ngày anh lên xe cũng là ngày giỗ của anh! Chú có nhớ ngày anh Bền lên xe không?
40 | Page Page40 – Hôm đó là 20 tháng 5 năm 1975. – Hôm nay là ngày mấy rồi hả chú? – Dạ! Hôm nay là 12 tháng 5. Chị Bền bỗng hạ thấp giọng như tự nói cho một mình chị nghe, – Còn tám ngày nữa là tới ngày giỗ của anh. Anh Bền ơi! Em hẹn sẽ gặp anh đúng ngày hôm đó! Chờ em! Chờ em! Anh ơi! Anh ơi!… Nghe chị Bền buông những lời than não lòng như thế, tôi bèn an ủi chị, – Chị đừng quá bi thương, chị còn con, còn cháu. Chị hãy nhìn vào con, vào cháu mà quên đi những muộn phiền… Chị Bền mở to đôi mắt nhìn tôi, rồi nói với một giọng thật là tỉnh táo, – Chị ráng sống tới ngày hôm nay chỉ vì chị còn hy vọng. Sau đó chị đứng lên, xếp gọn quang gánh chuẩn bị đi về. Những lần qua đây sau ngày ấy tôi không còn trông thấy chị nữa. Một năm sau, tháng 4 năm 1993 gia đình tôi lên đường đi Hoa-Kỳ định cư theo diện H.O. Trước ngày đi Mỹ, tôi ra thăm Ðà-Nẵng lần cuối cùng. Trong chuyến đi này, tôi có dịp ngồi trên xe đò qua cầu Bồng-Sơn, Bình-Ðịnh. Chiếc xe già chở đầy khách, bò từ từ trên cây cầu dài, dưới sông nước cuồn cuộn đục ngầu. Nhìn những cụm lục bình trôi băng băng xuôi dòng, tôi chợt rùng mình, nhớ lại chuyện xưa.
41 | Page Page41 Tôi tin rằng ngày 20 tháng 5 năm 1975 Thượng Ðế đã ra tay cứu tôi thoát khỏi chuyến xe oan nghiệt chở tù binh đi Quân Khu 5, vì nếu Ngài không sắp đặt sẵn những điều đã xảy ra ngày hôm đó thì chắc chắn giờ này linh hồn tôi đã vật vờ đâu đây, dưới chân cầu BồngSơn hay trên sóng sông Lại Giang… VML Seattle tháng 5 năm 2021