Số 6: Bản đồ vịnh và cảng Camraigne [Cam Ranh] với con sông chảy qua.
Số 7: Bản đồ vịnh Nha Trang.
Số 8: Bản đồ bờ biển Nam Hà từ đảo Shala [?] tới cap Varelle [Đèo Cả, mũi
Đại Lãnh].
Số 9: Bản đồ những hải cảng Quan-Dai [Xuân Đài], Vung Lam [Vũng Lấm]
và Vung Chao [Vũng Chào].
Số 10: Bản đồ hải cảng Cù Mông, hải cảng Qui Nhơn.
Số 11: Bản đồ hải cảng Đà Nẵng, rút ở tác phẩm của lord Macartney.
Số 12: Bản đồ một phần sông Sài Gòn, từ tỉnh Sài Gòn ra tới cửa biển, của
phó đô đốc de Rosily, và bản đồ cảng Candiu [Cần Giờ?] (bản in).
Số 13: Bản đồ một phần biển Đông vẽ theo nhận xét của phó đô đốc de
Rosily, 1798 (bản in).
Số 14: Bản đồ vịnh Manillle và vùng chung quanh, theo nhận xét của phó đô
đốc de Rosily, 1798 (bản in). (Kergariou, t. 152-153).
Kergariou dù thất bại trong sứ mạng chính trị, cũng không uổng công đến
Việt Nam, vì ông đã đi thám sát bờ biển Việt Nam, bằng tập bản đồ của
Dayot, đã kiểm soát kỹ càng những địa danh nào viết sai tên, được Vannier
chỉnh đốn lại, và Kergariou đã xác định bản đồ Dayot có giá trị lớn. Sau này,
những tàu buôn, tàu chiến của Pháp, đều dùng bản đồ Dayot để đến, hoặc để
xâm phạm bờ cõi nước ta.
Vụ tàu Cléopâtre
Dưới thời Vương Chính Trùng Hưng (Restauration), ngoài chiến hạm
Cybèle, còn có những tàu buôn như La Paix và Henry của các hãng
Balguerie-Sarget và Philippon gửi tới VN trước. Đến 1819, hai hãng này còn
có hai tàu ba cột buồm đến Đà Nẵng. Sau đó, Philippon ngừng hẳn,
Balguerie-Sarget tiếp tục gửi các tàu: Larose, Neptune, Courrier de la Paix,
đến Việt Nam từ 1820 đến 1826. Chính quyền Pháp muốn làm tiếp công việc
Kergariou đã mở đầu, năm 1822, lại sai chiến hạm Cléopâtre, do đại uý
Courson de la Ville-Hélio điều khiển, đến Đà Nẵng.
Cléopâtre cập bến Đà Nẵng ngày 20/2/1822, Chaigneau đang giữ chức Đại
Lý của chính phủ Pháp tại Huế, kiêm Lãnh sự “bí mật” đối với kiều dân
Pháp (xem chương 22, Chaigneau II). Courson de la Ville-Hélio báo cho
Chaigneau biết ý muốn đến “chào vua”. Dĩ nhiên lần này Chaigneau cũng
không vận động được gì hơn Vannier và Kergariou lần trước.
Salles kể lại rằng: Ngày 4/3/1822, vua Minh Mạng ra chỉ dụ sai Chaigneau
đi đón Cléopâtre, với tư cách là quan của triều đình. Courson de la Ville-
Hélio ngỏ ý muốn “đến chào nhà vua với tư cách đại tá hải quân hoàng gia
Pháp”, nhưng, theo Salles, “ông Lãnh sự đã hết sức cố gắng, mà cũng không
thuyết phục được vua tiếp, thậm chí, nhà vua còn bắt ông trở lại Đà Nẵng
bằng đường bộ với “một đoàn quân từ Huế” như để đề phòng tàu Pháp tấn
công!” Rồi Salles kết luận: “Chính sách thân thiện của Minh Mạng với Pháp
là như thế đó!” (Salles, 87).
Chúng ta có thể tin việc này là thực, bởi Minh Mạng không những tiếp tục
con đường chính trị của cha, mà ông còn là nhà kiến trúc lớn, xây dựng
nhiều thành trì kiên cố ở khắp nơi trong nước (mà Cardière nhận là thành
Vauban do Pháp xây, xem chương 15, Cadière); việc bảo vệ bờ cõi là điểm
quan yếu của ông: cửa biển Đà Nẵng trở thành một pháo đài không xâm
phạm được, cũng là nhờ Minh Mạng. Khi Pháp đưa chiến hạm Cléopâtre đến
để thị uy, Minh Mạng sai Chaigneau đem quân ra đón, là một hành động
chính trị rất cao.
Chiến hạm Cléopâtre rời Đà Nẵng ngày 10/3/1822. Từ Paris, Bộ trưởng
ngoại giao, trong thư ngày 7/12/1822, khiển trách Chaigneau đã không
thuyết phục được Minh Mạng hết nghi ngờ nước Pháp (Salles, t. 88).
Sứ bộ John Crawfurd
Sáu tháng sau khi tàu Cléopâtre nhổ neo, tàu John Adam của Công Ty Anh-
Ấn cập bến Đà Nẵng ngày 14/9/1822, với John Crawfurd, đại diện hầu tước
de Hastings, toàn quyền Ấn Độ.
Chính quyền Anh, sau vụ Roberts, năm 1804, bỏ đi với lá thư cực kỳ vô lễ,
khiến vua Gia Long nổi giận, đã tìm cách trở lại dưới triều Minh Mạng, và
đổi thái độ: John Crawfurd không xin đất để mở thương điếm như trước, mà
chấp nhận được quyền tự do buôn bán như các quốc gia khác ở Á Châu, nên
được Minh Mạng tiếp đãi tử tế, cho về Kinh, tuy vẫn không được gặp vua.
Thực Lục, tháng 9/1822, ghi: “Tổng đốc Manh Nha Hố (tên đất) nước Anh
Cát Lợi là Hà Sĩ Định [Hastings] sai Cá La Khoa Thắc [John Crawfurd]
mang thư đến dâng phương vật (500 khẩu súng tay, một đôi đèn pha lê lớn).
Thuyền đến Đà Nẵng. Dinh thần Quảng Nam dịch thư dâng lên. Trong thư
chỉ xin thông thương, cũng như các ngoại quốc khác, không dám xin lập
phố để ở. Sai đưa đến Kinh. Cá La Khoa Thắc thành khẩn xin yết kiến.
Vua nói: “Hắn là người của Tổng Đốc phái đi, không phải do mệnh của
quốc vương”. Không cho. Những phẩm vật dâng biếu, cũng không nhận. Sai
hữu ty bàn định điều lệ về các nước đến buôn, làm thư của Thương Bạc bảo
cho biết [sau đó Thực Lục ghi một danh sách rất dài tên các sản vật nhập
khẩu và chiều kích các tàu thuyền của các nước vào các cảng, kèm với giá
thuế phải đóng, theo từng miền, từng nước].
Thưởng cấp cho rồi bảo về (thưởng tổng đốc Hà Sĩ Định ngà voi ba đôi, quế
10 cân, kỳ nam, trầm hương đều 5 cân, sừng tê bịt vàng 4 toà, đường phèn
300 cân; thưởng Cá La Khoa Thắc, ngà voi một đôi, quế 2 cân, sừng tê 1
toà, trầm hương 2 cân: thưởng người trong thuyền, bò, dê, lợn, đều 10 con,
gà vịt đều 100 con, gạo trắng, gạo đỏ, đều 50 bao, gạo nếp 20 bao. Các thứ
thưởng cho viên tổng đốc thì Cá La Khoa Thắc từ không dám lĩnh) (TL, II, t.
226).
Tuy không tiếp, nhưng thái độ của Minh Mạng rất cởi mở, vì Crawfurd trong
thư chỉ xin thông thương, cũng như các ngoại quốc khác, không dám xin lập
phố để ở. Crawfurd được dễ dàng đến Huế với vài người tuỳ tùng, hai ngày
sau mới gặp Chaigneau và Vannier, khi hai người này đến đón, dẫn
Crawfurd lại thăm quan Tượng binh [Nguyễn Đức Xuyên], từ đó gặp gỡ
luôn, trong các cuộc thương thuyết, hoặc được dẫn đi chơi trong kinh đô để
thấy sự kiên cố của hoàng thành (Salles, t. 89).
Theo Cadière, Crawfurd xếp thời gian này vào đầu tháng 10/1822. Ngày
3/10/1822, Chaigneau mời tất cả phái đoàn Anh và kiều dân Pháp tại Huế
đến dự tiệc ở nhà ông. Sau bữa tiệc, cả đoàn đi thăm phố chợ. Vannier ở khá
xa nhà Chaigneau: Ở làng Minh Hương gần Bao Vinh (Cadière, La Maison
de JB Chaigneau, Consul de France à Huế, BAVH, 1922, I, t. 30).
Cadière dịch lời Crawfurd kể: “Ngày 4/10: Ông Chaigneau tiếp đón chúng
tôi hôm qua trong dinh cơ của ông ở bên bờ sông. Bữa ăn hoàn toàn Pháp.
Ở nhà ông Vannier hôm trước, chúng tôi cũng được tiếp như thế. Tất cả
người Pháp ở chung quanh khu chợ đều được mời đến dự tiệc trong hai dịp
này. Một ông bác sĩ già đã làm việc trên tàu của ông de Suffren, cháu ông
Chaigneau và hai con trai của ông; các giáo sĩ Pháp ở xa, cách 15 dặm, nên
chúng tôi không gặp. Vợ ông Chaigneau là con một người Pháp rất đàng
hoàng, bà đã theo chồng sang Pháp cách đây ba năm. Bà Vannier người
Việt, nét mặt thanh tú, dáng dỏng cao, xinh đẹp như người miền nam châu
Âu. Cả hai ông và vợ đều mặc y phục Việt; họ phải theo tục lệ ở đây: tất cả
những người ngoại quốc nào muốn ở đây luôn cũng phải ăn mặc như vậy;
ngay cả người Tàu, nhất định không chịu, rồi cũng phải theo; vì đó là tự ái
dân tộc Việt. Họ cho rằng y phục ngoại quốc, dù thế nào chăng nữa, cũng
rất buồn cười, khêu gợi lòng hiếu kỳ, sẽ trở thành rất bực bội… Hai chủ
nhân đã tiếp chúng tôi hết sức lễ độ, hiếu khách, hoà nhã chân thành khó có
thể hơn được. Tôi vẫn giữ lòng biết ơn đối với sự ân cần mà họ dành cho
chúng tôi.” (Cadière, La Maison de Chaigneau, Consul de France à Huế,
BAVH, 1922, t. 30-31), và Cadière viết thêm câu: “… sự khen ngợi này,
không có gì khả nghi, đến từ ngòi bút của trưởng phái đoàn Anh vừa cướp
chỗ [supplanter] của Pháp ở Việt Nam”. (BAVH, 1922, t. 31).
Trích đoạn trên đây cho thấy rõ sinh hoạt của người ngoại quốc ở Việt Nam
đầu thời Minh Mạng: Không có chuyện “bế quan toả cảng”, thuyền tàu ngoại
quốc ra vào và kiều dân Pháp sinh sống bình thường, tuy phải theo phong tục
nước Việt. Pháp rất bực bội và ganh tỵ với phái đoàn Crawfurd. Tuy
Crawfurd được tiếp đón lịch sự nhưng cũng không xin được bệ kiến vua, vì
không mang thư của Anh hoàng, nhưng triều đình thoả thuận cho người Anh
tự do buôn bán như người Hoa, ở Sài Gòn, Đà Nẵng, Hội An, Huế, trừ Hà
Tiên và Kẻ Chợ tức Hà Nội. Sứ mệnh coi như thành công và Crawfurd có
cảm tưởng triều đình đã dịu bớt nghi ngờ nước Anh.
Sự kiện này được coi là thành công của chính phủ Anh, càng làm cho Pháp
khó chịu về sự thất bại của Chaigneau. Cadière cho rằng Anh đã “cướp” chỗ
của Pháp ở Việt Nam. (Cadière, La Maison de Chaigneau, Consul de France
à Huế, BAVH, 1922, t. 31).
Sau vụ Crawfurd, Chaigneau và Vannier càng thêm chán nản. Ngày
9/12/1822, linh mục Taberd viết cho một người bạn: “Hai ông này chán ở
đây rồi, muốn trở về Pháp”. Chaigneau cũng viết cho linh mục Baroudel
ngày 23/5/1823: “Tôi sẽ lấy tàu Larose về Pháp trong kỳ gió mùa sắp tới”
(Salles, t. 90).
Tàu Thétis
Ba năm sau vụ tàu Cléopâtre và sau khi Chaigneau, Vannier đã về Pháp vĩnh
viễn, Pháp gửi chiến hạm Thétis chở 44 đại bác và 300 thuỷ binh do
Bougainville điều khiển, đến Đà Nẵng từ 12/1/1825 đến 17/2/1825, với
nhiệm vụ “thuần tuý hoà bình và che chở việc buôn bán”. Bougainville cũng
được tiếp đãi đúng mức, nhưng cũng không được gặp vua. Ông kể lại trong
hồi ký: thuỷ thủ đoàn được dân chúng tiếp đãi niềm nở, tuy nhiên khi ông
xin được tiếp kiến để dâng thư của Pháp Hoàng Louis XVIII, vua nước Nam
từ chối không nhận, lấy cớ là thư của Pháp Hoàng viết bằng tiếng Pháp và
hiện nay, sau khi Chaigneau và Vannier đi rồi, trong triều không còn ai biết
tiếng Pháp để dịch thư nữa.
Đó chỉ là lý do có tính cách ngoại giao của Minh Mạng, sự từ chối này bắt
nguồn từ một nguyên nhân khác, Thực Lục, tháng 1-2/1825, ghi: “Nước Phú
Lãng Sa sai người đem quốc thư và phẩm vật đến xin thông hiếu. Tàu đến
Đà Nẵng, dinh thần Quảng Nam đem việc tâu lên.
Vua bảo rằng: “Nước Phú Lãng Sa cùng nước Anh Cát Lợi thù nhau. Năm
trước, nước Anh Cát Lợi nhiều lần dâng lễ, trẫm đều từ chối không nhận,
nay chẳng lẽ lại cho Phú Lãng Sa thông hiếu! Song nghĩ khi Đức Hoàng
Khảo ta bước đầu bôn ba từng sai Anh Duệ Thái Tử [hoàng tử Cảnh] sang
nước họ, cũng có ơn cũ, nếu vội cự tuyệt thì chẳng phải là ý mến người xa”.
Liền sai làm thư của Thương Bạc [liền sai quan Thương Bạc viết thư] và
thưởng cho mà khiến về. Quốc thư cùng lễ vật thì không cho trình dâng”
(TL, II, t. 388).
Như thế, trước bối cảnh nước Tàu bắt đầu bị liệt cường xâu xé, chính sách
ngoại giao của Minh Mạng rất rõ: Không muốn gây sự cạnh tranh giữa hai
cường quốc Anh-Pháp, nhưng kiên trì giữ độc lập và toàn vẹn lãnh thổ,
không cho ai một tấc đất nào, dù chỉ là để làm “thương điếm”.
Lời đầu và lời cuối cho một cuốn
sách
Là người ngoại đạo đối với sử học, khi định viết cuốn sách này, những gì
biết được về thời Gia Long của tôi không quá những điều đã học trong Việt
Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, còn những kiến thức thu lượm được qua
sự đọc về sau, cũng chưa xoá nổi cái án mà người Việt dành cho nhà vua qua
công thức: “Gia Long cõng rắn cắn gà nhà”.
Hơn 50 năm sống ở Pháp, cho phép tôi nhìn người Pháp một cách công bằng
hơn, tức là nhìn họ như một thực thể con người, không phải là bọn “thực dân
tàn ác”, cũng không phải là một dân tộc “cao” hơn, giỏi hơn chúng ta về mọi
mặt, một sự “cao sang” của người Âu, người da trắng, mà chúng ta muốn mà
không đạt nổi, đã biến thành cách lập ngôn “như Tây”.
Ở Pháp, tôi mới hiểu ra rằng: Chỉ khi mặc cảm thấp hèn của người dân thuộc
địa bị tiêu diệt đi rồi, ta mới có thể nhìn người Pháp một cách bình thường,
và điều tra lại lịch sử Pháp-Việt một cách thẳng thắn hơn. Cuốn sách này
nằm trong mục đích đó.
Đề tài là tìm lại công trạng đích thực của những người Pháp đến giúp Gia
Long, có nghiã là phải tìm xem những người Pháp ấy đã sống, đã tham dự
vào các sự kiện lịch sử xảy ra trong thời kỳ Gia Long khởi nghiệp như thế
nào, họ đã để lại những công trình gì, họ đã lập được bao nhiêu chiến công?
Sự khảo sát này sẽ phải đi từ chính những gì mà những người trong cuộc viết
lại qua thư từ, hồi ký, để so sánh với những điều mà các sử gia thuộc địa
thuật lại sau này, trong quá trình soạn sử từ hơn 100 năm nay.
Bộ sách chứa đựng nhiều tài liệu quan trọng, có thể làm nền cho việc nghiên
cứu là toàn bộ tập san Đô Thành Hiếu Cổ (Bulletin des Amis du Vieux Huế,
BAVH) do linh mục học giả Cadière làm chủ bút, với sự cộng tác của nhiều
tác giả khác nhau, trong hơn 20 năm, đã tạo nên một thứ “học viện” về vấn
đề này, với những bài nghiên cứu, chủ yếu loạt bài Les français au service
de Gia Long (Những người Pháp giúp Gia Long) do vị linh mục chủ bút chủ
xướng và thực hiện. Tập san này chia làm hai phần:
1- Phần nghiên cứu: sưu tập, dịch và in lại nhiều tài liệu gốc, rút ra từ những
văn khố.
2- Bình luận hoặc trình bày lịch sử theo quan điểm thuộc địa.
Phần một, về tài liệu gốc, có giá trị cơ bản.
Phần hai, dù được viết dưới dạng phân tích và tổng hợp một cách khoa học,
nhưng mấu chốt vẫn dựa trên những điều do các ngòi bút đi trước như La
Bissachère, Sainte-Croix, Alexis Faure, Louvet… viết ra, và những người
này, đã dựng nên một số điều, lấy sự bịa đặt làm cơ sở. Tuy nhiên, những bịa
đặt này của họ, không thể đi xa được, nếu không có sự tiếp tay của các nhà
nghiên cứu, sử gia như Maybon, học giả như Cadière.
Cho nên, có thể nói, từ thập niên 20 thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu thuộc
điạ, đã xây nên một thứ huyễn sử, trong đó, Bá Đa Lộc có công tột đỉnh:
đứng đầu tổ chức, mua súng ống, tàu chiến, mộ các “sĩ quan” và binh lính
Pháp về giúp Nguyễn Ánh thống nhất đất nước. Các “sĩ quan” này, không
những đã lập chiến công rực rỡ mà còn làm tàu chiến, dựng nền pháo binh
và tổ chức quân đội theo lối Tây phương, xây dựng những thành trì kiến trúc
kiểu “Vauban” trên toàn thể nước Việt, dưới thời Gia Long và Minh Mạng.
Hơn 100 năm qua, chẳng những chúng ta chấp nhận huyễn sử đó, không một
lời bàn lại mà còn khuếch trương thêm trong sách sử Việt. Chỉ riêng Trần
Trọng Kim, khi viết về giai đoạn này, đã theo sát Thực Lục hơn cả, nên ông
ít bị sai lầm. Còn những ai tiếp nhận lập luận và thông tin do các tác giả thực
dân đưa ra mà không so sánh với những điều ghi trong quốc sử, hoặc coi
thường quốc sử, thường mắc những sai lầm nghiêm trọng.
Bởi vì, từ sự so sánh này, sẽ nảy ra những khác biệt vô cùng quan trọng, giữa
những con người đích thực và những con người trong huyễn sử. Những tài
liệu gốc, do chính tay Bá Đa Lộc và những người lính Pháp viết ra, để lại
cho chúng ta hình ảnh:
- Một Bá Đa Lộc, thất bại nặng nề, trong sự cố sức vận động chính phủ Pháp
đem quân giúp Nguyễn Ánh, mục đích dẫn đường cho Pháp vào Việt Nam,
để khi Gia Long tại vị, sẽ có một chính quyền thân đạo; để khi hoàng tử
Cảnh nối nghiệp cha, sẽ có một ông vua thân Pháp, học trò của mình.
- Những người lính Pháp vô học, vì hoàn cảnh xung lính tình nguyện, nhưng
không kham nổi chính sách khắc nghiệt trên các tàu chiến thời đó, nên đã
đào ngũ, đã trôi giạt đến Nam Hà, mà họ tưởng là một nước giàu có, họ
tưởng Nguyễn Ánh là một thứ tiểu vương Ấn Độ, vàng bạc châu báu đầy
người; nhưng rồi họ sớm thất vọng, phần lớn đều đã bỏ đi.
- Trong số rất ít người còn lại, chỉ Olivier de Puymanel là có công hợp tác
với các chuyên viên Việt, chế tạo các hạng hoả xa, chấn địa lôi, và làm kế
hoả công đốt thuyền địch; chỉ Vannier, Chaigneau và de Forçant là được
quản ba thuyền bọc đồng, Phượng Phi, Long Phi và Bằng Phi, trong hai năm
cuối của cuộc chiến: 1801-1802.
Nhưng khi các sử gia thuộc điạ thuật lại công trạng của Bá Đa Lộc và những
người lính này, thì như có một ngọn đũa thần: đức cha Bá Đa Lộc thoát khỏi
vị trí thầy tu để trở thành vị “nguyên thủ”, “người cha tinh thần”, đã “cầm
đầu” cuộc chiến.
Những người lính vô học đào ngũ, trở thành những vị “sĩ quan”, những “kỹ
sư”, những “kiến trúc sư”, những nhà lãnh đạo, tổ chức và huấn luyện quân
đội, xây dựng những thành quách “Vauban” ở Việt Nam…
Sự biến đổi có tính cách thần thoại đó, không chỉ ngừng ở các sách nghiên
cứu có tính cách thuộc địa của một miền như tập san Đô Thành Hiếu Cổ, mà
nó đã đi và bộ nhớ kinh viện của các từ điển như Larousse. Khi tra chữ Gia
Long, chúng ta sẽ thấy những dòng sau đây: “Nguyễn Ánh, sinh ở Huế
(1762-1820), Hoàng đế An Nam (1802-1820). Ông chiếm lại đất nước bằng
sự giúp đỡ của nước Pháp và xây dựng nên triều đại nhà Nguyễn” (Petit
Larousse en couleurs, Paris, 1980, t. 1248).
Vì thế, việc điều tra lại sự thật, là cần thiết; có thể, ngay bây giờ, chưa đem
lại hiệu quả, nhưng 5 năm nữa, 10 năm nữa, 100 năm nữa, nếu chúng ta kiên
trì trong sự tìm kiếm lại sự thực lịch sử, không chỉ trong giai đoạn Gia Long,
mà tất cả những giai đoạn khác, từ thời Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, đến
thời Pháp thuộc, sang chiến tranh Đông Dương, và cuộc chiến Việt Nam,
1954-1975.
Việc làm chúng tôi vừa thử nghiệm với Gia Long chỉ là bước đầu, với những
dò dẫm, khám phá, cố gắng tìm kiếm một số sự kiện chúng ta tưởng rằng
như thế, mà thực sự không phải thế. Còn lại, là cả một không gian và thời
gian lịch sử mênh mông trước mắt chúng ta, chưa hề được khám phá và tháo
gỡ để hiểu đâu là sự thực.
Nhờ các bộ chính sử biên niên của nhà Nguyễn, về bốn triều Gia Long, Minh
Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức, mà chúng ta có những tài liệu đáng tin cậy về
phiá Việt, để có thể đối chiếu với những tài liệu của Pháp. Việc viết lại sử về
các thời đại này, tuy khó, nhưng còn có thể làm được. Sau khi vua Tự Đức
mất, nước ta mất dần quyền tự trị, các sử gia của triều đình Huế, không còn
tự do để ghi lại những sự thật mà người Pháp thực dân không muốn đưa ra.
Vì vậy, công việc nghiên cứu sử, sau thời Tự Đức, đã là khó khăn gấp bội.
Khi Nguyễn Quốc Trị tìm lại lịch sử Nguyễn Văn Tường, ông đã gặp những
khó khăn đó: Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất thuyết, vì cực lực chống
Pháp, nên đã bị bôi nhọ bằng đủ cách, không chỉ trong tài liệu và sử sách của
Pháp, mà còn cả trong chính sử Việt Nam. Nguyễn Quốc Trị đã tìm tòi và
đưa ra ánh sáng, trình bày các tư liệu gốc đã bị các ngòi bút thực dân che
đậy, xuyên tạc, không chỉ trong trường hợp Nguyễn Văn Tường – Tôn Thất
Thuyết, mà còn cả về các vua quan nhà Nguyễn.
Tựu trung, sự vắng mặt một nền nghiên cứu sử học có hệ thống về triều đại
nhà Nguyễn, trong khoảng 100 năm nay, cộng thêm sự chôn vùi và bôi nhọ
nhà Nguyễn do chính quyền cộng sản gây ra, đã tạo ra một thế hệ người Việt
không biết rõ sử của nước mình, từ cuối thế kỷ XVIII đến ngày nay, tức là
gần ba thế kỷ. Lỗ hổng không thể lấp nổi này, hiện nay quá trễ với một số
người, nhưng còn có thể cứu vãn với một một số người khác, nếu chúng ta
kịp thời hành động. Để làm gì?
Để biết rõ đời sống người Việt trong khoảng hơn 200 năm nay.
Để biết những gì đã thực sự xảy ra trong lịch sử. Biết công lao đích thực của
nhà Nguyễn, đặc biệt, Gia Long vừa lên ngôi đã phải ngăn ngừa tham vọng
Anh, Pháp xâm chiếm lãnh thổ, Minh Mạng đã xây dựng và bảo toàn bờ cõi,
Thiệu Trị đã bị tàu Pháp đánh lén, chấm dứt hy vọng “ngoại giao và thông
thương”, Tự Đức đã chống trả với Pháp trong gần ba mươi năm, trong những
điều kiện như thế nào.
Để biết những gì người Việt thực sự đã làm, mà người Pháp thực dân tìm
cách cướp công.
Để biết những khó khăn của triều Nguyễn, trong việc giữ gìn xứ sở được
toàn vẹn trong gần 100 năm, khi làn sóng Âu Châu tràn sang chiếm hữu Á
Châu, khiến những nước lớn như nước Tàu cũng bị liệt cường xâu xé.
Lịch sử không chỉ nằm chết trong những ngày tháng bất động, ai thắng, ai
thua, mà lịch sử còn là đời sống con người, là vua Gia Long nói gì, là Bá Đa
Lộc nói gì, là người dân cửa biển Đà Nẵng phản ứng thế nào khi thấy tàu
ngoại quốc tiến vào bến cảng?
Lịch sử còn là Gia Long đối phó như thế nào khi tàu Việt bị tàu Anh bắt giữ.
Lịch sử còn là sự tiếp đãi một tàu ngoại quốc dưới thời Gia Long, Minh
Mạng như thế nào, và những sự kiện này đã bị sử gia thực dân xuyên tạc ra
sao?
Lịch sử còn là tìm hiểu việc các sứ bộ Anh Pháp đến xin “thông thương”, mà
chúng ta ngây thơ tưởng họ chỉ xin “buôn bán” mà các vua “bế quan toả
cảng” không cho. Thực ra, sự “thông thương” của họ có nghiã là “xin” một
mảnh đất, một thành phố, để đặt “bản doanh” trên nước Việt.
Lịch sử còn là việc Minh Mạng đã bắt đầu thay đổi chính sách ngoại giao,
năm 1839, đã gửi phái đoàn sang Âu Châu quan sát và học hỏi, nhưng khi họ
trở về thì Minh Mạng đã mất đột ngột vì ngã ngựa, nên chương trình bị bỏ
dở.
Lịch sử còn là sự điều tra xem những gì đã xảy ra, khi hai tàu chiến Pháp
Gloire và Victorieuse do Lapierre và Rigault de Genouilly điều khiển, đến
Đà Nẵng, 15/4/1847, đã tấn công lén, đã tiêu diệt 5 thuyền chiến bọc đồng
của triều đình, rồi bỏ trốn, khiến vua Thiệu Trị phẫn uất mà chết, trong
những tháng sau đó. Nhưng phiá Pháp, câu chuyện được trình bày ngược lại:
Tàu Pháp đến để “cứu” Giám mục Lefèbvre (đã được vua Thiệu Trị trả tự do
từ trước); đậu ở Đà Nẵng, bị 5 tàu đồng Việt “tấn công” và đã chuốc lấy
thảm bại!
Lịch sử bắt buộc chúng ta phải điều tra lại tất cả những gì được các sử gia
thực dân đưa ra, những gì của chính người Việt chép lại, rồi phải xem xét,
đọc lại những bàn định, những kế hoạch, trong triều Thiệu Trị, phải khảo sát
những chi tiết nhỏ xảy ra tại hiện trường, để đối chiếu với những gì mà
thuyền trưởng Lapierre công bố trên báo chí thời đó, để che giấu, lấp liếm sự
thật.
Điều tra, như vậy để làm gì?
- Điều tra để tìm lại sự thực lịch sử, dĩ nhiên, nhưng không chỉ lịch sử trận
Đà Nẵng 15/4/1847. Trận Đà Nẵng chỉ là một yếu tố trong lịch sử, mà lịch
sử bao gồm hàng chục, hàng trăm, hàng ngàn, hàng vạn, yếu tố… mọi yếu tố
đều phải soi rạng, chiếu kỹ, đến cùng.
Bởi nếu không điều tra, chúng ta sẽ phải đời đời chấp nhận, những “sự thực”
của sử gia thực dân, như: vua Gia Long nhờ nước Pháp mới lấy lại được ngai
vàng, Olivier de Puymanel là thủy tổ xây dựng nên các thành trì Vauban ở
Việt Nam, v.v.
- Điều tra để rút kinh nghiệm quá khứ, cho hiện tại và tương lai.
- Điều tra bởi vì công việc các sử gia nhà Nguyễn, trong suốt chiều dài hơn
một thế kỷ, đã không được tiếp nối, trong thời kỳ Pháp thuộc, hoặc có,
nhưng dưới sự giám định của chính quyền thực dân. Không được tiếp nối,
sau hiệp định Genève, 1954, bở vì, miền Bắc thuộc chính quyền cộng sản
với hậu quả của nó như chúng ta đã biết; và miền Nam trong 20 năm tương
đối tự do, nhưng không đủ phương tiện và thời gian để dựng lại môt nền sử
học có cơ sở. Sau đó, cả nước rơi vào thể chế toàn trị.
Sự ghi chép sử hàng ngày, hàng tháng của chúng ta đã dừng lại ở thời Tự
Đức, tức là nửa sau thế kỷ XIX. Trong gần hai thế kỷ, chúng ta không có
một nền nghiên cứu sử học liên tục theo lối biên niên hay phân tích tổng
hợp.
Cho nên, những người nghiên cứu lịch sử sau này, sẽ không thể có những tài
liệu, dù chính thống nhưng đúng đắn như Thực Lục, Liệt Truyện… để làm
mốc dựa vào và điều tra thêm. Nhưng tệ hại hơn nữa, là họ sẽ không có tài
liệu nào về phiá chính thống, có thể tin được để mà sử dụng. Với những hồi
ký nhiều tập của Võ Nguyên Giáp, chúng ta khó rút ra được một sự thực lịch
sử đáng tin cậy, về trận Điện Biên Phủ: Ai lập chiến thuật, quân lực hai bên,
vũ khí, con số, tình hình các mặt trận… đã chính xác xảy ra như thế nào?
Bởi vì, người ta không thể viết lịch sử bằng những thông tin tuyên truyền;
cho nên, khi một bên chỉ đưa ra những thông tin phóng đại, thì người viết sử
bắt buộc phải dùng những thông tin “ít tuyên truyền lộ liễu” hơn, tức là họ sẽ
dùng những tư liệu bên kia, của Pháp, trong chiến tranh Đông Dương và của
Mỹ, trong cuộc chiến Việt Nam 1954-1975.
Và kinh nghiệm cho chúng ta biết rằng, khi chỉ có tài liệu của một bên, thì sẽ
đưa đến những khó khăn, sai lầm, không thể lường được, vì lịch sử sẽ được
viết, theo những điều mà người ta cho phép công bố.
Sau cùng, lịch sử là môn học và nghiên cứu vô cùng lôi cuốn, là một cuộc
điều tra không ngừng, về dữ kiện và về con người, về sự man trá và chính
trực của con người, là kho tàng chứa những kinh nghiệm cứu nước, giữ nước
và xây dựng đất nước.
Sở dĩ ngày nay, học trò không muốn học lịch sử vì người ta đã đánh chết lịch
sử bằng phương pháp chôn vùi sự thật, mà lịch sử là sự đào bới sự thực. Tất
cả những oan khuất của con người, trong những thế hệ đã qua, đều nằm
trong da thịt của lịch sử, sẽ được hết lớp này, lớp khác thay phiên nhau đào
lên, để cởi mở, giải thoát, bởi vì sự nghiên cứu lịch sử giúp chúng ta dựng lại
con người toàn diện, dựng lại một đất nước toàn diện, dựng lại một nền văn
minh toàn diện, dù cho nó đã bị lấp liếm, cướp đoạt, cả trăm năm, bởi những
thông tin ngụy tạo.
Thụy Khuê
Paris ngày 18/9/2015