[432] A.G.Languth, Our Vietnam (New York: Simon & Schuster, 2000),
84.
[433] Ellen J. Hammer, 222.
[434] Kamow, 251.
[435] Trương Như Tảng, 264
[436] Ibid., 277-278.
[437] Dịch lại từ bản tiếng Anh, trong Trương Như Tảng, 327.
[438] 26MTGPMN, thành lập năm 1960, Chủ tịch: Nguyễn Hữu Thọ;
Liên Minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa Bình, thành lập năm
1968, Trịnh Đình Thảo; Chính Phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền
Nam Việt Nam. thành lập năm 1969, Chủ tịch: Huỳnh Tấn Phát. Để cho
tiện, danh xưng phổ thông nhất là MTGPMN nhiều khi được dùng để nói
chung cả ba tổ chức này.
[439] McNamara, Argument Without End, 144.
[440] ibid., 146.
[441]Xem Cương lĩnh của MTGPMN và của LMDTDCHB trong Trương
Như Tảng, 319-335, phần Phụ lục.
[442] Ngày 20.4.1975, trong bữa tiệc khoản đãi phái đoàn CPCMLT
tại Bắc Kinh, Phó Chủ tịch Trung Quốc Lý Tiên Niệm loan báo ý định viện
trợ trực tiếp cho CPCMLT sau ngày miền Nam được giải phóng.
[443] Trương Như Tảng, 265.
[444] Ibid, 269.
[445] Ibid.
[446] IBid., 266.
[447] Chanda, 27.
[448] Bản tin phát thanh của đài BBC, ngày 2 tháng 5, 1975. Dẫn bởi
Nayan Chanda, 28.
[449] Về vụ đàn áp trí thức và văn nghệ sĩ nổi tiếng trong thời kỳ 1956-
1958, xem Hoàng Văn Chí, Trăm hoa đua nở trên đất Bắc (Saigon: Mặt
Trận Bảo Vệ Tự Do Văn Hoá, 1959); Georges Boudarel, Cent fleurs
écloses dans la nuit du Vietnam (Paris: Jacques Bertoin, 1991); Kim N. B.
Ninh, A World Transformed: The Politics of Culture in Revolutionary
Vietnam, 1945-1965 (The University of Michigan Press, 2002).
[450] CAOM, HCI
[451] Tần Hoa Xã, 19.6.1981. Dần bởi Chanda, 28.
[452] “77 Conversations”, 194.
[453] Ibid., 194-195.
[454] Zhai, 214.
[455] Chanda, 216.
[456] Lê Mậu Hãn, tập III, 307.
[457] Thực ra, chính quyền miền Bắc đã bắt đầu thay đổi thái độ đối
với người Hoa từ những năm cuối thập kỷ 1960, khi Hồng Vệ Binh của
Mao Trạch Đông thực hiện cuộc Cách Mạng Văn Hoá tố cáo Hà Nội và tìm
cách ngăn cản những chuyến tiếp tế vũ khí sang Việt Nam. Những thành
phần theo Mao trong cộng đồng người Hoa ở Hà Nội cũng chỉ trích các
lãnh tụ Bắc Việt là bọn “xét lại chủ nghĩa” thân Liên Xô. (Gareth Porter,
“Vietnamese Policy and the Indochina Crisis”, trong The Third Indochina
Conflict, David w. P. Elliot, ed. (Boulder, Co: Westview Press, 1981, 74).
[458] Hơn 700 năm sau, vua Quang Trung tổ chức lại quân đội, chuẩn bị
đánh Trung Quốc để đòi đất lưỡng Quảng mà vua Lý Nhân Tông đã trả cho
nhà Tống năm 1079. Năm 1792, Quang Trung vừa định sai sứ sang triều
đình nhà Thanh để cầu hôn và xin trả lại đất thì mắc bệnh chết.
[459] Chiêm Thành, tên nguyên thủy là Lâm Ấp (Lin Yi), là lãnh thổ
của dân tộc Chàm, gồm toàn thể miền Trung Việt Nam từ Quảng Bình
xuống tới Vũng Tầu ngày nay. Qua nhiều phen bị đánh phá từ thời Bắc
thuộc, năm 1069, Lý Thánh Tông bắt đầu chiếm đất cho đến năm 1697,đời
chúa Nguyễn Hoàng, thì đất Chiêm thành bị sát nhập hoàn toàn vào Việt
Nam.
[460] Năm 1833, Xiêm-la đem đại quân thủy và bộ sang tấn công Chân
Lạp và các tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Nhận lệnh của vua Minh Mạng, Trương
Minh Giảng cùng một số võ tướng đại thắng quân Xiêm, đưa vua Chân Lạp
là Nặc Ong Chân về nước, sau đó đổi tên Chân Lạp thành Trấn Tây thành
và thiết lập chế độ bảo hộ.
[461] Oscar Chapuis, A History of Vietnam: from Hong Bang to Tu Due
(Westport, CT: Greenwood Press, 1995), 52. Trận này là do nhà Tống muốn
mượn tay Chiêm Thành và Chân Lạp để trả thù việc Lý Thường Kiệt chiếm
đất Lưỡng Quảng năm trước đó.
[462] Ibid., 54.
[463] Theo Chapuis, Ang Eng lên ngôi vua năm 1799 (Chapuis, 60).
Theo Trần Trọng Kim, vua Chân Lạp lúc đó là Nặc Ông Chân (Việt Nam Sử
Lược, II,
[464] Nhưng Nặc Ông Chân (Ang Chan) cũng là tên của vua Chân Lạp
năm 1658 (Ibid80). Như vậy, cần có sự nghiên cứu kỹ hơn sử liệu Việt Nam,
Kam-pu-chia và Thái Lan để sửa lại cho đúng tên người, tên đất và sự
việc. Như đã nói ở trên, Ngọc Vân công chúa cũng là tên con gái chúa
Thượng Nguyễn Phúc Lan, đã được gả cho vua Chân Lạp Chettiah II năm
1623. (Chapuis, 59).
[465] Lại có sự trùng tên với con của Ang Sor (Nặc Ông Thu?) từ hơn
100 năm trước.
[466] Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, tập II, 222-223.
[467] Ám chỉ Trung Quốc.
[468] Lê Mậu Hãn, tạp III, 305.
[469] ibid., 306.
[470] Hội đồng Tư vấn Nam kỳ do Cao ủy d’Argenlieu thành lập ngày
4.2.1946, gồm có Chủ tịch là ủy viên Cộng hòa Pháp Jean Cèdile và 12 đại
biểu (8 Việt, 4 Pháp). Danh sách như sau: Nguyễn văn Thinh (y sĩ), Trần
Tấn Phát (y sĩ), Trần Thiện Vàng (nghiệp chủ), Jacques Lê Văn Định (điền
chủ), Nguyễn Thành Lập (Tổng lý Việt Nam Ngân hàng), Nguyễn tấn
Cường (nghiệp chủ), Nguyễn Văn Tỵ (kỹ sư), Nguyễn Văn Thạch (dược sĩ),
Joseph Béziat (luật sư), William Bazé (lai Pháp, chủ đồn điền), Clogne
(dược sĩ), Gressier (lai Pháp, điền chủ.) Trần Tần Phát bị Việt Minh (?) ám
sát ngày 29.3.1946. Đại tá Nguyễn Văn Xuân được cử vào thay thế.
[471] Thành phần Chính phủ Nam kỳ tự trị: Nguyễn Văn Thinh, Thủ
tướng; Nguyễn Văn Xuân, Phó thủ tướng; Trần Văn Tỷ, Tư pháp; Nguyễn
Thành Lập, Tài chánh; Lưu Văn Lang, Vận tải (không nhận); Ung Bảo
Toàn, Canh nông, Thương Mại và Kỹ nghệ; Nguyễn Thành Giang, Giáo
dục; Khương Hữu Long, Lao động và Xã hội; Nguyễn Văn Tầm, Thứ
trưởng An ninh; Nguyễn Tấn Cường, Thứ trưởng An ninh Sài-gòn/Chợ
lớn; Đỗ Văn Trà,Thứ trưởng Vận tải.
[472] Xem chú thích số 31, chương Hai, về việc thành lập MTQGLH ở
Nam Kinh.
[473] Bao Dai, 184.
[474] Joseph Buttinger, The Smaller Dragon: A Political History of
Vietnam (New York: Frederick A. Praeger, 1958), p. 457.
[475] Trước khi ký Hiệp định Vịnh Hạ Long (5.6.1948) dưới sự chứng
kiến của Bảo Đại, Nguyễn Văn Xuân thành lập chính phủ mới và đổi tên là
“Chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam” thủ đô là Hà Nội. Ý niệm li
khai đến đây chính thức cáo chung.
[476] FRUS, 1952-1954, XIII: 892.
[477] Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu: 1939-1975, tập B, 213.
[478] Tướng De Lattre de Tassigny cho Đại sứ Heath biết là Trần Văn
Hữu đã biển thủ quĩ mật của các bộ Ngoại giao, Thông tin và Nội vụ nhiều
triệu đô- la, và có thể thuê kẻ ám sát ông nếu ông dọa tiết lộ tham vọng
của Hữu. (FRUS, 1951,VI: 539).
[479] Chính Đạo, tập B, 266.
[480] FRUS, 1952-1954. XIII:587.
[481] Theo Đại sứ Heath, dưới thời Nguyễn Phan Long, mỗi tháng Bảo
Đại được 4 triệu đồng (khoảng 200,000 đôla.) Thời chính phủ Hữu, lương
tháng này tăng lên 7 triệu (khoảng 350,000 đô-la.) Ngoài ra, Bảo Đại còn
nhận của Bảy Viễn mỗi tháng khoảng 400,000 đôla. (FRUS, 1952-1954,
XIII: 221-230). về việc Bảo Đại chuyển tiền ra ngoại quốc, Phan Huy Quát
có một giải thích đáng chú ý, rằng đây là một vấn đề chính sách hơn là do
lòng ham lợi vị kỷ. “Việc Bảo Đại có tiền ngoài tầm kiểm soát của Pháp ở
Đông Dương sẽ cho ông một mức độ độc lập mà những nhà vua trước
không có, một điều khiến cho nhiều vua về cuối đời bị phế bỏ phải sống
nghèo túng.” (FRUS, ibid., 587.)
[482] Xem chương Hai trên đây.
[483] “Bài” là tên của Thượng thư Nguyễn Hữu Bài, người đã lên tiếng
chống lại việc Khâm sứ Georges Mahé ra lệnh đào mộ vua Tự Đức để kiếm
vàng. Ngoài tình đồng liêu với Ngô Đình Khả, Nguyễn Hữu Bài cũng là
nhạc phụ của Ngô Đình Khôi, anh lớn của Thượng thư Ngô Đình Diệm.
Năm 1945, Ngô Đình Khôi, làm quan đến chức Tổng Đốc Nam Ngãi, bị Việt
Minh bắt cùng với người con trai duy nhất là Ngô Đình Huân đem đi thủ
tiêu cùng một lúc với Thượng thư Phạm Quỳnh.
[484] Nguyễn Phú Đức, The Vietnam War, bản thảo chưa xuất bản,
trang 273.
[485] Trần Trọng Kim, Một Cơn Gió Bụi, 44 và 50.
[486] CAOM, HCI-101. Về vấn đề này và lai lịch của Marc Yokohama,
xem chương 1, chú thích số 17.
[487] Cuộc điều đình về hiệp ước “kiện toàn độc lập” này rất cần thiết
và gấp rút để cho Quốc Gia Việt Nam có đủ danh nghĩa tham gia hội nghị
Genève, bắt đầu từ 24.2.1954, nhưng cũng phải hơn ba tháng sau mới
được chính thức ký kết.
[488] Nội các Ngô Đình Diệm đầu tiên gồm có: Thủ tướng kiêm Nội vụ
và Quốc phòng: Ngô Đình Diệm; Quốc Vụ Khanh: Trần Văn Chương; Tổng
trưởng Ngoại giao: Trần Văn Đỗ; TT Tài chánh và Kinh tế: Trần Văn Của;
TT Lao động và Thanh niên: Nguyễn Tăng Nguyên; TT Công chánh: Trần
Văn Bạch; TT Y tế và Xã hội: Phạm Hữu Chương; TT Canh nông: Phan
Khắc Sửu; TT Quốc gia Giáo dục: Nguyễn Dương Đôn; Bộ trưởng Phủ
Thủ tướng: Trần Chánh Thành; BT Thông tin: Lê Quang Luật; BT đặc
trách Công vụ Phủ Thủ tướng: Phạm Duy Khiêm; BT Nội vụ: Nguyễn Ngọc
Thơ; BT Quốc phòng: Lê Ngọc Chấn; Thứ trưởng Quốc phòng: Hồ Thông
Minh; BT Tư pháp: Bùi Văn Thinh; BT Kinh tế: Nguyễn văn Thoại; BT Tài
chánh: Trần Hữu Phương.
[489] Theo Bernard Fall, tướng Trình Minh Thế (Cao Đài) được trả 2
triệu đô-la, tướng Nguyễn Thành Phương (Cao Đài) được 3.6 triệu, tướng
Trần Văn Soái tức Năm Lửa (Hoà Hảo) được 3 triệu (Fall, The Two
Vietnams, 245-246).
[490] Nội các cải tổ gồm có: Thủ tướng kiêm Nội Vụ và Quốc phòng:
Ngô Đình Diệm, QVK, Ủy viên Quốc phòng: Trung tướng Trần Văn Soái,
QVK, uỷ viên Quốc phòng: Trung tướng Nguyễn Thành Phương, TT Ngoại
giao: Trần Văn Đỗ, TT Tư pháp: Bùi Văn Thinh, TT Thông tin và Chiến
tranh Tâm lý: Phạm Xuân Thái, TT Tài chánh: Trần Hữu Phương, TT Kinh
tế: Lương Trọng Tường, TT Canh Nông: Nguyễn Công Hầu, TT Công
chánh: Nguyễn Văn Bạch, TT Kế hoạch và Kiến thiết: Nguyễn Văn Thoại,
TT Y tế: Huỳnh Kim Hữu, TT Quốc gia Giáo dục: Nguyễn Dương Đôn, TT
Xã hội: Nguyễn Mạnh Bảo, TT Lao động và Thanh niên: Nguyễn Tăng
Nguyên, TT Cải cách: Nguyễn Đức Thuận, BT Quốc phòng: Hồ Thông
Minh, BT đặc nhiệm Công vụ: Trần Ngọc Liên, BT Phủ Thủ tướng: Phạm
Duy Khiêm, BT đặc nhiệm Phủ Thủ tướng: Bùi Kiện Tín, BT Nội Vụ:
Huỳnh văn Nhiệm, Thứ trưởng: Nguyễn Văn Cát.
[491] Jean Lacouture et Philippe Devillers, La Fin d’une Guerre (Paris:
Editions du Seuil, 1960), 298-299.
[492] Theo Collins, ông Diệm “quá quan tâm với những vấn đề nhỏ
nhặt và không có được một sáng kiến xây dựng nào kể từ ngày nắm chính
quyền. Những người có khả năng trong chính phủ đều khó chịu về thói
quen của ông Diệm quyết định trên đầu họ, không để ý tới ý kiến của họ mà
chỉ trông cậy vào hai người em và một số ‘gọi dạ bảo vâng’. Collins nhìn
nhận Diệm người ngay thẳng, chống Cộng và chống thực dân nhưng ông
lại hoàn toàn không biết nhân nhượng và, với thái độ của một nhà tu khắc
khổ, ông Không thể nào đương đầu với những thực tại như Bình Xuyên và
Cao Đài…” (FRUS, 1955-1957,I: 292-293).
[493] ibid, 307-312.
[494] Thành phần chính phủ gồm có: Thủ tướng kiêm TT Quốc phòng:
Ngô Đình Diệm; TT Nội Vụ: Bùi Văn Thinh; TT Tư pháp: Nguyễn văn Sĩ;
TT Ngoại giao: Vũ Văn Mẫu; TT Tài chính & Kinh tế: Trần Hữu Phương;
TT Thông tin: Trần Chánh Thành; TT Giáo dục & Thanh niên: Nguyễn
Dương Đôn; TT Xã hội & Y tế: Vũ Quốc Thông; TT Lao Động: Huỳnh Hữu
Nghĩa; TT Canh Nông: Nguyễn Công Viên; TT Công chánh: Trần văn Mẹo;
TT Điền thổ & Cải cách điền địa: Nguyễn Văn Thời; Bộ trưởng Phủ Thủ
tướng: Nguyễn Hữu Châu; BT Quốc phòng: Trần Trung Dung.
[495] Trần Trọng Kim, Nho Giáo (Saigon: Bộ Giáo Dục, 1971), quyển
Thượng, 129.
[496] ibid.. 217.
[497] Bernard Fall, The Two Vietnams, 260-261.
[498] ibid., 266.
[499] Bùi Tín, Mây Mù Thế Kỷ (Westminster, CA: Đa Nguyên, 1998),
198-199.
[500] Tuyên cáo ngày 7.4.1955 của VNQDĐ. Tài liệu Văn Khố
Vincennes, Pháp, trích dẫn bởi Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu, tập I-C:
1955-1963, 24-25.
[501] Bernard Fall, The Two Vietnams, 270-271.
[502] Mười tám nhân vật này là: Trần Văn Văn, tốt nghiệp Cao đẳng
Thương Mại Pháp, cựu Tổng Trưởng Kinh tế và Kế hoạch; Phan Khắc Sửu,
Kỹ sư Canh nông, cựu TT Canh nông, cựu TT Lao động; Trần Văn Hương,
giáo sư Trung học, cựu Đô trưởng Sài gòn-Chợ lớn; Nguyễn Lưu Viên, Bác
sĩ, cựu giáo sư Y khoa, cựu Đặc ủy về Tị Nạn; Huỳnh Kim Hữu, Bác sĩ, cựu
TT Y tế; Phan Huy Quát, Bác sĩ, cựu TT Giáo dục, cựu TT Quốc phòng;
Trần Văn Lý, cựu Tổng trấn Trung phần; Nguyễn Tiến Hỷ, Bác sĩ; Trần Văn
Đỗ, Bác sĩ, cựu Ngoại trưởng, Trưởng phái đoàn tại Hội nghị Genève
1954; Lê Ngọc Chấn, Luật sư, cựu Bộ trưởng Quốc phòng; Lê Quang Luật,
Luật sư, cựu Đại biểu chính phủ tại Bắc phần, cựu TT Thông tin và Tuyên
truyền; Lương Trọng Tường, Kỹ sư Công chánh, cựu BT Kinh tế; Nguyễn
tăng Nguyên, Bác sĩ cựu Tổng trưởng Lao động và Thanh niên; Phạm Hữu
Chương, Bác sĩ, cựu TT Y tế và Xã hội; Trần Văn Tuyên, Luật sư, cựu BT
Thông tin và Tuvên truyền; Tạ Chương Phùng, cựu Tỉnh trưởng Bình Định;
Trần Lê Chất, khoa bảng Tam trường 1903; Hồ Văn Vui, Linh mục, cựu LM
Giáo phận Sài-gòn. đương kim LM Giáo xứ Tha La, Tây Ninh.
[503] FRUS, 1961-1963,I: 21-23.
[504] Mann, A Grand Delusion, 218.
[505] Langguth, Our Vietnam, 208.
[506] Những con số bách phân về diện tích ruộng đất và số điền chủ ở
Bắc và Nam là do Bernard Fall sưu tầm (Fall, The Two Viet-Nams, 308).
[507] Ngày 1.10.1962, Tổng thống Diệm loan báo trước Quốc Hội:
“Việc xây dựng ấp chiến lược được ấn định là 600 ấp một tháng. Như vậy
đến cuối năm 1962 sẽ có 9,253,000 dân tức hai phần ba tổng số dân chúng
(ở miền Nam) sẽ sinh sống trong các ấp chiến lược.” (Đại sứ quán VNCH
ở Paris: Bulletin du Vietnam, số 226, tháng Mười-Mười Một 1962, do B.
Fall trích dẫn trong The Two Vietnams, p. 376).
[508] FRUS. 1961-1963,111:154.
[509] Tôn Thất Đính, 20 năm Binh nghiệp (San Jose, CA: Tuần báo
Chánh Đạo xuất bản, 1998), 270.
[510] Ngô Đình Thục làm Giám mục ở Vĩnh Long từ 1938 đến 1961 thì
được Vatican thăng chức Tổng Giám mục địa phận Huế.
[511] Có nghi vấn về nguyên nhân vụ nổ làm chết người liên quan đến
cộng sản hay CIA, đến nay chưa được làm sáng tỏ. Xem Ellen J. Hammer,
A Death in November (New York: E.p. Dutton, 1987), 114-116.
[512] Xem chú thích số 62 dưới đây về Phạm Ngọc Thảo.
[513] Trần Kim Tuyến không sang Ai Cập mà ở lại Hong Kong để tiếp tục
âm mưu đảo chánh. Sau khi hai ông Diệm và Nhu bị giết, ông Tuyến trở về
Việt Nam nhưng bị nhóm đảo chính bắt giữ một thời gian. Nhờ sự giúp đỡ
của Phạm Xuân Ấn, phái viên báo Time, một đại tá cộng sản nằm vùng
từng hợp tác với ông, Trần Kim Tuyến chạy thoát khỏi Việt Nam ngay trước
khi Sài- gòn thất thủ. Ông sang định cư tại London và mất tại đó năm
1995.
[514] Hammer, 222.
[515] ibid., 224.
[516] Ramchundur Goburdhun, Chủ tịch Ủy Hội Quốc Tế Kiểm soát
Đình chiến, cho biết Hồ Chí Minh nhận xét rằng Ngô Đình Diệm với cá
tính độc lập rất khó hợp tác với Mỹ vì Mỹ muốn kiểm soát mọi chuyện.
Theo Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm là “một người yêu nước theo cách của
ông ta” và nhắn Goburdhun: “Khi nào gặp ông Diệm thì bắt tay ông ta
dùm tôi.” (Hammer, 222)
[517] Một thí dụ về thái độ của chính phủ Mỹ coi thường Hội đồng các
tướng lãnh và các chính phủ sau Ngô Đình Diệm là việc Johnson quyết
định đưa quân Mỹ tham chiến vào Việt Nam tháng Ba năm 1965 mà không
hề hỏi ý kiến hay báo trước cho chính phủ Việt Nam.
[518] Hammer, 110.
[519] Ibid, 109.
[520] Tôn Thất Đính, 304.
[521] Maxwell Taylor, Swords and Plowbares (New York: Norton,
1972), 301.
[522] Hammer, 300.
[523] ibid., 295.
[524] Hammer, 300.
[525] John Clark Pratt, Vietnam Voices: Perspectives on the War Y ears,
1941- 1975 (Georgia: The University of Georgia Press, 1999), 134.
[526] Trần Văn Đôn, Our Endless War Inside Vietnam (San Rafael,
California: Presidio Press, 1978), 109.
[527] Embassy telegram, November 3, 1963.
[528] U.S. Department of State telegram to Hue, Nov. 2, 1963.
[529] “Flash” cable, U.S. Department of State to Saigon, Nov. 4, 1963.
[530] Theo L.M. Cao Văn Luận, cựu Viện trưởng Đại Học Huế, ông có
yêu cầu Đại sứ Lodge can thiệp và được hứa rằng “tôi sẽ làm mọi cách để
ông cẩn khỏi bị phép án tử hình. Lời tôi hứa với cha hôm nay cũng là lời
tôi đã hứa với Đức Giáo Hoàng… Vậy bây giờ trước mặt cha, tôi xin nhắc
lại lời hứa đó, và nếu tôi không làm tròn lời hứa này, tôi sẽ từ chức Đại sứ
Mỹ tại Việt Nam lập tức.” (L.M. Cao Văn Luận, Bên Giòng Lịch Sử Việt
Nam 1940- 1975, Sacramento, CA: Tantu Research, 1983), 309. Không
hiểu tại sao Đại sứ Lodge không giữ được lời hứa. Lý do ông từ chức vào
cuối tháng Năm được nói đến là ông về nước để vận động Đảng Cộng Hoà
cử ông ra tranh cử Tổng Thống tháng 11, 1964.
[531] Dẫn bởi Frances Fitzgerald, Fire in the Lake (Boston: Little,
Brown and Company, 1972), 254.
[532] Phạm Ngọc Thảo hoạt động bí mật cho cộng sản từ lâu. vốn thuộc
một gia đình công giáo theo Việt Minh kháng chiến, Thảo bỏ về hàng ngũ
quốc gia và trở thành người thân tín của Giám mục Ngô Đình Thục. Thảo
có công trong cuộc đảo chánh Ngô Đình Diệm. Khi tướng Khiêm bị đẩy
sang Mỹ làm Đại sứ, Thảo đi theo làm tùy viên báo chí được mấy tháng.
Sau khi mưu toan lật đổ Nguyễn Khánh bất thành, Thảo bỏ trốn nhưng sau
đó bị bắt và giết chết một cách bí mật.
[533] Có một hiến pháp chết yểu là “Hiến chương Vũng Tàu.” Khi
tướng Kỳ làm Thủ tướng, có một bản Hiến Ước (19.6.1965) làm cơ sở pháp
lý của chế độ. Mãi đến tháng Ba 1967, UBLĐQG mới có bản Hiến Pháp
của nền Đệ nhị Cộng hoà. Cuộc bầu cử Tổng thống diễn ra vào tháng Chín
năm đó.
[534] Đại sứ Maxwell Taylor trong một buổi nói chuyện với phóng viên
báo chí Mỹ và ngoại quốc ở Sài-gòn. Dẫn bởi Richard Critchfïeld, The
Long Charade: Political Subversion in the Vietnam War (New York:
Harcourt, Brace and World, 1968), 96.
[535] Phật giáo chia làm hai: phe Ấn Quang do Thượng tọa Thích Trí
Quang lãnh đạo tranh đấu quyết liệt; phe Viện Hoá Đạo, do Thượng tọa
Thích Tâm Châu lãnh đạo, cũng chống chính phủ quân nhân nhưng có
khuynh hướng ôn hoà.
[536] Mười đại diện dân sự trong UBLĐQG gồm hai Phật giáo Hoà Hảo
(Huỳnh Văn Nhiệm, Quản Hữu Kim), hai Công giáo (Nguyễn Văn Huyền,
Vũ Ngọc Trản), hai Cao Đài (Trần Văn Ân, Văn Thành Cao), và hai nhân sĩ
độc lập (cựu Phó thủ tướng Nguyễn Lưu Viên và cựu Ngoại trưởng Trần
văn Đỗ).
[537] Trương Đình Dzu, luật sư, đề nghị Hoa Kỳ ngưng ném bom Bắc
Việt vô điều kiện, mở cuộc hội đàm giữa Sài-gòn và Hà Nội về việc ngưng
đưa người và vũ khí vào miền Nam, thương thuyết với MTGPMN về các
nguyện vọng hợp lý của họ, và kêu gọi triệu tập lại Hội nghị quốc tế ở
Genève. Nhược điểm của Trương Đình Dzu là không được nhiều người tin
cậy vì có tiếng xấu về đạo đức nghề nghiệp. Sau bầu cử, Dzu bị kết án 9
tháng tù về ::: ký chi phiếu không tiền bảo chứng và mở một trương mục
bất hợp pháp ngân hàng Bank of America tại San Francisco, nhưng được
thả trước thời hạn. Sau 1975, mặc dù thành tích chống chiến tranh, ông
vẫn bị đưa đi học tập cài tạo.
[538] Douglas Pike, ed., The Bunker Papers (University of California
at Berke at fc The Asia Foundation, 1990), I: 151-152, 154-157.
[539] Schulzinger, 254.
[540] Pike, The Bunker Papers, I: 8.
[541] Nguyen Cao Ky with Marvin J. Wolf, Buddha’s Child: My Fight
to Save V ĩetnam. (New York: St. Martin’s Press, 2002), 247.
[542] Pike, The Bunker Papers, I: 69.
[543] Nguyen Cao Ky , 249
[544] Pike, The Bunker Papers, II: 479.
[545] ibid., 421.
[546] ibid., 462.
[547] Sáu người thiệt mạng là; Đại tá Nguyễn Văn Luận, Đại tá Phó
Quốc Chụ, Trung tá Đào Bá Phước, Trung tá Nguyễn Ngọc Trụ, Thiếu tá
Nguyễn Ngọc Sinh và Thiếu tá Nguyễn Bảo Thùy. Hai người bị thương là
Đại tá Văn Văn Của, Đô trưởng Saigon, và Trung tá Trần Văn Phân, Chỉ
huy trưởng cảnh sát Dã chiến. Có tin Tướng Lê Nguyên Khang, Tư lệnh
Quân khu III kiêm Tổng trấn Saigon-Cholon, đến họp trễ nên thoát nạn.
[548] Pike, ed., The Bunker Papers, II: 470.
[549] Ibid„ 613.
[550] ibid., 501.
[551] ibid., 393-394.
[552] Ngày 10.10.1974, ủy ban này tổ chức “Ngày Ký giả đi ăn
mày” để phản ứng chính phủ và lấy tiền giúp đỡ gia đinh các ký giả thất
nghiệp. (Nguyễn Khấc Ngữ, Những Ngày Cuối Cùng của Việt Nam Cộng
Hòa (Montréal: Tủ ‘ich Nghiên cứu Sử-Địa, 1979), 282.
[553] Thành phần gồm có: Thủ tướng: Nguyễn Bá cẩn. Ba Phó thủ
tướng: Phạm Văn Đỗng, đặc trách Tổng Thanh tra kiêm TT Quốc phòng;
Nguyễn Văn Hảo, đặc trách sản xuất kiêm TT Canh nông và Kỹ nghệ;
Nguyễn Xuân Phong, đặc trách hoà đàm. 15 Tổng trưởng: Ngoại giao:
Vương Văn Bắc (lưu nhiệm); Tư pháp: Ngô Khắc Tịnh; Nội Vụ: Bửu Viên;
Văn hoá, Giáo dục và Thanh niên: Nguyễn Duy Xuân; Tài chính: Lê Quang
Trường (lưu nhiệm); Thương mại và Kinh tế: Nguyễn Văn Diệp; Kế hoạch:
Nguyễn Tiến Hưng (lưu nhiệm); Công chnh và giao thông: Nguyễn Xuân
Đức; Lao động: Vũ Công; Thông tin Chiêu hồi: Phan Hoà Hiệp; Xã hội:
Trần Văn Mại; Phát triển Sắc tộc: Nay Luett (lưu nhiệm); Đặc trách Liên
lạc Quốc hội: Phạm Anh; Quốc phòng: Trần văn Đôn. Ngoài ra chính phủ
có 5 Cố vấn là: Trần Quốc Bửu, CT Tổng Liên đoàn Lao công; Lương
Trọng Tường, Phật giáo Hòa Hảo; LM Cao Văn Luận, Công Giáo; Th.T.
Thích Quảng Long, Phật giáo; và ông Nguyễn văn Thơ, độc lập. (Theo
Nguyễn Khắc Ngữ, Những Ngày Cuối Cùng của Việt Nam Cộng Hoà, op.
cit, 290-291).
[554] Pike, ed., III: 709
[555] ibid., 767.
[556] ibid., 665. Những điều Thiệu nói riêng với Bunker không giống
hẳn giải pháp hòa bình sáu điểm được ông đưa ra công khai trước Quốc
hội ngày 7 tháng Tư, theo đó Bắc Việt phải rút hết quân về Bắc, tái lập
vùng phi quân sự ở biên giới, không được sử dụng Lào và Cam-bốt làm
căn cứ, các lực lượng chống đối chính phủ ở miền Nam (tức MTGPMN)
phải tôn trọng Hiến pháp và luật lệ VNCH để có đầy đủ quyền bầu cử và
ứng cử dưới sự kiểm soát của quốc tế.
[557] Wilfred G. Burchett, Vietnam: Inside Story of the Guerilla War.
New York: International Publishers, 1958, 3rd edition, 216.
[558] McNamara, In Retrospect, 159
[559] Pike. Ed., The Bunker Papers, II: 373.
[560] ibid., Ill: 708.
[561] Césari, 220.; Sorley, 339. Sau trận này, tướng Giáp bị thay thế
bởi tướng Văn Tiến Dũng.
[562] Kamow, 673; Sorley, 366.
[563] Dẫn bởi Phan Lạc Phúc trong Bè Bạn Gần Xa (California: Văn
Nghệ Xuất Bản, 2000), 418.