The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.
Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2021-10-31 17:12:06

ĐH 117

Đa Hiệu 117

và phải vượt qua được những khó khăn của những bài học
đầu đời binh nghiệp. Bữa cơm chiều xong, cả Tiểu Đoàn Tân
Khóa Sinh trở lại sân cỏ để tiếp tục chạy, bò, nhảy xổm…

Đến 7:30 giờ tối, các tân khóa sinh mới được lệnh về phòng
ngủ ở tận lầu 3. Tôi cùng 2 tân khóa sinh ở chung một phòng
ngủ khang trang, sạch sẽ, đầy đủ các tiện nghi. SVSQ cán bộ
thông báo thời khóa biểu sinh hoạt những ngày sắp đến rồi
hướng dẫn cách sắp xếp quần áo, nệm, chăn mền, cho đến cái
ba lô cũng phải vuông góc, vào đúng chỗ, gọn gàng, ngăn nắp.
Sau đó, chúng tôi lại lo vệ sinh cá nhân, tắm rửa một cách vội
vàng vừa thay bộ áo quần ngủ quân đội. Vừa xong thì kèn báo
giờ ngủ vang lên. Vội vàng lên giường, tôi thiếp đi lúc nào
cũng không hay! Tôi đã vượt qua được vài thử thách đầu tiên
với những kỷ niệm thật đáng nhớ trong đời binh nghiệp.

Khi trời còn tờ mờ sáng, sương mù dày đặc đang bao phủ
khắp núi đồi thì tiếng kèn báo thức lại vang lên. Tôi vội vàng
nhảy khỏi giường, xếp chăn, gối… vuông góc, vệ sinh cá nhân,
chuẩn bị quân trang… Đúng 6.00 giờ sáng, chúng tôi được tập
họp để chạy bộ quanh trường... Sau bữa ăn sáng là một ngày
tôi luyện mới lại bắt đầu. Chiếc xe cứu thương đã đậu sẵn cạnh
sân cỏ của Liên Đoàn. Bãi cỏ cùng mương nước, đường nhựa,
dốc núi, sườn đồi… trong doanh trại tạo thành một bãi tập lý
tưởng để rèn luyện các tân khóa sinh. Một giọng của một tân
khóa sinh hô vang lên từ sân cỏ Liên Đoàn:

- Tiểu Đoàn Tân Khóa Sinh chuẩn bị tập họp.

Tiếp đến, tiếng nói của các SVSQ cán bộ của đại đội vang
dội khắp hành lang lầu 3 và cứ liên tục lặp lại:

- Nhanh lên, tân khóa sinh tập họp với vũ khí cá nhân.

Trong giây lát, những cửa phòng đồng loạt bật mở. Tất cả
tân khóa sinh với súng cầm tay ùa ra hành lang, rồi vội vàng
chạy ra cầu thang (ngoài) để xuống sân tập họp. Thế mà vẫn
có vài tân khóa sinh chạy ngược lại vì quên… súng. Chưa
được 3 phút mọi người đã có mặt trên sân cỏ. Chưa đầy 5 phút,

150 Đa Hiệu 117

họ đã tập họp đúng vị trí đã được ấn định và im lặng đợi lệnh.
SVSQ cán bộ trực lên tiếng:

- Các anh không còn là những sinh viên dân chính. Các anh
đang ở trong một quân trường đào tạo sĩ quan hiện dịch, các
anh phải thi hành lệnh một cách nghiêm chỉnh. Tôi bảo các
anh tập họp với vũ khí cá nhân thế mà các “cứ đi tà tà, lại còn
nhìn nhau mỉm cười”. Thậm chí còn có “anh chống đối” lệnh
của tôi không mang theo súng để SVSQ cán bộ phải nhắc nhở
nhiều lần!!! Các anh chạy đến phạn xá rồi về trở về tập họp
theo vị trí này. Khi nào tôi hô đàng sau quay thì tất cả các anh
quay và chạy đến phạn xá. Các tân khóa sinh nghe rõ chưa?

- Rõ. Tiểu Đoàn Tân Khóa Sinh đồng loạt trả lời.

SVSQ cán bộ trực dõng dạc hô:

- Tiểu Đoàn Tân Khóa Sinh… Đàng sau, Quay.

Cả một khối người cùng chạy về hướng phạn xá. Tiếng thở
hổn hển hòa chung với những tiếng la, hét của các SVSQ cán
bộ vang dội trên sân cỏ của khu âpartment:

- Anh này ba gai!!! Anh chống đối hả!!!

Sau khi tập họp và trình diện tại phạn xá thì SVSQ cán bộ
đại đội trưởng trực lại dõng dạc nói:

- Các anh vẫn chưa chịu từ bỏ nếp sống cầu an, chai lười
của một thanh niên dân chính. Các anh vẫn còn tìm cách tránh
né, chống lại lệnh của các SVSQ cán bộ. Chúng tôi sẽ giúp các
anh gột, bỏ những thói hư, tật xấu, cá nhân ích kỷ để trở thành
một quân nhân gương mẫu. Các anh phải thương nhau, đùm
bọc lẫn nhau. Các SVSQ cán bộ phải có những biện pháp thật
hữu hiệu để chấn chỉnh, tôi luyện những tân khóa sinh này.
Bây giờ, Tiểu Đoàn Tân Khóa Sinh chạy 5 vòng sân…

Trên sân cỏ vẫn còn có nhiều tân khóa sinh được các SVSQ
cán bộ đặc biết “săn sóc” một cách tận tình! Một tân khóa sinh
khiếu nại với SVSQ cán bộ:

- Tôi có lỗi gì đâu mà phạt?

Khóa 20 Nguyễn Công Trứ 151

SVSQ cán bộ dõng dạc giải thích:

- Anh đã tự nguyện gia nhập quân đội mà! Đây là quân
trường. Anh phải thi hành trước rồi khiếu nại sau! Rõ chưa?

- Rõ. Tân khóa sinh vội vàng trả lời.

Trên bờ cỏ, một tân khóa sinh khác đang cắm cúi đo chu vi
sân cỏ Trung Đoàn bằng một “que tăm”!!! Ở cuối góc đường
kia, lại một tân khóa sinh khác đang cần cù, chăm chỉ lấy từng
nắp bình động lấy nước từ một vòi cách đó 50 m để đổ… cho
đầy bi đông!!! Cuộc hành xác cứ liên tục cho đến giờ cơm
trưa. Sau đó, tiểu đoàn lại tập họp trình diện SVSQ cán bộ trực
để tấn công triền đồi, dốc núi… Một SVSQ cán bộ hỏi các tân
khóa sinh:

- Các anh có quen ai trong trường này không?

Một tân khóa sinh vội vàng phát biểu:

- Thưa cán bộ, tôi quen SVSQ Cán Bộ Tiểu Đoàn Trưởng.

SVSQ cán bộ hỏi tiếp:

- SVSQ Cán Bộ Tiểu Đoàn Trưởng là bạn học, hay thân
nhân của anh?

- Là bạn học cùng lớp ở Đại Học Sài Gòn. Tân khóa sinh
đáp.

SVSQ cán bộ đến trước SVSQ Cán Bộ Tiểu Đoàn Trưởng,
đứng nghiêm rồi nói:

- Có một tân khóa sinh tự nhận là bạn của SVSQ Cán Bộ
Tiểu Đoàn Trưởng!

SVSQ Cán Bộ Tiểu Đoàn Trưởng trả lời:

- Anh cho tân khóa sinh đó chạy 5 vòng sân, vừa chạy vừa
la thật lớn câu: “Tôi không quen ai trong trường này cả.” Sau
đó, cho tân khóa sinh này đến trình diện tôi!

Thi hành lệnh xong, tân khóa sinh này đến trình diện. SVSQ
Cán Bộ Tiểu Đoàn Trưởng liền hỏi;

152 Đa Hiệu 117

- Anh có quen ai trong trường này không?

Tân khóa sinh vội vàng đáp:

- Tôi không quen ai trong trường này cả!

SVSQ Cán Bộ Tiểu Đoàn Trưởng nói tiếp:

- Với trách nhiệm của một SVSQ cán bộ, tôi không “quen”
với bất cứ một cá nhân nào hết, mà 425 tân khóa sinh Khóa 20
đều là các tân khóa sinh khóa đàn em của tôi. Anh hiểu không?

Kiến trúc của trường được xây dựng trên đỉnh Đồi 1515
cạnh thị xã Đà Lạt. Bốn tòa nhà ngủ của SVSQ đối diện nhau,
mặt trước là sân cỏ Liên Đoàn và phía sau là chân đồi. SVSQ
cán bộ cho lệnh và dẫn các đại đội tân khóa sinh về tập họp
cạnh doanh trại của đơn vị mình và nhìn xuống chân đồi.
SVSQ cán bộ trực nói:

- Bây giờ các anh phải tấn công xuống chân đồi mà giới hạn
là con đường kia. Sau đó, từ chân đồi, các anh lại tấn công lên
đỉnh đồi này. Các anh thi hành theo lệnh tôi và khi nghe địch
pháo kích thì các anh phải nhảy xuống các hố cá nhân chiến
đấu… Rõ chưa?

- Rõ. Tất cả tân khóa sinh đồng loạt đáp.

SVSQ cán bộ liền hô:

- Tấn công… Tấn công… Bò… Lăn…

Chạy xuống dốc đồi được một đoạn, đôi chân của tôi bắt
đầu loạng quạng, đánh vào nhau rồi thân thể lảo đảo và ngả
xuống đất như một thân cây mục nát đã lâu năm. Tôi vội
vàng đứng lên khi những tiếng gào, thét… xung phong, xung
phong… dồn dập vang lên liên tục, chát chúa… Thế rồi, tôi lại
phải bò, lăn… khi các SVSQ cán bộ la, hét không ngừng. Lợi
dụng dốc núi, tôi bò thật nhanh rồi vội vàng lăn người xuống
khe nước bên vệ đường, đợi lệnh. SVSQ cán bộ lại nói:

- Bây giờ, các anh bò và tấn công lên đỉnh đồi thật nhanh.
Bò!!!

Khóa 20 Nguyễn Công Trứ 153

Tôi bò lên đồi khá khó khăn vì dốc khá cao, chỉ có đất đỏ,
không có cây cỏ nên đôi khi bị tụôt xuống đến tận bờ đường.
Các SVSQ cán bộ vẫn luôn luôn ở bên cạnh kiểm soát, thúc
giục các tân khóa sinh. Khi vừa lên được nửa dốc đồi, SVSQ
cán bộ liền hét lên:

- Pháo kích… pháo kích.

Chúng tôi lại phải đứng bật dậy, chạy nhanh lên đỉnh đồi,
tranh nhau tìm và nhảy ngay xuống hố cá nhân, tuyến phòng
thủ của trường. Đầu, tóc lẫn quần áo mới tinh của chúng tôi đã
nhuốm đầy bùn, đất đỏ. Những âm thanh “khô khan đầy cứng
rắn” như đẩy xe cút kít, nhảy xổm, hít đất, chạy nhanh lên của
các SVSQ cán bộ cứ dồn dập, liên hồi trấn áp những người
lính mới “tò te”. Chúng tôi liên tục bị hành xác suốt 8 tuần sơ
khởi như vậy, không một ngày ngừng nghỉ, bất cứ lúc nào, dù
ở đâu! Cứ 4:00 giờ chiều mỗi ngày sau giờ huấn luyện quân
sự, các SVSQ cán bộ lại tiếp tục phạt chúng tôi với đủ lý do
cho đến bửa cơm tối. Tiếp đến, chúng tôi còn phải chạy 5, 7
vòng sân Liên Đoàn rồi mới được về phòng để lau chùi vũ khí,
đạn dược, đánh bóng đôi giày da cao cổ, vệ sinh cá nhân, sắp
xếp quần áo trong tủ đựng quân trang thật nhanh, gọn. Công
việc chưa xong thì kèn báo hiệu giờ ngủ văng vẳng vang lên.
Các SVSQ cán bộ đi vào từng phòng kiểm soát, đóng chặt
từng cửa sổ, đắp chăn mền lại cho từng tân khóa sinh... Thỉnh
thoảng để “trắc nghiệm”, SVSQ cán bộ thường hỏi:

- Các anh đã ngủ hết chưa?

- Thưa cán bộ, chúng tôi ngủ hết rồi. Một tân khóa sinh đáp.

- A, hay nhỉ! Ngủ rồi, sao còn nói? Anh nào vừa trả lời, nằm
trên giường hít đất 50 cái.

Những tiếng cười khúc khích của các tân khóa sinh cùng
phòng phá tan không gian tĩnh mịch, nhưng SVSQ cán bộ
khép kín cửa phòng nhẹ nhàng và lặng lẽ bước sang phòng
khác. Họ săn sóc từng bữa ăn, giấc ngủ của các chúng tôi thật
cẩn thận, chu đáo! Đó là một trong những kỷ niệm đầu đời

154 Đa Hiệu 117

binh nghiệp mà chúng tôi luôn ghi nhớ.

Đôi khi lên giường ngủ, thật bất ngờ, chúng tôi nhận được
kẹo ngọt, hoặc một lon sữa nằm gọn dưới chiếc gối, những
món quà mà chủ nhân là những SVSQ đàn anh “vô danh”,
không bao giờ thấy mặt. Họ biết chúng tôi đang cần đường vì
tập luyện quá nhiều, mà nhiều khi chúng tôi không kịp mua
tại câu lạc bộ. Những ngày đầu tiên, trong đời quân ngũ, với
những kỷ niệm khó phai nhòa của một tân khóa sinh, đã khiến

Đại Tá
Lâm Quang

Thơ
đang
chuyển giao
quốc quân
kỳ cho
Khóa 21
SVSQ.

chúng tôi nhớ mãi. Phải chăng đó là những mầm non xanh
tươi, diệu kỳ của Tình Tự Võ Bị đáng quý!

Suốt 8 tuần lễ, các SVSQ cán bộ, đi ngủ sau và thức dậy
sớm hơn chúng tôi, đã liên tục huấn luyện tân khóa sinh 12
đến 14 giờ mỗi ngày, không có ngày nghỉ. Hình phạt đến liên
tục, ngoài giờ học và.. trong giờ học. Vì thế, chúng tôi coi họ là
những “hung thần”, vì rõ ràng họ rất “đáng ngán”! Tuy nhiên,
khi lên SVSQ và có dịp huấn luyện khóa đàn em sau này thì
từ ngữ “hung thần” trở thành một niềm tự hào lẫn thương yêu,
trìu mến để gọi những đàn anh đáng quý của chúng tôi.

Chúng tôi cũng đã được các SVSQ cán bộ đưa đến các
bãi tập. Nơi đây, chúng tôi được học tác xạ, xử dụng vũ khí,

Khóa 20 Nguyễn Công Trứ 155

những bài chiến thuật cá nhân, cấp tiểu đội chiến đấu với địch
và xử dụng các loại vũ khí cộng đồng.

Cuối năm 1963, Thiếu Tướng Trần Tử Oai thay thế Trung
Tá Trần Ngọc Huyến, Chỉ Huy Trưởng vì được vinh thăng đại
tá rồi thuyên chuyển về Sài Gòn. Đến ngày chuẩn bị gắn Alfa,
Tân Khóa Sinh Khóa 20 tập họp ở sân bóng tròn, cạnh vũ đình
trường Lê Lợi, di chuyển theo phương giác (1) đến chân núi
Lâm Viên. Đêm đến, Thiếu Tướng Oai tham dự lửa trại cùng
với chúng tôi. Tờ mờ sáng hôm sau, chúng tôi được lệnh chinh
phục cả 2 đỉnh của núi Lâm Viên.

Khi những làn khói đủ màu bốc lên từ 2 đỉnh núi thì cư dân
Đà Lạt biết được các tân khóa sinh đã vượt qua được mọi thử
thách, gian truân của mùa tôi luyện. Xuống núi, cũng theo
phương giác, chúng tôi di chuyển về lại Trường. Tối đến, các
SVSQ K19 trao mũ và thắt lưng cổ truyền tại phòng ngủ. Sau
đó, Tân Khóa Sinh di chuyển ra Vũ Đình Trường Lê Lợi tham
dự lễ gắn Alfa, do Thiếu Tướng Oai chủ tọa.

Được mang Alpha đỏ trên cầu vai, đã trở thành những
SVSQ năm thứ nhất, chúng tôi vui sướng mặc bộ quân phục
dạo phố mùa Đông, hân hoan dong ruỗi trên các đường phố
Đà Lạt. Những thân nhân ở xa vô cùng ngỡ ngàng trước những
thay đổi từ thể xác cho đến tác phong của thân nhân họ. Chúng
tôi đã hoàn toàn lột xác. Tám tuần sơ khởi đã qua. Một “kỷ
niệm” thật “tuyệt vời” cho những người chấp nhận thử thách
gian nan! Chỉ có họ mới cảm thấy được những cảm giác kỳ bí,
sâu thẳm ngay khi vừa bước chân qua khỏi cổng Nam Quan
rồi phải chịu đựng những gian lao, vất vả ... suốt 8 tuần lễ của
đầu đời binh nghiệp. Tự hào biết bao khi chúng tôi đã vượt
qua được muôn vàn gian lao, thử thách đó!

Mùa quân sự năm thứ nhất chấm dứt. Mùa văn hóa bắt đầu
từ tháng 3 cho đến tháng 12, chúng tôi lại phải “cắp sách, đến
trường”. Được tiếp xúc với các SVSQ Khóa 19 khi đó chúng
tôi mới vỡ lẽ, không phải vì chống đối, ba gai, giày da, giày ba

156 Đa Hiệu 117

ta, hay mang dép rồi bị phạt mà đây chỉ là những hình thức rèn
luyện sức chịu đựng, nhằm biến đổi một sinh viên dân chính
thành một quân nhân hiện dịch. Đối với tân khóa sinh, không
có hình phạt mà chỉ có sự trui rèn, tôi luyện vô cùng gian nan,
vất vả. Ngoại trừ những tân khóa sinh vi phạm kỷ luật mới bị
phạt dã chiến, trình diện SVSQ cán bộ vào ban đêm. Họ phải
thi hành lệnh của cấp chỉ huy một cách tuyệt đối. Lệnh là lệnh!
Bởi vì, kỷ luật là sức mạnh của Quân Đội.

Thiếu Tướng Trần Tử Oai quan tâm đến công tác huấn
luyện chiến thuật, chiến đấu trên chiến trường cũng như đời
sống của SVSQ một cách chu đáo. Ông thường xuyên đến
quan sát các bãi học, thực tập quân sự cũng như phòng học
văn hóa, phòng ăn, phòng ngủ, bệnh xá của SVSQ. Ngay đầu
mùa văn hóa, ông bắt SVSQ phải tập làm quen với bóng đêm.
Đột nhiên, sau bữa cơm chiều, ông cho xe chở SVSQ mang ba
lô, đầy đủ súng, đạn... đến một điểm xa trường. Từ đó, SVSQ
tính phương giác rồi di chuyển bộ về. Băng rừng, vượt suối
suốt đêm, vừa về đến Trường thì ánh bình minh cũng đã ló
dạng. Chúng tôi chỉ có đủ thời gian tắm rửa, ăn sáng rồi vội
vàng đến lớp học văn hóa. Thiếu Tướng Trần Tử Oai cũng
thông cảm những khó khăn, vất vả đó nên thường tâm sự:

- Các em ta thán, phiền “Qua” nhiều lắm vì “Qua” bắt các
em đi dạ hành liên tục tới 4, 5 giờ sáng mới về rồi phải đi học
văn hóa. “Qua” hiểu các em mệt nhọc vô cùng. Nhưng các em
có biết cuộc đời các em sau này gắn liền với bóng đêm không.
Các em phải làm quen với nó hơn kẻ thù của các em. “Qua”
nghĩ và thương các em lắm. Sau này, ra chiến trường, các em
sẽ hiểu rồi thông cảm cho “Qua”.

Khi Đại Tá Trần Văn Trung nhận chức vụ chỉ huy trưởng
thay Thiếu Tướng Trần Tử Oai thì các cuộc di hành ban đêm
của SVSQ cũng chấm dứt.

(còn tiếp)

Khóa 20 Nguyễn Công Trứ 157

HUYỀN THOẠI MỘT ĐÊM TRĂNG

VI VÂN, K20/1

Trời sắp sửa bước sang Thu, dòng thời gian chảy mãi
không ngừng: Xuân qua, Hè đến, Thu tàn, Đông tới.
Cuộc sống vội vã, quay cuồng nơi xứ người đôi lúc làm ta
quên mất ngày tháng. Có những kỷ niệm tuy đã nằm sâu trong
tiềm thức tưởng đã ngủ yên nhưng khi gặp một sự kiện, một
bối cảnh trùng hợp nào đó nó sẽ sống lại mãnh liệt như mới
vừa xảy ra hôm qua.
Đêm nay không ngủ được, tôi bước tới kéo màn cửa sổ lên,
ngoài kia ánh trăng tròn và đẹp quá, mông lung, huyền ảo,
tuyệt vời. Trăng ở đây là trăng tha hương, trăng viễn xứ nhưng
không khác gì vầng trăng của quê nhà năm xưa. Tôi nhìn kỹ
lại vẫn thấy cái bóng mờ mờ, đen đen trên mặt trăng, hình ảnh
đó theo truyền thuyết là cây đa thần và chú Cuội. Lòng tôi
chợt bâng khuâng, bùi ngùi nhớ về một đêm trăng nào trong
kỷ niệm…
Ngày đó khá xa rồi, sau ngày tôi lập gia đình được hai
tháng, chồng tôi mới đón tôi về nơi anh đang phục vụ. Anh tự
tay lái xe từ Cần Thơ về hướng Sài Gòn. Thật ra chúng tôi chỉ
đến Mỹ Tho rồi rẽ qua Kiến Hòa vì đơn vị anh là Trung Đoàn
10 thuộc Sư Đoàn 7 Bộ Binh.

158 Đa Hiệu 117

Thời tiết lúc đó vào khoảng giữa tháng Tám nên mưa nắng
bất thường không đoán được. Sáng hôm ấy trời trong, nắng
ấm, rất lý tưởng cho cuộc hành trình dài hơn trăm cây số, nên
chúng tôi không vội vã lắm.

Khi đến bắc Cần Thơ rủi cho
chúng tôi là gặp phải đoàn công-
voa rất dài, nên gần ba tiếng đồng
hồ sau mới qua phà được. Chồng
tôi lái xe chạy thật nhanh, cố về
cho kịp trong ngày, nhưng trời
đang sáng đẹp bỗng đổi từ từ sang
màu xám và cuối cùng mưa bắt
đầu rớt hạt. Chồng tôi không an
tâm:

- Nguy rồi em ơi, mưa lớn thế Huy hiệu Sư Đoàn 7 BB
nầy làm sao về đến nơi kịp? Nếu ở giữa đường thì nguy hiểm
quá vì chúng ta đang đi bằng xe nhà binh.

Tôi cũng lo sợ vô cùng nhưng không biết làm sao hơn.

Mưa càng lúc càng lớn, bốn bề trắng xóa. Đưa mắt nhìn
chồng mình tôi thấy nét mặt anh đăm chiêu, tỏ ra rất lo lắng,
anh lái xe thật chậm mà vẫn không thấy được trước mặt chừng
hai chục mét. Trời mỗi lúc một tối, âm u, đen kịt nên chúng tôi
đi không được bao nhiêu chặng đường.

Xe vẫn chạy thật chậm, từ từ. Chúng tôi ái ngại không biết
có đến được một thị trấn nào để tìm chỗ ngủ trước khi trời tối
không.

Bỗng chúng tôi thấy một tấm bảng to hiện ra bên lề đường
dưới cơn mưa, trên tấm bảng có ghi hàng chữ “Quận Giáo
Đức”, chồng tôi nói như reo:

- À, thì ra đây là Chi Khu Giáo Đức, thôi mình vào đây xin
ngủ tạm qua đêm rồi mai sẽ tính sau.

Chúng tôi cho xe ngừng lại trước cổng quận. Một anh lính

Huyền Thoại Một Đêm Trăng 159

gác bước ra trong chiếc áo mưa, khi thấy chồng tôi là nhà
binh đang mặc quân phục anh đưa tay lên chào và hỏi chuyện.
Chồng tôi nói rõ tự sự và nhờ anh vào trình với cấp trên của
anh là chúng tôi đang cần sự giúp đỡ.

Khoảng 15 phút sau, anh trở ra mở cổng cho xe chúng tôi
chạy vào và nói:

- Thiếu tá tôi mời Đại Úy vào.

Khi chúng tôi vào phòng khách của quận thì thấy vị sĩ quan
chỉ huy đang ngồi đó. Chồng tôi chào ông, ông cũng chào lại
và mời chúng tôi ngồi. Chồng tôi phân trần vì mưa gió không
thể đi tiếp được nên xin ngủ nhờ qua đêm. Để ông khỏi ngờ
vực chồng tôi lấy giấy tờ và sự vụ lệnh đưa ông xem. Ông cầm
lên nhìn sơ qua rồi vui vẻ nhận lời. Hình như ông đang suy
nghĩ xem nên để chúng tôi ngủ ở đâu thì một anh thiếu úy trẻ
đứng gần đó lên tiếng:

- Thưa Thiếu Tá, để tôi lo việc đó cho. Tôi sẽ nhường phòng
của mình cho khách ngủ, và sẽ qua ngủ với đệ tử của tôi.

Vị Thiếu Tá gật đầu:

- Vậy cũng được.

Ông quay sang chúng tôi:

- Cô chú theo chú em của tôi, có cần gì cứ nói với nó, nó sẽ
lo chu đáo, yên tâm đi. Chúc ngủ ngon nhé!

Nói xong ông quay vào trong. Anh thiếu úy trẻ lên tiếng:

- Mời Đại Úy theo tôi.

Chồng tôi vỗ vai anh và nói:

- Gọi tôi là anh được rồi, chú em.

- Dạ, anh chị theo em. Anh ta tươi cười.

Anh ta dắt chúng tôi ra phía sau. Vì trời tối và lạ chỗ nên
tôi chẳng biết phương hướng gì cả, cứ đi theo anh ta thôi. Đến
trước cửa một gian phòng, anh ta dừng lại và nói:

160 Đa Hiệu 117

- Anh chị đứng ngoài chờ em, em vào thu dọn một chút.

Vài phút sau anh ta trở ra và nói:

- Mời anh chị vào, cứ tự nhiên nghỉ ngơi. Có cần gì kêu em,
em ở phòng kế bên.

Chúng tôi bước vào. Gian phòng chật chội, có một cái

giường, một cái bàn ở góc và một cái tủ nhỏ, trên đầu tủ có để

tấm hình một cô gái trẻ đẹp, nét mặt tươi cười rạng rỡ. Nhìn

xuống giường tôi thấy trải drap màu hồng, hai

gối ngủ cũng màu hồng có thêu hình đôi

chim uyên ương.Tôi nghĩ thì ra anh

này đã có vợ và đây là giường ngủ

của vợ chồng người ta, mình không

nên nằm lên. Nhưng gian phòng

nhỏ quá không còn chỗ nào

có thể nằm được, chồng

tôi có lẽ cũng đồng ý nghĩ

như tôi nên cũng tỏ ra ái ngại.

Có tiếng gõ cửa:

- Em vào được không?

- Mời vào.

Anh thiếu úy trở lại với một chú lính mang đến cho chúng
tôi một bình trà nóng với hai cái ly. Anh nói:

- Trời lạnh lắm, anh chị cần thứ này.

- Cám ơn anh nhiều quá. Tôi nói.

Tôi nhìn lên bức ảnh người thiếu nữ và hỏi:

- Bức ảnh này là …

Anh ta trả lời nhanh:

- Dạ, cô ta là vợ của em đó, chúng em mới cưới nhau chưa
đầy một năm.

Chồng tôi lên tiếng:

Huyền Thoại Một Đêm Trăng 161

- Thế cô không có ở nhà à?

Anh ta không trả lời mà lại nói:

- Chắc anh chị mệt rồi, nên đi nghỉ sớm đi.

Nói xong anh bước ra và khép cửa lại.

Tôi bàn với chồng tôi:

- Mình không nên làm phiền người ta nhiều quá. Đây là
giường ngủ của đôi vợ chồng trẻ. Anh ra xe đem va li vào,
trong đó có khăn lông và cái mền mỏng vô đây xài đỡ.

Chồng tôi ra xe đem va li vào. Tôi xếp tấm drap giường
màu hồng lại và để đôi gối thêu sang một bên, không dám
xài đồ dùng của họ. Tôi lấy mền của tôi mang theo trải xuống
giường, lấy một cái khăn lông xếp lại làm gối cho nhà tôi, còn
một cái khăn lông tôi làm mền đắp, tôi không có gối.

Khi đặt lưng nằm xuống tôi cảm thấy lạnh, có lẽ vì cơn mưa
suốt buổi chiều. Nhà tôi vì mệt mỏi nên mới vừa nằm xuồng
đã ngủ say. Đầu tôi bắt đầu nhức, tôi lên cơn sốt và cảm thấy
lâng lâng…

Chợt có tiếng gõ cửa, tôi định kêu nhà tôi dậy thì cánh
cửa hé mở nhẹ nhàng, một cô gái rất trẻ bước vào đưa tay lên
miệng ra dấu bảo tôi:

- Đừng chị, để anh ngủ, anh mệt rồi. Chị chưa ngủ à? Nếu
chưa ngủ ra ngoài nói chuyện với em.

Tôi nhìn cô gái rồi nhìn lên bức ảnh trên đầu tủ, thì ra cô ta
là vợ của anh thiếu úy kia. Cô ta nói như giục tôi:

- Ra ngoài này chơi đi chị. Trời đã hết mưa, trăng lên rồi
đẹp lắm.

Tôi không cưỡng lại được nét vui vẻ, hồn nhiên của cô ta
nên nhè nhẹ đứng lên, mang dép vào và vớ chiếc áo len khoác
lên người rồi theo cô bước ra ngoài.

Cô ta nói không sai, trời hết mưa, trăng thật sáng, đêm thật
đẹp. Bầu trời mênh mông huyền diệu, kỳ ảo… tôi có cảm giác

162 Đa Hiệu 117

như đi lạc vào cõi Tiên. Cô gái nắm tay tôi kéo đi:

- Theo em ra ngoài vườn chơi chị sẽ thích lắm. Đêm nay là
rằm tháng Bảy chị có biết không, nên trăng tròn và sáng như
vậy đó.

- Vậy à. Tôi không nhớ ngày tháng gì cả.

- Em tên Thái Như, là vợ của anh thiếu úy nói chuyện với
anh chị đó.

- Tôi cũng đoán vậy vì tôi thấy hình cô rồi.

Thái Như nắm tay tôi kéo đi về phía vườn sau và mở cửa
rào dẫn tôi ra. Tôi

vội cản:

- Không nên đi như vậy đâu, lỡ mấy người lính gác tưởng
lầm là đối phương

họ bắn chết đó.

- Không sao đâu chị, mấy người lính ở đây họ quen em rồi,
không lạ gì khi thấy em hay ra vườn sau chơi.

Thái Như dẫn tôi ra vườn. Ồ! Thật bất ngờ, một vườn toàn
trái cây tuyệt vời. Những hàng ổi không cao lắm nhưng trái
đầy cành, những hàng xoài nặng trĩu từng chùm đong đưa
dưới trăng. Đi tới đâu Thái Như cũng đưa tay sờ vào cây trái
rất tinh nghịch làm tôi cũng bắt chước theo một cách thích thú.
Hai đứa nắm tay tung tăng trong vườn, dưới trăng như hai đứa
trẻ con, vừa nói vừa cười, khi chạy, khi đi, hết hàng cây này
đến hàng cây khác. Như nói:

- Mấy người chủ vườn ở đây thương em lắm, họ nói với em
muốn ăn gì cứ hái ăn. Thỉnh thoảng em xin một trái xoài, vài
trái ổi, vài chùm mận.

Vừa nói Thái Như vừa đưa tay hái một chùm mận đỏ chừng
năm, sáu trái. Như đưa tôi một trái.

- Chị thử xem.

Huyền Thoại Một Đêm Trăng 163

Như lấy một trái đưa lên miệng cắn, tôi cũng làm theo. Ôi
chưa bao giờ tôi được ăn loại mận ngọt như vậy, không biết
đây là giống mận đặc biệt hay tại mới hái mà ngọt đến thế.

Đi tới một bãi cỏ Như ngồi xuống, lấy trong trong túi áo ra
một miếng vải cao su nhỏ, trải lên thảm cỏ và bảo tôi:

- Mình nằm xuống đây đi chị. Nhìn lên bầu trời, nhìn vầng
trăng kia chị sẽ thấy cái tuyệt diệu của trời đất.

Tôi nghe lời, nằm xuống cạnh Thái Như. Giọng Như rất
nhẹ lẫn môt chút buồn buồn:

- Em kể cho chị nghe về cuộc đời của em chị nhé! Em rất
cần người để tâm sự. Gặp chị đây coi như mình có duyên với
nhau, mong chị thông cảm.

Ba em mất từ khi em còn rất nhỏ chưa biết gì, hình như
là bị Tây bắn chết. Em sống cùng bà ngoại và mẹ với cuộc
sống bình yên thanh đạm. Bỗng đâu đất bằng dậy sóng vì mẹ
em đột ngột qua đời khi em vừa được 10 tuổi. Đứa bé mồ
côi đã khóc hết nước mắt ở lứa tuổi hồn nhiên, ngây thơ đó.
Ngày tháng trôi qua, niềm đau cũng nguôi ngoai trong tình
yêu thương của ngoại. Hồi đó ngoại em thường kể chuyện chú
Cuội trên cung trăng cho em nghe. Câu chuyện đó đối với đứa
trẻ thơ như em thật là tuyệt vời, em cảm thấy rất thương mến
và gần gũi chú Cuội.

Thật ra làm gì có chú Cuội, đó chỉ là truyền thuyết, là huyền
thoại thôi. Nhưng dù sao thì hình ảnh chú Cuội trên cung trăng
là tuổi thơ, là ký ức thần tiên của em. Em rất trân trọng và quý
yêu nó.

Trong ký ức tuổi thơ của em còn có hình bóng một người,
đó là người con trai duy nhất trong đời em, là chồng của em
hiện nay. Chúng em là người cùng xóm, cùng lớn lên và sống
bên nhau suốt những năm tháng của thời thơ ấu. Chúng em
cùng đi học, cùng chia xẻ vui buồn, từng chia nhau viên kẹo,
trái xoài, trái mận. Những ngày tháng bên nhau đó đã khiến
tình yêu nẩy nở, một tình yêu tuyệt đẹp, thủy chung gắn bó.

164 Đa Hiệu 117

Anh ấy đàn rất giỏi, hát hay nên cũng có rất nhiều cô bạn
cùng lớp yêu thương nhưng anh ấy chỉ biết có mỗi mình em
thôi. Nhưng định mệnh lại trêu chọc em lần nữa khi ba mẹ anh
ấy quyết liệt ngăn cấm anh ấy yêu em, lý do là gia đình ngoại
em rất nghèo. Em lại đầm đìa nước mắt ở lứa tuổi đôi mươi.
Bây giờ em mới thấm thía được nỗi đau, nỗi sầu của người
trong cuộc yêu đương:

- “Đường vào tình yêu có trăm lần vui có vạn lần sầu. Đôi
khi nhầm lỡ đánh mất ân tình cũ. Có đau chỉ thế, tiếc thương
chỉ thế, khi hai mơ ước không cùng chung lối về…”

Nhưng rất may cho em vì em đã chọn đúng người đàn ông
đáng nể. Anh ấy quyết liệt chống đối gia đình và để bảo vệ
tình yêu chúng em, anh đã nhập ngũ. Đúng lúc đất nước cũng
đang cần những người thanh niên anh dũng để giữ gìn non
sông tổ quốc. Anh nói với ba mẹ ảnh rằng sẽ xin đổi đi thật
xa nhà nếu gia đình không cho cưới em. Cuối cùng chúng em
được toại nguyện ước mơ. Chúng em cưới nhau gần một năm,
hạnh phúc trọn vẹn, chàng rất thuơng yêu em, em không mong
mỏi gì hơn nữa ….

Thái Như say sưa kể, tôi cứ nằm yên nghe, không dám
động đậy sợ cắt đứt dòng tư tưởng của nàng. Câu chuyện cô
kể cũng thường xảy ra trong xã hội nầy nhưng giọng cô ta thật
êm dịu, ngọt ngào, nhẹ nhàng như hơi thở.

Đêm cô tịch, thật yên tĩnh, cả trời đất chìm ngập trong màu
trăng bàng bạc, huyền ảo mông lung. Sương đêm đã rơi ướt
mềm thảm cỏ, nhưng giọng Thái Như vẫn thì thầm, đều đều
….

Vầng trăng bắt đầu nhạt nhòa về phía trời xa, từ trong thôn
trang có tiếng gà eo óc gáy báo hiệu đêm sắp tàn. Thái Như
ngừng không kể nữa, cô quay sang tôi và nói:

- Em rất vui được hạnh ngộ với chị đêm nay. Em sẽ nhớ
mãi không quên. Chúc anh chị ngày mai lên đường bình yên.

Nói xong Thái Như đứng lên đưa tay chào tôi. Nàng không

Huyền Thoại Một Đêm Trăng 165

quay lưng bỏ đi mà chỉ đi lùi lại phía sau, mắt vẫn nhìn tôi như
còn lưu luyến. Bỗng tôi thấy thân hình cô nhấc cao khỏi mặt
đất, từ từ, ẻo lả, mơ hồ như sương khói rồi bay đi.

Trời ơi! Thì ra Thái Như không phải là người sống mà là
ma. Suốt đêm rồi tôi đã đi chơi, tâm sự và nằm kế bên ma mà
tôi không biết. Tiếng ma vang lên trong đầu, làm tôi kinh hãi,
khiếp đảm. Tôi bỗng đưa tay ôm mặt kêu thất thanh:

- Ối! Ma, Ma ….

Một bàn tay nắm chặt vai tôi lắc mạnh:

- Em làm sao vậy? Tỉnh dậy đi, tỉnh dậy đi.

Tôi bàng hoàng mở mắt ra thấy chồng tôi đang lo lắng.

- Em chiêm bao thấy gì mà la lớn vậy?

Tôi nhìn lên bức ảnh Thái Như trên đầu tủ và nói:

- Em sẽ kể cho anh nghe sau, dài dòng lắm.

Có tiếng gõ cửa bên ngoài, một giọng nói vọng vào.

- Anh chị thức chưa, em vào được không?

- Mời vào.

Anh thiếu úy bước vào ân cần hỏi:

- Anh chị ngủ ngon không?

Tôi nhìn anh phân vân một chút rồi nói:

- Đêm qua tôi mơ thấy cô đây. Tôi chỉ tấm hình trên đầu tủ.
Có phải cô đã…

Tôi không dám hỏi tiếp. Anh thiếu úy hiểu ý tôi, trả lời:

- Dạ đúng chị ạ. Vợ em chết cách nay bốn tháng, cũng tại
đây, vào một đêm chi khu bị pháo kích, vợ em đã bị trúng
miểng đạn vào đầu.

Nói xong, anh ta bước tới mở tủ lấy ra một cái lư hương
nhỏ và hai cây đèn cầy cắm sẵn vào chân để lên đầu tủ, trước
mặt bức ảnh và nói:

166 Đa Hiệu 117

- Đêm qua em ngại chị sợ không dám ngủ nên em đã tạm
cất những thứ này vô tủ và em đã tránh không trả lời câu hỏi
của anh “cô ấy đâu rồi”.

Tôi thật cảm kích tấm lòng của người trai trẻ. Có lẽ anh
cũng trạc tuổi tôi nhưng luôn gọi tôi bằng chị rất thân tình. Tôi
cảm thấy thương xót cho mối tình sớm ly tan của hai kẻ hết
mực yêu nhau. Tôi kể cho anh nghe về giấc mơ đêm qua. Tôi
thấy mắt anh rươm rướm lệ. Anh nói:

- Cô ấy linh thiêng lắm chị ạ. Cô thường hiện về trong giấc
mơ an ủi và khích lệ em phải cố sống cho vui, cho tốt.

- À! Cô ấy nói với tôi đêm nay là rằm tháng Bảy nên trăng
tròn và đẹp như vậy, làm tôi nhớ ông bà mình thường nói là
rằm tháng Bảy nên cúng những linh hồn chết oan uổng không
nơi nương tựa. Anh nên tìm các sư tụng niệm, cúng kiến cho
linh hồn cô ấy sớm siêu thoát.

Anh trai trẻ gật đầu:

- Dạ, em sẽ nghe lời chị, tìm thầy tụng niệm cho vợ em.
Không biết có kết quả gì không, nhưng ít ra đó là điều duy
nhất em có thể làm cho vợ em lúc này.

Trời đã sáng hẳn, sau khi an ủi anh thiếu úy trẻ và cảm tạ
ông Quận Trưởng chúng tôi từ giã lên đường mang theo món
nợ ân tình của những người tốt bụng. Xe chạy ra khỏi cổng
quận tôi còn quay nhìn lại, lòng vương một chút gì bùi ngùi
lưu luyến. Từ đó về sau, cho mãi đến 1975 tôi cũng không có
dịp đi ngang qua chi khu Giáo Đức nữa.

***

Mấy mươi năm sau ngày định cư ở Mỹ, tôi có dịp trở về
Việt Nam. Ngồi trên chuyến xe đò từ Sài Gòn về miền Tây tôi
thấy lòng rộn ràng náo nức.

Tôi muốn nhìn lại hình ảnh quê hương thân yêu ngày nào.
Hình ảnh những cánh đồng lúa xanh bát ngát chạy xa tít tận
chân trời. Hình ảnh những cánh cò chấp chới dưới nắng chiều

Huyền Thoại Một Đêm Trăng 167

gọi nhau về tổ. Hình ảnh những bến nước, những dòng sông
chuyên chở phù sa chảy xuôi về vùng cây trái thênh thang…

Chiếc xe bắt đầu chạy từ Sài Gòn, rời xa cảng Miền Tây,
hai bên đường nhà cửa san sát, đông đúc, cái thấp lè tè, cái cao
ngất ngưỡng không có thứ tự, không thẩm mỹ chút nào.

Tôi mong cho mau tới cầu Bến Lức để thấy lại những gánh
khóm chín đỏ bầy la liệt hai bên đầu cầu cùng những tiếng rao
hàng mời mọc, nhưng tôi không thấy gì cả. Tôi nhớ ngày xưa
dưới chân cầu Bến Lức là nơi đóng quân của Giang Đoàn 71
Thủy Bộ. Xe đã chạy qua khỏi Bến Lức lúc nào mà tôi không
hay biết vì ngày nay ở Bến Lức, người cũng đã cũng đã dày
đặc cả rồi.

Ra khỏi thành phố tôi không thấy những cánh đồng lúa
xanh bát ngát nữa mà chỉ thấy lưa thưa vài mảnh ruộng, còn
lại là những khoảnh nước mênh mông hoặc những khoảnh đất
đen đủi, sình lầy. Tôi hỏi bà cụ ngồi kế bên:

- Bác ơi, lâu rồi cháu không đi con đường này, sao cháu
thấy ít đồng lúa quá vậy hả bác?

Bà cụ nhìn tôi gật gù:

- Chắc cô ở xa mới về nên không biết đó thôi. Bây giờ trồng
lúa bán không có giá nên người ta dùng ruộng để nuôi tôm,
nuôi cá bán được tiền hơn cô ơi.

- Thì ra là vậy. Tôi bùi ngùi nói. Bác ơi khi nào xe tới quận
Giáo Đức bác chỉ giùm cho cháu nhé, chắc bây giờ cháu không
còn nhận ra nữa đâu.

- Cô có người quen ở đó à?

- Dạ quen, quen nhiều lắm. Tôi lẩm bẩm.

Xe vẫn chạy, từng hàng cây, từng khu nhà, làng xóm lùi lại
hai bên đường. Khoảng một thời gian khá lâu sau, bà cụ khều
tôi và bảo:

- Tới Giáo Đức rồi đó cô.

168 Đa Hiệu 117

Tôi nhìn ra cửa kính, xe cũng vừa chạy ngang qua cổng
quận, không biết có phải đúng nơi nầy là Chi Khu cũ không?
Nơi đó ngày xưa vợ chồng tôi đã từng ngủ qua đêm, một đêm
đặc biệt trong đời tôi, một đêm kinh hãi nhưng cũng nhiều lưu
luyến, không bao giờ tôi quên được.

Vẫn tấm bảng đỏ, nhưng hàng chữ đã đổi khác. Cột cờ
giữa sân vẫn còn đó, nhưng lá cờ vàng ba sọc đỏ bay phất
phới ngày nào không còn nữa mà đã bị thay thế bằng một lá
cờ khác.

Tôi ngậm ngùi nhớ chuyện ngày xưa. Những người cũ bây
giờ ra sao, đang ở đâu, còn hay mất? Ông Quận Trưởng, anh
Thiếu Úy trẻ, những anh lính gác, linh hồn Thái Như… Một
điều khiến tôi ray rứt mãi là tôi không thể nào nhớ tên anh
thiếu úy đó, nhưng tôi cứ nhớ mãi tên người con gái trong mơ.

Tôi chợt thấy lòng mình chùng xuống. Tôi nhắm mắt lại,
một cảm giác lâng lâng mơ màng trôi về quá khứ. Tôi thấy ánh
mặt trời đang đỏ rực từ từ dịu xuống, mờ nhạt và sau cùng trở
thành mặt trăng tròn, thật đẹp, huyền ảo mông lung. Tôi thấy
một vườn trái cây thênh thang trải rộng với những chùm mận,
chùm xoài đong đưa dưới trăng như một đêm nào. Tôi như
nghe đâu đây tiếng Thái Như thì thầm kể về huyền thoại CHÚ
CUỘI TRÊN CUNG TRĂNG:

- “Ngày xửa, ngày xưa có một anh tiều phu hằng ngày vào
rừng đốn củi nuôi thân…”

Cali mùa Thu 2019

Huyền Thoại Một Đêm Trăng 169

Chiếc Bình Cổ

Phạm Văn Hòa, K18

Đường về quê không còn giống như ngày xưa. Bến
bắc Cần Thơ, và Mỹ Thuận đã biến dạng; nơi Nam
đã từng để thả hồn theo sóng nước mỗi lần qua đây nhất là
những chuyến phà đêm về quê. Bây giờ, nhà xây cất lan ra mặt
đường. Nông phẩm, thổ sản phơi ngay trên lộ. Đồng ruộng
và bầu trời mênh mông đã cho anh cảm giác bay bổng trong
khung trời bao la thuở nào nay không còn. Sông rạch, nhà cửa,
cảnh sắc nhất nhất xa lạ như Từ Thức trở về từ cung Hằng.
Vai mang balô càng nặng khi đường về xa lắc xa lơ. Đôi chân
miệt mài cho đến khi thấy cây đa sừng sững cao vút là cái mốc
cho biết Nam đã về đến xóm mình ngày xưa. Đây là nơi Nam
cùng đám bạn bày các trò chơi, đánh đu quanh rễ cây đa tủa
xuống từ các cành cây, hay ngắm chúng đong đưa mỗi khi có
trận gió to.
Dân chúng trong xóm nhìn Nam như người xa lạ. “Tôi sinh

170 Đa Hiệu 117

trưởng lớn lên tại đây mà, ai người có biết có nhận ra tôi
không?!” Nam lẩm bẩm và khe khẽ hát:

Về đây nhìn mây nước bơ vơ
Về đây nhìn cây lá xác xơ
Về đây mong tìm bóng chiều mơ
Mong tìm mái tranh chờ
...
Lạnh lung ngắm trời mây.

(Trở về của Châu Kỳ)

Bao nhiêu năm nước chảy qua cầu rồi còn gì. Hình ảnh
ngày xưa còn bé đã lùi xa vào dĩ vãng. Lớn lên, chẳng mấy
khi Nam có dịp trở về làng vì cuộc sống quân ngũ. Bao nhiêu
người trong xóm đã mất, thay vào đó toàn những khuôn mặt
xa lạ. Có khi họ là những đứa trẻ khi xưa, giờ làm sao nhận
ra vóc dáng. Có tiếng xì xầm nhìn Nam chỉ trỏ. Căn nhà Nam
năm xưa không còn vì con lộ xẻ mất phần đất vườn cây ăn trái
sau nhà, mà hình ảnh và kỷ niệm còn như in trong đầu. Thuở
ấy gia đình Nam nghèo lắm. Căn nhà cũ kỹ, mái lá bị dột trước
dột sau mà không có tiền thay. “Ông Hai Lý” thấy vậy giúp đỡ
và tiếp công thay mái nhà mới. Ông không cho vay, nhưng ba
Nam thế “Chiếc Bình Cổ” trong nhà để khi có tiền chuộc lại.
Chòm xóm ai cũng nể trọng Ông Hai lý là người-trên-kẻ-trước
vì ông lớn tuổi và có lòng từ tâm. Riêng đối với gia đình Nam
thì đặc biệt hơn. Má bảo Nam gọi Ông Hai Lý là Ông Ngoại vì
bà nói ông giống hệt ngoại ở Cà Mau với búi-tóc-củ-hành và
hàm râu dài, đã mất từ lâu mà Nam chưa hề gặp mặt.

Khi ba Nam mất, căn nhà đã thay đổi nhiều mà gia đình
Nam vẫn chưa có tiền chuộc lại bảo vật. Nam đêm đêm cầu
nguyện ngày nào sẽ chuộc lại chiếc bình gia bảo dù chưa biết
lai lịch của nó.

Thấm thoát mấy chục năm qua. Tuổi đời chồng chất, đất
nước điêu linh, anh cùng hàng triệu người phải chịu cuộc sống
thăng trầm xa xứ. Nay trở về làng cũ, dấu chân dẫm trên phần

Chiếc Bình Cổ 171

đất chôn nhiều kỷ niệm. Hơi ấm từng thớ đất len truyền tận

Sông nước miền Tây.
tim. Vật đổi sao dời! Vậy mà chỉ có nhà Ông Ngoại là căn nhà
duy nhất trong xóm không có gì thay đổi. Ông Ngoại cũng
như xưa, cũng vẫn mình trần trùng trục, hai tay xách hai thùng
nước đang tưới mấy chậu kiểng trước nhà. Ông vẫn vận chiếc
quần đen quá gối bạc thếch. Cái nhà-vàng để đưa đám tang
vẫn còn nằm bên chái nơi Nam hay ẩn trốn khi chơi cút bắt
với đám bạn.

“Thằng Lục Lăn! Cơn gió nào đưa mày về đây!”
Nam ngẩn người, sao ông nhận ra mình. Cũng gọi anh bằng
cái tên ông vẫn thường gọi. Đến bây giờ, Nam vẫn không hiểu
“Lục Lăn” nghĩa là gì, nhưng vui vẻ chấp nhận như cái tên mà
ông đặt cho riêng anh. Nam lẩm bẩm:
- “Được dịp nghỉ, con về quê thăm bà con và thăm Ngoại.”
Nam tiếp:
- “Mà Ngoại nhìn ra con, hay thiệt? Bao năm rồi còn gì!
Còn Ngoại không có gì thay đổi!”
Ông để hai thùng nước xuống mấy miếng gạch tàu màu đỏ
thẫm ngoài sân, và ra dấu cho Nam vào nhà. Căn nhà đồ đạc
172 Đa Hiệu 117

vẫn như xưa, nhưng lạnh lẽo trống vắng. Ông rót trà cho Nam
và ông. Đây là lần đầu tiên trong đời Nam được ngồi đàm đạo
với ông, chẳng bằng khi xưa mỗi lần gặp ông là Nam chạy
mất, chỉ kịp nghe câu ông vói theo:

- “Thằng chó, tới đây biểu!”

“Thằng chó” và “Thằng lục lăn” là cái tên cúng cơm ông
thường gọi. Nam đảo mắt nhìn quanh, nhận ra từng thứ bày
biện hình như không hề suy suyển, hay dời chỗ. Riêng “Chiếc
bình cổ” của gia đình Nam không thấy đâu, và trên vách có
thêm bức tranh. Nam để ý đến chiếc bình cổ vì đó là mục đích
của chuyến về quê hôm nay, mong chuộc đem về để trên bàn
thờ gia đình, vì đó là ước nguyện của ba khi sanh tiền. Nam
chưa hề nghĩ đến giá trị chiếc bình, nhưng là bảo vật duy nhất
của gia đình. Nam không hề nghe ba kể lai lịch gốc tích của
nó. Nhưng cách trịnh trọng mỗi khi nâng niu chiếc bình, và
ánh mắt xa xăm của ba như nói lên huyền thoại liên quan đến
chiếc bình cổ.

Mắt Nam đảo quanh nhà, ánh mắt dừng lại từng thứ, từng
thứ. Như hiểu ý, trầm ngâm sau khi nhấp ngụm trà, bằng giọng
đều đều ông kể:

- “Có lẽ “bây” muốn biết về chiếc bình cổ của ba bây nhờ
ông giữ thế chân, khi ông lợp mái và sửa chữa căn nhà của
gia đình bây phải không?”

Nam nhận ra ông thay đổi cách xưng hô, xưng “Ông” và
gọi Nam là “bây”, theo cách dân quê miền Nam.

- “Dạ đúng Ngoại, đó là lý do con về quê hôm nay!”

- “Để chuộc lại chiếc bình đó chắc?” Ông hỏi.

Nam nhanh nhẩu đáp:

- “Đó là một phần, còn phần khác là về thăm làng xóm vì
xa nhà đã lâu, mà mỗi lần đi là một lần khó.”

Ông chỉ bức tranh trên tường giải thích:

Chiếc Bình Cổ 173

- “Bức tranh này là hậu thân của chiếc bình cổ của bây!”

Nam ngạc nhiên, trong khi ông thản nhiên tiếp:

- “Sau khi ba bây mất, ít lâu sau chiếc bình bị nứt…. Ngoại
cố hàn gắn lại nhưng cuối cùng cũng bị vỡ làm hai từ miệng
đến chân.”

Ông trầm ngâm. Tôi không khỏi ngạc nhiên khi ông xưng
Ngoại lần đầu với tôi thật thân tình. Ông tiếp:

- “Bỏ thì tiếc! Giữ thì không biết làm gì! Cuối cùng Ngoại
dùng một bên trồng chậu vạn thọ, một bên chứa nước mưa
để tưới đám vạn thọ. Ngoại để ngay bậc thềm trước nhà chỗ
Ngoại để bình nước đó.”

Vừa nói, ông vừa chỉ tay chỗ bực thềm gạch tàu ngoài sân.

- “Được đâu một mùa vạn thọ tức là vào Tết Nguyên đán;
sau đó cả hai phần đều nứt thêm, coi như “xong” cái bình gia
bảo của ba bây.”

- “Ngoại để đó ít lâu, vì nó là báo vật của ba bây.” Như
chợt nhớ điều gì ông nói một thôi một hồi. “À Ngoại quên! Ba
bây không phải là người ở đây, mà bỏ nhà theo ghe bầu đến
Cà Mau, sau khi gặp má bây mới về đây lập nghiệp. Theo ba
bây, thì nhà có ruộng đất, nhưng vì trốn nhà ra đi nên nó chỉ
lấy trộm trên bàn thờ của nhà Chiếc Bình Cổ lưu truyền mấy
đời. coi như “Lá Bùa Hộ Mạng”.

Ngoại vấn điếu thuốc rê, cắn bỏ đuôi thuốc, xong kê vào
ống khói đèn dầu đốt, bập bập lóe lửa, khói um căn phòng
tranh tối tranh sáng. Nam thấy cặp mắt ông thật buồn qua làn
khói thuốc. Mùi thuốc rê làm Nam gắt cổ, cố giữ cho khỏi bị
sặc nên rơm rớm nước mắt. Ngoại hỏi:

- “Bộ bây buồn mà khóc hả?”

Không đợi Nam trả lời Ngoại tiếp:

- “Rồi một hôm, Ngoại dùng cán búa đập hai nửa cái bình
thành từng mảnh vụn. Ngoại vào trong đốt cây nhang lên bàn

174 Đa Hiệu 117

thờ. Nếu bây hỏi đốt nhang để làm gì Ngoại cũng không biết,
nhưng mỗi lần cần sự phò hộ trước những quyết định quan
trọng Ngoại đều khấn vái.”

Ông nghiêm mặt, tiếp:

- “Bây cũng nên có lòng tin mà làm như Ông.”

Đoạn kể tiếp:

- “Sau đó, Ngoại bỏ ra cả tháng trời sắp xếp các mảnh vụn
kia. Sắp đi, xếp lại cuối cùng Ngoại vừa ý vì bức tranh kia nói
lên được điều Ngoại mong ước.”

Ông chỉ bức tranh và tiếp:

- “Nhưng mỗi người ngắm tranh sẽ có cảm nghĩ khác nhau
tùy theo cách nhìn của họ. Ngoại không biết bây nghĩ gì,
nhưng ba bây mất rồi, bây lại sống trôi giạt như ba bây hồi
đó. Ngoại thấy bây nên thỉnh bức tranh này mang theo hộ thân
như cha bây ngày xưa. Ngoại già rồi, bây đừng nghĩ đến đền
ơn đền iếc gì, vì chiếc bình năm xưa và bức tranh này vô giá!”

Ông vừa kể, vừa bập bập điếu thuốc rê, đóm lửa lập lòe,
khuôn mặt mập mờ, chỉ có đôi mắt sáng rực sau làn khói. Điếu
thuốc cũng vừa tàn. Ngoại dán phần còn lại lép xẹp lên cột nhà
như xưa ông vẫn làm. Nam đứng dậy, định đến ôm Ngoại để
tỏ lòng biết ơn…

“Rầm! Rầm! Ầm! Ầm!” Nam giật mình vì tiếng sấm chớp
liên hồi.

Thì ra Nam đang nằm mơ, khi tỉnh giấc vẫn còn luyến tiếc!
Giấc mơ nói lên ao ước thầm kín. Trong đám giỗ tuần rồi, anh
có khấn ba phò hộ để chuộc lại chiếc bình cổ, trước chuyến đi
ngắn trong vùng vịnh Mexico! Lạ lùng thay, điều khấn được
ứng mộng. Và giờ đây Nam đang lênh đênh trên biển trong
khi bên ngoài mưa bão. Con tàu lầm lũi theo hải trình. Bọt
sóng tung tóe vì biển động. Sấm chớp liên hồi. Mỗi lần thấy
chớp Nam nhẩm đếm “Một, hai, ba, bốn…” cho đến khi
nghe tiếng sấm. Đây là thói quen thời quân ngũ để đoán

Chiếc Bình Cổ 175

xem pháo xạ địch cách bao xa. Cũng vùng đất này, gần hai
mươi năm trước Nam đã bay qua không phận trên đường công
tác dài hạn tại Nam Phi. Vùng đất vẫn như xưa, nhưng cuộc
sống Nam thay đổi rất nhiều, và mỗi hành trình đều có đích
điểm của nó.

Trưa nay, sau khi dùng bữa xong Nam được báo thời tiết
xấu và tàu đang gặp cơn bão bất chợt do áp xuất miền nhiệt
đới. Nam trở về phòng, nhìn ra balcony bầu trời sẫm tối, mây
nặng hơi nước chùng xuống thấp, kết thành tầng tầng lớp lớp
giao tiếp với biển.

Nhìn sóng biển lô xô, mờ dần, mờ dần…

Đầu óc lan man nhớ quê hương, làng xóm. Anh rời quê khi
tuổi vừa-quá-ba-mươi mà nay già-thất-thập. Chuyến đi này
cũng bất chợt như chuyến rời bỏ quê hương. Bất chợt vì điều
Nam không chờ tự nhiên đến. Đi cruise trong mùa bão tố ở
vùng vịnh Mexico cũng hiểu là chấp nhận rủi ro; cũng như khi
xưa rời hải phận Việt Nam trên chiếc LCM nhỏ xíu là thách
thức với định mệnh khi nhìn Hòn Khoai ở Cà Mau chìm dần
trong sóng nước. Con tàu này đồ sộ tại cảng nay chỉ là chấm
nhỏ trong đại dương. Thân phận con người chỉ là bụi mờ trong
gió, như người bạn cùng khóa lặng lẽ ra đi cách nay không
lâu. Lan man nghĩ về cuộc đời, tình bằng hữu, tình yêu, quê
hương, sự nghiệp phút chốc tan như bọt biển... Tâm hồn lâng
lâng nhẹ nhàng ru Nam vào giấc mơ…

Giấc mơ thật kỳ lạ!

Thời gian trùng hợp với đám giỗ ba Nam!

Chiếc-bình-cổ và bức-tranh-hậu-thân!

Anh không tài nào mường tượng hình dung bức tranh,
nhưng nhớ câu ông Ngoại nói, “Mỗi người ngắm tranh sẽ có
cảm nghĩ khác nhau tùy theo cách nhìn của họ”. Thật vậy, dù
trong đầu Nam bức tranh không tượng hình; nhưng là biểu
tượng cho sự tái hợp tuyệt vời trong cuộc sống con người.

176 Đa Hiệu 117

Anh bâng khuâng! Ba anh đã mất khi anh phục vụ tại miền
Trung. Ngoại mất ít lâu sau đó. Suốt đời ba làm lụng vất
vả nuôi con ăn học, thường dặn dò,”Con hơn cha là nhà có
phước” khuyên nhủ các con gắng học hành để thoát khỏi cảnh
nghèo nàn cơ cực. Ba anh và Ông Ngoại “Ông Hai Lý” là biểu
tượng cho nghị lực Nam thường nghĩ đến những lúc chân ướt
chân ráo đến xứ người. Bẵng đi thật lâu, giờ đây hình ảnh ba
và Ngoại hiển hiện trong cùng giấc mơ.

Nam lẩm bẩm:

- “Chiếc Bình Cổ” và “Bức Tranh Hậu Thân”!
- “Chiếc Bình Cổ” và “Bức Tranh Hậu Thân”!
- “Chiếc Bình Cổ” và “Bức Tranh Hậu Thân”!

Phải chăng đây là lời nhắn nhủ của ông Ngoại và Ba! Bởi
trên đời không có gì vĩnh cửu, cuộc sống mong manh. Nhờ
lòng tin, chữ tín, và tình yêu thương để hàn gắn đổ vỡ; biến
cái điều tưởng chừng vô dụng, trở thành hữu dụng như là
bức tranh vô hình, vô giá!

Người Mỹ có câu “If it ain’t broke, don’t fix it”, được hiểu
là đừng thay đổi gì nếu NÓ không hư!

Vậy thì nếu “NÓ” bị nứt bể như chiếc bình cổ kia thì nên
hàn gắn lại chiếc bình vỡ; cho dù sẽ không thể hoàn hảo như
cũ nhưng vẫn tốt hơn một chiếc bình vỡ nát… Và, nếu ghép
được từng mảnh vụn của chiếc bình kia thành bức tranh
như trong giấc mơ thì thật là tuyệt… tuyệt vời…

Chiếc Bình Cổ 177

Bài Trăn Trối của
Một Người Lính Alpha Đỏ.

Quốc Nam, K22

Thơ đã chảy trăm ngàn con suối lệ,
Ta thề nguyền chôn chặt khối tình riêng.
Còn thấy đâu trời bóng núi Lâm Viên,
Ta rũ rượi trong lưu vong đày ải.

Ta có ước mơ được mùa cây trái,
Tiếng sáo thanh bình sông vắng làng xưa.
Quê ta nghèo nhưng tình đậm thiết tha,
Em áo tím trọn một đời chung thủy.

Ta có quê hương vẫn đầy lũ quỷ.
Mẹ ta ngậm ngùi chín suối phương xa.
Ta nhớ vô cùng màu đỏ “Alpha”,
Nuôi chí ta thành Trường Sơn lửa dậy.

Xin thắp sáng hồn ta ngàn thúc đẩy,
Chiến sĩ oai hùng hèn hạ vậy ư?
Đã nhiều năm chỉ uống rượu tiêu sầu,
Sao quên máu xương anh em, đồng đội?!

Em áo cưới biết bao năm vẫn đợi,
Một ngày quân về rợp bóng chinh y.
Cờ Quốc Gia tung bay rộn kinh kỳ,
Thân bách chiến ta tiếc gì máu đổ.

178 Đa Hiệu 117

Ta bỏ ngũ nên lưu vong khốn khổ,
“Chủ nghĩa điên cuồng”, vận nước đổi thay.
Hãy đốt lửa ta hừng hực gan đầy,
Yêu dấu em với tình cao nghĩa rộng.

Nếu mốt mai ta chết khi tìm sống,
Cho muôn dân đang ngóng đợi quân về.
Em cứ coi ta đã vẹn câu thề,
Xác thân đã trả nợ non sông cũ.

(Trích thi tập “Người Tình Quê Hương”)

Thơ Bài Trăn Trối của Một Alpha Đỏ 179

Mưa Hạ trên Góc Trời Tây Bắc!

Như Hoa - Ấu Tím, K26

Khi có tâm sự buồn người ta thường làm
ngược lại chăng? Thật ra tâm sự lúc nào
cũng có chỉ là cách mình “đối phó” với nó, nếu
cứ để mọi sự tự nhiên - khi buồn mình buồn - khi
vui mình vui - ngay cả khi đang có việc gì xảy ra
cho mình thế giới vẫn vận hành y như thế - nhân
loại vẫn yêu thương giận hờn y như thế! Khi leo lên
đỉnh núi nhìn xuống sẽ thấy chập chùng lá, sẽ thấy lơ l ử n g
mây, tiếng suối róc rách bên tai khi được ngồi trên thân gỗ
mục để cảm được làn hơi ẩm lạnh của tuyết tan lan lên đến óc!
Ừ, con người chỉ là một thứ gì đó rất rất nhỏ, có được gì
hơn con sâu cái kiến là cái khổ: Sinh khổ - Lão khổ - Bệnh
khổ - Tử khổ! Trong cái khoảng Sinh - - Tử có thêm: Yêu
không gần Khổ - Muốn không được Khổ - Ghét phải ở chung
Khổ - Thêm năm thứ Hành - Sắc - Thụ - Thức - Tưởng dằng
xé càng thêm khổ!
Biết thế nên rõ ràng câu: Sống để khổ rồi chết là đúng ngay
từ khi lọt lòng mẹ.
Tại sao nhiều người thích leo núi. Có lẽ mỗi bước chân lên
cao là một niềm tự hào không vấp ngã, lựa tư thế đặt gót chân
thế nào để không bị trợt trên bao nhiêu là đá to đá bé, chung

180 Đa Hiệu 117

quanh và cả trên cao hoa lá đủ màu sắc, chỉ sơ hở tí thôi rơi
xuống vực mất mạng như chơi! Được leo núi rồi mới hiểu tại
sao những người Thượng ở Đà Lạt ngày xưa xếp hàng một
vượt rừng leo núi, dù yêu nhau cách mấy vẫn hàng một mà đi.
Yêu thật lòng phải biết buông tay không níu không kéo để có
nhỡ xẩy chân chỉ một đứa bị thương đau - người còn lại kêu
cứu giúp. Khi quý nhau thật lòng không để người mình yêu
quý đi phía vực sâu phần mình an toàn bên vách núi.

Cũng nhiều người thích lần mò xuống suối chạm tay vào
nước tuyết tan lạnh cóng, ngồi xệp xuống bãi lá mục dựa hẳn
vào rêu để biết đá vẫn ấm áp dù đã trải qua mùa băng giá. Có
nằm trên đá mới biết tim đá ấm dường nào, dù chung quanh
còn tuyết như những người lặng im thường có trái tim nồng
nàn thổn thức cho đến lúc chết, dù tay buông xuôi tình cũng
buông xuôi. Những bi kịch đời hạ màn hỉ nộ ái ố chẳng là
vướng bận. Trên trời xanh mây trắng bay - hoa vàng hoa hồng
điểm trên lá nõn để nhận biết ra rằng: Con người là loài động
vật thượng đẳng. Ngoài việc tìm cách sống còn trên mặt đất
như muôn loài động vật khác, họ biết yêu thương và làm khổ
lẫn nhau, nhất là nhầm lẫn “trói buộc” là “yêu thương”. Có lẽ
cởi được nút thắt này con người sẽ hạnh phúc hơn chăng?

Ngẫm đến nỗi khổ khi biết ngày tàn hơi tận đang đến mà
khối tình trong lòng không thể tỏ bày, vì bao nhiêu điều ràng
buộc chung quanh, không thể nhìn người muốn thấy, không
thể nói điều muốn nói dù chỉ là một lời xin lỗi. Đau đớn làm
sao - khổ làm sao! Như những thước phim quay chậm, câu
chuyện “sống để bụng chết mang theo” càng nặng nề hơn đưa
tôi đến một góc trời rất hay mưa, những cơn mưa bất chợt, đến
và đi không hẹn trước. Mùa Xuân đã chuyển mưa làm những
cánh hoa Sơn Thù Du - Dogwood trắng lung lay như bướm,
bướm bay trong mưa!

Người ta hay dùng câu: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu -
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ!” trong truyện Kiều để
than thở khi nhìn mây giăng gió cuốn lá hoa bay. Riêng mình

Mưa Hạ trên Góc Trời Tây Bắc! 181

lòng thì buồn mà nhìn cảnh nào cũng đẹp, nét đẹp của thiên
nhiên mà con người chỉ là những sinh vật sống trong cảnh trí
ấy.

Ừ: “Trời mưa thì mặc trời mưa - em không có nón trời chừa
em ra!” Hôm ấy có mưa. Ngồi uống cà phê trốn mưa trong
Starbucks cùng cô bạn có giữ nhiều cổ phần của họ. Ngoài trời
lạnh trong tiệm vài nhóm vào rồi ra hẳn người ta đã quen với
gió mưa. Không như người từ California ấm áp ít khi bị mưa
nên ngại chẳng muốn ra đường, ngồi mãi chờ đến khi mưa
tạnh. Khi ánh nắng xuyên mây trời đã xế qua giờ ngọ, cái giờ
phải đi tìm thứ để ăn trước khi đi dạo xem vùng Tây Bắc Mỹ
Seattle có sự gì, ngoài tuyết mưa và gió!

Quán ăn giống sao là giống khung cảnh quán cơm bà Cả
Đọi cuối thập niên 1970 tại Sài Gòn. Thực khách quen biết
lẫn nhau, trong khi bà chủ nấu và bưng không ngớt. Nhìn mặt
khách đã biết khách muốn ăn gì: “Canh chua cá kho tộ thêm
đĩa xào lê - gim!” rồi xăng xái bưng nước, mang trà. Chỉ khác
bà chủ là người miền Nam nên xởi lởi nói cười kể chuyện
đời bà, từ khi sang Mỹ trở lại Việt Nam xây mộ cho Mẹ đến
chuyện người chia phòng (share) có tình, có nghĩa. Chỉ nghe
thế mà thương sao những cảnh đời khác hẳn với suy nghĩ của
mình.

Chết là hết, là tan vào hư vô, là buông bỏ hết mọi thứ không
cần mồ cao hơn người khác, không cần phải có vượng địa cho
con cháu ăn nên làm ra. Những điều ấy đã không cần thiết khi
mình hiểu hiếu nghĩa là sự thương yêu chăm sóc khi còn sống,
là sự dậy dỗ chăm sóc con cái khi còn trứng nước. Không thế
nào sự hiếu để được đong đo bằng nấm mồ sau khi mẹ cha
khuất núi, hay con cháu nên người có sự nghiệp hẳn hoi vì
miếng đất ôm giữ xác thân ông bà cha mẹ!

Góc Trời Tây Bắc Washington vừa cho phép dùng phần
còn lại của con người sau khi được “ủ” “sấy” với mạt cưa, rồi
trộn với đất, sỏi làm thành phân bón cho cây cỏ. Điều này đã

182 Đa Hiệu 117

được nhiều nơi thực hiện, bao lần trong phim bộ Đại Hàn. Tài
tử mang bao tay trắng chôn chiếc hộp đựng tro của cha hay
mẹ xuống gốc cây. Vài mươi tập phim sau đó là cảnh gia đình
ngồi quây quần cũng dưới gốc cây ấy để gỡ bỏ bao nhiêu tình
huống éo le trong chuyện phim, thí dụ như anh em cùng cha
khác mẹ nhận ra nhau sau một thời gian yêu thương thắm thiết
sắp đi đến hôn nhân, rồi thì mỗi người mỗi ngã bỏ Đại Hàn
sang nước khác như Mỹ - Pháp (?) để trốn nỗi buồn. Đại khái
là trên thế giới những quốc gia ít đất đai đã biết cách phải thu

Vịnh Chambers Bay, Washington
xếp ổn thỏa hậu sự cho kiếp nhân sinh! Hỏi có ai được sinh ra
mà không chết nhỉ!

Đến thăm thành phố University Place. Nơi ấy tuyệt đẹp
với hoa thơm cỏ lạ, nhất là có bạn tôi làm trong thư viện của
thành phố.

Người ta nói: “Nơi nào sách vở được nâng niu trân trọng
nơi ấy có nhiều nhân tài!” Thật vậy, có nhân tài sẽ có những
công ty, những cơ sở nổi tiếng và điều chắc chắn sẽ có những
hiến tặng vô vụ lợi để dân sống trong thành phố được hưởng
dồi dào phúc lợi, hoa đẹp dọc hai bên đường, nguồn nước
sạch, không khí thơm tho ít ô nhiễm. Đây vẫn còn nhiều công
trình đang xây dựng theo kiến trúc hiện đại đẹp mắt. Không

Mưa Hạ trên Góc Trời Tây Bắc! 183

gian của thư viện như mở rộng ra ngút ngàn bằng dẫy cửa kính
nhìn thẳng ra cánh rừng thông, những chiếc ghế đặt kề bên
chiếc bàn con có cắm cánh hoa bình dị êm ả làm sao. Trên kệ
sách mới nhận là quyển báo Kỷ Nguyên Mới, tờ báo bạn tôi
làm chủ bút nâng niu trân trọng bao năm nay.

Linh Vang, nhà văn nữ của Góc Trời Tây Bắc, cô bạn hiền
hòa dễ yêu giọng nói ngọt ngào ân cần luôn làm tôi cảm động
muốn khóc vì tấm lòng nhung lụa của nàng. Tôi rón rén như
cô bé lên mười được bạn thân mở cửa ngôi nhà búp bê của bạn
cho nhìn vào phía trong, hưởng không gian hạnh phúc tình gia
đình thân cận thăm cha mẹ già em út, góc bàn làm việc nơi
bạn vào ra. Tình bạn của chúng tôi khởi đi từ sắc huyền hỏi
ngã, dấu chấm, dấu phẩy lên đến sách in báo tuần báo tháng.
Đến nay tôi gần như buông bỏ niềm đam mê ấy, trong khi bạn
tôi vẫn bình chân như vại không chút chao đảo với sách trên
trời, trên mạng viễn liên, trên ebook facebook v.v. Bạn tôi vẫn
thủy chung Văn Hữu - Kỷ Nguyên Mới dù chẳng thệ nguyền,
chẳng đeo nhẫn ngón thứ tư, như bạn thệ nguyền ngày cưới
cùng người bạn đời tuyệt vời sát cánh cùng vợ chăm sóc những
đứa con tinh thần xinh đẹp từ trang bìa đến trang cuối.

Chúng tôi cùng nhau đến Chambers Bay địa chỉ: 6320
Grandview Dr W, University Place, WA 98467 để đi bộ. Tôi
chẳng biết gì về môn thể thao đánh banh bằng gậy này ngoài
việc họ chiếm cứ nhiều cảnh đẹp của thiên nhiên quá: Nào là
cỏ xanh, nào là nước biếc. Nhất là những bảng cấm người đi
bộ vượt qua lằn ranh họ đã “xí phần”.

Tôi không thế nào không ganh tị chút đỉnh khi mình muốn
ghé xuống bãi nước để chạm chân vào nước mà không được,
thiên nhiên ưu đãi mọi người kia mà! Ghen tí thôi, nhưng ngay
sau đó tôi phải cám ơn họ, những người có điều kiện đã đóng
tiền để thành phố chăm sóc công viên quá đẹp những tiện nghi
công cộng, những cây cỏ lá hoa những con đường tuyệt đẹp và
an toàn xuyên qua cánh rừng xanh thăm thẳm cho mọi người
thoải mái chạy thoải mái đi. Vì thế, Seattle Washington được

184 Đa Hiệu 117

xếp hạng hai sau San Francisco, nơi người dân có đời sống
mạnh khỏe nhất nước Mỹ.

(https://www.advisory.com/daily-briefing/2018/02/16/
healthiest-cities?fbclid=IwAR0DlyvjlHjl6JN_
Qwfh8bvzr6BCzWza7eUgz-hma4g46ygSt47SxAWycoc)

Có lẽ thiên nhiên là tủ thuốc của thượng đế dành cho nhân
loại khi ngài tạo nên sinh vật phủ đầy mặt đất thì phải? Những
con sâu ngo ngoe trên lá bình thản nhấm khi tôi ngắm nhìn.
Chẳng lâu đâu,nó sẽ thành chú bướm đủ màu sắc bay la đà
gieo phấn giúp cây tạo trái ngọt - trái chua. Nhớ lại thuở xuân
thì các cô hay rú lên chạy khi nhìn thấy sâu. Đôi khi con sâu
chính là “bà mai” cho mối tình học sinh thơ mộng khi nàng vì
sợ mà ôm chầm lấy người bên cạnh là anh chàng bạn học cùng
trường! Thuở ấy nắm tay thôi đã là “của nhau”, ôm chầm lấy
như thế thì “ôm suốt đời” không sao chia rẽ được!

Cái tủ thuốc thiên nhiên của thượng đế đôi khi bị lạm dụng
và dùng sai cách, cũng lá cũng hoa cũng trái cũng rễ ấy khi
khỏe mạnh chẳng ai nghĩ đến ăn uống nhai nuốt nó. Chỉ đến
khi bác sĩ thông báo trong cơ thể có mầm mống “phản loạn”
sinh nở vô tổ chức thành khối này, cục nọ người ta chợt nhớ ra
để chỉ nhau. Nào là nghệ uống chung với vỏ chanh - lá đu đủ
khô nấu đặc uống như trà, rồi gừng rồi cỏ rồi... thì bệnh nhân
được về cùng thiên nhiên bón cây, bón cỏ!

Nỗi buồn trong lòng càng nặng nề hơn khi bị bất lực, bị đầu
hàng vô điều kiện khi biết giờ sắp điểm. Sắp mất người anh
con của bác, hai anh em thương nhau từ tấm bé chia nhau bao
niềm vui nỗi khổ, kỷ niệm từ khi có trí nhớ đến khi có người
yêu có vợ có chồng tỉ mỉ chi li từng nỗi niềm anh em chia sẻ
cho nhau “sống để bụng - chết mang theo!” Gom góp lại viết
xuống hẳn dài hơn chuyện phim kiếm hiệp, có đấu võ, có tình
hận tình hờ, có hỉ nộ ái ố chẳng biết nguyên nhân từ đâu đến,
mỗi khi gặp nhau kể lại là cười vang nhà.

Bốn tên con trai, một đứa con gái tạo thành nhóm “ngũ tặc”

Mưa Hạ trên Góc Trời Tây Bắc! 185

của dòng họ. Các chị lớn không thèm chơi với con bé cách
mình gần chục tuổi. Thế là con bé cứ thế bám theo các anh
chỉ hơn mình một hai tuổi - cùng tuổi. Đám giỗ, đám cưới, Tết
lúc nào cũng có chuyện để bác, để bố phải một phen mất vía.
Đầu tiên là ngay khi rước dâu chị lớn nhất trong nhà, con bé
sáu tuổi bị xô xuống sông, áo đầm xinh xắn phải thay thành
quần xà lỏn ở trần, trong khi chờ áo đầm khô! Tết thì con bé
có bao nhiêu tiền lì xì mất hết vào tay các ông giặc chơi bầu
cua cá cọp, hay ra chợ ăn hàng! Cứ thế mà lớn cùng nhau cho
đến 1975.

Anh em bị ở lại Việt Nam khi toàn gia đình kịp lên tàu di cư
lần thứ hai để chia thêm bao ngậm ngùi nóng lạnh ngẩn ngơ
hụt hẫng. Thác về, ừ thì anh về trước đi để lại thế gian này âm
thanh anh hát đùa: “Giết người đi giết người đi - giết người
trong mộng vẫn đi về!” (nhạc PD) trong lúc tay trái cầm cây
mía dài, tay phải cầm dao phay chém cây mía đứt đôi cho cô
em gái róc vỏ, cắt khúc ướp lạnh. Đám cưới, đám giỗ anh là
đầu bếp chính chia thồi. chia heo quay. Cái đuôi heo quăn tít
giòn rụm: “Cho mày!”

- “Cô mày cứ đi chơi ở nhà làm gì!” Anh ân cần.

Anh lên chức trưởng tộc, mỗi câu anh nói như mệnh
lệnh, thêm chữ “Cô” trước chữ “mày” của thời thơ ấu.
Câu cuối anh tiễn trước cửa nhà: “Cô chú về nhé!” Biết anh
sẽ “về” bên ấy khi em bước qua khung cửa ra xe, không dám
nhìn anh vì nước mắt đã đong đầy chực òa lên khóc! Cõi này
là cõi tạm ai cũng phải trở về! Anh về trước đi - em vẫn còn
đây loay hoay với bao bề bộn nhớ nhớ, thương thương trắc
ẩn. Những toan tính họp mặt gia đình, du ngoạn tháng Sáu trở
thành bữa tiệc cuối cùng tiễn đưa anh.

Mùa Hè chưa qua góc trời Tây Bắc đã vắng Anh, người
con của bác - người bạn thời niên thiếu của tôi, bàng bạc mây
mòng mọng nước! Quê nào là Quê chính, hả Anh?

Tháng 6 - 2019

186 Đa Hiệu 117

Đường Chúng Ta Đi

Phan Anh Tuấn, K26

“Đường Chúng Ta Đi” là tên một bài hát chính huấn mà
Tân Khóa Sinh EF/ K29 của TVBQGVN (do K26 huấn luyện)
đã trình diễn khi sửa soạn gắn Alpha năm thứ nhất. Một câu
trong bài mà tôi vẫn còn nhớ: “Đường chúng ta đi qua bao
gian khó chông gai, đóa hoa hồng nở trên mỗi bước tới....”

Vũ khí đầu tiên tôi mang năm 14 tuổi là một lưỡi lê M1.
Đi Hướng Đạo, có bằng Hạng Nhì nên mỗi lần đi cắm trại,
ngoài cuốc xẻng, búa rìu, tôi đeo thêm lưỡi lê này bên hông.
Dĩ nhiên trông tôi oai lắm! Vũ khí kế tiếp mà tôi có là một
khẩu súng hẳn hoi, nhưng ngắn thôi. Đó là khẩu P38 ru-lô 6
viên. Năm 1968 Tết Mậu Thân, khi Việt Cộng đánh vào Chợ
Lớn, nhà tôi ở khu Tòa Bố đường Nguyễn Trãi, kế bên là một
khu nhà của An Ninh Quân Đội VNCH. Thế là các chú lính
An Ninh Quân Đội dàn quân dọc theo bờ tường của xóm để
chuẩn bị chận đánh VC xâm nhập. Tôi được mấy chú lính cho
phụ vác thùng đạn đại liên M30, nặng chình chịch nhưng bù
lại được tin tưởng giao cho khẩu ru-lô P38.

Trong trận Mậu Thân, hình ảnh các anh lính Thủy Quân
Lục Chiến, Biệt Động Quân... với quân phục rằn ri trông thật

Đường Chúng Ta Đi 187

oai hùng đã ảnh hưởng sâu đậm đến suy nghĩ của tôi. Kết quả
là sau đó tôi tình nguyện gia nhập Khóa 26 Trường Võ Bị Đà
Lạt, mà tên đầy đủ chính xác là Trường Võ Bị Quốc Gia Việt
Nam.

Ngày nhập trường thật đáng nhớ. Những anh chàng thư

sinh từ các miền tập trung về Đà Lạt, thành phố của sương mù

và hoa anh đào. Các SVSQ khóa đàn anh đã tiếp đón chúng

tôi nồng hậu. Chúng

tôi được mời vào

hội quán trước cổng

trường, được mời

nước ngọt và bánh

kẹo rất là lịch sự.

Sau đó, mỗi người

được phát một tấm

thẻ để cột vào thắt

lưng, với lời giải

thích của đàn anh

là để nhớ đơn vị

của đại đội. Sau đó,

Một đơn vị Biệt Cách Dù tại An Lộc chúng tôi được tập
1972 họp trước cổng Nam

Quan. Nhìn chung quanh, tôi mới biết mấy ông đàn anh, tiếp

tân hiền hòa khi nãy, giờ biến đâu mất. Sau một loạt trống kèn

của ban Quân Nhạc kế bên cổng, từ cổng Nam Quan bước ra

một toán SVSQ Cán Bộ Huấn Luyện (K23) trông thật nghiêm

trang và lạnh lùng. Một ông lầm lì bước lên bục (SVSQ Cán

Bộ Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn Tân Khóa Sinh Đoàn Công

Vân, Khóa 23):

- “Các anh có 30 giây quay nhìn đỉnh Lâm Viên, mà sau hai
tháng huấn nhục các anh sẽ chinh phục.”

Sau đó ông dằn giọng hét to:

- “Dưới quyền các Cán Bộ, hành xác Tân Khóa Sinh Khóa

188 Đa Hiệu 117

26.”

Giờ thì tôi mới rõ công dụng tấm thẻ đeo ở thắt lưng, mục
đích để khi xỉu các bạn khác có thể khiêng về đúng đại đội.
Rồi từ đó chúng tôi được huấn luyện để từ những học sinh,
sinh viên dân chính lột xác trở thành SVSQ/ TVBQGVN. Cái
thời Tân Khoá Sinh khổ như thế nào thì người ta chỉ cần nghe
lời ước của tên bạn bên cạnh của tôi khi thi hành lệnh phạt
cũng rõ. Trong khi liên đội TKS bị quần tơi bời lúc học Chiến
Thuật, khi nhìn bên cạnh bãi học có vài chú bò thảnh thơi gặm
cỏ, tên bạn của tôi đã thốt lên:

- “Uớc gì tao được làm con bò (chic).”

Rồi thời gian hai tháng được huấn luyện khổ nhọc cuối
cùng cũng chấm dứt bằng lễ gắn Alpha,

- “Quỳ xuống, Tân Khoá Sinh!”

Và,

- “Đứng dậy, Sinh Viên Sĩ Quan!”

Sáng hôm sau, màu Alpha đỏ mới đã góp phần làm xứ Hoa
Anh Đào đẹp rực rỡ thêm. Từ đó hết mùa Quân Sự đến mùa
Văn Hóa. Tưởng đi lính là đỡ vụ sách đèn, ai ngờ vào Võ Bị,
chúng tôi học văn hóa còn dữ dội hơn sinh viên dân sự nữa,
vì nếu thiếu điểm Văn Hóa của năm thứ nhất, chúng tôi sẽ bị
ra trường không nhân nhượng với cấp bậc trung sĩ hiện dịch.

Vào mùa Quân Sự năm thứ ba, chúng tôi về Trại Hoàng
Hoa Thám, Saigon, để học Nhảy Dù chung với khóa sinh
Vương Mộng Hồng cũng đang theo học tại đây.

“Nhảy dù cố gắng. Cố gắng Nhảy dù. Châm ngôn đó theo
mãi chúng tôi. Cố gắng chừng nào đứt hơi mới thôi. (NT Phan
Nhật Nam)

Vào mùa Quân Sự năm thứ tư, Khóa 26 được chia làm hai
đợt khác nhau để theo học các chương trình huấn luyện khác
nhau. Để thực tập chỉ huy, Đợt 1 chịu trách nhiệm huấn luyện
Tân Khóa Sinh Khóa 29, đợt 2 đi học Rừng Núi Sình Lầy ở

Đường Chúng Ta Đi 189

Trung Tâm Dục Mỹ, thường được gọi là “Trung Tâm Tàn Phá
Nhan Sắc”. Sau đó thứ tự huấn luyện sẽ thay đổi lại, có nghĩa
là Đợt 2 huấn luyện TKS và Đợt 1 đi thụ huấn tại Dục Mỹ,
sau khi huấn luyện TKS. Đà Lạt là xứ lạnh nên khi chúng tôi
về tới Dục Mỹ, má người nào cũng đỏ hồng, đến nỗi mấy cô
bán hàng rong gần các bãi tập gọi là “Mấy chú lính mặt đỏ”.

Ở trung tâm huấn luyện chúng tôi được học 3 tuần, mỗi
tuần là một căn cứ. Khi theo khóa học, chúng tôi phải tháo
Alpha đỏ ra khỏi cổ. Theo quy định, các khóa sinh phải bỏ cấp
bậc đeo trên áo, và người ta chỉ có thể đoán cấp bậc khóa sinh
qua màu của miếng vải gắn trên cổ. Sĩ quan mang bảng đỏ, hạ
sĩ quan bảng vàng. Căn cứ nào cũng bá thở cả. Ở căn cứ Núi,
tôi nhìn từ đồi này qua đồi nọ chỉ cỡ 100 mét thôi mà khi băng
qua mất cả nửa buổi. Ở căn cứ Rừng có những dòng suối khi
tôi băng qua, da chân giống như bị phỏng. Ở căn cứ Sình khi
di hành mỗi người đều có thêm một bi đông không, với sợi
dây dù cỡ 2 mét phòng khi khóa sinh bị lún sình lầy, người ta
còn biết chỗ để mà lôi lên...

***

Tại căn cứ Sình Lầy khi trời chạng vạng tối, chúng tôi phải
chèo ngược sóng nước trong bài tập Tấn Công Hải Đảo. Mỗi
ca-nô chất cỡ 10 “em”, chèo chống mệt nghỉ. Vậy mà có toán
đến tối vẫn chưa đến được mục tiêu. Huấn luyện viên phải cho
ca-nô có động cơ đi kéo phụ.

Xong căn cứ Sình Lầy, Chỉ Huy Trưởng Trường Võ Bị ưu
ái gửi SVSQ học thêm một tuần thực tập Viễn Thám: Nào
tuột dây Viễn Thám, nào đeo thang dây khi triệt xuất (ra khỏi
vùng hành quân). Tuần huấn luyện này hấp dẫn và ảnh hưởng
đến việc chọn đơn vị của tôi khi ra trường. Trải qua thời gian
“nắng cháy da người” đã biến đổi chúng tôi đen ngầu đến nỗi
khi trở lại trường nhận nhiệm vụ huấn luyện Tân Khóa Sinh
Đợt 2, mấy bạn K26 huấn luyện Đợt 1 hăm he Tân Khoá Sinh:

- “Cho mấy anh 30 giây liếc nhìn cán bộ đợt 2, vừa thụ

190 Đa Hiệu 117

huấn Khóa Rừng Núi Sình Lầy đó. Hết thời kỳ vàng son Đợt
1, các anh chuẩn bị Đợt 2, sắt máu đi.”

Dĩ nhiên tên “Trung Tâm Tàn Phá Nhan Sắc” và hình dạng
chúng tôi làm xanh mặt khóa đàn em chân ướt, chân ráo vừa
vào trường.

Rồi sau khi mệt nhoài với 4 mùa Quân Sự, tóc muốn bạc
với mùa Văn Hóa tổng cộng gần 42 môn học, chúng tôi tốt
nghiệp TVBQGVN. Hoa mai lần nữa lại nở rực rỡ ở xứ của
hoa anh đào. Chúng tôi rời trường Mẹ với bao kỷ niệm vui
buồn quân trường, để lại cả những mối tình thơ mộng của
thành phố sương mù và đồi thông.

Tôi về Đại Đội 3 Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù. Đại
Đội 3, là một trong những đại đội nổi tiếng trong trận An Lộc,
đã bắn cháy T54 của VC, có hình đăng trên báo Chiến Sĩ Cộng
Hòa năm 1972. Phải nói Đơn Vị 81/ BCND là một đơn vị
dũng cảm nơi chiến trường nhưng rất kỷ luật khi về thành phố.
Dĩ nhiên tuổi trẻ thường có hiếu động và háo thắng. Nhưng
lúc nào các quân nhân trong đơn vị cũng được các chỉ huy
trưởng nhắc nhở, “Đơn vị chúng ta thiện chiến nhưng không
kiêu binh.” Vì thế, đơn vị luôn được khen là một đơn vị gương
mẫu.

Một ngày đẹp trời, tà tà trong căn cứ hành quân, không có
việc gì làm, nhân có phi đoàn thả toán vào rừng, tôi vui vẻ xin
phép Trung Úy Đại Đội Phó cho đi theo hợp đoàn bay vào
rừng để học hỏi. Tôi, cùng Thiếu Úy Lê Đạt đi theo, leo lên
chiếc gunship UH1. Anh ta chịu khó xách theo khẩu M16, còn
tôi thoải mái đeo bình toong nước và dao găm. (Chắc để lụi
VC khi cận chiến?) Dĩ nhiên là phi hành đoàn rất thích vì rủi
có rớt máy bay thì đã có hai chàng Biệt Cách (ham vui) dẫn
đường cho họ ra khỏi rừng.

Bay vừa tới sông Đồng Nai, hợp đoàn trực thăng khám phá
một đoàn xe thồ VC đang vận chuyển lương thực ở phía Đông
Nam làng Đại An. Lập tức C&C ra lệnh cho các trực thăng

Đường Chúng Ta Đi 191

đưa Toán vào vùng. Riêng chiếc trực thăng võ trang (gunship)
của tôi có nhiệm vụ chận đánh đoàn xe thồ, còn một hợp đoàn
trực thăng khác chở Trung Đội Xung Kích vào khai thác trận
địa.

Dưới hỏa lực của chiếc gunship, đoàn xe thồ tan hàng ngay
lập tức. Chiếc gunship xuống nữa và bay vòng vòng giống
như diều hâu đang săn mồi. Cánh quạt quay tốc các bụi cây lòi
ra một anh VC chính quy với quân phục màu cỏ úa. Anh chàng
vứt cây súng và nhỏm dậy bỏ chạy. Tôi la lớn với anh xạ thủ
trực thăng vì động cơ rất ồn:

- “Đừng bắn để bắt sống.”

Tôi choàng tay qua một bên để lấy khẩu M16 mà Th/U Đạt
vừa đưa. Lần này Th/U Lê Đạt lại nhắc tôi:

- “Đừng bắn chết để bắt sống.”

Tôi gài cò ở vị thế “phát một” và bắn từng phát nhắm vào
chân anh chàng VC. Chạy một hồi có lẻ vì quíu quá chứ không
phải vì trúng đạn, anh ta bật ra nằm thẳng cẳng.

Chiếc trực thăng đảo một vòng và đáp xuống. Tôi giao lại
khẩu M16 cho Đạt và mượn anh xạ thủ khẩu P38, rồi cùng Đạt
nhào ra cửa chạy nhanh đến chĩa súng vào tên VC đang ngơ
ngác chưa biết điều gì từ trên trời ập xuống. Chúng tôi xách
hắn lên. Tên VC không bị thương chi cả ngoan ngoãn nghe
lệnh. Chúng tôi kéo hắn lên trực thăng. Trước khi máy bay cất
cánh, tôi còn cố gắng nhặt cho hắn chiếc dép râu mà hắn đã
đánh rơi!

Một lần Đại Đội 3 ngang dọc khu rừng Tân Kiệm, Đông
Bắc Đồng Nai, để truy lùng huyện đội Vĩnh Cửu VC. Lúc này
trung đội này có thêm các sĩ quan: Thiếu Úy Sơn Camel; các
Chuẩn Úy Hùng, Việt, và Quốc. Trung Đội Phó của tôi, Trung
Sĩ Quỳnh, đã sang đại đội khác và tôi có anh phó mới là Trung
Sĩ Thân lanh lợi hơn.

Đại Đội 3, xuất phát từ làng Đại An, ban ngày cho mấy

192 Đa Hiệu 117

toán Thám Sát dọc theo bờ sông Đồng Nai hỏi thăm đồng bào
mướn thuyền để chuẩn bị vượt sông, qua Tân Uyên; nhưng tối
đến cả đại đội lặng lẽ xuôi về hướng Nam, quay ngược hướng
Tân Uyên, băng vào rừng Đại An...

Vào rừng, Biệt Cách Dù như những con beo gấm, lặng lẽ
trườn mình tìm săn mồi. Có nhảy toán rồi, có đi trung đội rồi
mới thấy hành quân cấp đại đội ấm vô cùng. Đại Đội cho ba
toán tung ra phía trước. Đi mấy ngày đầu giống như hành
quân thám du nhưng chúng tôi biết Biệt Cách Dù không phải
vào mật khu địch nhàn tản như vậy đâu. Giờ chúng tôi đang
đối phó với lũ côn trùng. Vắt thì khỏi kể rồi. Tối ngủ thì nghe
rắn gáy khè khè bên tai. Ban ngày chúng tôi vừa đi vừa đập
muỗi, con nào con nấy to giống như con chuồn chuồn trông
thấy mà ớn lạnh. Lại còn bò cạp nữa chứ. Tôi, bị một con bò
cạp “chơi” một phát vào tay. Tôi giũ giũ nó văng ra thì lại bay
vào cổ cậu lính đi phía sau, chích một phát. Hai thầy trò đêm
đó bị sốt vì sưng nhức.

Càng vào sâu đường mòn càng chằng chịt nên chúng tôi
biết rằng mình gần mục tiêu. Chúng tôi sửa soạn băng qua một
con suối nhỏ, bỗng bên kia có tiếng người léo nhéo. Vừa thấy
mấy bóng người xuất hiện, lính nhà ta nhanh nhẹn nổ phủ đầu
và tiếng đạn AK đáp trả nghe chát chúa. Tiếng dội của súng
hai bên nghe dữ dội. Trung đội mở hết hỏa lực và cho một tiểu
đội tràn qua suối. Cũng may suối chỉ ngang ngực mà thôi. Tôi
và tiểu đội kế tiếp tràn qua tiếp tục xả hết hỏa lực. Tiếng súng
của địch dứt hẳn. Trước mặt chúng tôi là một hội trường bằng
cây lá nhưng rộng lớn có thể chứa cả trăm người, treo cờ đỏ
sao vàng và cờ búa liềm; nhưng chẳng thấy tên VC nào cả.
Tôi công nhận chúng rút nhanh thật. Giựt mấy lá cờ đỏ xuống
và lục lọi lấy thêm một số sổ sách tài liệu, đại đội tiếp tục tràn
lên phía trước. Lại thấy thêm mấy cái chòi, nhưng không còn
ai. Chúng tôi lại tịch thu thêm một số lương thực, thực phẩm
của địch bỏ lại.

Đi thêm một ngày nữa, Đại Đội từ từ rút ra hướng quốc

Đường Chúng Ta Đi 193

lộ. Khi tới trảng trống cách quốc lộ gần một cây số, trung đội
tôi đi đầu. Đi trước tôi là mấy chú lính Thám Sát. Tôi vừa cúi
xuống để cột lại dây giày thì nghe tiếng AK nỗ chát chúa phía
trước, trong khi tiếng M16 đáp lại. Nhanh chóng, tôi vội chạy
lên thì thấy Hạ Sĩ Công vừa bắn vừa la,

- “Tụi nó kìa, Thiếu Úy!”
Tôi kịp thấy mấy bóng VC ở chòi phía trước là ra lệnh bắn
tới tấp. Một binh sĩ của mình bị nó quạt băng AK đầu tiên
nhưng may mắn rách lỗ tai thôi chứ không hề hấn gì. Trung
đội lại dàn hàng ngang xung phong. Tiểu đội này yểm trợ cho
tiểu đội kia, còn nguyên đại đội vừa trong rừng băng ra bình
thản làm như khán giả xem phim trung đội tôi tấn công. Quất
cho cái chòi lá nguyên trái M72, VC bung ra chạy tán loạn vào
bìa rừng. Trung Sĩ Thân bắn liên hồi mấy quả M79 vào bìa
rừng, VC tan hàng.
Đêm đó, nguyên cả đại đội đóng quân, ngủ dọc theo quốc
lộ. Hai tuần lội rừng nay ngủ kế bên đường nhựa là hạnh phúc
rồi. Mấy anh Địa Phương Quân đóng đồn gần đó cũng được
một đêm an bình vì có một đại đội Biệt Cách Dù bên cạnh.
Đây là một chuyện bình thường trong muôn ngàn chuyện
của những người lính của chúng ta. Đường chúng ta đi qua
bao gian khổ chông gai, nhưng cũng có những đóa hoa hồng
nở trên mỗi bước tới. Đừng vì thời thế, đừng để thời gian xóa
nhòa những kỷ niệm vui buồn trong đời lính của chúng ta!

Một thời để nhớ.
BCD 813

194 Đa Hiệu 117

Đại Hội Võ Bị Âu Châu 2019

Từ ngày 28 đến 30 tháng 8 năm 2019
Tại lâu đài Villebon Paris.

CSVSQ Lâm Văn Rớt,
K19, Tân Liên Hội

Trưởng Liên Hội Võ Bị
Âu Châu đang trao lại
Quân Kỷ TVBQGVN cho
thủ kỳ, tượng trưng Liên
Hội Võ Bị Âu Châu sẵn
sàng nhận nhiệm vụ trong
nhiệm kỳ mới. (2019-

2021).

CSVSQ Trần Viết Huấn, K23, đang giới thiệu chương trình lễ
khai mạc đại hội. (Bên phải là CSVSQ Hoàng Tôn Long, K31,

cựu Liên Hội Trưởng.)

Đại Hội Võ Bị Âu Châu 195

Nghi lễ bế mạc đại hội. (Hai người hầu kiếm trong toán Quân
Quốc Kỳ do TTNĐH Âu Châu đảm trách.)

CSVSQ Nguyễn Văn Thiệt, Tổng Hội Trưởng, chứng kiến nghi
lễ trao Quân Kỳ TVBQGVN từ Ban Chấp Hành cũ cho Ban
Chấp Hành mới, trong lễ bế mạc.

196 Đa Hiệu 117

Ban Chấp Hành của Liên Hội Võ Bị Âu Châu, nhiệm kỳ 2019
- 2021, đang trình diện. (Một điểm son đáng lưu ý là các thành
viên của Ban Chấp Hành cũ tiếp tục nhận lãnh các vai trò mới

trong Ban Chấp Hành mới.)

Các đại biểu tham đự đại hội gồm các thánh viên khắp châu Âu
và từ nước ngoài, đa số đến từ Hoa Kỳ.

Đại Hội Võ Bị Âu Châu 197

Các TTNĐH đang nghiêm chỉnh chào cờ VNCH (bên trái).

Cô Nguyễn Hồ
Diễm Anh, dại diện
Pennylvania, Hoa
Kỳ đang phát biểu.

Bên phải là các
cô Tammy Huỳnh,
Tổng Đoàn Trưởng

và Mai Thanh
Sương, K11P/2,
Liên Đoàn Trưởng
TTNĐH Âu Châu.

198 Đa Hiệu 117

TTNĐH Âu Châu và Mỹ Châu trước phút chia tay.

Kỷ niệm đáng nhớ qua một lần họp mặt. 199
Đại Hội Võ Bị Âu Châu


Click to View FlipBook Version