The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.
Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2022-08-28 15:02:33

Trả Ta Sông Núi Phạm văn Liễu

Trả Ta Sông Núi
Phạm văn Liễu

LƯỚI TRỜI LỒNG LỘNG
Lưới người, kẻ gian tà có thể thoát,
Nhưng lưới Trời, không thể nào thoát nổi.

Phạm Văn Liễu
Hồi ký Trả Ta Sông Núi

HOÀNG CƠ MINH CHẾT MẤT XÁC.

Từ sau ngày 29 tháng 12 năm 1984, Hoàng Cơ Minh, với tư cách Chủ tịch Mặt Trận, (không
do ai bầu hoặc đề cử ) đồng thời cũng là Chủ tịch Hội Đồng Kháng Chiến Toàn Quốc (chưa bao
giờ được thành lập) ký quyết định số 037/ HĐKCTQ giải nhiệm ông Trần Trung Sơn (Phạm
văn Liễu), Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Hải Ngoại, Minh mất hết sự tin yêu của mọi giới đồng bào,
lẩn trốn chiến hữu, lẩn trốn đồng bào, lẩn trốn dư luận, một thời đã kỳ vọng ông như một lãnh
tụ sáng giá tại hải ngoại.
Minh thường sống tại Hawaii hay Nhật Bản.

Do sự bầy mưu, hiến kế của cặp bài trùng Nguyễn Xuân Nghĩa và Hoàng Cơ Định, Minh trở
lại Thái Lan, cố làm sao tạo ra một tiếng vang, chứng tỏ cho dư luận thấy là Minh vẫn chỉ huy
chiến đấu ở quốc nội. Phải tạo được tiếng vang dội ngược về hải ngoại thì Hoàng Cơ Định mới
có lý do tiếp tục moi hầu bao của chiến hữu và đồng bào.

Vì áp lực của Tòa đại sứ Cộng Sản VN ở Vọng các (Bangkok), Bộ Tổng Tư Lệnh quân đội
Thái Lan có ý định giải tán căn cứ của ông Minh, tại tỉnh Ubon Ratchathani, có khoảng từ 40 tới
50 người, vũ khí phần lớn là súng trường M1, một ít lựu đạn, do Tướng hồi hưu Sutsai cung
cấp với giá cắt cổ.

Ông Minh chạy đôn chạy đáo tìm mọi cách liên lạc, bắt mối với các Tướng lãnh Thái, đặc
biệt là Tướng phụ trách biên thùy miền Nam và Tướng quân khu Ubon. Tháng 7 năm 1987,
Bộ Tổng Tư Lệnh quân lực Thái ra quyết định dời căn cứ của ông Minh lên vùng Bắc, trấn
đóng tại Mukdahan, giữa Ubon Ratchathani và Nakhon Phanom. Từ Nakhon Phanom đi lên
hướng Bắc, theo dọc biên giới sẽ tới thị trấn Nong Khai, bên kia sông Mékong là Vien tiane
(Vạn Tượng) của vương quốc Lào. Từ Nong Khai theo lộ 13 xuống phía Nam dẫn tới thị trấn
Udon Thani.

Tháng 8 năm 1987, ông Minh cho lệnh chuyển trại lên miền Bắc, lộ trình bám sát biên giới
Thái Lào. Thời gian này, không còn những cấp chỉ huy nhiều kinh nghiệm chiến trường rừng
núi, như đại tá Dương văn Tư, trung tá Lê Hồng. Chung quanh ông Minh toàn những thuộc hạ
thân tín chưa bao giờ tham dự chiến trận trong rừng như Nguyễn trọng Hùng, sĩ quan phòng 7,
Trần thiện Khải, sĩ quan hải quân, Võ Hoàng, một thanh niên hăng say, nhiệt huyết, nhưng chỉ
biết cầm bút, chưa lần nào cầm súng.
Ngô Chí Dũng, con chim đầu đàn của tổ chức Người Việt Tư Do cũng không còn nữa.
Hoàng Cơ Minh có tật thích được tôn sùng cá nhân và có tính hiếu sát, đã từng hạ lệnh xử tử
18 kháng chiến quân Mặt Trận tại khu chiến.

Trong chuyến dời căn cứ lên miền Bắc, đích thân ông cựu phó đề đốc hải quân chỉ huy cuộc
hành quân chuyển trại, xuyên qua rừng núi biên thùy Thái Lào. Không biết ông Minh có lưu tâm
đề phòng trong số kháng chiến quân đi theo ông có nhiều người bất mãn vì ông đã hạ sát anh
em, bằng hữu của họ. Manh nha trả thù cho anh em, bằng hữu và lo ngại cho chính bản thân
họ, mấy người này trốn khỏi hàng ngũ, đi báo cho quân Pathet Lào trấn đóng trong vùng. Quân
Pathet Lào tuy không tinh nhuệ, nhưng được trang bị vũ khí, đạn dược đầy đủ, quen thuộc
vùng chúng trấn đóng, bao vây toán quân do ông cựu Tư lệnh lực lượng thủy bộ chỉ huy.

Cuộc nổ súng giữa hai bên xẩy ra, vang dội núi rừng. Kháng chiến quân lần lượt ngã gục,
ông Minh và mấy người thân cận cũng không thoát khỏi cái chết. Một số kháng chiến quân bị

địch bắt hay đầu hàng. Tất cả người chết về phía Mặt Trận được chôn vùi sơ sài ngay tại
chỗ. Quân Pathet Lào không hay biết là trong số người chết có chủ tịch Hoàng Cơ Minh, lãnh tụ
kháng chiến Việt Nam. Pathet Lào báo cáo cho CSVN về cuộc chạm súng ở Hạ Lào và giao
những tù hàng binh cho CSVN. Sau khi khai thác tù hàng binh Mặt Trận, CSVN mới biết là Chủ
tịch Hoàng Cơ Minh đã tử trận, xác được chôn chung với kháng chiến quân chết trận. Chúng
bắt tù hàng binh quay lại chiến trường chỉ nơi chôn xác Hoàmg Cơ Minh. Vì xác đã được chôn
cả tháng trước đây, nên khi bới lên để chụp hình, một bên mặt đã bị nát.

Tháng 10, 1987, đài phát thanh và báo chí Lào loan tải bản tin chiến sự là đã tiêu diệt lực
lượng Hoàng Cơ Minh. Tháng 12, 1987, báo Nhân Dân của đảng CSVN và báo Quân Đội Nhân
Dân chính thức loan tin về phiên tòa xử các kháng chiến quân bị bắt trong cuộc chạm súng tại
Nam Lào và loan tải chi tiết về cái chết của chủ tịch Mặt Trận Hoàng Cơ Minh kèm theo hình
ảnh.

Hai tờ báo, một của đảng, một của Quân đội Nhân dân đã ra liền 3 số báo, tường thuật chi
tiết, rõ ràng trận đánh ở Nam Lào, cái chết của Hoàng Cơ Minh.

Tuy nhiên, ở hải ngoại, bọn đầu lĩnh kế thừa Mặt Trận nhất quyết không nhìn nhận là Hoàng
Cơ Minh đã chết.

Dư luận ở hải ngoại rất nôn nao khi được tin Phó đề đốc Hoàng Cơ Minh và nhiều chiến sĩ
thân thương đã hy sinh trên chiến trường Lào cho chính nghĩa. Tất cả đều mong đợi Tổng vụ
hải ngoại chính thức công bố tin này, sẽ làm lễ truy điệu và vinh danh những người con yêu đã
nằm xuống cho công cuộc giải phóng Việt Nam. Nhưng viện vào lý do không công bố tổn thất
nhân sự có ảnh hưởng tới tinh thần toàn bộ cơ sở của Mặt Trận, bọn đầu lĩnh nhất quyết tuyên
bố :
- “Chủ tịch Hoàng Cơ Minh vẫn còn sống và vẫn lãnh đạo công cuộc kháng chiến tại quốc nội.”.
Thậm chí, trong những số báo Kháng Chiến ra hàng tháng, ông vụ trưởng vụ Tuyên Vận vẫn
còn viết và cho đăng những tin tức tưởng tượng như là lực lượng kháng chiến dưới quyền lãnh
đạo của chiến hữu Hoàng Cơ Minh đã chiếm hết xã này tới quận nọ, nơi nào cũng đặt ủy ban
kháng quản, sau khi tiêu diệt hết các ủy ban xã, ủy ban quận của Cộng Sản.

Đồng bào hải ngoại đọc những loại tin “tức mình” này, rất khâm phục cặp bài trùng Hoàng
Cơ Định - Nguyễn Xuân Nghĩa với hai bộ óc có trí tưởng tượng tuyệt vời của một tiến sĩ hóa
học tốt nghiệp tại Pháp và một chuyên viên kinh tài tốt nghiệp trường Cao Đẳng Thương Mại
tại Paris.
Không xác nhận hay phủ nhận mọi tin tức đưa ra từ kẻ thù để bảo mật thực lực. Đây là bài học
4 không bắt đoàn viên học thuộc lòng:
- “Không nghe, không thấy, không biết và không nói “cóp nhặt của cộng sản.
Dư luận thương cho ông Minh đã anh dũng hy sinh trên chiến trường Nam Lào, dư luận sẵn
sàng bỏ qua những lỗi lầm của ông Minh đã không có tín nghĩa, đã gian tham tiền bạc, đã lừa
dối chiến hữu, đã lường gạt đồng bào.

Trường hợp, chính những người anh em ruột thịt và những tay chân thủ túc của ông Minh ở
hải ngoại lên tiếng về cái chết thảm khốc của ông Minh, đồng bào và nhất là các chiến sĩ hải
quân sẽ làm lễ truy điệu, vinh danh cựu phó đề đốc và các kháng chiến quân đã vị quốc vong
thân.

Mặt Trận và gia đình giòng họ Hoàng Cơ sẽ lấy lại được uy tín một dạo đã lên tới tuyệt đỉnh
và đã tắt lịm vì những tai tiếng xấu xa.

Trường hợp ông Minh thật quả chưa chết mà báo chí đảng và quân đội nhân dân bịa ra cái
chết của ông Minh đăng liên tiếp trong 3 ngày, trường hợp không ra hải ngoại như đi chợ thời
trước đây, ông Minh tìm cách lên tiếng với những phương tiện truyền thông hiện đại (như kiểu
thâu tiếng và hình vào băng video của tên trùm khủng bố OSAMA BIN LADEN xứ A Phú Hãn
bây giờ) , thì đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam chỉ còn cách bôi tro trát trấu lên mặt, đâu
còn dám tòi mặt mo ra với thế giới bên ngoài. Nhưng ông Minh không làm được vì ông đã
thực sự chết ở Nam Lào.

Dư luận thương cho ông Minh, nhưng thấy thái độ úp mở, dối trá, bất nhân của những đầu

lĩnh Mặt Trận, dư luận phê phán những tên này cố tình che dấu tin tức để tẩu tán tài sản, nếu
tuyên bố thực sự ông Minh và toàn bộ kháng chiến quân đã chết, bị bắt hay đầu hàng, tức là
Mặt Trận quốc nội không còn ai nữa làm sao mà tiếp tục quyên tiền.

SỰ THỰC VỀ CÁI CHẾT CỦA PHÓ ĐỀ ĐỐC HOÀNG CƠ MINH.

Tháng 2 năm 1999, các ông Bùi Bỉnh Bân và Hồ Anh Tuấn tố giác với dư luận Nam
California, Mặt Trận là Mafia, khống chế các đoàn thể, tìm mọi cách xen lấn vào các cộng đồng
người Việt hải ngoại để phá hoại, đưa người của Mặt Trận vào các vị thế lãnh đạo, dùng tiền
bạc mua chuộc và thao túng. Mặt Trận giật giây giới trẻ, dụ dỗ giới trẻ hăng say và đầy nhiệt
huyết vào một tổ chức ngoại vi lấy tên là Đoàn Thanh Niên Phan Bội Châu.

Cũng do sáng kiến của Nguyễn Xuân Nghĩa, Mặt Trận lập ra hai tổ chức ngoại vi :

1/ Tổ chức Liên Minh Việt Nam Tự Do trao cho ông Nghuyễn Tư Mô, giáo sư đại học Nha
Khoa làm chủ tịch. Giáo sư Mô là người mà ông Hoàng Cơ Minh đã nhiều lần tính đem thay thế
cụ Phạm Ngọc Lũy trong vai trò chủ tịch PTQGYTKC.

2/ Hội Chuyên Gia Việt Nam, lôi cuốn những chuyên viên trẻ nhẹ dạ, trao cho kỹ sư Vũ Quý
Kỳ, cư ngụ tại Atlanta, Georgia, chạy theo ông Minh cuối tháng 12 năm 1984. Rất nhiều bạn trẻ
đã tham gia hoạt động tích cực với hoài bão đem tuổi thanh xuân hiến dâng cho quê hương. Lý
tưởng của họ rất cao đẹp, suy tư của họ rất trong sáng, thẳng thắn, tinh thần của
họ rất mãnh liệt. Nhưng đáng tiếc họ đã bị lừa, và bị lừa một cách hèn hạ, nhục nhã. Dư luận
cho là hầu hết các thành viên của “Hội Chuyên Gia Việt Nam” đâu có biết rõ thân thế của vị chủ
tịch của họ, ông Vũ Quý Kỳ, người đã từng là tay chân thân tín trong nhiều năm trời của ông
Tướng tham nhũng, trùm buôn lậu, cánh tay đắc lực của Tonton Nguyễn văn Thiệu. Họ có biết
đâu họ đang bị khai thác nhiệt huyết và năng lực quý giá nhằm phục vụ quyền lợi riêng tư của
Mặt Trận . Các bạn trẻ trong “Hội Chuyên Gia Việt Nam” bị bọn người tham tàn, xảo quyệt
mượn danh nghĩa các bạn, các chuyên viên trẻ và tài năng, để xây dựng đất nước. . .với cộng
sản, để nói với cộng sản Hà nội rằng có chúng tôi đây, có Mặt Trận đây! Chúng tôi sẵn sàng
xóa bỏ hận thù để cùng quý ông bắt tay xây dựng đất nước, phục vụ đồng bào, đưa đất nước
theo kịp đà văn minh của thế giới.

Thời gian này, anh em Hoàng Cơ Long, Hoàng Cơ Định rút vào bóng tối, đưa các cháu gọi
bằng cậu, con ông bà Đỗ Thúc Vịnh, Hoàng Thị An (chị ruột của Minh, Long,Định ) như Đỗ
Hoàng Ý, Đỗ Hoàng Phiệt ở Houston, Texas, Đỗ Hoàng Điềm đại diện Măït Trận tại miền Nam
California.
Cũng trong thời gian này, Nguyễn Xuân Nghĩa cóp nhặt theo đường lối của đảng cộng sản,
đảng là nòng cốt, tuyển chọn những người chỉ biết có đảng, đảng là trên hết, vòng ngoài là Mặt
Trận, như Mặt Trận Việt Minh. Nghĩa thành lập đảng Việt Tân làm nòng cốt cho
MTQGTNGPVN. Hành động này làm cho nhiều đoàn viên Mặt Trận bất mãn vì không được
tuyển chọn vào đảng Việt Tân với hai thủ lãnh mới là Hoàng Cơ Định và Nguyễn Xuân Nghĩa.

Giữa tháng 4 năm 1999, luật sư trẻ tuổi Hoàng Duy Hùng cư ngụ
tại Houston, Texas phổ biến tài liệu: “Sự thật về cái chết của Phó đề đốc Hoàng cơ Minh”. Luật
sư Hoàng Duy Hùng cả quyết là ông Hoàng Cơ Minh đã chết tại Nam Lào vào tháng 8 năm
1987. Luật sư Hùng chỉ trích nặng nề Mặt Trận mưu toan những ý đồ đen tối, khi vẫn nhất
quyết ông Hoàng Cơ Minh còn sống và vẫn lãnh đạo kháng chiến trong quốc nội. Luật sư Hùng
còn cáo buộc Mặt Trận là một tổ chức buôn lậu, “buôn xương bán máu “ các chiến sĩ, tội đồ của
dân tộc. Mặt Trận trong nước đã hoàn toàn tan rã sau cái chết của ông Hoàng Cơ Minh, lãnh
đạo Mặt Trận ở hải ngoại là những con người bất xứng.

Năm 1987, luật sư Hoàng Duy Hùng gia nhập Đại Việt Cách Mạng của ông Hà Thúc Ký,
năm 1991, về nước hoạt động bị Việt cộng bắt. Nhờ chính phủ Hoa Kỳ can thiệp, năm 1993,
ông được chính quyền cộng sản trả tự do.

Trong thời gian bị giam giữ, ông Hùng đã được những bạn đồng tù nguyên là các tù hàng
binh của Mặt Trận kể cho ông nghe về cái chết của ông Hoàng Cơ Minh.

Luật sư Hoàng Duy Hùng được sự liên kết của nhóm ông Nguyên Khôi, bà Đoan Trang ở
San José, Bắc California, nhóm ông Hồ Anh Tuấn ở Orange County, Nam California, nhóm cựu
đại tá Trương như Phùng ở Houston, Texas, lập ra “diễn đàn công luận” thách thức Mặt Trận
đối chất. Dĩ nhiên là Mặt Trận tránh né việc công khai đối chất này, vì biết rõ là phần thua sẽ về
phía mình, thủ lãnh Hoàng Cơ Minh đã thực sự bỏ thây tại Nam Lào.

Luật sư Hùng xuất bản một cuốn sách về cái chết của Phó đề đốc Hoàng Cơ Minh, tựa
đề “Lột mặt nạ MTQGTNGPVN” phổ biến rộng rãi trong khối người Việt tỵ nạn cộng sản tại
hải ngoại, làm sáng tỏ dư luận về sự dối trá, gian giảo, lừa bịp của bọn đầu lĩnh Mặt Trận.

Nhân dịp Tết Trung Thu, Cộng Đồng Việt Nam ở Houston tổ chức cuộc rước đèn cho các
em thiếu nhi. Bọn đầu mục Mặt Trận lợi dụng cơ hội, tới phát không lồng đèn “thiếu nhi đi chân
đất, đội nón cối, với ngôi sao dẫn đầu” cùng khẩu hiệu “vì các cháu thiếu nhi, toàn dân ta kháng
chiến”. Mặt Trận tuyên bố, câu nói đó là của chủ tịch Hoàng Cơ Minh. Nhưng các đoàn thể và
người Việt tại Houston thì cho câu nói đó của Hồ Chí Minh, lên tiếng phản đối, tố cáo trước dư
luận Mặt Trận làm tay sai cho cộng sản và phá thối cộng đồng, làm nhục cả đến trẻ em.

Báo chí ở Houston dã viết:
- “Cái Nghiệp của ông Hoàng Cơ Minh thật là nặng. Đã chết thảm, chết không toàn thây, chết
mất xác, chết thật đau đớn, và sau khi chết hương hồn vẫn không yên. Nhà Phật thường dùng
chữ Nghiệp để giải thích cho những điều bất hạnh gặp trong đời. Một bầy đầu lĩnh bất tài, vô
tướng, có tiền trong tay cũng chỉ múa may quay cuồng, bắng nhắng như một lũ phường tuồng,
đi thực hiện lồng đèn nêu cao chính nghĩa cộng sản thay vì chính nghĩa quốc gia. Thật là tiền
ngập đến cổ, muốn nuốt cho trôi cũng phải có một khả năng tối thiểu. Khả năng này, nhóm lãnh
đạo Mặt Trận hiện nay, thật là thiếu vắng.

Trăm, bia đá cũng mòn,
Ngàn năm, bia miệng vẫn còn trơ trơ.

Không hiểu vì nguyên do nào mãi đến giữa năm 2001, bọn đầu lĩnh Mặt Trận chính thức
khai tử cho phó đề đốc Hoàng Cơ Minh cùng số kháng chiến quân đã tử trận.

Nhà báo Nguyên Thanh bên Úc Đại Lợi, trong bài Chuyện Dông Dài với tựa đề :
Việt Cộng cứu Mặt Trận
Hay
Mặt Trận cứu Việt Cộng
Bài viết mở đầu bằng hai câu thơ:

Anh linh Liệt Sĩ hỏi Hoàng Cơ . . .
Định bịp dân ta tới bao giờ ?

Băng nhóm Tội Đồ Dân Tộc Mặt Trận Hoàng Cơ Định sau khi trình diễn một màn xác
nhận “Muộn màng sau mười bốn năm gian dối để rửa tiền” sự tử trận của Phó đề đốc Hoàng
Cơ Minh cùng vài Liệt sĩ, đã bị mọi người nguyền rủa thậm tệ.

Ông bác sĩ “chiến hữu” Đặng Vũ Chấn là một cán bộ cao cấp trong “Băng Đảng” được cử
qua Úc để thanh minh thanh nga, cứu nguy băng đảng.

Nhà báo Nguyên Thanh viết:
- Chúng tôi không thắc mắc về chuyện có kháng chiến hay không có kháng chiến. Chúng tôi chỉ
thắc mắc về những nghĩa binh còn đang bị nhốt trong lao tù cộng sản, về mấy ngôi mộ không
tên trong chiến khu, về cái chết không minh bạch của Trung Tá Lê Hồng, về sự mất tích của
kháng chiến quân thứ thiệt Ngô Chí Dũng.
Đừng dùng sự lừa bịp để che đậy điều gian dối.
Sự bưng bít về cái chết của thủ lãnh, của chính anh ruột của mình từ năm 1987 mà mãi cho
tới năm nay, 2001, mới “ậm ừ truy điệu” cho qua chuyện, là một thái độ hết sức Tắc Trách và
Vô Lương Tâm. Sự gian dối này kéo dài 14 năm. Năm nào cũng vậy, cứ vào dịp Tết Âm lịch,
báo Kháng chiến lại có Thư chúc Tết đồng bào của chủ tịch Hoàng Cơ Minh (bản văn giả mạo
này, dư luận biết rất rõ là thiên tài Tuyên Vận đã sáng tạo ra). Hành động ấy, liệu có thể gọi là
Hành Động Lường Gạt Đại Quy Mô trải rộng toàn cầu không? Hành Động khinh khi sự hiểu biết
của người dân Việt hải ngoại không? Nếu không gọi là Lường Gạt thì gọi bằng chữ nghĩa
gì? Ngây thơ ư ???
Vậy sau khi chính thức công nhận cái chết của người lãnh đạo tối cao của tổ chức, Mặt Trận
nghĩ gì về câu hỏi:
- “Ai là tác giả của các lá thư chúc Tết đồng bào ??????”.
Ma quỷ đâu có viết được, phải là người, vậy người đó là ai ??????
Với chính sách bốn không, (không biết, không nghe, không thấy, không nói), Mặt Trận cứ câm
miệng hến, theo đúng câu ngạn ngữ :
Lời nói là bạc, Im lặng là vàng.
Mặt Trận chỉ thích vàng thôi !!!
Đây là chủ trương của nhóm đầu lĩnh Mặt Trận hiện nay, trường kỳ, bất di bất dịch.

VỤ ÁN TRỐN THUẾ CỦA CÔNG TY NAKAMURA.

Ngày 22 tháng 4 năm 1991, cảnh sát thành phố San José, Bắc California đã câu lưu Hoàng cơ
Định, vợ Định, (Phan Thị Hà)ø cùng ba bộ hạ Nguyễn Kim Hườn, Nguyễn Tấn Bính và Phan
Duy Cần. Năm bị cáo trên sẽ bị xét xử 26 điều khoản về các tội âm mưu (conspiracy), khai
gian thuế (false statement on tax return), trốn thuế (tax evasion), và không khai thuế (failure to
file tax return).
Bản cáo trạng do một Đại Bồi Thẩm Đoàn (Grand Jury) biểu quyết nhằm truy tố :
1/ Định Cơ Hoàng, aka Dean Nakamura, Vu Quang, Phan vu Quang,
2/ Hà Phan Hoang,
3/ Binh Tan Nguyen, aka Le van Nam,
4/ Huon Kim Nguyen, aka Steven Nakashima,
5/ Can duy Phan, aka James Masuda,
về các tội danh: âm mưu (conspiracy), khai gian thuế (false statement on tax return), trốn thuế
(tax evasion), không khai thuế (failure to file tax return).
Tổng cộng là 26 tội danh.
Với số tiền bạc lường gạt được của chiến hữu và đồng bào cùng tiền lợi tức của các cơ sở kinh
tài, bọn đầu lãnh Mặt Trận đem ra bảo lãnh số tiền thế chân rất cao, lo việc tại ngoại cho những
kẻ bị bắt giữ trong vụ án trốn thuế. Tuy nhiên, theo thông luật, tòa án đã bắt bọn người này phải
nộp sổ thông hành, để không trốn đi ra nước ngoài được, nhất là Nhật Bản, vì mấy người này
đều lấy tên Nhật. Gian manh nữa là Hoàng Cơ Định, trong thời gian tại ngoại lập ra Quỹ Công
Lý, kêu gọi chiến hữu và đồng bào đóng góp tài chánh trang trải tiền thuê mướn luật sư biện
hộ. Dư luận nặng nề chỉ trích Hoàng Cơ Định là con người vô liêm sỉ, đã gian tham, lại trốn

thuế, nay lại lập ra quỹ công lý để moi tiền những người nhẹ dạ hay bị đe dọa. Thành thử, cũng
không thâu được bao nhiêu.
Đồng tiền đâm toạc tờ giấy, án lệnh truy tố bọn người gian dối được hủy bỏ ngày 15 tháng
sáu năm 1966.
Tuy nhiên, tòa án lương tâm và công luận còn tồn tại mãi mãi. Hình ảnh 5 nhà lãnh tụ Mặt Trận
bị còng tay và đẩy lên xe cây, đồng bào San José khó có thể quên.

VỤ MẶT TRẬN KIỆN BÁO CHÍ.

Đầu năm 1994, tôi nhận được điện thoại của anh Vũ Ngự Chiêu, tức nhà văn Nguyên Vũ, giám
đốc nhà xuất bản và phát hành Văn Hóa, yêu cầu tôi ra làm chứng cho vụ ba đầu lĩnh Mặt Trận,
Hoàng Cơ Định, Nguyễn Xuân Nghĩa và Trần Xuân Ninh kiện nhà văn Nguyên Vũ, giám đốc
nhà xuất bản Đa Nguyên, đã cho in và phát hành cuốn hồi ký chính trị Mặt Trận, những sự
thực chưa hề được kể của nhà văn Cao Thế Dung năm 1992. Suy nghĩ một lúc, tôi nhận lời,
anh Vũ Ngự Chiêu là bạn tôi, tình thân như ruột thịt, Nguyên Vũ hay Chính Đạo là nhà văn có
nhiều tác phẩm và bài phân tách chính trị, tôi ưa thích .
Những ngày kế tiếp, tôi nhận được điện thoại của ông Cao Thế Dung, tác giả cuốn hồi ký chính
trị Mặt Trận, những bí mật chưa hề tiết lộ về Mặt Trận Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh và đặc biệt
là tổ chức K 9, cũng yêu cầu tôi ra làm chứng cho vụ ông bị nhóm ba đầu lĩnh Mặt Trận kiện .
Tôi đã nhận lời ra làm chứng cho nhà văn Nguyên Vũ, tôi không chần chừ nhận lời. Ông Cao
thế Dung, tôi đã biết từ ngày ở Saigon, qua Hoa Kỳ, ông là chiến hữu trong Mặt Trận. Thêm
nữa, ông là nhà văn và nhà báo can đảm, không sợ bạo lực, viết lên những sai trái, nhem
nhuốc, gian giảo của Mặt Trận.

Ông Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng, chủ báo Văn Nghệ Tiền Phong (VNTP) cũng gọi cho tôi
yêu cầu tôi ra làm chứng về vụ ông bị ba người đầu lĩnh Mặt Trận thưa ra tòa, vì báo VNTP đã
cho đăng tải những bài viết của Lê Kính Dân “Ai giết vợ chồng ký giả Lê Triết”, Lê Bằng Phong
và Chu Tri Lục viết khen tặng và phụ họa bài của Lê kính Dân.

Tôi nhận lời yêu cầu của ông Nguyễn Thanh Hoàng, ông Hoàng với tôi quen biết nhau từ
ngày tôi theo học trên trường Võ Bị Dalat năm 1952, và những ngày sau khi ông làm chủ
những tờ báo Ngôn Luận, Văn Nghệ Tiền Phong ở Saigon, kể cả thời gian tỵ nạn qua Hoa Kỳ,
ông Hoàng với tôi vẫn là bạn có giao hảo tốt.

Ngoài sự quen biết và tình bằng hữu, tôi nhận lời yêu cầu của cả ba người, ra làm chứng là
vì chính nghĩa, vì công đạo, vì công lý, tôi không muốn thấy nhóm đầu lĩnh Mặt Trận hiện nay
mang tiền bạc phi nghĩa ra, định làm hại ba người trong giới văn bút, báo chí.

Ngày 13 tháng 5 năm 1994, Luật sư Kleven, thầy cãi cho phe nguyên đơn, có Hoàng
Cơ Định đi theo đến Austin, Texax, lấy lời khai của tôi, nhân chứng cho phía bị cáo.

Tôi trưng ra những tài liệu chứng minh Hoàng Cơ Định là một con người sảo trá, gian manh,
bạo tàn. Trước đó, tôi tra cứu tự điển dịch mấy chữ nhận xét về anh em họ Hoàng Cơ, như bịp
bợm, dối trá, lường gạt, phản bội, v.v. . .ra tiếng Anh cho đúng. Tưởng tôi có tài liệu thành văn,
luật sư Kleven đòi xem và ghi vào biên bản.

Ông Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng cho biết đã nhờ một luật sư Mỹ biện hộ, tên là Richard
D. Givens ở Redwood City. Nhà văn Nguyên Vũ cho biết đã nhờ được luật sư Nguyễn Tâm có
văn phòng tại San Jose, biện hộ, chỉ có ông Cao Thế Dung lấy lý do nghèo nàn, không có tiền
thuê mướn luật sư, được tòa cho tự biện hộ.

Phiên tòa chính thức bắt đầu từ ngày 5 tháng 12 năm 1994 tại tòa Thượng Thẩm hạt Santa
Clara ngay trung tâm thành phố San José.
Ngày 12 tháng 12 năm 1994, tôi đáp máy bay qua San José, tới phi trường được Nguyên
Vũ và cựu chiến hữu Vũ hữu Dũng đã chờ sẵn, đưa tôi về nhà anh Dũng. Chiêu cũng ở đó,

sau này có thêm Cao Thế Dung tới. Tội nghiệp anh chị Dũng đã phải thu xếp việc ăn ngủ cho
ba chúng tôi, lại phải lo la-de (beer) cho nhà văn Cao Thế Dung.
Nguyên Vũ trình bầy là giai đoạn đầu của phiên tòa hộ. Phiên tòa do ông Thẩm phán
Joseph F. Biafore, Jr. điều hợp. Nguyên Vũ cười nói:
- “Anh biết không, việc xét xử vai trò xã hội của các nguyên đơn mới thật quan trọng, vì nó
quyết định phần nào kết quả vụ án. Trong các vụ án hộ hay dân sự (civil), luật pháp Mỹ có
những điều khoản khác nhau tùy theo “vai trò xã hội” của nguyên đơn . Nếu nguyên đơn là
thường dân (private citizen) họ được luật pháp bảo vệ rất kỹ. Nhưng nếu phe nguyên đơn là
người của đám đông hay nhân vật cộng đồng (pubic figures), họ phải chấp nhận sự chỉ trích
của giới báo chí và dư luận. Ngày 7 tháng 12, 1994, sau nhiều ngày tranh cãi của hai phía luật
sư, thẩm phán Biafore phán quyết các nguyên đơn là người của đám đông. Ngược lại, phía bị
cáo không được nhắc nhở gì đến vụ án trốn thuế của vợ chồng Hoàng Cơ Định và thuộc hạ.
Tiếp đến là việc lựa chọn 12 vị bồi thẩm chính thức và 2 dự khuyết cũng thật gay cấn, phải mất
2, 3 ngày mới xong.”.

Tuy nhiên, Nguyên Vũ khẳng định, thế nào phía bị cáo cũng thắng kiện.
Nguyên Vũ và tôi hàn huyên đủ mọi chuyện về phiên tòa, phe nguyên đơn, phe bị cáo, điểm
mạnh, điểm yếu của hai phe. Nguyên Vũ nhấn mạnh về trường hợp Cao Thế Dung. Điểm yếu
nhất của ông Dung là không có luật sư, phải tự biện hộ, Anh ngữ giới hạn, phải dùng thông dịch
viên. Ông Dung ăn nói lưu loát, nhưng nhiều khi đi quá trớn vì hăng say, tuy nhiên khiêm tốn,
nhã nhặn, gây được cảm tình của Bồi thẩm đoàn. Luật sư Nguyễn Hữu Liêm được phe bị cáo
mời biện hộ cho ông Dung, nhưng luật sư Liêm chỉ nhận sẽ thủ vai trò “cố vấn”.
Phe nguyên đơn, Hoàng Cơ Định nhất thời tưởng là mạnh. Thái độ kiêu căng, ngạo mạn, mặt
trơ, trán bóng, lúc nào cũng vênh lên, cậu ấm con quan, kẻ cả ta đây, tốt nghiệp tiến sĩ từ bên
Pháp, lắm tiền nhiều bạc, dù tiền bạc toàn là thứ phi nghĩa, tham lam, gian giảo, làm mất cảm
tình của Bồi thẩm đoàn.
Tôi lắng nghe Nguyên Vũ trình bầy, tôi có ý kiến:
- “Ba bị cáo, Cao Thế Dung, Nguyễn Thanh Hoàng và Nguyên Vũ như ba tay chèo trên một con
thuyền nhỏ trong cơn sóng gió, không những phải vững tay chèo, không sợ sệt, không rối trí,
không nản lòng, mà còn phải liên kết chặt chẽ, chung sức, ba người như một. Nếu có một
người nhảy ra khỏi thuyền, thuyền sẽ đắm, cả ba người sẽ đắm theo thuyền. Vậy phải liệu
trông nhau, bảo nhau, giúp nhau, bình tĩnh, chịu đựng, trí óc lúc nào cũng giữ cho tỉnh táo, sáng
suốt. Anh nghĩ Nguyên Vũ thừa biết những điều anh vừa nói, anh tin vào Nguyên Vũ thừa nghị
lực và khả năng để thực hiện việc giữ cho con thuyền khỏi đắm.”.
Tôi cũng có ý kiến về sự thông cảm, kết hợp giữa hai luật sư, Richard Givens và Nguyễn Tâm.
Hai vị luật sư, một Mỹ, một Việt, phải hướng dẫn khéo léo các bị đơn, các nhân chứng, cung
khai ở tòa, kẻ nâng, người đỡ, né chỗ mạnh, tìm chỗ yếu, chỗ sơ hở của phe nguyên đơn mà
khai thác triệt để.
Nói tóm lại, việc thắng bại cho phiên tòa là do ở sự đoàn kết một lòng của ba bị cáo và sư liên
kết, phối hợp giữa hai luật sư.

Tôi đề nghị Nguyên Vũ bàn với luật sư Nguyễn Tâm triệu tập một phiên họp đông đủ có mặt
cả bị cáo, chứng nhân và luật sư vào ngày chủ nhật ngay tại văn phòng luật sư Tâm, để thông
qua những điểm cốt yếu, vai trò của từng người, chiến lược và chiến thuật áp dụng để đi tới
toàn thắng. Trong buổi họp, tôi đề nghị, sau mỗi buổi tòa, ba bị cáo tới nhà anh Vũ Hữu Dũng
họp, để khai thác những ưu khuyết điểm của từng người phía mình và những ưu khuyết điểm
phía nguyên đơn, ngày hôm sau, ra đòn cho thật đúng.
Bên phía nguyên đơn đưa ra hai nhân chứng, An Nguyễn tức Nguyễn Kiển Thiện Ân, hồi còn ở
Saigon, làm Thứ Trưởng của chính phủ Nguyễn Văn Lộc (1967-1968), qua Hoa Kỳ làm thông
dịch viên các tòa án hạt Santa Clara. Ông Nguyễn Ngọc Bích, khai trước tòa, du học tại Mỹ
năm 1956, tốt nghiệp đại học Princeton, về nước làm viện trưởng đại học Mékong từ 1972-
1975.

Cá nhân tôi biết ông Bích nhiều, cùng với anh em ông là các ông Nguyễn Ngọc Linh, Nguyễn
ngọc Phách, Nguyễn Ngọc Nhạ, v.v. . .Tôi không hiểu tại sao ông Bích lại nhận lời ra làm
chứng cho phía nguyên đơn.

Bên bị đơn, thoạt đầu, Nguyễn Thanh Hoàng mời ông Hoàng Xuân Yên, tức ký giả Hoàng
Xuyên, nhưng ông Yên từ chối không nhận. Ông Nguyễn Đạt Thịnh từ Hawaii bay qua San
José làm nhân chứng theo lời mời của nhà văn Nguyên Vũ, nhưng sau Nguyên Vũ quyết định
chỉ đưa ông chủ báo Diều Hâu lên bục nhân chứng nếu cần.

Rốt cuộc, có Vũ Hữu Dũng, cựu trung tá Nguyễn Xuân Phác, (một thời làm chủ báo Dân
Tộc, Dân Việt và rồi Người Việt Bắc Cali. Ông là người đầu tiên đã công bố những gian lận,
tham tàn của Hoàng Cơ Minh và anh em, giòng họ) và tôi là nhân chứng của phía bị đơn.

Tôi không thể nêu ra đây, trong cuốn sách này, tất cả chi tiết phiên tòa, như cuốn “Một ngày
có. . . 26 giờ “, bút ký của Nguyên Vũ về vụ án lịch sử Báo Chí Hạ Đo Ván Mật Trận. . . Kháng
Chiến William Nakamura, dầy 300 trang, và cuốn “Mặt Trận kiện Báo Chí”, tường thuật của
Trần Củng Sơn diễn tiến từng ngày về phiên tòa Mặt Trận Kiện Báo Chí vào cuối năm 1994,
dầy hơn 200 trang, vì đây chỉ là một chương, trong tập 3 cuốn hồi ký Trả Ta Sông Núi khoảng
30 trang giấy. Tôi chỉ viết những chuyện “ái, ố, hỷ, nộ” đã xẩy ra trong phiên tòa.
Người đặc biệt trong số 3 bị đơn, nhà văn Cao Thế Dung đã là một minh tinh sáng chói trong
suốt phiên tòa:

1/ Ông Dung đã trình diện trước thẩm phán và các bồi thẩm hình ảnh một nhà văn trên 60 tuổi,
nghèo đến độ không có tiền mướn luật sư, kiêm tốn và lịch sự, nhưng đủ can đảm đương đầu
với thứ móng vuốt vô hình của bạo lực, gian trá và lươn lẹo, đương đầu với mãnh lực của kim
ngân.
2/ Ông Dung nổi bật với hai điểm trong bài diễn văn, ông nói với giọng từ tốn, khiêm cung,
nhưng rất đanh thép, cao giọng, khi hai lần chỉ thẳng vào ba nguyên đơn “Mặt Trận là ba người
này, ba người này là Mặt Trận.”.
Hay nhất là mỗi lần đến lượt ông được kêu lên trả lời hoặc cung khai, ông bước ra vái ông
thẩm phán, vái bồi thẩm đoàn, vái luôn cả các bạn bè, thân hữu ngồi dưới ghế thính giả. Thái
độ của ông Dung gây xúc động và cảm tình của bồi thẩm đoàn.

3/ Phía nguyên đơn, luật sư Kleven, dụng tâm đánh mạnh vào điểm nghi ngờ ông Dung không
có bằng tiến sĩ (PhD hay được gọi là Doctor) mà dám nói là có.

Ông Dung trả lời về điểm này rất vui, ông nói thưở nhỏ, nhà nghèo, không đủ tiền cho ông đi
học, ông phải đi chăn trâu độ nhật, tối về tự học dưới ánh trăng hay ánh lửa bếp. Ông cố học
đỗ bằng tiểu học. Luật sư Kleven đánh tiếp:
- “Ông Dung, ông cho chúng tôi biết, ông có bằng trung học không?”.
Họ Cao không trả lời thẳng vào câu hỏi, nói:
- “Sau khi tôi đỗ tiểu học, bố mẹ tôi lần lượt qua đời, tôi phải qua ở nhờ bà cô tôi. Bà bảo tôi,
cháu đã có bằng tiểu học, cháu nên cố học lấy bằng thành chung (trung học), cô sẽ cố làm nuôi
cháu ăn học. Tôi học trung học ở trường phủ (nhà quê).
Cứ mỗi lần ông nói về việc học hành của ông trong sự nghèo nàn của gia đình, ông lại chỉ vào
mặt Hoàng Cơ Định và Hoàng Cơ Long nói :
- “Tôi đâu có được học hành ở những trường to lớn trên thành phố như những người này. Ông
cha chúng trước kia làm quan tham nhũng, hối lộ, giúp giặc Pháp dẹp những phong trào kháng
chiến, nhiều tiền bạc nuôi chúng ăn học trong sự cao sang, giầu có, trường to, trường tốt.”.
Luật sư Kleven nhiều lần giơ tay “objection !” (phản đối), nhưng quan tòa vẫn cho tiếp tục.
Ông Dung tiếp tục kể :
- “Tôi cố gắng học, đỗ cả hai bằng tú tài. Bà cô tôi bảo, cháu học được lắm, người ta học đỗ cử
nhân, cháu nên cố gắng học lấy bằng cử nhân.”.

Nghe lời bà cô, tôi học tiếp cũng trong sự nghèo nàn, chật vật về cuộc sống nương tựa bà cô
tôi. Tôi đỗ bằng cử nhân. Ông lại quay về phía anh em họ Hoàng Cơ, nói gay gắt như ở
trên. Luật sư Kleven giơ tay “objection”, ông tòa cho tiếp tục. (Tôi nghĩ ông thẩm phán muốn
tìm hiểu vấn đề giáo dục của Việt Nam như thế nào, nên mỗi lần luật sư nguyên đơn giơ tay
“objection”, ông vẫn tiếp tục cho ông Dung nói tiếp.)
Luật sư Kleven hỏi:
- “Ông Dung, ông cho chúng tôi biết, ông có bằng tiến sĩ không?, Trường nào và năm nào?”.
Ông Dung không trả lời thẳng vào câu hỏi, ông nói vòng quanh:
- “Sau khi tôi đậu bằng cử nhân, tôi vừa đi dậy học vừa tiếp tục học lấy tiến sĩ. Tôi đâu có cha
ông làm quan, tham nhũng, vơ vét tiền bạc của dân nghèo, thăng quan tiến chức vì làm bầy
tôi hữu hiệu cho giặc Pháp xâm chiếm và cai trị nước Việt Nam, để được gửi đi học tận bên
Pháp như bọn người này”.
Ông Dung vừa nói vừa chỉ vào Hoàng Cơ Định. Luật sư Kleven giơ tay “objection”, ông tòa vẫn
cho ông Dung tiếp tục.
Luật sư Kleven:
- “Ông Dung, ông không trả lời câu hỏi của tôi, chúng tôi muốn biết, ông có bằng tiến sĩ
không? Trường nào cấp bằng cho ông ? “.
Họ Cao vòng vo tam quốc, trả lời:
- “Tôi có đậu bằng tiến sĩ, tôi không theo học trường đại học nào ở Hoa Kỳ, tôi cũng không học
ở bên Pháp như tên này”, ông lại chỉ vào Hoàng Cơ Định Luật sư Kleven không nén được sự
sốt ruột, lên tiếng:
- “Ông Dung (Mr. Dung, đáng lẽ phải kêu ông Dung là Dr. Cao), ông nói, ông có bằng tiến sĩ
bên Pháp, ông cho biết trường nào?”.
Ông Dung lại vòng vo trả lời:
- “Tôi học bên Pháp, nhưng tôi không qua Pháp như tên này (lại chỉ vào Hoàng Cơ Định), tôi
học par correspondant (hàm thụ). Anh em, thân hữu ngồi dưới ghế thính giả lo quá, không hiểu
ông Dung trả lời ra sao. Luật sư Kleven:
- “Ông Dung, tôi chỉ hỏi ông tốt nghiệp tiến sĩ trường nào?”.
Họ Cao trả lời vẫn với giọng ẫm ờ :
- “À, tôi tốt ngiệp tiến sĩ tại một trường ở Paris, trường “Ecole Universelle de Paris “. Vì tôi học
hàm thụ, nên nhà trường gửi bằng qua đường bưu điện tới cho tôi. Tôi nhận được bằng, nghĩ
đến công ơn của bà cô tôi, đã mất, tôi đem tấm bằng ra mộ bà cô tôi, cúng vái, khấn khứa
xong, tôi bật lửa đốt tấm bằng cho cô tôi ở dưới suối vàng biết là tôi đã đậu tiến sĩ.”.
Cả tòa, kể cả ông thẩm phán, các bồi thẩm và thính giả, như coi một cuốn phim hay, nín cười
không nổi.
Buổi tối, tôi bàn với Vũ hữu Dũng và Nguyên Vũ, trêu chọc Cao Thế Dung một tí cho vui. Khi
chị Dũng dọn cơm ra, tôi yêu cầu chị lấy hai lon la de Budweiser để thưởng ông Dung, bữa nay
diễn xuất quá hay ở tòa. Tôi lại nói:
- “Kỳ này về, tôi sẽ làm một cuốn phim bộ, ông Dung thủ vai chính, như một hiệp sĩ, mặc quần
áo toàn mầu trắng, đầu chít khăn tang trắng, trên lưng đeo thanh bảo kiếm, tay mặt cầm tấm
bằng, vai trái đeo một bị lon Budweiser. Khi ra tới mộ bà cô, hiệp sĩ họ Cao để các thứ đeo
trên người xuống trước ngôi mộ, đoạn lấy lửa đốt tấm bằng, miệng khấn vái, hôm nay cháu ra
thăm mộ cô, cháu đốt mảnh bằng tiến sĩ, để dưới suối vàng cô biết là cháu đã đỗ bằng tiến sĩ,
như lúc sanh tiền cô vẫn mong đợi. Khấn vái xong, Cao tráng sĩ rút thanh kiếm ra khỏi vỏ, múa
mấy đường kiếm, vừa múa vừa ca :
- “Ta tráng sĩ họ Cao hề, gặp thời nhiễu nhương hề. Ta không sợ bạo lực hề, ta không sợ
mãnh lực kim ngân hề. Ta tráng sĩ họ Cao hề. Quyết dẹp tan bọn gian tà hề. Quét sạch nhiễu
nhương trong cộng đồng hề. Cho đồng bào sống yên vui hề.
Múa xong bài kiếm, ca hết bài ca, tráng sĩ họ Cao ngồi xếp vòng tròn trước mộ bà cô, lấy ra
một miếng thịt bò khô, mở la de ra nhậu.

Khi uống xong sáu lon la de, tráng sĩ họ Cao lại đeo bảo kiếm trên vai, đứng lên vái mấy vái,
rồi lên đường hành hiệp.”.
Vũ Hữu Dũng và Nguyên Vũ vỗ tay tán thưởng, phàn nàn không được đóng chung với Cao Thế
Dung trong cuốn phim. Còn họ Cao tuy vui trong bụng, nhưng nhăn mặt lắc đầu nói:
- “Anh Bảy trêu đàn em quá, em khai là ra mộ bà cô đốt bằng là có chủ đích, em muốn bảo
chúng nó rằng “bằng cái mả mẹ tụi bay”.
Luật sư Kleven bên nguyên đơn, hết truy ông Cao Thế Dung về bằng cấp không được, ông truy
qua là ông Dung có tham gia Mặt Trận hay không? (theo phía nguyên đơn khẳng định với ông
là ông Dung chưa bao giờ tham gia Mặt Trận, ông Dung có mặt trong các buổi họp của Ban
Chấp Hành TVHN là do ông Tổng vụ Trưởng dẫn đến.)
Một buổi tòa, luật sư Kleven chất vấn :
- “Ông Dung, ông cho chúng tôi biết ông có tham gia Mặt Trận không?”. (lưu ý là luật sư Kleven
luôn kêu ông Dung là Mr. Cao, không lần nào ông kêu là Dr. Cao). Ông Dung được anh em căn
dặn là khi luật sư hỏi, cứ bình tĩnh suy nghĩ cho kỹ càng rồi hãy trả lời, không nên hấp tấp, vội
vàng.
Chúng tôi nghĩ tiếng Anh của ông đủ để nghe biết luật sư chất vấn gì cũng như trả lời, nhưng
ông Dung đã yêu cầu được một thông dịch viên giúp. Bà Tô Hà là thông dịch viên hữu thệ được
tòa mời tới giúp ông Dung. Khi thấy luật sư Kleven hỏi về việc ông Dung có là thành viên của
Mặt Trận hay không, anh em mừng quá, ông Dung chỉ việc xuất trình tờ quyết định của Tổng vụ
Trưởng Trần Trung Sơn ký và đóng dấu, cho ông Dung làm Chủ nhiệm Ủy Ban Chính Trị của
Tổng vụ hải ngoại là bên nguyên đơn trắng mắt. Không hiểu ông Dung nghe bà Tô Hà dịch sao,
ông ngẩn mặt suy nghĩ, và trả lời dõng dạc “không” (no). Anh em ngồi dưới hàng ghế thính giả
nhăn mặt, lắc đầu, không hiểu sao ông Dung lại trả lời “không”.
May là đúng lúc đó ông Thẩm phán ra hiệu nghỉ trưa, chiều họp tiếp.
Trong bữa cơm trưa, anh em hỏi ông Dung, ông nghĩ sao, mà lại trả lời “không”.
Ông Dung nhăn nhó nói :
- “Tôi nghĩ họ đặt bẫy tôi, tôi nghe bà thông dịch viên dịch lại, tôi tưởng họ hỏi tôi là tôi có tham
gia Mặt Trận Giải Phóng không, (Mặt Trận Giải Phóng do cộng sản Hànội lập ra), vì vậy tôi trả
lời không.
Giận quá, tôi nói :
- “Thế tiếng Anh của ông cũng không nghe hiểu là họ hỏi gì sao?.”.
Buổi chiều, ông Dung xin được xuất trình bản quyết định và xin sửa lại cho đúng.
Thế là hai điểm mà luật sư Kleven xoáy vào ông Dung để chứng minh là ông Dung nói dối,
man trá trước tòa, nếu như vậy thì cuốn Mặt Trận và những bài viết trên báo VNTP, ông Dung
cũng đã dối trá, viết không có chứng cớ, gieo vạ cho ba nguyên đơn. Chỉ cần hạ một ông Dung
là kéo theo cả ba bị đơn thua kiện.
Cả hai điểm, ông Dung đều qua được.
Bây giờ, đến lượt những chuyện hỷ, nộ phía nguyên đơn.
Khi luật sư Richard Givens hỏi Hoàng Cơ Định:
Hỏi : Mặt trận có vào sổ bộ (tức đăng ký, register) không?
Đáp : Không !
Hỏi : Mặt trận có giữ sổ sách quyên góp tiền không ?
Đáp : Không !
Hỏi : Mặt trận có đóng thuế không ?
Đáp : Không !
Phản ứng của Bồi thẩm đoàn, một bồi thẩm đoàn hầu như chưa biết gì về Mạt Trận và sinh
hoạt cộng đồng Việt Nam, sau mấy câu đối đáp này rõ ràng bất lợi cho Hoàng Cơ Định và phía
nguyên đơn.
Ba tiếng trả lời “No” khô gọn, chẳng một chút ngại ngùng, ngượng ngập của Hoàng Cơ Định
bộc lộ bản chất con người bạo ngược, tham tàn và sự lường gạt có tính toán của anh em họ
Hoàng Cơ.

Một buổi tòa khác, khi luật sư Nguyễn Tâm xin trình tòa chứng liệu (exhibit) một xấp hình, trong
đó có một tấm hình chụp mấy ngày sau khi Hoàng Cơ Minh chết ở Hạ Lào hơn 7 năm trước.
Luật sư Tâm từ tốn yêu cầu Hoàng Cơ Định lật tới hình thi hài của ông Minh, cao giọng hỏi:
- “Ông Hoàng Cơ Định, ông có nhận ra ai trong hình đó không?”.
Hoàng Cơ Định chỉ liếc mắt qua tấm hình, thản nhiên đáp:
- “Không”.
Thật là bất nhân, bất nghĩa, táng tận lương tâm, một người vẫn cho mình là con giòng, cháu
giống, được nuôi ăn học, đỗ đạt đến cấp tiến sĩ Pháp, nỡ đang tâm không nhìn nhận tấm hình
thi hài của chính người anh ruột mình.
Luật sư Tâm không chịu tha, ông hỏi Hoàng Cơ Định về cái chết của Hoàng Cơ Minh :
Định trả lời :
- “Tôi tin rằng anh tôi vẫn còn sống.”.
Nguyên đơn thứ hai, y sĩ Trần xuân Ninh, sinh ngày 4-10-1936 tại Hànội, tốt nghiệp y khoa vào
năm 1963. Sau khi miền Nam mất, ông Ninh đi cải tạo 2 năm, qua Hoa-Kỳ năm 1979, tạm cư
tại Hayward, Bắc California, hành nghề tại Chicago. Theo ông Ninh, người con trai độc nhất của
vợ chồng ông bị chết thảm trên đường vượt biển tìm tự do, lý do đó, ông rất thâm thù cộng sản.
Ông gia nhập Mặt Trận năm 1984.
Qua sự hướng dẫn của luật sư Kleven, với lối trình bày lưu loát, hoạt bát, ông Ninh đã tự tạo
cho mình hình ảnh một vị y sĩ tận tâm về chức nghiệp, yêu thương đồng bào, nòi gống, quyết
tâm lật đổ bạo quyền cộng sản, mưu cầu hạnh phúc cho toàn dân. Cách diễn xuất của ông
Ninh cùng với sự nể vì đối với giới y sĩ, ông Ninh phần nào đã gây được thiện cảm của Bồi
thẩm đoàn. Ông Ninh chủ trương chiến dịch chống kinh tài cộng sản và cấm du lịch Việt Nam.
Dư luận trên Chicago cho rằng y sĩ Ninh đã cho đàn em đốt nhà một người Việt tên Lâm Tôn
chống lại lệnh cấm, đã về thăm quê hương.
Luật sư Givens hỏi :
Hỏi : Ông Ninh, ông biết chuyện gì xẩy ra cho ông Lâm Tôn sau chuyến đi về Việt Nam không?
Đáp : Ông ta bị vợ ly dị.
Hỏi : Ông biết việc có người đốt nhà ông Lâm Tôn không?
Đáp : Tôi chỉ biết nhà ông Lâm Tôn bị cháy.
Luật sư Nguyễn Tâm chất vấn ông Ninh về cái chết của Hoàng Cơ Minh. Bằng chứng của phía
bị đơn số 258, tức hồ sơ hình ảnh về Mặt Trận được trao cho ông Ninh. Chỉ vào tấm hình chụp
thi hài ông Minh, luật sư Tâm hỏi :
Hỏi : Y sĩ Ninh, xin cho biết ông có nhận ra ai trong tấm hình đó không ?
Đáp : Không.
Hỏi : Theo ông, ông Hoàng Cơ Minh còn sống hay đã chết ?
Đáp : Tôi nghĩ rằng ông Minh còn sống. (ông Ninh không dám quả quyết mà nói tôi nghĩ rằng).
Nguyên đơn thứ ba được mời lên bục nhân chứng là ông Nguyễn Xuân Nghĩa, tức Nguyễn
Đông Sơn. Dư luận toàn thể người Việt tỵ nạn cộng sản kết tội ông là nằm vùng cho cộng sản,
được gài vào Mặt Trận để phá hoại. Nhiều người còn cho là chính ông Nghĩa đã mật báo cho
cộng sản biết đường lối chuyển trại của ông Minh, phục kích để tiêu diệt ông Minh và các
kháng chiến quân. Ông Nghĩa đã rời Mặt Trận trước khi xẩy ra vụ án thuế khóa, ông đã cộng
tác với cơ quan an ninh của Hoa-Kỳ, nên đã không bị câu lưu cùng với năm đầu lĩnh của Mặt
Trãn tại hải ngoại.
Ông Nghĩa giữ thái độ hòa nhã với phía bị đơn.
Dưới sự hướng dẫn của luật sư Kleven, ông Nghĩa khai, sinh ngày 11-11-1944 tại Hànội. Cha
là Nguyễn văn Hiếu, kỹ sư công chánh, anh em thúc bá ruột với Nguyễn Văn Linh tức Mười
Cúc, Tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam từ 1986 tới 1991.
Ông Nghĩa tốt nghiệp trường Cao đẳng thương mại tại Paris, với bằng HEC (Hautes Etudes
Commerciales).
Ra hải ngoại ông Nghĩa tham gia Mặt Trận từ tháng 6 1984 với chức Vụ Trưởng vụ Tuyên Vận.
Luật sư Nguyễn Tâm chất vấn ông Nghĩa về việc tại sao không phải đi cải tạo như các công

chức cao cấp khác trong chính quyền miền Nam. Ai là tác giả bài viết ký tên Nguyễn Xuân
Nghĩa trên một tạp chí cộng sản chiến dịch chống kinh tài cộng sản và du lịch Việt Nam.
Luật sư Tâm lại xoáy vào việc sống, chết của Hoàng Cơ Minh. Nhìn vào tấm hình Hoàng Cơ
Minh một lúc, ông Nghĩa ấp úng nói:
- “Tôi không biết ai trong tấm hình.”.
Trả lời câu hỏi, Hoàng Cơ Minh còn sống hay đã chết, ông Nghĩa đáp:
- “Tôi không biết .” (I don’t know).
Khi luật sư Tâm vặn hỏi, tại sao trước đây ông tuyên bố ông Hoàng Cơ Minh còn sống. Ông
Nghĩa đáp:
- “Vì ngày ấy, tôi còn ở trong Mặt Trận.”.
Không biết ông Nghĩa có dụng ý gì khi trả lời như trên. Câu nói này chứng tỏ sự gian dối của
các đầu lĩnh Mặt Trận. Sự kiện này khiến Hoàng Cơ Định và Trần Xuân Ninh không dấu được
sự bất mãn. Phía bị đơn cũng không che dấu được sự vui mừng, tin tưởng sẽ nắm phần
thắng.
Phải nhìn nhận là những nhân chứng phe bị đơn, từ Vũ hữu Dũng, tới tôi và Nguyễn Xuân
Phác đã làm tròn trách nhiệm. Nhất là anh Nguyễn Xuân Phác đã nhấn mạnh y sĩ Ninh là con
người có hai bộ mặt, y sĩ Ninh giống hệt như y sĩ Jekyll và ông Hyde trong một cuốn phim. Có
lúc ông ta rất dễ thương, là một y sĩ tài giỏi. Nhưng có lúc ông ta lạnh lùng, tính toán, cực đoan,
có khả năng làm bất cứ gì để đạt mục tiêu.
Ông Phác cũng khai trước tòa, sau những loạt bài chỉ trích Mặt Trận, tòa báo của ông bị đập
phá, cá nhân ông bi đe dọa. Với sự hướng dẫn của luật sư Tâm, ông Phác khai thêm là tờ báo
Dân Việt của ông phải đóng cửa vì các cơ sở thương mại sợ móng vuốt của Mặt Trận, rút hết
quảng cáo.

BẠO LỰC ĐI VÀO TÒA.

Buổi tòa nào cũng có hai ba nhân viên FBI và thám tử Zwemke tới tham dự . Ngày 21 –12-
1994, tòa vẫn họp như thường lệ. Hôm nay, có lẽ Hoàng Cơ Định nghĩ là phía nguyên đơn
nắm chắc phần thắng vụ kiện nên động viên đại lực lượng đến tòa để làm áp lực và biểu
dương khí thế đấu tranh. Đoàn viên Mặt Trận ngồi kín cả phía bên nguyên đơn, tràn qua cả
phía bị đơn.
Phiên tòa buổi sáng vừa tan, Bồi thẩm đoàn còn đang lục tục rời phòng xử, nhân viên FBI và
cảnh sát vừa bước ra khỏi hành lang, ông Cao thế Dung rời chỗ ngồi bước về phía tôi.
Nhanh như cắt, Đoàn trọng Thê, K 9, chạy lao tới phía tôi đang đứng, dơ tay dí vào ngực tôi,
dáng điệu hung bạo và sừng sộ, gằn giọng nói với tôi:
- “Sao anh không mang theo Nguyễn Bích Mạc mà anh mang mấy con dogs này tới đây?
Tôi điềm nhiên, dịu dàng trả lời Thê ngắn gọn, kẻ cả. Trực giác thấy điều gì bất thường, bị đơn
Cao Thế Dung nhìn nhanh về phía Hoàng Cơ Định thì bắt gặp đôi mắt đầy căm thù, còn Hoàng
Cơ Long đôi mắt long lên sòng sọc.

Vì đây là trong Tòa, tôn trọng luật pháp, tôi kêu cảnh sát can thiệp, Thê, Long bước nhanh
ra khỏi phòng xử. Định chối cãi không có ra lệnh. Bà Thụy Giao, chủ báo Xây Dựng đã mô tả
rất đầy đủ trên mặt báo về cái trò vũ phu, bạo lực, coi thường pháp luật, của Mặt Trận, đã đặt
tên cho họ qua tựa đề “Chứng nào tật ấy.”.

Ngày cuối của phiên tòa kéo dài đằng đẳng 14 ngày. Phía nguyên đơn kéo nhau đến tòa
đông, thật đông. Cả hai phía, đơn và bị sẽ đọc bài biện hộ cuối cùng.
Luật sư Givens, Cao thế Dung (tự biện hộ), và luật sư Nguyễn Tâm, lần lượt đọc bài biện hộ
cuối cùng. Luật sư Givens khẳng định trên thực tế, cả ba nguyên đơn không có danh thơm gì
mà mất, họ chỉ là những kẻ xấu, gây ra đủ mọi tội ác trong cộng đồng người Việt, họ chỉ có xú
danh.

Các bị đơn cũng không hề “cẩu thả” hay “ác ý” mà thực sự tin tưởng những điều đã viết hay
phổ biến. Cao thế Dung, Nguyễn Thanh Hoàng không hề viết sai sự thực.
Luật sư Givens đòi bên nguyên đơn phải đưa ra bằng chứng, phải chứng minh vì ba bài báo
viết sai, cố tình vu oan, phỉ báng, khiến các nguyên đơn bị mất danh tiếng, đau ốm, sầu khổ.
Thế nhưng, không những các nguyên đơn không trưng ra được bằng chứng là ba bài báo hoàn
toàn sai, là cố tình vu oan, giáng họa làm hại nguyên đơn, cả ba nguyên đơn đâu có đau ốm,
sầu khổ, vì không trưng ra được một giấy tờ hay hóa đơn đi khám bác sĩ. Nữ ký giảø Thụy
Giao tường thuật rất trung thực y như bản văn (transcript) của Tòa.
Ông Cao thế Dung, trong bài biện hộ, có câu nói đi vào lịch sử cộng đồng hải ngoại, “Sự thực
là người biện hộ cho tôi, công lý là quan tòa của tôi”. (Truth is my defense, justice is my judge).
Ông Dung kết thúc bằng một câu làm cho không khí phòng xử bớt căng thẳng: “Merry
Christmas and Happy New Year “.
Bài diễn văn biện hộ của luật sư Nguyễn Tâm rất xuất sắc. Ông ôn tồn trình bày thảm cảnh của
cộng đồng người Việt phải sống dưới móng vuốt, áp lực đen của Mặt Trận, như đám mây đen
che phủ kín, không thấy ánh mặt Trời. Các bị đơn là những người can đảm đứng lên dùng bút
mực xuyên thủng đám mây đen đó.
Ông Tâm mong rằng Bồi thẩm đoàn có một biểu quyết lịch sử, xác định các bị đơn không phạm
lỗi gì.
Gần 5 giờ chiều, thẩm phán Biafore yêu cầu các vị Bồi thẩm vào phòng kín. Bản phán quyết
(verdict) được thẩm phán Biafore trao cho bà Lục sự.
Bà lục sự cao giọng tuyên đọc:
- “Các bị đơn, Cao thế Dung, Nguyễn Thanh Hoàng và Nguyên Vũ đều được xác định là “không
hề có một lời nào sai trái”. (did not make any false statement) về phe nguyên đơn.
Bà lục sự hắng giọng đọc to: “Số phiếu là 11 trên 1.”.
Như vậy, phiên tòa kết thúc với kết quả như mọi người mong đợi, đó là thế tất thắng của công
lý, chính nghĩa thắng hung tàn.
Nhưng còn những cái chết đầy nghi vấn của ký giả Đạm Phong ở Houston, của một nhân viên
tòa báo VNTP trong vùng Virginia, cuộc ám sát hụt ông Cao Thế Dung ở Maryland, và luật sư
Nguyễn văn Chức ở Houston, tiếp là vụ thảm sát vợ chồng ký giả Lê Triết, mà cơ quan an
ninh đang ráo riết truy tầm thủ phạm, với đầy đủ bằng chứng rõ rệt, truy tố về hình tội. Dư luận
cộng đồng người Việt hải ngoại cầu mong Lưới Trời Lồng Lộng không cho bọn hèn hạ, tham
tàn trốn thoát, làm sạch sẽ, quang đãng khí Trời cộng đồng.
Trên máy bay về lại Austin, Texas, tôi nghĩ đến ông Hoàng Cơ Minh, tôi thấy ái ngại, thương
tâm.
Mở cuốn 2, Hồi Ký Một Đời Người của cụ Phạm Ngọc Lũy, tôi mang theo để coi lại những điều
giữa ông Hoàng Cơ Minh và cụ Lũy, có thể dùng trong phiên tòa, tôi mở đến đoạn cụ Lũy
phỏng vấn ông Trần Minh Công, sau sự sụp đổ của Mặt Trận.
Ông Công đã kết luận cuộc phỏng vấn :

1/ Làm việc nước mà đầu óc và lòng dạ không lớn, sẽ không làm được.

2/ Cho dù một tổ chức có to lớn và thành công đến đâu mà lãnh đạo dở cũng sẽ thất bại.

Tôi cho rằng đó là một bài học tốt cho các bạn trẻ sau này. Bài học này cũng đã gây cho tôi
nhiều cay đắng và phiền muộn.

Tôi rất thông cảm với ý kiến của anh Trần Minh Công, tôi cám ơn anh Công đã
nêu lên những ý kiến xác đáng, thâm tâm tôi cũng nghĩ đúng như anh.

Quay lại chuyện ông Hoàng cơ Minh, cựu phó đề đốc Hải Quân, tôi mường tượng ra một
hình ảnh: Ông cựu phó đề đốc đã tạo ra một con tầu ma, con tầu bằng giấy mà những gia đình
đặt ở hàng mã, cúng rồi đem đốt. Con tầu ma không bao giờ được hạ ïthủy. Trên con tầu, ông
Minh có khoảng 40 - 50 tay chèo, toàn là những thanh niên, trai tráng nhiệt thành. Con tầu ma,

khi được những tay chèo hay thủy thủ đoàn khiêng đến một nơi khác, gặp lửa, chiếc tầu bị
cháy, hạm trưởng tới thủy thủ đoàn đều bị chết gần hết, ngoài những người nhanh chân nhẩy
ra ngoài, nhưng cũng bị phỏng nặng .
“Cửu long giang, chưa qua mà vĩnh biệt
Chốn biên thùy, ấp ủ nỗi lòng đau.”
...........
Phạm Văn Liễu
Hồi ký Trả Ta Sông Núi

Hình Tướng Hoàng Cơ Minh ngồi cạnh Đại Tá Phạm Văn Liễu trong chiến khu.

TƯỞNG NIỆM
ĐẠI TÁ PHẠM VĂN LIỄU (1927-2010)

Đại Tá PHẠM VĂN LIỄU (1927-2010)

Mục Lục

Cựu Đại Tá Phạm Văn Liễu Từ Trần Thọ 83 Tuổi 2
Phạm Văn Liễu: Con Ngựa Già Chưa Biết Mõi – Phạm Trần 3
Giới Thiệu Hồi Ký “Trả Ta Sông Núi” Của Phạm Văn Liễu … 7
Những Người Muôn… Giờ Ở Đâu Bây Giờ - Giao Chỉ SanJose 10
Duyên Nợ Cảnh sát – Nguyễn Hoài Ân 19
Bác Đại Tá – Nguyễn Liệu 26

1

Cựu Đại Tá Phạm Văn Liễu Từ Trần, Thọ 83 Tuổi

Cựu Đại Tá Phạm Văn Liễu Từ Trần, Thọ 83 Tuổi
Cựu Đại Tá Phạm Văn Liễu đã từ trần hồi 14:00 giờ ngày 20 tháng
10 năm 2010, tại Seton Hospital, Moss Beach, California, USA,
hưởng thọ 83 tuổi.
Ông đã giữ nhiều chức vụ quan trọng tại Miền Nam VN trước 1975.
Ông nguyên là Tham Mưu Trưởng SĐ7BB, Tổng Giám Đốc CSQG,
nguyên Chỉ Huy Trưởng Trường Hạ Sĩ Quan Quân Lực VNCH
(1966-1967), nguyên Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn III.
Ngoài các hoạt động phục quốc, ông còn là một tác giả nổi tiếng với
bộ hồi ký chính trị "Trả Ta Sông Núi" tập 1 và 2.
Ông Phạm Văn Liễu sinh năm 1927 tại Nam Định, lớn lên tại Hà Nội.
Năm 1952 Ông tốt nghiệp khóa 5 Võ Bị Liên Quân Đà lạt. Năm 1954
vào Nam, được giao trách nhiệm thành lập binh chủng Thủy Quân
Lục Chiến. Có một thời gian hơn một năm Cựu Đại Tá Phạm Văn
Liễu giữ chức vụ Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia.
Cựu Đại Tá Phạm Văn Liễu là người yêu nước dấn thân, từng tham
gia vào Quốc Dân Đảng mùa hè 1945, đi theo học trường Lục Quân
Trần Quốc Tuấn, thời gian lưu vong lần thứ nhất bên Tàu rồi về
nước. Tập hồi ký ghi rõ cảm xúc, lúc đi thì lòng phơi phới nhưng ít
năm sau, khi trở về thì nếm mùi vị chua chát vì sự phản bội tàn bạo
của Việt Minh khi lộ diện Cộng Sản. Về nước, ông nhập ngũ khoá 5
trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt.
Ông Phạm Văn Liễu bất mãn với cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm từ
đầu thập niên 60. Đây là lý do giải thích chuyện Ông bị bắn hụt ở
Ban mê Thuộc rồi cuộc đảo chính hụt 1 tháng 11 năm 1960, trong đó
cùng Nguyễn Chánh Thi giữ vai quan trọng.
Tham dự cách mạng năm 1960, cuộc đảo chánh chống ông Ngô
Đình Diệm thất bại, ông lưu vong qua Nam Vang.
Tháng 11-1963 sau khi ông Diệm bị lật đổ, ông mới về lại Việt Nam
và phục vụ lại trong quân ngũ.
Sau khi Miền Nam sụp đổ 1975, ông sang tỵ nạn tại Hoa Kỳ, cùng
với Đề đốc Hoàng Cơ Minh thành lập Mặt Trận Thống Nhất Giải
Phóng Quốc Gia Việt Nam. Một thời gian sau, tổ chức naỳ tan vỡ.
Trọn đời ông là một chuỗi những ngaỳ hoạt động cho đất nước, dân
tộc.

2

Nguồn: https://vietbao.com/a116967/cuu-dai-ta-pham-van-lieu-tu-tran-
tho-83-tuoi

PHẠM VĂN LIỄU: CON NGỰA GÌA CHƯA BIẾT MỎI

Phạm Trần

30-10-2010

Lời Tác gỉa: 8 năm trước đây, khi Đại tá Phạm Văn Liễu trao cho tôi Cuốn Hồi ký của ông “Trả

Ta Sông Núi” có kèm theo lời dặn dò : “ Ông Phạm Trần, biếu ông Cuốn sách
để ông xem rồi viết cho vài chữ.”
Tôi băn khoăn không biết phải viết gì vì Đại tá Liễu đã là một Nhân vật
của Lịch sử từ Cuộc đảo chính hụt Tổng thống Ngô Đình Diệm năm 1960.
Nhưng rồi tôi đã “đáp lễ” ông với những dòng mộc mạc dưới đây.
Sau khi đọc, ông gọi cho tôi từ Houston với lời “cảm ơn người đồng hương”
rồi cười sảng khóai như ngày nào.
Bây giờ ông đã ra đi vĩnh viễn ngày 20 tháng 10 (2010), hưởng thọ 83 tuổi.
Tôi xin phổ biến lại Bài viết này để tiễn đưa ông với một tấm lòng kính mến
của một người cùng quê hương ở hạ lưu sông Hồng miền Bắc Việt Nam.

---------------------
Ít người Việt miền Nam không biết đến ông Phạm Văn Liễu vì tên ông cứ trôi
nổi với thời gian từ khi Thiếu tá Liễu tham gia cuộc đảo chính không thành
chống lại chính phủ Ngô Đình Diệm ngày 11-11-1960.
Bây giờ ở tuổi 75, ông viết hồi ký "Trả Ta Sông Núi", đã in được 2 trong số 3
tập, kể lại đời mình từ khi thanh niên Phạm Văn Liễu đi kháng chiến chống
Tây rồi lưu lạc sang Tầu (1946 - 1949) với ẩn danh "Cách mạng" Trần Sơn
Nam trước khi trở về Việt Nam tiếp tục cầm quân đánh nhau với Việt Minh.
Đi cùng quân lính vào miền Nam sau Hiệp định Geneve 1954 chia đôi đất
nước, người sỹ quan trưởng thành Phạm Văn Liễu tiếp tục chỉ huy quân đội
chống lại quân Cộng sản. Năm 1955 ông là người đã thành lập Binh chủng
Thủy quân Lục chiến của quân đội Việt Nam Cộng Hòa và là cấp Chỉ huy thứ
hai của binh chủng này.

3

Đến tháng 11-1960, người từng xưng "Thưa Tổng thống, Tôi người Bắc" với
Tổng thống Ngô Đình Diệm để bị "từ chối bắt tay" vào thời các Sỹ quan
Quân đội hay các chính khách, cấp chỉ huy dân chính phải "Bẩm Cụ, Thưa
con", ông Liễu tham gia cuộc đảo chính trong nhóm Trung tá Vương Văn
Đông và Đại tá Nguyễn Chánh Thi. Cuộc đảo chính bất thành khiến ông phải
lưu vong qua Cao Miên.

Sau cuộc đảo chính lần hai chống chính phủ Ngô Đình Diệm thành công của
nhóm Sỹ quan do tướng Dương Văn Minh cầm đầu năm 1963, ông Liễu giã
từ cuộc đời lưu vong bên xứ Chùa Tháp trở về Quân đội tiếp tục cầm quân
đánh nhau với Cộng sản hoặc đào tạo Quân đội.

Thời chính phủ Phan Quy Quát ông được mời giữ chức Tổng Giám đốc Cảnh
sát Quốc gia từ 1965 đến tháng 5/1966.

Nhưng cuộc đời binh nghiệp và chính trị của "chuyên viên đảo chính" Phạm
Văn Liễu , như nhiều người đã gọi ông hay như ông nhìn nhận "đã tham gia
nhiều cuộc đảo chính và phản đảo chính", được coi như "bế mạc" từ năm
1969, khi Tổng thống (Trung tướng ) Nguyễn Văn Thiệu, sau thời gian củng
cố quyền hành, bổ nhiệm ông giữ chức "ngồi chơi xơi nước" Chỉ huy Trưởng
căn cứ huấn luyện Đồng Tâm ở vùng Cửu Long.

Tại đây, có lần ông Liễu bị "ai đó" đầu độc bằng thuốc bỏ vào một bát chè,
nhưng thoát chết sau một thời gian dài chữa trị. Ông Liễu nói ông không thể
gán cho ai làm việc đó vì ông không nắm trong tay bằng chứng cụ thể nhưng
vào lúc bấy giờ, với tính tình bộc trực, ưa nói ngay, nói thẳng và nói thật dù
mất lòng của ông Liễu, ai cũng nghi đó là một cuộc "đầu độc" có lý do của
những người không ưa hay sợ ông.

Ông Liễu như cá sống trên khô như chim bị nhốt vào lồng không còn toan
tính gì được nữa. Vì vậy mà ông đã coi Tổng thống Thịêu là "người có tài
củng cố quyền hành chứ không có tài đánh giặc."

Tổng thống Thiệu đã có lần muốn ông đi làm Tỉnh trưởng cho "khuất mắt"
nhưng ông Liễu từ chối vì, theo lời ông: "Tôi biết ông Thịêu muốn hủ hoá tôi,
đưa tôi vào con đường tham nhũng để bêu xấu tôi."

Và theo lời Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng (Đại học George Mason) thì ông Liễu
cũng từ chối lên cấp Tướng,nếu chỉ để "ngồi mát ăn bát vàng" chẳng có
quyền hành gì cả. Ông Liễu , vẫn theo Giáo sư Hùng, chỉ muốn làm Tư lệnh
Thủy quân Lục Chiến hay Tư lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh là hai đơn vị có thể làm
đảo chính nên ông Thịêu không bao giờ đồng ý !

Sau ngày quân Cộng sản miền Bắc chiếm Sài Gòn ngày 30-4-1975, mái đầu
"đen - bạc" Phạm Văn Liễu lưu vong lần thứ ba sang Hoa Kỳ để rồi lại rơi vào
hệ lụy "kháng chiến không đi tới đâu" với "Mặt trận Quốc gia thống nhất Giải
phóng Việt Nam" hay còn được gọi là "Mặt trận Hoàng Cơ Minh", từ năm
1980 .

4

Giấc mộng làm cách mạng của ông cựu Đại tá Phạm Văn Liễu một lần nữa
không thành. Mặt trận Hoàng Cơ Minh Minh mà ông đã góp công xây dựng
và lãnh đạo dưới tên "kháng chiến" Trần Trung Sơn từ những ngày còn trong
trứng nước đã vỡ ra làm hai mảnh sau thời gian cơm không lành mà canh
cũng chẳng ngọt giữa ông và Đề đốc Hoàng Cơ Minh và anh em nhà tướng
Minh. Sự bất đồng đưa đến đổ vỡ giữa họ tập trung vào guồng máy được gọi
là "tổ chức kinh tài" cho Mặt trận do anh em nhà họ Hoàng và các cộng sự
viên thân tín của tướng Minh điều hành.

Những người ly khai quây quần với ông Liễu có cả Cựu Đại tá Cảnh sát Trần
Minh Công đã tìm cách lấy lại uy tín "kháng chiến" sau khi Mặt trận tan hàng
rã cánh năm 1983 với nhiều tai tiếng "tiền bạc lem nhem" và "kháng chiến
bên ngoài Việt Nam". Nhưng ông Liễu cũng đã "sức cùng lực kiệt" không đi
thêm được bước nào nữa.

Phe theo Đề đốc Minh tiếp tục con đường được gọi là "dấn thân" nhưng họ
cũng đã bị đứt gánh giữa đường, trên đường xâm nhập vào Việt Nam, theo
ngả miền Nam nước Lào. Tướng Minh bị thiệt mạng. Một số người khác bị
mất tích hay bị bắt trong cuộc đụng độ với quân Cộng sản Lào và Việt Nam
ngày 28-8-1987, theo tin của Mặt trận phổ biến ngày 28-7-2001. Sự "giấu
tin" tướng Minh tử trận trong suốt 14 năm từ 1987 đến 2001 vẫn chưa được
giới Lãnh đạo còn lại của tổ chức giải đáp minh bạch.

Tuy nhiên sự đổ vỡ của phong trào kháng chiến đã làm cho ông Liễu ray rứt
khá nhiều vì có nhiều người đã vì tin ông mà ủng hộ hay đi về "khu kháng
chiến" với Mặt trận. Mái tóc hoa râm của ông vì vậy mà đã bạc đi nhanh hơn
thời gian từ dạo ấy.

Sự "bạc trắng tay không " bây giờ, 20 năm sau, đã mon men xói mòn cuộc
đời thất bại nhiều hơn thành công của một Phạm Văn Liễu, chỉ mới biết khóc
với thật lòng mình một lần trong đời, theo lời ông kể, là khi ông đứng trước
quan tài vợ mình. Bà Liễu ra đi ngày 29-2-1992 để lại cho ông 7 người con
vào năm Bà mới 54 tuổi.

Hình ảnh một Sỹ quan oai phong, hùng tráng trong bộ quân phục Thủy quân
Lục chiến năm nào của ông Liễu không còn nữa. Nó cũng mất đi hình ảnh
thiêng liêng của một chiến sỹ "kháng chiến áo nâu, mũ vải rộng vành và
khăn rằn ri quàng cổ " của Phạm Văn Liễu khi ông còn đứng trước đám đông
người Việt tị nạn chăm chú nghe ông nói chuyện kháng chiến giải phóng quê
hương khỏi ách cai trị của Cộng sản Việt Nam vào những năm 1981 - 1982.

Ngày nay, sau "những cơn đau tinh thần vẫn còn ray rứt của cuộc đời binh
nghiệp và chính trị" và sau nhiều cơn bạo bệnh thể xác , ông Liễu không còn
đi lại bình thường được nữa. Người bạn gần gũi và thân thiết nhất bây giờ
của ông không phải là hàng hà sa số bạn hữu ở khắp bốn phương trời thế
giới mà là "chiếc xe lăn" vô tri vô giác ngày đêm đang gắn bó với ông!

5

Nhưng giọng nói của "ông già 75 tuổi" Phạm Văn Liễu bây giờ vẫn còn là của
Đại tá Phạm Văn Liễu trên 40 tuổi khi xưa đứng trước hàng quân hay mỗi khi
nói chuyện với các Sỹ quan và nhân viên ngành Cảnh sát VNCH. Giọng ông
tuy không còn hùng dũng, sang sảng như ngày còn nắm binh quyền nhưng
bộ óc minh mẫn và lối nói chuyện hấp dẫn của Tác giả "Trả Ta Sông Núi"
vẫn còn đấy.

Ông Liễu đã chứng minh điều này trong buổi ra mắt hai tập Hồi ký của mình
ở Trường Lụât, Đại học George Mason hôm 5-10 (2003) vừa qua. Mặc dù
phải bó thân trong chiếc xe lăn chật hẹp nhưng ông đã nói không ngơi nghỉ
hơn một tiếng đồng hồ và còn muốn nói nhiều nữa về những diễn biến lịch
sử xung quanh lý do tại sao ông viết hồi ký và trả lời những câu hỏi của cử
tọa.

Ông Liễu bảo ông viết hồi ký không phải để khoe tên tuổi hay đề cao cá
nhân mà để "Viết lại những lỗi lầm đời mình dài theo dòng lịch sử quốc dân
làm món quà cho những người bạn trẻ."

Ông viết trong lời mở đầu Tập I:" Cổ nhân dạy:Dẵm lên sương sớm, nhớ tới
muà Đông. Biết đâu, những kinh nghịêm máu và nước mắt đời tôi chẳng
giúp vài ba bạn trẻ hằng tâm với đất nước nào đó tránh được những vết xe
đổ của người đi trước? Đó là tâm nguỵên duy nhất của người viết."

Ông Liễu có được mãn nguyện hay không thì chỉ có thời gian mới trả lời
được. Nhưng những vinh nhục của người lính chiến đấu và người lính cách
mạng Phạm Văn Liễu từ năm 1945 cho đến bây giờ vẫn còn nguyên đó. Nó
bám lấy ông như hình với bóng để cùng lớn lên với những vết nhăn trên
khuôn mặt khắc khổ của một người lính dường như chưa bao giờ biết mỏi
mệt.

Ông tự ví mình là người "lúc nào cũng chỉ biết đội trời" nhưng ông đã "vá"
được gì chưa thì tôi thiết tưởng Tác giả "Trả Ta Sông Núi" là người biết rõ
mình hơn ai hết.

Ông Phạm Văn Liễu có muốn quên đi những vinh nhục của đời mình cũng
chẳng dễ gì vì ông là một nhân vật lịch sử. -/-

Phạm Trần

(10-2003)

Nguồn: http://nhanquyenchovn.blogspot.com.au/2010/10/pham-van-lieu-
con-ngua-gia-chua-biet.html

6

GIỚI THIỆU « HỒI KÝ TRẢ TA SÔNG
NÚI » CỦA ÐẠI TÁ PHẠM VĂN LIỄU

Vào tối Thứ Bảy hằng tuần, tạp chí Văn Học Nghệ Thuật do Phạm
Điền phụ trách lại đến với quý vị nghe đài. Trả Ta Sông Núi là tựa đề
cuốn Hồi Ký của đại tá Phạm Văn Liễu, do nhà xuất bản Văn Hóa ở
Houston, Texas ấn hành. Cuốn I và II đã được phổ biến, cuốn III trên
đường đến nhà in. Tuần này tạp chí giới thiệu cuốn hồi ký Trả Ta Sông
Núi của cựu đại tá Phạm Văn Liễu…
Trong tình trạng sách vở viết về Việt Nam còn thiếu thốn hiện nay, thêm
một cuốn sách được một người trong cuộc, từng nằm trong cơn lốc và
chứng nhân của các biến động lịch sử kéo dài từ năm 1945 cho đến 1975, tự
nó có một giá trị đóng góp lớn cho việc tìm hiểu các sự kiện lịch sử quan
trong trong giai đọan lịch sử này.
Tác giả viết hồi ký về cuộc đời mình nên không tránh khỏi những phê phán
chủ quan. Độc giả, từ nhiều hướng nhìn khác nhau, có thể đồng ý hay không
đồng ý đối với các phê phán lịch sử đó của tác giả. Tuy nhiên , các sự việc

7

tác giả nêu ra với tư cách một người trong cuộc, tự nó cống hiến các sự kiện
giá trị, giúp người đọc thấy được bối cảnh chính trị của nhiều thập niên qua,
khi dân Việt bước vào giai đọan chiến đấu chống thực dân Pháp và sau đó là
chủ nghĩa cộng sản.

Việc để lại cho thế hệ trẻ kinh nghiệm Việt Nam là chủ trương chính của tác
giả Phạm Văn Liễu khi viết hồi ký chọn tựa đề cho các tập hồi ký này là
“Trả Ta Sông Núi”. Ông Phạm Văn Liễu không xem viết hồi ký là một trò
chơi văn chương. Ông muốn qua cuốn hồi ký, kể lại được các trạng huống,
các cơn lốc lịch sử và trách nhiệm của thế hệ thanh niên lên đường thập
niên 40, tham gia chính trị hay ở trong quân đội. Ông đề cập đến các
nguyện ước, hòai bão từ thuở thiếu thời cho đến nay.

Tác giả Pham Văn Liễu thuộc thế hệ thanh niên sống lý tưởng và tham dự
trực tiếp vào các cuộc chiến đấu ngay từ giữa thập niên 1940 , can dự trong
nhiều vai trò khác nhau. Sau ngày miền Nam sụp đổ, sống lưu vong tại Hoa
Kỳ, ông Phạm Văn Liễu tiếp tục theo đuổi cuộc đấu tranh cho nhân quyền
và dân chủ ở Việt Nam. Do sức khỏe bị suy yếu, sau thời gian bị kích tim ,
việc viết hồi ký là phương tiện để đại tá Phạm Văn Liễu kéo dài cuộc tranh
đấu.

Trang bìa sau tập Hồi Ký Trả Ta Sông Núi, tác giả không đề cập đến sự
thành công, mức độ thành đạt trên đường sự nghiệp mà chỉ cho hay, ông “
nghiền ngẫm viết lại những lỗi lầm đời mình dài theo dòng lịch sử quốc dân
làm món quà cho người bạn trẻ”. Một đọan khác, ông viết nguyên văn “ biết
đâu những kinh nghiệm máu và nước mắt đời tôi chẳng giúp cho vài ba bạn
trẻ nào đó hằng tâm với đất nước, tránh được những vết xe đổ của người đi
trước. Ông Phạm Văn Liễu cho biết đó là tâm nguyện duy nhất của người
viết.

Tác giả Phạm Văn Liễu, 75 tuổi, sinh quán làng Thọ Vực, phủ Xuân
Trường, tỉnh Nam Định. Phần lớn thanh niên thế hệ ông sống có lý tường,
yêu nước và tham gia các họat động đấu tranh giành độc lập từ sớm. Năm
1945, ông đã vào trường Quân Chính Vĩnh Yên ở Việt Trì, sau đó trường
Lục Quân Trần Quốc Tuấn ở Yên Bái. Sau khi trốn sang Tàu một thời gian
vì bị ruồng nã, ông trở về nước và chọn binh nghiệp. Ông tốt nghiệp Võ Bị
Liên Quân Đà Lạt khóa 5 vào năm 1952, sau đó là trường Hải Quân Nha
Trang.

Ông Phạm Văn Liễu từng sang Mỹ tham dự các khóa tu nghiệp quân sự ở
Fort Benning , tiểu bang Georgia, Hoa Kỳ trong hai năm 1956-1957.

8

Cuộc đời của ông là một chuỗi thăng trầm. Danh sách các chức vụ ông được
giao phó trong quân đội cũng như chính quyền dân sự khá dài, chúng tôi chỉ
nêu một vài trách nhiệm được nhiều người biết hơn cả trong đó có Sáng lập
và Chỉ Huy Trưởng Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam 1955, Tham Mưu
Trưởng trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt năm 1957, Chỉ Huy Trưởng Trung
Tâm Huấn Luyện Quang Trung Năm 1964. Thứ trưởng Bộ Thanh Niên Nội
Các Phan Huy Quát 1965, Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia năm 1965-
66. Về họat động xã hội và chính trị, năm 1945, tác giả tham gia đòan
Thanh Niên Khất Thực để cứu đói 1945; Đại Việt Quốc Dân Đảng 1945.
Từng lưu vong qua Trung Hoa 1946 đến 49, lưu vong qua Kampuchia từ
1960 đến 1965 vì liên hệ đến vụ đảo chánh bất thành và từ sau tháng Tư
năm 1975, sống lưu vong tại Mỹ.

Trong cuộc đời họat động kéo dài từ giữa thập niên 1940 đến nay, ông
Phạm Văn Liễu trực tiếp hay gián tiếp đã có mặt trong các biến động và có
cơ hội tiếp xúc, liên hệ đến các nhân vật thời cuộc. Ngay chính ông cũng là
một nhân vật có nhiều huyền thọai, như tham dự cuộc đảo chính hụt Tổng
Thống Ngô Đình Diệm 1960, và chính biến nhằm lật đổ tướng Nguyễn
Khánh.

***

Vào tối Thứ Bảy hằng tuần, tạp chí Văn Học Nghệ Thuật lại đến với
quý thính giả. Tuần này tạp chí tiếp tục đề cập đến hồi ký Trả Ta Sông
Núi qua cuộc nói chuyện với tác giả Phạm Văn Liễu. Đây cũng là kỳ
chót về đề tài này…
Đại tá Phạm Văn Liễu tham dự cuộc đảo chánh lật đổ chế độ Ngô Đình
Diệm 11 tháng 11 năm 1960. Khi nỗ lực này thất bại ông cùng với Đại tá
Nguyễn Chánh Thi và một số nhân vật khác chạy sang sống lưu vong ở
Cambodia. Mãi cho đến năm 1963, khi cuộc đảo chính lật đổ ông Diệm
thành công, Hội Đồng Tướng Lãnh đã cho nhóm lưu vong ở Cambodia về
nước.

Tiếp sau năm 1963 , miền nam Việt Nam bị xáo trôn mạnh vì những cuộc
lên đường, xuống đường của sinh viên, giáo phái, của xung đột chính trị nội
bộ. Các cuộc chỉnh lý, chính biến, triệt hạ quyền lực giữa các tướng lãnh đã
xảy ra. Sự lên xuống hay thay bậc đổi ngôi của các nhân sự lãnh đạo đã
khiến miền nam liên tục bị bất ổn. Ngòai xáo trộn nội bộ, đây cũng là giai
đọan cộng sản Miền Bắc khai thác các kẽ hở, và sự suy yếu của miền Nam
để gia tăng các họat động của họ. Tập II của Hồi Ký Trả Ta Sông Núi đưa
ra rất nhiều chi tiết phong phú mô tả giai đọan tao lọan này.

9

Cuốn hồi ký Trả Ta Sông Núi cống hiến nhiều dữ kiện lịch sử rất đáng chú
ý. Vì thời lượng, tạp chí chỉ nêu một điểm đại cương tác giả đã tâm sự. Mời
quý thính giả theo dõi…
Phạm Điền
Nguồn: http://www.rfa.org/vietnamese/features/102518-20030403.html

Những Người Muôn Năm Cũ
Hồn Ở Đâu Bây Giờ ?

Giao Chỉ, San José

San José, Trả Ta Sông Núi
Biết làm gì cho hết nửa đời sau ? (Cao tần...)
Trung tá Dương của bộ Tổng Tham mưu vừa đến thăm tôi mấy bữa nay. Ông
bạn già đi lính trước anh em, năm nay ngoài 80. Học thức uyên thâm, nhưng

10

chậm chạp từ tốn. Một thứ công chức nhà binh. Khi tôi lên thiếu tá tại miền
Ðông thì ở Saigon ông Dương vừa lên trung tá. Rồi ông đóng luôn ở đó. Tôi
lên trung tá, rồi đại tá. Trung tá Dương thành ông Dương già. Ngài chậm chân
nên 75 ở lại đi tù. Hỏi bác Dương “cải tạo” mấy năm, ông đưa 2 ngón tay.
Không phải là 2 năm đâu, mười một năm. Bác làm gì mà bây giờ mới qua. Trả
lời rằng bà xã mới đầu không chịu đi. Ba đứa con thì một đứa một đậu vượt
biên. Một đứa chìm xuống biển Ðông. Còn lại một đứa con cái đầy đàn nên
không đủ điều kiện. Bác Dương gái không chịu đi. Khi muốn đi thì lại bệnh.
Ðầu năm nay đến Wisconsin được mấy tháng thì qua đời. Ông HO già chôn vợ
xong là bay qua San Jose hỏi chuyện 35 năm qua tại Hiệp Chủng Quốc, Hoa
Kỳ. Suốt bao năm ông bạn già của tôi chỉ theo đuổi có một đề tài “Kháng
chiến Phục Quốc”. Những năm còn ở Việt Nam ông sống bằng tin đồn, những
năm sau này ông sống bằng tin tức trên thế giới mạng.

Trung tá Dương biết chuyện ông Hoàng cơ Minh chết trên báo Công An và
bác quen biết rất nhiều với ông Phạm văn Liễu. Bác tâm sự. “-Liễu hơn “moi”
mấy tuổi, nhưng tụi này biết nhau đã lâu. “Moi” rất phục “lui”, tay chọc trời
khuấy nước. Dọc ngang nào biết trên đầu có ai, Ngày xưa báo chí gọi hắn là
chuyên viên đảo chánh. Nghe tin mới chết ở San Jose mà làm sao chôn cất âm
thầm lắm. Ông Lộc này, tôi qua đây ngoài chuyện Liễu, tôi muốn hỏi chuyện
ông. Suốt 35 năm qua, bọn “toa” chạy trước ngoài cái vụ mưu sinh cơm cháo
ra thì có ai làm được chuyện gì đáng kể không? Chuyện Minh với Liễu ngày
xưa thực sự ra sao?”

Hỡi người chiến binh một đời anh dũng, mày lang thang đất lạ đến bao
giờ. (CT)

Câu trả lời cho trung tá Dương già đã đưa tôi trở về với quá khứ năm 1980.
Ngày đó mới vay tiền down $10,000 mua được ngôi nhà đường Mc.Laughlin.
Ðang tập cắt cỏ vườn trước, vườn sau. Ðã nộp hồ sơ xin vô quốc tịch. Cuối
tuần mới đi họp đấu tranh cho tù chính trị Việt Nam được trả tự do. Hoạt động
hăng hái trong hội cựu chiến sĩ cùng với Trần Ngọc Nhuận, Nguyễn Xuân
Phác, lại có cả bác sĩ Trần Xuân Ninh. Nhà Nguyễn Xuân Phác ngay sau nhà
tôi. Bác biết tay Phác con cụ Nguyễn Xuân Chữ. Ông già gật đầu nói rằng
trung tá Phác bên tình báo “moi” có biết. Ðúng vậy, Phác mời tôi qua nhà gặp
khách phương xa. Ðến nơi Hoàng cơ Minh, Phạm văn Liễu đã ngồi sẵn, có cả
Nguyễn Tường Bá và Ðỗ Hữu Phú. Các anh rủ bọn này theo kháng chiến, đi
làm cách mạng phục quốc. Anh Minh tôi có gặp lần cuối ở căn cứ Cam Ranh
lúc sắp tan hàng. Sau này khi di tản thì có ở chung trại Barrigada bên đảo
Guam. Phần ông Liễu tôi có biết nhưng không quen. Tối hôm đó anh Minh vào
cở tuổi tôi, ngồi yên, ít nói. Ông Liễu là thuyết khách chính. Câu chuyện của
mấy tay này rất nghiêm túc và gây xúc động cho anh em. Phải nói thực lòng,
không biết người khác nghĩ sao, nhưng riêng tôi, dù chạy thoát được nhưng hết
sức trăn trở. Nếu phải làm lại thì cũng vẫn phải chạy thôi, không làm khác
được. Nhưng mặc cảm tội lỗi vẫn là sự thực. Phải mà bây giờ theo kháng chiến

11

thì việc chạy trốn mới giải thích được cho chính lương tâm của mình. Tuy
nhiên, tham gia vận động quần chúng lập phong trào thì bắt buộc phải thoát ly,
không dễ gì bỗng chốc dứt bỏ được gia đình. Thêm vào đó, giải pháp tìm
đường về qua miền Ðông Nam Á, Thái, Lào hay Tam Biên vẫn còn là những
viễn ảnh rất mơ hồ. Cá nhân tôi hết sức ngưỡng mộ nên đã hứa hẹn yểm trợ,
nhưng sự hy sinh toàn diện thì vẫn còn giới hạn. Tuy khéo léo chối từ nhưng
mình cũng thừa biết rằng sự khôn ngoan vẫn là vỏ bọc của hèn nhát.
Tôi tiếp tục tâm sự với bác Dương, suốt từ năm 80 cho đến nay mình vẫn giữ
trọn vẹn một lời nguyện ước. Tôi ngưỡng mộ những người đi kháng chiến
phục quốc. Tôi hỗ trợ anh em, tin tưởng anh em, thông cảm anh em. Dù các
anh từ trời Âu như Trần Văn Bá, Mai văn Hạnh, từ Úc như Võ Ðại Tôn, hay từ
Mỹ như Hoàng Cơ Minh.
Nếu phải kể tên những người bỏ bác Dương ở lại mà chạy, vẫn có nhiều chiến
hữu không hổ thẹn khi gặp lại anh em. Nhưng trong số các cấp chỉ huy “một
đời anh dũng, không chịu lang thang nơi đất lạ” phải kể đến Hoàng Cơ Minh
và Phạm Văn Liễu.

Đại tá Phạm Văn Liễu, Sư đoàn 7 Bộ Binh

12

Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh, Hải Quân

Ðiểm mặt anh hùng.

Chúng tôi uống thêm một tuần trà rồi đến lượt bác Dương nói chuyện về ông
Liễu.

“-Chắc ông Lộc biết, tụi này là QDÐ thứ thiệt, vẫn thường sinh hoạt từ Saigon
nên biết rõ anh em. Anh Liễu là đàn anh bí danh Trần Sơn Nam theo Quốc
Dân Ðảng từ 1945, sinh viên của trường Lục Quân, Trần Quốc Tuấn trên Lào
Kay. Năm 1951 vào võ bị Ðà Lạt khóa 5. Năm 1955 nhận bàn giao các đại đội
tác chiến của hải quân Pháp và trở thành tiền thân của Thủy quân lục chiến
Việt Nam sau này. 1957 anh làm tham mưu trưởng trường Ðà lạt rồi tham
mưu trưởng Trung Tâm huấn luyện Quang Trung, TMT Sư đoàn 7 bộ binh.
Năm 1965 thủ tướng Phan Huy Quát, anh làm tổng giám đốc cảnh sát quốc
gia. Rồi chỉ huy trưởng Ðồng Ðế. Sau cùng về phụ tá đặc biệt tại quân đoàn
III từ 1968.”

“Giữa các chức vụ kể trên, anh Liễu tham gia rất nhiều cuộc đảo chánh nên
gần như không được giao chỉ huy đơn vị. Phần lớn là công tác tham mưu,
huấn luyện hay ngồi chơi xơi nước. Tính tình cương trực, nóng nảy nhưng rất
nhiều sáng tạo và nhiệt thành. Phạm văn Liễu có khả năng thuyết phục và có
dòng máu cách mạng luôn luôn chảy trong huyết quản ngay từ lúc còn là cán
bộ quân chánh của Quốc dân đảng tại Vĩnh yên từ 1945.”

Trong khi đó tại bộ TTM, bác Dương cũng đã từng biết Phó đề đốc Hoàng Cơ
Minh, một tướng lãnh trẻ tuổi của hải quân đã có những thành tích xuất sắc
trên các chiến trường miền Nam với hoạt động của các hải đoàn xung phong.

13

Ðã có một thời gian ngắn, tướng Minh là tư lệnh của mặt trận thủy bộ duyên
hải trong giờ phút tuyệt vọng tại quân khu II trên biển Ðông.
Trăng tròn rồi trăng khuyết, mây hợp rồi mây tan. Người gần để ly biệt.
Bác Dương này, bây giờ để tôi nói cho bác rõ Liễu với Minh gặp nhau ra sao
và tan hàng như thế nào. Ông Liễu ở tuổi bác, anh Minh thì ở tuổi tôi, nhưng
đó là những người ngoại hạng. Lúc nãy tôi có nói năm 1980 ông Liễu với anh
Minh về San Jose thuyết phục chúng tôi gia nhập kháng chiến. Cũng năm đó
Hoàng Cơ Minh “take over” Lực lượng quân dân của trung tá Lục Phương
Ninh rồi đem nhập vào Phục Hưng và Người Việt Tự Do từ Nhật để thành lập
Mặt Trận. Sau này Phục Hưng rút ra, sự kết họp tổ chức chỉ là hình thức. Sự
giao duyên của Liễu và Minh là yếu tố chính. Anh Minh sẽ là đầu tầu trở về và
ông Liễu xây dựng hải ngoại.. Cụ Phạm Ngọc Lũy, thuyền trưởng tàu Trường
Xuân là thành phần yểm trợ. Ngày 8/3/1982 tin tức mặt trận đưa lên TV thời
sự Hoa Kỳ chỉ có hơn 4 phút làm rung động thế giới Người Việt hải ngoại.Với
kịch bản đóng trong rừng núi Thái Lan kháng chiến trở thành thực thể và khởi
đi như sóng trào dâng trong lòng người, tràn ra khắp mọi nhà. Lúc đó, tôi hết
sức hân hoan, viết một bài báo đầu tiên ca ngợi kháng chiến, đó là bài “Ðường
mòn Hoàng Cơ Minh.”

San José, 1984
Cao điểm của phong trào là năm 1983 kháng chiến tổ chức đại hội chánh nghĩa
tại Hoa Thịnh Ðốn. Những ngày tháng vinh quang rực rỡ và hết sức êm đẹp
của huyền thoại kháng chiến. Người đi về từ khu chiến là tướng Hoàng Cơ
Minh và người xây đắp nền móng của hậu phương hải ngoại là ông Phạm văn
Liễu. Một sự kết hợp bất khả phân ly.
Anh đi đường anh tôi đường tôi. Tình nghĩa đôi ta có thế thôi.

14

Ngày 17/3/1984 trên 10 ngàn người tham dự cuộc đón tiếp Hoàng Cơ Minh tại
San Jose. Không thể tả được niềm hân hoan dâng cao đến mức nào trong lòng
dân hải ngoại. Nhưng đến tháng 12-1984 thì tình hình đã khác biệt. Bên chiến
khu tại Thái Lan ngày 25 tháng 12-84 cộng sản tấn công và thanh toán tiền đồn
Hải Vân của kháng chiến. Ngày 29/12/84 anh Minh từ Thái Lan về quyết định
giải nhiệm ông Liễu. Cùng một lúc đại hội kháng chiến tại Nam Cali ủng hộ
ông Liễu và đặt vấn đề với tướng Minh.

Tại đại hội đồng kháng chiến từ bốn phương về họp, với tư cách tổng vụ
trưởng hải ngoại, ông Liễu nói đi nói lại một lời. Lỗi tại tôi. Vì đại cuộc, vì
hiềm khích cá nhân, vì khác biệt đường lối, vì tài chánh,vì nhân sự hay vì bất
cứ lý do gì thì Phạm văn Liễu cũng danh xác nhận: Lỗi tại tôi. Thực vậy trước
một đại hội thành phần tham dự phần lớn do chính ông thuyết phục và tổ chức.
Ông đồng thời cũng là người xây dựng vai trò thần tượng Hoàng Cơ Minh. Khi
chính vị tướng chỉ huy thần tượng giải nhiệm tổng vụ trưởng thì việc ông Liễu
nhận lỗi trước anh em cũng là phải phép.

Thời kỳ cuối năm 84 đó, tại chỗ cơ quan của tôi có bác sĩ Ðỗ văn Hội làm việc.
Anh Hội nhiệt thành với kháng chiến. Anh ngồi khóc với nước mắt ràn rụa
trong phòng của tôi. Anh ước mong có thể làm sao cho hai người mà anh gọi là
các anh lớn gặp nhau. Bác sĩ Hội mong có phép lạ, có ai đủ sức nói cho Hoàng
Cơ Minh và Phạm Văn Liễu ngồi lại, cùng nhường nhịn, cùng hy sinh xây
dựng lại đại nghĩa. Sau đó nhiều năm tháng, bác sĩ Ðỗ văn Hội vẫn còn giữ
mãi giấc mơ tuyệt vọng.

Tướng Hoàng Cơ Minh, năm 1987 -(trái)- Photo South of Laos 2007 -(phải)-
(Tướng Minh hy sinh 23 năm trước trong khu vực này.)

Nếu đã không mong sum họp lại, sao đành lỗi hẹn lúc chia phôi.

Sau khi chia tay, ông Liễu có sinh hoạt với tổ chức mới một thời gian nhưng
không thành công. Phía ông Minh kiên trì hơn, có nhân lực, có tài chánh và có
lãnh đạo, con đường kháng chiến tiếp tục. Nhưng trong suốt 3 năm từ 85, 86

15

cho đến 87, tướng Hoàng Cơ Minh chỉ còn một con đường đi theo khẩu hiệu
của chính ông “Kháng chiến hay là chết”.

Những chiến dịch Ðông Tiến hết sức hào hùng, lãng mạn và đầy ảo tưởng đều
lần lượt đưa anh em vào chỗ chết.

Tháng 5-1985 đại tá Dương Văn Tư chỉ huy Ðông Tiến I lên đường. Tất cả đều
hy sinh.

Tháng 9-1986 tướng Minh đích thân chỉ huy Ðông Tiến II, phá hậu cứ, tuyệt
đường về. Quyết tâm một đi không trở lại.

Nhưng vượt sông không thành thất bại phải quay về.

Tháng 7-1987 tướng Minh chỉ huy Ðông Tiến II lần thứ hai. 120 quân nhân bị
các đơn vị cộng sản luân phiên đánh suốt 40 ngày. Cuối cùng tướng Minh và
một số cán bộ bị bao vây. Hoàng cơ Minh bị thương đã dùng súng lục tự sát
ngày 18-8-1987, 14 năm sau vào tháng 7-2002 mặt trận mới chính thức công
bố tướng Minh đã hy sinh.

Sau Ðông Tiến II, sĩ quan nhảy dù Ðào bá Kế tiếp tục tổ chức Ðông Tiến III
với tất cả thành phần còn lại của kháng chiến. Một lần nữa và cũng là lần sau
cùng Ðông Tiến III bị đánh tan tại Nam Lào, tất cả đã bị hy sinh và bị bắt. Ðào
bá Kế, người chỉ huy vẫn còn bị cộng sản giam giữ cho đến nay.

Như vậy năm 1987 anh Minh chết mới có 52 tuổi. Trong khi đó ông Liễu mất
ngày 20 tháng 10 năm 2010 hưởng thọ 83 tuổi.

Những người muôn năm cũ. Hồn ở đâu bây giờ.

Xin nói đến đến đoạn cuối về cái chết của ông Phạm văn Liễu. Bác Dương chỉ
biết ông Liễu ngày xưa, bác đã quan tâm đi từ Wisconsin về đây để hỏi thăm
về chuyện sau này, tôi xin kể lại chuyện sau này. Phải nói ngay rằng sau khi
chia tay với mặt trận thì ông Liễu cũng đã lớn tuổi và không còn thời cơ để
sinh hoạt mạnh mẽ như trước. Ông nỗ lực lo viết và hoàn tất 3 tập hồi ký “Trả
ta sông núi.” Có điều rất đáng tiếc là ông Liễu sau đó đã đóng vai con người
biết quá nhiều và cũng nói quá nhiều. Toàn là những chuyện xấu từ thủa cùng
anh Minh kết nghĩa đoàn viên. Nếu nói rằng Minh và Liễu là sự kết hợp một
đời cho đại cuộc thì khi hai người quay lưng hai ngả, họ đã phụ bạc nhau nhiều
hơn so với những gì họ đã vun xới cho nhau. Nhưng Hoàng cơ Minh sau khi
xuống tay, dứt điểm Phạm văn Liễu, dù đúng hay sai, anh dứt khoát Ðông
Tiến, đi về phía mặt trời mọc, để tìm cái chết sau cùng. Anh Minh làm được,vì
anh cô đơn giữa rừng già biên giới. Anh chỉ có con đường duy nhất. Kháng
chiến hay là Chết. Và Hoàng cơ Minh đã chết. Ông Liễu khi rời bỏ Kháng
chiến, nhưng vẫn còn đầy đủ anh em. Bàn ra tán vào. Ông không có đủ nghị

16

lực để im lặng. Ông nói xấu Kháng Chiến. Sau bao năm lưu lạc giang hồ, đã
đến lúc ông trở về với gia đình tại Sacramento được vài năm thì vợ qua đời.
Chị Liễu ra đi năm 1992 mới có 54 tuổi. Năm 1996 thì ông Liễu bị đau nặng
lúc thăm anh em bên Pháp. Hai vợ chồng bác sĩ Nguyệt tức ca sĩ Thu Hà ở San
Jose phải chính thức qua hộ tống về Mỹ. Không có bác sĩ tháp tùng là không
được lên máy bay. Từ ngày đó ông ngồi xe lăn về Texas ở với gia đình em gái.
Năm 2007 cô con gái ở San Mateo đưa ông về một dưỡng đường cho người
già tại Half Moon Bay thuộc thị xã Moss Beach trên liên tỉnh lộ số 1 chạy dọc
ven biển duyên hải Cali từ Bắc xuống Nam. Những năm sau này, ông không
còn nói đến chuyện kháng chiến nữa.
Từ mấy năm qua thì anh em thân hũu San Jose cũng thường đến viếng thăm.
Năm 2008 bác sĩ Vượng và bạn bè còn đẩy xe lăn cho đại tá Liễu vào dự văn
nghệ của IRCC tại San Jose. Lâu lâu chở ông đi ăn phở. Tuy nhiên, kể từ năm
2007 mà vào ngồi xe lăn trong viện dưỡng lão là kể như công cuộc kháng
chiến với trời đất đã tính từng ngày.
Thời gian gần đây ông có nói lại với con gái là khi ra đi hãy thiêu đốt trong
phạm vi gia đình rồi mới đăng cáo phó. Di chúc của ông đã được gia đình tuyệt
đối tuân theo. Như vậy thì ai biết mà đi đưa. Thấy cáo phó chỉ còn kịp đăng
báo chia buồn. Phút sau cùng của ông không có một bạn bè chiến hữu nào hiện
diện. Ông là QDÐ mà đâu có ai là Quốc dân Ðảng, ông là thủy quân lục chiến
mà đâu thấy lính mũ xanh, ông là tổng giám đốc cảnh sát mà đâu có hội cảnh
sát.

2010 Moss Beach CA, Nơi ông Phạm Văn Liễu sống 3 năm cuối
cùng

17

O’Connell’s Funeral San Mateo CA. Di hài ông Liễu hỏa thiêu nơi đây

Xin cho bác Dương hay vì năm xưa tôi đã có dịp chứng kiến một lần hỏa thiêu
đơn giản ra sao. Từ nhà xác di hài đặt trong hộp carton trên một xe đẩy tay.
Không cần quan tài. Có thể một cỗ hàng của nhà đòn chùm lên trên, có thể
không có. Nhà đòn đẩy qua lò thiêu. Thân nhân đi theo sau. Cỗ hàng chùm bên
trên được lấy ra. Ðẩy hộp carton vào lò và đóng cửa lại. Một người bấm nút
điện. Lò thiêu chuyển động. Lửa bùng lên cấp kỳ với độ nóng khủng khiếp.
Trong khoảng khắc là xong. Không có lời truy điệu, không có lễ nghi quân
cách, không có phủ cờ.

Ông Phạm văn Liễu chết lúc 2 giờ chiều ngày 20/10/2010. Buổi sáng còn ăn
sáng, đến trưa không thấy ngài lăn xe đi ăn, y tá đến thì thấy bác đi rồi, không
có cả thân nhân bên cạnh. Khi vào tuổi già, như ngọn đèn dầu, ai biết tắt lúc
nào mà canh thức ngày đêm.

Tôi kéo ghế ngồi lại cạnh ông trung tá vốn tay Việt Quốc kỳ cựu, năm nay
cũng 81 tuổi. Tôi nói thêm rằng ở đây có hai đám tang được coi là vĩ đại. Ðó là
tang lễ của trung tướng Nguyễn văn Thiệu và đại tướng Cao Văn Viên. Có cả
cờ sao và quốc kỳ. Có các binh chủng và binh phục. Khai quân hiệu và bế
quân hiệu. Quan khách thăm viếng mấy ngày. Nhưng bác thử so sánh với cái
chết của phó đề đốc Hoàng Cơ Minh và đại tá Phạm Văn Liễu xem sao. Hai
ông này đã đến với nhau trong tình tự xây dựng núi sông. Lại xa nhau cũng vì
đòi Trả ta sông núi theo lề lối khác nhau. Một ông chết trẻ, một ông chết già.
Ông chết cô đơn trên núi rừng. Ông chết lạnh lẽo bên bờ duyên hải sau khi đã
ngồi trên xe lăn suốt 13 năm sau cùng.

Từ đầu tháng 7 năm 1987 ông Minh khởi sự Ðông Tiến là đã chuẩn bị cho
chính mình cái chết sau cùng. Cái chết kéo dài 40 ngày. Kháng chiến quân bị
bắt đã khai rằng ông Thầy bị thương, ngồi dựa gốc cây, cầm khẩu súng lục giơ
cao, rồi tự bắn vào mang tai.

18

Vào năm 2007, ngồi xe lăn vào viện Seton, ông Liễu có 3 năm để chuẩn bị từ
giã trần gian cho đến ngày cuối cùng. Khoảng cách 23 năm từ 1987 khi ông
Minh chết tại Nam Lào cho đến 2010 lúc ông Liễu chết tại Bắc Cali có ý nghĩa
gì. Xem ra như vậy chuyện chung sự của ông Minh và ông Liễu có phần rất
giống nhau. Ðó là tang lễ của những người chiến sĩ anh hùng.

Còn nhớ năm xưa, ngày 29-12-1984 bác sĩ Ðỗ văn Hội ngồi khóc với niềm
mong ước hải quân đề đốc Hoàng Cơ Minh và đại tá thủy quân lục chiến Phạm
văn Liễu ngồi lại với nhau để làm nên đại cuộc. Bây giờ chẳng cần thuyết
phục, các ông cũng đến gặp nhau, nhưng việc lớn ở trần gian sao vẫn còn dang
dở.

Tiễn đưa bác Dương trở về lại với con cháu ở xứ tuyết Wisconsin tôi tặng bác
tấm hình Hoàng Cơ Minh và Phạm Văn Liễu, ông đem lên chùa bên đó để
cạnh nhau, nếu Việt Quốc với Việt Tân có anh vào ở đó thắc mắc xin ông báo
cáo về Tổng Tham mưu cho tôi giải quyết. Năm nay bác cũng đã ngoại bát
tuần, xin cẩn thận. Khi nằm xuống ở miền băng giá lấy đâu ra lễ nghi quan
cách. Thôi thì ta cứ liệu bề chôn cất rồi bảo trẻ con nó báo tin sau. Nếu đã
không mong xum họp mãi, bận lòng chi nữa lúc ra đi...

Dạo này mình hay đem thơ thiên hạ ra đọc lảm nhảm.

Giao Chỉ, San Jose

Nguồn: http://www.vnmilitaryhistory.info/lichsucuavn/nguoimuonnam3.htm

DUYÊN NỢ CẢNH SÁT

Nói đến duyên nợ cảnh sát, chắc không khỏi một số bạn liên tưởng
ngay đến một người nào đó ở ngoài ngành cảnh sát thương yêu một người
đang phục vụ trong ngành cảnh sát. Hoặc giả, hai người đồng nghiệp cùng
phục vụ trong ngành cảnh sát thương yêu nhau, rồi kết tóc xe tơ, thề non
hẹn biển sống với nhau cho đến suốt cuộc đời. Nếu có được như vậy thì rất
may mắn, tốt tươi, kiều diễm, hay ho, đẹp biết mấy. Nhưng chuyện tôi kể ra
sau đây không phải như vậy.

Vốn là người không thích cảnh sát ngay từ thuở nhỏ, lúc còn ở tiểu
học, lúc mà còn quần sọt áo sơ mi, ngồi miệt mài trên ghế trường tiểu học,
cho đến lúc ra đời trước khi gia nhập vào ngành cảnh sát. Tôi sanh ra ở một
huyện lỵ, tỉnh nhỏ miền Hậu Giang, giáp biên giới Việt Miên. Nên việc không
hay hằng ngày, nhan nhản xảy ra trước mắt tôi. Hình ảnh những “”Ông Cò”
cảnh sát Hương Thôn, mặc bồ Ka Ki màu vàng, miệng ngậm còi, tay khoát
khoát, ra lịnh xua đuổi những chị bán hàng rong bỏ chạy tả tơi hoặc chìa

19

tay nhận chút tiền còm cuả những anh lơ xe, xe lôi phạm luật cứ ám ảnh
mãi trong đầu óc tôi. Hơn thế nữa, sau nầy tôi về dạy học ở một trường
trung học tỉnh nọ vào năm 1963. Phải một đêm ngủ muỗi bởi các anh bạn
dân, vì tội “cư trú bất hợp pháp”,. Trình thẻ giáo chức họ không chịu, cho
ngủ muỗi đến sáng hôm sau. Khiến ông hiệu trưởng trường tôi làm giấy xác
nhận bảo lảnh họ mới cho về. Và gia đình tôi ở trọ cũng phải tốn chút ít tiền
còm cho họ.

Nhớ thuở nhỏ, khi đi thi Văn Bằng Tiểu Học tại tỉnh nhà có một ông
cảnh sát mà người ta tặng cho một biệt danh là ” Ông Cò Thì ” mang trên
hai cầu vai đầy chữ V ( cánh gà ). Lưng đeo súng lục, bộ đồ Kaki màu vàng
ôm sát thân người béo phệ, bụng to, ngực ưởng trông rất oai nghi. Ngồi trên
chiếc xe jeep cảnh sát hai màu xanh trắng cứ chạy chung quanh trường thi
để giữ an ninh cho bọn học trò chúng tôi thi. Lâu lâu lại vang lên những
tiếng còi hú, xua đuổi những người thân hoặc cha mẹ tụ nhau nhìn qua cửa
sổ để xem con em mình làm bài có được hay không?

Hình ảnh ấy, khiến cho tôi không có cảm tình đối với ông cứ đập mãi
vào trí óc non nớt của tôi cho đến sau nầy. Khi tôi chánh thức gia nhập vào
ngành Cảnh Sát Quốc Gia năm 1966. Học khóa một Biên Tập Viên. Tốt
nghiệp qua Dã Chiến, rồi được về Giảng Sư đoàn Học Viện. Rời Học Viện về
tỉnh nhà xử lý thường vụ Trưởng phòng Cảnh Sát Tư Pháp một thời gian.
Gặp lại “Ông Cò Thì “ ngày xưa mà tôi vừa ghen ghét, vừa sờ sợ. Nào có ngờ
đâu ông là một người rất dễ thương, hiền từ, biết tự trộng, không dám nói là
nhân đạo. Có tinh thần trách nhiệm cao, việc gì giao cho ông cũng hoàn
thành tốt đẹp mà không cần nhắc nhở. Bây giờ, có lẽ ông đã hóa ra người
thiên cổ vì tuổi tác đã cao, sau bao nhiêu nỗi gian lao, thăng trầm, đau khổ
của một cuộc đổi đời mà không ai chờ đợi, mong muốn vào ngày 30 tháng 4
năm 1975.

Xin thắp nén hương lòng tạ lỗi cùng ông với những ý nghĩ không tốt
về ông trong lúc tuổi đời của tôi còn quá thơ dại.

Sau khi đậu Văn Bằng Tiểu Học, tôi đến thăm một người bạn của ông
nội tôi mà tôi gọi là Ông Hai. Ông nầy gỏi chữ nho. Ông bảo tôi ra trước cửa
nhà bẻ cho ông một nhánh mãn cầu nhỏ, có đầy đủ lá để ông coi cho tôi sau
nầy lớn lên làm nghề gì? Tôi vâng lời, ra ngoài bẻ một nhánh mãn cầu nhỏ
có đầy đủ lá vào trao cho ông. Ông nhìn nhánh mãn cầu rồi đếm từng lá
một: “ Nhất đắc, nhị đắc, tam bất đắc. Nhất đắc, nhị đắc, tam bất đắc. . .
. “ và cứ tiếp tục lập đi lập lại nhiều lần như vậy. Cho đến khi nào những lá
mãn cầu cuối cùng còn lại một, hai hoặc ba lá là ông ngưng. Nếu như cuối
cùng còn lại một lá là quẻ đó thuộc về Nhất đắc, hai lá là Nhị đắc, ba lá là
Tam bất đắc. Còn quẻ ông đang coi cho tôi thuộc về quẻ gì tôi không rõ. Sau
đó ông lại dùng bàn tay của ổng, ngón cái bấm vào từng đốt các ngón nhỏ,
miệng lẩm bẩm tính toán, đọc cái gì đó nho nhỏ, tôi chỉ nghe thoang thoáng:
Tý, Sửu, Dần, Mẹo. . . mà thôi. Xong ông ngưng lại nhìn tôi giây lát, ôn tồn
bảo: “ Con sau nầy làm nghề bán văn, bán võ.” Tôi chẳng biết cái chi mô,
nghề gì mà bán văn, bán võ? Hoặc đi lính là võ, đi dạy học, làm thư ký là
văn. Sao lại có cái nghề rứa nào là bán văn, bán võ. Nghĩ như thế, nhưng

20

dần dần theo thời gian rồi cũng quên đi.
Năm 1966, lần đầu tiên bước chân vào HV/CSQG trong trại Lê văn Duyệt và
nghe cụ Đàm Trung Mộc nói về ngành cảnh sát, tôi mới trực nhớ ra lời tiên
đoán của Ông Hai bạn của ông nội tôi là đúng.

Nhưng sự việc không ngừng ở tại đây, cứ tiếp tục thêm nữa. Thật lòng mà
nói khi thi vào Biên Tập Viên cảnh sát, tôi chẳng biết Biên Tập Viên là gì hết.
Trong đầu cứ nghĩ Biên Tập Viên là một nghề viết lách trong ngành cảnh sát
như các Biên Tập Viên báo chí vậy thôi! chớ nào có ngờ đâu Biên Tập Viên là
một viên chức (hay sĩ quan) bậc trung trong ngành cảnh sát có nhiều trách
nhiêm và chút ít uy quyền.

Trong tuần lễ đầu, lần thứ hai, cụ Đàm Trung Mộc nói về khóa học của
Biên Tập Viên là 9 tháng. Thời gian 9 tháng ở Học Viện sinh viên phải trải
qua những giai đoạn huấn luyện, học tập những gì. Cuối cùng đến phần thắc
mắc, có nhiều anh em đưa tay lên đặt câu hỏi: “ Khi ra trường có được vào
ngạch không? Và lương bổng như thế nào?” Cụ trả lời: “ Khi ra trường các
anh chị được lảnh lương công nhựt và hai năm sau sẽ được vào ngạch, lương
công nhựt mỗi tháng sẽ lảnh vào khoảng hơn ba ngàn. . . . .“ Nghe đến đây
tôi cảm thấy không vui vì tôi là một giáo sư đang dạy tại một trường học có
bốn năm thâm niên, lương bổng cũng khá và ổn định. Hơn thế nữa, trước khi
đi trình diện để học khóa Biên Tập Viên, trong lòng tôi cứ nghĩ. “Thấy được
thì học ví bằng không được thì thôi.” Nên trước khi rời nhà trường tôi không
xin nghỉ dạy hẳn mà chỉ xin nghỉ phép trong 10 ngày mà thôi. Vì vậy tôi trở
lại tiếp tục dạy lúc nào cũng được.

Lần đi phép đầu tiên, thay vì hết phép vào chiều chủ nhựt phải vào để trả
giấy phép và trình diện có mặt với người sĩ quan trực. Tôi cố tình trở lại Học
Viện vào buổi chiều thứ hai, kèm theo đơn xin từ nhiệm. Bước vào văn
phòng ông Viện Trưởng, gặp cụ Đàm Trung Mộc đang lui cui làm việc, cụ
đang đọc giấy tờ gì đó, đứng bên cạnh là ông Liễng chủ sự phòng hành
chánh. Tôi bước tới trình đơn từ nhiệm của tôi cho cụ và nói: “ Thưa ông
Viện Trưởng tôi xin từ nhiệm.” Cụ ngước nhìn tôi, tay nhận đơn. Cụ chỉ xem
sơ qua rôi trao cho ông Liễng vì cụ đang bận. Ông Liễng đọc đơn của tôi
xong, bèn bước lại tủ hồ sơ, mở tủ, kéo ngăn hồ sơ ra để tìm bản chánh văn
bằng Tú Tà II của tôi để hoàn trả lại cho tôi. Thì từ ngoài cỗng có chuông
điện thoại gọi vào báo là có ông Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia đến.
Ông Viện Trưởng ra dấu cho tôi đứng vào một góc. Tiếng hô vào hàng phất
khi Đại Tá Phạm Văn Liễu bước vào văn phòng. Tôi cũng ngay ngắn đứng
yên. Khi cụ Đàm đến chào Đại Tá và bắt tay. Sau vài câu chuyện chào hỏi
với Đại Tá. Cụ bèn hướng về tôi nói: “ Thưa Đại Tá, cậu nầy muốn từ
nhiệm.” Đại Tá Phạm văn Liễu bước đến vỗ vào vai tôi nói với một vọng nhẹ
nhàng âu yếm, trìu mến: “Sao em từ nhiệm vậy? Uổng lắm, khóa của các
em học khi ra trường sẽ được vào ngạch hết. Tôi bảo đảm. Thôi rút đơn lại,
lảnh quân trang tiếp tục học đi.” Tôi cảm động, chỉ biết đứng yên và khẻ dạ
một tiếng nho nhỏ mà lòng đầy xúc động kính mến.

Có người hỏi tôi khi ra trường tại sao không tình nguyện qua ngành đặc
biệt để đi qua CSDC? Trong lúc ngành ấy chọn 50 người Biên Tập Viên mà

21

không cần bắt thăm. Tôi xin thưa: “ Vì tôi tự biết lấy tôi có nhiều khuyết
điểm, tính tình thành thật, ngay thẳng, thường giữ chữ tín, biết ơn, ít mưu
mẹo, vì góc là một thầy giáo nên khó hoàn thành nhiệm vụ khi cấp trên giao
phó. Vì cảm thấy có nhiều khuyết điểm như vậy, đó là lý do mà tôi không
dám gia nhập vào lực lượng cảnh sát đặc biệt là thế.”

Khi bắt thăm, tôi bắt nhằm thăm vào lực lượng Cảnh Sát Dã Chiến, âu
cũng là cái duyên số trời định. Tôi được Đại Uý Nguyễn duy Am Biệt Đoàn
Trưởng Biệt Đoàn 816/CSDC xin với Trung Tá Phạm huy Sảnh trưởng khối
cảnh sát dã chiến bây giờ, về Biệt Đoàn 816/CSDC, đóng tại vườn cao su
gần ngã tư Bình Hòa, Gia Định. Dù Trung Tá Phạm huy Sảnh xin 50 Biên
Tập Viên và 50 Thẩm Sát Viên khóa một về để thay thế cho các ông Đại Đội
Trưởng Cảnh Sát Dã Chiến ở các tỉnh với ngạch Thẩm hoặc Phó Thẩm.
Nhưng vì chính ông và ban tham mưu của ông đều là những người không có
trách nhiệm đúng đắn, nhận sự đúc lót của các ông Đại Đội Trưởng đương
thời, nên sự thay đồi không thực hiện. Chỉ có hai người, tôi và Việt người bạn
đồng khoá với tôi được đi làm đại đội trưởng. Tôi ở Biệt Đoàn 816 còn Việt về
Biệt Đoàn 222/CSDC. Còn lại bao nhiêu thì bị tống lên Đá Lạt làm huấn
luyện viên hoặc ngồi chơi sơi nước. Thật là phí tài sản của quốc gia, đào tạo
được một cán bộ cảnh sát có trình độ tốn bao nhiêu tài sản của đất nước và
sự đóng góp của dân chúng mà không đuợc xài cho đúng chỗ. Huấn luyện
viên ở một trung tâm đâu cần Biên Tập Viên và Thẩm sát viên đông như
vậy?

Tôi về Biệt Đoàn 816 được nhận chức vụ Đại Đội Trưởng Đại Đội 3. Đại
đội đang công tác ở Bình Điền, có nhiệm vụ giữ cầu sắt xe lửa bắt qua rạch
Bình Điền, mỗi tuần đều có hành quân an ninh chung quanh với quân đội
Hoa Kỳ vào sâu chợ Đệm là nơi trước đây vào ngày 14 tháng 8, năm 1945,
Nhật đầu hàng Đồng Minh, quân đội Pháp trở lại Việt Nam. Ủy Ban Hành
Chánh Nam Bộ của Việt Minh do Trần Văn Giàu làm chủ tịch bỏ chạy trốn về
đây. Họ cũng không quên mang theo những chiến sĩ Quốc Gia về đây hành
quyết, như các ông: Hồ văn Ngà, Huỳnh văn Phương (Cựu Tổng Giám Đốc
Cảnh Sát Quốc Gia), Hồ vĩnh Ký, Bùi quang Chiêu. . . . .

Đến tháng 5 năm 1967, Biệt Đoàn 816 được lịnh đưa 3 đại đội khăn gói
lên đường ra miền Trung, tỉnh Bình Định trong đó có Đại Đội 3 của tôi. Hành
quân an ninh phối hợp với Sư Đoàn Một Không Vận Kỵ Binh Hoa Kỳ (First
Cal), lùng bắt, tiêu diệt những tên cán bộ, tàn quân của sư đoàn Sao Vàng
cộng sản bị sư đoàn Kỵ Binh Hoa Kỳ đánh tan rã trong mật khu Ba Tơ, An
Lão. Chúng chạy trốn về lẫn lộn, ẩn núp trong dân chúng để chờ ngày tái
phối trí.

Vì phương tiện vận chuyển bằng đưòng hàng không bị giới hạn, nên đại
đội của tôi đưa hai trung đội đi trước với ông đại đội phó tên Đởm, còn tôi
hai tuần sau mới hướng dẫn phần còn lại của đại đội ra sau. Khi tôi ra tới Qui
Nhơn thì được tin một ông trung đội trưởng của tôi tên Kỳ bị hy sinh trong
lúc khui hầm bí mật của cộng sản, ông không cẩn thận bị một quả M79 của
địch chết ngay tại chỗ. Tôi cảm thấy đau lòng, hai ngày sau thì xác của ông
được chuyển từ quận Bồng Sơn ra Qui nhơn, rồi về Sai Gòn. Cũng ngày ấy

22

tôi đến Bồng Sơn. Đại đội tôi đóng chung với với BCH của Lữ đoàn 1, sư
đoàn 1 Kỵ Binh Hoa Kỳ trên một ngọn đồi trọc cách chợ Bồng Sơn độ hai cây
số. Mỗi ngày đều đi hành quân và nhảy trực thăng vận. Ngày nào đại
đội của tôi cũng lấy được súng AK, K54 của cộng sản và bắt được nhiều
chiến binh chánh qui cũng như bọn du kích địa phương của chúng. Trong lúc
đó các sư đòan bộ binh của Việt Nam Cộng Hòa chỉ được trang bị Carbine
M1, M2 mà thôi. Còn M15, M16 chưa có, sau tết Mậu Thân mới được trang
bị. Nhiều lần vị Đại tá Chi Huy Trưởng của Lữ Đoàn 1 và Trung Tướng Tư
Lịnh Sư Đoàn 1 Kỵ Binh Hoa Kỳ đáp trực thăng thị sát tại mặt trận, chứng
kiến chúng tôi khui hầm và bắt Việt Công lấy súng, lựu đạn. Đồng thời chúng
tôi cũng được hai vị nầy gắn nhiều lần huy chương tại mặt trận. Nhưng sau
xin hợp thức hóa bằng giấy tờ thì Trung tá Sảnh nại ra lý do “Cảnh sát
không được nhận huy chương quân sự của Hoa Kỳ.“ Chẳng những ở đại đội
tôi mà hai đại đội kia cũng vậy. Một ở Phù Cát, một ở Phù Mỹ, phối hợp hành
quân chung với hai lữ đoàn 2 và 3 của Sư Đoàn 1 Kỵ Binh. Sau mới rõ ra
Trung tá Sảnh đem các huy chương nầy hợp thức hóa cho ông và các tay
đàn em của ông. Sau đó ông được lên Đại tá.

Một hôm tôi cảm thấy buồn, vì thấy mình là một cảnh sát dã chiến
thăng thưởng theo qui chế công chức, không được một thứ đặc ân gì hết kể
cả thâm niên cũng giống như các bạn sắc phục khác, cứ tà tà ở văn phòng
mà được hưởng quá nhiều đặc ân của ngành và của đời. Còn cảnh sát dã
chiến như tôi và một số các bạn khác so ra thì quá thiệt thòi. Khi ra Đông
Hà, chiều vào Huế, sáng lại chưa kiệp đánh răng thì phải khăn gói đi Đà
Nẳng, Sài Gòn, Côn Sơn, Phú Quốc. Nơi nào có biểu tình hay tù nhân tuyệt
thực làm loạn là có mặt tụi tôi. Đôi khi còn cực hơn lính địa phương quân và
nghĩa quân.Thăng thưởng theo hành chánh, làm việc theo quân sự.

Thấy có một cái gì bất công mà Thiếu tá Sảnh dõng dạc hứa vào ngày ra
trườn:g “Các anh qua CSDC trong vòng hai năm, các anh sẽ được trở về sắc
phục “ lời hứa đó, Thiếu tá Sảnh đã nuốt lời. Bao nhiêu đơn xin trở về sắc
phục sau hai năm phục vụ vẫn bị làm ngơ. Mà cũng chẳng bao giờ nghe thấy
các vị trong ngành cảnh sát có thẩm quyền lên tiếng, một sự yên lặng kinh
tởm. Đang hành quân, một buổi sáng buồn được nghỉ. Tôi bèn lấy giấy mực
ra viết một lá đơn xin tình nguyện đi Thủ Đức, gởi đến Nha Động Viên Bộ
Quốc Phòng ở Sài Gòn.

Ba tháng sau, tôi nhận được công điện từ BCH/BĐ/816 do Thiếu tá Am
ký. Bảo tôi bàn giao đại đội lại cho ông đại đội phó, còn tôi về trình diện.
Bàn giao xong tôi trở về Sài gòn vào trình diện ông. Sau khi chào ông xong,
ông mời tôi ngồi. Ông giở hồ sơ ra và trao cho tôi lịnh gọi nhập ngủ quân
trường Thủ Đức, lý do tình nguyện. Ông chẫm rãi nói với tôi lời thân mật và
tha thiết: “Tại sao mầy phải tình nguyện đi Thủ Đức, mầy có biết quân đội
cực khổ lắm không? Tao lên được Thiếu tá như thế nầy đã hụt chết biết bao
nhiêu lần rồi. nếu như ai cho tao đổi cái lon Biên Tập Viên của mầy là tao đổi
liền, không cần phải suy nghĩ gì cả. Nếu mầy quyết định muốn đi là tự do ý
mầy. Còn như mầy muốn ở lại thì tao sẽ can thiệp cho mầy ở lại. mầy suy
nghĩ lại cho thật kỹ đi.” Sau lời khuyên của Thiếu tá Am dường như tôi chợt

23

tỉnh dậy và nhỏ nhẹ trả lời với ông: “ Thôi tùy ở Thiếu tá, nếu Thiếu tá giúp
được tôi hủy bỏ lịnh phập ngủ thì tôi cám ơn Thiếu tá nhiều.“ Vừa nghe xong
thì ông bóc điện thoại gọi qua phòng nhân viên gặp Đại úy Chương (sau lên
Thiếu Tá), nhờ Đại úy Chương làm lịnh xin hủy bỏ lịnh nhập ngủ của tôi vì
nhu cầu công vụ. Nghe Đại úy Chương cằn nhằn phía bên kia đầu dây. Ông
Am lại năn nỉ: “Thôi mà, nó em út giúp giùm nó đi. Nghe ông Chương trả lời
vâng, ông cúp điện thoại, hướng về tôi. Xong rồi đó, rán làm việc đi, đừng
nghĩ khùng, nghĩ điên nữa.” Tôi dạ, rồi chào ông bước ra ngoài mà long tôi
cảm thấy kính ông.

Bây giờ, ngồi đây viết lại bài nầy mới nghiệm ra đúng là Duyên Nợ Cảnh
Sát. Kẻ muốn vào ngành cảnh sát mà vào chẳng được. Người ham phục vụ
trong ngành cảnh sát lại bị đuổi ra. Còn tôi, tôi muốn ra khỏi ngành cảnh sát
bao lần lại bị sợi tơ tình của ngành cảnh sát buộc chặt lại lấy tôi. Đó mới hay
cái gì cũng có duyên, có nợ với nhau cả.

Nếu trước đây tôi không được may mắn gặp Đại tá Phạm văn Liễu qua
thăm Học Viện đúng lúc, chỉ sớm, muộn trước sau năm, mười phút và một vị
Viện Trưởng nào khác hơn cụ Đàm Trung Mộc thì danh sách ngày ra trường
chắc chắn không có tên của Biên Tập Viên tập sự Nguyễn Hoài Ân rồi. Và
không có sự thông cảm bao dung, độ lượng của Trung Tá Nguyễn duy Am thì
ngày nay tôi cũng không thể còn ngôi đây để viết những dòng nầy đến các
bạn mà thân xác tôi đã dùi thây nơi chiến trường, trở về với cát bụi rồi.
Hoặc với hòm gỗ cài hoa trên chiếc trực thăng tang mang màu trắng. . . .
lời tiên đoán của ông Hai bạn của ông nội tôi mới thấy đúng trăm phần trăm.
Đó mới hay đúng là “duyên nợ cảnh sát” mà số mệnh hóa công đã thắt chặt,
an bài từ lâu, sự hiểu biết của người đời không bao giờ giải thích nổi.

Nếu không có Đại tá Phạm văn Liễu là người Tổng Giám Đốc Cảnh Sát
Quốc Gia quyết tâm cải tổ lại ngành cảnh sát, quyết thay thế cấp chỉ huy
trong ngành cảnh sát bằng giới trẻ có kiến thức, được đào tạo chính qui thì
sau nầy chưa chắc có HVCS/QG, một ngồi trường đào tạo sĩ quan cảnh sát
quốc gia khang trang, đẹp đẽ, lịch sự nhất ở vùng Đông Nam Á và chưa chắc
có khóa một, khóa hai và ba Biên Tập Viên, cũng chẳng có quí vị Quận
Trưởng cảnh sát tuổi trẻ tài cao như: ông Trần Minh Công, Phạm Công Bạch,
Trần Quan An và một số Quận Trưởng trẻ khác. Nhưng mộng ông chưa
thành thì ông bị ra khỏi cảnh sát trở về quân đội. Đại tá Nguyễn Ngọc Loan
về thế, việc thay đổi bị đình trệ. Và nếu không có ông Tư Lịnh Cảnh Sát
Quốc Gia Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình có lòng muốn xây dựng, cải tổ lại
ngành Cảnh Sát Quốc Gia thăng thưởng từ ngạch hành chành qua thăng
thưởng theo quân đội, mang lon quân đội để giảm bớt bất công và dễ làm
việc thì cũng không có những người sĩ quan cấp tá trẻ tuổi, như Đại tá Trần
Minh Công, Trung tá Phạm Công Bạch, Trung tá Trần Quan An, Thiếu tá
Phan Tấn Ngưu, Phan Quang Nghiệp, Đinh Văn Hạp, Nguyễn Thái Bình,
Nguyễn Trọng Bẩm, Thái Văn Hòa . . . và nhiều, nhiều hơn nữa với một vài
vị Nữ Lưu tuổi trẻ, anh thư, xuất sắc trong ngành cảnh sát với cấp bực Thiếu
tá thật thụ. Hãnh diện thay cho phái quần thoa, má hồng nữ giới trong đoàn
phụ nữ môi son, má đỏ, con cháu Bà Trưng, Bà Triệu, con Hông, cháu Lạc

24

của nhà bà mẹ Việt Nam.
Cái đặc biệt bất công trong ngành cảnh sát nữa là. Một Thẩm sát viên

trong ngạch có cấp bằng Tú Tài II thì được đi học khóa Biên Tập Viên, trở
thành Biên Tập Viên trong ngạch thực thụ. Người Biên Tập Viên trong ngạch
có bằng Cử Nhân thì không được trở thành Quận Trưởng chỉ được thăng lên
một hai trật gì đó thôi. Người ngoại ngạch có Cử Nhân được mang lon Quận
Trưởng Đồng Hóa chỉ huy người Biên Tập Viên trong ngạch lâu năm, nhiều
kinh nghiệm, có bằng Cử Nhân. Cái thứ hai nữa là người Biên Tập Viên trong
ngạch có Cử Nhân khi chuyển qua mang lon quân đội chỉ có mang cấp bực
Đại Úy. Người ngoại ngạch hoặc mới vào ngành cảnh sát có Cử Nhân thì
được mang Thiếu tá đồng hóa, chỉ huy người Đại Úy có thâm niên công vụ,
có Cử Nhân. Đó là một sự trớ trêu hoặc vô tình hay cố ý của quí vị thượng
cấp soạn thảo qui chế ở trên? Đã biết rồi, nay thì chúng ta dầu lớn hay nhỏ
cũng đều trắng tay. Đáng lẽ thì cũng không nên nói ra. Nhưng viết thì phải
nói cho hết để mang đến cho quí bạn những vui buồn lẫn lộn trong thời gian
qua. Xin thứ lỗi.

Ngồi đây viết bài nầy, nhớ đến những người ân nhân nay không còn nữa,
đã hóa ra người thiên cổ, nhưng những hình bóng thân thương mà tôi tưởng
chừng như vẫn còn phảng phất đâu đây, trên cành cây ngọn cỏ của xứ sở,
đất nước quê hương thương yêu, trong lòng người dân nước Việt muôn năm,
vạn kỷ. Trong những nắm mồ hoang, điêu tàn đôi khi trở thành vô chủ mà
Tổ Quốc cùng toàn dân bao gìờ cũng ghi ơn vạn thuở. Xin được tri ân các vị.
Các vị chẳng những là những người chỉ huy cao cấp của tôi, những người
thầy kính mến, những vị ân nhân suốt đời tôi khó quên. Xin thắp nén hương
lòng tưởng nhớ và tri ân quí vị. Cầu xin đức Phật, đức Chúa dắt dìu, dẫn độ
hương linh quí vị về nơi cảnh Phật, đất lành của Thiên Chúa.

Nguyễn Hoài Ân

Nguồn: http://canhsatquocgia.org/D_1-2_2-79_4-158/duyen-no-canh-
sat.html

25

Bác Đại Tá

Viết cho những người Việt đã một thời chọc trời khuấy nước.
Không ai gọi ổng là đại tá. Chính vợ con, bạn bè ổng cũng không gọi ổng là đại
tá. Ổng là người bác trong họ của tôi, cùng khóa với cha tôi, nhưng cha tôi tử
trận khi còn là trung úy. Lớn lên tôi nghe người ta kể lại, và qua các cuốn hồi ký
về chiến tranh Việt nam, tôi biết ông bác tôi rất can trường và rất đứng đắn,
chưa bao giờ mang tiếng tham nhũng như một số sĩ quan cao cấp khác. Bởi sự
kính trọng đó tôi luôn luôn gọi ổng là bác Đại Tá.
Thật khó đoán được tuổi của bác, tôi chỉ căn cứ vào tuổi của cha tôi biết bác cỡ
trên dưới 75 tuổi. Bác ốm quá, tay chân như còn xuơng với da, nhưng bác còn
sáng suốt chưa lú lẫn, dù bác rất ít nói gần như không nói. Thỉnh thoảng cuối
tuần tôi đến thăm bác và chở bác đi ăn sáng. Lên xe đến ăn phở trong thành
phố rồi về mất khoảng hơn một giờ, nhưng bác chỉ nói khi tôi hỏi mà thôi, giá
sử tôi không hỏi thì bác cũng không nói.
Có lần tôi hỏi hàng ngày bác làm gì. Bác trả lời nho nhỏ, đâu có làm gì. Có lần
tôi hỏi, người ta ca tụng bác đánh giặc giỏi lắm có phải không, bác cũng trả lời
nho nhỏ, họ nói mà. Thế là tôi cũng chịu, không biết thêm gì về bác, chỉ biết
qua các cuốn sách tôi đã đọc được đó mà thôi.
Tuy bác trả lời, đâu có làm gì, nhưng tôi biết bác làm nhiều việc. Từ sáng sớm
bác đi bỏ báo. Về nhà trước 7 giờ sáng, bác dẫn hai đứa cháu ngoại đi học.
Khoảng 9 giờ bác đi bỏ bánh bột lọc do bác gái làm, cho các quán ăn. Hai ba
giờ chiều bác đến trường đón hai đứa cháu về nhà. Ngoài những giờ qui định
đó, bác làm vườn. Nhà bác vườn khá rộng, đủ thứ rau, và nhiều loại cây ăn
quả. Tôi đến nhà thường ra vườn gặp bác.
Bác gái, vợ của bác Đại tá, là người đàn bà Bắc rất đảm đang. Khi đến Mỹ bác
chuyên làm bánh bán cho các nhà hàng Việt Nam trong vùng. Trái với bác Đại
tá, bác gái lúc nào cũng vồn vã và nói rất nhiều. Nhiều lúc tôi phải lên tiếng
thanh minh cho bác Đại tá. Có lần nghe bác nói bác Đại tá lái xe kém quá, lúc
nào cũng đi trên lane của người khác. Tôi cực lực thanh minh, theo cháu thì bác
Đại tá lái xe rất cẩn thận, không bao giờ có chuyện chạy trên lane của người
khác, tại bác ngồi trong xe nhìn không rõ thấy vậy thôi, chứ ngay như cháu còn

26

trẻ đây, nhưng lái không an toàn như bác Đại tá. Bác gái nhìn tôi có vẻ hoài nghi
lời nói của tôi.
Tôi thường đi cửa bên hông nhà vào vườn sau để gặp bác, có khi đứng một hồi
lâu nhìn bác đang ngồi bất động bên gốc cây nhìn đám rau cải. Hình như bác
thích ở ngoài vườn hơn trong nhà. Thấy tôi thường gọi bác Đại tá có lần người
con gái lớn của bác hỏi tôi đại tá với đại úy ai lớn hơn, tôi im lặng. Chị nói tiếp,
ông cắt cỏ cho nhà chị nghe nói trước kia ổng làm tới đại úy, nay cũng già yếu
rồi,
Có lần tôi đến cửa chưa kịp bấm chuông nghe tiếng bác gái la ồn ào trong nhà,
hình như bác đang nói về việc bỏ bánh. Tôi vào thì bác gái phân bua, cháu nghĩ
làm như thế có giết người không, loại bánh hạng nhất, ổng lẫn ổng quờ quạng,
tính tiền loại hạng hai cho chủ quán, thế thì còn làm ăn cái gì, có một việc nhỏ
mà không làm được, thì làm ăn cái gì nữa, ôi làng nước ôi, khổ cái thân cho tôi
quá. Tôi thấy bác Đại tá vẫn im lặng như không có gì quan tâm.
Nhưng một lần làm tôi bực mình nhất, và tôi không đến nhà bác Đại tá nữa. Lần
đó là bữa giỗ, bác gái có báo cho tôi biết, và trưa đó tôi đến nhưng trễ vì có
cuộc họp ở hãng. Tôi đến thì mọi người khách đã ra về. Vào nhà thấy hai chị
cùng bác gái và mấy cháu nhỏ đang xúm xít xem cuốn Paris by night, còn bác
Đại tá đang rửa một bàn chén đầy. Tôi buột miệng, sao hai chị không rửa cho
bác Đại tá. Một chị trả lời nho nhỏ, có mấy cái chén mà, ổng bảo để ổng rửa.
Bác gái mời tôi ăn, tôi phải nói láo đã ăn ở sở do chủ hãng đãi nhưng phải đến
sợ bác la. Tôi bực bội ra xe về.
Đã nhiều lúc tôi định nói cho hai chị biết hai chị có người cha anh hùng, đáng
quí trọng, nhưng sao cả nhà đều xem thường có vẻ khinh bỉ ổng quá vậy,
nhưng thấy bác gái người quắc thước hơi dữ dữ tôi lại không dám. Hãng tôi dời
sang tiểu bang khác, tôi đi theo.
Năm năm sau có dịp tôi về Cali ghé thăm nhà thì bác Đại tá không còn ở đó
nữa. Tôi đến nhà người con gái lớn của bác, gặp bác gái đang trông nom mấy
đứa cháu ngoại. Tôi mới biết bác Đại tá đã vào nursinghome.
Bác dùng xe lăn ra phòng khách thăm tôi. Bác đi không được, nhưng vẻ mặt
vẫn tỉnh táo. Bác cho biết bây giờ không còn làm việc gì được nữa, xin vào đây
nằm cho yên thân. Bác dửng dưng, nhưng tôi bật khóc thành tiếng.

© Nguyễn Liệu
© Đàn Chim Việt
Chú thích: hình sử dụng trong bài chỉ mang tính minh họa.

Nguồn: http://www.danchimviet.info/archives/24547/bac-d%E1%BA%A1i-
ta/2011/01/comment-page-1

Tổng Hợp: Nam Phong

Ngày 20/10/2016

www.vietnamvanhien.net

27


Click to View FlipBook Version